Đầu Xuân Vắng Người Năm Ngoái
Thursday, February 19, 2026
Chú Tiểu Nhỏ - Biển Chết
Chú Tiểu Nhỏ
I
Trong
Thập niên 1960, đường Sài Gòn - Vũng Tàu qua khỏi căn cứ Long bình là rừng già
và rừng cao su trùng điệp, đứng tại Thị trấn Long Thành ta đã thấy ẩn hiện xa
xa là rặng núi chạy dài qua Bà Rịa đến Long Hải trong dó có ngọn núi Thị Vải;
Ngày đó những xe đò liên Tỉnh đều là loại xe nhỏ mang nhãn hiệu Renault mà đầu
xe giống như con heo (nên dân chúng thường hay gọi là xe con heo).
Hôm ấy, chuyến xe đò Biên Hòa - Bà Rịa khi chạy đến cách Phước Lễ khoảng 8 cây
số, nó dừng lại cho một nhóm người xuống, khung cảnh nơi đây thật yên tĩnh và
âm u, bên phải là cánh đồng lúa chạy dài mút mắt, bên trái là rừng trùng trùng
điệp điệp, cạnh bên đường có ngôi Tịnh Xá nhỏ nằm khuất trong khu vườn cây ăn
trái và có một dòng suối nhỏ chạy ngang, ở đây cũng có một con đường đất cát dẫn
vào chân núi.
Trên xe bước xuống là 9 người đủ mọi lứa tuổi, họ mặc quần áo nâu sồng, trên
vai từng người đều có một tay nải đựng quần áo, họ là những người Tu hành đang
trên đường trở về núi.
Đi đầu là một nhà Sư tuổi trạc trung niên, dáng người cao lớn, uy nghi và nét mặt
thần hiền từ, ông hướng dẫn mọi người ghé vào Tịnh Xá nghỉ chân, đoàn người sắp
hàng một theo sau nhà Sư trung niên, trong tám người còn lại thuộc mọi lứa tuổi
nhưng đáng chú ý nhất là một Chú Tiểu tuổi trạc lên 9, với bộ nâu sồng còn mới
may hơi rộng, trông chú như đang bơi trong bộ quần áo ấy, nhưng cái đáng chú ý
nhất là chú là người nhỏ tuổi nhất trong Đoàn, trên cái đầu cạo trọc nhưng vẫn
còn chừa lại ba mỏm gía phía trước và hai bên trên vành tai, chú có nước da thật
trắng, đôi mắt ngơ ngác thơ ngây dưới làn lông mày cong như lá liễu, chiếc mũi
xinh xắn và đôi môi đỏ thắm như con gái nằm bên trên chiếc cằm chẻ, có lẽ đây
là lần đầu chú đặt chân đến đây cho nên thấy chú ngơ ngác trông đến tội nghiệp.
Đoàn người sau khi nghỉ ngơi, rửa mặt mũi dưới con suối cạnh Tịnh Xá lại vội vã
lên đường vì đường vào đến chân núi còn xa (khoảng 10 cây số). Dẫn đầu đoàn vẫn
là vị Sư trung niên và người đi sau cùng vẫn là chú tiểu nhỏ, với chiếc tay nải
mang trên vai và những bước chân trần nhỏ bé in trên đất cát khiến người ta có
cảm tưởng như một con bướm nâu bé nhỏ mới vừa chập chững biết bay.
Đôi mắt chú nhìn hai bên đường mòn toàn rừng là rừng với những thân cây cao vút
hay những bụi rậm đan lại từng chùm, thỉnh thoảng trên đường đi cũng có một vài
vạt rẫy của người dân hoặc của những nhà Tu ở ẩn, lâu lâu một dòng suối chảy cắt
ngang đường hoặc chạy song song với đường mòn một đoạn rồi lại biến mất vào rừng
sâu, tiếng chim chóc đủ loại ríu rít hót trên cành, đôi chân trần chú vẫn bước
đều trên đất cát theo đoàn người phía trước; Tuy nhiên với lứa tuổi lên 9 của
chú, với đoạn đường xa, với cái tay nải trên vai đã bắt đầu nặng dần theo từng
đoạn đường và theo thời gian trôi chầm chậm, mồ hôi ướt đẫm cả lưng dán chặt
chiếc áo nâu vào lưng chú, chú vẫn cố gắng bước đều về phía trước mặc dù chú đã
bị đoàn người đi trước bỏ lại khá xa, đôi mắt chú vẫn long lanh và trong cái nắng
buổi trưa hè hai má chú bây giờ ửng hồng như cô gái mới dồi phấn.
Khoảng xế chiều đoàn người đến gần chân núi, thấp thoáng từ xa trong đám cây rừng
chú đã thấy ẩn hiện mái ngói cong của một ngôi Chùa, lòng chú vui mừng vội bước
nhanh tới, trên cổng ngôi Chùa hiện lên bốn chữ "Linh Sơn Cổ Tự",
nhưng đây chỉ là ngôi Chùa dưới chân núi thôi, vị Sư trung niên cho phép mọi
người ngồi lại nghỉ dưỡng sức trước khi qua chặng đường thứ hai là leo núi.
Đường càng lên cao càng dốc, có những chỗ có những bậc tam cấp để đi nhưng đa
phần là phải đi theo những đường mòn dốc đứng, có khi phải trèo qua nhửng tảng
đá nhô ra từ triền núi, gió rừng lay động, càng lên cao khí hậu càng mát mẻ, nhất
là bây giờ khung cảnh đã về chiều, càng đi lên cao lòng chú càng thấy lâng lâng
thoát tục, nhìn về bên dưới chú thấy rừng là rừng trải dài đến cuối chân trời
và trên không những đám mây trắng lững lờ trôi giăng mắc trên những ngọn cây cổ
thụ.
Mặt trời đã lặn sau dãy núi, bóng tối cũng từ từ buông phủ dần cảnh vật, trên
không vang vọng tiếng chuông ngân và đoàn người cũng vừa đến ngôi Chùa chính được
xây dựng bên lưng chừng núi, trong ánh sáng nhập nhòe còn xót lại, chú thấy
hình tượng Ông Tiêu với chiếc lưỡi dài màu đỏ đứng trấn trước con đường dẫn vào
Chùa và trong khung cảnh ngôi Chùa thật to lớn đang từ từ chìm dần vào bóng tối.
Theo đoàn người vào hậu liêu cất chiếc tay nải, chú được đưa ra suối tắm rửa
trước khi ăn cơm tối, bữa cơm tối thanh đạm là cháo trộn khoai mì xắt lát ăn với
củ cải mặn và muối tiêu, vì sau một ngày đi đường mệt nhọc chú ăn thật ngon và
trong đêm đó lần đầu tiên chú ngủ giữa núi rừng cùng tiếng Cọp gầm, Vượn hú đưa
chú vào giấc ngủ.
II
Tiếng
chuông công phu buổi sáng đánh thức chú tiểu nhỏ thức dậy, sau khi làm vệ sinh
cá nhân, chú theo đoàn người tiến vào Đại Hùng Bảo Điện, dưới ánh sáng của những
ngọn đèn dầu và đèn nến lung linh theo từng cơn gió, chú thấy Chính điện thật
là hùng vĩ với những hảng cột to bằng người ôm được chạm chỗ rồng phụng và đánh
bóng láng, trên các trính kèo là các khuôn hình với những hàng chữ nho đắp nổi ẩn
hiện theo từng ánh sáng chập chờn và trên Tòa Sen Đức Phật Tổ Như Lai trong ánh
mắt hiền từ và trên môi Ngài nở nụ cười như đang mỉm cười với chú.
Sau khóa tụng niệm là buổi điểm tâm, chú ra sau Chánh Điện vào trai đường, trai
đường là một căn nhà dài nền tráng xi măng, ở đây trên nền xi măng là những mâm
gỗ được sắp dài, trên đó là những thau cháo đang tỏa khói nghi ngút, mọi người
sắp thành hai hàng bên những mâm cháo rồi ngồi xếp bằng xuống đất; Trước khi ăn
tất cả đều phải đọc kinh :
" Cầu cho lễ Cúng dường này
đến với Đức Như Lai
xin Phật chứng minh
Cầu cho lễ Cúng Dường này
đến với Chư Bồ Tát
xin Tam Bảo chứng minh ........"
Bữa ăn sáng cũng là cháo độn với khoai, móm mặn chính là những lá bắp cải đã được
phơi khô xong xắt nhỏ kho lên cùng với một dĩa muối tiêu.
°
° °
Ngôi
Chùa này đã được xây dựng từ bao giờ chú cũng không biết nhưng chú hiểu rằng đã
có biết bao nhiêu công của đã đổ vào đây nên bây giờ ngôi Chùa mới được to lớn
như thế này.
Xin được mô tả một chút về khung cảnh ngôi Chùa : Đứng từ dưới triền núi nhìn
lên dưới một ghềnh đá cao là dãy nhà của các chú tiểu đang tuổi thiếu và thanh
niên (13 - 18 tuổi) đi lên một đoạn là dãy nhà nuôi trẻ (từ mới sanh cho đến 6
- 7 tuổi, đây là các em bé mồ côi hoặc bị cha mẹ bỏ rơi) lên một đoạn nữa bên
trái là nhà khách (dành cho bổn đạo hoặc Phât tử từ khắp nơi khi về núi có chỗ
ngủ qua đêm), bên phải là Chánh điện, bên hông chánh điện (bên phải) là các dãy
phòng của các Sư nữ, phía sau Chánh điện là Trai phòng, sau Trai phòng chạy dài
lên núi là những cóc nhỏ (Tịnh thất) dành cho những người tu luyện riêng hay của
những ngưởi lớn tuổi.
°
° °
Mặt
trời đã bắt đầu mọc, khung cảnh bình minh trên núi thật là hùng tráng, ánh nắng
xuyên qua những khe lá còn đọng hơi sương tạo thành những sắc cầu vồng lấp
lánh, tiếng chim hót véo von trên các cành cây, tiếng hú của các loài vượn vọng
về từ xa và vẳng trong tiếng gió là tiếng róc rách của dòng suối chảy bên hông
Chùa quyện lấy mùi hương trầm hòa vào mùi của núi rừng hoang dã tạo nên một bức
tranh Bồng lai Tiên cảnh mà chú đang lạc vào.
Chú được đưa xuống dãy nhà bên ghềnh đá vì lứa tuổi của chú không còn ấu nhi
nhưng cũng chưa đủ tuổi thiếu niên; Tuy nhiên các Sư sau khi thảo luận đã đưa
chú xuống đây chung sống với các Sư huynh lớn hơn chú, với cái ngơ ngác buổi đầu
chú nhanh chóng được các Sư huynh thương mến.
Ở đây, ngoài phần Giới luật ra, tất cả mọi ngưởi đều cư xử với nhau theo pháp Lục
Hòa và tự giác, cả hàng trăm ngưởi nhưng lúc nào cảnh Chùa cũng yên tịnh, ngoại
trừ những lúc tụng niệm, tiếng kinh hòa với tiếng chuông mõ vang động núi rừng
hoặc thỉnh thoảng vang lên tiếng khóc của trẻ thơ, còn hầu hết đều là im lặng.
Ngoài 4 buổi kinh sáng, trưa, chiều, tối; buổi sáng chú được học về kinh Phật
và Văn hóa, buổi chiều luyện tập võ công để thân thể tráng kiện hầu chống chọi
lại với khí hậu khắc nghiệt cùa núi rừng.
III
Thời
nào cũng vậy, trong hoàn cảnh nào cũng thế, tuổi trẻ là tuổi bồng bột, nghịch
phá, lãng mạn và mơ mộng, mặc dù đây là cảnh tôn nghiên nhưng trong lúc rỗi rảnh
các chú tiểu cũng đùa nghịch, chọc phà gấy không ít những phiền toái cho nguời
lớn.
Non một cây số về bên trái ngôi chùa là một dòng suối có những ghềnh thác cheo
leo hiểm trở, dòng nước đang trôi xuôi gặp những ghềnh đá tạo thành những thác
nước đổ ập xuống gây nên những tiếng vang vang động cả một vùng, nơi đây là chỗ
tụ tập của các chú tiểu nam, họ đến để bơi lội đùa nghịch và có chú cỏn leo lên
các ghềnh đá cao rồi lông nhông nhảy xuống vực sâu của thác nước khiến có chú
đã bị bể đầu, chú tiểu nhỏ cũng được các sư huynh đưa đến đây đùa nghịch ,
chính nơi con suối này chú tiểu nhỏ đã tập bơi lần đầu tiên trong sự hướng dẫn
của các sư huynh và cũng bên con suối này sau này sẽ xảy ra nhiều biến động
trong cuộc đời chú tiểu nhỏ.
Phía sau chùa có một đường mòn dắt qua một triền núi thấp, đi bộ khoảng 2 tiếng
sẽ gặp một con suối nữa, suối này bề ngang rất rộng, chạy quanh co theo các rặng
cây bờ đá nhưng không có những ghềnh thác nên dòng chảy thật hiền hòa và con suối
được đặt tên "Suối Tiên". Con suối này được các chú tiểu nữ chiếm cứ
làm điểm tắm trong nhửng lúc rảnh rỗi; Tuy nhiên các chú tiểu nam cũng thường
hay xâm lấn con suối này vì con suối bên kia chỉ toàn là ghềnh thác không thể tự
do bơi lôi như suối Tiên được, có vài lần khi các chú tiểu nam đến nơi đã bị
bên nữ chiếm cứ trước ỡ khúc suối thật tốt, sau khi thương lượng không kết qủa,
các chú tiểu nam cùng nhau len lỏi lên thượng nguồn và bẻ những cành cây, chà
tre gai thả xuôi dòng suối khiến các chú tiểu nữ không thể tắm được đành bỏ ra
về, lúc đó các chú tiểu nam từ thượng nguồn thả mình trôi xuống và ở đây chú tiểu
nhỏ cũng được vùng vẫy với những bước tập bơi càng ngày càng xa hơn dưới sự che
chở của các sư huynh.
Chung quanh chùa là vườn trái cây đủ loại ra trái theo từng mùa, đây cũng là
nguyên nhân mà các chú tiểu thường hay bị phạt "qùy hương" (nhang) mỗi
khi ăn cắp trái cây trong đó không ngoại trừ chú tiểu nhỏ ví trong 3 loại (dân
gian có câu nhất qủy, nhì ma, thứ ba học trò) thì các chú chiếm hàng thứ ba.
Thời gian cứ thế êm đềm trôi đi, chú tiểu nhỏ sống cuộc đời thanh thản như thế.
IV
Một
buổi trưa hè bốn bề thanh vắng, họa hoẵn mới có vài tiếng chim kêu hoặc tiếng
hú của một con vượn gọi đàn, trên không trung lác đác những đám mây trắng bàng
bạc trôi ngang đỉnh núi, gió rừng cũng im tiếng; Chú tiểu nhỏ bỏ giấc ngủ trưa
một mình thơ thẩn bên bờ suối, chú ngồi trên một mõm đá nhô ra phía mặt nước
ngước nhìn dòng nước trên cao đang thi nhau đổ ập xuống tung lên những bọt nuớc
trắng xóa, chú để tâm hồn mình bay bổng đến những cõi thần tiên trong những
truyện cổ tích mà chú từng đọc, ở nơi đó những nàng tiên có chiếc đũa thần làm
nên những điều kỳ diệu. Đang để hồn đi hoang chú bỗng giật mình, toàn thân chú
lạnh toát và cứng đờ, miệng chú không thốt nên lời, đôi mắt chú trừng trừng
nhìn qua bên kia bờ suối, trên một mõm đá có một con cọp cũng đã ngồi đó từ bao
giờ, thân hình nó to lớn với bộ lông vàng điểm những sọc đen, cái đầu to như một
qủa banh, trong cái miệng rộng là hàm răng nhọn hoắt, đôi mắt nó cũng đang chăm
chăm nhìn chú, bốn mắt ngưởi và thú gặp nhau, chú nhìn nó không nháy mắt, chú
nghĩ từ chỗ chú ngồi đến đó khoảng cách quá gần, chỉ cần một cái đập đuôi là nó
có thể nhảy đến vồ chú được và chú đang là miếng mồi ngon trước mặt nó, bốn mắt
vẫn nhìn nhau; Chú ngồi đó nhìn nó không biết đến bao lâu, chợt nó ngúc ngắc
cái đầu, há miệng ra như ngáp rồi thong thả đứng lên, nó nhìn chú lần cuối rồi
quay đi về hướng thượng nguồn con suối.
Chở một lúc khá lâu, chú định thấn lại rồi vội vàng đứng lên ba chân bốn cẳng
chạy về chùa, về đến nơi chú vẫn còn sợ và vì sợ bị phạt quỳ nhang (hương) nên
chú không dám nói cho ai biết là chú đã gặp cọp.
°
° °
Bẳng
đi một thời gian, hôm đó sau khi cùng các sư huynh đùa nghịch dưới suối, cả bọn
kéo nhau trờ về chùa, đi đến nửa đường chú chợt nhớ đã bỏ quện cái khăn nên
quay trờ lại, chú đang lom khom tìm kiếm bên hốc đá, chợt linh tính cho chú biết
có ai đó đang nhìn mình và chú quay nhìn lại, hai mắt chú chạm vào hai mắt của
con cọp hôm trước đang ngồi trên một mỏm đá nhìn chú, toàn thân chú như bị trời
trồng, chú đứng đó yên lặng nhìn nó và cũng như lần trước, sau một hồi nhìn chú
nó lại ngoảnh cái đầu và hả to họng rồi đứng dậy lững thững tiến vào rừng sâu;
Trong lòng hồn phiêu phách lạc, chú lại vội vã chạy nhanh về chùa, lần này chú
tìm đến vị sư huynh cao tuổi nhất để kể cho huynh biết chuyện chú đã gặp cọp và
kể cho huynh nghe lần gặp trước của chú. Huynh mỉm cười vỗ vai chú và nói :
"ở đây ai cũng biết đệ à! ông cọp (trong chùa ai cũng gọi cọp là ông) đó
đã tu rồi nên rất hiền. Tuy nhiên ít ai được gặp ông lắm, chỉ có những người hữu
duyên mới gặp được ông mà thôi, như vậy đệ là ngưởi có phước lớn đó" Lúc ấy
trong lòng chú cũng nửa tin nửa ngờ, nhưng rồi chú tự nghĩ trong hai lần gặp đó
nếu con cọp có vồ chú thì bây giờ chú đâu còn sống nữa, cho nên từ đó chú an
tâm để mỗi khi rảnh rỗi chú lại lang thang đây đó với những cảnh thần tiên hiện
đến trong đầu.
Tiếng thác nước đổ, tiếng chim kêu, tiếng cành lá xào xạc trong gió, trên một
phiến đá bằng phẳng bên suối có một bóng màu nâu đang nằm, đó là chú tiểu nhỏ;
Cũng như mọi lần, mỗi khi rảnh rỗi chú lại lang thang và hôm nay trên phiến đá
này sau một hồi nằm nghĩ vơ vẩn chú ngủ quên đi trong khung cảnh của núi rừng
và trong giấc mơ chú thấy mình đang bay lên, bay lên ....
"Cà um .m.m.m." tiếng cọp gầm làm chú giật mình tỉnh giấc, vừa mới ngồi
dậy chú đã thấy con cọp to lớn hôm trước đứng cạnh bên, con cọp lớn đến độ chú
ngồi mà đầu chú chỉ đụng vào ngực nó, có nghĩa là nó đang đứng phủ lên người
chú, không còn hồn vía, chú vẫn ngồi im bất động và trong thâm tâm chú nghĩ đến
đây là hết vì chỉ cần một cái vồ nhẹ là chú sẽ đi qua bên kia thế giới, như thấu
hiểu được ý nghĩ của chú, con cọp lùi lại và đưa cái đầu to của nó dụi dụi vào
người chú như con mèo con đang nũng nịu với chủ, hình như nó muốn trấn an chú
cho nên nó cứ đứng đó dụi đầu vào người chú, một lúc thật lâu nó dùng miệng ngậm
vào vạt áo nâu sồng rộng thùng thình của chú để nâng chú đứng dậy, bây giờ chú
đã hoàn hồn trở lại và thấy nó cũng hiền lành nên chú cũng an tâm, chú rụt rè
đưa tay ra xoa nhẹ nhẹ vào ngưởi nó và thấy nó đứng im hai mắt lim dim rồi đột
nhiên nó nằm dài xuống và dùng đầu ngoắc ngoắc về phía sau lưng, chú đang ngơ
ngác không hiểu nó muốn gì thì miệng của nó đã ngậm ngang lưng áo chú và một
cái ngoắc đầu nó đã đưa chú lên ngồi trên lưng nó, chú giật mình vội ôm chầm lấy
cái cổ to lớn của nó, con cọp chậm rãi đứng dậy và với những bước đi nhẹ nhàng
nó men theo lối mòn đi ngược dòng suối lên đỉnh núi.
Khoảng tàn một cây nhang, nó đến bên bờ một dòng suối khác, từ trên cao có một
thác nước đang đổ xuống, nó thong thả lội xuống suối bơi đến một mõm đá nhô lên
giữa dòng suối gần chân thác, đến nơi nó từ từ leo lên mõm đá và sau một tiếng
gầm lớn nó nhún mình phóng qua làn nước bạc, chú tiểu nhỏ vội vàng ôm cứng lấy
cổ nó và nhắm mắt lại, khi mở mắt ra chú đã thấy mỉnh ở sau ngọn thác, thì ra
đây có một hang động rất lớn mà nếu ai không chú ý sẽ không biết được, cũng với
những bước chân uyển chuyển nó cõng chú tiểu nhỏ trên lưng tiến sâu vào hang
núi; Trong ánh sáng mờ mờ chú nhìn thấy trên trần hang có rất nhiều thạch nhủ đủ
màu sắc đang rũ xuống, mỗi thạch nhũ một dáng một vẻ đẹp khác nhau gây ấn tượng
mạnh trong đầu óc chú, có thạch nhủ giống Đức Phật Bà Quan Âm trên tay cầm bình
nước cam lộ tay kia là cành dương liễu, có thạch nhủ giống tượng Đức Phật Di Lạc
với nụ cười toe toét trên môi và cái bụng bự của Ngài, có thạch nhủ trông giống
một cây Thánh Giá có Đức Chúa Zêsu bị đóng đinh chịu nạn ....... cứ thế và cứ
thế, chú hoa cả mắt trong cảnh đẹp lộng lẫy của hang động, càng vào sâu càng tối
dần, con cọp cứ thong thả bước hình như chốn này đã quá quen thuộc đối vơí nó;
Một lúc sau bắt đầu có ánh sáng từ cuối hang rọi tới, rồi sau một khúc quanh là
ánh sáng ùa đến làm chú vội vàng nhắm mắt lại cho khỏi chói, và lần mở mắt này
chú đã thấy mình đang ở trong một thung lũng trong lòng núi, trên cao cũng có một
thác nước đổ xuống một cái hồ và chung quanh thung lũng đủ loại cỏ hoa cây trái
đưa trong không gian một mùi thơm quyến rũ.
Thời gian chầm chậm trôi đi, chú và cọp bây giờ đã trở thành đôi bạn thân, hình
như có một sự linh tính nào đó chú không thể biết được là cứ mỗi lần chú đến
bên bờ suối là đã thấy nó ngồi sẵn ở đó chờ chú và trên cái lưng êm ái nó đưa
chú về lại hang động trên đỉnh núi.
V
Nhưng
rồi thời cuộc đổi thay, chiến tranh càng ngày càng lan rộng, cái yên tĩnh của
ngôi chùa từ từ không còn nữa, có những ngày chú nghe tiếng bom đạn vang vọng về
từ bên kia núi, có những chiều ngồi trên tảng đá lưng chừng núi nhìn xuống xa
xa ngoài con đường dẫn về Bà Rịa là những cột khói bốc lên cùng âm vang những
tiếng súng lớn, súng nhỏ vọng về và đêm đêm trong mịi mù của bóng tối là những
ánh sáng le lói của hỏa châu; Có đêm những bước chân dồn dập của từng đoàn người
dùng con đường của chùa để đi ra sau đỉnh núi, có khi họ tải lương thực, có đêm
tải đạn dược, có đêm họ tải thương với những người bị thương nằm rên rỉ trên những
cái võng, cũng có đêm họ dừng lại tại chùa và bắt ngưởi trong chùa thức dậy nấu
cho họ ăn, cái không khí chiến tranh càng đến gần và hằn lên trong ánh mắt ưu
tư của tất cả những người sống trong chùa.
Rồi chuyện gì đến nó cũng phải đến, vào một đêm không trăng sao, bầu trời nghìn
nghịt mây đen như báo hiệu một cơn bão táp sắp xảy đến, trong đêm đen yên tịnh ấy
bỗng có những tiếng hú xé gió trên bầu trời và rồi từng tiếng nổ long trời lở đất
của hàng trăm trái đạn pháo không biết từ đâu bay đến đổ ập xuống mái chùa,
trong những tiếng nổ chát chúa ấy là những âm thanh rên rỉ, kêu gào hoảng loạn
của hàng trăm người đang sống yên ổn dưới mái chùa, từng cột lửa bốc cao, lẫn
trong gió mùi cháy khét của xác ngưởi quyện với mùi thuốc súng. Ôi! chiến tranh
....
Đêm kinh hoàng trôi qua thật chậm, trong cái hãi hùng của từng con người còn sống
sót, họ đang hy vọng, tất cả đang chờ đợi một tia sáng của bình minh.
Mặt trời đỏ ối chầm chậm nhô lên dưới đường chân trời, bình minh đang trở lại,
mọi người bớt đi cái lo âu đang đè nặng trong lòng họ, và việc đều tiên là kiểm
điểm xem ai còn ai chết, ngôi chùa bây giờ đã tang hoang không còn chỗ để mà
dung thân nữa nên tất cả được lịnh thu dọn hành lý xuống núi, cũng nhờ ơn trên
che chở hay những tảng đá lớn đã chở che mà trong hàng trăm ngưởi có mặt chỉ chết
đi có 7 người mà đa số là các chú tiểu tuổi còn đang xuân.
Trong dòng ngưởi xuôi về trần thế, ngoài 7 xác chết ra không ai tìm thấy chú tiểu
nhỏ đâu cả, có người đoán trong đêm kinh hoàng chú đã quá sợ hãi và trong cơn
hoảng loạn đó đã một thân một mình chạy xuống núi trở về với thế gian.
Nhưng cho đến nay người ta cũng không biết chú tiểu nhỏ đã lạc loài ở phương trời
nào.
viết xong ngày 17/7/2003 tại Houston -
Texas - USA
Viết thêm :
Ngày nay, nếu ai có đi Vũng Tàu gần đến Bà Rỉa hãy nhìn về bên trái sẽ thấy cỏn
7 ngôi mộ nhỏ nằm chơ vơ bên cạnh đường, ngôi Tịnh Xá bây giờ chỉ còn trơ những
cột kèo, vườn trái cấy đã tàn lụi, con suối ngang hông Tịnh Xá cũng đã khô cạn
và bên đường cũng không còn rừng là rừng chập chùng nữa mà ánh mắt có thể nhìn
suốt vào chân nuí, còn trên núi bây giờ cũng không còn màu xanh của lá của những
cây cổ thụ mà năm, bảy ngưởi ôm mới hết vòng vì dãy núi bây giờ đã biến thành
núi trọc trơ những tảng đá màu trắng nhìn từ xa ta cứ ngỡ là những sọ người.
Có Những Niềm Vui Thật Nhỏ Mất Rồi Thấy Tiếc - Vũ Thế Thành
Có những niềm vui thật nhỏ…. Mất rồi,
thấy tiếc!
Tôi chưa từng
được thưởng thức cái thú “trông bánh chưng chờ trời sáng”. Chỉ mãi đến sau này
khi về Đà Lạt, tôi mới biết thế nào là giá trị của “ngồi quanh bếp hồng” trong
cái rét của vùng cao, khi ông hàng xóm cứ đến những ngày cận Tết lại nấu bánh.
Ông không gói bánh chưng, mà là bánh tét chay. Bánh chay để được lâu hơn bánh
nhân thịt.
Vũ Thế
Thành
Ông hàng xóm là dân miền Trung, tha
phương lên Đà Lạt từ thiếu thời. Ông hàng xóm trước đây là thợ hồ xây “biệt điện”
của bà Ngô Đình Nhu.. Có lẽ vì vậy mà ông định cư ở gần “biệt điện” này cho đến
giờ. Bà Nhu thường lên đây xem nhà xây cất thế nào. Ông kể tôi nghe nhiều chuyện
về bà Nhu dưới con mắt của anh thợ hồ, Bà vui vẻ chào, vẫn tay thợ thuyền, chẳng
có gì là hách dịch, kiêu sa ngăn cách, không giống như những gì bọn nhà báo nói
về bà.
Nhà tôi cách “biệt điện” chững 300
mét, thỉnh thoảng tôi vẫn ra đó ngồi café. “Biệt điện” bà Nhu, xin lỗi, chỉ bằng
nhà kho của biệt phủ của các quan thời nay.
Bánh chưng, hay bánh tét, là thứ bánh
ăn chơi (mà no thiệt) mấy ngày Tết, chưng hay tét gì cũng làm bằng nếp, đậu
xanh, thịt ba rọi…. Chỉ có mấy ngày, nhưng dân Việt mình ăn Tết… dai lắm.
Tết nào, ông hàng xóm ở Đà Lạt cũng
biếu tôi hai đòn bánh tét chay, chưng trên bàn thờ. Ông mất cách nay 7 năm. Tôi
không còn dịp ngồi bên nồi bánh tét, nhâm nhi ly rượu, chuyện vãn với ông về Đà
Lạt hồi xưa nữa, từ chuyện ông là thợ hồ xây “biệt điện” cho bà Nhu, cho đến
chuyện ông là hương chức ở đình làng Mỹ Thành…
Đà Lạt năm nay lạnh bất thường. Lạnh
hơn nữa khi không còn “ngồi quanh bếp hồng” nấu bánh tét, với củi thật bự, cháy
liu riu. Có những niềm vui thật nhỏ. Mất rồi, thấy tiếc!
Vũ Thế Thành
304Đen – llttm - sgtc
Câu Chuyện Ngày Xưa - Võ Kỳ Điền
Buổi sáng hôm đó, tôi và người bạn
thân đến nhà cụ Diễn trên một gác nhỏ, trong hẻm đường Hiền Vương. Tôi đang rảnh,
Thâu cũng vậy, hai đứa đi loanh quanh trên đường phố Sài Gòn quen thuộc, đã mỏi
chân nên khi ăn uống xong xuôi, Thâu chợt đề nghị coi bói cho biết tương lai.
Nghe tới tên cụ Diễn là tôi chịu liền, từ lâu hằng nghe đại danh cụ và ước ao
được gặp. Tôi đâu ngờ Thâu lại là chỗ thân tình với cụ và có thể nhờ coi dùm
(mà không phải trả tiền và hình như cụ cũng không lấy tiền của khách, tôi không
biết rõ lắm việc nầy).
Lúc đó tôi còn trẻ lắm, sống ở tỉnh
nhỏ, chuyện hôn nhân cứ trở ngại, trục trặc hoài. Có cái chuyện dễ dàng như vậy
mà làm cũng không xong, cả tỉnh bạn bè nay đứa nầy mai đứa kia, cưới vợ lấy chồng
từ từ hết trơn, thấy mà tức ứa gan… Do hôn nhân trễ muộn tôi đâm giựt mình, như
một nhà xã hội và tâm lý gia, tôi tự tìm hiểu cá nhân, gia đình, xã hội, kinh tế,
tâm lý,… và cuối cùng đổ thừa cho là tại cái nầy, tại cái kia và tìm những khuyết
điểm của mình, tự trách cứ. Lúc đó do công cuộc làm ăn, tôi thường liên lạc với
Thâu. Thâu nghe tôi kể lể tâm sự, phản đối liền – bạn nói tầm bậy hết trơn rồi,
không phải tại cái gì cả mà tại cái số mạng, cái số ế vợ,… nếu đúng như mấy lý
do kinh tế, tài chánh, gia đình gì gì đó, tại sao có nhiều thằng xấu trai, học
kém, nhà nghèo, nhút nhát, nghiã là đủ thứ dở tệ… tại sao cũng có vợ được, tại
sao?
Cuối cùng Thâu kết luận – xe hơi
còn có số mà, nói chi người ta. Mà muốn biết số mạng ra sao thì bạn phải theo
tôi qua kiếm cụ Diễn, thần tướng, hiện nhà ở bên kia đường…
Nhà cụ Diễn trên một căn gác nhỏ,
trong hẻm đường Hiền Vương nhiều cây to bóng mát. Bên trong nhà không khí mát mẻ,
bàn ghế đồ đạc bày biện theo kiểu xưa, cổ, có nhiều bức tranh Tàu treo dọc theo
tường. Lúc đó cụ đang bận tiếp khách. Vài ông khách ăn mặc âu phục, complet, cà
vạt chỉnh tề, ngồi đứng chào hỏi dáng vẻ cung kính, khiến tôi đâm e ngại.
Cụ Diễn là một ông già người Bắc
tuổi chừng độ trên dưới bảy mươi, người ốm yếu, mong manh, khăn đóng bạc màu,
áo dài mỏng bằng the đen. Rõ ràng là một nhà nho nghèo lỡ vận, ẩn dật, sống an
bần lạc đạo trong cái không khí ồn ào, rộn rịp của cái đất Sài Gòn văn minh với
chiến cuộc đang leo thang từng ngày… Trong lúc ngồi chờ đợi, tôi quan sát con
người và cử chỉ thái độ cụ. Cặp mắt quá nhỏ so với khung mặt, có lẽ vì tuổi
già, thân hình như gầy tóp lại. Dầu cụ không đeo kiếng nhưng tôi vẫn không thấy
được tròng mắt lớn hay nhỏ. Hai mí mắt đã cố nhướng cho xa nhau nhưng độ hở vẫn
chỉ to hơn sợi len giăng ngang chút xíu. Tuy lem nhem như vậy hình như cụ đã thấy
hết trơn đời tôi. Sau khi đi qua lại vài bước cho cụ coi tướng, câu đầu tiên cụ
nói như vầy : -số ông suốt đời ở chợ.
Tôi dạ cám ơn và thấy cười trong
bụng- ông thầy nầy ai cũng khen phục tài giỏi nhưng nói một câu hổng giỏi chút
nào. Sáng hôm đó, tôi ăn mặc bảnh bao, đầu tóc mới hớt gọn ghẽ, lại đi chơi với
dược sĩ Thâu, rể ông đại sứ nổi tiếng, hổng lẽ tôi lại ở nơi thôn quê. Nói như
vậy thì ai cũng có thể nói được. Nhưng tôi cố nhớ lại coi hồi nhỏ tôi có ở nhà
quê hay không, quả là không có. Tôi được sanh ra tại đảo Phú Quốc, cái đảo nhỏ
xíu như một thôn xóm nghèo, tuy vậy nhà tôi cũng ở ngay tại chợ, thị trấn Dương
Đông. Rồi nhà được dọn vài ba lần, lần nào cũng vậy, mở cửa ra là thấy chợ ở
ngay trước mắt. Tôi kiên nhẫn chờ nghe tiếp.
– Năm ngoái ông bị đụng xe, may
là không nguy hiểm tới tính mạng.
Tôi chợt nhìn xuống khuỷu tay, vết
thẹo còn lộ đỏ sau một lần té xe rất nguy hiểm từ trên dốc Lò Chén. À thì ra, ổng
nhìn thấy vết trầy nầy, bận áo tay ngắn, cái thẹo chần dần như vậy, ai mà không
thấy.
– Dạ, dạ, cụ nói đúng, năm ngoài
tôi bị nặng lắm, xém chút nữa là nguy rồi, nhờ phước đức ông bà….
– Tuy nhà ông ở ngay tại chợ
nhưng sau nhà lại có vườn cây.
Trời đất! mới nhìn có tôi có chút
xíu mà nói được cái vườn sau nhà, cũng lạ. Sách tướng tôi cũng đã từng đọc qua
vài cuốn, có chương nào chỉ cách nhìn mặt mũi tay chưn mà tả được cảnh vật trước
hoặc sau nhà? Bởi chi tiết nầy khó thể có được. Miền Nam mình, tỉnh nào cũng vậy,
đường đất phố xá nhỏ hẹp, nhứt là phố chợ, đất dư tính từng tấc, dành để buôn
bán làm ăn, chỗ nhiều đâu mà trồng cây ăn trái… Tôi thấy quả ông cụ có tài lạ,
tuy vậy chuyện cái nhà, cái vườn có gì quan trọng, nói tới nói lui làm chi ?
– Nếu ông không ở trong căn nhà
như vậy, thì đã nguy hiểm tới tính mệnh.
Tôi ngồi im, chuyện nầy cũng
không biết ra sao nữa, khoa phong thủy địa lý dương trạch có nhiều điều không
thể nghĩ bàn. Ông cụ vẫn bình thản, không cần hỏi tới năm tháng ngày giờ sanh,
miệng vẫn nói đều đều, thong thả :
– Hiện tại ông làm nghề dạy học,
dự định đổi đi nơi khác, lần đầu không được lần sau sẽ được…
Tôi giật nẩy người, đầy mình mọc
gai óc. Làm sao ông cụ biết tôi làm nghề dạy học, chỉ bao nhiêu đó thôi quả là
tay cao thủ. Tôi vừa ở quân trường ra, sau ba tháng thụ huấn quân sự, tóc hớt
ngắn, da đen thui, tay chưn còn dính đầy nắng gió. Năm Mậu Thân cuộc chiến tàn
khốc, hầu hết thanh niên cỡ tôi đều vào quân đội. Nếu nhìn dáng vẻ bên ngoài mà
đoán tôi là sĩ quan thì dễ đúng hơn. Đâu có nét nào giống thầy giáo. Rồi làm
sao biết được tôi đang xin đổi nhiệm sở, hồ sơ hiện bị trở ngại. Chắc bạn mình
đã lỡ nói trước với ông già nầy hết trơn rồi, tôi liếc qua Thâu. Thâu tỉnh rụi,
thấy ông cụ nói không điểm nào trật, khoái chí ngồi cười cười… Rồi lại suy
nghĩ, ổng coi cho mình, tốn công tốn sức, có lấy đồng xu cắc bạc nào, nói gạt,
nói dối làm chi.
Lời nói cụ đều đều, thong thả,
chuyện quá khứ, chuyện tương lai, công danh, khoa bảng, tiền của, sự nghiệp, bạn
bè, tai nạn, bịnh hoạn… sẽ như thế nầy, thế kia, tôi vâng dạ liền miệng. Có đoạn
ông cụ nói năm gần bốn mươi tuổi tôi sẽ sống ở nước ngoài, một xứ phương Bắc rất
lạnh và xài tiền bằng Mỹ Kim, tôi đâm tức cười, không biết là ông còn thức hay
đã ngủ, nói mê…
Nhưng mấy cái chuyện xa vời đó có
quan trọng gì tới tôi đâu, cái mà tôi đang chờ để biết là chuyện gia đạo tình
duyên mà, nóng ruột hết sức, tôi rụt rè ngắt lời :
– Dạ, dạ, nhờ cụ coi dùm chuyện
gia đạo vợ con ra sao, hiện tại tôi còn.. một mình.
Ông cụ nhướng cặp mắt tí xíu lên,
nói rõ ràng như thấy cô vợ tương lai của tôi trước mặt :
– Người vợ tương lai của ông, học
hành như thế nầy, gia thế, nhà cửa thế nầy.., cùng nghề nghiệp với ông.
– Dạ thưa cụ, theo như cụ nói thì
không dám đâu. Tôi ở tỉnh nhỏ, học ít, chỉ muốn tìm người trẻ tuổi và học kém
hơn một chút ..
Ông cụ không trả lời, mắt hình
như nhắm lại. Tôi nhớ lại từ đầu buổi cho tới giờ, chuyện quá khứ thì rất đúng
nhưng không có gì đặc biệt, tôi ở trong nhà nầy hay nhà kia, làm thầy giáo hay
sĩ quan thì cũng vậy, còn chuyện tương lai thì chưa biết ra sao. Duy chuyện vợ
con thì hơi lạ, tôi nghĩ là ông cụ nói trật vì hồi nào tới giờ chưa bao giờ tôi
để ý tới bạn gái đồng nghiệp. Tôi vốn rất sợ cô giáo và những người đàn bà
thông minh, học giỏi hơn mình…
– Thưa cụ, xin cụ cho biết chừng
nào tôi mới cưới được vợ ?
Ông cụ không trả lời ngay câu hỏi,
chợt mở mắt ra, phán cho một câu dứt khoát, khiến tôi sửng sốt như bị tạt một
gáo nước lạnh :
– Đám cưới ông hầu như không có.
Trời đất, thiệt vậy sao? Thiệt vậy
sao, tôi nghe lỗ tai lùng bùng. Chuyện cưới vợ đã trầy vi tróc vảy, rồi tại sao
sẽ gặp một cô giáo nghiêm trang… rồi lại không có đám cưới. Hàng trăm câu hỏi tại
sao, tại sao trong đầu. Tôi cảm thấy mồ hôi rịn ra đầy mặt. Sao kỳ cục vậy, căn
cứ vào đâu mà cụ dám nói như vậy. Tôi nhìn thẳng vào mặt, thấy cụ vẫn bình thản,
cụ nói thiệt tình mà đâu phải nói chơi.
Tôi hỏi tiếp, giọng hơi khó chịu
…
– Dạ thưa cụ, tại sao lại không
có đám cưới, có phải tôi không đủ tiền cưới vợ ?
– Không phải, nhà ông thiếu gì tiền.
– Vậy tại sao, nếu có đủ tiền tại
sao tôi lại không làm đám cưới. Thú thật với cụ, tôi mà thương ai, dù người đó
mang bầu hay có con rồi, tôi cũng sẽ làm đám cưới chánh thức, đàng hoàng. Tại
sao tôi lại sợ dư luận mà không làm đám cưới, lại dắt con người ta đi không…
Khi nói đến đây, tôi nhớ lại giai
đoạn đó ở tỉnh nhà, bạn bè nhiều lắm, đứa nào cưới vợ tôi đều sẵn lòng giúp đỡ.
Vừa cho mượn xe, vừa làm tài xế, vừa làm rể phụ, hổng lẽ tới đám cưới mình,
không ai tham dự. Ngày cưới tôi phải vui vẻ và đông đảo bạn bè thân tình chớ.
Ông cụ chấm dứt bằng lời nói giận dỗi:
– Cái mặt ông làm gì dám dắt ai …
Rõ ràng là ông cụ nói nhiều điều
vô lý, tôi không còn kiên nhẫn ngồi nghe tiếp nữa, đâm ra vô phép, đứng dậy và
nói giọng hờn mát :
– Tôi không dám dắt ai, tôi lại
có tiền, vậy hỏi cụ, tại sao lại không làm đám cưới cho vui. Tại sao tôi không
làm…
Ông cụ không trả lời, khoát tay
đuổi tôi và Thâu ra cửa. Tôi cúi đầu cám ơn từ giã cho có lệ, rồi đi thẳng, bụng
không vui. Giửa trưa nắng thiệt nóng và xe cộ ồn ào, mùi khói xăng khét lẹt,
trong phút chốc những lời tiên đoán của cụ già bay mất tiêu hết, tôi không còn
muốn nhớ nữa. Trật lất rồi, nhớ nữa làm chi. Ngồi trên xe, Thâu phân trần:
– Bạn biết không, mấy ông hồi nãy
toàn là Bộ Trưởng hay Tổng Giám Đốc gì đó. Ông cụ là thầy tướng riêng cho Tổng
Thống với Thủ Tướng, nhưng bữa nay sao ổng nói trật tới trật lui, tôi cũng thấy
kỳ cục, nhiều việc không đúng, chắc ổng bịnh hoạn hay đương lo việc gì đó, nhớ
trước quên sau…
Tôi bộp chộp kết luận một câu
ngon lành :
– Thâu nè, bạn tin tôi đi, không
bao giờ tôi cưới cô giáo hết và sẽ làm đám cưới thiệt lớn để rủ bạn bè nhậu một
bữa cho vui. Đời người chỉ có một lần cưới vợ, tại sao lại không làm, không lớn
thì nhỏ chớ, tại sao lại im ru bà rù… Tôi tin đời có định mạng nhưng cũng tin
con người có tự do.
Và tôi có tự do thiệt tình khi
làm quen với D, không bị ai ép buộc cả. Sau ngày đám hỏi, tôi xuống Sài Gòn đến
gặp ông già vợ tương lai. Ông trẻ hơn ba tôi nhiều. Cũng vậy, vợ tôi nhỏ tuổi
hơn tôi nhiều lắm. Những gì cụ Diễn nói về nàng đều đúng, không trật một điểm
nào. Cho đến bây giờ tôi cũng không biết tại sao tôi lại liều gan kết hôn với một
cô giáo, từ nào tới giờ tôi vốn kỵ mà. Tôi có kinh nghiệm về việc nầy, mấy thằng
bạn tôi có vợ cô giáo, một thời gian sau đều trở thành học trò ngoan ngoãn các
cô hết trơn. Dầu biết rất rõ nhưng giờ đây tôi cũng tình nguyện làm y như vậy.
Đúng là số mạng, chạy trời không khỏi nắng.
Hôm đó là những ngày sau Tết, nhà
nàng còn chưng đầy bông hoa. Cái bình sứ cổ đời Khang Hy thật lớn dùng cắm cành
mai to bằng cổ tay cao tận nóc nhà. Tôi nhìn sững những câu thơ ngoằn ngoèo nét
thảo lòi tói và buột miệng – cái bình nầy quí lắm đầy rạn da qui, ba dùng như vầy
rủi ro nó bể thì sao. Ông già vợ tương lai cười, -làm sao bể được con, ba chưng
như vậy cả chục năm nay rồi, có sao đâu. Mấy đứa em vợ bu quanh chờ ông anh rể
quí chở đi ăn mì. Cả nhà quây quần ấm áp, tiếng nhạc vang vang đầy nhà. Nhà sắp
có đám cưới mà, không vui sao được.
Ông già lắng nghe giọng Khánh Ly
trầm ấm vang lên từ chiếc máy nhạc, tự nhiên quay qua tôi -nè nè, con nghe nè,
mấy ông văn nghệ sĩ nói chuyện, viết lách thiệt là hay, cái gì mà… giọt nước mắt
rơi thành hồ nước long lanh… Câu nói chưa hết, D. lại xí xọn xen vô – Bản nầy
là Như cánh vạc bay của Trịnh Công Sơn đó ba.
Ông vừa cầm ly rượu sóng sánh màu
hổ phách, vừa lẩm bẩm – Như cánh vạc bay, à, à cánh vạc bay ra làm sao, tượng
trưng cho cái gì, thiệt tình ba không hiểu. Rồi khóc mà tới thành hồ nước long
lanh – thì thiệt là viết khéo hết sức, viết được tới như vậy thì trên đời hổng
có mấy tay. Rồi ông ta bàn tiếp – Con nghĩ coi giọt nước mắt có chút xíu, mà
làm đầy cả hồ nước là phải khóc nhiều lắm đó nghen…
Tôi ngạc nhiên, ông là tay buôn
bán già đời, suốt ngày chỉ thấy cộng trừ nhân chia, tại sao không chịu nói chuyện
tiền bạc, nhà đất, của cải, tự nhiên hôm nay sao lại nổi hứng bàn chuyện thơ
văn, nghĩ cũng lạ. Bất ngờ ông hỏi tôi, giọng ngọt ngào :
– Nè nè, ba nghe nói con dạy văn
chương. Vậy có bao giờ con viết văn hay làm thơ gì không ?
Tôi còn đang giai đoạn ở rể, phải
cố gắng lấy điểm để làm vừa lòng ông già vợ. Câu hỏi khiến tôi giựt mình –như vậy
là ông ta khen hay chê Trịnh Công Sơn ? Câu trả lời tôi phải như thế nào cho
đúng. Trời đất ơi, nhằm cái lúc vui vẻ nầy mà vợ tôi lại cho hát cái bản nhạc mắc
dịch đó làm chi. Câu hỏi ngọt ngào như viên thuốc bọc đường có phải là viên thuốc
độc ? Tôi phải trả lời sao cho vừa ý ông đây ?
Hồi nào tới giờ quả tình là tôi
không biết viết văn hay làm thơ. Nhưng nếu cần nói láo để được vợ thì tôi cũng
phải liều gan nói đại. Nhưng mà, câu hỏi độc địa nầy hình như có liên quan tới
cái ý nói láo đó. Khóc mà tới đầy cả hồ nước thì là nói láo rõ ràng, ai ai cũng
thấy. Nhưng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết ra như vậy và cả nước coi nhạc sĩ nầy
là thiên tài, nhạc ông vang rền ngập từ chợ đến quê, ban ngày cũng như ban đêm…
Nhưng nói láo nhận mình là văn nghệ sĩ thì khác, không giống kiểu nói láo trong
thơ văn…
Tôi còn đang ấp úng tìm câu trả lời
thì may quá, bà già vợ đi đâu sợt sợt trở về, thấy tôi bà nói một hơi không kịp
thở :
– Con về trình lại với anh chị ở
trển, ba má đã về Dĩ An nhờ thầy coi ngày cưới rồi . Ông thầy nầy ngày xưa coi
cho ba má đó, coi kỹ lắm, ổng tìm được ngày tháng đại lợi, tụi con sẽ ăn đời ở
kiếp với nhau, giàu sang phú quí, tử hiếu tôn hiền….
Nói xong bà lục trong túi đưa cho
tôi tờ giấy đỏ, đầy chữ viết run rẩy của một cụ già, nghe đâu đã trên chín chục.
Rõ ràng là ông thầy Dĩ An coi ngày cưới hỏi thiệt hay, thời gian đã chứng minh
được tài năng của ông. Ông bà nhạc gia tôi sống chung nhau cho tới bây giờ, tiền
bạc nhà cửa sung túc, con cháu đầy đàn, chưa hề biết đến chuyện ly dị khổ tâm,
đau đớn ra làm sao.
Tôi cầm lấy tờ giấy coi ngày cưới,
thời gian còn lâu tới bốn năm tháng nữa, hơi bực mình nhưng nhớ lời dặn dò của
ba tôi – Theo tao ngày nào cũng tốt hết, ổng bả muốn trễ sớm lúc nào cũng được,
miễn mầy cưới được vợ thì thôi, lần nầy mà mầy kiếm chuyện để cho trục trặc nữa
là kể như suốt đời không có vợ đó con. Tôi đã thấm thía chuyện hôn nhân trễ muộn
mà cũng đâu cần ba tôi dặn, năm nay tôi đã ba muơi lăm tuổi rồi, tôi đâu còn
ngu mà cà khịa, giận lẫy, kiếm chuyện kiểu con nít như hồi mười tám, hai mươi…
D. đưa cho tôi cục kẹo, tôi ngậm
vào miệng, cắn nhẹ thấy có rượu mạnh bên trong. Cuộc đời quả cũng có ngọt ngào,
tuy rượu ít nhưng cũng khiến tôi ngây ngất. Đường Trần Hưng Đạo trước nhà, nắng
sáng trong, xe chảy thành dòng. Nhớ tới lời tiên đoán cụ Diễn ngày nào – đám cưới
ông hầu như không có ! Tôi bật cười. Cụ ơi, đám cưới tôi hả, chắc chắn sẽ rất
vui, đông đủ bạn bè, bà con thân thuộc hai bên, làm sao không có, làm sao mà nhỏ
cho được. Nội bên vợ, anh chị em D. nếu đếm sơ sơ cũng đủ một chục đủ đầu rồi,
nói chi bên gia đình tôi, nội ngoại, sui gia, dâu rể… rồi tới hàng xóm láng giềng,
toàn người thân tình ơn nghiã, đâu thể nào không mời người ta đến chung vui.
***
Sau ngày 30 tháng 4, tôi len lỏi trong đám đông hỗn loạn ngơ ngác, xác xơ, tìm
đường xuống Sài Gòn, đến nhà vợ chưa cưới. Vừa gặp tôi, D. ôm chầm lấy và mừng
rỡ. Trong cơn biến động mấy ngày qua, chuyện liên lạc khó khăn gián đoạn, nàng
tưởng là tôi đã thoát ra khỏi quê hương và đành đoạn bỏ nàng lại một mình, đi
biệt tích. Tôi không biết nên cười hay nên khóc. Tôi trình bày cho ông bà già vợ
chuyện tang thương dâu bể xảy ra trên nhà tôi, tất cả những dự định tương lai đầy
màu hồng ngày nào trở thành xám đen, tan nát hết. Ba vợ tôi an ủi :
– Con đừng bi quan quá, dù gì đất
nước mình cũng không còn chiến tranh, mọi sự rồi sẽ ổn định. Lúc đó mình buôn
bán làm ăn trở lại…
Trời đất, chế độ nầy mà ổng còn
hy vọng buôn bán làm ăn như xưa! Mọi sự sẽ ổn định, đúng rồi, đống máy cày của ổng
đâu còn chưng bày ra ngoài hành lang như lúc trước, mà đem giấu tận phía sau
nhà. Chị em D. ngày nào quần là áo lụa, trang điểm kỹ lưỡng từ đầu đến chưn,
nay cũng bắt chước mặc bộ bà ba đen giống như mấy cô thôn nữ chỉ thiếu chiếc
khăn rằn vắt trên vai. Mấy đứa em trai ngồi im lìm, không còn chạy giỡn la hét
vang rân như ngày trước.
– Thưa ba má, nhà cửa, công danh,
sự nghiệp, tiền bạc bây giờ kể như mất mát hết rồi, ngay cả thân mạng con cũng
không còn biết ra sao. Bữa nay con xuống thưa với ba má là chuyện hôn nhân của
con và D. phải hoãn lại… cho tới chừng nào, chừng nào… con cũng không biết nữa.
Cũng có thể là không bao giờ.
Nói tới đây tôi nghe D. khóc rấm
rứt, rồi không cầm được nước mắt, tôi cũng khóc theo. Bà già vợ tôi cũng thúc
thít nhưng còn rán nói :
– Đâu được con, đám cưới tụi con
không làm lớn được thì mình làm nhỏ, vợ chồng phải có cưới hỏi đàng hoàng chớ
con !
Hoàn cảnh đất nước quê hương hỗn
loạn, tang tóc như vậy mà làm đám cưới, dù làm nhỏ thế nào đi nữa, dù cố gắng
cho lắm cũng không thể làm được, mà coi cũng không được. Tôi trả lời ngay :
– Thưa má, con không biết bị bắt
ngày nào, bây giờ chỉ còn lo chuyện chết sống, tù đày, sống chỉ biết được ngày
nay, không biết ngày mai ra sao, còn đầu óc đâu mà nghĩ tới chuyện gia đình
riêng tư nữa.
Tôi tiếp – chế độ nầy sắt máu lắm,
chuyện vui không có mà chuyện buồn thì nhiều, con nghĩ là mọi sự bế tắc, miền
Nam mình thua trận rồi. Mà quả vậy, đầu óc tôi lúc đó đặc sệt như chì, không
tìm ra giải pháp nào ổn thoả hết. Đi không được, ở không được, sống không được
mà chết cũng không được luôn. Tôi có cảm giác thua cuộc, bất lực, thất bại, tê
liệt như con kiến bò trên bờ chảo nóng, lanh quanh bò hoài cũng không ra khỏi
miệng chảo.
Ông già vợ trầm ngâm một hồi, thở
ra :
– Ba hiểu rồi, thiệt là cơ khổ.
Nhưng chuyện nhơn duyên là chuyện lớn đời người, không thể vì vậy là hai con
không thành chồng vợ. Con về thưa với anh chị, ba má dưới nầy không đòi hỏi gì
cả, cũng không cần có đám cưới. Tới ngày đó, ba má nấu một mâm cơm gia đình, chỉ
cần có mặt anh chị và ba má chứng kiến cho hai con lạy bàn thờ, xin phép ông bà
tổ tiên để kết duyên thành chồng vợ là đủ.
Tôi ngắc nga, ngắc ngứ – rồi đồ
cưới, khăn áo hoàng hậu, nhẫn cưới cho cô dâu, rượu trà, xe hoa… Ông nói – Con
không cần đem xuống gì cả, kể như là ba má và em con đã nhận lễ vật đầy đủ rồi,
đời bây giờ nhiều chuyện rối rắm lắm, đừng có lo nghĩ thêm chi cho mắc công….
Ngày 30-5 năm 1975 nghiã là sau ngày mất nước một tháng, tôi cưới vợ và đám cưới
hầu như không có. Bên nhà vợ tôi nấu một mâm cơm cúng tổ tiên, ông bà, hai đứa
tôi lạy bàn thờ rồi lạy tứ thân phụ mẫu, ba má tôi và ba má D. ngồi trên bốn
cái ghế đẩu nhỏ sắp hàng ngang trước bàn thờ. Chỉ có người nhà và không có ai lạ.
Vậy là xong lễ thành hôn. Trong khi hai bên sui gia gặp nhau, cửa nhà đóng kín
kỹ lưỡng, sợ công an khu vực vô phá đám, xui xẻo, hàng xóm không ai biết bên
trong chúng tôi đang làm việc gì. Ngày hôm sau tôi về Bình Dương, lén dắt vợ đi
chào và trình diện với những thân bằng quyến thuộc. Dù hết sức đơn giản nhưng
tôi cũng có vợ đàng hoàng tử tế, đầy đủ lễ nghiã !.
Khi viết những dòng chữ nầy thì
ông già vợ tôi đã mất từ lâu. Nhưng tôi vẫn nhớ rõ những lời ông nói, tình
thương ông cho tôi dù bao nhiêu nước chảy qua cầu, cuộc đời dâu biển, tôi vẫn
thương ông như thương cha ruột tôi vậy.
Cụ Diễn cũng đã mất rồi, những lời
tiên đoán của cụ ngày nào vẫn còn mãi mãi bên tai, làm sao tôi quên được. Tôi nợ
cụ nhiều lắm, bây giờ làm sao trả đây. Không phải là nợ vật chất, tiền bạc, gói
trà hay chai rượu mà tôi nợ cụ lời xin lỗi chân thành cùng lời khen ngợi tài
năng cao xa của cụ. Cái lỗi ngu si của tôi rất lớn, ngày đó tôi còn quá trẻ
chưa hiểu đời là gì, đã dám hoài nghi những điều mình chưa biết.
Toronto, ngày 30 /9/2002
Võ Kỳ Điền
Friday, February 13, 2026
Xuân Quê - Thuyên Huy
Xuân Quê
Ngấp
nghé ngoài song cửa
Xuân
về từ hôm qua
Mai
rộ đầy trước ngõ
Vàng
rực ngàn cánh hoa
Bến
đò ra chợ quận
Người
hối người đi mau
Gái
quê làng lúng túng
Mai
làm duyên trên đầu
Sân
chùa vang pháo nổ
Người
thẹn thùng chờ người
Vang
vang hồi chuông đổ
Đường
làng rộn ràng vui
Mái
tranh nghèo khói tỏa
Bếp
lửa chiều Ba Mươi
Trẻ
gọi nhau ngoài ngõ
Tấp
nập đò ngược xuôi
Cầu
tre mùng Một tết
Hối
hả gái quê làng
Qua
xóm bên cho kịp
Cùng
ai đón xuân sang
Dập
dìu đàn én lượn
Vàng
Mai nắng lâng lâng
Qua
rồi mùa gió chướng
Quê
làng rộn tình xuân
Thuyên Huy
Chờ
Xuân Giáp Thìn 2024
Chiếc Lá - Phượng Hồng & Lá Rụng Ngoài Song - Nguyễn Cang & Mãi Ở Trong Tôi - Diệp Văn
Bài xướng:
CHIẾC LÁ
Chiếc lá nghiêng chao giữa khoảng
không
Như còn lưu luyến chốn trần hồng
Bao lần thức trắng theo nồng hạ
Nhiều lúc ngủ vùi với rét đông
Mây
trắng trời xanh đầy khát vọng
Nắng vàng sương bạc hết chênh chông
...
Hoàng hôn chợt tím màu tê tái
Ráng đỏ chiều hôm nặng cõi lòng !
Phượng Hồng
Họa 1/.
LÁ RỤNG
NGOÀI SONG
(thay vần Chông câu
6)
Thu vàng lá rụng
rớt tầng không
Gió thoảng ngoài hiên cuốn bụi hồng
Bát ngát chân mây
trời cuối hạ
Bùi ngùi cổ độ buổi
tàn đông
Quê nghèo mấy bận
tràn giông bão
Bến cũ đôi lần ngập
nước sông
Lá rụng, người
đi, đời cách biệt
Làm sao cưỡng lại cảnh đau lòng?
Nguyễn Cang (
Jan. 30, 2026)
Họa 2/.
MÃI Ở TRONG TÔI
Dáng cũ còn in giữa cỏi không
Bờ vai gọn nhỏ nét môi hồng
Thương chồng lẻ bóng, tù phương bắc.
Nhớ mẹ đơn thân, tựa cửa đông
Khắc khoải ngày đêm, buồn dạ ngóng
Âm thầm gánh chịu, gối đèn
trông
Mười năm, kiệt sức… Hoàng hôn tím
Chết lặng mình tôi… Giữ một lòng!
Diêp Văn




