Tuesday, August 11, 2026

Tiếng Rao Chè Đậu Xanh - Thuyên Huy

 

Tiếng Rao Chè Đậu Xanh




    Nhờ anh bạn nhà ở Sài Gòn cùng lớp chỉ, vì căn nhà anh ở trọ trên đường Vĩnh Viễn, được vợ chồng chủ nhà bán, để về quê đâu đó dưới Sa Đéc, anh dọn tới căn gác lửng trong cái hẻm khá rộng tráng xi măng sạch sẽ của ông bác, sống một mình, làm gác dan cho hảng bánh ngọt bên phường Cây Sung từ giữa năm học.

*

    Xế chiều thứ Bảy, không về thăm nhà như thường lệ, ngồi trên gác trọ học bài, nghe tiếng con gái rao chè đậu xanh bột lọc nhẹ nhàng nhỏ, mỗi đầu hôm hàng ngày, không lê thê kéo dài, riết rồi quen, hôm nào ngồi học không nghe, tự nhiên thấy thiếu thiếu cái gì đó, nhưng thật ra chưa có lần nào mua.

*

    Chiều thứ bảy, đi bán hơi sớm hơn mọi khi, cũng con hẻm cũ thường ngày, vừa gánh tới trước hiên nhà, chỗ anh ở trọ, trời bất chợt đổ mưa như trút nước, đúng là mưa Sài Gòn, chợt mưa chợt nắng, tiếng rao chè chưa kịp hết câu, cô đành phải quảy gánh đứng lại, trong hẻm nhà nào cũng như nhà nào, mái hiên nhô ra không dài, nước cứ mặc tình làm tình làm tội người đi.

    Từ trên gác, anh cầm vội cái áo mưa khá tốt, để dành chưa xái lần nào,  mua ngoài chợ trời Hàm Nghi chạy xuống lầu, ông chủ không có nhà, mở rộng cửa, đưa cái áo mưa cho cô gái đậy sơ gánh chè lại, rồi phụ đở gánh chè, kêu cô bước vào trong chút xíu đụt mưa, chờ tạnh rồi đi.

*

    Đứng bên nhau, bên cạnh gánh chè, mưa vẫn mưa, hỏi nhau qua lại làm quen, chờ mưa tạnh, cô chừng mười bảy, tên Hiếu, trông khá đẹp, dễ thương, nói năng nhỏ nhẹ, học lớp đệ Nhị, ở trường Phan Sào Nam, kế bên rạp chiếu bóng Long Vân, nhà chỉ có hai mẹ con, mẹ bán hàng ban ngày, ở cuối con hẻm, chỗ trổ ra ngõ đường phía bên kia khu hỏa hoạn Petrus Ký cũ. Anh, sinh viên nghèo năm thứ hai Kỹ sư Hóa học, trường Kỹ thuật Phú Thọ, quê ở tận dưới miệt làng quê miền Tây, Chợ Lách, nơi ruộng đầy ốc gạo bốn mùa. Mưa tạnh, trời rạng lên một chút nắng muộn, cô ngại ngùng, quảy gánh đi, luôn miệng mấy lần cám ơn, anh đứng trước cửa nhìn theo, chờ nghe tiếng rao chè quen, tiếng rao nhỏ dần ở cuối đầu kia hẻm mà anh nhớ cứ nhớ.

*

    Chiều tan trường, anh nhiều lần đón Hiếu ở cổng trường, rồi bên nhau đưa về, thẹn thùng rồi cũng qua, ngập ngừng rồi cũng thôi, hai người thật quen nhau, thương nhau, đưa về nhà chào hỏi kính thưa, theo lễ nghĩa cha mẹ dạy, nhà chỉ có hai mẹ con, ba Hiếu làm công nhân hỏa xa, nhưng bị bệnh mất chừng bảy tám năm nay, anh cũng thành thật nói hoàn cảnh gia đình mình dưới Chợ Lách, gia đình cũng tạm đủ ăn đủ mặc với công việc bỏ mối ốc gạo cho bạn hàng chợ Vĩnh Long, mẹ cô hiền từ, vui vẻ, mừng không biết bao nhiêu mà nói, con cái nhà ai biết phép biết tắc, bà cười luôn tỏ ý ưng lòng cho chuyện quen biết của hai người.

*

    Tết Mậu Thân, tỉnh thành hổn loạn, giặc giã tràn lan, tiếng súng nhỏ súng lớn vào tận đường phố, anh về quê rồi bị kẹt lại, sau gần cả tháng kẹt đường kẹt xá, anh lên tới Sài Gòn, trường chưa mở cửa lại. Vội vã chạy đến nhà Hiếu, nguyên một khu phố tan hoang, nhà cháy không còn một cái, có người chết, hai mẹ con không còn đó, anh bấn loạn, hỏi thăm số người, chắc là người ở đây đang quanh quẩn tìm tìm kiếm kiếm gì đó trong đám tro than đen mờ bụi, biết hai mẹ con cô gái bán chè rong nhưng không biết bây giờ ở đâu, cũng có thể chết vì trúng đạn đại pháo bắn vào.

   Đau đớn, tan nát hồn, ngơ ngẩn, anh ngồi xuống lề đường, mắt cay xé đỏ, rồi bật khóc sướt mướt. Chiếc xe tuần cảnh chậm qua ngang, ngươi cảnh sát ngồi phía sau, nhìn rồi lắc đầu buồn, xe qua một khúc đường rồi mà người đó cũng còn ngoáy cổ nhìn lại.

*

     Mấy ngày sau, vào học lại, mượn được cái xe đạp cũ của thằng bạn chung lớp, chạy đôn chạy đáo, đường này ngõ kia, phố này hẻm nọ, hết trường đua Phú Thọ lên Ngã Tư Hàng Xanh, qua Khánh Hội xuống Phú Lâm, hỏi bất cứ ai có thể hỏi, không ai biết, bặt tin, cuối cùng, vẫn cố hy vọng nhưng rồi cũng nén lòng đau, đành bỏ cuộc.

*

    Đêm xuống, ngõ hẻm cũng đã lên đèn từ lâu, anh cứ ngồi bất động trên gác trọ, nhìn xuống chờ, như đã chờ từ những ngày trước đó, vẫn chưa có tiếng rao chè ngày cũ, thẩn thờ đứng dậy, chút ánh sáng đèn vàng vọt từ căn nhà đối diện chiếu ngang qua mặt, anh đi vào, ướt sủng nước mắt.

    Sài Gòn giờ giới nghiêm.

Thuyên Huy

 

 

 

 

Mưa Trên Ngọn Sầu Đông - Nguyễn Đạm Luân

 Mưa Trên Ngọn Sầu Đông




Chuyện Thằng Chanh -

 

 

 

Chuyện Thằng Chanh




 

Cơn mưa rào đầu hạ sầm sập đến thật nhanh. Phút chốc khu chợ sân vận động ngập chìm trong biển nước trắng xoá. Gió rít lên ầm ầm, bật tung cả loạt dãy ô che trên những tấm giường bạt xiêu vẹo phủ đầy hàng hoá. Một vài chiếc áo váy treo mẫu chưa kịp thu dọn bị gió cuốn phăng lên cao rồi rơi phịch xuống dòng nước đen ngòm đang cuồn cuộn chảy về miệng cống.

Ngán ngẩm nhìn dòng nước xiết lềnh bềnh rác rưởi, Chanh đứng thu mình trú mưa dưới mái nhà tôn. Đói rồi đây, mưa gió thế này thì còn ai bán gì được để cho hắn còn tranh thủ làm vài cuốc “tắc-xi”(1) lấy tiền ăn, tiền nhà hôm nay. Suốt từ đầu tuần trời đất sụt sùi, chợ đã kém lại càng kém. Mặt ai cũng dài ra, đanh lại. Các "soái"(2) nẫu người nhìn những kho hàng ngổn ngang, nhiều thứ nằm “đắp chiếu” từ năm ngoái, năm kia đã mốc lên, mục ra. Bán như cho mà không ai thèm mua, để thì chết tiền kho, tiền bảo vệ, tiền hối lộ cảnh sát, phòng thuế mỗi đợt kiểm tra. Trăm thứ bà rằn, bỏ thì thương, vương thì tội.

Dưới các soái, tình cảnh của những người bán hàng cũng trăm phần bi đát. Đã từ lâu, nụ cười thu hoạch mỗi khi trúng quả không còn chỗ để nở trên gương mặt khắc khổ, sạm đen vì nắng gió, bão tuyết của họ. Không còn cái cảnh ngày ngày tan buổi chợ, vợ tíu tít giục chồng mau mau đi đến hãng Thổ, hãng Tàu tranh “quả hàng” ngon về nạp đầy kiốt cho buổi chợ sau, còn mình thì tất tả ra chợ kiếm cân thịt ngon, con gà béo, hoặc tạt qua cửa hàng Châu á mua ít đồ biển, rau thơm, tối đến cả nhà xì xụp quanh nồi lẩu thơm lừng, nóng sốt. Riêng phần “bố cháu”, các bà cũng chẳng quên mua cho dăm đồng rượu Vốt-ca về đổ vào bình ngâm với mấy đôi cá ngựa đã co quắp ôm nhau nằm chờ sẵn. Cái của này thế mà tốt đáo để, bố cháu thêm chân cứng đá mềm, tối tối lại gảy khúc “tích tịch tình tang” làm vui lòng bu cháu. Bây giờ sáng sáng họ ra mở kiốt ngồi đến mười hai giờ trưa, đóng cửa kiốt rồi ai về nhà nấy, như một nghĩa vụ. Bởi ngồi nhà chẳng biết làm gì, chỉ ăn thâm vào vốn. Cứ ra chợ, biết đâu... Vả, ở nhà cũng buồn, bật vô tuyến thì toàn tiếng tây, xem một lúc chả hiểu gì, chán. Ra đường thì sợ cảnh sát vồ, có bao nhiêu tiền nó lột sạch. Lơ mơ nó còn đấm cho hộc máu mồm, chả dại! Cảnh chợ buồn như đám ma, hình như không bán được hàng, các bà cũng chẳng còn khoái cãi nhau như trước. Mấy mụ hàng quà rong đẩy xe đi lại như điên, rao khản cổ họng mà chỉ nhận được những cái lắc đầu ngán ngẩm. Mới hôm trước, cả đội tắc-xi cửu vạn của hắn được chén chùa một bữa no nê xôi chè. Hàng ế mà. Không bán được thì vứt bố nó đi chứ hi đâu mà lại tốn tiền tắc-xi chở về. Thôi, các chú ăn đi, chị không lấy tiền đâu. Tội nghiệp, toàn thanh niên sức dài vai rộng, ra sân từ mờ sáng, chắc đến giờ chưa được miếng nào vào bụng. Đói run lên rồi còn gì, chị bán xôi nhìn bọn hắn thương hại.

Mà đói thật. Đã nhiều hôm, hết đứng vêu mõm, lại nằm khèo trên chiếc xe kéo mà chẳng có ma nào thuê chở hàng. Cái dạ dày bất trị của tuổi 25 lại hăng hái réo lên làm khổ hắn. Hút bao nhiêu thuốc, nuốt bao nhiêu nước bọt mà nó chẳng chịu im cho. Mẹ kiếp, giá mà túm cổ được cái dạ dày nện cho nó mấy cái thì hả quá, hắn ước thế. Cực chẳng đã, mấy lần thò tay vào túi định lôi tám đồng bạc sà vào hàng phở, làm một bát thật nhiều bánh, nhiều nước, ít thịt thôi cũng được. Tần ngần một lúc, đến cửa quán rồi hắn lại quay ra. Tám đồng bạc, chỗ tiền này mua được mấy lít sữa tươi, chục trứng, cái bánh mì to tướng và gần chục cân khoai tây, có mà ăn được mấy ngày, vừa đủ chất, vừa no cái dạ dày. Chứ bát phở, ngon thì ngon thật, nhưng với cái sức trai đang tuổi ăn tuổi lớn như hắn thì thấm tháp gì, chỉ đái một cái là đâu vào đấy.

Nhân nói chuyện đái, hắn cũng khổ với nó không kém như khổ với cái đói. Nhiều lần hắn phải nót bụng chạy như bay từ khu PKS(3) lên tận đường tàu(3) để trút bầu tâm sự. Bởi ở PKS, giá một phát đái là một đồng, trên đường tàu chỉ có năm hào thôi. Ra chợ từ mờ sáng, nhiều hôm đứng đến tận 2, 3 giờ chiều, đi không dưới 3 lần. Bỏ rẻ một tháng cũng mất tới gần bốn chục bạc cho cái sự bài tiết. Chúa ơi, bốn chục bạc đổi ra tiền Việt là một trăm bốn mươi ngàn đồng. Số tiền này đủ cho mẹ và hai em gái hắn mua thức ăn cả tháng ở cái xứ đồng quê chiêm trũng xa xôi ấy. Phải tiết kiệm, hắn tự nhủ. Về sau, thấy dân Ba Lan rất khoái úp mặt vào gốc cây hay bờ tường, dân ta cũng hưởng ứng theo nhiệt liệt, thế là cái sự giữ gìn thể diện dân tộc trôi vèo theo dòng nước nóng hổi năm mươi xu. Để ý thấy trong đội quân “tưới đường” đấy cả những vị “lão tướng”, đi xe đẹp, tiền nong rủng rỉnh, luôn nói chuyện bằng một thứ giọng rất sang, hắn tặc lưỡi: Đến cái thằng giàu có ức triệu mà vẫn tiếc một đồng, thì cái thứ dân đen trên răng dưới củ cải như hắn quyết không được hoang phí! Nghĩ vậy, hắn thấy người nhẹ nhõm quá, thanh thản quá và đái một cách rất phấn khởi, tự tin vào cái gốc cây tội nghiệp.

Ôi, giá như ở quê hắn, người ta biết được cuộc sống thật của những thằng như hắn ở bên này cực khổ làm sao, thì họ đã không bán trâu bán bò, thế chấp nhà cửa để sang làm trâu ngựa ở cái xứ xa lạ này. Hồi còn ở nhà, cái tên nước Ba Lan hắn thỉnh thoảng cũng nghe đài báo nhắc đến. Qua những tiết học địa lý thế giới hồi phổ thông của thầy Hùng (ông thầy hay bắt hắn lấy lông gà thông sạch nõ điêú để thầy rít thuốc lào cho thật kêu, thầy bảo thế mới khoái), hắn cũng biết Ba Lan ở Châu Âu, cạnh Liên Xô và Đức. Mấy lần đến nhà thờ xứ, hắn được biết cái ông già tây trong ảnh mắt nhìn xa xăm, đầu đội mũ vải bèn bẹt như chóp quả dưa hấu đó chính là Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ Đệ nhị, người Ba Lan. Kiến thức của hắn về Ba Lan chỉ đến thế. Hắn có bao giờ dám nghĩ đến chuyện có một ngày, hắn -cái thằng Chanh quê mùa sẽ từ giã con trâu, cái cày, luỹ tre xanh mướt suốt ngày soi bóng thướt tha bên dòng sông Châu hiền hoà để sang cái xứ xa lạ ấy. . .

Cho đến một ngày, cả cái làng đạo bình yên của hắn xôn xao, tấp nập hẳn lên khi thằng Trương con ông Tuần từ Ba Lan về. Người làng rỉ tai nhau, các bà tụm năm tụm ba thì thào to nhỏ, các ông nhắc đến Ba Lan nhiều hơn trong phần “Thời sự quốc tế” bên ấm chè xanh, mơ màng trong làn khói thuốc lào. Hắn nghe họ đồn đại nhiều lắm, dững là thằng Trương mang về bao nhiêu đô la cho bố nó xây nhà mái bằng, mua cửa hàng ở tận ngoài thị trấn cho chị và em gái bán hàng, dẫn ông bà Tuần lên tận phố huyện, may cho ông hai bộ complê rất đẹp ở hiệu may “ánh sáng thế kỷ” của hai vợ chồng đi lao động xuất khẩu ở Liên xô về, cho bà mấy bộ áo dài gấm, khăn nhung the đội đầu, vòng vàng, xà tích để bà đi lễ nhà thờ; rằng anh em họ hàng xa gần, cháu chắt... ai cũng có quà hết. Người nhiều trăm nghìn, kẻ ít cũng được vài chục. Trẻ con lối xóm mỗi đứa được mấy quả bóng xanh đỏ, thi nhau phồng mồm lên thổi đến rách cả môi, vài cái kẹo ngậm từ sáng đến trưa mà vẫn không tan.

Chưa hết, thằng Trương bỏ tiền ra thuê người gánh đất, đắp lại mấy chục mét đường trước cửa trụ sở UBND xã, hai bên đường trồng dăm ba cây phi lao, bạch đàn. Trên cây có treo một cái bảng gỗ to tướng kẻ màu sắc sặc sỡ, trông rất vui mắt, ở giữa nắn nót đề mấy câu thơ ca ngợi nhà hảo tâm Phí Văn Trương. Đình chùa, miếu mạo tên của Trương đều được ghi rất to, rõ ràng trong danh sách bia công đức. Có lẽ chiêu kinh dị, độc đáo nhất là việc Trương mò lên tận nhà văn hoá nhân dân huyện mời đám chèo về diễn hai đêm cho dân toàn xã xem không mất tiền. Nào là Xuý Vân gỉa dại, Thị Mầu lên chùa, Nhị độ mai, Chiêu quân cống hồ, ..., thôi thì đủ cả. Dân làng sướng mê đi. Các bà, các cô thổn thức khóc như điên, ngất lên ngất xuống cùng cảnh đời cơ cực, nỗi oan trái cay nghiệt của các nàng Xuý Vân, Thị Kính... Các ông háo hức nhìn như nuốt lấy cái miệng xinh xinh đang tuôn ra những lời châu ngọc, đôi mắt huyền có hàng lông mi giả tuyệt đẹp đang chớp lấy chớp để cho nước mắt kịp chui ra của các cô diễn viên phố huyện; lòng thầm buồn tê tái khi đánh mắt nhìn sang, bắt gặp ngay cái hàm răng vẩu đen sì của mẹ đĩ đang khóc nấc lên theo nhịp trống chèo. Lũ trai làng đầu dấp nước lã bóng nhoáng, có anh còn hơ liềm vào bếp lửa sấy cho quăn tóc, diện những chiếc áo trắng nhất, những chiếc quần xanh công nhân mới nhất, miệng phì phèo thuốc lá, tay cầm đèn pin đi lại loanh quanh, lăng xăng chỗ đám con gái non đang đứng tụm năm tụm ba; thỉnh thoảng lại cười ré lên, đấm lưng nhau thùm thụp mỗi khi bị các gã trai trêu ghẹo. Chỉ có đám trẻ con là vô tư lự nhất. Chúng chẳng khóc nấc như bu, chẳng mơ màng, nuối tiếc như thầy, chạy nhảy một lúc, chúng nằm ngủ ngon lành trên bãi cỏ êm dưới bầu trời đầy sao mùa hạ, bỏ ngoài tai tiếng la, tiếng khóc, tiếng sáo, nhị, tiếng trống chèo inh ỏi.

Trước hôm lên đường, Trương làm đến dăm mâm rượu thịt chó liên hoan với lũ trai làng. Dĩ nhiên là có mặt Chanh, bởi trước kia Trương là bạn học cùng với Quất, anh trai hắn. Vả lại thuở Trương còn ở Việt Nam, Chanh nhiều lần đi theo phụ hắn chở gà chở chó bán khắp các chợ trong tỉnh.

Những cái đầu dấp nước lã bóng nhoáng đến đầy đủ và rất đúng giờ. Chẳng khách sáo gì sất, Trương sai người trải chiếu ra sân gạch cho các gã trai ngồi, hắn bảo:

- Mấy hôm nữa tao đi rồi, lâu lắm mới gặp lại chúng mày. Hôm nay gọi là có chén rượu nhạt, anh em mình chia tay. Chén đi!

Những cái áo trắng nốc rượu ừng ực như chó uống nước gạo, tiếng nhai thịt chó nghe rào rào, nghe rõ cả tiếng xương sụn giòn tan. Sau dăm tuần rượu nếp thượng hạng, khi cái dạ dày cũng đã lưng lửng, lũ trai em bắt đầu hỏi Trương đủ điều. Trương kể: “Sang Nga lao động được mấy năm. Đói quá, tao theo bọn bạn chạy sang Ba Lan bán quần áo. Sáng ngủ bảnh mắt đến tám giờ, dậy uống một cốc sữa nóng, ăn mấy lát bánh mì bơ và phó mát, vài lát thịt hun khói. Sau đó xuống nổ máy quả Mẹc-xê-đì phóng ra trước cửa nhà thờ, bật đít xe lên, chờ sẵn. Một lúc sau dân Ba Lan từ nhà thờ đi ra xúm vào mua như tranh, như cướp, tao chỉ việc đứng thu tiền. Loáng một cái, hàng để trong cốp xe hết vèo. Bỏ rẻ mỗi hôm cũng kiếm được vài trăm đô la.” Nghe đến đây, lũ trai làng ồ lên kinh ngạc. Trời ơi, mấy trăm đô la, nghĩa là mấy triệu tiền Việt mà nó kiếm trong vòng vài tiếng đồng hồ. Ở cái xứ chiêm khê mùa thối này thì có làm quần quật cả đời cũng chưa chắc dành dụm được chừng ấy. Chả trách nó giàu là phải. Trương còn kể nhiều lắm. Lũ trai tròn mắt há miệng ra nghe như nuốt từng lời. Trí tò mò của chúng bị kích thích lên đến đỉnh điểm, khi Trương chuyển đề tài sang chuyện gáI Tây. Hắn bảo:

- Bọn gái Tây đẹp lắm. Tóc vàng như rơm. Da trắng mịn, sờ vào mát như lụa, người mập mạp, đẫy đà, thơm phức. Trông chỉ muốn cắn cho một miếng. Háng rộng, mông nở, vú to rắn chắc như cái bánh mật ấy.

Các gã trai sướng run lên, nuốt nước bọt ừng ực, không ai bảo ai, anh nào anh nấy đều lén đút một tay vào túi quần. Thấy các chú nhóc ba hồn bảy vía đã trên tít chín tầng mây. Trương càng được thể uốn ba tấc lưỡi, thỉnh thoảng lại nói một vài câu tiếng tây, ngứa cổ lên trời cười như máy nổ, các gã trai chả hiểu mẹ gì nhưng cũng nhất loạt khầng khậc cười theo.

Tiệc rượu tàn trong không khí vô cùng bùi ngùi lưu luyến. Bọn trai em ai về nhà nấy, trong đầu luôn lởn vởn những bộ ngực bốc lửa, cặp đùi dài, trắng nõn, đôi môi mọng chín và chợt đau như xé lòng khi nghĩ đến con trâu cái cày đang chờ đón các gã ngày mai...

Rồi mọi việc lại trở về nếp cũ ở cái làng quê nghèo ấy. Các bà các cô sớm sớm ra đồng, bán mặt cho đất, bán lưng cho giời, lầm lũi, nhẫn nại cấy lúa dưới cái nắng hè sôi cả nước để làm ra hạt gạo cho đời. Các ông vẫn rít thuốc lào tanh tách, phả khói inh lên, thỉnh thoảng lại chiêu một ngụm chè xanh đặc quách, đùi rung tít nói chuyện “Thời sự quốc tế”. Bọn trai em thằng ở lại làng bám ruộng chiến đấu ngày ngày, thằng đi làm phu hồ ngoài tỉnh, thằng mò lên tận Narì đào vàng, thằng đứng lang thang ngoài chợ người trên Hà Nội, bán sức lực kiếm miếng nuôi thân. Mỗi khi gặp nhau ở làng, chúng vẫn tụ tập rượu chè giải sầu. Mỗi lần nhắc đến thằng Trương, mắt chúng lại sáng lên, chúng mơ màng về cái xứ trời Âu rất xa ấy, nơi mà vườn địa đàng cũng không thể sánh được, nơi có những nàng tiên da trắng, tóc vàng, tóc nâu, đẹp như thiên thần, rừng rực như lửa địa ngục, thơm ngon như trái táo mà đã hơn một lần chúng gặp trong giấc mơ đầy nhục dục...

Đến một hôm, vừa ngoài đồng về, Chanh bị ông anh triệu tập khẩn cấp sang nhà ông trưởng họ, đồng thời cũng là bác ruột của hắn. Sau vài tuần trà, bác trưởng nhìn hắn trìu mến: “Chanh ạ, bác đã bàn với cả họ rồi. Thầy cháu phận mỏng, chết sớm, để lại bu cháu và mấy đứa chúng mày nheo nhóc. Cả họ sẽ góp tiền cho cháu sang Ba Lan chỗ thằng Trương. Cháu sang chịu khó phấn đấu cho bằng anh bằng em, mau chóng kiếm tiền giả nợ cho họ, nuôi bu và các em. Được như vậy, thày mày ở nơi chín suối chắc cũng hởi lòng hởi dạ”. Bất ngờ quá Chanh chẳng hiểu mô tê gì. Khi hiểu ra, hắn mừng vui khôn xiết, lắp bắp mãi mới nói nên lời cảm ơn ông bác nhân hậu và dòng họ đầy tình nghĩa của hắn.

Sau hơn nửa năm trời, như đèn cù từ quê ra Hà Nội, từ Hà Nội về quê với 1001 lời hứa hẹn, người ta cũng lo xong cho hắn được tấm hộ chiếu đi CHLB Nga. “Đừng lo, chú em sang Nga sẽ có người đưa đón, chỗ ăn chỗ ở đàng hoàng.Từ bên ấy sẽ làm thủ tục xin vida cho các chú vào Ba Lan. Sướng nhé, biết mấy nước một lúc. Bọn anh có mơ cũng không được”, gã đưa người cười ngoác đến tận mang tai, nháy mắt với Chanh một cách bí hiểm sau khi đã nhét xấp tiền vào trong túi.

Trước hôm lên đường, Chanh ra mộ thắp hương cho thầy. Mộ thầy hắn nằm chơ vơ giữa cánh đồng. Đó chỉ là một đống đất lùm lùm bằng cái thúng đựng gạo, trên mọc đầy cỏ hoang, lẫn vài bông hoa vàng. Run run cắm ba nén nhang lên mộ, hắn nghẹn ngào qua dòng nước mắt: “Thầy ơi, con là thằng Chanh đây, thầy có nhận ra con không? Mai con đi rồi, đi đến một nơi xa lắm. Nơi ấy cuộc sống sung sướng, kiếm tiền dễ dàng chứ không vất vả như ở ta đâu, thầy ạ! Con đi dăm bảy năm, con sẽ về với thầy. Thầy nằm lại đây, giữa cánh đồng này, dưới bầu trời này. Xin thầy hãy yên nghỉ. Con về sẽ xây cho thầy một cái lăng mộ thật to, thật đẹp ở một nơi cao ráo, thầy sẽ không phải ở cái nơi bùn lầy nhão nhoét này mãi đâu...”. Hắn khóc nấc lên, phủ phục xuống đống đất. Trời hôm ấy rất trong, rất xanh, không một gợn mây, bỗng đâu vang lên một tiếng sấm.

° ° °

Cuối cùng, Chanh cũng sang được Ba Lan sau một cuộc hành trình lận đận, gian truân có đầy đủ cả: đói, rét, nước mắt, mồ hôi, đánh đập, hãm hiếp, lội sông,vượt biên giới... kéo dài ngót ba tháng trời.

Hôm thằng Trương lên đón, hắn mừng ứa nước mắt, tưởng mình đang mơ. Hai thằng đưa nhau về tỉnh, nơi Trương sinh sống. Trương bàn: “Mày về đi bán hàng với tao một thời gian cho quen tiếng, quen việc và kiếm ít tiền làm vốn. Sau đó sẽ tính tiếp”. Hắn bảo: “Vâng, trăm sự nhờ anh. Em ở nhà chỉ biết đi cày, một dạo cùng anh buôn chó buôn gà thôi, chứ chẳng biết làm gì nữa”. Trương cười: “Thì cái này cũng như buôn chó buôn gà thôi. Nghĩa là mua ở chổ bán rẻ, và bán ở chỗ có thể bán đắt. Có điều đây là quần áo, giày dép. Đi vài buổi sẽ biết”. Chanh nghe hơi yên dạ, song vẫn phấp phỏng lắm.

Hắn ở cùng với Trương. Thì ra Trương đã có vợ. Vợ Trương là một cô Tây to béo, phốp pháp, má lúc nào cũng đỏ hây hây, hút thuốc liên mồm. Hàng ngày, hắn và Trương đi chợ, vợ Trương ở nhà trong đứa con một tuổi. Hắn đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Làm gì có cái cảnh sáng ngủ bảnh mắt đến 8 giờ, phóng xe Mẹc-xê-đì ra trước cửa nhà thờ, bán hàng cho dân Ba Lan như phát chẩn mà Trương kể hồi về Việt Nam. Hôm nào hai thằng cũng dậy sớm tinh mơ, những hôm chợ phiên thì phải dậy từ nửa đêm, đi xa cả trăm cây số mới đến. Trải giường bạt tranh chỗ với dân Ba Lan, cãi nhau ỏm tỏi. Chợ bán hôm được, hôm không. Ăn cắp nhiều như rươi. Hầu như buổi nào cũng có mấy bà chạy ngược chạy xuôi mếu máo tìm báo cảnh sát. Đi chợ rõ sớm, thế mà có hôm đến tối mịt mới về. Tịnh hàng xong, mệt lử. Những hôm lãi được một chút, hai thằng còn vui vui. Có nhiều hôm, trừ tiền xăng xe, vé chợ, ăn uống trong ngày thì vừa hoà, gặp hôm trời mưa đứng vêu mãi chẳng bán được gì thì âm nặng. Hai thằng nhìn nhau chán ngán. Uống vài chai bia, lăn ra ngủ như chết, để ngày sau có sức dậy sớm.

Mấy hôm đầu, Chanh để ý, hắn thấy Trương về nhà uống bia xong là lăn ra ngủ, chẳng thấy đi ra khỏi nhà. Ngăn không được tò mò, một hôm hắn hỏi: “Anh nuôi ngựa kiểu nào mà chẳng thấy cho nó ăn uống gì. Mà khẩu súng săn hai nòng của anh đâu, cho em xem với?” Trương ngớ ra: “Súng nào, ngựa nào?”. Sao hồi về phép anh bảo cứ chủ nhật hàng tuần anh lại cưỡi ngựa vào rừng săn bắn? Mà ngay cả chuyện bán hàng cũng vậy, sao anh em mình không ra trước nhà thờ mà bán cho nhàn. Đi xa vất vả quá mà không được mấy”. Trương cười phá lên: “Bịa, bịa tuốt. Tao nói phét mà chúng mày cũng tin à. Từ hồi sang đất Ba Lan này, cứ sáng sớm dậy đi bán hàng, tối mịt mới về. Tuần, hai tuần lên Vác lấy hàng một lần. Không có ngày nghỉ, không xem phim, không ca nhạc, không đi đâu cả. Bởi có hiểu mẹ gì đâu mà xem với xét. Chỉ thỉnh thoảng mấy thằng cộng tụ tập nhau lại bia rượu, say bét nhè rồi gọi điện đến hãng tìm gái thôi. Ngay cả cái con vợ tao đây này, tao quen nó mới được hai năm. Tao đi bán hàng ở chợ xa, nó cứ đi qua đi lại, sau đến làm quen. Tao biết tỏng là con nhà nghèo xơ nghèo xác, tưởng mình có tiền định tìm chốn nương thân vậy thôi, chứ yêu đưng mẹ gì. Mà không phải chỉ mình tao đâu. Phần lớn dân cộng mình bên này lấy tây đều vậy. Chỉ trừ một số ít các ông sinh viên thuộc thế hệ trước lấy vợ là xuất phát từ tình yêu. Hồi đó các ông ấy nghèo lắm, sang đây học chỉ có nhẵn một bộ quần áo của “chú Bửu”(4) phát cho, tiền không một xu dính đít, ăn còn bữa đói bữa no thì làm gì có tiền bao gái. Nhưng họ vẫn được các cô gái Ba Lan đem lòng yêu thương, dâng hiến và tự nguyện gắn bó số phận mình. Vì sao? Trước hết họ là những tinh hoa, chất xám của đất nước, họ thực sự có đầu óc, có khả năng. Vả lại thời đó đang có chiến tranh, người ta dễ thông cảm với mình hơn. Còn bây giờ, nước nhà đã độc lập, nhưng người Việt vẫn phải bỏ nước ra đi ầm ầm. Nghèo thì đi đôi với hèn. Con dân của một nước nghèo rớt mồng tơi thì bị khinh thường là phải. Tao đây, một thằng ở nhà chỉ biết đi cày, khá lắm là thêm nghề buôn chó buôn gà nhưng biết bao nhiêu lần đã uất nổ con ngươi khi bị phân biệt, đối xử. Mày sang đây hơi muộn. Cuộc sống bên này bây giờ phức tạp lắm. Tây nó nhìn mình không ra sao, lý do khách quan tao vừa nói, còn chủ quan thì cũng có phần lỗi do người mình gây ra. Người Việt Nam mình đa phần chịu thưng chịu khó, đoàn kết, gắn bó. Song không thiếu những con sâu làm rầu nồi canh. Mày sẽ thấy tận mắt những điều tao nói hôm nay”. Đang thao thao bất tuyệt, giọng Trương trầm hẳn xuống, vẻ mặt hắn lộ rõ một nỗi buồn khôn tả. Chanh tròn mắt, há mồm nghe. Hắn thán phục thằng bạn lắm lắm. Không ngờ Trương ăn nói, nhận định đâu vào đấy. Nhìn kỹ thằng bạn, hắn thấy Trương già hơn, chín chắn hơn lần về Việt Nam ba năm trước nhiều.

Lẽ ra thì Chanh vẫn cứ ở dưới tỉnh bán hàng với Trương, bởi hắn cũng quen và hơi thinh thích cái việc bán hàng. Tuy phải dậy sớm thức khuya, đi ngày cả trăm cây số, nhưng so với việc đồng áng ở quê hắn thì chẳng thấm tháp gì. Hơn nữa, nhờ giời, hắn là thằng có sức lực. Những bịch hàng nặng mấy người lễ mễ khiêng, hắn vác băng băng. Những việc nặng, hắn giành làm tất. Từ ngày có hắn, Trương cũng đỡ vất vả mà lại vui, có người chuyện trò, tâm sự. Mỗi tháng, trừ phần tiền ăn, tiền nhà, hắn cũng để giành ra được ba bốn trăm đô. Tháng đầu tiên, khi nhận được tiền, hắn ngây người ra ngắm tờ bạc màu xanh mới coong, mân mê chán, hắn áp vào mặt, vào mũi, gại gại vào bộ râu mấy ngày chưa cạo. Hắn chợt nhớ ngày xưa khi thầy hắn còn sống, vào dịp tết khi mừng tuổi cho anh em hắn mỗi đứa một tờ “năm hào con lợn”, ông cũng cầm tờ bạc gại sồn sột vào râu. Hắn ước có được thật nhiều những tờ bạc ấy. Hắn sẽ dựng lại cho bu hắn một nếp nhà khang trang hơn, sẽ mua cho hai đứa em gái thật nhiều quần áo mới, sẽ xây cho thầy hắn một ngôi mộ thật to, thật đẹp. Còn phần hắn, hắn sẽ mua một nếp nhà nhỏ ngoài phố huyện. Hắn sẽ lấy vợ, một người vợ hiền thục, đẻ cho hắn một đàn con khoẻ mạnh. Ngày hắn sẽ đi làm (làm gì thì hắn chưa biết, nhưng chắc chắn không đi cày), vợ hắn ở nhà mở cửa hàng bán chè thuốc và trông con. Mỗi buổi chiều sau giờ làm, hắn sẽ không la cà với chúng bạn ở đâu, mà đi thẳng về nhà với đàn con, với vợ... Tối tối, những ước mơ này lại theo hắn vào giấc ngủ. Thường là hắn đánh thẳng một giấc đến khi nghe chuông báo thức mới vùng dậy...

Thế rồi một hôm, hắn và Trương sang ăn cơm bên nhà một người quen. Anh này làm giỗ bố, mời hơn hai chục người.Cả hội xúm vào đánh chén. Khi đống xương đã cao lùm lùm trên mâm và đám vỏ chai bia lăn lóc khắp nhà, sự ăn uống xem ra có chiều uể oải, cỗ bài được lôi ra và cuộc đỏ đen bắt đầu. Vốn không mặn mà gì với những trò này, Chanh về trước, vì hắn đã buồn ngủ díp mắt vào rồi. Trương ở lại sát phạt cùng đám bạc. Nhà Chanh ở cách đấy vài con phố nhỏ nên hắn quyết định đi bộ.

Đêm mùa hạ, trời đầy sao. Thong thả trải bộ dưới hàng cây sẫm tối, hắn hít căng lồng ngực cái không khí mát dịu, trong lành thơm phức mùi hoa mận, mắt dõi nhìn trời đêm. Chả khó khăn gì lắm, hắn nhận ngay ra chòm sao Thần nông như cái gàu sòng đang múc đầy ánh trăng vàng đổ vào đám ruộng sao nhấp nháy trên bầu trời đêm xanh thẳm. Nỗi nhớ quê, nhớ nhà cuộn lên trong hắn. Hắn nhớ da diết cái làng quê nghèo yên ả , nhớ dòng sông Châu trong vắt hiền hoà; nhớ những đêm mùa hạ đầy sao như đêm nay, hắn và đám bạn nán lại ngoài sân kho sau buổi họp chi đoàn, ngồi nói chuyện dông dài, mơ ước về tương lai. Hắn thèm được vuốt ve suối tóc dài óng , đẫm hương sả, hương chanh của Nụ, cô bạn cùng xóm, thèm được gục đầu vào vai nàng; thèm khát cái mùi da thịt con gái quê trinh trắng... Lan man trong suy tưởng, hắn về đến nhà lúc nào không hay. Rón rén mở cửa để khỏi làm mất giấc ngủ vợ con Trương, hắn về phòng mình, trút bỏ hết bộ quần áo và đôi giày, ngã người xuống giường thiếp đi trong nỗi thèm khát da thịt đàn bà... Hắn mơ thấy Nụ. Nàng vồn vã, tình tứ quá. Đáp lại cơn thèm khát của hắn, nàng dâng hiến tất cả, đôi môi của hắn ghì chặt môi nàng, đôi bàn tay của hắn mặc sức tung hoành trên tấm thân nóng rực,lả đi, mềm oặt của cô gái quê. Hắn say sưa ngụp lặn trong bể dục. Những cơn sóng tình tuôn trào hết đợt này đến đợt khác trong cái cơ thể cường tráng của gã trai quê. Trong vòng tay hắn, Nụ oằn oại, rên la kêu lên những tiếng gì không rõ, hình như là gọi tên hắn thì phải. Lên đến đỉnh điểm, khi cảm nhận được dòng phún thạch tràn đầy sinh lực, người đàn bà hét lên, mười ngón tay cào cấu lên tấm lưng trần ướt đẫm mồi hôi của Chanh...

Tiếng rên la và tấm lưng trần bị cào đến toạc máu làm Chanh tỉnh giấc. Hắn mở mắt, Chúa ơi, tấm thân trắng phau, đẫy đà đang đê mê trong vòng tay hắn không phải Nụ, mà là vợ Trương. Ả rũ rượi, đôi mắt xanh màu nước biển nửa nhắm nửa mở, mồm kêu lên những tiếng gì không rõ, say sưa liếm những giọt mồ hôi của Chanh đang nhỏ xuống mặt .

Quá bất ngờ và sợ hãi, Chanh nhảy phắt xuống giường, luống cuống vơ chiếc chăn quấn ngang qua bụng. Người đàn bà khát tình nhào theo. Vừa lập cập chống đỡ, đẩy người đàn bà ra hắn vừa nghĩ đến Trương. Lúc này hắn chợt nhớ ra là Trương ở lại nhà thằng bạn uống rượu và đánh bạc. Chúa ơi, hắn có tội với Trương. Thu hết chút sức lực và lí trí trong cơn chống cự yếu ớt, hắn đẩy vợ Trương ngã xuống giường,rồi chạy ra đóng sập cửa nhà tắm lại. Mở hết cỡ vòi hoa sen, những tia nước phun xối xả, quất ràn rạt lên tấm thân trần truồng, nhơ nhớp, tội lỗi của hắn. Chanh khóc rưng rức, khóc như chưa bao giờ được khóc…
Những ngày hôm sau, Trương ngạc nhiên thấy thằng bạn mình thay đổi tính nết. Chanh lầm lì, ủ rũ, không còn đâu cái gã trai quê yêu đời, nhanh nhảu, hồn nhiên. Tưởng hắn ốm, Trương giành phần việc nặng, lại bảo hắn nghỉ chợ, ở nhà mấy hôm cho khoẻ. Hắn giãy nảy lên, không chịu. Hắn đang sám hối. Những lo lắng, ân cần của Trương càng làm cho hắn đau đớn, day dứt hơn. Mỗi lần bắt gặp cái nhìn thèm khát của vợ Trương liếc xéo vào hắn, hắn càng đau khổ. Phải đi thôi, hắn quyết định. Thế rồi trong một buổi chợ, hắn nói với Trương: “Anh ạ, em sang đây đã gần một năm. Được anh cưu mang giúp đỡ. Anh rất tốt với em. Nhưng em không thể làm gánh nặng cho anh mãi. Xin anh cho em lên Vác tìm kế sinh nhai. Em nghĩ kĩ rồi”. Trương gàn hắn, cố níu hắn ở lại. Song thấy không thể lay chuyển được thằng bạn, đành để hắn ra đi. Hai thằng chia tay nhau bịn rịn, bùi ngùi. Hắn ra ngay ga đáp tàu đi Vác.

Lên Vác, hắn mới thấy cuộc sống của dân mình khác hẳn dưới tỉnh lẻ. Mọi người đều bị cuốn vào guồng, lúc nào cũng chỉ tiền, hàng, làm quên cả sống. Với đồng vốn ít ỏi, Chanh hiểu rằng chỉ có bán sức làm trâu ngựa chứ chẳng còn đường nào khác. Hắn tậu một cái xe kéo, nhập hội cửu vạn với mấy anh đồng hương. Hơn chục thằng chen chúc nhau trong một căn hộ chật hẹp cho đỡ tốn tiền nhà. Bọn hắn nghèo, có thể nói là nghèo nhất trong cáI xã hội người Việt ở đây. Nhưng bù lại, anh em hắn sống vô tư. Bởi có gì để mà lo nghĩ, có gì mà sợ mất. Dậy từ nửa đêm, với câu thần chú “Uwaga”(5), bọn hắn đi khắp chợ trong tư thế của một con trâu kéo cày. Đằng sau là chiếc xe với những thùng hàng ngất ngưởng. Vốn tính hiền lành, Chanh không cãi, chửi nhau với ai bao giờ. Thật thà, chân chất nên vào vụ hàng chạy, hắn làm không hết việc vì nhiều chủ hàng, khách hàng quí hắn, tin hắn.

Nhưng hỡi ôi, cái thời tươi đẹp ấy qua mất rồi, bây giờ chỉ còn lại những chuỗi ngày ế ẩm, chán chường, ăn cả vào vốn. Đến bao giờ, đến bao giờ hắn mới có ngày về đây?

Ê! Dậy đi mày, định nằm lì ở đây đến bao giờ nữa?

Chanh giật mình tỉnh giấc vì tiếng quát cộc lốc của gã Ba lan bảo vệ chợ đang đi kiểm tra ổ khoá các kiốt. Trời đã tạnh mưa. Mặt trời hiện ra chói lọi. Chanh lầm lũi kéo chiếc xe trong tiếng chim hót ríu rít và tiếng réo òng ọc của chiếc dạ dày gào lên vì đói.

Trần Hoài Văn

Warszawa 8/2000


(1) Ám chỉ những người làm nghề kéo xe chở hàng thuê ngoài chợ
(2) Ám chỉ những chủ hàng người Việt
(3) Tên những khu chợ của người Việt tại Vac sa va
(4) Tạ Quang Bửu - Bộ trưởng Bộ Đại học thời đó
(5) Chú ý, cẩn thận ( tiếng Ba lan)

 

Vật Đổi Sao Dời - Nguyễn Phú Long

 

Vật đổi sao dời





Ở chợ Dầu có hàng cà-phê… có một cô nàng bé bé xinh xinh”, Đấy là lời mở đầu bài hát “Cô hàng cà phê” của nhạc sĩ Canh Thân, sáng tác từ lâu lắm rồi, song không những nhiều người vẫn thuộc, mà một số các vị cao niên khi nghe lại có thể vẫn thấy phảng phất vài hình ảnh kỷ niệm… ở chợ Dầu! Chợ Dầu thời đó, cái thuở nằm trong khu kháng chiến, chưa thuộc vùng tề, không khí sinh hoạt giống như chợ Vân Đình, chợ Đại, Cống Thần thuộc tỉnh Hà Đông, ngày ngày còn sợ máy bay Pháp oanh tạc, nhưng người ta, nhất là trai thanh gái lịch, vẫn qua lại, ra vào, ăn uống nhởn nhơ, mải mê mua bán hàng ngoại, như vải vóc, đồng hồ, bút máy, bật lửa… Hàng cà phê lúc ấy là một dịch vụ thương mại hiếm hoi, văn nghệ, mới mẻ, luôn luôn hấp dẫn “mấy anh nho nhỏ thường hay đến ngồi cười với cô”. Bây giờ, cà phê là thức uống tràn lan không thể thiếu từ nhà hàng đắt tiền, sang trọng đến quán ăn bình dân hang cùng ngõ hẻm. Nói cách khác, thực khách ngày nay dù sang hèn, sau khi ăn nhậu đâu đâu cũng có thể gọi cà phê. Cà phê được bố trí phục vụ khắp nơi. Nhưng uống cà phê trường hợp này chỉ như để thay tách nước trà tráng miệng bình thường. Lối húp cà phê đổ ra đĩa cho bớt nóng thì không đáng nói rồi. Đến như gọi ly cà phê để trước mặt, kiểu cách, mà mục đích chỉ là ngồi nghe nhạc khi tới Hầm Gió đường Võ Tánh hay Đêm Mầu Hồng ở đại lộ Nguyễn Huệ… cũng chẳng phải để thưởng thức cà phê hoàn toàn. Thưởng thức cà phê đòi hỏi không khí yên tĩnh, thanh thản, chọn lựa… Như thế, muốn cho đúng “gu”, muốn đã nghiền, phải lần mò tới những nơi chỉ lấy cà phê làm mục đích hoạt động chính của chủ nhân may ra mới có thể kể là người sành điệu. Trước năm 1954 Hà Nội có cà phê Nhân là một trong hai tiệm nổi tiếng nhất. Nó nằm ở ngõ Bảo Khánh, gần phố Cầu Gỗ, trông sang quán giải khát Mụ Béo bên hồ Hoàn Kiếm, mà thỉnh thoảng tôi được hân hạnh theo ra đó, bố tôi thì kêu ấm trà Tầu trầm ngâm. Độc ẩm. Tôi thì chẳng chọn lựa, lần nào cũng vậy, được gọi cho ly nước đá chanh… lặng lẽ, thờ ơ, một mình, lâu lâu nghe tiếng leng keng của tầu điện di chuyển lên xuống từ phố Huế tới chợ Đồng Xuân, ngó chung quanh toàn là người lớn, bàn ghế, tranh ảnh, đồ đạc hơi cổ, thế mà cũng nhớ mãi và thấy rất hãnh diện. Hồi ấy tôi đang ở nhà ông chú tại Hà Nội để ngày ngày cắp sách tới trường tiểu học Sinh Từ cùng người em, trong khi gia đình cư ngụ nơi thị xã Sơn Tây. Bố tôi là nhà binh mà đi làm giống công chức, chẳng phải cắm trại trăm phần trăm mút mùa lệ thủy như sau này, cứ thứ Bẩy, Chủ nhật lại cùng người bạn thân về Hà Nội (Khoảng 30 cây số) chơi bài tổ tôm, nếu ghé thăm tôi tức là được bạc, dắt tôi đi ăn cơm Tây, cơm tám giò chả ở Hàng Buồm, cà phê Nhân ở ngõ Bảo Khánh, phung phí cho đến hết, nhưng nhiều khi đợi hoài bố chẳng tới thì bắt đầu hiểu, cái hiểu thầm lặng về sự thất bại cho cả gia đình càng ngày càng nghèo vì cờ bạc. Vấn đề này khá quan trọng mà chúng tôi còn nhỏ chẳng dám có ý kiến. Mẹ tôi thì dùng nhiều cách, nhiều phen nhưng vẫn không ngăn cản được. Mới lại nói cho cùng thì ý kiến ăn thua gì, ngăn cản sao nổi:

Nhân sinh quý thích chí,
Chẳng gì hơn vui cuộc tụ tam.
Tài kinh luân xoay dọc xoay ngang,
Cơ điều khiển quân ăn quân đánh.
Gọi một tiếng người đều phải kính,
Dậy ba quân ai dám chẳng nhường…

“Thú tổ tôm” – Nguyễn Công Trứ)

Rồi thì, may sao, cuộc tụ tam cũng qua. Vào Sài Gòn, các chiến sĩ “tụ tam” tản mác, kẻ đi, người ở, nhưng khung cảnh mới lại bầy ra những hấp lực mới. Sức tàn phá của mặt trận mới cũng vô cùng độc hại và khốc liệt. Để thích ứng với hoàn cảnh, như con thiêu thân trước ánh lửa hồng, bố tôi lập tức nhào vô tham dự, tìm cảm giác ở Kim Chung, Đại Thế Giới, và, tình hình tuy có thể biết trước nhưng thực tế chưa kịp ngã ngũ thì ít lâu sau bố tôi qua đời. Bố tôi qua đời trước cả thời gian hai thiên đàng này bị bức tử, để lại cho chúng tôi mấy tờ biên lai của tiệm cầm đồ và một gia tài. Tôi nghĩ đấy chính là gia tài: Mẹ tôi, một quả phụ có chồng là sĩ quan chết vì công vụ do đó ưu tiên trở nên công chức, làm thợ may trong bảo sanh viện Hùng Vương Chợ Lớn; em tôi thì gom mấy chứng từ đính kèm hồ sơ xin vào Quốc gia Nghĩa tử, rồi sau khi lấy xong tú tài, nhập khóa huấn luyện một năm sư phạm đặc biệt, thành cô giáo dạy trường công lập Xóm Củi; và tôi, cũng do biến cố bố tôi mất đi, lượm tấm giấy miễn dịch vĩnh viễn bỏ túi, an toàn xa lộ, nhưng chỉ khỏi vô Thủ Đức một thời gian trước khi có lệnh tổng động viên năm 1966. Hồi đó, khi nhận giấy miễn dịch tôi chẳng vui, bạn hữu đi hết rồi, cuộc đời cắp ô kè kè sớm tối đâu có gì hấp dẫn, nếu không muốn nói là hơi hèn; đến lúc cầm lệnh gọi nhập ngũ cũng thế, chẳng buồn. “Tái ông mất ngựa.” Mặc đồ lính đi ra đường ít nhất cũng không sợ cảnh sát… Nhưng đó là chuyện về sau. Trời sinh voi sinh cỏ, sau khi mất mát cột trụ gia đình, giống như căn nhà chao đảo, chịu đựng qua cơn sóng gió, cuộc sống dần dần ổn định, anh em tôi vẫn được cắp sách tới trường, hồi ấy chưa thấy khai sinh cụm từ “cái nồi ngồi trên cái cốc” song tuổi đời thì đã trộng, đã “biết cái chi chi” nên những lần có bạn thân tới chơi, chúng tôi, làm như người lớn, hay kéo nhau ra đường Lý Thái Tổ gần nhà, tìm được một nơi khá lý tưởng, đó là tiệm cà phê Nhân, mỗi thằng làm cái “phin” đặc biệt, cà phê cứt chồn Ban Mê Thuột, tha hồ nói chuyện bù khú, tự do. Quãng đường Lý Thái Tổ từ Nguyễn Tri-Phương tới Ngã Bẩy ngắn thôi, mặt hè lồi lõm nhiều chỗ chưa trải xi măng, ngoài mấy cửa hiệu bầy bán tràn lan cả rừng xe đạp, còn lại rất nhiều quán hàng, sạp bán vé số, xe bánh mì thịt nguội, nước mía… Ai không thích phở Tầu Bay, phở Tầu Thủy, xin ghé cơm tấm bì thịt nướng. Ăn chơi phải tùy theo thời gian sớm chiều, có bánh cam, đậu phộng luộc, bắp nướng, bò viên. Ai muốn thay đổi, bồi dưỡng thì băng qua bên đường vào gọi càri dê, dê hầm thuốc bắc, hủ tíu ngầu pín; quán hủ tíu ngầu pín của chú Ba rất hẹp, nhưng thực khách đông thật là đông, ở ngay bên cạnh nhà của gia đình cụ Đỗ Đình Năm, em cụ Đỗ Đình Đạo, mặt tiền rộng thênh thang… Chúng tôi tới khu phố này rất nhiều lần, nhưng phần lớn chỉ để vào tiệm cà phê Nhân, nhâm nhi cái café au lait, cầm điếu thuốc Ruby, rì rầm, to nhỏ, nhìn phố phường như kẻ bàng quan hờ hững. Tiệm cà phê Nhân ở Sài Gòn tương đối sáng sủa và sạch sẽ, nằm trên trục giao thông của xe bus từ trường đua Phú Thọ tới chợ Bến Thành, giữa chốn quan chiêm tấp nập, chẳng bài trí sang trọng đèn xanh đèn đỏ, cũng không rộng lắm, bốn năm cái bàn gỗ kê song song hai bên tường, ghế đẩu cũng bằng gỗ, bây giờ hàng quán bình dân ở Sài Gòn vẫn dùng ghế đẩu nhưng là nhựa, thấp hơn, bền và tiện hơn, ngăn cách phía trong là một tủ kính chừa lối ra vô, không khí ấm cúng, quang cảnh mộc mạc, một lúc có thể tiếp khoảng hai chục khách là tối đa, giá cả phải chăng, đồ ăn thức uống hấp dẫn. Phần lớn mấy quán cà phê đều phục vụ cả khách hàng muốn uống trà Tầu, hàng cà phê ở chợ Dầu xưa kia cũng vậy. Nay vì miền Nam khí hậu nóng bức, mục trà Tầu chẳng được ai hoan nghênh nên đã bị loại bỏ, mấy bộ ấm chén nhỏ xíu mầu da lươn nằm im lìm trong tủ kính chỉ để làm cảnh, bù lại tiệm cà phê Nhân đã khai thác thêm bánh cuốn điểm tâm, bánh đậu xanh, bánh gai, thuốc lá… làm khách hàng tới đây có thêm nhu cầu được phục vụ thoải mái, và, quan trọng là không cảm thấy phải vội vàng, đóng chốt bao lâu chủ nhân cũng chẳng để ý, vì có bao giờ tiệm hết chỗ ngồi đâu! Tuy nhiên vào những buổi trưa oi ả, đôi khi có luồng gió thổi từ phía chợ cá trước mặt ùa sang cũng làm khó chịu bởi “cái mùi nồng mặn ấy”. Làm ngụm cà phê, rít hơi Cotab, bóc phong bánh đậu xanh Bảo Hiên, mấy cử chỉ này “đi” với nhau nhịp nhàng rất hợp, rất gần gụi, không giống như khi dùng trà. Uống trà là một nghệ thuật cao hơn, thanh nhã hơn, trịnh trọng hơn, thậm chí còn phải biết cách pha, cách uống nên nó đã được nhiều người nâng thành Đạo. Trà Đạo. Chả hiểu phải vậy không, ông Lưu Văn Vịnh đã viết trong cuốn Bốn lần leo núi Tản: “Uống trà giống như nắm tay Thúy Vân, mà uống cà phê như nằm ngủ với Thúy Kiều.” Sự ví von này gợi ra những hình ảnh thật lãng mạn, trữ tình. Chúng tôi kéo nhau tới đóng vai khách hàng thường xuyên của tiệm cà phê Nhân nhiều năm tháng nắng mưa, nhẵn mặt, từ lúc còn ở trung học đi xe đạp cho tới khi mặc áo trận vẫn “chung thủy” lái xe nhà binh đến đậu trước cửa mỗi lần về Sài Gòn, thế nên hễ có dịp tới đều được đón tiếp thân mật, chuyện trò niềm nở, nhất là vào những lúc vắng vẻ. “Lâu quá, không thấy ghé, lại tưởng là…” Ông chủ tiệm thường “chào” tôi một câu bỏ lửng như vậy, là vì có thể, đôi khi ít khách, ngồi nhìn mưa Sài Gòn trút nước ào ào từng chập, nhớ tôi, ổng đã nghĩ đến những màn phục kích, đến những cuộc giao tranh mịt mù khói lửa… Một lần tôi hỏi, phải đây là tiệm cà phê từ Hà Nội “di cư” vào chăng, thì được trả lời: Không hẳn vậy, hai bên chỉ là họ hàng với nhau. Ông chủ ở Sài Gòn dáng cao lớn, khoảng hơn bẩy chục, nhưng trông còn khỏe mạnh, lúc nào cũng tươi cười, vui vẻ, thẳng thắn. Là một cựu sĩ quan Tây, có thời gian phục vụ bên Tầu, nay về hưu ở Sài Gòn, mở tiệm, hoạt động cho bớt thì giờ nhàm chán, đã mượn đỡ cái tên hiệu của người nhà để mời gọi thêm khách Bắc kỳ cũ. Sau này, theo chỗ tôi biết thì tiệm cà phê Nhân ở Hà Nội vẫn còn đó, vẫn được khách hàng chiếu cố nồng nhiệt, bây giờ càng ngày càng sầm uất với đèn ống neon nhấp nháy ngoài mặt tiền, tranh của họa sĩ nổi tiếng trang trí nội thất, lầu một, lầu hai bầy biện sang trọng, tiếp viên qua lại phục vụ nhộn nhịp. Sự phát đạt về kinh tế là điều đáng mừng chẳng những cho gia đình mà gián tiếp cho cả xã hội, nhưng, trường hợp này đối với khách nghiền cà phê, quang cảnh mới có làm hơi ngơ ngác một chút, vì nó đã mất hẳn cái không khí bình thản, mộc mạc, ấm cúng, giản dị, yên lặng quen thuộc xưa. Tiệm cà phê Nhân Sài Gòn không “tiến nhanh, tiến mạnh” như đồng nghiệp cùng tên ở Hà Nội, lúc nào nó cũng bình bình, bơ bơ, giống cuộc sống không bon chen của người ưa thả nổi, an phận, nhỏ bé, bình thường. Tuy nhiên vì cuộc sống, nên nó cũng cần giữ những căn bản của người mua kẻ bán. Còn nhớ lúc đầu có lần bị tính tiền nhiều hơn giá biểu trên bảng thực đơn chút xíu, chưa kịp hỏi ra sao, thì đã được ông chủ thản nhiên giải thích, đó là vì gọi thêm đường bỏ vào cà phê! Nhưng về sau, mấy lần, gọi thêm đường như thế, lại chẳng bị tính tiền, nhắc ông thì ông cười đáp, cũng thản nhiên: “Người quen, có chút đường!” Còn một điều phải kể, được coi như “người quen” bởi không bao giờ ăn uống ghi sổ, giống như một số khách hàng, cũng quen, nhưng vì cho tiện đã tích lũy để lâu lâu cộng lại trả một lần cho đỡ mất thì giờ mà chủ nhân thường không thích bởi cần vốn và cảm thấy bất trắc. Là học trò nghèo, tối tối kiếm thêm tiền bằng cách kèm trẻ tại tư gia, ngoài khoản mua sách báo, hớt tóc, còn thì đem tới cà phê Nhân thù tạc bạn bè, chứ có biết để làm gì đâu (!) Lại nữa, thấy cô Nga, con gái ông chủ, không tỏ ý léng phéng, mắt la mày lém, mà chỉ coi như anh em tự nhiên trong gia đình. Hồi đó tôi đang trồng cây si cô cháu thằng bạn và thằng bạn thì lại bận rộn “gò” nhỏ bạn của cháu nó, nên bọn “gà què ăn quẩn cối xay” dù sao cũng phải thủ cẳng, giữ ý lẫn nhau, ra cái điều đứng đắn, chứ thả ra thì ngây thơ bé nhỏ gì, nam nữ cỡ này nhốt chung với nhau là có chửa ngay ấy chứ lỵ, một lũ tồng ngồng cả rồi, đúng như cụ Tản Đà mô tả trong bài thơ “Nhớ chị hàng cau”:

Ai đương độ ấy lăm răm mắt,
Tớ đã ngày nay lún phún râu!

Cô Nga “hay cười, hồn Xuân phơi phới”… những lúc ít việc vẫn thường nói chuyện, vô tư: “Hai tiệm phở liền nhau, anh thích ăn phở Tầu Bay hay Tầu Thủy?” “Tầu Bay. Nhưng đông quá, không chờ được thì sang Tầu Thủy.” “Thế Tầu Thủy đông quá thì sao?” “Thì đi… xe lửa!” “Một người, sáng vẫn bưng phở cho thực khách, vừa bưng vừa la ‘Nước sôi! Nước sôi!’, ông ấy tên Huy, mới lấy vợ là cô bán chanh ở chợ Cá bên kia đường anh biết không?” “Không.” “Ngoài việc bưng phở, ngày ngày ông Huy còn có nhiệm vụ băng qua đường vào chợ Cá mua chanh về sửa soạn phục vụ khách hàng hôm sau, do đó quen cô bán chanh, rồi lấy cô bán chanh!” “Chuyện cổ như trái đất, đúng là gặp nhau, biết nhau, quen nhau, yêu nhau, lấy nhau rồi… sống bên nhau.” “Biết hết! Thôi không kể nữa!” Đàn bà thật nhiều tự ái. Nàng nguýt tôi, có vẻ nhõng nhẹo, im lặng. Tôi cũng chưa biết tiếp tục ra sao, thì may quá vừa lúc có hai vị khách nam nữ, quấn quýt như đôi tình nhân, vừa đi vừa dựa vào nhau như say, như muốn đổ, nói chuyện âu yếm rì rầm chẳng thèm nhìn ai, Nga vội đứng lên mời vào bàn, nhanh nhẹn làm việc. Một mình, tôi tợp ngụm cà phê, chả biết làm chi lại nghĩ đến ông Huy, cô bán chanh, nghĩ đến những cuộc gặp gỡ, biết nhau, quen nhau, yêu nhau, lấy nhau rồi sống chung, mình với ta tuy hai mà một, gắn bó, thành thật, cho nhau tất cả, chẳng tiếc gì, đối với nhau còn hơn tình ruột thịt bố mẹ anh em… Cô bé trở lại, cười, tôi cũng cười: “Anh nói có gì sai đâu, việc hôn nhân, theo phong hóa, phải thứ tự từng giai đoạn chứ.” “Chuyện đó thì ai chẳng biết.” “Anh xin lỗi! Hay là cặp này đốt giai đoạn?” “Làm gì có. Khu phố quanh đây dù nhiều chuyện, nhưng mọi sự đều suôn sẻ, có điều bây giờ vợ ông Huy không còn bán chanh ở chợ Cá nữa!” “Ủa sao vậy?” “Ông Huy ra điều kiện lấy ổng thì ở nhà, ổng đi làm đủ rồi.” “Thế à? Em biết không, có mấy nữ ca sĩ cũng được chồng yêu cầu nghỉ hát khi lấy nhau.” “Song cô bán chanh chẳng muốn thế, ngược lại, còn đề nghị ông Huy nghỉ việc, thủng thẳng kiếm chỗ khác, để mình cô tần tảo, ‘quanh năm lặn lội ở ven sông’, cô mơ ước có chồng là người thợ chuyên môn, như thợ kim hoàn, thợ may quần áo tây, nhàn nhã và sạch sẽ hơn, nhưng ổng không chịu, giằng co mãi và cuối cùng cổ phải chịu.” “Người đàn ông trong gia đình lúc nào cũng đứng mũi chịu sào, phần lớn là vậy, ngoại trừ mấy kẻ hèn hạ, mang kiếp mày râu mà nhục nhã cúi đầu núp bóng quần thâm.” Lại có mấy người khách trẻ bước vào, ông chủ liền đứng dậy từ sau tủ kính, vừa “đề-pa” mấy bước với đôi guốc mộc nặng chình chịch, khua vang, thì Nga lại nhào ra xung phong lấy order, làm tự nhiên gián đoạn câu chuyện đang dở dang. Tôi không biết ông chủ tiệm tên gì, ổng có hai người con gái. Cô Nga và bà vợ luôn túc trực giúp thu tiền, trông hàng, pha cà phê, dẹp bàn, nhưng cô gái lớn thì tuyệt đối chẳng bao giờ, cô chỉ xuất hiện khi dắt chiếc xe Velo Solex ra phố hay từ bên ngoài về nhà lướt qua nghiêm trang, lặng lẽ. Thế rồi “thuở trời đất nổi cơn gió bụi”, vào khoảng tháng 10 năm 1975 tôi tình cờ gặp ông chủ tiệm cà phê Nhân ở trại tạm trú Indiantown Gap, Pennsylvania. Phong cảnh vùng “Anh-Đi-Ăn-Táo” lúc này như mới vào Thu, lá cây đã vàng, người di tản buồn đối diện cái lạnh đầu tiên trên đất lạ, qua lại giữa những dãy barracks co ro với mấy chiếc áo mùa Đông cũ, lòe loẹt do hội Hồng Thập tự cung cấp. Tôi bất chợt thấy ông cũng co ro trên đường. Nhìn ông thật bất ngờ, mới đó mà sọm hẳn đi, nét mặt âu sầu, chán nản, khác hẳn hồi trước. Ông được bốc sang đây bằng máy bay Mỹ theo gia đình người con gái lớn, bà vợ và cô Nga thì vẫn ở Sài Gòn. Tôi ngạc nhiên không hiểu tại sao ông bà lại quyết định theo kiểu Âu Cơ và Lạc Long Quân như thế! Vũ Trọng Phụng viết: “Hạnh phúc là gì nếu chẳng phải sức khỏe của hai vợ chồng.” Câu văn này được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong tác phẩm Số đỏ. “Biết rồi, khổ lắm nói mãi!” Nhưng người ta, tuổi đời đã tới xế chiều, sức khỏe hao mòn dần dần đến khi không còn nữa, thì vợ chồng vẫn có hạnh phúc chứ! Hạnh phúc vợ chồng bấy giờ là gì nếu chẳng phải gần gụi để tâm sự, an ủi, nương tựa sớm khuya. Cái hạnh phúc lúc này cũng cần thiết, rất cần thiết, vì nếu không, “lấy ai là người nghe em kể chuyện thu phong”. Nhìn ông cụ, chợt nhớ đến người bạn vẫn cùng uống cà phê thuở nào.Nhưng hắn đang kẹt trong cải tạo nên tôi cũng chẳng có đối tượng để mà kể lể, báo tin gặp gỡ cố nhân. Lúc xuất trại, ông về Cali. Tôi xuống thủ đô Richmond Virginia, sau đó, dĩ nhiên tôi vẫn giữ liên lạc. Cô gái lớn đối với gia đình tôi đã thân thiện, quen nhau rồi mới thấy cô ấy ít nói, song rất dễ thương, qua thư từ cổ chỉ cho vợ tôi cách làm bánh cuốn vì hồi 1975 người Việt ở Mỹ chưa đông, chưa có nhiều tiệm ăn Á châu ê hề, tràn ngập làm thành cả khu phố. Sau đó, tôi cũng như nhiều kẻ khác, cuộc sống của lớp người lót đường lúc đầu vất vả. Vừa phải gìn giữ cái căn bản của lối sống cũ, quê hương, tôi thường nhắc nhở các con tôi ở nhà phải nói tiếng Việt, vừa phải cố gắng để hội nhập, tiến bộ. Ngày ấy tôi chưa biết Valentine’s DayMother’s Day là cái gì. Một hôm trên đường cuốc bộ đi làm, tới ngã tư đèn xanh đèn đỏ Monument và Kensington Ave, tôi chào người bán hoa ở vỉa hè như thường lệ, nhưng khác với thường lệ ông già da đen tươi cười trao cho tôi một cành hoa, đến chỗ làm, hỏi bạn mới biết hôm ấy là Father’s Day. Tôi quen thân với ổng từ bữa đó. Từ bữa đó tới hôm nay, thời gian đã hơn 30 năm, biết bao nhiêu thay đổi, với thật nhiều bỡ ngỡ lúc ban sơ, tôi đến thành phố này rồi lang thang mấy tiểu bang khác làm việc, tha phương cầu thực, bây giờ lại trở về… Và nếu tôi chẳng tình cờ bách bộ thơ thẩn ở góc vỉa hè để chờ mẹ tôi đang khám bệnh trong phòng mạch của bác sĩ thì làm sao biết và nhớ ông già da đen bán hoa năm xưa đã chết khi nhìn một phiến đá khiêm tốn, vuông vắn, im lìm nằm trên bãi cỏ như tấm mộ bia do flower vendor and friend thực hiện với hàng chữ: “He sold flowers at this corner for half a century.” Nhớ lại hồi mới đến đây, những ngày vất vả, mùa hè chẳng có máy lạnh, mùa đông chạy tiền đổ dầu đốt lò sưởi hụt hơi. Vợ đi làm bằng phương tiện di chuyển công cộng từ tờ mờ sáng, hôm nào cũng bới bát cơm với một món mặn mang theo để ăn trưa. Chồng mần ca đêm, tự điều khiển cái xe đạp cũ mua ở garage sale rẻ rề, chẳng phải trả tax, chẳng phải đổ xăng. Sáng đêm quần quật. Tối tăm mặt mũi. Về sau chiếc xe hai bánh giở chứng hết đứt xích lại xì hơi bèn cuốc bộ, nên mới có cơ hội quen biết với ông già bán hoa ở ngã tư giữa nhà và nơi làm việc. Vì vật lộn với những khó khăn trong cuộc sống mới mà bẵng một thời gian tôi không biết gia đình ông cựu chủ tiệm cà phê Nhân bên Cali thế nào, cho tới một hôm đột ngột tình cờ được tin, hung tín, từ một người quen: Ông cụ đã qua đời! Tôi âm thầm với nỗi ám ảnh qua những hình bóng cũ. Tuổi già cứ đến từ từ, “tuổi già giọt lệ như sương”. Nhớ lại, sau thời gian mỗi người một hướng, thư từ lui tới với gia đình người con ở Cali cứ nhạt dần, cứ thưa dần, chẳng biết viết gì, rồi mất địa chỉ lúc nào không hay. Bây giờ cũng chẳng thể kể lể báo tin buồn này cho ai vì thằng bạn cùng tôi từng uống cà phê trước đây đã yên nghỉ đâu đó trong lòng đất trại cải tạo, không kịp đoàn tụ với vợ con bên Canada. Sự liên hệ giữa tôi và ông chủ tiệm cà phê Nhân bắt đầu khoảng cuối thập niên 50. Khi gần, lúc xa trong một xã hội thật nhiều “nỗi truân chuyên”, cho tới thời gian gặp nhau ở “Anh-Đi-Ăn-Táo” Pennsylvania, để rồi mỗi người mỗi ngả vĩnh viễn.Tôi chẳng dám coi ông như bằng hữu, sự quen biết qua lại chỉ nhàn nhạt, gặp gỡ bao giờ cũng mừng, cũng vui, thăm hỏi chuyện trò. Xa cách thì vẫn giữ trong bụng mấy hình ảnh, kỷ niệm này nọ, để đôi khi giữa những lần làm việc cực nhọc lại nhớ đến nhau, và như thế, hẳn chúng tôi không phải chỉ là người dưng hoàn toàn, dù chưa bao giờ mời nhau được một ly cà phê. Tôi tiếc là chuyến về thăm quê hương mới đây, tới đường Lý Thái Tổ, để ý tìm, nhưng không còn trông thấy tiệm cà phê Nhân, không định được rõ vị trí của chốn xưa từng lui tới. “Thương hải biến vi tang điền.” Bà chủ tiệm cà phê Nhân gốc người Hà Nội quý phái trôi nổi nơi đâu? Còn ở quê nhà hay đã “đoàn tụ” với người con lớn, hay đã “về” cùng người chồng mà thời cuộc làm xa cách bao năm! Ôi, “những người muôn năm cũ”.

Nguyễn Phú Long

 

 

Monday, August 3, 2026

Phôi Pha Giọt Sầu - Thuyên Huy

 Phôi Pha Giọt Sầu




Đàn Đi Theo Người - Thuyên Huy

 

Đàn Đi Theo Người

    Trở lại nơi này, chắc cũng đã bỏ đi hơn năm sáu năm, đường xưa đi về, cảnh vật vẫn như cũ, căn biệt thự ra vào cũng hai chợ chồng bác sáu, ân nhân của anh, tóc cả hai giờ trắng một màu bông bưởi, còn đó cái ghế đá xanh lục bình giữa khu vườn đầy hoa Sứ đỏ, năm sáu cây mảng cầu cao rợp bóng, cái ghế mà anh đã ngồi mỗi buổi chiều tàn nắng, chập chững tối, nhìn qua bên kia khung cửa sổ căn nhà sàn gỗ đen, nằm giữa khu vườn rộng, hàng rào giây leo cao, cách bên này con đường nhỏ đất trắng mịn, chạy sâu vào, ngang xóm đạo trong, ra tới ngoài đường nhựa, đầu cổng nhà thờ, có tiếng đàn dương cầm và đứa con gái nhà giàu ngoan đạo, học chung trường, đi về chung đường, ban đầu thì người trước người sau nhưng rồi thì sánh đôi,  bên người bên mình, nói cười vụn vặt, những cánh hoa phượng khô ép trong vở và trang lưu bút mực xanh có chữ thương chữ nhớ nghiêng nghiêng.

*

    Cũng cái ghế đá xanh lục bình ngày cũ trong vườn, anh ngồi đó nhìn qua, không như ngày nào, khung cửa sổ quen không thấy mở dù trời đã giữa trưa, nắng và nắng. Có tiếng người nói chuyện bên nhà đó nhưng không phải tiếng người quen, anh đứng dậy, bước tới gần bên rào chút nữa, nghe cho rõ hơn, đúng là không phải tiếng người quen năm xưa.   

*

    Không có đạo nhưng dòng đời đưa đẩy, anh lại sống vài năm ở trọ tại nhà vợ chồng bác sáu, ông “Bỏ” của nhà thờ tỉnh, vợ chồng bác hiền như cục bột, có một người con gái, lấy chồng xa, đâu đó dưới Rạch Giá Long Xuyên, thỉnh thoảng lắm mới về thăm ngày ta ngày tết.




    Nhớ lại anh cười thầm, số trời sao đó còn thương, gần cuối năm đệ Tam, chuẩn bị khăn gói, chờ ngày hè, về quê, tính là sang năm chắc sẽ rời căn nhà hiện đang ở trọ với hai ba anh lớp trên, cùng xong năm cuối trung học, không còn ở đó, anh sẽ ở lại một mình thui thủi, buồn so, ra vào cái nhà mái ngói âm dương, cây che lá phủ chung quanh, âm u, không xa cổng trường bao nhiêu, ngó qua ngôi chùa cổ cũng âm u không kém, nhiều khói nhang, tụng niệm, hơn là tiếng cười, vì bà bác già, chủ nhà là người tu tại gia, hiền từ, thương người với hai tiếng “mô Phật”.

*

   Sáng Chủ Nhật ngày đó, theo anh bạn nhà ở tỉnh, người có đạo, đi lễ sáng nhà thờ cho biết và cũng theo lời anh ta, biết đâu tìm được một “tà áo đêm Noel” nào đó vì anh cũng biết, trong trường có nhiều cô trang lứa, cùng lớp là người ngoan đạo. Lễ xong, người người ra về, những “tà áo đêm Noel” cũng ra về, hình như không ai thấy anh hay làm ngơ, rốt cuộc “cô đơn vẫn cô đơn”.

    Chia tay anh bạn, anh đứng xớ rớ trước cổng nhà thờ, nắng lên, một màu hanh hồng trên tượng Chúa trong sân, ngó lên ngó xuống, chưa vội đi, nghe tiếng người hỏi, quay lại, bác trai trọng tuổi, tóc hoa râm, cầm xâu chìa khóa, nhìn anh cười hiền rất hiền, anh cúi đầu chào, sau khi hỏi qua hỏi lại làm quen, bác hỏi nhiều về quê nhà, gia đình, học hành, anh cũng “tình thật xin thưa”, chuyện lo tìm chỗ ở trọ cho năm học tới, mới biết bác chuẩn bị đóng cổng nhà thờ. Vậy đó, chiều thứ hai tan học, anh tới nhà như bác dặn. Anh dọn tới nhà bác Sáu “ông Bỏ nhà thờ” hôm sau.

*

    Đi tới đi lui, chạy qua chạy qua chạy lại, khu xóm đạo nhà thờ riết rồi ai cũng biết cũng quen anh, cái thằng cháu “bá vơ” của ông sáu Bỏ, phụ bác việc quét dọn sắp bàn sắp ghế, nhổ cỏ tỉa cây của nhà thờ, thuộc kinh thánh lễ nhưng vẫn là người ngoại đạo.

    Thứ Bảy Chủ Nhật, đứa con gái ngoan đạo của căn nhà sàn gỗ đen, cùng gia đình đi lễ, chuông vang vang, anh đứng bên ngoài hành lang chờ, người bên trong “A men”, anh cũng lạy “Chúa A men” nhưng “A men” gì thì không ai hiểu, chỉ riêng mình anh hiểu.

·         

    Thương thầm, thương một mình, chần chừ, ngập ngừng chưa dám nói, sau mùa thi, mùa hè qua, hối hả từ quê nhà trở lại trường, đứa con gái và tiếng đàn dương cầm ngày xưa, không còn bên căn nhà sàn gỗ đen nữa. Người quen trong xóm nhà thờ cho biết, nghe nói đã có người và xe cộ dưới Sài Gòn lên làm lễ đính hôn rồi.

    Từ đó anh rời nhà bác sáu “ông Bỏ nhà thờ”, đến ở chung với nhóm bạn nhà quê xa, xa tít ngoài ngã ba bến xe cũ, cuối năm học đó anh bỏ Tây Ninh đi và đi biền biệt.

*

    Anh trở lại cái ghế đá, ngồi nhìn qua căn nhà sàn gỗ lần nữa, nói với mình, đúng là không phải tiếng người, tiếng đàn năm cũ, có tiếng bác sáu gái gọi vọng ra, anh đứng dậy đi vào nhà, bỏ lại sau lưng, trong vườn, trên cái ghế đá màu lục bình, những cánh hoa Sứ úa, ngậm ngùi tơi tả rụng

Thuyên Huy

Để nhớ một xóm đạo mà ở đó anh đã có một thời làm người có đạo

 

 

Phố Thu Vắng Người - Nguyễn Đạm Luân

 Phố Thu Vắng Người