Sunday, March 22, 2026

Mùi Vị Quê Hương - Nguyễn Cang & Thảo Chương & Diệp Văn Xướng Họa

Thơ xướng họa thi hữu:

 

Bài xướng:

 

 













NHỚ MÙI VỊ QUÊ HƯƠNG

 

Nhớ chút mắm cơm trộn với cà

Quê nghèo nay ở tận phương xa

Xứ người không nghiện mùi bơ lắm

Đất khách chưa quen vị sữa mà

Trái chín - vườn nhà thơm phức nhỉ

Rau xanh - siêu thị héo queo nha

Ở đây thịt cá đều đông lạnh...

Trừ cữ cà phê lẫn tách trà.

 

Thảo Chương

13-03-2026

 

Họa 1/.

QUÊ NGHÈO

Ngày xưa cơm mắm với dưa cà

Nhớ  quá quê nghèo khuất nẻo xa

Khói tỏa hoàng hôn bay lảng đảng

Chiều rơi mây tím biết  đâu mà

Mục đồng gõ nhịp trâu về muộn

Thiếu nữ qua cầu bạn đợi nha

Lữ khách bên trời sầu mất mẹ

Đêm về độc ẩm một ly trà!

Nguyễn Cang ( Mar. 13, 2026)

Họa 2/.

 CHÂN QUÊ

Ở giữa sầu riêng một luống cà

Nhìn quanh mận bưởi chuối vòng xa

Ven lề ngõ trước hoa hồng ấy

Cạnh lối vườn sau dãy sứ mà

Chớm Hạ xanh rờn cau trĩu trái

 

Vào Xuân trắng ngát bưởi lừng hoa

Chiều chiều có bạn cùng nâng chén

Sáng sáng cà phê cạn ấm trà.

 03/16/ 2026 Diệp Văn

 

 

Về Đi Anh - Nguyễn Cang

 VỀ ĐI ANH

 















Anh có về thăm lại tháng Tư chưa

Thăm trại tù Phước Long, núi Bà Rá

Gió bấc Hạ Lào đêm đông lạnh giá

Giấc ngủ chập chờn bụng đói ngất ngư

 

Thăm đồng ruộng Cái Bè xanh bát ngát

Của một thời khói lửa ngập quê hương

Lính  địa phương sáng tối giữ cầu đường

Đời khinh bạc vì non sông chiến đấu

 

Về đi anh thăm trường xưa yêu dấu

Có nắng vàng thay áo đợi mùa xuân

Những học trò giờ khôn lớn cách tân

Sẽ chào đón anh, mừng ngày hội ngộ

 

Về đi anh thăm bến đò cuối chợ

Trưa học về sông nước ngập mênh mông

Kỷ niệm xưa còn đọng mãi trong lòng

Trời cuối hạ bóng tà dương dần khuất

 

Trong quán vắng nhìn mưa rơi lất phất

Phố thân quen giờ mất dấu tên đường

Bạn bè xưa đang lưu lạc ngàn phương

Trăng cổ tích biết còn ai tâm sự ?!!

Nguyễn Cang ( Mar. 4, 2026)

Chú thích:Bài  thơ  không sử dụng  Ai.

Xếp Áo Cho Anh & Hận - Nguyễn Thị Châu

XẾP ÁO CHO ANH

 













Hè về rực rỡ ánh Sen hồng

Tiếng Ve nức nở Phượng trổ bông

Hồi trống tan trường nơi cuối lớp

Áo trắng tung bay khắp sân trường

 

Anh về xếp lại áo thư sinh

Xếp hết tình yêu của riêng mình

Chia tay tạm biệt em gái nhỏ

Bây giờ vui với áo nhà binh

 

Vác súng trên vai hẹn với lòng

Ra đi trả nợ cho núi sông

Đất nước yên bình ta trở lại

Bình minh rạng rỡ khắp cánh đồng

 

Bao nhiêu mộng ước dệt thành thơ

Cho người em gái đang mong chờ

Người xa ngàn dậm rồi sum hợp

Hởi người em gái của mộng mơ

 

Rồi ngày vận nước bị ngã nghiêng

Tiếng súng đâu đây ở cuối miền

Thêm lần xếp áo cho anh đó

Anh đã đi rồi đêm ba mươi…!!!

 

18-3-2026

Nguyễn thị Châu

 

HẬN…

 


















Tìm ai trong nắng sớm ban mai?

Sương giăng lối nhỏ ướt vai gầy

Nghe như bóng dáng ai ngoài ngõ

Lặng lẽ nhìn ai theo bóng mây

 

Người đã đi rồi theo gió sương

Nghe như tiếng gót ở trên đường

Sớm mai tỉnh giấc tìm dư ảnh

Nắng sớm tan rồi sao vấn vương

 

Lại nhớ người trai nơi chiến trường

Ra đi bỏ lại bao người thương

Một nấm mộ xanh bên đồng vắng

Nằm lại nơi nầy với quê hương

 

Lộng gió mênh mông giấc ngủ dài

Bao năm lạnh lẻo chờ lá phai

Anh vì nợ nước, vì sông núi

Niềm đau máu thịt bởi vì ai?

 

Mấy mươi năm mối hận còn đây

Lửa luôn bùng cháy, lẫn ai hoài

Hận đời, hận cả người trong cuộc

Ai đã gây ra cuộc chiến nầy…???

 

18-3-2026

Nguyễn thị Châu

Anh Rễ - Đào Phạm Thùy Trang

 

Anh Rễ



 

Bữa cơm được dọn ra với mẽ cá rô kho khô queo khô khốc, vài trái dưa leo đèo héo, vậy mà hai cha con ổng cứ hít hà khen lấy khen để. Thằng bé sáu tuổi mắt đỏ hoe vì cay nhưng hình như nó không dám nói, nó cứ và cơm như muốn ăn đua với ba mình. Đặt dĩa đậu đũa xào thịt ba rọi cùng bát nước chấm xuống mâm tôi bảo:

– Má kêu em đem thức ăn qua cho hai cha con nè! Khổ thân anh , má đã biểu vô nhà ăn chung luôn mà…

– Dì út cho tôi gởi lời cảm ơn má, cảm ơn dì . Nhưng tôi còn khoẻ mạnh như vầy mà để má nấu cho ăn thì tội lắm…

– Vậy anh có nghĩ tới con anh không, nó là cháu má, là cháu em. Ngày nào cũng bắt thằng nhỏ ăn như vầy làm sao lớn nỗi ?

– Đâu phải bữa nào cũng vậy, hôm nay tôi về trễ…

– Không cãi với anh nữa, ăn cơm đi, không thôi nguội hết à!

Thằng cháu tôi vô tư như lứa tuổi của nó dù một phần hai hạnh phúc tuổi thơ đã bị đánh cắp. Tôi nhìn ông anh rễ ăn từ tốn như để vị béo của thịt, vị bùi của từng hạt đậu đũa vương lâu hơn trên đầu lưỡi mà lòng không khỏi bâng khuâng. Hình như trên khoé mắt anh đang cố kìm giòng nước mắt. Chị tôi đã bỏ đi vì không chịu được cảnh nghèo ! Bảy năm trước cô gái mười tám với tâm hồn đa cảm và mơ mộng, đôi bàn tay biết thêu hoa trên đá của anh đã làm tâm tư chị rung động. Anh nghèo, côi cút nhưng hiền và chăm chỉ lắm, người chú họ xa đứng ra làm chủ hôn mà lễ cưới cũng tinh tươm vui vẻ. Cưới xong ba má tôi không “bắt rễ” nhưng anh vẫn sống chung nhà, bỏ qua cảnh nhà thuê cơm hàng cháo chợ như lúc trước. Năm sau chị tôi sinh thằng Nhớ “gái một con trông mòn con mắt”, chị bắt đầu ý thức được nét đẹp của mình, nhất là khi những cô bạn thời con gái cứ se sua áo quần lượn lờ trước nhà, nay rủ chị đi shop này, mai rủ đi shop nọ rồi ướm lên người chị đủ mọi trang phục cao cấp với những câu tiếc rẻ “ Chu choa ơi… dáng này mà chưa chồng thì nhiều thằng theo lết bánh”. “Oanh ơi, mày không thấy tiếc cuộc đời sao? Anh Toàn hiền thật nhưng không mài tính ấy ra tiền nuôi mày được, một ngày anh ta khắc bao nhiêu tấm bia, một bộ đồ tụi tao mặc bằng mấy tháng lương của ảnh rồi!”. Và chị Oanh tôi sa ngã, chị bỏ chồng cùng đứa con lên hai để theo những cô bạn nhàn rỗi xuống thành phố “tân trang” lại đời con gái và đăng ký lấy chồng nước ngoài. Thằng Nhớ khóc như mẹ chết, bỏ ăn uống cả mười ngày, gương mặt lúc nào cũng ngờ ngờ nghệt nghệt không tài nào tìm thấy vẻ hiếu động lém lĩnh của thằng nhóc đáng yêu ấy nữa. Anh rễ hiền bây giờ càng nín lặng hơn, sau bốn tháng chị tôi bỏ nhà ra đi thì anh xin ba má một xẻo đất để hai cha con “ra riêng”, tất nhiên không ai đồng ý, nhưng anh bảo “Ở trong nhà đi chỗ nào cũng thấy bóng hình Oanh, chắc con điên mất”. Buộc lòng ba má phải thuận lời, má còn bảo: “Ở riêng cũng được nhưng sáng chiều hai cha con phải vô nhà ăn cơm nghe!”. Anh vâng dạ cốt để má vui lòng. Còn về phía gia đình, ba má vẫn lo tìm chị Oanh, ngay cả những người quen biết đi nước ngoài về ba má cũng cố dò hỏi xem có gặp chị Oanh không, mà tuyệt nhiên như bóng chim tăm cá. Thời gian trôi vùn vụt, mới đó mà đã bốn năm, tôi không còn là cô bé dễ cười khi thấy chị mình mặc áo cô dâu, cũng không dễ khóc khi biết chị bỏ cháu mình đi biền biệt.

Đong đưa trên võng hoài cũng chán, nhắm cha con họ đã sắp tàn bữa cơm, tôi bông đùa:

– Anh rễ, người ta vẫn hay nói “… em vợ là thiên nga”?

– Ừ, thiên nga… nhưng để ngắm thôi, ai diễm phúc lắm mới bắt được con ngỗng trời xinh đẹp đó. Anh đáp

– Sao anh không nghĩ mình là người là người diễm phúc?

– Tim tôi chưa lành, tôi không chạy nỗi dì út à!

– Ví dụ có con thiên nga tự dưng rớt vào lòng anh có giữ lại không?

– “Chim sa cá luỵ” không hay đâu.

Vậy là hết, chắc anh biết thẳm sâu trong cõi lòng tôi đó không phải là những câu bông đùa. Anh cứng rắn quá, tôi cúi chào và cầm cái dĩa không ra về, tim nghe đau thắt từng cơn không nguyên lý.

*

Thằng Nhớ lao vào nhà gọi to:

– Bà ngoại, bà ngoại ơi, ra coi giùm con đi, ba con bị gì mà đau bụng dữ lắm!

Má tôi tất tả chạy đi, không kịp tắt lửa nồi canh đang nấu nửa chừng. Tôi cũng bỏ việc chạy theo, anh rễ đau bụng oằn oại, má hỏi anh có ăn gì bậy không, có tiêu chảy gì không, hay đi làm có xô xát với ai không? Đáp lại những câu hỏi tới tấp là những cái lắc đầu nguầy nguậy. Tôi không nghĩ anh rễ đánh lộn đánh lạo với người ta, trúng thực thì có thể lắm, nhưng anh chỉ đau bụng thôi, vậy không phải lý do này rồi. Xe đưa đi bệnh viện thì anh không ngồi nỗi, đành nhờ bác Tư hàng xóm lấy chiếc xe lôi rồi tôi nhoáng nhoàng đặt lên đó chiếc ghế xếp, quơ nhanh vài bộ đồ của anh rễ, quái, thằng cha này sao không có lấy một bộ quần áo nào mới mới vậy nè? Toàn quần áo cũ của… năm nảo năm nao dày lên bởi bụi đá, bụi đường, có còn hơn không, tôi quay vô nhà lấy thêm cái bình thuỷ rồi lên xe ngồi cạnh anh rễ, cố kìm cho những cú dằn xốc không làm anh rớt xuống sàn xe.

Anh rễ bị đau ruột thừa cấp tính, phải mổ ngay! Ba má anh không có, chú họ ở xa, má tôi còn loay hoay ở nhà, chỉ có ba tôi đi ra đi vô nóng ruột đến nỗi trông tay chân ba cứ như thừa thải, vụng về. Tiếng các bác sĩ giục:

– Ai là người nhà bệnh nhân Nguyễn Thanh Toàn, ký biên bản nhanh lên để bác sĩ còn làm việc.

– Dạ… nhưng ba bệnh nhân Toàn không biết chữ. Tôi thật thà khai báo “lý lịch gia đình” mặc cho nhiều ánh mắt nhìn như ngạc nhiên hết sức.

– Còn chị là gì của bệnh nhân Toàn?

– Dạ, là vợ! Không biết lúc ấy điều gì khiến xui mà tôi có thể thốt ra câu nói trơn tru như vậy.

– Có vợ ký được rồi, nhanh lên giùm đi!

Anh rễ vô phòng mổ rồi mà lòng tôi thắc thỏm không yên, vừa lo lắng, sờ sợ pha lẫn thẹn thùng. Trời ơi, nếu gặp người quen nào đó biết tôi chỉ là em vợ mà dám mạo danh thì tôi biết chui vào đâu mà trốn đây nè? Bệnh tình êm xuôi thì thôi, bằng ngược lại tôi sẽ là người có lỗi, là người đưa anh vào cõi chết chứ không ai khác. Cháu tôi xa me, bây giờ lại mất cha sao hở trời? Nếu như vậy thì tôi không phục, người đời có câu “Trời không phụ người hiền”, anh rễ tôi hiền như đất, không lẽ ông nỡ …?

Bệnh viện luôn tấp nập những người ra vô, nhưng anh rễ tôi bây giờ chỉ có hai người thân duy nhất, ông già vợ ngoại lục tuần cập rà cập rập khi gặp chuyện gấp, cô em vợ chỉ giỏi tính “tài lanh”. Hơn hai giờ trôi qua mà tôi tưởng như hàng thế kỷ, cuối cùng thì anh rễ cũng được đẩy ra, trên người là chiếc “ra” trắng toát rờn rợn. Mắt anh nhắm mệt mỏi, tôi lay:

– Anh khoẻ chưa, đau lắm không?

– Khoẻ. Anh đáp khẽ… Thằng Nhớ…?

– Nó ở nhà với má, anh đừng lo. Đói không, em mua gì anh ăn nhé?

– Bệnh nhân chưa ăn đựơc đâu chị ! Tiếng cô hộ lý đi bên cạnh nhắc làm tôi thẹn đỏ mặt, kiến thức chăm người bệnh của tôi sao “yếu” dữ vậy cà, ai đời bệnh nhân mới mổ mà hỏi “ăn gì”. Đường đến phòng hậu phẩu phải qua dãy hành lang hun hút, vài bậc cửa phải đi qua, những cái dằn xốc tôi cùng cô hộ lý cố kìm nhẹ lại nhưng cũng làm anh đau nhăn mặt, tim tôi nhoi nhói theo từng cái chau mày của anh.

– Chị nhớ chăm sóc ông xã nhẹ nhàng, có gì khác thường thì gọi chúng tôi nhé!

Cô hộ lý sau khi kẹp bệnh án lên đầu giường đi ra còn dặn vói lại. Anh rễ nằm yên, đôi mắt nhắm hờ hờ, tôi ghé mép giường ngồi mà không biết làm gì. Hết đứng lên xếp lại mấy cái ly, rồi cất giỏ xách vô tu, lại soạn tìm chiếc khăn lông nhỏ định thấm nước lau mặt cho anh rễ, vậy mà không hiểu sao đôi bàn tay cứ ngường ngượng không cho ý nghĩ làm chủ.

– Dì út, tôi khát nước quá…

Tâm tư đang xuôi theo dòng mông lung chợt anh gọi làm tôi sực tỉnh.

– Dạ, để em rót cho anh.

Nước chưa bưng tới mà anh đã gượng ngồi dậy, nhưng vết thương còn nóng hổi không cho anh làm theo suy nghĩ.

– Anh cứ nằm im, em đút cho. Tôi bảo mà tự nghe – chu choa… sao mà ngọt ngào đến lạ.

– Cực dì út quá.

– Có gì đâu ạ, chỉ là cát-ca -đơ thôi. Trong kịch bản người ta vẫn tưởng là việc của vai chính. Tôi hờn hờn

– Thôi, tôi muốn ngủ, không uống nữa, cám ơn. Dì út về nhà nghỉ chút đi.

Vậy đó, trên đời có còn ai vô tình như ông anh rễ quý hoá của tôi không?

*

– Bà ngoại, bà ngoại, ba mua cho con cặp mới nè! Bà ngoại thấy có đẹp không? Đẹp ác chiến luôn ?

– Đẹp lắm, mà sao ngoại biểu ba con khoan đi làm mà không nghe lời ngoại vậy? Bộ ngoại không lo nỗi cho con đi học sao?

– Dạ, không phải, nhưng ba con nói khoẻ rồi thì đi làm chứ ở nhà tay chân tù túng lắm. Ba con đi hai bữa nay nhưng lén ngoại thôi.

Thằng Nhớ “thật thà khai báo” làm má tôi bật cười, trong mắt má là cả trời thương người con rễ hiền lành chăm chỉ nhưng phải tội nghèo mà hạnh phúc vụt bay xa. Con gái má thật là nông nổi, tiền muôn bạc vạn mà bất nghĩa bất nhân thì loại người ấy coi như bỏ đi; nghèo khó gian nan nhưng lòng thanh cao trong sạch, tấm tình đó đáng quý ngàn lần. Sao con gái má vì một phút yếu lòng đã bỏ qua bao điều hay lẽ phải cha mẹ dạy, Oanh ơi, cuộc sống con trước giờ đâu quá thiếu thốn, mà ba má cũng chưa từng có ý nghĩ cần những đồng tiền không do mình tạo ra? Bậy giờ con ở phương nào, có biết con mình như chú vịt mồ côi, không tình thân nào bằng tình con với mẹ. Nhiều khi nó nhớ con –má biết- nét mặt đờ dại lạ lùng, cũng như má từng đêm nhớ con ruột đau từng đoạn.

Tôi ra nhà anh rễ lúc trời đã chập choạng, thằng Nhớ đang dọn cơm, lanh canh tiếng chén đũa, chắc hôm nay cha con họ ăn nhiều món nên bày la liệt những dĩa, tô.

– Ba ơi, lẹ lẹ đi, dì út qua nè!

– Dì qua có gì lạ mà con kêu ba dữ vậy?

– Dạ, có chuyện đặc biệt. Với lại ba đang tắm, không kêu lẹ sao được?

– Người ta tắm mà kêu gấp như vậy chắc mang luôn cái mình đầy xà bông ra quá! Tôi trêu thằng cháu.

– Dì út coi thường ba con quá, lúc này ba “ngon lành” rồi.

– Ngon lành là sao? Tôi thật sự thắc mắc

– Không hay buồn nè, không ngồi hút thuốc một mình nè, không cho con ăn cơm với cá kho quẹt nữa nè…

– Chứ cho ăn gì?

– Thịt nướng, có khi hai cha con còn ăn phở nữa đó dì út. Hôm kia ba với con còn đi chợ mua mấy bộ đồ nữa…

– Quần áo dì mua con không đủ mặc à ?

– Dạ đủ, nhưng ba nói ba mua cho con mau lớn .

– Vậy mấy bộ đồ dì mua cho hai cha con đây hoá thừa rồi. Tôi buồn buồn.

– Thì con để dành mặc, sao mà thừa được?

– Hai dì cháu trò chuyện đủ chưa, ăn cơm thôi, tôi đói bụng lắm rồi. Mời dì út ăn cơm đi con.

Anh rễ tôi từ sau đi lên, chà, hôm nay trông ảnh khác hẳn, chiếc áo thun trắng tinh, quần cũng mới coóng.

-Dạ, mời dì út ăn cơm, bữa nay ba con nấu nhiều món lắm, canh chua cá lóc rau nhút nè, khô lù đù chiên và thịt ba rọi xào đậu đũa nữa, ba nói dì thích món đó nhất mà?!

– Sao biết tui thích? Tôi hướng ánh mắt về anh rễ.

– Chứ hai ngày là cho cha con tôi ăn một lần, không thích sao dì cực công làm như vậy?

– Bữa nay hai cha con “hối lộ” việc gì mà làm cơm cho tui ăn?

– Để cảm ơn dì chăm sóc tôi tận tình những ngày ở bệnh viện vậy mà.

– Vậy sao không mời trước, chờ qua đây mới kêu là sao?

– Không phải đâu dì út, con bảo ba mời trước , nhưng ba bảo như vậy mất tự nhiên . Ba biết thế nào dì cũng ra đây hà!

– Sao anh biết hay dzậy?

– “Thần giao cách cảm” mà! Anh tủm tỉm cười, lần đầu tiên sau hơn bốn năm tôi mới thấy nụ cười của anh.

Đào Phạm Thùy Trang

Từ trang OVV

 

Wednesday, March 18, 2026

Gặp Lại Nhau Chiều Thu Muộn - Nguyễn Đạm Luân

 Gặp Lại Nhau Chiều Thu Muộn



Cửa Sổ - Như Bình

 

Cửa Sổ




Không có gì khá hơn ở ngoài đó. Khung cửa sổ đã sờn cũ. Bốn thanh gỗ bợt bạt áp vào bốn bức tường đã ruỗng mọt. Trên đó lỗ rỗ những chấm đen. Hằng đêm, thậm chí cả ban trưa, tiếng mọt nghiến gỗ kiên nhẫn.

Đương nhiên không thể có gì khác ngoài những thứ đã quá cũ. Cây bàng già chậm chạp nghiêng những cành trần truồng sần sùi như cố thu vén dáng vẻ đồ sộ cũ kỹ của mình qua bao tháng năm phôi pha với sương gió. Em có thể không cần lắng nghe, không cần áp cái nhìn qua ô cửa sổ căn buồng ẩm tối này cũng thấu được tiếng thở dài trầm đục và buồn bã của những chiếc chồi non chưa thức giấc trên thân thể cây bàng cổ kính ấy. Em ngồi trong bóng tối, lưng dựa vào bức tường lạnh giá loang lổ những mảng lở lói, gục đầu vào giữa hai gối, say sưa ngủ. Từ ngày thôi không đến trường, em giam mình trong căn phòng nhờ nhợ tối với giấc ngủ chập chờn miên man nối nhau vô tận.
Mẹ vẫn chưa về, nếu mẹ về thì vòi nước ở cạnh cửa ra vào sẽ tuôn xối xả. Tiếng xoong chảo sẽ va vào nhau lanh canh, mẹ sẽ nói rất to, quát mắng ầm ĩ lũ nhện sao lại chăng tơ ở cửa toalét, hay lũ gián can cớ gì mò vào chạn bát. Mẹ sẽ càu nhàu, quát tháo, làm cho căn nhà tĩnh lặng tuyệt đối ấy rung lên bởi những thanh âm ồn ã của cuộc sống náo động mà mẹ mang từ ngoài phố về. Những thanh âm loảng xoảng ấy sẽ ngưng bặt khi bước chân nặng chịch của bố vang lên ngoài hành lang hẹp. Bố về đấy, mẹ sẽ chuyển tất cả những câu chuyện không có chủ ngữ, không có người đối thoại sang bố. Thôi thì đủ thứ trên trời dưới biển, từ lão ăn xin giả vờ què chân đến bà cô lên đồng không chồng mà chửa.... Sau rốt, mẹ cười nịnh bợ đến bên bố thẽ thọt xem hôm nay bố có đắt khách không, cả ngày làm được mấy cuốc xe ôm và số tiền cụ thể bố kiếm được trong ngày có nhỉnh hơn hôm qua chút đỉnh. Bố lột hết mấy túi quần sờn cũ đưa kỳ hết những tờ giấy bạc nhàu nhĩ, cáu bẩn. Mẹ vồ lấy hoan hỉ, rồi thở dài tiếc rẻ. Với mẹ, tiền không bao giờ đủ. Tiền lúc nào cũng quý báu và ít ỏi, để nuôi cuộc đời nghèo túng của cả nhà em. Bố thả người xuống một góc nhà kê chiếc bàn gỗ vẹo vọ trong góc dựng chiếc điếu cày. Bố lọ mọ tẩy điếu, thong thả véo nhúm thuốc lào, dém thật chắc thật kỹ vào nõ điếu. Với cái bật lửa để trên bàn, bố quẹt vào cái đèn dầu vặn bấc cho lửa lên ngọn, khi đó mới thong thả nhón một chiếc đóm dui lửa thắp cho cháy lên châm điếu cày, rít một hơi sâu lẻm rồi đổ kềnh bên góc nhà nhả khói. Mẹ quay ra, hai tay quạt khói thuốc lào lại tiếp tục câu chuyện dở dang ngoài đường ngoài chợ cho đến khi thằng Ngọc, đứa em trai duy nhất của em chạy bầm bập từ ngoài cửa vào, vứt xoạc cái cặp sách xuống ghế thì mẹ mới ngừng nói. Mẹ chạy lại ôm chặp lấy Ngọc, mừng húm lên, xoa xoa cả người nó nựng rối rít. Thằng Ngọc đã lớn, nó cao hơn mẹ tới nửa cái đầu, năm tới nó thi vào đại học rồi, thế mà mẹ coi nó y như đứa trẻ lên ba.

Nhưng bây giờ là miên man yên tĩnh. Mẹ chưa về. Em ngồi tựa lưng vào tường, hơi lạnh ẩm ướt từ ngoài bức tường thấm vào làn áo mỏng làm cho cả người em giá như một thỏi kem. Có lần, mẹ em về nhà giữa buổi bắt gặp cảnh tượng ấy, mẹ bước tới giang tay tát bốp vào mặt em. Mẹ cười óng ánh, đôi mắt đầy nước. Mẹ nói, làm như thế cho em đỡ mê. Cho em tỉnh trí lại. Mẹ đứng dậy mở cửa sổ, vén màn và bế em lên xe rồi đẩy em đến bên khung cửa sổ. Mẹ nói để con nhìn thấy biết bao chuyện của người khác mà không chán khi cả nhà đi vắng. Mẹ chỉ sợ em buồn, em không là em nữa khi sơ sểnh đôi cánh tay của mẹ. Từ đó mẹ đi kiếm những cuốn sách cho em. Những cuốn Đôrêmon đã mất đầu mất cuối, chắc mẹ nhặt được từ bãi rác góc đường ai vứt ra, hay xin của trẻ con hàng xóm. Cả những cuốn sách không có tên đã giữ em ở mãi tuổi thơ.

Nhưng có gì lạ ở bên ngoài cửa sổ đâu. Mùa đông làm cho cây bàng già trơ trụi lá. Mùa đông phả những cơn gió buốt lạnh qua cửa sổ vào căn buồng của em khiến em run rẩy. Thỉnh thoảng, gió rứt từ ngoài xa những chiếc lá xà cừ còn biếc xanh thả lên bậu cửa sổ. Những chiếc lá không kịp chết trước khi bị tước đi cuộc sống của chính nó, giẫy lên dưới ánh nắng trong ngơ ngác. Lũ sẻ nâu chán cãi nhau ở cây bàng già lại về chíu chít trên vòm xà cừ rỉa mỏ cho nhau. Chúng gù gù trong nắng hanh, trong gió lạnh, hệt như tiếng thở than của người già trong thời tiết lạnh ghê người.

Thấp thoáng sau vòm xà cừ kia là những ô cửa sổ có rèm che. Mỗi ô cửa sổ giấu sau đó những cuộc đời, những con người và những số phận. Là em đoán thế bởi ít ra, có vô số những gương mặt khác nhau xuất hiện nơi ô cửa sổ. Mẹ nói đúng, quan sát cuộc sống của người khác cũng thú vị. Nhưng em sẽ làm gì khi sau một ô cửa có một gương mặt đàn bà muộn phiền đang khóc. Hay một gương mặt đàn ông nhàu nhĩ bên chiếc đèn bàn mỏi mệt ngủ vùi...

Nhưng, dưới gốc bàng già nua ấy, sau tán lá xà cừ sum sê ấy có một người hay dừng xe đứng đợi. Người ấy như chỉ chờ em mở cửa sổ ra để ngước nhìn lên. Người ấy hay mặc áo trắng, quần màu ghi, trước giỏ xe vắt vẻo chiếc cặp lớn đựng đầy sách (là em đoán vậy). Người ấy không đeo kính cận như thằng Ngọc, không đội mũ lưỡi trai như bố. Dưới vòm trời đầy nắng, người ấy hay ngước nhìn lên ô cửa sổ nhà em, hay chăm chú nhìn em và đôi lúc như thể là mỉm cười. Từ đó em vụt lớn lên. Những cuốn truyện Đôrêmon không giữ được em, cô bé 19 tuổi, ở mãi tuổi thơ...

"Thằng Ngọc đỗ đại học rồi Lành ơi! Em con đỗ một lúc cả ba trường đấy". Đó là tiếng loan báo náo động của mẹ. Mẹ về. Mẹ ào vào, giật tung cửa sổ, hét to lên sung sướng: "Em con đậu một lúc cả ba trường đại học. Con thử nghĩ xem em con nên chọn trường nào nhỉ. Ôi thôi, phải chờ bố chúng mày về. Chỉ ông ấy mới quyết định được". Nói rồi mẹ lại ào ra. Mẹ đi làm cơm, mẹ tíu tít với niềm hạnh phúc vô bờ bến.

Bố lệt xệt trở về. Đôi chân đi chừng ấy dặm đường hẳn đã mỏi mệt lắm. Lần đầu tiên mẹ không kể chuyện ngoài phố. Mẹ không hỏi tiền bố kiếm cả ngày được bao nhiêu. Mẹ khóc cười sang sảng, rối rít. Bố lại ngồi bệt nơi góc nhà, mó chiếc điếu cày thong thả rứt một nhúm sợi thuốc vàng tơ từ đùm nilông giắt trên túi áo. Tiếng rít thuốc lào của bố em nghe mạnh và sâu hơn rất nhiều lần trước. Bố ngã vật ra nền nhà say lơ mơ. Mẹ đỡ bố dựa lưng vào tường cười như sấm: "Ông cứ bắn vài điếu say cho nó đã, rồi đợi tôi làm cơm". Bố bước vào căn buồng của em khẽ khàng đến mức làm em giật mình. Đôi mắt của bố nhìn em lạ lắm. ánh mắt của một người đàn ông ít lời bao giờ cũng ẩn chứa quá nhiều điều. Bố lẳng lặng bước đến bên khung cửa sổ. Hoàng hôn buông sẫm trên từng tán xà cừ đong đưa. Bóng bố in lên nền trời xám nhạt mơ hồ và hiu hắt. Lâu lâu, bố quay mặt về phía em, cất tiếng như chỉ để mình bố nghe. "Chỗ này em con sẽ đặt chiếc máy tính để con muốn viết gì tuỳ thích. Bố thấy con thích đọc, hẳn con cũng sẽ thích viết. Đấy là sáng kiến của em Ngọc con nhân ngày sinh nhật con tròn 20 tuổi. Em nó nói, con có thể ôn thi vào đại học với chiếc máy tính này mà không cần ai phải giúp đỡ. Em con muốn con cũng thi đỗ đại học như nó".

Nước mắt em rơi trong veo vào bóng tối.

Cửa buồng đã mở. Ngọc lễ mễ bưng vào một chiếc máy tính. Nó nhìn em và háo hức: "Nó cũ một tý thôi nhưng chị sẽ thấy thật tuyệt vờí". Mẹ cũng vào buồng há hốc mồm. "Trời ơi! Tiền đâu ra mà mua thế này?". Không ai trả lời mẹ. Bố và Ngọc lụi hụi tìm chỗ kê máy tính cạnh khung cửa sổ.

Ngọc lầm lì như chưa hề xảy ra điều gì đáng kể để có thể làm xáo động được cuộc sống xưa nay của nó. Em nghe Ngọc thở dài khe khẽ: "Chị hãy viết đi, viết những gì chị nhìn thấy, tưởng tượng ra". Ôi trời ơi! Thay vì việc mang về cho em những cuốn Đôrêmon cáu bẩn thì bố đã dành lại, chắt chiu những đồng tiền còm cõi để mua cho em món quà khi em tròn 20 tuổi. Món quà này là do thằng em trai lầm lỳ ít nói của em nghĩ ra. Em lần đến bên khung cửa sổ. Em đã thèm khát biết bao được tự do bay vào trời xanh. Dưới kia, người ấy lại đang ngước mắt nhìn lên. Hình như người ấy đang mỉm cười với em đấy. Người ấy có biết không, ngày hôm nay em tròn 20 tuổi.

° ° °

Đây là tự truyện đầu tiên chị tôi viết bằng chiếc máy tính cũ kỹ tôi mua bằng số tiền dành dụm được trong suốt cả cuộc đời lam lũ của bố. Khi đọc nó, tôi đã không thể cầm được nước mắt. Tôi mang đến cho một toà soạn báo văn học. Ông nhà văn già giương mục kỉnh nhìn tôi lạ lẫm. "Của cậu à?" "Không". "Thì là của ai, già hay trẻ". "Của một người viết trẻ ạ". Ông nhà văn già cười khằng khặc: "Tôi biết ngay mà. Đích thị là một sáng tác đầu tay của người viết trẻ. Thứ văn học này chẳng có một tý tư tưởng nào sất. Hãy về bảo với bạn cậu cố lên, viết thật nhiều vào, phải có vốn sống, phải lăn lộn thực tế thật nhiều hơn nữa để khi cầm bút cho nó chín chắn.Truyện ngắn là một lát cắt của đời sống hiện thực, một lát cắt của tiểu thuyết, nhớ phải là lát cắt ấy đầy ám ảnh đấy nhé. Truyện thiếu tính tư tưởng, đó là điểm yếu của những người viết trẻ".

Tôi đành mang nó trở về căn gác xép của mình. Ngoài khung cửa sổ căn buồng của chị tôi, những lộc non đã líu ríu đâm chen trên thân bàng khẳng khiu. Lũ sẻ non rí rích nhảy loi choi giữa những cụm lá vừa kịp mở đôi mắt non ngơ ngác. Nắng ấm nồng rót nhựa lên những tay bàng vươn cao giữa trời xanh. Nhưng ở dưới đó, người đàn ông vẫn hay ngắm nhìn chị tôi không bao giờ còn xuất hiện ở đó nữa. Anh ta đã cưới được người con gái kiêu kỳ thường bắt anh phải đợi ít nhất một tiếng đồng hồ dưới sân trước khi đi chơi. Và trong khoảng thời gian đợi người yêu mặc quần áo, trang điểm, người đàn ông ấy đã ngắm nhìn và quan sát mọi thứ xung quanh. Trong vô số thứ anh ta quan sát có gương mặt trong veo của một người tật nguyền là chị tôi, mà anh ta không bao giờ biết chị tôi sống được là nhờ những tưởng tượng, và trong số ấy, có cả anh.

Chị tôi không tiếp tục học để thi vào đại học như tôi đã thầm nghĩ. Chị cũng không trở thành một người làm vi tính văn phòng thật giỏi để sau này có cái nghề cầm tay mà sống như mong đợi của bố, khi bố mẹ không còn mãi trên đời để lo cho chị được nữa. Chị như chiếc lá xanh gió trời tàn nhẫn rứt xuống ném vào khung cửa sổ ngôi nhà của tôi. Và mẹ tôi không sao hiểu nổi chị không vĩnh viễn ở tuổi thơ để sống cùng với mẹ, để được mẹ được thương xót cưu mang suốt đời và mãi mãi. Chị trở thành người viết văn xuất sắc. Một người viết không cố cho mình có tư tưởng. Tôi không biết chị tôi cần phải đi những đâu, học những gì để trở thành một người giàu tư tưởng, khi cái quý giá nhất từ trang viết của chị đã rút ruột hết mình với những tự truyện mang dấu ấn của đời sống mà chị đang đi qua. Mỗi một tự truyện của chị là những mảng sáng tối của cuộc đời mà chị đã sống cùng tưởng tượng và trải nghiệm. Không một ai trong gia đình tôi hình dung được điều này.

Như Bình

Rồi Thì Người Ở Một Mình - Tô Hoài

 

Rồi thì người ở một mình




 

Dạo trước, trên báo Người Hà Nội tôi đã báo động ở vùng Đồng Tháp Mười trong Nam bây giờ người ta bẫy chim bằng cát xét, tiếng chim đã được thu băng, mở cát xét ra chim kêu chim hót líu lo. Đàn chim bay qua ngỡ chim gọi đàn, sà xuống bờ nước, hàng trăm hàng chục con mòng két, con cu gáy, con ngói lao xuống, sa cả vào lưới

Mỗi ngày cả ngàn con chim hoá ra chả chim, xáo chim trong các quán nhậu bên kênh rạch, ven đường, các lái chim còn tải chim lên Sài Gòn - Chợ Lớn bán vào các nhà hàng sang trọng. Bây giờ cái cạm chim ghê gớm có tiếng chim hót ấy đã được đưa ra đến Hà Nội. Cái đầu đề trong một số báo Hà Nội Mới vừa đây: có những xâu chim đem về chợ chim ở đường Hoàng Hoa Thám. Thoạt đầu tôi lấy làm lạ con chim sâu, chim chích thì nuôi sao được mà người ta cũng đem bán. Đọc bài mới biết xâu chim đây là cái dây, cái lạt, xâu dây thép buộc con chim lại thành một xâu đem đi bán

Tôi vẫn băn khoăn nỗi ở ngoài này đâu có nhiều chim như ở các cánh đồng và vườn, rừng phía Nam. Ở Hà Nội, đêm đêm chỉ còn nghe con chim lợn kêu rùng rợn mà người ta bảo chim lợn bay qua đâu mà kêu là ở đó sắp có người chết, còn muốn trông thấy con cò bay, con diều hâu miệng "xây giếng cho tròn" thì phải tìm đến lưng chừng núi Tam Đảo, núi Ba Vì may ra mới trông thấy được. Thế mà bây giờ có người đem cả xâu chim đi bán?

Chủ nhật, tôi đến đường Hoàng Hoa Thám có những cửa hàng chuyên bán chim và cây cảnh. Hai bên đường bóng cây mát rượi, đầy nhan nhẩn những chim là chim, không phải chim trên cây mà chim trong lồng nan tre, nan nhôm những con sáo, con khướu, con hoạ mi.., ca trăm thứ chim. Những chưa thấy xâu chim nào ở đâu. Hỏi thăm mới biết người bán chim ăn thịt, ở tận ciối đường đằng kia, dạo trước, người ta xách xâu chim đi bán rong, nhưng rồi những hàng chim trong lồng trống thấy những người cứ vác chim chết lượn lồ đi, đâm ra sốt ruột. Biết đâu những con chim sống trong lồng thấy những con chim bị xâu, bị trói, nhỡ cái nó biết sợ, biết chạnh lòng, nó cắn lưỡi chết cả thì sao. Thế là người ta đuổi bọn bán chim chết không được lướn phướn đến mà phải đứng một chỗ.

Những người xách xâu chim túm tụm lại một nơi. Năm trước, tôi thường trông thấy mỗi chiều chủ nhật có ông đi xe máy vai đeo súng săn phóng xe từ các vùng đầm nước ở Suối Hai, ở Đại Lải về: buộc đằng trước xe những xâu chim bắn được, nào con le, con mòng, nào vịt trời. sâm cầm. Đấy là những ông đi chơi săn chim và "cải thiện" đôi chút. Nhưng bây giờ trông những người đi bán xâu chim thì thiểu não, vất vả nhiều. Chiết xe đạp méo mó và cả người như vùi trong bùn lên. Họ vắt trước ghi đông những xâu chim chết, thôi thì chào mào sáo đá, cả con choi choi bé tí tẹo. Trông thấy mà thương tâm. Thế nào thì xung quanh thành phố người ta tiêu diệt hết các giống chim đến nơi.

Tôi hỏi bâng quơ:

- Không bán diều hâu à?

Người bán chim lật xât chim lên, có con diều hâu mình vằn máu, mỏ khoằm nằm chết rũ ở dưới.

Tôi lại hỏi:

- Diều hâu bay cao thế, sao bẫy được?

- Mở băng tiếng diều hâu kêu la, xuống ngay chứ?

- Thu được băng diều hâu?

- Ông ơi? Cụ giời trên thiên đình mà nói cũng thu được tiếng cả cụ giời. Nào ông mua đi, diều hâu nướng lên thơm chẳng kém gì gà gô. Cháu lên Lương Sơn nhiều, có chục con diều hâu vào bẫy cũng hết băng, chim rừng mà.

- Diều hâu này bắt ở tận đâu?

- Chân Tam Đảo đấy.

Tam Đảo và Ba Vì, những vùng rừng quốc gia, nghe uy nghiêm lắm, thế mà người ta đương phá đến kiệt cùng mà cũng chẳng ai cấm đoán, bắt bớ gì. Những con chim con cò này còn thấy có lúc nó bay trên sông, có lúc nó lội dưới ruộng, chứ còn bao nhiêu thứ của rừng, trong rừng, giữa rừng mà người ta đã bòn mót quanh năm đến hết sạch, mất sạch. Tôi đã từng viết về nạn tiêu diệt bướm ở Tam Đảo. Tôi đã mắt trông thấy những người châu Âu, người Nhật chơi Tam Đảo vào rừng tay cầm vợt vợt bướm và đeo những cái lồng đựng bướm. Đã nhiều năm rồi, người lớn và trẻ con các làng quanh núi đã hành nghề đi bắt bướm cho Tây. Không mấy ai để ý khi mùa xuân về, rừng Tam Đảo chỉ còn những đàn bướm trắng và bướm ma chập chờn bay ra, chứ những bướm rồng, bướm chúa, bướm tiên quý hiếm chẳng thấy đâu nữa.

Mới đây, tôi lại biết thêm có nghề lẩy phong lan ở Tam Đảo và Ba Vì. Thật ra tôi chỉ mới được biết, chứ nghề này đã sinh ra từ mười mấy năm nay, mà toàn người tỉnh xa về hành nghề. Cũng như ít ai để ý việc mò ốc bươu, ốc vặn ở hồ Tây phần nhiều người Thanh Hoá ra, ở Nam Định lên. Nghề lấy phong lan cũng thế, nhưng công phu và bán được nhiều tiền hơn mò ốc. Người ta nói bây giờ người đi rừng kiếm phong lan ngày một nhiều, những năm trước chỉ cái rìu với cái dao, vào rừng nửa buổi đã vác về hàng giỏ, bấy giờ phong lan còn mọc la liệt trong hẻm núi, ở gốc cây. Bây giờ người kiếm phong lan phải đi thành bọn vào rừng sâu mang cả bạt, đeo cả gạo và xoong nồi đi vài ngày. Mà đồ lề lấy phong lan bây giờ không chỉ có chiếc rìu, con dao mà phải đem cưa, thang dây, có cả cưa máy chạy điện quay tay, còn nhiêu khê hơn thợ sơn tràng đi rừng. Bởi bây giờ chỉ còn phong lan trên lưng chừng cây, phải trèo lên cưa cây, hạ cây xuống thì mới lấy được một vừng phong lan có nghĩa là phải phá rừng mới lấy được phong lan.

Ở bên Nhật có núi Phú Sĩ ngoại ô Tôkyô, ngọn núi thiêng liêng, trong mỗi bức ảnh phong cảnh Tôkyô nhất định phải có núi Phú Sĩ nên thơ. Ở Hà Nội, đứng bờ hồ Tây cũng trông thấy núi Tam Đảo, núi Ba Vì nổi lên bên kia ngấn nước, đẹp lạ lùng. Chẳng biết núi Phú Sĩ có nạn bắt bướm, nạn phá rừng lấy phong lan và săn chim, bẫy chim đến kiệt cùng như ở ta không? Ở thủ đô Tân Đê Li bên Ấn Độ, đứng đợi xe buýt trên hè, trông lên cây thấy mấy con chim vàng anh đương nhảy lao xao. Ở ta, chúng mày đậu thế thì chết với ông rồi.

Và ở ta, chỉ nghe khẩu hiệu hò hét trên báo về bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường chứ chẳng thấy người để mắt đến tác hại cụ thể, tỉ mỉ ấy. Rồi một ngày kia, trên mặt đất, trên bầu trời sẽ hết chim, hết hoa thì con người ở với ai.

Tô Hoài