Thursday, August 31, 2023

Tan Tác - Vườn Thơ Mới Xướng Họa

 THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 129_VƯỜN THƠ MỚI

 

 


 
















Xướng:

Tan Tác

 

Thuở ấy ra đi chẳng hẹn về

Bao năm biền biệt mãi lê thê

Nhớ thương tan tác sầu nhân thế

Man mác nỗi niềm nhớ đến quê

Thầm kín chơi vơi nghe biển khóc

Bơ vơ lặng lẽ ngắm trăng thề

Quê hương để lại buồn muôn thuở

Thoát khỏi ngông cuồng ngọn sóng mê

 

HƯƠNG LỆ OANH VA

Họa 1:


Duyên Quê

Gió lòng bỗng chạnh chẳng sao về

Xa vắng dạ chàng mãi hiểu thê

Kẻ ở người đi sầu vận thế

Tình xưa lối mộng nhớ duyên quê

Thầm thì thu vọng nghe đời khóc

Lác đác mưa sa ngắm bóng thề

Ngẫm lại không chi buồn vạn thuở

Tương phùng hát khúc ngọn tình mê

 

 Kim Trân 

Họa 2:


Ra đi

 

Ra đi chẳng biết lúc nào về

Hiện tại cuộc đời quá thiết thê

Cơ cực thăng trầm trong cuộc sống

Gian truân vất vả phải lìa quê

Đối đầu nghịch cảnh nhiều trăn trở

Gìn giữ lòng son với nguyện thề

Xứ lạ phồn hoa nhiều cám dỗ

Can trường vững dạ với đam mê

 

PTL

 

Thiết thê: đảo ngữ chữ thê thiết. Đây là từ xưa trong văn chương nghĩa là thê lương và thảm thiết

Chuyện Hai anh em trong tác phẩm Chân trời cũ (NXB Nguyễn Hà, Hà nội năm 1942), Hồ Dzếnh viết:

Tôi nhớ nhất cái dáng điệu vừa quỳ vừa khóc của chị dâu tôi, và tôi thấy buồn một nỗi buồn thê thiết quá 

Họa 3:

 

Sầu Ly Hương

 

Tâm tư nặng trĩu lúc chiều về 

Xa xứ người đi buồn thảm thê

Nào phải ta đây thằng yếm thế 

Ai ơi chỉ bởi nặng tình quê

Bao năm dồn nén mà chưa khóc

Hé mở vành môi nhớ ước thề 

Giặc cướp gieo đau sầu vạn thuở 

Chôn vùi đất Mẹ chốn u mê


Trầm Hữu Tình

Họa 4:

 

Buồn Xa Xứ

 

Chia tay ngày ấy mất đường về

Đất khách quê người buồn thảm thê

Nhớ mẹ thân gầy rầu thắt ruột

Thương cha tuổi hạc hận xa quê

Bao mùa xuân đến không còn biết

Mấy độ thu sang chẳng trọn thề

Mây trắng xây thành ôi biệt xứ

Chốn quê nhà, giận kẻ u mê !

 

Nguyễn Cang

Aug. 16, 2023

Họa 5:


Hoài Hương

Làng xưa yêu dấu mãi mong về.
Bao thuở đổi dời quá thảm thê.
Sóng nước cuốn trôi bờ bến cũ,
Phù sa vun đắp ruộng vườn quê.
Thoáng nghe tiếng sáo khơi hoài cảm,
Dường nhắc lòng ai giữ ước thề.
Năm tháng dần trôi đầu nhuốm bạc,
Niềm thương nỗi nhớ thấm cơn mê…


Minh Tâm

Họa 6:

 

Quốc Quốc Ngoài Song

 

Ngày ấy người đi kẻ trở về

Ngược xuôi tan tác cảnh phu thê

Ra đi nhớ mẹ buồn thân phận

Ở lại thương mình tủi nghiệp quê

Trí giả hiền tài khôn tế thế

Thương gia tỷ phú cũng buông thề

Chỉ ông quốc quốc ngoài song cửa

Dằng dặc từng đêm tĩnh đến mê

 

Tâm Quã

 

 

 

 

Nhớ Về Thăm Mẹ - Nguyễn Cang

NHỚ VỀ THĂM MẸ

(Thơ cảm tác)

 















Tết nầy nhớ về thăm mẹ anh ơi

Mái đầu sương trắng gió rít lưa thưa

Áo nâu cũ, vải thô, mồ hôi đổ

Mẹ trọn đời đau khổ mãi không thôi

 

Anh nhớ về thăm con đò bến cũ

Giữa đình câu đối đỏ viết bằng thư

Cây nêu treo, theo chiều gió lắc lư

Mai tứ quý chớm nụ vàng tươi thắm

 

Bó rau muống phiên chợ trưa còn đọng

Mẹ ngồi chờ ai đó đến mua chăng?

Chút tiền lời không lấp nổi khó khăn

Đừng lỡ hẹn anh ơi đời hữu hạn

 

Mai anh về đừng ngập ngừng ái ngại

Kẻo mẹ già tựa cửa ngóng chờ trông

Để đêm đêm thổn thức ở trong lòng

Mùa xuân tới biết có còn mẹ đợi???


Nguyễn Cang

Mùa Vu Lan 2023 

Một Mùa Hè Đã Qua - Thái Tuấn

 

 

MỘT MÙA HÈ ĐÃ QUA





Đã bao lần tôi mơ ước trở về quê cũ; sự mơ ước có khi thoảng nhẹ như làn gió hè, đôi lúc dồn dập khẩn thiết như sóng gầm thác đổ đưa đẩy tôi vào một cơn mộng mị triền miên.

Một mùa hè nắng đẹp tôi trở lại căn nhà xưa, ở đấy mọi sự hình như còn nguyên vẹn. Trên lối cũ rặng soan đào vẫn xanh tốt, mùi hương cau thoảng nhẹ đâu đó. Lũ chim sâu thấp thoáng trên cành đào cành mận và giàn hoa thiên lý còn rợp bóng trước sân. Bụi tre hàng chuối vẫn đó, vẫn còn đó hòn đá cũ trơ vơ bên bờ giếng mà mẹ tôi thường đến giặt giũ.
Tôi dừng chân nhìn lại cảnh trí. Vườn sau ngõ trước bốn bề vắng ngắt. Tôi cất tiếng gọi to, âm thanh tan loãng chỉ có tiếng gió rì rào đáp lại. Sự vắng lặng của buổi trưa hè thật khó chịu, tôi đang nghĩ như vậy, thì một bóng người từ phía sau nhà đi ra tiến về chỗ tôi đứng. Đó là một người trẻ tuổi, khi tới gần tôi hắn dừng lại, đăm đăm nhìn tôi như dò hỏi. Tôi khẽ chào và chợt nhận thấy khuôn mặt hắn rất quen thuộc, cố khơi đào trí nhớ, vẫn không nhận ra hắn là ai. Thấy tôi nhìn chăm chú hắn hỏi: "Ông tìm ai?" Tôi nói: "Tôi từ nơi xa tới về thăm lại căn nhà cũ". Hắn thoáng vẻ ngạc nhiên rồi cười đáp: "Có thể ông đã lạc lối rồi, căn nhà này họ hàng tôi đã ở từ lâu, truyền nhau đến mấy đời. Nhưng thôi, ông đã từ xa đến xin mời ông vào nghỉ chân và uống với tôi một ấm trà".

Tôi bàng hoàng kinh ngạc lặng yên giây lâu. Và sự tò mò đã lấn át tất cả. Tôi lặng lẽ nhận lời theo chân hắn. Mỗi bước chân đi từng kỷ niệm khơi dậy, căn nhà ngói năm gian với những bậc tam cấp xây bằng đá xanh hiện ra sau giàn hoa lý. Cây hoa giấy che rợp hành lang bao quanh nhà, nơi hành lang đó gia đình tôi quây quần trong bữa ăn trưa vào những ngày hè. Nơi chốn này làm sao tôi có thể lầm lẫn được.
Tôi theo hắn vào gian nhà giữa, hắn chỉ chiếc tràng kỷ mời: "Ông ngồi chơi tôi xin phép đi pha một ấm trà". Khi bóng hắn khuất sau bức mành trúc tôi đưa mắt nhìn căn phòng. Những bức câu đối thếp vàng, hàng chữ nho còn sáng chói. Chồng sách cũ của ông nội tôi vẫn đặt ngay ngắn trên bộ án thư, cạnh đó là cặp kính trắng và chiếc đồng hồ quả quít của cha tôi. Tôi bước lại gần nhìn kỹ thì chiếc đồng hồ đã ngừng chạy, đôi kim chập lại ở con số mười hai. Trên vách tường treo bức tranh sơn dầu, cô gái trong tranh mặc chiếc áo dài màu vàng nhạt trên tay cầm cái quạt giấy. Cô ta như một cái bóng chìm lẫn vào nền xanh của bức họa, tôi chú ý nhìn khuôn mặt, đôi mắt cô ta thật đen tạo nên một cái nhìn lạ lùng. Tôi chợt nhớ lại một khuôn mặt quen thuộc.


Có tiếng động ở phía sau bức mành, hắn trở ra bưng một cái khay, trên khay bộ đồ trà. Hắn đặt nhẹ nhàng lên bàn rồi ngồi xuống đối diện tôi. Mùi hương sen tỏa lên từ ấm trà. Tôi nhìn hắn hỏi: "Hình như ở sau nhà có một cái hồ nhỏ trồng loại sen bạch?". Nét mặt hắn thoáng hơi cau lại, hắn không trả lời, hỏi lại tôi: "Làm sao ông biết được?". Tôi mĩm cười và nói thật nhanh: "Tôi, đoán vậy vì ấm trà sen này". Câu nói của tôi hình như rơi vào một khoảng trống, tôi ngước nhìn, hắn ngồi yên lặng không để ý đến câu trả lời của tôi, một lúc lâu hắn nói: "Ông từ nơi xa về, hẳn có điều gì muốn hỏi thêm?" Và không đợi trả lời, hắn tiếp: "Tôi ở nơi đây đã khá lâu, đã quen với cảnh trí này, thời khắc đối với tôi không còn nữa, ông nhìn xem chiếc đồng hồ trên bàn kia đã ngừng lại. Cái quá khứ thì lờ mờ cái tương lai thì luôn luôn ở phía trước; một khoảng cách. Có lẽ ông nghĩ rằng cái quá khứ là cái mình nắm được, là cái cụ thể hơn cả vì nó đã có. Nhưng tôi xin phép để hỏi ông, ông muốn biết về cái quá khứ nào? Cái quá khứ của chính ông hay cái quá khứ của quê hương này? Cái quá khứ của ông thì quá ngắn ngủi, còn của quê hương thì dài dằng dặc. Ngồi ở một nơi xa xôi, ông cảm thấy ông thương mến quê hương hơn. Hơn có nghĩa là trước kia ông yêu mến chưa đủ, chưa đến nơi đến chốn và bởi vì ông đã không nhìn cho đúng, đã không sống một cuộc sống đích thực. Vả chăng cái tình yêu mến quê hương ấy, đúng hơn chỉ là sự thương cảm cho thân phận của chính mình".

Lời nói của hắn thật ngạo mạn dù giọng nói dịu dàng. Tôi cố giữ bình tĩnh nói: "Thế nào là cuộc sống đích thực?". Giọng hắn trở nên ôn tồn "Chắc hẳn ông đã từng nghe câu chuyện vị thiền sư chín năm ngồi nhìn bức vách đá. Ông ta tìm cái gì và đã thấy gì? Sự khôn ngoan của trí tuệ và sự chính xác của giác quan, chằng qua cũng nằm trong vòng giới hạn của cuộc sống và đời sống con người. Vượt ra ngoài giới hạn đó, không thể nói lên bằng lời. Vì lời vẫn là, vẫn thuộc giới hạn của trí tuệ".
Tôi vô cùng bàng hoàng vì những lời hắn nói, sự suy nghĩ của tôi bỗng ngừng dứt, mọi cảm giác hầu như tê liệt...

Một luồng ánh sáng làm tôi cảm thấy khó chịu, tôi mở mắt nhìn ánh nắng chiều qua kẻ lá soi thẳng chỗ tôi ngồi. Buổi chiều hè lấp lánh trên con sông Loire, tiếng cười nói xôn xao, tiếng xe chạy dọc theo con đường bờ sông. Bức tranh còn dang dở trên giá vẽ, lũ chim sẻ mở hội trên thảm cỏ. Bỗng có tiếng nói dịu dàng từ phía sau lưng: "C'est magnifique!". Tôi từ từ quay nhìn, một cô gái tóc vàng đang mãi mê nhìn bức họa, thấy tôi quay lại, cô ta mĩm cười xin lỗi. Tiếng Pháp của cô bằng một giọng ngoại quốc, nghe thực êm ái, duyên dáng.
Thấy cô đứng yên, tôi mời cô ngồi, cô ta nỏi cảm ơn, và ngồi xuống cạnh tôi. Gió từ phía sông thổi lên nhẹ nhàng làm rung động những sợi tóc trên khuôn mặt trẻ trung, song một vài nếp nhăn nhỏ và cái nhìn, tôi đoán không ra tuổi. Cô ta nhìn ra xa nói: "Con sông ông vẽ thật giống con sông Vistule ở quê tôi". Tôi cười đáp: "Đó là con sông Hồng ở quê tôi". Cô ta bỗng phá lên cười: "Chao ôi! Con sông trước mặt thật là vô duyên". Tôi bật cười theo. Câu chuyện của chúng tôi xoay quanh những vụ hè, những thắng cảnh trên đất Pháp. Bỗng cô ta nhìn tôi hỏi: "Ông có thích Chopin không?". Tôi đùa cô ta: "Chopin, hay nhạc của Chopin?". Cô ta cười: "Rất tiếc ông ấy không còn nữa, ở Varsovie khi nhạc của ông bắt đầu được dạo lên, tất cả mọi người đều nín thở để nghe. Những âm thanh trong sáng, nhẹ nhàng bay bỗng trên bầu trời gợi cho chúng tôi muôn vàn hình ảnh của quê hương. Cái quê hương hằng có của chúng tôi, con sông Vistule và những bản nhạc của Chopin, tôi tin là sẽ hiện diện mãi trong đời sống chúng tôi".


Buổi chiều hè nơi đây thực dài, quanh chúng tôi, vẫn tiếng cười nói lao xao, thiên hạ nhàn tản trong những bộ y phục rực rỡ, họ đi dọc theo mé sông, hoặc tụm năm tụm ba trò chuyện dưới bóng những cây sồi cây dẻ.
Một sự cô đơn êm ái xâm chiếm, bao vây tôi. Tôi vội ký tên dưới bức họa, gở xuống khỏi giá vẽ, và cầm đưa cho cô gái. "Cô cho phép tôi tặng cô con sông Vistule". Cô ta vội đỡ lấy và nói: "Cám ơn ông, con sông Vistule và cả con sông Hồng nữa chứ". Tôi cười đáp: "Không, chỉ một con sông thôi". Tôi đứng lên định bắt tay từ biệt, cô ta lắc đầu và dang hai tay, tôi ôm cô ta hôn trên má và xách chiếc giá vẽ đi dọc theo bờ sông về phía chiếc cầu George V. Đèn trên cầu đã thắp sáng, tiếng nước chảy rì rào dưới chân cầu, xa xa những mái nhà những toà cao ốc nhấp nhô uốn lượn mờ mờ như bóng núi, in trên nền trời xẫm, tôi chợt nhớ lại cơn mộng mị, nhớ lại anh chàng trẻ tuổi đã chiếm ngụ căn nhà cũ của tôi, ngọn đèn đường in một cái bóng dài. Đích là vóc dáng hắn.


Thái Tuấn
Nguồn: VĂN, số 53, tháng 11-1986

Người chuyển bài – N Nguyễn

 

Ngày Trở Về & Lời Tự Sự - Nguyễn Thị Châu

 NGÀY TRỞ VỀ

 
















Đường làng rợp bóng tre xanh mát

Hàng Cau xóm nhỏ hoa rơi rơi

Bấy lâu chia cắt hai nơi

Nay về chốn cũ cũng vơi nỗi buồn

 

Đường vui, mây trắng bay theo gió

Bao nẻo chân qua vạn dặm trường

Người thương, gặp lại càng thương

Xa nhau mấy bận đêm trường vấn vương

 

Tay nắm tay nhau lòng lưu luyến

Nước mắt tôi rơi, nhớ người dưng

Vòng tay nồng ấm không dừng

Thầm câu ước nguyện” Xin đừng xa nhau

 

Con tim rộn rã khơi tiềm thức

Xóm nhỏ, hàng cau cũng lao xao

Cánh chim lạc bước năm nào

Quay về vun xới hàng cau trước nhà…!

                     30-8-2023

Nguyễn thị Châu

 

LỜI TỰ SỰ

 

Thấu chăng vời vợi nỗi niềm riêng

Tâm sự cùng ai biết tỏ tường

Trăng tàn lơ lửng trong đêm vắng

Bể dâu mấy cuộc có được yên

 

Một mình lẻ bóng nào ai biết

Nhà vắng quạnh hiu chỉ mình ta

Đêm khuya canh vắng gà gọi sáng

Thao thức vì ai? Mấy mùa qua

 

Hôm ấy người đi không trở lại

Lệ nhoà đưa tiễn phút chia ly

Người đi thả hồn bay lộng  gió

Để đời cô phụ khóc bi ai!

 

Uyên ương nay đã chia hai ngã

Tôi trần gian người cỏi vĩnh hằng

Thương biết mấy, không đi chung lối

Người trước, người sau, hởi thế gian…,!

                    30-8-2023

Nguyễn thị Châu

 

Em Dung - Trần Thùy Mai

 

EM DUNG




 

“Tôi biết nếu không có con đập thì mỗi mùa mưa cả vùng đồng bằng phía nam sẽ trở thành vực xoáy tàn khốc, nhưng nếu con nước không tràn qua thì hoặc là vùng đất ấy sẽ khô thành hoang mạc, hoặc là con đập sẽ vỡ tan tành trong cuồng nộ của dòng sông mùa lũ. Vì thế mà hằng năm con đập vẫn chịu đựng vết đau sạt lở. Nó chịu đau để được cùng tồn tại với sông…”
Bé Dung người mảnh dẻ, khuôn mặt nhỏ. Đôi mắt to, đen và có cái nhìn mới sáng làm sao. Mẹ tôi mỗi lần nhìn vẻ sáng ấy cứ thì thầm nói với tôi: Sao cứ như là ba con đang nhìn.
– Mẹ cho em ăn uống đầy đủ lắm mà sao em cứ gầy. “Khi con còn nhỏ mẹ đâu có chăm kỹ như thế này phải không?” Có lần tôi hỏi khi thấy mẹ buộc khăn vào cổ em, rồi chọn gắp từng miếng thức ăn bỏ vào cái chén kiểu trước mặt. Mẹ bảo: “Em khác, con khác”. Mắt mẹ thoảng vẻ buồn.
Cái dáng gầy của mẹ ra vào trong nhà ngoài sân thật đúng như người xưa vẫn ví von: mình hạc xương mai. Lớn lên một chút, tôi thường nghĩ mẹ tôi là con hạc từ trên trời bay lạc xuống đậu trên mảnh đất gồ ghề đầy sóng gió là cha tôi. Cả đời lúc nào tôi cũng mang một ám ảnh. Trong máu của mình, mẹ hay là cha đang ngự trị?
Nhà tôi ở trên bờ sông lớn có con đập chắn ngang. Khi cơn mưa đầu mùa dội về, nước sông cuộn lên vỗ ào ạt như rồng dữ lồng lộn xô mạnh vào bờ đá. Nghe mưa dội ào ào trên mái hiên, em Dung reo lên, chạy ào ra sân nhập bọn cùng lũ trẻ trong xóm, ngửa mặt lên trời tắm mưa. Mẹ tôi hốt hoảng kêu lên. Tôi đội mưa lao ra, tóm cổ con bé lôi về. Tóc nó ướt lướt thướt dính bết quanh khuôn mặt gầy nhỏ, hàm răng sún nhe ra vô tư. Quần áo dán vào thân thể, hóa thành mỏng tanh, trong suốt như gương. Mẹ tôi ôm chầm lấy em, bọc nó vào trong cái khăn lông mà lau lấy lau để. Cho thay quần áo rồi, chải tóc hơ chân rồi, mẹ tôi mới lấy cái thước kẻ lớn dần mạnh mấy lần vào bàn tay em. Em tôi rụt tay lại, khóc òa. Mẹ nghiêm giọng quát:
– Con gái nhà lành, ai cho lõa lồ tắm mưa như thế? Đánh thật đau cho nhớ!
Em Dung cứ tức tưởi khóc, hai con mắt to và đen cứ lấp lánh vẻ uất ức gan lì. Cái vẻ gan lì ấy làm hại nó. Mẹ tôi định tha, nhưng thấy vậy lại bắt em quỳ quay mặt vào vách. Tôi muốn xin cho em, muốn nói với mẹ rằng dù sao nó cũng chỉ mới là một con nhãi ranh còn chưa hỉ sạch mũi. Nhưng mẹ bảo tôi, mắt đỏ hoe:
– Măng non không uốn, để cứng thành tre làm sao uốn được?
Tôi lặng im. Khi nào cũng vậy, nhìn thấy đôi mắt rơm rớm của mẹ là tôi đầu hàng. Hồi tôi còn nhỏ cũng thế, nếu không sợ mẹ đau lòng thì tôi đã không đem đổ cả lũ tượng đất lớn nhỏ mà tôi hì hụi nắn được trong góc vườn. Bắt đầu biết nghịch đất sét, tôi đã mày mò nặn con chó, con mèo, nặn hình ông Thọ, cô tiên. Các bạn rượu của cha tôi xoa đầu tôi mà bảo, “Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh”, con của một họa sĩ thì tương lai rõ là một nhà điêu khắc rồi, không sai… Rất có thể điều tiên đoán ấy sẽ thành sự thật và tôi sẽ trở thành con kế nghiệp của cha tôi nếu một hôm tôi không khờ dại nặn ra pho tượng đất sét ấy. Thấy nó, mẹ tôi choáng váng, nghẹn không nói được. “Huân, con làm gì thế này?” Bức tượng của tôi chỉ dài chừng ba tấc, đây là hình ảnh một người đàn bà không mặc quần áo. Năm đó tôi mười hai tuổi, với cục đất sét tôi thể hiện sự tò mò giới tính của tôi, và không quên dùng một nhúm tóc rối nhét vào giữa hai bắp vế pho tượng.
Mẹ tôi đập bể tan tành cái tượng ma quỷ đó. Tôi uất ức, vì đó chỉ là kết quả sự chiêm ngưỡng hồn nhiên khi một lần tôi tình cờ thấy mấy cô hàng xóm đi tắm ngoài bến nước. Mẹ tôi khóc không thành tiếng. Người cho đào hết bộng đất sét sau vườn đem đổ đi, thay vào bằng đất bùn lấy ở bờ sông sau mùa lũ. Bộng đất ấy dài bốn mét, sâu đến hai mét tư, khi vét xong để lại một lỗ trống toang hoác nơi góc vườn. Người ta lấp đầy nó bằng đất thịt lấy ở triền sông. Ba tôi bảo: “Việc gì phải thế”. Mẹ tôi chỉ nói: “Đất này trồng cây, trồng hoa tốt hơn”. Từ lâu rồi mẹ tôi vẫn thường đối phó với ba tôi bằng cách dịu dàng lảng tránh như thế. Giữa ba mẹ tôi không bao giờ to tiếng, bởi người nhường nhịn lúc nào cũng là mẹ. Mẹ mảnh khảnh, nhỏ nhẹ, tối ngày cố xếp đặt căn nhà, khu vườn thật chỉn chu, ngăn nắp. Ba tôi thì cao lớn, nóng nảy, ra vào trong cái trật tự của mẹ như một con ngựa chiến bị buộc trong chuồng. Từ ngày ấy, mẹ luôn đóng cửa phòng vẽ của ba tôi, nó đã trở thành một thế giới riêng đầy bí ẩn. Ngoài giờ ăn, ngủ, hầu hết thời gian ba tôi giam mình trong đó. Rồi ít lâu sau, người ngủ luôn ở đấy, hầu như không quay về phòng nữa. Cuộc sống gia đình vẫn lặng thầm trôi đi trong êm ấm, và với tôi thế giới bên trong căn phòng vẽ vẫn là một thế giới bí ẩn đầy kích thích khiến tôi luôn tưởng tượng mà không dám đặt chân đến bao giờ.
Em Dung quỳ úp mặt vào tường, thật tội nghiệp. Tôi mua bánh chuối ram, gói trong miếng giấy, len lén đem vào cho em. Lúc đó tôi mới biết em đã không quỳ yên một chỗ như tôi tưởng. Em nhích dần dần đến bên cửa sổ, bây giờ em chẳng còn úp mặt vào bức vách mà đang nhìn ra sông. Gió từ ngoài thổi vào, làm tóc mai em bay nhẹ, em nheo mắt và cười, trong khi cao hứng em tì luôn hai khuỷu tay chồm lên cửa sổ như người ngắm cảnh. “Thế mà gọi là chịu phạt đấy à? Mẹ thấy thì lại bắt quỳ thêm cho đến chiều!” Em giật mình, quay nhìn tôi, hơi e dè một lát rồi nhoẻn cười: “Suỵt, mẹ đang nấu ăn, không thấy đâu”. Hai anh em quỳ bên nhau nhìn ra con đập. Con nước đầu mùa vẫn lồng lộn dưới chân kè đá. “Anh Hai ơi, sao mà mắt anh đỏ?”. Em Dung hỏi, bàn tay nhỏ của em chạm lên má tôi. “Anh nhớ ba” “Ba ngày xưa ra sao hở anh?” Tôi lúng túng, không biết nói sao. Thực tình là ba đã có nhiều điều không phải với mẹ. Nhưng tôi không thể không yêu ba tôi, không thể không cảm thấy mối liên hệ máu thịt và sức hấp dẫn kỳ lạ toát ra từ người đã cho tôi cuộc sống. Mỗi lần nhìn con đập này, tôi không sao quên được những ngày vừa ngớt cơn mưa đầu mùa, ba dẫn tôi lội nước đến bên bờ sông. Dòng nước đã vượt qua con đập, chảy xiết. Có năm nước dữ, một bên mé đập sạt đi những tảng lớn, sau mùa lũ người ta phải vá lại. “Ba ơi, sao người ta không xây đập cao lên chừng năm tấc nữa cho nước khỏi tràn hở ba?” Tôi hỏi. Ba tôi cười, người cõng tôi lên vai cho nước khỏi làm ướt chân tôi. “Con đập là kỷ cương của dòng sông, nhưng nó không phải là chính dòng sông”. Ba tôi nói, câu trả lời của người bay thoảng trong trí nhớ vô tư của tôi hồi ấy, đến giờ tôi vẫn nhớ nhưng chẳng hiểu thật sự người muốn nói gì. Có lẽ đó là những giờ đáng nhớ nhất của hai cha con, vì ba tôi về sau này càng ngày càng lặng lẽ, nếu không giam mình trong phòng vẽ thì cũng đi giang hồ đâu đó, cho đến khi người mất đột ngột trong một chuyến ngao du. Tôi còn nhớ đấy là tháng cuối mùa mưa, tôi sắp tròn mười bảy tuổi.
Mẹ tôi một đời khổ hạnh, âm thầm, nhẫn nhục chỉ để được danh chính ngôn thuận đứng ở đầu quan tài cha tôi khi đưa người đến mộ. Tôi gói những cái cọ vẽ bỏ xuống huyệt cho cha tôi. Ở đằng xa, người đàn bà ôm đứa bé đứng co ro, khép nép, cái nón che nghiêng nửa mặt. Nhiều người ném về phía ấy những cái nhìn khinh rẻ, những cái nguýt, cái háy đầy vẻ lạnh nhạt. Cô ta xin một chiếc khăn tang. Bà thím tôi trề môi: “Khăn tang gì mà khăn tang, ý nó muốn chia gia tài đó”. Nhiều người rỉ tai mẹ tôi: “Đừng cho. Phải thử máu xem có chắc không cái đã”. Mẹ tôi chỉ khóc, che mặt không dám nhìn. “Hỏi thằng Huân, nó là con trai, quyền huynh thế phụ” “Đừng cho, bây giờ mà cho, sau phiền phức lắm” – Tiếng người thì thào bên tai tôi. Tôi đau thắt, lòng ngổn ngang, cảm giác như có ai xô ập mình đến bên góc tường. Người đàn bà ấy bồng đứa bé đến trước mặt tôi. Bất giác tôi đưa hai tay đón đứa bé vào lòng. “Mày điên sao Huân, đã nhắc cho mà biết…” Người nọ, người kia xì xào, có câu đầy mỉa mai: “Thằng này có căn tu, không chừng là Bồ Tát chắc. Mẹ đẻ ra mà không binh, đi nghe lời người dưng”. Tôi không nói, ôm em vào lòng. Không cần phải thử máu, tôi thấy nơi khuôn mặt của đứa trẻ là ánh mắt dữ dội của cha tôi, những sợi tóc và đôi môi hoang dã của cha tôi…
Tôi đã không thành nhà điêu khắc mà trở thành một kỹ sư nông lâm, như mong ước của mẹ tôi. Mẹ chỉ muốn tôi sống một đời yên bình, không phải bước lên con đường nghệ thuật đầy sóng gió và bất trắc.
Tôi cũng thích nghề của tôi vì tôi yêu cỏ cây, yêu cái mầu xanh thẳm sâu từ đất hiện ra rồi vươn cao theo mưa nắng. Thuở đầu đời tôi cũng muốn đi thật xa, nhưng mẹ tôi rơm rớm nước mắt, thế là tôi ở lại… Mẹ ước ao sau này các con tôi lớn lên bên cạnh người, như cành lá từ cội mọc ra rồi lại rụng về cội, ấm cúng thân thương. Mẹ sợ tôi phải sống như ba tôi, người ở đây mà hồn bay xa đến tận nơi nào.
Khi ba tôi mất rồi, tôi mới đặt chân vào phòng vẽ. Những bức tranh người để lại đan kín trên các bức vách rộng, lộng lẫy và hoành tráng, đấy là cả một gia sản mà người để lại cho tôi. Mỗi bức tranh như một ẩn ngữ mà tôi, kẻ kế thừa, chưa có chiếc chìa khóa mật mã trong tay để giải thích. Nhưng cần gì, chẳng phải ngày xưa cha tôi thường bảo: “Cuộc đời là để sống chứ không phải để giải thích” hay sao? Trong những bức tranh này có rất nhiều bức vẽ hình người đàn bà với da thịt lộng lẫy. Từ những mảng mầu trên ngực, trên môi, trên đôi tay mọc lên cây lá và cỏ hoa đầy sức sống: cái vẻ rực rỡ của mầu xanh cây cỏ, của mầu hồng da thịt này, tôi biết cội nguồn của nó. Hào quang lấp lánh ấy tôi đã thấy một lần nơi gương mặt người đàn bà đã trao em Dung cho tôi. Có phải người đàn bà ấy đã đem đến cho cha tôi cái gia sản của sắc mầu và ngôn ngữ này? Có thể nói thế hay không, tôi cũng không biết nữa… Đôi khi tôi hoang mang tự nhủ: Lẽ nào tôi đang mắc nợ bà ấy sao, hay là bà ấy nợ tôi?
Trời ngớt mưa, tôi vội vã từ những cánh đồng Hương Thủy về thăm mẹ. Sân nhà sũng nước, mái hiên ngói cổ nhỏ từng giọt, từng giọt vẽ ra một hàng lỗ chỗ trũng xuống trên mặt đất. Em Dung chạy ra đón tôi, hai cánh tay gầy như hai cái que ôm lấy cổ tôi, nhảy thót lên hông tôi cứ như thể em còn nhỏ lắm. Tôi bẹo má em:
– Lên mười rồi nghe, còn làm ra vẻ nhỏ em quá há.
Em cười, cầm tay tôi kéo vào phòng em, chỉ cho tôi những bức tranh mầu nước nguệch ngoạc. Em khoe: “Anh Hai ơi, em đi thi vẽ ở nhà Thiếu nhi, được giải nhất”.
– Đâu nào, đưa anh coi, tranh mèo cào của Dung sao hên thế.
Em đưa cho tôi xem bức tranh em vẽ dòng sông đang chảy tràn qua con đập, với những con cá đang tung mình nhảy qua theo dòng nước. Những con cá có đôi vú rất nảy nở, như đang căng đầy sữa.
Tôi cười. Em bảo tôi: “Để cho cá con bú thật nhiều, cho nó mau lớn”. Tôi nhìn một lát, gật đầu rồi cất bức tranh vào hộc bàn. “Xem chừng mẹ thấy thì chết”. Em Dung nhìn tôi: “Sao thế, khi nhỏ em không bú mẹ sao?”.
Tôi không trả lời, chỉ nhìn vào mắt em. Mắt em tôi có hàng mi dài và cong đen mướt như mắt di-gan. Tôi biết, mẹ tôi đã phí bao nhiêu công phu để dập tắt cái căn cơ hoang dã trong đôi mắt này. Nhưng vô ích. Tôi biết, rồi một ngày em sẽ ra đi…
Từ lúc yêu cây cỏ và đất đai, tôi cũng đã hiểu dòng sông và con đập. Tôi biết nếu không có con đập thì mỗi mùa mưa cả vùng đồng bằng phía nam sẽ trở thành vực xoáy tàn khốc, nhưng nếu con nước không tràn qua thì hoặc là vùng đất ấy sẽ khô thành hoang mạc, hoặc là con đập sẽ vỡ tan tành trong cuồng nộ của dòng sông mùa lũ.
Vì thế mà hằng năm con đập vẫn chịu đựng vết đau sạt lở. Nó chịu đau để được cùng tồn tại với sông…

Trần Thùy Mai

 

 

Tuesday, August 29, 2023

Ngập Ngừng - Hồ dzếnh

 Ngập Ngừng




Không Được - Thuyên Huy

 

KHÔNG ĐƯỢC

 

    Không hẹn mà gặp, anh vừa tới, tay cầm bó hoa Huệ trắng, thì trước mộ Vĩnh đã có người, một người con gái, tóc xỏa dài, áo dài xanh da trời nhạt, màu áo mà anh có một thời yêu thích, ngồi gục thấp đầu, quay lưng ra trước mộ bia. Giờ này trời vừa ngấp nghé giữa trưa, nắng rực sáng một màu vàng hực, vạt từng vạt trải dài trên những hàng mộ thẳng hàng trong nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa, anh đứng khựng lại xa, lẳng lặng chờ.




*

   Lâu lắm rồi, sau ngày đám cưới Vĩnh, thằng bạn thân cùng quê, cùng lớp cùng trường thời trung học, hẹn lần hẹn lựa, giờ mới về lại Sài Gòn, nơi này vẫn vậy, từ ngày thôi học, rời ghế giảng đường, hai thằng hai ngả, Vĩnh vào lính ôm mộng sông hồ, anh lang thang, Sài Gòn đường trong ngõ ngoài, phố trên chợ dưới vẫn ồn ào ngựa xe áo quần, lụa là son phấn. Ngày Vĩnh bỏ đời đi sớm, chết ở chiến trường Tam Biên, chôn trong nghĩa trang này, anh cũng chưa một lần về đốt nén nhang tiễn bạn.

    Nghĩa trang giờ này đông người hơn, khăn tang chập chờn ẩn hiện như ngàn cánh bướm trắng vờn quanh những ngôi mộ cũng trắng một màu liêu trai u uẩn. Anh đi gần tới, cũng là lúc người con gái đứng lên quay lại, cả hai ngở ngàng, chưng hửng nhìn nhau, họ không phải là người lạ.

*

    Nhật Hạ, anh và Vĩnh cùng chung trường, họ dân chợ tỉnh, anh người xóm quê, nhưng chơi thân và rất thân. Ngày lại ngày qua, hết xuân tới hạ rồi sang thu, cứ thân rất thân vậy rồi anh lại thương thầm nhớ trộm cô nàng nhưng không dám nói ra, hẹn với lòng hết mùa thi này rồi mùa thi sau vẫn cứ lặng thầm mơ một ngày nào đó. Mùa thi cuối, anh chết lặng, mang nỗi buồn riêng mình, cố gượng làm vui, từ biệt khi Vĩnh cho biết, sẽ làm lễ đính hôn với Nhật Hạ nay mai, ngày đó nhắc anh đừng quên tới dự. Tan nát lòng, anh bỏ tỉnh nhỏ đi và chưa một lần về từ ngày đó.

*

    Ngồi trong phòng khách nhìn ra, mưa lất phất lùa xào xạc lá me trên con đường quen lả tả bay, phố vắng tanh giữa xế chiều, hai người nhắc chuyện xưa chuyện cũ, chuyện của những ngày chưa biết thương, phượng góc sân Hạ, lá vàng thu cổng trường, quán cốc đầu trường, chợ đêm nhìn sông lặng lờ bên ly chè sâm bổ lượng, vậy thôi, mà nhắc, bỏ chuyện bây giờ, chuyện của những ngày hết còn thơ, biết buồn và biết thương biết nhớ, của kỷ niệm một thời áo trắng sân trường, quán nước công viên ở một tỉnh lẻ. Nhật Hạ, người con gái, bây giờ  nếu gọi cho đúng, người quả phụ, nói nhiều hơn là nghe, anh nghe nhiều hơn ít nói, nhưng dường như ai cũng ngậm ngùi tiếc nuối cái gì đó. Riêng anh, cái mơ ước một ngày nào của năm xưa chợt loáng thoáng vội về đâu đó trong hồn, đôi lúc anh định nói nhưng lại thôi.

*

   Đứng dậy từ biệt ra về, bỗng dưng anh lại muốn nói, nhưng chưa nói, Nhật Hạ trông ra có vẻ đang chờ, anh quay nhìn lên bức hình Vĩnh cười tươi trên tường, chợt thấy lòng đau nhói, như chùng xuống, anh bước nhanh ra cổng, hẹn gặp lại, nhưng không hẹn khi nào, ở đâu. Nhật Hạ đứng nhìn theo, anh lầm lũi đi giữa mưa, cơn mưa bất chợt của Sài Gòn, mưa như bụi phấn lớp học tạt vào mặt, đưa tay lên vuốt mặt, mắt nhạt nhòa ướt như mưa, anh nói cho chính mình hai tiếng “không được”.

 

Thuyên Huy

Trên Phố Gặp Người - Nguyễn Đạm Luân

Trên phố gặp người

 















Chiều một mình trên phố

Lâu lắm rồi mới về

Cũng chốn xưa ngày đó

Đường dập dìu người di

 

Nơi này góc quán cũ

Vẫn chỗ ngồi ngày xưa

Một chiều mưa muộn đổ

Thu vừa mới sang mùa

 

Thấy em ngoài khung cửa

Tay trong tay với người

Dù không còn nhau nữa

Sao cứ mặn bờ môi

 

Mặn bờ môi mà nhớ

Một thuở mộng ban đầu

Đường mơ hoa lối cũ

Giờ nửa đời thương đau

 

Em một lời không nói

Gác trọ quặn thắt buồn

Em bỏ đi quá vội

Tôi ở lại vẫn thương

 

Tay bên người âu yếm

Em cười giữa phố đông

Trong tôi hoàng hôn tím

Hồn tan nát cỏi lòng

 

Em khuất rồi cuối ngõ

Phố ngấp nghé lên đèn

Giáo đường chuông chiều đổ

Đường tôi về không quen

 

Tình đã xa mà ngỡ

Còn đâu dó quanh đây

Phố không là phố cũ

Ai nào biết cho ai

 

Nguyễn Đạm Luân 

Lối Cũ Chẳng Sao Quên - Bích Huyền

LỐI CŨ CHẲNG SAO QUÊN

Ðường trần quên lối cũ
Người đời xa cách mãi
Tình trần khôn hàn gắn thương lòng…
(Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay – Ðoàn Chuẩn-Từ Linh)

Vĩnh Phú, địa danh tôi muốn quên mà không thể nào quên. Trong suốt hơn mười năm qua và trong cả cuộc đời . K1, K2, K3, K4…những chữ số ký hiệu kinh hoàng. Của tôi. Của những người tù và gia đình họ. Ở rồi, đến rồi, đi rồi…mấy ai muốn quay trở lại? Vậy mà hôm nay tôi vẫn phải trở về đây. Cảnh vật không khác xưa là bao nhiêu dù thời gian trôi qua bốn năm rồi…

Những khẩu hiệu:”Chào mừng thành công Ðại Hội Ðảng 5,” “Ðảng Cộng sản Việt Nam , Người lãnh đạo Tài Tình”, “Ðảng Cộng sản Việt Nam muôn năm…” lem luốc màu đỏ vì nước mưa, chảy dài xuống như những dòng nước mắt pha máu ngoằn ngoèo trên từng bờ tường loang lổ, cũ kỹ. Ngay phía dưới lại có hàng chữ mang tính “Pháp lệnh” bằng những lời thô tục “Cấm ỉa đái” . Có cả những nét chữ nguệch ngoạc chửi thề. Hình như không một ai để ý.

Ở cái ga xép èo uôc gần tận cùng của đất nước này, những con người lam lũ, ngác ngơ, còn đang loay hoay với ký trà, bao gạo, rổ rá nhựa, nồi niêu xoong chảo, xấp vải hoa Chợ Lớn hoa xanh, hoa đỏ…Che che, giấu giấu, tránh con mắt dòm ngó của bọn Công an kinh tế. Chính sách của Ðảng đổi mới rồi, tự do buôn bán nhưng người dân lại khổ vì sưu cao thuế nặng.

Theo lời chỉ dẫn, chúng tôi không đến trại Tân Lập bằng đường sông nữa. Ðạp xe trên bờ đê. Dắt xe đi bộ qua bãi cát lổn nhổn những vỏ sò, vỏ ốc. Băng ngang qua những thửa ruộng khô cằn của vùng đất miền trung du. Cái hình ảnh “quê em miền trung du, đồng chiêm lúa xanh rì…”của một thời hoàng kim nào xa lắm, nay ở đâu? Giặc tràn về đốt phá thôn làng. Gia đình ly tán. “Vườn không nhà trống tàn hoang” còn trong trí óc non nớt của tuổi thơ tôi. Giờ đây, giặc nào đã làm cho miền Bắc điêu tàn?

Ðảng Cộng Sản Việt Nam, đỉnh cao của trí tuệ loài người! Ôi! mỉa mai thay những khẩu hiệu kêu to như những chiếc thùng rỗng! Ðảng lãnh đạo tài tình làm sao để bao nhiêu năm đời ta có Ðảng, bấy nhiêu năm Ðảng phá nát tan? Ðể những người dân quê hiền hoà cởi mở trở nên ngu ngơ câm lặng đến thế kia sao?

Dân cư ở đây rất thưa thớt. Họ sống trong những mái nhà lụp xụp, vách đất, mái tranh. Mảnh vườn. Rào thưa. Khoảng sân đất. Giếng nước. Chiếc gầu..tất cả đều quá nhỏ bé, trơ trụi, xa lạ. Trẻ con gầy còm, ốm yếu. Quần đùi vá víu miếng nọ miếng kia. Cởi trần, ngồi nghịch đất. Không tiếng nô đùa. Không tiếng hát. Không tiếng nhạc của máy thu thanh. Không cả tiếng hót. Như một vùng đất chết.

Ba người anh cùng đi với tôi chuyến này đều là những thanh niên đầy nhiệt huyết của hơn ba mươi năm về trước. Thoát ly gia đình, mang tuổi trẻ của mình cống hiến cho đất nước . Ðể rồi khi biết mình bị lừa thì đã muộn. Cũng dòng sông Lô nắng vàng lấp lánh nhưng còn đâu tiếng hát rộn ràng? Cũng con đê này của những buổi chiều vai đeo ba lô từ chiến khu về, rầm rập bước chân.

Trong thời gian, “Hồi chuông ngân nga trong chiều thu ngập gió…Hồn ta chìm đắm tiếng chuông xa vời.” Ba người anh tôi ôn lại một vài kỷ niệm xưa. Tiếc nuối. Tôi làm các anh tỉnh giấc mơ:”Phải chi ngày ấy các anh không đi theo phong trào Thanh Niên Cứu Quốc thì nay em đâu phải đi bốc mộ chồng ở một nơi đèo heo hút gió này!” Ba người anh im lặng. Họ như muốn quên đi những năm tháng sục sôi khí thế cách mạng. Yêu tự do. Yêu tổ quốc. Ðánh đuổi giặc Pháp ra khỏi đất nước . Chiến thắng Ðiện Biên Phủ, ngày trở về giải phóng thủ đô Hà Nội. Những người bộ độ với tuổi hai mươi. Trẻ trung. Học thức. Hà Nội đã bừng lên một sức sống mới.

Hà Nội rực rỡ cờ hoa. Hà Nội tưng bừng tiếng hát. Không bao lâu, những cuộc đấu tố dã man diễn ra khắp nơi. Ông bác tôi bị đấu tố, dù có năm người con đi kháng chiến. Nghe tin dữ, các anh về quê xin Ðảng khoan hồng. Không những không tha, họ còn xúi giục các anh tôi: phải giác ngộ cách mạng, phải đứng vào hàng ngũ nhân dân, cùng vạch tội, chỉ tên địa chủ, cường hào, ác bá. Ông bác tôi bị tù. Khổ sai lao động. Thất vọng, đớn đau nhìn bố vác cây, đào đất, khiêng đá, trộn hồ…Những người tù già này làm việc suốt ngày đêm để đạt chỉ tiêu biến khu đất hoang quanh hồ Bảy Mẫu, Hà Nội, thành một công viên mang tên Thống Nhất. Ðến thập niên 1980 đổi thành công viên Lê Nin.

Cũng vì sự khổ nhục của người bác thân yêu mà bao lần ra Hà Nội là bấy nhiêu lần tôi không đặt chân vào công viên này. Cũng như tôi đã không đến vui chơi khu K4 Long Khánh, một địa điểm du lịch mới lạ của miền Nam. Vì nơi đây được tạo nên bởi những bàn tay của cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bị Cộng sản tù đầy, hành hạ.

Các anh tôi, vài năm đầu “Sài Gòn giải phóng” vì đường lối của Ðảng, hay vì muốn các em của mình ở miền Nam sớm “giác ngộ” để hoà nhập ngay với cuộc sống mới, đã có những lần tranh luận. Bao giờ cũng trở thành lớn tiếng cãi nhau. Tôi đã làm các anh nhức đầu không ít. Lần cuối cùng, tôi không cãi lại các anh nữa. “Ðảng đã cho các anh tôi sáng mắt sáng lòng. “Ðó là lần một anh nói với tôi:”Người em không yêu làm em khổ, em đâu có đau bằng anh? Anh đã yêu, anh đã dâng hiến cả cuộc đời mình mà ngày nay anh bị phụ bạc, anh bị lừa dối…” Một anh khác:”Viên gạch đã trót để vào xây tường, giờ có rút ra cũng bị vỡ tan. Thôi em ạ, không còn còn đường nào khác!”

Trên con đê này, giữa khung cảnh hoang vắng của buổi chiều trung du, bốn anh em đi bên nhau. Thương cho thân mình. Thương cho các anh. Lý tưởng sụp đổ tan tành. Ngày mai đen tối.

Trời chạng vạng. Tôi đã bắt đầu đi những bước thấp bước cao. Quãng đường này làm tôi nhớ lại những lần vượt biên. Xuống ghe tại Nhà Bè khi thành phố còn chìm trong màn đêm. Lên bờ đi bộ băng qua bao nhiêu là thửa ruộng. Vấp ngã bao lần mà không cảm thấy đau đớn vì thần kinh đang trong tình trạng căng thẳng: hồi hộp, lo sợ.

Lần nầy trên cánh đồng: mệt mỏi, chán chường. Cũng phải vài giờ nữa mới tới trụ sở Ban Chỉ Huy. Tiếng dế nỉ non. Xa xa ánh đèn leo lét. Cố lê bước tới đó để xin ngủ nhờ qua đêm. Nhìn một căn nhà tương đối khang trang, chúng tôi vào gặp chủ nhà xin ngủ đỡ ngoài mái hiên. Nhưng cũng bị từ chối. Ðang lo lắng không biết tôi có đủ sức đi tiếp hay không, thì như có phép lạ, một người đàn bà gánh lúa từ xa đi tới. Bà ta dừng lại:”Các bác tìm nhà ai thế?” Khi biết ý, bà ta mời chúng tôi về nhà. Bốn anh em mừng rỡ như người sắp chết đuối vớ được chiếc phao. Dù gánh lúa nặng trĩu trên vai, bà ta vẫn bước đi thoăn thoắt. Trong khi tôi lẽo đẽo theo sau.

Khi bà đẩy cánh cổng tre, bóng tối làm tôi không thể nhìn rõ một người đàn ông đang xếp lúa ngay đầu nhà. Ông ta không quay lại và cũng không lên tiếng đáp lại lời chào của các anh tôi. Trước thái độ lạnh nhạt đó, chúng tôi hơi e ngại. Trong lòng vẫn mừng thầm không bị đuổi ra.

Một gian nhà ba gian bằng tre sơ sài nhưng gọn ghẽ. Nhìn cách trang trí nhà cửa, nhìn bức tượng Chúa nho nhỏ trên bàn thờ cao, tôi có thể đoán chủ nhân không phải là người quê mùa. Tôi ôm bộ quần áo ra giếng. Những giọt nước mát lạnh làm tôi tỉnh táo lại. Trăng bắt đầu lên. Tôi đã nhìn rõ khung cảnh chung quanh. Mảnh sân hình chữ nhật. Khu vườn nhỏ. Chái bếp cuối sân. Ánh lửa bập bùng. Hàng cây cau vươn cao đón ánh trăng. Tôi liên tưởng tới hàng cau của khu vườn trước nhà tôi ở quê hương. Ngày còn nhỏ, tôi vẫn thường trèo lên nhanh như một chú mèo con để hái quả cau cho mẹ tôi têm trầu đãi khách. Trong không gian thoang thoảng mùi hương hoa thiên lý. Âm thanh tiếng đàn mandoline bản Valse Favorite vui tươi, tiếng hát chan chứa tình quê “Làng tôi xanh bóng tre. Hồn lắng tiếng chuông ngân. Tiếng chuông nhà thờ rung…” chợt khua động trong tôi ngày tháng êm đềm thời thơ ấu.

Tôi thở thật sâu để nén xúc cảm. Ðêm yên lặng. Ðêm mờ ảo. Tất cả đều rất mong manh. Một tiếng động nhỏ cũng đủ làm tan vỡ giấc mơ xưa thoáng đến với tôi, đưa tôi về thực tại. Tôi phải vào nhà để bàn chuyện ngày mai.

Tiếng cười nói làm tôi ngạc nhiên. Ông chủ nhà cùng ba anh tôi đang vui vẻ quây quần bên khay trà bốc khói. Thấy tôi vào, ông kéo ghế trịnh trọng mời ngồi. Tôi còn đang ngơ ngác trước thái độ thay đổi nhanh chóng thì một anh đã giải thích:”Ban đầu ông Tuyển tưởng anh em mình đi thăm nuôi tù. Bây giờ ở đây có tù hình sự (những thanh thiếu niên can tội cướp của giết người ) Tù chính trị chuyển đi từ lâu rồi. Một số về trại Hà Nam Ninh. Ða số vào Nam.”

Ông Tuyển đặt ly trà thơm phức trước mặt tôi:”Ðược biết cô về đây bốc mộ cho chồng, chúng tôi vô cùng cảm kích. Gia đình chúng tôi xin hết sức giúp đỡ cô và các ông anh đây.”

Vầng trán cao. Khuôn mặt chữ điền. Cách nói chuyện lưu loát cùng dáng điệu từ tốn, cử chỉ lịch sự, chứng tỏ ông Tuyển là một người có một số vốn kiến thức về học vấn cũng như về xã hội. Ông cho biết có một người anh là linh mục trong một ngôi nhà thờ vùng đất đỏ Long Khánh.

Ông Tuyển đã sắp xếp chỗ ngủ cho chúng tôi. Ðể khách được tự do, ông Tuyển dặn dò vợ con và đi vào thôn tìm người quen chuyên việc cải táng.

Gian phòng khác rộng, sơ sài nhưng ngăn nắp. Giường tre, bàn gỗ mộc mạc, thô kệch, được hình thành có lẽ do bàn tay của chủ nhà. Tượng Chúa và tượng Ðức Mẹ trên cao là một hình ảnh cảm động hiếm có trong những ngôi nhà tại miền Bắc. Theo như lời ông Tuyển, đời sống gia đình ông bắt đầu khá hơn kể từ khi hợp tác xã nhà nước tan vỡ. Lối làm ăn tập thể nhường lại cho lối khoán sản phẩm. Tuy nhiên, vẫn phải nộp đủ cho nhà nước , cả nhà xúm nhau cày cấy mới có gạo ăn.

Dưới nhà ngang, các con ông bà Tuyển đang đập lúa, giã gạo, sàng sẩy…Mọi người chăm chú làm việc, không tò mò để ý khách phương xa. Tôi mệt mỏi nằm thiếp đi trong chốc lát.

Khi tôi tỉnh dậy, trăng đã lên cao. Ông Tuyển vừa về tới. Tay cầm hai chai rượu và một bó hoa tươi. Ông cho biết đã tìm được một người rất thành thạo trong việc bốc mộ. Chai rượu này để rửa hài cốt. Tìm mua được rượu ở miền núi không phải là chuyện dễ dàng.

Bà Tuyển bưng mâm cơm từ nhà bếp lên. Chúng tôi trải chiếu ngoài hiên, ngồi ăn cơm dưới ánh trăng. Ðĩa thịt gà luộc thơm mùi lá chanh thái chỉ rắc lên trên. Tô canh rau “tập tàng”- đủ mọi loại rau hái ngoài vườn – mát ngọt. Tôi không ngờ anh em chúng tôi được đối xử như một thượng khách ở nơi đây. Thế mới biết ở một nơi tưởng chừng như không có, ta vẫn tìm thấy một tấm lòng.

Qua một đêm ngủ với nhiều mộng mị, sáng sớm hôm sau, tôi và các anh đến Bộ Chỉ Huy. Có quãng đường đi được bằng xe đạp. Có quãng đường đá lởm chởm phải dắt bộ. Chỉ huy trại là người mới. Không phải Thiếu Tá Nguyễn Thùy tôi gặp lần trước. Hắn vồn vã thái quá, khiến tôi chỉ im lặng ngồi nghe. Hắn kể chuyện, có một người nước ngoài, cách đây không lâu, về đây bốc mộ bố. Cầm bình hài cốt lên xe, xe không nổ máy. Gọi xe ngựa đến kéo, con ngựa nhảy quớ lên không chịu chạy.

Nhìn hắn ba hoa, ngồi bỏ cả hai chân lên ghế, tôi hơi khó chịu. Nhất là cặp mắt hắn thỉnh thoảng lại nhìn vào mấy bao thuốc là “555” anh tôi mang đến làm quà. “Ba con năm vừa nằm vừa ký”, cho nên bọn tôi mới được chấp thuận một cách dễ dàng.

Những chuyện hắn nói có thể xảy ra ở đâu, hắn nghe được. Hắn muốn nói đến đời sống tâm linh. Anh em tôi thì có rất ít thời gian. Cũng có thể sau một thời gian quá dài bị đè nén, những con người triệt để chống chủ nghĩa duy tâm ngày nay bắt đầu duy tâm hơn ai hết.

Xe Volga cọc cạch chở chúng tôi đi lên ngọn đồi, nơi an nghỉ của những quân nhân chế độ cũ. Ít ra từ ngày Việt Công muốn bang giao với Mỹ, đã có lúc họ bỏ được từ ngữ “ngụy quân ngụy quyền”. Nhưng tiếc tay những tên gọi này vẫn là vết hằn trong lòng người Việt.

Tôi ngồi đợi trong một căn nhà nhỏ dựng sơ sài bằng tre nứa. Nền đất lồi lõm. Trên vách nhỏ treo đủ thứ khẩu hiệu, kế hoạch công tác hàng tháng, tuần… Hình ảnh các lãnh tụ Cộng Sản thế giới và trong nước quá khổ so với bức vách, treo xộc xệch như sắp rơi. Ðây là nơi làm việc của toán công an canh gác.




Cách đây bốn năm, khi tôi đến nơi đây nhận mộ chồng, cảnh vật chung quanh gọn ghẽ hơn. Hàng ngày còn có bàn tay bạn tù săn sóc. Giờ đây cỏ cây, dây leo chằng chịt, không nhìn thấy lối đi. Hơn một giờ đồng hồ trôi qua, tên công an cầm bản đồ nghĩa trang và các anh tôi trở lại trụ sở với gương mặt thất vọng. Không tìm thấy mộ vì cỏ cây che lấp cả một vùng rộng lớn. Tim tôi như muốn ngừng lại. Chẳng lẽ lại về không?

Tôi xin mọi người hãy cho tôi đến tìm. Tôi thầm cầu nguyện cũng như ở Sài Gòn, mẹ tôi và các em tôi đã cầu nguyện cho chuyến đi của tôi được tốt đẹp.

Kỳ lạ thay! Tôi chỉ vạch lá chui vào đúng một quãng ngắn là tìm ra mộ. Tôi reo to lên. Các anh tôi đứng ngoài không tin. Ngôi mộ có hai bia đá. Tôi lầm thế nào được. Một tấm bia tôi mang từ Hà Nội lên. Một tấm bia nữa của anh em bạn tù đẽo gọt bằng tay. Nét chữ khắc vào đá mờ đi vì rêu phủ.

Trong khi người thợ cải táng chặt cây cối chung quanh, tôi thắp nhang lui cui cắm trên từng ngôi mộ. Ðêm mưa, cỏ ướt, ngửi thấy có hơi người, những con vắt nhảy ra, bám lấy chúng tôi. Máu chảy ròng ròng. Tôi muốn ngất người đi vì sợ. Cây cối quang dần. Dầu nóng tôi bôi đầy mặt, mũi, chân, tay, khiến những chú dế bé xíu cũng không dám nhảy ra đột kích nữa.

Một ít trái cây mua vội dọc đường, bó hoa ông Tuyển mua dùm, chúng tôi chỉ có những tấm lòng thành trước linh hồn người đã khuất. Người anh lớn nhất của tôi khấn thật lâu. Những cây nhang cháy rất nhanh, tàn cong vòng…khói nhang thơm toả ngát. Nhát cuốc đầu tiên bổ xuống đất, lòng tôi đau buốt. Tiếng cuốc, xẻng đều đều vang vọng giữa miền rừng núi hoang vu. Từng tảng đất bật lên, tâm hồn tôi như vỡ vụn. Cho tới lúc lưỡi cuốc đụng vào quan tài. Tôi hồi hộp. Các anh tôi nôn nóng.

Khi tôi ra đến Hà Nội, các bậc lão thành có trấn an:”Ðất núi miền khô ráo, xương cốt lâu ngày sẽ tan đi. Phải chuẩn bị tinh thần: có thể đứng trước một cái hòm chỉ có đầy cát bụi!”

Thế cho nên khi những nhát búa đầu tiên bổ xuống để nạy nắp quan tài, tôi cứ giật thót mình. Một cảm giác đớn đau như lần đầu tiên nghe thấy tiếng đóng đinh vào quan tài bố tôi lúc liệm quan…

Gỗ áo quan dầy và chắc. Khi chiếc nắp bật lên, tôi lạnh người: chiếc chăn len màu đỏ! Suốt đêm qua, người anh lớn của tôi cứ chợp mắt là nằm mơ thấy xác chồng tôi quấn bằng mảnh vải màu đỏ. Gương mặt các anh tôi xúc động. Bóc lượt chăn len ra là quần áo. Hết lớp áo này đến lớp quần khác. Bàn bè đã dồn tất cả cho người chết mang đi. Nước mắt tôi ràn rụa. Màu xanh lá cây đậm của chiếc áo len mẹ tôi mua tặng, gửi trong năm ký lô quà đầu tiên ra Bắc. Chiếc sơ-mi trắng ngà có từng sợi chỉ xanh xanh, hồng nhạt, mang về Sài Gòn sau chuyến du học tại Mỹ năm 1971. Chai dầu gió, đôi giày ba ta…tất cả tôi đã tự tay xếp vào ba lô trước ngày anh đi trình diện “học tập cải tạo”.

Không còn lầm được. Không còn ảo tưởng:”Ðã trốn trại, còn đang ẩn trốn tại một nơi nào.” Tôi mất anh thật rồi! Thế là hết. Tôi khóc nức lên. Trời như nổi gió. Cỏ cây chao đảo. Ðồi núi quay cuồng. Quanh tôi cảnh vật mờ đi…

Lâu lắm, khi tôi tỉnh dậy, đống tro tàn của áo quần vừa đốt còn âm ỉ cháy. Trong một cái xanh to bằng gang dùng thổi cơm cho trại tù đã gẫy tay cầm, các anh tôi đã đổ bột nhang thơm với rượu trắng để ngâm xương cốt. Người thợ cải táng cùng các anh tôi quấn giấy bao từng lóng xương, đặt từng mảnh vào trong nhiều túi ni-lông …

Không gian mênh mông yên lặng. Tôi lặng lẽ theo các anh tôi bước nhanh cho kịp chuyến đò cuối cùng…

Bích Huyền

Trích từ tập hồi ký “Lối Cũ Chẳng Sao Quên”
(The Trail I Never Forget)