Tàn Thu Khúc
Tuesday, April 14, 2026
Chiều Sương - Bùi Hiển
Chiều Sương
Vào một chiều trung tuần tháng giêng, chàng
trai ấy lang thang trong những ngõ hẻm làng. Chàng đi không mục đích, hồn lặng
thấm cái êm ả lắng tự vòm trời trắng hơi biêng biếc như giát bạc, cái êm ả của
những cuối ngày thôn dã. Chàng đi và nghĩ đến trăm điều vu vơ, những ý nghĩ
thoáng qua trong trí rồi vỗ cánh bay đi, như những con bướm đa tình vội hôn đóa
hoa này để đến với hoa kia.
Chàng đi lơ đãng, đến nỗi sương tỏa xuống mù trời từ bao giờ mà chàng không biết.
Sương bạc đã tỏa rất nhanh, một cách bất ngờ. Thấy ẩm lạnh trên đầu và có hơi
nước đọng trên mi, chàng mới ngơ ngác nhìn lên.
Cảnh vật, như dưới một đũa tiên mầu nhiệm, đã tan biến trong giây phút. Chỉ còn
trơ lại quanh mình những nét thâm thâm của vài nhánh cây khẳng khiu và những
vuông xám mờ của các túp tranh. Những bụi xương rồng và râm bụt chạy hai bên đường
đẫm sương, óng ánh, xanh tươi lại. Vài mạng nhện mắc giữa hai cành yếu, trắng
toát như dệt bằng những sợi tơ bạc li ti.
Trời không lạnh lắm, nhưng hơi sương ngấm vào mình; chàng trai lẳng lặng trong
tâm hồn buồn, cái buồn tê tái và mang mang, cái buồn ôm trùm, như kết bằng những
sầu thảm nào mơ hồ và đã xa xôi lắm, tưởng tượng hay là thực, chàng cũng không
biết nữa. Hơi ẩm đọng trên mi, chàng tưởng nước mắt rưng rưng.
Chàng đi lang thang, mặc hồn lang thang... Sương bay từng luồng, hạt sương bám
khẽ vào da mặt như một làn phấn bụi.
Những tiếng người trao đổi trong sương, như gần như xa, lãng đãng. Ngoài sông mờ,
bóng một chiếc thuyền chài sửa soạn ra khơi: sương mù đã tới báo mùa cá thu.
Chàng rẽ vào nhà một ông bạn già. Chàng thấy lão đang ngồi xổm đan lưới, hai
chân co trước ngực, mình quàng trong một manh chiếu vuông buộc túm một đầu để
khoanh lấy cổ, thứ áo tơi và áo rét của dân chài.
Chàng chào, và lão Nhiệm Bình với dáng điệu giản dị của những người chất phác,
vỗ vai người bạn nhỏ, bảo ngồi trên phản. Chàng hỏi:
- Cố (1) không đi biển à?
- Không, chú ạ. Già rồi, không năng đi được nữa.
- Cố kể chuyện đi chài nghe đi.
Chàng nói thế bằng cái giọng nũng nịu của đứa cháu vòi bà. Chàng thường đến
đánh bạn với lão chài, và ông lão, đối với chàng trai mới lớn, có một tình yêu
thương che chở, tốt quá mức đến cưng chiều, như tình yêu thương mà tất cả những
người già đùm bọc trẻ con. Lão cười đáp:
- Còn chuyện gì mà kể nữa! Chú nghe hết cả chuyện của tôi rồi.
- Không... Cố phải kể đi... à, cố kể chuyện ma đi. Cố đi chài có bao giờ gặp ma
không?
Lão Nhiệm Bình có một nụ cười hồn hậu nhuốm vẻ độ lượng của kẻ không biết từ chối
bao giờ.
- Chuyện ma à? Tôi cũng ít khi thấy ma lắm... Có vài lần thuyền neo ngoài khơi,
tôi ngồi câu đêm, thấy giằng mạnh ở câu, vội kéo lên. ái chà, sao nặng khiếp.
Mà lạ, chỉ thấy nặng thôi, như có tảng đá trì giữ lại, chứ không thấy giật giật
vùng vẫy như con cá to. Tôi nghĩ thầm: khéo lại cái nố ta (2) rồi, hắn muốn
trêu mình đây... Quả nhiên! Tôi vừa kéo câu lên khỏi mặt nước, thấy hắn xòa một
cái, xanh lè cả nước biển, mình hết hồn. Nhìn lưỡi câu, con mực mồi vẫn còn
nguyên.
Đó, tôi chỉ gặp vài lần như vậy thôi. Đêm khuya lạnh lẽo, vắng vẻ, chắc cụ buồn
tình, bày chuyện phá mình tí cho vui.
Có người họ kể, đêm ở ngoài khơi, trời êm biển lặng, mọi người đang neo ngủ, thấy
các chú bơi lù lù rồi trèo lên ngồi dăng dăng hai bên mạn thuyền; họ nói:
"Thôi mà, anh em mình cả, trêu nhau làm gì?", thế là cả bọn nhảy sùm
xuống, bơi đi.
Mồ ma ông cụ Bình khi xưa, dạn khiếp. Nửa đêm ông ta đi lưới về, qua dưới cây
đa trước miếu, một bầy hắn bíu lấy tay. Không thấy người đâu, nhưng nghe tiếng
hắn léo nhéo xin cá. Ông ta đáp: "Chà, xin với xỏ, được mấy con cá về cho
vợ con đây!". Thấy nhẹ trong rổ, sờ vô thì cá đã biến mất. Ông ta nạt:
"Đồ quỷ, cứ nghịch thôi!". Thế là tiếng cười bật lên ríu rít, hồi sau
lại thấy nặng rổ.
Lão chài kể như vậy, giọng bình thường như nói chuyện người dương gian (3), tay
vẫn thoăn thoắt đưa que đan qua mắt lưới. Chàng trai khẽ rùng mình thích thú.
Chàng vốn không tin ma quỷ; chắc chắn đó chỉ là điều huyễn tưởng (4), nảy sinh
từ một khung cảnh, một tâm trạng nào đó; nhưng có thể nào không tin ở cái giọng
kể từ tốn hiền hòa của ông lão! Trong ý nghĩ lão chài, chàng đoán, âm dương
không phân ranh giới rõ ràng, cõi sống và cõi chết nương nhau vấn vít. Mấy chú
ma, hồn của những người dân chài đã bỏ mình trong bão tố, trở về ngồi lặng lẽ
trên mạn thuyền, chắc hẳn chỉ để tìm lại chút hơi ấm cuộc đời, vì cảm thấy lòng
biển quá mênh mông, lạnh lẽo. Và tuy đã tìm thấy cái chết trong tai ương (5),
bi thảm và dữ dội, không phải bao giờ hồn họ cũng ngậm giữ oán hờn; họ còn biết
nghịch ngợm đùa trêu người sống, và chàng trai tưởng nghe, vẳng từ sương mù dày
đặc, tiếng cười giòn ríu rít của những cái bóng vô hình cạnh cây đa già miếu cổ...
- Có bao giờ người ta thấy một cái thuyền ma, hay cả một đoàn thuyền ma không,
cố?
Chàng trai lại cất tiếng hỏi.
- Thuyền ma à?... à... có một lần, đã lâu lắm, chính mắt tôi thấy. Hồi ấy tôi
còn trẻ lắm, tôi còn đi trai dưới thuyền mồ ma (6) ông Phó Nhụy... ờ cũng trời
sương mù mịt như thế này, thuyền thì vừa tháo tố xong, thoát nạn chết này lại
đâm liền vô nạn chết khác.
Bữa đó thuyền ra lạch...
° ° °
Sáng hôm ấy,
một buổi sáng thanh quang. Bình minh giát ánh vàng trên những dải mây bông
thoáng nhẹ. Các bác chài tay đưa chèo theo nhịp đều đặn, ngước nhìn trời, lòng
không ý nghĩ, không lo lắng. Nhưng khi thuyền chạy ngang nhà Thương chính, một
chiếc xuồng do hai đứa con nít chèo bỗng lướt ngang trước mũi. Mọi người chửi rủa
chúng ầm ĩ; dân chài rất kiêng bị "ngáng đường" như thế, và ông lái
hơi nhăn trán lại.
Ra khỏi lạch (7), thuyền kéo buồm bắt cơn gió tây nam chạy thẳng ra khơi. Chiếc
thuyền, dáng hơi nặng nề, lừ đừ tiến, hai mắt tròn trân trân nhìn về trước. Khi
một ngọn sóng kéo đến, nó chồm dậy rồi đâm chúi xuống, làm tung tóe một làn nước
bạc xóa. Càng xa bờ, sóng càng bớt mạnh, chỉ còn là những cái lượn, lưng cong
và rộng, kéo lừ đừ nhưng hùng cường. Những mảnh nước lớn thốc vào dưới mũi thuyền
khiến bọt trắng tóe, rồi tự rẽ đôi chảy róc rách hai bên mạn. Các bác chài đã
gác chèo ngồi bện dây neo, quai chèo hay tán chuyện, có vẻ không biết đến sự nhồi
lắc của sóng.
Gió lên lồng lộng, thuyền chạy phăng phăng, để lại sau một vạch phẳng lì, vì nước
đã bị khối nặng của thuyền dàn ra. Nhưng chẳng bao lâu, những làn sóng lô nhô
hai bên mép tiến vào và xóa mất vạch phẳng.
Càng xa bờ, gió càng mạnh, như dậy từ bốn phương của khoảng rộng. Nắng vàng và
gay gắt thêm. Khi mặt trời đứng bóng, biển biếc ngả sang mầu lục.
Ông Phó Nhụy, nhà nghề và chạy lái, ra lệnh bỏ neo (8). Đoạn người ta tháo dây
neo cho thuyền trôi tới gần chỗ đã thả bóng hôm trước. Bóng là một cái lồng
tròn lớn và đan thưa, thả lưng chừng nước, trong có lót lá tre làm chỗ êm mát rủ
cá lội vào. Cạnh bóng, người ta cột vài ba cây gầy, một loại tre vầu. Cá tìm thấy
ở đó một nơi nghỉ tới nhóng xung quanh, có khi hàng đàn lớn.
Hai bác chài, lặng lẽ và nhanh nhẹn, ngồi đầu mũi thả lưới, trong khi thuyền,
dưới mái chèo, nhẹ tiến tới. Sau một lát chờ đợi, thuyền lùi lại và hai bác, có
thêm người trợ lực, kéo dần lưới lên. Những con cá mắc đầu vào mắt lưới, giãy
đành đạch làm lóe những ánh bạc biêng biếc. Vài con cá nhỏ nhảy lanh tanh trong
đám rong rêu lẫn những hạt tròn nhớt và trong, mà người ta gọi là trứng nước.
Bình hồi ấy còn là một chú trai quèn, túm từng mảng lưới hất mạnh cho cá bật
vào rổ rồi đổ dần cá xuống khoang. Từ khoang bốc lên một mùi tanh mặn và man
mác, mùi của biển cả. Những con cá trích, cá đốm, lẫn cá thu, cá hồng, mắt tròn
mở trân trân, há miệng méo xệu một cách tuyệt vọng cố hớp không khí, trong tiếng
lách tách của vây cứng.
Thuyền nặng dần, đè ép sức lắc nhồi của sóng. Chú Trai đã đi thổi cơm. Xế trưa,
thuyền nghỉ để dùng bữa. Trên mâm gỗ, lỏn thỏn hai bát cá đầy và một bát muối;
cạnh mâm, một rá cơm và một xanh canh cá. Cơm xới trong bát đầy có ngọn, các
bác chài và rất nhanh như chèo đua cho chóng xong bữa. Chợt một bác kêu:
- Nhìn kìa!
Và chỉ ra phía bên trái, chỗ mặt nước lăn tăn báo có đàn cá đi qua. Mọi người vội
vàng bỏ đũa, kẻ chạy đến chèo, kẻ chạy đến lưới.
Họ mê mải trong công việc trong khi trời đã ngả về chiều. Mặt trời, lúc còn ba
con sào, bỗng khuất sau đám mây. Bác Hoe Trăn nhìn lên và kêu:
- Coi kìa! Trời đổ ráng ngoài.
Mọi người nhìn theo, lo ngại. Ông nhà nghề, hơi rụt đầu trong cổ béo, quay ngó
xung quanh, cũng kêu theo:
- Sắp có tố (9) đến nơi!
Họ vừa nhận thấy điềm báo không thể lầm lẫn. Trời đã đột ngột đổ ráng ba phương
đỏ rực: ráng ngoài, nơi chân trời, và phía trong bờ, hai ráng Lò (Cửa Lò), ráng
Cương (Cương Gián). Mặt các bác chài đỏ cháy lên trong ánh phản chiếu. Ông nhà
nghề ra lệnh:
- Kéo lưới lên! Giương buồm!
Chân người chạy trên sạp rầm rập. Các bác chài co chân đu mình trên dây để kéo
buồm, miệng "dô hò" lấy nhịp. Một bác hỏi:
- Gió gì?
Người khác đáp:
- Gió trong. Khó tháo kịp.
Gió từ bờ thổi ra, thuyền cố vát (10). Sóng vùng lên, cuốn, réo, đuổi dồn nhau,
va vào nhau tóe bọt, ngụp xuống, trồi lên, đã thấy một sức mạnh hỗn độn và bất
ngờ trong gió vừa cuồng lộng (11) thổi. Buồm vát không ăn gió, xương buồm đánh
cành cạch lên cột, có khi cọ vào gỗ rít ghê tai. Hình như thuyền trôi lùi ra
khơi. Nhìn vào bờ để lấy cữ, ông Phó Nhụy kêu:
- Mưa đến rồi!
Phía bờ đã mờ mịt sau màn mưa trắng bệch, mặt sóng trong kia thâm sẫm lại. Mưa
tiến ra khơi rất nhanh phát thành tiếng ào ào, một giây sau, các bác chài, ngồi
co mình trong tơi chiếu, đã vuốt mặt không kịp.
Một bác bảo:
- Bỏ neo thôi, không lại bạt mãi ra ngoài khơi đông xích đế cho mà coi.
Neo buông xuống nước. Trong khi dây neo tụt xuống vùn vụt, thuyền trôi lùi về
sau, đoạn giật nảy mình, chúi hẳn mũi: dây đã tháo hết. Người ta hạ buồm. Nhưng
từ đó, thuyền cứ hục hặc với dây neo như một con trâu dữ bị buộc. Sóng đánh té
tát, khi mũi thuyền chúi xuống thì vội thừa dịp nhảy chồm, nước tóe trang lang
đến tận sau lái. Nhưng rồi chiếc thuyền rấ khỏe, lại hếch cái mũi ướt sướt mướt,
chờ mảng nước khác. Ông nhà nghề nhảy tới ngồi phục ở mũi thuyền, tay lăm lăm cầm
con dao rựa. Những giọt nước lớn ném vào mặt ông như vốc đá cuội, khiến rát bỏng
da.
Một lần, thuyền tì lại nặng quá. Nước thốc từng mảng lớn, thuyền dốc đứng tưởng
như cứ thế mà đâm thẳng xuống đáy sâu như một cái dùi. Các bác chài, miệng há
ngờm ngợp vì bị nước đánh tối tăm mặt mũi, rời chỗ vịn, lăn trên sạp lông lốc.
Ông nhà nghề bị ngụp trong mảng nước. Không trì hoãn được nữa! Một tay bám cọc
chèo lấy thế, ông vội giơ cao con dao rựa, phăm phăm bổ xuống. Dây neo đứt phựt.
Con thuyền hết ràng buộc quay mình trôi phăng phăng. Các bác chài vội nhảy đến
đầu mũi giúp sức ông nhà nghề hất xuống nước cái neo sắt còn lại, mà ông này vừa
chặt cánh gỗ đi. Không còn cánh, mỏ neo không cắm, nằm bẹt trượt trên nền đáy
biển như một hòn sắt nặng. Như thế, thuyền không bị giằng lại, mà cũng chỉ trôi
từ từ, kéo cái neo sắt rê trên đáy cát.
Nhưng gió vun vút lên mãi, mưa bay ngang chích vào mặt dày đặc thêm, sóng giận
dữ gầm réo, nổi lên như núi. Mặt người nào người nấy tái mét; tuy có tơi che,
quần áo họ ước mềm dính vào da, và vải đã bở sẵn, khi thấm nước rách toạc nhiều
chỗ. Chú Trai, lúc nãy bị sóng đánh lăn xuống khoang, ở luôn dưới ấy tát nước,
tay lia lịa đưa cái mu sam (12). Hai bác chài tới giúp sức, chuyền cho nhau những
thùng nước đầy để trút ra ngoài. Thuyền giằm, ít bị nhồi lắc, nhưng sóng dễ
tràn lên; nước trong khoang nhiều đến nỗi cá nổi lềnh bềnh. Theo lệnh ông lái,
người ta xúc cá đổ bớt ra ngoài; nhưng sóng biển, trong một hằn thù mai mỉa,
đánh vào thuyền, trả lại. Những con cá đập lên áo các bác chài và nằm trắng ràn
rạt trên sạp, chờ một ngọn sóng tràn qua liếm đi và thay bằng lớp khác. Thuyền
nhẹ bớt, nổi hơn, nhưng vì thế lại làm mồi thêm cho gió, trôi phăng phăng. Người
ta bèn xở buồm (13), buộc dây vào bốn góc, rồi thả xuống biển. Gặp nước, buồm mở
tung như một chiếc diều mà đầu lèo (14) đã cột vào mũi thuyền. Nước cản tấm buồm
rộng căng, làm cho thuyền bớt trôi.
Đoạn, mọi người lại ngồi im lặng, co ro, cho mưa dội, sóng nhồi, gió táp. Màn
mưa xám càng lúc càng sẫm thêm, rồi bóng tối ăn loang khắp không gian. Ông nhà
nghề bảo:
- Anh em ai có đói, bốc nhúm gạo mà nhai.
Nhưng không ai trả lời. Họ ngồi thu mình, run run trong cái lạnh của nước ngấm
vào da thịt.
Chừng quá nửa đêm - họ chỉ đoán vậy, và không còn một ý niệm nào về thời gian -
sóng bớt gầm réo và bớt nhồi lắc, gió hạ dần, nhưng mưa vẫn rơi liên miên. Con
thuyền mệt nhọc xang đưa (15) lừ đừ. Và khi một ánh trắng xám ló nơi chân trời,
thì biển đã lặng hẳn. Các bác chài, tai còn đầy cái huyên náo hồi đêm, nghe
trong đó ù ù như điếc. Họ không còn đủ sức để tỏ niềm vui mừng; một cảm giác mỏi
mệt và co rút hầu như làm tê liệt các bắp thịt.
Mầu trắng sữa liếm dần bóng tối của vòm trời, và mưa đã ngớt hẳn. Nhưng trên mặt
biển, ùn ùn từ đâu đến - dân chài bảo từ Thủy phủ (16) đùn lên - một đám sương
mù dày đặc, mang vị mặn và hơi lạnh thấm thía. Người ta kéo cái neo sắt lên, đẽo
cánh mới lắp vào, rồi neo thuyền cho đứng yên. Mỗi người góp một câu để đoán vị
trí của thuyền. Họ chắc ở ngang Thanh Hóa, vì trong cơn bão, gió chướng (17) thổi
từ phía tây nam. Nhưng còn cách bờ bao xa thì không ai đoán được. Một bác chài
đo được hơn năm mươi sải nước và họ biết là đã bị giạt ra ngoài khơi xa lắm.
Đột nhiên, không ai bảo ai, tất cả im lặng: họ vừa ngửi thấy một mùi kì dị, một
mùi nhạt và ẩm ướt, tanh lợm như mùi rong rêu. Rồi một bóng đen dài hiện trong
sương, phía trước mặt. Một người đoán:
- Chết, mình trôi đến cồn đá. Ra nãy giờ neo rê.
Một người khác đáp:
- Neo rê thì biết liền chứ. Đó là cái thuyền, nhìn kỹ mà coi.
Quả nhiên trong sương bóng đen rõ dần thành một chiếc thuyền, trên đó lố nhố những
bóng người chèo. Họ chèo lặng lẽ dị thường, tưởng như thuyền lướt trên biển dầu.
Một bác chài bắt loa miệng hỏi:
- Ai đó?
Thuyền bên kia có người đáp:
- Thuyền Xin Kính đây. Có phải thuyền ông Phó Nhụy bên ấy không?
Ông Phó Nhụy hỏi bạn chài:
- Tiếng ai nhỉ? Nghe giọng lạ gớm. Mà sao họ biết thuyền mình?
Đoạn cất cao tiếng:
- Tôi Phó Nhụy đây. Thuyền bên ấy cũng vừa tháo tố đó phải không? Có biết đây
là đâu không?
Bên kia đáp:
- Ngang Cương Gián. Giờ phải đi xế lên mà vô lạch.
Trên thuyền ông Phó Nhụy, người bàn cãi lao xao. Gió thổi từ phía nam, sao thuyền
lại giạt xuống ngang Hà Tĩnh được? Ông Phó Nhụy lại hỏi to:
- Sao mà biết?
Bên kia có một câu trả lời kì quặc và bí mật:
- Sao lại không biết... à kìa, nồm vừa thổi đó, ta bắt ngọn gió này mau mà lên
lạch.
Trong nháy mắt, đã thấy thuyền bên kia giương buồm. Chẳng hiểu sao họ làm nhẹn
và lặng lẽ được đến thế. Ông Phó Nhụy, tuy bụng phân vân, sai kéo buồm chạy
theo. Trong lúc tâm trạng đang bơ vơ và còn in dấu vết sự hãi hùng vừa qua, người
ta không muốn rời bỏ bạn đồng hành đã gặp tình cờ.
Gió quá nhẹ, buồm không ăn gió đập phần phật. Sương tạt từng luồng như một cơn
mưa trắng. Thuyền đi trước vẫn chỉ nom thấy dáng mờ mờ ảo ảo như trong giấc mơ,
với quãng cách không thay đổi.
Chợt chú Trai kêu:
- Có ai như người trôi kìa?
Một bác dùng sào khều cái vật trôi lềnh bềnh đen thui và nói:
- Người thật.
Họ cúi vớt người kia lên. Tay anh ta co quắp còn cắp chặt trong nách một cái
chèo ngắn; mặt anh ta tái nhợt, mắt nhắm nghiền, hai hàm răng cắn khít.
Một người bảo:
- Hà hơi, hà hơi đi, hình như còn thở thoi thóp.
Từ bên kia thuyền Xin Kính, tiếng người hỏi:
- Vớt được ai đó?
Mọi người cúi nhìn tận mặt kẻ bị nạn, nhưng không nhận ra ai. Mặt anh ta co rút
nhăn nhúm đến nỗi đã méo dệch hẳn đi. Chú Trai góp ý kiến:
- Giống như anh Hoe Chước.
Ông Phó Nhụy nói to sang thuyền kia:
- Hoe Chước!
Nhưng ông lại chợt nhớ ra. Sao thế được nhỉ? Hoe Chước đi bạn (8) trên thuyền
ông Xin Kính kia mà? Ông hỏi to:
- Có Hoe Chước bên ấy không?
Thuyền bên kia có một im lặng kì quặc. Chú Trai, thính tai nhất trong đám, nghe
như bên kia đang bàn cãi gì láo nháo. Chú bỗng kêu lên:
- Ô kìa, đâu mất rồi?
Thuyền ông Xin Kính vừa biến đi, như vụt chìm xuống đáy biển. Cái bóng cả thuyền
lẫn buồm, đen nhờ nhờ, chỉ còn để lại một khoảng trống không trắng toát, khoảng
trắng ấy nhòa dần vào màu sương phơn phớt xám. Trên thuyền ông Phó Nhụy, mọi
người câm lặng, tim bóp chặt trong một lo âu ghê rợn, mở to mắt nhìn trân trân.
Chú Trai lại kêu:
- Có tiếng gì om om lạ gớm?
Cùng một lúc, tất cả ai nấy đều nhận ra quả có tiếng sóng đánh phòm phọp âm âm
như vỗ vào hang hốc. Ngay trước mặt, một khối to đen đồ sộ vụt xuất hiện, chỉ
cách thuyền vài chục thước. Tức thời, ông lái nhảy bổ tới, túm lấy lèo, giằng
riết. Chiếc thuyền quặt mũi về bên trái, có một phút do dự rồi tiến theo ngả mới.
Các bác chài vội chạy đi tra chèo, ráng sức chèo tới. Cái khối đen mờ dần trong
sương, rồi biến đi. Ông Phó Nhụy thở phào: thuyền ông vừa suýt đâm phải núi đá.
Khi thuyền ông Phó Nhụy, sau một buổi chạy vờ vật ngoài khơi, lần về tới lạch,
thì anh Hoe Chước hơi tỉnh. Anh kể rằng trong cơn bão, thuyền ông Xin Kính bị
sóng đánh giạt vào núi đã vỡ tan tành, và có lẽ chỉ mình anh sống sót, vì đã vớ
được một cây chèo nhảy trước xuống biển. Những người kia, sau đó, nếu có nhảy
khỏi thuyền cũng đã muộn và bị sóng quật vào lèn đá (19) đến rã xương.
Vợ họ nay vẫn sống trong góa bụa - có người đã chết. Và cái hy vọng mong manh một
ngày trở về của người thân cũng đã tắt trong họ từ lâu.
(1) Cố: tiếng dùng gọi người già.
(2) Cái nố ta: lũ chúng.
(3) Dương gian: cõi dương (đối lập với cõi âm), thế giới người sống.
(4) Huyễn tưởng: mơ tưởng, ý tưởng viển vông, không có thực (gần giống như ảo
tưởng).
(5) Tai ương (như tai họa): điều rủi ro, gây nên tổn thất, đau khổ lớn.
(6) Mồ ma: thời còn sống của một người nào đó đã mất.
(7) Lạch: đường nước chảy hẹp, thông ra sông, biển.
(8) Neo: vật nặng buộc vào dây thả chìm dưới nước để giữ cho tàu, thuyền đỗ lại,
không trôi.
(9) Tố: gió mạnh đổi chiều đột ngột xảy ra trong cơn giông.
(10) Vát: lệch, xiên chéo.
(11) Cuồng lộng: gió thổi điên cuồng ở nơi trống trải.
(12) Mu sam: mu con sam, cứng và lõm, có thể dùng làm gầu múc nước.
(13) Xở: gỡ; xở buồm: gỡ buồm.
(14) Lèo: dây buộc từ cánh buồm đến chỗ lái để điều khiển buồm.
(15) Sang đưa: đưa qua đưa lại; đung đưa.
(16) Thủy phủ (như thủy cung): nơi ở của thủy thần, Long vương.
(17) Gió chướng: gió ngược, thổi từ phía tây.
(18) Đi bạn: người đi làm thuê cho vụ, việc.
(19) Lèn đá: núi đá có vách dựng đứng.
Dấu Lặng Trong Điệp Khúc - Dương Thụy
Dấu Lặng Trong Điệp Khúc
Anh đã nhận ra cô ngay khi cô còn chưa bước chân vào nhà hàng qua tấm kính
trong . Cô mặc áo dài màu sẫm, tóc đã uốn ngắn lưng lửng nơi vai, trông lớn hơn
nhưng cũng đẹp hơn bội phần so với lần gặp cuối cách đây 1 năm. Cô đi với 1
nhóm khách ngoại quốc. Anh nghĩ “Vậy là lại theo truyền thống của khoa ngoại ngữ
dành cho con gái có ngoại hình đẹp”, rồi bất giác nhếch mép cười.
Và kể từ lúc cô xuất hiện trong nhà hàng, anh cảm thấy mình bất ổn. Anh nói
năng không được mạch lạc, làm đổ rượu ra bàn, cầm nhầm dao ăn của khách …Các
ông tây ngạc nhiên vì sự bất cẩn của anh, nhưng rồi họ cũng khám phá ra anh
đang bị tà áo dài ngồi ở cuối phòng chi phối.
-Cô ấy đẹp đó chớ !
-Trông cô ấy cười duyên dáng quá!
-Như thế mới làm thông dịch viên với khách nước ngoài được chứ !
Anh chỉ cười khi nghe họ ồn ào nhận xét về cô, tự hứa sẽ không để lộ bất cứ
chuyện gì nữa. Nhưng anh lại thấy nhấp nhỏm, anh muốn được chuyện trò với cô.
Cuối cùng thái độ ngồi trên lửa của anh làm những người khách cùng bàn bật cười
và họ tế nhị xin phép về trước:
-Tôi hiểu, cậu còn trẻ lắm.
-Cảm ơn đã đi ăn tối với chúng tôi
-Cứ thế nhé, chúc thành công với cô ấy!
Thở phào nhìn họ rút lui trong trật tự, anh bình tâm ngồi lại ngắm nhìn cô kỹ
hơn. “Tưởng rằng đã quên, hoá ra”, anh tự thú nhận “mình vẫn còn …”
Ngày đó cả trường đều biết rằng anh và cô phải lòng nhau, họ nói 2 người rất xứng
đôi ừa lứa, ít ra là nhìn từ bề ngoài. Bản thân anh cũng nhận thấy như vậy và
thầm mơ ước thật sự trở thành tri kỷ với cô. Và chắc rằng, cô cũng mong như vậỵ
Nhưng phàm ở đời, không có gì đơn giản và dễ dàng. Anh biết mình khó có thể vượt
qua bức tường vô hình ấy, còn cô thì …
Cả bàn cô ngồi đã lục đục đứng dậy chuẩn bị ra về . Anh hốt hoảng, nếu để vuột
cơ hội này, sợ không còn dịp để chuyện trò cùng cô . Lúc cô đi ngang qua, anh
lúng túng cất lời:
-Ly đi phiên dịch hả ?
Cô nhìn anh không vui không buồn, không bất ngờ cũng không hồ hởi. Cô cươì nửa
vời:
-Thưa thầy! thầy cũng đi với khách ?
-Ừ, anh gật đầu, vẫn công việc cũ .
Cô quay sang giới thiệu vớI khách của mình anh là một người quen xin tạm biệt họ
tại đây. Anh khó chịu “Thật ra chẳng bao giờ cô ta xem mình là thầy cả!”
Cô vén tà áo dài rất điệu nghệ, tự tin mỉm cườI ngồi xuống ghế đối diện với anh:
-Thầy nghỉ dạy luôn ? Em tiếc cho lứa đàn em sau này.
-Ly là người từng chê bai tôi dạy khó hiểu mà – Anh vẫn chưa quên chuyện cũ .
-Dạ đúng! Thì em nói tiếc là tiếc cho lứa đàn em không có dịp được thọ giáo một
người khó hiểu như thầy !
Lại méo mó . Anh lắc đầu cười. Lâu lắm rồi hình như không có ai nói chuyện theo
cái lối dễ chạm tự ái kiểu này với anh . Và hình như trong đời anh, cô là người
dám làm chuyện đó .
-Tôi dạy khó hiểu thì OK ! Anh lấy lại phong độ và bản lãnh của 1 chàng trai sớm
thành đạt – Nhưng tôi thiết nghĩ, để bị cho là người khó hiểu, thì phải nên xét
lại. Vì sao những bộ fim đoạt giải Oscar, những quyển sách đoạt giảI Goncour đều
được cho là khó hiểu ? Vấn đề là ở chỗ, người đối diện không được thông minh lắm
.
Cô nhướng mày nhìn anh, cười phô hàm răng ngọc ngà, mắt cô long lanh, khuôn mặt
bừng bừng sáng . Anh thấy nhói đau nơi tim: Cô đẹp quá ! Cô không đốp chát lạI
anh câu này, chỉ cười, thật lạ !
-Mà không phảI chỉ 1 mình Ly chê tôi khó hiểu- Anh nói tiếp vẻ tự tin và hơi ngạo
mạn – Tôi cũng tiếc cho mình: đến nay vẫn chưa có ai kiên nhẫn để tìm hiểu tôi
.
-Thầy!- Cô vẫn còn cười - Thầy có biết không, một viên kim cương còn thô thì
người ta có đủ kiên nhẫn để mài dũa nó cho đẹp hơn sáng hơn; chứ 1 viên đá bình
thường thì cùng lắm là ngườI ta đủ sức mài mòn cho nó trơn láng, ai đâu đủ kiên
nhẫn mà mài gọt nuôi hy vọng sẽ phát hiện 1 viên ngọc trong đá . Đã là đá rồi
thì có làm gì, bản chất của nó cũng chỉ là đá thôi.Vô dụng!
Lần này thì anh tái mặt . Cái ví dụ của cô mới thật là hỗn xược. Thế mà cô vẫn
tỉnh bơ, lại có ý dò xét thái độ của anh .
-Tôi tự hỏi – Anh hít hơi- Tại sao tôi và Ly cứ nói chuyện theo kiểu này hoài ?
Dù sao tôi cũng là …
-Em xin lỗi- Cô lại cười, vẻ mặt chẳng tỏ gì là ngườI biết lỗi – Em chỉ mạo muội
thử lòng kiên nhẫn của thầy 1 chút thôi mà ! Như thầy, đã nắm trong tay mình 1
viên kim cương mà còn không đủ kiên nhẫn để …
Anh hiểu, cô đang trách móc anh . Anh đã chạy trốn, đã bỏ đi viên ngọc mà nhiều
người mơ ước .
-Thôi được, Tôi-không-phải-là-người-có-kiên-nhẫn, Anh đều giọng. Nhưng xin mạn
phép cho tôi hỏi điều này: Ly đã tìm thấy ai đủ sức mài dũa kim cương chưa ?
Lần này, anh nhận thấy đến phiên cô tái mặt. Nhưng cô cũng bản lãnh lắm:
-Hứa để mài dũa khi đã sở hữu kim cương thì có rất nhiều người – Cô xuống giọng-
Nhưng em còn nghi ngờ tay nghề và con mắt nhìn ngọc của họ .
-Tôi và Ly lại sa đà vô cách nói chuyện theo trường phái trừu tượng nữa rồi
–Anh thốt lên khi thấy cô bắt đầu không còn giữ được bình tĩnh –Mình nói chuyện
khác nhé ?
-Lúc thầy đi du học, thầy đã làm đơn nghỉ dạy rồi phải không ? Cô gượng gạo đổi
đề tài - Ở bên đó 1 năm thầy có bị các cô đầm bao vây không ?
-Không! Mấy cô đó chê tôi – Anh nói xong mới thấy mình lỡ lời vạch áo cho người
xem lưng- Ly biết chê gì không ?
-Dạ không – Cô thật thà .
-Họ chê tôi chỉ có một điểm- Anh mỉm cười, nghĩ mình có thể chuyển hướng câu
thú nhận ngu ngốc vừa rồi - Họ chê tôi sao toàn vẹn quá !
-À, cô cũng hơi bị bất ngờ vì tài bẻ lái của anh . Cũng đúng thôi, họ chê thầy
là phải. Vì như nhận định từ ngàn xưa “Nhân vô thập toàn”, thầy đã thập toàn
thì ắt không còn là nhân nữa .
-Ly! –Anh kêu lên- Không thay đổI 1 chút nào hết !
-Thầy cũng vậy- Cô đột nhiên ấm ức- Em ghét thầy !
Thế rồi cả 2 ngỡ ngàng nhìn nhau. Trong ánh mắt của cô anh vẫn dễ dàng nhìn ra
hình bóng của mình. Nhưng những gì đã qua … Anh đã chạy trốn cô, trốn viên ngọc
sáng giá dù chưa gọt dũa. Anh sợ mình sẽ lu mờ bên cạnh cô . Anh tìm ngươì ít lấp
lánh hơn . Anh đã tập quên cô và hình như sắp toại nguyện nếu như đừng có cuộc
gặp gỡ này. Anh chợt hiểu, anh sẽ không bao giờ thoả mãn với bất kỳ người con
gái nào khác, vì họ sẽ trở nên thô kệch trong mắt anh qua lăng kính con người
cô . Còn nhượng bộ ? Anh không có ý định đó với cô . Anh biết mình ích kỷ .
-Bao quanh thầy và em ngày ngày là những người khách nước ngoài – Cô lên tiếng
trước- Họ đến rồ đi, chẳng cần để ý quan tâm gì . Còn dân mình lại cho công việc
của thầy và em là tuyệt diệu . Em hiểu, thâỳ có lý của mình khi quyết định bỏ dạy
để đầu tư vô ngành ngoại giao . Và em cũng hiểu vì sao gia đình và bạn bè lạI
chân thành khuyên em sau này ra trường đi theo ngành du lịch. Em không cưỡng được
sức hút của cuộc sống … Thầy !
Cô chợt gọi anh đầy thảng thốt . Anh thì có thể làm gì . Anh cũng như cô .
-Đừng suy nghĩ rắc rối nữa- Anh mỉm cười tỏ vẻ bao dung khích lệ- Cứ sống như mọi
người và … tìm cho mình 1 chỗ dựa, không còn quá sớm nữa đâu .
Cả anh và cô đều hiểu, 1 khi anh đã nói ra điều này, lý trí vẫn còn làm chủ
trái tim, anh vẫn giữ nguyên quyết định của mình . Anh vẫn hoài là người ích kỷ
.
-Em mệt mỏi lắm- Cô buồn bã gượng cười- Tìm làm gì hở thầy, tìm ra mà người ta
không cho mình dựa hoặc ngỡ đã tìm ra đến khi dựa vào mới hay nó mục rỗng thì …
thà là cứ đứng 1 mình giữa đời này còn hơn .
-Ly bi quan quá- Anh thấy lòng mình chùng xuống hết cỡ- Chúa dạy “cứ đi sẽ đến,
cứ tìm sẽ gặp, cứ gõ sẽ mở....”
-Thầy!- Cô thốt lên, ánh mắt vụt giễu cợt- Thế nếu bây giờ em gõ vào đây …
Cô đưa tay lên và chậm rãi đặt nó lên lồng ngực trái của anh . Anh nghe xây xẩm
mặt mày .
-… Em gõ vào đây thì thầy hãy dạy dùm em, nó có mở ra không hay bao nhiêu lời dị
nghị, đàm tiếu và cả sự khi dễ của người chủ cánh cửa này sẽ vây bọc lấy em !?!
Lúc anh choàng tỉnh, mở mắt ra thì cô đã đi đâu mất rồi .
Dương
Thụy
Friday, April 10, 2026
Nỗi Buồn Tháng Tư - Nguyễn Cang
NỖI BUỒN THÁNG TƯ
Tháng Tư lại đến
nghĩ thêm buồn
Cố quốc chạnh
lòng lệ đổ tuôn
Một trận cuồng
phong tan khí dũng
Ba lần bão táp*
nộ tâm cuồng
Vợ hiền lội ruộng
lo cơm gạo
Con trẻ bỏ trường
tập bán buôn
Năm tháng mõi
mòn thân rách`nát
Tháng Tư lại đến
nghĩ thêm buồn !
Nguyễn Cang
Chú thích: * Ba lần đổi tiền đánh tư sản, đưa dân đi
kinh tế mới.
Ký Ức Tháng Tư & Lời Hứa - Nguyễn Thị Châu
KÝ ỨC THÁNG TƯ
Tôi nghe tiếng
pháo từ đâu tới
Tiếng nổ rền
vang một góc trời
Nắng vàng rực
cháy bay tung toé
Tiếng kêu tức tửi
hởi Trời ơi!
Xác ai nằm đó?
Bên đường vắng
Máu đỏ bờ
vai,ôi! Xót xa
Đôi mắt còn
nhìn mây đen thẩm
Như còn lưu luyến
chuyện đường xa
Mẹ hiền ôm xác
con thơ dại
Nước mắt tràn
mi khóc nghẹn ngào
Quấn hết chiếc
khăn cho con trẻ
Vội vàng để lại
dưới hố sâu
Trẻ thơ ngơ
ngác tìm cha mẹ
Mẹ ở đâu? Còn
cha ở đâu?
Lang thang khắp
nơi, tìm cuối xóm
Cơm chẳng no
lòng ôi! Nỗi đau
Những xác nằm
kia thây phơi nắng
Máu tươi đổ xuống
đã khô rồi
Một bức tranh
buồn cho nước Việt
Tháng tư buồn lắm
miền Nam ơi…!!!
8-4-2026
Nguyễn thị Châu
LỜI HỨA
Anh
sẽ về khi hoa Xuân đua nở
Hãy chờ anh,
ngày tháng sẽ qua nhanh
Nắng mùa Xuân
lung linh chiếu qua mành
Anh sẽ về xác
pháo bay khắp lối
Chờ anh mãi,
Xuân nầy và Xuân nửa
Pháo vang rền
sao không thấy anh đâu?
Nơi miền xa anh
lại ở tuyến đầu
Bao vất vả hiểm
nguy ngoài Quãng trị
Nắng chiều rơi
sợi tơ vàng óng ả
Anh trở về hoa
nở hết lối đi
Trao cho nhau
những yêu thương cuộc đời
Anh tạm biệt trở
về đơn vị mới
Đây Cần Thơ đất
mới miền sông nước
Áo nhà binh anh
tiếp tục quân hành
Ngày qua ngày
anh cũng nói “ Chờ anh”
Chờ anh, chờ đến
bao giờ anh hỡi!
Rồi một chiều
mưa rơi rơi ngoài ngõ
Được tin anh vừa
rời bỏ bạn bè
Anh bây giờ
đang về lại chốn quê
Anh sẽ về, như
lời anh đã hứa…!!!
8-4-2026
Nguyễn thị Châu
Nửa Hồn Xuân lộc - Tôn Thất Tuệ
Nửa hồn Xuân Lộc
Xuân Lộc 1970
Em ơi
Xuân Lộc, em Xuân Lộc
Xích
sắt nghiến qua những xác người.
Cặp
thất ngôn nầy là nhát chém quyết định, là thanh kiếm giữ kín, giờ cuối mới
dùng, nghiến qua thần thức của người đọc. Thái Luân NPSH vô cùng
"độc ác" như xích sắt nghiến qua những xác người.
Tôn
Thất Tuệ giới thiệu
Nửa
Hồn Xuân Lộc
Thái
Luân Nguyễn Phúc Sông Hương
Khi
xuân Tân Mão 2011 còn nóng hổi mới ra lò, tôi viết một lời bàn ngắn về cái
video có Khánh Ly hát tặng lãnh sự CSVN tại San Francisco. Theo tôi việc nầy
đã manh nha từ ngày xưa khi cô Mai (hổn danh Mai Đen) đã tham dự nhiều buổi
sinh hoạt tại Đà Lạt trước những biến động đấu tranh miền Trung; trong dịp nầy
Linh Mục Nguyễn Ngọc Lan đã minh thị nói VN chỉ có một con đường là đi theo
MTGPMN tuy ông không chịu nói đã nhiều lần vô bưng. Ở đoạn nầy tôi viện dẫn hồi
ký của Nguyễn Đắc Xuân, ông viết thêm rằng các người tham dự đã đọc và bình luận
thơ của Thái Luân. Ngoài LM Lan còn có nhiều nhân vật trí vận và có Trịnh Công
Sơn. Sau đó TCS cho ra những bản nhạc phản chiến mạnh mẽ, tăng cường bởi tiếng
hát Khánh Ly đến tầm mức công phá.
Nguyễn
Đắc Xuân không nói nội dung các bài thơ của Thái Luân. Tôi còn nghi vấn phải
chăng Thái Luân có mặt. Sau khi tra cứu và hỏi các nhân vật sống, thì được biết
Thái Luân không có mặt ở Đà Lạt bao giờ, đồng thời “mất tích” trên địa
bàn sinh hoạt ở Huế. Nhưng không khí, như mô tả qua ngòi bút của NĐX, đã gây ý
nghĩ không tốt cho Thái Luân.
Thái
Luân trong quá khứ đã gây cho vợ chồng tôi một ấn tượng khó tả khi chúng tôi đến
thăm Phạm Duy vào lúc nhạc sĩ nầy vừa hoàn tất phổ nhạc Bi Hài Kịch thơ
của Thái Luân. PD chỉ nói tác giả là một sĩ quan QLVNCH ngành tâm lý chiến ở Huế. Bi
Hài Kịch là bi hài kịch thực sự của chúng ta, khi hai bên tương tranh
chém giết nhau chỉ như công cụ của đạo diễn. Diễn viên ôm súng bắn, diễn viên gục
đầu đường, diễn viên đang tra tấn, diễn viên chịu cực hình, tất cả xẩy ra trên
quê hương, mà quê hương là ba má, quê hương là khoai sắn, là con thơ.
Tôi
tin NĐX đã chuyển tập thơ cho PD vì PD đã phổ mấy bài của NĐX trong Tâm
Ca. PD nói ông đang phổ bài thứ hai thuật lại lời nói của một một kỹ nữ với
học sinh Đồng Khánh: em đừng cười chị, để chị diễn lại trò móc túi để cho thằng
lính Mỹ thỏa mãn thú con heo, nếu không chúng sẽ đè em ra mà làm. Vợ chồng tôi
thấy khó chịu vì nó hoàn toàn khác với tính cách cao thượng và nghệ thuật của Bi
Hài Kịch và tôi mất cảm tình với Thái Luân. Tâm cảm nầy tôi vẫn còn giữ
khi viết về các buổi họp tại ĐaLạt như trên.
Sau
khi viết xong lời ghi vội, tôi gặp bài Nửa Hồn Xuân Lộc dưới
tên Nguyễn Phúc Sông Hương. Tôi chưa nhất thiết đã kéo Thái Luân vào một chiều
hướng nào nhưng tôi thấy sự thiết tha của TL là chân thành. Tôi tìm hiểu
thêm. PD hay thay đổi lời thơ của kẻ khác theo ý mình, thêm nhân vật tên Duyên
vào thơ Nguyễn Tất Nhiên; chỉ dùng ý thơ từ một bài rất dài của Phạm Thiên Thư
thành bài Lên Non Tìm Động Hoa Vàng. Ông cũng đã phổ bài Lá
Diêu Bông của Hoàng Cầm theo một lối khác với nguyên bản. Việc nầy
không tác hại quyết liệt, hơn nữa ông phải uyển chuyển lời cho ăn khớp với nhạc.
Nhưng lời diễn dịch của PD trong trường hợp nầy đã quá xa với một đoạn ngắn
Thái Luân viết như sau:
Xin cám ơn những cô gái bán bar nhỏ con
Đã gồng mình chịu đựng
Vì cuộc sống
Của các cô
Và của Việt Nam.
Thưa thầy giáo, thưa công chức:
Xin đừng vênh vênh cái mặt đạo đức
Chửi người ta
Con gái Huế bây giờ đi bán bar!
Không
biết PD có hoàn tất dự án Phẫn Nộ Ca hay không, ngoại trừ Bi
Hài Kịch xuất hiện trên nguyệt san của Thích Đức Nhuận.
Đoạn
thơ ngắn trên đây đã đảo ngược cái nhìn của tôi về Thái Luân, cho nên tôi đã
chuyển bài Nửa Hồn Xuân Lộc cho nhiều thân hữu.
Thái
Luân lúc còn là thiếu úy ở Huế đã ấn hành Vùng Tủi Nhục gồm 25
bài thơ trong đó có bài Bi Hài Kịch và Cảm Ơn
Bar nói trên. Ông bị phạt 40 ngày trọng cấm và ba tháng tù, rồi đi
lính tiếp; và chức vụ cuối cùng là thiếu tá tiểu đoàn trưởng, Quân Đoàn 3, - ở
trong cuộc - chứng kiến sự thất thủ Xuân Lộc vào những giờ cuối.
Bài
thơ mà tôi hân hạnh chép bên dưới được trích từ web Đặc Trưng đăng giữa năm
2001, gồm phần thứ nhất và phần kế tiếp xem như một điệp khúc, in khác màu.
Thật
ra tôi có biết Thái Luân xuất bản một cuốn sách và được một ông tiến sĩ giới
thiệu theo một lối mà tôi nghĩ nói loanh quanh và – vì chính trị - không cho thấy
một NPSH với những sôi động tâm tư vào những ngày cuối của VNCH. Tôi không
có cơ hội mua cuốn Tháng Tư Lính Không Cần Hớt Tóc. Khi sửa lỗi
đánh máy bài giới thiệu cũ nầy, tôi cố tìm thêm hiểu thêm về NPSH và gặp một
bài trên vietbao.com, giới thiệu cuốn sách một cách rất nhát gừng và đăng
bài Nửa Hồn Xuân Lộc một nửa tương đương với phần thứ nhất in
màu xanh bên dưới.
Ngắn
dài không phải là điều đáng nói. Điều đáng nói là có quá nhiều thay đổi mà theo
cảm quan riêng không nên có. Trừ ra một điểm, là hai câu cuối cùng rất mới mà
tôi nghĩ Đặc Trưng ghi thiếu vì đoạn cuối chỉ có hai câu, tôi xin ghi vào phần
in bên dưới.
Em
ơi Xuân Lộc, em Xuân Lộc
Xích
sắt nghiến qua những xác người!
Những
thay đổi khác làm cho bài thơ xưa mất nhiều hào hùng.
Vỗ
về nón sắt trở thành ném bi đông đế
(cười khinh bạc). Ném bi đông rượu vẫn còn nóng nãy không khinh đời như thượng
sĩ già, vỗ về nón sắt như cổ bồn cùng Trang Tử mà hát khúc bi ca. Rồi đến (mới):
Mây
xa quen kiếp đời phiêu bạt,
Bỏ
núi ra đi cũng ngậm ngùi,
Huống
chi bóng với hình tha thiết;
Hình
nghiêng chao đổ, bóng chơi vơi!
Hai
câu cuối, ngoài tính chất ước lệ, không ăn nhập vào đâu. Xin lấy hai câu cũ trở
lại thì có chỗ mà so sánh (cũ):
Mây xa dù quen đời chia biệt
Ngoảnh mặt ra đi cũng ngậm ngùi.
Rút quân, bỏ lại hồn ta đó
Bảo Chánh, Gia Rai lửa ngút trời!
Thêm một dẫn chứng;
cũ
Vì bí mật quân, ta đành phụ
Mối tình Long Khánh tội người ơi
Mất thêm Xuân Lộc tay càng ngắn,
Núm ruột miền Trung càng xa vời.
mới:
Bí mật lui quân nên đành phụ
Mối tình Long Khánh, tội người ơi!
Cao nguyên bài học đầy xương máu;
Một bước chân đi một xác người!
Mất
thêm Xuân Lộc tay càng ngắn, núm ruột miền Trung càng xa vời.; hai câu nầy cho thấy tầm nhìn rộng rãi
của tác giả về chiến lược, Xuân Lộc và miền Trung tuy xa cách giao thông đều là
hai phần đất của Cao Nguyên, mất Xuân Lộc thì miền trung chỉ là một chân của
chiếc ghế gãy, mất Xuân Lộc là mất yết hầu, mất con đê chận nước lũ từ cao
nguyên Boloven ngập lút Saigon. Tuy vậy, cũng như miền Trung, Xuân Lộc trong
ngôn ngữ bình thường và ngay trong sách giáo khoa địa dư không được xem là Cao
nguyên như Kontum, Pleiku, Darlac. Quân đoàn 2, với bộ tư lệnh trên cao, lại gồm
thêm mấy tỉnh duyên hải.
Cao
nguyên bài học đầy xương máu, Một bước chân đi một xác người! Có thế ý niệm Cao nguyên đi quá nhanh từ
Xuân Lộc, dựa trên chiến lực và địa dư như vừa nói. Nhưng hai chữ "cao
nguyên" chia trí người đọc. Ngoài ra, hai câu nầy đánh mất giá trị hai câu
cuối của cả bài, âm vọng mất đi vì tội lập lại
Em ơi Xuân Lộc, em Xuân Lộc
Xích sắt nghiến qua những xác người.
Cặp
thất ngôn nầy là nhát chém quyết định, là thanh kiếm giữ kín, giờ cuối mới
dùng, nghiến qua thần thức của người đọc. Thái Luân NPSH vô cùng "độc
ác" như xích sắt nghiến qua những xác người.
Khi
đối chiếu lần nầy, tôi thấy bài thơ đăng trên vietbao.com đã bỏ điệp khúc để kết
chung thành một bài. Bài mới có những đoạn ước lệ và ủy mỵ, hoặc chỗ cũ sửa lại
chải chuốc mỹ miều văn tự, bỏ đi những đoạn nghe rợn gáy ví như:
Bao
năm ta trọn tình đất đỏ,
Một
phút này thôi thẹn với đời
Sốt
rét đêm run, ngày không ngã
Bao
lần máu đổ dửng dưng cười.
Một
phút này thôi, hừ lại ngã,
Bỏ
thành, bỏ đất nhục nào vơi.
Thân
ta là ngựa sao không hí
Cho
nỗi đau lan rộng đất trời.
Hồn
ta là kiếm sao không chém
Rạp
ngã rừng xanh, bạt núi đồi.
Ta
đi, áo nhuộm màu đất đỏ
Cao
su vướng tóc mãi thơm mùi,
Tiếc
quá nắng vàng phơi áo trận,
Vườn
nhà em chuối chín vàng tươi.
Tôi
thật phân vân, đêm qua ngủ không yên. Người viết bài báo sửa lại theo ý mình
thì chán quá. Việc sửa bài của người khác xẩy ra luôn. Ngay cả Truyện Kiều mà
còn bị viết lại một cách ngu xuẩn. Văn chương bây giờ thật không có gì “quí hơn
độc lập tự do”. Người thân trong gia đình tôi tự nhiên được cho là nhà thơ Đỗ Hữu;
một cô gái vô danh lấy chồng Huế, có tên là Huyền Chi thì được cho là tác giả của Thuyền
Viễn Xứ thay vì Hà Huyền Chi. Tất cả chữ “vô” đều sửa là “vào”
như “vào lý” cho “vô lý”; gọi “một chai bia” được sửa thành “một cái
bia”.
Riêng
việc sửa bài nầy, nó không có gì tệ hại đến như thế. Chỉ mất đi cái hào hùng,
dĩ nhiên dưới cái nhìn chủ quan của riêng tôi.
Nhưng
nếu chính do NPSH viết lại của mình thì sự thể sẽ khác đi. Theo hộ luật, chứng
từ mới như di chúc, ủy quyền v.v… hủy bỏ cái cũ. Vậy thì tôi đã vi phạm khi in
phần chính và điệp khúc dưới tên NPSH.
Tôi
có làm vài bài văn vần nên không dám nói chi vì sợ bị cho là đố kỵ, thợ thơ bao
giờ cũng ganh với thi sĩ (versificateur contre poète). Cho nên tôi chỉ muốn
đóng vai người thưởng ngoạn. Vẫn giữ những câu thơ cũ của Thái Luân NPSH trên
dòng thời gian.
Mà
thời gian – tôi mới học của nhà báo Ý Tiziano Terzani – như một dòng sông.
Tương lai còn xa trên thượng nguồn chưa có nhưng đã có, rồi chảy vào hiện tại để
thành quá khứ ở hạ lưu, đã có và tiếp tục có, chưa nói tiếp chuyện bốc hơi,
thành mây thành mưa. Cứ thế mà đọc chơi. Hơn nữa, những kiệt tác – một Nửa
Hồn Xuân Lộc của NPSH, một Tây Tiến của Quang Dũng, một Sầu
Ai Lao của Đỗ Hữu… phóng lên cao, tự tại nhi nhiên như trăng sáng làm
của chung, nhưng mỗi
người
tiếp nhận với cảm quan riêng. Thật vậy, Cao Bá Quát không do dự phát biểu:
Duy giang thượng chi thanh phong
Dữ gian sơn chi minh nguyệt
Kho trời chung mà vô tận của mình riêng.
Bài
viết đã xưa nay đem ra cập nhật với lời cầu chúc an vui cho mọi người, cầu
mong có thái luân trường cửu như tên Thái Luân; nhịp nhàng của triệu chòm
thiên thể, nhịp nhàng của loài ong trong tổ mật, nhịp nhàng trong ý
nguyện tình đời, đừng làm như tôi, chảy nước mắt thầm chỉ đủ ướt mi mỗi
khi đọc
Nửa
Hồn Xuân Lộc.
Cẩn bút từ thung lũng Subligna,
Georgia.
Nửa Hồn Xuân Lộc
Nguyễn Phúc Sông Hương
Nếu
được như bố già thượng sĩ
Nghe
tin lui quân chỉ nhìn trời,
Vỗ về nón
sắt, cười khinh bạc,
Chắc
hẳn lòng ta cũng thảnh thơi.
Còn
ta nhận lệnh rời Xuân Lộc
Lại
muốn tìm em nói ít lời,
Nhưng
sợ áo mình đầy khói súng
Cay
nồng mắt người gục trên vai.
Vì
chắc ôm nhau em sẽ khóc,
Khóc theo, vợ lính cả trăm người!
Em biết dù tim ta sắt đá
Cũng vỡ theo ngàn giọt lệ rơi.
Mây xa dù quen đời chia biệt
Ngoảnh mặt ra đi cũng ngậm ngùi.
Rút quân, bỏ lại hồn ta đó
Bảo Chánh, Gia Rai lửa ngút trời!
Bí mật lui quân mà đành phụ
Mối tình Long Khánh tội người ơi.
Mất thêm Xuân Lộc tay càng ngắn
Núm
ruột miền Trung càng xa vời.
Sáng
mai thức dậy, em buồn lắm
Sẽ khóc
trách ta nỡ phụ người.
Lòng
ta như trái sầu riêng rụng
Trong
vườn em đó vỡ làm đôi!
Đêm
nay Xuân Lộc vầng trăng khuyết
Như một
vành tang bịt đất trời!
Chân
theo quân rút, hồn ta ở
Sông
nước La Ngà pha máu sôi;
Thương
chiếc cầu tre chờ thác lũ
Cuốn qua Xuân Lộc khóc cùng người
Ta đi, áo nhuộm màu đất đỏ
Cao su vướng tóc mãi thơm mùi,
Tiếc quá nắng vàng phơi áo trận,
Vườn nhà em chuối chín vàng tươi.
Ta nhớ người bên đàn thỏ trắng,
Cho bầy gà nắm lúa đang phơi,
Chôm chôm hai gốc đong đưa võng,
Ru nắng mùa xuân đẹp nụ cười...
Nếu được đưa quân lên Định Quán
Cuối cùng một trận cũng là vui
Núi Chứa Chan kia sừng sững đứng
Sư đoàn 18 sao quân lui?
Thân ta là ngựa sao không hí
Cho nỗi đau lan rộng đất trời.
Hồn ta là kiếm sao không chém
Rạp ngã rừng xanh, bạt núi đồi.
Hỡi ơi! chân bước qua Bình Giã
Cẩm Mỹ nhà ai khói, ngậm ngùi!
Lửa cháy, cả lòng ta lửa cháy
Xóm làng Gia Kiệm nhớ khôn nguôi.
Đêm nay Xuân Lộc, đoàn quân rút
Đành biệt nhau, xin tạ lỗi người.
Chao ơi tiếng tắc kè thê thiết
Kêu giữa đêm dài sợ lẻ loi,
Chân bước, nửa hồn chinh chiến giục
Nửa hồn Xuân Lộc gọi quay lui.
Ta biết dưới hầm em đang khóc
Thét
gầm pháo địch dập không thôi
Em ơi
Xuân Lộc, em Xuân Lộc
Xích
sắt nghiến qua những xác người.
---------------------
Buổi
chiều nhận lệnh rời Xuân Lộc
Ta
muốn tìm em nói ít lời,
Nhưng
sợ em buồn, không nói được
Nên
đành lặng lẽ mà đi thôi!
Ngại
phút rời xa em sẽ khóc,
Bao
người vợ lính sẽ buồn theo
Yếu
đuối tim ta người chiến sĩ
Loạn
rừng, tội nghiệp tiếng chim kêu.
Rút quân bỏ lại đời ta đó,
Bảo Chánh, Gia Rai lửa ngút trời,
Lửa ngút, trái tim ta lửa ngút,
Trái tim người lính mới yêu người.
Vì bí mật quân, ta đành phụ
Mối tình Long Khánh tội người ơi
Mất thêm Xuân Lộc tay càng ngắn,
Núm ruột miền Trung càng xa vời.
Sáng mai chắc chắn em buồn lắm
Sẽ trách sao ta lại phụ người.
Lòng ta như trái sầu riêng rụng
Trong vườn em đó vỡ làm đôi
Cao nguyên bài học đầy cay đắng
Lớp lớp người rơi, lớp lớp rơi ...
Ta chẳng muốn làm người bại trận
Thành người tình phụ đó em ơi.
Ðêm nay quân rút hồn ta ở
Nhìn nước La Ngà pha máu sôi,
Thương chiếc cầu chờ cơn thác lũ
Tràn qua Xuân Lộc cuốn theo người.
Ta đi áo nhuộm màu đất đỏ
Cao su vướng tóc mãi thơm mùi,
Tội nghiệp nắng vàng chờ áo trận
Khi tàn chinh chiến sẽ đem phơi.
Em hỡi, em thương đàn thỏ trắng,
Bầy gà mất mẹ sống mồ côi
Em hỡi em thương người lính trận
Người lính đêm nay phụ bạc rồi.
Bao năm ta trọn tình đất đỏ,
Một phút này thôi thẹn với đời
Sốt rét đêm run, ngày không ngã
Bao lần máu đổ dửng dưng cười.
Một phút này thôi, hừ lại ngã,
Bỏ thành, bỏ đất nhục nào vơi.
Nếu được đưa quân lên Ðịnh Quán,
Cuối cùng một trận cũng là vui.
Sáng mai chân bước qua Bình Giã,
Cẩm Mỹ nhìn lui luống ngậm ngùi!
Lửa cháy, cả lòng ta lửa cháy,
Một trời Gia Kiệm nhớ khôn nguôi.
Muôn năm em hỡi trời xuân Lộc
Giữ nửa hồn ta mãi với người.
Giữ nửa hồn ta bên chiếc võng
Dưới giàn thiên lý bóng trăng soi .. .
Ðêm nay quân rút sầu riêng rụng
Trong vườn em và trong tim tôi!
Tôi sợ một ngày mai bại trận
Ðể em côi cút lại trên đời.
Nếu phải một ngày mai bại trận
Ðêm nay sao ta lại bỏ người!
Em hỡi, dưới hầm ai đang khóc,
Thét gào pháo địch mãi không thôi.
Xuân Lộc trời ơi Xuân Lộc cháy
Ai gọi tôi về trời Gia
Rai!!
trích
từ vietbao
Nửa
hồn Xuân Lộc
Nếu
được như bố già thượng sĩ
Nghe
tin lui quân, ngước nhìn trời,
Ném
bi đông đế, cười khinh bạc
Chắc
hẳn lòng ta cũng thảnh thơi.
Còn ta nhận lệnh rời Xuân Lộc,
Lại muốn tìm em nói ít lời,
Nhưng sợ áo mình đầy khói súng
Cay nồng đôi mắt gục trên vai,
Giây phút cầm tay em sẽ khóc,
Khóc theo, vợ lính biết bao người,
Ta biết dù tim mình sắt đá
Cũng vỡ theo ngàn giọt lệ rơi.
Mây xa quen kiếp đời phiêu bạt,
Bỏ núi ra đi cũng ngậm ngùi,
Huống chi bóng với hình tha thiết;
Hình nghiêng chao đổ, bóng chơi vơi!
Bí mật lui quân nên đành phụ
Mối tình Long Khánh, tội người ơi!
Cao nguyên bài học đầy xương máu;
Một bước chân đi một xác người!
Sáng mai thức dậy em buồn lắm
Sẽ khóc trách ta nỡ phụ rồi.
Lòng ta như trái sầu riêng rụng
Trong vườn em đó vỡ làm đôi.
Bao nhiêu gai nhọn sầu riêng đó,
Ta sẽ quỳ lên chịu suốt đời!
Nếu thật lui quân là bại trận
Thì ta nhất quyết chẳng xa người.
Đêm nay Xuân Lộc vầng trăng khuyết;
Một mãnh khăn tang khóc giống nòi!
Chân theo quân bước hồn ta ở
Sông nước La Ngà pha máu sôi.
Trách mình quên rót ly từ giả
Những hồn anh kiệt đã nằm nơi...
Ôi cuộc giao tranh buồn bã quá,
Hạ bao nhiêu địch vẫn không cười.
Nếu được tràn quân lên Định Quán,
Đánh vùi một trận để đời vui.
Núi Chứa Chan kia sừng sừng đứng
Sư đoàn 18 sao quân lui"
Ngựa lồng bãi chiến mà không hí,
Phải chăng ngựa chiến đã tàn hơi"
Tay vung kiếm bén mà không chém.,
Phải chăng kiếm chủ chẳng còn người"
Không! không! ta hiểu lòng ta lắm
Sông núi bao ngày đã tả tơi!
Người lính miền Nam đi chiến trận
Luôn khắc trong tim nghĩa giống nòi.
Bước chân lững thững vào Quân sử,
Nghe trống trận xưa giục liên hồi!
Đây giáo Chi Lăng, gươm Vạn Kiếp,
Tiếng hò đuổi giặc dậy ngàn nơi.
Đạp chốt nghe đau lòng tĩnh lộ,
Nhìn lui, lữa đỏ nhuộm góc trời,
Cao su trùng điệp rừng che mộ,
Thị trấn hoang tàn, pháo địch rơi...
Em ơi Xuân Lộc, ơi Xuân Lộc,
Người lính hôm qua tạ lỗi Người.
Chao ơi tiếng tắc kè thê thiết
Gọi giữa đêm dài sợ lẻ loi.
Chân bước nửa hồn chinh chiến giục,
Nửa hồn Xuân Lộc gọi quay lui!
Dưới hầm, ta biết em đang khóc,
Thét, gầm...pháo địch dập không thôi!
Em ơi Xuân Lộc, em Xuân Lộc
Xích sắt nghiến qua những xác người!
vietbao.com/a129001/tho-30-thang-tu-1975-



