Wednesday, October 14, 2026

Vượn Hú Hay Vượn Hót - Lê Vĩnh Húy

 Vượn hú hay vượn hót?

Thành ngữ “Chim kêu vượn hót” thường được người mình nói ra thành “Chim kêu vượn hú”, vì lẽ loài vượn có phải chim đâu mà hót!

 


Thiệt ra, đây là từ thành ngữ Tàu “Điểu minh viên đề” 鳥鳴猿啼; nếu dịch sát chữ phải là “Chim hót vượn kêu”, nhưng người xưa dùng phép đảo chữ để gây ấn tượng cho dễ nhớ, nên thành ra “Chim kêu vượn hót”[*].

Riêng trường hợp nầy lại ăn hên, vì chữ “hót” vừa hay tả đúng tiếng kêu con vượn. Mà chính trong nguyên bản Tàu cũng xài chữ Đề 啼, ý nói tiếng kêu của vượn như tiếng khóc nỉ non ai oán. Bởi vậy, Nguyễn Du mới tả tiếng đờn cô Kiều lúc hầu rượu Hồ Tôn Hiến:

Ve ngâm vượn hót nào tày,

Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu.

“Ve ngâm vượn hót” tức Thiền ngâm viên đề 蝉吟猿啼. Đây là chữ dùng của Ngô Quân 吴均 (469-520) thời Nam Bắc triều, lúc từ quan ẩn cư đã gởi bức thơ biền văn cho người bạn tên Cố Chương (bài “Dữ Cố Chương thơ” 與顧章書), trong có câu:

Thiền ngâm hạc lệ, thủy hưởng viên đề, anh anh tương tạp, miên miên thành vận.

蟬吟鶴唳,水響猿啼,英英相雜,綿綿成韻。

(Ve ngâm hạc quát, nước vang vượn khóc, thanh âm trộn lẫn liên miên như điệu nhạc).

Sau nầy, ông Hồ Chí Minh cũng mần thơ:

Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay,

Vượn hót chim kêu suốt cả ngày.

Nhưng ca dao ta lại có câu:

Má ơi đừng gả con xa,

Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu.

Vậy rốt cuộc con vượn hú hay là hót?

Hú là cất tiếng kêu lớn, vang vọng và kéo dài. Tiếng vượn kêu cô gái lấy chồng xa nghe được trong ca dao đó, là tiếng vượn gọi bầy, tả được nỗi niềm khắc khoải của người xa xứ.

Còn “vượn hót” là tiếng kêu của vượn lúc nó rảnh quá, ngâm nga lảnh lót một mình như gậm nhấm cô độc cho đỡ quê với đời!

Nói chung, vượn lúc hú lúc hót, tùy tâm trạng người nghe…

Lê Vĩnh Húy

304Đen – Llttm - sgtc

 


Ta Về Chung Một Nhánh Sông - KQĐ

 Ta Về Chung Một Nhánh Sông

 














Ừ ta về bên dòng sông cũ
Lắng nghe lời tình tự trăm năm
Tiếng con nước vỗ bờ quen thuộc
Nghe âm vang dội xoáy những thăng trầm…

Ừ ta ngồi đan bàn tay lạnh
Soi bóng đời tìm chút hương xưa
Thấy tiêu hao loang đầy trên tóc
Có buồn không khi đếm…nếp nhăn thừa

Ừ ta sầu một nỗi riêng tây
Mấy chặng đường qua mỏi cánh gầy
Đêm buồn thăm thẳm ngày cô quạnh
Xơ xác mộng lòng…ta biết đắng cay

Ừ ta ngược dòng giữa đêm trăng
Một thoáng lãng quên những vết hằn
Tim bừng lại phút giây chờ đợi
Và mắt môi cười… đọng chút mùa xuân

Ừ ta về chung một nhánh sông
Rồi cũng rong rêu mục chìm dòng
Nguyên thủy kết vòng tàn theo bụi
Hạnh ngộ một đời…vương vấn hư không!

KQĐ

Ngã Tư Bảy Hiền, Chuyện Sài Gòn Trước 1975 - Phạm Sơn Liêm

 

NGÃ TƯ BẢY HIỀN, Chuyện Sài Gòn trước 1975




Có những nơi, nhiều năm sau đi ngang lại, người ta chẳng còn nhận ra con đường cũ.

Nhưng ký ức thì vẫn còn đó.

Ngã tư Bảy Hiền ngày trước là một nơi như vậy.

Buổi sáng, đường phố đã bắt đầu ồn ào. Xe Honda, xe lam, xe đạp chen nhau. Tiếng còi xe hòa với tiếng rao hàng, tiếng guốc gõ trên vỉa hè.

Và hòa trong tất cả những âm thanh ấy là một thứ tiếng rất đặc biệt:

rẹt… rẹt… rẹt…

Tiếng máy may.

Hai bên đường có những tiệm may, tiệm sửa quân trang. Những bộ quân phục QLVNCH được mang đến để chỉnh lại vai áo, bóp eo, lên lai quần, thay nút, may lại túi áo, may huy hiệu….

Có những người lính vừa lãnh quân trang mới, còn nguyên mùi vải, đã ghé vào.

Có người thì bộ đồ đã bạc màu, vai áo sờn đi vì những tháng ngày ngoài trận địa.

Và cũng có những anh lính…

…ghé tiệm nhiều hơn mức cần thiết.

Không phải vì quân phục.

Mà vì cô thợ may ngồi phía trong.

Một buổi chiều năm ấy, một anh lính trẻ dựng chiếc Honda trước cửa tiệm.

Cô gái đang cúi bên chiếc máy may ngước lên.

— Anh sửa gì?

Anh lính tháo chiếc nón ra, cười:

— Cái áo này… em coi giùm anh.

Cô cầm chiếc áo lên.

— Áo còn mới mà.

— Mới nhưng mặc không vừa.

Cô nhìn anh từ đầu xuống chân rồi nói:

— Áo không vừa hay người mặc áo không vừa?

Anh lính bật cười.

— Chắc… người mặc áo không vừa.

Cô cũng cười.

— Đưa đây. Ba hôm nữa lấy.

Anh lính đứng dậy.

— Ba hôm lâu quá.

— Quân nhân mà cũng sốt ruột vậy sao?

— Tại… anh cần mặc sớm.

Cô ngước lên:

— Đi hành quân à?

Anh im một chút.

— Ừ.

Nụ cười trên môi cô chợt tắt.

— Bao lâu?

— Không biết.

Cô cúi xuống chiếc áo.

Lần này, tiếng máy may nghe nhỏ hơn.

Ba ngày sau, anh quay lại.

Cô gái đưa chiếc áo cho anh.

— Thử đi.

Anh mặc vào, đứng trước tấm gương nhỏ.

— Vừa chưa?

— Vừa rồi.

Anh nhìn vào gương rồi quay sang cô.

— Cám ơn.

— Có gì đâu.

Anh móc tiền trong túi.

Cô lắc đầu.

— Thôi, khỏi.

— Sao vậy?

— Lần đầu sửa áo, coi như em… làm quen.

Anh nhìn cô.

— Vậy lần sau?

Cô cúi mặt, giả vờ xếp vải.

— Lần sau tính tiền.

Anh cười.

— Vậy chắc anh phải có lần sau rồi.

Cô không trả lời.

Nhưng khóe môi hơi cong lên.

Từ đó, cứ vài tuần người ta lại thấy anh ghé tiệm.

Khi thì mang cái quần.

Khi thì chiếc áo.

Có hôm chẳng mang gì cả.

Cô gái đang may hỏi:

— Hôm nay sửa gì?

Anh đáp tỉnh bơ:

— Không biết.

— Không biết mà vô đây?

— Thì… kiếm cái gì để sửa.

Cô bật cười:

— Quần áo hết cái sửa rồi.

Anh ngồi xuống chiếc ghế gỗ.

— Vậy sửa giùm anh… cái này.

— Cái gì?

Anh chỉ vào ngực mình.

— Cái này hình như bị đau.

Cô đỏ mặt:

— Anh điên rồi!

Anh cười.

Ngoài đường, xe chạy qua.

Tiếng máy may lại vang lên.

Rẹt… rẹt… rẹt…

Một mối tình bắt đầu như thế.

Không hoa.

Không quà.

Không những lời thề thốt.

Chỉ là một người lính cứ kiếm cớ ghé tiệm may… Và một cô gái cứ giả vờ không biết.

Có những người lính khác cũng ghé những tiệm ấy.

Có anh đi một mình.

Có anh đi với bạn.

Có anh đứng ngoài cửa rất lâu, chỉ để nhìn cô gái phía trong.

Có người trước khi lên đường còn ghé lại, đưa cho cô một chiếc khăn tay.

— Giữ giùm anh.

Cô gái hỏi:

— Để làm gì?

— Nếu anh về thì trả lại.

— Còn nếu không về?

Anh im lặng. Một lúc sau mới nói:

— Thì… em cứ giữ.

Cô gái không nói nữa.

Cầm chiếc khăn trong tay mà mắt đỏ hoe.

Ngoài kia, Sài Gòn vẫn đông đúc. Ngã tư Bảy Hiền vẫn náo nhiệt. Không ai biết rằng trong một tiệm may nhỏ bên đường… Có một cô gái đang giữ một lời hẹn mà chính người nói ra cũng không biết mình có thể trở về hay không.

Rồi chiến tranh đi qua.

Nhưng trước khi nó sang một trang khác…

Ngã tư Bảy Hiền đã từng có những buổi chiều rất đẹp.

Một anh lính đứng trước cửa tiệm hỏi:

— Em có chờ anh không?

Cô gái trả lời:

— Anh hỏi làm gì?

— Để anh biết có nên về hay không.

Cô nhìn anh thật lâu.

— Anh cứ về đi.

— Rồi sao?

— Rồi… tính sau.

Anh cười.

— Nhất định phải tính hả?

Cô gật đầu.

— Nhất định.

Nhưng cuộc đời đâu phải lúc nào cũng cho người ta cơ hội để “tính sau”.

Sau này, có thể cô gái ấy vẫn còn nhớ.

Nhớ một người lính từng ghé tiệm may.

Nhớ chiếc áo quân phục được sửa vừa vặn.

Nhớ những buổi chiều anh ngồi trên chiếc ghế gỗ, nói những chuyện chẳng đâu vào đâu.

Nhớ tiếng máy may.

Nhớ mùi vải mới.

Nhớ tiếng xe chạy qua Ngã tư Bảy Hiền. Và nhớ nhất một câu:

“Anh đi rồi… em có chờ không?”

Có lẽ cô đã chờ. Chờ rất lâu. Chỉ là người cần trở về… đã không trở về.

Bây giờ, nếu đứng giữa một con đường Sài Gòn đông đúc, người ta có thể chẳng còn tìm thấy cái tiệm may ngày xưa.

Những chiếc máy may có thể đã nằm im.

Những người thợ năm nào tóc đã bạc.

Những bộ quân phục QLVNCH đã trở thành một phần của lịch sử.

Nhưng có những chuyện lịch sử không bao giờ được ghi trong sách.

Đó là chuyện một người lính ghé tiệm may để sửa chiếc áo… nhưng thật ra là để nhìn một người con gái.

Là chuyện một cô thợ may cặm cụi sửa từng đường kim mũi chỉ… mà trong lòng chỉ mong người mặc chiếc áo ấy được bình an trở về.

Và là chuyện của một Sài Gòn trước 1975… nơi giữa tiếng máy may rẹt… rẹt… rẹt… đã có biết bao mối tình bắt đầu.

Có mối tình đi đến cuối đời.

Có mối tình chỉ kéo dài vài buổi chiều.

Và cũng có những mối tình…

chưa kịp gọi thành tên thì chiến tranh đã gọi người ta đi mất.

Ngã tư Bảy Hiền ngày ấy vẫn còn đó trong ký ức.

Chỉ có những người từng đứng dưới mái hiên của những tiệm may quân trang năm xưa… là chẳng còn bao nhiêu người để kể lại. Và có lẽ, mỗi khi nghe đâu đó tiếng máy may chạy đều đều…

một người lính già lại ngồi lặng đi.

Ông nhớ một con đường.

Nhớ một chiếc áo.

Nhớ một cô gái.

Và nhớ một thời…

mình còn trẻ, Sài Gòn còn nguyên vẹn, và ngày mai vẫn tưởng như còn rất dài.

Phạm Sơn liêm

Nguốn: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

304Đen- Llttm - dsc

 

Năm Bộ Da Dê Và Một Câu Hát - Vũ Thế Thành

 

Năm bộ da dê và một câu hát

Một bậc đàn anh của tôi, sau năm 75 thất thế đi làm công nhân hỏa xa. Công việc được gia đầy chất “vinh quang” là cưa đường rầy (nghĩa đen). Trong một tối thù tạc, anh trầm ngâm nói, nên đọc Đông Chu liệt quốc để ngẫm nhân tình thế thái, và cũng để hiểu chuyện đời.

Vũ Thế Thành




Đông Chu liệt quốc thì tôi đã đọc cả bộ trước 75, nhưng không sao nhớ hết, vì quá nhiều nhân vật, nhiều tiểu quốc nay hợp, mai tan, mốt sáp nhập. Tôi nghe lời, đọc lại giải khuây sau những cơn say. Dù lần này đọc chậm hơn, kỹ hơn, nhưng cũng không sao nhớ hết được. Hôm qua chợt nhớ câu chuyện Bá Lý Hề, năm bộ da dê, nên lấy Đông Chu liệt quốc của Phùng Mộng Long (bản dịch của Mộng Bình Sơn) ra đọc lại đoạn Bá Lý Hề.

Câu chuyện đại khái thế này:

Bá Lý Hề là đại phu nước Ngu thờ i Xuân Thu, bỏ trốn sang Sở. Tần Mục Công nghe tiếng Bá Lý Hề là bậc hiền tài, muốn chuộc ông về. Nhưng nếu đưa giá cao, e vua Sở nghi ngờ, bèn đưa giá thấp, chỉ 5 bộ da dê – Bá Lý Hề được chuộc về Tần, làm thượng khanh, gọi là “Ngũ cổ đại phu”.

Bá Lý Hề thưở hàn vi, rất nghèo, bèn bỏ nhà ra đi lập nghiệp. Hôm chia tay, vợ là Đỗ thị, làm thịt con gà mái đang đẻ, tháo then cửa làm củi nấu món ăn đãi chồng.

Sau khi chồng bỏ đi, Đỗ thị mang con đi khắp nơi tìm kế sinh nhai, lưu lạc sang nước Tần làm nghể giặt thuê. Nghe tin Bá Lý Hề làm tướng quốc nước Tần, vài ba lần trông thấy Bá Lý Hề ngồi xe, mão cao, áo dài, nhưng mặc cảm nghèo hèn, không dám ra nhận.

Khi có ban hát vào dinh Bá Lý Hề đàn hát. Đỗ thị nói với phường nhạc cũng biết chút đàn hát, và xin đứng dưới thềm quan, gảy đàn và hát. Hát rằng:

Bá Lý Hề, năm bộ da dê!

Nhớ ngày ly biệt, mổ gà mái ấp, nấu nồi cơm vàng!

Tình thiết tha!

Nay phú quý, nỡ quên ta sao!

Bá Lý Hề, năm bộ da dê!

Cha ăn thịt cá, con đói khóc dài.

Chồng mặc áo gấm, vợ giặt thuê hoài.

Nay phú quý, nỡ quên ta sao!

Bá Lý Hề, năm bộ da dê!

Nhớ ngày xưa, chàng ra đi, thiếp nặng dòng lệ biệt ly!

Bây giờ chàng ngồi đó, thiếp chẳng dám gần!

Phú quý cao sang, nỡ quên ta sao!

Bá Lý Hề nghe câu hát, bước đến gần nhận ra người vợ năm xưa. Cả hai ôm nhau khóc- Vợ chồng đoàn tụ.

Đọc lại đoạn này, tôi tự hỏi: Đỗ thị vào dinh tướng quốc đàn hát, mà lời bài ca dám gọi thẳng tên quan “Bá Lý Hề” sao?

Đông Chu liệt quốc của Phùng Mộng Long thật ra là tiểu thuyết lịch sử, được viết vào thời Minh. Phùng Mộng Long dựa vào chính sử và nhiều tư liệu cổ để viết, nhưng những câu chuyện cụ thể trong đó dĩ nhiên đã được văn chương hóa.

Tôi tra lại mục Tần bản kỷ, trong Sử Ký Tư Mã Thiên, chỉ nói đến Tần Mục công dùng 5 bộ da dê chuộc Bá Lý Hề, chứ không đề cập tới Đỗ thị tìm chồng và bài hát “Bá Lý Hề, năm bộ da dê!”

Lịch sử là những chuỗi sự kiện lạnh lùng. Nếu muốn tiếp cận sự thật để luận cổ suy kim thì đừng để cảm tính hay định kiến chính trị xen vào. Như thế chỉ thỏa mãn cái sướng của bản thân mà thôi

Dù vậy, khi đọc Đông Chu liệt quốc của Phùng Mộng Long như một tiểu thuyết lịch sử, tôi vẫn thấy đôi chút cảm khái bài ca của Đỗ thị:

“… Nhớ ngày xưa, chàng ra đi, thiếp nặng dòng lệ biệt ly!

Bây giờ chàng ngồi đó, thiếp chẳng dám gần!”

Lý trí vẫn biết đây là câu chuyện văn chương; nhưng đọc vẫn thấy chuyện đời như lảng vảng đâu đây. Thiệt chạnh lòng!

Vũ Thế Thành

 

 

Xóm Tôi - Nguyễn Đồng Danh

 

Xóm tôi




 

Con đường Nguyễn tri Phương chỉ dài khoảng 2 cây số. Đầu đường là nhà máy phát điện của tỉnh, dạo đó ai cũng gọi là Nhà Đèn. Cuối đường là một vựa thu mua ve chai lông vịt. Chủ vựa là chú Bảy Phát. Chú mua đủ thứ vật dụng phế thải, từ sách báo cũ, bao xi măng, thùng các-tong cho đến lông gà lông vịt, đồ đồng nát. Ngoài việc cân mua tại chỗ, chú Bảy còn có một đội ngũ gồng gánh đi khắp thị xã, gom mua mấy thứ này, rồi về bán lại cho chú. Tôi nghe nói có một ông Hoa kiều, tên Hui Bon Hoả, từ Trung quốc qua Việt nam với hai bàn tay trắng, mà nhờ nghề mua bán đồ phế thải, sau này ông trở thành một trong bốn người giàu nhất nước Việt nam. Người ta thường truyền khẩu cho nhau nghe bài vè kể tên mấy đại phú gia nước Việt “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hoả”. Giàu nhất nước là ông huyện Sỹ tức là ông ngoại của Nam Phương hoàng hậu, vợ của vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triều Nguyễn. Kế là ông Tổng đốc Đỗ hữu Phương, thứ ba là bá hộ Xường và thứ tư là chú Hoả. Trong tương lai chắc chú Bảy Phát cũng giàu nhất nhì trong tỉnh, vì sau mấy năm làm nghề mua bán đồ phế thải, chú Bảy đã khai trương một tiệm cầm đồ bề thế, cũng lấy tên là Bảy Phát.

Bây giờ xin trở lại với cái nhà đèn ở đầu đường Nguyễn tri Phương. Nhà đèn này được xây cất từ thời Pháp thuộc, chiếm một diện tích khá lớn. Nó cung cấp điện năng cho cả thị xã Bến tre. Ban ngày cũng như ban đêm, tiếng máy nổ ầm ì nghe điếc con rái.
Dân trong thị xã quen miệng gọi khu nhà tôi là xóm nhà đèn, còn ở cuối đường là xóm ve chai lông vịt, hay gọi tắt là xóm lông vịt. Từ đó tên tuổi của bọn học trò chúng tôi cũng được gắn liền với các địa danh này. Bạn bè thường gọi tôi là thằng Danhn nhà đèn. Còn thằng Tài, nhà xích xuống dưới một chút, thì có tên là thằng Tài lông vịt, nghe không được văn chương hoa mỹ chút nào. Nhưng rồi nó cũng cắn răng mà chịu, chứ không lẽ bảo cha mẹ dọn nhà đi nơi khác, hay ít ra cũng dọn về đầu đường cho gần nhà đèn. Bọn con trai thì như vậy, không biết bên cánh con gái có những bí danh như Phượng nhà đèn hay Loan lông vịt không?

Cách tôi năm căn nhà, có nhà của dì hai Tằm. Dì chuyên nghề bán xôi. Tờ mờ sáng, dì Hai đã gánh hàng ra chợ. Hai đầu gánh là hai thúng xôi, thúng xôi bắp và thúng xôi đậu xanh. Bán đến khoảng 10 giờ là hết sạch, dì Hai đi chợ mua nếp, đậu, đường, dừa khô để chuẩn bị cho buổi chợ ngày hôm sau. Tôi là thân chủ trung thành của dì Hai. Mỗi tuần bảy ngày, có đến bốn năm ngày tôi ăn xôi, có ngày xôi bắp có ngày xôi đậu xanh, xen kẻ nhau. Nhưng muốn ăn thì phải dặn trước, vì sáng sớm khi dì Hai đi ngang qua nhà, thì tôi chưa thức. Dì hai có hai người con, thằng Linh và con Thục. Linh trạc tuổi với tôi. Thuở nhỏ hai đứa vẫn chơi bắn bi đánh đáo với nhau. Linh thi rớt lớp đệ thất bậc trung học, từ đó nó đi phụ nghề thợ nề để kiếm tiền.
Sau này khi lên Sài gòn học, mỗi kỳ nghỉ hè trở về quê, tôi vẫn là khách hàng trung thành của dì Hai. Khi dì Hai quảy giống gánh từ chợ trở về ngang qua nhà, em tôi lớn tiếng dặn “Sáng mai dì Hai nhớ cho gói xôi 10 đồng nha”. Dì Hai cười hỏi “Xôi bắp hay xôi đậu?. Cậu Danh mới dìa hả”.

Hồi đó dân trong xóm tôi sao mà chất phác và tử tế quá. Nhà nào có việc quan hôn tang tế là cả phường phụ giúp, kẻ góp công người góp của. Tôi nhớ khi mẹ của dì hai Tằm qua đời, dân trong xóm hùn tiền lại để giúp dì Hai mua cái áo quan khá tốt cho mẹ. Khi thằng Linh đi lính Cộng hoà bị thương, cả xóm hùn tiền mua sửa hộp, trái cây gởi cho, lúc nó còn nằm trong bệnh viện. Nó đạp phải mìn cóc mìn nhái gì đó, bị dập nát một bàn chân. Sau khi xuất viện, mang một bàn chân giả, đi cà thọt, Linh được chú Bảy Phát cho một chỗ làm nhàn hạ. Nó chỉ ngồi tại vựa lông vịt, thu mua đồ phế thải. Công việc tất bật vào buổi chiều, khi đội ngũ gồng gánh trở về. Linh phải cân đong đo đếm các loại hàng, ghi vào sổ và cấp giấy thu mua, để chú Bảy chi tiền cho người bán. Linh vừa lãnh tiền phế binh, vừa thêm tiền lương của chú Bảy, nên đời sống của nó có vẽ lên hương. Nó bắt đầu có bạn gái, hẹn hò nhau đi coi hát bóng, cải lương. Dì hai Tằm mừng ra mặt, mong cho nó mau cưới vợ, để dì có cháu nội mà nựng.

Phần cô Thục, con gái của dì Hai, đã lập gia đình. Hôm đám cưới Thục, dì hai Tằm mời gần như cả xóm. Dì cho che rạp phủ nguyên cái sân rộng, cổng vào nhà làm bằng tàu dừa nước, bên trên có tấm bảng vẽ chữ “Lễ vu quy”. Thục lấy chồng là thiếu úy Địa phương quân, đóng ngay tại tỉnh lỵ. Đám cưới xong, Thục dọn về ở bên nhà chồng.
Riêng Linh và tôi chưa kịp lập gia đình thì biến cố 30/4 xảy đến. Dân xóm tôi cũng có một số dính líu đến chế độ cũ. Nếu không đi lính thì cũng làm công chức. Số còn lại là dân lao động, buôn gánh bán bưng. Nhà nào thuộc ngụy quân ngụy quyền thì im lìm nín thở, chờ đợi một tương lai bất định. Vì chính sách giản dân buộc những người có vườn đất phải hồi hương, ai không có đất đai, hoặc vô công rỗi nghề, thì được chỉ định đi vùng kinh tế mới.

Trong lúc mọi người đều xanh xao vàng vọt, thì nhà dì hai Tằm lại có quới nhơn xuất hiện. Dượng hai từ trong khu trở về thành phố. Nghe nói dượng Hai giữ chức vụ lớn trong Thị xã ủy. Dì hai vẫn đi bán xôi. Thằng Linh vẫn đi làm vựa lông vịt. Nó chỉ còn lãnh một đầu lương, tiền phế binh của nó bị cúp ngang xương, làm nó chửi thề quá trời.

Dượng hai Tằm bảo cả nhà dọn về căn biệt thự của một gia đình di tản bỏ trống, nhưng dì hai không chịu. Dì bảo “Đâu phải nhà của mình mà vô ở, ông có đi thì đi. Mẹ con tui ở đây hơn 20 năm quen rồi”. Sau đó, dượng hai phải sửa lại căn nhà đang ở, từ vách ván qua vách tường gạch, từ nhà trệt lên nhà lầu ba từng, coi cũng huy hoàng lắm.
Thời gian sau, chính quyền cách mạng tịch thu tiệm cầm đồ và vựa thu mua ve chai lông vịt của chú bảy Phát. Chú phải đi học tập trong đợt cải tạo tư sản mại bản. Thằng Linh được ba nó cho lên chức Chủ nhiệm công ty mua bán vật dụng phế thải, tức là cái vựa lông vịt mà nó đang làm công, nhưng nó nhứt quyết từ chối. Cũng như dì hai Tằm, thằng Linh cằn nhằn ba nó “Tài sản của người ta chứ có phải của con đâu, mà bảo con lên làm chủ nhiệm hay chủ tiệm”. Dượng hai rầy rà nó mãi, nó mới chịu … hạ mình làm Trưởng khâu thu mua. Dượng hai còn bảo dì hai Tằm nghỉ bán xôi, để dượng sắp xếp cho làm Trưởng cửa hàng Bách hoá Tổng hợp, nhưng dì hai cũng mè nheo “Tui một đồng một chữ cũng không có, lấy gì mà làm trưởng với phó cái cửa hàng to chảng đó”. Cuối cùng dì hai đành phải vào làm nhân viên đứng bán hàng. Một phần dì đã lớn tuổi, không còn dãi dầu mưa nắng, một phần khi đi bán xôi ở chợ, cứ bị bọn Cờ đỏ và ban quản lý chợ đuổi tới đuổi lui, có bửa chạy đứt quang gánh mà cụt vốn.

Chồng cô Thục, mang lon Trung úy Địa phương quân, đi học tập cải tạo. Dượng hai Tằm làm giấy bảo lãnh cho nó. Không biết dượng phù phép ra sao, mà nó chỉ đi học có một năm thì về nhà, trong lúc sĩ quan cấp úy phải học tập khoảng hai ba năm hay hơn nữa, nếu phục vụ ở các cơ quan ác ôn như Tâm lý chiến, Chiến tranh chính trị. Cuối cùng chồng của Thục cũng chui vào làm ở vựa ve chai lông vịt. Mấy năm sau, khi Mỹ cho phép cựu sĩ quan Việt nam Cộng hòa đi tù cải tạo từ ba năm trở lên, được qua Mỹ theo diện HO, chồng của Thục chửi thề quá trời. Nó than “Phải chi ông già đừng bảo lãnh, để mình đi học ba năm, thì được qua Mỹ rồi!”. Dượng hai Tằm nghe được, chửi đổng “Đúng là một bọn phản động, chỉ ôm chưn theo đế quốc Mỹ”.

Riêng tôi, vì là quân nhân biệt phái nên bị chính quyền mới cho nghỉ việc. Thằng Linh rũ tôi đi làm chung với nó, nhưng lý lịch của tôi không có màu hồng, nên khó mà lọt được vào quy chế cán bộ công nhân viên. Rồi không biết thằng Linh năn nỉ ba nó thế nào, mà ổng chịu đưa tôi vào làm việc trong cửa hàng thu mua phế liệu, dưới quyền của Linh. Từ đó tôi cũng là công nhân viên chức. Khỏi phải đi đào kinh thủy lợi, khỏi phải dọn nhà đi kinh tế mới. Cũng may, bạn bè thời Tiểu học, Trung học đã tứ tán. Thằng hi sinh ở chiến trường, thằng vượt biên di tản, thằng hồi hương hay đi kinh tế mới. Chứ nếu chúng nó mà còn đông đủ và biết tôi đi làm ở vựa ve chai lông vịt, chắc tụi nó sẽ thay đổi tên tục của tôi từ Danh nhà đèn thành Danh lông vịt.

Ba đứa tôi, thằng Linh, chồng cô Thục và tôi, trở thành bộ tam sên trong vựa ve chai lông vịt. Cuối tuần là nhậu nhẹt bia hơi, nghêu sò ốc hến. Thỉnh thoảng, dượng hai Tằm, ba của Linh, cũng tham gia tiệc nhậu. Ngày qua ngày, tôi thấy ông lộ vẽ an phận thủ thường, không còn hồ hỡi phấn khởi, tin tưởng vào một tương lai rực rỡ cho đất nước, như lời Tổng bí thư Lê Duẫn đã dạy “Chỉ trong vòng năm năm nửa, nước ta sẽ phát triển hơn Thái Lan về mọi phương diện!!!”.

Một hôm Linh thố lộ với bọn tôi:
– Vân ơi, hồi trước vựa chú Bảy năm nào cũng lời dữ lắm. Tháng Tết là tao có tiền thưởng khá bộn. Còn mấy năm nay về tay Cách mạng sao lại lỗ te tua.
Linh muốn đặt vấn đề với ban chủ nhiệm. Tôi khuyên nó nên hỏi ý kiến Ba nó trước. Quả thật, Ba nó lên lớp cho nó một trận:
– Con à, con coi chừng mang hoạ vào thân đó. Cả nước có hàng ngàn cơ sở quốc doanh, có cái nào lời lãi đâu, mà con thắc mắc. Sao hồi trước, ba đưa con vô làm chủ nhiệm, con không chịu, bây giờ bức xúc cái gì. Bứt mây động rừng đó con. Im cái miệng đi cho ba nhờ.

Từ năm 1978 trở đi, phong trào vượt biên lên cao. Người đi chui, người đi bán chính thức. Người tàu cây, người tàu sắt. Thị xã Bến tre nhộn nhịp hẵn lên. Người Hoa từ Sài gòn đổ xuống rần rộ. Công an và mấy ông chủ tàu, ăn nhậu ngày đêm, chung nộp vàng lá ngay trong tiệm nước. Lúc đó, tôi cũng được một người bạn thân cho đi ké với điều kiện góp trước hai cây vàng, để anh ta lo đóng tàu. Sát ngày đi, tôi thố lộ cùng Linh:
– Tuần tới nếu thấy tao vắng mặt là mày biết tao thăng nha.
Linh trách tôi:
– Sao mày không cho tao biết sớm, để chồng con Thục đi với.
Tôi ngạc nhiên:
– Trời đất, rể cán bộ gộc mà cũng đi sao. Ba mày chửi chết.
Linh thấp giọng:
– Mày thấy đó. Có ai muốn sống ở cái thiên đường xã-nghĩa này đâu. Tao cũng muốn đi, nhưng mẹ tao chỉ có một mình tao con trai. Vã lại tao ở lại cũng không đến nỗi nào, vì còn có cái lộng dù của ông già.
Tôi xin lỗi Linh, bởi chủ ghe bảo phải giữ bí mật tuyệt đối, và thực tình tôi không có quyền kêu khách, nên không thể rũ rê thêm ai được.

Những người bỏ nước ra đi ai cũng có nhiều nỗi nhớ. Riêng tôi khi đã an cư lạc nghiệp ở nước ngoài, tôi vẫn nhớ về quê hương xứ dừa hiền hoà. Tôi nhớ dì hai Tằm với món xôi bắp thơm lừng xác hành chấy, và món xôi đậu có mấy cộng dừa nạo, mộng nước ngọt dòn, nằm dằn trên mấy hạt đậu xanh vàng hực. Tôi nhớ thằng Linh bạn tôi, đã hi sinh một phần thân thể trong cuộc chiến bảo vệ quê hương, nhằm chống lại tà thuyết Mác Lê mà ba nó là một tác nhân. Tôi cũng nhớ dượng hai Tằm, một cán bộ miền Nam chân chất. Cả đời dượng đi theo Cách mạng, với tâm huyết thực hiện một xã hội công bằng dân chủ, để rồi cuối đời im lìm sợ sệt, sợ ngay cái guồng máy khổng lồ mà dượng đã hi sinh xương máu để xây dựng nó.

Nguyễn đồng Danh.

Wednesday, October 7, 2026

Qua Cầu Tàn Thu - Thuyên Huy

 Qua Cầu Tàn Thu 


Thằng Bé Cu Li - Khuyết Danh

 

Thằng Bé Cu Li




Dạo hoa phượng còn rực đỏ trên cành, thằng bé bắt đầu bằng một nghề nhàn hạ một cách chân chính: bán trà đá. Mẹ nó sắm cho nó đủ bộ đồ nghề: một thùng càrem bằng mốp cũ kỹ, sang lại của ông già Năm. Một cái ấm nhôm hi cũ, nhưng được mẹ nó kỳ cọ bằng tro, chà đánh bằng xơ mướp nên sáng loáng lên, coi cũng vệ sinh lắm. Và hai cái ly thuỷ tinh.

Mỗi sáng, trước khi quảy gánh ve chai ra đi, mẹ nó nấu một nồi nước sôi, pha trà, đổ vô ấm nhôm. Nó mua ở tủ lạnh nhà bác Ba một chục đá cục bỏ vô thùng càrem, chèn bao nilông thật kỹ trước khi đậy nắp thật kín. Nó quàng dây qua vai gầy, đeo thùng càrem ngang hông, thân hình bé nhỏ hi vẹo đi một tí. Một tay xách ấm nước, một tay cầm hai cái ly, nó đi bộ hai cây số từ nhà đến bến xe Ký Thủ Ôn.

Bán trà đá tưởng như là một nghề chơi chơi: mình chỉ việc xách ấm và ly đi đến một người khách và mời: "Trà đá, chú!" hay "Trà đá, dì!". Khách có thể hỏi: "Bao nhiêu một ly?". Trả lời: "Một trăm đồng". Khách gật đầu: "Cho một ly". Mình chỉ việc bỏ cục đá vào ly, rót đầy nước trà vào. Đá tan làm ly nước rịn mồ hôi. Nước trà màu mâu hổ phách trong veo, thong mùi thơm lá dứa. Khách cầm ly uống ừng ực, nước trà chảy qua cổ họng đang khát khô, tới bao tử, làm mát cả ruột gan. Khách đã khát, mặt mày tươi tỉnh lại, vui vẻ móc túi trả tiền. Thế là được một trăm đồng. Khoẻ re. Vì vậy, già trẻ bé lớn gì cũng có thể bán trà đá.

Nhưng bến xe Ký Thủ Ôn là một bến xe nhỏ, chỉ có mấy chiếc xe đò cà tàng, mỗi ngày vài chuyến, chạy đến những xứ sở buồn hiu như Cần Giuộc, Chợ Trạm, Cần Đước, Gò Công. Người về xứ đò không nhiều, bến xe lưa thưa hành khách. Mỗi lượt tài mới có năm bảy khách mà đã tới cả chục người bán hàng rong vây quanh, ồn ào chào mời nhặng xị: "Bánh tráng phồng đây", "Cốm ngò đây", "Kẹo dừa", "Trà đá đây", "Trà đá, hông?" "Trà đá, chú"...

Thằng bé cũng lăn xả vô. Nhưng hoặc là nó không cạnh tranh lại đám trà đá "chuyên nghiệp" hơn, hoặc nếu hôm nào tranh được mối thì sẽ bị tụi kia kiếm chuyện quần cho một trận cho "biết điều" hơn.

Cuối cùng thằng bé lủi thủi xách ấm nước và đeo thùng đá cục đi lang thang xuống phố. Xe cộ đông đúc làm sao, người ta sang trọng làm sao. Họ phóng xe vù vù rồi ngồi quán có nhạc đêm, dù che, uống nước cam tươi hay la hán quả. Nó đi mỏi rục giò mà chỉ bán được một ly trà đá cho chú xích lô, một ly cho chị bán riêu, một ly nữa cho ông già bán vé số. Hôm nào may mắn lắm cũng có thể bán được chục ly, có hôm mưa gió eo xèo, chẳng ai thèm uống trà đá. Mấy cục đá buổi sáng bự hơn nắm tay, đến chiều teo lại bằng ngón chân cái, đến tối thì tan biến luôn, lỗ vốn!

Một hôm, nó đang đi lững thững thì có người kêu trà đá. Ôi, trúng mánh! Hàng chục người đang làm việc ở một bãi dất ngổn ngang gạch đá, vôi vữa, tôn thép... Hẳn là họ làm việc nặng nhọc lắm, người nào người nấy mồ hôi mồ kê đầm đìa như tắm. Một người kêu trà đá, lập tức mấy người kia kêu theo. Chưa từng có bao giờ trà đá đắt như vậy. Thằng bé lăng xăng lít xít, tay chân lanh lẹ đập đá, rót trà, bưng ly, chạy lui chạy tới như một tay trà đá chuyên nghiệp. Mấy người thấy thằng bé có vẻ tháo vát , tỏ ra thân mật và trêu chọc nó. Nó không thật sự hiểu hết những lời đùa cợt, nhưng vẫn toe toét cười, miệng rộng tới mang tai.

Vèo một cái, ấm trà hết veo. Túi nó rủng rỉnh ngàn bạc. Mặt mày nó phấn chấn, người nó thi thới, lòng nó rộn ràng. Môi nó chỉ chực nở thành nụ cười và tai nó cũng vểnh lên để đón nghe mọi điều người ta nói. Một hồi, nó tự thấy đã quen với mấy người lúc nãy là khách hàng của nó. Nó bạo dạn hỏi chuyện:

- Mấy anh làm gì ở chỗ này?

Họ cười:

- Làm cu li chứ làm gì hở nhỏ?

- Là làm cái gì?

- Là đào đất, xúc xà bần, khiêng gạch, vác xi măng, là làm đủ thứ chuyện mà người ta sai biểu. Cu li là làm cực khổ như trâu bò mà mỗi ngày công được có năm ngàn bạc.

Thằng bé tròn mắt kêu lên:

- Năm sáu ngàn lận?

Thật là một con số vĩ đại. Từ ngày đeo thùng đá và xách ấm trà đi bán dạo, nó đã biết đồng bạc khó kiếm như thế nào, cả ngày trời lang thang dầm mưa, dãi nắng, có khi nó chỉ kiếm được vài trăm. Hôm nào trúng mánh như hôm nay cũng chỉ hơn ngàn bạc. Nó lẩm nhẩm cộng tất cả tiền dành dụm từ hồi đi bán trà đá tới giờ vẫn chưa bằng được cái con số năm, sáu ngàn đó. Mà đó chỉ là tiền công mỗi ngày mà thôi. Nó ngước nhìn những công nhân xây dựng một cách ngưỡng mộ và thật thà nói lên ước vọng của nó:

- Phải chi em được làm cu li!

Mọi người phá ra cười:

- Không chuyên môn gì mới phi làm cu li. Cực chết mẹ chứ chi à?

Họ chỉ một người ăn mặc lịch sự, đang coi một bản vẽ, nói:

- Có ước mơ thì thành kỹ sư như ông đó, vừa khoẻ vừa có tiền. Nhưng mà phải học thiệt giỏi mới hòng! Mày có đi học không?

- Có, em học hết lớp năm rồi. Tựu trường này em lên lớp sáu. Mẹ nói lên cấp hai, muốn đi học tốn nhiều tiền lắm. Đồng phục, sách vở, tiền bảo trợ, tiền sửa chữa trường, đủ thứ hết. Mẹ sợ không đủ tiền đóng nên biểu em nghỉ hè đừng đi chơi, đi bán trà để dành tiền mai mốt phụ với má đóng tiền học.

Mọi người nhìn thằng bé đen củi còm nhom. Có thể nhận thấy qua ánh mắt vẻ mặt họ một niềm thương cảm. Nhưng chẳng ai nói gì cả. Mấy người lớn tuổi chắc cũng có con cái lớn cỡ nó, chắc họ cũng đang lo nghĩ về tiền học, tiền sách vở, áo quần...

Với lại, cũng hết giờ giải lao rồi. Họ lại làm việc quần quật, không hở tay, hở miệng, hở mắt để mà ngó tới nữa.

Nhưng thằng bé vẫn đứng đó nhìn người ta làm việc. Nó thấy đẩy xe cút kít chở xà bần đi đổ không khó gì. Tưới nước cho ướt gạch, rồi tiếp gạch cho thợ xây thì nó nhắm nó cũng làm được. Ngay cả chuyện trộn hồ, nó đứng coi một hồi thì kết luận nó cũng... làm được, nếu nó cao và to hơn chút nữa.

Tất nhiên là công việc đòi hỏi nhiều sức lực. Nhưng mà thằng bé cho rằng nó cũng dẻo dai lắm. Quả là cực nhọc thật. Nhưng đi bộ suốt ngày với thùng đá đeo bên hông và ấm nước gần bốn lít trong tay cũng không phải là việc nhẹ nhàng gì. Nó đâu có sợ cực. Vả lại, nó thấy người ta làm việc rất vui. Không khí lao động tất bật làm nó đứng coi mà cũng thấy hăng hái và táy máy tay chân.

ấm trà đã hết rồi. Như mọi khi nó có thể đi lượm trái dầu quăng lên không trung để ngó chúng riưi xuống, xoáy tít thật vui mắt. Nhưng bây giờ thằng bé không màng gì đến trò chi đó. Nó lảng vảng ở công trường xây cất coi người ta làm, rồi động tay động chân phụ một người đang đẩy xe cút kít, gặp phi mô đất cao, xe lên không nổi. Thấy không ai kêu rằng mình vướng tay vướng chân họ, thằng bé bạo dạn hơn. Khi chú thợ xây kêu: "Gạch!", nó lập tức ba chân bốn cẳng phóng lại đống gạch, ôm một mớ chạy lại tiếp ngay. Rồi cứ chạy đi chạy lại tiếp gạch, tiếp hồ suốt buổi đó.

Hôm sau, mới hưng hửng sáng thằng bé đã có mặt ở công trường, với thùng đá và ấm trà. Nhưng hôm đó ai cũng bận tối mặt. Cứ nghe cai với đội trưởng hò hét công nhân mà hãi hùng. Nào là xi măng tới phải dọn kho chất vô; nào là gạch về, cát về, sân bãi đâu mà đổ. Bọn vật tư chết tiệt, khi cần thì không có, khi chưa cần thì đổ tới ào ào, không nhận thì mai mốt không có dùng, nhân bây giờ thì nhét vô đâu. Mấy thằng kia ra dọn hết đống xà bần này coi! Thằng này nữa, vô xếp xi măng lại coi rộng được chỗ nào không? Còn thằng nào ra trộn hồ nè! Còn thằng nào nữa... Hết thằng rồi! Ai cũng bù đầu tối mặt, mà công việc thì cứ việc này đẻ ra việc kia.

Ông đội trưởng gào thét để chỉ huy một hồi khản cả tiếng. Bỗng ông thấy thằng bé. Hôm qua ông cũng thấy có lăng xăng ôm gạch tiếp thợ hồ, ông chỉ mặt nó, quát:

- Thằng này phụ hồ được không?

- Dạ được.

Nó gật đầu lia lịa. Ông đội trưởng phất tay, bố trí nó "công tác" chung với một ông thợ gì. Thằng bé xông vô làm như chiến sĩ xông pha trận mạc.

Buổi chiều, nó bắt đầu thấy oi. Mặc dù người ta đã giao nó toàn việc "nhẹ nhàng" so với những cu li khác. Nó vẫn bở hơi tai, thè cả lưỡi ra.

Khi nó đeo thùng đá và xách ấm về, ông đội trưởng xoa đầu nó, nói:

- Còn bao nhiêu trà coi như tao uống hết. Chiều thứ bảy trả công luôn.

Bữa nay mới thứ năm. Thằng bé về nhà, thân thể ê ẩm suốt đêm, lòng thì hoang mang không biết mình có thể được lĩnh bao nhiêu tiền công, và liệu ông đội trưởng có quỵt mình không? Chú thợ già mà nó phụ hồ lúc trưa có nói nó nhỏ quá, làm toàn việc vặt, chắc được nửa tiền công thôi. Ba ngàn đối với nó cũng lớn lắm rồi. Nhưng nó siêng năng chịu khó như vậy, có thể được bốn ngàn. Ôi!, bốn ngàn! Nó quên được phần nào sự mệt mỏi của thân xác và ngủ thiếp đi.

Hôm nay nữa mới chỉ là ngày thứ sáu. Thằng bé đến công trưởng, đánh bạo hỏi anh bảo vệ:

- Bữa nay em có được làm nữa không?

- Mày ấy hả? Công trường không bóc lột sức lao động của trẻ em. Hôm qua tại kẹt quá, chứ bữa nay thì miễn.

Thằng bé khẩn khoản nói là nó thích làm cu li lắm và biết đâu bữa nay công trường cũng kẹt nữa. Anh bảo vệ nhún vai:

- Chờ ông đội trưởng tới coi! Mướn mày mang tiếng chớ ích gì?

Nó phập phồng chờ ông đội trưởng. Chờ hoài sao ổng lâu tới vậy. Cai đã thúc thợ bắt tay làm. Không ai kêu thằng bé làm gì cả. Nhưng nó không đợi kêu. Vừa thấy chú thợ già hôm qua chuẩn bị đồ nghề, nó lập tức đi ôm gạch lại chỗ ông, nhúng nước cho ướt gạch, xúc hồ vào xô, xách tới để cạnh ông, rồi chăm chỉ tiếp gạch. Tuy nó nhỏ xíu, chưa thạo việc lắm, nhưng tháo vát và dễ bảo nên ông thợ già chịu cho nó phụ. Cuối ngày hôm dó, ông đã khoái nó tới mức hứa hẹn sẽ truyền nghề cho nó nếu nó muốn.

Sáng thứ bảy, nó đang làm thì ông đội trưởng xuất hiện. Ông chỉ mặt nó:

- Thằng này làm nổi không?

Nó vội vã gật đầu:

- Dạ nổi chứ! Con làm từ hôm kia, hôm qua mà!

Ông không nói gì thêm, bỏ đi:

Chiều thứ bảy. Thật là một buổi chiều trọng đại. Thầy thợ làm xong việc, thong thả rửa mặt mũi tai chân, ngồi hút thuôc là, nói chuyện tầm phào chờ ông đội trưởng. Ông đã đi lên công ty lãnh tiễn tạm ứng để trả lương công nhân. Mọi người tuy không tỏ ra sốt ruột nhưng cũng ngong ngóng bóng hình ông đội trưởng. Cũng có khi công ty đang kẹt tiền, hay bản chiết tính của đội có trục trặc gì đó, thì sẽ không có tiền. Ông đội trưởng sẽ đến rất trễ để những công nhân không kiên nhẫn bỏ về bớt, và ông đeo một bộ mặt bí xị khất nợ với những kẻ kiên trì đến thứ hai, thứ ba...

Nghe tới tình huống này, tim thằng bé thắt lại. Chẳng lẽ nào? Bao nhiêu đợi chờ, bao nhiêu lo lắng của nó, suốt ba ngfy nay. Liệu nó có được trả lương không? Trả bao nhiêu? Trả mấy ngày công? Hôm thứ sáu ông đội trưởng không có mặt ở công trường, đâu có thấy nó làm việc. Hôm nay ông cũng không nói rõ ràng là ông chấm công nó. Tất cả lo lắng đó, nó chỉ còn cách nhẫn nại chờ ông đội trưởng tới phút phát lưng mới biết. Nếu mà... Tim thằng bé suýt vỡ ra. Nó như ngồi trên lửa bỏng vạc dầu, nhấp nha nhấp nhổm ngóng ra đường:

- A! Ông đội trưởng về!

Thằng bé hét to lên, mừng vui đến nỗi những người khác phi phì cười. Ông đội trưởng dựng xe, ôm cái túi da căng phồng vào lán bảo vệ. Ông giở sổ chấm công ra, dò theo danh sách, đếm ngày công của từng người, đếm tiền rồi trao cho họ. Ông cứ theo thứ tự trong sổ chấm công mà phát. Cuối cùng, hết danh sách. Thằng bé không có tên trong sổ chấm công! Nó đứng thập thò nhìn ông đội trưởng, mặt tái đi, tay chân lạnh ngắt. Chờ cho người cu li cuối cùng ra về, ông mới làm như chợt thấy thằng bé:

- Thằng kia, lại biểu!

Nó lật đật chạy lại, ngước đôi mắt trẻ th đầy lo âu nhìn ông đội trưởng. Ông cầm một cọc tiền giấy một ngàn, hỏi:

- Mày làm mấy ngày?

- Dạ ba ngày: thứ năm, thứ sáu, thứ bảy.

Ông đếm tiền, một, hai, ba, bốn, năm, sáu, by, tám, chín. Ông ngừng lại, hỏi:

- Ba mày làm gì?

- Dạ, ba con chết hồi năm ngoái rồi.

Ông nhìn nó một chút, đếm tiếp mười, mười một, mười hai.

- Má mày làm gì?

- Dạ, má con mua bán ve chai.

- Mày có đi học không?

- Dạ có.

- Vậy ráng mà học. Chứ làm cu li biết cực chưa?

- Dạ, con chịu cực được mà.

Ông đếm tiếp: mười ba, mười bốn, mười lăm.

Ông toan đếm nữa nhưng đắn đo một chút, hỏi:

- Má mày có đánh đề, đánh bài không?

- Dạ, không.

Ông đếm nốt: mười sáu, mười bảy, mười tám. Ông đưa tiền cho thằng bé:

- Đem về đưa má mày cất, đừng chơi điện tử hết nghe!

Xong ông đứng dậy, đi về.

Thằng bé cầm mười tám tờ giấy bạc mà ngón tay run bần bật. Nó chưa từng cầm trong tay một số tiền lớn như vậy. Mà lại là tiền chính nó làm ra, bằng ba ngày quần quật ngoài trời nắng, bằng sự cố gắng vượt quá sức trẻ em. Má nó cũng xúc động đến rơi nước mắt khi nó đưa tiền cho bà. Bà đếm đi đếm lại, lộn tới lộn lui, nó phải cầm từng tờ đếm cho má nó coi. Bà gói vào một tờ giấy dầu, đem dấu sau ảnh thờ của ba nó:

- Má cất ở đây cho con, để tựu trường có mà đi học với con người ta.

Đêm đó thằng bé ngủ vùi trong tay má. Má nó bồi hồi thao thức mãi, thỉnh thoảng bà lại vuốt mái tóc khét nắng của con.

Có thể nửa thế kỷ sau, có một tỉ phú hay một nhà bác học để lại tiểu sử như vầy: Mười hai tuổi, tôi đi làm cu li để có tiền ăn học... Nhưng hiện giờ, dưới một mái tranh ở vùng ven, có một đứa bé gầy gò, đen thui vì nắng gió, trong giấc ngủ say nhọc nhằn đang mơ rằng ngày khai trường, em sẽ đến lớp với đồng phục tươm tất như mọi học sinh, và không ngay ngáy lo lắng cô chủ nhiệm sẽ phiền trách vì không đóng nổi các thứ tiền tập vở, tiền thuê sách, tiền bo trợ, tiền sửa trưởng ốc, tiền hội phụ huynh và đủ thứ tiền gì gì nữa.....

Không Rõ (Khuyết Danh)