Gặp Lại Tình Cờ
Friday, July 3, 2026
Áo Má Tôi - Thuyên Huy
Áo Má Tôi
Từ quê lên trường tỉnh, năm đệ Thất, má ít
khi lên đón tôi về, ở ký túc xá nên bà không phải lo chuyện ăn chuyện ở, thứ
Bảy cùng mấy đứa bạn chung lớp, theo mấy anh lớn, cũng ở làng xã quê xa, chung
đường về nhà, đứa xuống trước chỗ này, đứa xuống sau chỗ kia, xế trưa chủ Nhật
má đưa tôi ra đón xe ngoài đường lộ, vậy thôi, cứ ngày này qua tháng kia.
*
Ngày bải trường, nghỉ hè cuối năm, năm đệ
Thất, má đón chuyến xe đò nhỏ đầu ngày, lên tỉnh từ sáng sớm, mặt trời Hạ rực
nắng lên nhà xóm chài bên này sông, má khiêm nhượng đứng nép mình ở gốc cây
phượng già bên kia đường, xế chỗ cổng trường một khoảng xa, chỗ ngày đầu bà đưa
tôi lên học. Chuông tan trường reo lên vang rân, chen đám đông nghẹt học trò,
túa ra như bầy ong vỡ tổ, tôi chạy nhanh ra tìm má, nắm tay bà cười thành
tiếng.
Tiếng đám học trò nhà ở tỉnh, cười giỡn,
xúm xích với gia đình, nào xe hơi, xe gắn máy, áo quần người nào người nấy
thẳng thốn lụa là, cách đó không xa. Bất chợt nhìn má, cũng cái áo bà ba sờn
tím bạc, cái quần đen ngã màu bùn che chưa trọn gót, cũng đôi dép Nhật cũ, bộ
đồ đã mặc khi đưa tôi lên tỉnh đầu năm học, tự dưng thấy có chút buồn nhè nhẹ,
đâu đó trong lòng khó tả, khác hẳn những năm còn nhỏ ở trường làng, tôi vô tư
không nghĩ gì. Xe đò tới, lên xe rồi, nhìn lại đám người phía sau, rồi nhìn má,
tôi thì thầm “má tôi”.
*
Nhà nghèo, ba mất sớm, từ hồi chưa lên năm,
bà con nội ngoại không thấy ai, chưa một lần nghe má nói tới hay nhắc đến. Còn
lại hai má con, vui mà sống ở căn nhà mái tôn vách đất, nằm cuối ấp chợ, bên lề
con đường đất đi xuống bờ nhánh sông nhỏ, không có bến đò, băng ngang qua cánh
đồng cỏ lớn, nơi dân làng thường thả cho trâu bò ăn cỏ.
Má làm công nhân cạo mủ cho cái sở cao su
lớn, cách nhà độ chừng ba bốn cây số, sáng sớm, trời còn mờ mờ sương đã đạp xe
đí, má đem gởi tôi bên nhà ông bà bác sáu Thịnh, bên cạnh, có sạp bán bánh bán
xôi trong chợ, nhà không có con, và thương tình cảnh mẹ góa con côi, thường hay
giúp đở má tôi nhiều thứ, trong nhiều thứ đó, có tiền, nhất là tiền cho tôi đi
về khi lên tỉnh học, số tiền đó má từ từ trả lại, hai ông bà ít khi đòi, ông bà
thương tôi lắm, từ sở cao su về trưa chưa kịp thì đã lo cho tôi ăn tôi uống
rồi.
Trừ thứ Bảy chủ Nhật, ngày đi làm má về nhà
lúc giữa trưa một chút, nên rảnh cả buổi chiều, má qua phụ ông bà bác sáu
chuyện nấu xôi hay làm bánh. Tôi đi học trường xã, má thức sớm hơn, cho tôi ăn,
khi thì xôi của ông bà bác sáu Thịnh cho, hay cơm nguội khoai lang, như những
năm qua, dẫn tôi qua bên bển chơi, chờ trống trường vào học, rồi đạp xe đi làm.
Tôi quen dần với chuyện này từ những năm đó.
*
Năm đệ Tứ, vào học không lâu, được thằng bạn
thân, con nhà giàu cùng lớp, giới thiệu tới làm phụ bưng chén, bưng tô cho
khách, vài tiếng đồng hồ mỗi chiều tan học về, tại tiệm cơm đông khách của
người dì bà con hắn ta. Làm như vậy, vài tháng sau, trước ngày nghỉ Tết năm đó,
buổi chiều tan học, có chút đỉnh tiền, tôi ra tiệm vải trong nhà lồng chợ tỉnh,
mua hai sấp vải màu, áo tím đậm màu trái cà, quần đen tuyền màu mực, để đem về
làm quà năm mới cho má.Trên đường đi bộ từ chợ về ký túc xá, cười vui như trúng
số, ước mơ một ngày có được của tôi đã thành sự thật.
Vậy đó, mấy mùa Tết năm sau, thấy má không
mặc áo mới, không dám nhưng có đôi ba lần, lần lựa rồi e dè, hỏi sao má chưa
may quần áo mới, má cười bảo chưa cần, khi nào may tôi sẽ biết ngay, má con tôi
ăn Tết, nói ăn Tết cho vui, chứ nhà nghèo, mưa dầm lầm lũi, vui buồn với đám
cây cao su tối mù, hết xuân rồi đông, có mâm cơm, nồi thịt kho mua trễ thêm hai
ba cái hột vịt, trái dưa hấu ông bà bác sáu Thịnh cho và gói thèo lèo cứt
chuột, cũng đủ để nhà có tiếng cười rồi, thương má, năm nào tôi cũng để dành
chút tiền, quà cho má mà không cần má cho lại, nhìn cái bao đỏ, lần nào cũng
vậy, thấy mắt má đỏ hoe mà thương má không biết nói sao cho vừa.
*
Hai
má con ngồi ăn bánh mì, với mấy lát thịt đồ hộp của Mỹ mà tôi mua từ chợ Cũ Hàm
Nghi Sài Gòn, với số tiền dành dụm từ những ngày làm ở quán cơm bà dì của anh
bạn học nhà giàu, hôm đi xem kết quả Tú Tài Một về, sau chái hiên nhà, bên cạnh
mâm cơm cúng ba, mâm cơm báo tin tôi thi đậu, buổi chiều còn nắng, má mừng khôn
xiết, giờ thì bà bảo tôi , bà chờ ngày này từ mấy năm rồi, ngày mai má sẽ may
quần áo mới, vừa nói vừa cười, chút vạt nắng tím hồng chiều còn sót lại, lùa
ngang phớt qua, trên đầu bà những sợi tóc thưa bạc màu sương khe khẻ đong đưa,
vui lây.
*
Hôm đưa tôi ra đường, chờ đón xe lên tỉnh
tựu trường đầu năm đệ Nhất, má mặc chiếc áo bà ba màu tím trái cà mới. Lên xe,
xe chạy một khoảng xa, nhìn lại, nhớ chiếc áo bà ba tím cũ bạc màu của má, tôi
rươm rướm khóc.
Thuyên
Huy
Viết lại
để tưởng là mình có mẹ
Thằng Người Có Đuôi - Thế Giang
Thằng Người Có Đuôi
–
Tên chị là gì?
– Thưa em tên Mợ
– Mơ gì? Mộng mơ hay quả mở
– Tùy, ai muốn hiểu thế nào thì hiểu…
– Quê quán ở đâu vậy?
– Em ở Thạch Thất, Hà Tây.
– Chị công tác ở cơ quan nào?
– Thưa, ở ty Văn Hóa Thông Tin Hà Sơn Bình.
– Chắc chưa vào đảng…?
– Vâng, em mới phấn đấu ở cương vị đoàn…
– Chị lập gia đình chưa?
– Em chưa lập, nhưng đối tượng thì có rồi!
– Các cụ nhà ta còn cả chứ?
– Vâng, thầy u em vẫn còn.
– Gia đình được mấy anh chị em nhỉ?
– Thưa, được tám cả thảy…
Một bản sơ yếu lý lịch? Một cuộc hỏi cung ngắn? Tôi thò đầu ra khỏi gầm ghế, hé
mắt nhìn về cuối toa xe lửa. Cửa vẫn còn mở có nghĩa là đội công an, thuế vụ
trên tàu chưa làm việc, nếu không họ đã đóng chặt hai đầu toa cho hành khách
không có đường đi lại hoặc tẩu tán hàng hóa.
–
Chị đi đâu mà hành lý cồng kềnh thế này?
Bỏ
mẹ rồi, đội kiểm tra cơ động đặc biệt! Tôi rụt đầu vào gầm ghế, cay đắng lo cho
số phận hai bịch thuốc lá sợi của mình. Hôm nay thứ sáu, nhưng 15 tây, 8 âm lịch:
ngày lành. Tử vi tôi tháng này không xung với tuổi, trong năm không có sao Địa
Không, Địa Kiếp ghé thăm để mà lãnh tai họa, trộm cắp.
Chuyến
tàu khởi hành chậm hai tiếng đồng hô như lệ thường. Nếu chả may nó chạy đúng giờ
thì người ta còn coi như báo trước một điềm gở… Khổ quá, tôi đã tham lam đóng hết
hàng, chỉ chừa lại số tiền vừa đủ ăn đường và nộp hụi chết cho cánh công an thuế
vụ thường trực trên tàu, đám đột xuất này mà sờ đến thì chỉ còn nước bỏ của chạy
lấy người.
Tàu
lắc lư chạy trong đêm. Hành khách ba miền của bao nhiêu âm ngữ đã đồng tiếng
ngáy. Ngay sát mặt tôi, dưới gầm ghế là hai bàn chân giao chỉ với ngón cái xòe
ra, dính đầy bùn đất của anh nông dân vừa lên vất hai bao sắn qua cửa sổ. Trên
ghế đối diện, thuộc về giai cấp khác, mấy ông cán bộ đi công tác với cặp táp,
điếu cày đang ép nhau ngồi. Thỉnh thoảng, những khi tàu lắc mạnh, các vị lại
xón cho giai cấp dưới cùng tí nước điếu. Hai con bé con tóc khét nằng, áo bà ba
đen, quần đùi, đang ôm lấy bao than củi ngủ, chả hay biết nước thánh cam lồ
chảy tong tỏng trên lưng mình. Trên đâu tất cả là mấy ông con trời bộ đội đang
nhịp nhàng kẽo kẹt thượng tọa trong võng. Chú lính treo gần tôi nhất đầu ngoẹo
ra khỏi võng ngủ, môi trề ra, nước dãi nhểu nhảo chảy xuống bụng chị có con mọn
đang tốc áo cho con bú ngáy khò khò trên ghế.
Trời
ơi, muốn ra được cũng thật khó, tôi gồng sức đẩy hai bàn chân chắn ngang mặt
mình mà không được. Sau mỗi cố gắng, anh nông dân lại cho tôi một cái đạp hoa cả
mắt. Đau vì bị đạp thì ít, mà ức vì bị đèn nén thì nhiều, tôi nghiệm thấy, quy
luật đấu tranh của xã hội cũng đúng cả dưới gầm ghế này. Nhưng thôi, tất cả đều
đã mệt, cần được ngủ để có sức chiến đấu cho lúc xuống tàu.
Tỏng
tỏng… róc rách… Tàu chạy vào khúc xuôi gió thì vẳng lên tiếng nước chảy, rồi âm
ấm ở đầu. Nghiến răng chịu cho cái chân ghế cứa vào cổ, tôi ngỏng đầu lên để
nhìn. Trời đất, suối nguồn thiên thai được bắ’t từ cái cần câu cong vút của thằng
bé đang nằm nghiêng trên ghế ngậm ti mẹ. Xung quanh không ai để ý.
Tôi
rút tay, vuốt vuốt tóc rồi đưa lên mũi ngửi. Cũng may, trẻ nhỏ nó chưa ăn mặn
nên tè ra không khai lắm, chứ như cái mùi thường trực bốc lên từ cầu tiêu đầu
toa thì bỏ mẹ. Hành khách đi xe lửa Thống Nhất chả bao giờ bị cảm mạo, trúng
gió cũng là nhờ cái mùi này chủng ngừa trước.
–
Chị có tranh thủ mang ít hàng để cải thiện không ?
–
…
Cái
giọng lấy cung kia lại quái ác nổi lên, tôi đã tỉnh ngủ, nghe rất gần, ngay
khoang bên cạnh. Khổ nổi không làm sao chui người ra đuợc để còn biết đường mà
chuồn. Thôi thì trăm sự đành cậy nhờ cây đèn bão tù mù này. Giá có ngọn gió nào
thổi tắt nó đi thì đỡ biết mấy.
Lúc
vừa nhảy lên tàu tôi đã chọn ngay cái toa toàn các khuôn mặt hao hao đói của
cán bộ, ngô nghê chất phác của nông dân này để trao thân. Tôi định mập mờ đánh
lận con đen giữa đám người lương thiện hòng trốn tránh các toán kiểm tra bất ngờ.
Tôi đã mừng rơn khi những “thành phần cơ bản”, chủ nhân của toa tàu giương cặp
mắt tò mò, đố kỵ, sợ bóng sợ gió nhìn mấy bà “ngụy” đi thăm nuôi chồng con cải
tạo ở miền Bắc về rồi từ chối không cho họ ngồi ké.
Tuy
đã đuợc thực tế phũ phàng của những trại tù, cuộc sống đầy tương lai của miền Bắc
XHCN nhuộm xanh lè cả mặt, nhưng mớ áo quần bằng vải tốt, đống guốc dép, đầu
tóc khác lạ, nhất là thói quen nhìn lại chỗ ngồi, phủi phủi vài cái rồi mới e
dè đặt mông xuống của mấy bà khiến cho hai miền không thể lại gần nhau được.
Tôi tiếc rẻ vận cổ nhìn tiễn theo mấy cái gót chân thon nhỏ, dính chút bùn
đi tìm bến đậu khác.
Nhưng
đời là một cuộc chiến đấu lớn, phải biết tiêu diệt những tình cảm phù phiếm
trong mình để đi tới đích. Than ôi, những hy sinh lẻ tẻ đó cũng không cứu được
hai bao hàng, đám con chiên hiền lành kia cũng không giúp tôi được chút gì, cái
mánh mung của tôi đã hại tôi, chuyến này thì tiền mất tật mang rồi. Không còn
cách nào hơn, tôi đành dọn mình, chuẩn bị đón tai họa sắp tới. Trong bóng tối,
dưới gầm ghế, bên cạnh hai bàn chân chỉ chực đạp vào mặt với mùi khai của nước
tiểu, tôi chợt nhớ đến bài hát của Trịnh Công Sơn “Nơi
đây tôi chờ… nơi kia anh chờ… ” để được ngồi trên “…chuyến xe qua ba miền…”. Phải
rồi, bên đây tôi nằm, bên kia em nằm, cũng chuyến xe qua ba miền. Cái bậc nghệ
sĩ họ thật giàu tưởng tượng và lãng mạn.
–
Rụt chân lại !
Tôi
hét to, cấu mạnh vào chân anh nông dân. Một cái đạp tương xứng với cái cấu tung
vào mặt tôi nhanh nhạy như phản xạ co giật của con ếch khi bị truyền điện. Anh
ta cằn nhằn trong miệng rồi tiếp tục ngáy.
–
Xê ra cho người ta đi… tiểu !
Không
dám cấu nữa, tôi chỉ biết, cũng cốt ý cho đám công an bên cạnh nghe thấy để hợp
pháp hóa việc bỏ đi của mình. May làm sao anh chàng nông dân trở mình đổi thế nằm,
hai hòn đá chắn cửa hang rụt lại, tôi vội nhoài người ra, đứng dậy leo trèo qua
đống thịt ngổn
ngang nằm kín lối đi để ra ngoài. Đứng trong cầu tiêu một lúc cho vừa đủ thời
gian tiểu tiện, tôi hé cửa nhìn ra. Toa tàu hoàn toàn yên tĩnh, chỉ có gió lùa ở
hai bên cửa sổ, tiếng bánh sắt nghiến xuống đường rầy.
Quái
lạ, công an biến đâu hết rồi ? Đánh bạo, tôi mò lại gần. Hai bên thành toa võng
giăng kín thành hàng, đưa đẩy. Hành khách trên ghế gật gù ngủ. Chả có bóng áo
vàng nào hết! Tôi nằm mơ chăng ? Rất có thể vì dân chạy hàng bọn tôi suốt ngày
đêm bị rình rập, phải đề phòng, trốn chạy nên riết rồi méo mó nghề nghiệp, nó
theo cả vào giấc ngủ. Cứ sống với cái nghề này có ngày vỡ tim mà chết. Tôi đứng
tựa lưng vào thành ghế, định thần lại. Chị có con mọn đã ngã choãi lên người
tay thiếu úy trẻ để ngủ, vú vê bày thõng thượt. Đứa con lọt vào kẽ nách mẹ, ngỏng
cổ mân mê cái đầu tí.
Chả
biết họ có chồng vợ gì không, nom chị ta vẫn còn trẻ, già độ hai ba năm về trước
có ai động đến tí của “trời cho” đó sẽ bị nhảy lên đùng đùng tru tréo chửi. Người
thứ tư trên ghế, một ông cụ già râu tóc lưa thưa, nghiêng người cho đủ chỗ ngồi,
tay bám với lên thành ghế, đầu cúi gục xuống gần ngực chị có con mọn gật gù ngủ.
Bao nhiêu mật ngọt lòng thòng rỉ từ miệng chú lính trên võng, cái đầu ông hứng
hết. Ba ông cán bộ tóc điểm muối tiêu, áo sơ mi trắng cọc tay, khư khư ôm cặp
táp trong lòng đang nhịp nhàng lắc lư trên ghế đối diện. Ngay trong giấc ngủ họ
cũng có cái vẻ “nhất trí” như khi làm việc.
Tàu
sắp đến ga Nha Trang, vùng đất bão lửa đối với dân buôn chuyến. Chỉ còn một
ngày đường nữa những sứ giả nguyên thủy của CNXH sẽ đổ bộ vào Saigon, thành phố
đang trên đường cải tạo để trở về với miền Bắc, với CNXH. Tôi cúi xuống nhìn
vào gầm ghế. Hai bao hàng vẫn ngủ yên trong đó. Cái bào thai đã đi được chín
tháng chín ngày. Cầu trời cho
nó được mẹ tròn con vuông. Khoang bên cạnh cũng toàn các khuôn mặt trong biên
chế, những lá bùa dán đè lên bản mặt “bất chính” của tôi. Đừng rẻ xuống ga lẻ dọc
đường, bỏ tôi côi cút một mình nhé, hỡi các bạn yêu dấu.
Tôi
sẽ chi viện cho miền Nam ruột thịt ít sợi thuốc lá vàng, do chính tay vợ con
các bạn trồng. Những ông ba tàu chợ lớn với kỹ nghệ làm giả tuyệt hảo, hơn hẳn
nền đại công nghiệp XHCN sẽ vấn thành những điếu thuốc CAPSTAN thẳng thớm, đẹp
đẽ trong hộp carton giấy bóng kính để các bạn trầm tư, đắn đo, quyết định
tốn kém, mang ngược về miền Bắc làm quà cho anh em bè bạn.
Một
cặp trai gái vẫn còn thức, họ ngồi nép vào nhau, thỉnh thoảng trao đổi những
cái nhìn. Gã trai với cây đàn ghi ta treo trên đầu, tóc dợn sóng, có dáng dấp của
một vĩ nhân tỉnh lẻ, ông chủ hiệu may, hiệu chụp ảnh, một bậc văn hóa lớn ở phố
huyện ( ?) không ; gã có vẻ là anh đội trưởng đội chiếu bóng huyện hơn là những
vị kinh doanh thẩm mỹ vì cái kính râm nội hóa cài khéo ở ngực, áo sơ mi trắng
loại vải không pha ny lông, quần kaki xanh mua phân phối, ở cổ tay thiếu cái đồng
hồ. Cô gái ngồi bên cạnh tuổi chừng đôi mươi, tóc dài, hoe màu nắng cháy. Khi
cô ngước mặt lên nhìn tôi thì trời đất ơi, một trang tuyệt sắc giai nhân. Đôi mắt
có đuôi, mở lớn hiêng hiếng xếch đang cười lăn tăn. Mũi cô thon nhỏ, thường tìm
thấy nơi tượng Đức Mẹ hoặc trong hình thiếu nữ e lệ in trên băng, đĩa vọng cổ.
Cặp môi cũng chúm chím cười như mắt, phơn phớt hồng, nổi trên miền da trắng. Những
đường nét, màu sắc đó được ướp trong vẻ hồn nhiên tươi tắn của cô gái mới mập mờ
linh cảm về nhan sắc của mình. Toa tàu như tỏa mát hương sen, tôi ngó vội xuống
quần áo của mình, lúng túng dấu mấy ngón tay dắt kín đất đen ở kẽ móng. Trong
phút chốc tôi quên bẵng hai bịch thuốc lá,
mũi tôi điếc với mùi khai, mắt tôi mù với thân thể nếu được phơi bày ra hết sẽ
diệt dục trai tráng của thiếu phụ có con mọn bên cạnh, tôi ngây người như đười
ươi giữ ống chiêm ngưỡng cô gái. Gã trai cảm thấy bị hao mòn mất mát bởi đống
tình si chảy nhão nhoẹt trước mắt mình bèn đưa tay kéo cái vạt áo hở của cô
gái, ra điều hoa đã có chủ. Gạt nhẹ tay gã ra, cô sửa lại thế ngồi rồi thẹn thò
liếc tôi. Gã trai húng hắng họ
Như
để chạy đua vũ trang với tôi, khẳng định với cô gái, gã xoay hẳn người lại, cặp
mắt nhừa nhựa la liếm lần trên gò má hồng, bò quanh miệng, rồi chui xuống cổ
cô. Cảm thấy gã sắp trườn vào lòng người đẹp đến nơi, tôi “e hèm” đánh tiếng,
quay mặt đi chỗ khác. Sự buồn giận vô cớ chợt xâm chiếm lòng tôi. Hương hoa thế
kia dãi gió dầm mưa làm chi trên chuyến tàu này. Vẻ đẹp mong manh bên cạnh sự lố
bịch. Vâng, người là hoa của đất, là bà chúa của thiên nhiên, bao nhiêu cuộc đời
mới dâng hiến một khuôn mặt đẹp, cũng chỉ đẹp trong tích tắc, một lần phát
hương rồi trơ mình ra cho cuộc sống chìa hàm răng vẫu thô lậu nghiền nát.
Chỉ sau lời tuyên bố ngắn ngủi của đồng chí chủ tịch xã kiêm chủ hôn, sau ba
năm sống không có ca nhạc, ti vi chiếu bóng đêm, người đẹp ngồi kia sẽ biến
thành cái máy đẻ, con đường đi đến thiếu phụ sau lưng tôi sao mà gần. Quần
xanh, áo trắng mới tinh khôi, tôi nổi
giận với cả sự ăn diện của cô gái. Ở xã hội này mỗi khi muốn chứng tỏ “Tôi đi
chơi “, “Tôi làm đẹp “, người ta không có chọn lựa nào khác ngoài màu trắng để
tách mình ra khỏi màu nâu lam lũ với đất, màu tím than đánh lẫn với dầu máy,
màu áo lính nhuộm xanh cả đất nước. Từ đồng chí Tổng Bí Thư trên diễn đàn đại hội
đảng, chú cai ngục hỏa lò Hà nội hai tay đút túi quần bước vào quán phở, cho đến
cặp trai gái đi dạo quanh hồ Hoàn Kiếm, ai ai cũng chỉ một màu áo trắng. Cái
màu trắng đẹp đẽ thanh khiết bị lạm dụng, bị cưỡng hiếp trở nên nhàm chán, làm
nhòe nhoẹt các khuôn mắt đời vốn đa dạng, biến nó thành một thứ đồng phục ngớ
ngẩn.
–
Mặt mũi không đến nỗi nào mà ăn mặc bẩn thỉu như mọi rợ…
Gã
trai thì thầm với cô gái. Cô ngước mắt nhìn tôi. Họ cùng cười với nhau.
–
Chị đã mệt chưa ? Cứ ngả lên người tôi mà nghỉ… ?
Gã
đề nghị, ngồi lấn vào cụ già đang ôm cái tay nải bên cạnh để nhường chỗ. Tôi ngờ
ngợ, dỏng tai chờ đợi.
–
Không. Cảm ơn anh em còn ngồi được.
Cái
giọng “lấy cung” khi nãy ? Tôi nhìn chăm chăm vào mặt họ. Cô gái ngượng ngùng
quay mặt đi chỗ khác. Gã trai nghĩ tôi là chướng ngại cản trở dịp may chờ đợi
đã lâu nên lừ mắt hằn hộc xua đuổi. Thấy địch thủ vẫn không nhụt chí, chả cần
bóng gió xa xôi, gã ném thẳng
vào mặt tôi câu chửi :
–
Chỉ có đồ vô văn hóa mới thò mõm vào việc người khác!
Thôi
đúng rồi, chả có Công An nào hết, tôi cũng không nằm mơ, cũng không có ma quỉ
gì quấy phá, anh bạn trẻ ngồi trước mặt chính là tác giả bản “hỏi cung” khi
nãy. Tôi sờ lên túi áo ngực. Trong cuốn chứng minh thư (cũ) của Công An cấp,
ngoài tên tuổi, địa chỉ, quê quán, đã can án lần nào chưa, còn những mục về cha
mẹ, vợ con, còn sống hay đã chết… Tôi nhớ đến những lúc mới làm quen, người ta
cũng hỏi và trả lời đầy đủ những điều cần thiết trong một bản sơ yếu lý lịch. Hỏi
như một thói quen, nhiều khi chả để làm gì và sau đó ai đi đường nấy. Thói quen
méo mó đó ngấm sang cả địa hạt yêu đương.
“Nơi
em về trời xanh không em… ” Bên này vĩ tuyến 17 không có một câu hỏi thơ mộng,
lãng mạn như vậy, còn các Vũ Hoàng Chương, Khái Hưng, Hàn Mặc Tử… đã bị đánh bật
rễ khỏi người đọc, gom lại trong cái nghĩa địa văn hóa cổ, le lói trong ký ức
người già. Các tay “yêu” lừng lẫy một thời vẫn còn đấy, nhưng đã biến thành
Xuân Diệu Xuân Xang Xuân… Tóc đỏ.
Người
ta đã tiêu thổ kháng chiến đến cả yêu đương. Nói đến “yêu” cũng phạm húy, phải
gọi là “tìm hiểu”, người yêu là “đối tượng tình cảm” (đối tượng đoàn, đối tượng
đảng, đối tượng của pháp luật ). Hôn nhân được xây hào đắp lũy thành “lập gia
đình”. Chữ “chàng” và “nàng” được cách mạng hóa thành những chữ “anh”, những chữ
“chị”, những “gã”, những “hắn” trong văn học hiện hành. Người ta lập pháp hóa cả
tình yêu, vớ vẩn có thể bị qui là “quan hệ bất chính”, “tác phong thiếu lành mạnh”.
Đa sầu đa cảm, yêu lăn yêu lóc cả trong nhạc lẫn ngoài đời như ông Phạm
Duy dám đi cải tạo không có ngay về.
Tình
yêu không được thi ca ấp ủ, dẫn dắt, hướng thượng, thè lè đi ngoài đường trong
những dịp quốc khánh, hội hè đông người để sờ mó, gỡ gạc lẫn nhau, “hủ hóa” với
nhau trong nhà kho công sở, hoặc nếu đúng đắn nghiêm chỉnh hơn thì đặt ra tiêu
chuẩn “3B” (Bôn sê vích,
buồng ở, bia cung cấp) để “tìm hiểu”. Vì vậy những lời yêu đương được mở đầu bằng
“Đồng chí công tác ở cơ quan nào ?…”
Tôi
cười rú lên giữa toa tàu. Gã trai giật mình rụt vội bàn tay có mắt về. Một vài
hành khách luống tuổi tỉnh giấc, khó chịu nhìn thằng điên đang sắp ngửa leo qua
đống người nằm giữa lối đi để ra ngoài. Ông bạn trẻ cay cú tiễn với theo…
–
Thật đúng là đồ quái dị!
*
Chuyến
tàu đó đã dừng lại ở VN . Hai năm sau, trên chuyến tàu ở xứ tị nạn, tôi lủi thủi
đi lại một mình giữa toa tàu trống vắng. Lác đác vài cặp mắt xanh sợ gió máy
đóng kín cửa sổ, khụt khịt mũi nhìn con người dị hợm cuồng cẳng. Không được
chen chúc, hằm hè chửi
bới nhau, không sợ cảnh sát bằng mấy con chó cảnh chạy lăng xăng bên cạnh mấy
bà già, buồn, tôi lẩn thẩn ước lượng số ghế trống rồi nao lòng nhớ về những anh
em bè bạn ở quê nhà. Xót xa với máu mủ mình chưa hết, tôi còn thương lấy cả cái
ngành hỏa xa của xứ người. Làm ăn như thế này thì lỗ chết. Tôi quên béng đi mất,
rằng tiền vé chém rất nặng, cuốc đường ngắn như thế này nếu gửi quà về VN thì
“chúng nó” lai rai quán cóc cả tháng trời. Tôi nhớ về bên nhà như một kẻ thiếu
nợ.
Con
thú hoang dã đã được thuần giống bằng trợ cấp thất nghiệp (cho mày đủ ăn để tự
giam mình trong chuồng, đừng có nhìn sang túi khác). Tôi đã “quên” chưa trả lời
gần chục cái thư, thư nào cũng giống nhau một điểm là ngắn (đỡ tiền tem). Chữ
nghĩa tiết kiệm rồi, lại còn bóng gió xa xôi, nhưng cái bóng gió xa xôi tài
tình đến độ lồ lộ hiện ra khuôn mặt dài ngoẳng vì đói vì chờ của ông bạn.
Trước khi đi, tôi đã dại dột bốc đồng “Tụi mày yên tâm đi, tao mà…” Cái “tao
mà…” ấy cho đến giờ này cũng chỉ tiến thêm được một bước thành “tao sẽ…” nhưng
tôi cũng không ân hận là đã cho họ ăn bánh thánh. Có vị bác sĩ nào đủ can đả
m nói với người bệnh đang hấp hối của mình “Xin thưa, tôi bất lực, tôi không có
thuốc…?”
Những
con tin của lương tâm ở bên nhà hiện đang sống bằng hy vọng. Tôi lừa họ chưa đủ,
họ còn phải tự lừa mình nữa thì mới sống nỗi. Méo mặt trả xong tiền tem, cầm bằng
mua xấp vé số, họ xoa tay yên tâm chờ đợi. Nhưng mấy chục cái đơn xin việc của
tôi mất hút không về, sổ vẫn chưa mở, lại tiếp tục “quên”.
Xuống
tàu phải mua ngay mấy tấm vé số! Tôi hạ quyết tâm cho lòng yên ổn (lại tự lừa
mình?) để còn nghĩ sang chuyện khác. Đúng lúc đó thì có tiếng “hèm” sau lưng. Lại
một cụ ông, cụ bà bản xứ với những câu hỏi đầy bác ái như cho kẹo trẻ con về cảnh
ngộ, sự hội nhập, phong cảnh quê hương? Tôi gắn vội nụ cười ba phải lên môi,
chuẩn bị sẳn mấy câu thuộc lòng để trả lời.
–
Xin lỗi, anh là người VN ?
Trời
ơi tiếng Việt! Tôi quay phắt lại ngó sững người bắt chuyện.
–
Xin lỗi ông tôi lầm lẫn…
Người
đàn ông tuổi trạc bốn mươi, mắt sáng, ăn mặc buông thả lúng túng xin lỗi bằng
tiếng bản xứ, vẻ mặt đầy thắc mắc. Tôi hiểu ngay sự thắc mắc đó. Người Việt gặp
gỡ tình cờ ở ngoài đường ít khi nhìn nhận nhau vì họ không nói được tiếng Việt.
–
Không, tôi là người Việt!
Tôi
vội vã xác quyết.
–
Anh đi từ miền Bắc?
Người
đàn ông vồ vập. Tôi cũng nhận ra ngay cái giọng Bắc toang toác của ông tạ
–
Dân tỉnh nào đấy?
–
Hà Nội đây!
–
Đây cũng Hà Nội!
Khỏi
cần nói về nỗi mừng. Chúng tôi xoắn xuýt ôm lấy nhau mà hỏi chuyện. Chuyện bên
nhà, chuyện đi đứng, chuyện ổn định đời sống bên này… Khi đã cạn những vấn đề
thời sự (miếng trầu của đầu câu chuyện) trong tiếng xe xé gió, chúng tôi ôn lại
những ngày tháng xa xưa của Hà Nội. Như hai anh lính trẻ đi giữa Saigon, cái phố
huyện hẻo lánh giáp vùng thượng du Bắc Bộ của họ là nhất thì Hà Nội đối với
chúng tôi là vô địch.
Bát
phở Quyền ở ngã tư Phú Nhuận (té ra anh cũng đã nếm) thịt thà hùng hậu, nước độc
đáo thật, nhưng độc đáo trên cái nền nhòe nhoẹt đánh lẫn với nước hủ tiếu ở
Saigon, không “ác ôn” bằng phở Thìn đối diện đền Ngọc Sơn ngoài Hà Nội.
–
Cậu thử tưởng tượng xem, về khuya đi ngược gió đông, cách cả trăm thước mà cái
thằng phù thủy ấy nó dở nắp thùng phở lên có sởn gai ốc không hả…? Trong túi
không có tiền thì bỏ mẹ!
Tôi
cảm thấy hơi phở nóng phả ra từ mặt anh nên gật gù.
–
Thế mới là phở chứ những chỗ cậu kể đi sắp ngã vào nồi cũng không hay, bát phở
bưng đến trước mặt, mở mắt ra mới biết thì còn gì là phở?
Sau
khi đi một vòng các hàng quà Hà Nội, anh dắt tôi đến quán cà phê. Cà phê Hà Nội
cũng lại nhất. Anh kể ra tên mấy cái quán ít ỏi của đất Thăng Long với từng
“gu” của nó. Quán “Moka” phố Bùi Thị Xuân có cô con gái đẹp như Kiều, nhưng
không át được mùi thôm của cà phê ông bố. Quán “Nhỉ” phố Hàng Cá đậm đà chút nước
mắ’m nhỉ (nên mới gọi là ông Nhỉ). Quán “Nhân” đầu Hàng Gai có hương vị huyền ảo
khó tả, người không biết, tưởng ông đánh thuốc phiện khách… Anh thừa nhận không
gì sánh nổi hạt cà phê Ban Mê Thuột, nhưng Saigon có vẻ chưa để ý đến nghệ thuật
pha trộn. Cà phê nó có nhiều loại. Vối cho vị chát, mít cho vị chua, và chè cho
vị đắng. Nếu nhiều chè một chút, tí vối, tí mít thì thành gu ” Moka”, hoặc đổi
lại thì thành Nhân thành Nhỉ… Rốt cục tròn trịa, óng ả, no đủ như hạt cà phê
Ban Mê Thuột chỉ cho được mùi thôm choáng ngợp khi mở nắp phin. Hết!
–
Nhưng hình như các ông Nhân, Nhỉ, Moka bây giờ pha hơi nhiều muồng muồng trong
đó thì phải…?
Tôi
rụt rè phát biểu. Anh xìu người, gãi đầu rồi cười. Dù sao cũng phải công nhận
anh là bậc thượng tọa trong cái đạo ăn uống này.
Hết
chuyện ẩm thực, chúng tôi xoay sang chuyện người đẹp. Trong địa hạt này anh
không dám cục bộ địa phương nữa vì biết tôi cũng đã chui qua cái xã hội lấy
chiêu bài “bình đẳng, giải phóng” để đẩy người phụ nữ xuống bùn, chui rúc trong
hầm mỏ, lẫn lộn ngoài chiến trường như nam giới. Bên cạnh đó là hệ thống tuyên
truyền đồ sộ, ăn ý như dàn nhạc giao hưởng luôn gõ trống thúc dục cho bắp thịt
nở nang của phái yếu trong bức tranh “ai nhanh tay cuốc bằng tay em…” trong nhịp
nhạc “niềm vui cô gái mở đường Trường Sơn” trong văn học.
Gái
Bắc Hà đã bị déformée biến dạng thành cái vai nở, thân hình trùng trục vì lao động
nặng.
–
Cứ nhìn thấy gái Saigon là tớ nghĩ đến chuyện ly dị…
Anh
đốt điếu thuốc, phả khói lên trần toa lim dim mắt cười. Tôi nói đến gái Cần
Thơ, Vĩnh Long, đất gạo trắng nước trong da thịt mơn mởn như xoài. Anh kể về mấy
chi. Huế nhu mì e ấp dưới mái tóc thề, ẩn dật kín đáo với làn da trắng xanh,
nhưng con mắt thì đi nhiều hơn chân, làm nhiều hơn tay, nói nhiều hơn miệng, quả
tim như núi lửa chỉ chực bất tử phun nham thạch.
–
Ờ lạ thật… Saigon là đất tứ xứ, nhưng bất cứ người ở đâu hễ nhập vào nó ba bốn
năm là thay da đổi thịt, biến thành dân Saigon. Đâu như Hà Nội mình, anh từ Hải
Phòng lên, sống cả hai chục năm, đẻ con ra vẫn lơ lớ giọng nước lợ, tính tình tềnh
toàng của dân thành phố cảng. Chị ở chiến khu về, sống đến mấy đời hộ khẩu vẫn
không tẩy được cái cách nhấm nước bọt đếm tiền. Sức cảm hóa, khả năng hội nhập ở
Saigon nó khác…
Tôi
lấy Huế để giải thích hiện tượng đó cho anh.
Nếu
chính anh có dời cư về đó ở, không phải hai chục năm mà bốn-sáu chục năm, cho đến
chết, chất Huế cũng không thắm vào anh được. Vùng đất nào đã được chọn làm kinh
đô trên một thế kỷ tự nó sẽ tạo nên bản sắc riêng biệt cho mình, hội nhập sẽ rất
khó…
Chúng
tôi cãi nhau như mổ bò (dấu hiệu đã thân thiện) về những vấn đề cả hai đều
không nắm vững, hoặc chả có gì đối nghịch nhau. Để đừng đập vào đầu nhau trong
lần gặp gỡ đầu, tôi lái câu chuyện trở về người đẹp Hà Nội. Thế là lại một màn
truy tìm các bóng dáng xưa. Để chứng tỏ mình cũng là tay cung kiếm một thời, những
con nhà nọ, em gái thằng kia… Câu chuyện trở nên gần gũi, tôi râm ran bồi hồi với
tên tuổi một vài người đẹp đã làm mình điêu đứng. Lần mò một lúc, anh dẫm trúng
phải cô em vợ tôi ở phố Hàng Ngang. Người đồng hành, đồng hương càng trở nên
thân thiết. Tôi như thấy cả Hà Nội đang thở nóng bên tai mình.
Thế Giang
Monday, June 29, 2026
Tiếng Gọi Của Con Chim Sáo - Bích Ngân
Tiếng gọi của con chim sáo
Không
khóc sao được khi mỗi sáng ra thăm chuồng, chị vui sướng nhìn những quả trứng
trắng ngà lăn lóc đầy chuồng. Những con gà mái lăng xăng mừng rỡ “lóc cóc…lóc
cóc…” đón chị bằng một thứ ngôn ngữ mà chị và lũ gà đều ngầm hiểu. Mắt chúng rực
sáng, chạy ào cả về phía chị. Chị cười bảo: “Ăn cho no, đẻ cho nhiều nghe…”.
Bây giờ những con gà chết nằm ngổn ngang trong chuồng. Có con chết khi đang ăn.
Có con chết khi đang đẻ. Những con sống sót ủ rũ đứng dồn vào một góc. Một
không khí lạnh lẽo, tang tóc bao trùm khu chuồng trại. Mấy ngày sau, dù đã được
cách ly, sát trùng, tẩy uế chuồng, gà vẫn chết hàng loạt. Chết không kịp chôn.
Có người an ủi chị: “Chúng nó đi theo anh Dậu đó chị Hằng ơi!”
Anh Dậu, chồng chị, là kỹ sư chăn nuôi. Anh đổ mồ hôi sôi nước mắt gom góp gầy
dựng được một trại gà vào loại bề thế của cái làng ven sông Vàm Cỏ này. Khi trại
gà bắt đầu sinh sôi thì anh Dậu bị bệnh nặng và dù chị Hằng đã tất tả ngược
xuôi chạy chữa cho chồng, hết trung tâm y tế huyện đến bệnh viện tỉnh rồi lên bệnh
viện ở Sài Gòn nhưng anh cũng không thoát khỏi chứng bệnh nan y.
Rồi anh Dậu lặng lẽ ra đi vào một chiều mùa xuân khi nắng tràn vào mái hiên,
nơi anh từng nằm sưởi nắng, lắng nghe đàn gà líu ríu ồn ỉ xao động cả một không
gian thanh bình và khuấy động cả khúc sông hiền hòa trước mặt. Ba năm trước chị
vuốt mắt cho chồng, nay dịch cúm gà đã cuốn phăng công lao gầy dựng vất vả của
anh.
Chôn những con gà xấu số xong, chị cho công nhân tạm nghỉ. Ngày hai buổi thắp
nhang cho chồng, chị thắp luôn cả nắm nhang cho hàng ngàn con gà đã chết. Thức,
chị ngồi lặng hàng tiếng đồng hồ ngoài trại. Chợp mắt, chị hay mơ, những giấc
mơ không trọn vẹn với những hình ảnh, những âm thanh không trọn vẹn. Khi thì thấy
chồng lúi húi bên trại gà, khi lại nghe anh gọi. Tiếng gọi có lúc thật mơ hồ,
khi thì ở bên kia bờ sông, nơi có những bụi hoa mua tím rịm; khi thì nhấp nhới
hụt hơi bên những con sóng lao xao; khi thì nghe tiếng kêu đòi ăn của lũ gà;
khi thì thấy những ả gà mái núc ních, lông óng vàng, mào đỏ chót đang lóc cóc,
lóc cóc…
Trong ngôi nhà ba gian tươm tất của chị còn lại ba sinh linh: con mèo suốt ngày
lim dim ngủ, con sáo và chị. Con mèo vừa lười vừa ranh. Lúc nào ả cũng muốn được
bà chủ vuốt ve, cứ cọ cái đuôi dài vào chân tay chị bất kể cả những lúc chị
đang buồn héo ruột héo gan. Bù lại hơi hướm của nó cũng đủ răn đe mấy con chuột
táo tợn mà dường như biết ngôi nhà thiếu hơi đàn ông chúng cứ sục sạo suốt đêm.
Con sáo mới là người bạn thân thiết của chị. Đó là kỷ vật của anh để lại. Một kỷ
vật thiêng liêng. Khi vay bạn bè vốn liếng lập trại, một người bạn đã tặng anh
con sáo. Người bạn cho biết loại sáo này khôn lắm, nuôi chỉ một năm là biết
nói. Con sáo lớn lên, lông đen mượt, mỏ vàng, chân chì linh lợi trong chiếc lồng
bằng nan tre mà anh đã công phu vuốt uốn từng nan.
Chị vẫn còn nhớ cái cách anh vót những chiếc nan tre và miệng thì huýt sáo. Rồi
mỗi sáng mỗi chiều tiếng huýt sáo của anh và tiếng nói, tiếng cười của anh làm
trái tim chị tràn niềm vui. Một năm sau khi con sáo bắt chước tiếng chim chào
mào, anh bắt đầu tập cho nó nói. Tiếng đầu tiên là: “Hằng ơi…”. Mỗi lần chị đi
qua, anh chỉ tay vào chị, gọi: “Hằng ơi…”. Con sáo ghếch mỏ, nhìn chị một lúc rồi
cũng khó nhọc cất tiếng gọi: “Hằng… ơi…”. Một tiếng gọi trầm ấm, rất là đàn
ông.
Nhân lứa gà đầu tiên đẻ trứng, cộng thêm sự kiện con chim sáo biết nói, anh chị
làm bữa nhậu mời bạn bè đến dự.Tiệc bày ra, chị Hằng bưng mâm đi qua lồng sáo,
nó nghển cao cổ hướng về chị và cất tiếng gọi: “Hằng ơi…”. Bạn bè ngạc nhiên,
tròn mắt thán phục cái giọng rất ư tình cảm của con sáo. Lý thú hơn, nó lại bắt
chước được cái giọng ồm ồm của anh Dậu.
Một người bạn lên tiếng: “Dậu này, cậu mà có đi đâu, nghe con sáo gọi chắc bà
xã cậu cũng đỡ nhớ”. Họ xúm lại bên lồng chim dạy nó thêm: “Hằng ơi, anh yêu em
lắm”. Con sáo giương cổ cố nhại theo mấy tiếng “anh yêu em lắm” nhưng nghe
không rõ, từng âm cứ dính vào nhau như cơm nếp nấu nhão. Nhưng mỗi khi con sáo
nói câu ấy, anh Dậu và chị Hằng đều hiểu nó muốn nói: “Anh yêu em lắm…!”.
Chị Hằng cho con sáo ăn một chế độ đặc biệt: lòng đỏ trứng gà trộn với gạo lứt
phơi khô, nước uống là nước mưa được hứng từ mái hiên nhà. Dần dần nó nói được
nhiều tiếng, nhiều câu. Có ai đến chơi, nó ghếch mỏ chào: “Có khách… Có khách Hằng
ơi”. Nhiều khi chị Hằng đi qua, nó nhảy chồm về phía chị, ánh mắt chớp liên hồi
như vừa mừng rỡ vừa vui sướng và chào bằng một giọng hết sức tình cảm mà chị cảm
nhận được: “Hằng ơi, anh yêu em lắm…”. Chị nghẹn ngào, sững lại, bật thốt thành
lời: “Sáo ơi, tao yêu mày lắm!”.
Hôm đưa đám anh Dậu, con sáo xù lông đứng bất động ở góc chuồng, im lìm như một
cái xác. Chị Hằng cũng không còn nhớ gì cả để lưu tâm đến nó. Nỗi đau quá lớn
khiến chị quên cả việc cho sáo ăn. Rồi khi vừa từ nghĩa trang về, chị nghe một
tiếng gọi khá to và ngân dài: “Hằng ơi…!” như tiếng của anh Dậu âu yếm gọi chị.
Chị bàng hoàng giữa căn nhà trống vắng rồi thụp xuống ghế, nước mắt trào tuôn.
Cơn xúc động qua đi, chị đứng lên thắp một nén nhang lên bàn thờ anh thì cũng
là lúc con sáo liên tiếp gọi: “Hằng ơi, Hằng ơi… anh yêu em lắm…”. Chị hạ chiếc
lồng xuống, nhẹ nhàng bắt con sáo đặt vào lòng bàn tay. Hai mắt nó chơm chớp rồi
buồn bã gọi: “Hằng ơi…”. Chị rụng rời, y như linh hồn anh Dậu đã nhập vào con
sáo, hiện diện trong ngôi nhà này cùng chị.
Con sáo làm chị nguôi ngoai phần nào nỗi thương tiếc chồng. Lạ là từ ngày anh Dậu
mất, đàn gà đẻ rất sai. Chị vay thêm tiền ngân hàng, nâng đàn gà từ năm ngàn
con lên gấp đôi. Công việc chăm sóc cũng nhẹ hẳn đi nhờ những người công nhân
thạo việc và trung thành. Chị Hằng dành nhiều thời gian cho con sáo. Chị thường
tưới nước vun bón những chậu hồng quanh đó, lẩn quẩn quanh con sáo để trò chuyện
và để thỉnh thoảng được nghe tiếng gọi thiết tha: “Hằng ơi, anh yêu em lắm…”.
Chị đang ăn nên làm ra nhờ trại gà thì dịch cúm gà ập đến. Một trận cuồng
phong, một cơn động đất ập đến cũng chỉ hãi hùng như thế là cùng.
Chị như kẻ mất hồn, ngồi lặng lẽ trong căn phòng có treo chiếc lồng chim sáo
phía trước. Như chia sẻ nỗi buồn với chị, con sáo cũng ít nói hơn, nhưng mỗi
khi chị thắp nhang cho anh Dậu và đàn gà, nó lại ngân lên rất khẽ: “Hằng ơi…”.
Một chiều, khi đang cho chim sáo ăn, ông trưởng ấp bước vào, vẻ mặt nghiêm
trang:
– Chị Hằng ạ, tôi biết chị sẽ rất buồn nhưng theo lệnh của thị xã, những ai
nuôi chim đều phải giết bỏ để tránh dịch bệnh lây lan…
Chị Hằng không bất ngờ trước thông tin của ông trưởng ấp, nhưng điều đó có
nghĩa là con sáo của chị cũng phải đem thiêu hủy! Như bị một nhát dao đâm thẳng
vào tim, chị choáng váng không nói được câu nào, mặt tái đi, cứ như là chính chị
cũng sẽ phải hỏa thiêu.
Ông trưởng ấp đi rồi, chị đến bên lồng, mở cửa, lặng lẽ đặt con sáo vào lòng
bàn tay. Con sáo như cũng hiểu được sự nghiêm trọng của những gì sắp xảy ra với
nó, khép nép đưa mắt nhìn chị, như dò hỏi, như muốn được nghe câu trả lời của
chị. Trời ơi, kỷ vật của anh Dậu, một con sáo mang hồn người, người bạn thân
thiết cùng chị trong ngôi nhà này sắp vĩnh biệt chị. Vuốt nhẹ bộ lông đen mượt
của nó, nước mắt chị trào ra…
Sáng hôm sau, khi những thanh niên trong ấp đến nhà chị trong tay là những bao
những túi chứa xác nhiều loại chim, chị lật đật bước ra, giọng buồn buồn:
– Đêm qua con sáo nhà tôi bị mèo vồ mất rồi…
Tốp thanh niên định quay ra thì một tiếng ồm ồm cất lên từ trong chiếc tủ đặt
khuất sau phòng khách: “Hằng ơi…”. Cả tốp sựng lại lắng nghe. Con chim sáo bị
nhốt trong ngăn tủ tối tăm cứ liên tục kêu “Hằng ơi…Hằng ơi…” nghe đau đớn như
một lời cầu cứu.
Biết không thể giấu nổi, chị bật khóc như đứa trẻ và đành mở tủ, đem con sáo
ra.
Con sáo quẹt quẹt cái mỏ vào mu bàn tay chị rồi nhìn chị, thống thiết cất lên
tiếng gọi: “Hằng ơi !”.
Bích
Ngân
Xuân Về - tranthiminhchau
Xuân về
Xuân về trên nụ
môi hôn,
Gót sen e ấp tim dồn đập nhanh…
Xuân về chim hót trên cành,
Cho ta hy vọng tin lành ngày mai…
Xuân ơi sao vẫn
miệt mài,
Người đi xa mãi cho dài nhớ thương.
Xuân ơi, guốc mới trên đường,
Quê người xuân vẫn ngày thường không xuân.
Đợi người mai nở
bên sân,
Vàng lên màu áo đường trần cưu mang,
Đợi người áo lụa muộn màng,
Tình ơi xuân cũ còn vang tiếng cười.
Xuân về sao chẳng
ai mời,
Ôm xuân để ngỡ đất trời riêng ta …
Xuân về lòng bỗng xót xa,
Nụ tầm xuân nở bên ta không người …
trầnthịminhchâu
Kiều Phong Khát Vọng Của Tự Do - Vũ Đức Sao Biển
Kiếu phong khát vọng của tự do
Trong 12 bô tiểu thuyết võ hiệp của kim dung tôi thích nhất
Thiên long bát bộ, torng những nhân vật của TLBO tôi yêu nhất nhân vật Tiêu
phong, tức kiều phong, ngưới anh hung Khiết đan.và cả chục nhân vật do KD dựng
lên tôi chọn Kiều phong như một biểu tượng chủ nghĩa anh hung.
Vũ Đức Sao Biển, trích Kim Dung giữa đời
tôi.
Văn chương tiểu thuyết không phải là
văn chương báo chí. Một tác phẩm tiểu thuyết ra đời nhằm gởi đến người đọc một
thông điệp. Cái thông điệp đó có thể hiện ra trong ngôn ngữ văn chương. Cái
thông điệp đôi khi ẩn tàng đâu đó trong tác phẩm đến nỗi một người đọc với thái
độ lơ là của khách qua đường không nhận ra nó. “Ý tại ngôn ngoại” luôn luôn là
một thực tế trong sáng tạo văn học. Tôi yêu tác phẩm Kim Dung vì yếu tố “Ý tại
văn ngoại” phong phú. Tất cả tư duy của những nhân vật lớn trong tác phẩm Kim
Dung đều tập trung ba định đề: cuộc sống, tình yêu và cái chết. Kiều Phong là một
nhân vật lớn như vậy.
Tác giả Kim Dung không vội vàng đẩy
Kiều Phong ra đầu chuyện. Không. Trong năm cuốn đầu của Thiên Long, ta chỉ nhìn
thấy hình ảnh của anh nho sinh trẻ Đoàn Dự, vương tử nước Đại Lý, một tay dại
gái si tình bị bắt cóc đưa từ Đại Lý xuống Giang Nam. Phải đợi đến cuốn sáu,
theo gót chân du tử của Đoàn Dự, ta mới bắt gặp một “Hán tử thô hào, mặt vuông
tai lớn”, tuổi trạc ba mươi, đôi mắt sắc như dao, ngồi uống rượu chịu trên tửu
lầu bên thành Vô Tích. Thoáng nhìn thấy nhân vật đó, Đoàn Dự đã nhận định “Hán
tử này nhất định là tráng sĩ của đất Yên, Triệu. Miệt Giang Nam quyết không thể
có được nhân vật như thế này”. Nhận định ban đầu của nho sinh trẻ thật chuẩn
xác. Con người thô hào ấy chính Kiều Phong, bang chúa của Cái Bang.
Kiều Phong đang độ ba mươi tuổi, cái
tuổi phát triển rực rỡ như của đời người; lại làm bang chúa Cái Bang, bang hội
lớn nhất võ lâm Trung Quốc. Với cương vị đó, gã hán tử mặt vuông tai lớn phải
hàng động rất cẩn trọng, rất chín chắn vì một quyết định, nhận định vội vàng
cúa ông sẽ dẫn đến sai lầm, liên hệ đến mối nguy vong của hàng triệu hào khách
võ lâm Trung Quốc. Ngay đến khi ra đòn đánh nhau với kẻ địch, Kiều Phong cũng
tính toán sao cho chỉ đánh một đòn là khống chế được ngay đối thủ. Phía trong
con người thô hào ấy ẩn tàng một bộ óc thông minh và những tính toán chuẩn xác.
Người anh hùng Kiều Phong luôn luôn tự
hào mình thuộc dòng dõi Hán Tộc. Làm bang chúa cái bang, ông chỉ có một mơ ước:
tiêu diệt quân xâm lăng Khất Đan mà ông thường gọi bằng cái tên khinh bỉ “bọn
Liêu cẩu”, chống lại quân Tây Hạ, giữ gìn hoà bình cho người Hán, bảo vệ sự trọn
vẹn của võ lâm Trung Hoa. Và chính niềm mơ ước đó đã trở thành bi kịch trong đời
Kiều Phong.
Một nhóm đệ tử cái bang, dưới sự chỉ
huy của Thập Phương tú tài Toàn Quang Thanh và Ôn thị, vợ phó bang chúa Mã
Nguyên đã chết, nổi lên chống lại Kiều Phong. Toàn Quang Thanh chống Kiều Phong
chỉ để leo lên cái ghế quyền lực. Ôn thị chống Kiều Phong chỉ để trả thù. Vốn mụ
là phụ nữ lẳng lơ, lại chứng bạo dâm. Mụ đã có chồng nhưng vẫn quan hệ tình dục
với Đoàn Chính Thuần, em ruột vua Đại Lý rồi quan hệ tình dục với Bạch Thế
Kính, chấp pháp trưởng lão Cái Bang. Trong một lần đi dự Bách Hoa đại hội, ai
cũng dòm ngó đến tấm nhan sắc tươi đẹp cúa Ôn thị. Duy chỉ có Kiều Phong nghĩ rằng
Ôn thị là vợ của thuộc hạ mình, phải giữ lễ nghi. Ông chỉ ngó sơ Ôn thị một cái
rồi thôi. Thái độ hững hờ đó làm cho Ôn thị nổi giận và quyết trả thù. Mụ quan
hệ tình dục với Bạch Thế Kính và chính Bạch Thế Kính đã xuống tay giết phó bang
chúa Mã Đại Nguyên vì Mã Đại Nguyên biết rõ Kiều Phong không thuộc dòng Hán tộc
mà chính là người Khất Đan.
Sự thật, Kiều Phong đúng là người Khất
Đan nhưng câu chuyện ấy đã trôi qua ba mươi năm, chẳng ai muốn nhắc đến nữa, bởi
Kiều Phong đã được Hán – hoá từ thể chất cho đến tâm hồn. Ban đầu thì Kiều
Phong cho rằng đó chỉ là lời vu cáo thiếu bằng chứng. Nhưng khi nhân chứng
chính – nhà sư Trí Quan – xuất hiện và xác nhận, ông đành phải rời bỏ chức vụ
bang chúa Cái bang ra đi và cảm thấy nhục nhã vì mình đang mang dòng máu Khất
Đan.
Cuộc sống đưa đẩy khiến ông làm quen
và kết bạn với A Châu, một cô gái Trung Quốc dịu dàng. A Châu trở thành tình
yêu, lẽ sống, người bạn tri âm của Kiều Phong. Khi ra Nhạn Môn Quan xác định
lai lịch của mình, Kiều Phong mới biết mình vốn họ Tiêu – Tiêu Phong, rằng mình
đã từng chống lại tổ tiên, dân tộc mình. Tuy nhiên, cái mặc cảm dòng máu Khất
Đan thấp hèn và gian ác chưa phai trong con người Tiêu Phong. A Châu khuyên giải
ông: “Làm người Khất Đan thì có gì là xấu xa? Làm người Trung Quốc thì có gì là
cao quý? Người Khất Đan hay người Trung Quốc thì vẫn có kẻ tốt, người xấu, đại
gia buồn phiền làm chi”. Chính lời nói đó giúp Tiêu Phong nhận ra quan điểm hẹp
hòi của mình bấy lâu nay. Và sự tiến bộ trong quan điểm dân tộc của Tiêu Phong
chính là sự tiến bộ trong quan điểm dân tộc của Kim Dung
Như ta đã biết, Người Trung Quốc ngày
xưa coi các dân tộc các nơi là bốn rợ (tứ di). Cái nhìn của họ đối với Mông, Tạng,
Hồi, Khất Đan, Tây Hạ rất khinh bỉ. Trong Liên Thành Quyết, Kim Dung đã không
giấu được cái khinh bỉ đó. Chỉ trong Thiên Long Bát Bộ, ông mới xác nhận rằng
người Khất Đan, người Nữ Chân, người Tây Hạ là những giống loài bình đẳng như
bao giống loài khác. Khát vọng tự do của Kiều Phong thể hiện rất rõ khi ông bàn
với A Châu rằng làm xong vài việc ở Trung Quốc, ông sẽ đưa nàng về Nhạn Môn Quan
săn chồn đuổi thỏ, sống đời ung dung khoái hoạt. Thế nhưng, một bi kịch khác xảy
ra với đời ông làm tiêu tan khát vọng ấy: ông lỡ xuống tay đánh chết A Châu,
đánh chết tình yêu và nguồn sống của chính mình.
A Châu có một cô em gái cực kỳ gian
ngoan ác độc là A Tử, đệ tử Tinh Tú lão ma Đinh Xuân Thu. Khi A Châu chết, nàng
nhờ ông chăm sóc, bảo hộ A Tử. Từ đó, ở bên cạnh một Tiêu Phong thẳng thắn anh
hùng lại có thêm một A Tử lưu manh và giảo hoạt; cả hai kèm nhau như bóng với
hình. Cuộc đời thật lắm nỗi hoạt kê!
Đúng là Tiêu Phong đã đưa A Tử về Nhạn
Môn Quan, săn chồn đuổi thỏ và chữa bệnh cho cô. Ông kết bạn với Hoàn Nhan A Cốt
Đả, thuộc bộ lạc Nữ Chân. Trong một chuyến dã ngoại, Kiều Phong cứu được nhân vật
đặc biệt. Nhân vật ấy chính là Đại Liêu Hoàng Đế Gia Luật Hồng Cơ. Hoàng đế thật
sự hạnh phúc khi khám phá được con người Khất Đan anh hùng lẫm liệt như TIêu
Phong. Ông nhận Tiêu Phong làm em kết nghĩa và phong cho Tiêu Phong làm chức
Nam viện đại vương, cai quản toàn bộ binh lực Đại Liêu. Thế từ một Hán tử thô
hào, một tên Liêu cẩu man rợ, Tiêu Phong thoắt trở thành nguyên soái, nắm trong
tay sức mạnh quân sự của một vương quốc khá dĩ đối địch với triều Tống.
Hơn ai hết, A Tử là người đầu tiên
khuyên Tiêu Phong đưa quân qua Nhạn Môn Quan, làm cỏ hết bọn cái bang cùng bọn
quần hào Trung Quốc. Tiêu Phong đã cảnh cáo A Tử về ý nghĩ tàn bạo đó. Ông vẫn
nhớ ơn người Trung Quốc, nơi ông đã lớn lên, được học hành, trở thành con người.
Và ông chủ trương không gây hấn người Trung Quốc, sống hoà bình cho trăm họ ăn
cư lạc nghiệp. Ông nghiêm cấm thuộc hạ không được cướp bóc tài vật, bắt gái tơ
từ đất Trung Quốc đưa về.
Nhưng Gia Luật Hồng Cơ thì không nghĩ
thế. Gia Luật Hồng Cơ tin rằng binh lực nước Liêu đủ sức vượt qua Nhạn Môn
Quan, đánh vào Lạc Dương để bắt sống tên hôn quân Triệu Hú (Tống Triết Tôn).
Gia Luật Hồng Cơ ra lệnh cho Tiêu Phong tiến đánh Trung Quốc.
Nhân lệnh hành quân, Tiêu Phong quyết
đoán thật nhanh: không thể lấy nỗi đau của hai nước Tống-Liêu, không thể lấy
sinh mạng của hàng triệu quân sĩ để làm nấc thang hạnh phúc cho mình và để thoả
mãn khát vọng trả thù của Gia Luật Hồng Cơ. Và chăng, ông là người khát vọng tự
do, không hề thiết tha tới quyền lực. Cách từ chối hay nhất của ông là treo ấn
trả lại cho Đại Liêu hoàng đế và cùng A Tử trốn đi. Mưu kế ấy của Tiêu Phong bị
Gia Luật Hồng Cơ khám phá được. Hồng Cơ ra lệnh bắt Tiêu Phong giam giữ.
Nguồn tin Tiêu Phong bị bắt giữ vì chống
lệnh hành quân, mưu cầu hoà bình cho trăm họ đã khiến quần hùng Trung Quốc nhận
ra được bản chất thật thà, trung hậu, tốt đẹp của Tiêu Phong. Họ huy động lực
lượng cái bang, cung Linh Thứu núi Phiêu Diễu và nước Đại Lý vượt qua Nhạn Môn
Quan để giải thoát cho Tiêu Phong. Họ đưa ông về đến Nhạn Môn Quan thì cứa
không mở vì truy binh Khất Đan đã áp sát chân thành. Hư Trức và Đoàn Dự bắt sống
Gia Luật Hồng Cơ trước trận và buộc Hồng Cơ chuộc mạng bằng một lời hứa vĩnh viễn
không bao giờ đưa quân Liêu sang xâm lăng Trung Quốc, Hồng Cơ đã long trọng hứa
lời hứa đó. Nhận được lời hứa của nhà vua, Kiều Phong coi là một hạnh phúc. Ông
đã sử dụng quyền tự do cuối cùng của mình: tự tử trước Nhạn Môn Quan để tạ tội
với Gia Luật Hồng Cơ.
Bầu trời bao la, đất đai vạn dặm
nhưng Tiêu Phong không tìm ra chỗ quay về. Về tới Trung Quốc ư? Ông chỉ là một
tên chó Liêu mọi rợ. Về với Liêu Quốc ư? Ông chỉ là bề tôi thất trung, đã chống
lệnh vua làm cho nhà vua mất mặt trước ba quân. Về mặt tinh thần, A Châu chết rồi,
tâm hồn ông không còn nơi nương tựa nữa. Đoàn Dự có thể yêu một lúc năm sáu
thiêu nữ nhưng Kiều Phong chỉ có một A Châu. Còn quyền lực, chức vụ, danh vọng
không phải là nơi nương tựa. Kiều Phong đi tìm tự do. Ông chọn giải pháp cuối
cùng – tự tử – để hoàn thành khát vọng tự do của chính mình. Ở chừng mực nào
đó, cái chết của Kiều Phong là biểu hiện của chủ nghĩa vô cực đoan nhưng nếu ta
cùng đi với ông trong suốt Thiên Long Bát bộ của Kim Dung thì
ta mới thấy được giải pháp đó là con đường tất yếu.
A Tử đui mù đã giành bồng lấy Kiều
Phong và cùng với ông nhảy xuống vực sâu muôn trượng. Mấy mươi năm trước, cha
ông đã bồng mẹ ông nhảy xuống nơi ấy. Mấy mươi năm sau, một cô bé gọi ông là tỷ
phu (anh rể) bồng ông nhảy xuống. Sự trùng hợp của lịch sử sao mà bi thương đến
vậy!
Tiêu Phong tức Kiều Phong là một nhân
vật sống nhất trong những nhân vật sống, là những nhân vật có vấn đề nhất trong
nhừng nhân vật có vấn đề của Kim Dung. Có thể nói Kim Dung rất thành công khi
xây dựng nhân vật Tiêu Phong – người anh hùng Khất Đan trong sáng, tiêu biểu
cho những cái đẹp của con người. Và rõ ràng, Kim Dung nói với ta rằng cái đẹp
nhất khó có thể tồn tại giữa đời bát nháo này. Cái đẹp nhất phải chết. Chỉ còn
lại trên đời cái tầm thường vớ vẩn, những loài cỏ đuôi chó, những điều không đẹp
mấy. Hoặc giả, giải quyết cho cái đẹp nhất chết đi cũng là một cách hướng con
người luôn nuôi khát vọng đi tìm cái đẹp?
—
Marco Polo
ghi lại tên Khất Đang bằng “Cathay”. Từ này được xứ Hongkong chọn đặt tên cho
hãng máy bay quốc gia. Ở Việt Nam, Duyên Anh có viết chuyện du đãng với nhân vật
chính là Đại Cathay trong “Điệu ru nước mắt” (Ngữ Yên).
304Đen – Llttm - sgtc



