Tuesday, June 23, 2026

Chiều Cuối Năm - Quan Dương

 Chiều Cuối Năm












Tờ lịch trên tường nếu không là tờ cuối
Chắc ta cũng quên năm tháng tận săn lùng
Trời bên ngoài vẫn còn đông chưa xuân
Nghe câu hát bolero buồn đứt ruột

Ném tờ lịch cuối năm vào một góc
Giấu mùa đông trong ký ức quê nhà
Ly rượu chiều ta rót một mình ta
Nhấp một ngụm ngắm mình cùng đáy cốc

Thiên hạ happy new year đầy trên facebook
Ta cũng happy đáy cốc sót giọt buồn
Tiếng thở dài con mắt khép cuối năm
Điểm danh bạn từng thằng còn sót lại

Con phố hôm nay ngùi câu vọng cổ
Ngày cuối năm nắng cõng vội chiều về
Những chiếc xe đời lặng lẽ đi qua
chở thời gian một lần rồi biệt tích

và cứ thế bạc màu theo sợi tóc
Chờ đời ta dài cổ lặng thầm trôi

Quan Dương

Bán Thận - Giáng Mi

 

Bán Thận





Huy cựa mình tỉnh dậy, gã thấy mình khát khô cả cổ, cái cảm giác khát lần này không giống như những lần khát khác. Bình thường, gã chỉ cần có cốc nước tinh khiết, hay sang hơn chút, chai Coca-Cola nội hóa là có thể chữa cháy ngay được cơn xé họng. Nhưng cơn khát của Huy không như vậy, xung quanh gã có nhiều nước lắm, song gã không muốn uống, gã thấy rờn rợn khi phải đưa ly nước lên miệng. Gã không biết rồi đây, sự bài tiết sẽ ra sao. Ly nước kia có làm cho cơ thể gã phù thũng thêm không? Vâng, gã sợ! Vì gã vừa bán quả thận bên trái của mình lấy 1800 Mỹ Kim, số tiền ăn học gã cần trong 3 năm còn lại ở đại học!

Năm đầu tiên, Huy từ Lạng Sơn về Hà Nội với diện sinh viên tuyển thẳng hệ A ngành Quản Trị Kinh Doanh, với hào quang chiếu sáng, tiền bạc rủng rỉnh trong túi, trước mặt gã là con đường mở rộng! Gã là niềm hãnh diện của gia đình, của dòng họ, vì chưa bao giờ dòng họ Hoàng của gã có được bằng cấp khoa cử ở mức đại học. Ông trưởng tộc hay tin gã trúng tuyển, bèn kêu gọi bà con trong dòng họ đóng góp tiền bạc để làm hai việc. Việc thứ nhất, làm một bữa tiệc thịnh soạn với lễ Tam Sinh (Trâu, Dê và Heo) để cúng tổ tiên dòng họ, tạ ơn phúc ấm nên nay có con cháu thi đậu đại học, rồi người trong họ ăn với nhau một bữa, chia sẻ hào quang sáng chói của Hoàng Trung Huy, đứa con xuất sắc của dòng tộc. Việc thứ hai, cả họ muốn tặng cho Huy món tiền học phí cho 4 năm đại học ở Hà Nội.

Dòng họ của Huy vốn không giàu có, ai cũng chân lấm tay bùn mới đủ ăn. Nghe đâu dòng này khi xưa cũng là địa chủ dưới Hưng Yên, vì cải cách ruộng đất, nên bị đầy lên khai hoang Vùng Kinh Tế Mới tuốt trên Lạng Sơn này! Bao năm qua, gia đình gã bị kiểm soát kèn cựa, không một ai trong giòng họ có thể thi đại học với lý lịch hai, ba đời trước là địa chủ. Đến bây giờ, chính sách thay đổi, cởi mở một chút nên Huy đã cố gắng vươn lên với tài năng chân thực!

Tự trong tâm thức của Huy, hắn hết sức băn khoăn, không biết hắn có học xong đại học không!? Sự kỳ vọng của mọi người trong đại gia đình, đã đè nặng lên đôi vai mưa nắng dãi dầu của gã. Huy cho rằng, gia tộc gã bị nguyền rủa, không bao giờ khoa bảng nổi! Nghe đâu khi xưa còn ở Hưng Yên, ông tổ của gã đã nuôi một anh Hàn Tú (Tú Tài nghèo), lại bị ho lao làm thầy đồ dậy học trong nhà. Người con gái trong dòng họ phải lòng anh Tú Tài nghèo ấy, họ đã thề non hẹn biển. Nhưng các cụ sợ mang tiếng với xóm làng. Hơn nữa, không biết anh Tú Tài kia với bệnh trầm kha có sống được lâu không? Bèn cự tuyệt, đuổi anh Hàn Tú ra khỏi nhà, khi anh đang chuyển cơn bệnh nặng. Anh năn nỉ mãi song trưởng tộc không cho nán lại. Anh nói anh không nhà không cửa, không bà con thân thích, không tiền không bạc, nếu anh ra đi thì anh sẽ chết. Song mặc, trưởng tộc bắt anh phải ra đi vào sáng ngày hôm sau. Đêm hôm đó, anh Hàn Tú lấy cái áo Lương lành nhất bận vào, ra cáo lễ trời đất, quay đầu về hướng Nam (quê anh ở Thanh Hoá) lạy chín lạy. Rồi lẳng lặng vào buồng, lấy dấm thanh và thuốc phiện, anh đã mua từ sáng, hoà chung vào nhau, uống! Người ta tìm thấy anh nằm chết cheo queo trên mặt đất, trên tấm Phản anh vẫn làm giường ngủ có mảnh giấy viết câu nguyền duy nhất: “Cả dòng họ Hoàng này bất nhân với kẻ Hàn Sĩ, ta chết đi, hồn này sẽ theo báo dòng họ Hoàng, đời đời không bao giờ có được vinh dự khoa bảng!” Đọc lời nguyền ấy, cả họ lo lắm, nhưng sự lỡ rồi, đành chôn cất anh Hàn Tú! Trưởng tộc thỉnh vị Sư già đức cao đạo trọng đến cầu siêu cho người chết, cầu an cho người sống. Vị Sư khai thị trước khi đăng đàn tế chẩn:

– Nhân quả trùng trùng, không gieo nhân thì không gặt quả, gia đình thí chủ đã làm một việc không hay, nay mời bần đạo cầu siêu, cầu an, thì bần đạo lập Đàn Tế Chẩn Vong Linh. Tuy vậy, đây là một công đức khác, mà sau này gia đình thí chủ do cái thiện nghiệp này sẽ được hưởng, còn cái nghiệp kia cũng khó giải, trừ khi đã trả xong thì mới tiêu tan được. Hoặc giả, phải làm thật nhiều công đức, thì khi cái nghiệp ấy nó thành Dị Thục quả, tức là khi nó báo ứng, thì còn có cái đức nó đỡ bớt đi!

Câu chuyện ấy được truyền tụng trong dòng họ Hoàng cho đến tận nay. Con cháu họ Hoàng thi rớt đại học, gia đình oán chính sách phân biệt lý lịch của chính quyền nhà nước thì ít, nghĩ buồn vì việc ác của tổ tiên thì nhiều! Nay thấy Huy thi đậu, dòng họ không mừng sao được? Vậy là cái nghiệp kia được giải, dòng họ đóng góp cho đứa cháu đầu tiên mang lại sự vinh dự khoa bảng dòng tộc.

Đêm ăn mừng Huy thi đậu, thật tưng bừng trong rạp nhà ông trưởng tộc, Huy được cả họ trọng vọng quý mến. Gã mặc áo gấm lạy bàn thờ tổ tiên với lời hứa sẽ mở ra một “kỷ nguyên mới” cho dòng họ! Các bác, các chú, các anh họ… bưng rượu đến ép Huy uống, mặt gã nóng bừng vì hơi men, chân tay xiên xẹo, miệng cười nói luyên thuyên, ngớ ngẩn. Tự dưng cả rạp ăn cỗ im lặng, Huy như bị ma nhập hét lên một tiếng, rồi gã cưới rú lên, rồi lại ôm ngực ho lụ khụ, cuối cùng với giọng lè nhè gã nói:

– Này bớ họ Hoàng! Các ngươi đừng mừng vội, đứa con đứa cháu này của các ngươi mới thi vào đại học thôi! Gã chưa ra trường đâu, trong bốn năm tới, ta sẽ cho hắn nếm những đau khổ nhất mà những kẻ đi học thời nay phải nếm. Gã sẽ phải bán đi một phần sức khoẻ để có tiền ăn học! Gã sẽ thân tàn ma dại khi hắn có mảnh bằng trong tay, đây là sự báo oán cuối cùng của ta. Ta sẽ ra đi và siêu thoát. Ta đã quá mệt mỏi vì mấy đời nay theo các ngươi để trả thù. Khi trước, các người có rước cao Tăng cầu siêu cho ta và cho các linh hồn phiêu bạt, nay ta cũng cho các ngươi biết, công đức ấy sẽ được đáp đền. Sau này, dòng họ ngươi sẽ có đứa con trai xuất chúng tài ba, sẽ làm vị hàn lâm có công đóng góp lớn cho đất nước. Nay ta đi!

Nói xong câu quái đản ấy, Huy lăn đùng ra chiếu tiệc ngủ như chết. Cả họ lo âu lắm. Ông trưởng tộc quay qua bảo bố Huy:

– Có lẽ họ ta còn thiếu phúc, nhưng tổ tiên đã lỡ như vậy rồi, thì chúng ta phải chấp nhận. Chúng ta cố lo cho cháu nó học, chuyện gì đến sẽ đến.

Ông run run, mở cái túi bằng vải, lấy ra một cọc tiền, rồi nghiêm nghị nói tiếp:

– Đây là số tiền 28 triệu Đồng, anh em trong họ góp lại, mỗi người một tý, chẳng biết có đủ cho cháu Huy học 4 năm ở Hà Nội hay không… nhưng nếu thiếu, chú cứ cho cả họ biết, chúng tôi lại góp nhau.

Bố mẹ Huy cảm động rưng rưng nước mắt:

– Chúng em cảm ơn bác và toàn thể dòng tộc, từ trên xuống dưới. Cầu trời cháu Huy nó học thành tài và sau này nó đền đáp lại ân tình này của dòng tộc.

Tiệc tan. Ba hôm sau, với số tiền 30 triệu trong túi, Huy lên đường. Bố mẹ gã muốn con mang tiền về Hà Nội, mở trương mục ngân hàng, bỏ vào cho có lãi và sẽ biết quản lý số tiền để từ từ ăn học! Họ cũng hi vọng, lời nguyền của hồn ma kia không đến với con họ, khi Huy có món tiền lớn trong tay. Huy thì lâng lâng sung sướng vì gã thấy mình được tự lập, có đủ tiền bạc, cái bằng cử nhân kinh tế coi như nắm vững trong tay!

Bố mẹ hắn cũng như trong họ, không ai nhắc cho gã biết câu nói gã đã phun ra trong khi say rượu vì sợ gã bị ám ảnh.

Đời Huy vào bước ngoặc mới, mỗi học kỳ gã phải đóng tất cả 1.3 triệu Đồng tiền học phí. Vị chi 2.6 triệu Đồng 1 năm. Mỗi tháng 250 nghìn tiền phòng, 80 nghìn tiền điện nước, nhu yếu phẩm… 400 nghìn tiền ăn ở và giấy mực. Tổng kết, Huy cần tối thiểu 11 triệu đồng 1 năm, nếu gã ở trọn 12 tháng tại Hà Nội. Đó chưa kể, tiền xe cộ đi lại. Nhưng Huy cũng được chút học bổng vì hắn học hệ A, nghe đâu khoảng 250 nghìn/tháng. Song gã tính rồi, ba tháng hè gã sẽ kiếm cách đi làm thêm như rửa chén, trực Hotel hay chạy xe ôm, thế là cuộc sống của gã thảnh thơi.

Gã học được học kỳ 1 đúng như điều gã muốn, được nghỉ giữa khóa vài ngày, bạn bè rủ gã đi chơi. Gã quen Hằng, cô sinh viên học trường Luật. Hằng là gái Hà Nội, đẹp mơn mởn, con nhà giàu và rất được cưng chiều. Huy và Hằng yêu nhau. Hằng từng trải và dễ dãi, nên Huy say mê nàng như điếu đổ. Gã chỉ biết lẽ sống của gã nằm trên môi Hằng, vui buồn trên khoé môi người đẹp: vểnh lên hay cụp xuống. Gã không tiếc thời gian và tiến bạc để nàng ban phát nụ cười. Hằng nghiện Heroin nặng. Mỗi lần Hằng phê, Hằng thường dễ dãi chiêu đãi gã, những khi ấy Hằng cười sằng sặc! Huy thấy quái đản, nhưng vẫn thích thú. Có lần, gã hỏi thẳng Hằng lý do, Hằng bảo khi tỉnh táo:

– Em chẳng biết tại sao, khi em phê mà gần anh, lại thích cười to như thế! Em cũng biết điều ấy hơi bị tục!

Gã cho Hằng thật thà và không chấp. Nhưng có khi gã ưu tư:

– Hằng này, em học Luật, sau này làm ngành Tư Pháp hay làm về Lập Pháp, mà em nghiện như thế thì chết? Chưa làm Luật đã phạm Pháp rồi em? Thôi cai đi Hằng ạ?

Hằng trề bĩu:

-Xí, anh đúng là dân tỉnh lẻ. Nói cho anh biết, đến các giáo sư của em còn “phi”, đến các nhà làm Luật của bộ cũng “phi” như điên. Anh có biết chữ Yên Sĩ Phi Lý Thuần (Inspiration) không? Phải “phi” thì đầu óc mới sáng suốt, làm ra Luật lợi cho mình, mới cãi giỏi được! Anh biết chưa, đồ ngốc của em!?

Hằng không cần tiền của Huy để “phi” nhưng Huy say mê nàng, nên nay quà mai cáp, đi chơi Đồ Sơn, Hoà Bình… mới 6 tháng sau ngày quen Hằng, Huy giật mình thấy trương mục đã trống trơn. Mùa học phí đầu năm thứ 2 thúc dục…

Huy hiểu gia cảnh, nên không dám viết thư về xin tiền, hơn nữa số tiền của dòng họ đóng góp để tiêu pha trong 4 năm cơ mà?

Gã lo ngại không biết xoay sở ra sao, gã chạy vạy mượn đầu này, mượn đầu kia, cũng không đủ. Gã hỏi Hằng mượn tiền, thì nàng kinh gã ra mặt:

– Tưởng là anh khá giả, chịu chi. Ai dè “công lực” chỉ có bấy nhiêu?

Gã thấy đắng chát trong cổ họng, chút tủi hờn, xấu hổ dâng lên trong lòng gã, gã đã phụ lòng kỳ vọng của gia tộc, để lao vào cuộc tình chẳng ra sao đối với Hằng. Khi gã tuyệt vọng, gã đã nghĩ đến chuyện quyên sinh, song gã nghĩ cuộc đời còn nước còn tát, gã vẫn còn được ngồi ghế đại học mà! Nhưng làm sao có tiền để trải nốt ba năm còn lại? Gã không muốn những người chân lấm tay bùn trong dòng họ gã ở Lạng Sơn khổ ải thêm.

Gã nghe có người bảo Long, người bạn họ bên Bách Khoa là “Cò Thận!” Bán một quả thận được khoảng 2000 Mỹ Kim, nếu đúng mối. Huy tìm đến Long nói chuyện, Long vui vẻ:

– Ồ, chuyện ấy tớ giúp cậu được, tớ đã làm môi giới cho nhiều người và lấy hoa hồng 10% thay vì 20% như dân chuyên nghiệp ngoài đời.

Huy hỏi:

– Mà sau khi mất một quả Thận mình còn sống bình thường không?

Long trấn an:

– Ối dào khéo lo, vẫn khỏe như vâm! Sinh viên nghèo phải „lấyngắn nuôi dài,“ mình con trai không như con gái, chả có cái vốn giời cho xài không hết mà bán, thôi hi sinh quả thận để được tương lai sáng lạn. Nhiều đứa đã làm thế!

Huy đồng ý và gã đã bán một phần mạng sống của mình. Giờ đây, tỉnh dậy trong một căn phòng dơ bẩn, gã thấy tinh thần và thể xác đau đớn rã rời. Gã mơ tưởng về nơi cánh đồng xa xôi trên vùng Lạng Sơn kia, bố mẹ và bà con trong họ đang xúm xít bên nhau, đợi chờ từng ngày hắn mang về vinh dự Khoa Bảng cho dòng họ. Nước mắt gã chợt trào ra, phần hối hận, phần đau đớn, phần gánh nặng, phần thương cảm, phần oán hận! Gã tự hỏi, ở nơi nào trên thế giới có cảnh sinh viên bán thận để học thế này không trời? Không tiếng trả lời. Gã nhìn qua cửa sổ, chợt thấy xa xa tấm bảng cổ động viết lớn: „Tư tưởng ‘HCM’ vĩ đại, muôn năm!“ Hắn mỉm cười, khi nước mắt tiếp tục rơi, nụ cười lệnh lạc khó hiểu.

Giáng Mi

 

 

Tống Biệt Hành - Tuệ Sỹ

 Tống Biệt Hành



















Một bước đường thôi nhưng núi cao
Trời ơi mây trắng đọng phương nào
Đò ngang neo bến đầy sương sớm
Cạn hết ân tình, nước lạnh sao?

Một bước đường xa, xa biển khơi
Mấy trùng sương mỏng nhuộm tơ trời
Thuyền chưa ra bến bình minh đỏ
Nhưng mấy nghìn năm tống biệt rồi

Cho hết đêm hè trông bóng ma
Tàn thu khói mộng trắng Ngân hà
Trời không ngưng gió chờ sương đọng
Nhưng mấy nghìn sau ố nhạt nhòa

Cho hết mùa thu biệt lữ hành
Rừng thu mưa máu dạt lều tranh
Ta so phấn nhụy trên màu úa
Trên phím dương cầm, hay máu xanh

Tuệ Sỹ

Đôi Mắt Rồng - Nguyễn Chính

 

Đôi mắt rồng




 


Nằm gọn trong thung lũng sông Vàng, sau trận lụt từ trên cao nhìn xuống làng Hạ nham nhở, loang lổ như một bức tranh vẽ dở chưa khô mực. Đông dân, ít đất, mùa vụ lại bấp bênh vì nước lụt, nên cả làng chả mấy nhà có bát ăn , bát để. Vậy mà các cụ xưa vẫn để lại được cho con cháu một di sản: cái đình, với những cột lim to tướng đen như sừng, nâng mái ngói vảy cá trĩu nặng, sỉn mốc. Thoạt nhìn đình làng Hạ cũng hao hao như những ngôi đình ở đâu đó, cũng long, ly quy, phượng, rồng uốn, hổ vờn, voi gầm, ngựa hý… in đâm dấu ấn một thời oanh liệt. Nhưng lại có điểm khác, ấy là ngay chính giữa mái, một con rồng lớn đang hướng con mắt sáng quắc xuống dưới như thể muốn hỏi, muốn nói điều gì.

Đã lâu lắm làng Hạ không cúng đình, hội hè cũng thưa dần kể từ khi các cụ trong ban khánh tiết lần lượt về chầu giời. Sân đình trở thành bãi đá bóng của lũ trẻ. Chúng tha hồ hò hét, phá phách, có đứa bậy cả lên lưng voi, tai ngựa. Tình cảnh sân đình sẽ còn tệ hơn nếu Hợp tác xã nông nghiệp không ,mượn làm trụ sở. Ông chủ nhiệm HTX tán với các bậc cao niên trong làng: “Chúng tôi sẽ xây thêm các kho chứa thóc, thuốc sâu, phân bón, cái sân sẽ cải tạo thành sân phơi, lợi chán! Sẽ có bảo vệ đêm ngày trông coi, chả hơn để cho lũ trẻ nó phá, nó ỉa vào bộ mặt của làng à?”.

Việc ấy lão Tiện vào chân bảo vệ kể ra cũng được lãnh đạo xã và ban quản trị hợp tác cân nhắc kỹ lưỡng. Thành phần lí lịch lão thì khỏi phải bàn rồi. Cụ cố nội lão là mõ làng, từng mòn tay rải chiếu đình, còn lại ba đời nhà lão đều đi ở cho nhà Phú Tín, thằng cha địa chủ giàu nhất tỉnh, đã bị nông dân đấu gục hồi cải cách. Tuổi sáu mươi nhưng lão khỏe như vâm. Thủa đương trai, lão cày một buổi bằng người khác làm mấy ngày. Vì vậy mà với lão, Phú Tín rất biết điều. Người làng Hạ còn nghe kể lại, Phú Tín có hai cô con gái luôn giành nhau được mang cơm ra đồng cho Tiện, để xem Tiện cày. Đến khi cô nào cũng ình bụng ra thì Phú Tín mới ngã ngửa người. Giữa trưa, hắn vác roi chạy ra đồng định sẽ vút đen đét vào cái lưng trần bóng nhẫy mồ hôi kia cho nó chừa cái thói mất dạy. Nhưng nhìn thằng ở cày ngon lành quá, hắn lại lắc đầu, vứt roi chửi rủa một hồi, rồi dằn mặt Tiện “ông sẽ lột xác mày”. Tiện lành như cục đất, chả biết to tiếng với ai bao giờ. Lão không có con và đã góa đến mấy đời vợ. Người ta bảo số lão sát vợ, nên gái làng nhiều đám thích lão nhưng chả cô nào dám theo. Tiện chỉ có một nhược điểm là không biết chữ. Thủa “bình dân học vụ” , tối tối lão cũng xách đèn đi học, nhưng học trước quên sau, kết cục chẳng để vào đầu chữ nào. Bí thư chi bộ làng Hạ, sau khi phân tích kĩ gốc gác, lai lịch lão Tiện, đã kết luận: “Lão Tiện tốt, giao trọng trách trông coi tài sản của tập thể, của xã hội chủ nghĩa cho một người như thế, chúng ta yên tâm”. Hợp tác xã thu xếp cho lão tiện ở một gian nhà nhỏ trong khu vực trụ sở. Rõ khổ, hàng chục năm đầu tắt mặt tối mà đồ đạc của lão chuyển lên chỉ có mấy cái nồi nhôm méo, cái rổ đựng mấy cái bát sành, vài ba bộ quần áo cũ mèm và bộ mùng mền đã chuyển sang màu cháo lòng. Bỏ lại căn nhà ổ chuột lão chả tiếc. Lão chỉ tiếc cái chõng tre, vì hợp tác xã đã đóng hẳn cho lão cái giường gỗ xoan. Tần ngần với bộ “long sàng” một lúc, rồi lão cũng tặc lưỡi: “Thôi thì tiếc cái thứ vứt đi chả chó nào thèm nhặt ấy làm gì”. Từ ngày có lão Tiện, đình làng Hạ vắng hẳn tiếng trẻ, lão bảo: “Nơi kho tàng, trụ sở trẻ con bén mảng làm gì”. Ngôi đình, trong được lão quét dọn sạch bong. Hết giờ, lão cẩn thận khóa cổng lại, ai vào lão cũng hạch hỏi, căn vặn đủ thứ. Vì thế mà chưa xảy ra mất cái gì bao giờ… Một buổi tối, làng Hạ vừa lên đèn thì lão Tiện nghe có tiếng gọi cổng. Lạ nhỉ ai còn đến vào giờ này?

– Cho tôi hỏi ông Tiện — tiếng một người đàn bà.

– Có việc gì? Từ trong nhà lão Tiện nói với ra cụt lủn.

– Dạ, xin ông cho tôi vào có chút việc.

Tôi không làm được việc gì sốt. Nhà ông chủ nhiệm ở… nhà ông bí thư ở… nhà ông chủ tịch ở… cứ đến đấy mà làm việc. Tôi là bảo vệ, giờ này không mở cửa được, trong này kho tàng không được phép.

– Ông ! Ông Tiện, xin ông ra cho tôi nói đã — người đàn bà vẫn khẩn khoản nài nỉ — Tôi từ xa tới, chẳng nhẽ lại không nhờ ông được hớp nước, lẽ nào ông lại ác đến thế.

Lão Tiện ngần ngừ một lúc rồi cũng miễn cưỡng đi ra, tra chìa vào ổ khóa. Người đàn theo lão vào trong nhà. Lão vặn to ngọn đèn dầu, rót nước đưa cho khách. Người đàn bà trạc tuổi hồi xuân, mập mạp ra dáng người tỉnh thành. Đỡ bát nước trên tay, thị không uống ngay mà đặt xuống bàn, nhìn lão trân trân:

– Anh Tiện không nhận ra em thật à? (Thị đột ngột đổi cách xưng hô).

– Chị là… là…

– Em là con gái cụ Phú đây.

Lão Tiện lặng đi mất mấy giây rồi la lớn:

– Cô út phải không? Trời ơi! Trời ơi…

Lão Tiện trở nên lóng ngóng vì xúc động, cứ nhắc đi nhắc lại hai tiếng trời ơi.

– Vậy thế cô ở đâu, đi đâu thế này?

– Em về làng tìm anh.

– Tìm tôi? Mấy chục năm rồi từ ngày ra đình cụ Phú bỏ đi…

– Thôi anh nhắc lại mà làm gì.

Đêm ấy, lão Tiện lại được tận hưởng thỏa thuê cái hơi ấm kỳ lạ của người đàn bà đã từng vụng trộm với lão thủa còn là anh trai cày đi ở mướn. Thị cho lão biết, sau khi bố mất, gia đình tan tác cả. Người chị theo chồng đi biệt tích, còn mình cùng mẹ phiêu bạt vào mãi một tỉnh xa trong Nam. Thị lấy chồng được một đứa con trai thì chồng chết, bây giờ ở vậy nuôi con. Sau những phút no nê cuồng nhiệt, lão Tiện hỏi người đàn bà:

– Cô bảo về tìm anh có việc gì?

– Em chỉ nhờ anh việc này, chắc là anh làm được.

Thị gỡ tay lão ngồi dậy, thì thào: “Trước khi mất, bố em dặn ngày xưa khi xây đình, cụ tổ bảy đời nhà em đã hiến cho làng đôi mắt rồng, chúng em phải tìm về mà lấy lại”. Lão Tiện giãy nảy :

– Mắt rồng! Rồng nào?

Người đàn bà vội bịt miệng lão: Khẽ chứ !

– Nhưng làm sao, làm sao mà tôi lấy được?

Khổ quá, có gì khó đâu…

Rồi thị châm đèn, lấy trong túi xách mang theo con dao nhỏ nhọn hoắt và hai viên thủy tinh tròn như hai hòn bi.

– Đây, anh lấy con dao này khẽ nậy từ dưới lên, thế này, thế này, rồi lắp hai con mắt thủy tinh này vào như cũ…

Lão Tiện không sao ngủ tiếp được. Lần đầu tiên trong đời lão trằn trọc. Hừ ! Lão già Phú Tín chỉ rách việc, xuống lỗ rồi còn dặn con về lấy lại thứ đã hiến cho làng từ thủa cụ tổ bảy đời. Quá lắm! Lão nhỏm dậy, với tay lấy hai viên thủy tinh gõ gõ vào nhau. Hừ, chắc cũng là đá cả chứ cứt gì. Mà khi nãy con mẹ này nó nói gì nhỉ, ừ phải rồi, đã từ lâu làng đâu có cúng kính, rước xách gì nữa mà rồng với phượng, thứ ấy cũng đâu phải của hợp tác xã. Lão chợt nhớ đến những ổ khóa đã hoen gỉ của mấy cái kho rỗng. Khoán sản rồi, trong ấy giờ cũng chẳng có chó gì đáng giá. Xưa nay, mình cũng có để mất mát gì đâu mà sợ. Nghĩ vậy, lão thở phào nhẹ nhõm, quay sang ôm ghì lấy người đàn bà… Đêm về khuya, gió thổi nhẹ, trời mát dịu, tất cả đang chìm dần vào im lặng, chỉ còn nghe tiếng sấm đầu mùa hạ ì ầm vọng tới từ xa…

Nửa đêm, trời mưa như trút nước. Người đàn chợt tỉnh giấc, lay gọi lão Tiện:

– Đến giờ rồi, nào giúp em đi.

Lão Tiện chẳng nói chẳng rằng, mặc quần áo, quàng vải mưa, nhét cái gói nhỏ có con dao và hai viên thủy tinh vào túi ngực. Lão lầm lũi bước ra ngoài trời, được mấy bước nghĩ sao lại lập cập quay vào, ghé tai người đàn bà:

– Này, mình làm vậy không biết Thành Hoàng làng có bắt tội không nhỉ ?

– Lo gì, ai thèm bắt tội anh coi kho. Chỉ riêng việc để đình làng hoang vắng, lạnh ngắt, Ngài đã cho cả làng đói nhe răng ra đấy thôi.

Sau mấy giây lưỡng lự, lão Tiện tặc lưỡi, ừ! Làm thì làm, trước sau trời đất đổi thay gì thì mình vẫn là thằng làm thuê, là đứa ở, sợ đếch gì.

Khi công việc xong xuôi thì lão Tiện đã ướt sũng. Lão chây chả tồng ngồng trước ánh đèn dầu, để người đàn bà lau khô người cho lão. Rồi thị lại kéo lão vào giường, trả công lão bằng cách xoa bóp khắp mọi nơi cho cái cơ thể còn rất cường tráng của lão nóng rực lên. Những động tác của người đàn bà hồi xuân mỗi lúc một thêm cuồng nhiệt. Hai viên hồng ngọc đã cất kỹ như cũng đang sáng lên trong đầu thị… Thì ra, suốt mấy chục năm mà cái anh trai cày ngày xưa vẫn ngây ngô, u tối, chẳng sáng dạ ra được chút nào…

***
Lúc lão Tiện tỉnh dậy thì mặt trời đã lên được mấy con sào. Người đàn bà đã bỏ đi từ lúc nào. “Không được một lời chào, bố đồ vô ơn” — Lão rủa thầm. Chợt nhớ đến việc làm tối qua, lão bước nhanh ra sân, nhìn lên mái đình. Đôi mắt con rồng vẫn nhìn lão sáng quắc. Không, không phải, hai con mắt ấy đã dại đi. Lão dụi mắt, nhìn lại lần nữa. Đúng! Đôi mắt ấy đã dại đi mất rồi. Lão hoảng hốt, làm thế nào bây giờ. Nhưng rồi lão chấn tĩnh được ngay. Lâu nay, có ma nào nó để ý đến rồng, đến phượng đâu mà lo, can hệ đếch gì. Nghĩ vậy, lão thấy nhẹ cả người.

Một ngày mệt lả đã trôi qua. Mới chập tối mà hai mắt lão Tiện đã díp lại, vừa đặt mình xuống giường lão đã ngáy như sấm. Có tiếng gì huỳnh huỵch như có ai đang đánh vật bên ngoài. Lão Tiện vừa rút được then cửa thì đã té nhào xuống đất. Con rồng đang quằn quại trước thềm nhà và vươn cổ phun nước phì phì vào mặt lão. Từ hai hố mắt nó, những viên thủy tinh rơi ra kéo theo những giọt máu đỏ tươi. Mồ hôi vã ra như tắm, lão hét toáng lên, vùng chạy, nhưng chân tay cứ nặng trĩu không thể nhấc lên được… Một cơn gió làm hai cánh cửa sổ đập mạnh vào nhau. Lão giật mình choàng tỉnh, thì ra lão nằm mơ…

Sáng ra, một cơn đau đầu dữ dội khiến lão Tiện lăn từ giường xuống đất, rồi lại từ đất lên giường. Người ta vội đưa lão đi bệnh viện. Bác sỹ bảo, lão bị “thiên đầu thống” cấp tính, khó mà cứu nổi hai con mắt. Quả nhiên, sau khi ra viện mắt lão mờ dần, mờ dần cho đến khi bóng đêm hoàn toàn bao trùm lên lão. Và, sau một trận ốm thập tử nhất sinh nữa, lão thành người mất trí. Lão thường chỉ tay lên mái đình và gào lên những tiếng lạ tai đến khản đặc cả cổ. Không ai ở làng Hạ hiểu nổi lão Tiện muốn nói cái gì. Theo hướng tay lão,họ chỉ thấy con rồng lớn vẫn nằm đó, toàn thân nặng trĩu bởi những lớp rêu đen. Chẳng biết đã có ai nhận thấy, đôi mắt của con rồng làng mình, từ lâu đã không còn phát ra được những tia sáng quắc?

Nguyễn Chính

 

Sunday, June 21, 2026

Gọi Đó Là Vụn Vỡ - Nguyễn Đạm Luân

 Gói Đó Là Vụn Vỡ




Mùa Xuân Làng Nhân Ái - Khanh Phương

 

Mùa Xuân tại làng Nhân Ái




 

đấu tố


    Tại huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình miền Bắc Việt Nam, có một làng đẹp và hiền hòa, thơ mộng. Khi xưa, lúc chưa có chiến tranh dân cư sống rất an bình. Nam nhân hay phụ nữ nơi đây đa số được trời cho có đời sống về tình yêu phong phú và thoải mái. Dân nơi đây có truyền thống mến yêu hòa bình. Như được thần linh che trở, ngay cả lúc cả miền Bắc gặp mùa chinh chiến Việt Pháp, làng này vẫn may mắn không phải chịu cảnh bom đạn. Làng cũng có một tên như những thôn xã khác, nhưng vì muốn tôn trọng những truyền thuyết và phong tục khá riêng tư của một địa danh, nên ta hãy tạm lấy tên là Làng Nhân Ái để gọi cho một địa phương có tính cách đặc biệt này.

Làng ở gần bên một nhánh lớn của sông Đáy, dân cư rất trù mật. Nếu kể đủ mọi thôn xóm, dân số có tới gần ba ngàn người. Dân làng lấy nghề nông làm căn bản. Phụ nữ thì canh cửi, chăn tằm hái dâu. Một số nam nhân sống với nghề chài lưới trên sông nước. Ruộng đất màu mỡ. Nếu không có chiến tranh, gia đình nào có ít sào ruộng do cha ông để lại và chịu khó chăm lo cấy cầy thì chắc chắn là đủ ăn. Ðó là chưa kể tới những nhà phú nông, ruộng thẳng cánh cò bay. Tuy nhiên, giống như nhiều làng mạc khác trong vùng, cũng có một số gia đình nông dân ít ruộng vườn, nghèo và chỉ chuyên làm nhân công, cày thuê vác mướn cho những địa chủ. Con sông bên làng thật nhiều cá, ngoài cá lớn còn có những loại cá nhỏ. Nhiều nhất là cá mương, cả nhiều ngàn con, đi từng đàn. Dân làng khi làm gà, làm vịt bên bờ sông, chỉ cần thả những miếng da gà vịt lên mặt nước là dễ dàng thấy cả mấy chục con cá vẫy vùng, quẫy nhảy đến ăn mồi. Một loại cá nữa có tên là cá Dầm, giống như cá rô nhưng ít gai ngạnh và chỉ ở sông, vắng thấy ở ao. Khi người chài lưới được mùa, những phú ông trong làng mua cá về, ướp muối, phơi khô để dành. Đến mùa gặt, mùa cấy đem cho tá điền dùng món cá khô nướng, dùng vào bữa cơm, sau những lúc làm công việc đồng áng. Người nông dân, chỉ cần có cơm gạo đỏ cho no đủ, thêm cá khô mặn nướng, vài quả cà muối, một nồi canh mồng tơi hay canh rau muống nấu với cua đồng là cũng đủ thấy cuộc đời hạnh phúc.

Riêng nói về tình yêu nam nữ, thì làng Nhân Ái là một địa đàng. Tâm hồn người dân ở đây rất phóng khoáng, phải nói là lãng mạn, lại dễ tha thứ cho những lỗi lầm về tình ái. Truyền thống này đã có hàng trăm năm, trải qua nhiều thế hệ, có thể là từ khi làng mới được thành lập từ nhiều thế kỷ xa xưa. Làng có nhiều điểm đặc biệt khiến cho khách phương xa phải chú ý. Ðó là Giếng Hoan Lạc, Núi Chim Cao và Miếu Bà.

Giếng Hoan Lạc ở bên đình cung cấp nước ngọt mát cho cả làng. Tục truyền, Thành Hoàng một hôm về báo mộng cho vị Tiên Chỉ đầu tiên địa điểm để đào giếng và dạy rằng ai uống nước này sẽ được mạnh khỏe, sống lâu, sanh con đẻ cái đầy đàn. Nhiều người tin rằng nước giếng này có đặc tính bồi dưỡng sức khỏe và tăng cường khả năng sinh lý. Điểm đặc biệt là mỗi khi có ai vô tình hay tinh nghịch ném một viên đá xuống giếng thì trong làng lại có những chuyện lộn xộn về tình yêu xảy ra. Hoặc là hai cô cậu bà con trong họ phải lòng nhau, ăn ở với nhau. Hoặc là bà nọ đã có chồng ngoại tình với ông kia đã có vợ… Dân làng lại kết luận là tại “giếng bị động“, đem lễ vật cúng kiếng Thành Hoàng, thế là xong. Có khi nhiều cô cậu, vì lý do gì ngang trái hay bị ngăn cản không lấy được nhau, họ chủ ý ném một hòn đá nhỏ xuống giếng, vậy là có thể toại nguyện làm những chuyện tình ái chưa được bà con hay dân làng chấp nhận, sau đó cúng tạ lỗi với thần linh, hợp thức hóa và thành vợ chồng. Dân làng lại dễ dàng tha thứ.

Đặc điểm thứ hai của làng là một hòn núi, có hình dạng đặc biệt, có tên là Núi Chim Cao, sừng sững oai hùng một mình tọa lạc ở ven sông ngoài bìa làng. Các nhà Nho tao nhã thì nói là núi có hình dáng của một bầu rượu, chắc là các vị lúc nào cũng nghĩ đến rượu ngon, thơ phú và bạn hiền. Những người nông dân cần mẫn lại cho là quả núi giống như một nắm tay khổng lồ với một ngón tay dơ lên trời, chỉ cho nhân gian những đàn chim lượn và mây bay, trời nắng trời mưa, để tùy thiên văn lo việc đồng áng. Những mục đồng và các thanh thiếu niên tinh nghịch thì dẫn giải là núi có hình tượng khác. Mặc cho trí tưởng tượng của mỗi người muốn nghĩ sao cũng được, hàng năm cứ đến ngày mồng bốn tháng tư ta thì hàng ngàn con chim nhạn từ hướng nam bay về tìm tổ cũ tại đỉnh Núi Chim Cao. Người ta nói là vào cuối Thu, để tránh mùa Đông giá lạnh chúng bay về miền Nam, xa cả ngàn dặm tìm nơi ấm áp. Mùa Xuân, chim nhạn lại trở về đây và bắt đầu một mùa yêu đương sanh sản cho thế hệ chim mới. Chúng bay lượn quanh đỉnh non cao, ríu rít reo vui, như nhắc nhở mọi người là mùa Xuân đã tới, nên lo hưởng thụ cảnh trời mây, nắng đẹp và tình yêu. Chúng không bao hồi hương về đây trước ngày mồng bốn tháng tư, chúng chỉ bay về đúng hay sau ngày kể trên chậm lắm là một hai tuần lễ. Vào dịp này dân làng đã xong vụ cấy, và đây là mùa của cưới xin, mùa của hội Xuân, mùa của yêu đương. Trai gái trong làng còn độc thân có cơ hội tìm cách thân thiết với nhau hơn. Các phụ nữ và nam nhân đã có gia đình thì hình như mỗi độ chim về, tình vợ chồng cũng tăng phần nồng thắm cho hợp với ý Xuân của trời đất, với chim muông và hoa cỏ. Có người để ý nói là mỗi độ thấy chim về thì dân làng thường đi ngủ sớm, đèn trong thôn xóm tối đến tắt sớm hơn. Bởi lẽ ấy, mỗi năm, khoảng chín tháng mười ngày sau dịp nhạn tìm về tổ cũ thì trong làng nhiều bà nhiều cô chuyển bụng, đem đến cho làng thần tiên này một thế hệ nhi đồng mới và làng mỗi năm mỗi đông thêm cư dân.

Đặc điểm thứ ba của làng là Miếu Bà. Đây là một miếu bằng gạch, xây trên một gò đất rộng giữa nơi đồng ruộng bên làng, dưới một tàng cây cổ thụ. Chung quanh gò có nhiều bụi chuối xanh tươi. Theo truyền thuyết, Miếu đã có trên một trăm bốn mươi năm. Cửa miếu bằng gỗ lim dày và vững chắc, lúc nào cũng được đóng kỹ bằng hai lần khóa. Ai cúng vái thì đặt lễ vật và thắp hương nhang ở trên một bệ thờ ngay ngoài cửa miếu. Dân làng nói ở trong miếu có Tượng Bà, và Tượng Bà là một bí mật. Tục lệ trong làng là chỉ có một phụ nữ duy nhất, có chức gọi là CôHầu, được phép mở khóa, vô cửa miếu một cách kín đáo khi không có ai cúng lễ, săn sóc lau chùi bàn thờ và Tượng Bà bên trong. Cô Hầu không cho ai được vào theo và cũng không được phép tiết lộ điều gì mình thấy. Nếu Cô Hầu xúc phạm hay làm sai điều này, có thể bị  vật chết và nguy hại đến cả nhà, và cả làng cũng sẽ bị thần linh trừng phạt. Vì thế, hình dáng của Tượng Bà cũng như đồ thờ bên trong miếu, dân không ai được biết trừ một người phụ nữ này. Theo các vị bô lão, tục truyền là vào những thập niên đầu lập miếu, người phụng sự là một người nữ trong làng được  báo mộng, chỉ định cho chức vụ hầu việc hương nhang. Nếu người này già cả, thì được quyền nêu danh một người khác thay thế, qua việc  phán bảo trong một giấc mơ. Miếu Bà rất linh thiêng. Ai hiếm muộn hay gia đình ai có người đau ốm đến cầu xin cúng kiến thường được như ý nguyện. Khi chuyện cầu mong không xong, thì được giải thích là tại người cầu xin không có lòng thành. Cũng theo truyền thuyết được kể lại, rằng ngày xưa trong làng có một phú ông đã già lại có một người vợ bé, không rõ là vợ thứ mấy, còn rất trẻ, gốc gác là một cô thợ cấy. Phú ông đã lớn tuổi mà cô vợ bé xuân tình còn tràn đầy, nàng tư tình với một tá điền của phú ông. Một hôm phú ông bắt được quả tang hai người đang làm chuyện thương yêu nhau trong khu vườn trồng khoai sắn gần nhà. Phú ông giận lắm, cho đem trói chung, chân và thân mình cả hai người, vào một cây cột trên gò, dưới tàng cây cổ thụ, để cho người làng qua lại đều thấy. Cô thợ cấy và người yêu tá điền có lẽ chịu sự nhục nhằn không nổi, nửa đêm họ cùng cắn lưỡi từ giã cõi đời bên cạnh nhau, trong những vòng dây oan nghiệt cột chặt hai người. Gặp giờ linh, cô thành ra một Bà Thần và trả thù, trù ẻo gia đình phú ông mau chóng bị tán gia bại sản. Nhân số trong nhà phú ông bị hao hụt dần mòn vì bệnh hoạn hay vì tai nạn. Phú ông lúc bấy giờ tài sản đã gần khánh kiệt nhưng cố gắng lập một miếu thờ ngay trên gò đất. Phú ông còn thuê tạc tượng thờ đặc biệt đặt trong miếu, và một người con gái của phú ông là Cô Hầu đầu tiên lo việc hương nhang nơi miếu. Có lẽ cũng vì chuyện tình buồn này mà từ đó dân làng Nhân Ái thật là phóng khoáng dễ dãi trong vấn đề luyến ái, ai có lỗi lầm trong chuyện yêu đương thường được tha thứ, khoan hồng như đã đề cập ở đoạn trên. Nhưng truyền thống dễ dãi này lại gây ra một điểm bất lợi là từ đó các làng xã khác, ít nơi nào chịu dựng vợ gả chồng với con trai con gái làng Nhân Ái. Những làng mạc lân cận rất e ngại cái đức tính phóng khoáng kể trên. Nếu họ lấy một người làng này về mà có chuyện ngoại tình lăng nhăng thì người phối ngẫu dễ dàng đổ tội là Giếng Hoan Lạcbị động, không phải do lỗi lầm hay do sự thiếu chung thủy của họ. Thành ra qua nhiều thế hệ, người trong làng có tục lệ chỉ lấy người làng, quanh quẩn giữa những người thôn Đông thôn Đoài, xóm Thượng xóm Hạ, xóm Chùa xóm Đình… Trải qua trên một trăm năm, mọi người trong làng hầu như đều quen biết nhau, hoặc là bà con xa gần với nhau, càng dễ gây tình thân thiết.

Những chi tiết trên đây là nói về địa lý và nhân văn của làng Nhân Ái. Câu chuyện thật sự của thời cận đại chỉ xoay quanh ba nhân vật chính: Cậu Đạt, Cô Thắm và Thằng Còm. Nói là cận đại, nhưng chuyện lúc bắt đầu xảy ra là cả mấy chục năm về trước, thời mà chiến tranh Việt Pháp chưa bùng nổ.

Cậu Đạt là con trai của một nhà nông giầu có, cả làng gọi là ông Cửu Thịnh. Thời pháp thuộc, ông có tiền, mua chức Cửu Phẩm Văn Giai để có chút danh với làng xã. Mỗi khi có ăn uống, đình đám, hội hè trong làng ông được ngồi ở chỗ chiếu cao. Ông chỉ có Cậu Đạt là con trai duy nhất, thêm hai người con gái, ba bà vợ, già có trẻ có. Khi đứa con trai của ông Cửu Thịnh mới lên chín, nhà cần thêm người chăm lo vườn ruộng mênh mông, ông cho cưới Cô Thắm lúc đó mười bảy tuổi, con gái của một gia đình cư dân nghèo ở thôn Đoài về làm vợ Cậu Đạt. Thời buổi ấy, tục lệ tảo hôn tại thôn quê còn rất thường, nhất là đối với những nhà giầu có. Trước đó khá lâu, khoảng năm năm, ông Cửu Thịnh cũng đã đem Thằng Còm, con một gia đình bần nông khác ở Xóm Chùa về nuôi. Thằng Còm lúc đó mới có chín tuổi, cha mẹ mất sớm. Cũng nên nói thêm ở đây là cái tên “Thằng Còm” rất thường thấy tại các làng mạc miền Bắc ngày xưa, và nhiều nhà văn đã cho Thằng Còm của họ thành những nhân vật trở nên anh hùng, dũng cảm trong những tác phẩm. Riêng Thằng Còm trong truyện này chỉ làm công việc chăm lo đàn trâu, lớn nhỏ trên một chục con, của ông Cửu Thịnh.

Thế rồi thời gian trôi, Miếu Bà vẫn có người chăm lo săn sóc, giếng Hoan Lạc lâu lâu cũng bị động, và chim nhạn hằng năm vẫn theo thời tiết mùa Xuân trở về đỉnh Núi Chim Cao. Cô Thắm đã hai mươi hai tuổi, Cậu Đạt mười bốn và Thằng Còm đã trên mười tám. Nhờ cơm gạo của nhà phú nông, Còm lớn lên như thổi, sức vóc vạm vỡ, da ngăm đen dòn mạnh khỏe vì ở ngoài trời chăn trâu. Đúng lúc đó thì Cô Hầu già nua của Miếu Bà trước khi từ trần có nói với dân làng là được  báo mộng cho Cô Thắm kế nhiệm làm công việc phụng sự nhang đèn tại Miếu. Thắm có thêm công việc mới, mỗi ngày rằm, mùng một lại lo việc săn sóc nơi Miếu Bà. Khi phụng sự việc hương khói, Thắm thường mở cánh cửa gỗ lim vững chắc, hằng che dấu những bí mật bên trong miếu, để lau chùi tượng Bà và thắp nhang. Dân làng ai cúng kiếng nải chuối đĩa xôi, Thắm lại đem về cho Thằng Còm, có khi nàng đưa cho nó ăn lúc nó còn đang chăn trâu ngoài đồng.

Cậu Đạt tuy đã mười bốn tuổi, nhưng là con nhà giầu, cứ mải chơi diều, đánh khăng, câu cá với các bạn đồng tuổi, chưa làm gì đến chuyện vợ chồng với Thắm. Trong khi đó thì Thắm và Thằng Còm, lúc này đã là một thanh niên cường tráng, cả hai người đang độ sung sức của tuổi xuân lại ở gần nhau và gặp nhau mỗi ngày. Mới đầu chỉ có sự cảm mến giữa chủ tớ khi Còm còn nhỏ, sau thành tình yêu nồng nàn và kín mật của đôi nam nữ. Ðúng như câu sáo ngữ “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”.

Câu chuyện tình của Thắm và Còm bắt đầu khi cuộc chiến Việt Pháp bùng nổ mạnh mẽ nơi các thành thị như Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng và cả Ninh Bình … Một ngày có đoàn Văn Nghệ Kháng Chiến đến lưu diễn tại làng Nhân Ái. Nhà của Cửu Thịnh rộng lớn, nên cho đoàn kịch nghệ tạm trú. Buổi tối họ diễn những vở kịch tuyên truyền, trong đó có những diễn viên đóng giả Tây làm Đô Đốc DArgenlieu, làm Tướng Bolert, rồi sau này là tướng De Lattre … của thực dân Pháp bị dân quân du kích kháng chiến phục kích đánh cho tử thương dễ dàng trên sân khấu. Kịch được trình diễn tại đình làng vào buổi tối vì ban ngày mọi người phải lo việc đồng áng, chài lưới và nếu tụ tập đông sợ máy bay Pháp tới bắn hay dội bom.

Buổi tối hôm đó, Thắm dắt Cậu Ðạt chồng nàng đi coi diễn kịch. Còm cũng đi theo. Dân làng chen chúc đứng chật ních trước sân khấu thiết lập trong đình. Thắm đứng ôm vai Cậu Ðạt còn thấp bé ở phía trước nàng. Tự dưng Thắm cảm thấy một sức đè ép khá nặng sau lưng. Nàng quay lại, thấy Còm ngay phía sau. Hơi thở nóng ấm từ người con trai gây một cảm giác dễ chịu, thích thú nơi gáy cổ của Thắm. Nhưng bị sức ép từ phía Còm nhiều quá, nàng nói:

– Mày làm cái gì thế Còm.

Còm tỉnh bơ trả lời:

– Đằng sau họ chen lấn, đẩy tôi quá Cô Thắm.

Trong khi đó thì Cậu Đạt mải mê coi diễn kịch. Nam diễn viên đóng giả tướng Pháp Bolert đang bị dân quân du kích đâm chảy máu bằng mực đỏ nơi bụng, nằm dẫy chết trên sân khấu. Dân làng vỗ tay nhiệt liệt. Thắm giả bộ như chăm chú theo dõi màn kịch, dễ dãi để kệ cho Còm tự do muốn đụng chạm sao cũng được. Và từ đó nàng và Còm thân thiết nhau.

Một hôm ngày rằm, sáng còn sớm tinh mơ, Thắm đem tơ tằm đi bán nơi chợ của làng bên. Trên chuyến đi, nàng rẽ vào con đường nhỏ từ lộ cái để vào Miếu Bà, trong tâm dự định lo phận sự cúng kiếng vài phút. Còm chăn trâu ở gần, nó lén đến cạnh miếu lúc nào nàng không hay. Còm vào luôn trong miếu, nơi được coi là bí mật và tôn nghiêm cả trên trăm năm nay, nó làm Thắm hết cả hồn vía. Thấy Còm, nàng vừa thở, vừa sợ, lo bị Bà vật, nhưng có lẽ cũng thấy vui và sung sướng. Còm tò mò nhìn lên hương án nơi bàn thờ. Còm thấy một bát hương đỏ, hai bên cạnh là hai cây đèn bằng đồng sáng bóng, và chính giữa kệ thờ là một tượng gỗ sơn son thiếp vàng tạc hình một nam nhân và một phụ nữ trẻ bị trói vào nhau phía thân dưới, nhưng bốn cánh tay còn tự do quấn quít ôm lấy nhau như đang say sưa trong tình yêu. Có lẽ Còm là người đàn ông duy nhất từ nhiều thế hệ được thấy tượng Bà, bây giờ nghĩ phải gọi là tượng Ông và Bà mới đúng.

Đàn trâu được thả, thanh bình ăn cỏ phía xa. Thấy hình tượng Ông Bà đang ôm nhau, Còm cũng nổi hứng yêu đương. Còm ôm lấy Thắm, hôn lên khắp mặt nàng. Thắm chỉ ú ớ, không chống cự. Cũng chẳng thấy Bà trừng phạt, vật sống vật chết gì. Có lẽ trong tiền kiếp, Ông Bà đã từng đau khổ vì yêu đương nên thông cảm cho đôi trai gái chăng. Rồi Thắm vừa thở vừa nói:

– Anh Còm, phải tội chết.

Trời còn sớm mai, cảnh vật nơi đồng quê còn mờ hơi sương, nhưng Còm cũng sợ có người đến cúng lễ, sẽ thấy lục cục bên trong, nó bảo Thắm:

– Mình xuống bụi chuối dưới gò. Tôi đi trước, Cô Thắm xuống sau nhé!

>Còm vẫn quen miệng gọi Thắm bằng Cô. Anh nhìn trước nhìn sau, không thấy ai, từ từ đi xuống một phía chân gò khuất bên kia, và chỉ ít phút sau Thắm cũng tìm ra bụi chuối chỗ Còm đang nôn nao chờ đợi.

Bầu trời buổi sáng trong mát, mặt trời chưa ló dạng, ánh sáng còn mờ ảo. Những giọt sương trong suốt đọng trên cỏ non lóng lánh. Bầy chim trên đỉnh Núi Chim Cao mới thấp thoáng vài con rời tổ bay lượn. Những làn gió Xuân làm lá bụi chuối lay động rạt rào lấp đi những tiếng rên khẽ trong sung sướng của Thắm. Cỏ non dưới đất và những đùm lá xanh mượt mà của bụi cây chứng kiến đôi tình nhân say sưa hưởng lạc thú yêu đương lần đầu trong đời.

Khi người con trai và người con gái đã gần gũi nhau một lần thì mọi chuyện liên hệ tình ái tiếp theo trở nên dễ dàng và thành thói quen cho thèm muốn. Từ lần thân mật dưới bụi chuối bên gò Miếu Bà, Còm và Thắm tiếp tục tư tình với nhau. Khi thì ban đêm dưới chõng tre bên hè vắng, khi thì ban ngày trong kho lúa đóng kín, lúc thì ở bên những luống khoai lang nơi vườn của khu trang trại rộng lớn. Trước mặt mọi người, lúc cần xưng hô, Thắm vẫn gọi tên Còm hay Thằng Còm, và Còm vẫn kêu nàng là Cô Thắm. Lúc chỉ có hai người và trong những giây phút yêu đương lén lút vội vàng, cách xưng hô cũng đã bắt đầu đổi khác đi. Còm thì càng lớn càng sung sức, và Thắm từ ngày có tiếp xúc tình ái sâu đậm với người khác phái, sắc da vóc dáng càng tươi mát hơn.

Thế rồi chuyện phải đến đã tới. Một hôm bên vựa thóc, Thắm nói với người tình:

– Anh Còm, Thắm bị tắt kinh, buồn nôn, chắc có thai mất.

Còm lo lắng:

– Tắt kinh bao lâu rồi?

– Mới trễ chừng hơn nửa con trăng.

Còm suy nghĩ, xong anh ta bàn với Thắm:

– Hay là Thắm “ấy” với Cậu Đạt đi.

Thắm lắc đầu:

– Cậu Đạt chỉ ham chơi, mới mười bốn tuổi, biết gì mà “ấy”.

Còm không chịu:

– Phải được chứ. Hồi Còm mười ba mười bốn tuổi, mỗi lần giếng bị động, khi đánh trâu về, thấy đàn bà con gái tắm ở ao làng, nhìn họ cũng đã thấy thích rồi. Cậu Đạt chắc cũng vậy. Cậu ấy gần mười lăm còn gì nữa.

Chỉ trong vòng nửa tháng sau, Cậu Đạt được Thắm chỉ bảo hướng dẫn cũng hơi quen việc yêu đương. Rồi chuyện Thắm mang thai, nhà ông Cửu Thịnh biết và mừng. Dân làng hay tin này, ít ai nghi ngờ hoặc lạ lùng gì, vì với tục tảo hôn đã có hàng trăm năm nay, chuyện vài cậu bé con nhà phú nông mới mười lăm mười sáu được lên chức làm cha đã xảy ra nhiều lần. Những người mừng nhất vẫn là Thắm và Còm. Chuyện tư tình không bị bại lộ. Hai người cũng cố giữ kín đáo, lâu lâu mới tìm cách lén gặp và gần gũi nhau.

Thời gian cứ trôi, đứa con trai của Thắm và Cậu Đạt, phải nói là của Thắm và Còm mới đúng, đã gần hai tuổi, rất kháu khỉnh, có những bước đi khá vững, bập bẹ nói rất đáng yêu. Nó có tên là thằng Cu Vượng. Cửu Thịnh đặt cho cháu đích tôn cái tên này, với ước mong gia thế sẽ thịnh vượng, phát đạt nhiều thế hệ. Cậu Đạt cũng đã trên mười bảy tuổi và bắt đầu trở thành một thanh niên sung sức. Cậu không còn ham chơi thả diều, câu cá như mấy năm trước. Bây giờ Cậu ham làm phận sự của người chồng Cô Thắm thường hơn.

Bắt đầu từ cuối năm 1953, khi cuộc chiến tranh kháng chiến giữa Việt Minh và quân viễn chinh Pháp ngày càng nặng nề. Làng Nhân Ái cũng như hầu hết các làng xã khác trong vùng có phong trào cải cách ruộng đất và tố khổ. Những bần cố nông được kích động để đấu tố các phú nông, địa chủ của mọi thập niên về trước. Những buổi đấu tố tiếp diễn nhiều ngày trong mỗi tháng, và tất nhiên gia đình của Cửu Thịnh cũng là một trong những mục tiêu của phong trào tố khổ có tính cách toàn quốc này. Một ngày vào mùa Xuân, dân làng được thúc đẩy tập họp thật đông trước sân đình khi mặt trời ngả bóng, còn chừng vài con sào trên chân trời hướng thôn Đoài. Tòa án Nhân Dân được thiết lập với một cán bộ cải cách ruộng đất cấp huyện làm Chủ Tọa. Hai cán bộ khác cùng sáu bần nông đại diện cho đủ thôn xóm của làng làm phụ thẩm. Họ ngồi trên những ghế đẩu, sau một chiếc bàn dài. Ở trên cao phía sau của họ là bàn thờ Tổ Quốc. Một lá cờ lớn, treo theo chiều dọc. Trên bàn thờ Tổ Quốc có nến, nhang và đỉnh đồng tỏa nhẹ khói thơm của trầm hương. Cửu Thịnh, cùng mấy bà vợ, các con gái và tất nhiên cả Cậu Đạt bị tố, bắt ngồi trên nền gạch đỏ của sân đình. Riêng Cửu Thịnh, có lẽ bị coi là trọng tội nhất, thì bị trói vào cột cờ, ngay cận bên chỗ các tội nhân khác. Mọi người để ý, thấy Thắm và Còm được đứng trong hàng ngũ nhân dân vì xuất thân từ giai cấp bần nông, và được coi làthuộc giai cấp bị bóc lột nặng nề. Sau nghi lễ đã trở nên quá quen thuộc là chào cờ, mặc niêm và suy tôn “Bác”, viên Chánh Thẩm nghiêm trang tuyên bố khai mạc phiên tòa. Người cán bộ như đã thuộc bài kể tội chung những cường hào ác bá, phú nông địa chủ và hôm nay mục tiêu đấu tố là tên Cửu Thịnh và gia đình. Không biết từ đâu, anh ta đã thu thập được nhiều chi tiết đúng cũng như sai về quá khứ của Cửu Thịnh. Hắn hùng hồn lên tiếng hô hào nhân dân trong làng ai có những gì uất ức do bị đàn áp từ bao nhiêu năm nay hãy ra tố cáo để nghị tội và trừng trị các tội nhân.

Một cô thợ cấy đứng ra tố cáo vợ hai của Cửu Thịnh thường bắt cô làm việc cực nhọc quét dọn cả mấy căn nhà rộng lớn đến quá nửa đêm, sau khi cô đã phải làm việc ở ngoài đồng rất là mệt mỏi mỗi ngày đến nhá nhem tối mới về. Tội ác này kể ra không có gì trầm trọng. Một tá điền, có lẽ đã tốt nghiệp lớp i-tờ, cầm một miếng giấy, cố đọc một cách chậm chạp những tội trạng của cả gia đình Cửu Thịnh đã bóc lột công sức lao động của anh. Một cô bần nông khác, còn trẻ chưa chồng và diện mạo có vẻ lẳng lơ, tố cáo sự ép liễu nài hoa của Cửu Thịnh. Cô nói hai lần khi giếng làng bị động, Cửu Thịnh đã bắt cô phải ăn nằm với hắn. Cô khai thêm Cửu Thịnh chỉ cho cô mỗi lần mười đồng bạc Đông Dương và còn dụ dỗ là hành động ăn nằm cốt để thêm sức làm việc cho cô. Nhiều người chứng kiến phiên tòa cười ồ, làm chánh thẩm phải gõ bàn, yêu cầu mọi người giữ trật tự.

Đến lượt Thắm được mời ra để tố cáo gia đình Cửu Thịnh. Cô bồng đứa con là Cu Vượng hai tuổi trên tay. Như đã được học tập từ trước, Thắm tố cáo là lúc cô mới mười bảy tuổi, vì nghèo bị ép buộc phải lấy Đạt, một đứa trẻ còn bé dại và là con địa chủ, để trừ nợ cho cha mẹ, như vậy cô bị uổng phí tuổi xuân. Cô bị bóc lột làm việc như một người đầy tớ không công cho gia đình Cửu Thịnh. Cô không kể ra đươc một chi tiết bị đàn áp hay ức hiếp tàn nhẫn nào khác. Thắm nhìn vào đám tội nhân, và nhìn chồng nàng là Đạt, người sau này đã cùng chung sức với Còm cho nàng những giây phút hoan lạc tại ngôi làng thân thuộc này. Nàng bỗng cảm thấy tội nghiệp Đạt hơn là giận ghét một người con của địa chủ. Bị khuyến khích , bị kích động phải tố cáo thì nàng làm vậy thôi. Và chắc là Thắm cũng có chút lương tâm tự trách tội ngoại tình của mình nhưng không dám nói ra.

Rồi tới phiên Còm được yêu cầu làm công việc đấu tố. Còm lúng túng, chậm chạp vì chưa khi nào phải ăn nói trước công chúng. Thực ra anh ta lại thấy rất hạnh phúc được chăn đàn trâu của chủ. Mỗi con trâu đã được anh đặt cho một tên, và mỗi một con vật to đen khỏe mạnh kia thân thiết với anh như một bạn hiền. Anh thuộc lòng vị trí từng cái khoáy của mỗi con trâu, cũng như đã nhớ rõ một vài nốt ruồi kín đáo trên người của Thắm. Còm từ trước tới nay chưa thấy bị bóc lột hay thấy đời anh bị đầy ải cực nhọc. Ðúng như sáo ngữ “Ai bảo chăn trâu là khổ“. Bầu trời và đồng ruộng thênh thang là bạn của Còm. Lúa thơm, hoa dại, cỏ non là chỗ anh được gần cận nằm nghỉ trưa, nhìn trời mây. Và Cô Thắm là chỗ anh thân ái trao đổi cho hết ân tình. Có gì để anh phải than thở và đấu tố đâu. Một cán bộ đứng cạnh anh thúc đẩy:

>- Đồng chí Còm, hãy tố cáo những gì đồng chí bị áp bức.

Còm lúc đó cố nhớ, anh chỉ nói được một phần nhỏ những câu đã được dặn dò từ trước:

– Thưa đồng bào, thưa các đồng chí. Tôi là Còm…

Anh ta còn ấp úng chưa dứt câu thì vài cô thôn nữ chưa chồng, có lẽ cũng đã để tâm và mến thích anh, nói:

– Bây giờ lớn rồi.

– Hết Còm rồi.

Lại một màn yêu cầu trật tự của chủ tọa. Còm tiếp:

– Tôi bị ông Cửu Thịnh bắt đi chăn trâu từ lúc mới chín mười tuổi, không cho đi học…

Còm vẫn quen miệng, đáng lẽ theo học tập phải nói tên Cửu Thịnh, nhưng vì kính nể chủ từ bao nhiêu năm nay, anh vẫn gọi Cửu Thịnh bằng ông. Anh ta nói tiếp:

– Một mình tôi phải chăn mười bốn con trâu. Lúc trâu không đi cày bừa, tôi phải cho trâu ăn cỏ và phải tắm trâu, vất vả. Tôi bị bóc lột, không được trả công. Mỗi năm chỉ được hai bộ quần áo vải thô và mười gạt lúa, bán được thì mua thuốc lào, chỉ đủ hút thuốc bằng điếu cày lúc ở ngoài đồng, gió lạnh. Cơm ăn hằng ngày tôi chỉ có gạo đỏ, cà muối, canh cua, cá khô mặn …

Có lẽ mấy món Còm vừa kể có vẻ ngon miệng hơn là bây giờ đã vài nhà bắt đầu phải ăn độn khoai sắn vì cảnh tiêu thổ kháng chiến, cày cấy bị giới hạn do chiến tranh, gạo thóc một phần phải chuyên chở đi bán với tính cách thu mua cho quân đội kháng chiến. Một bà nói với mấy người đứng bên:

– Có đủ mấy thứ đó ăn cũng đỡ.

Rồi đến lượt “Cậu Đạt” bị đem ra hạch tội. Nhưng không có một tá điền, một thợ cấy nào có thù oán gì với Đạt. Chỉ riêng vợ cậu là Thắm, đã vì bắt buộc, phải tố khổ vì cậu mà nàng phải phí tuổi xuân, lấy cậu bé chín tuổi, gần mười năm về trước. Cả tòa lẫn dân làng đều ngầm hiểu rằng đây không phải là lỗi tại cậu này mà là do cha mẹ sắp xếp tính toán.

Đến lúc tòa cho phép các tội nhân biện hộ. Hai bà vợ của Cửu Thịnh không biết nói gì, coi như nhận tội về những lời tố giác đã cư xử bạc đãi bóc lột các bần nông. Cửu Thịnh không chối tội nào kể cả tội tư tình với cô thợ cấy và đã chi phí, ông ta cho là rất sòng phẳng, mỗi lần tới mười đồng bạc Đông Dương. Cửu Thịnh bào chữa yếu ớt, nói là mang tội phú nông vì cha mẹ ông bà hắn để lại ruộng vườn, tội không phải do hắn gây ra, mong được nhân dân tha thứ. Riêng Đạt vì còn trẻ tuổi, cậu ta chẳng biết sợ là gì. Những người phụ thẩm ngồi trên kia một thời là tá điền vẫn nuông chiều cậu. Có người trước kia hay nặn đất sét đem nung làm những con giống, hay dùng lá chuối đan thành những con cào cào cho cậu. Đạt tỏ ra bình tĩnh, nói biện hộ cho cả gia đình:

– Thưa tòa, thưa các đồng chí và nhân dân …

Chưa kịp nói tiếp, Đạt bị người cán bộ huyện át giọng quát ngay:

– Mày là con của địa chủ, con của phú nông phản động, không được phép gọi ai là đồng chí.

Đạt phải nói lại:

– Thưa tòa và nhân dân , cả nhà tôi tuy là địa chủ nhưng cũng đã nuôi cơm gạo cho nhiều người. Riêng tôi còn rộng rãi cư xử tốt với anh Còm, coi như có công nhiều giúp đỡ bần nông…

Mọi người hồi hộp muốn nghe xem Đạt đã giúp bần nông ra sao ngoài việc gia đình cậu ta chỉ cho họ ăn cơm gạo đỏ và bóc lột sức lao động. Người cán bộ cũng muốn tỏ ra có công tâm, nói dõng dạc :

– Mày có công trạng gì nói rõ.

Đạt tiếp:

– Tôi biết anh Còm ăn nằm với vợ tôi.

Nhiều người dân làng ngơ ngác vì lời khai bất ngờ này. Vài tiếng  đây đó. Một hai người cán bộ cải cách nói át ngay “vu cáo, vu cáo”. Viên chánh tòa lớn tiếng:

– Mày nói sai, vu khống sẽ bị trừng trị nặng. Có bằng cớ nào?

Đạt nói:

– Một buổi tối sau vụ gặt, lúa đã vào vựa, tôi đi thả diều về thấy có tiếng động trong kho thóc, tôi sợ có chuột hay có người xúc trộm lúa, vào coi thì thấy anh Còm nằm phủ lên người vợ tôi, hai người ăn ở với nhau …

Lại một tràng tiếng  nữa và tiếng vài người thở ra sau khi nín thở giây lát, kể cả Cửu Thịnh và mấy bà vợ. Dám dân làng nhìn Thắm. Nàng đỏ ửng cả đôi má, úp đầu vào đứa con trai nhỏ đang bồng trên tay. Mọi người cũng nhìn về phía Còm. Anh ta đứng xa Thắm mươi thước, cúi mặt bẽn lẽn.

Đạt lại tiếp:

– Tôi có công hy sinh không tố cáo anh Còm, hồi đó tôi còn nhỏ, lại cũng sợ nói ra anh Còm sẽ không làm diều sáo cho tôi nữa.

Cán bộ chánh tòa ra lệnh:

– Xin anh Còm và chị Thắm ra trước tòa.

Còm và Thắm đành phải ngượng ngùng bước ra.

– Anh chị cho biết lời tố cáo của con tên địa chủ phản động có phải là vu khống?

Còm ngần ngừ, sau đó trả lời rất khẽ:

– Tôi có …

Thắm, tay bồng con, hai hàng nước mắt chảy hai bên má:

- Tôi nhà nghèo phải lấy Cậu Đạt khi cậu còn nhỏ. Nhưng tôi yêu và giải quyết công tác với anh Còm. Thằng Cu Vượng này là con của anh Còm…

Lại thêm một tràng tiếng  của đám đông người dự kiến. Phiên tòa cải cách ruộng đất, tố khổ tự nhiên biến thành tòa tố cáo và phân xử về ngoại tình.

Lúc đó đã hơi ngả tối, vài thiếu niên cứu quốc đang sửa soạn những bó đuốc lớn làm bằng những bó tre nứa. Chợt có những tiếng gió rào rào trên không. Mọi người nhìn lên thì thấy hàng ngàn con chim nhạn rợp trời, từ phương Nam bay về đỉnh Núi Chim Cao, báo hiệu mùa Xuân đang nở rộ, một mùa của yêu đương, của thân ái mà thiên nhiên dùng đàn chim như muốn nhắc nhở dân làng. Nhiều người cả thanh niên lẫn phụ nữ reo lên “Nhạn về, nhạn về…”

Phải hơn mười phút sau, khi đàn nhạn chỉ còn vài đám nhỏ, muộn màng bay đến ngang bầu trời của sân đình, người cán bộ chủ tịch phiên tòa nhân dân mới lấy lại được sự chú ý phần nào của đám người đấu tố. Hắn ta biết rõ Còm bây giờ đã lên chức Tiểu Đội Trưởng du kích làng Nhân Ái. Hắn muốn làm một cái gì để bênh vực và ân nghĩa cho một đồng chí yêu nước của hắn. Hắn nói:

– Đồng chí Còm, đồng chí Thắm, hai đồng chí có thực sự yêu nhau không?

Cả Thắm và Còm cùng trả lời khẽ trong ngượng ngập:

– Có.

– Thưa có.

Chủ tọa phiên tòa lại nói:

– Anh Đạt, anh là con của địa chủ, có tội với nhân dân. Anh chưa thể nào đứng trong hàng ngũ bần nông cứu quốc được. Thằng Cu Vượng cũng không phải là con của anh. Anh cần hy sinh cho chị Thắm lấy anh Còm.

Đạt đã từng nhìn trộm mấy cô diễn viên của đoàn ca kịch kháng chiến ngày trước, khi họ lưu diễn và tá túc tại khu nhà của cậu. Cậu ta thấy mấy cô đó còn trẻ và đẹp hơn Thắm nhiều. Đạt chỉ ao ước một ngày nào được theo đoàn kịch nghệ, dù là làm một chân kéo màn cũng được. Đạt lại kém Thắm tới tám, chín tuổi. Tuy Thắm đã chỉ dạy cho cậu hưởng lạc thú xác thịt từ khi mới lớn, cậu thực sự đâu muốn ăn đời ở kiếp với người vợ hơn tuổi mình nhiều và do cha mẹ sắp đặt. Có lẽ đây là dịp tốt để cậu một lần nữa hy sinh. Cậu nói:

– Tôi bằng lòng.

Nhiều tiếng vỗ tay nổi lên hoan hô tinh thần của Đạt. Có lẽ biết phong tục của làng Nhân Ái, và biết đám dân đang hồ hởi không phải vì đấu tố mà vì thấy chim nhạn mới bay về ngày hôm nay, hội xuân và mùa cưới đã tới, cán bộ chánh tòa sau khi tham khảo ngắn với các phụ thẩm nhân dân, tuyên đọc bản án:

– Tòa án nhân dân hôm nay tuyên bố: Tước bỏ hết ruộng đất của tên địa chủ Cửu Thịnh. Một ủy ban sẽ phân phát sản nghiệp của tên địa chủ này cho bần nông ái quốc. Cửu Thịnh chỉ đươc phép ở với một vợ và phải lao động vinh quang, tự túc sinh tồn. Cho con của Cửu Thịnh là Đạt nếu hối cải, có thành tích tốt sẽ được cứu xét sau này ra nhập đoàn dân quân du kích làng Nhân ái, góp phần vào công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Cho chị Thắm được ly dị ngay với chồng cũ là Đạt vì lý do hôn nhân bị áp bức, và được phép làm đám cưới kiểu đời sống mới với anh Còm.

Mọi người của làng Nhân Ái thoải mái và hài lòng với bản án khá nhân đạo. Khác với những cuộc đấu tố tại các làng xã khác thường là rất tàn bạo và sắt máu. những phiên tòa đấu tố tại làng này thường chỉ có tố khổ, kể tội, mạt sát, tịch biên tài sản, không có cảnh đánh đập tàn nhẫn, địa chủ gục ngã trước mặt dân làng.

Làng vẫn xứng đáng với tên được tạm đặt là Làng Nhân Ái. Nhất là hôm nay, thấy chim nhạn hồi hương, người ta càng dễ tha thứ cho nhau. Nhiều người ra về, hướng mắt nhìn lên đỉnh Núi Chim Cao. Những con chim nhạn như đang vui mừng về lại tổ cũ sau nhiều tháng trốn lạnh tại một phương trời nào xa xăm tận miền nam. Chúng về đây, ríu rít bay, vui lượn quanh ngọn núi, như thúc dục mọi người quên hận thù, hãy thương yêu nhau và thực hiện những hành động thân ái chứng tỏ tình yêu vào mùa Xuân lúc nhạn về.

Khanh Phương (Trần Văn Khang)
Trích trong Tập Hai Bên Chiến Tuyến

Ghi chú : Truyện ngắn Muà Xuân tại làng Nhân Ái đã đăng trong Đặc San Dược Khoa do Hội Dược Sĩ Việt Nam tại San Diego ấn hành và trong một số sách báo.