Chờ Người Chiều Sông Vàm
Sunday, September 13, 2026
Còn Một Nửa Chuyện Đời - Thuyên Huy
Còn Một Nửa Chuyện Đời
Trước
ngày bãi trường nghỉ hè vài hôm, thằng nhỏ đến tìm tôi ngoài cổng ký túc
xá. Trời lấp xấp về chiều, bọn tôi tụm năm tụm ba dọc theo hành lang nhà ăn chờ
cơm. Ve kêu rộn rã trên hàng cây Sao cao lớn quanh sân từ mấy ngày trước, nhất
là vào những buổi chiều rạng nắng. Tiếng ve kêu buồn thật buồn, cái buồn khó
nói. Con đường sỏi đỏ dốc lên ký túc xá, hai bên phượng nở rực một màu đỏ bầm,
vài cánh hoa đầu mùa rụng ngỡ ngàng bên lề đâu đó.
*
Tôi mở cánh cổng nhỏ bên hông cửa chính đi
ra, thằng nhỏ trông có vẻ bảnh trai, đứng vịn chiếc xe “vê lô xô lết” đen chờ,
tròn mắt nhìn tôi. Cả hai nhìn nhau là lạ vì tôi thật không quen biết nó và
chắc rằng nó cũng chẵng quen biết tôi. Tôi đến gần bên, gật đầu chào làm quen:
- Em tìm anh Ngữ phải
không? Anh là anh Ngữ đây.
Nó gật đầu dạ thật nhỏ, chưa kịp nói gì thì
tôi hỏi tiếp:
- Em tên gì, tìm anh có
chuyện gì không?
- Dạ, em tên Phúc.
Phúc vừa trả lời vừa nhìn tôi chờ đợi. Tôi
mở cánh cổng rộng hơn một chút nữa, bảo Phúc dắt xe vào sân, tôi bỏ đi vô, chờ
Phúc trước cửa phòng khách.
Đám hoa huệ trắng cắm trong cái bình bông
màu xanh lục, đặt trên thành khung cửa sổ có vẻ héo từ mấy ngày qua, cô năm
Vân, người quản lý ký túc xá, không buồn thay hoa mới, vì hai ba ngày nữa, ở
đây không còn ai đâu mà ngắm mà nhìn.
Cô sẽ ra vào một mình, lặng thinh như những
mùa hè năm trước, hết rồi tiếng cô la cô hét đám học trò đệ thất đệ lục về
chuyện xả rác và xài nước lung tung. Không còn ai để cô kể chuyện đời xưa,
chuyện của những ngày cô còn son trẻ của bốn chục năm đi qua, sau giờ cơm ồn ào,
khi bên kia sông mặt trời chầm chậm xuống.
*
Tôi ngồi xuống kế bên Phúc, thằng nhỏ nhoẻn
miệng cười, không nói gì, ôm khư khư gói giấy trong tay, tôi đoán không lầm, dù
tôi chưa hỏi, Phúc giỏi lắm chắc đang học cở mấy thằng Biểu, thằng Long, đệ lục
là cao lắm. Nó vẫn không chịu nói gì, tôi cũng hơi tức cười, thôi cứ hỏi nó
trước cho xong việc. Tôi đứng dậy kéo cái ghế trống, ngồi xuống trước mặt Phúc:
- Phúc tìm anh có chuyện gì hay
không?
Vừa hỏi tôi vừa nghĩ tới mấy đứa từ xã ấp
xa lên tỉnh học, đang ở trong ký túc xá, học trò của mấy cô Thu, cô Quyên, đệ
thất đệ lục, hễ gặp rắc rối hay thiếu điểm trong kỳ thi lục cá nguyệt cuối năm,
hớt hơ hớt hãi tìm tôi, nhờ nói mấy cô giùm một tiếng, vì bọn nó biết tôi chơi
thân với mấy cô và nói gì mấy cô cũng nghe, nếu không thì bị ở lại lớp, ba má
vừa buồn vừa la rầy, sợ tá hỏa.
Cho nên hễ xong thi lục cá nguyệt cuối năm
thì trong ký túc xá tôi là người bận rộn nhất, không phải vì mấy cái bài thi tú
tài hóc búa mà bận rộn vì mấy cậu ấm nhà quê này.
Phúc nhỏ nhẹ đáp lời:
- Dạ, má em là cô tư Hòa,
bên chợ bảo tìm anh, mời anh qua nhà em chơi, má em muốn hỏi thăm anh chút
chuyện, má cũng bảo đưa cho anh cái này. Phúc vừa nói vừa đưa gói giấy mà nó đã
cầm trong tay từ lúc mới vào đây.
*
Tôi nhận lấy gói giấy mà trong lòng hơi hồi
hộp. Nghe Phúc nói thì nghe vậy, tôi chưa biết cô tư Hòa là ai, có liên hệ gì
với mình. Vã lại từ nhỏ lớn lên, gần hơn mười tám năm rồi, đâu có nghe ba má
tôi nhắc nhở gì tới cô tư này, ngay cả bà con hai bên nội ngoại cùng khách khứa
cũng không thấy ai tên đó. Tôi vồn vã cám ơn, mở vội gói giấy ra xem, bên trong
là hai hộp bánh ngọt hiệu LU nhập cảng của Pháp, thứ bánh này ngon và hơi mắc
tiền, hình như phải mua từ Sài Gòn chớ chợ tỉnh ít khi có bán. Tôi vừa cám ơn
Phúc vừa hỏi thêm:
- Làm sao má em, biết anh ở
đây mà bảo em vô đây tìm.
- Em cũng không biết nữa.
Tôi đứng dậy, Phúc đứng theo, tôi nhìn nó.
- Rồi anh sẽ qua nhà em
chiều mai, vì ngày mốt bãi trường rồi, nói với má là anh cám ơn nhiều.
Phúc dẫn xe “vê-lô” ra cổng, miệng cười vô
tư, tôi quên hẳn hỏi thăm nó kết quả thi lên lớp cuối năm ra sao. Phúc đẩy cái
cần phía trước cho xe nổ máy chầm chậm xuống dốc, đầu ngoãnh lại và vẫy vẫy tay
chào. Tôi đứng nhìn theo, chờ bóng nó khuất hẵn khỏi dãy nhà ngoài đường. Khu
nhà ăn bắt đầu có đèn và có tiếng chén đủa khua lao xao. Tiếng ve sầu thưa dần
theo nắng chiều chợt tắt.
*
Tôi xuống xe lôi máy ngay ngã ba cuối chợ,
thả bộ dọc theo đường Nguyễn Duy Dương, băng ngang khu xóm có vẻ không lấy gì
giàu có cho lắm. Theo chỗ mà thằng Phúc chỉ, tôi tìm đến nhà nó không gì khó.
Mới bốn giờ chiều mà thiên hạ lớn nhỏ đứng
chật ních trước rạp chiếu bóng, nói nói cười cười. Tiếng máy quay của cái xe
nước mía bên hông rạp kéo dài mệt mỏi. Nắng từ miệt Cao Xá, Phước Ninh trải dài,
nhạt dần xuống chợ tỉnh. Hàng ô môi dọc hai bên đường rộn ràng khua lá theo
chiều gió từ hướng sông lên, trời mát rượi.
*
Tôi vừa tới trước nhà, thằng Phúc đã đứng
chờ ngay ngoài cái cổng cây lỏng lẻo. Phúc gật đầu chào rồi đi vào trước, tôi
thật tình hồi hộp theo sau. Trong nhà rất đông người, ai nấy lạ ngắt, ngoại trừ
thằng Phúc. Tôi bối rối phút đầu, cúi đầu chào tất cả rồi ngồi xuống cái ghế
xa-lông bằng gỗ cẩm lai nâu xậm. kế bên cô tư. Đối diện là bà bác và một người
cô trạc tuổi cô tư, tôi nghe trước đó, họ trong nhà gọi là bà ngoại và dì ba, số
người còn lại, vài người đứng gần tường, vài người ngồi quanh cái bàn ăn dài kê
cận bên cửa sổ ngó ra hông nhà láng giềng.
Chừng bốn năm người hàng xóm, thập thò
ngoài sân trước nhìn vô, tiếng xe lôi máy chở khách nặng nề trên đường từ Cao
Xá xuống, không át nổi tiếng người xì xào trong nhà. Tôi còn chưng hửng chưa
biết chuyện gì thì bà ngoại đã nắm lấy tay tôi, mắt bà đỏ hoe, hình như tôi
thấy cô tư và dì ba cũng rưng rưng. Thằng Phúc đứng lặng thinh trong góc phòng.
Bà ngoại nhìn thẳng vào tôi rồi buột miệng:
- Cha thằng Ngữ đây hả?
Cô tư Hòa không hỏi tôi nhiều, chỉ nhìn, cười
một mình. Anh chị của thằng Phúc thì thôi khỏi nói, họ thay phiên nhau hỏi tôi
đủ thứ chuyện, chuyện của những ngày tôi còn nhỏ và chuyện của đời tôi bây giờ,
họ gọi ba má tôi bằng tiếng cô cậu ba, thân thiết ngọt ngào chừng như là đã
quen nhau từ lâu lắm. Phía ngoài sân trước, mấy người hàng xóm tụ quanh nhau,
vừa nhìn vô trong vừa bàn qua tán lại.
*
Tôi ở lại ăn cơm chiều với gia đình cô tư
Hòa hôm đó, trong bữa ăn, cô tư cho biết lý do tại sao gia đình biết tôi và
biết cả chỗ tôi đang ở mà sai Phúc đến tìm. Thì ra, ba má tôi từ Gò Dầu lên
tỉnh thăm tôi, thỉnh thoảng có ghé qua nhà cô tư chơi. Mỗi lần như vậy, gia
đình cô tư đều được ba má tôi kể chuyện về tôi, từ học hành tới tính nết. Ba má
tôi cũng nói cái bộ bàn ghế sa lông bằng gỗ mun nâu đỏ, mà cô cho tôi hồi còn
nhỏ, ngồi chơi hay ăn cơm cũng còn giữ nguyên đó.
Cô tư nghe ba má tôi nói, cuối năm nay sau
khi thi Tú tài Một, tôi sẽ xuống Sài Gòn học đệ Nhất, chớ không học ở tỉnh. Sợ
là sẽ không có dịp gặp tôi thường trong năm tới, nhất là bãi trường sắp tới
nơi, nên cô quyết định, sắp xếp cho cả nhà gặp tôi một lần cho bằng được. Ba má
tôi không hề nói với tôi về sự quen biết của ông bà và gia đình cô tư Hòa từ đó
đến giờ. Ăn cơm xong, trời cũng vừa tối, cô tư bảo thằng Phúc lấy xe “vê-lô”
đưa về, không quên dặn tôi là nếu có rãnh thì qua chơi. Tôi cám ơn cô đã cho
hai hộp bánh lần nữa. Cho đến lúc này cô tư hay ai đó trong nhà, không ai nói
gì về sự liên hệ giữa họ với tôi ra sao, tôi cũng ngại, dù biết chắc có cái gì
đó trong chuyện này nhưng, không hỏi.
*
Phúc dắt xe”vê-lô” ra trước đứng chờ, đường
lên đèn, đám người tụ trước sân nhà vẫn còn đó. Tôi chào mọi người ra về, hai
anh em chạy đi một khoảng khá xa, họ vẫn còn đứng nhìn theo.
Qua ngang phố Gia Long, vài ba tiếng đại
bác vọng, lẻ loi đâu đó trên miệt trời biên giới. Phố tỉnh chập chững vào đêm.
Thuyên Huy
Viết mở đầu cho một chút
thật của một chuyện đời có thật
Còn Một Chút gì Để Nhớ - Vũ Hữu Định
Còn một chút gì để nhớ
phố núi cao phố
núi đầy sương
phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
anh khách lạ đi lên đi xuống
may mà có em đời còn dễ thương
phố núi cao phố
núi trời gần
phố xá không xa nên phố tình thân
đi dăm phút đã về chốn cũ
một buổi chiều nao lòng bỗng bâng khuâng
em Pleiku má đỏ
môi hồng
ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
nên mắt em ướt và tóc em ướt
da em mềm như mây chiều trong
xin cám ơn thành
phố có em
xin cám ơn một mái tóc mềm
mai xa lắc bên đồi biên giới
còn một chút gì để nhớ để quên.
Vũ Hữu Định.
Vu Vơ Như Lá Rơi - Vũ Thế Thành
Vu vơ như
lá rơi
Lễ giỗ Tả
quân Lê Văn Duyệt được tổ chức vào 3 ngày (30/7, mùng 1 và 2/8 Âm lịch). Hôm
nay (14/9/23 DL) là một trong ba ngày giỗ. Mọi năm, nếu ở Sài Gòn và nhớ ra
ngày giỗ, tôi thường ghé Lăng Ông vãn cảnh, xem hát bội và cũng để nhớ lại chuyện…
vu vơ.
Vũ Thế
Thành
Tôi đã vào
Lăng Ông vài lần thuở còn đi học. Vài lần chỉ vì có cô “nhơn tình tin đồn”, là
nữ sinh trường Lê Văn Duyệt (một trong ba trường nữ trung học công lập nổi tiếng
trước 75). Lăng Ông cách trường LVD đâu đó chừng hai trăm mét, ngày thường vắng
vẻ, phong cảnh hữu tình,… “Đôi trẻ” vào đó thả bộ, hay ngồi ghế đá tâm tình
cũng là phải đạo.
Năm đó tôi thi Tú tài, nàng xúi vào điện thờ xin xăm coi đậu rớt thế nào. Ừ thì
xin xăm, tôi cũng thắp nhang, cũng quỳ cũng lạy, cũng lẩm bẩm khấn (thật ra cô ấy
khấn giùm tôi),… Tôi lắc ống xăm, lắc mạnh tay nên rơi ra vài que xăm. Nàng bảo,
lắc lại. Tôi lắc nhẹ (quá), lắc hồi lâu mới rơi ra được một que xăm. Nhìn vào số
que xăm, rồi ra bàn gần đó lấy tờ giải. Lời giải là những bài thơ, như bài vè,
mơ mơ hồ hồ..
Nàng lại xúi
tôi đem tờ giải đem ra ngoài sân điện cho mấy ông thầy bói giải quẻ. Lần này ẻn
xúi dại. Ẻn đâu biết tiền tôi dẫn nàng ra quán nước là tiền “gian lận”. Mẹ tôi
cho tiền tôi đi học thêm, bà sợ thằng con, rớt tú tài đi lính. Đầu năm học, tôi
lấy tiền đó mua sách (cũ) về tự học, rồi cứ thế hàng tháng lãnh “hụi chết” cà
phê vung vít. Tôi nói với ẻn là tôi có thể giải quẻ được. Thế là tôi tán hươu
tán vượn… Tôi giải quẻ theo trí tưởng tượng và ước mơ của mình, thành thử toàn
là viễn cảnh về một tương lai lộng lẫy. Đôi lúc cũng xen vào một chút “trắc trở”,
ra cái điều khách quan và tràn ngập ý chí vượt khó.
Sau năm 75 nàng đi đâu mất biệt, tôi không biết. Cuộc tình chưa ươm đã tàn.
Năm 78 hay 79 gì đó, tôi lững thững đi về sau bữa nhậu vỉa hè, chợt dừng lại
nhìn bảng quảng cáo ở rạp Minh Châu gần nhà, rồi tự nhiên mua vé vào cửa xem
hát bội. Xem không phải vì thích, mà để giết thời gian. Tôi còn nhớ tên vở hát
là “Thần nữ dâng Ngũ linh kỳ”. Đó là lần đầu tiên tôi xem trọn một tuồng hát bội
ở rạp. Nhìn điệu bộ của diễn viên, khua chân múa tay theo nhịp dưới ánh đèn sân
khấu, giọng hát tiếng gào có lẽ không cần micro cả rạp vẫn nghe được. Tôi ái ngại
cho đời nghệ sĩ…
Vãn tuồng, vừa bước khỏi rạp, tôi thấy một nghệ sĩ, trạc 40 trong bộ quần áo
nhàu nát, cà nhắc dẫn chiếc xe đạp từ cửa hông rạp. Ông dựng xe ở quán vỉa hè cạnh
rạp, gọi xị rượu đế và dĩa cóc chấm muối ớt. Đó là hình ảnh đời thật của tướng
quân Ô Lợi Hắc uy nghi khi ánh đèn sân khấu vừa tắt.
Trong các loại hình ca hát, có lẽ hát bội có số phận hẩm hiu, bạc bẽo nhất. Mất
sức vì giọng hát tiếng gào, khán giả mấy ai đoái hoài. Buổi diễn đêm đó chỉ khoảng
vài chục khán giả, tiếng vỗ tay lác đác. Nghệ sỹ hát bội đúng là vướng vào nghiệp
kiếp trước.
Chính hát bội đã làm tôi thấm thía kiếp con tằm nhả tơ. “… Tôi bán đường tơ,
cho lòng tan nát cho ai cợt đùa. Trần gian còn thương nhớ, rút hết tâm can nhịp
lời ca…”
Sau này tôi cũng tìm hiểu sơ về hát bội, nhưng còn nông cạn lắm, không dám tà
lanh phơi bày ra đây. Chỉ có thể nói rằng, để hiểu được diễn xướng theo lối nhạc
kịch dân gian này không phải là điều dễ dàng, từng lời ca, điệu bộ ước lệ…
Thỉnh thoảng tôi đến Lăng Ông vào các ngày lễ chỉ để xem hát bội, để nhìn ông
hoàng bà chúa sau cánh gà, vừa đánh phấn thoa son, vừa ăn bữa cơm đạm bạc với
cá khô. Những năm sau này không còn đến nỗi ăn khổ như thế nữa. Đời nghệ sĩ hát
bội sống nhờ vào những ngày lễ cúng đình, năm thì mười họa mới được mời, nhờ
vào tiền thưởng của khán giả ném lên sân khấu sau mỗi lời ca nhịp điệu tròn trịa
với tiếng trống chầu dồn dập thay cho tiếng vỗ tay.
Tả quân Lê Văn Duyệt từng là tổng trấn Gia Định thành, coi cả miền Nam. Ông
nghiêm khắc trước hàng quân, nhưng biết lo cho dân, tạo điều kiện cho họ làm ăn
buôn bán. Với khách buôn Tây- Tàu cũng được ông đối xử dễ dãi. Người Việt gốc
Hoa ở Sài Gòn sùng bái ông , xem ông như vị thần. Tối giao thừa dân sài Gòn đổ
xô vào Lăng Ông cầu an cầu lộc. Đã có lần tôi ở đó vào đêm 30, đông nghẹt người
đến cúng kiếng, nhang khói mù mịt, chịu không nổi phải ra ngoài sân đứng thở.
Cuộc đời Tả quân nhiều oan nghiệt. Ông bị bạc đãi ngay sau khi mất, mồ mả bị xiềng.
Vài chục năm được trả lại danh dự. Sau 75, ông lại bị xóa tên. Cách đây vài năm
mới được trả lại tên đường, nhưng tên trường Lê Văn Duyệt vẫn còn mịt mờ. Một
khi lòng dân chưa quên thì chẳng có lịch sử phe phái nào có thể bôi bác được.
Lễ giỗ năm ngoái tôi cũng ghé Lăng Ông xem hát bội. Hoa quả dâng cúng nhiều lắm.
Buổi chiều cuối cùng, vãn khách, mấy bà trong ban trị sự kéo tôi vào hưởng lộc.
Giỗ năm nay tôi lại đến, xem tuồng San Hậu. Đầu tuồng là cảnh vua Tề nằm ngất
ngư gần chết, chánh hậu o ép thứ phi lúc đó đang mang thai.. Chụp được vài tấm ảnh,
hoàng hậu sau cánh gà và ngay sau đó là hoàng hậu đanh đá trên sân khấu…
Đời người như lá rơi trôi theo dòng nước, có khi êm ả, có khi quay mòng mòng giữa
dòng xoáy. Tôi ngồi ở ghế đá, nhìn cây thốt nốt vẫn còn trước cổng Tam Quan.
Cây còn đó, cố nhân nơi đâu? Chiếc lá năm xưa đã trôi ra biển. Mối tình thuở học
trò hơn nửa thế kỷ như chỉ mới đây thôi. Gọi là “người tình tin đồn” vì cả hai
chưa một lần cầm tay nắm cẳng. Thề đấy!
Mối tình vu vơ, chẳng đâu vào đâu. Gọi đó là “mối tình” chẳng qua là tôi phóng
đại.
Vũ Thế
Thành, tháng 9, 2023
Bất Chợ Đi Ngang Trường Học Cũ - Trần Văn Nghĩa
Bất chợt, đi ngang trường học cũ
Bất chợt, đi
ngang trường học cũ
Bốn mươi năm đó chẳng quay về
Thấy những cây muồng vàng cuối hạ
Chập chờn trong gió, một tiếng ve
Tiếng ve cũ rích
từ năm trước
Vẫn thấy nao lòng rớt góc sân
Em vén tóc thề nghiêng vai áo
Để tôi ngơ ngẩn đến bao lần
Để tôi gửi mộng về
bên đó
Khù khờ ngủ muộn với lá thư
Biết có ai thầm len lén đọc
Mà giấc mơ tìm êm võng ru
Hình như tôi thấy
em vừa đến
Gửi gắm hồn nhiên biếc nụ cười
Dẫu chỉ vô tình thôi cũng đủ
Thấy đời lúng liếng nhớ bẻ đôi
Bẻ đôi em nửa,
còn tôi nửa
Tìm ghép mà đâu chẳng được gì !
Thời gian mưa nắng, mưa rồi nắng
Bên đời, tôi cùng với mùa đi …
Mùa đi đem nhớ
tìm trở lại
Trường xưa, người cũ, vắng em về
Vẫn biết chút tình xa thơ dại
Sao lòng chấp chới một tiếng ve
Trần Văn Nghĩa
Nguồn:Sáng Tạo
Một Tượng - Nguyễn Khoa Đăng
Mọt Tượng
Sư cụ cho gọi chú tiểu Bửu vào, nói:
- Con tới đây làm công quả đã lâu, hạnh tu coi như đã có, nên thầy muốn nhờ con
một chuyện.
Tiểu Bửu cung kính xá:
- Thưa thầy, con xin nghe.
- Con biết, chùa mình dọn từ Mai Sơn về đây đã nhiều năm mà vẫn chưa thỉnh được
tượng Quán Thế Âm theo. Nay, tình thế tương đối yên ổn trở lại, thầy muốn con tới
chùa cũ thỉnh về, có được chăng?
Tiểu Bửu bối rối:
- Dạ, được... nhưng...
- Nhưng sao?
- Không biết con có đủ sức vượt qua mọi khó khăn, hiểm trở.
Sư cụ điềm nhiên:
- Con cứ thơi thả mà đi, coi đó như đường tu hành, thong dong buớc, thế nào
cũng tới.
Tiểu Bửu cúi mặt:
- Thưa thầy, con không ngại đường xa cách trở mà ngại lòng mình chưa đủ đạo hạnh
để thỉnh tượng về đây.
Sư cụ cười khoan dung:
- Ðáng lẽ chuyện này là của thầy, nhưng thầy biết sức mình hết kham nổi thử
thách ngoại cảnh, nên phải nhờ tới con, người mà thầy hết dạ tin tưởng.
Tiểu Bửu xúc động rơm rớm lệ:
- Thầy đã nói vậy, con xin tuân.
Rồi từ đó cho tới ngày lên đường về lại Mai Sơn tự, không đêm nào tiểu Bửu yên
giấc. Chú cứ trằn trọc mơ tưởng về chuyến đi sắp tới. Tiểu Hạnh, bạn đồng tu, gọi
đó là ‘‘sứ mạng cao cả của Tề Thiên đại thánh‘‘, và lộ vẻ ganh tị ra mặt. Tiểu
Bửu phải an ủi: ‘‘Chú còn nhỏ, thầy đâu dám nhờ.‘‘ Tiểu Hạnh hờn dỗi: ‘‘Sao thầy
không cho anh em mình đi chung cho có bạn?‘‘ Tiểu Bửu cười khẽ: ‘‘Phải có người
ở lại chăm sóc thầy và lo chuyện chuông mõ chớ.‘‘ Dẫu hiểu, nhưng Tiểu Hạnh vẫn
ấm ức trong bụng. Tiểu Bửu biết vậy, nên ít khi đem chuyện đi thỉnh tượng ra
nói.
Tội nghiệp, Tiểu Hạnh là trẻ mồ côi, được thân nhân gởi vô chùa từ năm sáu tuổi.
Không những Tiểu Bửu có bổn phận dạy học cho Tiểu Hạnh, mà còn chỉ vẽ nó cách
quán xuyến chuyện chùa chiền như nấu cơm, giặt giũ, lau chùi hay gióng chuông
và thắp nhang đèn cúng Phật mỗi thời kinh sớm chiều. Còn nhỏ, nên Tiểu Hạnh ham
chơi hơn thích làm. Mỗi năm tới mùa dế, nó ra ruộng bắt vài con đem về nuôi
trong hộp thiếc, giấu dưới ụ rơm ủ nấm. Khi bị Tiểu Bửu bắt gặp đang chơi đá dế,
nó ngỏn ngoẻn cười nhận lỗi. Tiểu Bửu không la mắng hay ngăn cấm chi, chỉ ôn tồn
giải thích. Một hôm, chú bắt gặp Tiểu Hạnh ngồi khóc lặng lẽ bên ao nước. Hỏi
sao khóc, nó rấm rứt: ‘‘Em vừa thả mấy con dế ra ruộng.‘‘ Tiểu Bửu cảm động
lây, đặt tay lên vai bạn: ‘‘Làm một việc thiện, lẽ ra phải cười, sao lại
khóc?‘‘ Tiểu Hạnh ngước mặt cười mếu, lộ hàm răng sún. Nụ cười ấy, Tiểu Bửu suốt
đời không bao giờ quên.
Thỉnh thoảng sư cụ lại vui miệng kể chuyện phong cảnh Mai Sơn cho hai chú tiểu
nghe. Rừng núi ấy, như tên gọi, có nhiều mai dại. Không hoàn toàn giống như mai
chưng vào dịp đầu năm, dã mai có cánh hoa thuôn dài, hơi úp, mau nở mà cũng
chóng tàn. Hằng năm, tới độ mai mãn khai, sáng ra suối múc nước, thấy lưng núi
đơm rực hoa vàng. Chiều hôm rịn sương, tưởng như có bầy hoàng hạc từ tây phương
trở lại thăm chùa. Tiểu Bửu ghi đậm hình ảnh thơ mộng ấy vào tâm. Ðể đến hôm
nay, chú cứ thẩn thơ mộng mị cảnh rừng mai trong chiều sương toả.
So với phần số Tiểu Hạnh, Tiểu Bửu may mắn hơn, vì còn mẹ và bảy anh chị em.
Tháng chạp năm nào mẹ cũng tới thăm Tiểu Bửu. Quà cáp mẹ mang, toàn những thứ
Tiểu Bửu hảo ăn như bánh hạnh nhân, bánh chuối hấp và thật nhiều bánh ít bột
khoai mì. Chú biết, thật ra đó chỉ là cái vui tạm, sự có mặt của mẹ mới là niềm
vui chính. Mẹ là cái gạch nối ấm áp cuối cùng giữa chú và thế tục bên ngoài. Mẹ
nán lại chùa vài ngày, phụ làm công quả. Lâu rồi, mẹ không còn nhắc tới cha,
người mà mẹ kể đã tập kết ra Bắc từ năm 1954. Cũng lâu rồi, Tiểu Bửu không còn
hỏi mẹ lý do tại sao mang chú gởi cho chùa. Tiểu Bửu đã bắt đầu cảm thọ nhịp sống
tu hành. Dù vậy, tới lúc mẹ con chia tay nơi bến đò, Tiểu Bửu không khỏi sa nước
mắt. Chú chờ bóng con đò khuất dạng sau lùm cây và mặt nước im sóng mái chèo, mới
quay lưng lầm lũi, mắt lệ ngắn dài. Thuở ấy chưa có mặt Tiểu Hạnh. Trong những
buổi tiễn đưa về sau, có Tiểu Hạnh bên cạnh, Tiểu Bửu cố ngăn nước mắt. Rồi
cũng tới lúc, chú không còn khóc khi từ giã mẹ nữa, chỉ buồn. Buồn trong những
lần bóc bánh ra ăn. Rưng rưng tưởng lại tiếng chân mẹ quạnh quẽ trong sân chùa
lót gạnh tàu. Và đậm đà biết mấy món canh bí mẹ nấu dâng Phật rằm tháng chạp.
Tiểu Bửu xoay lưng, hé mắt nhìn ra liếp cửa vằng vặc trăng soi. Ðêm nay cũng rằm.
Tiểu Bửu khó ngủ, mơ vá quàng chuyện này chuyện nọ. Tự dưng chú cảm thấy nhiệm
vụ sư cụ giao phó gian nan quá. Ðường từ đây lên Mai Sơn tự non mười cây số,
nhưng phải đi bộ, vì không có lối sông. Ði về ít nhất hai ngày. Tiểu Bửu định ở
lại chùa cũ một đêm một ngày để ngắm cảnh hoa cho mãn nhãn. Không biết, sau mấy
năm chinh chiến, cảnh vật có còn như xưa? Có còn những cội mai hoá long ngủ
quên lưng chừng núi? Có còn những hoàng hôn, bầy công núi bay về đậu trên chòm
sứ trắng đợi nghe chuông? Có còn bóng trăng thuỷ ngân soi trong lu nước ngậm
bông sứ mỗi đêm rằm? Tiểu Bửu rợn người tưởng ra bàn tay ai thon muốt đẩy giạt
lớp hoa, vốc làn nước thơm rẩy lên tượng Phật. Ngón tay dịu nhiễu, mềm mại. Mặt
nước run gợn sinh thú. Hương hoa chập chờn vọng tưởng. Tiểu Bửu giật mình nhận
ra đó là bàn tay con gái.
Bên cạnh, Tiểu Hạnh nẩy người, ú ớ mê sảng.
° ° °
Tiểu Bửu sắp bầu nước lọc, hai củ khoai luộc, đòn bánh tét
nhưn chuối, quyển kệ mỏng và cái xẻng con vào bọc vải. Tiểu Hạnh lăng xăng dặn
dò:
- Chú đi, nhớ về sớm. Ðừng quên cái chăn bông!
- Lâu lắm là ba ngày.
- Chú đem theo bao nhiêu đó thức ăn, đủ không?
- Ðủ rồi. Nếu thiếu, dọc đường chú hái trái ăn thêm. Khát thì uống nước suối.
Thầy bảo, có dòng suối bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, vắt ngang lưng núi.
Tiểu Hạnh hít hà:
- Chú sướng hơn em.
Tiểu Bửu cười mỉm:
- Tại Tiểu Hạnh không biết, chớ chú lo lắm, sợ mình không làm tròn bổn phận.
Tiểu Hạnh thắc mắc:
- Không hiểu sư cụ thỉnh bức tượng đó về làm gì? Sao không đặt làm tượng mới, lớn
và đẹp hơn?
- Sao em biết tượng cũ nhỏ và xấu?
Tiểu Hạnh nhăn nhó giải thích:
- Xãu thì em không dám nói, nhưng chắc chắn là nhỏ và xưa cũ lắm rồi.
- Quí vì cũ xưa đó em. Bây giờ tượng là một món cổ ngoạn hiếm có.
Rồi Tiểu Bửu trầm ngâm cất giọng:
- Theo lời sư cụ, vài năm trước ngày chia đôi đất nước, lúc tình thế còn hỗn
mang, một hôm có anh thanh niên ghé ngang Mai Sơn tự xin tá túc một khoảng thời
gian. Anh ta là thợ mộc, biết đẽo khắc tượng gỗ. Sư cụ không nhờ, nhưng ngày nọ,
anh vào rừng vác về một khúc gỗ huỳnh đàn. Thế là suốt buổi anh ta cày cục nâng
niu đẽo thành tượng Phật. Trước đó anh ta còn kỹ lưỡng ngâm gỗ trong nước bông
sứ. Hỏi để làm gì, thì anh bảo, có vậy gỗ mới dẻo dai bền vững với thời gian và
lúc nào cũng thoảng hương hoa. Sau vài tuần, anh hoàn tất bức tượng. Sư cụ bảo
rằng, chưa thấy tượng Phật nào có thần sắc từ bi nhân ái như thế. Tượng nhỏ
thôi, chừng ba gang tay, vậy mà chỉ cần nhìn qua diện mạo, đã thấy cái tâm vô
biên vô lượng hiện ra rành rành. Cho tới đêm nọ, chàng thanh niên xin phép sư cụ
rời chùa, rồi không thấy trở lại như đã hứa. Khi chiến tranh tràn lan, sư cụ nhờ
người chôn giấu bức tượng bên cội bông sứ sau chùa. Hôm tản lạc về đây, quên
đem theo. Bây giờ tính lại đã gần mười năm, mau thật.
Tiểu Hạnh thở ra, hỏi:
- Không biết anh thanh niên ấy làm gì, quê ở đâu?
- Sư cụ không nói, chú cũng không hỏi. Mà biết, có ích chi?
Tiểu Hạnh đoán xa đoán gần:
- Chắc anh ấy làm chuyện đại sự, không muốn cho ai biết.
Tiểu Bửu cười nhẹ:
- Ờ, sư cụ còn kể thêm, theo lời anh ấy dặn, muốn cho tượng có thần sắc, phải
ngâm gỗ trong nước in bóng trăng rằm ba đêm.
- Rủi nhằm bữa trời xấu, không trăng thì sao?
Tiểu Bửu nhăn mặt, nói như trách:
- Thì chờ mùa trăng sau, có vậy cũng hỏi.
Tiểu Hạnh cười lỏn lẻn:
- Em hỏi cắc cớ cho vui vậy mà.
- Người đó có căn tu mà chưa gặp duyên đó thôi.
Nét mặt Tiểu Hạnh đột ngột sa sầm:
- Còn em?
Tiểu Bửu đặt tay lên vai bạn:
- Nếu em không có căn tu, đã không lạc tới nơi này.
- Vậy mà chú cứ trách em là đứa có căn chơi chớ không phải căn tu.
Tiểu Bửu cười xoà:
- Ðôi lúc chú thấy em ham chơi, xao lãng chuyện tu tập, nên nói vậy chớ không
có ý trách mắng.
Tiểu Hạnh thỏ thẻ:
- Mà em ham chơi thật. Nhiều khi ra chợ, thấy mấy đứa trạc tuổi chơi đánh đáo,
bắn bi, đá dế, đá cầu, tạt lon, tạt hình, em ham quá. Chú Tiểu Bửu nè, rủi sau
này em... em... bỏ chùa đi như anh thanh niên nọ, chú có buồn không?
Tiểu Bửu ngừng tay sắp, nhíu mày nhìn Tiểu Hạnh một chặp, không đáp, rồi thắt
chặt bọc vải vào đầu đòn sóc, quẳng lên vai gánh thử. Có tiếng sư cụ ho khan từ
buồng bên. Tiểu Bửu vội ngó ra sân, thấy bóng cây hoàng lan ngả về đông từ khi
nào chẳng hay. Mải trò chuyện, hai chú tiểu suýt quên thắp nhang đèn cho tuần
kinh tối.
° ° °
Tiểu Hạnh đưa Tiểu Bửu tới cuối lộ đất. Nơi đó, con đường rẽ
thành hai nhánh, phải về hướng Mai Sơn, trái ra chợ làng. Lối phải ít người léo
hánh, đường hẹp, cỏ lau mọc đầy hai bên, cao xấp xỉ Tiểu Hạnh.
Tiểu Bửu đặt đòn sóc xuống cỏ, nheo mắt ngó quanh:
- Trời nắng ghê.
Tiểu Hạnh bặm môi lặp lại lời nhắn cũ:
- Chú đi, nhớ về sớm.
Tiểu Bửu xoa tay lên chỏm đầu lởm chởm chân tóc của Tiểu Hạnh, cười nói:
- Về, chú sẽ cạo tóc cho em. Thôi, chú đi.
Hai mắt Tiểu Hạnh long lanh:
- Em có nhét vô bọc cho chú lọ dầu gió.
Tiểu Bửu xúc động:
- Em về đi!
Tiểu Hạnh lắc đầu nguầy nguậy:
- Không, chú đi khỏi, em mới về.
Tiểu Bửu quẩy đòn sóc lên vai, trước khi dợm bước, còn dặn dò:
- Nhớ tưới rau và lo chuyện nhang đèn hộ chú!
Tiểu Hạnh khum tay che nắng, dõi theo bóng Tiểu Bửu nhấp nhô thoăn thoắt giữa
cánh đồng cỏ lau, lòng cô quạnh mênh mông.
Hôm nay, như mọi ngày mùa khô, nắng tràn rực rỡ. Ði được quãng ngắn, Tiểu Bửu lại
dừng chân, lấy nước ra uống. Càng lên cao, cảnh sắc càng ngoạn mục. Cỏ bông lau
xen với bông thẩu dại, rờn rợn cánh đỏ. Ðã thấy cây to vươn cành, rợp bóng mát.
Lâu lâu lại nghe tiếng gà rừng thấp thỏm kêu lẻ. Mây trời nổi vân hoành tráng,
tựa như bức tranh tàu. Giữa trưa, Tiểu Bửu xót dạ, dừng lại nghỉ chân bên gốc
cây non. Ăn xong củ khoai luộc, hớp vài ngụm nước lọc, Tiểu Bửu khép mắt định
thần toạ thiền. Không được lâu, đã bị tiếng chim gọi tỉnh. Tiểu Bửu dáo dác ngước
mặt. Một con quạ núi dang cánh lượn vòng trên không, buông tiếng hốt hoảng như
vừa đánh mất vật gì. Bóng chim quét chập chợn lên cánh đồng chan nắng. Câu chuyện
nhà sư hoá thành con chim áo dà suốt đời sục sạo bay tìm trái tim tướng cướp chờn
vờn hiện ra trí Tiểu Bửu. Chú rợn người kêu thầm, tại sao cứ mãi đi tìm, mà
không phá chấp, buông xả thơi thái như hạnh của thiên nhiên?
Và cứ nghĩ ngợi luông tuồng như thế, tới chiều Tiểu Bửu đến chân thềm đá 49 bậc
dẫn lên Mai Sơn tự. Không một bóng người. Nắng sẫm vàng, rắc hơi tàn lên rừng
cây. Gió thầm thì tuôn qua rãnh lá. Tiểu Bửu ngẩng nhìn, thấy chòm rễ già bấu
ngoằn ngoèo kẽ đá, trông như bầy tinh xà canh giữ cửa hang huyền thoại. Chú thở
ra, hít vào từng hơi dài. Bầu trời nghiêng theo tầm nhìn, choáng váng nứt ra những
đường mây. Có bầy hạc xám đang khoan thai nối đuôi bay về tổ, buông tiếng náo động
một góc trời. Tiểu Bửu dò dẫm trèo lên từng nấc đá, bàng hoàng nhận ra tâm mình
giao động theo mỗi bước chân.
Trong sân chùa, sứ trắng rộ nở, hương lan nhè nhẹ. Thềm gạch lở loét mấp mô.
Chùa tróc mái, chỉ còn trơ lại những cột gỗ xiêu và chân vách cháy nám. Nơi
này, như nhiều nơi khác, có lẽ đã được dùng tiêu thổ kháng chiến. Tiểu Bửu đặt
đòn sóc xuống đống gạch đất vỡ vụn, mọp người chắp tay. Chú hình dung lại cảnh
chùa trước cơn biến động. Ðiện thờ được xây theo hình bán liên, nhắc nhở tính bất
toàn của con người. Cánh phải là nhà trai. Cánh trái là phòng toạ thiền. Sau
chánh điện là hành lang dài và hẹp, kê tủ chứa kinh điển và vật thờ. Cách một lối
ngắn trải gạch nung là nhà bếp, một góc được ngăn vách làm tư phòng cho Tiểu Bửu
thuở bé và hai bạn đồng tu khác. Bên trái là buồng sư cụ. Bên phải là phòng tắm
và nhà vệ sinh. Giờ đây, tất cả đều đổ nát. Tiểu Bửu rưng rưng hồi tưởng kỷ niệm,
thẫn thờ dọn dẹp một góc chùa làm chỗ trú đêm. Từ mớ gạch vụn, một con cắc kè rối
chân chạy ra, dừng lại ngấc đầu ngơ ngác giây lát, rồi lủi nhanh vào khe trống.
Tiểu Bửu trải chăn ra đất, ngả người, tay gối đầu, suy tư vu vơ. Gió mát hiu
hiu. Nắng chiều xuyên mỏng cành lá, nhấp nháy từng đoá. Ngày đang chuyển mình
vào đêm. Chưa bao giờ Tiểu Bửu cảm thấy lòng mình gần gũi cùng thiên nhiên như
bây giờ. Ý tưởng mình là sinh vật tầm thường nhỏ nhoi trong cõi vũ trụ bao la
vô bờ càng thêm sắc nét. Cùng lúc là những hoài nghi về thân phận. Tại sao lại
có mặt mình tại đây mà không là nơi khác? Tại sao lại có những phân biệt giữa
mình và tha nhân? Ngã của mình, ôi, nhỏ như hạt cát, bẩn như cục phân, mà cũng
rộng như đất trời, tinh khiết như giọt sương sớm. Sau bao năm tu học, mình đã
chuyển hoá được gì chưa, mình đã dứt bỏ được những ràng buộc của khổ đau và dục
vọng chưa, hay lòng mình vẫn còn vướng mắc vào những móc xích mê chấp? Ðã có lần
sư cụ dạy rằng: ‘‘Tu không phải để lánh đời, mà để nhìn đời bằng tâm tư tích cực
hơn. Chuyển được tâm mình, tức là chuyển được cái tâm đời đầy u mê ám chướng.‘‘
Tiểu Bửu khép mắt lửng lơ, hai tay xoắn lại đặt trên bụng. Tiếng chim gọi chiều,
tiếng lá cựa mình vào đêm hoà với tràng âm thanh không tên nghiến mòn lê thê
trong lòng chú, làm thành điệu ru êm. Chú thiếp vào giấc ngủ rối.
Có tiếng chim ụt lạc giọng từng hồi. Tiểu Bửu tỉnh giấc, ngẩn ngơ giây lát.
Trăng rưới nhàn nhạt lên nền chùa hoang phế. Hơi đêm dịu mát. Côn trùng rỉ rả
không mỏi. Tiểu Bửu ngồi dậy, vươn vai, mở bầu nước, vốc ngụm nhỏ rửa mặt. Chú
nhẫn nha bóc vỏ củ khoai lang luộc còn lại, vừa ăn vừa ngắm tàn bông sứ sau sân
chùa. Trăng không sáng lắm, mà không hiểu sao mắt chú nhận rõ những đốm bông trắng
muốt như ngậm chất phát quang. Lời dặn của sư cụ vang lên trí chú: ‘‘Thầy chôn
tượng Phật bên gốc sứ sau chùa, có tảng đá núi làm dấu. Ðá hơi to, con phải đào
đất, lấy cây nẩy mới xê dịch được.‘‘
Giờ đây, Tiểu Bửu đang đứng bên cội sứ già, cạnh tảng đá vừa được bẩy sang bên.
Một hõm đất nông bày ra dưới luồng trăng nhợt nhạt. Tiểu Bửu quì gối, tay cầm xẻng
con, thận trọng xắn đất. Khí trời thoáng mát mà lưng áo Tiểu Bửu rịn ướt mồ
hôi. Tự dưng chú nghĩ tới thắc mắc ngây thơ của Tiểu Hạnh: ‘‘Không biết sư cụ
đòi đem bức tượng đó về làm gì?‘‘ Phải rồi, chi vậy? Không phải tất cả hình tượng
đều là vọng tưởng sao? Tại sao không ‘‘ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm‘‘, như
kinh Kim Cang đã dạy? Tiểu Bửu còn đang lan man tự hỏi, chợt giật thốn người
khi có cảm giác lưỡi xẻng chạm phải vật cứng. Chú nới tay, xới từng lớp mỏng. Mồ
hôi chú lăn thành dòng xuống cổ áo. Tiểu Bửu tận dụng thị lực, soi chăm chăm
vào hố đất con. Ðoán thấy đủ độ sâu, chú vất xẻng, dùng tay không cẩn thận bới
quanh vật thể được bọc trong nhiều lớp vải, miệng lâm râm niệm Phật. Chú mọp
người, khuân khối vải đặt bên miệng hố, chỗ sáng trăng. Tim chú đập liên hồi.
Chú phủi sạch đất cát, run tay tháo vải. Nước mắt chú tuôn ràn rụa khi nhận ra
pho tượng vẫn còn bóng ngời chất gỗ quí. Chú lẩy bẩy nâng pho tượng lên, toan
áp má vào mặt tượng thì... trời ơi, chú thấy từ lòng tượng rỉ ra từng dòng trắng
đục như sữa. Hai mắt Tiểu Bửu trợn ngược, miệng lắp bắp không tròn câu:
- Mô... mô... Phật, tượng ớ... mọt ăn.
Rồi chú buông tượng xuống đất, khóc nghẹn.
Ngô Nguyên Dũng
(Ðức, 19.5.1996)
Chiếc Ghế Đa Tình - Edogawarampo
Chiếc Ghế
Đa Tình
Sau khi chồng bà đi làm, bà Yoshiko được hoàn toàn tự do. Bà
vào thư phòng mà hai vợ chồng bà cùng chia nhau sử dụng, tiếp tục viết một
truyện dài cho số đặc biệt mùa hè của tạp chí K.
Bà Yoshiko là một nữ sỹ nổi danh về bút pháp lả lướt. Chồng
bà là một nhân viên cao cấp ở Bộ Ngoại giao, nhưng ông có vẻ lu mờ trước tên tuổi
đang lên của bà vợ. Hàng ngày, bà nhận được cả chồng thư từ của độc giả bốn
phương gửi tới.
Sáng hôm ấy, khi ngồi lại bàn giấy, công việc đầu tiên của
bà là đọc mấy xấp thư mới gửi đến. Bà đọc hết tất cả các thư đó.
Bà đọc các thư ngắn trước và ghi chú nội dung. Sau cùng bà đọc
các bức thư dài. Một đôi khi bà nhận được cả truyện ngắn mà người viết chịu khó
gửi đến để nhờ bà đọc và phê bình. Những truyện ngắn đó thường viết dài dòng,
luộm thuộm và gây buồn ngủ.
Hôm ấy, bà Yoshiko cũng nhận được một bản thảo. Nhưng đây là
một bản thảo hết sức đặc biệt, không có nhan đề trên đầu.
Có lẽ là một bức thư thì đúng hơn.
“Thưa bà…”
Bà Yoshiko ngừng lại, ngẫm nghĩ. Có thể đây chỉ là một bức
thư. Bà liếc nhanh mấy hàng phía dưới, nhưng càng đọc bà càng chăm chú thêm.
Tính hấp dẫn của bức thư khiến bà đọc một mạch.
“Thưa bà,
Tôi mong rằng bà sẽ bỏ qua cho sự đường đột của kẻ không
quen biết như tôi mà lại gửi một bức thư quá dài cho bà. Nội dung bức thư của
tôi sẽ làm bà xúc động mạnh và xúc động triền miên.
Trong thư, tôi thú nhận tất cả cảm nghĩ sâu kín của tôi và
những việc tôi đã làm.
Trong mấy tháng qua, tôi đã trốn xa ánh sáng văn minh, sống
lén lút như một con yêu tinh. Cả thế giới không một ai biết được các hành động
của tôi. Nhưng gần đây có một sự thay đổi lớn lao xảy ra trong tâm hồn, tôi
không thể giữ bí mật được. Tôi cần phải thú nhận.
Đọc đến đây, có lẽ bà phân vân không rõ tôi dẫn bà tới đâu.
Tuy nhiên, tôi xin bà nên kiên nhẫn nghe lời thú tội của tôi.
Tôi bối rối không biết phải bắt đầu như thế nào. Vì việc tôi
làm rất lạ lùng. Tôi thiếu lời lẽ để ghi lại. Theo tôi nghĩ không có lời lẽ nào
của con người có thể diễn tả đúng mức các chi tiết những việc tôi đã làm. Dù vậy,
tôi xin cố gắng kể lại theo thứ tự thời gian.
Trước hết, tôi xin nói rõ tôi là một người xấu xí không thể
tưởng tượng được. Điều đó là một sự kiện quan trọng. Vì nếu bà thấy mặt tôi, bà
sẽ ngất xỉu.
Nhưng bên trong cái mặt xấu xa ghê tởm đó, ác thay, tôi lại
có một quả tim biết rung động tha thiết trước vẻ đẹp, một quả tim nóng bỏng đam
mê.
Điểm thứ hai tôi là một người thợ tầm thường. Giá như sinh
nhằm gia đình quý tộc, tôi có thể dựa vào thế lực, tiền tài để tìm sự an ủi cho
cái mặt xấu xí của tôi. Và nếu như tôi là một nghệ sỹ có biệt tài thì tôi cũng
có thể quên được nỗi xót xa mà hình hài khác thường đã đem lại cho tôi với vần
thơ, điệu nhạn, tôi sẽ tìm được sự lãng quên… nhưng, tôi chỉ là một người thợ
đóng bàn ghế, sở trường của tôi là đóng đủ loại ghế.
Nhờ đi sâu vào ngành này nên tôi cũng tạo được một cái tên
trong làng. Những khách hàng thích loại ghế cầu kỳ đều đặt hàng ở hiệu tôi.
Từ một anh thợ mộc tầm thường, tôi trở thành một nhà vẽ kiểu
và thực hiện đủ loại ghế. Tôi say mê trong công việc sáng tạo, hết kiểu này,
tôi vẽ sang kiểu khác.
Và điều thích thú nhất của tôi là ngồi lên trên chiếc ghế vừa
hoàn thành. Đó là một sự thoả mãn về nghề nghiệp. Với tư cách là kẻ sáng tạo,
tôi có quyền ngồi trước trên các ghế của thân chủ, dù cho họ là bộ trưởng hay tổng
thống.
Khi ngồi lên những chiếc ghế đặc biệt đó, tôi thường nghĩ ngợi,
trí tưởng tượng của tôi được tự do phát triển… Tôi hình dung các nhân vật sẽ ngồi
một cách thoải mái trên chiếc ghế của tôi. Họ là những kẻ quý phái, sống trong
những lâu đài nguy nga lộng lẫy.
Tôi cũng hình dung chiếc ghế do tôi sáng tạo được đặt trong
một phòng sang trọng, phía sau một bàn giấy to tướng bằng gỗ. Trên bàn có một lọ
hoa, hương thơm bay thoang thoảng trong không khí.
Và nghĩ ngợi như vậy, tôi thấy như là chính tôi cũng lạc vào
thế giới sang trọng đó, như chiếc ghế mà tôi chế ra. Tôi muốn sống trong không
khí thượng lưu quyền quý đó.
Và một hôm, tôi được đặt đóng một chiếc ghế bành vĩ đại, loại
đặc biệt cho một khách sạn ngoại quốc ở Yokohama.
Loại này chưa hề có ở Nhật. Lẽ ra thì phải đặt ở ngoại quốc.
Nhưng khi nghe tên tuổi của tôi, chủ khách sạn đặt tôi đóng chiếc ghế đó.
Để lấy tiếng với khách hàng ngoại quốc, tôi đem hết tâm hồn
một nghệ sỹ đặt vào việc thực hiện chiếc ghế vĩ đại đó. Tôi say mê làm việc,
quên cả ăn, ngủ. Khi chiếc ghế hoàn thành tôi vui mừng hơn lúc nào hết. Vì đây
có thể nói là một thành công lớn lao nhất của tôi.
Như thường lệ, tôi ngồi lên chiếc ghế trước nhất. Thật là đầy
đủ tiện nghi! Thật là sang trọng! Thật là thoải mái!
Lò xo thật vừa vặn, không cứng cũng không mềm. Nệm bọc da êm
dịu làm sao.
Tôi cảm tưởng chiếc ghế không những hứng lấy người ngồi mà
nó còn mở rộng vòng tay đón nhận và ôm lấy người ngồi.
Tôi gnả người trên chiếc ghế để toàn thân lún sâu vào nệm,
vuốt ve hai cánh tay của chiếc ghế, lòng lâng lâng thích thú.
Lúc bấy giờ tôi có một ý nghĩ hết sức kỳ quái. Tôi không muốn
tách rời chiếc ghế vừa hoàn thành. Như một người mẹ mang nặng đẻ đau không đủ
can đảm để cho người ta cướp đi hòn máu của mình, tôi cũng không chịu được cảnh
chia cách giữa tôi và chiếc ghế.
Nhưng không thể không giao hàng cho thân chủ, tôi nảy ra một
ý nghĩ kỳ quái là chính tôi phải đi theo chiếc ghế. Có lẽ, bà cho tôi là điên,
mà tôi điên thật.
Tôi tháo chiếc ghế ra, xếp đặt bên trong để hai chân có chỗ
để phía trước, hai tay có chỗ gác lên hai cánh tay của chiếc ghế. Lưng và đầu
có thể tựa vào lưng ghế. Tôi cũng cẩn thận cho lỗ thông hơi để người ngồi bên
trong không ngộp và nghe được tiếng động bên ngoài. Tôi còn cẩn thận xếp đặt
vài chỗ trống nhỏ để trữ thức ăn và chai nước. Với lương thực tích trữ đó, kẻ nằm
trong ghế có thể ở luôn trong đó hai ba ngày.
Sau khi hoàn thành kế hoạch, tôi chui vào trong chiếc ghế và
có cảm tưởng là chính tôi đã chôn sống tôi trong nấm mồ đặc biệt này. Bên trong
tối đen như một nấm mồ, và đối với những kẻ bên ngoài, tôi là một người đã biến
vào cõi hư vô.
Không bao lâu, khách hàng đã đến lãnh chiếc. Anh thợ phụ của
tôi không hề hay biết gì về ý định kỳ quái của tôi. Hắn thay mặt tôi giao hàng
cho thân chủ.
Khi khiêng chiếc ghế lên xe, bốn người phu đã kêu lên:
– Trời đất quỷ thần ơi! Chiếc ghế nặng cỡ một tấn.
Khi nghe họ la như vậy, tôi tái người, sợ người ta biết là
có người trốn trong ghế. Nhưng chiếc ghế tự nó rất nặng. Cho nên không ai thắc
mắc.
Chiếc ghế đã được đưa tới khách sạn. Người ta để nó ở một
phòng khách, ngay tầng dưới.
Như bà có thể đoán, tôi chờ đêm đến, khi tứ bề im vắng, tôi
lẻn ra khỏi nấm mộ.
Có ai nghĩ có người xuất hiện trong một chiếc ghế! Cho nên
tôi tha hồ đi lại, lục soát tất cả các phòng trong khách sạn. Hễ bị động, tôi
chạy nhanh về nấm mồ của tôi. Vậy là an toàn.
Có lẽ bà đã nghe nói nhiều về loại ốc mượn hồn ở trên bãi bồi.
Loại ốc này thích bò đi kiếm ăn mà mỗi khi nghe có tiếng chân người là chạy
nhanh vào chiếc vỏ ốc. Tôi cũng là thứ ốc mượn hồn. Thay vì vỏ ốc, tôi có chiếc
ghế. ý nghĩ tôi rất độc đáo nên không ai ngờ những hành động kỳ quái của tôi.
Nhờ vậy mà cuộc phiêu lưu của tôi hoàn toàn thành công. Đến
ngày thứ ba, tôi gây xáo trộn trong khách sạn. Nhưng tình trạng đó tạo cho tôi
nhiều thích thú. Không gì vui sướng bằng khi chui vào căn cứ an toàn vừa đúng
lúc để nghe thiên hạ đuổi bắt xôn xao chung quanh. Tôi nghe người ta la trước
mũi tôi “Nó chạy hướng này” và kẻ khác lại “Không, nó chạy hướng kia”.
Nhưng ngoài cái thú cút bắt đó tôi phải chịu một vài cực
hình trong cái trò chơi ly kỳ và nguy hiểm này. Cực hình lớn nhất là lúc những
người Âu Châu to lớn, nặng nề ngồi lên chiếc ghế, sức nặng của các ông này ép
sát cái lò xo và trong trường hợp đó, họ ngồi trên mình tôi, chỉ cách có một lớp
da.
Lưng ông ta nằm tròn trên ngực tôi và hai cánh tay ông ta đã
đặt lên hai cánh tay tôi, khói thuốc xì gà của ông ta bay lọt vào căn cứ an
toàn và xông vào lỗ mũi tôi. Tôi muốn hắt hơi nhưng ráng nhịn. Tôi sợ đến toát
mồ hôi lạnh. Nếu không nhịn được tôi sẽ hắt xì lên, kể như cơ mưu bại lộ. Nhưng
may làm sao, tôi vượt qua được cơn khó chịu.
Kể từ ngày đó, số người chiếu cố đến chiếc ghế vĩ đại đặt giữa
phòng có hơi nhiều. Họ thay phiên nhau đến ngồi lên đùi tôi.
Dù vậy, không ai biết họ đã ngồi lên một người đang sống như
họ.
Nhưng bà sẽ ngạc nhiên mà hỏi tại sao tôi chịu khó chui rúc
trong cái “huyệt mả” tối tăm, nghẹt thở như thế. Có gì thích thú đâu!
Thật ra thì thích thú lắm, thưa bà. Tôi có cảm tưởng như một
con vật sống trong một thế giới mới lạ, một thế giới mà dần dần tôi trở nên
quen thuộc.
Tôi có thể đoán được những người ngồi trên mình tôi bằng cảm
giác mà không cần trông thấy.
Những kẻ mập nằm sát vào người tôi. Còn những kẻ ốm thì nằm
hêu hêu ở trên. Tôi có ý nghĩ là tôi đang ôm một bộ xương khô.
Tôi có thể phân biệt được người này với người khác một cách
tài tình. Những đường nét trong họ khác xa nhau, cũng như chỉ tay hay gương mặt.
Thường đàn bà chia làm hai loại: Loại xoàng và loại đẹp.
Trong thế giới tối đen của tôi, vấn đề đẹp về gương mặt là vấn
đề thứ yếu. Đối với một kẻ ở trong trường hợp đặc biệt như tôi, cái đẹp nằm
trong…vóc dáng, tiếng nói và mùi thơm.
Cô gái đầu tiên ngồi lên mình tôi là một thiếu nữ Âu. Tôi nhận
ra điều này nhờ nghe tiếng nói của nàng.
Lúc đó, thiếu nữ đang có điều vui trong lòng nên nàng ca
hát. Giọng thánh thót của cô lan toả khắp gian phòng. Rồi tôi nghe nàng cười
vang lên, tiếng cười thật là trong, đáng yêu làm sao. Tôi nghe nàng vỗ tay một
cái thích thú rồi ngồi lên mình tôi.
Trong vòng ba mươi phút, nàng tiếp tục ca hát, cả người lẫn
chân đều nhún nhảy theo nhịp hát.
Đây là một sự kiện mới đối với tôi vì từ trước đến giờ tôi
luôn luôn xa lánh phái đẹp, lý do rất đơn giản là tôi rất xấu.
ấy thế mà bây giờ đây, một cô gái đẹp ngồi trọn vẹn lên mình
tôi. Giữa tôi và nàng chỉ cách một làn da mỏng. Không hề hay biết có kẻ đang
nghĩ ngợi về mình, thiếu nữa ca hát một cách vô tư.
Trước diễn biến mới đầy mê ly hấp dẫn đó, tôi quên mất ý
nghĩ đầu tiên của tôi là lẻn vào khách sạn để ăn trộm.
Từ một kẻ cắp, tôi biến thành một kẻ si tình. Tôi hy vọng cuộc
phiêu lưu của tôi sẽ kéo dài trong sự mê ly hấp dẫn như thế mãi mãi.
Và từ đó, chiếc ghế mà tôi ví là một nấm mồ trở thành một tổ
ấm. Tôi đã tìm được tình yêu. Tuy là tình yêu đơn phương nhưng dù sao tôi cũng
thấy đời tươi vui hơn trước.
Thoạt tiên tôi dự định lẻn vào phòng vơ vét những vật quý
giá rồi trốn đi. Nhưng bây giờ thì tôi lại muốn ở lì lại đây.
Trong những chuyến dạ hành, tôi luôn luôn thận trọng bước thật
nhẹ cố không gây ra tiếng động cỏn con nào. Nhờ sự thận trọng đó, tôi ở yên
trong chiếc ghế cả mấy tháng mà không hề bị động ổ.
Những người ở khách sạn đa số là du khách. Họ đến ở một thời
gian rồi đi. Chỉ có một số ít là ở dài hạn, lấy khách sạn làm nhà. Cho nên tôi
không bao giờ có thể si mê một giai nhân một cách lâu dài. Cô gái đẹp người Âu
mà tôi đã “chấm” cũng đã đi từ lâu.
Có khá nhiều giai nhân đến với tôi, và tôi được biết thêm
chút ít về phái đẹp.
Dạo nọ có một vũ nữ đến Nhật, ngụ tại khách sạn của tôi. Mặc
dù chỉ ngồi lên ghế tôi một lần nhưng nàng đã để lại cho tôi một cảm giác êm đềm
mà từ trước đến nay tôi chưa từng biết. Khi nàng ngồi lên người tôi, tôi thấy
ngây ngất lạ lùng. Dường như vũ nữ này có một ma lực đặc biệt đối với nam giới.
Nhưng cuộc phiêu lưu của tôi bước qua một giai đoạn mới một
cách bất ngờ. Vì một lý do nào đó, ông chủ bắt buộc phải về xứ, bán cơ sở lại
cho người Nhật.
Chủ mới có chính sách mới, đó là tăng thu giảm chi. Những
trang trí mà ông cho là xa xỉ phẩm đều bị loại, cố nhiên cái ghế của tôi cũng
liệt vào danh sách những món đem ra bán đấu giá. Khi nghe được tin này tôi hết
sức thất vọng. Phản ứng đầu tiên của tôi là muốn trở về nếp sống bình thường
như mọi người. Tôi đã đánh cắp được một số tiền khá lớn, và nếu sống như người
thường, tôi có thể thong dong nhàn hạ. Tuy nhiên khi nhớ đến những cái thú kỳ lạ
trong thời gian tự chôn sống trong chiếc ghế, tôi thấy không đủ can đảm từ bỏ
cuộc phiêu lưu. Một ý nghĩ mới khiến tôi tiếp tục nếp sống kỳ quái. Trong thời
gian ở khách sạn, tôi chỉ được gần gũi với những người đàn bà ngoại quốc. Tôi
muốn có cơ hội được so sánh đàn bà Nhật với họ. Thấm thoát đã đến ngày đấu giá.
Người mua chiếc ghế là một công chức cao cấp ở Đông Kinh. Nhà ông ta là cả một
biệt thự nguy nga. Cuộc di chuyển dằn vặt tôi ghê gớm. Cơ thể tôi có nhiều dấu
bầm nhưng tôi cắn răng chịu đựng. Tôi chịu đau với hy vọng sẽ được sống trong
gia đình sang trọng của người Nhật. Khi đã về biệt thự, người ta đặt tôi trong
thư phòng có lối kiến trúc tây phương. Điều khiến tôi sung sướng nhất là chủ
nhân chiếc ghế là một thiếu phụ trẻ đẹp. Nàng rất thích ngồi trên mình tôi. Có
thể nói là nàng ngồi cả ngày, trừ những lúc ăn và ngủ. Cho nên cả ngày tôi được
ôm ấp tấm thân kiều diễm của nàng. Về sau tôi mới hiểu tại sao nàng chịu khó ngồi
trên mình tôi. Thực ra thiếu phụ trẻ đẹp đó là một nữ sỹ và bà thích ngồi trên
mình tôi để suy tư, đọc và viết.
Bà không thể hình dung được mối tình của tôi đối với thiếu
phụ đó đâu. Nàng là người đàn bà Nhật đầu tiên mà tôi được may mắn gần gũi. Hơn
nữa, nàng có một thân hình tuyệt đẹp. Nàng đúng là người đàn bà lý tưởng mà tôi
tôn thờ. Nàng đúng là thần tượng của tôi.
Tình yêu đã đến với tôi và đến vời một mức độ thật cao. Tôi
không thể xa nàng một phút.
Những lúc vắng mặt nàng tôi thấy nhớ nhung lạ thường. Lòng
tôi trống trải không chịu được. Tôi chờ đợi từng phút từng giây để được gần
nàng. Mối tình đó có thể so sánh với mối tình của chàng Rômeo và nàng Juliet.
Dần dần, tôi muốn biểu lộ mối tình của tôi đối với nàng.
Nhưng biểu lộ bằng cách nào đây? Nếu tôi chường mặt ra thì có lẽ nàng sẽ ngất xỉu
vì ngỡ là ác quỷ hiện hình. Hoặc là nàng sẽ kêu ầm lên và chồng nàng cùng bọn
gia nhân sẽ xông vào vây bắt.
Không, tôi sẽ không bao giờ chường mặt ra. Tôi phải tìm cách
khác. Và cách đó là cố gắng đem lại đầy đủ tiện nghi cho nàng khi nàng ngồi lên
chiếc ghế. Tôi muốn làm thế nào đó để nàng thấy chiếc ghế là một người bạn chí
thân, một người bạn không thể thiếu được, và như vậy là tôi thoả mãn lắm rồi.
Tôi luôn luôn cố gắng để làm cho nàng thoải mái mỗi khi nàng
ngồi lên mình tôi. Khi nàng ngồi lâu và bắt đầu thấy mỏi thì tôi từ từ nhích
đùi đi để nàng được dễ chịu hơn, ấm cúng hơn. Khi nàng chợp mắt thì tôi nhẹ
nhàng lắc lư để ru nàng đi sâu vào cõi mộng.
Tôi có cảm tưởng là nàng cũng yêu chiếc ghế vì mỗi lần ngồi
lên, nàng có cử chỉ sung sướng như một đứa bé được mẹ ôm trong lòng, hay một cô
gái âm yếm với tình nhân.
Mối tình câm nín của tôi mỗi ngày một gia tăng và tôi dám chết
một cách thoả mãn nếu chỉ được giai nhân nhoẻn cười với tôi một lần thôi.
Thưa bà, đọc đến đây có lẽ bà đã đoán được giai nhân đó là
ai rồi! Nói gần nói xa, không qua nói thật, người đó chính là bà.!
Ngay từ lúc ông chủ mua chiếc ghế, vừa đưa vào thư phòng thì
tôi đã bắt đầu biết được những sự đau khổ xem lẫn với sung sướng của kẻ dám đắm
hồn trong biển tình.
Những lúc được gần bên bà là những lúc sung sướng nhất đời
tôi. Nhưng càng sung sướng bao nhiêu, tôi càng xót xa, đau khổ bấy nhiêu, bởi
vì tôi là một kẻ xấu xa ghê tởm.
Tôi chỉ xin lỗi bà một điều. Có thể nào bà cho phép tôi được
gặp bà một lần chăng? Tôi sẽ không xin hỏi gì thêm. Có lẽ tôi là một kẻ hoàn
toàn không sứng đáng cho bà gặp, nhưng tôi hy vọng bà sẽ rộng lượng ban cho tôi
một ân huệ vì lòng nhân đạo.
Đêm qua, tôi đã lẻn ra khỏi biệt thự của bà để đem hết tâm
tư viết lên những lưòi thú tội này. Bà biết chăng, trong khi bà đọc bức thư
này, tôi đang lang thang bên vườn hoa bên ngoài, lòng thấp thỏm lo âu.
Nếu bà chấp nhận lời van nài của tôi, xin bà treo chiếc khăn
tay của bà lên trên lọ hoa bên ngoài cửa sổ phòng bà. Khi đó tôi sẽ bước vào biệt
thự với tư cách là một người khách nghèo hèn…”.
Bức thư kết thúc ở đó. Trước khi đọc hết bức thư, linh tính
báo cho bà Yoshiko biết trước bà là nhân vật chính trong chuyện quái đản này. Mặt
bà tái xanh không còn giọt máu.
Như một lò xo, bà đứng lên, chạy ra khỏi phòng. Bà tránh xa
chiếc ghế mà trong mấy tháng qua, bà đã ngồi lên đó hàng giờ, ngồi một cách thoải
mái.
Có lúc bà muốn ngừng lại giữa chừng, xé nát bức thư, nhưng
bà lại đổi ý, cố gắng đọc hết câu chuyện. Khi đã đọc xong, bà thấy linh tính đã
báo rất đúng chiếc ghế “ưng ý nhất” của bà có chứa một người thật chăng? Nếu
đúng như vậy thì thật là một chuyện quái đản rùng rợn.
Và càng nghĩ bà càng nổi da gà, lạnh buốt xương sống, dường
như có ai đó đổ nước lạnh vào lưng.
Bà nhìn sững lên trời như người lên đồng. Một lúc sau bà mới
bình tĩnh để suy nghĩ.
Có nên xem xét chiếc ghế để tìm hiểu thực hư chăng? Bà tự thấy
không đủ can đảm bước gần chiếc ghế ma quái đó.
– Thưa bà, có thư…
Bà Yoshiko giật nảy mình trước tiếng nói bất ngờ đó. Quay lại,
bà nhận ta có người đang đứng trước cửa, tay cầm một phong thư.
Bà cầm lấy phong thư và kêu lên một tiếng hãi hùng.
Lại một bức thư của con người ghê ghớm ấy!
Tên của bà hiện rõ trên phong bì, cùng với nét chữ như cua
bò quen thuộc.
Bà do dự một lúc thật lâu, phân vân không biết nên bóc thư
ra không.
Sau cùng, cố thu hết can đảm, bà xé phong bì, bóc thư ra đọc.
Bức thư thứ hai rất ngắn:
“Xin bà bỏ qua cho sự đường đột của tôi khi gửi thêm cho bà
một bức thư thứ hai. Tôi xin nói ngay cho bà an tâm. Tôi là một trong những người
ái mộ văn tài của bà. Bản thảo mà tôi gửi đến bà dưới hình thức một bức thư, đó
chỉ là một chuyện hoàn toàn tưởng tượng.
Tôi sáng tác câu chuyện quái đản này khi biết ông nhà mua
chiếc ghế đó…
Đây là tác phẩm đầu tay của tôi, nếu được bà phê bình thì thật
là vạn hạnh cho tôi.
Bà nhận xét nó thế nào? Nếu bà thấy nó lý thú phần nào thì
đó là một phần thưởng lớn lao cho cố gắng viết văn của tôi.
Trong thư đầu, tôi không nêu tên truyện ngắn của tôi vì tôi
muốn bà nghĩ đó là một bức thư.
Bây giờ tôi xin phép được đặt cho nó một nhan đề là” Chiếc
ghế đa tình”, không biết bà có đồng ý hay không?”.
Trân trọng kính chào bà và chúc bà được vạn sự như ý!”.
Edogawarampo





