Sunday, February 28, 2021

Ngày Mai Của Hôm Qua - Thuyên Huy

 

Ngày Mai Của Hôm Qua

(Chuyện được viết bằng tưởng tượng, xin thứ lỗi cho những trùng hợp vô tình, từ tên người tới bối cảnh)






  


     Sài gòn mùa này vẫn vậy, cũng cái nắng tình cờ nung người và những cơn mưa bụi, bất chợt vội vã về rồi hấp tấp đi. Người Sài Gòn vẫn sống như họ đã sống từ những ngày tháng cũ. Chiến tranh ngột ngạt đâu đó, nhưng xem ra chưa đến, dù quanh đây, đâu đó, lưa thưa dăm ba màu áo trận, ở một góc phố đông vui hay tại một ngỏ rẻ buồn thiu cuối đường, những con đường của “lối xưa xe ngựa”. Thuận đứng ngay ngã tư, trước tiệm kem Mai Hương, chờ đèn xanh, chưa kịp qua đường thì có tiếng ai đó gọi tên mình, trong đám đông, từ hướng nhà sách Khai Trí. Bạn bè, phần lớn mỗi đứa mỗi nơi sau những năm học hành thi cử cuối cùng, đã không còn mấy ai ở đây nữa, nhất là lâu lắm rồi Thuận mới về lại Sài Gòn, cho nên Thuận chỉ quay nhìn lại một cách lấy lệ. Tiếng gọi một lần nữa gần hơn và vội vã hơn, Thuận bỏ ý định băng qua đường, lùi lại bên trong lề ngờ ngợ chờ.

*

    Nhã Vy tay dắt đứa bé gái chừng khoảng lên ba, tách đám đông tiến đến gần bên. Cả hai người nhìn nhau thật nhanh rồi im lặng ngó ra đường. Cuối ngày rồi mà trời cũng chưa chịu mát, hơi nóng từ trưa hình như còn quanh quẩn theo người. Nhã Vy vuốt vội dăm sợi tóc đang bay ngược chiều gió trên vai, cúi xuống nói nhỏ gì đó, đứa bé khoanh tay, cúi đầu chào Thuận kèm theo tiếng dạ nhẹ lờ lợ dễ thương. Thuận đưa tay xoa đầu nó hỏi tên rồi nhìn lên, hơn ba năm rồi, Nhã Vy tuy không thấy khác hơn nhưng nụ cười hình như có cái gì đó làm nó không trọn vẹn. Nắng đuổi theo chân người đi, che khuất gần nửa con đường Lê Lợi, ở phía sông từ bến Bạch Đằng, vài cơn gió lẻ loi mang theo hơi nước, len nhẹ qua ngang mấy dãy phố lầu cao trong bóng chiều lấp lửng xuống. Nhã Vy bồng đứa bé lên, nhìn vào chỗ có cái bàn trống trong tiệm kem ngó ra rạp hát Casino, làm dấu rồi đi vào, Thuận lặng thinh gật đầu theo sau.

    Gặp lại Nhã Vy lần này, lần gặp mà Thuận đã không dám mong và nghĩ tới, cho nên không biết phải bắt đầu câu chuyện từ đâu, may mà Nhã Vy nhanh miệng hơn. Sau ngày đám cưới của Nhã Vy và Triều, Thuận cố lánh mặt và cố mà quên, và từ ngày bỏ lên Đà Lạt thì một phần đời của những ngày tháng bước vào tuổi biết buồn biết thương, biết vương biết vấn ở Tây Ninh xem như đã không có nữa. Cả hai người cùng nhìn bé Thảo Mi, hồn nhiên ăn ly kem đủ màu một cách ngon lành, rồi ngó ra đường, phía bên kia rạp Casino, quầy bán vé không còn mấy ai. Gánh bán bún bò bên lề đường vẫn đông từ xế trưa tới giờ, mặc dù cái nóng của nó và cái nóng của nắng chiều Sài Gòn không khác gì nhau, cũng có tiếng xuýt xoa, có tiếng xì xào và có những giọt mồ hôi rươm rướm chậm ở cuối bờ mắt đọng. Một lần nữa, Nhã Vy nhìn con rồi cho Thuận biết Triều đã chết trên chiến trường Triệu Phong, ngày bé Thảo Mi vừa mừng sinh nhật một tuổi. Thuận chợt thấy nghèn nghẹn, có cái gì đó làm tim mình đau nhói, đau hơn cái đau của ngày được tin Nhã Vy lấy chồng. Trên đường về, Thuận đưa hai mẹ con tới chỗ giữ xe gắn máy bên lề Lê Thánh Tôn, khúc gần thư viện Gia Long, Nhã Vy lấy miếng giấy nhỏ trong túi xách, viết vội địa chỉ đưa cho Thuận, nói nhỏ đã không còn ở chỗ cũ, Thuận nhận một cách lơ đểnh, lặng thinh. Con bé vòng tay chào, Nhã Vy lái xe bỏ chạy nhanh qua ngã tư, Thuận đứng bất động nhìn theo, tóc Nhã Vy thả dài, nhẹ bay xuôi theo chiều gió, giữa dòng sóng lá me vàng lả tả rơi, lửng lơ đuổi bắt bóng nắng chiều đi xuống, không khác gì cơn mưa bụi của Sài Gòn, cũng vẫn đi và về bất chợt.

*

   Thuận thân với Triều từ ngày hai đứa còn học những năm đầu ở trường tiểu học xã Cẫm Giang. Gia đình Triều tương đối khá giả, có nhà có cửa ở trên tỉnh cũng như có bà con sống ở dưới Sài Gòn, ngược lại, Thuận mồ côi mồ cút sống với mẹ và bà ngoại bằng nghề buôn thúng bán bưng, nuôi vừa đủ ba miệng ăn, may mắn không dư không thiếu. Nhà Thuận, một căn nhà lộp tôn, nằm khuất mình trên miếng đất nhỏ thoai thoải xuống bờ con sông Vàm Cỏ, không mấy xa bến tàu lớn về Bến Cầu. Triều ở xế phía trên chợ xã, dọc theo tỉnh lộ, cách hàng rào sân trường có đôi ba cây Phượng già nua, lúc nào cũng còn sót lưa thưa vài chục cánh hoa đỏ bầm trong những ngày cuối hè vào học lại. Giữa năm lớp nhì, gia đình Triều dọn về Tây Ninh, hai đứa chia tay từ đó, mãi cho tới ngày gặp lại nhau hôm đứng sắp hàng chờ vào cùng lớp đệ thất của trường trung học công lập tỉnh. Rồi mớ kỷ niệm của những sáng thách nhau đuổi chân chim sáo hoang trên đường tới trường, những chiều chờ đếm đám lục bình đầy hoa tím, phía bên kia sông xem cái nào về bên này bờ trước theo từng đợt sóng nhấp nhô hay của những trưa chia nhau trái ổi nhỏ tí teo, một nửa mầy một nửa tao, dưới bóng nắng nung người quanh sân vườn nhà ai đó, trong chuỗi ngày hồn nhiên thơ dại có thêm những ngày tháng buồn vui của tuổi biết buồn và chập chững những bước đầu đời học làm người mới lớn ở ngưỡng cửa trung học.

    Nhà Triều là một ngôi nhà gạch không lớn lắm nhưng có cái vườn cây khá rộng, gần bên cạnh căn nhà sàn bằng gỗ đen, nằm ngay đầu ngỏ vào xóm dân có đạo, sau lưng nhà thờ tỉnh, trên đường Pasteur, là con đường chạy dọc theo bờ tường bọc bệnh viện. Thuận thì ở trọ tại nhà bà dì quen, chị em bà con xa gì đó với ngoại, bà dì sống với người con gái lớn, cở trạc tuổi mẹ mình nhưng không lấy chồng, làm y tá, ở cuối ngã ba trường tư thục Văn Thanh. Bà dì thì ăn chay trường và tu tại gia, thường xuyên đi cúng chùa. Buổi sáng đi học, năm nào cũng vậy, Thuận đi bộ từ nhà trọ, theo đường xuống chợ cũ, chờ Triều ngay ngã tư Võ Tánh từ hướng Pasteur đến, rồi cả hai cùng nhập bọn với đám bạn khác tới trường. Một tuần vài lần, chiều về, Triều lấy cái xe đạp mới đến, thay phiên đèo nhau hết đường ngoài ngỏ trong, chợ xa phố gần rồi dựng xe trước rạp chiếu bóng cuối đường Gia Long, chia nhau ly nước mía nhỏ, xuýt xoa đọc tấm bảng quảng cáo vẽ hình chuyện phim mà phần lớn là phim Ấn Độ, trước khi ì ạch đẩy xe lên dốc tòa hành chánh về nhà trong tiếng cười, những tiếng cười của ngày tháng vô tư, cho tới tiếng cười của tháng ngày trong hồn đã có chút biết nhớ biết thương cái gì đó.




    Đầu năm đệ tam, bà dì quen bệnh rồi qua đời, người con gái lớn bán căn nhà dọn về mãi tận dưới Đức Hòa, Đức Huệ. Thuận vào ở trong nam ký túc xá, do hội phụ huynh học sinh tỉnh vừa cất xong chừng một năm qua, nằm bên cạnh đình Hiệp Ninh, có cái cổng xi măng trên đường Trần Hưng Đạo, ngó qua trường trung học. Sau lưng cổng là cái quán nước, bán đủ thứ, từ bánh mì, kẹo mứt tới bút viết sách mực ngay đầu con đường dốc thoai thoải dẫn lên ký túc xá. Giờ hai đứa không còn chờ nhau tại ngã tư Võ Tánh như những năm trước nữa, người tới trước thì chờ người tới sau tại cổng trường mỗi sáng, dù đứng dưới mưa hay trong màn sương đục mờ, trãi dài từ phía xóm chài bên kia sông, xuyên ngang sân trường loang lỡ cỏ. Cũng không còn đèo nhau trên xe đạp chạy rong, đã biết sợ mái tóc chảy chia hai bên kỹ càng, bị cơn gió ngược nào đó làm rối tung bực dọc. Tên mấy cuốn sách vật lý, hóa học, hình học đại số được nhắc tới nhiều hơn là những chuyện trên trời dưới đất không đầu không đuôi. Chưa biết chờ biết đợi, nhưng cả hai đã thường ngồi quán nước, tập tành uống ly cà phê nóng, nghe nhạc tình, cùng nhìn ra đường trong những chiều cuối tuần, thả hồn theo gió quyện tóc thề bay của ai đó, đan từng sợi nhỏ dài lưa thưa trên tà áo một màu trắng tinh, để rồi nhìn nhau cười, ngẫn ngơ trên đường về.

*

    Chiều chủ nhật, Thuận tình cờ gặp lại Nhã Vy trên chuyến xe đò giữa trưa từ Gò Dầu, hôm trở lên tỉnh sau khi về Cẫm Giang thăm nhà. Thuận quen Nhã Vy trong năm xuống học luyện thi đệ thất ở trường tư thục Hữu Đức, nằm gần cuối chợ Gò Dầu, bên bờ sông. Nhà Nhã Vy là cái tiệm bán thuốc tây lớn cạnh góc ngã tư, ngó ra sân văn phòng quận và đầu chợ. Vì là con nhà giàu cho nên cô nàng lúc nào cũng ăn mặc sạch sẽ, tươm tất hơn nhiều học trò cùng lứa khác. Thuận là thằng học trò giỏi nhất, được thầy Đức thương và để ý tới hơn cho nên cả lớp, ai nấy đều có vẻ nể nang, trong đó có Nhã Vy. Trưa nào cũng vậy, trước khi vào lớp lại buổi chiều, cô nàng đều mang theo vài cái bánh tây, năm ba cục kẹo, chia cho nhóm bạn, có cả Thuận, cùng ăn miếng một miếng hai, trong tiếng cười đùa theo mùi bùn của con nước vừa lớn bên này bờ sông Vàm Cỏ. Cuối năm, nhóm này nhóm kia chuyền nhau, viết đôi câu trong cuốn tập gọi là lưu bút, cũng nhớ hoài tình bạn hôm nay và cũng bảo đừng quên nhau sau này, cái chuyện cũng như bao lứa tuổi học trò khác đi qua đã làm, từ những ngày xa xưa lắm. Cũng giống như các đám bạn khác, chia tay nhau, mỗi đứa mỗi nơi, người về dưới Bình Nguyên, Trãng Bàng, người ngược lên Gò Chùa, Trà Võ, Cẫm Giang, Thuận không còn gặp Nhã Vy từ hôm đó và quên dần cô nàng trong cái thấp thỏm, lo âu của từng ngày chờ mùa thi tới.

    Xe đông khách, chỗ ngồi không gần lắm, qua tiếng mất tiếng còn, ngờ ngợ nhận ra nhau nhưng không nói được gì nhiều. Về tới Tây Ninh, bến xe vẫn còn đông người dù mặt trời đã khuất hơn nửa phố chợ. Nắng dịu dần nhờ gió mang hơi nước từ phía sông lên, mấy chiếc xe lôi máy giành khách, ồn ào trước cửa sân cái khách sạn độc nhất của tỉnh lỵ ngang hông trụ sở xã Thái Hiệp Thạnh. Hai đứa thả bộ dọc theo phố Gia Long, qua cầu Quan, lên đầu dốc tòa hành chánh. Nhã Vy hỏi Thuận nhiều hơn là trả lời, Thuận cứ thong thả trả lời nhiều hơn là hỏi, từ chuyện ngày xưa còn bé của quê nhà tới chuyện bây giờ của phố xá thị thành. Nhã Vy cùng Hiếu, cô bạn thân, có tiệm tạp hóa lớn trong chợ Gò Dầu đậu vào đệ thất, rồi vào trường học chung lớp cho đến giờ. Hiếu ở trọ tại nhà người quen bên kia đường, ngó qua nhà Nhã Vy không quá tầm mắt, sáng đến trường hay chiều về nhà, hai người lúc nào cũng có cặp có đôi. Tới nhà, một căn phố lầu đầu ngã ba trên đường Trần Hưng Đạo, dọc bờ sông, bên hông cư xá sĩ quan tỉnh, Nhã Vy hồn nhiên cười chào, Thuận đã đi thật xa rồi mà cô nàng vẫn còn đứng trước nhà nhìn theo, bỗng dưng thấy buồn muốn khóc. Ở phía cuối đường, mây rủ nhau xuống thấp về ngang qua sân ký túc xá, nắng vội vàng bỏ đi rồi mất hút, trời lửng thửng vào đêm. Trong phòng học, bài toán hình học vẫn còn bỏ dỡ trên bàn, thằng bạn ngồi bên thắc mắc nhìn không hỏi. Chưa có đêm nào Thuận lại mong cho trời mau sáng như đêm nay.

    Giữa năm đệ nhị, sau ngày Nhã Vy mời cả bọn, trong đó có Triều xuống nhà dưới Gò Dầu chơi, về lại Tây Ninh, Triều thường hỏi Thuận nhiều thứ về cô nàng và cũng không ít lần đứng một mình, trên hành lang lầu lớp học nhìn qua phía bên dãy lầu con gái. Thuận không nhắc nhở gì về Nhã Vy trước mặt Triều, nhưng kể từ ngày gặp lại, trên chuyến xe chiều từ Gò Dầu về, hình ảnh cô nàng cứ ẩn hiện đâu đó quanh mình, trên những trang sách học cũng như trong giấc ngủ muộn rả mệt cuối đêm, từ đó Thuận chợt biết rằng hồn mình đã vừa chớm yêu, một chút tình yêu riêng mình và chỉ có một mình mình hiểu, giữa những buồn vui vô tư của đám bạn giờ đang chập chững vào phần đầu của cuộc đời người lớn. Bài học thi tú tài ngày càng nhiều, nhứt là đám con trai, không thức đêm cũng ráng mà thức, công thức, định luật toán, hóa học, vật lý nuốt không nổi cũng phải ráng mà nhét vào đầu, nếu không thì, đường vào quân trường luôn rộng cửa chờ đâu đó. Ngoài những giờ trong trường trong lớp, đám bạn bốn năm người đã không còn thường gặp nhau, Triều đôi lần lái xe Honda vào ký túc xá chỡ Thuận, đi ngồi nhâm nhi chút cà phê sáng chủ nhật ngoài chợ cũ hay tại dãy quán nước đối diện ty cảnh sát, không xa trường Văn Thanh bao nhiêu. Hai người không còn thường tản bộ, theo chân Nhã Vy và Hiếu về đến nhà khi tan trường chiều về như trước đây, bỏ mặc phố xá buồn thỉu buồn thiu dưới ánh đèn đường vàng màu lá úa.   

*

    Cuối năm đệ nhất, trước hôm Thuận rời ký túc xá tỉnh, chuẩn bị khăn gói về lại Cẫm Giang chờ ngày thi tú tài hai, Triều mời cả bọn đến nhà ăn bữa tiệc nhỏ gọi là chia tay. Cả đám ngồi quanh cái bàn lớn, trong vườn cây giữa trưa, nhắc chuyện xưa tích cũ, chuyện vui chuyện buồn của những ngày tháng đã qua. Nhã Vy cũng như Hiếu vui cười kể mớ kỷ niệm hồn nhiên mà hai cô có với Thuận ở trường Hữu Đức dưới Gò Dầu, rồi buổi đầu bối rối khi gặp Triều do Thuận giới thiệu làm quen vào buổi chiều cuối tuần, tại cái quán bán chè sâm bổ lượng bên bờ sông chợ cá, dưới dốc cầu Quan. Xế trưa, chia tay nhau, ai nấy không quên chúc mình chúc người, may mắn trong ngày thi sắp tới. Thuận đi bộ theo Nhã Vy và Hiếu trên đường về, nắng đã chia đôi con sông từ lâu, bên này trong bên kia đục theo con nước vừa lớn. Đôi lần Thuận ngập ngừng định nói với Nhã Vy điều gì đó nhưng lại thôi, lòng dặn  mình thôi đừng nghĩ đến, khi tương lai của một thằng con nhà nghèo, vẫn còn là căn nhà tranh và hai bàn tay trắng.

    Đậu tú tài hai xong, Thuận thi vào học Hóa Học ở trường Kỹ Sư Phú Thọ, Triều quyết định tình nguyện đi Võ Bị Đà Lạt, chuyện mà anh ta chưa hề nói với ai, ngay cả với Thuận. Nhã Vy cùng cô bạn thân Hiếu, dắt nhau vào ngành Cán Sự Điều Dưởng, trường nằm sát bên cạnh bệnh viện Từ Dũ. Hôm tiễn Triều lên Đà Lạt, trong phòng chờ đợi tại phi trường có mặt đủ bốn người, cũng có ly cà phê nóng, cũng có lời tạm biệt chia tay và cũng có những cái nhìn lặng câm không nói.  Chuyến bay Hàng Không Việt Nam cất cánh đúng giờ, bỏ trời Sài Gòn lại sau lưng, trong lưng chừng của bóng nắng xế chiều. Năm học đầu, Thuận có đến nhà Nhã Vy vài lần, một căn biệt thự nhỏ đối diện bệnh viện Bình Dân trên đường Phan Thanh Giản. Nhã Vy ở với vợ chồng anh chị hai cùng đứa cháu  gái, hai vợ chồng dạy ở trường Hồng Bàng, vui tính, thân thiện và dễ mến, lúc nào cũng bảo Thuận ghé chơi khi rảnh rổi. Thuận có đến năm ba lần sau đó, khi thì ngồi kể chuyện cơm áo học hành trước hiên nhà, khi thì kéo nhau đi ăn chè Hiển Khánh ở Phan Đình Phùng hoặc thả bộ qua ăn bún bò với anh chị hai bên kia đầu đường Yên Đổ, rồi còn phải lo cho mình nên không thường lắm. Tiền nhà tiền học nhiều khi cũng đủ làm Thuận đau đầu không ít, ở quê nhà bà ngoại lúc này già yếu và mẹ Thuận cũng không khỏe hơn xưa, chợ bán bữa được bữa không, còn may là gia đình vẫn tạm sống trong cảnh đời lăn lóc. Nhiều đêm ngồi một mình với mớ sách vở giữa khuya, đã có nhiều lần Thuận rấm rứt khóc, khóc thương mẹ thương bà, thương phận đời nghèo khó và thương cả mối tình chưa dám ngỏ. Ở trọ trên căn gác xếp gần ngã tư Bãy Hiền, có xe buýt chạy ngang qua nhưng đâu ai biết là Thuận đã thường đi bộ đến trường, để dư chút đỉnh tiền, dành cho vài thứ cần khác. Thỉnh thoảng Nhã Vy cũng cho biết là có nhận thư Triều gởi về từ Đà Lạt, có hỏi thăm Thuận đôi câu. Đầu mùa hè, cuối năm thứ hai, sau khi thi cử xong, nhờ người quen của một anh bạn học chung giới thiệu, Thuận đến dạy kèm toán và hóa học cho đứa con gái của gia đình ông nha sĩ khá giàu và vài cô bạn cùng lớp, sửa soạn thi tú tài một năm tới, nhà nằm ở góc đường Mạc Đĩnh Chi, ngó qua nghĩa trang. Từ đó, Thuận tạm kiếm đủ tiền ăn tiền học cho mình, đôi khi cũng mang chút ít về Cẫm Giang giúp mẹ và bà có thêm chút vốn liếng bán mua.

*

     Nhã Vy tốt nghiệp cán sự điều dưỡng, về lại Tây Ninh, làm y tá trưởng tại bệnh viện tỉnh, nằm cách nhà Triều không xa, cạnh bên Tòa Án, không bao lâu thì Triều cũng ra trường, theo sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến ra đóng ở Cam Lộ, Đông Hà. Thuận có đến dự buổi lễ tốt nghiệp của Nhã Vy và Hiếu nhưng không gặp được Triều, khi anh về Tây Ninh nghỉ phép, trước ngày lên đường ra đơn vị. Nhã Vy đi rồi, Sài Gòn đối với Thuận cũng vẫn vậy, vẫn ấp ủ hoài mơ ước mối tình chưa dám ngỏ, dù quanh quẩn tháng năm này đã có lần cùng nhau đi về, trên con đường quen hay ngồi hỏi chuyện ngày mai trong quán nước nhỏ bên lề một góc phố vắng, Thuận tiếp tục lầm lũi đời mình, sống ngày hai buổi, mưa nắng nắng mưa, theo định luật của đất trời với cái vai đời được sắp sẳn trong vở tuồng định mạng, buồn nhiều hơn vui từ những ngày sau đó.

    Chiều chủ nhật, vừa vào học năm cuối được vài hôm, Thuận nhận thiệp báo tin Nhã Vy và Triều cưới nhau do đứa cháu của Nhã Vy từ nhà anh chị hai mang tới, Thuận chưa kịp hỏi thêm lời gì thì con bé đã đạp máy xe Honda bỏ chạy đi. Cầm cái thiệp trở lên gác, để hờ lên mấy cuốn sách còn lật dỡ dang, nằm ngổn ngang trên bàn học, Thuận không thấy đất trời sụp đổ, nhưng cảm thấy có cái gì tận cùng mất mác đâu đó, làm tim mình chợt đau nhói, trong phút chốc tất cả những gì mà Thuận ôm ấp bấy lâu bỗng dưng trở thành vô nghĩa, Thuận chết trân và lặng câm đứng nhìn nó rồi nhìn ra ngoài khung cửa sổ nhỏ, không tròn cái hình vuông, ở một phía xa cuối đường, trời nhuộm một màu tím bầm của mây chiều đang xuống thấp. Bên kia nhà thờ Đắc Lộ, chuông lễ chiều thong thả đổ từng hồi một, giờ này khu ngã tư Bảy Hiền thấp thỏm vào đêm, chuyến xe đò về Tây Ninh đã bỏ đi từ lâu lắm rồi.  Thuận mở lá thư viết định gởi cho Nhã Vy, đắn đo sửa đi sửa lại, từ lâu lắm nhưng chưa dám gởi, để cạnh bên cái thiệp báo tin lễ cưới, ngồi gục đầu trên bàn trong bóng đêm rươm rướm khóc. Dăm ba tia sáng vàng vỏ từ ngọn đèn đường len nhẹ vào căn phòng tối om, trên bàn hàng chữ “trăm năm hạnh phúc” rực lên một màu đỏ thẩm. Thuận không về Tây Ninh dự đám cưới của Nhã Vy và Triều, nhờ Hiếu nhắn lại là phải đi xa có việc cần gấp. Tốt nghiệp, Thuận được nhận vào làm ở trung tâm Nguyên Tử Năng Đà Lạt như đã nộp đơn xin từ mấy tháng trước đây. Thuận về Cẫm Giang thăm mẹ và bà ngoại vài ngày rồi chuẩn bị đi nhận việc. Buổi chiều xuống Sài Gòn, trước hôm khăn gói lên Đà Lạt, Thuận quyết định đem bỏ cái thư dài mà anh đã viết, đề địa chỉ của Nhã Vy ở Tây Ninh, có sửa lại vài đoạn và thêm câu “chúc Nhã Vy và Triều được trăm năm hạnh phúc” ở cuối thư, ngay thùng thư bên hông nhà thờ Đức Bà.  Ngày xách cái túi vải, xuống chuyến xe đò nhỏ chạy đường Sài Gòn – Đà Lạt tại bến xe chợ, bên cạnh rạp hát Hòa Bình, ngó xuống hồ Xuân Hương mờ mờ sương chiều lạnh, cũng là ngày Thuận bỏ Sài Gòn đi và cố mà quên Tây Ninh từ đó.

*

    Chiến trận độ rày xem ra căng thẳng và khốc liệt hơn tại các tỉnh địa đầu giới tuyến và dọc theo biên giới Miên Lào. Bạn bè có hai ba đứa kém may, đã nằm xuống nơi cuối núi đầu rừng khi chưa tròn tuổi lính. Thuận xin nghĩ vài ngày, về tới Sài Gòn hôm qua, chưa kịp về Cẫm Giang thì gặp lại Nhã Vy. Hai người ngồi trong phòng khách nhìn ra đường, trời đã trưa hẳn từ lâu, và đứng gió, con bé Thảo My còn nằm ngủ muộn trên cái đi-văng cạnh tường, phía trên có treo tấm ảnh bán thân của Triều trong quân phục sĩ quan Võ Bị. Loanh quanh đôi câu chuyện, cũ không cũ mới không mới, chưa đâu vào đâu thì Thảo My thức, nó dụi mắt nhìn Thuận cười hết sức ngây thơ. Ở đó không lâu, Thuận từ biệt ra về, Nhã Vy bồng con đưa ra cửa, con bé vẫy tay, Thuận mĩm cười xoa đầu nó khen giỏi. Chiếc xe xích lô đạp bên kia đường quay qua đón, Thuận không buồn hẹn ngày gặp lại, gật đầu chào. Chờ cho Thuận ngồi vào xe, Nhã Vy nói với theo là đã đọc thư của Thuận rồi. Cũng như lần chia tay trước nhà ở Tây Ninh, khi gặp lại Thuận, trên chuyến xe chiều từ Gò Dầu về tỉnh, chiếc xe xích lô  khuất mất ở ngã rẻ, cuối đường Trần Quý Cáp rồi mà Nhã Vy vẫn còn đứng nhìn theo, ôm cứng con trong lòng, bỗng dưng buồn muốn khóc. Trên xích lô, Thuận cũng bỗng dưng muốn khóc, khóc trong niềm vui muộn màng vừa chợt đến, niềm vui mà từ lâu rồi Thuận chưa có được. Cuối cùng, Thuận cũng nói ra được những gì mình đã giữ kín cho riêng mình qua bao nhiêu năm rộng tháng dài.

    Nửa phần đất miền Trung mất gần hết vào tay quân cộng sản Bắc Việt, hàng hàng lớp lớp người, dắt dìu bồng bế nhau, bỏ chạy trốn giặc vào Nam, Thuận theo đoàn người di tản về tới Xuân Lộc nơi chính quyền VNCH lập phòng tuyến cố thủ bảo vệ Sài Gòn, Cộng Sản Bắc Việt đang quần thảo đánh nhau với quân của Sư Đoàn 18, những người lính quyết một mất một còn với giặc, cùng ngày mà  tên phi công nằm vùng phản quốc tên Trung, lái oanh tạc cơ dội bom Dinh Độc Lập. Tức tối vì bị chận đứng và thiệt hại khá nặng, Bắc quân điên cuồng dùng tất cả những khẩu đại pháo cở lớn và xe tăng T54 có mặt, cùng số quân tăng viện từ cao nguyên xuống, pháo kích, tấn công tới tấp, nhất định chọc thủng vòng đai cho bằng được. Thuận cùng hai mươi mấy người di tản khác đã bị trúng đạn pháo chết, khi họ cố vượt qua một khoảng đồng rộng trồng khoai mì hoang, không xa giao thông hào phòng thủ của quân VNCH bao nhiêu. Xác Thuận nằm duỗi thẳng, trên đường đất còn in rõ dấu dây xích xe tăng cộng quân chằng chịt một vùng, trong màn bụi đỏ mịt mù giữa cái nắng quái chiều hôm đang xuống của đất trời Long Khánh.

*




    Trên sàn tàu chiếc thương thuyền lớn còn sót lại, đang hối hả rời bến Bạch Đằng, chở theo cả ngàn người bỏ Sài Gòn ra đi rạng sáng ngày 30 tháng tư, ngày miền Nam lọt vào tay quân giặc Bắc, Nhã Vy ôm con, mắt đăm đăm nhìn xuống đám người đông như kiến, có già có trẻ, gọi nhau ơi ới, đang cố bám các mạng dây thừng trèo lên, trong lúc chiếc tàu chầm chậm xa bờ, mong tìm thấy Thuận trong số những người đó, nếu không cũng ở trên một chiếc tàu nào khác quanh đây. Tàu chạy qua ngang khúc rẻ, đầu kho xăng dầu 18 lâu rồi, ở phía bến Bạch Đằng vẫn còn người và người, nhốn nháo giữa cái nắng đầu mùa hạ nóng nung người của trời Sài Gòn. Nhã Vy một lần nữa ôm sát con mình vào lòng, ngước nhìn lên khoảng trời mênh mông thì thầm, như đọc một đoạn kinh cầu, xin người có được cuộc tình trọn vẹn, ở lại dưới mộ sâu ngàn năm yên nghỉ và với người chưa được trọn vẹn cuộc tình, còn đâu đó trên đường đời nghiệt ngã, xin nhớ cho, vẫn có một người đã biết chờ ngày mai của hôm qua, dù có chút muộn màng.

 

Thuyên Huy

Viết để nhớ những người bạn, không phải tên trong chuyện, của tôi.

Saturday, February 27, 2021

Xe Tang Ngang Qua Phố - Nguyễn Đạm Luân

Xe Tang Qua Ngang Phố

Nhớ chiếc xe tang đưa một người quen ngang qua phố cũ Lê Đại Hành, tháng Tám năm 1972





 












Xe tang qua ngang phố

Người con gái theo sau

Giáo đường chuông buồn đổ

Khăn trắng một trời sầu

 

Nức nở chùng tiếng khóc

Chùm hoa dại để tang

Con ngựa già gầy guộc

Xa còn xa nghĩa trang

 

Tóc rối bời lấp mặt

Người con gái lầm thầm

Lời thương lời nhung nhớ

Còn đâu buổi trăm năm

 

Mưa chợt về u ám

Phố vội vã lên đèn

Trời bây giờ tháng Tám

Mờ mịt con đường quen

 

Đưa người về cát bụi

Chờ nhau cỏi thiên thu

Vành khăn tang quấn vội

Người bỏ người bơ vơ

 

 Nguyễn Đạm Luân

Tháng tám 2019

 

 

 

  

Trước Khi Thất Trận - Trần Vũ

 

Trước Khi Thất Trận




 

Mỗi đứa bé lớn lên đều khám phá xã hội vây quanh cùng thế giới bao la qua nhiều cách: tiếp xúc với thực tế, lắng nghe người lớn nói chuyện và học hỏi ở trường lớp. Sau nữa là đọc sách. Cách sau cùng cho tôi nhiều hiểu biết hơn những cách kia.

Lúc nhỏ trong nhà gọi đùa tôi là mọt sách. Tôi trở nên mọt sách trước tiên qua truyện tranh. Những năm tiểu học tôi say mê TinTin, Astérix & Obélix, Lucky Luke, Fantasio & Spirou với chú vượn marsupilami… Đi học về là tôi chúi mũi vào 12 Thành Công Lực của cậu bé tí hon Benoît, Liều Thuốc Hóa Chó với Lữ Hân & Phi Lục, Chú Tí Làm Phù Thủy trong làng Schtroumpf, Điếu Xì Gà Pharaon, Đền Thờ Mặt Trời với Tintin và thuyền trưởng Haddock, hoặc Anh em nhà Dalton hay Gaston LaGaffe… Lớn thêm chút, tôi mê mẩn truyện tranh Bob Morane, Django Blueberry nhưng mê nhất vẫn là Tanguy & Laverdure, rồi Buck Danny với các trận không chiến và những cuộc phiêu lưu kỳ thú của Blake & Mortimer.

 

Cuối thập niên 60 sách dịch phồn thịnh, truyện tranh dịch nhiều sang tiếng Việt. Mỗi trưa thứ tư sau tan trường Lasan Taberd, cha tôi giắt qua nhà sách Liên Châu bên hông nhà thờ Đức Bà cho tôi mua truyện tranh của các nhà Dupuis, Dargaud, Casterman… Nhưng vì là tiếng Pháp nên tôi không hiểu chi hết. Về đến nhà là tôi chạy bay ra hiệu sách Tân Định mua ấn bản Việt ngữ của Nhà Sách Vàng hay Nxb Phong Phú dịch Tanguy & Laverdure là Trần Vũ & Lê Dũng, Fantasio & Spirou là Phan Tân & Sĩ Phú, con vượn marsupilami là chú vượn đốm; Johan & Pirlouit là Lữ Hân & Phi Lục, Luky Luke là Lục Kỳ, Schtroumpf là “Xì-Trum”… Tôi xem hình màu trong bản Pháp văn rồi đọc đối thoại trên ấn bản đen trắng tiếng Việt. Tôi đọc lén thêm sách hình bị bố mẹ cấm, cho là nhảm nhí, là Con Quỷ Truyền Kiếp với Con Quỷ Một Giò… Kỷ niệm ấu thơ là mặt nệm la liệt sách.

Truyện dài đầu tiên tôi đọc trong đời, năm lên 7 tuổi, là cuốn Thằng Vũ của Duyên Anh do anh cả tôi mua làm quà sinh nhật cho em út. Tôi rất ngạc nhiên vì tựa sách mang tên mình nên tò mò mở ra xem và bị cuốn hút vào câu chuyện của thằng Vũ với con Thúy, thằng Vọng… Tôi say sưa với cảnh thằng Vũ tu luyện phi tiêu phóng nát cánh cửa cầu tiêu, kinh hoảng khi thằng Vọng chết đói và ngạc nhiên không hiểu vì sao con Thúy sai khiến thằng Vũ dễ dàng… Tôi đọc tiếp Bồn Lừa, Chương Còm, Hưng Mập, Dzũng ĐaKao, Mơ Thành Người Quang Trung rồi Duyên Anh dẫn tôi vào Ngựa Chứng Trong Sân Trường lúc nào không hay. Đến câu chuyện tình học sinh giữa Chu Chỉ Nhược kẹp tóc với húi cua Đoàn Dự trong Cám Ơn Em Đã Yêu Anh cũng của Duyên Anh, thì tôi đã lên trung học.

Giống “mọi” con nít, những năm tiểu học tôi đọc hàng tuần các tạp chí Thằng Bờm của Nguyễn Vỹ, Thiếu Nhi của Nhật Tiến, sau đó lên trung học đọc tiếp Ngàn Thông, Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc rồi Tủ sách Trăng Mười Sáu của Nhã Ca. Nhưng phải nói là những truyện Thỏ Đế, Chiếc Xe Thổ Mộ, Mưa Nguồn của Bích Thủy, Chiếc Lá Thuộc Bài, Cánh Hoa Tầm Gởi, Xóm Nhỏ của Nguyễn Thái Hải, Vượt Đêm Dài, Ngục Thất Giữa Rừng Già của Minh Quân hơi chán đối với tôi. Tiếng Chuông Dưới Đáy Biển của Nguyễn Trường Sơn, Pho Tượng Rồng Vàng, Mật Lệnh U Đỏ của Hoàng Đẳng Cấp trinh thám hơn chút nhưng vẫn rất nhẹ nhàng, luôn kết có hậu.

Lui xa hơn, Vỡ Đê của Vũ Trọng Phụng, Ông Đồ Bể của Khái Hưng mang không khí rất xưa. Cô Giáo Minh của Nguyễn Công Hoan, Lê Phong Phóng Viên của Thế Lữ cũng xưa. Bước Khẽ Đến Người Thương, Cổng Trường Vôi Tím của Nhã Ca thì dành cho nữ sinh. Trong Mưa Trên Cây Sầu Đông của Nhã Ca, cô bé Đông Nghi khóc sướt mướt từ trang đầu đến trang cuối vì bị ông Bồ Đào “để ý”, trang tiểu thuyết ướt nhèm nhẹp nước mắt! Tất nhiên là tôi cũng đọc Ví Dụ Ta Yêu Nhau của Nguyễn Thanh Trịnh, Anh Chi Yêu Dấu của Từ Kế Tường, Chủ Nhật Uyên Ương của Đinh Tiến Luyện, Cô Hippy Lạc Loài của Nhã Ca… nhưng tôi thấy phải kiếm một thứ khác, hấp dẫn hơn.

Tôi bắt đầu mê loạt sách 15 Truyện Phiêu Lưu, 15 Truyện Đường Rừng, 15 Truyện Đường Biển, 15 Truyện Mùa Hè… chúng mở rộng chân trời. Chúng là những sách dịch đầu tiên tôi đọc. Tôi vẫn nhớ câu chuyện của hai bố con sinh sống trong một điền trang bị “mọi” da đỏ tấn công, cô bé nạp đạn liên tay cho bố dùng súng trường Winchester bắn nhau với bộ lạc Apaches, rồi trang trại bị bên da đỏ phóng hỏa bằng tên lửa, hai bố con phải leo lên nóc bám vào những tàng cây cổ thụ tụt xuống đất trốn vào rừng giữa khói lửa mù mịt… đọc hồi hộp kinh khủng. Tim thắt lại khi hai cha con ngộp khói phải lấy khăn nhúng nước buộc quanh mặt, rồi cha trúng tên vào cánh tay, cô bé hốt hoảng cầm lấy súng lục bắn vào đầu một tên da đỏ vừa chồm qua cửa để cứu cha… rất giống trong phim The Unforgiven có Audrey Hepburn đóng với Burt Lancaster.

Tôi khám phá hiệu ứng của vũ khí, súng ống và action trong truyện.

Hết năm 1972 tôi lên trung học. Lúc này là thời kỳ của Hạ Lào 1971, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, Tống Lê Chân 1973, chiến sự ác liệt, ngưng bắn da beo nhưng vẫn đánh nhau ở Cửa Việt, lữ đoàn thủy quân lục chiến của trung úy Cao Xuân Huy đang giành giật từng thước đất. Anh Cao Xuân Huy sẽ in cho tôi tập truyện ngắn đầu tay Ngôi Nhà Sau Lưng Văn Miếu 17 năm sau… Nhưng khi ấy tôi chưa biết, còn đang ngụp lặn trong phim Lý Tiểu Long đấm liên tu vào mặt Chuck Norris, khoái chí khi Trần Tinh, Vương Vũ, Khương Đại Vệ, Địch Long với La Liệt huơ đao chém loạn xà ngầu… Khi ấy, phim Tây cũng bắt đầu nhiều tình dục. Richard Burton thủ vai quỷ râu xanh trong Barbe Bleue với Nathalie Delon khỏa thân trắng muốt, Jane Fonda cởi hết áo quần trong phim Barbarella, Jill Ireland bốc lửa đóng cặp với Charles Bronson trong Người Tình Của Tên Sát Nhân… Cũng là những năm các rạp Rex, Eden, Mini Rex, Casino, Lê Lợi, Nguyễn Văn Hảo, Đại Nam, Văn Hoa chiếu Dr. Jivago, Love Story, Romeo et Juliette, La Guerre de Murphy, Mourrir d’Aimer, Thập Tứ Nữ Anh Hào, Bố Già, Độc Thủ Đại Hiệp, Hiệp Sĩ Mù… Thời đại đổi khác. Nhạc kích động dồn dập. Phim ảnh mạnh bạo nên những truyện Người Áo Trắng, Chim Hót Trong Lồng, Chuyện Bé Phượng, Thềm Hoang của Nhật Tiến, Bầy Phượng Vỹ Khác Thường của Nhã Ca, Khung Rêu của Nguyễn Thị Thụy Vũ trở nên lạt đối với thế hệ lớn lên dưới Đệ Nhị Cộng Hòa.

Chúng tôi khoái Kinh Nước Đen của Nguyễn Thụy Long, Vòng Tay Học Trò của Nguyễn Thị Hoàng hơn Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Thị Vinh, Doãn Quốc Sỹ. Chúng tôi chưa biết đến Bạch Hóa của Cung Tích Biền. Chưa biết cái hay trong Tàu Ngựa Cũ của Linh Bảo. Chưa thấm Buồn Vàng của Dương Nghiễm Mậu. Chưa biết Mặc Đỗ. Kho tàng đã mở nắp nhưng lũ thiếu niên chưa kịp vươn tay vì cánh tay còn ngắn.

Truyện dài nào ghi dấu ấn lên tuổi hoa niên nhiều nhất?

Về Miền Đất Hứa của Léon Uris. Bản dịch Thế Uyên. Exodus giúp tôi nhận thức có một cuộc chiến khổng lồ với trại tập trung, với ghetto Varsovie và không chỉ có một cuộc chiến mà nhiều cuộc chiến. Tôi bước từ Người Anh Cả của Lê Văn Trương, từ bàn đèn thuốc phiện sang Ba Lan, Palestine với những chi tiết khủng khiếp. Dov Landau, con chuột của ghetto, chui dưới ống cống về nhà nhìn thấy xác anh chị mình cháy đen vì bị Waffen-SS phun lửa. Karen Hansen, cô bé tóc vàng ném cho cha con búp bê trên sân ga khi tàu chuyển bánh, vì vụt ý thức cha cần ôm con búp bê thay thế mình vào lòng. Sẽ vĩnh viễn chia cách. Nhận thức của mỗi đứa bé khi trí não bị giáng đập bằng búa tạ luôn là những thảm kịch. Bên cạnh, Để Tưởng Nhớ Mùi Hương của Mai Thảo là một sàn nhảy tỉnh lẻ ở Mỹ Tho ít bi kịch. Rồi Jordana Ben Canaan, tuổi trẻ Yom Kippur, rực rỡ hân hoan và sống động. Jordana yêu say đắm cuồng nhiệt David Ben Ami, bị Ả-rập hãm hiếp cắt vú tưới xăng lên mặt đốt. Một xử giảo ngay trên Đất Hứa. David Ben Ami vướng rào kẽm gai, ruột đổ lòng thòng, cố gắng cho nổ hai trái lựu đạn cuối cùng… Tôi chưa đoán ra là mình sẽ lên một chuyến tàu chứa đầy tỵ nạn cũng đi tìm đất hứa ít lâu sau. Đất Hứa? Lính Phi cầm gậy đánh đập thuyền nhân không ra chào cờ Phi trong trại Palawan, Vietnamese Refugees Camp. Tôi vẫn bất an mỗi khi nghe lại bản nhạc Exodus làm nền cho Mậu Thân 68. Chừng như hai thứ ấy đã nhập một.

oOo

Thành tựu lớn nhất của Văn học Miền Nam với riêng cá nhân tôi, là ở bộ môn dịch thuật. Các dịch giả trong Nam am tường Anh-Pháp-Hoa, cẩn trọng và tài hoa, đã đem đến cho tuổi trẻ miền Nam cả một vũ trụ Tây phương và Á đông, với biết bao kiến thức và hoài bão. Ba năm 73, 74, 75 là ba năm tôi đọc ngốn ngấu sách dịch. Lứa tuổi 11, 12, 13 là lứa tuổi của khám phá. Sách dịch đem đến những gì không có, không trông thấy ở Sàigòn và giúp trí tưởng thăng hoa cao vút. Tôi nuốt hết Kiều Giang, Cuốn Theo Chiều Gió, Trong Gia Đình, Vô Gia Đình, Chùm Nho Phẫn Nộ, Đường Về Trùng Khánh, Gió Đông Gió Tây, Trong Một Tháng Trong Một Năm, Đỉnh Gió Hú, Chuông Gọi Hồn Ai, Quần Đảo Ngục Tù, Giã Từ Vũ Khí, Tầng Đầu Địa Ngục, Đất Tiền Đất Bạc, Anna Kha Lệ Ninh, Một Thời Để Yêu… giống uống sinh tố. Riêng Hoàng Tử Bé, Bay Đêm, Cõi Người Ta của Saint Exupéry phẳng lặng rì rầm như liều thuốc ngủ. Nhá vài trang là thiếp vào cõi mộng mị thần tiên.

Một thể loại kỳ vĩ khác ập đến khi ấy là sách chiến tranh.

Đến giờ tôi vẫn không biết Lê Thị Duyên là ai nhưng bà khai sáng trí óc tôi qua Tủ sách Adolf Hitler của Nhà Sông Kiên. Bà ập vào tôi như cuồng phong. Bên cạnh Otto Skorzeny và Những Sứ Mạng Bí Mật, Hitler và Những Tướng Lĩnh Đức Quốc Xã, Hitler và Những Tên Ác Quỷ Y Khoa, Hitler và Trận Đánh Normandie, Mười Ngày Cuối Cùng của Hitler, Hitler và Cuộc Mưu Sát các Lãnh Tụ Đồng Minh, Hitler và Lò Thiêu Sống Dân Do Thái, Bộ Mặt Thật của Nhà Độc Tài Phát-Xít Mussolini… Lê Thị Duyên dịch Sấm Sét Thái Bình Dương của Albert Vulliez, 41 chương, dầy 800 trang, mê hoặc từ đầu chí cuối. Trận đổ bộ lên Betio, Tarawa, Lê Thị Duyên dịch hết sức mạnh của ngôn ngữ.

Tủ sách Khoa học Nhân văn của Nxb Lê Thanh Hoàng Dân với dịch giả Nguyễn Nhược Nghiễm cũng cống hiến những bản dịch phi thường mà đến hôm nay đọc lại, so sánh với bản Pháp văn, tôi vẫn thấy bản tiếng Việt vượt trội ở sức gây mê, trên giọng văn và ở cảm xúc. Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thống tướng Douglas McArthur, danh tướng Patton, Thần Phong Kamikaze, Tiềm Thủy Đĩnh Tự Sát, Mật Vụ Gestapo, Cánh Hoa Rực Lửa, Yamamoto và Những Trận Đánh Lịch Sử nhưng thành công nhất vẫn là Samourai của Saburo Sakai. Hằng đêm tôi thiếp ngủ với sách gối đầu giường rơi vung vãi trên đất. Trên sàn nhà là Con Cáo Già Sa Mạc Rommel của Desmond Young qua bản dịch Lê Thị Duyên, Hitler và Mặt Trận Miền Đông của Paul Carell bản dịch Mai Trường. Mê sách chiến tranh nên tôi thoát khỏi tay Bà Tùng Long, cũng thoát khỏi ánh mắt Quỳnh Dao vì bố mẹ cho là ủy mị.

Một thể loại khác, gia đình cũng cấm, nhưng tôi đọc lén. Có lẽ với hầu hết nam sinh miền Nam, khám phá tình dục trên trang sách bắt đầu với Kim Dung hoặc Người Thứ Tám. Với tôi là Z-28. Đám nam sinh tuy mỗi sáng thứ hai cất tiếng hát

Lòng ta nhất quyết nên người

theo gương sáng bao bậc đàn anh

trường Lasan chỉ lối soi đường

 

chết điếng với Đoàn Vũ Khỏa Thân, Mèo Xiêm Cọp Thái, Nữ Thần Ám Sát, Vệ Nữ Đa Tình, Người Đẹp Qui-tô, Bí Mật Hồng Kông, Mây Mưa Thụy Sĩ… Chúng tôi run rẩy trước cảnh Tống Văn Bình khuỳnh chân xuống tấn, dồn khí công xuống đan điền, thét tiếng thét “Kiai” kinh hồn của võ sĩ nhu đạo và chém atémi vô yết hầu đối phương… Lâm ly không thể tả! Cũng lâm ly như làn da mịn mát ngực trần của các nữ phản gián vòng eo nhỏ bằng chét tay, vòng ngực 90, vòng mông 90, nói chuyện ngọt ngào và khỏa thân dưới áo lông thú như Z-33 Trên Công Trường Đỏ. OSS 117 hay James Bond 007 của Ian Fleming thua Người Thứ Tám xa, trên cả hai mặt võ thuật và khêu gợi.

Ngay cả khi đám nam sinh Lasan chưa ước lượng được vòng ngực 90 với vòng mông 90 là như thế nào và dùng làm gì, thì vẫn thấy OSS 117 với 007 không bằng.

oOo

“– Ông bán cho em quyển “Một thời để yêu và một thời để chết”.

Tôi ngước nhìn cô bé đứng trước quầy. Em mặc chiếc áo mưa mầu xanh nhạt và tay cầm chiếc mũ sũng nước. Mặt em cũng đẫm nước, những sợi tóc ướt dính sát vào trán và hình như đôi mắt em cũng có những giọt mưa long lanh. Tôi đứng dậy, mở tủ kính lấy quyển truyện đưa cho em và hỏi:

– Chị em sai em đi mua truyện hả?

– Ông nghĩ em không biết đọc à?

– Quyển truyện này viết về “một thời để yêu”. Tôi nghĩ em chưa đến thời kỳ đó.

– Em rất yêu thương con Miu Miu của em, vậy em đọc được chưa? Còn ông mới tập sự bán sách phải không?”

Nguyễn Thanh Trịnh mở đầu ví dụ thứ 5 trong tập Ví Dụ Ta Yêu nhau bằng mẩu đối thoại dễ thương. Cùng lúc ghi lại cảnh những sạp báo giăng bạt ny-lông che mưa ở đầu ngõ dưới ánh điện néon hay dưới một cây đèn măng-xông… Sạp báo, quán sách, quầy sách, kiosque sách, cửa hàng cho thuê sách là đời sống tinh thần khi ấy ở trong Nam. Chưa khi nào nhiều sách báo như vậy và chưa khi nào đông đúc độc giả học sinh cho bằng. Tôi trong số những cô bé cậu bé sắp choai choai đội mưa đi mua sách thời ấy. Vòi vĩnh xin tiền ít khi bị từ chối nhưng xin mua sách là phải nộp cho cha mẹ duyệt. Giờ Thứ 25 của Gheorghiu bản dịch Mặc Đỗ và Papillon Giang Hồ Tung Cánh của Henri Charrière bản dịch Đinh Bá Kha được cho phép nhưng đến Henry Miller là bị cấm. Bố mẹ tôi xem Miller, tác giả của Ác Quỷ Trên Thiên Đàng, là hiện thân của tục tĩu. Những sách ba-xu hoặc in ít đạo đức phải đem trả.

Bị “kiểm duyệt” nhiều lần giúp khôn lên. Tôi hiểu ra thước đo sách vở của người lớn. Sách cho phép là sách chán phèo với những Ý Cao Tình Đẹp của Nguyễn Hiến Lê, hoặc vươn tới thuật trí dũng như Tâm Hồn Cao Thượng của Hà Mai Anh dịch thuật. Tôi đã không hiểu vì sao một đơn vị bộ binh tác chiến lại phải nhờ một cậu bé leo lên cây quan sát kẻ thù để rồi cậu bé bị bắn chết, rồi xem là chết cao thượng? Vì sao không bung rộng các toán viễn thám ra xa, án ngữ trên những giao lộ rồi chọn những mô đất cao thiết lập vọng kính loại dùng trong giao thông hào có chân nâng lên cao hai thước? Cái chết của cậu bé phải xem là điều đáng khiển trách viên sĩ quan thay vì ca ngợi gương hy sinh vô ích. Không thể lấy quyết định chiến thuật nguyên ngày chỉ trông cậy vào chút quan sát tức thời của một đứa trẻ. Cậu Bé Thành Lombardi là câu chuyện tuyên truyền về lòng ái quốc. Lê Văn Tám là “phiên bản hỏa hoạn” tiếp theo.

Sách cấm, ngược lại, chứa những gì bị che dấu.

Thập niên 70 đoàn Dạ Lý Hương về hát ở rạp Kinh Thành. Đông vui và sầm uất. Tôi “âm mưu” với u già xin phép bố mẹ giắt tôi đi ăn bò viên trước cửa rạp. San sát trên lề đường là những xe mì hủ tiếu, bánh cay, chuối nướng bọc nếp trong lá chuối chan nước dừa quạt than… Tôi “thông đồng” với u già đi thuê truyện ở quán sách cạnh hiệu kem Mai Lan gần tiệm đóng giày Gia. Rồi u giấu sách vào cạp quần u khi về nhà. Tới tối lúc khuấy sữa đem cho tôi uống cho có thêm calcium, u mới lôi sách ra dúi vào tay.

Sách thuê cho độc giả thiếu niên muôn vàn cơ hội. Chấm dứt Khổng Mạnh! Tha hồ Z-28! Tha hồ cho Tiểu Long Nữ thoát y đâu lưng với Dương Quá luyện công! Tha hồ cho Doãn Chí Bình hiếp dâm Tiểu Long Nữ không ai cấm.

Sách thuê không chỉ có vậy. Nhật ký Tùy Viên Của Một Tổng Thống Bị Giết của đại úy Đỗ Thọ là tập ký đầu tiên làm tôi choáng váng. Vì sao dưới chính thể Cộng Hòa người ta lại ám sát Tổng thống của Cộng Hòa Nam Việt? Các sư huynh vẫn dạy trong giờ Công Dân Giáo Dục là phải tuân thủ pháp luật và kính trọng tổng thống. Tại sao? Sách của người lớn đầy rắm rối.

Xong Đỗ Thọ, tôi ngã sấp vào Phan Nhật Nam. Cho đến khi đó tôi không thật biết chiến tranh ra làm sao. Đọc báo Sóng Thần biết có đánh nhau nhưng không biết cuộc chiến trên quê hương mình diễn ra như thế nào. Các chú bác về nhà trong quân phục với cây M-16 gác dựa tường là đời sống thường nhật. Thế hệ tôi khi chào đời, đường phố đã đầy lính tráng. Chúng tôi không biết phân biệt hòa bình với chiến tranh. Việc phố phường ngập quân xa với binh lính là điều bình thường. Vì chưa từng khác. Sàigòn đầy những “party”, “bal”, “boum”…không một dấu hiệu chết chóc. Phải đến Phan Nhật Nam tôi mới hốt hoảng nhận ra chiến tranh đã đến cửa thủ đô. Khốc liệt và tàn bạo. Tôi khám phá trung tá Nguyễn Đình Bảo chết trên đồi Charlie trong một quán sách cho thuê truyện.

Nhìn lui, có thể trách tôi ham mê đánh nhau nhưng chính tủ sách chiến tranh trong Nam đã cho tuổi trẻ miền Nam nhiều cách nhìn về thế chiến mà không duy nhất một version chính thức của Hồng quân Nga hay Trung Cộng mà tuổi trẻ miền Bắc phải chấp nhận. Chính tủ sách chiến tranh đó, là tự do.

    Những năm chưa đầu hàng là một hạnh phúc êm ấm. Mỗi sáng thứ bảy cha mẹ đưa đến hiệu sách Khai Trí mua sách tiếng Việt và mỗi trưa thứ tư vào hiệu sách Liên Châu mua sách Pháp văn. Hình màu trên trang tiếng Pháp, đối thoại tiếng mẹ trên ấn bản đen trắng tiếng Việt. Đời sống như có hai mặt, những sắc cầu vồng và ám tối. Dân thủ đô không một chút hoài nghi thất trận đã kề cận.

Trần Vũ

Nguồn: https://www.tvvn.org/truoc-khi-that-tran-tran-vu/

304Đen – llttm - tvvn

 

 

 

Chỉ Còn Trong Ký Ức.... - vkp Phượng ngày nay & vkp Công chúa nhỏ

 CHỈ CÒN TRONG KÝ ỨC

 
















Ngày xưa  Mùng Một Tết Cha

Nay Đầu Năm Mới tết nhà con trai

Cháu con dâu rể đủ đầy

Mừng Xuân đón Tết vui vầy sống lâu

Mùng Ba Tết Thầy còn đâu!

Truyền thống nghĩa trọng tình sâu phai mờ

Chỉ còn ký ức tuổi thơ:

Tết Cha Mùng Một Tết Thầy Mùng Ba!

 

Saigon Mùng Một Tết Tân Sửu

 vkp phượng ngày nay

 

 VẦNG TRĂNG XƯA ĐÀNH XẺ LÀM ĐÔI

                                

 

Tháng cuối Tết Ta – Saigon se lạnh

Không co ro nhưng vừa đủ bâng khuâng

Gợi nhớ kỷ niệm thuở mới tròn trăng

Nàng công chúa nhỏ mơ chàng hoàng tử...

                                

*

Non sông khói lữa – Người thành lữ thứ

Sống lưu vong nơi xứ lạ quê người

Vầng trăng xưa đành phải xẻ làm đôi

Kẻ ở lại vẫn mong tròn ước mộng...

*

Biết khi nào trăng tròn soi đôi bóng?

Nên đem chút tình thăm hỏi người xa:

Bao năm rồi mưa gió có xóa nhòa?

Ký ức cũ – thuở mình còn đi học?

 

Saigon Tháng Chạp năm Canh Tý

vkp công chúa nhỏ

 

 

Con Đường Xưa - Việt Nhân

 

Con Đường Xưa…




 

Đang lúc được cho là dư luận ồn ào về năm bản nhạc trước 1975 cấm hay không cấm hát, thì hôm qua một ông bạn già còn bên quê nhà gọi cho mỗ tôi một cú phôn đường dài, theo bạn chẳng dư luận gì sất, cái ồn ào đây thì cũng đã có cả chục năm trước rồi. Chúng tức vì thấy có đứa túi no bạc nhờ mấy bài hát cũ thời “Ngụy”, chúng đây là những anh nhạc sĩ đảng nằm co nhìn đứa ăn no mà ăng ẳng thế thôi… Dứt phôn anh bảo tôi gõ cửa nhà ông google, để xin nghe Như Quỳnh hát bài: Con Dường Xưa Sm Di.

Mỗ tôi làm theo, và được trả lời: Xin lỗi quý khách – Bài hát bị hạ tạm thời, mong quý khách vui lòng quay lại sau – Trân trọng cảm ơn. Google tiếng Việt lịch sự gớm nhể! Ông bạn mỗ tôi dân Saigon chính cống bà lang Trọc, sợ kẻ xa quê lâu không biết chuyện nhà, mà dài dòng phân tích rằng, mấy kẻ hát nghêu ngao hay nghe những bài hát của một thời đất nước ăn đạn vịt cộng pháo kích, trẻ lắm thì nay cũng sáu bó, là dân (Ngụy) hạng bét ngay trên chính quê mình, áo cơm qua ngày là may, lấy đâu ra tiền làm khách nơi các tụ điểm ca hát thời xã nghĩa mà ồn ào.

Cái thích nghe nhạc trước 1975, mà tất cả là nhạc vàng (nhạc Ngụy) này, đã có một tay gọi là nhạc sĩ, kiêm nhà nghiên cứu phê bình âm nhạc của đảng (Nguyễn Thụy Kha), nói câu cho ta thấy rõ hiện tình người dân xã nghĩa: Tôi cho rằng, thị hiếu của một bộ phận công chúng người Việt đang thực sự có vấn đề. Đó là điều rất đáng buồn… Dân giàu bỏ tiền đến tụ điểm ca nhạc, kẻ không tiền thì gõ cửa nhà google nghe nhờ mp3, chưa nói xe kẹo kéo cho nghe chùa đầy các con phố, nhạc Vàng nay đã như không khí bao quanh mọi người.

Vậy ồn ào là chuyện của chúng nó tất, chả có gì là dư luận ‘bức xúc’, ông kể một chuyện đã cũ mà ai cũng từng biết, thời cởi trói mấy bài nhạc của Phạm Duy với chương trình ‘Ngày Trở Về’ do công ty Văn Hóa Phương Nam tổ chức (2006). Đã có một tay nhạc sĩ kiêm nhà phê bình âm nhạc, kiêm luôn nhà báo đảng, đã viết bài chống đối (Không thể tung hô – Nguyễn Lưu), vụ đó vì bị giở nắp nồi cơm mà công ty Phương Nam đập lại, nói là họ tổ chức cho ai thích thì xem. Công ty của họ mua bản quyền nhạc Phạm Duy, thì tổ chức hát kiếm lời!

Chuyện lần này cũng vậy, bạn nói cứ nên đứng ngoài nhìn chúng ồn ào để mua cái cười, thói đời vẫn thường lấy tiền định cao thấp, và ở đây đứa bỏ tiền mua vé bạc triệu để đi nghe hát nhạc vàng lại cũng là thứ hơi hớm đít đỏ. Và bạn nói người cộng sản như cái ông tong tong Nga Elsin cho là chỉ có đem vứt, đã bao năm nhạc nô chế độ không có một bài cho ra hồn, không ngửi được thì làm sao mà thích. Thực tâm thì bài Con đường xưa em đi, không là đánh giá cao của người miền Nam trước 1975, vậy mà nay bu cứ như ruồi!

Xin nói cùng các ông nhạc sĩ đảng! Đừng thấy dân người ta thích con đường xưa, quay đít vào mặt các ông mà la: “Hàng trăm hợp xướng của tôi và các đồng nghiệp, hàng nghìn ca khúc cách mạng vĩ đại thì chẳng ai nhắc đến hay ca ngợi. Còn 5 ca khúc kia mới bị tạm dừng lưu hành, lại được đưa ra mổ xẻ, tranh cãi, bênh vực…” (Nguyễn Thụy Kha), hay thở hơi thối như: “Nên cấm phổ biến những ca khúc viết về lính VNCH. Tôi thấy có rất nhiều về vấn đề tư tưởng, ‘Con Ðường Xưa Anh Ði’ là con đường nào?…” (Nguyễn Lưu).

Các ông viết là để cho nhau, nhạc chế độ có hàng nghìn bài tự khen là vĩ đại, nhưng không được một người dân nhắc, rồi nói bậy là người nghe có vấn đề. Trái lại Con đường xưa em đi, tuy không là bài nhạc được đánh giá cao tại miền Nam trước 1975, nhưng nó là cái thật với giá trị nhân văn, người có tim óc thấy hợp lòng mà ưa thích… Còn chuyện nhìn đâu cũng sợ, rồi ngăn cấm hay bôi xóa chỉ vì cái hình ảnh người lính Cộng Hòa, thì rõ ràng đây là cái sợ của bóng tối trước ánh sáng, sự cấm đoán lại cho thấy thêm cái hẹp hòi của kẻ tiểu nhân thiển cận.

Một bản nhạc miền Bắc 1967 xúi trẻ ăn cứt gà, ‘Chiếc gậy Trường Sơn’ của Phạm Tuyên, Giải thưởng năm 2001, trao giải là chuyện nhà nước, còn người nghe là các cựu binh đi B ngày nào, với họ nói đến chiếc gậy là nói đến những nấm mồ lấp vội dọc theo con đường Trường Sơn… Trên bước đường tù của mỗ tôi, may mắn đã gặp một cựu binh người Hà Tĩnh, anh nói bị thương tật kể cả bệnh, một khi đã phải nhờ đến chiếc gậy chống, thì sớm muộn sẽ được (ân huệ) xử lý (để khỏi vướng bận). Trước 1975 bộ đội Bắc Việt gần như không có thương binh!

Như đã nói nhạc vàng nay cùng khắp, lại thêm nhạc đấu tranh đang âm thầm lan truyền, mà ngày 20/03/2017, nhà nước xã nghĩa ban hành Nghị định 28/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung cho hai Nghị định 131/2013/NĐ-CP và Nghị định 158/2013/NĐ-CP, sẽ phạt tiền từ 20 đến 25 triệu đồng, nếu hát hay phổ biến các ca khúc bị cấm lưu hành… Chế độ Ba Đình đang mang nỗi sợ hãi, nhìn đâu cũng thấy kẻ thù, nay lại vạch lằn ranh chiến tuyến giữa chúng với người dân, như vậy cuối cùng đảng đã xem nhân dân là kẻ thù tiềm ẩn!

Được báo là đã cận kề, lạc quan ngày sập đổ của chế độ An Nam cộng không là lạc quan sảng, điên cuồng đánh phá nhắm vào dân mạng xã hội đã nói lên cái sợ của một nhà nước chuyên lấy bưng bít làm chính sách cai trị. Một xứ 92 triệu dân, nay đã có khoảng 70 triệu người sử dụng internet, 52 triệu tài khoản facebook, trước sự bùng phát đó nhà nước xã nghĩa không tự làm được, đã nhờ đến Mỹ “tác động” hai công ty Google và Facebook, đến mở văn phòng tại Việt Nam, để gọi là ngăn chặn “thông tin độc hại” mà nhà nước bó tay.

Ngày 21/03/2017, Ted Osius đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam đã phải đến bộ thông tin, truyền thông xã nghĩa để nghe lời đề nghị: Google, Facebook phải có ‘đại diện’ tại Việt Nam để tận diệt các tin tức, hình ảnh, bài viết, video clip, bị coi là ‘độc hại’. Độc hại đây là để gọi những thông tin phơi bầy cái thối nát của chế độ, chúng muốn Google Facebook mang máy chủ đến, trực tiếp nghe lệnh tháo gỡ hoàn toàn những thông tin họ không thích, mà trước đây nhà nước xã nghĩa đã đưa ra bằng Nghị Ðịnh 72, và thông tư 38 của nhà nước cộng sản này.

Theo đại sứ Ted Osius, thực sự Google rất lo ngại về các quy định của Nghị Ðịnh 72 việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, cũng như Thông Tư 38 quy định chi tiết việc cung cấp thông tin công cộng qua biên giới. Với nhà nước An Nam cộng thì Google chưa làm được việc, không như báo cáo là đã xử lý xong 80% yêu cầu, mà Google mới chỉ xử lý được hơn 40 clip trong 8,000 clip ‘độc hại’. Và hơn hết, Google chỉ chặn được người trong nước, còn người ở nước ngoài vẫn xem… Tóm lại nhà nước vẫn phải mang cái mặt đầy c..!

Lịch sử cho thấy cộng sản dối trá, chúng đàn áp người dân vì sợ, chính sách tẩy não, bưng bít thông tin được cho chạy hết công suất nhưng vẫn thất bại, vì kềm kẹp, bỏ đói, nhốt tù thân xác chúng làm được, nhưng còn tim óc con người thì chúng đành chịu. Chuyện những bản nhạc “Ngụy”, hình ảnh các người lính “Ngụy”, đâu phải chờ đến hôm nay đám đít đỏ lên tiếng mới biết người dân Việt vẫn nhớ, mà ngay sau ngày 30/04/1975 người ta đã cảm nhận được điều đó… Sống đến muôn đời, đơn giản vì đó là những cái thật, rất hợp lòng người!

Xin được nói cùng ông bạn già, thật mừng bạn vẫn còn đó! Cú phôn đường dài của bạn làm ấm lòng mỗ tôi, được nghe lại tiếng của nhau sau bao năm tháng dài, kể từ ngày sau cuộc chiến… Và thêm nữa là cái vui khi nghe bạn nói, những bài viết của Việt Nhân tôi cả những bài cũ, vẫn được nhiều người ưa thích gom lại, có lúc năm bảy bài được post chung cùng nhau, dưới một nguồn khác. Xin thành thật cám ơn những bạn quý đã tiếp tay, nhất là từ khi những bài viết của Việt Nhân tôi không còn dễ vào google để search.

Việt Nhân

304Đen – Llttm -tvvn