Saturday, February 7, 2026

Vắng Bến Đò Xưa - Lan & Bài Họa Nguyễn Cang & Diệp Văn

 Bài xướng:

















VÃNG BẾN ĐÒ XƯA

 

Con đò, người bạn quá thân thương
Một thuở đưa tôi đến học đường
Nắng hạ chang chang không bỏ chuyến
Mưa thu tầm tã vẫn xuôi phương
Như hình, cùng tớ bao niên khóa
Tựa bóng, bên ta suốt dặm trường
Nay  trở về đây nơi bến cũ
Cả trời ký ức lại hồi vương.
LAN.

 

Họa 1/.

 

VỀ THĂM BẾN XƯA

 

Cô lái đò, đưa khách dễ thương

Đưa  tôi đến cuối những con đường

Mưa rào ướt áo không sờn bước

Nắng hạ hanh hao vẫn một phương

Năm tháng dần trôi tôi bỏ học

Dòng đời nghiệt ngã vọng canh trường

Nay về xóm nhỏ thăm người cũ

Bến đỗ còn  đâu bao vấn vương !!!

Nguyễn Cang ( Jan. 30, 2026)

 

Họa 2/.

     

TÌNH NỒNG VẠN LÝ

 

Rêu phủ trường xưa dạ luyến thương

Nào phai dáng ngọc thủa chung đường

Ngày đi, thiết nghĩ không cùng hướng

Trở lại, nào hay vẫn một phương

Biển rộng không hề ngăn nỗi nhớ

 Lòng sâu giữ chặt ý miên trường

Làm sao lột hết tình tri ngộ

Rố i cả lòng nhau… Vạn lý vương!

 Feb 1,2026 Diệp Văn

 

Cuộc Đời Thôi Tiế c Chi Ai - Vũ Thế Thành

 

Cuộc đời thôi tiếc chi ai

Tuần trước tôi post tấm ảnh ghép, hai khuôn mặt cách nhau 50 năm. Một tấm chụp khi tôi vừa thi Tú tài xong, đi chơi Vũng Tàu với bạn TL – tóc đen, còn nhiều và dày. Tấm kia chụp cách đây 6-7 năm gì đó, trong chuyến đi Khe Sanh với các bạn TL, đang ngước nhìn cây cầu dẫn vào quốc lộ 9 – chỉ còn loe ngoe vài sợi tóc bạc, gió thổi dựng đứng.

Vũ Thế Thành

Điều tôi muốn nói, không phải là khuôn mặt già hay trẻ, mà là mái tóc đổi thay theo dòng đời. Tôi mượn câu thơ của Cao Bá Quát “… Mới ngày nào mái tóc xõa ngang vai” để thay cho lời cảm thán. Tiếc thay, vài bạn đọc lại nhìn dưới góc độ khác.

 


Đó là câu thơ trong một bài hát nói của Cao Bá Quát, tôi không nhớ tựa là gì, và chỉ nhớ được 2 câu:

“ Mới ngày nào mái tóc xõa ngang vai

Cuộc đời thôi tiếc chi ai”

Tôi nhớ chỉ vì CBQ dùng chữ “thôi tiếc chi ai” thật lạ. Vẫn biết rằng ông dùng chữ “chi ai” để hợp vần với “ngang vai” của câu trước. Nhưng tại sao lại là “chi ai”?

Chữ “ai” ở đây là ai? Là chính tác giả tự nhủ, hay “ai” để ám chỉ người đời?

Tôi đọc câu thơ “Cuộc đời thôi tiếc chi ai” khi tuổi chưa quá đôi mươi, mà nhớ đến tận bây giờ.

Hát nói là thể thơ phóng túng trong niêm luật. Các nho sĩ thưở xưa thường làm hát nói ,và đưa đào nương hát, còn mình gõ nhịp. Đào nương cũng chẳng phải là ca sĩ “diva” như ngày nay, mà có khi lại sành sõi cầm kỳ thi họa. Thi sĩ tài hoa, gặp đào nương tài hoa có khi lại là tri kỷ.

Vì sao lại gọi là “hát nói”? Tôi đoán, có lẽ vừa hát vừa…nói. Nói – nhưng có vần có điệu, ngân nga đúng cách giống như hát chèo hay hát bội. Hát nói có mưỡu đầu, mưỡu đuôi, mưỡu ngang, mưỡu dọc gì gì đó, tôi quên hết rồi. Chỉ biết hát nói có 11 câu, trong đó có 2 câu thơ chữ Hán. Câu cuối thường là buông thỏng, nghe rất chạm lòng. Hát nói là thể thơ phóng túng nên có thể dài hoặc ngắn hơn 11 câu, tùy vào cảm hứng của thi nhân

Hồi trung học, tôi theo ban B (ban toán), nên môn Cổ văn chỉ được học rất “căn bản của căn bản”. Còn nhớ được hát nói có “mưỡu” là tôi đã phục… tôi rồi. Các bạn trong giới văn chương, xin rộng lượng giùm. Tôi chỉ cảm nhận về một bài thơ nhân sinh của Cao Bá Quát, chứ không dám bàn tới nghệ thuật hát nói.

Tôi biết đến Cao Bá Quát qua bài hát nói “Uống rượu tiêu sầu”. Đó cũng là bài thơ tôi được học để minh họa cho thể hát nói mẫu mực và đúng khổ. Tôi rất thích bài thơ này, chữ nghĩa phóng túng, chất chứa nỗi niềm, có chút gì đó hơi yếm thế:  “Khoảng trời đất cổ kim, kim cổ, Mảnh hình hài không có, có không?

Tôi mua sách Việt Văn ban C (hình như của giáo sư Nguyễn Duy Diễn ) đọc thêm về thơ của CBQ. Dĩ nhiên là mua sách cũ, giá rẻ rề. Đọc những gì mình thích, đọc như đọc truyện, chứ chẳng phải tôi mặn mà gì với văn chương. Ban C là ban Văn chương. Các bạn theo ban C được học về Kim văn, Cổ văn chi tiết, đầy đủ hơn, chứ không học phất phơ như bọn tôi.

Trong sách của Gs Nguyễn Duy Diễn, tôi đọc được bài thơ “Mới ngày nào mái tóc xõa ngang vai”, và thêm vài bài hát nói nữa của Cao Bá Quát. Bài nào cũng hay. Cũng trong sách này, tôi đọc được “Tài tử đa cùng phú” của Cao Bá Quát, đầy chất phong lưu của một thư sinh dù đang sống trong cảnh nghèo. Tôi khoái bài này hơn hẳn “Hàn nho phong vị phú” của Nguyễn Công, cũng nói về cảnh nghèo, nhưng đầy khí thế tiến thân. Có lẽ tôi bẩm sinh đã có máu giang hồ bạt mạng, ít chịu câu thúc.

Sách còn nói, Cao Bá Quát làm bài “tóc xõa ngang vai” để cảm thán cho nhan sắc của một đào nương, đi làm lẽ một vị quan lớn. Các ông nhà văn, thậm chí các ông bà phê bình văn học thường hay buôn chuyện. Từ một sự kiện “nghe nói”, có thể có thật, họ suy diễn vô biên, thành những giai thoại li kỳ hấp dẫn. Xưa đã thế, nay còn gấp bội vì có thể kiếm tiền nhờ lượng view. Chung quanh Cao Bá Quát rất nhiều giai thoại – Một thầy một cô một chó cái, hay ba hồi trống giục đù cha kiếp,… Tôi không tin giai thoại nào cả. Nhưng CBQ bị án tru di là có thật. Còn ông chết trận hay bị bắt rồi đem hành hình thì không rõ.

Với bài “tóc xõa ngang vai”, tôi tin Cao Bá Quát làm để trang trải nỗi niềm của riêng mình, chứ than tiếc cô đào nương gì ở đây. Viết tới đây, tôi chợt nhớ thêm hai câu của bài thơ:

“Tiếc cho mình mà lại thương mình

Còn chen chúc với đời chi mãi tá”

Rõ ràng Cao Bá Quát cảm thán cho cuộc đời mình, nhuốm màu buông bỏ đua chen để chọn bầu thơ chén rượu.

Vài bạn đọc góp ý, phải là “tóc xõa ngang tai”. Điều này đúng về hiện thực, nhưng tôi đâu dám sửa thơ tiền nhân. Thật ra tôi cũng hoang mang, “tóc xõa ngang vai” hay “tóc chấm ngang vai”? Trí nhớ chuệch choạc rồi.

Trở lại với tấm ghép hai mái tóc cách nhau nửa thế kỷ. Tôi post lên fb tuần trước, không phải để nói tóc đen, tóc bạc. Càng không phải để so trẻ – già. Chỉ là câu chuyện vay mượn để cảm thán cho dòng đời của một thế hệ lạc lối, trôi giạt (lost generation). Dòng đời mà thế hệ tôi trải qua, tràn ngập những hình thức khỏa lấp nội dung. Trong phút chốc hoài bão tan vỡ, nhẫn nhục nhìn lịch sử bị bôi bác, đành cặm cụi vào những “sáng tạo” vặt vãnh để mưu sinh.

Tôi mượn câu thơ “Mới ngày nào mái tóc xõa ngang vai” để trang trải cho ảnh ghép, và cất giữ câu “Cuộc đời thôi tiếc chi ai”.

Lúc này tuổi đời đang cạn dần, tự răn mình –  hám danh đáng sợ hơn hám lợi. Đọc thơ tiền nhân, soi lại chính mình và ngẫm nghĩ. Đúng là – “Cuộc đời thôi tiếc chi ai”

Vũ Thế Thành

304Đen – Llttm - sgtc

 

 

Con Đò Bến Sỏi & Lời Cho Người Ra Đi Vì Tổ Quốc - Nguyễn Thị Châu

 

CON ĐÒ BẾN SỎI

 












Tôi vẫn ngồi đây với tháng ngày

Chờ người bên ấy lá Thu phai

Anh đi vận nước vừa thay đổi

Tôi ở bên nầy bao đắng cay

 

Trảng Lớn bây giờ không tiếng súng

Cầy Xiêng nhộn nhịp bước ai qua

Anh ơi! Có nhớ ngày hôm ấy?

Con đò Bến Sỏi ta tiễn đưa

 

Đôi tay nắm chặt hẹn ngày về

Tôi chờ mòn mỏi nơi chốn quê

Anh đi lâu lắm, từ hôm đó

Mấy mươi năm quên mất đường về

 

Nghìn trùng xa cách hởi người ơi!

Con tim nhỏ bé không đổi dời

Đường xưa đồn vắng trong ký ức

Chờ người bên ấy trở về đây?

 

 4-2-2026

Nguyễn thị Châu

*Gởi Đại uý.   Trương cao Sâm

Sư đoàn 25 bộ binh đóng ở  Củ Chi,   sau về Trảng Lớn

Không biết bây giờ còn hay mất??? (NTC)

 

LỜI CHO NGƯỜI RA ĐI VÌ TỔ QUỐC



 


















Mênh mông đêm vắng trăng tà

Nhìn trăng ta nhớ hôm qua anh về

Anh đi mấy dậm sơn khê

Vì non, vì nước vì quê  hương mình

Quê nhà bao nỗi điêu linh

Yêu thương gác lại bình minh đang chờ

Trăng khuya sao lại hững hờ

Sương rơi trước ngõ như chờ đợi ai?

Anh đi muôn dậm đường dài

Gót giầy in dấu, tương lai không còn

Anh đi gìn giữ nước non

Máu anh đổ xuống khi còn tuổi xanh

Trăng vàng thương tiếc đời anh

Cái chết vinh hiển mong anh đừng buồn

Thương anh nước mắt lại tuôn

Khóc cho anh đó đừng buồn anh ơi…!!!

 

    4-2-2026

    Nguyễn thị Châu

Friday, February 6, 2026

Đám Cưới Không Chú Rể - Yang Zhensheng

 

 Đám Cưới Không Chú Rể





Truyện ngắn “Ðám Cưới Không Chú Rể” phỏng theo một truyện Trung Hoa viết trong thập niên 1930, trong đó một thiếu nữ đã thành goá phụ trước khi về nhà chồng để được làm vợ. Theo tập tục tại một vài vùng của Trung Hoa, nếu một người con gái hứa hôn với một người đàn ông, và người đàn ông chết trước ngày cưới thì người con gái vẫn phải đi qua thủ tục hôn lễ, và vào sống trong nhà người đàn ông suốt đời như một goá phụ.

Cuộc đời của người trinh nữ góa phụ, tuy còn quá trẻ, nhưng rất cô đơn và lặng lẽ, có đáng tiếp tục đến tuổi bạc đầu không?

° ° °

Ngay sau buổi trưa một ngày cuối thu, một vài đám mây lướt trôi ngang bàu trời, và ánh nắng mặt trời hắt sáng trên những đường phố đã được gió quét sạch sẽ rồi. Ðàn bà và trẻ con đứng trước cửa nhà, chuyện trò náo nhiệt. Cơn gió đưa lại tiếng kèn trống, rõ ràng và thê lương.

Một người đàn bà vươn cổ ra nhìn và nói, "Kìa, họ tới rồi."

Một đám người lô nhô tiến lại gần, vác cờ quạt, đi theo một chiếc kiệu phủ dạ màu xanh. Một bài vị bằng gỗ đặt bên trong chiếc kiệu. Ðằng sau chiếc kiệu này còn một chiếc kiệu nữa, cũng phủ dạ xanh, có một người con gái khoảng 18 hoặc 19 tuổi. Nàng mặc một bộ tang phục. Hai đầu của một giải lụa đen quấn ngang đầu nàng lủng lẳng trên vai. Mặt người con gái xanh tái. Chỉ có đôi môi màu hồng là còn chút huyết sắc. Nàng ngồi im lặng, nhìn thẳng về phía trước, giống như một pho tượng bằng thạch cao.

Một người đàn bà chỉ vào chiếc kiệu thứ hai, và nói với một bà già,

- Ðó là con gái nhà họ Trương. Người ta nói chú rể chết vài tháng sau đám hỏi. Cô ta chưa bao giờ trông thấy chú rể.

- Ái dà, Thật là một cô gái xinh đẹp. Không biết tại sao cha mẹ cô ta lại để cô ta .

Lời bình phẩm của bà già bị cắt ngang vì một con ho.

Một thằng bé ngẩng đầu hỏi mẹ, "Ðám ma phải không má má?"

Bà mẹ vội mắng con, "Câm cái miệng. Người ta rước cô dâu về nhà đấy."

Thằng bé hỏi tiếp, "Thế chú rể đâu?"

Bà mẹ bực mình rầy con, "Kia kìa, trong cái kiệu thứ nhất đấy."

Thằng bé ngó nhìn và kinh ngạc. Nó đang định hỏi tiếp thì mẹ nó đã quay sang nói chuyện với người hàng xóm. Nó cúi xuống, trề môi, và lẩm bẩm:

- Chỉ có cái bài vị bằng gỗ thôi.

Khi đám rước dâu tới cổng của một dinh cơ lớn, hai người đàn ông mặc áo choàng dài trên mặc áo chẽn, bước ra và bưng cái bài vị trong chiếc kiệu thứ nhất vào nhà. Hai người đàn bà, mặc tang phục trắng, giúp cô dâu bước xuống. Tất cả thong thả tiến lên, cái bài vị bằng gỗ dẫn đầu, cô dâu đi sau cùng, một giải lụa đen buộc nối bài vị và cô dâu với nhau, cách xa khoảng ba thước. Trong khi ban nhạc thổi điệu nhạc thê lương buồn thảm, cô dâu và chiếc bài vị đứng song song với nhau trên một tấm thảm màu xanh - chiếc bài vị bên trái và cô dâu bên phải - và cùng vái Thiên Ðịa, rồi vái lậy trong nhà từ đường; sau đó vào phòng khách vái chào cha mẹ chú rể. Rồi cùng với bài vị dẫn đường, cô dâu đi theo, vẫn còn nối liền với nhau bằng sợi giây lụa đen, cả hai được dẫn vào phòng tân hôn.

Ngay khi bước vào phòng tân hôn, họ đụng ngay cái bàn thờ. Tấm bài vị của chú rể được đặt thật ngay ngắn trên bàn thờ. Một ngọn đèn dầu lắt lay, tỏa ra một thứ ánh sáng le lói màu xanh, đặt ngay trước bài vị. Một tấm vải trắng phủ cái khung giường bằng đồng bên cạnh cửa sổ. Hai chiếc áo gối thêu hình một con vịt đực và một con vịt cái màu nâu nhạt, theo đúng truyền thống.

Khuya đêm đó khi tất cả đã im lặng, cô dâu ngồi trên một cái ghế bên cạnh tấm bài vị và ngó nhìn chiếc giường. Một cơn gió tây thổi xuyên qua cửa sổ, khiến cho ngọn đèn ngả nghiêng và bốc ra một làn khói đen, bay lên như một cái bóng đen. Bên ngoài, khóm tre xào xạc rên rỉ.

° ° °

Một buổi chiều vào cuối mùa xuân năm sau, cô dâu bừng tỉnh sau một giấc ngủ trưa, và đi dạo trong hoa viên. Không khí tràn đầy hương thơm của hoa cỏ. Hai đùi nàng cảm thấy êm ái dễ chịu và thoải mái. Những đám lông tơ của cây liễu lăn cuộn lại trên mặt đất thành những trái banh. Những con bướm giật mình bay bổng lên từng đôi từ những bông hoa, và nhởn nhơ trước mặt nàng.

Nàng lơ đãng nhặt vài sợi giây leo của cây liễu, ngồi xuống bên cạnh một tảng đá trong khu vườn để đan kết một cái gì. Nhưng nàng cũng chưa nghĩ là nên đan kết cái gì.

Nàng nhìn những bông hoa mẫu đơn. Những bông hoa này đã rụng phân nửa những cánh hoa rồi. Những cánh hoa còn lại dính hờ hững vào đài hoa, sẵn sàng làm mồi cho bất cứ một làn gió nào. Một đôi chim sẻ gục vào nhau trên những cánh hoa rụng, mổ lông, rồi vừa rỉa lông cho nhau vừa kêu gù gù trong ánh sáng của mặt trời hoàng hôn. Hai con sóc nhảy từ cành xuống, khiến hai con chim bay vùng lên, cánh vẫy tung lên những cánh hoa tàn. Hai con sóc cũng kêu ríu rít nhảy đi nơi khác.

Trở về với thực tại, người con gái thấy nàng đã bẻ vụn mấy giây tơ của cây liễu thành từng mẩu vụn. Những mẩu vụn ấy rơi rải rác trên mặt đất. Nàng đứng dậy, kéo thẳng quần áo, và lơ đãng đi trở về phòng ngủ. Mặt nàng cảm thấy nóng ran. Nàng nhìn vào gương. Mặt nàng hiện lên những chấm trắng và hồng. Hai gò má nàng là hai bông hoa, màu đỏ ửng. Nàng bước lùi lại vài bước, và ngồi xuống một chiếc ghế. Nàng bâng khuâng nhìn lên chiếc bài vị bằng gỗ.

Sáng hôm sau người góa phụ trẻ không bước ra khỏi phòng, ngay cả lúc ánh sáng mặt trời đã rọi lên cửa sổ. Người đầy tớ gái mấy lần bưng nước cho nàng tắm rửa buổi sáng, nhưng phòng nàng vẫn còn khóa kín. Bên trong không một tiếng động. Người tớ gái sinh nghi và nhòm vào qua cửa sổ. Cảnh bên trong khiến người tớ gái hoảng sợ không nói nên lời. Hai mắt trợn trừng, người tớ gái chạy về phòng của Lý phu nhân, mẹ của chú rể.

Phải mất một lúc người tớ gái mới thốt ra được, "Thiếu nương đã treo cổ tự tử rồi."

Yang Zhensheng
Nguyễn Vạn Lý dịch

 

 

 

 

Anh Y Tá Minh - Từ Bích Hoàng

 

Anh Y Tá Minh




    Tới Mẹt. Trời bắt đầu mưa nặng hạt. Mưa đã hai ba ngày nay. Nước lũ tràn về xiết mạnh giữa dòng cuốn đi những thân cây mục, nước ngập cả hai bờ sông. Phải trèo lên cành cây để bước xuống đò qua sông. Mẹt! Cái cửa ải đầu tiên của chiến khu Đông Bắc! ở đây trời như sà thấp xuống núi rừng, không khí âm u nặng nề ẩm thấp khó thở. Những người đi lại ngược xuôi trên con đường này thường gọi đây là bến đò "mệt". Vì họ tin rằng người khỏe qua đây cũng phải thấy mệt, người đã yếu sẵn chẳng may lỡ độ đường, ngủ lại một đêm có khi nằm lại đây mãi mãi. Đoàn bộ đội chúng tôi dăm bảy người đã đi trên một con đường như thế, lên mặt trận phía đông của chiến khu Việt Bắc.

° ° °

Trời đỡ mưa, chúng tôi ra đi, mắt còn nhìn lại lần nữa cái bến đò heo hút ấy. Những túp nhà lá lợp gianh xiêu vẹo dựa vào nhau dưới làn mưa không dứt. Bên trong mấy quán trọ lèo tèo, mấy bóng người ngồi bó gối lừ đừ nhìn mưa rơi.

Đi được một đoạn đường, trời lại sầm sì muốn mưa, chúng tôi vào nghỉ một quán hàng bên đường. Bước qua ngưỡng cửa, chúng tôi ngạc nhiên thấy trong quán gọn gàng sạch sẽ. Hai tấm cửa gỗ kê trên hai cái mễ tre làm quầy hàng trên đặt mấy đĩa xôi đậu, lọ kẹo, vài chiếc bát. Mấy nải chuối mật treo lủng lẳng trên dây rừng bện.

Bà hàng ẵm đứa con nhỏ ngồi ở giường trông thấy chúng tôi vào chạy ra mời. Bà trạc bốn mươi tuổi, người mảnh khảnh mặc chiếc áo đã ngả mầu nước dưa, tay bế con gái chừng lên ba tuổi. Hai mẹ con đều xanh xao như những người chúng tôi vừa gặp ở bến đò. Tôi lật mấy cái bát:

- Bà hàng cho chúng tôi mấy bát nước.

Một người hỏi:

- Nước nóng chứ bà hàng, có pha không đấy?

Bà hàng lấy gáo vục vào ấm chè ủ kín đổ ra từng bát, cười đáp:

- Không ạ, nước nhà cháu bao giờ cũng khói ngút lên. Pha nước lã để các đồng chí uống đau bụng phải tội chết!

Con bé mắt mở to nhìn chúng tôi không chớp đôi môi nhợt nhạt của nó thỉnh thoảng lại nhoẻn cười trông rất dễ thương.

Câu chuyện giữa bà hàng với chúng tôi chóng trở nên thân mật. Tôi gợi đến chuyện gia đình bà hàng.

- Chả dám giấu các đồng chí, nhà cháu ở tận thị trấn phía bên kia. Hai mẹ con cháu tản cư xuống đây đã hơn hai tháng nay, còn bố cháu đi vào du kích từ khi đó chưa thấy tin tức gì. Mẹ con cháu đành mở hàng nước lần hồi kiếm ăn, chật vật lắm, không biết rồi đây có yên không?

Con bé quay đầu gục vào vai mẹ như để an ủi mẹ nó. Bà hàng nựng con, rồi nói tiếp:

- ấy được gần nửa tháng nay cháu mới chịu chơi, trước đã tưởng là đến bỏ mất, cả hai mẹ con cứ sốt rét mãi, may mà gặp được anh y tá tốt quá, anh ấy cho thuốc chữa mới được như thế này đấy...

Rồi như nhớ ra điều gì, bà đột ngột hỏi:

- Các đồng chí giờ ngược hay xuôi? Anh y tá Minh có đi cùng các đồng chí không ạ? Chúng tôi nhìn nhau chưa kịp trả lời thì bà hàng ngắm lại chúng tôi, đã nói.

- Thôi phải rồi, chắc các đồng chí mới ở xuôi lên, chứ các anh bộ đội ở vùng này ai mà chẳng biết anh y tá Minh.

Rồi như để tỏ lòng biết ơn người y tá vắng mặt, bà kể lể:

- Các đồng chí chưa biết chứ anh y tá Minh anh ấy tốt lắm, chẳng nhà nào ở đây anh ấy không vào thăm cho thuốc mà thật quả là không có lấy qua đồng tiền nào của ai bao giờ...

Bà cầm hai chân đứa bé giơ lên:

- Phiên chợ trước anh ấy ngược với đơn vị cũng có ghé vào đây. Thấy cháu lở chân, anh ấy cho ít thuốc mỡ bôi. Anh ấy hẹn độ bốn, năm hôm xuôi, thì sẽ ghé vào đây thăm lại cháu bé. Thế mà đã quá hai phiên chợ rồi không hiểu sao chưa thấy anh ấy về, nhà cháu sốt ruột quá.

Đứa bé đã thiu thiu ngủ. Bà vào giường trong lừa đặt con, úp cái khung màn lên rồi lại quay ra kể tiếp:

- ấy cái màn cháu nằm kia, anh ấy hồi còn đóng gần đây cứ bày bảo cháu làm để muỗi khỏi đốt cháu bé nhưng cháu bán hàng lại vụng thành thử không lúc nào làm được. Thế rồi một hôm anh ấy mang tre lại vào ngồi đây cả buổi sáng, đan cho cháu cái khung lại cho cháu miếng vải cũ để làm màn, người đâu mà tốt quá!

Bà còn muốn kể nhiều nữa về người y tá vắng mặt kia nhưng ngồi lại đã quá lâu chúng tôi phải cáo từ vác ba lô lên đường.

Mải kể chuyện, có lẽ bà hàng lại quên bẵng chúng tôi mới ở xuôi lên đây lần đầu. Đã bước ra khỏi cửa, chúng tôi còn nghe bà dặn với:

- Các đồng chí ngược có gặp anh y tá Minh thì làm ơn nói giúp là nhà cháu mong anh ấy lắm, thể nào về qua đây anh ấy cũng ghé vào thăm lại cho cháu bé một chút.

° ° °

Từ đây đổ lên, con đường nhựa đen bóng như bị thu hẹp lại giữa một bên là dãy núi đá Cai Kinh lúc nào cũng sừng sững trước mắt. Con đường nhựa bắt đầu bị băm nát từng đoạn, những thân cây to chặt đổ ngổn ngang vắt qua đường, lá cành đôi chỗ còn xanh. Có đoạn những hố phá hoại đào vội nham nhở nước đục ngầu, có đoạn lại được đào vuông vắn chứa đầy nước mưa trong trẻo trông như những chậu nước kê nghiêng.

Hai bên đường vẫn là núi rừng, một mầu xanh xám nhìn mãi mỏi cả mắt.

Những quán hàng quán trọ thưa thớt dần. Trên những sạp nứa dài, những chiếc chiếu ẩm mốc run rẩy, những cái đầu bù xù cố vươn ra cửa mỗi khi có chân người qua đường: "Các anh bộ đội có ký ninh cho nhà cháu một viên". ở chốn đầy muỗi độc này, người ta hà tiện từng cử chỉ từng lời nói. Họ mua bán hàng một cách kỳ lạ: trước cửa nhà đặt một cái chõng tre trên đặt mấy đĩa xôi, mấy đĩa hạt dẻ rang. Khách đói bụng chỉ việc cầm đĩa xôi, đĩa hạt dẻ đổ vào lòng bàn tay, móc ra một đồng bạc kền gõ cành cạch xuống chõng, nếu là tiền giấy thì giơ cao lên rồi để xuống chõng, chặn cái đĩa không lên trên rồi đi. Ông chủ hàng đắp chiếu ở giường bên cũng chỉ nghển cổ nhìn khách rồi lại lặng lẽ nằm xuống. Thỉnh thoảng lắm mới gặp một, hai toán người ngược chợ Điềm He hoặc xuôi chợ Kép, họ gánh những sọt hàng nặng trĩu gặp nhau hỏi thăm ồn ào một lúc rồi con đường lại trở lại vắng vẻ âm u như trước. Trong những xóm nhà dựng tạm ven đường, giờ đây chỉ thấy toàn người già, phụ nữ và trẻ em. Vắng hẳn bóng những người thanh niên khỏe mạnh: họ đã vào du kích cả rồi.

Cái cảnh tượng những người dân tản cư chạy giặc phải sống tha phương bị sốt rét và thiếu thốn giày vò, diễn ra trước mắt chúng tôi, từng chặng một.

Bỗng chúng tôi trông thấy một cái cáng từ đằng xa nặng nề đi lại. Không ai bảo ai, chúng tôi đều rảo bước. Đến gần mới nhận ra còn có một anh Vệ quốc mặc quần áo chàm, vai khoác súng trường, lưng đeo dao rừng, mặt sạm đen, đôi mắt lờ đờ thiếu ngủ, lặng lẽ đi theo sau cáng. Tôi dừng lại hỏi:

- Nặng hay nhẹ? ở mặt trận nào về thế, đồng chí?

Cái cáng cũng dừng lại để hai người khiêng đổi vai. Anh vệ quốc người miền núi như sực tỉnh, đôi mắt sáng lên, say sưa trả lời một thôi dài như thể dọc đường anh đã trả lời nhiều lần như thế.

- Mình ở mặt trận Ba Hòn về vớ! Đêm qua bộ đội mình đột kích đồn nó, súng bắn nhiều lắm, không biết nó chết bao nhiêu vớ! Đồng chí này (anh đổi vai súng rồi đập nhẹ tay vào đầu cáng) xung phong bị ngay một mảnh lựu đạn vào đùi (anh đập mạnh tay vào bắp đùi anh) nhưng nhẹ thôi vớ!

Tôi lật chiếc chăn dạ trùm trên cáng để nhìn mặt người chiến sĩ bị thương. Một người khiêng cáng nói thêm vẻ mệt nhọc.

- Lẽ ra chẳng cần đưa đồng chí này về quân y xá làm gì cho thêm việc nhưng chẳng may anh y tá đơn vị lúc rút ra cũng bị thương nốt!

Vài hạt mưa nhẹ bay vào mặt anh chiến sĩ trẻ đang nằm ngủ trên cáng, hai tay vẫn giữ chặt trên ngực áo, chiếc ca lô vải nâu còn mới. Vết thương ở đùi bên phải, một chiếc áo cũ hoen máu bọc ngoài gọn ghẽ. Tôi kéo chiếc chăn xuống, định bước đi chợt nhớ tới lời dặn của bà hàng, tôi quay lại hỏi anh Vệ quốc:

- Anh y tá đơn vị đồng chí có phải tên là Minh không?

Anh Vệ quốc, đôi mắt đã lại lờ đờ như lúc mới gặp, chỉ khẽ lắc đầu rồi lặng lẽ bước theo sau cáng. Tôi thở phào nhẹ nhõm.

Những chiếc cáng về xuôi trên con đường xanh xám này có nghĩa là một anh Vệ quốc quân bị thương hay một người dân ốm nặng vì sốt rét. Cuộc kháng chiến là trường kỳ và gian khổ. Đây mới chỉ là thử thách bước đầu. Chúng tôi vẫn đi trên đường dài, vẫn núi, vẫn rừng. Trời vẫn mưa, sương chiều đã xuống, hơi lạnh từ dãy núi đá Cai Kinh nằm sát bên đường thấm dần vào da thịt chúng tôi. Chúng tôi mong nghe thấy một tiếng nói, một tiếng cười, một tiếng khóc của trẻ em. Chúng tôi mong nhìn thấy một làn khói bếp, một ánh lửa nhà sàn. Hai bên đường vẫn chỉ là rừng già, trước mặt vẫn chỉ là núi cao vút ngọn.

Qua khỏi rừng Cấm. Nhìn đã thấy một mảng trời rộng trên đầu. Xa xa vẳng tiếng trẻ con cười đùa. Chúng tôi quên mỏi bước rảo lên phía trước. Sau chỗ ngoặt, mấy đứa bé bụng ỏng đang ôm quần té nước đùa nhau bên chiếc hố phá hoại đầy nước. Thấy chúng tôi kéo đến, tiếng cười trong trẻo tắt đi. Chúng đứng ngây ra nhìn rồi cùng nhau bỏ chạy về nhà, miệng gọi líu lô:

- Mẹ, mẹ ơi, bộ đội đi qua, bộ đội đi qua!

Từ những khung cửa tranh tối tranh sáng, vài bộ mặt mệt mỏi ló ra hỏi bâng quơ về phía chúng tôi:

- Bộ đội ngược hay xuôi đấy? Anh y tá Minh có đi cùng không?

° ° °

Trên suốt dọc đường từ Mẹt đổ lên, giữa đám người tản cư ở hậu phương, bên những người chiến sĩ ngoài mặt trận, đâu đâu anh y tá lưu động không quen biết kia cũng để lại dấu vết một bàn tay, một tấm lòng, một tia hy vọng. Họ chờ đợi anh, họ nhắc đến tên anh, họ kể chuyện về anh, họ trông cậy vào anh. Hình ảnh người y tá đáng mến ấy từ đây cứ lởn vởn trong đầu óc chúng tôi. Anh đã trở nên quen thuộc đối với chúng tôi từ lúc nào và chúng tôi cầu mong được gặp mặt anh như cầu mong được gặp một người bạn cũ.

° ° °

Chiều hôm sau, trời hửng nắng. Sau những ngày mưa dài cảnh vật như bừng lên dưới ánh nắng còn yếu ớt. Qua con suối nước còn đục ngầu, chúng tôi đặt chân lên mảnh đất Chi Lăng lịch sử. Chúng tôi dừng chân nghỉ trên một mô đất cao ven đường. Dãy núi đá Cai Kinh đã lùi lại phía sau, rừng già ướt át cũng đã lùi xa mặt đường, trời đã cao đã rộng trên đầu. Gió thổi bát ngát, từng đám mây trắng trôi trên nền trời mỗi lúc một xanh hơn. Chúng tôi đứng nhìn ra xa, về phía biên giới. Cảnh núi rừng trập trùng hùng vĩ. Tổ quốc đẹp sao! Trong tiếng súng lớn của giặc dội về âm âm không dứt, chúng tôi đã nghe thấy xen kẽ tiếng súng trung liên nổ từng loạt ngắn của bộ đội và tiếng súng trường phát một đó đây của du kích. Mặt trận không còn xa nữa. Chúng tôi bỗng thấy trong lòng phấn chấn tưởng nhớ lại sự tích người anh hùng áo vải đã lấy đầu Liễu Thăng ở chốn này mấy trăm năm về trước.

Bỗng trước mặt chúng tôi, một cái cáng trùm lá cọ trở về xuôi lại đột ngột hiện ra. Chúng tôi đứng nhìn lặng lẽ, nhưng rồi không cầm lòng nổi, tôi rời mô đất chạy theo hỏi với:

- Này đồng chí ơi! Cáng ai thế, nặng hay nhẹ?

Hai người dân khiêng cáng vẫn bước gằn. Anh Vệ quốc quân khoác súng đi sau quay đầu lại trả lời tôi trong một hơi thở gấp:

- Anh y tá Minh đấy!

1948

Từ Bí­ch Hoàng

Saturday, January 31, 2026

Ai Có Về Vàm Cỏ - Thuyên Huy

 Ai Có Về Vàm Cỏ




Tình Bay Xa - Nguyễn Cang

TÌNH BAY XA

(Hồi ức một thời tuổi trẻ mộng mơ, tình yêu và nỗi nhớ)

 
















Thôi rồi người đã sang sông

Bỏ thuyền bỏ bến hết mong quay về

Còn tôi chết lặng cơn mê

Nhìn em bước xuống mà tê tái lòng

Đêm đêm thức trắng đèn chong

Cô liêu một bóng dập dềnh thần kinh

Bao giờ nắng đổ thủy tinh

Cho ta vơi bớt mối tình xót xa

Nhớ xưa em đã cùng ta

Bàn tay ngón nhỏ dạo qua xóm nghèo

Tưởng rằng duyên kết băng keo

Ai ngờ tình mỏng bay theo cánh chuồn

Ta buồn lệ thấm mưa tuôn

Em vui duyên mới tơ vương đắng lòng

Ôm hoài kỷ niệm mênh mông

Mùa xuân chợt tới nghe lòng chứa chan…

Năm mươi năm cuộc chiến tàn

Chuyến đò năm cũ đưa nàng về đâu??!

Nguyễn Cang ( Jan. 20, 2026)