Cũng Con Đường
Wednesday, July 8, 2026
Đốm Lửa - Đoàn Trúc Quỳnh
Đốm Lửa
Anh bị viêm xoang từ nhỏ, nên rất sợ mùi bếp than tổ ong. Vào hiệu phở có bếp
than tổ ong, ngon mấy anh cũng bỏ ra liền. Dù nhà nghèo nhưng bố mẹ anh rất chiều
anh, đã dùng bếp ga thay bếp dầu đầu tiên ở phố. Đêm hàng xóm ủ bếp hơi bay
sang, bố anh gọi thợ xây bịt ngay cái cửa sổ... Tóm lại, mọi người bảo là anh bị
"dị ứng" hơi than tổ ong. Tới năm 17 tuổi, anh vẫn sợ mùi bếp than
như thế. Hơi các bon độc vậy, ai mà không sợ. Báo đã in có hai mẹ con mùa đông
để bếp than sưởi trong buồng kín, sáng ra chết cả đấy thôi. Ông bác sĩ cạnh nhà
anh còn tính rằng, thà đun ga đắt rồi mỗi bữa bớt đi một bát cơm, còn khoẻ hơn
ăn no mà phải hít hơi than độc hàng ngày. Anh rất tâm đắc với tư duy mới của
ông, nhưng không phải ai cũng nghe theo...
Bước vào lớp 12, anh hay mệt mỏi và nhức đầu do học căng, phải theo quá nhiều
cua luyện thi hết cấp và đại học, nên bố mẹ khuyên anh nên dạy sớm tập thể dục.
Anh nghe lời, dù mùa đông rất giá lạnh, vẫn quyết tâm để chuông đồng hồ đúng 5
giờ sáng đã bật dậy ngay. Cổng nhà anh ở sát ngã ba của con đường nhỏ trong
ngách phố, sáng sớm xe cộ chưa đi lại nên còn rất thoáng, là địa điểm lý tưởng
cho anh đứng tập, chạy đi chạy lại hít thở sâu không khí trong lành, khỏi phải
ra vườn hoa công viên mất nhiều thời gian... Nhưng oái oăm thay, ngay sớm đầu
tiên, khi anh mới vừa tập được một lượt, thì từ phía xa tít cuối ngách phố nhỏ,
bỗng xuất hiện một đốm lửa nhỏ bung bênh qua lại như ma trơi. Trời mùa đông còn
tối, anh không thể nhận ra gì khác ngoài đốm lửa đang di chuyển. Và bay trước đốm
lửa đó, theo chiều gió mùa đông bắc thổi, mùi bếp than tổ ong xộc ngay vào mũi
anh, làm anh vô cùng bực bội và khó chịu. Đốm lửa chao đảo đó tới gần, anh nhận
ra là cái cửa của bếp than tổ ong. Một cô gái xinh đẹp dịu hiền khoảng 16 tuổi,
gánh hàng rong ra chợ sớm. Nặng trĩu một bên là nồi nước dùng nóng sôi trên bếp,
một bên là thịt gà, bánh phở, bát đũa, hành mùi... Do không kịp đề phòng, anh bị
hắt hơi sổ mũi luôn, phải bỏ tập vào nhà...
Hôm sau đốm lửa vẫn xuất hiện đúng giờ như hôm trước. Như vậy không phải chỉ một
ngày mà sớm nào cô gái cũng phải đi bán phở rong kiếm sống, anh toàn dậy muộn
nên không biết. Anh kịp ngừng tập, bịt mũi quay đi, cố nín thở, chờ cho cô gái
gánh hàng ngoặt ra lối chợ xa dần, cho mùi bếp than tổ ong theo gió lạnh đầu
đông bay hết, nên không bị dị ứng... Buổi tối anh tò mò dò la hỏi bố mẹ, được
biết có cô gái ở tổ trên, mồ côi cha mẹ phải bỏ học từ lớp 7 bươn chải bán đủ
thứ hàng rong để kiếm tiền nuôi bà ngoại già và hai em nhỏ... Đêm ấy anh thao
thức mãi không ngủ được, cứ nghĩ thương hoàn cảnh của cô gái bán phở rong, và gần
sáng khi chợp mắt anh mơ thấy rất nhiều đốm lửa, những đốm lửa lung linh bay lượn
thật đẹp quanh gánh phở rong của cô gái, như những ngôi sao rơi...
Từ đó sáng nào cũng vậy, anh rất chăm chỉ dậy sớm, đúng giờ như thường lệ, mặc ấm
rồi ra giữa ngã ba đứng tập thể dục hàng tiếng đồng hồ. Khi đốm lửa bung bênh
như ngôi sao rơi xuất hiện cuối ngách phố nhỏ, biết cô gái nghèo gành hàng rong
đi bán sớm, anh vẫn tạm nghỉ tập, chủ động lảng xa ngã ba giây lát, tránh hít
phải mùi than, nhưng không còn bực mình, khó chịu như buổi đầu tiên... Lâu rồi
thành thói quen, gánh hàng của cô gái không làm ảnh hưởng gì tới ý chí luyện tập
của anh ở ngã ba trước nhà nữa... Và cô gái cũng không để ý gì tới anh, vì cô
đã có quá nhiều việc phải lo nghĩ cho ngoại và hai em, lúc nào cũng tất bật,
ngay cả bước ngoặt ở ngã ba nhịp chân cũng vội theo đầu đòn gánh trĩu nặng trên
vai...
Tới một buổi sớm, không hiểu cô gái ốm hay vì lý do gì khác, đốm lửa sao rơi đã
không xuất hiện. Anh không phải bịt mũi, nín thở, lảng xa ngã ba như mọi sớm.
Nhưng chính trong buổi sớm kỳ lạ đó, tự nhiên anh bỗng thấy nhớ mùi bếp than tổ
ong đến nôn nao. Anh không sao yên lòng tập tiếp được nữa, đôi chân bỗng đưa
anh đi mãi về cuối ngách phố, nơi cũng có một ngã ba, nơi cô gái rẽ vào cùng đốm
lửa.
Lá Chanh - Vĩnh Huyền
Lá Chanh
Anh chẳng thể là người hạnh phúc. Ai đó trong số những cô gái
từng yêu anh đã phán một câu khá là ác khẩu như thế. Kể cũng hàm hồ nhưng không
phải không có đôi phần của sự thực. Bởi anh là loại người "nghe mưa nơi
này lại nhớ mưa xa". Như lúc này chẳng hạn.
Nhiều năm trước, việc bôn ba về Huế sửa chữa phủ từ, ngôi nhà rường ba gian hai
chái mục nát, nơi hương khói gia tiên, là điều ngoài tầm tay của anh khi anh tiếp
nhận nó theo "nghị quyết" của hội đồng gia tộc. Dù tuổi đời chưa đủ để
chuyên tâm lo chuyện họ hàng cúng bái, lại công tác xa Huế, anh vẫn bị chọn
giao quản lý phủ từ vì mọi người tin rằng anh đủ khả năng tổ chức lại giềng mối
gia tộc vốn đã rã rời, từ đó vực dậy một "di sản" có nguy cơ đổ sụp bất
cứ lúc nào, nhất là trong những dịp "trời hành cơn lụt mỗi năm". Những
ngày về Huế, buổi trưa, buổi tối, nằm gác tay lên trán, ngó lên những rui kèo
chạm khắc công phu có tuổi thọ ngót trăm năm máng lủng lẳng cả tá lon bia rỗng,
đủ các nhãn mác nội ngoại, từ Huda đến Heneiken, để hứng nước dột, những giọt
nước len lỏi âm thầm qua lớp ngói liệt phủ rêu đến cả mặt trong, như một sáng
kiến thay thế cho những thau, chậu giăng giăng trên sàn nhà hay gây vấp té, mà
lòng anh nhói đau, bất lực. Thế mà bây giờ, đứng trước dãy khám thờ sơn son thếp
vàng, thắp nén nhang cáo lễ khánh thành phủ từ vừa được trùng tu, thật ra là
làm mới hoàn toàn trên nền cũ, chủ yếu nhờ tiền đóng góp của bà con lưu lạc ở
nước ngoài, anh lại buồn man mác, lại nhớ ngôi nhà rường cũ mốc đầy kỷ niệm, nhớ
âm thanh trầm bổng xót xa từ những giọt nước mưa rơi tong tỏng vào những lon
bia rỗng ngày đông giá... Người như thế thì chẳng thể hưởng hạnh phúc là đúng rồi...Anh
rời gian thờ, rời khỏi dòng suy ngẫm miên man bởi có tiếng nhiều người xao xác
từ cổng ngoài lan vào cổng trong.
Ra tới sân gạch, anh trông thấy một cảnh huyên náo bất ngờ. Các bậc trưởng lão
trong họ đang chỉ huy đám con cháu ngăn chặn một nhóm người đang cố tình xông
vào phủ từ. Một ông chú nói nhỏ vào tai anh: "Cháu nhớ bọn ni không? Con
Giang, con của mụ điếm vạn đò và hai thằng em đầu gấu của nó đó. Ngày ni là
ngày chi mà bọn hắn đòi vào phủ từ chứ?". Anh thầm kêu một tiếng nhỏ trong
cổ họng: "Giang!". Nếu ông chú không gọi tên thì chắc gì anh đã nhớ
ra, nhận ra? Trước mắt anh là một thiếu phụ có thứ nhan sắc làm vẩn đục ý tưởng
của đàn ông ngay từ phút đầu gặp gỡ, nếu không cho rằng đó là vẻ đẹp đánh thức
"bản lĩnh đàn ông". Một bé Giang mười lăm, mười sáu mảnh khảnh, tóc bốc
mùi bùn non chỉ còn trong ký ức của anh thôi. Anh đến gần đám đông, vờ như
không hiểu: "Bình tĩnh. Chuyện gì vậy?". Giang đang sấn sổ xỉa ngón
tay vào trán mấy chàng thanh niên lập hàng rào trước mặt bỗng nhận ra sự xuất
hiện của anh, cô vụt tươi tỉnh: "Cậu Hoàng đây rồi! Cậu coi, ai đời mấy đứa
em vô phủ từ thắp hương tỏ chút lòng thành láng giềng mà bị chặn lại như thể đi
ăn cướp không bằng!". Anh cười: "Tại phần đông bà con các nơi về,
không rõ hàng xóm cũ...Thôi, đã có lòng xin mời vào...". Ba chị em Giang
hiên ngang vượt qua cổng trong, tiến vào gian thờ. Quay lại phía chú bác, anh
em đang ngơ ngác bất bình, anh chắt lưỡi: "E hèm...Con cháu dâng hương tổ
tiên là chuyện thường tình, xóm giềng ngoại tộc mới có ý nghĩa...Vào cả
đi...". Một ông bác gằn giọng: "Nhưng bọn nó là...". Anh làm mặt
nghiêm: "Thế bác định đánh nhau với đầu gấu ngay trong ngày hôm nay
à?". Ông bác chịu nhịn, hậm hực cùng cả đám kéo vào bàn rượu bày sẵn ở nhà
ngang...
Anh chẳng thể là người hạnh phúc. Chén rượu Rémy Martin XO, hàng "xách
tay" từ Hoa Kỳ về, dành cho "chiếu trên", chiếu của bậc chú bác
chức sắc trong tộc, thơm lựng khi vừa bật nắp, vậy mà anh nhấm nháp vô hồn. Nói
chính xác là anh thả hồn về cái thời uống rượu trắng nấu bằng sắn củ, cái thời
mẹ con nhà bé Giang dựng chái tranh ghé tựa vào bức tường bao cao quá đầu người
phía sau phủ từ, sát mép nước sông Hương dập dềnh lười biếng...
Làm sao anh quên được mùa đông năm ấy. Từ Sài Gòn anh về phủ từ ăn tết, cũng có
thể ở lại lâu dài nếu tìm được việc làm. Tốt nghiệp đại học, thử việc mấy tháng
ở Sài Gòn, anh chợt nhận ra mình nhớ Huế da diết, phải về ngay thôi. Sau này,
anh trả giá đắt cho thứ tình hoài hương tím ngát ấy. Nhưng đó là chuyện khác.
Bây giờ, anh muốn nhớ cái đêm đầu tiên ngủ lại phủ từ sau hơn bốn năm đi xa. Mới
tám giờ tối mà cứ như đã nửa đêm. Vắng tanh vắng ngắt trong mưa dầm se lạnh. Bỗng
đâu tiếng khóc nỉ non trèo qua tường bao, vượt vườn rau dại, len vào tận giường
ngủ. Trùm chăn kín đầu, thứ chăn thô của lính xót xáy không thua ổ rơm, anh vẫn
cứ phải nghe tiếng khóc, bây giờ lại như thể vọng lên từ đáy sông...Anh chợt nhớ
có một gia đình sống nép sau tường bao mà anh hầu như chưa rõ mặt. Chuyện gì xảy
ra cho họ? Anh vùng dậy, chân mang "bốt", đầu che dù, tay cầm đèn
pin, lần mò ra cổng sau. Túp lều mẹ con nhà bé Giang trông càng thảm hại trong
đêm mưa lạnh. Ba đứa trẻ ngồi xúm quanh ngọn đèn dầu leo lét. Chỉ một mình
Giang khóc. Hai thằng em nín lặng ngồi co ro tựa lưng vào nhau thật khéo để chống
ngọn gió sông lạnh ngắt phả vào liên tục. Thấy người lạ, Giang nín khóc ngửng
lên. Đôi mắt nó gây ấn tượng với anh. Đen long lanh. Nửa ngây thơ nửa sõi đời.
Bắt gặp bát nhang đang toả khói trước di ảnh người đàn bà xấu số tựa vào tường
bao phong rêu, anh chợt hiểu. Ngồi xuống, anh thắp nén nhang. Giang hai bàn tay
xoắn lấy nhau, lí nhí: "Cảm ơn cậu...Cậu mới về?". "Ừ. Thím mất
bao lâu rồi?". "Dạ bữa ni là bốn mươi chín ngày...". Ngoài bát
nhang làm bằng cái chén ăn cơm, chẳng còn gì hơn. Anh ngập ngừng một giây, bảo:
"Đi, ta đi kiếm cái chi cúng thím...". Ba chị em nhìn anh chằm chằm.
Chúng không chờ đợi một đề nghị như thế giữa đêm mưa khóc mẹ. Chiếc Honda nổ lạch
phạch váng động những khu vườn Vỹ Dạ u tịch. Anh chở Giang chạy lên phía ga Huế.
Giờ ấy chỉ có thể tìm ra một cái gì ở đó. Bà chủ quán mừng ra mặt khi anh hỏi
mua nguyên con gà luộc. Nghe một tiếng ực rất khẽ, anh biết Giang vừa nuốt nước
miếng. Anh kéo ghế, nói dối: "Đói quá, ta ăn chút gì rồi hãy về cúng cũng
chưa muộn". Cô bé lí nhí: "Dạ cậu cứ dùng, em...". Anh phải mắng
Giang mới chịu ngồi vào bàn. Nhưng khi đã húp hớp cháo gà nóng ấm đầu tiên vào
miệng, nó không dừng được nữa. Sau đó hai người còn nhâm nhi càphê nữa. Ly
càphê sữa đầu tiên trong đời cô bé. Anh phì phèo thuốc lá, chân tình: "Mấy
tuổi rồi hè?". "Dạ mười lăm, mười sáu chi đó...". "Nè, thế
là lớn rồi, ngày xưa chừng ấy tuổi đã lấy chồng, phải biết chăm sóc bản thân
nghe chưa". "Dạ...". "Mai gội đầu đi, con gái chi mà tóc
toàn mùi bùn non không rứa hè!". Giang chỉ cười khúc khích...Thế rồi
"bốn mươi chín ngày" của người đàn bà xấu số, mà anh nghe đâu từng
làm nghề mại dâm dưới vạn đò, cũng đủ gà-xôi-chuối. Cúng xong đã nửa đêm, anh
cùng ba chị em Giang bày cỗ ra đánh chén. Giang nói: "Rứa là mạ em còn có
phước, chi cũng đủ...". Và nó kể anh nghe chuyện xảy ra bốn mươi chín ngày
trước.
Buổi sáng, ba đứa phát hiện mẹ đã chết từ lúc nào trong đêm. Chúng ôm nhau
khóc, không biết phải chôn cất thế nào khi trong túi mẹ chỉ còn mấy tờ bạc lẻ...
Nhưng rồi Giang cũng nghĩ ra được cách. Nó lệnh cho hai thằng em nín khóc, im lặng
như không chuyện gì xảy ra, đợi đêm tối trở lại. Chúng "mượn tạm" chiếc
xuồng câu neo gần đấy, chuyển mẹ sang sông, tấp vào bến chợ Đông Ba. Việc khó
nhất là qua mặt ban bảo vệ, bí mật đưa mẹ vào đặt trên sạp một hàng vải lớn nhất
trong chợ rồi rút êm. Sáng hôm sau, khu hàng vải xôn xao, sợ hãi phát hiện xác
chết. Ban quản lý chợ cùng tập thể hàng vải làm thủ tục khai báo rồi tổ chức việc
chôn cất cho người xấu số...Ba chị em Giang có mặt từ xa, lẫn trong đám người
hiếu kỳ, theo dõi mọi diễn biến, từ trong chợ Đông Ba đến nghĩa địa dưới chân
núi Ngự Bình. Khó nhất là không được khóc, cứ như người dưng nước lã. Đợi đến
khi mọi người tản về hết chúng mới dám chạy a lại, ôm mộ mẹ nồng mùi đất mới mà
khóc cho thoả...
Kể đến đấy ba chị em Giang thút thít khóc. Anh cũng lén lau nước mắt, quay về
phòng ngủ. Gần sáng mới chợp mắt. Chưa được bao lâu thì bị đánh thức bởi cảm giác
hơi lạnh xộc vào chăn. Nhưng ngay sau đó là một nguồn ấm nóng áp nhẹ vào người.
Trong trạng thái ngái ngủ, anh trở mình ủ lấy nguồn ấm mềm mại, ngai ngái mùi
lá chanh ẩm. Bàn tay anh tự nhiên chuồi vào góc sâu nhất ấm nhất. Một tiếng rên
khẽ thổi vào tai, anh giật mình tỉnh hẳn, hất tung tấm chăn, nhận ra bàn tay
còn ướt. Trước mắt anh, Giang nằm co quắp, nín lặng. Châm thuốc lá, rít một hơi
thật sâu, anh như nói với làn khói: "Về đi!". "Em không biết lấy
chi trả ơn cậu... Em gội đầu rồi...". "Biết rồi. Với lá chanh phải
không?". "Dạ...". "Thế là tốt... Về đi, trời hửng sáng rồi
đó!". "Dạ...". Qua khe cửa gỗ, anh nhìn theo bóng cô gái mảnh khảnh
đang đi giữa vườn rau dại, lẩn khuất trong sương trắng bốc lên từ mặt sông.
Trưa hôm đó, anh đi ra túp lều tìm Giang, bình dầu thơm gội đầu trong tay. Bất
ngờ chỉ còn bãi trống. Ba chị em Giang đã dọn đi...
Ba chị em Giang lễ xong, quay ra. Phải gần mười lăm năm sau họ mới có dịp đáp
trả một nén nhang. Giang đến gần anh: "Em mở quán bia dưới gốc đa đầu ngõ,
em mời cậu...". Anh mỉm cười không nói gì, đứng lên tiễn khách. Được mấy
bước, Giang đi chậm hẳn lại. Khi chỉ còn hai người, cô thì thầm: "Cậu hái
cho em mấy lá chanh, được không?". Anh ngờ vực câu trả lời của mình. Bây
giờ thì anh tin chắc anh chẳng thể là người hạnh phúc.
Bài Thơ Viết Lúc Nửa Đêm - Trần Dzạ Lữ
Bài Thơ Viết Lúc Nửa Đêm
Sẽ không còn tin
nhắn lúc nửa đêm
Sẽ không còn nghe điện thọai giữa trưa-trờ-trưa-trợt
Bởi vì đây là sự thật
Mình đã chia lìa nhau…
Anh không trách
gì em đâu
Khi qua sông
Qua sông theo tiếng gọi của tình yêu khác
Dù cánh đồng anh bát ngát
Nhưng thường kỳ hạn hán phải không em?
Sẽ không còn những
sáng những đêm
Mình uống chung ly cà phê cứt chồn nơi quán cóc
Sẽ không còn nụ hồng Đà Lạt
Nở giữa môi thơm lúc mình kiếm tìm nhau
Anh không trách
gì em đâu
Lẽ thường tình ai cũng ham giàu
Mà anh thì nghèo kiết xác
Thơ đâu nuôi nổi đời giữa cuộc bể dâu?
Sẽ không còn tin
nhắn lúc nửa đêm đâu
Ngủ ngon nha anh
Sẽ không còn nghe qua điện thọai giọng em
thánh thót lời yêu thương.
Sông có khúc người
có lúc
Đây là lúc anh buồn
như củi mục…
Sẽ không còn gì nữa
Khi mình chia lìa nhau
Nhưng có một thứ anh không bao giờ quên
Đó là nụ hôn đầu !
trần dzạ lữ
Chất Hóm Hỉnh Trong Ca Dao Tính Yêu Nam Bộ - Đoàn Thị Thu Vân
CHẤT HÓM HỈNH TRONG CA DAO TÌNH YÊU NAM BỘ
Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị và ngộ nghĩnh gây nên những
bất ngờ thú vị là chất hóm hỉnh thường thấy trong ca dao tình yêu Nam bộ. Đó
cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây.
Trước hết là chất hóm hỉnh không cố tình,
không dụng công, toát ra một cách tự nhiên qua những từ ngữ mộc mạc; không hề
trau chuốt chân thật đến độ người nghe phải bật cười. Một anh chàng quá đỗi si
tình đã trở thành ‘liều mạng’:
‘Dao
phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết thì chịu chết, buông nàng anh không buông‘
Một cô nàng thật thà cả tin đã giật mình ‘hú
vía’ vì kịp thời nhận ra ‘chân tướng’ đối tượng:
‘May
không chút nữa em lầm
Khoai lang khô xắt lát em tưởng cao ly sâm bên Tàu’
Có những nỗi niềm tương tư ấp ủ trong lòng,
nhưng cũng có khi người ta không ngại ngần thổ lộ trực tiếp với bạn tình:
‘Tôi
xa mình hổng chết cũng đau
Thuốc bạc trăm không mạnh, mặt nhìn nhau mạnh liền’
Họ là những người lao động chân chất, nên cũng
bày tỏ tình cảm với nhau bằng thứ khẩu ngữ thường ngày không chưng diện, màu
mè, tuy vậy, cái tình trong đó cũng mãnh liệt và sâu sắc.
Đây là lời tâm sự của một anh chàng đêm hôm
khuya khoắt lặn lội đi thăm người yêu:
‘Thương
em nên mới đi đêm
Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau
May đất mềm nên mới hổng đau
Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này’
Chàng thật thà chất phác, nhưng mà cũng có
chút ranh ma đấy chứ? Chất hóm hỉnh đã toát ra từ cái ‘thật thà tội nghiệp’.
Nhưng phần lớn vẫn là sự hóm hỉnh mang tính chất
đùa nghịch. Một chàng trai đã phóng đại nỗi nhớ người yêu của mình bằng cách so
sánh ví von trào lộng:
‘Vắng
cơm ba bữa còn no
Vắng em một bữa giở giò không lên’
Nỗi vấn vương tơ tưởng đi vào tận giấc ngủ khiến
chàng trở nên lú lẫn một cách buồn cười:
‘Phòng
loan trải chiếu rộng thình
Anh lăn qua đụng cái gối, tưởng bạn mình, em ơi!’
Nhưng cái độc đáo là ở đây nỗi niềm đó lại được
bộc lộ một cách hài hước:
‘Tôi
xa mình ông trời nắng tôi nói mưa
Canh ba tôi nói sáng, giữa trưa tôi nói chiều’
Có một chút phóng đại làm cho lời nói nghe hơi
khó tin! Nhưng hề gì. Chàng nói không phải cốt để đối tượng tin những điều đó
là sự thật mà chỉ cốt cho nàng thấu hiểu tấm tình si của mình. Nàng bật cười
cũng được, phê rằng ‘xạo’ cũng được, miễn sao hiểu rằng mình đã phải ngoa ngôn
lên đến thế để mong người ta rõ được lòng mình.
Lại có một chàng trai đang thời kỳ tiếp cận đối
tượng, muốn khen cô nàng xinh đẹp, dễ thương mà khó mở lời trực tiếp. Để tránh
đột ngột, sỗ sàng, chàng đã nghĩ ra một con đường vòng hiếm có:
‘Trời
xanh bông trắng nhụy huỳnh
Đội ơn bà ngoại đẻ má, má đẻ mình dễ thương’
Mục đích cuối cùng chỉ đơn giản là khen ‘mình
dễ thương’ mà chàng đã vòng qua năm non bảy núi. Bắt đầu từ thế giới tự nhiên –
trong thế giới tự nhiên lại bắt đầu từ ông trời – tạo hóa sinh ra những loại
cây, hoa đẹp đẽ – rồi mới bước qua thế giới của loài người – trong thế giới
loài người lại từ hiện tại ngược dòng lịch sử để bắt đầu từ tổ tiên ông bà, tới
thế hệ cha mẹ, rồi tới nhân vật chính – ‘mình’. Thật là nhiêu khê, vòng vo tam
quốc làm cho đối tượng hoàn toàn bất ngờ. Những lời ngộ nghĩnh kia dẫn dắt tới
sự hiếu kỳ háo hức muốn biết ‘chuyện gì đây’, cho đến khi cái kết cục thình
lình xuất hiện làm cho cô nàng không kịp chống đỡ… Nhưng mà nó thật êm ái, thật
có duyên biết bao, nên dù phải đỏ mặt, cô hẳn cũng vui lòng và không thể buông
lời trách móc anh chàng khéo nịnh!
Ngược lại, cũng có những lời tỏ tình khá táo bạo,
sỗ sàng, nhưng hình ảnh thì lại hết sức ngộ nghĩnh, dí dỏm:
‘Con
ếch ngồi dựa gốc bưng
Nó kêu cái ‘quệt’, biểu ưng cho rồi’
Những người nghe câu ‘xúi bẩy’ này không thể
không bật cười, còn đối tượng xúi bẩy cùng lắm cũng có thể tặng cho người xúi
có phần trơ tráo kia một cái nguýt dài.
Những câu ca dao hóm hỉnh không chỉ bật lên từ
tâm trạng đang vui, tràn đầy hy vọng, có khi ‘rầu thúi ruột’ mà họ vẫn đùa. Những
trắc trở trong tình yêu nhiều lúc được trào lộng hóa để ẩn giấu nỗi niềm của
người trong cuộc:
‘Thác
ba năm thịt đã thành bùn
Đầu thai con chim nhạn đậu nhánh tùng chờ em’
Quả là ‘khối tình thác xuống tuyền đài chưa
tan’, nên chàng lại quyết tâm chờ tiếp ở kiếp sau cho đến khi nào nên duyên nên
nợ. Kiên nhẫn đến thế là cùng!
Khi chàng trai cố gắng đến hết cách vẫn không
cưới được người mình yêu, không biết trút giận vào đâu, bèn đổ lỗi cho một nhân
vật tưởng tượng:
‘Quất
ông tơ cái trót
Ổng nhảy tót lên ngọn cây bần
Biểu ông se mối chỉ năm bảy lần, ổng hổng se’
Thái độ quyết liệt trong tình yêu lắm lúc được
thể hiện đầy ấn tượng. Anh chàng hay cô nàng trong câu ca dao dưới đây đã xem
cái chết nhẹ như lông hồng. Thà chết còn hơn là lẻ bạn!
‘Chẳng
thà lăn xuống giếng cái ‘chũm’
Chết ngủm rồi đời
Sống chi đây chịu chữ mồ côi
Loan xa phượng cách biết đứng ngồi với ai?’
Có chàng trai thì quyết tâm đem tuổi thanh
xuân gửi vào cửa Phật:
‘Nếu
mà không lấy đặng em
Anh về đóng cửa cài rèm đi tu’
Chàng vừa muốn tỏ lòng mình vừa muốn thử lòng
người yêu. Và cô nàng cũng tỏ ra quyết tâm không kém. Chàng đi đến đâu nàng
theo đến đó để thách thức cùng số phận:
‘Tu
đâu cho em tu cùng
May ra thành Phật thờ chung một chùa’
Bằng câu đùa dí dỏm của mình, cô nàng đã làm
nhẹ hẳn tầm nghiêm trọng của vấn đề trong tư tưởng anh chàng và cũng hóa giải
tâm tư lo âu, phiền muộn của chàng – ‘Có gì đáng bi quan đến thế? Cái chính là
em vẫn giữ vững lập trường’ – đồng thời cũng hàm thêm chút chế giễu – ‘Mà có chắc
là tu được không đấy?’.
Khi yêu, nhiều cô gái cũng mạnh dạn bày tỏ
tình cảm của mình không kém các chàng trai.
‘Phải
chi cắt ruột đừng đau
Để em cắt ruột em trao anh mang về’
Không tiếc cả thân thể, sinh mạng của mình,
nhưng cô gái chỉ… sợ đau, thật là một cái sợ đầy nữ tính rất đáng yêu. Hay khi
chàng trai muốn liều mình chứng tỏ tình yêu, nhưng cũng lại ‘nhát gan’ đến bật
cười:
‘Gá
duyên chẳng đặng hội này
Tôi chèo ghe ra sông cái, nước lớn đầy… tôi chèo vô’
Tinh nghịch, hóm hỉnh những lúc đùa vui và cả
những khi thất vọng, đó là vũ khí tinh thần của người lao động để chống chọi những
khắc nghiệt của hoàn cảnh. Những chàng trai, cô gái đất phương Nam đã lưu lại
trong lời ca câu hát cả tâm hồn yêu đời, ham sống, hồn nhiên của họ trên con đường
khai mở vùng đất mới của quê hương tiếp nối qua bao thế hệ – Đó là tinh thần
phóng khoáng, linh hoạt, dày dạn ứng biến của những con người ‘Ra đi gặp vịt
cũng lùa; Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu’…
TS. Đoàn Thị Thu Vân
(Tạp chí Tài Hoa Trẻ)
304Đen – llttm - OVV
"Tiên Học Lễ Hậu Học Văn" Từ Đâu Ra? - Lê Vĩnh Húy
“Tiên học lễ hậu học văn” từ
đâu ra?
Nói luôn, câu
Hán-Việt này không phải của Tàu, càng không dính dáng Khổng Khâu. Chủ trương của
Khâu là đề cao chữ Lễ, coi đó là một mỹ đức. Lễ đây là phép tắc lễ nghi, nó
giúp con người ta hành xử cho ra bộ dạng con người.
Lê Vĩnh
Húy
XUẤT XỨ
Khâu phát biểu: “[Người] không học Lễ
sẽ không có cửa lập thân”[1]. Quan niệm này chẳng những thời nay nghe khó lọt
tai, mà ngay thời Xuân Thu bên Tàu (771-476 trCn) cũng hổng mấy ai để ý. Ai đời
đang buổi liệt quốc phân tranh, kiếm tuốt cung giương; vậy mà lại có đứa chủ
trương trước lấy lễ nghi để đãi người, sau dùng lý lẽ để thuyết phục người.
Khâu không thức thời, bởi vậy phải ôm
mối hận bất đắc chí cả đời. Vậy cũng xong một kiếp, thôi kệ Khâu đi.
Nhưng bọn đời sau không kệ, lại lôi
chữ Lễ của Khâu ra để tân trang theo ý mình. Vậy là Nho giáo ra đời. Hải ngoại
chư quân tử lưu ý cho: Tư tưởng của Khổng khác Nho giáo, là cái đời sau thêm mắm
giặm muối; lại càng khác mớ “học thuyết” mà Trung quốc hiện rao giảng trong các
Học viện Khổng tử. Một đằng hoài bão giáo hóa nhân quần, còn một đằng mưu toan
nhồi sọ ngu dân.
Và toàn bộ những thứ đó lộn tùng phèo
như nồi cháo heo, mạnh ai thích gì thì thò đũa gắp nấy. Nhưng đó là chuyện
khác, không nằm trong bài này.
Xin trở lại chủ đề.
ĐỐM LỬA VỤT TÀN
Chủ trương trọng Lễ thật ra không phải
do Khổng Khâu khởi xướng, mà trước đó đã từng có người đề cập. Như Quản Di Ngô
sinh trước Khâu hai trăm năm. Ông này không chỉ đề xướng mà còn thực thi khi va
làm Tể tướng nước Tề. Đó là trước hết phải dạy con em biết lễ nghĩa liêm sỉ,
sau đó mới dạy văn tự và võ nghệ.
Nhưng trong đống kinh sách cổ của
Trung Hoa, tuyệt không có câu “Tiên học lễ hậu học văn”. Đây là một khẩu hiệu
“thuần Việt”. Gốc gác câu này là ở miền Nam Việt Nam, vào thời Đệ Nhất Cộng
Hòa.
Đó là sau khi Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng
Hòa chính thức nêu “Những nguyên tắc căn bản” của ngành giáo dục (Nhân bản, Dân
tộc, và Khai phóng) vào năm 1958. Có nhà giáo hoặc nhà báo nào đó đã đặt ra câu
“Tiên học lễ hậu học văn” làm khẩu hiệu. Không biết cụ thể ai đặt câu này,
nhưng có thể khẳng định nó xuất hiện trước nhất ở miền Nam, kể từ sau 1958[2].
Câu này nghe cũng hay hay, thường được
trưng trong khuôn viên các trường công lập, mãi tới cuối thời Đệ Nhị Cộng Hòa vẫn
còn. Nhưng sau 1975 thì toàn bộ bị đục bỏ, nhà trường ở miền Nam giai đoạn này
được trang trí bằng các khẩu hiệu “Trăm năm trồng người”, “Năm điều bác dạy”,
“Chủ tịch Hồ Chí Minh quang vinh muôn năm!”
Không biết cảm giác của các học sinh
miền Bắc hồi này thế nào, còn đối với tụi trẻ em miền Nam, đó là những khẩu hiệu
hơi lạ. Phải tung hô, không cần hiểu.
ĐUA NỞ TÈ LE
Phải đến sau thời kỳ gọi là “mở cửa”,
nhất là sau khi nhà nước Việt Nam được chính phủ Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận, con dân
toàn cõi Việt Nam mới trở lại xúng xính phú quý sinh lễ nghĩa. Thầy giáo bắt đầu
bỏ dép râu, tập đi dép sa-pô; các cô giáo – nhất là các cô giáo ngoài Bắc vô –
mới bỏ áo dài tay, quần vải ú đen thui để diện áo dài yểu điệu; học sinh miền
Nam cũng được ăn ké, mặc lại đồng phục, nam sinh mặc sơ-mi trắng quần xanh, nữ
sinh thì áo dài trắng.
Và ngộ chưa, trong trường lớp, giờ
đây khẩu hiệu “Tiên học lễ hậu học văn” bỗng được phục hồi, sánh vai cùng các
khẩu hiệu sấm vang trống dội khác trên khắp ba miền đất nước.
KẾT LUẬN
Thời đại ôn dịch mà bàn chuyện giữ
hay bỏ khẩu hiệu “Tiên học lễ hậu học văn” chỉ là trò của tụi xí mứng. Vả lại
đó chẳng qua chỉ là đề xuất của hiệu trưởng một đại học cà na, không phải chủ
trương của Bộ Giáo Dục, càng không phải đường lối của đảng.
Rặn ra hoặc lượm mót một khẩu hiệu là
chuyện dễ, còn bỏ nó lại thành chuyện khó. Bỏ khẩu hiệu này sẽ tạo tiền lệ để bọn
điêu dân hô hào bỏ thêm khẩu hiệu khác.
[1] Luận ngữ: Bất học Lễ, vô dĩ lập (不學禮, 無以立).
[2] Trước khi miền Bắc có câu khẩu hiệu
“Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm cấy người” (1959).
Lê Vĩnh Húy


