Trả Lại Người
Monday, June 29, 2026
Tiếng Gọi Của Con Chim Sáo - Bích Ngân
Tiếng gọi của con chim sáo
Không
khóc sao được khi mỗi sáng ra thăm chuồng, chị vui sướng nhìn những quả trứng
trắng ngà lăn lóc đầy chuồng. Những con gà mái lăng xăng mừng rỡ “lóc cóc…lóc
cóc…” đón chị bằng một thứ ngôn ngữ mà chị và lũ gà đều ngầm hiểu. Mắt chúng rực
sáng, chạy ào cả về phía chị. Chị cười bảo: “Ăn cho no, đẻ cho nhiều nghe…”.
Bây giờ những con gà chết nằm ngổn ngang trong chuồng. Có con chết khi đang ăn.
Có con chết khi đang đẻ. Những con sống sót ủ rũ đứng dồn vào một góc. Một
không khí lạnh lẽo, tang tóc bao trùm khu chuồng trại. Mấy ngày sau, dù đã được
cách ly, sát trùng, tẩy uế chuồng, gà vẫn chết hàng loạt. Chết không kịp chôn.
Có người an ủi chị: “Chúng nó đi theo anh Dậu đó chị Hằng ơi!”
Anh Dậu, chồng chị, là kỹ sư chăn nuôi. Anh đổ mồ hôi sôi nước mắt gom góp gầy
dựng được một trại gà vào loại bề thế của cái làng ven sông Vàm Cỏ này. Khi trại
gà bắt đầu sinh sôi thì anh Dậu bị bệnh nặng và dù chị Hằng đã tất tả ngược
xuôi chạy chữa cho chồng, hết trung tâm y tế huyện đến bệnh viện tỉnh rồi lên bệnh
viện ở Sài Gòn nhưng anh cũng không thoát khỏi chứng bệnh nan y.
Rồi anh Dậu lặng lẽ ra đi vào một chiều mùa xuân khi nắng tràn vào mái hiên,
nơi anh từng nằm sưởi nắng, lắng nghe đàn gà líu ríu ồn ỉ xao động cả một không
gian thanh bình và khuấy động cả khúc sông hiền hòa trước mặt. Ba năm trước chị
vuốt mắt cho chồng, nay dịch cúm gà đã cuốn phăng công lao gầy dựng vất vả của
anh.
Chôn những con gà xấu số xong, chị cho công nhân tạm nghỉ. Ngày hai buổi thắp
nhang cho chồng, chị thắp luôn cả nắm nhang cho hàng ngàn con gà đã chết. Thức,
chị ngồi lặng hàng tiếng đồng hồ ngoài trại. Chợp mắt, chị hay mơ, những giấc
mơ không trọn vẹn với những hình ảnh, những âm thanh không trọn vẹn. Khi thì thấy
chồng lúi húi bên trại gà, khi lại nghe anh gọi. Tiếng gọi có lúc thật mơ hồ,
khi thì ở bên kia bờ sông, nơi có những bụi hoa mua tím rịm; khi thì nhấp nhới
hụt hơi bên những con sóng lao xao; khi thì nghe tiếng kêu đòi ăn của lũ gà;
khi thì thấy những ả gà mái núc ních, lông óng vàng, mào đỏ chót đang lóc cóc,
lóc cóc…
Trong ngôi nhà ba gian tươm tất của chị còn lại ba sinh linh: con mèo suốt ngày
lim dim ngủ, con sáo và chị. Con mèo vừa lười vừa ranh. Lúc nào ả cũng muốn được
bà chủ vuốt ve, cứ cọ cái đuôi dài vào chân tay chị bất kể cả những lúc chị
đang buồn héo ruột héo gan. Bù lại hơi hướm của nó cũng đủ răn đe mấy con chuột
táo tợn mà dường như biết ngôi nhà thiếu hơi đàn ông chúng cứ sục sạo suốt đêm.
Con sáo mới là người bạn thân thiết của chị. Đó là kỷ vật của anh để lại. Một kỷ
vật thiêng liêng. Khi vay bạn bè vốn liếng lập trại, một người bạn đã tặng anh
con sáo. Người bạn cho biết loại sáo này khôn lắm, nuôi chỉ một năm là biết
nói. Con sáo lớn lên, lông đen mượt, mỏ vàng, chân chì linh lợi trong chiếc lồng
bằng nan tre mà anh đã công phu vuốt uốn từng nan.
Chị vẫn còn nhớ cái cách anh vót những chiếc nan tre và miệng thì huýt sáo. Rồi
mỗi sáng mỗi chiều tiếng huýt sáo của anh và tiếng nói, tiếng cười của anh làm
trái tim chị tràn niềm vui. Một năm sau khi con sáo bắt chước tiếng chim chào
mào, anh bắt đầu tập cho nó nói. Tiếng đầu tiên là: “Hằng ơi…”. Mỗi lần chị đi
qua, anh chỉ tay vào chị, gọi: “Hằng ơi…”. Con sáo ghếch mỏ, nhìn chị một lúc rồi
cũng khó nhọc cất tiếng gọi: “Hằng… ơi…”. Một tiếng gọi trầm ấm, rất là đàn
ông.
Nhân lứa gà đầu tiên đẻ trứng, cộng thêm sự kiện con chim sáo biết nói, anh chị
làm bữa nhậu mời bạn bè đến dự.Tiệc bày ra, chị Hằng bưng mâm đi qua lồng sáo,
nó nghển cao cổ hướng về chị và cất tiếng gọi: “Hằng ơi…”. Bạn bè ngạc nhiên,
tròn mắt thán phục cái giọng rất ư tình cảm của con sáo. Lý thú hơn, nó lại bắt
chước được cái giọng ồm ồm của anh Dậu.
Một người bạn lên tiếng: “Dậu này, cậu mà có đi đâu, nghe con sáo gọi chắc bà
xã cậu cũng đỡ nhớ”. Họ xúm lại bên lồng chim dạy nó thêm: “Hằng ơi, anh yêu em
lắm”. Con sáo giương cổ cố nhại theo mấy tiếng “anh yêu em lắm” nhưng nghe
không rõ, từng âm cứ dính vào nhau như cơm nếp nấu nhão. Nhưng mỗi khi con sáo
nói câu ấy, anh Dậu và chị Hằng đều hiểu nó muốn nói: “Anh yêu em lắm…!”.
Chị Hằng cho con sáo ăn một chế độ đặc biệt: lòng đỏ trứng gà trộn với gạo lứt
phơi khô, nước uống là nước mưa được hứng từ mái hiên nhà. Dần dần nó nói được
nhiều tiếng, nhiều câu. Có ai đến chơi, nó ghếch mỏ chào: “Có khách… Có khách Hằng
ơi”. Nhiều khi chị Hằng đi qua, nó nhảy chồm về phía chị, ánh mắt chớp liên hồi
như vừa mừng rỡ vừa vui sướng và chào bằng một giọng hết sức tình cảm mà chị cảm
nhận được: “Hằng ơi, anh yêu em lắm…”. Chị nghẹn ngào, sững lại, bật thốt thành
lời: “Sáo ơi, tao yêu mày lắm!”.
Hôm đưa đám anh Dậu, con sáo xù lông đứng bất động ở góc chuồng, im lìm như một
cái xác. Chị Hằng cũng không còn nhớ gì cả để lưu tâm đến nó. Nỗi đau quá lớn
khiến chị quên cả việc cho sáo ăn. Rồi khi vừa từ nghĩa trang về, chị nghe một
tiếng gọi khá to và ngân dài: “Hằng ơi…!” như tiếng của anh Dậu âu yếm gọi chị.
Chị bàng hoàng giữa căn nhà trống vắng rồi thụp xuống ghế, nước mắt trào tuôn.
Cơn xúc động qua đi, chị đứng lên thắp một nén nhang lên bàn thờ anh thì cũng
là lúc con sáo liên tiếp gọi: “Hằng ơi, Hằng ơi… anh yêu em lắm…”. Chị hạ chiếc
lồng xuống, nhẹ nhàng bắt con sáo đặt vào lòng bàn tay. Hai mắt nó chơm chớp rồi
buồn bã gọi: “Hằng ơi…”. Chị rụng rời, y như linh hồn anh Dậu đã nhập vào con
sáo, hiện diện trong ngôi nhà này cùng chị.
Con sáo làm chị nguôi ngoai phần nào nỗi thương tiếc chồng. Lạ là từ ngày anh Dậu
mất, đàn gà đẻ rất sai. Chị vay thêm tiền ngân hàng, nâng đàn gà từ năm ngàn
con lên gấp đôi. Công việc chăm sóc cũng nhẹ hẳn đi nhờ những người công nhân
thạo việc và trung thành. Chị Hằng dành nhiều thời gian cho con sáo. Chị thường
tưới nước vun bón những chậu hồng quanh đó, lẩn quẩn quanh con sáo để trò chuyện
và để thỉnh thoảng được nghe tiếng gọi thiết tha: “Hằng ơi, anh yêu em lắm…”.
Chị đang ăn nên làm ra nhờ trại gà thì dịch cúm gà ập đến. Một trận cuồng
phong, một cơn động đất ập đến cũng chỉ hãi hùng như thế là cùng.
Chị như kẻ mất hồn, ngồi lặng lẽ trong căn phòng có treo chiếc lồng chim sáo
phía trước. Như chia sẻ nỗi buồn với chị, con sáo cũng ít nói hơn, nhưng mỗi
khi chị thắp nhang cho anh Dậu và đàn gà, nó lại ngân lên rất khẽ: “Hằng ơi…”.
Một chiều, khi đang cho chim sáo ăn, ông trưởng ấp bước vào, vẻ mặt nghiêm
trang:
– Chị Hằng ạ, tôi biết chị sẽ rất buồn nhưng theo lệnh của thị xã, những ai
nuôi chim đều phải giết bỏ để tránh dịch bệnh lây lan…
Chị Hằng không bất ngờ trước thông tin của ông trưởng ấp, nhưng điều đó có
nghĩa là con sáo của chị cũng phải đem thiêu hủy! Như bị một nhát dao đâm thẳng
vào tim, chị choáng váng không nói được câu nào, mặt tái đi, cứ như là chính chị
cũng sẽ phải hỏa thiêu.
Ông trưởng ấp đi rồi, chị đến bên lồng, mở cửa, lặng lẽ đặt con sáo vào lòng
bàn tay. Con sáo như cũng hiểu được sự nghiêm trọng của những gì sắp xảy ra với
nó, khép nép đưa mắt nhìn chị, như dò hỏi, như muốn được nghe câu trả lời của
chị. Trời ơi, kỷ vật của anh Dậu, một con sáo mang hồn người, người bạn thân
thiết cùng chị trong ngôi nhà này sắp vĩnh biệt chị. Vuốt nhẹ bộ lông đen mượt
của nó, nước mắt chị trào ra…
Sáng hôm sau, khi những thanh niên trong ấp đến nhà chị trong tay là những bao
những túi chứa xác nhiều loại chim, chị lật đật bước ra, giọng buồn buồn:
– Đêm qua con sáo nhà tôi bị mèo vồ mất rồi…
Tốp thanh niên định quay ra thì một tiếng ồm ồm cất lên từ trong chiếc tủ đặt
khuất sau phòng khách: “Hằng ơi…”. Cả tốp sựng lại lắng nghe. Con chim sáo bị
nhốt trong ngăn tủ tối tăm cứ liên tục kêu “Hằng ơi…Hằng ơi…” nghe đau đớn như
một lời cầu cứu.
Biết không thể giấu nổi, chị bật khóc như đứa trẻ và đành mở tủ, đem con sáo
ra.
Con sáo quẹt quẹt cái mỏ vào mu bàn tay chị rồi nhìn chị, thống thiết cất lên
tiếng gọi: “Hằng ơi !”.
Bích
Ngân
Xuân Về - tranthiminhchau
Xuân về
Xuân về trên nụ
môi hôn,
Gót sen e ấp tim dồn đập nhanh…
Xuân về chim hót trên cành,
Cho ta hy vọng tin lành ngày mai…
Xuân ơi sao vẫn
miệt mài,
Người đi xa mãi cho dài nhớ thương.
Xuân ơi, guốc mới trên đường,
Quê người xuân vẫn ngày thường không xuân.
Đợi người mai nở
bên sân,
Vàng lên màu áo đường trần cưu mang,
Đợi người áo lụa muộn màng,
Tình ơi xuân cũ còn vang tiếng cười.
Xuân về sao chẳng
ai mời,
Ôm xuân để ngỡ đất trời riêng ta …
Xuân về lòng bỗng xót xa,
Nụ tầm xuân nở bên ta không người …
trầnthịminhchâu
Kiều Phong Khát Vọng Của Tự Do - Vũ Đức Sao Biển
Kiếu phong khát vọng của tự do
Trong 12 bô tiểu thuyết võ hiệp của kim dung tôi thích nhất
Thiên long bát bộ, torng những nhân vật của TLBO tôi yêu nhất nhân vật Tiêu
phong, tức kiều phong, ngưới anh hung Khiết đan.và cả chục nhân vật do KD dựng
lên tôi chọn Kiều phong như một biểu tượng chủ nghĩa anh hung.
Vũ Đức Sao Biển, trích Kim Dung giữa đời
tôi.
Văn chương tiểu thuyết không phải là
văn chương báo chí. Một tác phẩm tiểu thuyết ra đời nhằm gởi đến người đọc một
thông điệp. Cái thông điệp đó có thể hiện ra trong ngôn ngữ văn chương. Cái
thông điệp đôi khi ẩn tàng đâu đó trong tác phẩm đến nỗi một người đọc với thái
độ lơ là của khách qua đường không nhận ra nó. “Ý tại ngôn ngoại” luôn luôn là
một thực tế trong sáng tạo văn học. Tôi yêu tác phẩm Kim Dung vì yếu tố “Ý tại
văn ngoại” phong phú. Tất cả tư duy của những nhân vật lớn trong tác phẩm Kim
Dung đều tập trung ba định đề: cuộc sống, tình yêu và cái chết. Kiều Phong là một
nhân vật lớn như vậy.
Tác giả Kim Dung không vội vàng đẩy
Kiều Phong ra đầu chuyện. Không. Trong năm cuốn đầu của Thiên Long, ta chỉ nhìn
thấy hình ảnh của anh nho sinh trẻ Đoàn Dự, vương tử nước Đại Lý, một tay dại
gái si tình bị bắt cóc đưa từ Đại Lý xuống Giang Nam. Phải đợi đến cuốn sáu,
theo gót chân du tử của Đoàn Dự, ta mới bắt gặp một “Hán tử thô hào, mặt vuông
tai lớn”, tuổi trạc ba mươi, đôi mắt sắc như dao, ngồi uống rượu chịu trên tửu
lầu bên thành Vô Tích. Thoáng nhìn thấy nhân vật đó, Đoàn Dự đã nhận định “Hán
tử này nhất định là tráng sĩ của đất Yên, Triệu. Miệt Giang Nam quyết không thể
có được nhân vật như thế này”. Nhận định ban đầu của nho sinh trẻ thật chuẩn
xác. Con người thô hào ấy chính Kiều Phong, bang chúa của Cái Bang.
Kiều Phong đang độ ba mươi tuổi, cái
tuổi phát triển rực rỡ như của đời người; lại làm bang chúa Cái Bang, bang hội
lớn nhất võ lâm Trung Quốc. Với cương vị đó, gã hán tử mặt vuông tai lớn phải
hàng động rất cẩn trọng, rất chín chắn vì một quyết định, nhận định vội vàng
cúa ông sẽ dẫn đến sai lầm, liên hệ đến mối nguy vong của hàng triệu hào khách
võ lâm Trung Quốc. Ngay đến khi ra đòn đánh nhau với kẻ địch, Kiều Phong cũng
tính toán sao cho chỉ đánh một đòn là khống chế được ngay đối thủ. Phía trong
con người thô hào ấy ẩn tàng một bộ óc thông minh và những tính toán chuẩn xác.
Người anh hùng Kiều Phong luôn luôn tự
hào mình thuộc dòng dõi Hán Tộc. Làm bang chúa cái bang, ông chỉ có một mơ ước:
tiêu diệt quân xâm lăng Khất Đan mà ông thường gọi bằng cái tên khinh bỉ “bọn
Liêu cẩu”, chống lại quân Tây Hạ, giữ gìn hoà bình cho người Hán, bảo vệ sự trọn
vẹn của võ lâm Trung Hoa. Và chính niềm mơ ước đó đã trở thành bi kịch trong đời
Kiều Phong.
Một nhóm đệ tử cái bang, dưới sự chỉ
huy của Thập Phương tú tài Toàn Quang Thanh và Ôn thị, vợ phó bang chúa Mã
Nguyên đã chết, nổi lên chống lại Kiều Phong. Toàn Quang Thanh chống Kiều Phong
chỉ để leo lên cái ghế quyền lực. Ôn thị chống Kiều Phong chỉ để trả thù. Vốn mụ
là phụ nữ lẳng lơ, lại chứng bạo dâm. Mụ đã có chồng nhưng vẫn quan hệ tình dục
với Đoàn Chính Thuần, em ruột vua Đại Lý rồi quan hệ tình dục với Bạch Thế
Kính, chấp pháp trưởng lão Cái Bang. Trong một lần đi dự Bách Hoa đại hội, ai
cũng dòm ngó đến tấm nhan sắc tươi đẹp cúa Ôn thị. Duy chỉ có Kiều Phong nghĩ rằng
Ôn thị là vợ của thuộc hạ mình, phải giữ lễ nghi. Ông chỉ ngó sơ Ôn thị một cái
rồi thôi. Thái độ hững hờ đó làm cho Ôn thị nổi giận và quyết trả thù. Mụ quan
hệ tình dục với Bạch Thế Kính và chính Bạch Thế Kính đã xuống tay giết phó bang
chúa Mã Đại Nguyên vì Mã Đại Nguyên biết rõ Kiều Phong không thuộc dòng Hán tộc
mà chính là người Khất Đan.
Sự thật, Kiều Phong đúng là người Khất
Đan nhưng câu chuyện ấy đã trôi qua ba mươi năm, chẳng ai muốn nhắc đến nữa, bởi
Kiều Phong đã được Hán – hoá từ thể chất cho đến tâm hồn. Ban đầu thì Kiều
Phong cho rằng đó chỉ là lời vu cáo thiếu bằng chứng. Nhưng khi nhân chứng
chính – nhà sư Trí Quan – xuất hiện và xác nhận, ông đành phải rời bỏ chức vụ
bang chúa Cái bang ra đi và cảm thấy nhục nhã vì mình đang mang dòng máu Khất
Đan.
Cuộc sống đưa đẩy khiến ông làm quen
và kết bạn với A Châu, một cô gái Trung Quốc dịu dàng. A Châu trở thành tình
yêu, lẽ sống, người bạn tri âm của Kiều Phong. Khi ra Nhạn Môn Quan xác định
lai lịch của mình, Kiều Phong mới biết mình vốn họ Tiêu – Tiêu Phong, rằng mình
đã từng chống lại tổ tiên, dân tộc mình. Tuy nhiên, cái mặc cảm dòng máu Khất
Đan thấp hèn và gian ác chưa phai trong con người Tiêu Phong. A Châu khuyên giải
ông: “Làm người Khất Đan thì có gì là xấu xa? Làm người Trung Quốc thì có gì là
cao quý? Người Khất Đan hay người Trung Quốc thì vẫn có kẻ tốt, người xấu, đại
gia buồn phiền làm chi”. Chính lời nói đó giúp Tiêu Phong nhận ra quan điểm hẹp
hòi của mình bấy lâu nay. Và sự tiến bộ trong quan điểm dân tộc của Tiêu Phong
chính là sự tiến bộ trong quan điểm dân tộc của Kim Dung
Như ta đã biết, Người Trung Quốc ngày
xưa coi các dân tộc các nơi là bốn rợ (tứ di). Cái nhìn của họ đối với Mông, Tạng,
Hồi, Khất Đan, Tây Hạ rất khinh bỉ. Trong Liên Thành Quyết, Kim Dung đã không
giấu được cái khinh bỉ đó. Chỉ trong Thiên Long Bát Bộ, ông mới xác nhận rằng
người Khất Đan, người Nữ Chân, người Tây Hạ là những giống loài bình đẳng như
bao giống loài khác. Khát vọng tự do của Kiều Phong thể hiện rất rõ khi ông bàn
với A Châu rằng làm xong vài việc ở Trung Quốc, ông sẽ đưa nàng về Nhạn Môn Quan
săn chồn đuổi thỏ, sống đời ung dung khoái hoạt. Thế nhưng, một bi kịch khác xảy
ra với đời ông làm tiêu tan khát vọng ấy: ông lỡ xuống tay đánh chết A Châu,
đánh chết tình yêu và nguồn sống của chính mình.
A Châu có một cô em gái cực kỳ gian
ngoan ác độc là A Tử, đệ tử Tinh Tú lão ma Đinh Xuân Thu. Khi A Châu chết, nàng
nhờ ông chăm sóc, bảo hộ A Tử. Từ đó, ở bên cạnh một Tiêu Phong thẳng thắn anh
hùng lại có thêm một A Tử lưu manh và giảo hoạt; cả hai kèm nhau như bóng với
hình. Cuộc đời thật lắm nỗi hoạt kê!
Đúng là Tiêu Phong đã đưa A Tử về Nhạn
Môn Quan, săn chồn đuổi thỏ và chữa bệnh cho cô. Ông kết bạn với Hoàn Nhan A Cốt
Đả, thuộc bộ lạc Nữ Chân. Trong một chuyến dã ngoại, Kiều Phong cứu được nhân vật
đặc biệt. Nhân vật ấy chính là Đại Liêu Hoàng Đế Gia Luật Hồng Cơ. Hoàng đế thật
sự hạnh phúc khi khám phá được con người Khất Đan anh hùng lẫm liệt như TIêu
Phong. Ông nhận Tiêu Phong làm em kết nghĩa và phong cho Tiêu Phong làm chức
Nam viện đại vương, cai quản toàn bộ binh lực Đại Liêu. Thế từ một Hán tử thô
hào, một tên Liêu cẩu man rợ, Tiêu Phong thoắt trở thành nguyên soái, nắm trong
tay sức mạnh quân sự của một vương quốc khá dĩ đối địch với triều Tống.
Hơn ai hết, A Tử là người đầu tiên
khuyên Tiêu Phong đưa quân qua Nhạn Môn Quan, làm cỏ hết bọn cái bang cùng bọn
quần hào Trung Quốc. Tiêu Phong đã cảnh cáo A Tử về ý nghĩ tàn bạo đó. Ông vẫn
nhớ ơn người Trung Quốc, nơi ông đã lớn lên, được học hành, trở thành con người.
Và ông chủ trương không gây hấn người Trung Quốc, sống hoà bình cho trăm họ ăn
cư lạc nghiệp. Ông nghiêm cấm thuộc hạ không được cướp bóc tài vật, bắt gái tơ
từ đất Trung Quốc đưa về.
Nhưng Gia Luật Hồng Cơ thì không nghĩ
thế. Gia Luật Hồng Cơ tin rằng binh lực nước Liêu đủ sức vượt qua Nhạn Môn
Quan, đánh vào Lạc Dương để bắt sống tên hôn quân Triệu Hú (Tống Triết Tôn).
Gia Luật Hồng Cơ ra lệnh cho Tiêu Phong tiến đánh Trung Quốc.
Nhân lệnh hành quân, Tiêu Phong quyết
đoán thật nhanh: không thể lấy nỗi đau của hai nước Tống-Liêu, không thể lấy
sinh mạng của hàng triệu quân sĩ để làm nấc thang hạnh phúc cho mình và để thoả
mãn khát vọng trả thù của Gia Luật Hồng Cơ. Và chăng, ông là người khát vọng tự
do, không hề thiết tha tới quyền lực. Cách từ chối hay nhất của ông là treo ấn
trả lại cho Đại Liêu hoàng đế và cùng A Tử trốn đi. Mưu kế ấy của Tiêu Phong bị
Gia Luật Hồng Cơ khám phá được. Hồng Cơ ra lệnh bắt Tiêu Phong giam giữ.
Nguồn tin Tiêu Phong bị bắt giữ vì chống
lệnh hành quân, mưu cầu hoà bình cho trăm họ đã khiến quần hùng Trung Quốc nhận
ra được bản chất thật thà, trung hậu, tốt đẹp của Tiêu Phong. Họ huy động lực
lượng cái bang, cung Linh Thứu núi Phiêu Diễu và nước Đại Lý vượt qua Nhạn Môn
Quan để giải thoát cho Tiêu Phong. Họ đưa ông về đến Nhạn Môn Quan thì cứa
không mở vì truy binh Khất Đan đã áp sát chân thành. Hư Trức và Đoàn Dự bắt sống
Gia Luật Hồng Cơ trước trận và buộc Hồng Cơ chuộc mạng bằng một lời hứa vĩnh viễn
không bao giờ đưa quân Liêu sang xâm lăng Trung Quốc, Hồng Cơ đã long trọng hứa
lời hứa đó. Nhận được lời hứa của nhà vua, Kiều Phong coi là một hạnh phúc. Ông
đã sử dụng quyền tự do cuối cùng của mình: tự tử trước Nhạn Môn Quan để tạ tội
với Gia Luật Hồng Cơ.
Bầu trời bao la, đất đai vạn dặm
nhưng Tiêu Phong không tìm ra chỗ quay về. Về tới Trung Quốc ư? Ông chỉ là một
tên chó Liêu mọi rợ. Về với Liêu Quốc ư? Ông chỉ là bề tôi thất trung, đã chống
lệnh vua làm cho nhà vua mất mặt trước ba quân. Về mặt tinh thần, A Châu chết rồi,
tâm hồn ông không còn nơi nương tựa nữa. Đoàn Dự có thể yêu một lúc năm sáu
thiêu nữ nhưng Kiều Phong chỉ có một A Châu. Còn quyền lực, chức vụ, danh vọng
không phải là nơi nương tựa. Kiều Phong đi tìm tự do. Ông chọn giải pháp cuối
cùng – tự tử – để hoàn thành khát vọng tự do của chính mình. Ở chừng mực nào
đó, cái chết của Kiều Phong là biểu hiện của chủ nghĩa vô cực đoan nhưng nếu ta
cùng đi với ông trong suốt Thiên Long Bát bộ của Kim Dung thì
ta mới thấy được giải pháp đó là con đường tất yếu.
A Tử đui mù đã giành bồng lấy Kiều
Phong và cùng với ông nhảy xuống vực sâu muôn trượng. Mấy mươi năm trước, cha
ông đã bồng mẹ ông nhảy xuống nơi ấy. Mấy mươi năm sau, một cô bé gọi ông là tỷ
phu (anh rể) bồng ông nhảy xuống. Sự trùng hợp của lịch sử sao mà bi thương đến
vậy!
Tiêu Phong tức Kiều Phong là một nhân
vật sống nhất trong những nhân vật sống, là những nhân vật có vấn đề nhất trong
nhừng nhân vật có vấn đề của Kim Dung. Có thể nói Kim Dung rất thành công khi
xây dựng nhân vật Tiêu Phong – người anh hùng Khất Đan trong sáng, tiêu biểu
cho những cái đẹp của con người. Và rõ ràng, Kim Dung nói với ta rằng cái đẹp
nhất khó có thể tồn tại giữa đời bát nháo này. Cái đẹp nhất phải chết. Chỉ còn
lại trên đời cái tầm thường vớ vẩn, những loài cỏ đuôi chó, những điều không đẹp
mấy. Hoặc giả, giải quyết cho cái đẹp nhất chết đi cũng là một cách hướng con
người luôn nuôi khát vọng đi tìm cái đẹp?
—
Marco Polo
ghi lại tên Khất Đang bằng “Cathay”. Từ này được xứ Hongkong chọn đặt tên cho
hãng máy bay quốc gia. Ở Việt Nam, Duyên Anh có viết chuyện du đãng với nhân vật
chính là Đại Cathay trong “Điệu ru nước mắt” (Ngữ Yên).
304Đen – Llttm - sgtc
Friday, June 26, 2026
Tống Biệt - Tản Đà
Tống Biệt
Lá đào rơi rắc lối
thiên thai
Suối tiễn, oanh đưa luống ngậm ngùi
Nửa năm tiên cảnh
Một bước trần ai
Ước cũ, duyên thừa có thế thôi!
Đá mòn, rêu nhạt.
Nước chảy, huê trôi
Cái hạc bay lên vút tận trời
Trời đất từ nay xa cách mãi
Cửa động
Đầu non
Đường lối cũ
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi …
Tản Đà
Nguyễn Thị Cẫm Giang - Thuyên Huy
Nguyễn Thị Cẫm Giang
1.
Một chiều đầu hè
năm đệ Thất, ba tôi đi đâu đó về, dắt theo đứa bé gái trạc chừng năm tuổi, má
tôi chưng hửng nhưng nhìn cười, không có gì ngạc nhiên cho lắm, có lẽ bà vui,
chắc là một cái vui bất chợt. Nó biết chào biết dạ thưa, chừng như đã quen rồi
với mấy chuyện này. Từ hôm đó, nhà tôi có thêm người và tôi có đứa em gái, và
cũng từ hôm đó, nhà tôi có thêm tiếng cười. Ba đặt cho em tên “Nguyễn thị Cẫm
Giang”, vì ông xin nó ở Cẫm Giang, rồi dẫn ra trụ sở xã, bên kia đường, nhờ chú
tư Bình, xã trưởng làm cho cái giấy “thế vì khai sanh” với tên mà ba đã đặt, để
có giấy tờ đi học trường xã nay mai.
2.
Trên tỉnh về, thấy
trời còn sớm, mới lưng chừng giữa trưa, ba tôi xuống xe ở Cẫm Giang, sẳn tiện
đường, ghé nhà anh chị năm Thiết, hỏi chuyện thu hoạch vườn dừa bên Bến Cầu của
nhà mà ông giao khoán cho vợ chồng anh ta lo từ bao nhiêu năm qua mùa này, ghe
cộ, chi phí đủ thiếu ra sao. Nhà anh năm Thiết, nằm dọc theo bờ sông, cách cái
quán cơm trên dốc, ngó xuống ngay bến tàu đò, chị năm dẫn thằng con lớn đi đâu
đó trên chợ chưa về, hỏi qua hỏi lại, chợt anh năm nhắc chuyện muốn kiếm một đứa
con về nuôi cho vui nhà vui cửa, hỏi ông có còn ý định đó không, ba cười vẫn
còn.
Anh năm đưa ba tôi
đi qua cái nhà mái tôn nhỏ, cách nhà anh ba bốn căn, chị năm vừa về tới cũng
nhanh chân chạy qua theo. Tới ngạch cửa, có tiếng đọc kinh trong nhà, chị năm
nhanh miệng gọi trước, ba và anh năm đứng sau chờ. Không lâu, một bà bác khá
già, chậm yếu, mặt phúc hậu bước ra, bà cười gật đầu chào, có đứa bé gái đi
theo sau lưng, chị năm quay qua, không biết nói nho nhỏ gì đó với bà, bà mĩm cười
gật gù xem ra có gì vui trên mặt, che chút lằn nhăn, làm quen ba, một người
khách lạ. Cũng đã quá trưa, chuyến tàu đò về lại Bến Cầu đi từ lâu, bến vắng
khách, cái quán cơm cũng vắng người, chờ chuyến tàu qua sáng mai, nước con sông
Vàm, sóng gập ghềnh đưa từng mảng lục bình đi xuôi, về ngược, nắng vẫn nắng, rớt
từng mảnh, lấp lánh màu ửng hồng của trời mùa hạ.
*
Bà bác già, bà con
hàng xóm ở đây ai cũng biết, người ta quen gọi bà là bà Ba chay trường và bà tu
tại gia, hiền từ, nhân đức, giúp người không nề hà, thằng con trai anh năm thường
chạy qua chơi với đám bạn cùng trang lứa trước nhà, khi nắng chiều bên kia sông
buông xuống, lúc đó bà thường ra ngồi trên cái ghế cây trước ngạch cửa, nhìn cười,
dặn hết đứa này tới đứa kia,”coi chừng té, coi chừng té”. Chị năm chắc
cũng thường qua lại nên tự động đứng dậy, lấy ấm trà nóng trong cái bình bằng vỏ
dừa khô, nấp đậy cũng của trái dừa đó, đem tới, rót ra cái tách sành, thay bà,
bà cầm lấy mời ba tôi và anh năm ngồi ở đầu bên này bộ ván gõ, đứa bé gái nấn
níu, bẻn lẻn, bên bà ngồi đầu đằng kia, bà gọi tên nó là bé, vậy thôi, chị năm
chào ba tôi rồi về bên nhà, ba tôi nóng lòng nghe chuyện, cầm tách trà trên tay
mà chưa uống, chờ.
*
Đầu năm ngoái, phía
bên Long Chữ, Long Giang, mấy chỗ sát biên giới Miên bị cuồng phong bão dữ dội
từ hướng Miên kéo về, thổi ngang, đất trời tối đen, mưa trút như thác đổ, lụt lủ
dâng cao hơn nóc nhà, kèm theo gió hú rùng rợn suốt hai ba ngày, nhà cửa, gió
thổi tróc nóc, cây cối bật gốc, trôi lềnh bềnh khắp chỗ, người ta réo, người ta
kêu, hớt hơ hớt hãi, chèo ghe, chèo xuồng kiếm nhau, mạnh ai nấy lo thân, không
đủ sức chịu đựng trước những trận mưa cuồng sóng lũ có một không hai đó.
Nước rút, giông gió
dịu đi, trời bắt đầu sáng, nhà cửa không còn gì, mái tranh, mái tôn, cửa cây cửa
lá dồn lại từng đống chỗ này chỗ kia. Có người chết chưa tìm thấy xác, bà Ba chỉ
con bé, dân làng cứu được nó nằm co ro trên mảng lực bình dày đặc, lớn hơn cái
nhà, nằm lắc lư dính vào bờ tường rào trụ sở ấp, người quen biết nó là con gái
của hai vợ chồng anh hai Tằn, chuyên làm ruộng mướn, ở căn nhà tranh nhỏ cuối
triền dốc ấp, không xa cái truông nứa, và không may đã chết, dân trong ấp đem
xác vợ chồng về chôn ở nghĩa địa làng cùng với một số người chết khác. Chú trưởng
ấp đem nó tới gởi cho gia đình ông bác giữ đình Long Chữ tạm trông nom rồi tính
sau.
Bà Ba đi Bến Cầu sau
đó vài hôm, rồi qua Long Chữ, nhờ người bà con giúp trả tiền công cho mấy người
gặt đám ruộng năm rồi, người bà con đó là ông bác vai anh, lo trông nom trong
ngoài cái đình. Ở lại đó, hôm sau bà rời Long Chữ, xuống tàu đò Bến Cầu về lại
Cẫm Giang với con bé gái, mặt mài dễ thương và bộ quần áo cũ rộng thùng thình.
*
Cẫm Giang, em tôi đẹp
lắm, hai má lúm đồng tiền, miệng cười rạng rỡ, bà con quen ở phố chợ, ai cũng
trầm trồ “con nhỏ đẹp quá chừng”, Cẫm Giang gặp ai cũng chào cũng dạ,
sáng theo má tôi ra chợ thì ôi thôi, bạn hàng, bất kể chị cô thiếm bác, đều phải
chận lại nựng một cái mới được, nó cười luôn miệng đáp lễ, Cẫm Giang dễ dạy, và
sáng dạ, ba tôi dạy đánh vần, tập viết chữ, cái nào nó cũng thuộc nhanh làm giỏi.
Cẫm Giang dễ hòa đồng với đám con nít nhà trong chợ dù mới về không bao lâu,
chiều nào tan trường về ngang nhà, tụi nó cũng xúm xa xúm xích ngoài cổng, ơi ới
Giang hởi Giang ơi. Em tôi mới chừng đó tuổi đầu, mà thấy má giặt đồ, nấu cơm,
phơi củi thì khỏi nói, cứ quấn quít theo hỏi “má cho con làm má cho con làm”.
Suốt hè năm đó, bây
giờ là “anh hai”, tôi thường dắt em đi theo, chỉ em chỗ này chỗ nọ, dường
như chỗ nào có tôi thì có em. Mỗi tối ngồi học bài, em cũng ngồi kế bên, nhìn
sách nhìn vở, hỏi cái nọ cái kia, mấy lúc đó, như ba, tôi dạy em chữ này chữ
kia cho vui. Có Cẫm Giang, không chỉ ba má tôi vui hơn trước nhiều, vắng nó một
chút là “Cẫm Giang ơi con đâu rồi”, mà tôi cũng vậy. Ba tôi thì mỗi
tháng, tới ngày lảnh lương dưới văn phòng hảng về thế nào em tôi cũng có, áo mới
hay món này món nọ như tôi đã có từ ngày còn nhỏ, mỗi lẩn có đồ chơi hay bánh kẹo
gì, nó cũng gặn hỏi “của anh hai đâu của anh hai đâu”, ba má tôi xoa đầu
“anh hai lớn rồi, mai mốt ba cho anh hai cái khác”, nó nủng nịu, nắm tay
tôi cười khoái chí.
*
Tựu trường năm sau,
tôi lên đệ Lục, em vào lớp năm trường xã, vì ở nhà đã dạy, biết đọc biết viết,
nên chưa mấy ngày thì cô Hiền cũng như bác hiệu trưởng, đều biết ba má tôi, gặp
ba cho biết cho em nhảy lên lới tư, Cẫm Giang siêng học, chăm chỉ, biết nghe lời
thầy cô nên, gặp ba má tôi ai nấy đều khen hết. Bạn bè trong lớp, trong trường,
nhứt là đám con nhà giàu phố bên kia chợ đều khoái chơi với em, cứ tìm em “đánh
đôi đánh đọ”, bày đủ thứ trò chơi con gái ở mấy sạp bán hàng, khi chợ chiều
không nhóm cho tới góc sân trường.
Buổi sáng, khi tôi
đi ra bến xe lam đi học sớm, lúc nào cũng đi theo ra tới cổng nhà, cái cổng cây
so le cao chừng hơn đầu gối người lớn một chút, nhìn theo, chiều nào tan trường
về cũng kêu ba dẫn ra bến xe đón “anh hai” cho được, tung tăng cười toe
cười toét nắm tay tôi về nhà. Lên lớp ba, Cẫm Giang đã biết phụ má nhúm lửa bếp
than, biết vo gạo cho má nấu cơm, biết phụ má đem quần áo giặt ra phơi ngoài
sân sau, biết dọn chén dọn đủa, làm cái nào cũng đàng hoàng, ngăn nắp.
Tết nào ba má tôi
cũng dắt Cẫm Giang đi Cẫm Giang, tôi ít khi đi theo, thăm bà Ba và vợ chồng anh năm Thiết, biếu bà
Ba chút quà trà bánh cùng ít tiền lì xì, chúc bà vui khỏe, gặp lại em, ba Ba
tròn mắt, ôm nó hun đầu hun trán không biết bao nhiêu lần, em cũng rờ chân rờ
tay bà “bà khỏe hông hả bà, bà ngủ môt mình buồn hông…”, nghe em hỏi mà
bồi hồi xúc động, bà muốn rơi nước mắt, anh chị năm cứ ôm nó mà trầm trồ, con đẹp
quá vậy, ba má tôi cười mà sung sướng trong lòng. Ở chơi tới hơn quá trưa, bà
Ba chậm chậm theo ra đường tiễn, không quên ôm hôn Cẫm Giang mấy lần, mới để
cho nó lên xe.
*
Rồi hết năm này tới
năm kia, năm nào Cẫm Giang cũng lảnh phần thưởng hạng Nhứt trong trường. Cuối
năm lớp Nhất em đậu vào đệ Thất trường quận cùng với hai ba đứa khác cùng lớp nhưng
họ lại lên trường tỉnh, tôi xuống Sài Gòn vào năm đầu Đại học. Chưa có thứ Bảy
chủ Nhật nào mà tôi ở Sài Gòn, có anh có em, chuyện này chuyện nọ, vậy đó như
thói quen, chuyến xe đò sớm đầu ngày về tới nhà, xe chưa ngừng đã thấy Cẫm
Giang bên đường lộ chờ. Ba má tôi thương em lắm, có khi thương còn hơn tôi nữa,
tôi cũng thương em không khác gì ổng bả.
3.
Tôi ra trường, lên Lái
Thiêu làm cũng hơn một năm, Cẫm Giang lên đệ Nhị rồi đậu Tú Tài Một hạng cao, cả
trường quận đều biết, người phố chợ đồn lan ra, tiệm quán, cha mẹ học trò, nhất
là cha mẹ đám học lớp đệ Nhị đệ Nhất. Đoán chừng cũng đúng, làm việc ngồi ở văn
phòng, hôm nào cũng vậy nhớ ngày em thi, tôi đứng ngồi không yên, tôi nghỉ phép
vài ngày, nhờ một anh nhân viên đưa từ Lái Thiêu về Sài Gòn, bằng xe Honda, không
quên mang theo cái đồng hồ Seiko con gái dây bạc đã mua từ trước đó, dành quà
cho em khi có dịp, đón xe về kịp buổi trưa, ngay hôm ở nhà làm bữa ăn, không
dám gọi là bữa tiệc vì dân nhà quê mà tiệc với tùng cái gì trừ nhà ai đó có đám
cưới đám hỏi. Nhà có thêm mấy cô, mấy cậu chung lớp từ dưới quận lên chung vui,
bữa ăn không có gì, gỏi cuốn, cà ri gà, canh chua cá lóc, đám bạn giờ biết tôi,
nên cũng tự nhiên, vui cười “anh hai anh hai”.
Để ý một chút, có một
cậu, khá đẹp trai, cười nhiều nói ít, tên Trọng, hỏi ra biết nhà Trọng, có tiệm
bán tạp hóa đầu ngã ba xuống chợ quận, là con một, học giỏi nhất trong lớp, xem
ra được cô em tôi lăng xăng lo cho hơn mấy người khác, thỉnh thoảng Trọng lén
nhìn tôi ra chiều e ngại, nhìn sơ qua, ngay cả ba má tôi cũng như tôi đều biết
trong bụng là, chắc hai đứa này có gì đây, mà nếu có thì cũng mừng.
Bữa ăn xong, trời
cũng còn sớm, mới lưng lửng trưa, nắng hè vẫn là nắng của trời giữa Hạ, rưng
rung đổ một trời hồng. Rồi cũng chia tay, tôi theo đưa bọn họ ra đón xe lam
chuyến chiều của bác tư cuối phố chợ ra về, bác tư nổ máy xe chờ, thấy đám nhỏ
bịn rịn không chịu lên cho trọn, nhìn tôi lắc đầu cười, xe chạy ra đường, đứa
nào cũng vẫy tay “anh hai ơi, anh hai hởi”. Hôm sau, buổi sáng ra đầu chợ
đón xe đò về lại Lái Thiêu, chuyện của cô ta với anh chàng Trọng, hai anh em
nói nhau nghe đêm qua rồi, tôi không hỏi thêm gì trước khi xe tới, cười dặn dò
mấy câu, ráng học và phụ giúp ba má, vây thôi, em cười hứa chắc.
3.
Nửa năm em học đệ
Nhất, tôi về nhà ăn Tết. Anh em bên nhau, thấy em lo học cho mùa thi, nên không
cần hỏi gì, cứ kể chuyện trường, chuyện đời cho vui nhà vui cửa, tôi an tâm,
yên lòng và thương Cẫm Giang, em tôi, không biết bao nhiêu mà nói, ba má cũng vậy,
xem ra má cưng cô nàng hết sức, nhắc ăn nhắc ngủ mỗi ngày. Vậy đó, cả nhà vui
theo ngày tháng đi qua.
Mùa thu tới, thi
xong, chờ kết quả, một ngày em cảm thấy mình mệt mỏi, bần thần, ăn uống qua
loa, chóng mặt, dù trong người không nóng, mới đầu ba má nghỉ chắc lo học thi
quá nên như vậy, má bắt em nằm nghỉ, chuyện nhà để má lo, ba đưa em mấy thứ thuốc
cảm, thuốc nhức đầu hình viên trứng nhện, nhưng không thấy có hiệu quả gì cả.
Gần tới sáng, má vào
phòng, em ngất xỉu hồi nào, bà la hoáng lên, ba chạy xuống nhà bác tư, lấy xe
lam chở em xuống bệnh viện quận, bác sĩ làm đủ thứ, thử nghiệm máu, chụp hình
quang tuyến, đo tâm biểu đồ, chích thuốc trợ tim, kháng sinh cũng không có kết
quả, thay vì chuyển lên tỉnh, ba quyết định mướn xe hơi tư ngay trong ngày đưa
em xuống bệnh viện St Paul, theo lời giới thiệu và kết quả kiểm nghiệm, định bệnh
của bệnh viện quận. Cẫm Giang nằm đó, nhờ hai bác sĩ mình và sự trợ giúp của một
vị bác sĩ người Pháp, hôm sau em tỉnh lại, nói chuyện nhiều, ăn uống được chút
đỉnh.
Được tin, tức tốc tôi
bỏ nhiệm sở, mượn xe Honda chạy ngay xuống Sài Gòn. Lên tới phòng em nằm trên lầu,
ba má tôi có đó, nhìn tôi lắc đầu, thấy tôi em cười thật tươi một cách bình thường,
bình thường như cái cười mà em vẫn có từ ngày còn nhỏ. Tôi ở lại Sài Gòn hai ba
hôm, gần như ngày nào cũng trong bệnh viện cả ngày, ba má tôi thì thay phiên
nhau, đêm về ngủ ở nhà ông cậu bên Gò Vấp, tuổi già rồi làm sao thức suốt ngày
này qua ngày kia nổi.
4.
Em nằm bệnh viện gần
hai tuần, hôm về lại chỗ làm, Cẫm Giang còn cười tươi nhắc nhớ về thăm em, yên
lòng, xoa đầu em tôi đi. Buổi chiều, chiều thứ Bảy, ông bác sĩ người Pháp và
hai anh bác sĩ người mình, hai người đã ngày đêm lo cho em tôi, mời ba má ra
ngoài hành lang, cho biết tin buồn, em đã bị ung thư tủy sống thời kỳ cuối, chắc
không còn sống bao lâu nữa, má khóc òa lên “trời ơi, con tôi”, họ bắt
tay chào, rồi bỏ đi, ba đứng chết lặng, nhìn vào trong, em tôi nằm ngủ như mơ,
bấy giờ ba mới bật khóc nhưng nghẹn không thành tiếng.
Vậy mà, chưa kịp
sáng, chập chửng vào thu, em tôi mất, ra đi một cách thanh thản sau khi cố ngồi
lên gượng cười gọi “má ơi ba ơi”, và cũng cùng hôm đó, bảng niêm yết danh
sách đậu kỳ thi Tú Tài Hai ở trường Trưng Vương, ai cũng thấy nét mực in rõ chữ
“Nguyễn thị Cẫm Giang” ở vần N. Trước đó năm sáu ngày, bà Ba chay trường
ở bến tàu Cẫm Giang cũng qua đời.
*
Sau hôm đám cúng 49
ngày “thất tuần”, buổi sáng, trước khi đón xe đò trở lại Lái Thiêu, trời
rựng hồng, nắng cuối thu về khá sớm, hong chút hơi ấm đầu ngày, chơ xã nhóm từ
lâu. Đi ra chưa gần tới cổng vào nghĩa địa, tôi bật khóc, như lần đám tang Cẫm
Giang tôi đã khóc, từ xa nhìn, ai đó đang ngồi trước mộ em, đầu gục xuống, có
mùi nhang thơm thoang thoảng theo chiều gió sớm về ngang, tôi chậm bước tới sau
lưng, Trọng ngồi đó, vội vàng đứng dậy gật đầu “anh hai”, nước mắt lưng
tròng, đỏ hoe, không kìm lòng được, tôi ôm lấy Trọng, cả hai cùng khóc sụt sùi,
dù cho trong hình mộ bia, em tôi đang cười tươi thật tươi, nụ cười mà cả phố chợ,
cả trường quận đều thương đều mến, hai anh em ngồi nói với Cẫm Giang nhiều lắm,
một lúc lâu vì sợ trễ chuyến xe, để Trọng ở lại, tôi bỏ đi xa rồi, quay lại Trọng
vẫn còn ngồi đó.
5.
Từ đó, từ ngày em mất
đi, những tiếng cười vui của nhà tôi đã theo em vào nơi ngàn năm yên nghỉ và
tôi cũng không còn tìm đâu được nữa một buổi chiều hè đầu năm đệ Thất. Bây giờ
thì ba má, tôi chắc rồi sẽ gặp lại em ở một nơi xa xăm và một ngày nào đó. Em
tôi đó, Nguyễn Thị Cẫm Giang.
Thuyên Huy
Chuyện tưởng tưởng từ tình tiết tới tên người
Giọt Máu Chung Tình (Võ Đông Sơ - Bạch Thu Hà) - Trần Huy Thạch
Giọt máu chung tình (Võ Đông sơ – Bạch
Thu Hà)
Dân Nam bộ, đặc
biệt là giới mộ điệu cải lương, không ai không biết thiên tình sử của đôi trai
tài gái sắc Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà qua bản tân cổ nổi tiếng của cố soạn giả
Viễn Châu. Nhưng có lẽ ít người biết rõ thân thế của hai nhân vật này cũng như
nhiều người lầm tưởng câu chuyện này có xuất xứ từ Trung Quốc.
Trần Huy Thạch
“Trời ơi! Bởi sa cơ giữa chiến truờng
thọ tiễn nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu… Hà.”
Thực ra đây là hai nhân vật hư cấu
trong tiểu thuyết Giọt máu chung tình của nhà văn gốc Nam bộ Tân Dân Tử (1875 –
1955), xuất bản lần đầu tiên vào năm 1926.
Trong quá trình tra cứu tìm tòi trên
mạng, tôi may mắn kiếm được bản in gốc của tiểu thuyết “Giọt máu chung tình –
Tòng đình thảm kịch” xuất bản năm 1926 trong bộ sưu tập Sách Đông Dương của Thư
viện Quốc gia Việt Nam. Tôi mạn phép chia sẻ qua liên kết dưới đây để các bạn
thưởng thức.
Đọc xong cuốn tiểu thuyết này, tôi thấy
có nhiều điều lý thú nên tóm tắt lại để ai lười đọc thì cũng có thể tỏ tường nội
dung. Vả lại truyện này viết theo lối xưa nên có dùng nhiều từ ngữ khác với bây
giờ, cộng thêm chất lượng in ấn hồi đó không được tốt lắm và còn nhiều lỗi
chánh tả nên hơi khó đọc. Đầu đuôi như sau.
Đầu truyện tác giả Tân Dân Tử giới
thiệu Võ Đông Sơ là con của Hoài Quốc Công Võ Tánh và công chúa Ngọc Du, chị
cùng cha khác mẹ của vua Gia Long. Trên thực tế, ngoài tiểu thuyết này ra không
có sử liệu chính thống nào chứng nhận Võ Tánh có con tên là Võ Đông Sơ cả. Theo
nhiều tài liệu, Võ Tánh và Ngọc Du có với nhau hai con gái và một người con
trai tên là Võ Khánh, làm tới chức Khinh xa đô úy. Trong truyện nhân vật Võ
Đông Sơ sau này cũng được nhà vua ban chức Khinh xa đô úy. Có lẽ Tân Dân Tử đã
xây dựng nhân vật Võ Đông Sơ dựa trên hình mẫu ngoài đời của Võ Khánh. Ngoài
ra, trong truyện còn có tình tiết hư cấu không đúng với lịch sử là Võ Đông Sơ
tuân lệnh vua đi đánh giặc Mãn Thanh sang xâm lược rồi chết trên sa trường. Thực
tế quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và nhà Thanh bên Trung Quốc thời bấy giờ
tương đối êm đẹp.
Trở lại câu chuyện, sau khi song thân
mất Võ Đông Sơ được chú ruột nuôi dưỡng dạy dỗ. Trên đường lên kinh đô luyện
thi chờ ngày ứng thí tranh cử Võ khoa Tiến sĩ, Võ Đông Sơ tình cờ gặp Triệu
Dõng và giúp đỡ tiền bạc để Triệu Dõng làm đám tang cho mẹ. Cảm kích trước tấm
lòng hào hiệp của Đông Sơ Triệu Dõng xin kết nghĩa huynh đệ với chàng. Võ Đông
Sơ lớn tuổi hơn nên được tôn làm anh.
Một hôm nhân dịp dạo chơi Quan Âm các
Võ Đông Sơ tình cờ gặp và cứu mạng tiểu thơ Bạch Thu Hà khỏi tay côn đồ cướp giựt.
Mô típ anh hùng cứu mỹ nhân này nghe rất quen cũng giống như những truyện xuất
hiện trước đó như Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga. Thấy Thu Hà sắc nước hương
trời đối đáp lễ nghĩa nên Đông Sơ đem lòng yêu mến, lấy danh thiếp ra trao làm
quen. Thu Hà khi từ biệt Đông Sơ cũng giả bộ đánh rơi cái khăn lụa có thêu tên
mình để Đông Sơ nhặt lấy.
Thu Hà có anh trai tên Bạch Xuân
Phương, tướng người dềnh dàng, tính tình kiêu ngạo. Sau kỳ thi văn Bạch Xuân
Phương thấy Đông Sơ tướng mạo hơn người nên sinh lòng đố kỵ cho người ám sát.
Tình cờ Thu Hà nghe lỏm được âm mưu của anh trai. Để đền ơn cứu mạng bữa trước
Thu Hà cho người báo cho Đông Sơ đề phòng nên chàng thoát nạn. Bước vào kỳ thi
võ Đông Sơ đối đầu trực tiếp Bạch Xuân Phương. Đông Sơ dùng chiêu “Đại bàng phi
thạch động, sư tử thượng lầu đài” đánh bại Xuân Phương. Xuân Phương bực bội về
nhà. Thu Hà ra hỏi chuyện thì Xuân Phương, mặc dù vẫn rất căm hận Đông Sơ nhưng
phải công nhận Đông Sơ “chẳng những võ nghệ cao cường mà thôi, mà văn trường nó
cũng xuất chúng”. Thu Hà nghe anh nói càng thêm lòng ái mộ Đông Sơ.
Sau khi thắng Bạch Xuân Phương trong
cuộc tỉ thí ở diễn trường, Võ Đông Sơ đạt ngôi vị võ khoa tiến sĩ. Một đêm
trăng thanh gió mát Võ Đông Sơ tới gặp Bạch Thu Hà ở tư gia, tại lương đình,
hai người tỏ rõ lòng nhau và buông lời thệ ước, trao vật đính ước và hẹn cùng
nhau trăm năm tơ tóc.
Sau đó Võ Đông Sơ được triều đình
phong chức trung úy và làm việc dưới quyền tổng trấn Lê Văn Duyệt. Nghe tin hải
khấu Trung Quốc quấy nhiễu ở vùng biển Hoàng Sa, Lê Văn Duyệt lệnh cho Võ Đông
Sơ thống lãnh thủy quân ra đánh dẹp, đồng thời lập bản đồ địa thế các cửa biển ở
Quảng Đông. Đông Sơ hẹn gặp Thu Hà ở lương đình rồi từ biệt lên đường.
Trong thời gian Đông Sơ đi tuần
dương, cha Thu Hà là binh bộ thượng thư Bạch Công lâm trọng bệnh và được đưa về
nhà. Trong phút lâm chung ông trăn trối nhờ Bạch Xuân Phương lo chuyện hôn nhân
cho em gái nhưng cũng nhắc nhở Xuân Phương không nên cưỡng ép nếu Thu Hà không
ưng thuận. Sau khi cha chết, Xuân Phương cậy quyền huynh thế phụ ép buộc Thu Hà
lấy Vương Bích là một công tử nhà giàu ăn chơi trác táng. Bạch Thu Hà cãi không
lại nên giả bộ ưng thuận nhưng đến ngày cưới nàng cùng tì nữ bỏ nhà trốn đi. Sợ
Xuân Phương cho người đuổi theo nàng để lại bức thư nói là đã quyên sinh để
đoàn tụ cùng cha mẹ.
Trải qua nhiều biến cố, nhiều lúc hiểm
nguy đến tính mạng, cuối cùng Bạch Thu Hà cũng được trùng phùng cùng Võ Đông
Sơ. Niềm vui đoàn tụ ngắn chẳng tày gang, Đông Sơ nhận được thánh chỉ của hoàng
thượng đem quân chống giặc Tàu xâm lược. Đông Sơ làm Ngự tiền hộ giá Khinh xa
đô úy tháp tùng hoàng thượng đi đánh giặc. Quân giặc đông thế mạnh, quân ta ít
thế yếu. Võ Đông Sơ cùng Triệu Dõng tình nguyện xung phong đem quân giải vây.
Triệu Dõng hy sinh trong đám loạn binh. Khi quân cứu viện vừa tới thì Võ Đông
Sơ bị trọng thương vừa kịp cưỡi ngựa về phục mạng với hoàng thượng thì ngã lăn
ra chết. Quân đem linh cữu Đông Sơ về báo tin cho Thu Hà. Thu Hà ôm xác Đông Sơ
khóc rồi rút dao đâm cổ chết theo, quyết giữ một lòng trinh liệt cho trọn chữ
ân tình.
Về sau, dựa trên câu chuyện tình bi
thương này, soạn giả Viễn Châu đã sáng tác hai bài tân cổ là “Võ Đông Sơ” và “Bạch
Thu Hà”. Trong đó bài Võ Đông Sơ được nhiều người thuộc và phổ biến rộng rãi
hơn. Ở Gò Công, mỗi năm vào ngày giỗ Hoài Quốc Công Võ Tánh, bao giờ cũng có
chương trình đờn ca tài tử ở miếu thờ của ông kéo dài đến tận khuya. Và dĩ
nhiên hai bài tân cổ này là không thể thiếu trong chương trình.
Đọc xong cuốn tiểu thuyết tôi rất tâm
đắc với ý nguyện của tác giả Tân Dân Tử được ghi trong lời tựa ở đầu cuốn sách.
Ông muốn lồng ghép lịch sử vào những tác phẩm tiểu thuyết để đưa những kiến thức
lịch sử đến với đông đảo người đọc qua đó khơi dậy tinh thần yêu nước cũng như
giáo dục lối sống có đạo lý và nhiều điều tốt đẹp khác. Tuy nhiên theo thiển ý
của tôi, Tân Dân Tử có phần hư cấu hơi quá đà, dẫn đến những ngộ nhận không
đáng có. Lẽ ra ông nên thêm phần phụ lục giải thích những sự kiện lịch sử liên quan
hoặc chú thích ghi rõ những nhân vật trong truyện là hư cấu để cho độc giả tỏ
tường. Ngoài hạn chế này, tiểu thuyết Giọt máu chung tình của ông có thể xem là
một trong những tác phẩm tiểu thuyết lịch sử đầu tiên của văn học Việt Nam đầu
thế kỷ 20 và trở thành một phần trong kho tàng văn hóa dân tộc.
Trần Huy Thạch, Sài Gòn 16/3/2016
Nguồn: http://nghiencuulichsu.com/2016/03/29/giot-mau-chung-tinh-vo-dong-so-bach-thu-ha/





