Gò Dầu Mới Đó Mà Đã Quen
Wednesday, May 20, 2026
Biển Nuốt Rừng Chôn "Những Linh Hồn Không Bao Giờ Tới Bờ" - Phạm Sơn Liêm
BIỂN NUỐT – RỪNG
CHÔN
(Những Linh Hồn Không Bao Giờ Tới Bờ)
Có
những trang lịch sử không được viết bằng mực.
Chúng
được viết bằng nước biển mặn… và nước mắt con người.
“BIỂN
NUỐT – RỪNG CHÔN” không phải là một câu chuyện để đọc cho hay.
Đây
là một vết thương. Một vết thương chưa bao giờ lành.
Có
những con thuyền rời bến trong đêm, không đèn, không tiếng… Chỉ có lời dặn dò
nghẹn lại nơi cổ họng:
“Đi
đi con… còn sống là được…”
Có
những bước chân lầm lũi trong rừng sâu, mỗi bước là một lần đánh đổi giữa sự sống
và cái chết.
Không
ai biết sáng mai còn đủ người để đi tiếp hay không.
Ở
đâu đó giữa biển đen, có những bàn tay đã buông nhau ra mãi mãi.
Ở
đâu đó giữa rừng sâu,
có
những cái tên chưa từng được khắc lên bia đá.
Họ
không phải là những nhân vật trong sách.
Họ
là cha, là mẹ, là con…
là
những con người bình thường bị đẩy vào một hành trình phi thường, hành trình chạy
trốn cái chết… để tìm một nơi được sống như một con người.
Bài
này không thể kể hết.
Không
ai có thể kể hết.
Vì
mỗi con sóng đã nuốt đi một câu chuyện.
Mỗi
tấc đất rừng đã chôn đi một cuộc đời.
Không
phải vì bài hay.
Mà
vì đâu đó trong từng dòng này… có một linh hồn đang được nhớ lại.
Và
có lẽ, điều duy nhất chúng ta còn có thể làm cho họ, là đừng quên.
Đêm
đó, biển đen như mực. Không trăng. Không sao.
Chỉ
có tiếng máy ghe khục khặc như hơi thở hấp hối của một người già sắp tắt.
“Má
ơi… mình đi bao lâu nữa?” thằng bé níu áo, giọng run như sắp khóc.
Người
mẹ không trả lời. Bà không dám trả lời. Vì bà cũng không biết.
Bà
chỉ ôm con chặt hơn, như thể nếu buông ra một chút thôi… biển sẽ cướp nó đi.
Chiếc
ghe gỗ chở hơn trăm mạng người. Người chen người. Mùi mồ hôi, mùi nước biển,
mùi sợ hãi… quyện lại thành một thứ không ai gọi tên nổi.
Một
ông lão ngồi sát mạn thuyền, mắt nhìn xa xăm:
“Ngày
xưa… tao đi lính… chưa bao giờ sợ như vầy…”
Người
đàn ông bên cạnh cười nhẹ :
“Ở
lại… thì chết kiểu khác thôi, bác à…”
Bỗng….
RẦM!
Một
con sóng lớn đập ngang.
Chiếc
ghe nghiêng hẳn.
Tiếng
la hét bật lên như một bản hợp xướng của tuyệt vọng.
“Ôm
con! Ôm con chặt vô!”
“Đừng
đứng dậy! Ngồi xuống!”
“Trời
ơi… nước vô rồi!”
Nước
tràn vào khoang.
Những
bàn tay trần hối hả tát nước như tát số phận mình.
Đứa
bé khóc thét:
“Má
ơi… con lạnh…”
Người
mẹ run rẩy, cởi áo mình ra, quấn cho con.
“Ráng
chút nữa… qua tới bờ là hết… hết rồi con…”
Nhưng
chính bà cũng không tin câu nói đó.
Rồi…
tiếng máy tắt.
Phụt…Phụt!!
Im
lặng.
Một
sự im lặng đáng sợ hơn cả tiếng sóng.
“Máy…
chết rồi…” ai đó thì thào.
Không
ai khóc lớn nữa.
Chỉ
còn tiếng nấc nghẹn, như bị bóp cổ.
Ngoài
xa… một ánh đèn.
“Có
tàu! Có tàu!” — ai đó hét lên, giọng mừng run.
Những
cánh tay vẫy loạn.
“Cứu
với! Cứu tụi tôi!”
Nhưng
ánh đèn đó… không tiến lại.
Nó
đứng xa. Rồi quay đi.
Như
chưa từng thấy.
Một
người phụ nữ gục xuống:
“Trời
ơi… họ bỏ mình rồi…”
Một
người đàn ông đập tay vào mạn ghe đến bật máu:
“Không
ai cứu mình hết! Không ai hết!”
Sáng
hôm sau… biển lặng.
Nhưng
ghe không còn nguyên.
Một
nửa đã chìm.
Những
người còn lại… ôm lấy nhau như những cái xác chưa kịp chết.
Người
mẹ… vẫn ôm con.
Nhưng
đứa bé không khóc nữa. Không nói nữa.
Chỉ
còn đôi mắt mở trừng… nhìn về phía chân trời không có đất.
“Con
ơi…” — bà lay nhẹ.
Không
trả lời.
“Con
ơi… dậy đi con… mình tới rồi mà…”
Giọng
bà vỡ ra từng mảnh.
Một
người đàn bà khác quay mặt đi, cắn chặt môi đến bật máu.
Không
ai dám nhìn.
———-
Ở
một nơi khác… Trong rừng sâu.
Đường
bộ. Một đoàn người lặng lẽ bước. Không đèn. Không tiếng. Chỉ có tiếng lá khô vỡ
dưới chân.
“Đi
nhanh… biên phòng tuần đó…” người dẫn đường thì thào. Một cô gái thở dốc:
“Em…
em không đi nổi nữa…”
Người
đàn ông quay lại:
“Ở
lại là chết. Đi tiếp mới có sống.”
Cô
gật đầu. Nước mắt chảy mà không dám khóc!
Người
dẫn đường kéo tay:
“Phải
đi! Không đi là chết hết!”
Không
mộ. Không bia.
Chỉ
có đất và lá.
Có
những người… chết vì đói.
Có
những người… chết vì khát.
Có
những người… mất tích, không bao giờ tìm thấy.
Và
có những người… sống.
Nhưng
suốt đời… không bao giờ thật sự sống lại.
⸻
Nhiều
năm sau…
Một
người đàn ông đứng trước biển, ở một đất nước xa lạ.
Ông
nhìn sóng… rất lâu.
Đứa
con hỏi:
“Ba…
sao ba hay nhìn biển vậy?”
Ông
không trả lời ngay.
Chỉ
nói nhỏ, như nói với chính mình:
“Biển
đó… nuốt hết bạn ba… nuốt luôn một phần của ba…”
Đứa
bé không hiểu. Nó nắm tay ba.
“Con
ở đây mà…”
Ông
cúi xuống, ôm con. Nhưng mắt vẫn nhìn xa. Ở đâu đó… ngoài kia…
có
những linh hồn chưa bao giờ vào được bờ.
Có
những chuyến đi… không có ngày về.
Có
những giấc mơ… đổi bằng mạng sống.
Và
có những lịch sử… được viết bằng nước mắt mặn hơn cả biển.
Người
ta gọi họ là thuyền nhân.
Nhưng
không ai gọi đúng cái tên thật của họ:
Những
con người đã đi qua địa ngục… chỉ để tìm một nơi được làm người.
Phạm
Sơn liêm
Nguồn: https://www.facebook.com/liem.pham.806140
304Đen
– llttm - dsc
Tạ Ơn Đời * Tạ Ơn Mẹ - Tôn Thất Tuệ
TẠ ƠN ĐỜI * TẠ ƠN MẸ
Theo kinh Niết Bàn, lấy tất cả vũ trụ
vo thành trái cau còn dễ hơn nói cho hết việc sinh (và tử); sữa con bú vú mẹ
nhiều hơn nước biển và nhiều ví dụ khác. Sự đầu thai đã có trong hiện tại khi
con người mang những dấu tích di truyền của bố mẹ.
Trong sự sinh thành vô tận của vô số
cảnh giới của thời gian vô thủy vô chung, có sự sinh thành trên quả đất của
chúng ta trong đó người mẹ đóng vai trò quyết định. Dĩ nhiên tất cả đều phải có
phối hợp âm dương. Trong thống kê, đàn bà sống lâu hơn đàn ông, kể cả trong các
xã hội đàn bà đàn ông đều có quyền hút thuốc uống rượu và xả láng mọi thứ như
nhau. Trẻ chết lúc sinh nhiều nhất là con trai.
Nhìn vào thế giới thú vật, con cái bảo
vệ và nuôi dưỡng lứa mới sinh. Ngay trước khi sinh, chúng đã tìm nơi an toàn,
theo khả năng nhận thức của chúng. Có những côn trùng lúc sinh nở có nhiều chất
độc để tấn công kẻ phá hoại gia cang.
Trở lại thế giới người. Hoàn cảnh khó
khăn nhất là lúc nguy khốn về tài chánh biểu lộ bản năng - hay ý thức tùy bạn -
của người mẹ. Điều đó làm cho con cái thấy rõ sự hy sinh. Lại càng thấy rõ khi
người cha vắng bóng vì bất cứ lý do gì.
Con ơi mẹ là Thượng Đế, cho con
nguyên lý diệu vời; đó là ý chính của bài đạo ca, thơ của Phạm Thiên Thư.
Nguyên lý diệu vời ấy là nguyên lý yêu thương, mẹ truyền cho con qua dây rún.
Nhưng khi thực phẩm vật chất và tinh thần không còn đi qua dây rốn ấy, mẹ vẫn
tiếp tục cho con tình thương và ý niệm ngoại vật. Hình tròn của vú mẹ, nét hình
cung thân thể mẹ tạo cho con ý niệm ngoại vật qua xúc giác. Trẻ thơ thích hình
tròn không thích hình vuông.
Và thực phẩm mẹ cho ăn, nếu không phải
là một nguyên lý sống, là một nét vẽ trên cuộc đời không bao giờ phai. Một nhà
dinh dưỡng Pháp nói: con người có thể quên tổ quốc, tôn giáo, ngôn ngữ ... quên
tất cả trừ món ăn đầu tiên trong cuộc đời, do mẹ cho.
Tôi đã đi săn sóc một người già tê liệt
nhưng ông ta rất thích thú khi bà vợ cho ăn McDonald. Bà vợ cho biết ông ăn
hamburger từ khi mới biết bò. Một người già lúc nhỏ theo cha qua Nga; khi Nga sụp
đổ ông trở về Chicago đã 70 chỉ mong ăn junk food. Montaigne, triết gia Pháp,
lúc còn rất nhỏ về sống ở vùng quê nơi đó người ta bỏ tỏi vào sữa mà uống, từ
đó suốt đời ông cứ dùng món nầy với cái mùi khó chịu trong xã hội quan cách
Paris.
Tôi không phải là bác sĩ nhưng học ở
Oshawa rằng nước miếng là một vị thuốc nên ăn gạo lức muối mè mà nhai thật nhuyễn
đó là thần dược. Bây giờ nói đến cơm mem, e nhiều người ói mữa trong cái vệ
sinh hiện đại. Nhưng nhai cơm rồi đút cho con là bài học của chim, nhai nhỏ côn
trùng rồi mớm cho con. Cùng với sữa, nước miếng tạo nên những kháng thể tự
nhiên trước khi có chủng ngừa.
Nếu ta quan niệm tính chất tự nhiên
là điều quí hóa, mẹ là điều tự nhiên lớn nhất, bao trùm nhất. Mẹ cho cả chủng tử,
mẹ nuôi chủng từ ấy bằng chính thân xác mình bằng bàn tay khổ cực của mình. Bàn
tay mẹ vo gạo, sinh tố trong cám làm da mẹ mịn như công chúa tắm sữa, mà chất
chua chất phèn trong đất trong bùn khi mẹ đi cấy hay trồng khoai đã làm da mẹ nứt
nẻ, gót mẹ không hồng nữa như ngày xưa.
Trên đường du thuyết, Phật thấy một đống
xương khô, bèn ra lệnh đệ tử đem chôn theo tập tục xương đàn ông riêng, đàn bà
riêng. Môn đệ hỏi Ngài làm sao phân biệt; Ngài chỉ cho rằng xương đàn bà có vết
đen là dấu tích cực nhọc cho con bú và nuôi dưỡng. Tuy là ẩn dụ, chuyện xương
đen ngày nay được chứng minh đúng bởi y học. Văn chương VN có nhắc đến điển
tích nầy.
Nhưng rồi người ta cũng không để mẹ
yên như người ta không để yên thằng bờm có cái quạt mo. Người ta đã dùng cái gọi
là duy vật biện chứng, để nói thế nầy thế kia. Thật ra người ta chỉ nói cho qua
việc để thực hiện mục đích là hủy bỏ tất cả các giá trị luân lý, dân tộc, những
quan niệm ăn sâu vào sự suy nghĩ như thằng bờm, nhưng phải nói cho nó nghe có vần
có lối, cho có vẻ triết học.
Họ nói mẹ ta sinh ta là kết quả của một
sự truy hoan, chung đụng thân xác. Có tin như vậy, có tin một cách ngây ngô như
vậy, đứa trẻ mới chấp nhận sự sắp xếp của nhà nước mà đấu tố cha mẹ như Nguyễn
Mạnh Tường đã viết. Câu chuyện không phải là chứng minh đúng sai mà vì một kết
quả. Người ta cho phép nói đủ thứ, không kể trước sau, xuôi ngược miễn là đến kết
luận Kiều là bông lài cắm bãi cứt trâu trong chiến dịch bài trừ những giá trị
cũ.
Nhưng xem cái ngoành ngoạch ấy, ta thấy
dẫu sao họ cũng bị lôi cuốn vào cái nhìn phân biệt; phân biệt ta và không ta, vật
chất và tinh thần, bản năng và ý thức, thể xác và tâm hồn; thú vật và con người.
Và cũng theo truyền thống tây phương lấy một khía cạnh nhỏ làm cơ sở cho một
trường phái.
Phải chặt ngay cái đầu con rắn. Ảnh
hưởng của mẹ có tính cách quyết định như nói trên qua thực phẩm, qua giáo huấn
v.v...Do đó muốn thay thế tình yêu cho mẹ bằng tình yêu cho lãnh tụ, phải chặt
ngay từ đầu, càng quyết liệt càng tốt; mẹ đây là mẹ thật hay mẹ chiến sĩ như bà
Nguyễn Thị Năm.
Gorbachev đã được mẹ lén lút bồng đi
rửa tội TCG Orthodox và nuôi dưỡng trong tình người; ông đã ra lệnh 700 ngàn
lính Nga đồn trú ở Đông Đức án binh bất động để cho dân chúng đạp hàng rào biên
giới qua Tây Đức. Tinh thần mẹ ông dạy nào khác tinh thần Á Đông, "mai sau
chớ sống một mình".
Sinh hoạt sinh lý đã được nhìn qua
các lăng kính quá khích một chiều, cũng dựa trên sự phân biệt, và các quan niệm
xã hội từng thời. Nó lồng vào trong những định chế xã hội như thừa tự, mẫu hệ
hay phụ hệ. Nhưng thiên nhiên đã dành cho phái nữ những bảo đảm để tiếp tục
sinh sản. Chỉ cần một tinh trùng cho một thai noãn nhưng vô số tinh trùng khác
nằm trong tình trạng ứng chiến nhưng không có địch để bắn. Trong một tổ ong, có
vô số ong sắc to hơn ong thợ nằm trong những ứng viên chồng nữ hoàng ong. Người
nuôi ong phải loại bỏ bằng cách để một cái lược chỉ vừa cho ong thợ vào, còn
các con ong sắc phải chết bờ chết bụi thay vì ăn hết mật.
Có gì ngạc nhiên khi những chủ thuyết
phi nhân chối bỏ, hủy diệt tính chất tự nhiên trong tình mẫu tử và quan hệ gia
đình. Platon đã chủ trương bắt hết trẻ con về giáo dục, đào tạo trong mục tiêu
như lính chiến bảo vệ chính quyền; nếu chuyện nầy xẩy ra, người ta sẽ dạy trẻ
con đánh vào cục đá và vào đầu con chó như nhau.
Nhưng giới văn nghệ thì nhìn sự
thương yêu và sự đau thương là một. Trong một truyện ngắn của William Saroyan,
Mỹ gốc Armenia (1908-1981), một thanh niên trên một chuyến du lịch dài; giữa đường
một kẻ đồng hành phái nữ chuyển bụng. Anh ta phải làm cô đỡ. Anh thấy tiếng
khóc la của người mẹ chẳng khác nào tiếng rên la của người tình khi anh giao tiếp
bằng thể xác.
Không có loài người trừu tượng mà chỉ
có những thành tố hiện hữu. Không có mẹ trừu tượng. Chỉ có những bà mẹ gánh
trái mít non, vài trái khế, vài trái thơm từ quê xa lên tỉnh thăm con trọ học.
Những bà mẹ ru con suốt đêm vào thời chưa có thuốc ho. Những bà mẹ mua đầu chợ
bán cuối chợ, trả tiền vay góp, lúc tối mua được lon gạo đem về. Những bà mẹ có
thật, không có trong biện chứng. Chỉ có những bà mẹ chúng ta ngồi ở ngưỡng cửa
trông chờ rỗ bánh ế, mẹ vui cho con cái bánh mà buồn hôm nay thua lỗ. Những bà
mẹ có thật.
Xin cúi đầu tạ ơn Đời, cúi đầu tạ ơn
Mẹ.-
Tôn Thất Tuệ
304Đen – Llttm – MT68
Vứt Tốt Sang Sông - Trang Hạ
Vứt tốt sang sông
Tôi đang thu xếp sách vở, định lên văn phòng Hội sinh viên trả lời nốt những
câu hỏi thảo luận trên diễn đàn online. Chúng tôi giúp sinh viên khoá dưới
chuẩn bị hoạt động “Tiếp sức mùa thi” dự kiến khởi động sau hai tháng nữa. Điện
thoại di động rung. Mẹ gọi điện cho tôi.
Thật lạ, mẹ tôi thường kinh sợ những
cú điện thoại di động như kinh sợ cái hoá đơn thanh toán điện thoại mỗi ngày
mùng 10 đầu tháng. Tiếng mẹ tôi trầm đi: “Hương ơi, con có quà!”. “Dạ, quà của
ai hả mẹ?”. “Một bàn cờ cũ!”. Mẹ im lặng rất lâu, tôi tưởng giây phút ấy cơn
gió đột ngột nào xuyên qua tôi trong căn phòng kín, hay là chính nỗi đau làm
tôi trong suốt và run rẩy. “Con nên vứt đi con ạ! Nó vừa chết rồi, con giữ làm
gì!”. Tim tôi thắt lại trong một linh cảm mãnh liệt.
* * *
Quyền cao to, trắng như cục bột, tay
chân vạm vỡ, mười năm học karatedo. Bỗng dưng một hôm bỏ đai bỏ thầy theo Nhu
Quyền, tập những xà, những báo, những đao thương, kỳ dị và không tưởng. Nhưng mỗi
khi ngồi vào bàn cờ, Quyền lại như người lên đồng, kiên quyết Soái đỏ và kiên
quyết thắng. Tôi chuyển từ bạn dế, bạn bắt ve thành bạn cờ, tóc dài ra, môi thắm,
được khen ngoan hiền giỏi giang. Vậy mà ngồi với Quyền là bị hút hồn theo cái
cười thách thức và tiếng cành cạch đế cờ gõ lên mặt gỗ cũ thả những nỗi nghi ngờ
rực rỡ rơi vào trong sâu thẳm.
Một giai một gái đánh cờ suốt hai
ngày một đêm liên tục, chuyển quân cờ như vờn nhau, xả quân cờ như tát vào mặt.
Quyền kiên quyết đòi thắng mà tôi giữ quân khư khư, đánh như chọc tức vào mặt
anh hàng võ! Quyền ngồi xổm trước bàn cờ gỗ cũ sứt sẹo, đầu gối lút tai, tay
vân vê gấu quần. Cái tướng đánh cờ xấu quá, bảo mãi mà không chịu sửa. Hắn nghĩ
ngợi kiểu gì mà thường bất động, im lặng, mi mắt dướn lên cái nhìn trống rỗng.
Rồi bất thần chộp lấy quân cờ như sợ bị cướp mất, Quyền đánh xóc nhanh như chớp
giật. Tôi không nề hà vỉa hè, thích nhất là mang hẳn bàn cờ ra quảng trường
lăng Bác đèn sáng gió lồng lộng, kê dép ngồi nhẩn nhan vừa đi tuần trên tám
mươi mốt điểm kỷ hà đan nhau vừa cười khúc khích.
Buổi tối có trăng, Quyền mang ghita
ra gảy, từ tối cho tới khuya, cả ngõ dỏng tai nghe. Những bản nhạc không buồn
không vui, man mác một điều gì như một nỗi niềm khó gọi tên. Tôi bảo, thi đại học
đến nơi rồi, đàn địch gì nữa. Cậu đẹp giai như thế, cần gì đàn, các em đến ầm ầm
đuổi đi chẳng hết ấy chứ! Quyền chẳng buồn trả lời. Thế là những đêm trăng, Quyền
cứ mang đàn ra gảy, hành hạ cả ngõ bằng những giấc mơ tuyệt đẹp song đầy mâu
thuẫn. Tiếng đàn, ánh trăng, một con ngõ dắt xe đạp tránh nhau còn chật, một cuộc
sống đầu gối quá tai…
… Tôi vào đại học, Quyền thi trượt
hay đỗ chẳng biết vì sau đó xách balô nhập ngũ, sung ngay lên biên giới. Người
trong ngõ chỉ bàn nhau, nó có tính thất thường của thằng cha bất cần đời. Có
người lại nói, nó đã nhìn thấy vận của nó ở trên bàn cờ tướng.
Quyền kiên quyết Soái đỏ và kiên quyết
thắng. Ở đâu cậu ta cũng có người quý và người sợ. Tôi hai năm liền xung phong
vào đội sinh viên tình nguyện cùng Đoàn trường lên các vùng dân tộc khó khăn hoạt
động, vì hy vọng trên đường núi bất chợt nhìn thấy cậu bạn cũ mười năm bắt ve đổ
dế trong Bách Thảo xuất hiện trên đường. Thế mà khéo quá, chẳng bao giờ gặp.
Năm thứ ba đại học, khi tôi đi chiến
dịch tình nguyện không vì Quyền nữa thì lại gặp Quyền. Cậu ta giải ngũ, đang
trên đường về Hà Nội. Tháng sáu, hoa phượng rực những con đường thị xã. Ngồi uống
chén trà mạn ở thị xã Hà Giang chờ chuyển xe, trong cái oi ả của buổi trưa cuối
tháng sáu, Quyền bảo, đánh tạm ván cờ. Hai đứa nhịn cơm trưa, vần quanh tấm ghế
mục giữa quán, người xem vây quanh dần thành một đám lớn. Một tiếng đồng hồ
trôi qua, Quyền đang ép tôi, tấn nguyên một dàn Xe-Pháo-Ma-Tốt sang thịt Soái.
Ngay từ lúc mới vào ngồi ván cờ, chưa đi nước nào tôi đã thấy gai gai, sờ sợ.
Quyền không còn là Quyền nữa, không phải là Quyền da trắng bóc, tay chân vạm vỡ
của năm mười tám tuổi đánh đàn dưới trăng, đánh Xà quyền dưới trăng cạnh khóm
mai tứ quý nữa. Quyền đen và gầy đi, khuỷu tay nhô ra, răng ám khói thuốc. Và
Quyền chọn Tướng, vênh váo trắng.
Soái đỏ tôi dịch sang chỗ Sĩ, cả nửa
bàn cờ bên tôi trống trơn, không còn quân gì để che chắn. Quyền gian hùng và
thao túng, cậu ta dàn quân ép tôi phải chết. Pháo trắng chễm chệ ở chỗ Xa cửu,
Xe trắng hầm hè ở thất nhị, Tốt sang sông chiếm cứ chính yếu huyệt Hoa tâm và
Mã trắng chờ chiếu Soái. Thế trận Trường kình thụ thủ dâng hẳn Xe-Pháo-Mã-Tốt
sang theo chiến sách Tứ tử liên công, cậu ta động vào con nào là có thể giết
tôi con đó.
Song tôi đã thấy lại Quyền của những
trắc ẩn và bất cần xa xưa, khi tôi nhìn thấy con Tốt sang sông. Tại sao luôn phải
dựa vào Tốt sang sông? Vì sao Quyền đã có tất cả để chiến thắng song vẫn phải
luỵ tới một con tốt sang sông? Hay đó chính là một yếu huyệt, như một người dù
có rất nhiều tư chất tốt song chưa tìm thấy niềm tin trong đời, chưa tìm ra lý
tưởng?
Xe bát lục của tôi tiến tam chiếu Tướng,
Quyền vô tư Tướng lùi một để tránh. Tôi lờ mờ nhận ra điều gì đó. Trường kình
thụ thủ, cá Kình quật sóng dữ dội đánh giập đầu đối thủ. Tôi không phải nam nhi
đại trượng phu, tôi chỉ là một cô gái mới hai mươi mốt tuổi, cần phải tránh
sóng to gió lớn trên bàn cờ để kiếm con đường đi tới. Tôi lùi xe lại vị trí cũ,
tái chiếu Tướng!
Lùi một bước sóng êm bể lặng. Ai nói
câu đó trong đời? Trên bàn cờ tôi dùng những quân cờ bé bỏng đối thoại không ngừng
với Quyền. Quyền ơi, thắng thua thành bại nào có ý nghĩa gì với chúng ta – hai
chúng ta. Song Quyền chỉ câm lặng, đầu gối quá tai, chộp quân cờ như ăn cướp rồi
đi mê man như lên đồng. Tướng lùi, trong khi hai Sĩ trắng của cậu trì đốn ở sáu
và Hoa tâm, Tượng trắng cũng bỗng dưng bị đờ đẫn ở năm và ba. Thế trận đột ngột
chuyển. Xe tôi vừa lùi đã chiếm được đỉnh tuyến yếu hại của dinh trắng.
Quyền bất nhẫn dịch Tướng lại vị trí
cũ, tôi thối Pháo đỏ về một ô, bị gài vào thế Dẫn xà xuất động, Tướng trắng của
cậu bị điệu ra tận trận tiền, cuống quýt chạy vòng trong khi Tứ tử liên công của
cậu ta chết gí bên nửa bàn cờ phía tôi. Tôi thắng, ngơ ngác. Còn Quyền hực lên,
giữa đám người xì xào, rứt những sợi thuốc từ túi áo ngực, vấn thuốc hút nhả
khói cập rập. Làn khói bồ đà thơm ngao ngán, ngầy ngật và khe khé bất thường.
Bí thư Đoàn trường đến, rẽ đám đông,
cầm tay tôi dắt lên xe. Quyền nhìn theo cái nắm tay của Đình ôm gọn bàn tay
tôi, mắt đỏ lên, sừng sựng. Năm đó, tôi đi tình nguyện về thì Quyền đã sang Đức.
Cậu ta sang theo đường du lịch rồi trốn ở lại làm ăn luôn. Trời ơi, tôi chỉ đi
có ba tuần thôi mà. Hộ chiếu ít nhất phải làm hai tuần mới xong, rồi còn visa,
thủ tục, tiền bạc, cậu ta mới chỉ chơi với tôi một ván cờ, đã nói chuyện gì với
nhau đâu? Hay vận của Quyền đã tới, cậu phải đi?
* * *
Văn phòng đã hết người, tôi còn cố
nán lại thu xếp đồ đạc. Mười tháng làm một nhân viên văn phòng váy ngắn áo sơ
mi trắng, ngồi ghế êm và máy lạnh. Tôi đã nghĩ gì khi xin ông sếp văn phòng cho
tạm nghỉ ba tuần để về trường đi tham gia một mùa hè tình nguyện cuối cùng?
Ông sếp Đài Loan mỉa mai, cô hãy tình
nguyện tuỳ ý, tình nguyện đến khi nào cũng được. Tôi tiện miệng nói luôn, nếu vậy
tôi không thích làm một con Tốt áo quần sạch sẽ ở đây, tôi không muốn tiến dần
để mơ một ngày nào đó sang sông, thành một cái gì đó với quyền lợi nào đó. Tôi
đi đây!
Quyền qua thời kỳ cửa sổ đã phát bệnh,
ngay từ khi ở Đức. Tôi dựng xe nhờ hàng tráng rọi ảnh Konica đầu ngõ, xốc túi
trên vai, dò qua đường sang phía quán bia. Sau quán bia là khoảng sân rộng dưới
gốc mấy cây bàng, đặt mấy chiếc ghế đá lạnh lẽo. Quán bia đóng cửa từ tối, mùi
bia chua thoang thoảng lẫn mùi lá cây lên nhựa nồng và hắc. Ánh trăng xuyên vỡ
tàn lá bàng rơi, lẫn vào bóng đèn cao áp quanh đường Lăng toả sáng lạnh tanh.
Những quân cờ lăn ra trong tay lơi, Quyền nằm ngủ ngoẹo đầu trên ghế đá, nước dãi
ròng ròng chảy xuống má, xương bả vai nhọn hoắt bên trong tấm áo may ô rộng. Những
con muỗi no căng máu lăn chậm rãi quanh tay chân Quyền.
Bàn cờ thay cục diện nhanh đến không
ngờ. Ván cờ giờ Quyền lầm lụi chơi một mình. Quyền đã quay về Hà Nội, gầy nhom,
hình xăm nhằng nhịt. Quyền ôm bàn cờ gỗ sứt mẻ chơi một mình và ngủ vạ vật như
một người không còn gì để tin trong đời, chỉ cố giữ lấy chút tư cách là không từng
làm hại ai. Anh trở về để giữ quân Soái đỏ, song cho đối thủ không phải một mà
hẳn ba Tốt sang sông, như tự hỏi mình: Nói gì đây với cuộc đời?
Ván cờ tàn hôm nay ba quân Tốt trắng
đã dồn Soái lánh vào chỗ của Sĩ tứ, Tốt sang sông chiếm thượng phong, thong
dong đoạt vị của Tượng, ngồi song song dòm Soái trên ô nhị và ngũ. Trận cờ tàn
này từng được mệnh danh Nhu thủ long đàm, thế cờ dữ như đầm rồng hang cọp. Thôi
thế còn gì nữa. Quyền tự dồn mình vào đất hiểm. Song cũng lạ, Soái của Quyền vẫn
còn Xe-Pháo-Mã bên đất người mà sao anh đã ngủ chật vật mất rồi? Hay trong lúc
thất vọng, đêm nay chơi cờ một mình, Quyền không thiết thắng thua với vận số, với
đời mình? Tôi ngồi xuống, giết muỗi quanh chỗ anh nằm, lòng vừa buồn bực vừa thấy
bất nhẫn. Những con muỗi này giờ cũng đang mang trong nó mầm bệnh AIDS, nhưng
trước khi chết nó còn biết giãy giụa, nó còn muốn sống. Nó không buông xuôi,
Quyền ơi! Tôi nhặt quân Mã tam thoái, điệu Mã sang biên, biến Mã thành quân cờ
Ngoạ tào thôi sát. Chờ Xe trắng từ hai chạy sang giữ, tôi bặm môi tiến Pháo bát
lên tam, bắt Xe trắng lui tôi tấn tiếp Mã đỏ nhất lên tam. Thắng! Ba quân Tốt
trắng thượng phong kia dù sao cũng không bao giờ thoát được tư cách Tốt! Chúng
sẽ không thể làm nên điều gì nếu Soái của Quyền lúc lâm trận hiểm vẫn đường
hoàng điều binh khiển tướng.
Đêm oi bức vô cùng, nền trời rạch
ngang một lằn chớp bạo liệt. Cơn dông sẽ đến khi chúng ta ngủ quên trong những
căn nhà hộp bít bùng. Hay tôi sẽ ở lại đây đón cơn dông bên cạnh người bạn thơ ấu?
ẹt nhất tôi cũng có thể hiểu ra rằng, mình có thể khác đi, có thể là một người
rất khác? Hay là tôi sẽ về ngủ để sáng mai kịp lên chuyến xe sớm đi Cao Bằng,
cùng những sinh viên trong đội tình nguyện số Một của trường, chuyển theo những
hòm sách công tác Đoàn – Đội lên cho những chi đoàn vùng cao, cùng những tấm khăn
quàng đỏ làm quà cho thiếu nhi, những cơ số thuốc dự phòng dành cho chiến dịch
chăm sóc sức khoẻ, thăm hỏi các gia đình thương binh liệt sĩ dịp cuối tháng Bảy
này?
Sáu giờ sáng. Sân trường lác đác mấy
Đoàn viên đến sớm, áo xanh mũ tai bèo tề chỉnh, cõng balô bồn chồn đứng chờ ở đầu
xe, bên những thùng đồ bọc giấy trắng và túi cá khô, moi khô khổng lồ của cả
đoàn. Đình buông balô phấn chấn chạy đến bên tôi, cầm tay lắc lắc nói: “Anh
không dám gọi điện nhắc em dậy vì sợ cha mẹ mắng. Anh biết em sẽ đúng giờ. À,
đêm qua ngủ có ngon không?”.
Khi Quyền dậy, chắc chắn Quyền không
biết tôi đã ở bên, giải nốt hộ anh thế cờ tàn, và ngồi lặng lẽ suy nghĩ suốt một
đêm dài.
* * *
Bàn cờ lớn đã dọn, quân Tốt dũng mãnh
sang sông không mảy may suy tính. Cơn lũ sớm thổi băng cây cầu bé xíu vắt ngang
dòng suối. Đình mang quà của Đoàn trường cùng năm sinh viên tình nguyện lên đồn
biên phòng cách bản mười cây số, liên hoan giao lưu từ đêm qua không về kịp. Suốt
đêm mưa núi ầm ầm, nhà chủ tịch xã cũng dột, ướt hết đống sách và tài liệu
tuyên truyền sinh đẻ kế hoạch hoá gia đình của toàn đội gửi ở đó. Bữa cơm sáng
vừa sống vừa sạn, anh em mệt mỏi nhai, mấy cô gái tấm tức về cái nhà tắm hở chiều
qua bị trai địa phương ném đá trêu chọc. Tôi bắt đầu phát cáu, kiên quyết yêu cầu
mọi người khẩn trương thu dọn và phân công lại quân số của ba nhóm. Nhóm ba phụ
trách hậu cần bị điệu bớt một người theo tôi lên gặp bí thư Đoàn xã bàn về cây
cầu qua suối.
Trưa đến, cây cầu xong, đã có thể đi
tạm sang bên kia suối cũng là lúc tay tôi rớm máu, máu khô đi lại tươm ra vì đá
cào. Bí thư Đoàn xã kể toàn chuyện cười. Có người hát, một câu hát dân tộc về một
phiên chợ, người con gái theo ngựa xuống chợ, chờ mãi người bạn tình. Người bạn
tình ở đâu, có quên ta không? Người bạn tình đi đâu để phiên chợ buồn tẻ không
tiếng ngựa hí quen thuộc, màu áo quen thuộc, bát rượu say quen thuộc?
Cây cầu có vẻ vững. Tôi lần tay vịn
đi thử sang bờ kia. Tới giữa suối, Đình bỗng hiện ra sau chỗ ngoặt, vai vác một
bao thịt hộp, lương khô, đồ lưu niệm của các anh lính đồn biên phòng gửi tặng,
môi nở nụ cười rạng rỡ, vẫy tay gọi tôi sung sướng: “Hương ơi!”. Tôi ngẩng lên
nhìn Đình, bàn chân đột nhiên hẫng đi, trượt qua mấy tảng đá trơn nhẵn tôi ngã
soài xuống suối, đầu óc tê điếng chỉ kịp bám vào một thân tre làm chân cầu cắm
giữa lòng suối. Đình buông bao quà nhảy xuống suối, Mấy đoàn viên từ bờ bên này
cũng lao sang đỡ, Đình gỡ tay tôi ra khỏi gốc tre sắc, cùng mọi người dìu tôi về
phía bờ. Tôi không bước nổi nữa, đôi chân bầm giập sưng tím. Nước mắt tôi bắt đầu
trào ra nóng hổi.
Giá tôi nhìn thấu qua được thời gian
và không gian của tuổi đôi mươi, qua nỗi giận hờn, qua những thử thách suốt mùa
chiến dịch, nhìn thấu qua được cả tâm hồn trong veo và giản đơn của Đình. Giá
nhìn thấu được nỗi cô đơn của tôi. Người bạn tình ở đâu. Người con gái xuống chợ.
Chờ mãi…
Đêm lặng lẽ, một vài vì sao hé ra sau
mây núi bị gió thổi bạt. Khí núi âm u. Đoàn sinh viên tình nguyện vừa làm xong
đêm liên hoan chia tay cùng đồng bào Xàn Châu.
Tôi ngồi đầu sàn, ngôi nhà sàn duy nhất
còn sót lại của trưởng bản, nhìn về phía Nam, phía Hà Nội. Đêm tĩnh lặng. Đình
đến bên tôi, nắm lấy đôi tay tôi hà hơi ấm. Anh thân thiết và gần gũi thế. Một
làn hơi ấm thoảng qua tóc tôi như một cái hôn tha thiết. Đình áp bàn tay tôi
lên má, dụi vào những vết xước trong tay tôi và bảo: “Anh đã tranh thủ hôm về
trường lấy sách, bàn với thầy cô trong khoa và trên ban giám hiệu. Em về trường
đi, học thạc sĩ và làm công tác Đoàn với anh”.
Chắc Đình ngạc nhiên lắm khi anh hôn
tôi cái hôn đầu, nhận ra nước mắt tôi đang chan chứa. Niềm tin? Quyền ơi, tôi
không truyền được niềm tin của tôi cho anh, cũng như không truyền được sự sống
của tôi cho anh nữa. Còn chăng là ván cờ tàn trên bàn cờ cũ thấm đẫm nước mắt một
kiếp làm người.
Ngày đưa Quyền, giờ Thân, sau ba giờ
chiều, thầy chùa nhắc đi nhắc lại mãi phải hạ huyệt lúc cuối giờ Thân, không để
qua giờ Dậu mà con ma dữ về quấy, nên chắc nhà Quyền vội vã lắm. Chắc không chần
chừ, không có gì mà chần chừ. Bệnh viện lại gợi ý hoả táng, nên thiêu cho người
sống người chết đều nhẹ nhõm. Đừng làm khổ nhau khi phải tìm người cải táng một
con bệnh AIDS. Thế là kết hợp kim cổ, hoả táng trong một giờ tốt. Âu cũng là một
cuộc đời!
Ngày đưa Quyền đi buổi chiều tôi bận.
Cuối chiều tôi đưa bản báo cáo thành tích mà bí thư Đoàn trường sẽ đọc tối nay
trước quan khách, đã đánh máy sạch sẽ qua văn phòng Đoàn, một nụ hôn phớt qua
tai Đình trong ánh đèn nêông sáng loá: “Cảm ơn anh!”. “Lại trò gì mới hử?”.
“Không, em thành thật! Không có anh, em sẽ hụt hẫng thế nào!”.
Tôi đã thành thật trong từng giây
phút sống, từng giây phút cùng đoàn quân áo xanh vượt suối Gấp, ăn gạo nếp trừ
bữa trên bản Xàn Châu, từng đêm hát với những em thiếu nhi áo phong phanh trong
gió rừng. Tôi đã thành thật với tuổi sinh viên của tôi, tuổi trẻ của tôi, những
năm tháng chúng tôi gắn bó với phong trào. Những giấc mơ đã trôi qua song tôi
không tiếc nuối. Có những giấc mơ không thành sự thật nhưng điều quan trọng là
tôi đã sống thực sự là sống với khao khát cháy bỏng được vươn tới.
Buổi chiều xuống thật nhẹ nhõm trong
thành phố. Những đám mây ửng tím chất đống phương xa, sau những hàng cây xôn
xao dọc đường mới. Tôi chạy xe ra đường mua một bó hoa dành cho Đình đêm nay. Một
chút riêng tư dành cho nhau trong ngày vui chung của bạn bè sinh viên tình nguyện.
Năm giờ rồi, đã qua giờ Dậu, ngã tư đèn đỏ hơi lâu. Có một điều gì đó nhói lên
trong tôi lặng lẽ. Trời xanh quá, mùa thu rộng rãi vô cùng. Một trái bóng bay
màu da cam tuột dây bay lơ lửng trên trời, lãng đãng khuất sau nghìn trùng mây
trắng đang chuyển màu xanh thẳm vô thường.
Bây giờ là khi nào? Nắm tro của Quyền
đang tan ra trong giờ tốt ngày tốt. Một ngày nào đó tôi có thể trở lại giây
phút này không, khi tôi hai mươi ba và tôi đang nức nở khóc giữa ngã tư đông
người qua, nước mắt ròng ròng, cổ họng nghẹn thở và trái tim tan nát, vào lúc
năm giờ hai mươi chiều một ngày rất bình thường?
Trái bóng da cam đã mất hút sau những
từng mây mùa thu xanh thăm thẳm tuyệt vọng. Ai vứt con Tốt qua sông một đời
không đoái hoài? Quyền ơi, tạm biệt! Người đàn ông duy nhất mà tôi yêu!
Trang Hạ
Saturday, May 16, 2026
Tuổi Ngọc Ngà & Chuyện Chúng Mình - Nguyễn Thị Châu
TUỔI NGỌC NGÀ
Nét
bút còn đây tuổi ngọc ngà
Lung
linh tươi đẹp nét kiêu sa
Áo
trắng sân trường vui biết mấy
Tiếng
cười khúc khích, hát tình ca
Cánh
phượng rơi nhiều trên sân cỏ
Báo
hiệu hè về sắp chia tay
Da
diết ta cùng ghi lưu bút
Nhìn
nhau lưu luyến phút giây nầy
Rồi
đây mỗi đứa một phương trời
Nhớ
về kỷ niệm một thời thôi
Lắng
nghe đâu đó ve sầu khóc
Tình
bạn tình yêu nhớ nhung hoài
Áo
trắng ngày xưa đành xếp lại
Trả
về dĩ vãng tuổi mộng mơ
Gặp
ghềnh sỏi đá bên thềm vắng
Giọt
buồn in dấu mối tình thơ
Cánh
Phượng đỏ hồng rơi ngày ấy
Ve
sầu nức nở ở phương xa
Có
nghe tôi nhớ và tôi khóc
Nét
bút còn đây tuổi Ngọc ngà…!!!
13-5-2026
Nguyễn thị Châu
CHUYỆN
CHÚNG MÌNH
Cô
giáo nhỏ xinh của tôi thương
Chờ
em tan lớp trước cổng trường
Phượng
hồng vui hát bay trong gió
Ve
sầu trỗi nhạc nghe vấn vương
Áo
trắng em còn vương bụi phấn
Bước
vào ngõ ấy, trái tim yêu
Em
tôi bé nhỏ tuổi mười tám
Mái
tóc ngang vai thật diễm kiều
Em
tôi cô bé buồn hay khóc
Không
thấy tôi về, hay vắng xa
Cuộc
đời chinh chiến nên ngăn cách
Giây
phút cận kề như nở hoa
“
Ngày ấy đâu rồi anh hởi anh!
Còn
đâu giây phút của ngày xanh
Âm
thầm em khóc trong đêm vắng
Nhớ
lắm ngày xưa chuyện chúng mình”
13-5-2026
Nguyễn
thị Châu
Liễu Chương Đài - Bảo Vũ
Liễu
Chương Đài
"Năm
sau, Hàn Hoành trở về Trường An, tìm lại ngôi nhà ở phố Chương Đài, thì Liễu thị
đã biệt tăm"...
Ông Giả ngừng kể, nhìn vào mặt Sinh mỉm cười. Đôi mắt lấp lánh láu lỉnh tinh
nghịch, không có vẻ là một ông giáo già về hưu. Và Sinh thấy hơi rượu phả ra từ
miệng ông Giả có mùi thơm dịu ngọt, rất lạ. Có lần Sinh hỏi vì sao uống thứ rượu
tiểu thủ công rẻ tiền, được chế biến theo cách cẩu thả và ăn gian nguyên liệu
mà ông lại thở ra hương thơm như vậy. Ông Giả cười không nói gì. Sau, Sinh mới
biết nhiều người khác uống rượu với ông Giả cũng đã hỏi như vậy. "Mình
cũng không hiểu sao lại thế. Có lẽ cơ thể mình có cấu tạo giống con chồn hương,
chỉ ăn uống những thứ bình thường nhưng lại thải ra chất thơm có nồng độ đậm đặc
hơn cả nước hoa Cologne của Pháp". Sinh kết luận: "Bố là "Hàm
hương nhân"; là một kỳ nhân, trong người có trữ chất thơm. Uống rượu với bố
rất kinh tế. Chỉ cần uống rượu rẻ tiền mà vẫn được hưởng mùi quý". Họ cùng
cười.
Hôm đầu tiên được Sinh đãi rượu, ông Giả ngậm ngụm rượu nhăn mặt như muốn nhổ
ra; rồi lại cố nuốt ực, có lẽ ông sợ Sinh phật lòng.
- Chắc bố sành rượu lắm. Xin lỗi bố vì ngân sách vợ cấp không cho phép con đãi
bố rượu khá hơn.
- Lỗi gì đâu. - Ông Giả cười. - Nhưng đúng là "nước đái quỷ". Nấu rượu
tồi là phạm trọng tội với quỷ thần. Rượu là chất nước thiêng mà con người không
thể tự chế ra nếu không được thần linh mách bảo. Mà thần linh đâu có dạy nấu thứ
rượu này.
Sinh nhớ đến lời kêu ca của Thục, vợ anh? Cái lão giáo hữu vô tích sự ấy có bùa
bả gì mà cứ ngơi ra là lại tìm đến; có đồng kẽm nào cũng dốc ra hầu rượu lão.
Sinh cố nhịn không vặc lại vợ. Anh nuốt khan cho trôi cái cục vô danh trong họng
như ông Giả nuốt cái thứ "nước đái quỷ".
Ông Giả cũng biết nỗi khổ của Sinh. Có lần thấy Sinh bộ dạng thiểu não, mặt
nhăn nhó như bị đau răng, ông nói bâng quơ: "Cho nên tôi mới một mình một
thân như thế này". Khi lĩnh lương hưu, ông Giả đãi lại Sinh. Chỉ là vài
chén rượu tồi với mấy củ lạc; khá hơn là mỗi người hai cái chân gà công nghiệp.
Hôm nay, lúc ngồi uống với nhau, ông chợt hỏi Sinh:
- Cậu giảng Kiều, có bao giờ tán cái tích "Liễu Chương Đài" không?
- Sách đã chú rõ. Con thấy không cần nói thêm. Mà tích ấy cũng đơn giản.
- Đơn giản à? - Ông Giả ngạc nhiên.
Sinh im lặng không biết trả lời sao. Thì vợ chồng xa nhau, nhớ nhung tí chút, rồi
lại đoàn tụ. Chứ có gì đặc biệt. Sinh nghĩ thế, và hỏi ông Giả:
- Chắc trước kia bố giảng cái tích ấy hay lắm?
- Một lần có các thầy dạy văn cùng mấy vị trên Sở Giáo dục xuống dự giảng. Hôm ấy,
bình về đoạn "Kim - Kiều tái hợp", chợt nhớ lại cái tích được nghe từ
hồi thiếu niên, tôi cao hứng giảng cương ngoài giáo án. Bọn trẻ vỗ tay ầm ầm.
Còn các quan Sở và các thầy phê là lan man vớ vẩn.
- Bố thử cho con mở rộng tầm mắt một phen. - Sinh hỏi như thách đố.
Thật ra, tôi chỉ bình phẩm theo câu chuyện bố tôi kể lại. Chuyện có vẻ tam sao
thất bản. Một ông đồ bạn của ông nội tôi kể cho bố tôi nghe trong một cơn say
vào đêm ba mươi Tết. Ông đồ này hỏng thi mấy bận, bất đắc chí; thường đem những
câu chuyện linh tinh trong sách cũ ra kể làm quà, kiếm chén rượu.
Sau cơn đại loạn ở kinh thành, Hàn Hoành mới xong việc nhà. Chàng trở lại Trường
An, tìm về ngôi nhà cũ của mình ở phố Chương Đài. Ngôi nhà nhỏ hoang tàn. Liễu
thị thì biệt tăm. Chẳng ai biết vợ chàng đi đâu. Hỏi dò hỏi khắp nơi. Lão
Trương bán hàng cơm bảo có lần nhìn thấy Liễu thị ăn mặc sang trọng ngồi trên
xe song mã bên một vị đại quan trông phương phi quyền uy lắm. Mụ Lý béo bán đậu
phụ rong thì thấy nàng ngồi trên ngựa bạch yên cương nạm bạc, châu báu lụa là
phủ kín từ đầu đến chân, song đôi với một võ quan cưỡi ngựa ô, giáp trụ sáng
choang, oai phong lẫm liệt. Mụ bình phẩm, ra vẻ triết lý:
- Người đẹp đổ quán xiêu đình thế thì trước sau cũng phải vào nơi "lầu
xanh gác tía" thôi; chứ như anh thật làm sao giữ được .
Hàn Hoành không để ý câu nói như có ý miệt thị chàng; cũng không chấp mụ Lý đã
nhầm lẫn "lầu son gác tía" với "lầu xanh gác tía". Vì, dù
có biết Liễu thị từng là kỹ nữ, mụ Lý cũng chẳng đủ trí tuệ mà chơi chữ như vậy.
Và Hàn cũng không chấp cái chuyện mụ cũng như lão Trương và đám dân phố không
còn gọi chàng là "Hàn công tử", "Hàn tiên sinh" như trước;
mà chỉ gọi trống không là "Hàn Hoành", hay là "anh Hàn".
Nhưng Hàn buồn lắm. Chàng ngồi bên bờ đầm Lam Thủy cuối phố Chương Đài lặng ngắm
cây liễu. Đang độ xuân, lá liễu tốt xanh mướt chảy dài như dòng suối xanh.
Chàng nhớ ngày trước có một cành liễu vươn ra mặt hồ, rủ sát mặt nước. Khi tiễn
Hàn Hoành về quê, Liễu thị bảo cành liễu đó cũng như cánh tay nàng luôn vẫy
theo chàng. Bây giờ cành liễu ấy chỉ còn một mẩu khô trụi chìa ra như chiếc
đuôi cụt, rất tức mắt. Chẳng biết kẻ nào đã cất công lội xuống nước bẻ cành liễu
ấy. Mấy con vịt bơi qua làm mặt nước sóng sánh bóng cành cây cụt dưới nước lay
động, trông tội nghiệp như cánh tay tàn phế cố vẫy ai trên con thuyền ngoài xa
kia. Hàn nhớ tới bài thơ chàng làm ở quê nhà trong một lần thương nhớ Liễu thị
da diết:
Chương Đài liễu! Chương Đài liễu!
Tích nhật thanh thanh kim tại phủ
Túng sử trường điều tự cựu thùy
Giã ung phan chiết tha nhân thủ?
(Dịch thoát: Chương Đài liễu trước xanh xanh. Còn nguyên hay đã bẻ cành cho
ai?)
Lúc ấy Hàn định bụng khi về Trường An sẽ đọc bài thơ lên để chọc giận Liễu thị,
để rồi họ sẽ làm lành với nhau theo cái cách rất hiệu nghiệm của những cặp vợ
chồng trẻ.
Bây giờ liễu xanh còn đấy, mà nàng ở tận chân trời góc biển nào.
Ngày ngày Hàn Hoành đi lang thang dọc phố Chương Đài, ngâm mãi bài thơ cho đến
khi ứa nước mắt, cổ họng nghẹn lại mới thôi. Trẻ con bám theo Hàn đông như đàn
vịt, reo cười, xô đẩy nhau kêu la náo động cả phố. Lão Trương hàng cơm lần nào
thấy Hàn đi qua cũng gọi vào quán bảo ngâm "Liễu Chương Đài". Lão gật
gù nghe rồi thưởng cho Hàn một chung rượu. Có lần cao hứng, lão đem đến bàn của
Hàn một đĩa đậu đũa xào. Lão Trương thuộc lòng bài thơ, vừa chặt thịt vừa ê a
hát "Liễu Chương Đài" theo một giai điệu dã ca vùng quê Phúc Kiến của
lão, đệm thêm những tiếng "Hầy a!..." của những người đang ì ạch nặng
nhọc đẩy xe lên dốc hay kéo gỗ, chống thuyền:
Ngày trước xanh xanh
Hầy a!
Liễu Chương Đài
Ngày trước xanh xanh,
Hầy à!
Hỏi có còn không
Hầy, liễu Chương Đài?
Mụ Lý béo quẩy gánh đậu phụ bán rong, gặp Hàn, mụ lấy một bìa đậu đưa cho
chàng:
- Hàn Hoành. Hát cái bài có cây liễu ở phố Chương Đài này đi.
Hàn không một xu dính túi và đã nhịn đói mấy ngày. Chàng cười ngượng, cầm bìa đậu
rồi hát "Liễu Chương Đài" theo điệu dã ca Phúc Kiến của lão Trương.
Nước mắt chàng chảy ròng ròng. Miếng đậu trên tay chàng chảy nước ròng ròng. Mụ
Lý cũng nước mắt đầm đìa, bảo ngày trước mụ xinh đẹp nhất xứ Giang Nam, nhưng bị
gã công tử nhà giàu họ Mã bội tình, mụ chán đời chẳng thiết chăm sóc dung nhan
nên mới ra thế này. Bây giờ nghe bài "Liễu Chương Đài", mụ cám cảnh
mình mà không cầm được nước mắt. Hàn ngắm cặp má bánh đúc và cái mũi tẹt, cố
hình dung ra nhan sắc của mụ ngày trước. Mụ Lý ngượng:
- Béo quá hả? Dương Quý Phi còn béo hơn tôi nhiều.
Người đẹp Dương Quý Phi quả là có đẫy đà thật. Nhưng vua Đường Huyền Tôn lại
thích những cô gái mũm mĩm, và Dương Quý Phi biết cách đưa nhà vua lên tận cung
Quảng Hàn, trên trời.
Hàn Hoành trả lại bìa đậu cho mụ Lý, bảo, giá có cái màn thầu ăn thì tốt hơn.
Hai ngày nay chàng không một chút ngọc thực trong bụng. Mụ Lý ái ngại đưa cho
Hàn một đồng xu. Rồi mụ kéo tạp dề lau mắt, quẩy gánh đậu phụ đi, miệng rao
lanh lảnh, tươi tỉnh sảng khoái như trước đó mụ chưa từng khóc cho thân phận
mình:
Đậu phụ Chương Đài đây,
Ơ - Ơ - ơi!
Liễu Chương Đài!
Ngày trước xanh xanh,
Ơ-ơi! Đậu phụ Chương Đài!
Hàn Hoành vào quán lão Trương, đặt một xu lên bàn cho lão yên tâm rồi gọi một
thố cơm nóng. Lão Trương cười hỏi:
- ăn cơm với gì?
Hàn tặc lưỡi:
- Chan cơm với nước cháo hoa. Nhưng nếu phải tính tiền nước cháo hoa thì thôi vậy.
Chỉ xin ít tương.
- Tôi đãi đĩa ca la thầu. Ăn xong, cho nghe bài "Liễu Chương Đài".
- Thế thì xin thêm bát rượu. Loại rượu nhạt cũng được .
Vậy là một trong những thi phẩm tuyệt tác đời Đường có giá là một bát rượu hạng
bét với đĩa củ cải muối sau cuộc thương lượng về nhuận bút giữa tác giả với nhà
xuất bản. Ăn xong, Hàn ngâm "Liễu Chương Đài", giọng nghẹn vì phải nuốt
thố cơm không có canh rau, mà rượu thì đắng. Trong quán có những thương gia, những
khách giang hồ mệt mỏi, áo khăn nhàu nát bụi bặm. Họ lặng nghe Hàn ngâm
"Liễu Chương Đài". Có người thở dài. Có người đưa ống tay áo chấm mắt.
Biết bao nhiêu Liễu thị đang chờ trên khắp đất Trung Nguyên này.
Hàn Hoành lang thang trên phố Chương Đài. Bọn trẻ bám theo chàng reo cười ầm ỹ,
như đi theo một người điên. Chúng vừa đi vừa chìa tay vào các hàng quán xin hộ
Hàn những thức ăn. Quần áo chàng rách tươm. Lão Trương thương tình bảo Hàn đến
quán cơm pha trà, ngâm nga thơ phú mua vui cho khách, lão sẽ nuôi ăn. Bài hát
"Liễu Chương Đài" được những khách thương ghé qua quán lão Trương
nghe rồi truyền khẩu đi xa mãi.
Một buổi tối, Hàn Hoành đang đói meo nằm nhớ vợ trong ngôi nhà lạnh lẽo thì Liễu
thị đột ngột trở về trên cỗ xe ngựa sơn son thếp vàng, như một mệnh phụ phu
nhân. Hàn Hoành hoa mắt, ngỡ đang nằm mơ.
- Sách nói Liễu thị được Hàn Hoành đem vàng chuộc về từ tay tướng giặc cơ mà, bố?
- Sinh cười hói, như cách lật tẩy một chuyện khoác lác.
- Sách sai - Ông Giả tỏ vẻ khó chịu - Hàn Hoành là một hàn sĩ lại vừa về quê lo
đại tang, làm gì có vàng. Chính là vì bài thơ "Liễu Chương Đài" đã được
truyền tụng đến nơi đóng quân của tướng giặc Sầm Dự, kẻ đã bắt Liễu thị về làm
thiếp.
Liễu thị khóc lóc van xin được tha về với chồng: Sầm Dự cũng là kẻ có tình nên
động lòng, cho Liễu thị được toại ý.
Sinh nhớ cái đêm Thục rời bỏ Nghĩa trở lại với mình.
Anh đứng ngoài hiên nhà Nghĩa phấp phỏng chờ. Sinh bị ướt sũng khi đội mưa đến
đây. Anh đứng run cầm cập, nghe rõ tiếng trong nhà đang thu dọn gì đó.
- Thục đem cái màn đôi đi. Tôi vẫn còn cái màn cá nhân - Tiếng Nghĩa.
- Biết làm sao bây giờ, hả trời? Sao chưa đích xác mà họ đã báo tử, để bây giờ
ra nông nỗi này - Thục như kêu lên.
- Ngày xưa thì bảo tại trời. Bây giờ thì chẳng biết tại ai. Thôi thì Thục cứ về
với người ta. May mà chúng mình chưa có con, đỡ phiền toái. Giấy hủy bỏ hôn ước
tôi làm xong rồi đây. Thục cầm lấy.
- Anh... Để rồi em nói với anh Sinh.
- Anh sẽ là anh cả của chúng em. Thỉnh thoảng anh sang chơi.
- Thế sao tiện. Thục đừng bận tâm về tôi nữa. Rồi tôi sẽ đi khỏi đây. Tôi đã đổi
nhà cho chú Quýnh ngoài bãi rồi. Mà chưa biết chừng tôi sẽ lên chỗ bà cô ở Thái
Nguyên. Thục cố quên chuyện cũ đi.
- Sao anh phải khổ thế? Anh làm thế chúng em có tội... - Thục khóc.
- Thôi Thục về đi. Tôi không thể đưa tiễn được.
Cánh cửa hé mở. Thục đầu trần khoác túi vải, ào ra ngoài trời mưa, như trốn chạy.
Sinh đuổi theo đến đường cái, giữ Thục lại, ôm xiết lấy cô. Anh đã tìm lại được
Thục của anh, không phải Thục trong những giấc mơ giữa rừng lạnh, dưới những trận
bom rải thảm; với cảm giác của một người đói đến phát sốt trong cơn ngủ mê ăn
ngấu nghiến những thức ngon nhưng vô vị như nhai giấy; mà là Thục với thân hình
ấm mềm ngày trước. Nhưng Thục gỡ tay anh, thở hổn hển: "Giữa đường, người
ta thấy, dơ lắm". Rồi cô xách cái túi chạy lên trước.
Thế là Thục đã dứt được Nghĩa một cách êm thấm để lại là của riêng anh. Hai hôm
sau, Sinh làm bữa cơm để họ hàng mừng anh sống lại, trở về với vợ. Sinh hớn hở
còn hơn cả trong bữa tiệc cưới Thục ngày xưa. Sinh cũng không để ý chuyện Thục
mắt đỏ hoe vì khói, cặm cụi dưới bếp nấu nướng, ít khi lên nhà trên.
Đúng hôm vợ chồng Sinh ăn mừng, Nghĩa đổi nhà cho ông chú, chuyển ra ngoài bãi
sông. Rồi sau, Nghĩa bỏ luôn cả nghề thợ mộc, mua cái bè nuôi cá lồng, lênh
đênh mãi tận mạn thượng nguồn sông Lãng.
- Thế rồi cái tay Hàn Hoành ấy sống bên Liễu thị sung sướng đến trọn đời? -
Sinh cười. Chuyện nhạt thế mà bố cũng tán được thì tài thật.
- Cậu ở trong nghề mà nói thế. Ăn thua nhau là ở cái kết. - Ông giáo Kiên nhẫn
tiến tới đoạn cuối câu chuyện. - Họ gặp lại nhau như tìm lại được báu vật bị thất
lạc. Hàn Hoành như được hưởng lại tuần trăng mật ngày trước. Liễu thị đem về một
số vàng lớn của Sầm Dư tặng cùng cỗ xe ngựa lộng lẫy mà các vị quan lớn cũng phải
thèm muốn.
Hàn Hoành đổi đời. Hàn béo đỏ ra, khăn áo gấm vóc lụa là xênh xang, bóng láng;
ngày ngày cưỡi con ngựa trắng rong chơi những nơi non xanh nước biếc tìm tứ
thơ. Phố Chương Đài vắng lặng vì không còn chàng hàn sĩ bất hạnh lang thang để
hàng đàn trẻ con đi theo reo cười.
Nhưng rồi Hàn thi sĩ nhận thấy mình không thể làm thơ được nữa. Đúng ra, chàng
làm thơ không còn hay như trước. Vì không còn nỗi thương nhớ khắc khoải; không
có sự hoài niệm về một quá khứ đẹp đẽ nào, không có khát vọng gì khác ngoài ham
muốn được nổi tiếng vì thơ phú. Mà để làm được thơ hay thì không thế chỉ bằng
khát vọng nổi tiếng. Và cái chính là Hàn không còn rách rưới đói khổ nữa. Người
ta cúi mình trước đầu con ngựa trắng yên cương nạm bạc của chàng, kính cẩn
chào: "Xin vấn an Hàn công tử", "Dạ, Hàn tiên sinh du ngoạn".
Người ta không còn gọi chàng là "Hàn Hoành" trống không nữa. Và người
ta cũng dần quên bài thơ "Liễu Chương Đài".
Liễu thị có vốn, đóng thuyền đi buôn tơ lụa. Nhà Hàn Hoành lại càng giàu. Chồng
tài họa thơ văn, vợ xinh đẹp thương hồ hái ra bạc.
Nhưng có một con rắn độc đêm đêm lẻn vào giường ngủ của hai vợ chồng. Đó là cái
bóng đen của tướng giặc Sầm Dự.
Một đêm, Hàn Hoành hỏi Liễu thị, giọng như cái ngõng cứa gỗ tứ thiết lâu ngày
không tra dầu lạc:
- Cái thằng giặc võ biền hung đồ ấy đã ăn nằm với cô như thế nào, mà bây giờ cứ
thở ngắn than dài?
- Ông ta chẳng làm gì tôi cả. Tôi chỉ đàn hát cho ông ấy nghe. Thê thiếp của
ông ấy hàng đàn, người nào cũng mặt hoa da phấn, đẹp bằng mấy tôi. - Liễu thị
khó chịu vì phải nghe câu hỏi này nhiều đêm rồi.
- Hắn bắt cô về để làm tượng thờ à? Nói khó nghe lắm.
- Thì cố mà nghe. Nói khó nghe, nhưng từ khi tôi trở về thì anh không còn phải
xin đậu phụ của mụ Lý béo, không phải hầu trà kiếm ăn ở quán lão Trương.
Hàn Hoành đấm xuống đệm giường đánh "ầm" như tiếng trống:
- Sao hay đi đến mạn Hàng Châu là nơi có doanh trại của thằng giặc ấy?
- Buôn tơ lụa mà không đến Hàng Châu, Tô Châu, Tứ Xuyên thì đến Sơn Đông mãi võ
chắc? Nói khó nghe như thế thì để yên cho người ta ngủ, sáng mai còn phải xuống
thuyền sớm cho kịp con nước.
Liễu thị quay mặt vào tường, ngáp dài. Nghĩa là nàng đã treo "Miễn chiến
bài". Hàn Hoành đành nuốt giận, nghiến răng, mở mắt trừng trừng trong bóng
đêm. Chàng hình dung ra cái cảnh Sầm Dự ân ái với vợ mình. Chàng đấm xuống giường
lần nữa, nhưng lần này đấm trúng phải cạnh giường, nắm tay thư sinh của chàng
như bẹp nát, những ngón tay muốn gẫy vụn.
- Cô còn thương nhớ hắn ta à? - Sinh hỏi Thục.
- Tôi không phải là khúc gỗ. - Một lúc sau, Thục nói trong tiếng thở dài buồn bực
chán ngán.
- Thế mà nằm bên tôi, cô lại là một khúc gỗ lim đấy. Không, còn hơn thế nữa
kia. Là một cây nước đá, cây nước đá! Hiểu chưa? - Sinh rít lên.
- Ngoa ngoắt, chấp nhặt dai dẳng quá đàn bà.
- Phải, tôi là đàn bà. Hắn là đàn ông.
- Còn cô là thứ gì, hả?!
Những đồ dễ vỡ trong nhà bị cả hai người đập tan tành.
Những đêm bi kịch.
Không thể mãi như thế này được. ở làng Nghĩa là ở gần con sông Lãng mà nơi thượng
nguồn của nó có cái bè cá lồng của Nghĩa; là không thể quên được chuyện cũ.
Sinh chạy chọt mãi rồi cũng xin được một chân dạy ở một trường cấp hai ven thị
xã. Họ bán rẻ nhà cửa vườn đất chuyển đến nơi ở mới. Thục học nghề may, kiếm được
khá tiền, còn hơn cả lương của giáo Sinh. Cô ta ý thức được vị thế của mình
trong nhà. Cô coi thường Sinh. Không phải là "khinh mười lăm phút" mà
là khinh mãi mãi. Vì chuyện tiền nong, vì chuyện cũ. Vì cả một điều tế nhị quan
trọng nữa. Vết thương ở cột sống không làm cho Sinh chết như đồng đội tưởng,
nhưng lại làm anh chỉ còn là một nửa người đàn ông.
Sinh thấy bồn chồn vì một điều gì đó. Không thể nghe nốt câu chuyện của ông Giả,
anh làm bộ xem đồng hồ rồi giật mình kêu lên:
- Chết rồi, mải chuyện quên khuấy cái hẹn quan trọng. Mai bố cho con nghe nốt vậy.
Đêm cuối năm, mưa lạnh. Sinh dở say dở tỉnh về gian nhà tập thể giáo viên.
Trong nhà có điện sáng nhưng im ắng khác thường. Ngăn tủ quần áo của Thục trống
không. Bà tạp vụ nhà trường là bạn thân của Thục ở gian bên cạnh đang đứng
ngoài hiên có ý chờ Sinh về. Bà rụt rè khép nép như sợ hãi, sang đưa cho Sinh
phong thư rồi về ngay. Thư của Thục. Sinh vứt phong thư lên bàn. Anh biết trong
thư viết gì rồi.
Ra đến cửa, bà tạp vụ còn ngoái lại. "à, cô ấy nấu sẵn cơm dưới bếp cho
anh đấy". Sự săn sóc cuối cùng của Liễu thị, để cho Hàn Hoành lại nhớ
thương khắc khoải mà làm thơ.
Sinh hình dung ra cái bè nuôi cá lồng dập dềnh trên mặt nước thượng nguồn sông
Lãng, trong đêm mưa lạnh. Thục sẽ chẳng có được hạnh phúc như cô ấy tưởng. Thục
sẽ lại ân hận và nhớ thương Sinh. Nỗi đau khổ chỉ biến từ dạng này sang dạng
khác. Sinh khẽ cười buồn vì cái định luật bảo toàn nỗi buồn mà anh vừa nghĩ ra.
Cái tay Hàn Hoành ấy cũng chẳng sung sướng gì hơn mình. Thà rằng trước kia Liễu
thị đừng trở về - Sinh lại nghĩ - Những điển cố, những chuyện ngụ ngôn và những
giáo điều, chỉ chăm chú vào mục đích giải trình cho được một ý tưởng nào đấy,
mà chẳng mấy khi để tâm tới những khổ đau bất hạnh riêng của mỗi con người. Con
tàu cứ sầm sập băng đi, không bận tâm đến thân phận của những bụi cỏ hoang rối
bời, khóm hoa dại li ti và đám mạng nhện mỏng manh trĩu nặng sương sớm chờm
trên đường ray, dưới những bánh xe thép của nó.
Lần này Liễu thị đi Hàng Châu đã không quay về. ở đấy có doanh trại của viên tướng
giặc Sầm Dự hào hoa không chỉ biết múa đao mà còn biết thưởng thức đàn ca.
Hàn Hoành bán sạch tài sản của vợ để lại, lăn lóc trong các ca lâu tửu điếm.
Chàng làm những bài thơ thương nhớ Liễu thị trong những cơn say. Người đàn bà tầm
thường từng là kỹ nữ ấy nhờ thơ của Hàn Hoành mà thành nổi tiếng. Cũng không biết
có phải vợ của Hàn mang họ Liễu không, hay là chỉ vì trong thơ có cây liễu gãy ấy
mà người ta gán cho thị họ Liễu?
Hàn lại là một hàn sĩ. Nhưng thơ Hàn Hoành lừng lẫy thiên hạ. Những bài thơ của
chàng vạch ứa máu những thân cây, khắc sâu vào gan đá, viết chi chít trên những
mảnh tường rêu phong nơi miếu hoang, cổ tự.
Người ta lại thấy Hàn Hoành lang thang trên phố Chương Đài, trong bộ cánh rách
tướp của một gã khất thực. Và cũng vẫn như trước, bọn trẻ bám theo chàng reo cười
ầm phố như đi theo một người điên, vừa đi vừa chìa tay vào các hàng quán xin hộ
Hàn những thực phẩm. Mụ Lý béo bán đậu phụ lại thỉnh thoảng đãi chàng một vảy bạc
vụn, đề nghị bài hát về cây liễu xanh xanh bên bờ đầm Lam Thủy.
Lão Trương lại gọi Hàn đến quán cơm nuôi ăn để tiếp rượu, pha trà, ngâm thơ mua
vui cho khách. Những khách thương mệt mỏi bụi bặm ghé qua quán lại vừa uống ruợu
nghe "Liễu Chương Đài", vừa thở dài chấm nước mắt. Lão Trương lại cao
hứng vừa chặt thịt, vừa hát bài thơ đệm thêm những tiếng: "Hầy -
a!..." theo một điệu dã ca vùng quê Phúc Kiến của lão:
Ngày trước xanh xanh,
Hầy a! Liễu Chương Đài!
Ngày trước xanh xanh,
Hầy à!
Hỏi có còn không
Hầy, liễu Chương Đài?...
Bão Vũ
Viết xong tại
Vũ Trang
Ngày Lập đông - Canh Thìn.



