Monday, July 27, 2026

Lá Đọng Sương Đêm - Thuyên Huy

 Lá Đọng Sương Đêm




Chị Tôi - Nguyễn Thị Thu Huệ

 

Chị Tôi


    Tôi luôn nghĩ mình là đứa trẻ bất hạnh. Nhà nghèo nên việc học hành của tôi vất vả lắm. Mười một tuổi phải xuóng Hải Phòng ở nhà cậu để vừa học vừa làm thêm. Vài năm sau, về nhà, bố mẹ lục đục. Nhà cửa tan hoang, tôi hỏi: "Chị đâu?". Mẹ cười như mếu: "Vào Sài Gòn theo bác trưởng". Tôi nhìn lên tường, chị cười tươi sau vành nón, hai mắt lóng lánh nước.
    Hai năm sau trốn học, tôi về. Nhà cửa tươm tất. Tôi hỏi mẹ: "Chị đâu?". Mẹ chúm chím: "Chị làm to lắm, lấy chồng giàu gửi tiền thường xuyên". Tôi hỏi: "Cả tiền nuôi con học ?". Mẹ gật, rồi nói: "Chị bảo đàn bà có thể không cần học chữ nhiều, chỉ cần học lễ thôi. Nhưng đàn ông thì cần có học. Có cả hai thứ ấy mới thành người". Tôi im lặng, thầm cảm ơn bố mẹ sinh ra chị. Mẹ lại bảo: "Nghe nói con uống rượu?". Tôi gật: "Cả nghiện thuốc ?". Tôi lại gật. "Có đánh nhau không?". Tôi thở dài nhìn chỗ khác. Và mẹ thì thầm: "Đừng yêu vội, con gái tỉnh không thật đâu". Tôi cười: "Cái đó còn phải xem đã. Đàn ông lại xa nhà mà mẹ". Lúc đi mẹ dúi tiền vào túi, với theo: "Những cái con thích, chị không thích đâu. Chị muốn con là sáng danh nhà mình".
    Tôi bớt hút thuóc bỏ dần rượu mỗi chiều mỗi sáng. Suy cho cùng rượu chỉ làm quên nỗi buồn trong chốc lát. Sau cơn say là cảm giác nhạt thếch, khát thèm một cái gì không rõ rệt. Còn đáng sợ hơn cả nỗi buồn lúc tỉnh. Tôi vào đại học , vẫn không gặp chị. Chị vừa gần gũi vừa xa xôi. hàng chục năm rồi còn gì.
Tôi đỗ loại ưu, được giữ lại trường làm giảng viên. Bố mẹ già dần không còn lục đục nữa. Hình như học mệt. Tôi nhắc lại chuyện xưa, mẹ cười: "Với mẹ, bây giờ cuộc sống là quý nhất".
Mẹ đánh điện: "Về ngay, bác trưởng mất".
    Tôi về. Hôm sau, cả nhà lên tàu vào Nam. Bố mẹ thương bác và nghĩ đến phận già của mình. Tôi cũng thương bác nhưng nhớ chị nhiều hơn. Tôi thích gặp chị để chị thấy tôi không làm chị buồn.
    Tàu vào ga. Mẹ nhấp nhổm không yên. Bỗng mẹ kéo giật tôi: "Rụt vào. Có tàu chạy qua phăng đầu đấy". Tôi thì chả thấy con tàu nào cả, mẹ vẫn thất thần, cuống cuồng hoảng loạn vì chuyện gì đó. Tôi đâm nghi ngờ cái sự hốt hoảng của mẹ. Tôi ngó nghiêng. Chẳng có gì đáng chú ý. Chỉ có một người đàn bà, phía bên kia đường ray đăm đăm nhìn chúng tôi. Quần đen, áo bà ba - người đàn bà thật nhỏ bé, nhếch nhác. Dưới chân là mẹt thuốc lá, bên cạnh là cái làn nhựa. bà đứng như bức tượng nghiêm lạnh giữa khung cảnh huyên náo bậc nhất này. Có một đoàn tàu dài chạy qua. Chật người và hàng hoá, chưa rời ga mà đã mệt mỏi quá. Tàu qua, tôi nhìn lại phía ấy. Không còn người đàn bà đó nữa.
Tôi và bố mẹ về nhà bác.




    Dự đám tang xong, hai ngày sau, một mình tôi về Hà Nội, vì công việc, vì không gặp chị. Mọi dự định của tôi với chị tan hết. Mẹ bảo chị cùng chồng đi Đài Loan. Vợ chồng chị không có con nên hay đi lắm.
    Sài Gòn mùa mưa mát và thơm mùi trái cây. Lên tàu sớm, tôi ngồi ngó lung tung. Bất chợt lại thấy người đàn bà đó. Vẫn những hành trang của mình, bà ta trân trối nhìn tôi. Tôi vẫy bà ta lại định mua giúp vài bao thuốc dù tôi đã bỏ từ lâu. Chị không thích tôi nghiện. Hình như bà ta chỉ đợi có thế, vội bước lên những thanh tà vẹt leo lên toa chỗ tôi ngồi. Hai mắt lóng lánh nước, trên khuôn mặt chằng chịt nếp nhăn như sét rạch bầu trời mỗi khi mưa gió. Một bao Vinataba sáu nghìn năm trăm đồng, bà ta cứ dứt khoát lấy bốn nghìn. Tôi chực bực mình và ân hận vì cái thiện chí của mình. Thuốc giả, chỉ có đồ giả mới phá giá chung như thế. Bà ta biết không thể lừa được tôi nên mới bán hạ giá? Tôi quắc mắt ném trả lại bao thuốc. Lập tức, bà ta dúi tất cả vào lòng tôi 5 bao thuốc và chạy biến, lẫn vào đám người lên xuống. Tôi sững sờ, việc gì phải sợ tôi như thế, tôi có tố giác bà ta đâu! Tàu đã chạy. Tôi nhìn ra cửa sổ. Người đàn bà lại đứng chỗ cũ, cách tôi những đường ray chằng chéo.
    Năm ngày sau, mẹ gọi điện: "Chị mất rồi. Tàu hỏa cán". Rồi khóc hu hu trong máy, mẹ tiếp: "Đã hỏa táng". Tôi gào to "Chị Ở Đài Loan cơ mà". Mẹ rên rỉ: "Chị con là cái người bán thuốc lá ở sân ga".
     Tôi lao ra sân trường. Trưa loang nắng, hấp hiu gió. Chạy vào phòng bạn bè, tìm lại những bao thuốc. Thuốc hết, còn vỏ không, tôi ôm vào lòng bật khóc.
    Tôi hiểu, đấy là những thứ cuối cùng chị dành cho tôi.

Nguyễn Thị Thu Huệ

Thu Mênh Mông - Phạm Khánh Vũ

 Thu Mênh Mông














Tháng chín mưa dầm trên mái ngói
Người ra đi chia nửa trời sầu
Chẳng lẽ như chim lười biếng hót
Mà người thì thôi đã quên nhau

Tôi về nghe thu rơi với mộng
Nắng vàng hiu hắt ngủ bên hiên
Ngẩn ngơ lá rụng trong hồn mỏng
Nụ cười thơm ngát giấc man thiên

Hay đã xa rồi mưa dưới gót
Con đường tình tự cỏ cây vàng
Tháng chín tôi về hoa lá khóc
Nhớ người nước mắt nhỏ mênh mang

Hái nụ tình hồng nghe rất lạ
Thương áo người xanh buổi tiễn đưa
Tay đan đứng dưới chùm lá nõn
Mới biết yêu nhau thế cũng vừa

Người đi mùa dâu vàng năm ngoái
Nên có khi buồn như hôm nay
Một mình nghe cả mùa thu tới
Đôi mắt tình không cứ thở dài

Tháng chín tôi về xa như gió
Chút lòng cuồng ngã giữa chiêm bao
Nhớ áo xanh ngày xưa quá đỗi
Ngoài  trời mưa gõ nhịp mưa mau

Tháng chín vàng đôi tay ngưỡng vọng
Ôi khóm tường vi đứng ngậm ngùi
Người đi thuở ấy không còn nhớ
Mưa hồng rơi xuống xót xa tôi.

Phạm Khánh Vũ
(trích tuần báo Tuổi Ngọc)

Cây Độc - Nguyên Thảo

 

CÂY ĐỘC [không trái; gái độc không con]

Nguyên Thảo

 


Lần nào tôi về Huế, người đón đầu tiên cũng là O. Người đứng tiễn sau cùng, khi xe đã lăn bánh ra khỏi ngõ, cũng là O. Như một cái hẹn không ai nói ra, bao năm rồi chưa từng trật.

O là con ông nội thúc, ở lại giữ nhà từ đường họ Kim Hoàn làng Kế Môn. Làng nhỏ nép bên sông Bồ, năm nào đến 27 tháng 2 âm lịch là khói hương lại quyện vào tiếng đục, tiếng chạm. Ngày giỗ tổ, ai đi xa mấy cũng ráng về, thắp một nén nhang rồi lại vội đi. Chỉ có O là ở lại.

Trong họ ai cũng kể, hồi con gái O đẹp nhất nhì Kế Môn. Da trắng như bông bưởi đầu mùa, tóc đen quá lưng, cười một cái là mấy anh thợ bạc đánh rơi cả cây dũa. Mười tám tuổi O lấy chồng, gả qua bên kia phá Tam Giang. Ba năm sau, người ta trả O về. Chỉ một câu gọn lỏn:

“Cây độc không trái, gái độc không con”.

O ôm gói áo cũ, lội qua phá mà về. Rồi ở vậy luôn.

Căn nhà từ đường ấy không phải của O, nhưng O giữ. Sân rộng mà lá rụng nhiều. Ngày nào cũng nghe tiếng chổi tre O quét sân, xào xạc như tiếng thở dài. Bàn thờ tổ lúc nào tro cũng còn ấm. O nói: lửa ni phải giữ, lửa tắt là họ tàn.

Ngày giỗ tổ, sân đông không thể tả. Người từ bốn phương đổ về, trong nước ngoài nước, áo quần tươm tất. tiếng cười nói rộn như phiên chợ Tết.

O đứng nép bên cây cột, cười hiền. Ai O cũng nhớ, đứa nào đậu đại học, đứa nào ly dị, đứa nào giàu to, đứa nào vỡ nợ... Vậy mà không ai hỏi O sống ra răng.

Giổ xong, mọi người lại lần lượt ra về, sân từ đường vắng hoe. O lại lẳng lặng ra khép cổng. Một mình.

Có đêm trở trời đau lưng, O nằm nghe mưa Huế gõ trên mái ngói âm dương, dầm dề. O đưa tay sờ bụng mình, bụng phẳng, lạnh ngắt. Hồi trẻ O thèm một tiếng kêu mạ đến phát điên, thấy con nít là phải quay mặt đi, sợ nhìn lâu rồi hóa ác. Rồi giờ O hết thèm. Hay O tưởng mình đã hết thèm.

O không nuôi con. O nuôi thứ khác. O nuôi căn nhà từ đường, nuôi ngọn đèn dầu không để tắt, nuôi mấy chậu kim tiền ngoài sân xanh quanh năm mà chẳng trổ hoa.

Người ta bảo cây không trái là cây độc. O nghe rồi chỉ cười:

Đàn bà không con ngày xưa họ cũng kêu rứa.

Mà O nghĩ: Cây không trái thì cho bóng mát. Không con thì giữ nòi. Mỗi người một kiểu nối dõi chứ.

O tiễn tôi ra xe. Gió sông Bồ thốc lên, ngọn đèn trong nhà từ đường chao một cái. O lật đật chạy vào châm thêm dầu.

Bóng O in lên vách, một mình, dài và mỏng

Xe lăn bánh. Tôi ngoái lại nhìn, cái bóng cây độc ấy cứ xa dần, xa dần…

Cỏ

(trích từ FB Nguyên Thảo)

304Đen – Llttm – MT68

Saturday, July 25, 2026

Tình Hồng Tình Hờ - Ngọc Ánh & Phù Vân - Cang Nguyễn Cảm Tác

 Thơ NGỌC ÁNH

Bài cảm tác thơ CANG NGUYỄN (Phù Vân)

 

















TÌNH HỒNG, TÌNH HỜ…

 

 Tình ta như điệp khúc buồn

Mà trong mỗi nốt là muôn não nề

Đường tình mấy đoạn sơn khê

Có ai hiểu nỗi ê chề tình rơi

Người về chưa ấm bờ môi

Thì gian dối đã ngăn đời quạnh hiu

Bởi tình giữa chốn cô liêu

Từng đêm thổn thức ôm nhiều đắng cay

Vì sao tình chẳng kéo dài

Vì câu cơm áo, mà không quay về

Đi ngoài mấy dậm sơn khê

Đường xưa lối cũ không về cùng em

Bây giờ cuộc sống lênh đênh

Nhớ chăng những lúc êm đềm bên tôi

Chiều chiều nghe điệu đàn côi

Đêm đêm nhạn réo hồn thôi rã rời

Từ ngày rời bỏ nụ hôn

Đời anh tan nát trong ngôi nhà người

Đâu ngờ tình đó không tươi

Còn mong chi nữa nụ cười trăm năm

Dù trăm năm đến ngàn năm

Lìa xa mái ấm khóc thầm về sau

Thời gian rồi cũng qua mau

Thoáng qua mà đã bạc màu tóc xưa

Trời còn mây là còn mưa

Thả mồi bắt bóng là chưa hiểu đời

Ở đời đâu dễ có nơi

Cơm no bò cỡi mà mời anh vô!

Còn bao lâu nữa xuống mồ?

Tìm chi những mối tình hờ viễn vông

 

Ngọc Ánh Nguoideplongyen

23/07/2024

 

Bài của Tg CANG NGUYỄN

 

PHÙ VÂN

 

Đưa tay vuốt sợi tóc buồn

Nghe đời hư ảo mưa tuôn não nề

Người đi qua ải sơn khê

Tâm tư rớt xuống bên lề lá rơi

Người về nghe mặn bờ môi

Đêm nghe dế khóc một trời quạnh hiu

Dừng chân trên bến cô liêu

Bên cầu ly biệt rừng chiều đắng cay

Chợt nghe có tiếng thở dài

Cầu Hiền Lương gãy còn ai đưa về

Dưới sông cá quãy trong khe

Rừng thưa lá đổ não nề thần kinh

Thuyền ai sông nước lênh đênh

Có nghe tiếng gọi bình minh sáng rồi

Chiều tàn tiếng vạc đơn côi

Đêm nghe tâm sự tả tơi tím hồn

Mưa chiều rớt nhẹ cô thôn

Mục đồng uể oải trống dồn xa xa

Bóng ai dưới ánh trăng tà

Có nghe tiếng khóc thiêt tha não nề

Người đi bỏ lại câu thề

Bỏ bờ sông lỡ cơn mê gọi thầm.

 

Nguyễn Cang (Jul. 21, 2024)

 

Wednesday, July 22, 2026

Buổi Sáng Phố Đầu Đông - Nguyễn Đạm Luân

 Buổi Sáng Phố Đầu Đông

 















Người đi rồi

Phố ở lại

Mùa đông về từ hôm qua

Cũng mùa đông năm ngoái

Hàng cây bên đường sương

vẫn khẳng khiu cành lá

Trời chừng như đang giữa thu

Ngàn cánh bướm khoe màu áo cánh len

Đua nhau tìm chút nắng trải ngập bóng sương mờ

Đèn vàng vỏ chưa vội tắt

Quán liêu xiêu cuối phố mơ hồ ai đang hát

Bài tình lỡ

Buồn cho đoạn kết vở tuồng đời

Anh ở lại cũng buổi sáng mùa đông như năm ngoái

Người vội vã bỏ đi

Không một tiếng chào

Chuyến xe nghèo con ngựa cũng biết đau

Bác đánh xe già chưa tỉnh ngủ

Anh thẩn thờ đi qua góc phố cũ

Chuông nhà thờ giờ này vừa đổ

Anh chấp tay lạy Chúa

Dù là người ngoại đạo

Hôm ngõ về người trước anh sau

Anh chớm biết tình đầu

Người đi quên mối tình đầu của anh ngày đó

Gác chuông nhà thờ con chim sâu nằm giấu mõ

Cánh nhỏ mềm gầy ướt sủng sương đêm đông

Bến xe trống không

Phố lạnh lòng

Sương rớt trên vai

Lê bước đi anh bỏ phố

Bên sông anh đứng chờ

Chờ nước sông lên thả sóng xô mối tình đầu xuôi chiều ra biển

Có tiếng khách gọi xe trên bến

Có tiếng con ngựa thở dài

Nhìn lại phố buổi sáng đầu đông

Bất chợt anh khóc

 

Nguyễn Đạm Luân

Một buổi sáng đầu đông của xứ người 2026

 

 

Chữ Nghĩa Giết Người - Vũ Thế Thành

 

Chữ nghĩa Giết Người

Đầu đời Thanh, vào thế kỷ 17 có vụ án văn tự khét tiếng. Câu chuyện như sau:

Vũ Thế Thành

 


Trang Đình Long mua lại bản thảo lịch sử về  triều đại nhà Minh. Tác giả từng là quan dưới triều Minh. Khi Long mua bản thảo thì sách vẫn chưa hoàn thành, nên họ Trang thuê nhiều danh sĩ bổ túc thêm, cho đến vị vua cuối cùng nhà Minh. Khi hoàn thành thì Trang Đình Long mất. Gia đình tiếp tục cho khắc in và phát hành, như một chút lòng nhớ về triều đại Minh vừa tiêu vong.

Bộ Minh sử này viết từ cuối đời Minh, và bổ sung vào đầu đời Thanh nên “quen miệng”  sử dụng một số từ “tế nhị” như gọi người Mãn Châu là Kiến Di (rợ Kiến Châu), gọi tướng nhà Minh hàng Thanh là bọn phản nghịch. Viên quan huyện Ngô Chí Vinh bèn đem kẽ hở này tống tiền nhà họ Trang. Chuyện không thành, Ngô tố giác về kinh. Vụ án đến tai phụ chính Ngao Bái. Ông này hạ lệnh triệt hạ tận gốc để răn đe giới nho sĩ người Hán.

Hệ quả là gia đình họ Trang bị lăng trì, nhưng người liên quan đến viết bổ sung, hiệu đính, biên tập, thợ khắc chữ, người in ấn, phát hành,.. đều bị chém đầu. Tổng cộng hơn 70 người bị xử tử. Trong chương mở đầu của Lộc đỉnh ký, Kim Dung đã tái hiện lại thảm án văn tự này, gần khớp với lịch sử. Dĩ nhiên cũng có một chút hư cấu.

Còn ở ta có vụ án văn tự nào không? Có chứ. Đó là vụ án bắt nguồn từ bài thơ của Nguyễn Văn Thuyên, con trai đầu lòng của Nguyễn Văn Thành, là bậc khai quốc công thành thời Vua Gia Long.

Thuyên là nho sĩ, tính tình phóng khoáng, thích giao du với các danh sĩ. Thuyên nghe nói ở Thanh Hóa có hai sĩ phu nổi tiếng hay chữ, bèn làm bài thơ, nhờ  gửi cho hai danh sĩ này để kết giao. Bài thơ chưa tới tay người nhận thì đã lọt vào tay của kẻ hiềm thù với Nguyễn Văn Thành (khi đó đang là Tổng trấn Bắc thành). Thuyên bị bắt và bị xử chém. Nguyễn Văn Thành bị vua Gia Long đối xử lạnh nhạt, không cho vào chầu. Hiểu ý vua, Nguyễn Văn Thành tự vẫn.

Bài thơ của Thuyên viết gì lại vướng vào vụ án văn tự? Họa sát thân nằm ở hai câu thơ cuối:

 “Thử hồi nhược đắc sơn trung tế, Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky”

(Lần này nếu gặp được tể tướng chốn núi rừng, sẽ giúp ta trổ tài kinh luân xoay chuyển cơ trời).

Chẳng ai lạ gì mấy ông thi sĩ đời xưa làm thơ là bốc mọi thứ lên trời, dời non lắp biển, xoay chuyển Trời đất là chuyện bình thường. Nhưng “quan xử án” đã suy diễn (chủ quan), đây là ý đồ mưu phản mới đòi xoay chuyển cơ Trời.

Số của bậc khai quốc công thần, Nguyễn Văn Thành phải chết trước vua. Bài thơ chỉ là nguyên nhân gần, còn nguyên nhân xa thì ai chịu đợc lịch sử cũng biết.

Đó là hai vụ án văn tự tạm gọi là tiêu biểu từ Tàu sang ta. Thế ở ta còn án văn tự nào nữa không? Còn nhiều lắm chứ.

Mà thôi không nói nữa. Chữ nghĩa nuôi người, cũng có thể giết người.

Vũ Thế Thành

304Đen – Llttm - sgtc