Friday, September 25, 2026

Từ Độ Em Biết Buồn - Thuyên Huy

 Từ Độ Em Biết Buồn




Hồn Trinh Nữ - Không Tên

 

Hồn Trinh Nữ





…Hồn trinh còn ở trần gian/ Nhập vào bướm trắng mà sang bên này.

Thuở ấy, nhà nọ từng có hai kiếp đàn bà, cả hai kiếp đến lượt mình, đều chôn chân thờ chồng đi lính.

Hai người đàn ông lần lượt ra đi, nhưng người về thì chỉ một. Người chiến binh dũng cảm ấy về làng trong tiếng tiền hô hậu ủng, xênh xang trong mũ áo vua ban và làm vẻ vang cho dòng họ. Nhưng khi đón chồng, người đàn bà thứ hai khóc thầm: “Cân đai, mũ áo, bổng lộc vua ban… tất cả đều đẹp nhưng mái đầu ta và ông ấy tự lúc nào đã ngả sang màu sương!…”

Vậy nên, kiếp đàn bà thứ ba vừa lọt lòng và nhoe nhoe khóc, thì cả bà, cả bố và mẹ cô bé chắp tay: “Lạy Phật! Lại thêm một cái tội nữa. Nhưng lần này, chúng ta sẽ không gả nó cho bất kỳ một người lính nào đâu nhé. Hai đời, chúng ta đã đợi chờ đến bạc tóc, thế còn chưa đủ sao?”.

Cô bé lớn lên mơn mởn như nụ hồng. Từ nhỏ đến lớn cả nhà không cho cô được nói chuyện với bất cứ một người lính nào để cô giữ lời nguyền thuở trước.

Một buổi sáng, xa xa vẳng tới tiếng trống ngũ liên. Cô gái bước ra vườn, đến bên bờ giậu đẫm sương. Chàng trai nhà bên đang gấp gáp khăn gói lên đường. Vốn là đôi trẻ vẫn cũng nhau chơi trò “đố lá”, họ cùng nhìn nhau rồi cùng cúi mặt, lớp lông măng ngăm ngăm trên mép chàng trai khẽ rung. Tiếng trống thúc dồn. Chàng trai đánh bạo:

- Thế… có chờ… không?

- Sao không hỏi xem bông tầm xuân có nở trước khi mặt trời lên không? - Cô gái cắn môi, nước mắt lăn tròn trên má.

Và thế là mặt chàng trai đỏ đến tận chân tóc. Lâng lâng như vừa được chắp cánh, chàng bấm bụng: “Ta có thể ra đi, dù “da ngựa bọc thây”.

Cô gái trở vào, mắt ngấn nước và thẫn thờ như người ốm, trong tiếng trống ngũ liên xa xa thúc dồn. Vậy là cả nhà biết. Họ trách lẫn nhau, rồi hai người đàn bà ôm nhau khóc. Bà cô gái thắp ba nén hương khấn người chồng quá cố: “Ông ơi! Có lẽ cháu ông đúng, bởi tôi nghiệm rằng, nếu bây giờ ông sống dậy, lại ra trận, thì tôi vẫn chờ ông. Ôi! Cái kiếp đàn bà!…”. Mẹ cô gái nức nở: “Chỉ tại mẹ thôi, chính mẹ đã truyền cho con dòng máu “đợi chờ”! Con làm sao khác được!”. Ông bố cố gạt đi: “Thì cũng phải có một đứa con gái nào đó chờ thằng bé ấy chứ, cũng như ngày xưa, trong căn nhà này bà chờ tôi vậy! Bây giờ, chỉ còn biết mong sao thằng bé ấy trở về!”.

Nhưng thằng bé không sớm trở về. Chàng tân binh hăng hái giết giặc trong vài trận rồi ngôi sao chiếu mệnh mỉm cười với chàng ta, đấng quân vương vốn giỏi chọn người, vừa nhìn thấy chàng trai đã nhận ra ngay rằng đây là một tên lính hầu trung thành vô hạn. Thế là, ngài cho rút chàng trai về, ngày đêm cận kề bên ngài, một bước cũng không được rời xa. Khi còn giặc giã, vua cần chàng đưa vồng ngực vạm vỡ ra che làn đạn giặc, còn khi hết giặc, vua càng cần chàng hơn, để giữ gìn quyền uy tối hậu. Chàng là lưỡi kiếm “trừng phạt” tuyệt hảo, sẵn sàng giáng xuống đầu bất kỳ ai, theo lệnh đấng quân vương.

Đã mười bảy năm rồi, cô gái chờ người lính ấy. Từ một thiếu nữ như nụ hoa chớm hé, nàng đã trở thành một cô gái quá lứa nhỡ thì. Bà nàng, rồi cha mẹ nàng theo nhau lần lượt trở về cõi Phật. Trước khi nhắm mắt, họ đều gọi con gái đến bên giường dặn dò: “Mai ngày nếu sinh con gái…”. Cô gái lặng lẽ khóc khi bà và bố mẹ mất, lặng lẽ khóc khi người yêu của chúng bạn trở về hay tử trận và cuối cùng, lặng lẽ để tang người yêu năm xưa, vì đã mười mấy năm rồi, chàng biệt vô âm tín.

Thế rồi một buổi chiều có tiếng vó ngựa ghé sát bên thềm.

Bước xuống từ yên ngựa là một người đàn ông phong trần và nhìn mọi vật từ trên xuống qua ánh mắt lạnh lẽo như thép. Ngang lưng anh ta thắt chiếc đai vàng vua ban. Đó là phần thưởng sau khi anh ta lập được công đâm vào lưng người bạn cũ. Người bạn này đã cả gan ngăn vua khi ngài hạ lệnh chém một danh tướng. Ông này chỉ vì mắt kém mà trót dâng vua một quả táo bị sâu ăn. Sau bữa tiệc ngập máu ấy, vua đã cất nhắc anh ta và cho phép anh ta về thăm nhà sau mười mấy năm xa cách. Mười mấy năm qua, người lính đó vẫn không quên người yêu xưa. Giữa cuộc đời bụi bậm, giữa triều đình đầy mưu kế sâu độc, cô trinh nữ nhà lành cắn môi cố nuốt giọt nước mắt chia ly vẫn không mờ nhạt mà thật lạ kỳ, lại càng như vầng trăng xa thẳm gọi anh về.

Người con gái lỡ thì bước tới vài bước rồi sững lại. Nàng hoang mang tự hỏi, không biết đó có phải là chàng trai hàng xóm năm xưa rụt rè mãi mới dám hỏi: “Thế… có chờ… không?”. Nhưng khi người đàn ông ấy gọi tên nàng bằng giọng nói thân thuộc, nàng khóc, tiếng khóc nghe như ngàn mảnh thủy tinh rơi, vì nàng phải chờ đợi quá lâu, và người nàng chờ nay đã biến thành người đàn ông có cái nhìn lạnh lẽo như thép.

Làng xóm đua nhau chúc mừng nàng. Các ông làm nghề “gõ đầu trẻ” đem mối tình chung thủy của hai người rao giảng trong các lớp học. Thế là từ đấy có thêm nhiều cậu bé chỉ mơ về chiến trận. Mơ về một mai mình được hầu cận đấng quân vương. Còn những cô bé thì chỉ ao ước sao mai này lớn, được chờ người yêu đến khi lỡ thì!

Không chậm trễ gì, người ta làm lễ cưới cho đôi tình nhân chung thủy. Vua ban áo tím cho nàng trinh nữ lỡ thì và đám cưới trọng thể hết chỗ nói. Hoàng hôn xuống, cạnh chén rượu bên mâm cỗ, quan khách tròn xoe mắt nghe chú rể kể chuyện. Mười mấy năm hầu cận vua, anh ta đã quen tính kín miệng. Và chỉ bốc lên khi rượu đã ngà ngà. Nhưng anh không biết nói chuyện gì khác, ngoài chuyện chém giết. Anh kể về những bữa tiệc đầy sơn hào hải vị ngập máu trong thời bình và say sưa mô tả các kiểu chết của nhiều người khác nhau dưới tay kiếm của anh. Cuối cùng, vì sao vua đã ban cho anh ta chiếc đai vàng.

Người trinh nữ nghe chuyện của chồng mới cưới và nàng đứng không vững nữa. Lảo đảo, nàng lùi dần về buồng. Nép mình trên giường trong bóng tối, nàng như ngửi thấy mùi tanh lợm của máu, và trên mặt nàng như có làn môi lạnh toát của những oan hồn lướt qua. Nàng vùng dậy, run lật bật, vội vàng châm lửa lên tất cả các ngọn đèn dầu lạc mà nàng tìm được trong buồng. Ánh đèn chập chờn đỏ quạch càng làm nàng thêm sợ hãi.

Vừa lúc đó, có tiếng kẹt cửa. Thân hình to lớn của người chồng mới cưới chếnh choáng tiến vào. Theo thói quen, anh ta vẫn mang theo thanh kiếm. Nàng nhìn lên, và thấy anh không vào một mình. Theo liền sau anh là một người đàn bà trong veo, tóc xoã - chỉ có bộ tóc là còn màu sắc - mặc quần áo đại tang, đang cầm một tấm áo đẫm máu giơ lên và cất giọng đều đều một cách kỳ lạ, lặp đi lặp lại như không bao giờ dứt:

-Hãy trả chồng cho ta! Kẻ giết bạn kia, trước khi mi bước vào giường cưới! Hãy trả cha cho năm đứa con thơ dại của ta! Hãy trả…

Vậy mà chồng nàng không nghe thấy gì cả, anh dựng thanh kiếm vào vách, rồi xáp tới đặt tay lên ngực nàng. Ngay lúc đó, nàng nhìn thấy máu từ tấm áo trong tay người đàn bà xoã tóc rỏ xuống hai bàn tay người chồng mới cưới. Nàng ôm mặt rú lên kinh hãi:

- Ôi kìa, máu! Máu nhiều quá! Máu đỏ cả hai bàn tay!

Chồng nàng giật mình nhìn lại. Anh vẫn không thấy gì cả, ngoài những vết sẹo ngang dọc nơi bàn tay mình. Anh dỗ dành:

- Ồ! Can đảm lên, cô em ủy mị! Chẳng qua là vì em quá hồi hộp đó thôi! Đã bao ngày ta chờ phút giây này. Nào, hãy vui lên.

Anh nói vậy, nhưng miệng không cười và mắt vẫn lạnh như thép, cũng như từ ngày về đến giờ, chưa một ai nhìn thấy anh cười. Người trinh nữ bỏ hai bàn tay che mặt. Nàng không nhìn thấy người đàn bà tóc xoã nữa, nhưng trên khuôn mặt đang gần xuống mặt nàng, nàng chỉ thấy khóe miệng mím chặt và cái nhìn lạnh lẽo như cái nhìn của Thần Chết. Lại sợ hãi cuống quít, nàng van vỉ:

-Hãy mỉm cười đi anh! Em van đấy! Hãy cười lên để em thấy anh của ngày xưa. Bao năm chờ đợi, em đâu muốn anh buồn…

Người chồng cố hết sức để mỉm cười. Đã lâu lắm rồi anh không làm cử chỉ đó nên bây giờ anh không biết bắt đầu một nụ cười như thế nào. Khó nhọc lắm, anh mới nhớ ra rằng, khi cười người ta phải để lộ ít nhất là một hàm răng. Anh nhếch môi, để lộ hẳn hai hàm răng chắc khỏe.

Nhưng anh quên rằng, khi người ta cười, chính đôi mắt cười trước, cái miệng cười sau, thậm chí chỉ cười bằng mắt cũng đủ. Mà đôi mắt muốn cười, trước hết tâm hồn phải cười đã, cho nên cố gắng để mỉm cười, trông anh lại thêm vẻ dữ dằn đe dọa của một con sói. Ngay lập tức, vợ anh co rúm lại và quay mặt vào trong, thổn thức cố kìm tiếng khóc.

Người chồng buồn bã soi trong tấm gương cười, ngắm kỹ mình, rồi tuyệt vọng:

- Thôi, thế là hết, cả một đời chờ đợi! Em chối từ ta, em ghê tởm ta ư?

Anh rũ xuống thành giường, rồi gầm lên như một con thú bị thương:

- Tại sao em chờ ta cả đời, để rồi chối từ ta? Tại sao em bắt ta phải cười! Còn đâu nữa chàng trai với lớp lông măng trên mép ngày xưa! Ta đã trở thành “người đàn ông không cười” của triều đình, từ khi bàn tay này nhúng vào máu bạn bè, bên những bàn tiệc đầy sơn hào hải vị. Đấng quân vương sai ta giết hết những kẻ bất tuân thượng mệnh bằng các chiếc đũa. Trong mọi chiếc đũa nạm vàng nơi bàn tiệc đều có một lưỡi dao tinh tế giấu ở trong…

Anh nức nở, đôi vai rung lên dữ dội:

- Ôi! Bạn ta! Người bạn đã cùng ta tựa vào lưng nhau tìm hơi ấm chống đỡ cơn gió lạnh chiến hào. Thôi, thế là hết và đây là đêm tân hôn vĩnh biệt, phần thưởng cuối cùng cho người lính quá nửa đời phụng sự đấng quân vương.

Tiếng nức nở dữ dội của người chồng mới cưới rung chuyển cả căn phòng. Rồi xách kiếm trên tay, anh bỏ đi biệt xứ. Có người nói rằng anh đã đến tìm vua, định bắt vua phải đền tội đã biến anh thành người đàn ông không biết cười. Nhưng vua đã kịp giết chết anh trước, bằng chính một trong những chiếc đũa nạm vàng nơi bàn tiệc. Cũng có người bảo rằng anh lại lao vào những cuộc chém giết mới không ghê tay cho quên ngày tháng.

Chỉ còn lại nơi quê nhà người trinh nữ lỡ thì. Nàng sống âm thầm như cái bóng, mà không một lần nghĩ đến chuyện tự giải thoát bằng cái chết. Nhưng cái tật hễ có tiếng chân hay tiếng động mạnh là đưa tay lên ôm mặt thì nàng không sao bỏ được.

Một hôm, người xã trưởng được mời đến để làm giấy chứng tử cho nàng. Nàng chết mà hai tay che mặt, người khâm liệm nắn thế nào cũng không bỏ ra.

Vài ngày sau, trên mộ nàng rùm roà mọc một loài cây thấp lòa xòa mang hình tròn tim tím buồn man mác. Mỗi khi có chân bước qua hay va chạm mạnh, những chiếc lá lăn tăn lại giật mình khép lại, xuôi xuống như bàn tay ai che mặt.

Những loài hoa cỏ mọc đầy chung quanh lấy làm lạ lùng lắm về chuyện đó. Một hôm, chúng chặn chàng Gió lại:

- Này, anh Gió! Ở đây, không có ai già như anh và trẻ như anh. Vậy anh hãy nói cho chúng tôi biết vì sao loài cây mới đến kia, tầm thường đến vậy, lòa xòa bên vệ cỏ, khách bộ hành dễ dàng giẫm lên, có gì đặc biệt đâu mà phải gìn giữ, hơi một tí lại lấy tay che mặt, điệu đà làm vậy?

Từng trải như chàng Gió mà cũng không trả lời được. Thế là một đêm thanh tĩnh, dịu dàng, muôn hoa cỏ đang mơ màng trong giấc ngủ êm đềm, chàng Gió lướt tới bên loài cây tầm thường ấy, khẽ hỏi:

- Này cô em bé bỏng! Sao em hay che mặt thế? Ở đây có ai chọc ghẹo em sao? Em hay e thẹn lắm à? Nếu không, tại sao người ta lại gọi em là cây trinh nữ?

Đắn đo một chút, rồi loài cây ấy nhẹ nhàng đáp:

- Không phải thế đâu, mặc dù chết đi, em vẫn là trinh nữ. Em che mặt vì sợ. Ngày nay người ta càng tranh giành nhau dữ hơn, những bàn tiệc ngập máu vẫn còn nhiều. Vậy nên, mỗi va chạm, mỗi bước chân tạt qua đều làm em giật thót mình. Em sợ người ta sẽ gửi đến cho em đôi bàn tay đầy máu và khuôn mặt người yêu xưa chẳng biết cười.

Cây trinh nữ chợt co mình lại vì vừa nghe tiếng chân qua. Đó là bước chân sóng đôi của một đôi trai gái đang đi trong sương mù. Trước khi cẩn thận khép những mắt lá lại, cây trinh nữ cầu khẩn: “Ôi! Lạy Phật! Cầu cho đây không phải là bước chân của những người phải tiễn nhau về nơi ấy…”.

Không Tên

(Khuyết Danh)

 

 

 

 

Tự Tình - Vườn Thơ Mới Xướng Họa

THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 196_VƯỜN THƠ MỚI

 

 


 

 












Xướng:


Tự tình

Gió nhẹ se lòng khách lãng du
Cung hằng nguyệt quế phủ mây mù
Từ khi Thạch Hản ngăn dòng chảy
Lối rẽ Trường Sơn rợp lá thu
Nửa cuộc buồn đau rời cố quận
Cả đời đượm nhớ mãi lời ru
Tề Thiên cũng có nơi sinh nở
Há dễ quên Thầy chẳng nhớ U.

Tâm Quã

 

Họa 1:

 

Mơ Màng

Tâm thần một thuở bị ngao du
Giấc ngủ lim dim tựa mắt mù
Thấp thỏm trong mơ theo nước chảy
Lâng lâng với gió nhẹ đêm thu
Ngọt bùi ngày tháng nơi quê mẹ
Thánh thót bên thềm vọng tiếng ru
Ai óan âm thanh như nức nở

Chợt đầu chạm cột trán sưng u

 

THT


Họa 2:

 

Ngao du

Tâm hồn thanh thản bước ngao du
Lạc lỏng sương khuya trắng mịt mù
Nổi bật sắc màu nhìn sặc sỡ
Bâng khuâng lữ khách lạc rừng thu
Lâng lâng tiềm thức còn lưu luyến
Trầm bổng âm thanh tiếng Mẹ ru
Hồi tưởng cội nguồn thời cố quốc
Trưa hè trốn nắng rặng mù u


Hương Lệ Oanh VA

 

Họa 3:

 

Luân chuyển

Cuối hè nghĩ đến chuyện chu du
Sáng sớm sương rơi phủ mịt mù
Vàm cỏ lững lờ theo ngọn
gió

Núi Bà sừng sững cả ngàn thu

Bốn mùa luân chuyển theo ngày tháng

Xa cách quê nhà nhớ tiếng ru

Văng vẳng xa đưa bài Dạ cổ

Tâm tư khắc khoải tưởng lời U

 

PTL

Dạ cổ: dạ cổ hòai lang 夜鼓懷郎 (đêm nghe tiếng trống, nhớ chồng) của ông Sáu Lầu sáng tác năm 1919 tại Bạc liêu.

 

Họa 4:


Tâm Sự 


Nay thời buồn lắm kiếp lãng du
Quanh đây trời đất phủ mây mù.
Thương về đất nước hồng hoa phượng
Nhớ đến quê nhà vàng lá thu.
Đẹp lắm vườn nhà hoa rợp nở
Thương hoài tiếng võng mẹ luôn ru.
Dù xa bìên biệt ta tâm nguyện:
Luôn nhớ ơn Thầy thương mãi U!

Hàn Thiên Lương

 

Họa 5:

 

Một thoáng ưu tư

Ngắm xem thiên hạ, trí phiêu du
Vạn quốc đảo điên, loạn rối mù.
Giành đất tiến binh mùi thế chiến,
Tranh vương đoạt bá kiểu Xuân Thu.
Tai nghe thảm thiết trời bom nổ,
Lòng ước êm đềm tiếng mẹ ru.
Soi cổ luận kim buồn thế sự,
Bao giờ quả đất hết âm u ?

Minh Tâm

 

Họa 6:

Tha hương

Tha hương lữ khách mộng ưu du
Mấy độ xa quê phủ bóng mù
Cố quốc nghìn trùng lòng khắc khoải
Tha phương vạn nẻo lệ sầu thu
Quê xưa cách trở tình hoài vọng
Đất khách lưu vong nhớ tiếng ru
Dẫu bước phong trần thân viễn xứ
Xa xôi vạn nẻo nhớ lời U

AI

 

 

 

 

Saturday, September 19, 2026

Mùa Thu Sang Ta Về Thăm Lại Cõi Buồn - Nguyễn Chí Hiệp

 Mùa thu sang ta về thăm lại cõi buồn

 














Mùa thu sang
lá rơi đầy lối qua sông
Con thuyền
ngày xưa đã rời bến
Người ơi,
giọt nước mắt trên môi thầm thương

Mùa thu hỡi, có giăng giăng mưa ngâu
Huế cũ hồn ta nhớ vương vấn biển sầu
Huế cũ ngày xưa nhìn em vui cười nói
Chung bước cùng nhau qua bến Vân Lâu

Bây giờ thì đã giữa mùa thu vắng
Áo tím xưa bây giờ không thấy dáng người
Buồn chợt rơi rơi về trong kỷ niệm
Nhớ em ta đã nhớ đến muôn đời

Người ơi mối tình đầu đã xa rời
Có hay chăng một người về lại Huế
Mang đầy trong tim những lời ước thệ
Được sống bên nhau hạnh phúc muôn đời

Mùa thu sang
đêm ngắm mãi những cung đường

Gió vẫn say
bên dòng sông quê hương

Gió thổi bay
bay những chiếc lá úa

Lữ khách buồn
nhớ mãi dáng người thương

Nguyễn Chí Hiệp
05.7.2013

Nguồn: eCircles CVA Toronto & Thân Hữu

Đừng Bao Giờ Em Hỏi - Nguyễn Đạm Luân

 Đừng Bao giờ Em Hỏi




Khi Miền Tây Không Còn Nói Tiếng Nói Miền Tây - Lisa Luong

 

Khi miền Tây không còn nói tiếng miền Tây?




 

 “Nước dùng ở đây, ạ.” “Chào buổi sáng, ạ!”

 Tôi giật mình. Trước đây, tôi đã từng nghe cách nói này ở Sài Gòn và đã thấy ngạc nhiên. Nhưng lần này, nghe câu ấy thốt ra từ một cô tiếp viên ở một khách sạn tại vùng đất từng được mệnh danh là “Tây Đô”, tôi không còn ngạc nhiên nữa. Tôi sốc.

 Sốc, bởi trước mặt tôi là một cô gái trẻ, tuổi chỉ đáng con cháu mình, giọng nói rặt miền Tây, âm điệu miền Tây, dáng vẻ cũng rất miền Tây. Vậy mà cuối câu lại nó nhẹ nhàng buông một tiếng: “ạ”.

 Trời đất ơi! Giữa miền Tây sông nước mà nghe một tiếng “ạ” sao thấy lạ lẫm đến vậy.

 Không phải chữ “ạ” có gì sai. Nó là một từ rất đẹp trong tiếng Việt, biểu thị sự lễ phép, kính trọng, và từ lâu đã là một phần tự nhiên trong cách nói của người miền Bắc.

 Cái làm tôi chạnh lòng không nằm ở bản thân chữ “ạ”, mà ở chỗ nó xuất hiện trong một không gian ngôn ngữ vốn có những cách biểu đạt lễ phép rất riêng. Người miền Tây ngày trước đâu cần chữ “ạ” mới lễ phép.

 “Dạ, con chào cô.”

 “Dạ, chú mới tới hả?”

 “Dạ, bác ăn cơm chưa?” Chỉ một tiếng “dạ” thôi, nghe đã thấy cả bầu trời miền Nam trong đó. Có sự kính trọng nhưng không kiểu cách; có lễ phép mà vẫn gần gũi. Nó mềm, nó thiệt thà, nó có cái tình của một vùng đất. Vậy mà bây giờ, tiếng nói miền Tây đang thay đổi nhanh đến mức đôi khi người đi xa lâu ngày trở về phải giật mình.

 Miền Tây vẫn là miền Tây. Sông vẫn chảy, ghe xuồng vẫn còn, những hàng dừa vẫn nghiêng xuống mé nước. Người miền Tây vẫn hào sảng, vẫn hiếu khách, vẫn cái giọng ngân nga nghe một câu là nhận ra quê xứ. Nhưng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, một cái gì đó đang mất dần....

 Có người gọi đó là sự giao thoa ngôn ngữ. Có người phách lối nói đó là “chuẩn”. Có người nói đó là kết quả tự nhiên của truyền hình, Internet, mạng xã hội và sự đi lại giữa các vùng miền. Tất cả đều đúng. Nhưng tôi vẫn muốn dùng một chữ cũ, hơi nặng: “Lai căng.”

 Bởi giao thoa là khi mình tiếp nhận cái hay của người khác mà vẫn biết mình là ai. Còn khi những từ ngữ vốn tự nhiên trên đầu môi của ba má, ông bà mình bị thay thế chỉ vì người ta tưởng một cách nói khác nghe “chuẩn” hơn, “văn minh” hơn hay “sang” hơn, thì đó không còn đơn thuần là giao thoa nữa.

 Ngày trước ở miền Nam, người ta nói “gà chiên”.

 Bây giờ không ít nơi ghi “gà rán”.

 Người miền Nam nói “vỏ xe”.> Bây giờ nghe “lốp xe” ngày càng thường xuyên.

 Người miền Tây nói “quẹo trái”, “quẹo phải”.

 Bây giờ có người nói “rẽ trái”, “rẽ phải”.

 Cái vòng tròn giữa ngã tư mà xe cộ chạy vòng quanh, bao nhiêu thế hệ miền Nam gọi là “bùng binh”. Một chữ nghe vui tai, sanh động, gần như có thể hình dung được cảnh xe cộ chạy vòng vòng trong đó.

 Bây giờ nó thành “vòng xuyến”.

 Anh tài xế chở tôi về Cần Thơ hôm ấy nói rất tự nhiên:

 “Chút nữa mình rẽ sang đường này, qua vòng xuyến kia.....”

 Anh nói bằng giọng miền Tây đặc sệt. Tôi ngồi phía sau mà cứ thấy có gì đó không ổn. Không phải “rẽ” sai.

 Không phải “vòng xuyến” sai. Chẳng có chữ nào sai cả.

 Nhưng “quẹo” đâu rồi? “Bùng binh” đâu rồi? Những chữ ấy có tội tình gì mà phải biến mất?...

 Rồi có lần tôi nghe một người miền Tây đã ngoài 60 tuổi nhắc đến thân phụ mình bằng chữ “bố”.

 Tôi thật sự sững người. Bởi trong ký ức của tôi, 2 tiếng “ba”, “má” gần như là hai tiếng căn cước của người miền Nam. “Ba tui...” “Má tui...” Chỉ cần nghe vậy là quê nhà hiện ra. Trong hai chữ ấy có căn bếp, có cái võng, có hàng ba, có mâm cơm chiều, có tiếng người lớn gọi con cháu vào ăn cơm. Có cả một đời sống nằm trong hai tiếng tưởng chừng rất bình thường ấy. Ngôn ngữ không chỉ là công cụ để truyền đạt thông tin. Ngôn ngữ là ký ức. Một chữ có thể mang theo cả một vùng đất.

 “Má” không hoàn toàn giống “mẹ”.

 “Ba” không hoàn toàn giống “bố”.

 “Quẹo” không hoàn toàn giống “rẽ”.

 “Bùng binh” không hoàn toàn giống “vòng xuyến”.

 Về nghĩa, người ta có thể mở từ điển và bảo chúng tương đương. Nhưng ngôn ngữ của con người đâu chỉ có nghĩa từ điển. Mỗi chữ còn có âm thanh, ký ức, địa phương, gia đình, tuổi thơ và lịch sử.

 Một người nói “má” và một người nói “mẹ” đều đang nói về người sanh ra mình. Nhưng tiếng gọi bật lên khi đau đớn, hoảng sợ hay nhớ thương thường không phải là một lựa chọn trong từ điển. Nó đến từ nơi sâu hơn thế.

 Nó đến từ tuổi thơ. Và vì vậy, điều đáng lo không phải là người miền Tây biết thêm những chữ như “ạ”, “rán”, “lốp”, “rẽ”, “vòng xuyến” hay “bố”. Biết thêm một cách nói chưa bao giờ là điều xấu. Một người càng biết nhiều cách sử dụng tiếng Việt càng giàu có về ngôn ngữ. Điều đáng lo là họ biết thêm cái mới nhưng lại bỏ cái cũ. Đáng lo hơn nữa là khi họ bỏ cái cũ vì nghĩ cái cũ là quê mùa.

 Nếu một cô gái Cần Thơ nói “dạ” mà cảm thấy mình kém sang hơn khi nói “ạ”, đó mới là chuyện đáng buồn. Lai căng. Nếu một đứa con nít miền Tây lớn lên biết “rẽ” nhưng không biết “quẹo”, biết “vòng xuyến” nhưng chưa từng nghe “bùng binh”, biết “bố mẹ” nhưng thấy “ba má” là quê mùa, thì chúng ta đã mất một thứ lớn hơn vài chữ địa phương. Lai căng.

 Chúng ta mất một phần ký ức văn hóa. Tất nhiên, ngôn ngữ luôn thay đổi. Đừng lên lớp tôi! Không ai có thể dựng một hàng rào quanh miền Tây rồi ra lệnh rằng từ hôm nay người miền Tây chỉ được dùng những chữ mà ông bà họ từng dùng. Làm như vậy vừa vô lý vừa trái với bản chất của ngôn ngữ.

 Con người đi lại nhiều hơn. Người Bắc vào Nam. Người Nam ra Bắc. Người miền Trung sống ở Sài Gòn. Người Cần Thơ học ở Hà Nội. Trẻ con xem cùng những chương trình, những video, những bộ phim trên cùng một chiếc điện thoại. Tiếng nói tất nhiên sẽ hòa vào nhau. Điều đó không hẳn là xấu.

 Cái đáng suy nghĩ là trong sự hòa trộn ấy, tại sao có những cách nói địa phương cứ lặng lẽ rút lui?Có phải vì truyền hình và sách báo lâu nay vô tình tạo cho người ta cảm giác rằng chỉ có một kiểu tiếng Việt mới là “chuẩn”? Có phải vì nhà trường sửa những chữ địa phương của học sinh quá mạnh tay? Có phải vì những người làm dịch vụ được huấn luyện theo những mẫu câu chung đến mức một cô gái miền Tây phải nói “Chào buổi sáng, ạ” thay vì một câu chào tự nhiên của chính quê mình? Hay đơn giản hơn, có phải chúng ta đã bắt đầu xấu hổ về tiếng nói của ba má và ông bà mình? Nếu là điều cuối cùng, thì đó mới thật sự đáng buồn.

 Tôi không phản đối tiếng Bắc.Tôi cũng không nghĩ tiếng Bắc hay hơn tiếng Nam, hay tiếng miền Tây hay hơn tiếng miền Trung. Mỗi vùng đất Việt Nam đều đã góp vào tiếng Việt những âm thanh và từ ngữ tuyệt đẹp. Chính sự phong phú đó mới làm nên một tiếng Việt sống động. Tôi chỉ phản đối một thứ: tâm lý tự ti với tiếng nói của chính quê hương mình.

 Học cách nói của người khác để hiểu nhau hơn là điều tốt. Nhưng bắt chước người khác vì tưởng rằng nói giống họ thì mình “sang” hơn là một chuyện khác.

 Không có gì sang trọng trong việc đánh mất mình.

 Một người Hà Nội cứ việc nói “bố”, “mẹ”, “rẽ”, “rán”, “lốp xe”. Đó là tiếng nói tự nhiên của họ. Họ không cần đổi.

 Một người Huế cứ giữ “mạ”. Một người Quảng cứ giữ giọng Quảng. Và người miền Tây cũng chẳng có lý do gì phải ngượng khi nói: “Ba má.” “Dạ.” “Quẹo.” “Bùng binh.” “Gà chiên.” “Vỏ xe.” “Nước lèo.”

 Đó không phải là những phiên bản “sai” của tiếng Việt.

Đó là tiếng Việt. Một thứ tiếng Việt đã được phù sa, ruộng đồng, kinh rạch, ghe xuồng và bao thế hệ cư dân phương Nam nhào nặn nên.

 Người ta thường nghĩ di sản phải là đình chùa, nhà cổ, áo quần, món ăn, câu hát. Không!!! Một chữ cũng là di sản. Có những di sản không cần bảo tàng để cất giữ. Chúng sống trên đầu môi của con người. Và cũng chính vì thế, chúng có thể chết đi rất âm thầm.

 Một ngôi nhà cổ bị đập, người ta nhìn thấy. Một con rạch bị lấp, người ta nhìn thấy. Nhưng một chữ biến mất thì chẳng ai nghe tiếng động. Một thế hệ thôi không nói nữa, thế hệ sau sẽ không biết nó từng tồn tại.

 Rồi một ngày nào đó, một đứa trẻ miền Tây sẽ phải mở từ điển để hỏi: “Bùng binh là gì vậy?” Và có lẽ đến lúc ấy chúng ta mới nhận ra rằng mình đã đánh mất một thứ mà tiền bạc không thể mua lại được. Cho nên tôi không mong người miền Tây khép cửa với những cách nói khác. Tôi chỉ mong họ đừng quên tiếng nói của mình.

 Cứ học thêm. Cứ đi xa. Cứ giao lưu. Cứ biết “rẽ” là gì, “vòng xuyến” là gì, “lốp xe” là gì. Nhưng khi về đến miền Tây, nếu có thể, hãy cứ: “Quẹo phải nghen anh.” “Qua cái bùng binh đó rồi chạy thẳng.” “Dạ, con biết rồi.” Và khi trở về nhà, hãy cứ gọi: “Ba ơi!” “Má ơi!”  Bởi giữ một tiếng nói không phải là chống lại sự thay đổi. Đó là nhớ mình từ đâu mà tới. Và một vùng đất còn giữ được tiếng nói của mình là một vùng đất còn giữ được ký ức.

 Miền Tây có thể thay đổi. Nhưng xin đừng để một ngày nào đó, giữa chính miền Tây, chúng ta phải đi tìm lại tiếng miền Tây.

Đây là bài thơ do AI nó sáng tác, sau khi tôi kể cho nó nghe câu chuyện. Đọc cũng được

 Con gục đầu chua xót đắng cay

 Nghe tiếng quê hương sụt sùi mỗi ngày

 Cái thuở “nói nào ngay” chân chất

 Giờ lạc lòng giữa phố thị lung lay.

 Đâu rồi tiếng “dạ” thưa ngọt lịm?

 Tiếng “bằng nay”, “mần ruộng”, “xuồng bơi”

 Sông sấu lội, câu hò ai tím nghẹn

 Nay nhạt nhòa theo bọt nước trôi xuôi.

 Thương con cá chốt, bông bần rụng

 Thương cả từ “mầy”, “bây” thuở ấu thơ

 Mai mốt này ai còn nhớ nữa

 Tiếng miền Tây gói lại một giấc mơ

 Con gục đầu chua xót đắng cay...

 Thank you

 Lisa Luong

 

 

 

Sầu Ai Lao - Đổ Hữu

 Sầu Ai Lao

 













Đã lâu trăng cứ vàng hiu hắt

Mây cứ sầu tuôn núi võ vàng

Lá vẫn phai chàm trên sắc áo

Mưa nguồn thác đổ đá mù sương.

 

Giữa ngày lạc lõng trên rừng rậm

Với nắng bâng khuâng mây thuở nào

Với núi xanh lơ chiều tím nhạt

Mây trời bàng bạc sầu Ai Lao.

 

Lưng đèo quán gió mờ hun hút

Thôn bản nằm trơ dưới nắng chiều

Tai vẫn nghe đều dòng thác đổ

Người ơi, thương nhớ biết bao nhiêu!

 

Ở đây hơi đá chiều vây khắp

Khép chặt mình tôi giữa núi rừng

Buồn quá ngày đi đêm trở lại

Hoàng hôn hoa bản phấn rưng rưng.

 

Người có theo tôi lên dốc nắng

Nhìn xem hoa rải sắc trên đường

Chiều nay gió thổi buồn ghê lắm

Lá đổ sau chân một lối vàng.---

 

Đỗ Hữu

304Đen – llttm – MT68