Wednesday, August 19, 2026

Chị, Người Con Gái Trời Định Phận - Thuyên Huy

 

Chị Người Con Gái Trời Định Phận




    Chị, người con lớn của ba cô con gái trong nhà, nhà có cái tiệm bán hủ tiếu và cà phê pha vợt vải duy nhất ở chợ xã, cái xã không quá nghèo, chừng như ai cũng đủ ăn đủ mặc, năm sáu nhà tạm gọi khá giả, chợ xã có hai dãy phố hai bên, chợ cất chính giữa, mái tôn, cột, nền bằng xi măng cao ráo tuy nhiên nhà lồng chợ không tường che, xa chợ nhà dân cất dọc theo bên này sát đường lộ, bên kia ngó qua là rừng cao su hun hút sâu của người Pháp.

     Chị tuổi chừng hơn mười tám mười chín. Chị đẹp nhất trong ba chị em, đều đi học trường tiểu học sau lưng chợ, lên tới lớp Nhất, chị thi rớt đệ Thất trường trung học quận, chị bỏ học, ở nhà phụ bán tiệm.

*

    Chị đẹp, ăn nói nhỏ nhẹ, dạ thưa, từ tốn, vui vẻ nên người ở chợ ở xã đều mến, lớn nhỏ ai chọc ghẹo gì chị cũng cười trừ. Xã có ông sư già, trụ trì cái chùa nhỏ nghèo cũ kỹ cuối ấp chợ, sát bờ sông, ở đó dân trong làng thường tới cúng quảy. Có lần coi tuổi coi tay cho mấy chị em nói chị có số “sát chồng” nhưng ai nấy nghe rồi cười cười, không mấy gì tin vì ông Sư vừa cười vừa nói.

*

   Một ngày đầu Hạ, chợ xã rộn rịp, pháo đỏ rượu hồng, mừng đám cưới chị và người sĩ quan, đại đội phó Địa Phương Quân đóng trên đồn lớn, đầu xã ngay ngã ba rẻ ngang rừng cao su đi Cầu Khởi.

    Cuối Thu, sau ngày cưới chừng nửa năm, không may, chồng chị tử trận, một đêm mưa dầm lớn khi quân du kích từ mật khu nào đó kéo qua, tấn công đồn ác liệt. Người ta đưa xác chồng chị về chôn ở quê nhà miền tây sông nước.  Cả chợ cả xã, ai nấy đều bùi ngùi thương xót cho tình cảnh chị, tiệm đóng cửa mấy ngày, ít khi thấy chị ra ngoài từ đó.

*

    Hơn một năm sau, chị vào làm cô đỡ hương thôn cho bệnh xá xã, sau khi học xong khóa huấn luyện dưới quận, vừa làm vừa phụ nhà bán buôn. Tiệm hủ tiếu vẫn đông khách, chị vẫn vui cười không khác gì ngày trước.

    Không lâu chị bước thêm bước nữa, lập gia đình với một anh giáo viên lớp Ba trường tiểu học nhà, không phải đi xa, không phải làm dâu. Chợ xã một lần nữa nghe tiếng pháo, rình rang chung vui chúc mừng.

    Chiến tranh ngày càng lớn dần, dân xã ấp biết thấp thõm lo thấp thõm sợ hơn trước, một ngày hơn một năm sau, qua Tết, trên đường về thăm nhà dưới Suối Cụt trở lên trường, cũng không may chuyến xe đò sớm cán trúng mìn của quân du kích gài ban đêm trong mấy cái mô đất chặn đường, nổ tung, người đi vừa chết vừa bị thương hơn một chục, có anh giáo viên, chồng chị trong số những người chết đó. Một lần nữa, tuổi xuân chưa quá, lần thứ hai chị chịu thêm cái tang chồng.

*

    Người ở chợ, bây giờ mới nhớ tới lời ông sư già ở cái chùa nghèo ngày trước về hai chữ “sát chồng”, họ chưng hửng bảo nhau “chẳng lẽ”, lúc này thì không còn ông sư già nữa, chùa quạnh quẽ khói nhang chuông mỏ, bải đất cỏ quanh chùa, chạy dài tận bờ sông giờ là nơi người dân trong làng thả trâu bò ăn cỏ, ông đã bỏ đi từ lâu lắm rồi.

    Bẳng đi một dạo, vắng chị, tiệm vẫn mở cửa, cũng sáng tới chiều nhưng không thấy chị ra vào nữa. Hai cô em cũng đã lớn, không ai nhắc tới chị.

*

    Bốn năm sau, có người ni cô còn trẻ, khăn áo nâu sồng từ xa đâu đó, về chợ xã mừng đám cưới em mình, cô con gái kế của chú thiếm tiệm hủ tiếu. Bà con tại bữa tiệc và chung quanh chợ xã hôm đó, nhận ra, mà buồn, có người muốn khóc, người ni cô kia là chị.

Thuyên Huy

Viết mượn một phần tình tiết thật của một đời người.

Chờ Người Dưới Mộ Sâu - Thuyên Huy

 Chờ Người Dưới Mộ Sâu




Trang Nhật Ký - Hà Kỳ Lam

 

Trang Nhậ­t Ký




Tặng Võ Đình Tuyết như đã hứa

Cuốn sổ tay nhỏ vừa bằng cỡ túi áo trên, với một lỗ đạn dùi xuyên suốt gần gáy, bìa cứng màu xanh nhạt đã sờn nhiều chỗ, góc các trang bên trong bị xoắn lên. Trang trong của tờ bìa dán một tấm ảnh trắng đen nhỏ xíu, bằng khổ hình căn cước. Điều may mắn khá mỉa mai là ảnh còn nguyên vẹn, không bị đạn cày nát - còn chủ nó thì sao? Người trong ảnh khoác áo âu­ phục trắng kiểu cổ bẻ, để lộ chiếc áo bên trong cũng màu trắng, và một chiếc cà vạt đen, đầu đội mũ kết trắng. Không đoán nổi tuổi tác, chỉ có thể nói người ấy không thể tới bốn mươi, mặc dù khuông mặt xương xương. Cũng không thể nói lính gì, và cấp bậc gì. Không thấy ghi tên họ trong cuốn sổ.

Chủ nhân của cuốn sổ tay dường như thích ghi lại những sự việc, những niềm riêng tây. Có vẻ như một nhu cầu cần bộc bạch trên giấy cho chính mình đọc. Những điều ghi chép phần lớn liên quan đến cuộc sống trong rừng, không nói gì về quê hương, gia đình đương sự ngoài Bắc, ngoại trừ mấy hàng nhật ký cuối cùng viết trong ngày của đêm đụng trận - nhóm ngày tháng ghi ở đầu giòng cho Quang biết như thế.

Mở đầu, cuốn nhật ký viết:

" Trên đường Trường Sơn ngày 29 tháng 8 năm 1968.

Mấy hôm nay cứ lên cơn sốt mãi, nhưng cứ gắng bám theo đơn vị không dám khai bệnh. Nếu nằm lại trạm xá điều trị, đơn vị sẽ bỏ lại, và phải chờ để bổ sung vào một đoàn khác ngoài Bắc vào. Ra đi từ quê nhà có anh có em, nương tựa, đỡ đần nhau, nếu phải sung vào một đơn vị lạ thì buồn quá!

Cách khoảng gần một tháng, những giòng nhật ký tiếp tục:

Ngày 20 tháng 9 năm 1968.

" Thời tiết đây khác quá, chiều nào cũng mưa rả rích."

Với giòng chữ này có lẽ chủ nhân của cuốn nhật ký đã đặt chân lên vùng " Tây Nguyên" - tên họ gọi vùng Cao Nguyên - và là ma mới chưa quen nước quen cái vùng này, vì nếu không thì anh ta đã biết mùa mưa của Cao Nguyên kéo dài từ tháng năm đến tháng mười, trùng với mùa mưa miền hạ lưu sông Đồng Nai. Rồi lướt qua các trang ghi những sinh hoạt nội bộ đơn vị như học chính trị, đi lãnh gạo, thuốc men, nghỉ dưỡng quân, t¡m giặt v.v., Quang lại chú ý tới mấy giòng vắn tắt nhưng khá đặc biệt:

" Ngày 30 tháng 11 năm 1968.

Sáng nay tắm dưới suối lên thấy cuốn sổ đặt sai vị trí cũ. Thế là không tốt, có ai xem lén nhật ký rồi."

Rồi kế tiếp, có lẽ cùng trong ngày đó vì không thấy ghi ngày tháng, tác giả buông một câu nghe như cung đàn lạc điệu, " Cái tình của người thủ trưởng thật quí hóa."


Ngày 17 tháng 12 năm 1968.

Trong lúc đang điều nghiên và vẽ lại vị trí đóng quân cũ của Mỹ trên đồi, đói quá, nom thấy một hộp thịt mình đã mở ra chén hết. Ăn xong thì đã đến giờ phải về. Thế là không hoàn thành nhiệm vụ. Cũng chỉ tại cái hộp thịt!

Quang thấy mấy hàng nhật ký trên vừa ngộ nghĩnh vừa có một giá trị nào đó. Đây là chi tiết đầu tiên từ nãy giờ giúp anh biết tác giả là một trinh sát viên. Rồi người đọc lại nhảy bỏ một số trang không hay ho l¡m. Đầu giòng một trang mới, với nhóm ngày tháng mới, người đọc thấy:

" Ngày 10 tháng 4 năm 1969.

Đêm nay đi kích đường 14. Chiếc L 19 cứ bay rà rà trên đầu, loa cứ lãi nhãi '' chiêu hồi, chiêu hồi.'' Mẹ kiếp, ông hồi cho mấy quả bây giờ."

Quang vẫn dõi theo những trang nhật ký chảy miên man, không chủ định, không tuần tự, như những con đường mòn ngoằn ngoèo của núi rừng Trường Sơn. Anh bỗng khựng lại, như một người đi rừng bỗng dừng bước vì con đường mòn đột ngột chấm dứt, và rừng cây um tùm chắn lối:

" Ngày 15 tháng 7 năm 1969.

Cả tháng nay không ghi nhật ký. Giờ này không biết Hoàng hay Thúy Ái đã ra đời. Nhớ đêm cuối cùng trước khi đi B, Thu đã tìm đến nơi đơn vị tập trung. Một người bạn cho mình biết cô ấy cần gặp mình. Mình đã trốn trại, trèo rào ra gặp vợ. Mình biết như thế là không đúng, là mềm yếu. Thu báo tin đã có thai. Hai vợ chồng đã bàn bạc với nhau, nếu là con trai thì đặt tên Hoàng, gái thì là Thúy Ái."

Và con đường Trường Sơn ngoằn ngoèo trong tâm tư của chủ nhân cuốn sổ tay đến đây bị nghẽn lối. Một phần ba cuốn sổ còn lại là những trang giấy trắng sẽ vĩnh viễ­n không còn nhận được một chữ nào của chủ nó nữa...

° ° °

Quang bước vào trung tâm hành quân một lần nữa để nhìn mớ chiến lợi phẩm mà toán phục kích đêm qua vừa mang về căn cứ lúc nãy. Tất cả gồm có ba chiếc ba lô, hai khẩu tiểu liên AK 47, mấy quả đạn B 40, mấy quả lựu đạn chày. Anh nhìn thật lâu mớ đồ vật đó, vẻ mặt thoáng nét đăm chiêu. Nhưng thật ra, nếu ai tinh ý có thể thấy anh không nhìn toàn thể đống chiến lợi phẩm, anh chỉ nhìn chăm chú một món đồ, chiếc ba lô có một lỗ đạn xuyên từ hông này sang hông kia, hay nói cho chính xác, từ hông bên phải sang hông bên trái, một điều sơ đẳng nhất mà người lính chiến nào cũng nói được khi nhìn lỗ bên phải nhỏ bằng đầu đũa, và lỗ bên kia lớn bằng cái nút phéng chai bia. Anh lại nhấc cái của đáng tội kia lên, xem xét tứ phía rồi đặt lại chỗ cũ. " Không có lấy một vết máu," anh khẽ nói với chính mình. Hai chiếc ba lô còn lại thì lành lặn nhưng bê bết máu.

Ba lô lủng như thế thì viên đạn đã đi song song với thân người, chứ không thể cắt một đường thẳng góc với thân thể anh ta. Quang thấy d­ễ chịu. Nhưng anh bỗng khựng lại: Tại sao lại vứt ba lô lại? Anh ta bị trúng đạn ở chỗ khác trên thân thể chăng. Có thể đạn trúng ngực, trúng vào đầu, hay trúng vào chân làm gãy xương. Quang thích nghĩ đến điều sau cùng: vâng, chắc đồng đội lại dìu anh ta đi; vứt ba lô để bôn tẩu cho nhẹ nhàng. Và chiếc ba lô không nhất thiết phải vấy máu.

Quang ôn lại những chi tiết cuộc đụng độ mà tiểu đội trưởng Thanh đã báo cáo với anh. " Như đại úy đã căn dặn: ở hoàn cảnh phục kích đêm không thể thấy được chiều dài của mục tiêu, nên cách tốt nhất là đánh khúc đuôi, và tôi đã làm như thế, nổ súng ngay khi cái bóng đen nhờ nhờ sau cùng di chuyển qua trước mặt một đoạn. Tôi phải đợi một đoạn, để chắc ăn đoàn người đã dứt. Chúng chỉ vào khoảng một trung đội. Thành phần đi trước bắn trả dữ dội. Tôi cho tiểu đội dạt ra xa con đường mòn, đổ dốc xuống bờ suối, bố trí thành hình cánh cung, hướng về phía vừa chạm địch, và " trụ" qua đêm. Chúng tiếp tục bắn cầm chừng về phía chúng tôi. Rồi hỏa lực bỗng rộ lên, mưa đạn xối xả bay ngang đầu chúng tôi cả mấy phút. Chúng tôi biết đối phương đang bắn phủ đầu để kéo xác và di tản thương binh... Tờ mờ sáng, tiểu đội bò đến gần con đường, quan sát chẳng thấy động tĩnh gì cả. Rải rác trên đường là mớ vũ khí, ba lô, đạn dược như thế. Có điều vết máu chạy dài khoảng vài trăm thước về hướng Tây, lên các đồi cao, rồi mất dấu..."

Tất cả chỉ có thế, không giúp gì cho giả thuyết của anh. Đôi lần Quang định gọi trung sĩ Thanh lên để hỏi xem hắn có biết loạt đạn đầu tiên của mình - cũng là hiệu lệnh cho tiểu đội khai hỏa - có trúng vào " cái bóng đen nhờ nhờ" đi sau cùng đó không. Rồi anh quyết định không nên làm thế. Chẳng rọi được tia sáng nào vào điều muốn biết, cho dù biết chiếc bóng đen kia trúng đạn, và lại có thể gây thắc mắc cho thuộc cấp.

Quang không lạ gì với hiện tượng viết nhật ký trong hàng ngũ cán binh miền Bắc tại chiến trường miền Nam. Anh cũng biết được vì sao có hiện tượng kia, qua các câu chuyện với tù binh và hồi chánh viên. Cần thổ lộ để giải tỏa, nhưng chỉ dám trút nỗi niềm vào giấy thôi. Cứ mỗi lần chiến lợi phẩm thu được có cả ba lô thì những thứ đó luôn luôn được anh " chiếu cố" trước tiên, vì ngoài mục đích tìm những tài liệu của đối phương, anh còn có cái thú là đọc những gì riêng tư thầm kín được ký thác trong những cuốn sổ tay nho nhỏ. Đối với Quang chiếc ba lô là gia tài của người lính ở mặt trận, chứ không phải khẩu súng. Chiếc ba lô nói nhiều về chủ nhân của nó. Anh đã đọc khá nhiều nhật ký lấy từ trong các ba lô đã vượt cả nghìn cây số đường Trường Sơn.


Nhưng lần này lạ quá, những hàng chữ sau cùng trong cuốn nhật ký của một kẻ đối phương bỗng làm bận tâm viên sĩ quan từng dày dạn chiến trận, từng được chiến tranh dạy cho cái nguyên lý của nó. Quang có một bức ảnh nhòa nhạt của một người lính Bắc Việt, nhưng không biết danh tính. Và anh lại biết tên một người phụ nữ ngoài Bắc nhưng không biết mặt. Một đôi vợ chồng kẻ Bắc người Nam. Họ vừa có một đứa con, chắc lên vài tháng. Những gì còn lại về họ, Quang không sao biết được. Anh chỉ biết phó thác tất cả cho sự an bài của số mệnh. Chị Thu, tôi muốn gửi đến chị một ước mong, mà xét cho cùng nó phi lý không kém những điều phi lý vẫn đầy dẫy trong mọi cuộc chiến tranh, là mong rằng anh ấy chỉ bị thương xoàng để nhận được thư chị báo tin cháu Hoàng hay cháu Thúy Ái đã ra đời, và để còn có cơ may sống sót qua cuộc chiến này, dù bên nào thắng.

Trích từ tập truyện ngắn: " Núi Vẫn Xanh", nhà xuất bản Thế Kỷ, 1999

Hà Kỳ Lam


Vú Mên - Nguyễn Vĩnh Nguyên

Vú Mên




Không thể nói tác giả tìm được cách viết gì mới, thậm chí còn khá cổ, nhưng truyện lại khơi được dòng xúc cảm sẵn có trong lòng người đọc nhờ sự thành thực của người viết. Sự thành thực khiêm nhường đã khiến truyện ngắn này gần như một tự truyện.

Ngày trước, nhà nội tôi thuộc vào hạng thương gia có của ăn của để ở phố Khâm Thiên, Hà Nội. Ông bà chỉ có hai người con trai: Bác Lữ và bố tôi. Cuộc sống của họ khá bình yên và sung túc. Ăn rồi chỉ lo học, không phải làm lụng bất cứ việc gì. Việc nhà từ trong ra ngoài, nặng nhẹ đều có bọn con ở lo hết.

Từ khi bác Lữ ra đời, đã có mặt vú Mên. Vú bỏ quê Thái Bình lên Hà thành làm con ở cho ông bà từ năm mười lăm tuổi. Bà bảo vú là người mát tay, đảm đang và trung thành nhất trong nhóm người giúp việc nhà. Cũng phải, ngoài trách nhiệm của con ở ra, vú còn là kẻ hàm ơn ông nội rất lớn. Tôi nghe kể lại, ngày ấy, trong một chuyến buôn vật liệu về Thái Bình, ông đã gặp cô bé Mên trong cảnh thảm thương. Nạn đói năm 1945, gia đình của bé Mên đã lần lượt ra đi. Cô bé mười lăm tuổi chơ vơ bên bố mẹ - hai tử thi không một manh chiếu chôn cất mà khóc vật vã, khóc đến cạn nước mắt. Trong cái cảnh đời tối tăm u ám ấy, bàn tay của một thương gia giàu có đã nâng đỡ cô bé Mên đứng dậy. Đó là ông nội tôi. Ông bỏ tiền ra mua ván thiên, lo chôn cất hai cái tử thi đã tới ngày dậy mùi và đưa cô bé Mên lên Hà Nội cho giúp việc trong nhà mình.

Từ đó, vú Mên bám theo chân ông lớn lên.

° ° °

Trong nhà nội, vú Mên thương bố tôi hơn bác Lữ, vì bố hiền lành và biết chuyện hơn. Ngược lại, bác Lữ là người bẳn tính, hay la rầy đám con ở trong nhà và đôi lúc còn cãi lại ông bà nội. Phận làm con ở cam chịu và lặng lẽ đã làm cho vú quên khuấy tuổi xuân của mình đến và đi tự bao giờ... Vú không biết mình có thời con gái, lòng vú không có chỗ cho khát khao mơ ước thiếu nữ trỗi dậy. Chưa bao giờ vú dám nghĩ đến chuyện lập gia đình riêng với ai đó. Vú lo sợ. Nỗi ám ảnh quá khứ như một vết thương cứ nhói đau, day dứt khi lòng người lắng dịu. Công việc lặt vặt làm cho vú quên đi nhiều điều đáng quên và nhiều điều lẽ ra không có quyền được quên. Tuổi xuân lặng lẽ trôi đi... Cứ nhìn vú lúc già thì biết ngày trẻ cũng không đến nỗi nào. Vú có cái duyên hương đồng gió nội nào thua chị kém em ở cái đất Hà thành phồn hoa này. Nhưng vú thiết chi gương lược. Ngày đêm cứ cung cúc làm lụng như một chiếc bóng. ẹt nói và hiền hậu. Cam chịu và nhẫn nại. Có lần ông nội định gả vú cho chú Hậu - người kề cận ông trong những chuyến đi lấy hàng xa. Nghe nói, dạo ấy chú Hậu mê vú lắm. Nhưng ông bà vừa nhắc đến chuyện ấy vú đã oà khóc:

- Con chỉ còn ông bà làm nơi nương tựa. Thời buổi này ông bà gả con đi, con sợ lắm. Ông bà thương tình cho con ở đây hầu hạ được ngày nào hay ngày đó. Con có lỗi gì ông bà cứ đánh, cứ đập như con trâu con chó chứ đừng gả con đi. Cho con ở đây trả hết cái ơn, cái đức ông bà dành cho bố mẹ con...

Ông bà nghẹn ngào xót thương cho phận đời bé mọn và cơ cực của vú. Từ đó về sau, cái thiện chí mai mối lấy chồng cho vú không được ông bà nhắc lại nữa vì nghĩ đến một lúc nào đó vú sẽ tìm được người để gắn bó suốt đời, biết đâu lại chẳng nôn nóng trốn nhà mà đi...

Cuộc sống của vú Mên là một chuỗi ngày dài không nỗi buồn cũng chẳng niềm vui. Cho đến khi việc làm ăn của ông nội ngày càng thua kém, đám con ở lần lượt ra đi thì chỉ mình vú Mên neo lại. Sự ở lại của vú Mên khiến cho bác Lữ nghĩ chẳng khác gì cảnh huống một con chim đã quen lồng nên sợ hãi và nhút nhát trước vòm trời rộng. Bác Lữ càng khinh miệt vú ra mặt. Vú chỉ lặng lẽ, không nói. Cũng chẳng ai thấy vú khóc. Sự tồn tại của vú trong nhà nội bây giờ chỉ là chiếc bóng. Một chiếc bóng vật vờ...

Từ lúc làm con ở cho nhà nội cho đến mãi sau này, trong túi vú Mên không bén chút hơi đồng. Vú không biết xài tiền hay mua sắm gì cho riêng mình. Một năm có hai bộ đồ bà nội cắt may cho, vú không đòi hỏi gì thêm. Sự giản dị lắm lúc làm cho con người ta dễ dàng bằng lòng và cam chịu. Bản thân vú ở Hà Nội mười mấy năm rồi thế mà mấy gã lái buôn bạn ông nội cứ loóc léc như mèo trông thấy mỡ: "Con bé nhà quê ấy tìm đâu khéo thế...". Gã khác lại xuýt xoa: "Cho nó về nhà tôi đi, tôi sống độc thân, dễ tính...". Ông nội tảng lờ sang chuyện khác. Nhưng nghe thấy, vú buồn lắm. Thể nào cũng lo lắng đến vài đêm mất ngủ... Bà nội cứ chê vú khờ. Vú không nói gì. Có ai đời tiền đi chợ, thừa một xu cũng đưa về trình bà. Đổi lại cái đám con ở trong nhà dạo trước, cứ mua bớt mua xén dồn làm của riêng. Được cái thật thà đến khờ dại. Vì thế bà thương vú như con.

Bác Lữ lấy vợ tận Sài Gòn - Gia Định rồi theo gia đình vợ vào tận trong ấy. Gia đình nội lại vắng. Bà đau yếu luôn. Ông cũng có tuổi, không đủ sức rong ruổi theo những chuyến hàng xa dài ngày. Cơ nghiệp chỉ trông chờ vào của ăn của để tích trữ từ trước. Gia đình cũng không đến nỗi túng bấn ngặt nghèo. Nhưng đến bây giờ ông bà nội vẫn còn day dứt một điều đó là chưa tìm được nơi nương tựa cho vú Mên. Phụ nữ vẫn là phụ nữ. Cái quyền được làm vợ, làm mẹ người đàn bà nào chẳng được ông trời kia ban phát, dù ít dù nhiều. Nhất là khi ở vào độ tuổi "hồi xuân", sự cần thiết phải có một gia đình đối với người phụ nữ là thực sự quan trọng. Dù đối với vú, mùa xuân nào có đến để ra đi hay trở lại!...

Ngày bố tôi lấy mẹ tôi. Bà nội đút vào tay vú Mên năm khoanh vàng, nghẹn lời...

- Vú cầm số vàng này về quê tìm người thân thích tựa nương. Dù sao, máu mủ vẫn hơn. Vợ chồng tôi ơn vú nhiều. Giờ già cả, con cái đứa nào cũng có chỗ có nơi... Chúng tôi sống sao cũng được, chỉ lo cho vú chôn chân ở đây cả đời, khổ sở...

Vú Mên nuốt nước mắt:

- Bà đuổi con thì con đi, nhưng ngần này con biết đi đâu, về đâu hả ông bà... con chỉ còn nơi này là nhà cửa...

- Thì tôi bảo thế - ông trầm ngâm - vú đi về tìm bà con xem có ai. Nếu không phiền thì cứ quay lại đây rau cháo qua bữa với vợ chồng già chúng tôi...

Năm ấy, vú Mên cầm năm khâu vàng ra khỏi nhà nội. Nhìn dáng vú lẻ loi nhỏ bé khuất giữa dòng người bề bộn, bà tôi chỉ biết đổ vào vai ông mà khóc.

... Nhưng rồi không lâu... chừng một tuần sau, vú Mên mệt mỏi xách nón tìm về nhà nội. Cái khuôn mặt hốc hác ấy khóc tức tưởi:

- Bà ơi, bà thương con, cho con ở lại, con không còn ai thân thích cả. Cũng không nhận ra xóm làng nhà cửa mình ở đâu nữa. Không ai còn nhớ con cả bà ơi. May mà còn tìm thấy mộ bố mẹ, thắp cho các ngài thẻ nhang... Con chỉ còn ông bà thân thích. Con không biết về đâu nữa rồi bà ơi...

Bà nội nước mắt lưng tròng:

- Thế tiền tàu xe tôi gửi vú có đủ không?

- Dạ,... dạ, con nào dám xài... Còn cả đấy bà ạ! Con giả bà, bà thương cho con ở lại giúp việc nhà... - Nói rồi vú móc túi áo nâu lấy ra đúng năm khoanh vàng được gói kỹ lưỡng đưa lại cho bà - con không mua gì cả. Con sợ phí của ông bà. Hôm nọ ông cho con mười hào về tàu lửa con trót xài hết... bà đừng giận con...

Tôi được nghe kể lại mẹ tôi sinh khó, bà qua đời sau tiếng khóc đầu tiên tôi cất lên. Bố tôi lả đi trong nỗi đau mất vợ...Õ thế rồi từ đấy tôi lớn lên trong tình thương của vú Mên. Năm 5 tuổi, tôi mới gọi vú là vú. Trước đó mọi người dạy tôi gọi vú là mẹ. Đối với một đứa bé, ngày nó nhận ra sự mất mát ấy là ngày tuổi thơ khủng khiếp nhất. Đối với tôi, đó cũng là ngày tuổi thơ ra đi.

Đến năm bố dẫn tôi vào Nam lập nghiệp và tục huyền tôi lại mất thêm một người mẹ trong cuộc đời này.... Tôi sẽ có người khác chăm sóc thay vú Mên đó là dì tôi. Nhưng tôi đã đủ khôn để biết mình đã bỏ lại những ngày ấu thơ ở phố Khâm Thiên, nơi tôi có người mẹ đã khuất và một người vú mỏi mòn già nua. Ngày đi, tôi hỏi bố:

- Bố ơi, sao không dẫn mẹ Mên đi cùng...

Bố tôi ngửa mặt lên trời, câm lặng...

Đó là mùa thu. Hương cốm dần lan trong gió vỉa hè. Đường phố dài xao xác lá vàng. Gió mịn màng thổi không đủ làm khô giọt nước mắt trên gò má hanh hao nham nhở những vết nhăn của mẹ Mên.

- Ta không phải là mẹ con. Ta già nua, xấu xí. Ta là vú nuôi con thôi...

Cả vòm trời đang sầm sập gió và lất phất mưa, Những hạt mưa thu bay chéo, lạnh buốt...Từ dạo bố tôi vào Nam đâm làm ăn thua lỗ, ông thất chí, rượu chè say xỉn luôn. Kể ra, hồi mới vào đây, của nả còn khấm khá, cách đối xử giữa dì và bố khác. Còn bây giờ, bao nhiêu giận dữ, bao nhiêu hẹp hòi ích kỷ dì trút cả vào tôi. Bởi vì tôi là món nợ của dì. Dì không cho bố đứa con nào. Bố là người đàn ông khổ sở và đáng thương sống bên dì khác nào trong nấm mồ. Dì cũng có nỗi khổ của dì. Tôi nào trách gì được. Tôi không muốn nghĩ đến câu "Mẹ gà con vịt chít chiu...". Bởi dì không phải là dạng dì ghẻ gắt gỏng quá đáng. Tôi mang ơn dì, một sự hàm ơn không kính phục... Tôi xin dì:

- Dì ơi, còn muốn về Hà Nội...

- Bố con anh đòi hỏi tôi hơi nhiều đấy. Nhìn ông bố anh thấy phát chán kìa. Anh bảo tôi còn trả cái nợ đời này đến bao giờ.

- Nhưng con xin về với bác Lữ...

- Mặc xác anh! Kéo cả ông bố anh về càng tốt. Anh có ăn học cũng biết phụ nữ thời buổi này không chấp nhận loại đàn ông vô tích sự...

- Dì không được nói xấu bố con!

- Chứ ổng có gì tốt nào? Thất nghiệp, nằm vểnh râu, trắng da dài tóc, cái nhà này một tay tôi lo. Thế đấy! Dì ném cái bĩu môi dài thườn thượt rồi ngoảy đi.

° ° °

Cho đến năm kia, khi trở lại đất Hà thành này, tôi chẳng còn ai thân thích nữa. Tôi quỳ trước bốn nấm đất xanh cỏ giữa nghĩa trang, thổn thức. Suốt mấy ngày liền về đây, bố tôi không nói năng gì. Ông lặng câm, lầm lì. Nhưng hôm nay, quỳ trước mộ mẹ, ông bà và vú Mên, bố đã oà khóc. Tiếng khóc thoát lên từ bao nỗi âm u. Tôi nhìn bố run run cắm nhang lên từng nấm đất, miệng lấm rấm nguyện cầu, chợt nghe lòng chua xót.

Trên mộ phần của vú Mên, những cụm hoa kèn nở rộ, tím ngát như màu trời chiều nghĩa trang. Những cụm hoa ấy đổ bóng sang chỗ nằm của ông bà tôi.

Lặng lẽ...

Nguyễn Vĩnh Nguyên

 

 

  

Quẻ Bói Cuối Năm - Mai Liên

 

Quẻ Bói Cuối Năm





Thế là Tết đã qua rồi, mồng 7 Tết rồi còn gì nữa đâu, mà sao bà Mã không thấy việc gì xảy ra như thầy Năm đã gieo quẻ cho bà hôm trong Tết. Bà Mã cứ trông chờ, ngong ngóng cái hoạnh tài mà thầy Năm chắc chắn với bà là nó sẽ đến trong những ngày Tết. Cái buổi chiều ở nhà thầy Năm, bà Mã ngồi đợi vì thầy đang coi cho một thân chủ nữa ở phòng trong cách nhau bằng tấm vải đỏ phủ dài tận đất, căn phòng bà ngồi đợi toàn những bàn thờ, những ngọn nến leo lét cạnh những cây nhang lập lòe làm những bức tượng Quan Công, mặt đen, mắt lồi trông dữ dằn thêm, bức hình bà chúa mấy chục cánh tay chờn vờn làm bà rờn rợn cả xương sống, một tấm hình bàn tay to tướng đầy những chữ tàu treo một bên vách, trông như bàn tay của đức Phật chuẩn bị chụp đè lên người của Tôn ngộ Không, và cũng như đe dọa cả bà nữa, phía dưới là bàn thờ thần tài ngồi phễn bụng trắng như đang cười với bà, quanh đây cái gì cũng kỳ bí, âm u làm cho bà Mã như bước vào một thế giới cõi âm. Thầy Năm là người mới đến xóm này vài tháng nay, hay ăn nhậu với nhóm công an phường nên thầy làm ăn tại nhà, dù không có bảng hiệu nhưng tin đồn chẳng mấy chốc ai ai cũng biết.

Tiếng thầy Năm nói oang oang ra tận đến bên ngoài

- Đây nhé, chị thấy cái con đầm chuồn này không ? Nó đứng cạnh cái thằng bồi cơ đây này, hai đứa nó quay mặt vào nhau đấy, quẻ ứng thế nào thì tôi nói chị thế đấy, chị về cứ để ý xem chồng chị có thay đổi, đi sớm về trễ không, nó có chải chuốt khác hàng ngày không, còn chị đây này bên cạnh là con ách bích thế này là chuyện buồn nó đến với chị, nó vận vào chị rồi, chị phải cẩn thận.

- Thưa thầy, chồng con nó chạy hàng chợ trời thì có giờ giấc nhất định gì đâu cơ chứ, ăn mặc thì lúc nào nó chẳng ăn mặc đàng hoàng, nó bảo buôn bán mà lùi xùi quá ai mà tin, không lẽ...

- Đấy chị cứ theo dõi mà nghiệm xem, cái con đầm chuồn này là đứa có nhan sắc lại có của nữa chứ chẳng vừa đâu.

- Thưa thầy bây giờ phải làm sao hở thầy ?

- Hay cái chị này, bài hiện ra sao tôi nói thế, chuyện riêng gia đình chị làm sao tôi giải quyết được.

- Con phải đi ngay thôi, giời ơi ! Nợ ơi là nợ, khổ thân tôi thế này.

Bà Mã thấy vụt ra cửa một người đàn bà, tay cầm chiếc nón lá mặt tái xanh, hớt hải chạy nhanh ra khỏi nhà, chẳng nhìn ai. Bà Mã nhận ra là chị Tư rau, chị là người bán rau sống ở chợ.

- Mời bà vào trong này

Bà Mã giật mình đứng dậy, thầy Năm đang vén màn cửa nhìn bà.

- Mời bà ngồi, hôm nay bà muốn xem gì đây , tình duyên gia đạo …

- Duyên gì nữa thầy, nhờ thầy coi giùm tôi một quẻ về gia đạo coi thằng cháu tui ra sao mà không có tin tức gì ráo trọi.

Thế là bà kể lể câu chuyện nào là bà ở một mình trong một cái chái nhà mà bà đã thuê bao năm nay trong khu xóm nghèo nàn chật chội này, ngày trước bà ở với đứa cháu nội của bà, người thân ruột thịt duy nhất trên đời này còn lại với bà, thằng Long mà bà đã nuôi nó từ ngày bố nó đi cải tạo và chết ở trong tù, cái ngày bà được giấy của phường thông báo là con bà đã bệnh chết, bà đã như điên như dại, bà đã bỏ cả buôn bán đến 3 ngày, bà đau buồn quá vì không nhìn được mặt con lần cuối cùng, và điều dằn vặt bà luôn là không đem xác con về trong Nam để gần gũi bà còn nhang khói trong những ngày giỗ chạp chứ giờ đây con bà đã vùi thây nơi tận miền Bắc xa xôi nơi mà bà chưa từng nghe nói đến từ thủa bé đến giờ, đó cũng là ước nguyện của bà khi có tiền sẽ hốt cốt con về chôn cạnh bố nó. Mọi tình thương giờ đây bà đổ hết vào thằng Long, bà tảo tần hàng ngày với quang gánh trầu cau kiếm cơm đủ 2 bữa qua ngày cho hai bà cháu. Thằng Long rong chơi lêu lổng với các bạn bè cùng xóm, không học hành gì cả, bà Mã không dám la mắng nó chỉ sợ nó bỏ đi bụi đời thì bà lại bơ vơ, thôi thà mặc kệ nó hàng ngày tối về còn thấy mặt cháu cũng như bà thấy được con bà vậy, đó là sự an ủi sau ngày mệt mỏi buôn bán ở chợ. Nhưng rồi những ước muốn của bà nó cũng tan biến, thằng Long đi biệt tích không một lời giã biệt, bà đã nghỉ mất mấy ngày chợ để đi tìm nó, thăm hỏi những đứa trong xóm dần dà bà biết được nó đi "canh me" một chuyến vượt biên và có lẽ thoát rồi vì nó đã đi chung với một vài đứa bạn và gia đình họ đã có tin con đến đảo. Buồn thì buồn đấy nhưng nếu thằng Long vượt biên được thì bà mừng cho nó, dẫu sao nó vẫn có tương lai hơn là ở lại cái đất nước nghèo khó này, ngày càng buôn bán khó khăn, bà cứ phải chạy chỗ luôn vì sợ đóng thuế chợ, lời chẳng có bao nhiêu mà đóng thuế thì có mà đói, chẳng phải riêng bà, những người buôn thúng bán bưng cũng đều chạy mặt những tay thu thuế chợ, nhiều lúc bị bắt giành giựt nhau quang gánh làm đổ tung các hàng ra đường phố và cuối cùng để khỏi mất hàng thì phải đóng tiền phạt tốn hơn cả đóng thuế, nhưng ai trốn được ngày nào cứ việc trốn.

Sau ngày đưa ông Táo về trời, nhìn căn phòng lạnh tanh không có gì trong nhà để biết được là Tết sắp đến, lòng bà Mã thắt lại khi nhớ đến thằng Long không biết giờ này nó như thế nào nên đến đây nhờ thầy Năm xem cho một quẻ ra sao.

- Mời bà đặt lễ Tổ, rồi xóc bài 7 lần và khấn nguyện điều bà muốn xem nhá.

- Bao nhiêu hả thầy ?

- Gia đạo thì 20.

Thầy Năm vừa che miệng ngáp vừa trả lời. Từ sáng đến giờ mới có hai thân chủ, nhìn ra phòng ngoài chẳng thấy có ma nào nữa, lại phải ngồi nghe chuyện khổ của mỗi người thầy thấy nhàm chán lắm rồi, nhưng phải có cái khó, cái khổ người ta mới đến thầy, mới bám víu vào thầy, thầy là niềm hy vọng để đem đến cho họ giải quyết những bế tắc trong cuộc sống. Thầy Năm sau ngày mất nước cũng chỉ là một tư chức, thư ký đánh máy cho một hãng buôn ở Đà Nẵng, không phải đi lính vì thầy có tật ở một bên chân phải đi cà nhắc, bù vào đó thầy nói chuyện rất khéo, nói năng như rót mật vào tai, thầy lại hay đọc sách về bói toán, chính nhờ ở miệng lưỡi thầy và vài kinh nghiệm bói toán cầm tay các cô gái nhẹ dạ nói tâng bốc những tương lai huy hoàng cô nào mà chẳng mê tít. Nhờ thế mà ở Đà Nẵng thầy có đến 3 cô bồ, và cũng chính cái tài năng của thầy đã làm cả 3 cô tin tưởng trao hết cái quý giá của mình cho thầy và cả 3 cô cùng mang bầu, thầy phải bỏ xứ chạy để giữ lấy thân. Thầy đã về đây trú ngụ, nhờ vào môi miệng mềm dẻo thầy đã làm vừa lòng cô chủ nhà đã chịu nâng khăn sửa túi cho thầy và bọn công an phường khóm không làm khó dễ và thầy đã khuếch trương tài năng của thầy thành một nghề kiếm ăn được mọi người nể sợ. Thầy Năm biết rõ tâm lý của những người bình dân khách hàng của thầy, chỉ cần nói những chuyện chung chung về quá khứ chẳng hạn như bảo rằng tháng vừa rồi bà bị xui xẻo nhưng nhờ có người âm trong gia đình theo phù hộ nên không bị nặng lắm. Ngẫm ra trong xã hội này ngày nào chẳng xẩy ra trăm ngàn cái không tốt đến với người dân nghèo, còn người âm thì ai mà chẳng có thân nhân đã chết. Về tương lai thì cứ dò theo câu chuyện mà nói theo chiều ý của khách, đôi khi mập mờ bí ẩn để còn kéo khách đến những lần tới nữa, nếu khách cứ cố tìm hiểu thầy chỉ cần phang ra một câu là "Thiên cơ bất khả lậu" thế là chả ai dám hỏi thêm nữa mà lại còn vui vẻ móc cạn túi những đồng lẻ còn sót lại để cúng tổ và tạ ơn thầy.

- Thằng cháu bà nó vẫn bình an, nó vẫn nhớ tới bà đấy, đây này con bồi cơ đây nó quay mặt về phía bà đấy, quanh nó có nhiều cô gái theo đuổi đấy, tuổi trẻ mà bà ! làm sao tránh được, nhưng mà con mười chuồn đây nó đi chung với con ách rô mà lại nằm giữa bà và cháu bà thì thế nào bà cũng nhận được một hoạnh tài ở xa đến trong những ngày sắp đến.

- Thưa thầy, thế có kịp tết không ạ ?

- Cũng gần thôi không trước thì sau lo gì.

Bà Mã mơ màng nghĩ đến thằng Long chợt mỉm cười, bà thầm nghĩ cái thằng sao mà tính tình giống bố nó thế, lúc nào cũng gái chung quanh, thế nào bà cũng có đứa cháu gọi bằng cụ cho mà xem. Bà thấy vui khi nghe đến có hoạnh tài, thì thế nào thằng cháu chả nhớ đến bà, cũng đỡ khổ tuổi già. Thầy Năm còn nói thêm về những khó khăn, hoạn nạn bà vẫn phải gánh chịu nhưng hậu vận thì sáng sủa, làm bà thơi thới trong lòng ra về chờ đợi.

Đấy là những ngày trước Tết, bây giờ qua hẳn Tết rồi sao vẫn chẳng thấy tăm hơi gì cả thế này , bà Mã sốt ruột với cái nón lá rách, đút vội miếng trầu vào miệng rồi bước về phía nhà thầy Năm để hỏi thăm xem chừng nào cái hoạnh tài nó tới. Bà nóng lòng ăn ngủ không yên. Từ xa bà đã nhìn thấy đông người nhốn nháo, ồn ào trước cửa nhà thầy Năm, càng đến gần, bà càng nghe rõ tiếng chửi có vần có điệu, giọng quen quen bà Mã vẫn chưa nhận ra ai vì đám con nít vẫn tụm quanh, bà chận hai đứa đi ngược chiều lại hỏi thăm

- Nè, chuyện gì mà lu bu đằng đó vậy mấy đứa bay

Hai đứa tranh nhau nói như là đứa nào cũng chứng kiến câu chuyện giật gân xảy ra ngay từ phút đầu

- Anh Đông chồng chị Tư rau dộng thầy Năm một cú chảy máu mũi

Đứa khác chen vào ngay

- Ảnh chửi thầy Năm phá hoại hạnh phúc gia đình, ảnh móc thêm cú nữa mà thầy Năm né được dọt tuốt vô nhà đóng cửa lại

- Tới phiên chị Tư rau đang chửi lung tung.

- Chỉ bị anh Đông uýnh cho một trận ở nhà tơi bời vì thầy Năm coi bói gì đó mà...

Hai đứa nói xong kéo nhau đi để lại bà Mã một mình đứng thẫn thờ nhìn về phía đám đông trước cửa nhà thầy Năm thở dài.

Mai Liên

Saturday, August 15, 2026

Về Thăm Quê Cũ - Vườn Thơ Mới Xướng Họa

 THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 194_VƯỜN THƠ MỚI

 















Về thăm quê cũ

Đã lâu lắm mới về thăm quê cũ
Lũy tre làng che mát lối vào thôn
Cảnh vật xung quanh quyến luyến bồn chồn
Những kỹ niệm ấu thời như sống lại

Ngôi trường cũ nay không còn tồn tại
Mái nhà tranh đã vụt đổi thay màu
Bước ra vườn ngắm lại mấy hàng cau
Dây trầu đó nhưng không còn sức sống

Hàng tiêu sọ năm xưa đà trống rỗng
Cây nhãn lồng biến mất tự lâu rồi
Mắt đảo quanh chỉ biết nói hỡi ôi
Nay mới hiểu tang điền vi thương hải

PTL

Nhãn lồng là loại cây hoang, trái rất ngọt
Chim quyên ăn trái nhãn lồng (ca dao)

Tang điền vi thương hải là đảo ngữ thương hải vi tang điền     

Ðiển tích:  

Theo Thần Tiên truyện, Vương Phương Bình, người đời Hậu Hán, đỗ Hiếu Liêm, làm quan đến chức Trung Tán Ðại Phu,
Ông từ quan đi tu Tiên, đắc đạo, giáng xuống nhà Thái Kinh,
Ông cho sứ giả mời Tiên Nữ Ma Cô đến.
Phương Bình hỏi Ma Cô về thời gian cách biệt.
Ma Cô nói với Phương Bình rằng: Từ khi biết ông đến nay, đã thấy biển Ðông đã ba lần biến thành ruộng dâu.

https://quangduc.com/a31793/bai-be-nuong-dau

Họa 1:

Nhớ quê

Đêm khuya vắng nhớ về bao chuyện cũ
Giữa thị thành hồn gửi chốn hương thôn
Lá thu phai làm gối mỏi chân chồn
Bao ký ức xa xưa còn giữ lại

Tuổi lão hạc những mong lòng tĩnh tại
Sống bình an giữa thế giới muôn màu
Lòng bâng khuâng nhớ bến nước buồng cau
Làng quê nhỏ hiền hòa xưa đã sống

Nhớ gáo nước bên đường khi bụng rỗng
Tình tương thân chòm xóm đã xưa rồi
Cây khoai mì, củ lá rất thương ôi
Mãi gợi nhớ theo dòng đời hồ hải.

Minh Tâm

 

Họa 2:

Ngỡ ngàng

Bao năm viễn xứ giờ về xóm cũ
Rảo bước chân đi đến tận cuối thôn
Ôi thấy lòng sao quá lạ bồn chồn
Quê hương ngoảnh mặt cùng người trở lại

Xót xa quá ngỡ ngàng cùng thực tại
Còn gì đâu hình ảnh đẹp phai màu
Đâu mất rồi những nải chuối buồng cau
Giờ làng xóm như không còn sức sống

Tâm hồn chết như nhà hoang trống rỗng
Bước hồi hương giấc mộng vỡ tan rồi
Sao diêu tàn biến đổi thế than ôi
Tuôn nước mắt chạnh lòng người hồ hải

THT

 

Họa 3:

 

Cội Nguồn 

 

Chôn nhau cắt rún nơi quê làng cũ

Cội nguồn xưa tổ phụ ở đầu thôn 

Trầm tư liên tưởng dạ mãi bồn chồn 

Chồng chất nửa trăm năm giờ nghĩ lại 

 

Chợt nhớ nhà một mai đời hiện tại 

Đã bao phen thay đổi sớm phai màu 

Ngôi nhà xưa sừng sửng cạnh hàng cau 

Thâm tình ấy xa dần trong cuộc sống 

 

Ngôi trường cũ giờ đây đà trống rỗng 

Xót xa nhìn kỷ niệm mất đâu rồi 

Vật đổi sao dời thế sự than ôi 

Bao mơ ước nay tang điền thương hải 

 

Hương Lệ Oanh VA 

July, 19. 2026

 

Họa 4:


Về với Cao nguyên


Vẫn còn nhớ một lần về chốn cũ
Thăm quê nhà dù chỉ ở cô thôn
Nhìn voi rừng chung sống với beo chồn
Cùng cưỡi ngựa vòng quanh làng đi lại


Người bản xứ bằng lòng với hiện tại
Nắng hay mưa cây trái vẫn xanh màu
Như dây trầu quấn chặt lấy thân cau
Dẫu cam khổ bên nhau cần kiệm sống


Nếp văn hóa thực chất không sáo rỗng
Giữa ghét thương nói thẳng với nhau rồi
Vẫn chí tình đùm bọc chẳng hàm ôi
Huynh đệ mãi giữ tình thân tứ hải.


Tâm Quã

Họa 5:

Quê hương bỏ lại

 

Quê ta đó chưa lần thăm chốn cũ
Kể từ khi khói lửa ngập làng thôn
Nhớ nhà xưa lòng vẫn cứ bồn chồn
Thương cha mẹ tóc pha sương ở lại

Hàng thốt nốt, bến tắm sông, hiện tại
Còn đó không hay canh tác hoa màu
Bóng dừa xanh lã ngọn mấy hàng cau
Hoàng hôn xuống khói lam hòa nhịp sống

Nay bất chợt chiều hanh hao trống rỗng
Quê hương ơi nước mắt cạn khô rồi
Thầy bạn xưa giờ mất dấu than ôi
Đời hư ảo, ai nhớ câu thệ hải ?!!


Nguyễn Cang
July 19, 2026

 

Họa 6:

 

Giọt Lệ Cố Hương

Ta trở lại một chiều qua xóm cũ
Đã lâu về nên lạc nẽo cô thôn
Sao xa lạ lòng ta thấy bồn chồn
Xóm nhà xưa giờ nầy xơ xác quá!


Mái trường xưa đã điêu tàng đổ sụp
Ngôi đình làng nắng gió cũng phai màu
Chỉ còn lại xơ xác mấy cây cau
Mồ mẹ tôi u buồn vàng cỏ uá!

Thật đau xót cõi lòng người trở lại
Ôi cố nhân cũng khuất bóng đâu rồi
Cuộc tang hải đau lòng thât…hỡi ơi
Tôi bước đi cõi lòng như mưa gió !


Hàn Thiên Lương
*8-2026** Oregon ** Usa

 

Họa 7:


Khói tóc cố hương

 

Sương viễn xứ ngỡ ngàng màu tóc cũ
Lối mòn xưa nay lạc dấu đường thôn
Nghe tiếng lòng viễn xứ luống bồn chồn
Trông cánh én ngỡ mùa xuân trở lại.

Trường yêu dấu mái rêu không tồn tại
Chút tình quê theo nắng úa phai màu
Mưa sụt sùi qua kẽ lá giàn cau
Thương bóng mẹ một đời gom nắng sống.

Hiên vắng ngắt tiếng võng đưa trống rỗng
Khói hoàng hôn loang loáng khuất lâu rồi
Đời phù vân giong ruổi bấy nhiêu... ôi!
Thương bãi bể nương dâu nghìn dặm hải.

 

AI

 

 

 

 

 

Friday, August 14, 2026

Vu Lan Khóc Mẹ - Nguyễn Cang

 VU LAN KHÓC MẸ




 













(Một nén  hương lòng kính dâng hương linh mẹ)

Mẹ là nguồn nước phù sa

Nuôi con khôn lớn bước qua biển đời

Mẹ còn nở nụ hồng tươi

Ru con say giấc bằng lời ca dao

Mẹ là tinh tú nghìn sao

Đêm trăng chiếu sáng dạt dào tình quê

Gặp khi mưa gió não nề

Bước chân sỏỉ đá đi về với con

Đâu còn lá thắm cành non

Mẹ đi gánh gạo cho mòn tuổi xuân

Mẹ là trăng sáng đầu sân

Để con theo mẹ mỗi lần đi xa

Chiều xưa bóng ngả xế tà

Tung tăng bước vội đón cha chân đồi

Nhà mình hiu hắt tường vôi

Cha đi chinh chiến bồi hồi mẹ lo

Mẹ là giọt nắng mùa Thu

Con đưa tay hứng gió lùa tuổi thơ

Mẹ là trái chin rừng mơ

Để con ra hái  đem thờ trong tim

Tà huy bóng ngả cánh mềm

Trong mơ con vẫn đi tìm mẹ yêu !!!

Nguyễn Cang (Aug. 6, 2026)