Friday, March 6, 2026

Bài Cho Người Dưới Mộ - Thuyên Huy

 Bài Cho Người Dưới Mộ




Hỏi - Nguyễn Cang

 HỎI

 


 














Trăm năm một thế kỷ u hoài

Nửa đời còn lại tìm tương lai

Tiếng thời gian vọng miền ký ức

Mang ưu tư gọi nắng tàn phai

 

Sao hôm nay thoảng mùi hương nhẹ

Mùi hoa bưởi hay tóc em thơm

Quê nghèo ngày cũ buồn cô lẽ

Ta đợi người góc phố chiều hôm

 

Ngoài trời chợt đổ cơn mưa nhỏ

Sương lạnh hoàng hôn chẳng thấy ai

Gác trọ quay về trong quạnh quẽ

Không gian nặng trĩu phủ hình hài

 

Sao người vội bỏ ta mà đi

Để cho héo hắt tuổi xuân thì

Sương khuya lạnh, sầu lên mấy nẻo

Mất nhau trong đời, hận biệt ly

 

Trông vời cố quốc trong hư ảo

Người ở nơi nào biệt tăm hơi

Độc ẩm đêm tàn ly rượu cạn

Mà nghe giông tố cuốn tơi bời

 

Ta như con đò không bến đỗ

Trôi giạt giữa đời, cạn ước mong

Thuyền tình dang dở không về nữa

Tâm trạng buồn thiu kẻ mục đồng

 

Ai về bến cũ cho ta nhắn

Người xưa giờ, bến đục hay trong?!!

 

Nguyễn Cang ( Feb. 24, 2026)

 

Trang Cuối Một Quyển Sách - Vương Hồng Sển

 

Trang Cuối Một Quyển Sách




 

Anh Thăng Long văn sĩ,

Cái thú của người uống nước trà là một cái thú yên lặng, giản dị. Không cần đàn đúm. Không cần phải có các món nhắm lỉnh kỉnh lôi thôi. Nó không làm người ta bốc cơn hào sảng lửa rơm. Nó làm cho người ta chậm rãi thanh thản.

Tiếng còi tàu chạy bằng đầu máy diesel đánh thức tôi dậy từ 3 giờ sáng. Pha một bình Thiết Quan Âm. Bước ra ngoài hít thở chút không khí. Mùa Xuân đã về. Những ngày lạnh giá đã qua. Ban đêm trong nhà không cần phải mở lò sưởi nữa.

Trước mặt tôi một tờ báo địa phương, mấy tờ Việt ngữ do các bạn gởi lên cho. Tờ báo Xuân Ất Sửu có đăng lại bài thơ Quách Tấn:

 

Trước tết mai là hoa

Sau tết mai là củi

Trước bao nhiêu nâng niu

Sau bấy nhiêu hất hủi

Nâng niu mai chẳng mừng

Hất hủi mai không tủi...

 

Vị nước trà đắng ngọt thấm dần làm tôi tỉnh táo. Còn bốn ngày nữa, lại một cái tết đến rồi. Ăn tết ở một nơi không có ai để ý, đường phố xe cộ mọi người sinh hoạt bình thường làm mình lạc lõng. Năm nay gia đình ở nhà đã ăn tết trước cả tháng càng làm cho mình lạc lõng hơn.

Khu vườn bên cạnh nhà tôi xơ xác.

Hai ông bà già người Mỹ có vẻ yếu mệt, không còn trồng trọt gì. Tuổi già lui cui trong nhà, không thấy con cháu lại thăm bao giờ. Mọi năm vào tháng này đáng lẽ họ ra ngoài trồng lại cỏ, bắt dàn cây. Vào dịp tết ta, khu vườn vẫn có nhiều hoa nở.

 Vương Hồng Sển

 

          (Trích trang 277 trong sách “Ngọn Cỏ Bồng” do nhà xuất bản Người Việt phát hành năm 1985 tại Westminster, California, Hoa Kỳ).

 

Trăng Rằm Tháng Giêng & Sao Rơi - Nguyễn Thị Châu

 TRĂNG RẰM THÁNG GIÊNG

 


















 Trăng rằm gió nhẹ đưa duyên

Tháng giêng trăn trở con thuyền trôi trôi

Bóng mây bay ở chân trời

Lênh đênh sông nước cuộc đời long đong

Nhìn đời lối rẻ mênh mông

Dòng sông êm ả, bóng trăng lặng thầm

Đêm nay là đêm trăng rằm

Nhớ ai? Trăng lại lặn nằm đáy sông

Nhìn theo con nước xuôi dòng

Nỗi sầu ai đó? Nghe lòng xót xa

Đêm nằm thương nhớ người ta

Trăng rằm soi sáng cho ta gặp chàng

Lung linh nước biếc trăng vàng

Thuyền ai cặp bến? Cho chàng đến đây

Trên trăng dưới gió đong đầy

Bấy lâu xa vắng hôm nay sum vầy

Những gì tưởng nhớ hôm nay

Như trăng đã lặn, mây bay cuối trời

Nước sông lặng lẽ  êm trôi

Con thuyền xa vắng nổi trôi phương nào????

 

4-3-2026

Nguyễn thị Châu

 SAO RƠI

 


 













Chợt thấy sao rơi ở cuối trời

Màng đêm mờ mịt thấy chơi vơi

Sương giăng lặng lẽ chờ ai đến?

Bâng khuâng lại nhớ áng mây trôi

 

Gởi chút hương tình theo gió mới

Hương xưa năm ấy có về chưa?

Nàng Xuân lạnh lùng trong nỗi nhớ

Mây buồn lơ lững kéo lưa thưa

 

Mùa Xuân còn lại tháng ngày qua

Giọt buồn đọng lại ở bên ta

Người đi để lại nhiều trăn trở

Để tôi thao thức với tình xa

 

Một ánh sao rơi khơi nỗi nhớ

Ngày người nằm xuống bỏ lại tôi

Một vì sao lạc rơi đi mất

Đêm đen mờ nhạt dưới chân trời…!!!

 

4-3-2026

Nguyễn thị Châu

 

 

Kiếm Hiệp Kim Dung Ở Chợ Lớn Qua Ngòi Bút Hàn Giang Nhạn - Vũ Thế Thành

 

Kiếm hiệp Kim Dung ở Chợ Lớn qua ngòi bút Hàn Giang Nhạn

Hàn Giang Nhạn bước vào lĩnh vực dịch kiếm hiệp từ giữa thập niên 50, cùng thời với các dịch giả khác như Từ Khánh Phụng, Phan Cảnh Trung,… Riêng kiếm hiệp Kim Dung, ông dịch 7 bộ, trong đó 2 quyển: Tiếu Ngạo Giang Hồ và Lộc Đỉnh Ký đã đưa Hàn Giang Nhạn trở thành dịch giả đầy “máu me” kiếm hiệp nhất.

Vũ Thế Thành

 


Trước đó các bộ kiếm hiệp viết feuilleton ở Hương Cảng, sau đó xuất bản thành sách. Các dịch giả Việt Nam mua sách và dịch đăng từng ngày trên nhật báo. Chỉ đến hai bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ và Lộc Đỉnh Ký, Hàn Giang Nhạn mua bản quyền của tờ Minh Báo, dịch feuilleton sát nút, hôm trước báo đăng ở Hương Cảng, hôm sau vận chuyển máy bay, được dịch và đăng ở Sài Gòn. Tiếu Ngạo Giang Hồ khởi đăng năm 1967, và kế đó là Lộc Đỉnh Ký, với dịch giả duy nhất là Hàn Giang Nhạn. Khoảng 11 nhật báo ở Sài Gòn đặt mua bài dịch hàng ngày, đủ thấy sức lan tỏa của kiếm hiệp Kim Dung thế nào. Riêng Cô gái Đồ Long nổi tiếng đâu thập 60 có được dịch feuilleton, hôm trước Hương Cảng, hôm sau Sài Gòn thì tôi không biết chắc.

Văn dịch của Từ Khánh Phụng và Phan Cảnh Trung khá mẫu mực và nghiêm túc, chứ không nhuốm giang hồ như Hàn Giang Nhạn. Một vài bài báo nói, Khi báo từ Hương Cảng vừa về tới Sài Gòn buổi sáng, Hàn Giang Nhạn đi đi lại lại trong phòng và dịch ứng khẩu. Thư ký ghi chép luôn trên giấy pelure mỏng, lót giấy than 10 bản. Mang về tòa soạn, biên tập qua loa rồi ra nhà in luôn. Tác giả Kim Dung viết feuilleton đã ngẫu hứng, người dịch còn ngẫu hứng hơn. Chữ nghĩa hình thành đột phá, không có thời gian suy nghĩ để trau chuốt chữ nghĩa.

Danh tiếng của Hàn Giang Nhạn lên cao một phần nhờ dịch độc quyền hai bộ này, nhưng phần lớn là do khả năng dịch ngẫu hứng, rất “tay chơi” của ông. Nhiều câu dịch của ông như: Con mẹ nó, Cút con bà mày đi, Đại công cáo thành”,… đã trở thành tiếng lóng ở thời bọn tôi.

Không khó để nhận ra,  Hàn Giang Nhạn thường để nguyên cụm từ Hán Việt (khi cần thiết), khiến người đọc có cảm giác câu chuyện rất…Tàu., chẳng hạn “hồ ngôn loạn ngữ”, Ô hô ai tai”,..

Có khi ông dùng từ Hán Việt giọng văn hơi cổ, ngày nay ít ai dùng, nhưng người đọc trong nước như tôi vẫn có thể hiểu được.

Khi Lệnh Hồ Xung đang bị sư phụ “cấm túc” trên đỉnh núi, tình cờ gặp sư tổ Phong Thanh Dương chỉ bảo kiếm pháp, thì Điền Bá Quang xuất hiện, thỉnh thỉnh xuống núi theo lệnh của Bất Giới hòa thượng, nhưng bị LHX đánh bại. “Hắn thấy ĐBQ bị đại đại bại rồi hộc máu tươi thì không khỏi sinh lòng lân tuất” – Tôi hiểu lân tuất là lòng thương hại, thương xót.

Lại có những từ, chưa hẳn là Hán-Việt được HGN đặt vào bối cảnh câu văn nghe rất lạ. Chẳng hạn, LHX trêu ghẹo Doanh Doanh, nhưng lại ngụy biện, nói lái qua nghĩa khác. Doanh Doanh hiểu ý, nên mắng. “ Ngươi nói 3 câu, hết hai câu là điên đảo rồi.

Hay có đoạn, Doanh Doanh dạo khúc nhạc, nhưng tình ý bất ổn, dây đàn bị đứt mấy lần, bèn đổ thừa do LHX quấy nhiễu. LHX thực ra ngồi yên như gỗ. Nghe thế nói thầm:” Cô ta nổi lòng hươu dạ vượn rồi quay ra trách mình”.

Hai từ “điên đảo” và “lòng hươu dạ vượn” dùng trong bối cảnh này nghe rất lạ, nhưng người đọc vẫn hiểu. Tôi không biết nguyên văn chữ Hán thế nào, nhưng Hàn Giang Nhạn dịch thế này nghe lạ tai, hấp dẫn và buồn cười.

Nội dung “Tiếu Ngạo giang hồ” phong phú, ly kỳ, ít đùa giỡn, trừ những đoạn “Đào Cố lục tiên” hài hước, nhưng đôi khi Kim Dung lạm dung quá đáng. Dù vậy trong truyện cũng có vài câu chửi thề nhẹ. Trưởng môn phái Hành Sơn, Mạc Đại hơi phóng khoáng, ngầm ý xúi LHX lấy Doanh Doanh của ma giáo, ông ta sẽ đi dự đám cưới… “ Còn mẹ nó, sợ cóc gì!” (câu chửi thề này, mới đây nghe quen quen).

Nói về chửi thề thì Lộc Đỉnh Ký mới thực sự là đỉnh cao, và Hàn Giang Nhạn dịch cũng rất táo bạo, chơi xả láng. Hãy nghe Vi Tiểu Bảo thóa mạ Mao Thập Bát lúc ở Dương Châu:

“…Mẹ kiếp! ta là quân chó để thì ngươi cũng là quân chó lộn giống. Con bà nó! Cả họ xa họ gần ông tổ tiên thập bát đại nhà ngươi”

Vi Tiểu Bảo không chỉ chửi “Con bà nó” mà còn rất nhiều biến thể hài hước khác mỗi khi gặp chuyện không vừa ý hoặc khi đang nịnh bợ ai đó. Mang đậm chất bình dân Nam Bộ thập niên 60-70, rất hợp với tính cách vô lại, hợm hĩnh của Vi Tiểu Bảo trong môi trường kỹ viện, trong triều đình, hay giữa ba quân.

Có thể ngày nay người ta đọc bản nhuận sắc, với bản dịch Việt ngữ, văn chương trau chuốt hơn, hợp lý hơn. Nhưng với thế hệ bọn tôi, Hàn Giang Nhạn có thể không phải là người dịch chuẩn mực nhất, nhưng ông không chỉ dịch chữ, mà còn “nhập vai” vào các nhân vật để nói.

Kiếm hiệp Kim Dung thuộc về giang hồ Trung Hoa, nhưng qua Hàn Giang Nhạn, bản dịch khiến độc giả như thể đang ngồi trong tửu quán ở Chợ Lớn, nghe giang hồ Kim Dung nói tiếng lóng Sài Gòn.

Vũ Thế Thành

 

 

Tuesday, March 3, 2026

Truyện Ngắn Vương Hồng Sễn - VHS

 

Trối Trăng, Tự Tình

  Tôi đang bực tức và bất mãn, giận lấy mình, nhưng khó nói nên lời, đành gõ máy giấc trưa, gởi ấm ách cho xì ra hơi, xả xú bắp, lông lông đỡ tức.

Năm rồi, tôi ưng cho xuất bản hai tập nhỏ, viết ứ đọng từ lâu, nhưng khi in thành sách, tôi đã bị sửa văn, thiến của tôi bộn bàng, người sửa văn, vốn có học với tôi vài niên, nay có bằng Hán học, và tuân lời ông ra vốn cho máy in chạy và có lịnh của bề trên, nên văn tôi bị thiến. Tôi dùng chữ “văn” đây là tạm bợ, và nên nói lại, những gì tôi viết ra, họ đốn không nương tay, duy tôi là thằng chơi đồ cổ, xin hỏi tỷ như khi chưng một lục bình dịp tết, bình hoa vẫn có xen kẽ đôi lá lơ thơ cho dễ coi, rồi người mướn tôi trưng bày, đã rút tỉa những hoa lá phụ, rằng cho thêm gọn thêm xinh, nhưng về mặt mỹ thuật, xin cho tôi tỏ ý kiến rằng làm như vậy, bình hoa sẽ trơ trẽn, nhứt là trái ý của tôi, vả lại theo như tôi hiểu và tỉ thí, văn pháp, người xuất bản nào đụng chạm đến bao giờ.

Nói sơ sơ để tỷ ví, có nhiều câu tôi cho là đắc thể, tôi rặn è è lâu hoắc hoặc đó là lời nói của những nhà có kinh nghiệm đã rỉ tai tôi, và tôi cố ghi lại vào bản thảo, đều bị bôi bỏ, chê là rườm rà, nhưng quên rằng đó là những cái mốc để đánh dấu thời đại, như giá vàng, ngày mua, người bán, nay lượt bớt... khiến cho hiện nay, có một cuốn của tôi được tái bản, nhưng bán rất chậm, vì khách chơi cổ ngoạn vẫn tìm sách cũ bản của tôi và để ế bản của kỳ nhì (không phải tự tôi cho in) tuy trong ruột sách vẫn y chang, duy ngoài bìa đã thay đổi và thay thế một cách ngu dốt nên sách bán không chạy...

V.H.S. (4-3-1993)

Trích từ trang 53 và 54 trong cuốn “Tạp Bút Năm Quí Dậu, 1993 – Di Cảo Vương Hồng Sển” do nhà xuất bản Trẻ phát hành năm 2012 tại Sài Gòn – Việt

Nam)

 Tết Và Tôi




Tôi xin nói Tết và tôi. Thằng tôi là đáng ghét, nhưng phải nói, và xin kể một chuyện không tốt, gọi xả xú bắp để bước qua năm Dậu – con Gà:

Hôm ấy là hai mươi chín tháng chạp thiếu, lối mười giờ khuya, thiên hạ đang rần rần mua vui buổi chợ đêm nơi Bến Thành, và tôi đang thơ thẩn đưa một bạn gái về nhà đường Farinole, nay đổi gọi Đặng Trần Côn.

Nàng là một bô-tê, vì chữ hoa khôi chưa có. Tóc đỏ hoe hoe, ăn nói có duyên, nhà ở hẻm chẹt nầy, chuyên nấu cơm tháng cho mấy thầy, và tôi chịu miệng, đầu tháng tới sẽ cho người xách gào-mên (ngoài kia gọi cầu mền), lãnh phần đem về, nhưng bữa nay phải cho tôi trước xem nhà, sau cho thử bất thình lình một dĩa lập-là cho rõ tài ngự thiện. Hai đứa cặp kè đang đi cà rịch cà tang trên đường Lý Tự Trọng, pháo nổ điếc tai, và trận mưa buổi chiều còn đọng nước... Bỗng Mười nói:

-  Anh S., nước dơ quá, ướt giày tôi hết.

Tôi đang xách tay một gói thịt nguội, vừa mua đùm đề, nào ba-tê nào gà ướp lạnh, thêm một chay sâm banh hiệu Veude Amiot giá chín cắc bạc, mình đang hai tay không rảnh mà “con nầy” làm khó, chê dơ chê bẩn... Tôi vụt đáp: “Lưng đây nè! Lại đây, cõng cho! Mà phải chịu khó xách dùm mấy món nầy!” Tôi nói nãy giờ còn dài quá chớ sự việc xảy ra ngắn xủn! Qua khỏi vũng nước cũ vừa thấy cửa phố của Mười. Tôi đứng thẳng lưng, chờ Tóc Đỏ bước xuống. Nhưng vẫn đánh đeo và ngâm giọng Bạch Vân, Hồng Vân gì gì đó. Ngâm rằng: “Chuối cau năm nải một quày! Mặt mầy không đáng xách giày tao đi!”

-  Con nầy hỗn! Chưa chi nó đã trèo đèo!

Tôi ểnh ngực cho rớt xuống, và miệng hát giáo đầu giọng mở màn: “Nghe đây!”

-  “Lưng vừa vắt L... mầy hăm hở! Tay cầm xúc xích thung thăng!

Chốn chiến trường tớ vẫn nhát gan! Nơi lộ vắng, thay hồ tay bốc!”

Rồi tôi bốc thiệt và bỏ ăn Tết, bỏ chai rượu, bỏ gói thịt, về nhà rửa tay và mang tiếng ngày nay “học giả”, xin đính chánh “giả chớ không thiệt”.

 

V.H.S. (18-12-1992)

 

(Trích từ trang 21, 22 và 23 trong cuốn “Tạp Bút Năm Quí Dậu 1993 – Di Cảo Vương Hồng Sển” do nhà xuất bản Trẻ phát hành năm 2012 tại Sài Gòn – Việt Nam)

 

Hỡi Người Dưới Thế Tình Là Vật Chi - Vũ Thế Thành

 HỠI NGƯỜI DƯỚI THẾ TÌNH LÀ VẬT CHI?

Trong “Thần Điêu Đại Hiệp”, nhân vật Lý Mạc Thu hận tình, trúng độc hoa tình, vừa chạy vào biển lửa ở Tuyệt Tình Cốc, vừa ngâm:

Hỡi người dưới thế tình là vật chi

Hẹn nhau sanh tử cùng đi

Vũ Thế Thành

 


Mấy chục năm trước đó, khi mới độ 16, Lý Mạc Thu cùng tình nhân, Lục Triển Nguyên cưỡi ngựa rong ruổi, thề non hẹn biển. Chuyện trăm năm không thành, Lục Triển Nguyên bội ước, lấy vợ. Lý Mạc Thu sinh hận, biến thù hận thành sự tàn độc, chết chóc. Dù người tình và vợ đã mất, nàng vẫn báo thù, giết hết toàn gia con cháu họ Lục, đầy tớ, heo gà chó cũng không tha. Không chỉ thế, nàng giết người bừa bãi, không cần lý do, gây thù chuốc oán khắp nơi.

Lý Mạc Thu là đệ tử đời thứ ba của phái Cổ Mộ (cùng thế hệ với Tiểu Long Nữ – sư muội của cô). Phái Cổ Mộ do Lâm Triều Anh sáng lập,  thuộc chính phái. Võ công chính là Ngọc Nữ Tâm Kinh, Ngọc Phong Châm, Băng Phách Ngân Châm (ám khí đặc trưng của phái), kiếm pháp nhẹ nhàng, thanh thoát, khắc chế Toàn Chân giáo. Cổ Mộ có quy định khắc nghiệt, đệ tử không được dính vào chuyện ái tình. Khi yêu Lục Triển Nguyên, Lý Mạc Thu vi phạm giới luật nên bị trục xuất khỏi phái.

Không rõ Lý Mạc Thu học Ngũ độc thần chưởng ở đâu (một loại võ công dùng độc dược để luyện chưởng). Võ công Cổ Mộ gốc vẫn còn là kiếm pháp, phất trần, ngân châm, nhưng nàng đã dùng chúng theo cách độc ác, tàn nhẫn, kết hợp độc chưởng, độc dược trở thành tà phái trong mắt giang hồ.

Trước khi ra tay, Lý Mạc Thu thường ngâm bài thơ “Hỡi người dưới thế tình là vật chi, hẹn nhau sanh tử cùng đi” như là dấu hiệu của sự tàn sát sắp đến.

Ban đầu tôi đọc bài thơ trên, tưởng là của Kim Dung. Sau này mới biết- Không phải. Đó là hai câu mở đầu bài từ “Nhạn khâu” của Nguyên Hiếu Vấn, thời Kim mạt.

Nguồn gốc bài từ thế này: Nguyên Hiếu Vấn trên đường đi thi, gặp người thợ săn bắt được một con nhạn, giết nó. Con nhạn còn lại thoát lưới kêu bi ai không chịu bay đi, cuối cùng lao đầu xuống đất tự vẫn theo bạn tình. Nguyên Hiếu Vấn mua lại xác đôi chim nhạn, chôn bên sông Phần Thủy, gọi là Nhạn Khâu (mồ chim nhạn). Cảm xúc trước cái chết của đôi chim, ông sáng tác bài từ nổi tiếng “Nhạn Khâu”.

Hai câu thơ mà tôi trích dẫn ở trên, là hai câu đầu trong bài từ “Nhạn Khâu”. Bài này khá dài, trong “Thần Điêu đại hiệp in trước 75, được dịch thoát, có vần điệu, nên dễ nhớ, nhưng tôi chỉ nhớ được hai câu. Gần 60 năm rồi còn gì.

Toàn bài từ đúng là giọng điệu tha thiết buồn bã! Dưới đây bài từ Nhạn Khâu, được Lê Vĩnh Húy dịch nghĩa từ chữ Hán:

Hỏi thế gian tình là giống gì

Mà làm cho sống chết khôn nguôi?

Trời nam đất bắc, đôi lứa sát cánh cùng bay,

Đã chia nhau bao mùa ấm lạnh.

Càng vui sum họp càng sầu chia phôi

Mối si tình đó biết tìm đâu trên đời này?

Mịt mù tăm suốt vạn trùng mây cao tuyết cả

Cánh chim lẻ biết về đâu.

Bờ sông Phần năm xưa rộn rã tiếng trống tiếng tiêu

Nay thành đám cỏ gai tịch mịch. 

Bạn tình đã chết

Khúc Chiêu hồn nào giúp được gì

Hãy nghe kìa tiếng quỷ núi khóc trong mưa xiết bao sầu thảm.

Khối tình chung làm trời cũng động lòng.

Bọn yến oanh rồi cũng thành đất vàng ngui ngút.

Mối sầu này rồi sẽ truyền mãi

Để tao nhân mặc khách muôn đời sau tới khóc thương bên nấm mộ

Còn “Lý Mạc Sầu” hay “Lý Mạc Thu” thì Lê Vĩnh Húy đã giải thích: Trong bản gốc, trước và sau nhuận sắc vẫn là chữ Sầu, không hiểu sao các dịch giả trước 75 lại phiên âm thành Mạc Thu. Thậm chí Húy còn giải thích – Mạc Sầu nghĩa là “đừng buồn”. Không còn tranh cãi “Thu” hay “Sầu” đúng sai gì nữa.

Chỉ có tôi là còn vấn vương “âm thanh dĩ vãng” nên vẫn ngoan cố gọi là Lý Mạc Thu. Các bạn trẻ đọc bản dịch nhuận sắc cũng nên hỷ xả cho.  Dù sao, đó cũng là ký ức văn hóa của một thế hệ đọc feuilleton, trong đó âm thanh, dù là phiên âm, cũng là một phần của ký ức.

Chưa hết, Lê Vĩnh Húy tự nhiên thòng thêm một câu để giải thích hận tình máu lửa của Lý Mạc Thu: “Kim Dung không hề cho biết Lý Mạc Sầu có thất thân với Lục Triển Nguyên không”. Rõ ràng y không nhét chữ vào miệng Kim Dung, nhưng lại nhét ý tưởng mây mưa, tiền dâm vào đầu độc giả. Tên Húy này đúng là bẩm sinh có máu… cuồng khẩu.

Hận tình, rồi hành xử cực đoan, với bàn tay nhuốm máu của Lý Mạc Thu làm tôi liên tưởng đến một hận tình khác, cũng ở trong Thần Điêu Đại Hiệp, cũng hành xử cực đoan, không nhuốm máu, nhưng lại tự hành hạ chính mình. Đó là Lâm Triều Anh, sư tổ của Lý Mạc Thu.

Lâm Triều Anh yêu Vương Trùng Dương sâu đậm từ thời trẻ. Khi ông còn là anh hùng chống Kim, hai người đã nhiều lần thư từ tâm sự với nhau, “tình trong như đã mặt ngoài còn e”, cả hai chưa hề thổ lộ tình cảm với nhau. Bà mong chờ hai người sẽ nên duyên khi đại nghiệp thành công.

Nhưng cuộc kháng chiến chống Kim ngày càng bất lợi, Vương Trùng Dương u uất trước thời cuộc, lui về núi Chung Nam, xây mộ sống (Hoạt Tử Nhân Mộ) trên núi Chung Nam để tu luyện, truyền bá tư tưởng, không để chuyện riêng tư xen vào.

Không đi được tới hôn nhân như mong đợi, Lâm Triều Anh – từ yêu đến hận – nhiều lần đến núi Chung Nam đòi tỉ thí với Vương Trùng Dương. Cả hai bất phân thắng bại. Bà biết thừa là ông nhường nhịn, nên nghĩ ông coi thường mình. Lần tỉ đấu cuối, bà ra điều kiện:

Nếu Vương Trùng Dương thua, ông phải:

  • Nhường Hoạt tử nhân mộ cho bà.
  • Xuất gia, tu theo đạo nào cũng được (chi mà ghen ác ôn dữ vậy nè!)
  • Chưa hết, ông phải lập đạo quán xuất gia ở núi Chung Nam, gần cổ mộ (ghen tuyệt tự kiểu này thì người hùng VTD coi như hết léng phéng)

Nếu Lâm Triều Anh thua, bà sẽ tự sát trước mặt ông (Con bà nó! Có cho châu báu, cha nội VTD cũng không dám thắng).

Lần này không tỉ đấu võ công nữa, mà thi nội lực, dùng ngón tay viết chữ trên đá (là điều không thể). Vậy mà bà thắng. Dĩ nhiên bà dùng thủ thuật, một tay sờ vào bia đá (bôi hóa chất làm mềm đá), tay kia “khắc” nguyên bài thơ trên đá.

Vương Trùng Dương là thiên hạ đệ nhất võ công thời đó, kể cả nội lực, biết thừa mánh khóe của bà, nhưng không dám hó hé. Đành ríu rít dọn đồ ra khỏi Cổ mộ, và xây cung Trùng Dương gần đó để tu hành, lập ra Toàn Chơn giáo phái.

Lâm Triều Anh dọn về Hoạt Tử Nhân, lập ra Cổ Mộ phái. Cũng ở mặt cực đoan khác, bà lại lập ra môn quy, môn đệ không được lấy chồng, không được dính líu vào tình ái. Bà chỉ có một môn đệ duy nhất, và cũng là a hoàn theo hầu bà. A Hoàn này sau thu nhận hai môn đệ là Lý Mạc Thu và Tiểu Long Nữ. Lý Mạc Thu, như đã nói bị trục xuất vì dính tới ái tình. Còn Tiểu Long Nữ thì sau này “phá giới” lấy Dương Qua. Mối tình “vòng tay học trò” này tuyệt đẹp và táo bạo với luân lý xã hội thời đó. Tôi sẽ nói vào dịp khác, không bàn ở đây.

Trở lại với mối tình hận của sư tổ, đồ tôn của nhà Cổ Mộ. Cả hai đều là phụ nữ thông minh. Cả hai đều thất tình vì không thể nên duyên vợ chồng như mong đợi. Một bên vì nghĩa lớn, bên kia vì thay lòng, nhưng cả hai đều đối diện với cách ứng xử cực đoan.

Nếu Lý Mạc Thu biến tình hận thành tàn ác, không kiểm soát được, lan tỏa thành ác nghiệp giang hồ, để sau cùng chết vì độc hoa tình, chết trong biển lửa tại Tuyệt Tình Cốc, mà vẫn chưa ngộ ra “tuyệt tình”. Nàng chết vì biển lửa, hay chết vì lửa tình?

Còn Lâm Triều Anh, chỉ vì lòng kiêu hãnh, háo thắng, đã không nhận ra chuyện đời đa dạng và phức tạp, không hiểu được nỗi lòng người mình yêu, để rồi dẫn đến ngộ nhận với những ứng xử cực đoan, cố chấp. Bà không chấp nhận thất bại, cả trong võ công lẫn tình cảm. Bà bắt ông phải xuất gia, ở đâu đó quanh bà, nhưng ông thanh thản với đời sống tu đạo. Còn bà cũng gần như đi tu, không giết ai, nhưng lại tự giam mình trong Cổ Mộ, chuyên nghiên cứu võ công để khắc chế Toàn Chơn phái. Rồi để tình yêu hóa thành cô độc lạnh lẽo, tự hành hạ nỗi đau của mình.

Tất cả cũng chỉ vì hận tình. Nếu Lý Mạc Thu hướng nỗi đau ra ngoài và thiêu đốt thiên hạ, thì Lâm Triều Anh lại hướng nó vào trong và thiêu đốt chính mình. Tình yêu không làm con người trở nên cực đoan, nhưng chính cách con người giải quyết nỗi đau mới tạo ra bi kịch.

Tình yêu đúng là nhức đầu thiệt. Viết tới đây, tôi cũng phải thở dài:

Hỡi người dưới thế tình là vật chi

Hẹn nhau sanh tử cùng đi…

Vũ Thế Thành