Tuesday, February 10, 2026

Gò Dầu Xuân Đến Chưa - Thuyên Huy

 Gò Dầu Xuân Đến Chưa

 












Em hỏi Gò Dầu xuân đến chưa

Quê tôi trời vừa kịp thay mùa

Nhánh sông bến chợ người vẫn đợi

Bên cầu cũng mấy chuyến đò đưa

 

Đường phố quận buồn theo nắng buông

Nhà em nơi đó muộn hơi sương

Gốc Mai đầu ngõ thiên thu cổ

Đong đưa cành hoa lẻ cuối đường

 

Lối nhỏ chiều hoang tím một trời

Chờ em tôi đếm giọt nắng rơi

Thèm nghe tiếng pháo giao thừa nổ

Áo mới quần thơm rộn rã vui

 

Ngập ngừng Xuân bẽn lẽn bên sông

Đò ngang e ấp chở trưa hồng

Thoảng theo hơi gió mùi hương cũ

Đón bước ai về giữa chợ đông

 

Khẻ bảo thầm nhau Xuân đến rồi

Nhặt cành Mai ghép chuyện lứa đôi

Trống lân giục tiếng chuông chùa đổ

Thẹn thùng mình gọi tiếng mình ơi

 

Thuyên Huy

Tháng 12 năm 2015

 

 

 

 

 

 

Mai Nở Rồi Ngoại Ơi - Thuyên Huy

 

 Mai Nở Rồi Ngoại Ơi

 

Chuyện viết bằng tưởng tượng để nhớ một thời trẻ thơ ở Long Thuận và chiếc tàu đò lớn Bến Cầu Cẫm Giang

 


    Buổi sáng, quanh sân nhà đã có chút nắng sớm, gài nút lại cái áo bà ba đen còn tốt, cái áo mà từ bao nhiêu năm qua, mỗi năm bà tư Hạnh chỉ mặc một lần trong ngày đi bán mấy chậu bông Vạn Thọ ở chợ xã ngày ba mươi tết. Đẩy cái  cửa bằng miếng tôn loại lợp mái nhà, bước ra sân, đám bông hực một màu vàng lóng lánh sương đêm thấy mà thương, bà bưng cái thúng rách năm sáu lổ nhỏ, đặt bên cạnh rồi ngồi xuống gốc cây khô để sát cái lu đựng nước mưa, gốc mai già cằn cỗi ở góc hiên, bông không thấy trổ từ mấy năm qua, nay lại chen nhau mà nở đầy cành, vàng tươi phơi phới, dù hôm nay mới ba mươi, nghỉ chút xíu, chờ anh ba Tựu, đẩy cái xe cút kít cây lớn chở nhang đèn lên chợ bán, đi ngang qua trên đường cái, cho bà quá giang chất theo chừng chục cái lon sửa bò làm chậu bông Vạn Thọ như thường lệ mỗi năm, bà tư lự nhìn ra ngoài xa, con vàm giáp ngã ba sông Vàm Cỏ giờ này nước lớn, sương mù còn giăng kín mít, âm u mờ mịt, dù phía bên ấp Bờ Vàm đã thấy mặt trời hé lên, bất giác bà tư thở dài, cũng ở đây, cũng ngoài đầu vàm, cũng sương mù tăm  tối, nhưng hôm đó mưa to gió lớn, chuyện của hơn mấy năm trước hiện rõ trước mắt mình, bà bật khóc.

    *

    Huệ, đứa con gái duy nhất của bà tư, mười một mười hai tuổi mới đi học nên học lên lớp ba lớp bốn rồi thôi, nhà nghèo, mẹ già, nay ốm mai đau, Huệ bỏ học, đi làm người ở cho ông bà chủ tiệm hàng xén trên chợ xã, cách ấp Bờ Vàm, đi bộ theo đường đất tắt ngang đám ruộng còi của ai đó chừng hai ba cây số, ông bà chủ cũng tốt bụng, thấy Huệ nhỏ nhẹ siêng năng, tháo vát và cảnh nghèo một mẹ một con tội nghiệp nên cho làm ban ngày thôi, chiều dọn dẹp xong được về nhà. Mùa gặt năm đó, sau ngày Huệ làm ở tiệm hàng xén được ba bốn năm, Huệ quen rồi phải lòng Đáng, người từ đâu dó trên Long Hoa, Trường Thọ xuống làm mướn phụ gặt trong làng, khi Đáng thay đám người đi chung tới mua mắm muối nước tương ở tiệm, Đáng cũng mồ côi cha mẹ, còn người chị lớn, không có chồng, tu tại gia, ăn chay trường , làm công quả trong tòa thánh, Đáng theo Huệ về nhà chào hỏi bà tư, bà thấy Đáng cũng dễ thương, tuy đen đúa nhưng ăn nói dạ thưa, từ tốn nên chẳng la rầy gì Huệ, không lâu sau ngày về trên nhà, Đáng đi cùng người chị xuống Long Giang xin hỏi cưới Huệ.

    Cưới xong, nói cưới cho ra cưới chứ có mấy ai là khách, có mâm cổ gì đâu, hai ba người lớn tuổi của nhà mấy miếng đất bên cạnh, vợ chồng chú năm Thân, trưởng ấp và ông bà chủ tiệm hàng xén chợ xã, ai cũng nghèo, người mang con cá con tôm, người mấy xấp bánh tráng, trái thơm trái dừa cũng đủ thương cháu thương con rồi, riêng ông bà chủ tiệm hàng xén, có chút giàu có nên cho hai vợ chồng cái mền bông, hai ba chục chén đủa cùng mấy cái nồi cái chảo và chút đỉnh tiền. Cưới xong, Huệ theo chồng về trên Trường Thọ, bà tư buồn lắm vì từ đây bà thui thủi một mình nhưng đành chịu, trước sau gì Huệ cũng lấy chồng, đi xa đi gần thì cũng đi, hai vợ chồng ở chung với bà chị, nhà cũng chỉ là mái tranh vách đất nhưng được cái là có cửa nẻo đàng hoàng, nằm cuối rìa ấp, bên con đường đất rộng cho xe hơi xe lôi máy chạy qua chạy lại, từ Núi Bà xuống từ Long Hoa lên.

*

    Đáng thôi không còn đi gặt lúa mướn ở xa nữa mà theo hai ba anh trạc tuổi trong xóm, theo xe be, làm nghề đốn gỗ, chặt cây trên Ka Tum, Thiện Ngôn gần miệt biên giới Miên, mỗi chuyến đi theo xe, hai ba ngày mới về nghỉ hai ba hôm rồi theo chuyến khác. Chừng năm sau, Huệ sinh thằng bé trai, Hảo, giống hệt ba nó, cả nhà tuy nghèo nhưng hạnh phúc không ít. Cuối năm thằng Hảo vừa hơn một tuổi, sau chuyến đi theo xe be, mấy ngày sau Đáng và mấy anh đi chung không thấy về như thường lệ, lo quá nhưng không biết làm sao, sáng tới chiều cứ ẳm con ra đường trông trông ngóng ngóng, chờ thêm bốn năm ngày nữa, thì những anh đi làm chuyến sau, ở ấp trong cho biết, lần đó, chiều đang sắp xếp về thì có một toán năm sáu người, mặc đồ thường, mang súng, bắt hết đám họ, luôn ông tài xế dẫn băng rừng về hướng biên giới, không biết họ là ai, chắc không phải là cướp, vì toán người này không lấy gì cả, chiếc xe be với ba thân cây lớn, cở hai người ôm còn nguyên, từ hôm đó tới hơn nửa năm sau, Đáng vẫn biệt vô âm tín, coi như không về nữa, khóc rồi nước mắt cũng cạn, Huệ xin phép bà chị đem con về lại Long Giang, thằng Hảo tròn hai tuổi.

    Nhà thấp trước hụt sau, mái nghiêng cửa hở, thằng Hảo chạy tới chạy lui, bập bẹ hai tiếng ngoại ngoại thấy vui làm sao, bà Tư quên cả công việc tát đìa, bắt cua bắt còng, cái việc mà bà đã lũi thũi làm để sống từ ngày Huệ theo chồng cho tới hôm nay, đi một chút ra đồng ra rạch thì nhớ thằng nhỏ, cứ muốn xách giỏ xách đục về, rồi thì bà ở nhà coi chừng cháu, trồng dưa trồng cải quanh nhà, Huệ thay mẹ chuyện ngoài đồng, sáng đi thật sớm để chiều về sớm với con, bà con chòm xóm đã thương đã mến từ ngày trước nên buổi chợ nào cũng bán hết, ai nấy ấp trên, xóm dưới đi ngang, ngoài đường cái cũng hỏi lớn vọng vô “thằng Hảo thằng Hảo”, vợ chồng ông chủ tiệm hàng xén chợ xã, cũng như ngày cưới của Huệ, thỉnh thoảng chở nhau bằng xe gắn máy xuống cho cái này cái nọ, hộp chao hộp tương, nước muối nước mắm.

*

    Đầu mùa mưa năm sau, năm thằng Hảo lên ba, biết nói tên mình và kêu rõ “ngoại ngoại má má”, một sáng trời âm u có vẻ muốn mưa như nhiều cơn mưa lớn từ mấy ngày qua, ngoài vàm, nước lên cao hơn thường ngày, loáng thoáng vài ba cái ghe câu đêm lờ mờ khi ẩn khi hiện, phía trong xa, miệt trời biên giới, mây đen từng mảng một, lắc lư đong đưa, không đi cũng không đến. Còn sớm, dân trong ấp chưa có mấy ai ra đồng hay lên chợ, nói sớm là trời sớm chứ hai mẹ con Huệ thức dậy trễ, bà tư đã lùi mấy củ khoai lang chín từ lâu chờ, thằng Hảo chạy ùa ra “ngoại ngoại”, bà kéo nó vào ngồi sát bên mình trên góc cái giường tre, bẻ khoai lang đút, thằng nhỏ cười ngặt nghẽo, Huệ lui cui sắp cái đục, cái giõ tre, chuẩn bị đi tát đìa như mọi ngày, ngoài đường cái đầu ấp đã có tiếng người gọi nhau.

    Bất chợt, thình lình, mây xám xịch kéo về xuống thấp, phủ cả một vùng mấy ấp bìa bờ vàm tối đen như mực, mưa cũng theo đó trút xuống như thác, gió nổi lên, giông kéo tới rít từng tiếng rợn người, bão tới, cơn bão từ hướng biên giới Miên đổ ập xuống, quét ngang làng, cùng một lúc nước sông Vàm Cỏ dâng cao, cuồn cuộn tràn lên, ngập lai láng cả vùng, sức nước sức gió thổi sập nhà cửa, cuốn trôi đi những gì mà nó chảy ngang qua, theo chiều ra sông cái, gió cứ rít, tiếng người cứ la cứ hét, một hai tiếng đồng hồ sau bão đi qua rồi, đất trời cứ gầm gừ như vậy cho gần tới trưa, vẫn còn mưa xối xả, lúc này dân trong làng trong ấp phía trên cao mới đổ xô gọi nhau đi tìm người tìm vật, tìm trâu tìm bò, kẻ chèo ghe người chèo xuồng, từng nhóm hò hét trên cả một vùng  biển nước nước mênh mông, không biết bờ biết bến, cứ chèo cứ bơi, gần như cả một ấp Bờ Vàm, chỗ bà tư Hạnh ở, không còn một căn nhà nào sót lại.




*

    Mưa dứt, nước tạm rút đi , mấy cây xoài hoang cao ngất dọc theo bờ vàm giờ mới thấy chút ngọn, chút lá, chiều xuống, trời ửng sáng lên chút đỉnh, ghe xuồng đi tìm người lục đục kéo về, mang theo một số người may mắn sống sót trong đó có bà tư Hạnh cùng với mười mấy xác chết trôi, họ tụ tập trên khoảng đất gò cao, trước nhà trụ sở ấp, ông trưởng ấp và mấy người lớn tuổi phụ kiểm lại dân trong ấp ai còn ai mất, tính ra thì đã nhận diện đủ, chỉ trừ hai mẹ con Huệ, bà tư Hạnh lạnh cóng, xanh xao như tàu lá nằm thoi thóp, quấn trong cái mền cũ, không nghe được người ta nói gì. Sau đó, tại nghĩa địa xã, ngoài những nấm mộ có người, dân ấp Bờ Vàm cũng đào sơ hai cái huyệt trống, một lớn một nhỏ, dựng bia đề tên Huệ, Hảo, hai ba ngày sau, người đi câu bên Long Chữ tìm được xác Huệ nằm kẹt ở một xẻo đầu con rạch cùn khô cạn nước, dân ấp Bờ Vàm nhờ chiếc xe lam quen trên chợ xã, đem Huệ về, chôn dưới cái mộ mà họ đã để trống không chờ, ông trưởng ấp cùng bà con quen phụ nhau cất lại cho bà tư Hạnh căn nhà tranh nhỏ trên miếng đất cũ, bà tư khóc cả mấy ngày, nhưng rồi cũng nguôi ngoai, bà lặng lẽ ra vào, cái bàn thờ người ta đóng giùm bằng cây tạp, cũng có cái ly bể cắm nhang nhưng hình hai mẹ con là hai tấm giấy học trò, được một cậu học trường trung học tỉnh, con nhà ai đó ở ấp trên, về nghỉ hè vẽ giùm, vì trong nhà bà tư có tiền đâu mà chụp hình, tuổi già theo ngày tháng đi qua, rồi một mình bà lầm lũi, tìm quên qua việc trồng bông Vạn Thọ bán mỗi năm khi tết đến.

    Cũng lúc giữa cơn bảo, mưa cuồng gió nổi, chiếc ghe tam bản của một cặp vợ chồng còn trẻ, chở mướn dừa khô từ Bến Cầu ra, trên đường về Cai Lậy, vừa ngang qua cũng bị sóng đánh trôi, gió cuốn theo giòng nước lũ, ghe lắc lư muốn chìm nhưng còn may, bị luồng nước xoáy ngang đẩy chiếc ghe kẹt vào giữa khúc rạch cùn đầy rể dừa nước dưới tàng ngọn đám cây cao, không ra không vô, cứ ở đó chòng chành, nhấp nhô xuống lên theo mặt nước mênh mông. Tối tăm mặt mũi, hai vợ chồng hì hục tát nước ra khỏi ghe, chưa kịp định thần, quay ra, chị vợ hớt hơ hớt hãi, gọi chồng, trố mắt chết trân nhìn, trên mảng lục bình lớn cở hơn nửa chiều dài chiếc ghe, rậm đặc đầy bông tím, cao khoảng tới nửa người, trôi tấp đụng vào ghe, có thằng bé chừng hai ba tuổi, nằm bất động, co quắp trên cái liếp tranh sũng nước, chị vụt bật đứng dậy, vội vã bước qua, kéo thằng nhỏ qua, lẹ ẳm nó lên, trở lại ghe đem vào trong khoang, mặt thằng bé trắng bệch, anh chồng chun vào, quơ cái mền cái áo treo lủng lẳng, chờ chị lấy hộp dầu cù là hiệu con cọp, xoa ngực, xoa bụng, chỗ nào không cần biết, anh quấn trùm nó, để nó nằm nghiêng người một bên, chị lấy tay vỗ nhè nhẹ vào lưng, hai vợ chồng nhìn nhau rồi nhìn ra biển nước mênh mông, lắc đầu ngơ ngẫn.

    Mưa ngưng rồi nhỏ dần, gió thôi thổi mạnh, nước không còn cuồn cuồn chảy xiết như trước, thằng bé tỉnh dậy cũng khá lâu, nó bập bẹ “má má”, chị lấy mớ cơm nguội trong nồi đất, nhay nhuyển từng miếng nhỏ, đói quá, nó ăn hết miếng này miếng kia, chị không kịp đút, nhìn nó ăn, chị thở dài. Anh chồng trèo lên mấy tàng cây cao, gở chỗ mắc kẹt đầu ghe ra, lấy sào chống ghe xoay  đầu ra sông cái, lần xô mảng lục bình xa ra, chạy lại sau bẻ bánh lái, ghe theo chiều nước chầm chậm xuôi dòng, ra khỏi đó cũng khá xa, anh chồng cho nổ máy chạy. Ghe chạy cũng khá lâu, sông khúc dưới này đứng im, xế chiều, trời miệt Thạnh Đức còn chút nắng, hai vợ chồng quyết định tấp vào bờ, neo ghe ngay cái cầu cây, trên là cái chùa Bến Đình cũ kỹ, mái ngói rêu phong, nằm lẻ loi, xa khu chợ xã. Tội nghiệp thằng nhỏ, hai vợ chồng, cũng kiếp nghèo, chở mướn, không nhà, sống trên ghe từ ngày lấy nhau, khi thì Hậu Giang, Kiến Phong Cao Lãnh, khi thì Bến Đáy Trà Vinh, Bến Tranh Cai Lậy, cuộc sống cũng bấp bênh, biết làm sao mà lo cho thằng nhỏ, cho nên hai vợ chồng quyết định, đem nó trao lại cho chùa, nhờ ở đây người ta liệu có cách giúp tốt hơn.

    Ông sư già, cùng bà bảy Diện, người từ giữ chùa cũng khá lớn tuổi, nhà trên chợ xã, ngồi nghe chuyện xong, ai nấy cũng sụt sùi nhìn thằng nhỏ, tội nghiệp nó ngó qua ngó lại, hết người này tới người kia, bà từ bỏ lên chánh điện, thấp nhang rồi trở lại chờ ông sư dặn gì đó. Hai vợ chồng từ giã, ông sư và bà từ ẳm thằng nhỏ theo tiễn tới dưới cầu, chiếc ghe tam bản tách bờ ra giữa dòng, chị vợ nhìn lên chùa, mắt đỏ hoe, ghe chạy một khoảng xa, tiếng chuông chùa lễ chiều vẫn còn ngân dài văng vẳng. Đêm đó, bà từ đem thằng nhỏ về nhà mình, tắm rửa, cho ăn cho uống xong, thằng nhỏ giờ miệng nói thêm hai tiếng “ngoại ngoại”, vỗ nó ngủ, dưới ánh đèn leo lét đêm bà gục gặc đầu “con ơi thôi con ở với bà luôn”.

    *

    Trời quá giữa trưa lâu rồi, chiếc tàu lớn chở khách từ Bến Cầu qua Cẫm Giang vẫn chưa qua tới, trời có nắng nhưng gió mát, đi tới đi lui chờ người quen từ bên đó qua cũng hơi sốt ruột, và cũng cảm thấy mỏi, ông sư già bước vào cái quán ngay trên đầu dốc, đường xuống bờ sông, ngồi nghỉ chân, bên cạnh, cùng cái bàn, một người đàn ông trạc trên dưới năm mươi đứng lên, chấp tay xá chào, ông sư già mĩm cười, hỏi qua hỏi lại vài câu, ông là người ở Long Giang, cũng đang chờ tàu về Bến Cầu, nghe Long Giang, ông sư già bất chợt nhớ chuyện lần bão lụt năm đó, năm mà hai vợ chồng có chiếc ghe tam bản chở dừa mướn, ẳm thằng bé ba tuổi lên chùa, giờ tính ra nó chắc cũng hơn sáu tuổi, ông kể cho người đàn ông nghe chuyện, vừa hết thì tàu lớn Bến Cầu qua tới, cả hai cùng đi xuống cầu, ông sư già đón người quen, người đàn ông trước khi xuống tàu ngược về Long Giang, quay hỏi lại lần nữa “thưa thầy, hồi nãy thầy nói thằng bé tên gì hả thầy?”.

    *

    Chợ xã trưa ba mươi, người trong làng cũng mua mua bán bán như tết mọi năm, bà tư Hạnh kéo cái khăn quấn đầu xuống, lau chút mồ hôi rịn trên trán, nhìn mấy chậu bông Vạn Thọ còn lại, bà gật đầu cười thầm “vậy bán cũng được gần hết rồi”, rồi sửa lại thế ngồi bệt trên tấm ni –lông, đếm số tiền vừa có được, chăm chú ngó qua phía xa bên kia, gần cửa nhà lồng chợ, chỗ bán nhang đèn của anh ba Tựu, con nít người lớn chen lấn chung quanh đông nghẹt, bà cứ như vậy khá lâu tới chừng quay lại, phía sau lưng, chú năm Thân, trưởng ấp, bà bảy Diện, bà từ giữ chùa Bến Đình và thằng Hảo trong bộ quần áo thơm mùi vải mới, với cái túi xách vải lớn, nằng nặng đứng chờ nhưng không ai nói gì từ nãy giờ. Thấy thằng nhỏ, bà tư bỗng dưng bật khóc, thằng Hảo cháu bà, nếu còn sống chắc cũng cở này, bà bảy Diện chắc hiểu nổi lòng người nên bật khóc theo, bà bảy kéo tay thằng Hảo ngồi xuống sát bên cạnh bà ngoại nó, cứ khóc mà không nói được lời nào, chú năm Thân, mắt cay xé, rưng rưng ngồi bệt trước mặt ba người, người đi chợ lại qua, thấy ông trưởng ấp tiếng hỏi tiếng chào rồi thôi, chú năm Thân chậm rãi kể lại, chuyện từ hôm gặp người đàn ông trên ấp trên, người đã gặp ông sư già ở bến tàu Cẫm Giang đến lần chú âm thầm đi Thạnh Đức gặp ông sư, bà bảy Diện và thằng nhỏ Hảo.

    Bà tư Hạnh, nâng niu đôi bàn tay thằng nhỏ, nghe mà tan nát cỏi lòng, thằng Hảo chắc đã hiểu được chuyện, nó quay qua ôm chầm lấy bà, gọi “ngoại ơi ngoại ơi”, rồi khóc theo. Chợ thưa dần, bà bảy Diện bùi ngùi chào từ giã, bà tư Hạnh chấp tay xá lạy mấy cái “cám ơn bà cám ơn bà”, chú năm Thân đứng chờ, đưa bà bảy ra bờ sông, quá giang chiếc ghe lớn chở lu khạp xuống Hậu Nghĩa về Thạnh Đức, bà ôm thằng Hảo, thật lâu mà không nói được tiếng nào, bà và chú năm Thân bỏ đi một khoảng xa, thằng Hảo ngó theo, khóc gọi “ngoại ơi ngoại ơi”, bà bảy Diện nghe, buồn lắm, nát lòng nhưng không lòng nào nhìn lại, cứ đi mà rấm rứt. Chợ tan, chậu bông Vạn Thọ còn bà tư đưa cho anh ba Tựu làm quà, hai bà cháu nắm tay nhau đi bộ theo đường lộ đất về, trời lưa thưa vài ba vạt nắng muộn, có tiếng trống tập múa lân trên đình sớm hơn mấy bữa trước.

    *

    Bà tư mồi miếng lửa trong cái lò làm bằng mấy cục gạch bể, đốt ba cây nhang, đưa tay run run rờ qua rờ lại tấm hình Huệ, lâm râm khấn gì đó, gở tờ giấy học trò hình thằng Hảo xuống, nhấc tấm hình Huệ nhích ra giữa bàn thờ rồi bước ra trước sân, ngoài đó thằng Hảo đang ngắm nghía gốc mai già đầy bông vàng hực, nó biết là bông mai vì đã thường quanh quẩn theo bà bảy Diện cắt tỉa lá cành cụm mai lớn dưới cổng chùa Bến Đình những ngày trước tết, nó quay lại phía gốc mai, tay thì chỉ miệng thì nói lớn “mai nở rồi ngoại ơi”, bà tư cười thật ra cười, cái cười mà từ hôm mưa bảo đó bà chưa hề có, bà kéo thằng Hảo lại, hai bà cháu ngồi xuống gốc cây khô để sát cái lu hứng nước mưa, xoa đầu nó “ừ năm nay mai nhà mình nở rồi con” rưng rưng muốn khóc.

 

Thuyên Huy

Gót Xuân Em Ngượng Ngập - Nguyễn Đạm Luân

 Gót Xuân Em Ngượng Ngập

 














Pháo vang rộn rã cổng làng

Em đôi tà mỏng áo vàng cánh Mai

Thẹn thùng vờn nắng gió lay

Gót xuân ngượng ngập tóc dài suối thơ

Chiều Ba Mươi khói hương chờ

Gốc Mai vắng có người mơ mộng tình

Xuân ngấp nghé giữa sân đình

Én qua đầu ngõ lung linh áo màu

Tựa ngàn cánh bướm lao xao

Lân vang trống giục người chào Xuân sang

Chuông từng hồi đổ ngân vang

Chòng chành mấy chuyến đò ngang đưa người

Nắng hồng rực một trời vui

Đâu đây thoáng tiếng em cười đón Xuân

 

Nguyễn Đạm Luân

Lại nhớ một lần Xuân nữa 2022

Saturday, February 7, 2026

Vãng Bến Đò Xưa - Lan & Bài Họa Nguyễn Cang & Diệp Văn

 Bài xướng:

















VÃNG BẾN ĐÒ XƯA

 

Con đò, người bạn quá thân thương
Một thuở đưa tôi đến học đường
Nắng hạ chang chang không bỏ chuyến
Mưa thu tầm tã vẫn xuôi phương
Như hình, cùng tớ bao niên khóa
Tựa bóng, bên ta suốt dặm trường
Nay  trở về đây nơi bến cũ
Cả trời ký ức lại hồi vương.
LAN.

 

Họa 1/.

 

VỀ THĂM BẾN XƯA

 

Cô lái đò, đưa khách dễ thương

Đưa  tôi đến cuối những con đường

Mưa rào ướt áo không sờn bước

Nắng hạ hanh hao vẫn một phương

Năm tháng dần trôi tôi bỏ học

Dòng đời nghiệt ngã vọng canh trường

Nay về xóm nhỏ thăm người cũ

Bến đỗ còn  đâu bao vấn vương !!!

Nguyễn Cang ( Jan. 30, 2026)

 

Họa 2/.

     

TÌNH NỒNG VẠN LÝ

 

Rêu phủ trường xưa dạ luyến thương

Nào phai dáng ngọc thủa chung đường

Ngày đi, thiết nghĩ không cùng hướng

Trở lại, nào hay vẫn một phương

Biển rộng không hề ngăn nỗi nhớ

 Lòng sâu giữ chặt ý miên trường

Làm sao lột hết tình tri ngộ

Rố i cả lòng nhau… Vạn lý vương!

 Feb 1,2026 Diệp Văn

 

Cuộc Đời Thôi Tiế c Chi Ai - Vũ Thế Thành

 

Cuộc đời thôi tiếc chi ai

Tuần trước tôi post tấm ảnh ghép, hai khuôn mặt cách nhau 50 năm. Một tấm chụp khi tôi vừa thi Tú tài xong, đi chơi Vũng Tàu với bạn TL – tóc đen, còn nhiều và dày. Tấm kia chụp cách đây 6-7 năm gì đó, trong chuyến đi Khe Sanh với các bạn TL, đang ngước nhìn cây cầu dẫn vào quốc lộ 9 – chỉ còn loe ngoe vài sợi tóc bạc, gió thổi dựng đứng.

Vũ Thế Thành

Điều tôi muốn nói, không phải là khuôn mặt già hay trẻ, mà là mái tóc đổi thay theo dòng đời. Tôi mượn câu thơ của Cao Bá Quát “… Mới ngày nào mái tóc xõa ngang vai” để thay cho lời cảm thán. Tiếc thay, vài bạn đọc lại nhìn dưới góc độ khác.

 


Đó là câu thơ trong một bài hát nói của Cao Bá Quát, tôi không nhớ tựa là gì, và chỉ nhớ được 2 câu:

“ Mới ngày nào mái tóc xõa ngang vai

Cuộc đời thôi tiếc chi ai”

Tôi nhớ chỉ vì CBQ dùng chữ “thôi tiếc chi ai” thật lạ. Vẫn biết rằng ông dùng chữ “chi ai” để hợp vần với “ngang vai” của câu trước. Nhưng tại sao lại là “chi ai”?

Chữ “ai” ở đây là ai? Là chính tác giả tự nhủ, hay “ai” để ám chỉ người đời?

Tôi đọc câu thơ “Cuộc đời thôi tiếc chi ai” khi tuổi chưa quá đôi mươi, mà nhớ đến tận bây giờ.

Hát nói là thể thơ phóng túng trong niêm luật. Các nho sĩ thưở xưa thường làm hát nói ,và đưa đào nương hát, còn mình gõ nhịp. Đào nương cũng chẳng phải là ca sĩ “diva” như ngày nay, mà có khi lại sành sõi cầm kỳ thi họa. Thi sĩ tài hoa, gặp đào nương tài hoa có khi lại là tri kỷ.

Vì sao lại gọi là “hát nói”? Tôi đoán, có lẽ vừa hát vừa…nói. Nói – nhưng có vần có điệu, ngân nga đúng cách giống như hát chèo hay hát bội. Hát nói có mưỡu đầu, mưỡu đuôi, mưỡu ngang, mưỡu dọc gì gì đó, tôi quên hết rồi. Chỉ biết hát nói có 11 câu, trong đó có 2 câu thơ chữ Hán. Câu cuối thường là buông thỏng, nghe rất chạm lòng. Hát nói là thể thơ phóng túng nên có thể dài hoặc ngắn hơn 11 câu, tùy vào cảm hứng của thi nhân

Hồi trung học, tôi theo ban B (ban toán), nên môn Cổ văn chỉ được học rất “căn bản của căn bản”. Còn nhớ được hát nói có “mưỡu” là tôi đã phục… tôi rồi. Các bạn trong giới văn chương, xin rộng lượng giùm. Tôi chỉ cảm nhận về một bài thơ nhân sinh của Cao Bá Quát, chứ không dám bàn tới nghệ thuật hát nói.

Tôi biết đến Cao Bá Quát qua bài hát nói “Uống rượu tiêu sầu”. Đó cũng là bài thơ tôi được học để minh họa cho thể hát nói mẫu mực và đúng khổ. Tôi rất thích bài thơ này, chữ nghĩa phóng túng, chất chứa nỗi niềm, có chút gì đó hơi yếm thế:  “Khoảng trời đất cổ kim, kim cổ, Mảnh hình hài không có, có không?

Tôi mua sách Việt Văn ban C (hình như của giáo sư Nguyễn Duy Diễn ) đọc thêm về thơ của CBQ. Dĩ nhiên là mua sách cũ, giá rẻ rề. Đọc những gì mình thích, đọc như đọc truyện, chứ chẳng phải tôi mặn mà gì với văn chương. Ban C là ban Văn chương. Các bạn theo ban C được học về Kim văn, Cổ văn chi tiết, đầy đủ hơn, chứ không học phất phơ như bọn tôi.

Trong sách của Gs Nguyễn Duy Diễn, tôi đọc được bài thơ “Mới ngày nào mái tóc xõa ngang vai”, và thêm vài bài hát nói nữa của Cao Bá Quát. Bài nào cũng hay. Cũng trong sách này, tôi đọc được “Tài tử đa cùng phú” của Cao Bá Quát, đầy chất phong lưu của một thư sinh dù đang sống trong cảnh nghèo. Tôi khoái bài này hơn hẳn “Hàn nho phong vị phú” của Nguyễn Công, cũng nói về cảnh nghèo, nhưng đầy khí thế tiến thân. Có lẽ tôi bẩm sinh đã có máu giang hồ bạt mạng, ít chịu câu thúc.

Sách còn nói, Cao Bá Quát làm bài “tóc xõa ngang vai” để cảm thán cho nhan sắc của một đào nương, đi làm lẽ một vị quan lớn. Các ông nhà văn, thậm chí các ông bà phê bình văn học thường hay buôn chuyện. Từ một sự kiện “nghe nói”, có thể có thật, họ suy diễn vô biên, thành những giai thoại li kỳ hấp dẫn. Xưa đã thế, nay còn gấp bội vì có thể kiếm tiền nhờ lượng view. Chung quanh Cao Bá Quát rất nhiều giai thoại – Một thầy một cô một chó cái, hay ba hồi trống giục đù cha kiếp,… Tôi không tin giai thoại nào cả. Nhưng CBQ bị án tru di là có thật. Còn ông chết trận hay bị bắt rồi đem hành hình thì không rõ.

Với bài “tóc xõa ngang vai”, tôi tin Cao Bá Quát làm để trang trải nỗi niềm của riêng mình, chứ than tiếc cô đào nương gì ở đây. Viết tới đây, tôi chợt nhớ thêm hai câu của bài thơ:

“Tiếc cho mình mà lại thương mình

Còn chen chúc với đời chi mãi tá”

Rõ ràng Cao Bá Quát cảm thán cho cuộc đời mình, nhuốm màu buông bỏ đua chen để chọn bầu thơ chén rượu.

Vài bạn đọc góp ý, phải là “tóc xõa ngang tai”. Điều này đúng về hiện thực, nhưng tôi đâu dám sửa thơ tiền nhân. Thật ra tôi cũng hoang mang, “tóc xõa ngang vai” hay “tóc chấm ngang vai”? Trí nhớ chuệch choạc rồi.

Trở lại với tấm ghép hai mái tóc cách nhau nửa thế kỷ. Tôi post lên fb tuần trước, không phải để nói tóc đen, tóc bạc. Càng không phải để so trẻ – già. Chỉ là câu chuyện vay mượn để cảm thán cho dòng đời của một thế hệ lạc lối, trôi giạt (lost generation). Dòng đời mà thế hệ tôi trải qua, tràn ngập những hình thức khỏa lấp nội dung. Trong phút chốc hoài bão tan vỡ, nhẫn nhục nhìn lịch sử bị bôi bác, đành cặm cụi vào những “sáng tạo” vặt vãnh để mưu sinh.

Tôi mượn câu thơ “Mới ngày nào mái tóc xõa ngang vai” để trang trải cho ảnh ghép, và cất giữ câu “Cuộc đời thôi tiếc chi ai”.

Lúc này tuổi đời đang cạn dần, tự răn mình –  hám danh đáng sợ hơn hám lợi. Đọc thơ tiền nhân, soi lại chính mình và ngẫm nghĩ. Đúng là – “Cuộc đời thôi tiếc chi ai”

Vũ Thế Thành

304Đen – Llttm - sgtc

 

 

Con Đò Bến Sỏi & Lời Cho Người Ra Đi Vì Tổ Quốc - Nguyễn Thị Châu

 

CON ĐÒ BẾN SỎI

 












Tôi vẫn ngồi đây với tháng ngày

Chờ người bên ấy lá Thu phai

Anh đi vận nước vừa thay đổi

Tôi ở bên nầy bao đắng cay

 

Trảng Lớn bây giờ không tiếng súng

Cầy Xiêng nhộn nhịp bước ai qua

Anh ơi! Có nhớ ngày hôm ấy?

Con đò Bến Sỏi ta tiễn đưa

 

Đôi tay nắm chặt hẹn ngày về

Tôi chờ mòn mỏi nơi chốn quê

Anh đi lâu lắm, từ hôm đó

Mấy mươi năm quên mất đường về

 

Nghìn trùng xa cách hởi người ơi!

Con tim nhỏ bé không đổi dời

Đường xưa đồn vắng trong ký ức

Chờ người bên ấy trở về đây?

 

 4-2-2026

Nguyễn thị Châu

*Gởi Đại uý.   Trương cao Sâm

Sư đoàn 25 bộ binh đóng ở  Củ Chi,   sau về Trảng Lớn

Không biết bây giờ còn hay mất??? (NTC)

 

LỜI CHO NGƯỜI RA ĐI VÌ TỔ QUỐC



 


















Mênh mông đêm vắng trăng tà

Nhìn trăng ta nhớ hôm qua anh về

Anh đi mấy dậm sơn khê

Vì non, vì nước vì quê  hương mình

Quê nhà bao nỗi điêu linh

Yêu thương gác lại bình minh đang chờ

Trăng khuya sao lại hững hờ

Sương rơi trước ngõ như chờ đợi ai?

Anh đi muôn dậm đường dài

Gót giầy in dấu, tương lai không còn

Anh đi gìn giữ nước non

Máu anh đổ xuống khi còn tuổi xanh

Trăng vàng thương tiếc đời anh

Cái chết vinh hiển mong anh đừng buồn

Thương anh nước mắt lại tuôn

Khóc cho anh đó đừng buồn anh ơi…!!!

 

    4-2-2026

    Nguyễn thị Châu

Friday, February 6, 2026

Đám Cưới Không Chú Rể - Yang Zhensheng

 

 Đám Cưới Không Chú Rể





Truyện ngắn “Ðám Cưới Không Chú Rể” phỏng theo một truyện Trung Hoa viết trong thập niên 1930, trong đó một thiếu nữ đã thành goá phụ trước khi về nhà chồng để được làm vợ. Theo tập tục tại một vài vùng của Trung Hoa, nếu một người con gái hứa hôn với một người đàn ông, và người đàn ông chết trước ngày cưới thì người con gái vẫn phải đi qua thủ tục hôn lễ, và vào sống trong nhà người đàn ông suốt đời như một goá phụ.

Cuộc đời của người trinh nữ góa phụ, tuy còn quá trẻ, nhưng rất cô đơn và lặng lẽ, có đáng tiếp tục đến tuổi bạc đầu không?

° ° °

Ngay sau buổi trưa một ngày cuối thu, một vài đám mây lướt trôi ngang bàu trời, và ánh nắng mặt trời hắt sáng trên những đường phố đã được gió quét sạch sẽ rồi. Ðàn bà và trẻ con đứng trước cửa nhà, chuyện trò náo nhiệt. Cơn gió đưa lại tiếng kèn trống, rõ ràng và thê lương.

Một người đàn bà vươn cổ ra nhìn và nói, "Kìa, họ tới rồi."

Một đám người lô nhô tiến lại gần, vác cờ quạt, đi theo một chiếc kiệu phủ dạ màu xanh. Một bài vị bằng gỗ đặt bên trong chiếc kiệu. Ðằng sau chiếc kiệu này còn một chiếc kiệu nữa, cũng phủ dạ xanh, có một người con gái khoảng 18 hoặc 19 tuổi. Nàng mặc một bộ tang phục. Hai đầu của một giải lụa đen quấn ngang đầu nàng lủng lẳng trên vai. Mặt người con gái xanh tái. Chỉ có đôi môi màu hồng là còn chút huyết sắc. Nàng ngồi im lặng, nhìn thẳng về phía trước, giống như một pho tượng bằng thạch cao.

Một người đàn bà chỉ vào chiếc kiệu thứ hai, và nói với một bà già,

- Ðó là con gái nhà họ Trương. Người ta nói chú rể chết vài tháng sau đám hỏi. Cô ta chưa bao giờ trông thấy chú rể.

- Ái dà, Thật là một cô gái xinh đẹp. Không biết tại sao cha mẹ cô ta lại để cô ta .

Lời bình phẩm của bà già bị cắt ngang vì một con ho.

Một thằng bé ngẩng đầu hỏi mẹ, "Ðám ma phải không má má?"

Bà mẹ vội mắng con, "Câm cái miệng. Người ta rước cô dâu về nhà đấy."

Thằng bé hỏi tiếp, "Thế chú rể đâu?"

Bà mẹ bực mình rầy con, "Kia kìa, trong cái kiệu thứ nhất đấy."

Thằng bé ngó nhìn và kinh ngạc. Nó đang định hỏi tiếp thì mẹ nó đã quay sang nói chuyện với người hàng xóm. Nó cúi xuống, trề môi, và lẩm bẩm:

- Chỉ có cái bài vị bằng gỗ thôi.

Khi đám rước dâu tới cổng của một dinh cơ lớn, hai người đàn ông mặc áo choàng dài trên mặc áo chẽn, bước ra và bưng cái bài vị trong chiếc kiệu thứ nhất vào nhà. Hai người đàn bà, mặc tang phục trắng, giúp cô dâu bước xuống. Tất cả thong thả tiến lên, cái bài vị bằng gỗ dẫn đầu, cô dâu đi sau cùng, một giải lụa đen buộc nối bài vị và cô dâu với nhau, cách xa khoảng ba thước. Trong khi ban nhạc thổi điệu nhạc thê lương buồn thảm, cô dâu và chiếc bài vị đứng song song với nhau trên một tấm thảm màu xanh - chiếc bài vị bên trái và cô dâu bên phải - và cùng vái Thiên Ðịa, rồi vái lậy trong nhà từ đường; sau đó vào phòng khách vái chào cha mẹ chú rể. Rồi cùng với bài vị dẫn đường, cô dâu đi theo, vẫn còn nối liền với nhau bằng sợi giây lụa đen, cả hai được dẫn vào phòng tân hôn.

Ngay khi bước vào phòng tân hôn, họ đụng ngay cái bàn thờ. Tấm bài vị của chú rể được đặt thật ngay ngắn trên bàn thờ. Một ngọn đèn dầu lắt lay, tỏa ra một thứ ánh sáng le lói màu xanh, đặt ngay trước bài vị. Một tấm vải trắng phủ cái khung giường bằng đồng bên cạnh cửa sổ. Hai chiếc áo gối thêu hình một con vịt đực và một con vịt cái màu nâu nhạt, theo đúng truyền thống.

Khuya đêm đó khi tất cả đã im lặng, cô dâu ngồi trên một cái ghế bên cạnh tấm bài vị và ngó nhìn chiếc giường. Một cơn gió tây thổi xuyên qua cửa sổ, khiến cho ngọn đèn ngả nghiêng và bốc ra một làn khói đen, bay lên như một cái bóng đen. Bên ngoài, khóm tre xào xạc rên rỉ.

° ° °

Một buổi chiều vào cuối mùa xuân năm sau, cô dâu bừng tỉnh sau một giấc ngủ trưa, và đi dạo trong hoa viên. Không khí tràn đầy hương thơm của hoa cỏ. Hai đùi nàng cảm thấy êm ái dễ chịu và thoải mái. Những đám lông tơ của cây liễu lăn cuộn lại trên mặt đất thành những trái banh. Những con bướm giật mình bay bổng lên từng đôi từ những bông hoa, và nhởn nhơ trước mặt nàng.

Nàng lơ đãng nhặt vài sợi giây leo của cây liễu, ngồi xuống bên cạnh một tảng đá trong khu vườn để đan kết một cái gì. Nhưng nàng cũng chưa nghĩ là nên đan kết cái gì.

Nàng nhìn những bông hoa mẫu đơn. Những bông hoa này đã rụng phân nửa những cánh hoa rồi. Những cánh hoa còn lại dính hờ hững vào đài hoa, sẵn sàng làm mồi cho bất cứ một làn gió nào. Một đôi chim sẻ gục vào nhau trên những cánh hoa rụng, mổ lông, rồi vừa rỉa lông cho nhau vừa kêu gù gù trong ánh sáng của mặt trời hoàng hôn. Hai con sóc nhảy từ cành xuống, khiến hai con chim bay vùng lên, cánh vẫy tung lên những cánh hoa tàn. Hai con sóc cũng kêu ríu rít nhảy đi nơi khác.

Trở về với thực tại, người con gái thấy nàng đã bẻ vụn mấy giây tơ của cây liễu thành từng mẩu vụn. Những mẩu vụn ấy rơi rải rác trên mặt đất. Nàng đứng dậy, kéo thẳng quần áo, và lơ đãng đi trở về phòng ngủ. Mặt nàng cảm thấy nóng ran. Nàng nhìn vào gương. Mặt nàng hiện lên những chấm trắng và hồng. Hai gò má nàng là hai bông hoa, màu đỏ ửng. Nàng bước lùi lại vài bước, và ngồi xuống một chiếc ghế. Nàng bâng khuâng nhìn lên chiếc bài vị bằng gỗ.

Sáng hôm sau người góa phụ trẻ không bước ra khỏi phòng, ngay cả lúc ánh sáng mặt trời đã rọi lên cửa sổ. Người đầy tớ gái mấy lần bưng nước cho nàng tắm rửa buổi sáng, nhưng phòng nàng vẫn còn khóa kín. Bên trong không một tiếng động. Người tớ gái sinh nghi và nhòm vào qua cửa sổ. Cảnh bên trong khiến người tớ gái hoảng sợ không nói nên lời. Hai mắt trợn trừng, người tớ gái chạy về phòng của Lý phu nhân, mẹ của chú rể.

Phải mất một lúc người tớ gái mới thốt ra được, "Thiếu nương đã treo cổ tự tử rồi."

Yang Zhensheng
Nguyễn Vạn Lý dịch