Monday, June 8, 2026

Món Quà Buồn Trước Mộ - Thuyên Huy

 

 Món Quà Buồn Trước Mộ




    Anh ngồi đó, giữa trời, nắng cuối hạ chang chang đổ, cái nghĩa địa cuối làng khô cằn, nứt nẻ. Mấy cây Sao già cao trụi lá, cành nhánh khẳng khiu, vẫn còn cố đứng dưới trời nhưng chẳng cho người một chút gì gọi là bóng mát. Con quạ đen, tự lúc nào, đậu trên đầu ngọn một cây cao nhất nhìn xuống anh, kêu từng tiếng kêu kéo dài, rời rã, buồn nảo nuột. Anh lặng thinh ngồi giữa hai nấm mộ, khói nhang quyện lờ mờ màu khói bếp chiều quê, anh cố dằn không khóc, vì hôm nay là một ngày vui mà ba má, đã mong đã chờ, cơm vắt cơm nấm cho anh từ những ngày còn sống.

*

    Ba mất sớm vì một tai nạn ngoài đồng, lúc anh còn quá nhỏ, nghe má nói lại khi anh vừa vào lớp năm trường làng, ba cuốc đất bùn, đấp chận nước ở khúc cuối gò thấp trũng, ông cuốc nhầm trúng ngay ổ rắn độc, bị cắn, bắp chuối ra máu nhiều quá, ba cổi áo cột chặt, ráng đạp xe về, bà con trong xóm, người đở người ôm, phụ má, nhờ xe lôi máy chú tám quen nhà  bên, chở ba ra trạm y tế xã, nhưng không kịp cứu, má đem ba chôn ở nghĩa địa làng, khu đất nằm chơ vơ ven bờ ruộng, ngó ra cái truông nứa chằng chịt. Không biết gì hơn, má ở vậy, một thân một mình nghèo xơ nghèo xác, lầm lũi chắt chiu, làm công lựa thóc lựa gạo cho một nhà máy xay lúa trong xã. Nhà tranh, vách đất, cột ngã cột xiêu, mái lành mái rách, má con cứ vậy chấp vá mà sống mà vui với phận người trời đã định.

*

    Rồi ngày cũng qua ngày anh lớn lên, với hơi ấm áo bà ba sờn vai bạc màu bùn của má, tay dắt tay mang má dẫn anh tới trường tiểu học xã, rồi trường trung học quận, từ đó cũng cơm chiều cá kho khô, rau mồng tơi luộc, nhưng má vui không biết làm sao mà nói, không nói ra nhưng chắc má mơ sẽ có một ngày, cây đèn dầu cũng vui lây, được ngồi bên anh lâu hơn hơn trước, nhắc lại niềm mơ ước mà ba má ấp ủ trong lòng, ngày nào đó sẽ nhìn được anh “công thành danh toại”.

*

    Vậy đó, má lại theo ba, bỏ anh ở lại, vừa qua ngày đưa ông Táo về trời, ngấp nghé tới Tết, năm anh học đệ Nhị, chuẩn bị mùa thi, chưa kịp nghe tiếng trống đình, chưa kịp nhìn gốc Mai già, sát hàng rào nhà chú tám xe lôi máy, trổ nụ đầu xuân, má mất vì cơn bạo bệnh, phổi đã nám nhiều cộng thêm sức người cứ lao tâm lao lực, sáng đội nắng chiều dầm mưa, cũng chú tám, cũng mấy người hàng xóm tốt bụng, cũng như ngày đó với ba, họ đưa má ra bệnh viện quận rồi bệnh viện tỉnh nhưng cũnh đành theo số mạng, ngồi bên giường bệnh, dưới ánh đèn vàng vỏ, lạnh lùng ma quái, anh khóc như mưa, khóc mà không nói được tiếng nào. Bà con đưa má về chôn bên cạnh ba, trong cái nghĩa địa làng nghèo vẫn nghèo như từ đó tới giờ.

*

     Từ đó, anh ở lại một mình, thui thủi một mình với cây đèn dầu khi mờ khi tỏ, với cái bàn thờ ba má giữa nhà, có những đêm ngồi học bài, buồn khóc rấm rứt, nói chuyện mình, chuyện bây giờ với ba má cũng tạm nguôi ngoai, may mà biết nấu cơm nấu nước nên không lo chuyện ăn chuyện uống, vợ chú tám nhà bên thấy thương nên thường thường chạy qua, đem cho tô cá kho, tô thịt ram mặn, chợ làng rồi cũng biết anh, khi lặng lẻ ra chợ, tay xách tay cầm bó rau bó cải, mấy trái dưa leo, cà chua ửng chín, nhờ số tiền làm công ở tiệm bán đồ xây cất, gạch ngói dưới chợ quận, ngày thứ bảy, chủ nhật, mà bác chủ thương tình mướn.

*

   Chong đèn thức trắng, với lời hứa trước bàn thờ ba má, sẽ không làm ba má dưới mộ sâu thất vọng, như ba má muốn khi còn sống. Ngày thi, nhờ bác chủ quản nhà thờ Cao Đài xã giới thiệu, xuống Sài Gòn ở nhờ tại nhà người em bà con, cũng cùng họ đạo, cách trường thi cũng không mấy xa, có xe buýt ngừng xế trước nhà nên đở lo, anh không quên qua bên nhờ chú thiếm tám dòm ngó giùm nhà mình, dù nhà không có cái gì đáng giá.




    Anh đậu Tú Tài Một, chú thiếm tám xe lôi máy, qua phụ dọn bữa cơm, vừa chung vui vừa cúng ba má anh bữa cơm báo tin, thấy anh rấm rức khóc, thiếm tám cũng ngậm ngùi khóc theo.  Và cũng từ hôm đó, cô bác bán hàng trên chợ xã đều nhớ tên anh, cũng không quên cho anh thêm cọng hành bó rau, trái cà trái dưa, chẳng những tiền bớt đồng một đồng hai mà còn hỏi “đủ chưa con đủ chưa anh, đủ chưa em”.

*

     Con quạ trên ngọn cây không còn ở đó, tiếng mất tiếng còn, tạ từ bay đi, chắc phải lâu lắm mới gặp lại, cơn gió nhẹ bất chợt về ngang từ phía truông nứa, lùa bó nhang thơm, nấn níu chút lửa muộn rực sáng, sửa lại cho ngay ngắn, anh lấy tờ giấy chứng chỉ Tú Tài Một, còn thơm mùi con dấu Nha Khảo thí đỏ, cẩn thận để trước đầu hai nấm mộ, chỗ anh ngồi, chấp tay xá rưng rưng thì thầm “ba má ơi, con thi đậu rồi”. Giờ thì anh mới bật khóc lớn thành tiếng giữa cái nắng cuối hạ chang chang đổ.

Thuyên Huy

Viết cho những người giống như anh trong chuyện dù là chuyện tưởng tượng

Không Tựa Đề - Phạm Thiên Thư

Không Tựa Đề

 















Ngày xưa anh đón em
Nơi gác chuông chùa nọ

Con chim nào qua đó
Còn để dấu chân in

Anh một mình gọi nhỏ
Chim ơi biết đâu tìm
Mười năm anh qua đó
Còn vẫn dấu chân chim

Anh một mình gọi nhỏ
Em ơi biết đâu tìm
Ngày xưa anh đón em
Trên gác chuông chùa nọ

Bây giờ anh qua đó
Còn thấy chữ trong chuông

Anh khoác áo nâu sồng
Em chân trời biền biệt
Tên ai còn tha thiết
Trong tiếng chuông chiều đưa

Ngày xưa em qua đây
Cho tình anh chớm nở
Như chân chim muôn thuở
In mãi bực thềm rêu

Cõi người có bao nhiêu
Mà tình sầu vô lượng
Còn chi trong giả tướng
Hay một vết chim bay.

Phạm Thiên Thư

  

Tiệm Sách Nhỏ Trong Nỗi Nhớ Lớn - Vũ Hùng Khanh

 

TIỆM SÁCH NHỎ TRONG NỖI NHỚ LỚN…




 

Tôi nhớ những ngày ấy, mẹ tôi dẫn tôi đi học vào mỗi dịp tựu trường. Trường tôi – Cũng là trường của anh TAK và chị Nương – là Aurore, Rạng Đông nằm trên đường Phan Đình Phùng thì đối diện nó, là tiệm sách Thanh Bình…

Chi tiết đập mạnh nhất vào ký ức của tôi, nơi tiệm sách nhỏ này, là dãy tủ kính bày hàng hóa thấp ngang bụng người lớn, nhưng lại cao ngang tầm mắt một đứa bé mới 6-7 tuổi như tôi, thành thử không nhìn ngắm được gì nhiều. Vẫn biết là trong dãy tủ nằm ngoan ấy cũng chỉ là bút, thước, com-pa, kéo, hồ… – Còn sách và tập vở cùng bao sách, bao vở thì xếp thành nhiều chồng sát tường, sau lưng ông bà chủ tiệm.

Dãy tủ kính với khung gỗ đó nằm giữa người mua và người bán, chúng có chừa ra một lối đi giữa chính mình và bức tường quét vôi xanh – Lối đi ấy chỉ đủ để ông bà chủ tiệm len người vào mà tiếp khách mua hàng. Mà luôn đứng, chứ không thể ngồi vì sách vở, như đã nói, xếp cao tới trần và ken đặc sau lưng họ.

Mẹ tôi kể, ông bà chủ người gốc Hải Phòng, trước 1954 – Lúc ấy tôi chỉ đủ lớn để hiểu, đó là một cột mốc lịch sử rất quan trọng nào đó mà người ta phải đi tàu bay hay tàu bò vào đây – từng có một tiệm sách cũng mang tên Thanh Bình ngoài đó. Khi phải chuyển cư theo Hiệp định Genève, ông bà vào đây, dừng chân trên con đường Phan Đình Phùng, lại gom vốn mà mở tiệm Thanh Bình thứ hai. Nó có từ rất lâu, thậm chí như lời mẹ tôi, còn trước cả khi trường Aurore mở cửa.

Ông chủ tiệm trông hom hem và quàu quạu bao nhiêu, bà chủ trông tươi cười bấy nhiêu. Ông chủ trông có vẻ lè phè kinh niên bao nhiêu trong bộ pyjama màu xanh dương nhạt dường như luôn mặc suốt ngày; bà chủ, tươm tất và tháo vát. Tôi nhớ, chỉ khi nào có mỗi mình bà đứng bán hàng, tôi mới dám hỏi bà: “Bác ơi, bác cho con mượn quyển sách kia ạ… Con chỉ đứng đây thôi!”. Chưa một lần bà từ chối, và chưa một lần nào bà cau mặt. Nhưng nếu có ông chủ đứng đó, dù đi cạnh mình là bố hay mẹ tôi, tôi vẫn câm như hến.

Kỷ niệm về dãy hộp bút chì màu 12 hay 24 cây nhãn Soleil (Mặt Trời) nằm trong tủ kính tiệm Thanh Bình còn theo tôi đến bây giờ. Nó cũng giống như kỷ niệm về những hộp màu nước Aquarelle có 10 màu với những ô hình tròn chia thành 2 bên – Khi nào vẽ, cứ cầm cây cọ nhúng nước sẵn bệt lên từng ô, rồi quệt màu ấy lên phần mặt bên trong của nắp hộp, muốn trộn bao nhiêu màu tùy ý. Cũng là kỷ niệm của từng cây thước double-décimètre có 2 đầu là 2 loại đơn vị đo; từng cây équerre vẫn bị lấy ra làm thước đo độ dài, thay cho thước đo thật khi nó bị mất vì lý do gì đó không nhớ. Không thể quên từng cây rapporteur hình bán nguyệt để đo độ góc mà mình cứ lóng ngóng mãi không biết dùng. Từng quyển vở 50 rồi 100 trang kẻ ca-rô, nhãn hiệu Cyclo máy, lực sĩ Olympic cầm đuốc hay hình Con nai vàng chỉ có ba chân.

Nhưng tiệm Thanh Bình, mãi sau này khi tôi lớn, tất cả gia đình ấy đã ra nước ngoài, tôi mới có dịp nghe bố tôi kể về họ cho mẹ tôi nghe trong một chiều nghe lỏm. Gia đình ấy có người con thứ hai tên là Quang Bình, tuổi Mậu Tý 1948, trong tất cả 7 người con – Ắt hẳn chữ “Bình” trong tên tiệm là tên anh. Người trai ấy học khoa Vĩ cầm trường Quốc gia Âm nhạc, năm 18 tuổi đã sáng tác được nhạc phẩm đầu đời và được đón nhận ngay. Người trai ấy từng quen một người con gái xinh, có ông thân sinh là một tài tử điện ảnh nổi tiếng, cả nhà từng tản cư ở cùng một làng với bác Phạm Duy hồi những năm 1940 – 1950.

Rồi người con trai tên Bình đó trở thành nhạc sĩ rất nổi tiếng, cả đời mình chỉ viết có 70 bài nhưng người ta ít nhất phải thuộc ít nhất của anh 30 – 40 bài. Từ tiệm sách nhỏ trên đường Phan Đình Phùng, anh được nhận vào sân bay, làm nhân viên điều tiết không lưu. Nhưng anh vẫn song song sáng tác.

Năm 1974, anh ghi âm chương trình chỉ gồm toàn các nhạc phẩm của mình và phát hành băng cassette. Những giọng hát hàng đầu như Lệ Thu, Khánh Ly, Tuấn Ngọc, Thái Thanh, Duy Trác, Duy Quang, Thanh Lan… đều hát bài của anh – Dù anh trẻ hơn một số những tên tuổi đó.

Khi gia đình anh ra đi, người yêu anh cũng ra đi, tiệm sách ngày xưa đóng cửa, chỉ còn mình anh ngồi thầm trên ban-công nhà mình, cô liêu nhìn xuống phố để ngẫm về những ngày phải sống một mình. Rồi 1979, tới phiên anh lưu lạc, dừng chân nơi một trại tỵ nạn tại Malaysia, trước khi sang Canada.

Người con gái họ Đoàn năm xưa vẫn chờ anh và bay từ Mỹ sang Montréal để gặp lại. Họ không rời nhau nữa, cùng nhau quay về San Diego, rồi cùng sang Orange County trước khi anh lại đi làm cho một công ty điện toán Mỹ. Rồi họ lấy nhau và làm nốt cái đám cưới bị tháng 4/1975 làm dang dở. Họ dừng chân nơi tổ ấm của mình tại Seattle, thành phố hàng năm có những ngày mưa nhiều gấp đôi số ngày nắng.

Chắc hẳn người nhạc sĩ họ Ngô ấy đã từng phải lấy từng cây bút, từng tờ giấy có dòng kẻ nhạc hoặc phải nắn nót kẻ từng khuôn nhạc của chính mình bằng từng cây thước nhựa mềm trong tủ kính bày hàng của bố anh. Anh đã đi rất xa về tăm tiếng và cả về địa lý, rồi lại trở thành thật gần với người vợ mà anh rất yêu, chị Thanh Vân con của ông Đoàn Châu Mậu.

Con trai ông chủ tiệm Thanh Bình có bút danh đầu đời là Đông Quân, về sau, là Ngô Thụy Miên.

Vũ Hùng Khanh

Nguồn: https://www.facebook.com/baovietluan

304Đen – Llttm -dsc

Mùa Hoa Cà Phê - Sầu Đông

 

Mùa hoa Cà Phê






Bốn thanh niên từ trên xe díp (jeep) nhảy xuống, ồn ào ùa vào quán cà phê trên con đường Hoàng Diệu. Đó là những sĩ quan trẻ đã ra khỏi quân trường Thủ Đức từ một vài năm nay. Họ đều trú đóng tại những đơn vị nằm quanh thành phố cao nguyên đất đỏ này. Tuổi đời của họ chênh nhau vài năm. Lực, gốc trung sĩ bộ binh, được đặc cách cho đi học chuẩn úy, về một đơn vị lực lượng đặc biệt; Cần, xuất thân thày giáo, đóng ở tiểu khu; Tín, kỹ sư công chánh, tiểu đoàn công binh kiến tạo; và Thắng, dân trường luật, làm việc trong văn phòng tùy viên của ông tướng vùng.

Thắng quen biết nhiều với chủ quán. Chủ quán còn trẻ, nghe nói có họ với hắn, có thằng em cùng đơn vị với Lực, lên thành phố này vừa làm lính cậu, vừa mở quán cà phê kiếm ăn khi chiến tranh bắt đầu lan đến vùng này cùng với sự hiện diện của quân đội đồng minh Mỹ. Quán có tí chất văn nghệ là nơi họp mặt của đám sĩ quan trẻ xa nhà. Khách tới quán ít lộn xộn như những quán cà phê hay những quán nhậu khác. Những chiều thứ bảy cuối tuần, nhất là vào những ngày cuối tháng hai, khi đám sĩ quan trẻ lần lượt hết phép từ những nơi khác trở lại vùng này, quán thường có nhạc sống do mấy em gái hậu phương – bạn của lũ em, cháu trong nhà – lên giúp vui.

Thắng hất hàm về phiá chủ quán:

– Chà, chiều nay đông dữ. Có nhạc sống có khác.

Hắn quay lại mấy tên bạn, giọng đùa dỡn:

– ‘Quan’ đưa mấy thằng đệ tử này đến nghe tiếng hát liêu trai của em bé ‘vườn-cà-phê-nhà-ai’, lỡ mai này có thằng nào trúng đạn VC chúng nó đỡ ân hận.

Lực chửi toáng lên:

– Mẹ mày, quan cách gì mày, thấy gái là tối mắt lại, ông đã ở lính nhiều năm, đạn nó tránh ông; còn mày, mày liệu cái thần hồn, cái mồm ăn mắm ăn muối của mày đạn nó dễ tìm đến lắm.

Nói vậy chớ Lực vẫn nể thằng bạn trời đánh này. Nó vừa có cái mã cao ráo, trắng trẻo của dân trí thức, lại vừa có cái lì lợm của mấy gã giang hồ. Hồi ở quân trường, thỉnh thoảng nó chui rào trốn về Sàigòn một tối với đào. Vào trường, bị quân cảnh đưa đi nhốt, nó vẫn tỉnh bơ. Và cái lần khiến Lực phải ngán nó là khi thằng Lộc sứt kềnh càng, chuyên nạt mấy thằng thư sinh giường bên cạnh, khệnh khạng đòi khện nó thì nó đã bình tĩnh thủ thế:

– Mày mà đụng vào ông thì cả lò nhà mày cũng không thoát!

Nó rút con dao găm dấu sẵn ở đầu giường và xấn tới thằng Lộc. Anh em phải can gián một chặp mới xong. Nó và thằng Lộc đều bị phạt trọng cấm, nhưng sau này hai thằng làm hoà với nhau. Thằng Lộc không biết nó nổi tiếng là thằng du côn ở trường luật, anh em nhà nó hơn mười đứa, và ông già nó làm bên an ninh quân đội. Mãn khoá, thằng Lộc tình nguyện đi biệt động quân. Trong buổi tiệc ra trường, thằng Lộc cụng ly với thằng Thắng, vừa cười, vừa nói: “ Mấy thằng trí thức cô hồn như thằng này, thằng nào cũng kiếm được chỗ trú thân ngon lành’’. Thằng Thắng cười hô hố:’’ Con ơi là con! Chúng mày đánh đấm được thua là nhờ bố mày cả đấy. Không có bố, bọn Cộng nó muốn nướng các con lúc nào cũng được’’. Nó về quân đoàn hai.

Tín ghé tai Cần:

– Tối hôm qua, nó dắt về phòng tao hai con nhóc mới ở Qui Nhơn lên. Bác sĩ Quế ở đường Sư Vạn Hạnh cho chích pénécilline chưa dứt bịnh mà nó dám quất một lúc cả hai. Tụi nó mà biết nó đổ bịnh cho tụi nó thì tụi nó đào mả cha nó lên. Nó o được một trong mấy em đến hát chiều nay. Em bé này khá xinh, là học trò trường nữ. Tao có gặp em bé một lần ở hội quán Phượng Hoàng. Cần buột miệng: “ Tội nghiệp!’’. Tín bảo: “ Lính mà em!’’.

* * * * *

Trên sàn gỗ đóng bằng ván những mảnh thùng đạn pháo binh, dưới ánh đèn vừa đủ sáng khuôn mặt, cô bé học trò trường nữ hất nhẹ mái tóc xoã ra sau. Mặt bầu, má đỏ, môi hồng mọng, và cặp mi cong vút. Phiá dưới, trong ánh sáng mù mù tối, là những khuôn mặt quen thuộc của đám lính trẻ xa nhà. Cô hát bản ‘ Tàu đêm năm cũ’ giọng mềm, dịu, và trong, không làm nhão người như giọng ca Thanh Thúy, nhưng những chỗ luyến láy chùng xuống đủ để làm bọn trẻ nao người. Thỉnh thoảng cô lại liếc về phiá bàn bốn nguời. Tín thấy ánh mắt cô bé lướt qua rất nhanh, nhưng tia nhìn vụng dại như muốn dừng lại trước khuôn mặt rất tỉnh của Thắng.

Tín ghé vào tai Cần: “ Thế là em chết một cửa rồi!’’

Thắng quay qua Tín và Cần:

– Hai thằng này ở gần đây, chút nữa chúng mày đi bộ về trước. Tao lấy xe díp đưa em về nhà bà thím của em phiá trên chợ.

Nó vỗ vai Lực:

– Còn mày, con nhà võ thứ thiệt, nhờ mày đi hộ tống em với tao. Ngoan, tao bảo em giới thiệu bạn của em cho mày. Em có con bạn xinh đáo để. Hai thằng kia, một thằng là giáo làng cù lần, quân đội bắt nó vào lính là lầm lẫn lớn. Tao cho nó về trước. Tao mà làm tổng trưởng quốc phòng, tao đuổi cổ nó ra khỏi quân đội, cho nó biệt phái về trường làng. Còn thằng phải gió kia cho nó về sớm để ngày mai lên hầu bà tướng. Hồi chiều nó mới nói với tao là bà tướng nhắn nó lên vẽ cho bà cái sơ đồ nhà khách, chẳng biết bà ấy có sai nó giặt đồ lót cho con gái của bả không?

Thắng cười hềnh hệch. Cười xong, hắn lại nghiêm nét mặt như cũ.

Bốn tên sĩ quan trẻ mỗi đứa mỗi tính mỗi nết, nhưng cùng một đại đội hồi ở Thủ Đức, lại thường gặp lại nhau trên thành phố cao nguyên này, họ thành bạn thân của nhau. Cả ba gã kia đều phải nhận Thắng là một gã sắc sảo. Nó cười, nó đùa, lúc vui, lúc nham nhở, nhưng không ai giận nó. Nó kết thân rất nhanh, và cũng làm hoà rất nhanh với mọi người. Có lần Tín có việc phải lên trên Quân đoàn, thấy nó từ văn phòng tùy viên lững thững đi ra chẳng khác một công chức cao cấp của bộ giao thông vận tải của Tín, lúc Tín chưa vào lính; lần khác cũng có việc phải lên quân đoàn, Tín thấy Thắng đang lao nhanh ra chiếc xe díp như một con báo.

Cô bé hát xong bản nhạc. Tiếng vỗ tay rào rào. Có tiếng huýt sáo. Thắng vẫn tỉnh queo. Hắn gật gật đầu kêu em bé xuống. Cô bé cùng một cô bạn khác e lệ bước xuống. Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn bên vách, Tín thấy hai cô bé chập chờn như đang cười.

Rất tự nhiên, Thắng ôm vai cô bé vừa hát xong, giới thiệu với các bạn:

– Hương, “em’’ tao, còn Điệp là em họ của chủ quán.

Hắn giới thiệu tiếp:

– Mấy tên này các em đều biết cả rồi.

– Chào các anh, em mới chỉ biết anh Lực và anh Cần, còn anh gì đây em chưa được biết.

Cô bé chúm chím cười.

Cần tiếp lời:

– Anh Tín đóng ngay bên kia đường mà em không biết sao? Kỹ sư cầu cống đấy.

Tín bắt đầu mở máy:

– Anh ghiền cà phê quán này rồi. Hôm nay nhìn mắt em thấy đen óng như màu cà phê Arabica, và áo em trắng như màu hoa cà phê trên đồn điền Catekca. Anh mê rồi đấy.

Hương và Điệp chúi vào nhau cười khúc khích.

Thắng đấm nhẹ vào người Tín:

– “Em’’ tao, mày đừng tán nhảm. Muốn biết cà phê ra sao, hôm nào tao chở mày lên đồn điền nhà em cho mày biết. Chỉ sợ mày chưa lên tới đó đã vãi đái ra quần. Ở đây chỉ có thằng Lực dám lên mà thôi.

Điệp nhìn Lực cười mím chi. Cái nhìn rất lạ.

Tín ngơ ngác:

– Chi mà ớn dữ vậy?

– Mới tháng vừa rồi có thằng trung úy pháo binh, lạng quạng vào một vườn cà phê dưới miệt đó, bị VC dắt đi rồi.

Thắng đẩy nhẹ Cần và Tín:

– Thôi nhé, chúng mày ở gần đây, chúng mày thả bộ về trước. Tao với thằng Lực đưa Hương và Điệp về. Còn cái màn thằng Tín tán nhảm em tao, tao sẽ cho mày một dịp thấy tận mắt hương, hoa, trái cà phê. Mày biết đếch gì về cà phê mà Arabica với Catekca.

Hắn vừa cười vừa dìu Hương ra phiá cửa quán:

– Để anh đưa ‘hoa-cà-phê’ của anh về nhà.

Cô bé, tay vén vạt áo trước, nghiêng người đi nép vào bên Tín. Bốn người lần lượt lên chiếc díp. Hương và Điệp ngồi phiá sau. Buổi chiều cuối tháng hai ở thành phố cao nguyên này sương mù đã giăng đầy. Ngoài đường một vài chiếc quân xa lướt ngang, và phiá cuối đường có dáng người co ro, vội vã. Tín đề máy, gài số, lao xe về phiá chợ.

* * * * *

Vừa thấy mặt Thắng, Tín đã chửi:

– Cha mày, đi đâu mà mấy tuần nay không thấy mặt mày.

– Tao kẹt công tác khẩn, đi không kịp báo ai cả. Vào thay quần áo cho đàng hoàng rồi lên xe đi với tao. Tao mới gặp ông tiểu đoàn trưởng của mày chiều hôm qua trên quân đoàn. Mày được miễn trực ngày hôm nay, chắc mày đã biết rồi.

– Xếp mới báo cho tao biết hồi sáng nay. Mày làm cái thá gì mà nói một tiếng ông ấy nghe vậy.

Thắng chọc quê Tín:

– Tao vẽ cái nhà vệ sinh cho bà tướng.

– Thằng khốn.

Hai gã phá ra cười.

Thắng:

– Hôm nay tao cho mày biết thế nào là hoa cà phê.

– Uả, lên đồn điền?

– Nghe nói lên đồn điền mà đã sợ vãi đái ra quần sao? VC chúng nó không thèm bắt những thằng gà chết như mày.

Hắn tiếp, giọng nghiêm trở lại:

– Đùa mày một tí thôi. Vòng ngoài đồn điền mấy lúc này có cả trung đoàn nằm bọc, và ngoài xa nữa là những đồn biệt động quân biên phòng, yên chí lớn đi. Vả lại đang xuân, tụi nó chưa kịp chuyển quân vào. Mấy năm nay, chưa hề có chuyện gì nghiêm trọng xảy ra cho đồn điền này cả. Em Hương của tao vẫn đi đi, về về, bình thường.

Khi xe chạy ngang tiểu khu, nó nói với Tín:

– Lúc này chắc thằng Cần đang đi hành quân phiá ngoài Thanh An để tao và mày lên đó cho an toàn hơn nữa.

– Sao mày biết?

– Tới đó rồi hay, đừng có thắc mắc.

Chiếc xe díp chạy ào ào về hướng Thanh An cuốn theo một lớp bụi đỏ mờ mịt.

Tín bảo:

– Núi đồi hùng vĩ chập chùng, trời xanh lồng lộng thế này mà đừng có chiến tranh thì tao sẽ lên vùng này lập nghiệp, tao dân đồng bằng nhưng tao không thích những gì thẳng đuỗn, bằng phẳng.

– Nếu vậy, tao gả ‘hoa-cà-phê’ của tao cho mày. Nhưng dân đồng bằng mà tâm hồn lại lớn như núi rừng, thì xin lỗi mày, tao ngờ quá.

Tín đổi hướng:

– Mày chưa táy máy gì con người ta chứ?

Không nghe tiếng Thắng trả lời. Chỉ có tiếng gầm rú của chiếc xe lao nhanh về phiá trước.

Thắng như đã thuộc lòng đồn điền. Chiếc xe chạy qua những đồi trà, và những đồi cà phê bạt ngàn, chạy băng tới trước sân căn nhà ngói nằm trên một quả đồi. Tín thấy tỉnh cả người. Nhìn trước mặt, chìm trong những nhánh lá cà phê xanh đậm, mượt mà là những chùm hoa trắng muốt, những trái cà phê mọng đỏ. Ngây ngất trước mùi thơm của cà phê đang rang đâu đây, nhưng Tín cũng còn chút cảm giác ớn lạnh khi thoáng thấy những ánh nhìn vội của những người công nhân hái trà. Sương sớm dần tan, và những tia nhìn của những người hái trà vẫn như lẩn khuất sau những giải lụa mỏng. Tín chỉ yên lòng trở lại khi nhớ tới lời Thắng: “ Có cả trung đoàn nằm ở vành đai bên ngoài’’.

Chủ đồn điền là pá (bố) của Hương. Ông ta đã ra đến sân.

Thắng cất tiếng chào:

– Chào bác. Hai bác và các em vẫn mạnh giỏi? Đã lâu lắm cháu mới lại có dịp lên trên này thăm hai bác và các em. Mấy tháng nay cháu bận đi công tác xa. Lúc này ở đây êm nhiều rồi phải không bác? Sau Mậu Thân chắc mấy chả bớt quậy rồi.

– Dạ phải, mấy lúc này êm hơn trước đôi phần, tôi dân nhà vườn, tôi chẳng để ý tới việc binh. Tôi chỉ biết làm vườn nuôi gia đình mà thôi.

Ông ta nhìn qua phiá Tín.

Thắng vội giới thiệu:

– Thiếu úy Tín là sĩ quan công binh, bạn thân của cháu. Anh ấy là kỹ sư công chánh bị động viên.

Thắng vui vẻ:

– Lính này là lính cậu đó bác, dám chưa biết bắn súng, chớ uống cà phê thì tinh lắm. Anh bạn cháu nghe nói hoa cà phê rất đẹp, cứ nằng nặc đòi xem cho bằng được. Hôm nay anh ta được miễn trực, cháu đưa lên đây, vừa là dịp thăm gia đình làm quen, vừa cho anh ấy biết mặt mũi đồn điền.

Thắng vừa nói vừa liếc thật nhanh vào phiá nhà trong.

Cùng lúc, Tín thấy một phụ nữ trung niên và Hương từ phiá trong cửa bước ra.

Tín và Thắng cùng gật đầu chào.

Ông pá của Hương:

– Má mày và con Hương vào trong nhà pha mấy tách cà phê mời hai trung úy.

Ông day qua Thắng và Tín:

– Cà phê nhà vườn là cà phê cứt chồn, mới rang hồi hôm, có bỏ tí rượu rom (rhum) và bơ Bretel cho dậy mùi.

Tín:

– Cà phê cháu uống ở Quán Nhớ dưới thị xã đã ngon lắm, nhưng chắc chắn không sao bằng cà phê cứt chồn của bác được.

Tín nghe loáng thoáng có tiếng cười rúc rích phiá trong. Lúc sau, một chú bé khoảng mười hai, mười ba từ trong nhà chạy ra chào, rồi ghé tai Tín nói nhỏ:

-Má em bảo là trong hai ông trung úy thăm vườn bữa nay không biết có tin được ông nào không?

Tín bật cười, ghé tai thằng bé:

– Anh là người đáng tin cậy nhất trên thế giới này.

Thằng bé nguýt mỏ thật dài, thoắt một cái đã biến vào phiá trong.

Tín vừa nhắp một ngụm cà phê vừa xuýt xoa:

– Cà phê thơm và ngon quá. Cháu đã thử cà phê nhiều nơi, nhưng chưa đâu bằng. Ngay cả cà phê Jean Martin ở Sàigòn cũng không bằng được. Hết chiến tranh, chắc cháu phải xin về vùng này.

Ông bố của Hương:

– Ông Jean Martin dưới Sàigòn cũng lấy cà phê ở đây, nhưng ông ấy còn pha phách thêm một hai loại khác để lấy màu và độ sánh. Cà phê cứt chồn ở đây là loại thượng hảo hạng, chỉ dành đãi khách quí mà thôi. Những trái cà phê chín tới, mà ở đây là loại Arabica, loại cho hương vị thơm và đậm đà chất cà phê hơn tất cả các loại cà phê; chồn ăn phần thịt, hột tống ra ngoài. Loại này, sau khi sao tẩm, không có thứ hạt cà phê nào sánh bằng. Lát nữa, khi nào các trung úy về, tôi bảo em nó gói tặng vài kí.

Tín thấy ông bố của Hương hình như muốn nói chuyện riêng với Thắng.

Ông gọi với vào nhà trong:

– Khi nào trung úy Tín dùng xong cà phê, con đưa trung úy ra ngoài thăm vườn. Từ thị xã lên đây chỉ mười mấy cây số, nhưng đi lại không phải lúc nào cũng dễ dàng, chưa kể mấy ông nhà binh mỗi lần đi đâu đều phải có phép.

* * * * *

Hương đưa Tín ra khỏi nhà. Từ trên đồi nhìn xuống là những luống trà xanh um. Phiá bên trái đồi trà là một dãy đồi cà phê. Hai người lững thững bước xoải xuống đồi. Tín để ý thấy viền mi của Hương hơi sưng nhưng mắt nhìn vẫn thật trong, và làn da con gái đương thì vẫn mịn màng. Dưới phố, Tín quen một vài cô gái, con của những gia đình quân nhân và công chức ở gần cư xá công binh của Tín, nhưng lạ là tới đâu Tín cũng chỉ thấy nhớ cô bé này. Nếu đừng có Thắng!

Tín nói với Hương:

– Trong này êm chứ em?

Hương:

– Anh đi theo anh Thắng thì chẳng có gì phải sợ cả.

Tín ngờ ngợ:

– Nghe nói mấy tháng trước có sĩ quan trên quân đoàn vào vùng này bị mất tích!

– Em cũng có biết chuyện ấy, nhưng mới hôm qua tiểu khu đã hành quân quanh vùng. Tuần trước, anh Cần và đại đội của anh ấy có đi ngang đây.

Thắng nhìn xuống sườn đồi thoai thoải, theo Hương đi xuôi xuống triền dưới. Khi tinh thần đã ổn định hẳn, Tín thoáng nhận ra mùi hoa lài cùng mùi hoa bưởi.

Tín hỏi:

– Hình như quanh đây có cả hoa lài, và cam hay bưởi. Quê anh miệt Biên Hoà, mũi của anh thính lắm.

Hương:

– Mùi hoa cà phê đó anh. Đi xa nhà một chút, khi mùi cà phê đã tan hết anh nghe như mùi hoa lài lẫn với mùi hoa bưởi, đó chính là mùi hoa cà phê. Anh Thắng vẫn bảo là anh ấy yêu mùi hoa cà phê hơn mọi thứ trên đời. Anh ấy bảo là chỉ có hoa cà phê mới có được mùi hương thơm đặc biệt như vậy và em là hoa cà phê của anh ấy.

Nói tới đây, mắt của Hương như dại đi.

Bỗng nhiên, Tín thấy nhói trong tim. Thằng ma gà này nó làm thịt con bé này dễ dàng quá! Tín muốn ôm lấy Hương, nói với Hương là chính anh mới yêu Hương, khi những lần trong cái quán cà phê ở đường Hoàng Diệu nhìn và nghe Hương hát, và nhất là ngay lúc này khi nghe Hương nói về hoa cà phê, khi nhìn những chùm hoa trắng muốt, khoẻ khoắn lấn lên trên những trái cà phê mọng đỏ, dưới những tàn lá xanh đậm, mượt mà. Anh nhìn vào mắt Huơng, muốn lặp lại câu nói đã có lần anh nói trước đây:’’ Mắt em trong và đen như màu cà phê và tâm hồn em trong trắng quá!’’ nhưng anh không sao thốt ra lời. Anh lặng lẽ nhìn lên khoảng trời trong xanh của một ngày nắng đẹp hiếm hoi. Anh đi bên Hương mà lòng anh bao nhiêu thắc mắc cứ dồn cứng lại. Anh nhớ lại chuyến phi cơ quân sự đưa anh lên thành phố cao nguyên vào một chiều sương mù choàng kín thành phố. Và chỉ vài ngày sau là trận Mậu Thân. Anh không thuộc đơn vị tác chiến, và tuy chiến trận xảy ra tận bên ngoài thành phố, phiá ngọn đồi Thần Phong, anh cũng đã nghe nhịp tim thình thịch khi tiếng súng nổ rền phiá xa. Cái vẻ an bình bề ngoài của ngày hôm trước, hôm sau đã thay vào bằng mùi khí tử khí nồng nặc của hàng trăm xác lính Bắc Việt và Thượng Cộng chất thành đống bên bià rừng, trước khi công binh tưới xăng hoả thiêu. Vậy mà Thắng nó vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy ra, và những lần nó biệt phái từ Vùng I trở về, anh lại thấy nó dắt về phòng anh lần thì một đứa, lần thì hai đứa – những con điếm trẻ măng từ Sàigòn, hoặc từ Qui Nhơn, Đà Nẵng đổ lên. Đôi lần, anh hỏi nó về Hương. Nó chỉ vắn tắt: “ Đàn bà, con gái cả mà!’’.

Khi hai người quay trở lại căn nhà trên đồi, anh nghe loáng thoáng từ xa có tiếng gắt của ông pá của Hương, và tiếng đối đáp cũng không kém quyết liệt của Thắng. Nhưng chỉ một thoáng là hết.

Trên đường về từ đồn điền, chiếc xe chồm giật qua những ổ gà. Thỉnh thoảng mộ t vài chiếc xe tải của sư đoàn không kỵ 25 của quân đội Mỹ chạy ngang. Một vài gã lính Mỹ dơ tay lên vẫy. Thắng vẫn thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra giữa Thắng và ông già của Hương. Tín còn nhớ khi Hương trao gói cà phê cho Thắng, mắt Hương đỏ hoe như sắp khóc. Hương nhìn theo nửa trìu mến, nửa trách móc, và trên nét mặt của pá của Hương nét bực dọc chưa mất hẳn. Bà má của Hương có vẻ buồn.

Thắng đưa Tín về lại cư xá sĩ quan của Tín. Thắng bước theo Tín vào phòng. Hắn bảo:

– Ngày mai tao rời khỏi vùng này rồi. Nhờ mày báo lại cho thằng Cần dùm tao. Có lẽ phải lâu lắm tao mới trở lại vùng này; tình hình này không êm đâu. Chắc mày chưa biết tin này: thằng Lực mới bị thương nặng cách đây mấy ngày; nó bị cưa một chân. Sáng nay tao không muốn nói với mày sợ mày mất vui.

Tín:

– Còn Hương và gia đình của em?

– Tao có hứa hẹn gì đâu.

– Mày yêu Hương chứ?

– Hỏi làm gì?

– Cho biết.

– Không phải chuyện của mày. Nếu mày yêu được, tao nhường “em tao’’ cho mày.

– Mày không có tình cảm.

– Không có tình cảm mà tao lại thân với mấy thằng mày. Tao không muốn dài giòng. Những thằng như mày rồi ra chỉ quanh quẩn nơi một xó nhà, với một con vợ và một bầy con như con gà trống làm dáng với đàn gà mái, gà con. Tao khác. Tao có việc của tao. Bây giờ chưa phải là lúc vợ con đùm đề. Tao không tính định cư ở vùng này. Đời còn nhiều chuyện lớn phải làm. “Em tao’’ là em tao ở cái thành phố này thôi nghe mày.

Tín thấy mắt mình tối xầm. Chẳng trách gì mà nó lâu lâu lại mượn phòng của mình để dắt gái về. Nó chưa đưa Hương đến lần nào, nhưng biết đâu nó đã chẳng đưa nàng đến một nơi chốn nào khác?! Nó có lần bảo Tín:’’ Tao mượn phòng của mày vì tao không muốn đưa gái lên trên Cù Hanh. Tao là sĩ quan. Tao không phải là ma cô. Tao không dắt gái cho xếp.

* * * * *

Trong đám đông người nhốn nháo trước phòng vé của Hàng Không Việt Nam, Tín và Cần thoáng thấy bóng dáng một người đàn ông tầm thước, vai rộng, lưỡng quyền cao và cặp mắt sáng đặc biệt từ trong chen ra. Tín nhận ngay ra pá của Hương.

Tín gọi lớn:

– Bác ơi! Bác ơi!!…

Người đàn ông dáo dác một lúc rồi cũng nhận ra Tín và Cần. Ông ta bước nhanh ra khỏi cái phòng vé chật chội.

-Mới lấy được vé đi Sàigòn cho cả nhà. Hai cậu cũng về Sàigòn bằng đường hàng không dân sự sao?

Cần:

– Cháu đưa bà vợ ông tiểu khu phó về chuyến bay chiều nay, còn gia đình bác chừng nào đi?

– Chúng tôi đi vào ngày mốt. Gia đình tôi lên ở tạm trên nhà thím các cháu mấy ngày nay.

– Lúc này mua vé đã khó khăn nhiều rồi.

– Tôi nhờ mấy ông bên tỉnh giúp, tốn kém thêm đôi chút, nhưng đi được sớm là mừng rồi.

Ông quay qua Tín và Cần:

– Các cậu đóng ở đây có dễ đến ba, bốn năm rồi. Sau Mậu Thân đã êm được đôi ba, năm, mà nay thì bắt đầu lộn xộn nhiều. Ông thân tôi chạy giặc nhiều lần, từ Hán Khẩu xuống Quảng Châu, qua Hải Phòng, rồi từ Hải Phòng vào Đà Nẵng, đã nhiều lần nói với chúng tôi: “ Hễ nơi nào giặc giã, chiến tranh thì liệu mà tránh cho xa’’; tôi đã lánh đến vùng khỉ ho, cò gáy này mà vẫn không thoát. Cụ tôi biết nhiều kinh nghiệm về Cộng Sản. Cụ bảo là không thể nào sống được.

– Năm ngoái cháu đi chung với anh Thắng lên trên bác tình hình còn êm lắm.

– Mỹ rút quân ra, rút cả yểm trợ, khó cho mình nhiều.

Cần:

– Cháu phải về lại tiểu khu bây giờ. Thôi, anh Tín ở lại nói chuyện với bác, chiều nay nếu thu xếp được, cháu sẽ lại thăm gia đình bác. Nhà thím của Hương cháu biết rồi.

Tín mời:

– Cháu ở gần đây, cách vài bước thôi. Ngày kia bác mới đi, mời bác lại chỗ cháu uống ly nước, nói chuyện, rồi cháu sẽ đưa bác về nhà. Mấy lúc này cháu không quá bận. Có mấy ông chuẩn úy mới lên, giao việc cho họ được cả. Bác có cần gì, cháu phụ với bác một tay. Hồi nãy vội quá, quên chưa hỏi thăm bác về bác gái và các em.

– Nhà tôi vẫn bình thường, thằng út thì chưa biết gì, nhưng con Hương cả năm nay cứ như người bệnh giả. Tôi buồn đủ chuyện mà chẳng biết phải giải quyết cách nào. Lối nào cũng kẹt cứng.

Tín đoán ngay là pá của Hương muốn giãi bày tâm sự. Anh nắm tay ông già, vừa đi vừa kéo về phiá khu cư xá sĩ quan nằm cuối đường bên kia.

Vào đến phòng, anh kéo chiếc ghế dựa làm bằng gỗ thông- loại gỗ nắp thùng đạn pháo- đc nhất trong phòng, mời ông già ngồi, châm trà, lấy bánh, và lôi chiếc ghế đẩu ở đầu chiếc ghế bố lại gần.

Vừa ngồi xuống, ông pá của Hương hỏi liền:

– Cậu chơi thân với cậu Thắng, cậu có biết cậu Thắng bây giờ ở đâu không?

– Lên đây mới thân thôi bác. Chúng cháu cùng mt đại đội lúc ở Thủ Đức. Thắng làm trên quân đoàn, trong văn phòng tùy viên cho một ông tướng, nhưng anh ấy đã đổi đi vùng khác. Từ hôm lên đồn điền nhà bác về cháu không có liên lạc gì của anh ấy nữa.

– Vậy là cậu không biết gì thật sao?

-Thưa bác, không.

– Tôi lúc đầu cũng không biết, nhưng tôi có đứa em con ông dượng mở tiệm ăn trên đường Hoàng Diệu, trước làm cho một cơ quan của Mỹ ở Đà Nẵng. Mấy năm nay nó mở tiệm trên này, nhưng tôi biết là nó vẫn còn làm cho cơ quan ấy. Lính Mỹ vào ăn ở tiệm của nó đông lắm. Cậu Thắng là người của an ninh quân đội, nhưng cậu ấy cũng là người của một cơ quan dân sự khác. Tôi đâu ngờ cậu ấy và thằng em họ tôi lại muốn gài chết tôi trên đồn điền. Ông thân tôi đã có kinh nghiệm về Cộng Sản. Tôi dân làm ăn buôn bán, tôi đâu có khờ để vướng vào những việc nguy hiểm, vậy mà có lần cậu ấy đưa hình chụp tôi ngồi chung với cậu ấy, thằng em tôi, và một người Mỹ mà sau này cậu ấy cho biết là đại diện khu vực của an ninh Mỹ. Tôi một cổ, hai tròng. Cậu ấy cam đoan là sẽ bảo vệ tôi tới cùng. Nhưng mà tôi biết tôi chỉ là quân cờ thí mà thôi. Tôi đã dứt khoát gạt phắt đi, nhưng con Hương nhà tôi nó khờ dại quá. Mấy lúc sau này, phiá bên kia cũng có người đêm tối lần vào, và tôi cũng đã tránh né mọi chuyện. Đúng là chạy trời không khỏi nắng.

– Mấy lúc sau này cháu vẫn hay ra quán cà phê gần đây nhưng để ý không thấy Hương những chiều thứ bảy cuối tuần. Cháu tưởng là Hương bận học thi. Bác về Sàigòn rồi khi nào êm, bác có lên lại không?

– Biết chừng nào êm. Tôi lo sợ quá cậu ạ. Một đời tôi, vo tròn bóp bẹp cũng đã hai lần. Lần này vo gì nổi nữa. Thằng em tôi dẹp tiệm, mà không về lại Đà Nẵng. Nó đưa gia đình vào Sàigòn. Lần này chắc không êm thật rồi…

Chuyện một lúc, ông pá của Hương đòi về. Tín cũng muốn đưa ông về ngay và mong sẽ gặp mặt Hương nói với Hương đôi điều.

Tới nhà bà thím của Hương anh sững người khi nhìn thấy Hương. Anh nhận không ra. Mới mấy tháng trước Hương còn tất cả cái ngây thơ, tươi mát. Da mặt Hương lúc này xanh mét, như người vừa qua một cơn đau.

Anh chào mọi người trong nhà bà thím, và trước khi ra xe về, anh quyết định thật nhanh. Anh xin phép pá, má của Hương, và kêu Hương ra ngoài.

Anh nói như người hụt hơi:

– Đây là địa chỉ của ba mẹ anh ở Sàigòn, nếu Hương cần gì Hương cứ lại nhà. Chiều nay, anh sẽ gọi về nhà báo cho nhà biết. Ba mẹ anh rất quí những bạn của anh, nhất là với những người mà anh đã dặn nhà trước. Em đừng ngại gì cả. Khi nào về lại Sàigòn, gặp lại em và gia đình, và nếu em đã suy nghĩ kỹ, em cho anh biết. Anh muốn xin cưới em.

Anh chỉ nghe thấy một câu hỏi rất nhỏ, như bị nghẽn trong họng của Hương: ’’ Anh không có tin tức gì của anh Thắng hay sao?!’’.

Anh không sao trả lời câu hỏi này được. Anh chỉ còn thấy mắt nàng ướt nhoà, hoen trên hai quầng tím, và còn kịp nhận thấy một đường gân xanh lẩn dưới xương quai xanh trên bờ vai gầy của nàng, khi nàng vội vã trở vào trong nhà.

Sầu Ðông


Tuesday, June 2, 2026

Trên Phố Chiều Thu Về - Thuyên Huy

 Trên Phố Chiều Thu Về




Một Đời Người - Thạch Lam

 

Một đời người





Tiếng còi tan việc nổi lên vang động trong không khí. Lập tức các công việc trong xưởng đều ngừng lại. Bọn thợ đàn ông với lấy cái áo mũ trên mắc rồi hấp tấp dồn nhau đi ra phía cửa như một lớp sóng người.

Liên cùng mấy chị em bạn gái thong thả hơn, vì công việc họ làm xong đã lâu rồi. Nhìn lại một lần nữa cái thùng giặt đầy quần áo sạch sẽ họ làm trong một xưởng xe tay bọn thợ con gái ra đến cửa sau hết mọi người. Họ vui vẻ nói chuyện luôn miệng như những con chim sẻ ngày mùa. Nhưng Liên không thể giữ được cái rùng mình sẽ rung chuyển thân thể nàng mỗi lần đến trước một chú tây đen cao lớn ngồi canh cổng và khám các người làm công. Toàn thân Liên cứng lại dưới hai bàn tay mập mạp đen thủi nắn bóp khắp cả trong ngươi. Nàng nhắm mắt như không muốn trông thấy cái cười khả ố của người gác và hai con mắt sâu hoắm của hắn ta long lanh ham muốn.

Ra đến ngoài, Liên nhẹ hẳn người. Cảnh tấp nập ở ngoài phố làm nàng vui vẻ. Mấy chị em bạn cùng rảo bước trên vỉa hè, vừa đi vừa nói những câu chuyện trong sở, thỉnh thoảng làm cho một cô bật lên mấy tiếng cười trong trẻo, ròn rã như tiếng cười con trẻ. Liên và mấy cô bạn gái của nàng, tuy đã có đến hàng nghìn lần, mà lần nào ở trong xưởng ra về, cũng thấy vui vẻ trong lòng như một người vừa làm xong công việc của mình.

Cái vui vẻ giản dị ấy làm cho nàng quên trong chốc lát những khó nhọc và các ý nghĩ lo buồn.
Đến chỗ rẽ sắp phải chia tay, tất cả bọn đứng dừng lại dưới gốc cây bàng, Liên sẽ bảo các bạn:

– Các chị bây giờ về nhà, chắc chồng con vui vẻ lắm. Chỉ có em là khổ thôi.

Mọi người nhìn Liên không nói gì. Vì họ biết Liên lấy phải người chồng vũ phu ác nghiệt, hay đánh đập nàng. Lại thên mẹ chồng cũng ác nghiệt chẳng vừa, hơi một tí là đay nghiến nàng thậm tệ, đến nỗi cấm cả không cho các bạn lai vãng đến nhà nàng nữa.

Khi Liên quay đi, mấy người bạn nhìn theo thương hại:

– Chị Liên thật là khổ. Đi làm cầm cập suốt ngày để nuôi cả nhà chồng, về nhà lại bị chồng nó hành hạ.

Cô Sinh, người nhiều tuổi nhất trong bọn, giọng nói đầy vẻ tức giận:

– Tôi mà như chị ấy thì tôi bỏ quách đi lấy người khác. Mình đi làm kiếm được nuôi thân, có phải nhờ vả gì nhà chồng đâu mà sợ.

Một người khác chép miệng thở dài:

– Chẳng qua cũng là tại cái số chị ấy vất vả nên mới gặp người như thế.

Liên một mình thong thả bước đi. Nàng không còn vui vẻ nữa vì sắp về tới nhà. Nàng buồn rầu nghĩ đến cái cảnh êm thấm trong gia đình của các bạn, khi đi làm về được chồng con săn sóc đến. Về phần nàng, không phải một cái gia đình mà nàng lui tơi nữa, chính là một cái địa ngục. Liên không hiểu vì sao chồng nàng và mẹ chồng đối với nàng lại ác nghiệt, ghét nàng như thế. Có lẽ vì xưa kia cha mẹ nàng đã bắt người ta phải dẫn cưới nhiều chăng? Nàng đoán có lẽ thế vì mỗi lần chửi mắng bà mẹ chồng lại nhắc đến chuyện ấy mà đay nghiến nàng.

Liên thở dài nhớ lại quãng đời nàng từ lúc đi lấy chồng. Bảy tám năm qua, mà Liên tưởng hình như lâu lắm, hình chư đã hết nửa đời người. Nàng về nhà chồng từ năm mười bảy tuổi. Tại sao nàng lại lấy người chồng này mà không lấy Tâm, người nàng quý mến từ thủa nhỏ và bây giờ cùng làm một sở với nàng, Liên cũng không rõ tại sao nữa. Khi cha mẹ nàng ngỏ ý gả cho Tích, lấy cớ rằng hai nhà vẫn quen biết nhau, Liên tuy không bằng lòng nhưng nàng vẫn không từ chối. Mà nàng cũng không dám từ chối cái gì. Nàng tưởng rằng mình sinh ra chỉ để chịu sai khiến mà thôi, không dám phản kháng bao giờ cả.

Trong bảy năm ở nhà chồng, nàng chịu bao nhiêu nỗi khổ sở, hành hạ mà không dám kêu ca. Liên chỉ âm thầm đau đớn. Nàng thương hại cho Tâm đã khổ vì nàng. Khi được tin nàng đi lấy chồng, Tâm bỏ nhà trốn đi. Cách đây một năm sự tình cờ lại khiến cho nàng với người cũ gặp nhau làm cùng một sở. Tâm vẫn yêu nàng, và sau khi biết nàng bị khổ, chàng yêu cầu nàng bỏ chồng cũ để lấy chàng.

Liên nhiều khi sung sướng tưởng tượng đến cái đời dễ chịu của nàng nếu lấy Tâm. Nhưng Liên vẫn từ chối. Chính nàng cũng không hiểu tại sao mà từ chối.

Hình như có những cái lẽ tối tăm làm cho nàng sợ hãi, không dám nhận lời. Liên lờ mờ thấy rằng nàng không đủ can đảm làm một việc như thế, không đủ quả quyết với mình để chống lại những cái cay nghiệt gây nên chung quanh nàng. Không phải vì nàng quyến luyến đứa con lên sáu: nàng không yêu nó vì nó cũng xấc láo như bố.

Nhưng bỏ chồng bỏ con để lấy Tâm, để được sung sướng riêng lấy mình nàng, Liên cho như là một việc không bao giờ có thể làm được.

Sáng nay, vào đến sở, nàng thấy Tâm khác mọi ngày thường. Chàng gọi nàng ra một chỗ và ứa nước mắt nói:

– Liên ạ, mai tôi phải đổi đi Saigon, mà đi chưa biết bao giờ mới được về, Liên nghĩ thế nào? Nếu Liên còn yêu tôi, xin Liên đi hẳn với tôi, chúng ta sẽ xa hẳn chỗ này. Tôi xin cam đoan làm cho đời Liên được sung sướng. Liên bằng lòng đi, Liên!

Nàng chỉ cúi mặt khóc. Khi thấy Tâm thất vọng quay đi, nàng đau đớn, uất ức, như đứt từng khúc ruột. Hình như từ đây có cái gì gẫy nát không phương vớt lại được trong cả đời nàng.

Bước chân vào nhà, tự nhiên Liên thấy lo sợ. Không khí trong nhà nặng nề như sắp có tai nạn gì xảy ra. Tích và bà mẹ đương ngồi bàn tán, thấy nàng về ngưng lại, mỗi người ngồi một chỗ, nhưng thỉnh thỏang đưa mắt nhìn nàng. Liên lặng lẽ vào buồng xem con ngủ, rồi ngồi bên mâm cơm nguội để phần. Nàng và vội vàng mấy miếng cơm, cố nuốt cho xong bữa.
Bỗng nhiên bà mẹ chồng lại gần, giọng dịu dàng làm nàng ghê sợ:

– Này cô Liên, thế cô định đi theo cậu Tâm vào Saigon thật đấy chứ?

Liên giật mình, hỏang hốt đáp:

– Thưa mẹ, ai bảo mẹ thế?

– Lại còn ai bảo nữa. Mà cần gì phải có ai bảo tôi mới biết. Thôi, cô có đi thì cứ thu xếp mà đi đi, đừng ở đây nữa. Phải, cô thiết gì cái nhà này…

Liên thưa:

– Mẹ nói oan cho con, chứ con đâu dám thế.

Bà mẹ chồng lồng lộn lên, xỉa xói:

– Đừng già mồm nữa, con kia. Có người rõ ràng trông thấy mày đứng nói chuyện với nó buổi sáng nay, còn chối gì nữa, đồ khốn nạn! Này tao bảo thật: mày tưởng mày đi thoát được cái nhà này à?

Bà cụ đay nghiến và riếc móc nàng bằng những lời chua cay. Tích vẫn ngồi trên ghế, yên lặng không nói gì.

Liên ứa nước mắt, đặt bát cơm ăn dở xuống chiếu, phàn nàn:

– Mẹ cứ đặt điều cho con mãi. Thật là ác, không cho người ta nuốt trôi miếng cơm nữa.

Nàng nghẹn ngào, buông đũa đứng dậy toan bước xuống dưới nhà. Nhưng có tiếng xô ghế, rồi một bàn tay nắm chặt lấy cổ nàng:

– Mày bảo mẹ tao ác à? Không ác để cho mày tự tiện đi theo trai phải không?

Bàn tay như sắt bóp chặt xoay nàng lại. Liên thấy giáp mặt mình, cái mặt ghê sợ của Tích, hai mắt đỏ ngầu.

Cái giận dữ làm tiếng hắn run lên:

– Con đĩ!

Liên thoáng nghĩ nét mặt thanh tao của Tâm ban sáng. Nàng khing bỉ nhìn chồng:

– Buông tôi ra.

Rồi nàng gục xuống dưới những cái đấm đá nặng nề.

Lòng ghen ghét làm Tích khỏe thêm lên. Hắn nghiến răng lại đánh túi bụi. Hắn thấy ghét nàng đến cực điểm. Không phải vì nàng không yêu mà hắn căm tức. Nhưng nàng lại đi yêu một người khác, như đâm vào lòng tự ái  của hắn. Sự ấy không bao giờ hắn tha thứ được.

Khi Liên thấy tiếng nói, tỉnh lại, thì đã chiều. Mở mắt, nàng thấy đứa con đứng bên sợ hãi nhìn nàng.

Liên vùng ngồi dậy, lo sợ, vì sực nhớ đã mất buổi làm. Nhưng khi cử động, nàng thấy khắp người đau đớn như giần, và cái quang cảnh buổi trưa lại hiện ra trong trí.

Một sự căm hờn nỗi dậy trong lòng nàng, Liên nhớ ra ngày mai Tâm phải đổi vào Saigon. Sao nàng không đi với Tâm được? Ai cấm? Mà tôi gì nàng ở đây để chịu những nỗi khổ sở như thế này? Phải đi, đi để thoát nơi địa ngục, đi để hưởng chút hạnh phúc mà nàng có quyền được hưởng ở đời.

Nhưng đến ngày mai, những điều dự định của Liên tiêu tán cả. Nàng ẵm con ra tiễn Tâm ngoài ga, rồi để Tâm một mình bước lên xe hỏa mang theo đi cái hy vọng cuối cùng của đời nàng. Khi đoàn xe đã khuất, Liên thấy bao nhiêu nỗi đau khổ trỗi dậy ngập lòng. Nàng gục đầu vào chiếc cột sắt, rồi oà lên khóc.

Ngày nọ nối tiếp ngày kia, Liên lại vẫn chịu cái đời khổ sở, đau đớn mọi ngày. Cái mộng một cuộc đời sung sướng với Tâm, Liên buồn rầu cho như là những vật tốt đẹp mà nàng thấy bày trong tủ kính các cửa hàng, những vật quý giá mà nàng tưởng không bao giờ có thể thuộc về nàng được.

Thạch Lam