Phôi Pha Giọt Sầu
Monday, August 3, 2026
Đàn Đi Theo Người - Thuyên Huy
Đàn Đi Theo Người
Trở lại nơi này, chắc
cũng đã bỏ đi hơn năm sáu năm, đường xưa đi về, cảnh vật vẫn như cũ, căn biệt
thự ra vào cũng hai chợ chồng bác sáu, ân nhân của anh, tóc cả hai giờ trắng một
màu bông bưởi, còn đó cái ghế đá xanh lục bình giữa khu vườn đầy hoa Sứ đỏ, năm
sáu cây mảng cầu cao rợp bóng, cái ghế mà anh đã ngồi mỗi buổi chiều tàn nắng,
chập chững tối, nhìn qua bên kia khung cửa sổ căn nhà sàn gỗ đen, nằm giữa khu
vườn rộng, hàng rào giây leo cao, cách bên này con đường nhỏ đất trắng mịn, chạy
sâu vào, ngang xóm đạo trong, ra tới ngoài đường nhựa, đầu cổng nhà thờ, có tiếng
đàn dương cầm và đứa con gái nhà giàu ngoan đạo, học chung trường, đi về chung
đường, ban đầu thì người trước người sau nhưng rồi thì sánh đôi, bên người bên mình, nói cười vụn vặt, những
cánh hoa phượng khô ép trong vở và trang lưu bút mực xanh có chữ thương chữ nhớ
nghiêng nghiêng.
*
Cũng cái ghế đá
xanh lục bình ngày cũ trong vườn, anh ngồi đó nhìn qua, không như ngày nào,
khung cửa sổ quen không thấy mở dù trời đã giữa trưa, nắng và nắng. Có tiếng
người nói chuyện bên nhà đó nhưng không phải tiếng người quen, anh đứng dậy, bước
tới gần bên rào chút nữa, nghe cho rõ hơn, đúng là không phải tiếng người quen
năm xưa.
*
Không có đạo nhưng
dòng đời đưa đẩy, anh lại sống vài năm ở trọ tại nhà vợ chồng bác sáu, ông “Bỏ”
của nhà thờ tỉnh, vợ chồng bác hiền như cục bột, có một người con gái, lấy chồng
xa, đâu đó dưới Rạch Giá Long Xuyên, thỉnh thoảng lắm mới về thăm ngày ta ngày
tết.
Nhớ lại anh cười thầm,
số trời sao đó còn thương, gần cuối năm đệ Tam, chuẩn bị khăn gói, chờ ngày hè,
về quê, tính là sang năm chắc sẽ rời căn nhà hiện đang ở trọ với hai ba anh lớp
trên, cùng xong năm cuối trung học, không còn ở đó, anh sẽ ở lại một mình thui
thủi, buồn so, ra vào cái nhà mái ngói âm dương, cây che lá phủ chung quanh, âm
u, không xa cổng trường bao nhiêu, ngó qua ngôi chùa cổ cũng âm u không kém,
nhiều khói nhang, tụng niệm, hơn là tiếng cười, vì bà bác già, chủ nhà là người
tu tại gia, hiền từ, thương người với hai tiếng “mô Phật”.
*
Sáng Chủ Nhật ngày
đó, theo anh bạn nhà ở tỉnh, người có đạo, đi lễ sáng nhà thờ cho biết và cũng
theo lời anh ta, biết đâu tìm được một “tà áo đêm Noel” nào đó vì anh
cũng biết, trong trường có nhiều cô trang lứa, cùng lớp là người ngoan đạo. Lễ
xong, người người ra về, những “tà áo đêm Noel” cũng ra về, hình như
không ai thấy anh hay làm ngơ, rốt cuộc “cô đơn vẫn cô đơn”.
Chia tay anh bạn,
anh đứng xớ rớ trước cổng nhà thờ, nắng lên, một màu hanh hồng trên tượng Chúa
trong sân, ngó lên ngó xuống, chưa vội đi, nghe tiếng người hỏi, quay lại, bác
trai trọng tuổi, tóc hoa râm, cầm xâu chìa khóa, nhìn anh cười hiền rất hiền,
anh cúi đầu chào, sau khi hỏi qua hỏi lại làm quen, bác hỏi nhiều về quê nhà,
gia đình, học hành, anh cũng “tình thật xin thưa”, chuyện lo tìm chỗ ở
trọ cho năm học tới, mới biết bác chuẩn bị đóng cổng nhà thờ. Vậy đó, chiều thứ
hai tan học, anh tới nhà như bác dặn. Anh dọn tới nhà bác Sáu “ông Bỏ nhà thờ”
hôm sau.
*
Đi tới đi lui, chạy
qua chạy qua chạy lại, khu xóm đạo nhà thờ riết rồi ai cũng biết cũng quen anh,
cái thằng cháu “bá vơ” của ông sáu Bỏ, phụ bác việc quét dọn sắp bàn sắp
ghế, nhổ cỏ tỉa cây của nhà thờ, thuộc kinh thánh lễ nhưng vẫn là người ngoại đạo.
Thứ Bảy Chủ Nhật, đứa
con gái ngoan đạo của căn nhà sàn gỗ đen, cùng gia đình đi lễ, chuông vang
vang, anh đứng bên ngoài hành lang chờ, người bên trong “A men”, anh
cũng lạy “Chúa A men” nhưng “A men” gì thì không ai hiểu, chỉ
riêng mình anh hiểu.
·
Thương thầm, thương
một mình, chần chừ, ngập ngừng chưa dám nói, sau mùa thi, mùa hè qua, hối hả từ
quê nhà trở lại trường, đứa con gái và tiếng đàn dương cầm ngày xưa, không còn
bên căn nhà sàn gỗ đen nữa. Người quen trong xóm nhà thờ cho biết, nghe nói đã
có người và xe cộ dưới Sài Gòn lên làm lễ đính hôn rồi.
Từ đó anh rời nhà
bác sáu “ông Bỏ nhà thờ”, đến ở chung với nhóm bạn nhà quê xa, xa tít
ngoài ngã ba bến xe cũ, cuối năm học đó anh bỏ Tây Ninh đi và đi biền biệt.
*
Anh trở lại cái ghế
đá, ngồi nhìn qua căn nhà sàn gỗ lần nữa, nói với mình, đúng là không phải tiếng
người, tiếng đàn năm cũ, có tiếng bác sáu gái gọi vọng ra, anh đứng dậy đi vào
nhà, bỏ lại sau lưng, trong vườn, trên cái ghế đá màu lục bình, những cánh hoa
Sứ úa, ngậm ngùi tơi tả rụng
Thuyên Huy
Để nhớ một
xóm đạo mà ở đó anh đã có một thời làm người có đạo
Quà Giáng Sinh - Nhật Tiến
Quà Giáng Sinh
HUYỀN
TRÂN xuất bản 1970
Phượng mở gói quà của mình ra trước những
cặp mắt chăm chú của các bạn. Rồi tất cả cùng reo to lên một lượt:
- Ồ! Búp bê!
Mắt Phượng sáng hẳn lên.
Một con búp bê thật đẹp, có mái tóc
màu nâu và đôi mắt trong xanh nhắm mở được. Búp bê đứng sừng sững ở trên nắp hộp.
Nó mặc váy hồng nạm kim tuyến, chân đi giầy cao su trắng. Nó cười với Phượng và
lũ trẻ. Mấy con bạn Phượng thèm thuồng nhìn nó. Bọn này không may rút phải những
gói quà mà chúng không mơ ước. Con Nguyệt được một cái ô tô sơn đỏ. Con Hương
được khẩu súng bắn nút chai. Con Dung lại được chiếc máy ảnh giả. Nhưng không
món nào đáng thích bằng một con búp bê, búp bê nhắm mắt, mở mắt được.
Phượng sung sướng quên cả bạn. Nó ôm lấy
hộp búp bê chạy ra sân sỏi. Tiếng hò hét của các ‘‘soeur’’ xen với tiếng nô đùa
của lũ trẻ trong phòng lớn vắng lại ở đằng sau. Phượng về phòng ngủ và ôm búp
bê vào vòng tay. Bây giờ Phượng mới ngắm kỹ được nó. Mặt nó hồng hào và cái miệng
rất tươi. Mái tóc nó vàng óng có băng tím vấn ngang đầu. Cổ búp bê đeo một sợi
dây mang chiếc thánh giá lúc lắc ở trên ngực. Phượng nghĩ đến ngày mai, ngày
kia, hôm nào búp bê cũng là của Phượng. Phượng sẽ bế nó đi ăn cháo ở phòng dưới.
Trong giờ học, búp bê sẽ ngủ ở ngăn kéo. Buổi tối, hai đứa sẽ cùng nhau đi cầu
kinh ngoài giảng đường. Búp bê sẽ ngồi ở trên lòng Phượng. Chắc mắt của nó sẽ mở
to dưới ánh đèn sáng.
Bây giờ thì Phượng mở ra xem cái hộp đựng
búp bê. Cái hộp dán giấy hoa màu xanh, buộc bằng nơ đỏ. Bốn bề vừa vặn một chỗ
cho búp bê nằm. Ở trong còn có một miếng đệm lụa và một cái gối xinh xinh. Phượng
tìm thấy một mảnh giấy biên mấy hàng:
‘‘Em bé nào nhận
được quà này, tối ngày 24 xin mời em lại số nhà … ăn mừng lễ Giáng Sinh’’.
Gia đình bé Chi.
Phượng ngạc nhiên và sung sướng. Nó vội
bế búp bê đi tìm bà phước Hạnh. Bà Hạnh đang trông coi cho các chị lớp trên hát
ở trong phòng nhạc. Tiếng đàn xen tiếng hát lọt qua khung cửa sổ có treo mà,
voan trắng. Âm thanh trầm bổng ở trong gió mát buổi chiều. Phượng cảm thấy có
cái gì nao nao trong ý nghĩ. Đấy là cái cảm giác mà Phượng chờ mong từ đầu
tháng về ngày lễ Giáng Sinh. Phượng trao mảnh giấy cho bà Hạnh. Bà xem rồi mỉm
cười:
- Người ta mời, em muốn đi thì đi.
Bà hứa sẽ hỏi ý kiến bà Nhân về chuyện
ấy.
°
Buổi chiều, Phượng không ăn cơm được
vì vui. Đầu óc nó lúc nào cũng xáo lên về hai sự mừng rỡ. Phượng có một con búp
bê và lại được ra ăn lễ Noël ở bên ngoài. Nhưng trong óc Phượng đã hình dung thấy
hình ảnh những ngọn đèn ông sao cháy sáng ở trên đỉnh nhà thờ, có tiếng chuông
ngân nga vang lên trong không khí lành lạnh lúc về đêm, và Phượng cũng thấy mơ
hồ hình ảnh bé Chi, bé như Phượng, đang giơ tay đón Phượng với những nụ cười. Rồi
Phượng sẽ được dẫn đi vào đám đông trong thành phố, sẽ được tự do ngắm những ngọn
đèn xanh đỏ rất lạ chớp ở trên nóc những mái nhà cao. Gia đình bé Chi cũng sẽ lại
dẫn Phượng đi xem đám rước kiệu Đức Bà ở nhà thờ lớn. Đêm trở về, tất cả sẽ
quay quần ăn Réveillon ở quanh những ngọn nến cháy trên cây giáng sinh. Nếu Chi
thích, Phượng sẽ hát cho Chi nghe thật nhiều bài thánh ca mà bà Hạnh vẫn dạy
hàng tuần vào sáng ngày chủ nhật. Những ý nghĩ ấy khiến Phượng náo nức và quên
hẳn búp bê lúc ấy ngồi bấp bênh ở trên mặt ghế. Con Hồng sui Phượng bón cho búp
bê một miếng thịt mỡ. Phượng nguýt nó thật dài.
Đến tối bà phước Nhân gọi Phượng lên
buồng riêng. Phượng sung sướng được bà cho phép ra ngoài một đên, một ngày.
Chưa lần nào lòng Phượng náo nức đến như thế. Phượng nép má vào vạt áo của bà,
nó rung rung muốn khóc.
Chiều ngày 24, chị Giang dẫn Phượng lại
nhà bé Chi. Đó là một biệt thự có hàng rào cây bao quanh bốn phía. Mái ngói có
những cánh cổng sắt, ở trong là những giàn hoa nở đỏ dưới nắng buổi chiều. Chị
Giang rung chuông và đứng nép dưới lùm hoa ti gôn xòa xuống tận mái tóc của chị.
Có tiếng dép đi nhè nhẹ trên mặt đá. Phượng không nghe thấy tiếng Chi cười, vì
không có Chi ra mở cửa. Chỉ có má Chi (chắc má Chi) đứng ở đằng sau khung cửa sắt.
Chị Giang chào bà và đưa ra tấm giấy mời. Bà ta cười rất tươi và ôm lấy Phượng
vào lòng. Bà ấy hôn dịu dàng lên mắt của nó. Phượng ngửi thấy mùi nước hoa thơm
ngát. Má bé Chi mời chị Giang vào ăn bánh, nhưng chị ấy nhã nhặn từ chối. Chị hẹn
sẽ đến đón Phượng vào buổi chiều mai. Khi dẫn Phượng vào đến thềm thì chị xin
phép trở về. Phượng nhìn theo chị cho đến khi chị khuất ở sau rặng ngâu xanh.
Trong vườn đầy gió mát. Tà áo trắng của chị bay như hai cánh bướm. Bây giờ thì
Phượng cảm thấy mình hoàn toàn bỡ ngỡ. Hình ảnh lũ bạn như bầy chim quanh các
bà phước hiện thoáng qua trong óc Phượng. Nhưng Phượng cũng yêu ngay má bé Chi.
Bà ta mặc chiếc quần lụa trắng và chiếc áo len cộc tay màu đen. Dáng người thật
mảnh, nước da thật là mịn. Hai mắt của bà sâu và long lanh. Có những sợi tóc
dài quấn lên những ngấn cổ trắng. Bà đánh môi rất nhẹ và đeo một chuỗi hạt
trai. Tiếng dép của bà lướt nhè nhẹ trên sàn đá hoa mát lạnh. Bà ấy bế Phượng
đi vào một căn phòng quét vôi màu hồng nhạt. Phượng bỡ ngỡ trước những chiếc ghế
bọc nhung đỏ. Trên tường treo những lồng đèn vẽ hoa và bướm. Phượng trông thấy
một cây Noël đầy kim tuyến trồng ở bên chiếc đàn dương cầm. Một cuốn nhạc mở rộng
ở bên cạnh bồn nước có những con cá vàng đang bơi tung tăng. Ảnh bé Chi thật lớn
treo ở trên một ống sáo. Chi có mái tóc Nhật Bản và đôi mắt thật to. Miệng Chi
không cười nhưng nó có vẻ láu lỉnh ở trong tia mắt. Phượng thấy nó hao hao như
con Quỳ phải đi nhà thương hồi đầu tháng trước. Mặt cũng có vẻ xanh lạ lùng như
thế. Má Chi nhìn bức ảnh rồi nhìn Phượng. Bà hôn rất lâu trên mí mất của Phượng.
Phượng hỏi:
- Thưa bà,Chi đâu?
Bà ta đặt Phuợng xuống sàn rồi dẫn nó
đi vào cánh cửa bên trái. Căn phòng thứ hai này hơi tối, vì cái cửa sổ độc nhất
lại đóng kín. Một cái giường có màn buông, kê ở một góc. Phía đối diện là tủ
áo. Những cái váy đầm đủ màu nằm im trong ánh sáng mờ. Phượng chạy qua những
con chó bằng bông trên sàn đá, lại mở cánh cửa màn và nhìn vào đấy. Phượng thấy
một tấm chăn màu xanh nhăn nhúm sô vào một góc. Cái gối trắng thêu cành hoa và
con chim lõm xuống vì vết đầu ở giữa. Nhưng không có ai cả. Phượng quay lại
nhìn má bé Chi. Bà ấy có cặp mắt rất sâu cũng đang nhìn Phượng. Phượng hỏi:
- Chi đâu?
Bà ấy không đáp. Phượng chỉ nghe thấy
tiếng con mèo đang kêu rất nhỏ ở trên tủ sách mà lúc vào Phượng không thấy nó.
Lông nó đen tuyền và mắt thật là xanh. Bốn chân nó co lại. Nó thu mình gọn gàng
ở trên một quyển sách bìa dầy. Má bé Chi lại ôm lấy Phuợng, bà ấy nói rất trìu
mến:
- Má bế con đi tắm nhé. Tắm xong rồi
má thay áo mới cho con gái của má …
Phượng ôm lấy cổ bà, phụng phịu:
- Nhưng Chi đâu, Chi đâu rồi..?
Mặt bà ấy vụt trở nên ngơ ngác. Bà ấy
đẩy Phượng ra rồi ôm hai tay lên mặt. Phượng nghe thấy tiếng bà lẩm cẩm:
- Chi … Chi … Chi của má… Chi chết rồi
mà …
Rồi bà ấy khóc to lên. Hai đầu gối bà
quỳ xuống ở dưới chân giường. Cánh tay bà nhoài về phía gối. Những ngón thuôn
dài bấu lấy lần nệm trắng. Phượng sợ hãi đứng một mình trong tiếng khóc nức nở.
Những tia nắng cuối cùng lọt vào yếu ớt qua khe cửa. Căn buồng có không khí nặng
nề đến ớn lạnh. Trên mặt bàn, từng ống thuốc còn xếp ngổn ngang ở bên cạnh mấy
hộp sữa. Đôi giày đỏ của Chi còn gác ở bên cái giá gỗ dưới gầm bàn. Những cái
váy xanh đỏ, treo ở trong tủ áo, những con vật bằng bông nằm ngổn ngang trên
sàn đá trắng. Tất cả làm cho chả ai ngờ rằng Chi đã chết. Chi không có mặt ở
trong nhà này. Chi không mời Phượng. Phượng muốn khóc và đi ra cửa. Phượng muốn
gọi tên chị Giang, con Dung, con Hương. Phượng muốn trở về cái không khí hỗn loạn
của căn phòng lớn, có những đứa bạn thân ríu rít ở quanh các bà phước. Nơi ấy
Phượng thấy thân yêu hơn. Vì chỗ ấy chính là của Phượng, Phượng đã lớn lên ở
trong trại mồ côi. Phượng chạy vùng ra cửa.
Nhưng má Chi đã gọi Phượng lại. Mặt bà
ta còn ròng ròng nước mắt. Những giọt nước làm hoen ố cả hai má phơn phớt phấn
hồng. Bà ấy cười trong tiếng nấc:
- Không…con ở đây với má, má yêu con
như yêu Chi. Má không làm gì con cả.
Rồi bà ta bế Phượng ra phòng ngoài.
Hoàng hôn xuống tím ở mây ngoài cửa sổ. Tiếng chuông nhà thờ vọng lại từ rất
xa. Mấy vì sao mới mọc long lanh ướt trên nền trời. Phượng ôm lấy cổ bà. Vẽ dịu
dàng của bà làm Phượng yên tâm hơn. Bà nói:
- Má xin lỗi con. Ai lại khóc lóc trước
mặt con nhu thế. Nhưng con làm má nhớ Chi. Chi cũng ngoan như con. Chi cũng dễ
bảo như con. Tiếc là Chi chết rồi nên không đùa được với con. Nếu có cả hai đứa
thì vui biết mấy. Má sẽ đánh đàn, còn các con thì hát. Rồi chúng mình xem nến
cháy ở trên cây Noël. Đến khuya thì đi ăn bánh. Má làm cho các con một cái bánh
thật to. Cái bánh có con chim ngậm cành hoa bay ở trên nóc nhà thờ. Chắc cả Chi
và con cùng thích.
Phượng nhắc bà ta:
- Nhưng Chi chết rồi.
Bà ấy cười rúc rích:
- Ừ nhỉ! Chi chết rồi. Chi chết ở
trong lòng má. Má với Chi ngủ suốt một đêm. Tay nó cũng ôm cổ má như thế này.
Nó muốn ôm thế mãi, không buông ra, không bao giờ buông ra cả. Trước khi ngủ nó
gọi má. Rồi nó cười. Má hôn lên hai con mắt li bì của nó. Má gọi tên Chi. Má kể
chuyện cho Chi nghe trong khi nó ngủ. Rồi má khóc ở trên mặt nó.
Phượng hỏi:
- Lúc ấy nó chết chưa?
- Không, không, nó không chết. Nó
không bao giờ chết cả. Má bảo nó tìm lối mà đi. Có các thiên thần đang gọi nó.
Má nghe thấy tiếng nhạc ở trên đình màn.
- Thật không hở bà?
- Không, làm gì có thật. Má nghĩ rằng
Chi còn ngủ với má. Nó còn ôm cổ má. Má còn khóc ở trên mặt Chi. Hai mẹ con vẫn
còn ngủ với nnhau.
- Cháu không hiểu gì cả.
- Má cũng không hiểu gì cả. Má nằm mơ
thấy Chi đi với ba ở trong vườn có hoa trắng. Hai bố con vẫy má. Lúc ấy má đứng
ở cửa sổ. Má gọi tên ba, tên Chi.
- Rồi …
- Rồi hai người dẫn nhau đi lên đỉnh đồi.
- Đây có đồi hở bà?
- Có chứ. Đồi ở ngoài cửa sổ. Chi đuổi
theo những con bướm. Con bé không nghe má gọi. Má đe rằng nó về má sẽ phát yêu
vào mông nó.
Phượng nhắc lại:
- Nhưng nó chết rối.
Bà ta lại cười:
- Ừ nhỉ, má quên. Nó chết rồi. Nó chết
thật rồi. Chính má đưa nó đến nghĩa trang. Nhưng buổi tối nó về cười ở trên
đình màn, Má cũng cười vói nó.
- Bà không sợ hay sao?
Mắt bà ta long lên:
- Sao mà sợ? Tại sao lại sợ kia chứ?
…Má với Chi vẫn hay cười ở trong vườn như thế.
- Nhưng mà Chi chết rồi? …
- Ừ nhỉ, chết rồi thì làm sao cười được.
- Chắc là bà nằm mơ đấy.
- Đúng vậy, má hay nằm mơ như thế. Tội
nghiệp con gái tôi.
Phượng nắm lấy tay bà:
- Thôi bà đừng nói nữa, cháu sợ lắm.
Cháu đi về đây.
- Ấy chết, đừng về con ơi. Con ở đây với
má. Má yêu con. Má không rời con.
- Thật không, thưa bà?
- Thật đấy, má không nói dối con đâu.
Má sẽ thắp đèn cho con xem, má sẽ đánh đàn rồi con hát. Bài Au clair de la lune
này, bài La vie en rose này, bài Frère Jacques này…
- Những bài ấy cháu cũng biết.
- Vậy thì hay lắm. Chúng mình sẽ hát
cho nhau nghe. Bây giờ con đi tắm đã.
Hai người dẫn nhau đi qua một cái sân
nhỏ. Con ngựa gỗ cũ của Chi gác ở trên nắp bể nước. Mấy khung đèn ngôi sao rách
tơi tả treo ở đằng sau những cái móc xích. Phượng trông thấy một u già
đang lau đĩa ở cửa bếp. Già ấy ngồi tựa lưng vào tấm cánh cửa. Hai bàn tay gầy
guộc xoay chầm chậm vào lòng đĩa. Phượng nhìn già đăm đăm. Khuôn mặt của già cằn
cõi một cách đáng sợ. Đôi mắt giương lên lờ đờ. Hai bên má rúm ró lại
thành từng nếp nhăn. Già ấy nhìn Phượng không chớp. Má Chi nói:
- Già đi tắm em Phượng cho tôi. Hôm
nay em cầu kinh với chúng mình.
Già ấy bế Phượng vào bồn nước. Trong đời
Phượng, chưa lần nào Phượng được ai tắm cho mình. Khi trở lên, Phượng được mặc
một cái quần lụa trắng và một cái áo ngủ màu xanh. Toàn thân Phượng có một cảm
giác mát rười rượi. Má Chi chải đầu cho Phượng ở tủ gương. Bà ấy bảo Phương gọi
mình là má. Nhưng Phượng ngượng nghịu vì chưa bao giờ nó biết gọi như thế. Má
Chi trang điểm cho Phượng rất lâu. Phượng tò mò nhìn những cái cặp, cái nơ, xếp
ngổn ngang bên cạnh hộp phấn và nước hoa. Bàn tay mềm mại của bà lướt trên mái
tóc nó.
Có tiềng u già ngoài cửa phòng:
- Trời ơi! Tôi cứ tưởng cô Chi, thưa
bà!
Má Chi bế phượng lên và hôn như mưa
lên mặt nó. Tiếng nói của bà đầy vẻ sung sướng.
- Con của má, con của má.
Nhưng Phượng thì thấy buồn buồn. Phượng
nghĩ đến cái không khí ồn ào trong viện mồ côi. Bây giờ chắc cả bọn đang xếp
hang ở sân đằng trước. Chị Giang chắc đang mỏi mồm hét bọn con Dung rất hay đầu
têu nói chuyện trong hàng ngũ; Buổi chiều hôm nay chắc sẽ không phải nghe giảng
đạo ngoài giảng đường. Cả bọn sẽ phải đi dự lễ chầu ở nhà thờ lớn. Phượng buồn
buồn nhớ đến bầu không khí quen thuộc trong viện, mặc dầu những ngày ở trong
đó, ai cũng ước ao được đi một mình dưới lùm cây trong thành phố, được dí mũi
vào tủ kính những cửa hiệu sang trọng. Phượng không biết trong một cái tủ to lớn
như thế thì người ta bày những gì cho hết được.
Nhưng Phượng không được đi chơi như thế
vì má bé Chi chỉ muốn Phượng ngồi ở trong căn phòng bây giờ đã thắp đèn sáng. U
già đã bầy lên bàn những hộp bánh và kẹo. Cây Noël sáng rực lên vì những ngọn nến
và đèn. Nhưng Phượng không thích. Phượng nghĩ rằng giá có bé Chi thì vui hơn.
Nhưng nếu Chi còn sống thì chưa chắc bà ta mời đến mình. Ý nghĩ ấy làm Phượng
thấy tủi thân. Phượng muốn về với bọn con Dung, con Hương. Chúng nó gần Phượng
hơn. Chúng nó lại thích chơi búp bê của Phượng. Lúc chiều Phượng ôm búp bê đi
theo chị Giang ra cổng, chúng nó cứ sờ mãi lên tóc và gạ Phượng cho mượn một
hôm. Phượng cho rằng chúng nó đòi hỏi một điều quá đáng. Phượng dấu búp bê ra
sau lưng, mặt vênh váo. Bây giờ nghĩ lại, Phượng thấy mình thật là ích kỷ, đáng
ghét. Phượng nghĩ đến những buổi tối mùa đông có gió lùa qua khe cửa, bốn đứa nằm
ôm nhau trong cái băng giá của sàn đá hoa tẩm vào khung giường sắt. Người Phượng
run lẩy bẩy. Con Dung choàng bàn tay bé nhỏ của nó vào lưng Phượng rủ rỉ:
- Phượng có rét không?
Phượng đánh hai hàm răng vào nhau kêu
lập cập:
- Rét …
Dung nhích người lại để nhường thêm
cho Phượng một ít chăn. Cử chỉ của nó thật đáng yêu. Nó biết nghĩ đến Phượng.
Phượng lại nhớ cả những buổi chiều mưa
có bong bóng nổi trên mặt cỏ. Phượng và Hương lẻn ra hiên sau thả thuyền trong
lòng cống. Hai đứa đi men theo tường gạch để xem con thuyền chấp chới giữa dòng
nước đỏ. Một lần Phượng trượt chân ngã ở trên mặt rêu. Cái áo sợi của Phượng ướt
hết cả một mảnh sau. Hương không ngần ngại đội mưa xuống bếp nhờ chị Thu hơ hộ.
Nếu không có Hương thì Phượng cũng không biết làm thế nào cho khô được. Chúng
nó đối với Phượng thật là tốt. Thế mà Phượng lại ích kỷ bỏ đi một mình. Đáng lẽ
Phượng phải ở nhà để nắm tay chúng nó đi xuống giảng đường nghe cha xứ nói chuyện
về lễ Giáng Sinh, rồi tất cả sẽ hát với nhau những bài bà Hạnh đã dạy. Đến tối,
tất cả cùng ngồi quanh búp bê đọc kinh chúc mừng Maria.
Nhưng thật ra thì Phượng đã ngồi đây rồi,
trong căn nhà vắng lặng, có má bé Chi đau khổ như mất trí, có u già lặng lẽ ra
vào như một cái bóng và có linh hồn bé Chi lẩn quất ở tất cả mọi đồ đạc trong
các gian phòng.
Nhưng Phượng không còn nghĩ gì nữa và
bây giờ có tiếng dương cầm thánh thót ở góc phòng. Má bé Chi mắt sáng long lanh
nhìn về phía Phượng. Bà ấy đánh đàn bài ‘‘Au clair de la lune’’. Miệng bà vừa
cười vừa nói:
- Chi hát đi con.
Phượng lắc đầu:
- Tên cháu là Phượng.
Bà ta nhìn Phượng chằm chằm. Phượng sợ
hãi cúi xuống tránh tia mắt của bà. Còn u già thì khóc thút thít ở bàn bánh. Có
tiếng già ấy nói mếu máo :
- Cháu làm bánh kem cho cô ăn mà cô
không còn nữa.
Má Chi bỏ cây đàn đi chầm chậm vào
phòng bên trái. Một lát có tiếng bà ta nức nở ở sau cánh cửa. Phượng ngơ ngác
nhìn vào trong ấy, còn u già thì khóc to hơn. U đánh rơi bình nước từ trên tay
xuống sàn đá hoa trắng. Tiếng vỡ tan tành làm chối óc Phượng. Giòng nước trà đỏ
thắm chảy loang lổ từ phía bàn lại chỗ Phưọmg ngồi. Phượng bật ra tiếng khóc.
Phượng cảm thấy nỗi bơ vơ của mình. Bây giờ thì nó biết chỗ của nó không phải
là ở đây. Lòng ham muốn của nó thật điên rồ. Hình ảnh cuộc vui mà Phượng mơ ước
lúc đi với chị Giang thoáng qua óc Phượng rất mơ hồ. Những cái ấy không phải để
dành cho những trẻ mồ côi như Phượng. Phượng thấy cần phải về với những bọn con
Hương, con Dung để được bá cổ chúng nó, cười với chúng nó, vì chúng nó mới là của
Phượng.
Phượng bỏ u già đứng ôm mặt một mình
trước đĩa bánh có mầu kem xanh, đỏ. Nó đi qua cái sân nhỏ và đến giường u già để
thay lại bộ quần áo hồi chiều. Tiêng khóc của má bé Chi vẫn vọng qua cửa sổ. Điều
ấy càng làm cho Phượng tăng thêm ý muốn trở về của mình.
Có tiếng chó sủa ngoài hàng rào. Phượng
chạy ra ngoài ấy.
Người đi lễ ở ngoại ô đang đổ về phía
nhà thờ. Không khí trong và mát lạnh. Nền trời tím đen và lưa thưa sao. Phượng
nghĩ đến những màn ca nhạc sẽ cử hành sau buổi lễ mi sa ở trong viện. Phượng muốn
được bá cổ bọn con Hương, ngồi nghe các chị lớp trên đồng ca các bản nhạc ở
giáo đường.
Ý nghĩ ấy khiến Phượng mở cổng ra đường.
Căn nhà rộng rãi của bé Chi nằm trong bóng cây. Phượng thấy sợ hãi, Phượng
không thể ngờ rằng mình đã ở được một buổi chiều tối trong đó. Phượng bước mau
hơn. Bóng tối không làm Phượng sợ bằng đôi mắt của má bé Chi. Hình ảnh căn buồng
có cái không khí rờn rợn như còn hơi hướng của người chết làm Phượng rùng mình.
Phượng thốt nhớ đến con búp bê của nó. Con búp bế mà gia đình Chi đã tặng Phượng
làm món quà Giáng Sinh. Chắc bây giờ nó vẫn đứng cười một mình ở mặt bàn trong
buồng khách.
Nhưng Phượng không quay trở lại, không
tiếc. Phượng nghĩ đến những trò chơi nhỏ mọn hàng ngày với bọn Hương và thấy
còn quen thuộc hơn.
Có tiếng u già gọi tên Phượng ở sau
lùm cây và cái bóng trắng của má Chi chạy trên nền đá trắng.
Nhưng Phượng đã theo đoàn người đi lễ
và hỏi thăm đường về cô nhi viện.
Tháng Chín, Mưa - Khê Kinh Kha
Tháng Chín , Mưa
tháng 9, mưa,
thưa em
gío lên đầy trong tim
ngồi bên song cửa lạnh
nhớ tháng ngày hoa niên
tháng 9, mưa, em
ơi
bàn tay thèm hơi ấm
tóc mền như lúa bay
cùng nụ hôn âu yếm
tháng 9, mưa, mưa
rơi
tô son nhạt lên môi
tô tình nồng chới với
tô mộng đời xa xôi
tháng 9, mưa, thật
rồi
em ơi, ôi tình ơi
tháng 9, mưa, lâu rồi
mưa rơi, ướt lòng tôi
tháng 9, mưa, ngậm
ngùi
mùa thu, lả tả rơi
nhặt từng chiếc lá ướt
tình ơi, tình riêng tôi
tháng 9, mưa, xa
nhau
lòng buồn như vực sâu
thầm gọi tên người mãi
tháng 9, tình, về đâu ?
Quán 'Lá Thu" - Nguyễn Phan Hách
Quán "Lá Thu"
Cũng lâu mới có dịp trở lại Hà Nội. Cuối thu. Ban đêm đi dọc hàng cây sữa, thấy
mùi hương sực nức. Cuối phố này tôi có một địa chỉ quen...
Mấy chục năm xưa, tôi là chú bé nhà quê ra thành phố vừa học vừa kiếm việc làm.
Một buổi tối gió bấc đầu mùa, tôi co ro đi lang thang trong mùi hoa sữa. Những
hàng ngô nướng đêm sáng lập loè. Gió vi vút mùi cà phê ở đâu toả ra ngoài ngào
ngạt. Ngẩng lên, thấy tấm biển "Lá thu cà phê" rọi đèn mờ ấm cúng. Nhẩm
tính trong túi còn đủ 5 hào, tôi quyết định bước vào.
Quán nhỏ. Bàn ghế bằng trúc vàng sơ sài. Nhưng giật mình thấy trên vách treo mấy
bức sơn dầu của một hoạ sĩ tài hoa tôi hằng ngưỡng mộ mà chưa biết mặt.
- Bác sao có những thứ này - Tôi hỏi chủ quán.
- Cậu cũng thích tranh à - Chủ quán, một người vẻ nho nhã, tóc hoa râm, mỉm cười.
Tôi ngồi vừa ngắm tranh, vừa rung đùi tận hưởng từng ngụm cà phê thơm ngon. Phải
công nhận cà phê của ông tuyệt thật. Vào thời kỳ đó, hình như cả thành phố chỉ
có vài quán cà phê thì phải.
Đang lim dim mơ màng để khói cà phê phả mờ trên mặt, thì chợt thấy một người vừa
bước vào. Chủ quán và ông khẽ gật đầu chào nhau, vẻ quen thân từ lâu. Ông người
dỏng cao, gương mặt buồn đẹp, xanh xao. Ngón tay thanh tú trắng muốt nâng ly cà
phê, mắt trầm ngâm ông nhìn những chiếc lá vàng bị gió bứt ào ào rơi ngoài cửa
sổ. Uống xong, đứng dậy, lặng lẽ đi ra. Không thấy trả tiền.
Chủ quán nháy tôi.
- Cậu biết ai đấy không? Tác giả của những bức tranh kia đấy đấy!
Trời, tôi thảng thốt. Không ngờ vừa gặp được thần tượng của mình. Bất giác nhìn
lên, một giây khắc như cảm nhận được tất cả sự huyền bí diệu kỳ của những bức
tranh trên vách, mà lúc khác chắc không thể biết được.
- Những bức tranh tuyệt đẹp này - Chủ quán nói - là tặng phẩm của ông ta cho
tôi, để trả ơn những tách cà phê thơm ngon mà tôi đã đãi ông suốt bao năm
qua...
Lòng tôi rưng rưng. Vụt nhớ giai thoại Van Gốc vẽ lên gỗ mặt bàn quán trọ để trả
nợ.
- Hay có thể nói ngược lại - Giọng chủ quán thầm thì - Những tách cà phê thơm
ngon trong những giây phút gió bấc đầu mùa như đêm nay, cùng sự cung kính đối với
nghệ thuật của tôi, là để trả ơn những bức tranh tuyệt tác...
Từ hôm ấy, tôi thường trở lại quán cà phê Lá thu mỗi khi trong túi tích cóp đủ
5 hào. Và tôi thường được ngắm nhìn người hoạ sĩ tài hoa trong khoảnh khắc ngắn
ngủi của một ly cà phê bốc khói.
Thoắt cái, mà những ngày ấy đã trở thành dĩ vãng xa xôi...
... Tôi hồi hộp dừng lại nơi cây sữa cuối cùng của dãy phố. Quán cà phê Lá Thu
nhỏ bé, mái ngói rêu mốc đầy lá vàng ngày xưa không còn. Thay vào đấy là một
quán bốn tầng sáng choang gương kính và ánh điện màu. Nhưng được cái là vẫn
mang tên "Lá Thu cà phê".
Tôi bước vào. Một mình một bàn. Một cô tiếp viên có đôi chân trần trắng muốt
mũm mĩm mang chai rượu đắt tiền đến. Tôi hỏi tên người chủ quán cà phê ngày
xưa. Cô dẫn tôi lên lầu. Một căn phòng nội thất phương Đông cổ. Cô dẫn tôi lên
lầu. Một ông già râu tóc bạc đang ngồi uống trà bên giò lan tím cạnh song cửa.
Đôi mắt sau tròng kính chớp chớp, ông nhận ra tôi, vồ vập thân tình.
- Những bức tranh ngày xưa còn không, thưa ông - Tôi nhìn suốt lượt bức tường.
- Không... Ông lắc đầu.
- Chúng đâu rồi?
- Chúng đã biến thành toà nhà nhiều gương kính này.
- Ông có nghĩ thế là với sự biến đổi, ông đã gặp thời, gặp vận, may mắn không?
- Không hẳn thế.
Ông già đưa tôi chén trà ngâu thơm ngát. Tôi bâng khuâng chạnh nhớ mùi cà phê
trong cái quán nghèo thuở nào.
- Người hoạ sĩ tài hoa xưa còn đến đây?
- Không. Ông ấy đã mất trước khi được thấy tranh của mình bán được nhiều tiền...
Đêm ấy uống hết nửa chai rượu do cô tiếp viên xinh đẹp nâng tận môi, tôi loạng
choạng đứng dậy ra về.
Ông chủ quán tiễn ra cửa, cầm tay hỏi:
- Tôi nghĩ là cậu buồn, và có giận tôi không?
Tôi mơ hồ lắc đầu:
- Không hẳn thế!.
Thursday, July 30, 2026
Tha Hương - Vườn Thơ Mới Xướng Họa
THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 193_VƯỜN THƠ MỚI
Xướng:
Tha
hương
Nước non thăm thẳm biệt trùng dương
Giọt nắng tha phương trọn nỗi buồn
Nhớ cảnh chiều tà mờ ngõ trúc
Thương vành trăng khuyết lạnh đêm sương
Ra đi cách biệt càng nhung nhớ
Ngoảnh lại xa xăm mãi tiếc thương
Lặng đứng trên đồi thông vắng vẽ
Ngậm ngùi mắt lệ vọng quê hương
Hàn
Thiên Lương
Họa 1:
Bồi
hồi
Cách trở nghìn trùng mấy đại dương
Nhìn dòng sông tẻ ngắm sao buồn
Thương
về quê cũ đành cam phận
Trông ngóng đêm dài với gió sương
Ly
biệt xóm làng càng quyến luyến
Tháng năm xa cách vẫn yêu thương
Đông
về tuyết phủ càng hiu quạnh
Ngõ vắng bồi hồi nhớ cố hương
PTL
Họa
2:
Tha
hương
Quê cũ xa xăm cách đại dương
Tình luôn thấm đẫm những u buồn.
Mưa sầu hiên vắng ươm chăn chiếu,
Trăng lạnh đêm dài nhuộm gió sương.
Nào muốn đắm chìm muôn nỗi nhớ,
Cũng đành héo hắt vạn niềm thương.
Cành nam mòn mỏi thân chim Việt,
Mắt lệ vương nhòa, vọng cố hương.
Minh
Tâm
Họa
3:
Buồn
trong kỷ niệm
Tuổi
đời vào độ bóng tà dương
Hành giả Tiêu Tương cảm thấy buồn
Quá khứ thu người trong khóm trúc
Đứng nhìn trời đất đẫm hơi sương
Hôm nay tiếc nuối niềm nhung nhớ
Kỷ niệm dâng tràn với luyến thương
Bất động gục đầu nơi vắng vẻ
Mơ
màng tơ tưởng một mùi hương
THT
Họa
4:
Vọng
Cố Hương
Xa cách nghìn trùng bởi đại dương
Sầu vương én nhạn cánh chim buồn
Bao
năm biền biệt dài vô tận
Viễn
khách dặm trường lạnh tuyết sương
Thắm
thoát thời gian như giấc mộng
Tháng
ngày sâu lắng cũng yêu thương
Xứ
người cảnh đẹp như tranh vẽ
Lưu luyến quê nhà vọng cố hương
Hương
Lệ Oanh VA
July,
21. 2026
Họa 5:
Xa
quê
Quê nhà cách biệt Thái Bình Dương
Ngõ trúc quanh co tím ngắt buồn
Nhớ mảnh trăng gầy vươn mái tóc
Thương chiều nhạt nắng vạc kêu sương
Tàn đêm nặng trĩu màu ly biệt
Tỉnh giấc đong đầy mộng luyến thương
Lặng ngắm hoàng hôn rơi biển vắng
Xa rồi khói bếp tỏa mùi hương!!!
Nguyễn
Cang
Họa
6:
Tình
chung
Cách
trở từ khi vượt viễn dương
Ngày trông biển vắng gợi đêm buồn
Đường xưa liễu rủ ôm làn trúc
Phố cổ trăng mờ vỗ dáng sương
Bạn ở thầm mong hằn nỗi nhớ
Mình đi vọng ngóng đẫm niềm thương
Chung trời dẫu khác muôn vàn cảnh
Dạ khắc tình chung giữ sắc hương.
Tâm
Quã
Họa
7:
Ly
hương
Đường
đời vạn dặm cách trùng dương,
Gió lạnh trời tây nhuộm sắc buồn.
Cánh nhạn xa bầy mờ lối trúc,
Giọt sầu viễn xứ đẫm làn sương.
Mơ màng chốn cũ niềm nhung nhớ,
Khắc khoải canh dài nỗi xót thương.
Gửi chút lòng thành theo bóng nguyệt,
Hồn nương theo gió hướng quê hương.
AI

