Saturday, April 18, 2026

Qua Cầu Sông Ba - Nguyễn Cang

QUA CẦU SÔNG BA* / CN

(Cảm tác bài Qua Cầu Ba Ngòi của TLT)
  


 
















Lệnh hành quân chẳng  cho ai biết
Giờ rút lui gần giữa tháng ba
Dân với lính ùn ùn tháo chạy
Sao đành lòng bỏ lại quê cha?!
 
Tới Ba Ngòi mặt trời chưa tắt
Lính với dân chen chúc giữa cầu
Tiếng khóc la nghe chừng tuyệt vọng
Bên rừng già dội tiếng binh đao

Chiều nắng hạ nghe lòng bứt rứt
Giờ qua đây kẹt cứng xe hơi
Chất cao ngất những đồ trang bị
Phút tử sinh giao phó mệnh Trời

Ngồi bên đường đứa bé mười tuổi
Lạc mẹ cha ầm ỉ khóc hoài
Tội nghiệp quá làm sao cứu được?
Bước đi rồi mắt vẫn còn cay!

Xe đậu  cách cầu chừng chục thước
Lính đi tìm nước, nấu cơm chiều
Trong đêm  tối lập lòe tia lữa
Tạm lót lòng qua bữa bấy nhiêu...

Trời chưa sáng, súng ầm ầm nổ
Đạn lửa bay ngang,  thấy hết hồn
Phi đội F5 oanh kích địch
Vội vàng bay mất  khỏi tiền đồn!


Mười năm chinh chiến chưa hề chạy
Sao đến bây giờ lại tả tơi?
Thất thế sa cơ đành thảm bại
Tìm đâu sinh lộ hỡi ông Trời!

Bỗng tin sét đánh, cầu vừa sập
Giặc chận bên kia hết nẽo về
Lùi lại chẳng xong thôi cứ mặc
Tủi thân cay đắng hận đời ghê!


Nuốt vội chén cơm chưa kịp chín
Thầy trò mê sảng, nắng buông lơi
Dật dờ chợp mắt trời chưa tối
Nghe thấy oan hồn gọi tới chơi!...

Nhìn lại Nha Trang thành phố biển
Giờ nầy chắc giặc đã vào trong
Hoãng hồn chạy trốn dân cùng lính
Dáo dác trên bờ ngập bến sông...

Người xe mỗi lúc càng đông nghẹt
Sương lạnh chiều hoang bóng đỗ dài
Người vẫn cứ đi lê lết mỏi
Đường dài hun hút hết tương lai!

Nguyễn Cang/ Tháng Tư 2017

 

Sông Ba*: nồi liền quốc lộ 7B với Tuy Hòa. Năm 1975, quân của tướng Phú ở vùng II rút  qua cầu nầy bị địch chận đánh gây thiệt hại nặng dẫn tới mất miền Nam .

 

 

 





 

 

 

 

 

 

 





 

Huế Xưa Xa Rồi - Nguyễn Cang

HUẾ XƯA XA RỒI

 (Ghi lại kỷ niệm một lần đi công tác trong đoàn Thanh Tra kỳ thi Tú Tài II của BQGGD/SG tại Huế năm 1973)

 















Huế đã xa rồi, xa thật xa

Huế mang tâm sự tháng ngày qua

Huế không chia cắt mà ly biệt

Huế mãi trong tôi những thiết tha

 

Ai ra xứ Huế cho tôi nhắn

Gởi chút tình thương thật đậm đà

Núi Ngự bây chừ còn đứng đợi

Sông Hương còn chở khách đi qua?

 

Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng phủ

Hồi chuông Thiên Mụ giục hồn ta

Hoàng Thành man mác sầu nhân thế

Cung điện triều xưa tấu khúc ca

 

Tôi có người em Thành Nội Huế

Của kinh đô chính điện Hoàng Cung

Của Vương Đình một thời quyền lực

Điện ngọc nay hưng phế khốn cùng

 

Huế xưa ơi chẳng biết bây chừ

Sóng vỗ lắt lư bên mạn thuyền

Cất giọng hò lơ đò chở khách

Nữ sinh Đồng Khánh nụ cười duyên?

 

Ta đã xa rồi Huế mộng mơ

Đâu còn vọng tiếng chuông chùa xa

Bỗng nghe se thắt trời hiu quạnh

Mưa rớt vô tình giọt thiết tha

 

Đã xa rồi đất mẹ Thần Kinh

Vỹ Dạ em thơ áo trắng tinh

Một thoáng mơ về hình bóng cũ

Nghe hương xưa sóng vỗ quanh mình

 

Tôi nhớ Mậu Thân Huế hãi hùng

Kinh Thành khói lửa Huế lầm than

Chiến tranh tàn phá gây tang tóc

Thương xót vô vàn những mộ hoang

 

Bây chừ thăm lại Huế ngày xưa

Hồn Huế còn đâu, khuất bóng mờ

Đâu tiếng cười vui chung nhịp bước

Trường Tiền ngơ ngác lạnh bơ vơ!

 

Huế ơi, ta vẫn nhớ muôn đời

Để nghe hiu hắt giữa trùng khơi

Để nghe ray rứt bờ môi lạnh

Khắc khoải trong lòng Huế của tôi !

 

Nguyễn Cang ( Mar 9, 2023)

 

 

 

 

 

Dấu Chân Kỷ Niệm & Vầng Trăng Cô Độc - Nguyễn Thị Châu

DẤU CHÂN KỶ NIỆM

 



















Hôm nay về lại SÀI GÒN

Bước chân ai đó vẫn còn ở đây

Anh giờ theo gió theo mây

Còn tôi chậm bước nhớ ngày dấu yêu

Tìm về vết tích những chiều

Mây bay lơ lửng lá phiêu đón chào

Hàng cây cành lá xôn xao

Dấu chân kỷ niệm ngày nao vẫn còn

Hôm nay trở lại SÀI GÒN

Tìm anh lính   chiến lối mòn đi qua

Nhà thờ chuông vẫn ngân nga

Hàng cây cao vút xa xa đã già

Tay ai khoác vội chiều tà

BẠCH ĐẰNG nắng ráng, nàng hoa tươi cười

Áo xanh áo trắng đùa vui

Cho nhau hạnh phúc những ngày thương yêu

Bây giờ cây lá liêu xiêu

Mình tôi đứng lặng nhớ nhiều về anh

SÀI GÒN lê gót quẩn quanh

Tìm đâu hình bóng tuổi xanh năm nào..???

 

 15-4-2026

 Nguyễn thị Châu

 

VẦNG TRĂNG CÔ ĐỘC



 










Tôi vẫn mãi vầng trăng khuya cô độc

Ánh trăng tàn thao thức đợi chờ ai?

Nhìn trăng khuya ta  khắc khoải ai hoài

Đêm sương lạnh gió lay ngoài khung cửa

 

Từ dạo đó lá rơi rơi ngoài ngõ

Kỷ niệm xưa như  thức dậy trong lòng

Nhớ một người đã trả nợ núi sông

Đêm ray rức trái tim đang rỉ máu

 

Tôi đơn lẻ, bóng trăng vàng cô độc

Hai cuộc đời hai lối rẻ khác nhau

Nhưng ủi an khi bóng tối đi vào

Tôi vẫn thế, vầng trăng kia vẫn  thế

 

Trăng vui trăng hát tôi nghe trong gió

Tôi buồn tôi ngắm trăng sầu thở thang

Nhìn lại cuộc đời bao nỗi trái ngang

Trăng thao thức buồn cho thân cô độc…!!!

 

15-4-2026

Nguyễn thị Châu

Vịnh Trăng - Vườn Thơ Mới Xướng Họa

THƠ XƯỚNG HỌA KỲ188-VƯỜN THƠ MỚI

 Xướng:

 













Vịnh trăng

Đĩa vàng lơ lửng giữa lưng trời.
Soi sáng đêm dài chẳng để rơi.
Vạn thuở trần gian yêu dáng ngọc,
Ngàn năm thi sĩ ướp hương đời.
Đổi thay khi tỏ rồi khi nhạt,
Xoay chuyển lúc đầy lại lúc vơi.
Chú cuội lạc đường lên chốn ấy,
Mỏi mòn ngồi dựa gốc đa chơi.
Minh Tâm

 

Họa 1:

 

Trăng khuyết

Viễn xứ liềm trăng ở cuối trời
Một mình thoáng nhớ chợt hồn rơi
Khuyết đầu em giữ nguyền vô hạn
Khuyết cuối anh gìn thệ cả đời.
Mỗi tháng hai phần cùng ghép lại
Quanh năm một mảnh chẳng hề vơi
Tuổi già nhớ mãi thời niên thiếu
Trăng khuyết lại tròn thỏa cuộc chơi

Tâm Quã   


Họa 2:

Thu lạc bước

Giăng mắc mây thu tím cả trời
Đong đưa gió nhẹ lá vàng rơi
Giọt sương lóng lánh như viên ngọc
Hình ảnh nên thơ bức họa đời
Khi ánh tà dương dần tẻ nhạt
Lúc lòng lữ khách thấy chơi vơi
Làm sao ai hiểu tim người ấy
Ngắm cảnh thu buồn dạo bước chơi
THT

Họa 3:

Lạc Lối

Trăng sáng bao la một góc trời 

Mơ hồ tiên giới hạt sương rơi 

Bàng hoàng thiên quốc rơi ly ngọc 

Vất vả  trần gian trả nợ đời 

Khoảnh khắc trăm năm như  lạc lối 

Đôi dòng nước mắt chảy đầy vơi 

Người cùng cảnh ngộ đành rơi lệ 

Tiếc nuối vô thường bỏ cuộc chơi 

Hương Lệ Oanh VA

Họa 4:

Tuần hoàn


Đêm đến trăng lên chiếu khắp trời
Canh tàn lấp lánh ánh sao rơi

Tiếc thay tạo hóa vòng luân chuyển 
Ngẫm nghĩ thời gian quá nữa đời

Thế sự thăng trầm nhiều biến chuyển

Khác chi bóng nguyệt lúc đầy vơi

Bể dâu quanh quẩn theo thời thế

Chấp nhận tuần hoàn hớn hở chơi

 

PTL

Canh tàn: canh 5: từ 3 giờ đến 5 giờ sáng

 

Họa 5:


Chiến sĩ vô danh

Tháng Tư lửa đạn vút ngang trời
Một mảnh chim bằng gãy cánh rơi
Mấy trận thư hùng đau đớn phận
Mười năm chinh chiến xót xa đời
Người đi bỏ lại đàn con lạc
Kẻ ở ngăn sao giọt lệ vơi
Xa khuất một thời lo nỗi chết
Còn ai đợi uống cà phê chơi ?!!
Nguyễn Cang

Mar. 23, 2026

 

 

Triết Lý Hiện Sinh Trong Nhạc Lính Boléro - Ngu Yên

 

Triết lý Hiện Sinh trong Nhạc Lính Bolero

 


Bìa Tờ Rơi Bài Hát Đêm Buồn Tỉnh Lẻ và ảnh Satre.

Khi Sartre gặp “Trăng Tàn Trên Hè Phố”

Nếu có ai hỏi: “Anh tin vào triết học hiện sinh không?”, tôi sẽ trả lời: “Không, nhưng tôi đã nghe Trăng Tàn Trên Hè Phố và tin rằng con người sống trong chiến tranh, cần hát để tồn tại.” Sartre từng nói: “Existence precedes essence” – tồn tại có trước bản chất. Bolero thì nói: “Trăng tàn trên hè phố,” ai buồn hơn ai? Câu hỏi ấy, kỳ lạ thay, vạch ra, đời không có sẵn bản chất, chỉ có sẵn buồn.

Trong quán rượu ở Biên Hòa năm 1972, có thể một người lính vừa hát vừa nghĩ: “Nếu tôi chết đêm nay, trăng vẫn sẽ tàn, nhưng ai sẽ nhớ rằng tôi từng tồn tại?” Đó chính là being-for-itself của Sartre — tồn tại hướng về hư vô. Còn giọng bolero là being-for-tears — tồn tại hướng về… nước mắt.

“…nỗi buồn buổi biệt ly sẽ xóa mờ; / súng thù từ rừng sâu vẫn còn đó, / đừng lưu luyến gì đây. / Thôi bọn mình chia tay…”

Người ta thường cười nhạc lính là sướt mướt, ủy mị. Nhưng họ quên rằng nhạc lính là triết học hiện sinh trong đồng phục ka-ki. Sartre có Paris Café de Flore, còn bolero có quán rượu Bà Chiểu.

Camus có “Người xa lạ,” còn ta có “Kẻ ở miền xa.”

Cả hai đều hỏi cùng một câu: “Nếu đời phi lý, thì yêu để làm gì?” và tự trả lời: “Yêu, vì chẳng có gì khác để làm.”

Triết học của chờ đợi: “Những Ngày Xưa Thân Ái” và “24 Giờ Phép”

Không ai hiểu định mệnh và sự vô nghĩa của thời gian bằng người lính được 24 giờ phép.

Anh ta không chống lại cái chết — anh ta chống lại… lịch trình xe đò. “Hai mươi bốn giờ phép …. có bao nhiêu mà hững hờ…” Câu hát nghe tưởng tình, mà thật ra là một tuyên ngôn triết học: Thời gian không đều, không công bằng, không có ý nghĩa — thời gian chỉ là phép cộng giữa chờ đợi và tiếc nuối.

Camus bảo: “Con người nổi loạn là kẻ nói không.”

Người lính trong bài hát không nổi loạn bằng súng, mà bằng nụ hôn vội giữa hai chuyến xe. Anh ta nói “không” với cái chết bằng cách nói “có” với một ly cà phê đen nóng, một bờ vai mềm, và một nụ cười đã hẹn mà chẳng giữ được.

Trong “Những Ngày Xưa Thân Ái,” thời gian lại là con dao hai lưỡi. “Thời gian qua mau tìm anh nơi đâu / Tôi về qua xóm nhỏ con đò nay đã già / Nghe tin anh gục ngã / Dừng chân quán năm xưa / Uống nước dừa hay nước mắt quê hương… “  Đó là bi kịch của hiện sinh: Không ai có thể yêu mãi, bởi yêu cũng là hành động của một con người đang thay đổi.

Khi Sartre nói: “Tình yêu là sự chọn lựa tự do,”

Bolero đáp: “Nhưng tự do cũng có kỳ hạn — như 24 giờ phép.”

Hiện sinh cô độc: “Đêm Buồn Tỉnh Lẻ” và “Kẻ Ở Miền Xa”

“Và phương đó em ơi có gì vui Xin biên thư về cho anh / Nhớ thương vơi đầy đêm nay trên đồn vắng /

Thương em anh thương nhiều lắm / Em ơi biết cho chăng / tỉnh lẻ đêm buồn…”
 Không cần triết gia.

Một người hát, một người nghe, và ở giữa họ là sự vắng mặt tuyệt đối.

Sartre viết: “Tha nhân là địa ngục.” Bolero thì dịu dàng hơn:

“Xin đối diện một lần bên tôi / Cho tôi yêu bằng hình hài đó không thôi / Đến với tôi, hãy đến với tôi / Đừng yêu lính bằng lời…”

Địa ngục ở đây không có lửa, chỉ có sương và thư không hồi âm. Người lính cô độc hơn cả Camus trong Người xa lạ. Vì Camus chỉ bị thế giới bỏ rơi;
còn người lính bolero thì bị chính bài hát của mình bỏ rơi: hát xong, khán giả vỗ tay, rồi ai về nhà nấy.

Cái cô đơn bolero là cô đơn tập thể – cả dân tộc cùng cô đơn, nhưng mỗi người lại hát một điệp khúc riêng. Giữa tiếng guitar đơn giản, đời sống vang lên như câu hỏi triết học bằng giọng đục khói thuốc: “Nếu mai tôi không về, ai sẽ nhớ rằng tôi từng yêu?”

Đó chính là linh hồn của triết học hiện sinh:

sống giữa hư vô, vẫn khăng khăng muốn được thương.

Phi lý và tiếng hỏa châu: “Những Đóm Mắt Hỏa Châu”

Nếu Camus thấy phi lý trong cơn nắng của Algiers, thì người lính Việt thấy phi lý trong ánh hỏa châu lơ lửng giữa đêm. Hỏa châu chiếu sáng chiến trường — nhưng không cứu ai khỏi chết. Nó chỉ giúp ta nhìn rõ hơn cái vô nghĩa.

“Những đóm mắt hỏa châu bừng lên trong màn tối / Như mắt em sáng ngời, theo anh đi ngàn lối / Những đêm không ngủ anh ngồi tâm sự cùng hỏa châu rơi.…”

Ánh sáng ở đây không phải là hy vọng, mà là ánh sáng của phi lý. Nếu ai nói: “Đời vẫn đẹp, dù chẳng có lý do gì.” Camus sẽ mỉm cười. Sisyphus lăn đá, người lính bolero lăn điếu thuốc. Cả hai đều biết đá sẽ rơi, và khói sẽ tan. Nhưng vẫn lăn, vẫn hút, vẫn hát. Phi lý không giết được họ — chỉ khiến họ hát nhỏ hơn, buồn hơn, thật hơn.

Tự do và định mệnh trong vòng nhạc Bolero

Bolero luôn có hai hợp âm: thứ và trưởngMột rơi vào buồn, một rơi vào sáng. Cứ lặp lại mãi như một vòng luân hồi của triết học:

“Buồn – vui – chờ – nhớ – buồn hơn.”

Tự do trong bolero là một thứ tự do có dây đàn.

Người lính có thể chọn bài để hát, nhưng không chọn được ai sẽ nghe. Anh có thể viết thư, nhưng không chọn được ai trả lời. Như Sartre nói: “Chúng ta bị kết án phải tự do,” bolero thêm vào: “và bị kết án phải nhớ.”

Định mệnh không nằm ở chiến tranh.

Định mệnh nằm trong một câu hát cứ trở lại như nghiệp báo:

Cho anh nhận diện quê hương giữa đêm đen buồn…” Đó là những ca từ của một dân tộc sống giữa chiến tranh, yêu giữa giới nghiêm, và triết lý bằng nước mắt.

Tình yêu: Bản hợp đồng hiện sinh không chữ ký

Sartre và Beauvoir từng ký “hợp đồng yêu không ràng buộc.” Người lính bolero cũng vậy — không cần giấy tờ, chỉ có lời hứa trong gió.

Từ máy thu thanh cô nàng vừa ca / Trọn kiếp yêu anh lính khổ xa nhà / Giữa rừng già nghe tiếng hát thật cao / Nhưng giữa rừng già tôi có thấy gì đâu …” (Rừng Lá Thấp.) Câu hát như một thesis on love: Tình yêu là sự gặp nhau giữa hai hiện hữu cô độc, không bảo hiểm, không hoàn lại, không bảo hành.

Cô gái thành thị yêu anh lính vì tưởng tượng — còn anh lính yêu cô vì nhớ. Mỗi người yêu người kia qua ký ức, không qua hiện tại. Đó là bi kịch của mọi hiện sinh: Ta luôn yêu cái không có mặt.

Trong đêm, người lính đốt thuốc, nhìn sao, thấy ánh sáng mất 3000 năm mới đến được mắt mình.

Anh hiểu: tình yêu cũng thế — luôn trễ, luôn cũ, nhưng vẫn đẹp. Và anh hát. Bolero là cách duy nhất để con người thổi vào nỗi buồn một chút giai điệu một cách ấm lòng.

Sự cứu rỗi bằng điếu thuốc và giọng ca phòng trà

Trong triết học phương Tây, cứu rỗi đến từ niềm tin.

Trong bolero, cứu rỗi đến từ… ly rượu và một khúc hát. Ở phòng trà Sài Gòn 1972, mỗi bản nhạc là một nghi thức trừ tà: Người hát xua đuổi sợ hãi bằng giọng khàn, người nghe rửa tội bằng nước mắt.

Không ai nói triết học, nhưng tất cả đều triết học.

Khi nhạc vang lên, thời gian ngừng — như thể cả quán đang chờ đợi một “ý nghĩa” sẽ rơi xuống cùng tiếng đàn.

Có người bảo: bolero làm con người yếu đuối.

Tôi nói: không — bolero dạy con người biết yếu đuối một cách can đảm. Đó là hiện sinh chân chính:

Biết rằng mình nhỏ bé, vô nghĩa, nhưng vẫn mở miệng hát.

Triết học nằm trong giọt nước mắt và nụ cười trên sân khấu

Nếu Sartre sống ở Sài Gòn năm 1972, có lẽ ông đã không viết La Nausée — ông sẽ viết Đêm Buồn Tỉnh Lẻ. Nếu Camus từng ngồi ở quán cóc Tân Định, ông sẽ hiểu rằng phi lý không cần triết học — chỉ cần một cây đàn và người lính nhớ nhà.

Bolero không triết lý bằng khái niệm. Bolero triết lý bằng nỗi buồn đã được phối khí. Nó là triết học của dân gian, của quán rượu, của căn gác nhỏ đèn vàng. Nơi mỗi nốt nhạc là một câu hỏi, và mỗi giọt lệ là một câu trả lời bất lực. “Rồi có một ngày, sẽ một ngày chinh chiến tàn. Anh chẳng còn chi, chẳng còn chi ngoài con tim héo em ơi” (Một Mai Giã Từ Vũ Khí)Và có lẽ, triết học hiện sinh ở Việt Nam đã đạt tới mức… khi người lính hát:

“Rồi anh sẽ dìu em tìm thăm / Mộ bia kín trong nghĩa địa buồn / Bạn anh đó đang say ngủ yên / Xin cám ơn, xin cảm ơn người nằm xuống…”  Một người hát, nhiều người nghe, và ở giữa họ là toàn bộ ý nghĩa của đời sống: tồn tại, đau khổ, và vẫn muốn hát thêm một bài nữa.

Hậu Hiện Sinh Trong Nhạc Vàng.

Sartre, Camus và Người Lính Bolero Trong Quán “Tồn Tại”

Giữa một Sài Gòn không xác định niên đại — nơi thời gian đứng giữa 1972 và 2025 — có một phòng trà nhỏ tên “Tồn Tại”. Bên trong, ba người ngồi quanh bàn gỗ: Jean-Paul Sartre, Albert Camus, và một người lính Việt Nam mặc áo cũ, đôi giày sờn bụi chiến trường. Không có khán giả, chỉ có khói thuốc, một cây guitar dây nylon, và chiếc đèn vàng hắt xuống như vầng trăng tàn trên hè phố. Trên bảng hiệu quán ghi dòng chữ nhỏ: “Hát để biết mình còn sống.”

Sartre đọc, gật gù: “Câu này triết hơn cả 500 trang Being and Nothingness của tôi.” Camus cười:

“Còn ngắn gọn hơn cả Kẻ Xa Lạ của tôi. Có lẽ ở đây, triết học được hát, không được viết.” Người lính ngồi im, rót rượu trắng. Anh nói khẽ: “Ở chiến trường, người ta không triết lý. Người ta chỉ hát để quên mình đang sống.”

Sartre và Camus cãi nhau… bằng lời bài hát. 
Sartre lên tiếng: “Anh nói thử xem, cái gì làm con người khổ nhất?” Người lính đáp, không cần suy nghĩ: “Chờ đợi.” Camus vỗ tay: “Đúng! Chờ đợi là phi lý, vì ta không biết mình chờ gì. Như trong ‘24 Giờ Phép’: anh chờ một tình yêu, mà đồng hồ đã định trước rằng nó chỉ tồn tại đúng một ngày.”

Sartre phản đối: “Không, đau khổ nhất là phải lựa chọn. Người lính trong ‘Kẻ Ở Miền Xa’ phải chọn giữa tình yêu và nhiệm vụ. Mà mọi lựa chọn đều vô nghĩa, vì đời không có kịch bản sẵn.” Người lính gãi đầu: “Còn tôi, tôi nghĩ đau khổ nhất là không có ai hát cùng. Ở tiền đồn, tôi đàn ‘Đêm Buồn Tỉnh Lẻ’, mà đêm cũng không hát lại.”

Cả hai triết gia im lặng. Camus rót rượu, khẽ nói:

“Đó chính là định nghĩa hoàn hảo của hiện sinh: hát giữa hư vô và không mong ai đáp lời.”

Khi “Những Đóm Mắt Hỏa Châu” chiếu sáng triết học.

Đêm dày hơn. Ngoài cửa sổ, một trái hỏa châu bỗng bắn lên trời — ánh sáng tròn, đẹp, vô nghĩa.

Người lính nhìn ra, giọng như mơ: “Những đóm mắt hỏa châu bừng lên trong màn tối như mắt em sáng ngời ….” Sartre nghiêng đầu, trầm ngâm: “Ánh sáng không cứu được ai, nhưng nó cho con người cảm giác rằng mình còn được nhìn thấy.” Camus nói:

“Như tôi từng viết: giữa sa mạc phi lý, con người vẫn yêu ánh nắng. Còn anh, giữa chiến tranh phi lý, vẫn yêu hỏa châu. Vì ánh sáng ấy là minh chứng của tồn tại.”

Người lính cười: “Không đâu. Tôi yêu nó vì trong ánh sáng ấy, tôi có thể thấy đường về — dù chỉ một lát.” Sartre gật đầu: “Và chính trong khoảnh khắc ấy, anh có tự do.” Camus thêm: “Tự do không phải là thoát khỏi chiến tranh. Tự do là biết rằng chiến tranh vô nghĩa, nhưng vẫn chọn nhìn thấy cái đẹp trong đó.”

Người lính lấy từ túi ra một gói Bastos đã ướt, châm lửa run run. Anh rít một hơi, nhả khói:

“Các ông viết hàng ngàn trang để nói về nỗi phi lý của kiếp người. Còn tôi chỉ cần một đêm mưa, một điếu thuốc, và một người nhớ.”

Sartre cười: “Anh chính là triết gia đích thực. Chúng tôi chỉ là những kẻ mô phỏng nỗi buồn.” Camus hỏi:

“Anh có sợ chết không?” Người lính đáp:

“Sợ chứ. Nhưng tôi còn sợ sống hơn. Vì mỗi sáng thức dậy mà chưa được về phép, tôi lại phải chứng minh rằng mình vẫn tồn tại.”

Sartre nói: “Đó là hình phạt của tự do: phải tự chứng minh mình đáng sống.” Camus nhíu mày:

“Không, đó là niềm vinh quang. Sống giữa vô nghĩa mà vẫn giữ được tiếng cười, đó là điều đẹp nhất mà con người có thể làm.” Người lính nâng ly: “Thế thì uống đi. Cho cái đẹp không biết lý do.”

Họ bàn về “Tình yêu trong vùng hư vô”

Camus hỏi: “Ở tiền đồn, anh có yêu ai không?”

Người lính đáp: “Có. Một cô gái ở chợ huyện.

Cô ấy không biết tôi còn sống hay chết, nhưng mỗi tháng tôi vẫn gửi thư. Có khi lá thư đến tay cô ấy sau khi tôi đã thành tin tử sĩ.”

Sartre nói nhỏ: “Đó là tình yêu tự do nhất.

Không đòi hỏi hiện diện, chỉ đòi được gửi đi.”

Camus gật đầu: “Tình yêu như thế giống như ném chai thủy tinh ra biển. Không cần ai nhặt, chỉ cần biết mình đã ném.”

Người lính cười: “Và đôi khi, người nhặt được lại là chính mình – sau mấy năm quên mất đã gửi.”

Ba người cùng im, nghe tiếng guitar vọng lên từ phòng bên cạnh – ai đó đang hát “Trăng Tàn Trên Hè Phố”. Camus lẩm bẩm: “Đó là âm nhạc của phi lý – buồn vừa đủ để sống, nhưng không đủ để chết.”

Khi triết học hóa thành Bolero.

Sartre hỏi: “Tại sao người Việt các anh hát buồn như thế mà vẫn cười được?”

Người lính đáp: “Vì hát buồn là cách rẻ nhất để không điên.” Camus phá lên cười: “Tôi nên ghi câu đó vào Huyền Thoại Sisyphus phần phụ lục!” Người lính nói tiếp: “Ở chiến trường, buồn mà không hát là buồn chết. Còn hát, dù sai nhịp, dù lệch tông, vẫn là hành động chống lại hư vô.”

Sartre chống cằm, ánh mắt sáng lên: “Bolero chính là hiện sinh thuần túy: nó không tìm cách giải thích đời, nó chỉ diễn lại nỗi buồn – đều, chậm, dai, và thật.” Camus gật gù: “Đúng. Ở phương Tây, chúng tôi triết lý bằng chữ. Còn ở đây, các anh triết lý bằng guitar.” Người lính nói: “Không, chúng tôi triết lý bằng bụi đường. Guitar chỉ là cách gãi vào nỗi nhớ.”

Giờ chia tay: Ba con người, ba hiện sinh

Đêm đã qua nửa. Hỏa châu tắt. Phòng trà “Tồn Tại” cũng sắp đóng cửa. Ba người đứng dậy. Sartre và Camus đội mưa đi về phía hư vô.

Người lính ngồi lại một mình, rót nốt ly rượu.

Anh khẽ hát, giọng nghèn nghẹn: “Xin trả lại người, tôi không giữ nữa…” Tiếng hát chậm, đều, như quả tim còn muốn chứng minh với bóng tối rằng nó vẫn đập. Ở cửa, Sartre quay lại nói: “Anh bạn, anh vừa dạy tôi một điều: Triết học không nằm trong sách, nó nằm trong tiếng hát của kẻ cô đơn mà vẫn muốn có người nghe.” Camus thêm: “Và trong tiếng hát ấy, con người tự cứu rỗi khỏi phi lý — không bằng niềm tin, mà bằng âm nhạc.” Người lính mỉm cười, thắp điếu thuốc mới: “Thế thì mai tôi vẫn hát.”

Khi cửa quán đóng lại, ánh đèn vàng tắt, chỉ còn vang vọng một câu bolero:

“Người lính già xa quê hương / nghe trong tim đêm ngày trăn trở / nhớ quá một thời chinh chiến gian lao …” (Người Lính Già Xa Quê Hương.) Và đâu đó trong bóng tối, triết học hiện sinh đã hóa thành khói thuốc, bay ngang qua những đóm mắt hỏa châu,

và tan vào trời đêm — vừa vô nghĩa, vừa tuyệt đẹp, như một bản bolero không có đoạn kết.

Ngu Yên

304Đen – Llttm - sgtc