Saturday, May 16, 2026

Tuổi Ngọc Ngà & Chuyện Chúng Mình - Nguyễn Thị Châu

 TUỔI NGỌC NGÀ














Nét bút còn đây tuổi ngọc ngà

Lung linh tươi đẹp nét kiêu sa

Áo trắng sân trường vui biết mấy

Tiếng cười khúc khích, hát tình ca

 

Cánh phượng rơi nhiều trên sân cỏ

Báo hiệu hè về sắp chia tay

Da diết ta cùng ghi lưu bút

Nhìn nhau lưu luyến phút giây nầy

 

Rồi đây mỗi đứa một phương trời

Nhớ về kỷ niệm một thời thôi

Lắng nghe đâu đó ve sầu khóc

Tình bạn tình yêu nhớ nhung hoài

 

Áo trắng ngày xưa đành xếp lại

Trả về dĩ vãng tuổi mộng mơ

Gặp ghềnh sỏi đá bên thềm vắng

Giọt buồn in dấu mối tình thơ

 

Cánh Phượng đỏ hồng rơi ngày ấy

Ve sầu nức nở ở phương xa

Có nghe tôi nhớ và tôi khóc

Nét bút còn đây tuổi Ngọc ngà…!!!

 

13-5-2026

Nguyễn thị Châu

 

 

CHUYỆN CHÚNG MÌNH















Cô giáo nhỏ xinh của tôi thương

Chờ em tan lớp trước cổng trường

Phượng hồng  vui hát bay trong gió

Ve sầu trỗi nhạc nghe vấn vương

 

Áo trắng em còn vương bụi phấn

Bước vào ngõ ấy, trái tim yêu

Em tôi bé nhỏ tuổi mười tám

Mái tóc ngang vai thật diễm kiều

 

Em tôi cô bé buồn hay khóc

Không thấy tôi về, hay vắng xa

Cuộc đời chinh chiến nên ngăn cách

Giây phút cận kề như nở hoa

 

“ Ngày ấy đâu rồi anh hởi anh!

Còn đâu giây phút của ngày xanh

Âm thầm em khóc trong đêm vắng

Nhớ lắm ngày xưa chuyện chúng mình”

13-5-2026

Nguyễn thị Châu

Liễu Chương Đài - Bảo Vũ

 

Liễu Chương Đài




"Năm sau, Hàn Hoành trở về Trường An, tìm lại ngôi nhà ở phố Chương Đài, thì Liễu thị đã biệt tăm"...

Ông Giả ngừng kể, nhìn vào mặt Sinh mỉm cười. Đôi mắt lấp lánh láu lỉnh tinh nghịch, không có vẻ là một ông giáo già về hưu. Và Sinh thấy hơi rượu phả ra từ miệng ông Giả có mùi thơm dịu ngọt, rất lạ. Có lần Sinh hỏi vì sao uống thứ rượu tiểu thủ công rẻ tiền, được chế biến theo cách cẩu thả và ăn gian nguyên liệu mà ông lại thở ra hương thơm như vậy. Ông Giả cười không nói gì. Sau, Sinh mới biết nhiều người khác uống rượu với ông Giả cũng đã hỏi như vậy. "Mình cũng không hiểu sao lại thế. Có lẽ cơ thể mình có cấu tạo giống con chồn hương, chỉ ăn uống những thứ bình thường nhưng lại thải ra chất thơm có nồng độ đậm đặc hơn cả nước hoa Cologne của Pháp". Sinh kết luận: "Bố là "Hàm hương nhân"; là một kỳ nhân, trong người có trữ chất thơm. Uống rượu với bố rất kinh tế. Chỉ cần uống rượu rẻ tiền mà vẫn được hưởng mùi quý". Họ cùng cười.

Hôm đầu tiên được Sinh đãi rượu, ông Giả ngậm ngụm rượu nhăn mặt như muốn nhổ ra; rồi lại cố nuốt ực, có lẽ ông sợ Sinh phật lòng.

- Chắc bố sành rượu lắm. Xin lỗi bố vì ngân sách vợ cấp không cho phép con đãi bố rượu khá hơn.

- Lỗi gì đâu. - Ông Giả cười. - Nhưng đúng là "nước đái quỷ". Nấu rượu tồi là phạm trọng tội với quỷ thần. Rượu là chất nước thiêng mà con người không thể tự chế ra nếu không được thần linh mách bảo. Mà thần linh đâu có dạy nấu thứ rượu này.

Sinh nhớ đến lời kêu ca của Thục, vợ anh? Cái lão giáo hữu vô tích sự ấy có bùa bả gì mà cứ ngơi ra là lại tìm đến; có đồng kẽm nào cũng dốc ra hầu rượu lão. Sinh cố nhịn không vặc lại vợ. Anh nuốt khan cho trôi cái cục vô danh trong họng như ông Giả nuốt cái thứ "nước đái quỷ".

Ông Giả cũng biết nỗi khổ của Sinh. Có lần thấy Sinh bộ dạng thiểu não, mặt nhăn nhó như bị đau răng, ông nói bâng quơ: "Cho nên tôi mới một mình một thân như thế này". Khi lĩnh lương hưu, ông Giả đãi lại Sinh. Chỉ là vài chén rượu tồi với mấy củ lạc; khá hơn là mỗi người hai cái chân gà công nghiệp.

Hôm nay, lúc ngồi uống với nhau, ông chợt hỏi Sinh:

- Cậu giảng Kiều, có bao giờ tán cái tích "Liễu Chương Đài" không?

- Sách đã chú rõ. Con thấy không cần nói thêm. Mà tích ấy cũng đơn giản.

- Đơn giản à? - Ông Giả ngạc nhiên.

Sinh im lặng không biết trả lời sao. Thì vợ chồng xa nhau, nhớ nhung tí chút, rồi lại đoàn tụ. Chứ có gì đặc biệt. Sinh nghĩ thế, và hỏi ông Giả:

- Chắc trước kia bố giảng cái tích ấy hay lắm?

- Một lần có các thầy dạy văn cùng mấy vị trên Sở Giáo dục xuống dự giảng. Hôm ấy, bình về đoạn "Kim - Kiều tái hợp", chợt nhớ lại cái tích được nghe từ hồi thiếu niên, tôi cao hứng giảng cương ngoài giáo án. Bọn trẻ vỗ tay ầm ầm. Còn các quan Sở và các thầy phê là lan man vớ vẩn.

- Bố thử cho con mở rộng tầm mắt một phen. - Sinh hỏi như thách đố.

Thật ra, tôi chỉ bình phẩm theo câu chuyện bố tôi kể lại. Chuyện có vẻ tam sao thất bản. Một ông đồ bạn của ông nội tôi kể cho bố tôi nghe trong một cơn say vào đêm ba mươi Tết. Ông đồ này hỏng thi mấy bận, bất đắc chí; thường đem những câu chuyện linh tinh trong sách cũ ra kể làm quà, kiếm chén rượu.

Sau cơn đại loạn ở kinh thành, Hàn Hoành mới xong việc nhà. Chàng trở lại Trường An, tìm về ngôi nhà cũ của mình ở phố Chương Đài. Ngôi nhà nhỏ hoang tàn. Liễu thị thì biệt tăm. Chẳng ai biết vợ chàng đi đâu. Hỏi dò hỏi khắp nơi. Lão Trương bán hàng cơm bảo có lần nhìn thấy Liễu thị ăn mặc sang trọng ngồi trên xe song mã bên một vị đại quan trông phương phi quyền uy lắm. Mụ Lý béo bán đậu phụ rong thì thấy nàng ngồi trên ngựa bạch yên cương nạm bạc, châu báu lụa là phủ kín từ đầu đến chân, song đôi với một võ quan cưỡi ngựa ô, giáp trụ sáng choang, oai phong lẫm liệt. Mụ bình phẩm, ra vẻ triết lý:

- Người đẹp đổ quán xiêu đình thế thì trước sau cũng phải vào nơi "lầu xanh gác tía" thôi; chứ như anh thật làm sao giữ được .

Hàn Hoành không để ý câu nói như có ý miệt thị chàng; cũng không chấp mụ Lý đã nhầm lẫn "lầu son gác tía" với "lầu xanh gác tía". Vì, dù có biết Liễu thị từng là kỹ nữ, mụ Lý cũng chẳng đủ trí tuệ mà chơi chữ như vậy. Và Hàn cũng không chấp cái chuyện mụ cũng như lão Trương và đám dân phố không còn gọi chàng là "Hàn công tử", "Hàn tiên sinh" như trước; mà chỉ gọi trống không là "Hàn Hoành", hay là "anh Hàn".

Nhưng Hàn buồn lắm. Chàng ngồi bên bờ đầm Lam Thủy cuối phố Chương Đài lặng ngắm cây liễu. Đang độ xuân, lá liễu tốt xanh mướt chảy dài như dòng suối xanh. Chàng nhớ ngày trước có một cành liễu vươn ra mặt hồ, rủ sát mặt nước. Khi tiễn Hàn Hoành về quê, Liễu thị bảo cành liễu đó cũng như cánh tay nàng luôn vẫy theo chàng. Bây giờ cành liễu ấy chỉ còn một mẩu khô trụi chìa ra như chiếc đuôi cụt, rất tức mắt. Chẳng biết kẻ nào đã cất công lội xuống nước bẻ cành liễu ấy. Mấy con vịt bơi qua làm mặt nước sóng sánh bóng cành cây cụt dưới nước lay động, trông tội nghiệp như cánh tay tàn phế cố vẫy ai trên con thuyền ngoài xa kia. Hàn nhớ tới bài thơ chàng làm ở quê nhà trong một lần thương nhớ Liễu thị da diết:

Chương Đài liễu! Chương Đài liễu!
Tích nhật thanh thanh kim tại phủ
Túng sử trường điều tự cựu thùy
Giã ung phan chiết tha nhân thủ?

(Dịch thoát: Chương Đài liễu trước xanh xanh. Còn nguyên hay đã bẻ cành cho ai?)

Lúc ấy Hàn định bụng khi về Trường An sẽ đọc bài thơ lên để chọc giận Liễu thị, để rồi họ sẽ làm lành với nhau theo cái cách rất hiệu nghiệm của những cặp vợ chồng trẻ.

Bây giờ liễu xanh còn đấy, mà nàng ở tận chân trời góc biển nào.

Ngày ngày Hàn Hoành đi lang thang dọc phố Chương Đài, ngâm mãi bài thơ cho đến khi ứa nước mắt, cổ họng nghẹn lại mới thôi. Trẻ con bám theo Hàn đông như đàn vịt, reo cười, xô đẩy nhau kêu la náo động cả phố. Lão Trương hàng cơm lần nào thấy Hàn đi qua cũng gọi vào quán bảo ngâm "Liễu Chương Đài". Lão gật gù nghe rồi thưởng cho Hàn một chung rượu. Có lần cao hứng, lão đem đến bàn của Hàn một đĩa đậu đũa xào. Lão Trương thuộc lòng bài thơ, vừa chặt thịt vừa ê a hát "Liễu Chương Đài" theo một giai điệu dã ca vùng quê Phúc Kiến của lão, đệm thêm những tiếng "Hầy a!..." của những người đang ì ạch nặng nhọc đẩy xe lên dốc hay kéo gỗ, chống thuyền:

Ngày trước xanh xanh
Hầy a!
Liễu Chương Đài
Ngày trước xanh xanh,
Hầy à!
Hỏi có còn không
Hầy, liễu Chương Đài?

Mụ Lý béo quẩy gánh đậu phụ bán rong, gặp Hàn, mụ lấy một bìa đậu đưa cho chàng:

- Hàn Hoành. Hát cái bài có cây liễu ở phố Chương Đài này đi.

Hàn không một xu dính túi và đã nhịn đói mấy ngày. Chàng cười ngượng, cầm bìa đậu rồi hát "Liễu Chương Đài" theo điệu dã ca Phúc Kiến của lão Trương. Nước mắt chàng chảy ròng ròng. Miếng đậu trên tay chàng chảy nước ròng ròng. Mụ Lý cũng nước mắt đầm đìa, bảo ngày trước mụ xinh đẹp nhất xứ Giang Nam, nhưng bị gã công tử nhà giàu họ Mã bội tình, mụ chán đời chẳng thiết chăm sóc dung nhan nên mới ra thế này. Bây giờ nghe bài "Liễu Chương Đài", mụ cám cảnh mình mà không cầm được nước mắt. Hàn ngắm cặp má bánh đúc và cái mũi tẹt, cố hình dung ra nhan sắc của mụ ngày trước. Mụ Lý ngượng:

- Béo quá hả? Dương Quý Phi còn béo hơn tôi nhiều.

Người đẹp Dương Quý Phi quả là có đẫy đà thật. Nhưng vua Đường Huyền Tôn lại thích những cô gái mũm mĩm, và Dương Quý Phi biết cách đưa nhà vua lên tận cung Quảng Hàn, trên trời.

Hàn Hoành trả lại bìa đậu cho mụ Lý, bảo, giá có cái màn thầu ăn thì tốt hơn. Hai ngày nay chàng không một chút ngọc thực trong bụng. Mụ Lý ái ngại đưa cho Hàn một đồng xu. Rồi mụ kéo tạp dề lau mắt, quẩy gánh đậu phụ đi, miệng rao lanh lảnh, tươi tỉnh sảng khoái như trước đó mụ chưa từng khóc cho thân phận mình:

Đậu phụ Chương Đài đây,
Ơ - Ơ - ơi!
Liễu Chương Đài!
Ngày trước xanh xanh,
Ơ-ơi! Đậu phụ Chương Đài!

Hàn Hoành vào quán lão Trương, đặt một xu lên bàn cho lão yên tâm rồi gọi một thố cơm nóng. Lão Trương cười hỏi:

- ăn cơm với gì?

Hàn tặc lưỡi:

- Chan cơm với nước cháo hoa. Nhưng nếu phải tính tiền nước cháo hoa thì thôi vậy. Chỉ xin ít tương.

- Tôi đãi đĩa ca la thầu. Ăn xong, cho nghe bài "Liễu Chương Đài".

- Thế thì xin thêm bát rượu. Loại rượu nhạt cũng được .

Vậy là một trong những thi phẩm tuyệt tác đời Đường có giá là một bát rượu hạng bét với đĩa củ cải muối sau cuộc thương lượng về nhuận bút giữa tác giả với nhà xuất bản. Ăn xong, Hàn ngâm "Liễu Chương Đài", giọng nghẹn vì phải nuốt thố cơm không có canh rau, mà rượu thì đắng. Trong quán có những thương gia, những khách giang hồ mệt mỏi, áo khăn nhàu nát bụi bặm. Họ lặng nghe Hàn ngâm "Liễu Chương Đài". Có người thở dài. Có người đưa ống tay áo chấm mắt. Biết bao nhiêu Liễu thị đang chờ trên khắp đất Trung Nguyên này.

Hàn Hoành lang thang trên phố Chương Đài. Bọn trẻ bám theo chàng reo cười ầm ỹ, như đi theo một người điên. Chúng vừa đi vừa chìa tay vào các hàng quán xin hộ Hàn những thức ăn. Quần áo chàng rách tươm. Lão Trương thương tình bảo Hàn đến quán cơm pha trà, ngâm nga thơ phú mua vui cho khách, lão sẽ nuôi ăn. Bài hát "Liễu Chương Đài" được những khách thương ghé qua quán lão Trương nghe rồi truyền khẩu đi xa mãi.

Một buổi tối, Hàn Hoành đang đói meo nằm nhớ vợ trong ngôi nhà lạnh lẽo thì Liễu thị đột ngột trở về trên cỗ xe ngựa sơn son thếp vàng, như một mệnh phụ phu nhân. Hàn Hoành hoa mắt, ngỡ đang nằm mơ.

- Sách nói Liễu thị được Hàn Hoành đem vàng chuộc về từ tay tướng giặc cơ mà, bố? - Sinh cười hói, như cách lật tẩy một chuyện khoác lác.

- Sách sai - Ông Giả tỏ vẻ khó chịu - Hàn Hoành là một hàn sĩ lại vừa về quê lo đại tang, làm gì có vàng. Chính là vì bài thơ "Liễu Chương Đài" đã được truyền tụng đến nơi đóng quân của tướng giặc Sầm Dự, kẻ đã bắt Liễu thị về làm thiếp.

Liễu thị khóc lóc van xin được tha về với chồng: Sầm Dự cũng là kẻ có tình nên động lòng, cho Liễu thị được toại ý.

Sinh nhớ cái đêm Thục rời bỏ Nghĩa trở lại với mình.

Anh đứng ngoài hiên nhà Nghĩa phấp phỏng chờ. Sinh bị ướt sũng khi đội mưa đến đây. Anh đứng run cầm cập, nghe rõ tiếng trong nhà đang thu dọn gì đó.

- Thục đem cái màn đôi đi. Tôi vẫn còn cái màn cá nhân - Tiếng Nghĩa.

- Biết làm sao bây giờ, hả trời? Sao chưa đích xác mà họ đã báo tử, để bây giờ ra nông nỗi này - Thục như kêu lên.

- Ngày xưa thì bảo tại trời. Bây giờ thì chẳng biết tại ai. Thôi thì Thục cứ về với người ta. May mà chúng mình chưa có con, đỡ phiền toái. Giấy hủy bỏ hôn ước tôi làm xong rồi đây. Thục cầm lấy.

- Anh... Để rồi em nói với anh Sinh.

- Anh sẽ là anh cả của chúng em. Thỉnh thoảng anh sang chơi.

- Thế sao tiện. Thục đừng bận tâm về tôi nữa. Rồi tôi sẽ đi khỏi đây. Tôi đã đổi nhà cho chú Quýnh ngoài bãi rồi. Mà chưa biết chừng tôi sẽ lên chỗ bà cô ở Thái Nguyên. Thục cố quên chuyện cũ đi.

- Sao anh phải khổ thế? Anh làm thế chúng em có tội... - Thục khóc.

- Thôi Thục về đi. Tôi không thể đưa tiễn được.

Cánh cửa hé mở. Thục đầu trần khoác túi vải, ào ra ngoài trời mưa, như trốn chạy. Sinh đuổi theo đến đường cái, giữ Thục lại, ôm xiết lấy cô. Anh đã tìm lại được Thục của anh, không phải Thục trong những giấc mơ giữa rừng lạnh, dưới những trận bom rải thảm; với cảm giác của một người đói đến phát sốt trong cơn ngủ mê ăn ngấu nghiến những thức ngon nhưng vô vị như nhai giấy; mà là Thục với thân hình ấm mềm ngày trước. Nhưng Thục gỡ tay anh, thở hổn hển: "Giữa đường, người ta thấy, dơ lắm". Rồi cô xách cái túi chạy lên trước.

Thế là Thục đã dứt được Nghĩa một cách êm thấm để lại là của riêng anh. Hai hôm sau, Sinh làm bữa cơm để họ hàng mừng anh sống lại, trở về với vợ. Sinh hớn hở còn hơn cả trong bữa tiệc cưới Thục ngày xưa. Sinh cũng không để ý chuyện Thục mắt đỏ hoe vì khói, cặm cụi dưới bếp nấu nướng, ít khi lên nhà trên.

Đúng hôm vợ chồng Sinh ăn mừng, Nghĩa đổi nhà cho ông chú, chuyển ra ngoài bãi sông. Rồi sau, Nghĩa bỏ luôn cả nghề thợ mộc, mua cái bè nuôi cá lồng, lênh đênh mãi tận mạn thượng nguồn sông Lãng.

- Thế rồi cái tay Hàn Hoành ấy sống bên Liễu thị sung sướng đến trọn đời? - Sinh cười. Chuyện nhạt thế mà bố cũng tán được thì tài thật.

- Cậu ở trong nghề mà nói thế. Ăn thua nhau là ở cái kết. - Ông giáo Kiên nhẫn tiến tới đoạn cuối câu chuyện. - Họ gặp lại nhau như tìm lại được báu vật bị thất lạc. Hàn Hoành như được hưởng lại tuần trăng mật ngày trước. Liễu thị đem về một số vàng lớn của Sầm Dư tặng cùng cỗ xe ngựa lộng lẫy mà các vị quan lớn cũng phải thèm muốn.

Hàn Hoành đổi đời. Hàn béo đỏ ra, khăn áo gấm vóc lụa là xênh xang, bóng láng; ngày ngày cưỡi con ngựa trắng rong chơi những nơi non xanh nước biếc tìm tứ thơ. Phố Chương Đài vắng lặng vì không còn chàng hàn sĩ bất hạnh lang thang để hàng đàn trẻ con đi theo reo cười.

Nhưng rồi Hàn thi sĩ nhận thấy mình không thể làm thơ được nữa. Đúng ra, chàng làm thơ không còn hay như trước. Vì không còn nỗi thương nhớ khắc khoải; không có sự hoài niệm về một quá khứ đẹp đẽ nào, không có khát vọng gì khác ngoài ham muốn được nổi tiếng vì thơ phú. Mà để làm được thơ hay thì không thế chỉ bằng khát vọng nổi tiếng. Và cái chính là Hàn không còn rách rưới đói khổ nữa. Người ta cúi mình trước đầu con ngựa trắng yên cương nạm bạc của chàng, kính cẩn chào: "Xin vấn an Hàn công tử", "Dạ, Hàn tiên sinh du ngoạn". Người ta không còn gọi chàng là "Hàn Hoành" trống không nữa. Và người ta cũng dần quên bài thơ "Liễu Chương Đài".

Liễu thị có vốn, đóng thuyền đi buôn tơ lụa. Nhà Hàn Hoành lại càng giàu. Chồng tài họa thơ văn, vợ xinh đẹp thương hồ hái ra bạc.

Nhưng có một con rắn độc đêm đêm lẻn vào giường ngủ của hai vợ chồng. Đó là cái bóng đen của tướng giặc Sầm Dự.

Một đêm, Hàn Hoành hỏi Liễu thị, giọng như cái ngõng cứa gỗ tứ thiết lâu ngày không tra dầu lạc:

- Cái thằng giặc võ biền hung đồ ấy đã ăn nằm với cô như thế nào, mà bây giờ cứ thở ngắn than dài?

- Ông ta chẳng làm gì tôi cả. Tôi chỉ đàn hát cho ông ấy nghe. Thê thiếp của ông ấy hàng đàn, người nào cũng mặt hoa da phấn, đẹp bằng mấy tôi. - Liễu thị khó chịu vì phải nghe câu hỏi này nhiều đêm rồi.

- Hắn bắt cô về để làm tượng thờ à? Nói khó nghe lắm.

- Thì cố mà nghe. Nói khó nghe, nhưng từ khi tôi trở về thì anh không còn phải xin đậu phụ của mụ Lý béo, không phải hầu trà kiếm ăn ở quán lão Trương.

Hàn Hoành đấm xuống đệm giường đánh "ầm" như tiếng trống:

- Sao hay đi đến mạn Hàng Châu là nơi có doanh trại của thằng giặc ấy?

- Buôn tơ lụa mà không đến Hàng Châu, Tô Châu, Tứ Xuyên thì đến Sơn Đông mãi võ chắc? Nói khó nghe như thế thì để yên cho người ta ngủ, sáng mai còn phải xuống thuyền sớm cho kịp con nước.

Liễu thị quay mặt vào tường, ngáp dài. Nghĩa là nàng đã treo "Miễn chiến bài". Hàn Hoành đành nuốt giận, nghiến răng, mở mắt trừng trừng trong bóng đêm. Chàng hình dung ra cái cảnh Sầm Dự ân ái với vợ mình. Chàng đấm xuống giường lần nữa, nhưng lần này đấm trúng phải cạnh giường, nắm tay thư sinh của chàng như bẹp nát, những ngón tay muốn gẫy vụn.

- Cô còn thương nhớ hắn ta à? - Sinh hỏi Thục.

- Tôi không phải là khúc gỗ. - Một lúc sau, Thục nói trong tiếng thở dài buồn bực chán ngán.

- Thế mà nằm bên tôi, cô lại là một khúc gỗ lim đấy. Không, còn hơn thế nữa kia. Là một cây nước đá, cây nước đá! Hiểu chưa? - Sinh rít lên.

- Ngoa ngoắt, chấp nhặt dai dẳng quá đàn bà.

- Phải, tôi là đàn bà. Hắn là đàn ông.

- Còn cô là thứ gì, hả?!

Những đồ dễ vỡ trong nhà bị cả hai người đập tan tành.

Những đêm bi kịch.

Không thể mãi như thế này được. ở làng Nghĩa là ở gần con sông Lãng mà nơi thượng nguồn của nó có cái bè cá lồng của Nghĩa; là không thể quên được chuyện cũ. Sinh chạy chọt mãi rồi cũng xin được một chân dạy ở một trường cấp hai ven thị xã. Họ bán rẻ nhà cửa vườn đất chuyển đến nơi ở mới. Thục học nghề may, kiếm được khá tiền, còn hơn cả lương của giáo Sinh. Cô ta ý thức được vị thế của mình trong nhà. Cô coi thường Sinh. Không phải là "khinh mười lăm phút" mà là khinh mãi mãi. Vì chuyện tiền nong, vì chuyện cũ. Vì cả một điều tế nhị quan trọng nữa. Vết thương ở cột sống không làm cho Sinh chết như đồng đội tưởng, nhưng lại làm anh chỉ còn là một nửa người đàn ông.

Sinh thấy bồn chồn vì một điều gì đó. Không thể nghe nốt câu chuyện của ông Giả, anh làm bộ xem đồng hồ rồi giật mình kêu lên:

- Chết rồi, mải chuyện quên khuấy cái hẹn quan trọng. Mai bố cho con nghe nốt vậy.

Đêm cuối năm, mưa lạnh. Sinh dở say dở tỉnh về gian nhà tập thể giáo viên. Trong nhà có điện sáng nhưng im ắng khác thường. Ngăn tủ quần áo của Thục trống không. Bà tạp vụ nhà trường là bạn thân của Thục ở gian bên cạnh đang đứng ngoài hiên có ý chờ Sinh về. Bà rụt rè khép nép như sợ hãi, sang đưa cho Sinh phong thư rồi về ngay. Thư của Thục. Sinh vứt phong thư lên bàn. Anh biết trong thư viết gì rồi.

Ra đến cửa, bà tạp vụ còn ngoái lại. "à, cô ấy nấu sẵn cơm dưới bếp cho anh đấy". Sự săn sóc cuối cùng của Liễu thị, để cho Hàn Hoành lại nhớ thương khắc khoải mà làm thơ.

Sinh hình dung ra cái bè nuôi cá lồng dập dềnh trên mặt nước thượng nguồn sông Lãng, trong đêm mưa lạnh. Thục sẽ chẳng có được hạnh phúc như cô ấy tưởng. Thục sẽ lại ân hận và nhớ thương Sinh. Nỗi đau khổ chỉ biến từ dạng này sang dạng khác. Sinh khẽ cười buồn vì cái định luật bảo toàn nỗi buồn mà anh vừa nghĩ ra.

Cái tay Hàn Hoành ấy cũng chẳng sung sướng gì hơn mình. Thà rằng trước kia Liễu thị đừng trở về - Sinh lại nghĩ - Những điển cố, những chuyện ngụ ngôn và những giáo điều, chỉ chăm chú vào mục đích giải trình cho được một ý tưởng nào đấy, mà chẳng mấy khi để tâm tới những khổ đau bất hạnh riêng của mỗi con người. Con tàu cứ sầm sập băng đi, không bận tâm đến thân phận của những bụi cỏ hoang rối bời, khóm hoa dại li ti và đám mạng nhện mỏng manh trĩu nặng sương sớm chờm trên đường ray, dưới những bánh xe thép của nó.

Lần này Liễu thị đi Hàng Châu đã không quay về. ở đấy có doanh trại của viên tướng giặc Sầm Dự hào hoa không chỉ biết múa đao mà còn biết thưởng thức đàn ca.

Hàn Hoành bán sạch tài sản của vợ để lại, lăn lóc trong các ca lâu tửu điếm. Chàng làm những bài thơ thương nhớ Liễu thị trong những cơn say. Người đàn bà tầm thường từng là kỹ nữ ấy nhờ thơ của Hàn Hoành mà thành nổi tiếng. Cũng không biết có phải vợ của Hàn mang họ Liễu không, hay là chỉ vì trong thơ có cây liễu gãy ấy mà người ta gán cho thị họ Liễu?

Hàn lại là một hàn sĩ. Nhưng thơ Hàn Hoành lừng lẫy thiên hạ. Những bài thơ của chàng vạch ứa máu những thân cây, khắc sâu vào gan đá, viết chi chít trên những mảnh tường rêu phong nơi miếu hoang, cổ tự.

Người ta lại thấy Hàn Hoành lang thang trên phố Chương Đài, trong bộ cánh rách tướp của một gã khất thực. Và cũng vẫn như trước, bọn trẻ bám theo chàng reo cười ầm phố như đi theo một người điên, vừa đi vừa chìa tay vào các hàng quán xin hộ Hàn những thực phẩm. Mụ Lý béo bán đậu phụ lại thỉnh thoảng đãi chàng một vảy bạc vụn, đề nghị bài hát về cây liễu xanh xanh bên bờ đầm Lam Thủy.

Lão Trương lại gọi Hàn đến quán cơm nuôi ăn để tiếp rượu, pha trà, ngâm thơ mua vui cho khách. Những khách thương mệt mỏi bụi bặm ghé qua quán lại vừa uống ruợu nghe "Liễu Chương Đài", vừa thở dài chấm nước mắt. Lão Trương lại cao hứng vừa chặt thịt, vừa hát bài thơ đệm thêm những tiếng: "Hầy - a!..." theo một điệu dã ca vùng quê Phúc Kiến của lão:

Ngày trước xanh xanh,
Hầy a! Liễu Chương Đài!
Ngày trước xanh xanh,
Hầy à!
Hỏi có còn không
Hầy, liễu Chương Đài?...

Bão Vũ

Viết xong tại Vũ Trang
Ngày Lập đông - Canh Thìn.

Tuesday, May 12, 2026

Mai Em Đi - Nguyễn Đạm Luân

 Mai Em Đi




Chút Mảnh Vụn Đời Để Nhớ - Thuyên Huy

 

Chút Mảnh Vụn Đời Để Nhớ

 

    Ngồi ở một góc tiệm kem, sát cửa kiếng, nhìn ra, ngoài đường dập dìu người, nô nức xe, chiều thứ bảy, Sài Gòn chắc chiều thứ bảy nào cũng vậy, là thằng nhà quê tỉnh lẻ, con nhà nghèo, chân ướt chân ráo, không bà con, không người thân thích, bỏ trường tỉnh, tập tểnh lên đại học, ước mơ khiêm nhường, nhỏ nhoi, vậy thôi, trừ những ngày mùa thi, cũng nhớ chút Sài Gòn thoáng qua, giờ mới thật sự sẽ sống với phố phường ngựa xe của nó, ít lắm cũng phải qua đủ bốn mùa của một  năm.

*

    Giờ này vẫn lưng chửng chiều, nắng nhẹ và gió mát, tiệm kem càng lúc càng đông người, Thuận đọc qua đọc lại trang rao vặt của tờ Chính Luận nhiều lần, chưa tìm được chỗ trọ nào vừa với số tiền mình có, Thuận thở dài, chắc phải ở tạm tại nhà người quen của bác tài xế xe đò, thương tình gởi hai ba hôm nữa, đành vậy biết làm sao hơn. Thuận để nguyên trang rao vặt trên bàn, nhìn bâng quơ ra đường, người ngoài đường cứ đông, từ cửa tiệm đi vào, hai cô gái, xem ra như hai chị em, tóc dài ngang vai, tới cái bàn, sát bàn Thuận đang ngồi, không biết sao, nhiều người vào, lại không thấy bàn này trống. Thuận quay vào, gật đầu cười chào, hai cô vừa chào lại, vừa liếc nhìn trang báo mà anh chưa kịp xếp lại, nhận ra cái liếc mắt vô tình đó, Thuận hơi bối rối, lặng thinh lật qua trang khác, không cần biết là trang gì.

*

   Không còn nhìn ra đường vì đã bị hai cô gái che khuất gần hết, sực nhớ việc phải làm, Thuận đành “phớt tỉnh Ăng – Lê”, lật lại trang rao vặt, chỗ cho thuê mướn nhà, chỗ cho học sinh sinh viên trọ, đọc nữa. Cô ngồi kế bên, có lẽ là người chị, trong mắt Thuận khá đẹp, cũng nhìn qua trang báo, cười nhẹ bắt chuyện, hỏi qua lại vài câu, đúng là hai chị em, cô chị cho biết, gần nhà có một căn nhà đang trống, chủ muốn cho ai đó, phải là sinh viên hay học sinh ở, mà không cần trả tiền gì cả, vì họ làm ăn phương xa, nên cần người giữ giùm, đôi khi mười họa từ Đà Lạt mới ghé về, không ở, vì họ cũng có căn phố khác đâu đó trên đường Hồng Thập Tự.

*

   Thuận bất ngờ quá, cứ buột miệng nhiều lần hai tiếng cám ơn, Thuận xếp trang báo lại, hai cô kéo ghế qua ngồi chung bàn, cô em cứ bẻn lẻn cười mà không nói gì hết. Họ quen nhau từ đó, cô chị viết địa chỉ nhà mình, bảo anh cứ tới rồi cô dẫn chỉ cho, trước khi hai chị em chào tạm biệt, Thuận xếp tờ báo, bỏ vào túi xách, theo sau ra đường tiễn, hai người đi xa về hướng quốc hội, Thuận quàng túi xách lên vai, thả bộ xuống chợ Bến Thành, đón xe lam về ngã tư Bảy Hiền, chỗ anh đang tạm ở nhờ.

*



    Căn nhà vừa vặn, có gác lửng trên, nằm gọn không xa đầu vào con hẻm bao nhiêu, xế ngã tư Cao Thắng một chút, ngỏ vào cũng trên đường Phan Thanh Giản, hẻm chạy sâu nối với phía trong cư xá Đô Thành, cách nhà chị Quyên, và cô em gái, Tuyền, hai chị em mà Thuận gặp ở tiệm kem ngoài phố chính, chừng bốn năm căn phố lầu khác. Nhà có sẳn bàn ghế, giường ngủ, tủ đựng áo quần, tủ đựng ly tách, dưới nhà bếp thì nồi niêu soon chảo, chén bát, muỗng đủa, không thiếu thứ gì, Thuận ngỡ ngàng, lúng túng khi theo chị Quyên vô nhà. Hỏi ra mới biết, hai bác chủ nhà là bạn làm ăn với ba mẹ chị Quyên, ba chị hiện làm gì đó chắc cũng lớn và có phần hùn với công ty bột giặt VISO, bác gái, mẹ chị làm công chức ở bộ Nội vụ, chị Quyên năm nay là năm cuối trường Dược, Tuyền thì lên đệ Nhất trường Nguyễn Bá Tòng, vì vậy họ giao trọn căn nhà cho ba mẹ chị Quyên tính sao thì tính.

   Nhận nhà xong, Thuận theo chị qua nhà, chào cám ơn gia đình, thì trời chập choạng chiều xuống, cả nhà bảo anh qua ăn cơm, khỏi lo bữa này, mai rồi tính, Thuận hứa rồi đón xích lô xuống phố tìm mua mền gối cho đêm nay, đêm đầu tiên làm người Sài Gòn. Cuối cùng, tạm gọi là xong, hy vọng từ nay, chắc không còn phải lang thang, đời ở trọ, từ chỗ này chỗ kia rày đây mai đó như suốt bảy năm trung học ở tỉnh nhà nữa.

    *

   Thuận cũng gọi là giỏi toán nhưng không biết phần số thế nào mà trời chưa chịu thương nên, thi vào Phú Thọ, không đậu, qua Sư phạm cũng “trợt vỏ chuối” luôn, đành chịu phép, lũi đầu vào Luật xem sao rồi tính tiếp. Hai bác và hai chị em chị Quyên thấy Thuận hiền lành, nói năng nhỏ nhẹ, bặt thiệp, vui tính, có chí ham học nên thương tình, giúp lo cái này cái kia, nhiều đến nổi làm cho anh lo ngại quá, đôi lúc phải giả bộ kiếm chuyện, bận này bận nọ, không qua bên nhà chị ăn cơm chiều, đã có xe bánh mì góc Cao thắng rồi, đủ no bụng. Chiều chiều hai chị em thường thả bộ qua, kiếm Thuận, ngồi tán gẩu chuyện trời trăng mây nước, xuân hạ thu đông trước hiên nhà, bên kia đối diện cũng réo hỏi “Thuận hởi Thuận ơi”. Thỉnh thoảng, không thường lắm, Thuận cũng hay giúp Tuyền khi gặp phải hai ba bài toán khó, bốn năm công thức định lý nhàm chán có từ trăm năm, từng gây khổ đau, khóc hận không biết bao nhiêu “nam thanh nử tú”.

   Về trên nhà ăn tết xuống, buổi chiều, vừa kịp sắp xếp ba thứ lặt vặt thường dùng vào chỗ, thì chị Quyên tới cùng với hai người lạ, trạc tuổi ba mẹ chị, hai người này là chủ nhà mà Thuận đang ở trọ. Hai bác khá vui tính, hiền hậu, bác trai hỏi thăm Thuận chuyện gia đình ở quê, chuyện học hành, ngay cả chuyện ăn uống, bác gái thì ít nói ngồi cười nghe thôi, chắc có nghe chị Quyên nên bác hỏi tới hỏi lui, việc anh đi bán xăng buổi tối ở cây xăng ngã tư Lê Văn Duyệt, có thời giờ học không, có cực nhọc lắm không, chuyện bán xăng là nhờ ở người bạn quen cùng năm ở trường Luật, dân Sài Gòn, giới thiệu cho chú anh ta, là chủ cây xăng Shell, chừng đâu hơn tháng sau ngày nhập học, học ở phân khoa tự do cũng tương đối dễ, muốn tới giảng đường nghe, ghi chép, thì tới, chán cứ về sớm, chẳng ai biết mặt ai, đã có ban đại diện lo quay “cua” bài bán rồi, cộng thêm mớ sách nào cần đọc thêm, thì tạm gọi là không lo chuyện thi cử cuối năm nữa. Bác trai có vẻ lo lắng định hỏi thêm gì đó nhưng lại thôi. Ra về, hai bác để lại túi bánh mứt bảo quà tết, hy vọng sẽ gặp lại Thuận nữa. Thuận theo ra tiễn hai bác, chị Quyên tới đầu ngỏ hẻm, đứng chờ họ đi khá xa, hình như chị Quyên quay nhìn lại, rồi trở vô nhà. Nắng chênh chếch nhạt xuống trên đường lớn, trời hôm nay chiều Sài Gòn về hơi muộn.

*

    Tuyền, đậu tú tài Hai, cùng lúc với Thuận đậu vào một trường khác, thi tuyển khá gay go nhưng, giờ được trời thương thiệt nên “bảng hỗ đề tên” mặc dù là đậu hạng gần dưới chót của danh sách trúng tuyển. Chị Quyên cũng tốt nghiệp trường Dược với cấp bằng Dược sĩ khá oai, hình như có nghe thoáng qua trước đây, gia đình tính hùn với ai đó mở tiệm thuốc Tây khi chị có bằng. Trời vào hạ, phượng nở rợp đỏ trên đường, đường vắng áo trắng học trò, phố phường vẫn đông người như ngày tháng cũ, vẫn ngựa xe xiêm áo, thứ ngựa xe xiêm áo thị thành.

    Thuận về trên tỉnh thăm nhà, báo tìn vui vài ngày rồi đón xe đò trên tỉnh trở xuống Sài Gòn, chuẩn bị cho năm học đầu ở trường mới, khai giảng sớm hơn các trường khác. Tới Sài Gòn trời cũng ngấp nghé chiều, dọn dẹp ba thứ lặt vặt đâu đó xong, như đã hứa Thuận thả bộ qua nhà chị Quyên, ăn bữa tiệc mừng thi đậu.  Nhấn chuông, Tuyền ra mờ cửa, nói nhỏ “anh Thuận ơi, hôm nay có khách quen anh nữa đó”, tiếng chị Quyên hỏi vọng ra “Thuận hả”, Thuận theo Tuyền vào trong, phòng ăn chưa có ai nhưng có tiếng người cười nói trong nhà bếp. Đứng xớ rớ, không tới không lui, thì chị Quyền ngó ra, làm dấu tới chỗ chị đang cắt rau cắt cải gì đó, cạnh chị là một cô gái lạ, tuổi cở tuổi Tuyền và bác gái chủ nhà đã gặp hôm sau tết, chưa biết nói gì thì bác gái chủ nhà hỏi ngay “ba má con trên tỉnh khỏe hông?”, không đợi anh trả lời, chị Quyên ngó qua cô gái, hơi thẹn thùng, “Thuận nè, con đây là Trâm, con gái cưng của bác gái đó”, Thuận cười chào, Trâm bẻn lẻn “dạ chào anh Thuận”. Mẹ của chị Quyên từ vườn sau vào, thấy Thuận bà vui ra mặt “Ủa Thuận, con qua hồi nào?”, không lâu sau thì ba chị Quyên và bác trai chủ nhà cũng theo vào, Thuận cúi đầu chào như những lần chào trước.

   Bữa tiệc không rườm rà lắm, cả nhà ngồi hỏi nhau qua lại trăm thứ chuyện, bốn người lớn, bốn người nhỏ, Trâm vẫn còn ngại ngùng đôi chút, nhưng rồi cũng nhập cuộc, chuyện này chuyện kia rân rân, dường như ai nấy cũng nói nhiều hơn là ăn, không biết mẹ chị Quyên có nói gì với bác gái chủ nhà không, bà cứ nhìn Thuận cười hoài, cái cười vui có chút dự tính gì đó.

   Dọn dẹp xong, đường đã lên đèn, đêm chầm chậm xuống, chiều đã bỏ đi từ lâu, người lớn bỏ ra ngoài phòng khách, Thuận theo chị Quyên, Tuyền và Trâm ra mấy cái ghế đá vườn sau, Trâm và Tuyền cùng tuổi, cô nàng học Bùi Thị Xuân trên Đà Lạt, cùng đậu tú tài Hai năm nay, về lại Sài Gòn, giờ thì hai cô nàng tính sẽ thi vào Dược, theo chân chị Quyên, khá xinh, một chín một mười so với Tuyền, cũng nói năng duyên dáng, không làm bộ làm tịch, dễ thân thiện, Thuận thì thêm vào bớt ra chuyện này chuyện nọ, ai cũng cười luôn miệng, ba chị em đều biết anh sẽ học cái gì nhưng không hỏi đon hỏi ren. Trời cũng sắp về khuya, từ giã nhau, hẹn gặp lại, ra đường, trước khi lên xe ta-xi, bất chợt bác trai chủ nhà quay lại nhìn Thuận cười “ở đằng đẳng con có cần gì thì nói cho bác biết nghe”.

 *

    Cũng hay, Tuyền và Trâm, cả hai đều đậu vào Dược, chị Tuyền vào làm ở hảng bào chế OPV, học hỏi chút kinh nghiệm để sang năm sẽ mở tiệm thuốc như gia đình chị dự tính, ba mẹ Trâm, lúc này vì cô ở trong này, nên ông bà thường xuyên về và ở lại Sài Gòn lâu hơn trước, Thuận yên lòng, vào trường mới, vẫn tiếp tục học lên bên Luật, anh đã nghỉ làm cho cây xăng cũng khá lâu, vì đã có tiền học bổng của trường, khấm khá, dư xài mà còn tiết kiệm được đôi chút. Dạo này, anh ta cùng ba chị em, càng ngày càng thân thiết hơn, bát phố, rong chơi đường phố Sài Gòn, dường như lúc nào cũng thấy bên nhau, Thuận lại phải “thân này ví xẻ làm đôi”, hết cơm chiều bên này, nhà chị Quyên rồi cơm trưa bên kia, nhà của Trâm, cứ qua qua lại lại, không dám từ chối bên nào. Riêng anh, có những lúc ngồi một mình trước hiên nhà, bất chợt anh tự dưng lo lo, không biết là có đúng như mình nghĩ, vì dù gì anh cũng nhận ra, qua tình cảm, cử chỉ, lời nói của hai gia đình, hình như có cái gì đó mà họ chưa tiện nói ra, ý tưởng này phút chốc chỉ thoáng qua trong đầu vậy thôi và ngưng ở đó.




    Hẹn lần hẹn lựa, rồi cũng đành phải chịu, ba chị em theo Thuận về trên quê thăm nhà, mà nhà anh có gì đâu, nhà nghèo mà, chỉ là một căn nhà mái tôn vách ván, ở gần cuối chợ xã, sau nhà là cái vườn cây vú sửa và hơn chục cây bưởi ngọt, cái vườn đã nuôi anh lớn lên, không dư không thiếu, cái vườn mà ba mẹ anh đã một đời cặm cùi, chắt chiu nắng sáng mưa chiều vất vả, gọi là nhà nghèo nhưng thật ra chưa đến nổi túng thiếu, cũng may số cây trong vườn đã được mấy người bạn hàng dưới chợ quận mua mảo hết khi tới ngày hái.

    Họ đón chuyến xe đò quen đi sớm, trời chưa trưa đã tới. Ba mẹ Thuận ngại quá, ngạc nhiên, biết chuyện ăn ở dưới Sài gòn ra sao rồi, vui mà muốn khóc, nhất là mẹ Thuận lúc nào cũng lẩm bẩm “ân nhân của con tôi, ân nhân của con tôi”. Ba cô nàng han hỏi lăng xăng, mang ra mớ quà, bánh trái gì đó tặng ông bà, họ đem theo mà không cho Thuận biết, bàn ghế trong nhà có đôi ba cái, có bao giờ tiếp khách gì đâu, ông bà trả lời mà cứ nhìm Thuận ngầm hỏi “được hông con?”, ông bà gọi cô này cô kia nhưng ba cô nhanh nhẩu bảo “gọi tụi con là con đi bác, coi như anh Thuận mà”. Rồi cũng tạm yên, Thuận đưa ba chị em đi một vòng phố chợ quê, cái chợ quê có cây phượng già độc nhất và hàng cây trứng cá xanh màu lá, cái chợ mà trời chưa đứng bóng đã tan, chỉ còn bầy chim hoang rủ nhau kiếm mồi tại mấy cái sạp bán hàng ọp ẹp.

    Trở lại nhà, ba chị em và Thuận kéo nhau ra sau vườn, cũng hên, hai ba cây vú sửa vẫn còn sót trái bộn, trắng và tím, ba cô hăng hái, rộn ràng dùng cây sào thường dùng, bẻ xuống đâu chừng vài chục trái, Thuận đứng nhìn cười, rồi cả bọn ngồi ăn ngon lành ở gốc cây ngã cuối vườn, khen ngon khen ngọt. Bữa cơm trưa hôm đó, cả nhà trải chiếu ăn ngoài vườn, dưới bóng cây vú sửa lớn già nhất, bữa cơm cá trê kho xả ớt và tô canh chua bạc hà trồng bên hông nhà, bữa ăn có nhiều tiếng cười và tiếng suýt soa cay của ớt. Qua giữa trưa, ba mẹ theo ra đường lộ tiễn ba chị em cũng như Thuận đón xe đò chiều về lại Sài Gòn. Xong một ngày đi, một ngày vui.

*

   Gần cuối năm thứ ba, một ngày thứ bảy không về trên nhà, trời càng về chiều càng mát, cơn mưa bất chợt mới hùng hỗ hồi sáng giờ ngưng hồi nào, chẳng ai thèm nhớ,  đường xôn xao trải nắng, thêm chút bụi nhạt cuốn theo chiều gió, đi tới đi lui, định ra cái xe bánh mì góc Cao Thắng thì chị Quyên tới, giờ này tiệm thuốc cũng đã đóng cửa như mọi ngày, không có Tuyền, hai chị em thả bộ qua cái xe bán bò vò viên, ngay bên đường đầu hông rạp Đại Đồng, ăn đổi món. Vừa ăn vừa nói chuyện, vài chuyện lặt vặt trong ngày nhưng lần này linh tính cho anh biết, chắc có chuyện gì mới, quả đúng vậy, chị Quyên nhìn ra đường rồi nhìn Thuận chậm rãi cho biết “Tuyền nó yêu em từ lâu rồi mà không dám nói Thuận ơi”,

    Thuận ngở ngàng giựt mình, trố mắt nhìn chị kinh ngạc, nín lặng, im tiếng không nói được lời nào, chuyện này Thuận chưa hề nghĩ tới nhưng bây giờ đã tới, chị Quyên mĩm cười “chị nói cho em biết vậy thôi, tùy ở em, em biết rồi, gia đình chị lúc nào cũng thương em”. Rồi vẫn không biết nói gì, hai chị em trở lại nhà, tới đầu hẻm, trước khi bỏ đi về hướng nhà mình, chị Quyên nói khẻ “ngủ ngon, chuyện đâu còn có đó nghe”, Thuận gật đầu, vẫn còn nghẹn lời, bổng dưng anh thấy lòng mình lo sợ. Chuyện giảng đường, chuyện phố phường, chuyện ghế đá công viên của những ngày tháng cũ, họ, Thuận, Tuyền, Trâm vẫn là những ngày vui nhiều buồn ít, Thuận vẫn cố đứng bên đời bên người như đã như vậy.

    Bên chị Quyên, buổi chiều, một chiều đầu năm cuối, chuẩn bị tốt nghiệp, trước hiên nhà, đám trẻ xúm xích xem truyền hình trong căn nhà quen đối diện, hò hét, vang trời, Thuận thở dài thở ngắn, cho chị biết, chuyện sau bữa cơm chiều vài ngày trước, ở nhà ba mẹ Trâm, trước khi ông bà trở lên Đà Lạt, chị Quyên im lặng nghe “bữa ăn xong, cả nhà vui vẻ, Trâm lặng xăng dọn bàn dẹp ghế, ca hát như mọi lần, bác gái bảo có chuyện cần muốn hỏi Thuận, anh theo ra ngồi ngoài phòng khách, cũng như chị Quyên hôm nào, bác cho biết là Trâm có tâm sự với bác, nó nói nó thương con từ lâu rồi mà chưa dám nói ra, thấy nó tội nghiệp, thấy con cũng thương cũng mến, nên bác nói ra vậy thôi”. Ngưng ở đó, Thuận lắc đầu nhìn trời trên cao nói thầm “trời ơi”, chị Quyên cũng lặng thinh, rồi ra về, Thuận đi theo, hai chị em bên nhau, đi tới ngoài đầu hẻm, cũng không nói thêm gì. Nắng dịu trên đường, một vài cụm mây xám, đong đưa chậm xuống thấp, Sài Gòn chờ mưa chiều.

    *



    Ra trường, Thuận chọn về làm việc ở một tỉnh nhỏ biển miền Tây, cuối cùng của đất Nam, anh vui lòng với quyết định của mình, anh không phải làm kẻ đứng ở hai ngã đường tình, có như thế mới trọn vẹn được ơn nghĩa mà anh đã nhận ở đôi đàng. Thuận gởi lại lá thư ngắn trong nhà, và cái chìa khóa chị Quyên đưa từ ngày mới tới trên bàn, lẳng lặng đi, như mọi khi, bác chủ nhà đối diện ngó ra cười, không hỏi gì, bà đã quen quá rồi chuyện đi về của anh, Thuận đón xe đò về trên nhà thăm ba má rồi cũng lẳng lặng bỏ Sài Gòn đi, bỏ một mảnh vụn đời để nhớ của mình ở lại, theo chuyến xe đò xuôi miền Tây sông nước. Nhìn lại Sài Gòn một lần nữa sau lưng, Thuận bất giác thở dài, cái thở dài thật buồn.

 

Thuyên Huy

Một ngày mưa giữa thu quê người

   

   

   

   

  

   

 

   

   

   

 

 

"Giang Tuyết" Của Liễu Tôn Nguyên - Lê Vĩnh Húy

 

“Giang tuyết” của Liễu Tôn Nguyên

Thi pháp của Liễu Tôn Nguyên trong “Giang tuyết” không chỉ có thơ mà gồm luôn họa, vừa thơ vừa họa trút thêm băng giá, khiến càng tăng sảng khoái lạ lùng.

Lê Vĩnh Húy



千山鳥飛 Thiên sơn điểu phi tuyệt

萬徑人蹤滅 Vạn kính nhơn tung diệt

孤舟蓑笠翁 Cô châu thoa lạp ông

獨釣寒江雪 Độc điếu hàn giang tuyết

(Ngàn ngọn núi chẳng một bóng chim,

Muôn nẻo đường bặt dấu chân người.

Duy ông già khoác nón lá áo tơi trên chiếc xuồng lẻ loi,

Một mình thả cần câu giữa trận tuyết trên sông).

Bài thơ chỉ hai chục chữ, nhưng mỗi chữ đều toát lên hàn khí căm căm, khiến trải hơn ngàn năm, người ta ngâm đọc hoài không chán.

Chỗ độc đáo của Đường thi là ở phép biền ngẫu. Nhiều khi chỉ cần đặt hai vế đối nhau, không cần nói gì thêm, nhưng ý tại ngôn ngoại, qua đó mà nói lên nhiều điều.

Nhưng chỉ vỏn vẹn hai mươi chữ mà đối chọi, tương phản tầng tầng lớp lớp, tưởng xưa nay chỉ mỗi bài Giang tuyết.

* * *

Thoạt đầu, cha nội trật ót ngước nhìn tuốt trên đầu ngọn núi, thấy ngàn non không bóng chim; lại buông tầm mắt ra xa, dòm hoài muôn nẻo cũng chẳng dấu chân người. Nhìn khắp cao xa cho đã chớ thấy dấu vết sự sống, mới hạ tầm mắt xuống con sông, ngó tới chiếc xuồng có ông câu nón lá áo tơi, một mình thả câu giữa tuyết lạnh.

Bốn câu chia làm hai cặp, mỗi cặp đối nhau đã đành; mà cặp 1~2 còn đối lại cặp 3~4. Đó là tương phản giữa cao với thấp, chết chóc với sinh tồn. Khung cảnh hoàn toàn tĩnh lặng, tới ông câu cũng chớ thấy nhúc nhích. Nhưng chỗ đột ngột đổi hướng nhìn nầy tạo ra cảm giác chuyển động mạnh mẽ, cho thấy sâu tuốt dưới sông lạnh kia vẫn còn sự sống.

Kế đó là chỗ tương phản giữa “ngàn non muôn nẻo” minh mông với chiếc xuồng và cái cần câu lẻ loi. “Thiên sơn vạn kính” bày ra quang cảnh hùng vĩ, lấn cho “cô châu độc điếu” thành ra chút téo. Chỗ trái ngược nầy khiến chiếc xuồng và ông câu thêm phần cô quạnh. Nhưng độc đáo ở chỗ cảnh tượng ấy không hiu hắt thê lương, mà trái lại bốc lên ngạo khí ngất trời.

Còn chỗ tương phản tuy không nói ra nhưng bày trước mắt. Là trước kia trên ngàn núi từng có chim bay, khắp muôn nẻo từng thấy đông người. Nhưng bây giờ hết thẩy vắng bặt, chớ thấy tăm hơi. Trận tuyết rơi dày đặc khiến bao sự sống tưởng chôn vùi. Để rồi nẩy ra ông câu làm mầm sống mong manh, cục cựa ngoi lên.

Chỗ tương phản nữa là giữa hư vô với hằng hữu. Chim đã mất tăm, người càng biệt tích, khiến đất trời thành quạnh quẽ, trắng xóa một màu. Đó là vẽ cảnh hư vô. Cái hư vô đó cốt làm nổi bật hình ảnh ông câu. Chiếc nón lá áo tơi hiện ra làm chứng giữa càn khôn, là con người vẫn hằng hữu.

Cái hư vô vắng quạnh bao trùm, khiến chiếc xuồng câu càng ra nhỏ bé, chỉ còn là một chấm nhỏ giữa bạt ngàn tuyết trắng. Vậy mà Liễu Tôn Nguyên vẫn nhìn ra trên xuồng đó có lão nón lá áo tơi. Lão đó đang thả cần câu, bắt gợi ra sợi dây câu mỏng tang đang lung lay nhí nhảnh theo làn nước. Chỗ tương phản giữa hư vô với hằng hữu, tới đây càng được đẩy lên hết nấc…

* * *

Phần số Liễu Tôn Nguyên ngắn ngủi, chỉ góp mặt trên trần thế bốn mươi bẩy năm. Đã vậy khéo xui, còn đầu thai lầm thế kỷ. Hai mươi tuổi, ông đậu tiến sĩ ra làm quan, để rồi suốt hăm bẩy năm sau đó lao đao miết giữa bể hoạn ba đào.

Bài Giang tuyết nầy Nguyên làm lúc bị biếm ra Vĩnh Châu. Xứ đó nằm về mé nam tỉnh Hồ Nam ngày nay, vốn thuộc vùng ôn nhiệt, ít khi có tuyết. Vậy mà chỉ một trận tuyết hiếm hoi, đủ khiến ông vọt ra hai mươi chữ để đời.

Với lại nói nghe nè, bài nầy không biết tác giả vô tình hay hữu ý, còn là thơ khoán thủ. Hổng tin cứ đọc mấy chữ đầu câu thì biết.

Lê Vĩnh Húy

304Đem – llttm - sgtc

 

Một Nghề Sáng Giá - Thùy Dương

 

Một Nghề Sáng Giá




Tôi du học Tây về!

Câu đơn giản thế nhưng lanh lảnh như tiếng chuông mới đúc. Chữ  “Tây”  không chính xác về địa lý nhưng chuẩn xác về sự phân chia cấp bậc cũng như cái nhìn trong xã hội. Có điều tôi chỉ đi  “Tây” Nga về chứ không  “Tây” Mỹ,  “Tây” Úc hay “Tây” Đức, Pháp…  Cái “thiệt thòi” hôm nay là  “ưu đãi”  trước kia của Bộ đại học dành cho tôi. Chả gì nước Nga cũng  “ông anh cả”  của Việt Nam –  “nước cộng hòa thứ 16 của Liên xô”.

Tôi là kỹ sư kinh tế ở Nga về.  Nghe không vang như câu trên.  Phải thôi.  Kinh tế Nga chục năm nay lu mu, chả ra  ” kế hoạch quốc gia “, chả ra  ” kinh tế thị trường “.  Sách vở là phương tiện cãi nhau của các nhà  ” đổi mớ i”.  Năm năm đèn sách nhét thứ đó vào đầu không ngớ ngẩn là may.

Tôi mang chiếc bằng xinh xinh đi xin việc cùng lời quảng cáo khiêm tốn như trên. Đầu tiên tôi mua báo, nghiên cứu  ” tuyển người “, đánh dấu xanh đỏ những chỗ  ” khả thi “.

Tôi bắt đầu gọi điện.  Nhà có điện thoại lợi đủ đường.  Tuy nhiên, mỗi lần  ” bắt ” được giọng đầu dây kia, hiện tượng này chiếm 30% số lần gọi,  mẹ và bà chị dâu đều  ” ý tứ ” xem đồng hồ.  Nào tôi có ham ” nấu cháo điện thoại ”  mà tại phí điện thoại nó  ” cấu ” vào đồng lương gớm quá. Tôi học kinh tế ở Nga, tưởng  ” kinh tế ” cho gia đình mấy năm sinh viên. Nào đâu đúng thời kỳ khó khăn. Việt Nam qua thời “tem phiếu ” từ lâu mà nước Nga bắt đầu ” talon “*.  Tháng 2 kg đường, 7 lạng thịt, 2 chai vôtka là tiêu chuẩn sinh viên!  “Talon”  đường và rượu coi như đủ còn 7 lạng thịt thiếu nặng. Ra chợ, có đấy, nhưng “đời sinh viên lấy đâu ra tiền”. Chẳng nhẽ để con gái chết đói ở đất nước Xã hội chủ nghĩa, mẹ tôi đành tiếp viện. Năm năm “hạch toán” ra chắc cũng lõm của mẹ tôi khối. Biết thân, biết phận nên về nước tôi không dám làm mình, làm mẩy “quen ở Tây”  thế nọ, thế kia. Chỉ duy nhất cái  “màn tra tấn”  6 giờ sáng bị khua bằng đủ âm thanh  “nội”  “ngoại”  là tôi  “choáng”  hẳn. “Nội”  là tiếng mẹ tôi mở cửa sắt đi tập thể dục, chị dâu tranh thủ sáng có nước bơm giặt giũ. Xô chậu “duyệt binh” xủng xoảng ra trữ nước dùng trong ngày. “Ngoại”  là tiếng rao bán. Từ ” mỳ nóng”,  “bánh cuốn”,  “xôi”  các loại đến gạo tẻ, gạo nếp  “tên tuổi”  nghe như tiếng Thổ, hoặc mắm muối kèm mùi khó tả… Rao the thé, ồ ồ có, ai oán, uốn éo cũng có.  Điên nhất là ông mãnh “mỳ nóng”  sáng nào cũng chính xác như đồng hồ Tây.  Nó đứng dưới cửa sổ tôi gào “mì nóng”  lanh lỏi, kết thúc bằng chữ  “ròn”.  Chao ôi, khâm phục độ nẩy của lưỡi nó. Đồ rằng, cả miền Bắc có mình nó biết phát âm chữ R!

Không trốn được những âm thanh đó, tôi chúi đầu vào đống chăn chịu đựng qua “cơn bĩ cực”.  Nhưng giờ  “thái lai”  đến là lúc mẹ tôi đi tập thể dục về. Nhìn con gái còn “giương đò”,  bà lại ca  “dậy sớm có lợi cho sức khỏe”  là lá la… Thôi thà dậy béng cho xong.

Chuyện xin việc không thể gọi điện thoại. Tôi đã qua bài học thứ nhất khi tổng kết thông tin qua điện thoại là con số 0 tròn trĩnh. Mấy người trực điện thoại hoaặc nhấm nhẳng hoặc chẳng trả lời câu nào cho ra hồn.

Tôi mò tới các “Trung tâm giới thiệu việc làm” và thấy ngay mình là con ngớ ngẩn. Vừa lộ “tốt nghiệp ở Nga về”, họ hỏi ngay:

“Sao không ở lại, về làm gì?”

“Làm việc.”

“Việc gì mà làm?”

Tôi trố mắt nhìn họ, thầm điểm lại xem mình có vào nhầm chỗ.

“Ở đây không giới thiệu việc à? Sao ngoài kia cả chục người làm hồ sở”

“Họ làm hồ sơ xin đi ra nước ngoài lao động, làm ăn.  Đi Hàn quốc, Libi, Iran… có cả đi Nga đấy. Cô có muốn… ”

Tôi xua tay cám ơn rồi chuồn thẳng ra cổng.

Bài học thứ hai. Tránh lai vãng ở “Trung tâm giới thiệu mờ ám”. Không khéo bị lẫn vào hàng ngũ các cô gái “sính” chồng Đài Loan thì hỏng.

Sau hai bài học, 50% nhiệt tình “phục vụ đất nước” đã đi tong. Tôi chuyển sang  “xu hướng”  nghe ngóng, suy xét chứ không đâm đầu làm theo báo nữa. Người thân mong ngóng tôi trở về sau những năm xa cách, qua 5 tháng, tình cảm cũng vơi đi. Đến mẹ tôi còn sốt ruột khi thấy con gái thất nghiệp nằm chỏng gọng ở nhà. Bà rỉ rả nhắc  “nhàn cư vi rồi đấy con ạ”. Thì đúng quá rồi, nhàn đến “rách việc” đây. Sáng chiều cơm nước. Từ ngày tôi về, tự dưng cô “Osin” được về quê. Chả hiểu bà chị dâu tôi tốt nghiệp khoa kinh tế ở đâu mà giỏi tính thế. Tôi hậm hực cũng chịu, nhăn nhó mẹ tôi lại chả  “hát”  nửa tiếng đến ong thủ mất. Bạn bè, đứa có việc đi làm cả ngày, đứa chưa có việc lại có người yêu hay chồng con.

Tôi trơ thổ địa, chẳng nhẽ trách ông Trời. May có dăm ba đứa cũng dạng  “lơ lửng giữa trời”  như tôi. Tối tối tôi xách xe chạy qua nhà bọn chúng tán gẫu, chia xẻ kinh nghiệm xin việc và  “mánh khóe sống đời”  cho nhau. Tôi hiểu giờ người ta xin việc là xin vào chỗ có “mầu”.

“Mầu” là bổng lộc. Khoản này không thể có ngay khi mới làm mà phải nhích lên  “lão làng”. Không phải ai cũng nhấp nhổm lên được. Chỉ những “tinh hoa” thôi. “Mầu”  nữa là  “mầu đi Tây”  theo suất  “nâng cao”. Tụi bạn tôi may mắn có việc thấy chí tiến thủ của chúng nhuộm sắc “hướng ngoại”. Chúng cong mông chạy theo các lớp tiếng Anh, tiếng Pháp như lũ  “sống gấp”, xem ngoại ngữ là cái  “cánh”  mang chúng ra bầu trời tự do. Sau mấy tháng  “thất nghiệp”  từ một con “Nga ngố”  tôi kết hợp tính nói thẳng, nói thật của Tây với ngoa ngoắt của mấy bà hàng rau, hàng thịt mà mỗi ngày hai lần tôi nhẵn mặt thành một dạng  “củ chuối”  mà mẹ tôi không chấp nhận được. Không chấp nhận thì cũng chịu thôi. Bạn bè bầu tôi là  “huấn luyện viên phụ huynh”  tầm cỡ. Từ chỗ mẹ tôi muốn lấy lại hình ảnh đứa con gái út thùy mị của trước ngày đi Tây, chuyển sang tôi  “biến”  bà phải chấp nhận triết lý  “cái gì cũng có thể với con gái mình”, thậm chí là cướp biển!  Một kết quả đôi bên cùng có lợi. Tôi được tự do, mẹ tôi khỏi thấp thỏm khi khuya khoắt. Nhưng còn một cái lợi nữa mà tôi chưa lường được. Tình trạng  “bụi đời”  của tôi khủng bố tinh thần cả nhà nên họ huy động toàn bộ các mối quen biết họ hàng từ  “bắn đại bác” đến “phi dao”  để tìm việc cho tôi. Vào một bữa cơm chiều, ông anh trai yêu quý của tôi thông báo một tin quan trọng rằng có ông giám đốc, bạn cũ hồi phổ thông, dù mới tìm lại nhưng có nhiều duyên nợ với ông anh tôi, nhận tôi vào công ty ông ta. Mà đó là công ty nhà nước trăm phần trăm nhé, thuộc Bộ khoa học và Công nghệ môi trường cơ mà. Cả nhà xôn xao, khởi sắc. Tôi cũng hí hửng như sắp thành “ông nọ, bà kia”.

Thêm bài học thứ ba. Muốn xin được việc phải quen biết. Tổng quát, muốn được bất kỳ việc gì đều phải có  “quan hệ”. Cứ kiểm chứng bằng những buổi tôi  “đánh quả”  nhà bạn bè là biết. Chị dâu hay mẹ tôi đi chợ, y rằng bọn bán hàng nó giúi cho rau già, bí xơ, thịt dai nhách. Không có  “quan hệ khách hàng thường xuyên”  tôi xây dựng mấy tháng nay làm sao mà có đồ ăn ngon. Tôi giờ ra chợ mua cả tuần không trả tiền là cứ vô tư. Quen thế, không chừng khi nào cưới, tôi phát đại cho chúng thiếp mời cũng chẳng có gì muối mặt hết!

Ông anh giục tôi tới Bộ Giáo dục và Đào tạo xin giấy chứng nhận tốt nghiệp làm hồ sơ. Tôi ngoạc mồm cãi  “bằng sờ sờ ra còn chứng nhận, chứng nhiếc gì”  liền bị cả nhà xúm vào sỉ vả ác liệt. Mỗi người một giọng lên lớp hòng dẹp cái thói  “ngông nghênh” của tôi.

Mười giờ sáng tôi có mặt ở cổng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Phải công nhận  “mười năm trồng cây, trăm năm trồng người”  có khác. Nhà cửa của Bộ đàng hoàng, khang trang.

Khu vườn rộng thênh thang giữa thủ đô tấc đất, tấc vàng nhìn mà sướng mắt. Theo hướng chỉ của bảo vệ, tôi tiến đến khu nhà 5 tầng. Tôi bắt đầu một chuỗi những  “xin lỗi chú cho hỏi”,  “xin lỗi cô cho biết” và cuộc “việt dã”  theo cầu thang. Giờ tôi mới biết người Việt Nam nào có tính  “nhúng mũi”  vào chuyện người khác. Tất cả các câu hỏi của tôi về phòng cần tìm đều được trả lời u ơ  “không rõ”,  “hình như”, “tầng ba hay tầng hai gì đó”. Tôi khùng người vì leo thang nhưng ngộ ra vì sao mẹ tôi về hưu rồi còn tập chạy, có lẽ thói quen chăng? Cuối cùng tôi cũng mò ra phòng phụ trách lưu học sinh tốt nghiệp về nước. Tôi gõ cửa dõng dạc, bước vào sau tiếng hừm hừm thay tiếng mời. Tất nhiên tôi chào lịch sự như Tây dù chỉ nhận lại chiếc gật hay lay động cơ cổ.

“Cô cần gì?”

Một trong hai người đàn ông đang đọc báo chậm rãi hất hàm hỏi.

“Thưa, cháu xin chứng nhận tốt nghiệp để làm hồ sơ xin việc.”

“Về bao giờ?”

“Dạ, gần một năm.”

“Sao giờ mới lên đây?”

“Dạ… chẳng ai bảo cháu phải lên ngay cả.”

“Cô này vô tổ chức, nguyên tắc về nước phải báo cáo ngay, còn chờ ai bảo.”

Tôi bị mắng đã “ngứa tai” nhưng bài học cả nhà dạy hôm qua còn nguyên nên tôi im như hến. Tôi rút bằng, sổ điểm cùng giấy sứ quán cấp trước khi về nước trình cho ông ta. Ông ta cầm tấm bằng, không đọc mà lật qua, lật lại.

Lật chán ông quay nhìn tôi. Nhìn như đánh giá mặt hàng, không khác gì tôi chọn cá ngoài chợ. Thậm chí còn hơi bĩu môi. Tôi thầm nghĩ, ông này mua cá mà  “thể hiện”  thế, bọn hàng cá chửi cho tanh người. Nghĩ gì thì nghĩ tôi vẫn làm mặt khép nép. Chợt ông ta ném bẹt cả bằng lẫn giấy tờ của tôi xuống bàn, hỏi gọn lỏn:

“Học gì? Ở đâu?”

“Dạ kinh tế, trường Plekhanov ở Matxcơva.”

“Học từ năm nào? Tốt nghiệp năm nào?”

“Dạ… những điều đó có cả trong bằng rồi, sao chú còn hỏi.”

“Tôi hỏi là việc của tôi. Cô không trả lời được phải không?”

Ông ta ngẩng nhìn tôi mãn nguyện. Chả hiểu ông ta phát minh được cái quái gì từ mấy câu hỏi trẻ con đó mà mắt ông chợt ánh lên ranh mãnh.

“Cô học hành cái gì. Sang chỉ lo đi buôn, bằng thì mua.”

Tôi há hốc mồm còn chưa tin ông ta đang “vu cáo” mình. Ông ta dồn tiếp:

“Cô nói tôi nghe, bằng này cô mua bao nhiêu?”

Đến nước này tôi chịu hết nổi. Bao kinh nghiệm cãi nhau với mấy bà ngoài chợ chợt loang loáng trở về. Tôi vênh mặt không kém ông ta, mắt cũng “đèn pha ôtô” xoáy áp đảo:

“Chú nói bằng này giả? Chú nói bằng này mua? Nghĩa là bảng điểm cũng giả, giấy chứng nhận của chú trưởng phòng Lưu học sinh Matxcơva cũng mua nốt. Vậy chú làm ơn ghi cho cháu mấy chữ vào đây. Tiện ký và đóng dấu luôn cho cháu.  “Nói có sách, mách có chứng”,  mai kia có người sang Matxcova, cháu kiểm chứng lời chú.

Vừa nói tôi vừa rút xoạch tờ giấy trong túi và cây bút đặt trước mặt ông ta. Ông ta đứng bật dậy, há hốc mồm chẳng khác gì tôi lúc trước, lúng búng:

“Cô… cô ăn nói với tôi thế hả. Giọng lưỡi con buôn…”

“Chú nhìn người như thần. Cháu học kinh tế chú nói đi buôn. Bằng chú lật qua cái mà biết giả, thật kém gì người buôn “xanh”…”

Ông ta đập bàn đánh rầm:

“Cô tưởng đây là cái chợ mà cô phát biểu vô tổ chức… cô biết đây là đâu không?”

Tôi suýt nữa cũng học bà bán thịt bò kèm 70% thịt trâu ngoài chợ chống tay vô hông, “quạc” lại:

“Cháu biết… thì chỉ có chợ mới nói “giả, thật, giá bao nhiêu” chứ.”

Mặt ông ta đỏ rần như người có triệu chứng huyết áp “quá tải”.  Tôi trót  “cưỡi lưng hổ”, tự biết không đường lui. Cuộc đấu khẩu sẽ đến đâu nếu không có tiếng cười của người đàn ông thứ hai trong phòng. Cả hai  “đối thủ” cùng dồn mắt sang ông ta. Người đàn ông chậm rãi tới bên tôi. Nét mặt hòa nhã nhưng mắt giấu vẻ khoái chí sau cặp kính.

“Cháu nói với chú Đạo thế là không được rồi. Chú Đạo người lớn chẳng chấp cháu  ‘trẻ người, non đá ” làm gì. Đứa nào mới đi Tây về chẳng thế. Đưa bộ copy đây chú vào sổ. Chiều mai lên lấy giấy ở phòng 32. Thôi, chưa xin lỗi chú Đạo đi còn chờ gì?”

Nghe vậy là tôi đủ  ‘thông minh’  hiểu ý của ông. Một trọng tài kinh nghiệm thổi còi đúng lúc nhắc hai cầu thủ  ‘fair play” ! Tôi chuyển tần số lời nói:

“Chú Đạo bỏ qua cho cháu mấy lời láo lếu vừa rồi. Ở nhà cháu vẫn bị mẹ mắng suốt vì tội cãi bướng mà.”

Chú Đạó kia mặt vẫn đỏ nhưng lẽ nào không  ‘miễn cưỡng ” bắt tay đối thú. Ông ta lầm lỳ chẳng ra gật, ra lắc ngồi xuống cầm tờ báo đọc tiếp. Tôi lại gần người đàn ông mang kính để ký vào sổ, khẽ nói nhỏ:

“Cháu cám ơn chú nhiều.”

Ông ta mỉm cười với tôi:

“Molodec!” (Cừ lắm!)

Bữa cơm chiều, tôi  ‘tường thuật’  lại chuyện  ‘chú Đạó. Chị dâu tôi khoái bất ngờ tới mức trước mặt mẹ chồng dám vỗ đùi đôm đốp. Tôi ngờ rằng bà này cũng từng bị cái Bộ kia  ‘đì” rồi nên giờ được ‘trả thù quá khứ”.  ẹ và anh tôi nhăn nhó. Mãi sau mẹ mới chép miệng:

“Mày thật chả khác bố mày ngày xưa.”

Bố tôi ra đi sớm khi tôi mới 10 tuổi. Tôi chẳng còn nhớ nhiều về ông. Nhưng tôi tin, nếu ông còn, giờ ông sẽ xoa đầu con gái rượu chứ chẳng mắng tôi đâu.

Đầu tuần, theo lời ông giám đốc tôi đến cơ quan làm việc. Không biết nếu tôi đi làm dâu mẹ tôi có lo như tối hôm trước ngày tôi đi làm. Bà đi ra nhắc, đi vào dặn. Thiếu nước bắt tôi nhắc lại lời bà. Anh trai tôi răn đe:

“Mày làm thế nào cho tao còn gặp lại được bạn bè. Bớt mồm đi. Người ta hỏi, trả lời cho ngoan ngoãn đừng có như con lỏi con. Lớn rồi, nghe người ta hỏi phả i biết ý họ mà trả lời.”

Con bạn thân gọi điện đọc ‘lesson ngày đầu tiên tới cơ quan’ cho tôi lĩnh hội. Nào bánh kẹo, thuốc lá, trà ra sao, nào chào ai chú, ai anh, ai cô, ai chị… Đặc biệt khoảng ‘ngoại hình’  rất quan trọng. Theo lời nó:

“Mặc đầm cho nữ tính. Đầm dài bớt ganh ghét của đồng nghiệp nữ nhưng mất cổ động viên nam. Độ ngắ’n của đầm tỉ lệ thuận với trình độ văn hóa.”

Tôi lục tung valy tìm ra được chiếc đầm xanh. Màu hơi ngớ ngẩn nhưng có vẻ nữ tính. Độ dài của nó vừa khéo để không sexy cái đầu gối củ lạc, lại chứng tỏ tính kín đáo của bằng Đại học.

Tôi đi sớm, lởn vởn ở sân chờ phòng số 4 có người. Theo lời ông giám đốc, tôi xông thẳng tới  ‘làm quen’.  Ở nhà mẹ vẫn khen tôi có đức  ‘trơ tráó trước chỗ lạ” .

Tôi còn nhiễm tính ‘tự tin mù quáng’  của nguời Nga nên chả có gì bối rối khi bước vào.

“Chào các chị, các anh”  Tôi hơi nghiêng người và nở nụ cười bài bản

– “Em là Thu, anh Bình giám đốc nhận em vào làm công ty mình từ hôm nay.”

Năm người, định vị năm bàn quay nhìn tôi. Một giây, hai giây… năm giây. Tôi chợt thấy nụ cười trên môi mình vô duyên trước 10 chiếc mắt dọi vào. Từ hôm về nước, tôi xem nhiều phim Việt Nam và không chịu được vẻ vô cảm của các  ‘saó  điện ảnh. Giá họ học được vẻ mặt của năm người đang chiếu tướng tôi đây chắc nền điện ảnh Việt Nam sẽ phất kém gì Holywood. Sang giây thứ sáu, muốn hay không nụ cười của tôi cũng không le lói hơn được nữa. Tôi đứng đực ra chờ phản hồi nhưng hình như cả năm người cố làm vẻ nghễnh ngãng. Túi quà  ‘lót đường’ của tôi nặng ịch  mang về cho lũ bạn đánh chén còn hơn cho bọn câm điếc này.  Tôi bắt đầu cáu, thầm chửi cái số mình đi đâu cũng không đầu xuôi, đuôi lọt.

“Sao tôi chả nghe, chả biết gì nhỉ?”

Một giọng nam chất kim vang lên phá tan bầu không khí ‘mặc niệm’.

“Ông Bình làm những chuyện lạ đời. Đùng đùng cái gì cũng theo ý mình, hay dở thế nào cho người khác đổ vỏ.”

Giọng nữ ồ ồ cằn nhằn.

“Em có nghe loáng thoáng hôm lên phòng giám đốc” giọng cô gái khá trẻ ngồi bàn gần cửa – “Anh Bình nói nhận người về vì sắp tới công ty mình ký hợp đồng với công ty thiết bị y học của Nga.”

“Ôi dào, viện này thiếu gì kỹ sư học Nga về. Toàn thằng chẳng làm được việc gì lại còn nhận thêm.”

Giọng kim vừa nẫy nhưng lần này tôi đã phát hiện ra củ a một người đàn ông ngồi góc phải. Dù cửa sổ mang ánh sáng ban mai vào nhưng khuôn mặt ông vẫn không vì thế bớt già nua và nhăn nhó như quả táo Tàu. Kinh nhất là cặp mắt kẻ chỉ, khó đăm đăm đang tranh thủ ‘miệt thí tôi.

Tôi vẫn đứng vì chả có ai định mời mình ngồi xuống chịu trận. May hôm nay tôi mặc chiếc đầm xanh. Tuy ngớ ngẩn nhưng theo các nhà  ‘tâm lý học’, màu sắc có tác dụng giải tỏa. Màu xanh lờ lợ đó như lá chuối đặt trên thùng nước đang sánh, qua sánh lại, cản con sóng ngầm âm ỉ. Nhưng khổ nỗi  ‘chiếc lá chuốí  ” này không mảy may tác dụng ‘tâm ly”  ông giọng kim. Ông chán bâng quơ, chuyển sang chĩa mũi dùi vào tôi:

“Ai bảo cô tới đây?”

Kinh nghiệm ở Bộ Giáo dục và Đào tạo đã dạy tôi chằng nên ngạc nhiên trước câu hỏi thừa. Ngoan ngoãn như lời ông anh dặn, tôi thỏ thẻ:

“Dạ thưa, anh Bình dặn sáng nay em tới trước làm quen với các anh chị. Anh Bình sẽ tới muộn một chút ạ.”

Tình hình nghe ra chẳng sáng sủa hơn sau câu trả lời nhún nhường của tôi. Chỉ có cô gái gần cửa lịch sự hơn cả, bước tới kéo ghế mời tôi ngồi. Tôi cám ơn cô đầy cảm kích. Tôi nghĩ  tội vạ đâu ông Bình chịu, bảo đến làm thì đến, đã đến thì đúng chỉ dẫn của con bạn mà thực hiện’. Tôi liếc tìm bộ ấm pha trà, lấy mấy gói bánh kẹo, thuốc lá ra đặt trên bàn, mạnh dạn hỏi cô gái còn đang đứng gần tôi:

“Cho mình mượn mấy chiếc đĩa được không?”

“Đồng minh trong hy vọng” của tôi nhanh nhẹn mở tủ lấy đồ và giúp tôi. Tôi thầm cám ơn Trời. Dù thái độ củ a tôi giờ không còn tự tin như trước nhưng tôi vẫn đủ  ‘khả năng’  bê ra từng bàn mời các vị đang chiễm chê. đọc báo và bình luận chuyện không đâu. Tất nhiên họ uống trà.

Tất nhiên họ gặm nhấm bánh kẹo và coi sự phục vụ của tôi là  ‘tất nhiên’  khỏi cần cảm ơn. Còn tô i ‘tất nhiên’  phải quên thói lịch sự của Tây mà coi đó là văn hóa Việt Nam!

Người đàn ông ngồi gần cửa sổ chợt cắt ngang câu chuyện về giá xe máy Thái lan đang xuống, hỏi tôi:

“Em học ngành gì bên Ngả”

“Dạ em học Kinh tế.”

“Lại Kinh tế”  giọng kim lần này hơi méo có lẽ do chiếc kẹo Hải châu còn mắc trong răng

– “Đâu cũng nhan nhản kỹ sư kinh tế. Mang tiếng học hành mà chả biết ‘đếch’ gì. Làm hợp đồng viết ngu bỏ mẹ. Cháu ông Viện phó cũng học Kinh tế vừa vào Viện này, con bà Hoài phòng ‘Công nghệ nguyên tứ cũng đang làm hợp đồng bên đó.”

Tôi khẽ nhăn mặt. ‘Lại gặp bạn ‘chú Đạó rồi. Giờ mà ông chuyển sang hỏi giá bằng Đại học, mình phải hô bao nhiêu đây?”

“Cô ở đâu đến đây?”

Chiếc kẹo đã chui tọt vào họng nên câu hỏi vang lên lanh lảnh. Một câu hỏi đơn giản như bài học đầu tiên của chương trình học ngoại ngữ, ông có hỏi bằng tiếng Anh tôi vẫn trả lời vô tự

“Em ở Hà Nội ạ.”

Những khuôn mặt  ‘đầy ấn tượng’  hiện ra. Cáu kỉnh là của ông giọng kim:

“Ai chả biết Hà Nội. Quen ai mà tới đây?”

“Á… “- hơi ngượng vì sự ‘chậm hiểú nhưng tôi chữa ngay “Dạ, em chỉ quen anh Bình giám đốc thôi ạ.”

“Quen mỗi ông Bình mà xin được vào Viện lớn thế này.”

Giọng ồ ồ thắc mắc kèm theo cái nhìn nghi vấn rất  ‘nữ tính’. Tôi còn quen thêm được ai từ ngày về nước ngoài mấy bà buôn ngoài chợ.

“Thế cô con ai?”

Cái hất hàm đầy tính ‘khảo sát’ của ông giọng kim chĩa vào tôi. Tất nhiên lần này tôi đã  ‘thấu”  câu hỏi. Ông anh tôi chả dặn phải xem ý người ta mà trả lời là gì.

Tôi dõng dạc:

“Dạ em không con ai cả ạ.”

Có bịt tai tôi cũng nghe tiếng cô gái  ‘đồng minh’  cười váng lên. Tiếng ho khục khục dấu tiếng cười  ‘thiên nhiên’  là của ông ngồi kế cửa sổ, một anh chàng trung niên từ đầu chưa nói gì chợt rút kính lau lấy, lau để. Chỉ còn lại hai khuôn mặt  ‘đằng đằng’  của hai chất giọng  ‘ngược đờí  ” là thộn ra. Giọng kim rít lên:

“Cô học đâu kiểu nói trêu ngươi thế hả? Cô biết tôi là ai không?”

Tôi nghệt mặt ra chả hiểu mình có tội gì. Tôi quay sang  ‘đồng minh’  cầu cứu nhưng cô còn mải cười đến mức không nhịn được phải chạy bắn ra hành lang, vội vàng lao ngay vào ông Bình đang bước tới. Cô khẽ  ‘Ốí” , ngượng nghịu.  Bốn người còn lại kéo ghế đứng lên chào đồng loạt. Chỉ có tôi đang ngẩn ngơ vì ‘quả mắ’ng’  nên ngồi tại chỗ khẽ lúng búng chào.

“Chào mọi người!”  Giọng sang sảng đúng chất Sếp. “Làm quen vui quá. Nhân viên mới có quà cho anh em hả. Được đấy.”

Quay sang bên, ông giám đốc nói:

“Anh Trung tổ chức và chị kế toán lên phòng tôi có việc cần bàn nhé!”

Hai người đứng dậy theo ông lên phòng. Tôi toát mồ hôi.

Thôi xong. Ông anh đã dặn  “khéo lời với ông trưởng phòng tổ chức mới hòng được vào biên chế”.  Loạng quạng thế nào tôi  “trêu ngươi” ông ta rồi. Vụ này khéo đứt!

Ngày sau, tôi đến, chẳng có chỗ riêng của mình trong phòng, chẳng có việc cụ thể. Giám đốc bảo làm quen công việc nhưng có ai nói năng gì với tôi đâu. Cô  ‘đồng minh’  trở nên giữ kẽ. Mặt ai cũng như bức tường.  Cảm tưởng tôi bị tẩy chay. Tôi ra hành lang nghe chim sẻ chíu chít trên nhánh xà cừ, buồn bã như mình lạc giữa đảo hoang.

Vài ngày sau, giám đốc chỉ tôi phòng nhỏ, kêu tôi dọn dẹp, kê bàn vào lấy chỗ làm việc. Sáng 8 giờ đi, trưa cơm nhà xong phóng tới công ty. Việc duy nhất là ngồi và ngó qua cửa sổ.  ‘8 giờ vàng ngọc’  thoải mái tiêu cho chuyện. Chán, tôi lò dò xuống phố thăm tình hình Model của Hà nội.

Từ ngày tôi đi làm, dù tập sự không lương, mẹ yên lòng hẳn. Tôi từ chỗ mang tiếng thất nghiệp chuyển sang ‘thất nghiệp’ toàn phần. Hiếm hoi gặp bọn bạn chẳng biết kể chuyện gì. Chẳng lẽ kể chuyện ‘năm anh em trên chiếc xe tăng’  hở ra là nã đạn vào tôi. Hay kể chuyện ông Sếp sáng đảo qua công ty vài phút là biến. Thỉnh thoảng, ông định vị trong phòng vài tiếng thì toàn thấy  ‘họp… kín’.  Có lần không nén được tò mò, tôi ghé tai nghe trộm. Hoá ra các bố chơi  ‘tá lá”.  Tôi chán ngấy vì đóng vai người thừa. Vừa ho hoe tính chuyện xin thử chỗ khác đã bị ông anh dạy thế nào là đức kiên tâm ‘trường kỳ kháng chiến’.  Tiền tiêu do mẹ tài trợ đủ ăn sáng, bơm xe, tình rỗng tuyếch, công việc đuổi ruồi.  Tôi tù túng trong mọi ràng buộc từ nhà đến công ty.  Mẹ tôi nhắc khéo chuyện ‘gia đình’.  Tôi tỉ nh queo:

“Mẹ chi tiền. Con ra chợ coi thằng nào  ‘sạch nước cản’  mua về làm chồng.”

Bà chán chả thèm nói.

Tôi buồn, tôi nhớ nước Nga. Khi ở đó tôi chỉ nhìn thấy những điều đen tối mà chê nhưng khi về rồi tôi biết tôi thiếu nó. Cho dù ngày đó có bơ vơ, có khó khăn, khắc nghiệt nhưng tất cả thật rõ rằng để mình phải vượt qua. Còn sống nơi quê hương sao tôi lạc lõng. Ai giúp tôi mài bớt những sù sì, góc cạnh để có thể lăn tròn trong xã hội này?

Tối thứ Bảy tôi ngồi nhà xem vở tuồng  ‘tân cổ giao duyên’, ngoan như bà góa thủ tiết với chồng. Chuông điện thoại kêu, tôi uể oải nhấc.

“Thu hả?”

“Thu đây, ai đó?”

“Còn nhớ Thắng ‘mập’ không?  Tao đây.”

“Ôi Thắng, mày đang ở đâu vậy?”  Tôi reo lên khi nhận ra thằng bạn thân từ ngày học phổ thông đến suốt năm tháng ở Nga.

“Matxcơva chứ ở đâu. Mày thế nào, nghe tụi nó bảo đi làm rồi hả? ”

“Làm khỉ gì, chán muốn bỏ. Tao đã thấy lời mày khuyên ở lại là ‘chân lý”

“Thế mày còn thích đến với ‘chân lý”  không?”

“Thích cũng phải qua  “khối cửá ” mới tới được ‘chân lý”  Còn mày thế nào?”

“Tao gọi về hỏi mày chịu qua giúp tao phụ trách phần kế toán cho công ty của tao ở Matxcơva không? Đồng ý tao gửi giấy tờ về làm hộ chiếu. Tao điểm ra chỉ mày đủ khả năng, đúng nghề và tính ‘bà la sát’ của mày mới trị được bọn trong công ty. Nghĩ sao?”

Tôi bất ngờ chẳng nói được lời nào. Hơn một năm qua, tôi đã biết, ở Việt Nam  ‘nghế sáng giá nhất là  ‘nghề đi Tâý,  ‘nghề xuất ngoạí”  dù ngắn hạn, dài hạn. Những ai chê  nghế này chắc chắn là Sếp. Mà Sếp chỉ chê  ‘dài hạn’  vì đi lâu dễ ‘vênh cá ” chứ  ‘nga (‘n hạn’  Sếp OK đầu tiên.

“Ê, chán nước Nga chưa mà im như thóc vậy?”

“Không… tao đang tính” – tôi lúng túng không biết nên nói kiểu gì để hợp ‘phong cách người Hà nộí” :

– Mẹ tao lo đi nữa sẽ  ‘ê sắc ế”…”

“À… mày định lấy chồng kiểu gì tao không biết nhưng nếu định lấy thằng yêu mày thì lấy tao đi. Tao yêu mày lâu rồi.”

Lần này tôi  ‘cấm khẩu”  hoàn toàn. Thắng chợt chuyển giọng:

“Nói thật đấy.”

Trời ạ, mẹ tôi nói cấm có sai  ‘Ngưu tầm ngưa, báng bổ như mày, chỉ có thằng ngang ngửa mới thèm yêu.  Dù ‘củ chuốí ‘ cỡ nào tôi cũng không thể tưởng tượng ra được màn tỏ tình ‘mày’  ‘taó  qua điện thoại quốc tế!

“Thu ơi, suy nghĩ đến trưa mai nhé!”  Thắng cười hì hì trong máy  “thời Edison chỉ cho suy nghĩ 5 phút thôi mà.  Nhe sutru, 100% xeriozno! Do zavtra! (không đùa đâu, 100% nghiêm túc. Hẹn mai!)”

Máy bay cất cánh, mảnh đất quê hương chao nghiêng. Dòng sông Hồng kia rồi, quanh năm đỏ đậm phù sa. Hà Nội li ti, nhấp nhô mái ngói. Tôi lại ra đi lần nữa. Chút nhơ nhớ, bâng khuâng về Hà Nội, về mẹ.

Giọng cô chiêu đãi viên Nga nhắc người ngồi cạnh đeo dây an toàn nghe quen như mới hôm qua. Nhưng hình như vẫn có gì là lạ. Có lẽ, lạ vì không ngơ ngác như khi xưa sang học. Con đường phía trước không trải thảm cho tôi. Sẽ không ít khó khăn, nhưng tôi biết ở đó tôi có thể sống và làm việc mình mong muốn. Cảm giác tự do ngọt ngào.

Hà Nội mờ dần qua làn mây mỏng. Quê hương ơi, ta sẽ về như tìm bóng cây giữa con đường chang nắng. Sẽ về để thêm động lực ra đi. Về để hiểu ta Người Việt Nam và Quê hương ngàn đời vẫn một!

Thùy Dương