Em Đi Bỏ Lại
Saturday, October 31, 2026
Nhớ Để Còn Đây - Thuyên Huy
Nhớ Để Còn Đây
Tặng một người tên Ch. đã có một thời
học làm cô giáo ở Sài Gòn
Trễ chuyến xe buýt
ra chợ Bến Thành, ngoắc rồi nhảy đại lên cái xe xích lô không khách qua ngang,
hối bác đạp xe ráng chạy nhanh giùm, cho kịp ra bến xe đón bà dì Tư, em ngoại từ
trên nhà xuống, ngủ lại để sáng mai sớm đi Rạch Giá thăm dì út, sắp sinh con đầu
lòng. Trời Sài Gòn đã quá trưa, đứng bóng nắng, cuối hè, nóng vẫn nóng, gió thu
chưa chịu về, đường phố vẫn người và người, một ngày như mọi ngày, cũng may có
chút gió lùa qua, mang hơi nước từ nhánh sông dưới bến đò Thủ Thiêm lên, tạm
mát.
*
Từ xa xa, bến xe vắng
người, chiếc xe đò lớn nằm yên ngủ, không thấy tài xế hay lơ xe đâu đây, chờ
chuyến chiều về lại tỉnh. Ngay cái băng ghế cây dài cho khách chờ, cách chỗ xe
đậu cuối dãy, gần bên cái quán bán cà phê cơm nước, bến vắng tanh, bà dì Tư ngồi
cạnh bên một cô gái, tóc dài xỏa ngang lưng, cả hai ngó về hướng chợ, nói qua
nói lại gì đó, tôi đi chậm lại, tới sau lưng, lên tiếng gọi, cả hai quay lại,
bà dì cười “con”, ngạc nhiên, tôi gật đầu chào, cô gái cũng gật đầu
chào, cả hai nhìn nhau, có lẽ đã có lần gặp nhau, ở đâu đó rồi.
Cô cười mà không nói gì, bà dì nắm tay cô, ngó
tôi chậm rãi cho biết “cô và bà đi cùng chuyến xe về Sài Gòn, bà cháu nói
chuyện này chuyện kia trên xe, cũng vui, khi tới bến, thấy bà dì ngơ ngác, dòm
dòm kiếm kiếm ai đó, cô không có gì vội, phần sợ bà một mình cũng lo, nên ngồi
cùng bà chờ con”.
*
Đưa cô gái, vừa kịp nhớ
tên, Dung, cô gái nhỏ làm công nhân cạo mủ ngày xưa, tới ngoài đầu đường, ngay
bồn binh, Dung băng nhanh qua bên kia Lê Văn Duyệt, đón xe về nhà trọ đâu đó
trên chợ Đủi, tôi vẫy tay chào, Dung quay lại cười, nụ cười pha chút nắng hồng
xế trưa, nụ cười của những bữa cơm cá khô, cà chua bên hàng ba nhà máy mủ trưa
thứ bảy. Hai bà cháu đi ta xi về, trên xe, bà cười mĩm nhìn tôi, không biết bà
nghĩ gì, riêng tôi thấy mình có chút gì vui thiệt. Bà còn nói thêm tiếng một tiếng
hai khen “cô đó vừa đẹp, vừa dễ thương, học ở trường gì đó cuối năm nay xong
sẽ là cô giáo”.
*
Sau mấy năm dài cặm cụi, nâng niu từng
cọng cỏ ngọn cây, từng bờ mương con đường, mà ba má tôi đã dày công sức bỏ ra, cái
sở cao su chừng trên dưới mười mấy mẩu, đã bắt đầu khai thác, sau khi cái nhà
máy chứa mủ, xấy khô, đóng bành đã xong, ở khu ven ngoại ô của tỉnh, khỏi cầu
Trà Phí, xa xa phố chợ, khỏi xóm nhà lẻ loi lưa thưa, đường trải sói đá đỏ, đèn
điện khi mờ khi tỏ.
Từ
ngày đó, tuần nào cũng về trên nhà, mới đó mà nhớ, nhớ hàng cao su cao cao xanh
lá thẳng hàng, chạy song song hai bên những con đường đất ươm ướm màu bụi đỏ nhạt,
đan kín nhau, che bóng nắng, mát rượi, nhớ mà thương cho ba má, chạy lên chạy
xuống, nhà dưới xã nhà trên tỉnh, mướn người mướn xe, ôi đủ thứ chuyện, xuống
Sài Gòn học mà cứ thấp tha thấp thỏm.
*
Lần này về, xuống xe lôi máy, từ ngoài đường
vô nhà máy đã thấy có người ngồi người đứng ngoài hàng ba, toàn là đàn bà con
gái, chỗ để nghỉ ngơi, tụm nhau hình như sửa soạn ăn trưa, mười mấy cái xe đạp,
cột thùng thiếc đựng mủ dựng hàng dài, dọc theo bờ rào kẽm gai, có trồng đệm
thêm mấy cây ớt, cao chưa khỏi gối xum xuê trái.
Thấy
tôi, họ ngừng nói chuyện, trố mắt nhìn ra, tôi cũng chưa kịp chào thì, chú tư
Tưởng, người phụ ba lo việc coi sóc nhà máy từ phía sau mấy cái hồ chứa mủ, đi
ra, chú cũng trố mắt “ủa mới về hả con”, tôi “dạ” một tiếng nhỏ,
rồi chú quay vô trong “anh tư ơi, thằng út về nè”, tôi cười chào họ,
lách qua mấy cái hồ đi, khuất chưa xa, nghe tiếng chú hai “con ông chủ”,
chắc là nói với mấy người làm.
*
Sau
hai ba lần về nhà, lạ rồi quen, tính tôi vốn đã hiền như tên ba má đặt, lại có
tài ăn nói, nên, không nói gì tới chú tư, giờ cả mấy chị con gái cạo mủ đều
thích đều thương, duy chỉ có cô nhỏ nhất trong nhóm, chắc nhỏ hơn tôi ba bốn tuổi,
tóc dài, dễ thương, có duyên, là còn mắc cở, ngó trời ngó đất. Lần nào cũng vậy,
từ dưới Sài Gòn vô nhà máy, luôn đúng giờ họ từ sở cao su về nghỉ, tôi thôi
không còn theo ba ra chợ, mà tụm lại ăn cơm chung, mới đầu thì cơm do chú tư lo,
sau đó bớt ngại, có gì ăn nấy, nên mấy chị cũng để phần cho, cá khô, dưa luộc,
mắm muối gì không sao, ngồi ăn quanh nhau, cười nói vang rân, ba ngồi trong nhà
máy nhìn ra, lắc đầu cười “cái thằng”.
*
Cô
con gái nhỏ, Dung, gia đình nghèo, không có ba, chỉ còn má với bà ngoại, nhà miệt
trong ngã ba Ao Hồ, ngày đi làm, lúc nào cũng có mặt đúng giờ tại nhà máy, chuyện
tới chuyện lui, mới biết thêm, Dung còn đang học lớp đệ Tam trường tỉnh, thấy
thương tình, ba cho cô làm ngày cuối tuần và trả tiền công nhiều chút đỉnh, hơn các người khác, coi như là tiền cho, Dung
siêng năng, lanh lẹ, ăn nói dịu dàng, dạ thưa, cho nên ai cũng thương cũng mến,
chú tư không ngớt miệng tiếng một tiếng hai “con gái nuôi ”, phần tôi,
lúc nào cũng gợi chuyện, kể chuyện phương xa, chuyện học hành, lời khuyên lời bảo,
anh anh em em, ngày thêm gần gũi hơn.
Từ đó biết nhau mến nhau hơn, hôm nào về tôi
cũng mang theo chút quà Sài Gòn, kẹo ngọt, bánh tây, đồ hộp... những thứ người
ta bán đầy ở chợ trời Hàm Nghi, đặc biệt thêm mớ sách Tuổi Hoa, mớ truyện cho
cô gái nhỏ, tên Dung, gọi là “mấy chị ăn lấy thảo” như thay cho lời cám
ơn đã giúp gia đình mình.
*
Và
cũng từ đó, mấy chị lớn thường nghe Dung hỏi họ nhiều hơn về tôi, và khi nói đến
tôi là cô thường nhìn xa xăm, tưởng chừng như đang mơ mộng, nhứt là những lúc
nghỉ ăn trưa thứ bảy, cô xem ra thẩn thờ hơn, sầu tư biếng lự, cứ ngóng ngóng
trông trông ra đường lộ, mấy chị đủ lớn để hiểu chuyện gì, không biết sao, nếu
thật thì “thương cho em quá”, chú tư cũng đã thấy vậy, cười mà thở dài lặng
thinh “tội nghiệp”, với Dung, cô con gái nhỏ, giờ thì sách vở lớp học
sân trường có thêm cái gì đó, trong từng trang, từng hàng chữ, một cái gì khó tả
khó quên, nhớ ray nhớ rứt, bảy ngày trong tuần cô cứ mong cho tới ngày thứ bảy.
*
Sau nghỉ Tết, đi làm trở lại, thứ bảy, tôi
về cùng với cô bạn học chung trường, người Sài Gòn, cũng lúc giờ mấy chị làm
nghỉ ăn trưa, hai đứa tôi nhanh nhẩu vui cười chào từng người, rồi quày quả đi
vào trong nhà máy, bữa cơm hôm nay không có tôi, không có tiếng cười, Dung ngồi
chết lặng, mấy chị lớn nhìn nhau, không ai nói tiếng nào, mọi thứ cũng chết lặng.
Một lát sau, ba tôi và cô bạn đi ra trước,
tôi theo sau, tới nhóm người làm, đang dọn dẹp sửa soạn trở lại rừng cao su,
chào từ biệt, hẹn tuần sau gặp lại, ra tới ngoài đường, họ lần lượt đẩy xe đạp
đi, chiếc xe lôi máy khuất dần cuối đường, trời nắng và gió lùa chút bụi đỏ,
Dung cúi mặt, không ngó theo, đi cuối cùng, nghẹn ngào khóc một mình.
Từ hôm đó, rồi những thứ bảy sau, Dung đã
thôi không còn đến làm nữa, tôi cũng không còn gặp lại, cuốn sách “Tuổi Hoa”
màu tím làm quà không có người nhận và trên chuyến xe chiều về Sài Gòn, nhìn ra
đường, bất chợt tôi thở dài, buồn buồn mà thương “biết rồi tại sao”.
*
Nhà nghèo, vừa đi học
vừa đi làm, phụ làm bồi cho cái nhà hàng lớn trên phố Gia Long, chợ tỉnh ngày
thứ bảy, gần một năm lớp đệ Nhị, đậu Tú tài Một, Dung không học tiếp lớp đệ Nhất,
thi vào trường Sư phạm Sài Gòn, mong được tốt nghiệp sớm cho má và ngoại đở cực
khổ hơn. Vào Sư phạm, Dung cố học, ra trường hạng cao để được về gần nhà, càng
gần càng tốt. Không quen biết ai, xuống Sài Gòn, may nhờ cô bạn cùng học chung
lớp, người Suối Cụt, đến ở trọ với cô ta tại nhà người bà con xa của cô gì đó,
nên má, ngoại mừng hết sức mừng, hai người đi về có nhau suốt hai năm học, năm
nay năm cuối, chừng gần tháng nữa thi tốt nghiệp và ra trường, bắt đầu đời cô
giáo.
*
Sài Gòn sáng chủ Nhật,
ngồi nhìn ra đường, bà dì Tư đi rồi, nhà vắng như đã vắng, nắng chưa lên dù đã
ngấp nghé đâu đó trên nóc mấy cái nhà lầu bên kia, ly cà phê nóng, hơi lên như
sương khói tỏa, xe lam chở khách, chở bạn hàng ra chợ nối đuôi nhau, ồn ào từ
trên ngã tư Bảy Hiền qua ngang, Sài Gòn tỉnh ngủ.
Chút chuyện vụn vặt
ngày đó, sau hôm gặp lại Dung, bổng sống lại cái nhớ ray rứt mỗi trưa thứ bảy về
nhà, nhớ bữa cơm, nhớ tiếng cười, nhớ cuốn sách Tuổi Hoa và nhớ cái buồn buồn của
cô con gái nhỏ làm công nhân cạo mủ, lầm lũi đẩy xe đạp, không có tiếng cười,
theo sau mấy chị lớn, lần cuối không còn gặp lại và cuốn Tuổi Hoa không có người
nhận. Thấy lòng mình buồn khó tả, có cái gì đó da diết đau, nuốt ngụm cà phê sắp
nguội, đứng dậy đi vào trong, chợt nhớ người, hình như “còn chút gì để nhớ để
thương” mà tôi đã để nó chìm sâu vào quên lảng sau một cuộc “tình lỡ”
bước vội.
*
Bữa cơm chiều tại
cái quán cơm bên hông chợ Đủi, được coi là bữa cơm tái ngộ sau lần gặp ở bến xe
miền Đông hôm đó. Dung cười nhiều hơn, cũng nụ cười giờ nghỉ cơm trưa tại hàng
ba nhà máy những ngày thứ bảy xưa, cả hai nói nhiều hơn ăn, Dung nhắc chuyện
qua rồi, có buồn có vui, chuyện của những cuốn Tuổi Hoa đem theo vào lớp học,
chuyện con nhà nghèo và đời làm công nhân cạo mủ, chuyện tình thương của chú
tư, của ba tôi và các chị khác, và chuyện trưa thứ bảy cuối cùng, không trở lại
làm, hôm tôi về với cô bạn gái từ Sài Gòn, pha một chút buồn thoáng nhẹ sầu
trong mắt.
Đưa Dung về tới nhà
trọ, hẹn ngày gặp lại, cô bạn người Suối Cụt vẫy tay chào trước nhà, tôi thả bộ
ra bên kia rạp Nam Quang, chiếc xích lô đạp chạy khá xa xuôi hướng Cao Thắng,
hai người vẫn còn đứng trước nhà nhìn theo, nắng chiều buông chênh chếch vàng, ngấp
nghé tàn, phố chưa lên đèn, tiếng chuông lễ chiều của chùa Tam Tông Miếu văng vẳng
man mác xa đưa.
*
Dung trố mắt ngạc nhiên, thấy tôi đứng ngoài
đường Thành Thái, xa xa hai ba nhóm người, đang nhìn vào bên trong trường, nói
qua nói lại, chắc là cũng chờ ai trong đó, khi vừa ra khỏi cổng, ngày chọn nhiệm
sở sau khi tốt nghiệp. Thả bộ ra đường Cộng Hòa, đi dọc theo bên lề Hồng Thập Tự,
trời gần cuối hạ, xế trưa nắng dịu chờ thu, trên đường về nhà, bên nhau mà Dung
cứ cười, một cái cười mừng vui, hớn hở mà không nói gì, tôi cũng cười theo,
không hỏi.
Dung cùng cô bạn người
Suối Cụt về dạy ở trường tiểu học Cẫm Giang tỉnh nhà, cái mơ ước ấp ủ từ lâu đã
thành hiện thực. Cẫm Giang tuy hơi xa nhà một chút nhưng có xe đò nhỏ, chạy suốt
ngày nên sáng đi chiều về cũng tiện. Dưới Sài Gòn, những ngày đi học Dung ở trọ nhà bà con cô bạn
thân, giờ thì cô bạn thân ở trọ nhà Dung, cả hai tiếp tục chia buồn chung vui
như ngày nào.
*
Mùa nghỉ hè hơn một
năm, sau khi ra trường xuống làm việc ở Thủ Thừa, về thăm nhà lần này vào nhà
máy, cũng trời sắp trưa như những ngày thứ bảy xa xưa, ai cũng ngạc nhiên trố mắt
nhìn, nhứt là mấy chị làm công nhân ngày cũ, vì thấy có Dung đi theo, ba tôi chỉ
mĩm cười, chú tư lăng xăng, đứng ngồi không yên, chạy ra chạy vô nói nói gì đó.
Dung xúm xích quanh
mấy chị, nói cười luôn miệng, trời cũng quá trưa, nắng nóng, giờ này giờ cơm
như trước, lại thấy mấy thùng đựng mủ, không nằm ngổn ngang dọc hàng ba mà được
sắp đâu đó ngăn nắp trên cái kệ dài, nhìn chưa kịp hỏi, chú tư nhanh chân ra gần
bên cho biết “bữa nay ăn cơm trưa ở nhà con”.
*
Tôi đi bên ba ra đường
trước, chú tư khóa cửa nhà máy, đẩy xe Honda ra sau, Dung theo mấy chị gái lần
lượt đẩy xe đạp theo, không biết họ nói gì mà Dung cười nhưng có vẻ thẹn thùng.
Chú tư và ba đi Honda, tôi, Dung đón xe lôi máy. Chiều nay ba cho mấy chị nghỉ
sớm, không cần phải trở lại làm.
Tới nhà, má đứng trước
cửa chờ hồi nào rồi, chú tư với ba về trước, đang loay hoay gì đó với mấy bụi
tre tàu cao già góc vườn, mấy chị vội vàng đẩy xe vào bên hông nhà, nhanh chân
“chào bà, chào bà” rồi ùa vô nhà, xí xô xí xào người tay bưng người tay
dọn món này món kia trên cái bàn dài ngoài mái hiên sân sau, dưới bóng mát cây
vú sửa cũng già không thua gì mấy bụi tre. Tới nhà trễ, Dung vội vã bỏ đi lẹ tới
sân sau, mấy chị vẫn còn cười nói vang rân, má đứng ở cửa sau nhìn, Dung sớ rớ
cúi đầu chào bà, má cười “con hả”. Bữa cơm trưa thứ bảy vui trọn vẹn như
tiếng chim có đôi, hót líu lo trên mấy cành cây xoài xanh lá trong vườn, hong nắng
trời giữa hạ.
*
Rồi cũng một ngày đầu
hè, tan trường, đường phố hồng phượng nở, người lạ người quen đi ngang qua ngã
ba Ao Hồ, thấy trước căn nhà mái thiếc vách cây, sân trồng đầy hoa “Móng Tay”,
có tấm bảng đề ba chữ “Lễ Vu Quy” và ngôi nhà mái ngói âm dương rong rêu
phủ, trên đường ra phố tỉnh, không xa mấy một trường tư thục có tấm bảng “Lễ
Thành Hôn”, cả hai kết đầy hoa, rực rỡ khoe sắc một trời trong nắng mai ươm
màu phượng đỏ.
Thuyên Huy
Chuyện tự dựng mà tưởng chừng
như có thật – Sắp vào Hạ 2026
Tiểu Long Nữ , Khối Tình Chưa Tan - Lê Vĩnh Húy
Tiểu Long Nữ - Khối Tình Chưa Tan
Hè 1962, tin dữ từ tờ Minh báo ở Hương
Cảng loan ra, làm rúng động toàn thể hải ngoại Hoa nhơn: Bạch y Tiên tử Tiểu
Long Nữ đã gieo mình tự tận, ngọc nát châu chìm ở Đoạn Trường nhai.
Lê Vĩnh Húy
Hỡi
ôi, thiên lý ở đâu? Nhơn luân ở đâu? Thằng ngu nào nghĩ ra trò hoang đường tới
vậy?
Lập
tức thơ từ, điện tín, và cả giấy tiền vàng bạc khắp năm châu tới tấp gởi về tòa
soạn Minh báo. Ngoài ra, người ta còn đăng bài trên báo khác, thậm chí biểu
tình, một hai đòi cô Long phải sống.
Hồi
đó chưa có internet, càng chưa có mạng xã hội, nhưng áp lực mạnh tới nỗi Kim
Dung phải chìu lòng người hâm mộ, sửa lại đoạn kết Thần điêu Hiệp lữ.
Đây
không phải lần đầu dư luận can thiệp, sửa lưng tác gia. Trước đó, người ta đã
đòi Kim Dung phải đổi tên họ Tiểu Long Nữ.
A.
TÊN HỌ TIỂU LONG NỮ
Lúc
đầu, cô Long có họ tên đàng hoàng, là Long Bích Hà 龍碧霞.
Bích
Hà là “cầu vồng biếc”, tượng trưng đạo cốt tiên gia. Lý Bạch đời Đường có câu:
羨君無紛喧 Tiện quân vô
phân huyên
高枕碧霞裡 Cao chẩm bích hà
lý
(Ngưỡng
mộ ông không bị nhiễu loạn; Gối đầu trong ráng biếc)
Tạ
Ngao đời Tống cũng viết:
晚風吹袂過船去 Vãn phong xuy duệ
quá thuyền khứ
看鶴上天衝碧霞 Khán hạc thướng
thiên xung bích hà
(Gió
chiều lùa tay áo đưa thuyền đi;
Nhìn
chim hạc xông lên ráng biếc)
Họ
Long, tên Bích Hà, thì là rồng vờn “mống chuồn”, tiên khí phiêu phiêu còn gì!
Nhưng
thiên hạ lại nghĩ khác.
Trong
tín ngưỡng dân gian Trung Hoa, có “Bích Hà nguyên quân” là nữ thần bảo hộ việc
sanh nở (tương tợ bà “Mẹ sanh Mẹ độ” ở Nam Việt Nam). Thành ra tên Bích Hà khiến
liên tưởng tới vụ đẻ đái, đậm mùi tục khí!
Thiên
hạ kêu rêu quá, khiến Kim Dung phải đổi cho nhơn vật từ họ Long ra tên Long. Bởi
vậy, khi Dương Quá hỏi họ tên, cổ nói: “Ta không có họ, chỉ biết mình tên Long.
Lúc nhỏ, Tôn bà bà vẫn kêu là Long nhi”.
Vì
chỉ biết cổ tên Long, tuổi lại còn trẻ, nên giang hồ kêu Tiểu Long Nữ. Đây là
biệt danh, không phải họ tên thiệt.
Mà
biệt danh nầy lại ngoắt ngoéo éo le lắm nỗi.
Cũng
trong dân gian, từ thời Tống đã lan truyền chuyện hồn ma một đạo cô. Cô nầy quê
quán ở Nam Xương thuộc tỉnh Giang Tây, vân du suốt một giải Ba Thục. Sau khi
hóa, đạo cô hiển linh, ảnh hưởng khắp Ngô-Sở, với biệt hiệu “Ngô thành Tiểu
Long Nữ”.
Tiểu
Long là rồng nhỏ. Rồng còn nhỏ thì đâu thể làm mưa làm gió. Đã vậy rồng nầy lại
sống trong Cổ Mộ, thì khác gì con rắn?
Mà
quả thiệt, người Tàu vẫn có thói thậm xưng kêu rắn là rồng. Như trong Lộc đỉnh
ký có “Thần Long đảo”, chính là hòn đảo toàn độc xà.
Thành
thử “Tiểu Long Nữ” thiệt ra đồng nghĩa với “Xà nữ”.
Phái
Cổ Mộ đời thứ ba có hai kỳ nữ, thì cô chị giết người như ngóe, lừng danh Xích
Luyện tiên tử. Xích Luyện là loài rắn độc, nên cô em cũng bị đám bàng môn tả đạo
vu cho là Xà nữ – nghe y như chuyện Thanh xà Bạch xà. Đã vậy, tuy Thần điêu Hiệp
lữ không có thầy chùa Pháp Hải phá hoại lương duyên, nhưng có đạo sĩ phái Toàn
Chơn hút trộm nhụy ngọt nước nhứt, làm điên đảo mối chung tình.
Kim
Dung là “bậc thầy đặt tên” (Thủ danh Đại sư 取名大師). Ông dư sức kiếm
tên khác xứng hợp cho Long Bích Hà. Nhưng chuyến nầy ông thây kệ, cứ để gọn lỏn
“Long nhi”. Đây là nhơn vật chánh vô danh tánh duy nhứt của Kim Dung. Từ đó, nhắc
tới người nầy, chúng sanh chỉ có hai cách xưng hô: hoặc bắt chước Dương Quá kêu
làm “cô cô”, hoặc học theo tụi giang hồ miệng thúi kêu là “Tiểu Long Nữ”, vậy
cho đáng đời!
Đó
là cách nhà văn xử trí dư luận.
Nhưng
tới chừng bị chúng “góp ý” lần hai đòi cô Long phải sống, Kim Dung lại thành
tâm chỉnh sửa, có lẽ ông cũng không đành để cổ chết.
B.
ĐOẠN KẾT CÓ HẬU CHO CÔ LONG
Ban
đầu, ý định của Kim Dung là hóa kiếp cho cô Long, để Dương Quá sống nửa đời còn
lại với Quách Tương.
Chữ
Quá trong tên Dương Quá 楊過 nghĩa là “sửa lỗi” (cải quá)[1]. Quách Tĩnh
biểu Mục Niệm Từ đặt tên nầy, ý mong mai sau đứa nhỏ sẽ sửa chữa những lỗi lầm
của tía nó. Còn Hoàng Dung lấy tên thành Tương Dương vợ chồng mình trấn giữ, đặt
tên con gái là Quách Tương 郭襄. Tương nầy còn là “hoàn thành, thành tựu”.
Ngay từ lúc đặt tên hai đứa, Kim Dung đã hình dung kết thúc viên mãn theo ý
ông: Quách Tương sẽ giúp Dương Quá thành tựu, sửa chữa lỗi lầm đời trước, hai
nhà Dương-Quách kết nghĩa thông gia, kề vai diệt ngoại xâm, đúng như ý nguyện của
Dương Thiết Tâm với Quách Khiếu Thiên năm xưa ở Ngưu gia thôn.
Sửa
lại đoạn kết Thần điêu Hiệp lữ, Kim Dung buộc phải kéo cô Long lên khỏi đáy vực.
Nhưng ông đành hanh, không chịu kéo liền mà ngâm đó miết mười sáu năm.
Con
số mười sáu nầy ẩn chứa huyền cơ.
Trước
sau cô Long bốn lượt dứt áo rời khỏi Dương Quá. Bốn bốn mười sáu. Lúc nhẩy xuống
vực, cổ đã ngoài đôi mươi. Chôn mình đáy vực mười sáu năm thì còn kịp nối duyên
ân ái, nếu để lâu nữa e đã ra hai cái thây khô, trùng phùng làm đách!
Tàu
có thành ngữ “nhị bát niên hoa”, ý nói mười sáu là lứa tuổi đẹp nhứt trong đời
cô gái. Mười sáu năm, đủ để con nhỏ Quách Tương còn trong tã thuở nào kịp lớn
lên thành cô nương khả ái. Mười sáu năm xa cách, cũng là uổng mất một độ niên
hoa của cô Long…
Sau
nầy Kim Dung than, Thần điêu Hiệp lữ là tác phẩm thất bại nhứt của ông. Nhiều
người cho là bởi ông đã nhượng bộ đám nhiễu sự sửa lại đoạn kết, khiến mạch
truyện xộc xệch, nhiều chỗ gượng ép. Nhưng đây là bộ truyện dài hơi, lại phải
viết gấp để kịp đăng nhựt báo. Đòi hỏi nó liền lạc vô khuyết là chuyện không tưởng.
Có
điều, Thần điêu Hiệp lữ đúng là không xứng kêu truyện kiếm hiệp, vì trong đó
không hề thấy chữ “Hiệp”, mà chỉ có chữ “Tình”.
Nó
mở ra cũng như đóng lại với câu ca ai oán:
“Hỏi
thế gian, tình là giống ôn gì,
Mà
làm cho sống chết khôn nguôi?”
Tiếng
là tiếp nối Xạ điêu Anh hùng truyện, nhưng Thần điêu Hiệp lữ lại bẻ ngoặt, làm
tiêu tùng hết giang hồ hiệp cốt. Đâu rồi hào tình vạn trượng của Quách
Tĩnh-Hoàng Dung? Ở đây chỉ thấy hầu hết nhơn vật quay cuồng, bị ái tình chi phối
tới mức cực đoan khác thường. Để rồi dẫn tới cái kết tuy “có hậu” nhưng không
khỏi khiến người đọc ngậm ngùi: Cô Long thất tiết, Dương Quá cụt tay, thành ra
cặp đôi “thiên tàn địa khuyết”; hay nói nôm na, chỉ là “rổ rá cạp lại”.
Vậy
mà đây lại là tác phẩm cuốn hút, nhiều người say mê tới nỗi can thiệp thô bạo,
đòi sửa đổi số phận cô Long. Lỗi nầy chính do Kim Dung, tại ông tả Tiểu Long Nữ
quá đỗi xuất thần mà ra nông nỗi.
C.
TUYỆT ĐẠI GIAI NHƠN
Trong
truyện Kim Dung thiếu gì gái đẹp. Nhưng chưa người đẹp nào được ông nâng niu
trân trọng bằng cô Long. Riêng tả dung nhan cô thôi, ông đã tuôn hơn bốn mươi
thành ngữ, mỹ từ: đẹp tợ thiên tiên, thế gian hiếm thấy, dung nhan thoát tục, vẻ
đẹp tuyệt trần…
Cô
Long đúng tài mạo song toàn. Dung mạo đã siêu nhiên thoát tục lại tinh thông âm
luật, vận dụng âm nhạc vô võ công, cô có thể dùng tiếng đờn tương thông với tha
nhơn.
Làn
da trắng mịn như tuyết, vẻ thanh tú rạng rỡ sương mai. Võ công cái thế, ra
chiêu lại phiêu hốt lâng lâng, nhẹ nhàng như thiên nữ rắc hoa.
Thẳng
thắn, cao thượng, tấm lòng cô rộng mở bao dung tới cả những kẻ hại mình mém chết.
Hai mươi tuổi, cô nắm được yếu chỉ thiền cơ, luôn thong dong tự tại trong bất kỳ
hoàn cảnh nào. Trúng kịch độc thấu tạng phủ, cô vẫn ung dung đàm đạo lẽ sinh tử
với đại sư Nhất Đăng (Đoàn Nam đế).
Từ
đạo cô Hồng Lăng Ba đệ tử Lý Mạc Sầu, cho tới Hốt Tất Liệt hoàng đế khai quốc
nhà Nguyên, khi nhìn thấy cô Long đều giựt mình cùng chung ý nghĩ: “Sao trên đời
có người đẹp tới vậy!”
Đã
vậy, từ nhỏ cô đã luyện khinh công thượng thừa Thiên la Địa võng thế, hàng đêm
vẫn ngủ trên sợi dây thoải mái như người ta nằm võng, vẻ phiêu hốt đó khác gì
Lăng ba Tiên tử. Y phục cô lại toàn trắng, gợi lên hình tượng Bạch y Đại sĩ
Quan Thế Âm.
Do
vẻ đẹp cô Long vượt xa bút mực thường tình, đâm ra báo hại nhiều người đẹp sau
nầy.
Từ
đó tới nay (1960-2025), Thần điêu Hiệp lữ dựng thành phim mười bốn lần, vai Tiểu
Long Nữ đều do các minh tinh nhan sắc khuynh thành đóng, như Trần Ngọc Liên,
Ông Tịnh Tinh, Phan Nghinh Tử, Lý Nhược Đồng, Phạm Văn Phiên, Ngô Thiến Liên,
Trương Tử Mộc, Mao Hiểu Tuệ, Vương Tử Thuần… Trong số đó, người được Kim Dung
đánh giá cao là Lưu Diệc Phi. Ổng khen vầy: “Lưu Diệc Phi là người có thần thái
của Tiểu Long Nữ nhứt”. Có thần thái nhứt, tức là vẫn chưa đạt được thần thái.
Đạt
sao được, khi mà chỉ hạ một câu, Kim Dung thổi bay hết thẩy đại minh tinh.
Hãy
đọc đoạn nầy, khi thằng nhóc Dương Quá lần đầu gặp cô Long:
Dương
Quá ngẩng lên, bắt gặp ánh mắt cô. Trước mắt nó là một cô gái thanh tú tao nhã,
đẹp tới mức nó không nỡ nhìn thẳng vô. Nhưng vẻ mặt cô lại lãnh đạm, thờ ơ. Người
nầy quả thiệt trong trắng như tuyết, lạnh lùng như băng. Nó không sao đoán được
cô đang vui hay quạu, buồn bực hay hân hoan. Vì vậy nó không khỏi sợ hãi: “Cô nầy
làm bằng pha lê hay là người tuyết? Là người hay là ma là tiên?” Tuy giọng nói
cô êm ái du dương, nhưng lại không chút ấm áp, ân cần nào. Nó sững sờ không thốt
nên lời (Hồi 5 – Hoạt tử nhân mộ).
Đẹp
tới mức người ta không nỡ nhìn thẳng vô, đó chỉ có thể là tiên nữ, hoặc bồ-tát.
Nếu
trong lòng không sẵn Tây Thi, làm sao tả đặng người đẹp nao lòng tới vậy?
Tây
Thi đó là ai?
Có
nhiều đồn đại quanh vụ nầy, nhưng tất cả chỉ là lời đồn, chẳng có gì làm bằng,
tưởng không cần kể ra đây. Hãy cứ biết đó là người tình trong mộng của Tra
Lương Dong [2] tiên sinh. Người đẹp đó đã kết hôn, nhưng lêu lêu, chú rể lại
không phải Thái Đẩu kiếm hiệp tác gia Kim Dung!
Con
cá sẩy thường là cá bự. Nhờ mối u tình day dứt khôn nguôi nầy, Kim Dung mới chuốt
nên Tiểu Long Nữ điển hình cho Cái Đẹp, cứu rỗi khắp tụi thất tình trong cõi ta
bà…
_________
[1]
Tả truyện: “Nhơn thục vô quá, quá nhi năng cải, thiện mạc đại yên” 人孰無過,過而能改,善莫大焉
(Làm người ai khỏi phạm lỗi lầm, biết sửa chữa lỗi lầm mới thiệt là đức hạnh).
[2]
Tra Lương Dong 查良鏞: Lương 良 là tốt lành, ôn hòa, thân thiện. Dong
鏞
là thứ chuông lớn thời xưa; ngụ ý cổ điển, trang nhã. Chữ nầy phiên âm đúng phải
là “Dong”. Nhưng ở núi Rau Răm, thôn Vịt Lộn, quận Ba Đình, thuộc Bắc Câu Lô
châu có một truyền thuyết: Đứa nào đọc nó là Dong sẽ bị bà cố bắt. Thành thử từ
sau 1975, chúng đều đọc Dong ra Dung. Bút hiệu “Kim Dung” 金庸
là do chữ Dong bẻ đôi mà thành.
Lê
Vĩnh Húy
Biển Động - ntcctc
Biển Động
Mến tặng
L.Hải
Nguyễn Thị
Công Chúa Tú Cầu
Em vẫn là
con biển động
Giữa đêm tìm những mộng lao xao
Em vẫn là sóng bão ngọt ngào
Thèm khuấy động tim anh còn bỏ ngỏ
Em vẫn ước
Phải chi anh là gió
Ôm tình em theo những lối anh đi
Cho em ngoan như một giấc xuân thì
Không vội vã
Em sóng ngầm yên lặng
Anh ơi,
Em vẫn là biển động
Vẫn đi tìm muôn kiếp góc tim anh
Hãy hỏi em, dù chỉ được một lần
Không hối tiếc, không bao giờ ngần ngại!
Em cũng sẽ không quay đầu nhìn lại
Một quãng đời xưa ta có là nhau?
Anh bỏ đi như sóng lũ bạc đầu
Em vẫn thề muôn đời sầu biển động!
Anh như quay quắt cơn giông
Em đau cúi mặt…
…chợt không là gì!
ntcctc
Thiền Mộng - Đinh Ngọc Hùng
Thiền Mộng
Lần
đầu tiên trở thành đàn bà chị đã khóc. Người đó ôm chị vào lòng vỗ về như một đứa
trẻ.
Làng
chị, có ngôi chùa gọi là chùa Phổ Địa. Ngôi chùa toạ lạc trên bãi đất cao phía
tây đường cái. Ở cổng chùa, hai cây đa lớn, chùm rễ xum xuê, tán lá rậm rạp,
ken dày vào nhau tạo thành không gian tĩnh mịch. Khuôn viên nhà chùa được gói gọn
trong bốn bức tường xây bằng gạch cổ. Phía sau chùa, có một chiếc ao, trước kia
thả bèo, giờ thả sen.
Ngôi
chùa có từ bao giờ người cao tuổi nhất làng cũng không nhớ nổi. Điều đáng nói
ngôi chùa còn lưu giữ một cái chuông lớn. Chiếc chuông này được liệt vào dạng
có tiếng kêu hiếm gặp. Mỗi lần chùa gióng chuông, vang tới cả những làng bên
kia sông. Các cụ trong làng bảo, ngày trước khi đúc chuông, dân làng bỏ vàng
vào nên tiếng kêu mới ngân xa như vậy. Để đúc chiếc chuông này, hiệp thợ đã mất
bảy ngày bảy đêm ròng rã.
Mẹ
là vợ hai của bố. Mặc dù mẹ chỉ có với bố hai cô con gái song ông vẫn không về
với người vợ cũ. Có vài lần chị gặp những người anh trai đến tìm bố. Chưa bao
giờ họ tỏ ra thân thiện với ba mẹ con chị. Người làng thì bảo bà chị bắt chồng
cho con gái.
Trước
kia, người trụ trì chùa Phổ Địa là một vị sư có gốc gác trong làng. Nhưng từ
khi vị sư già đó qua đời thì chùa đóng cửa. Chỉ dịp lễ lạt hoặc ngày rằm, chùa
mới được mở cho dân vào thắp hương. Qua mấy năm, chùa Phổ Địa lại có hai vị sư
tìm về, tiếp quản việc hương nhang đèn nến. Điều đáng nói, cả hai nhà sư đều là
nữ. Pháp danh sư cụ là Đàm Thuyên, còn sư nữ là Đàm Thảnh. Sự xuất hiện của hai
vị sư nữ khiến làng xôn xao. Thì đã đành trong đạo tu hành không phân biệt giới,
nhưng với người dân điều này khó chấp nhận. Trong lí lẽ của họ người tu hành nhất
thiết phải là đàn ông.
À
quên, chưa kể chuyện này. Đó là chùa Phổ Địa rất kén người tu hành. Cái dớp này
khiến người dân không khỏi lo lắng mỗi khi chùa có một vị sư mới tìm về. Trước
đây cũng có một ông sư tu tại chùa này, ngày ngày tụng kinh gõ mõ, bốc thuốc cứu
người. Dân làng mang ơn ông nhiều. Đi đâu ông cũng được người trong làng kính
trọng. Có chùm nhãn, nải chuối mọi người cũng đem ra biếu sư. Giàn trầu nhà
chùa bị gió quật đổ, mọi người chặt tre bắc lại cho nhà chùa. Nói thế để biết
dân làng kính phật đến mức nào. Bỗng dưng một dạo mọi người thấy cửa chùa đóng
nghim nghỉm. Qua cả ngày lễ lạt, cửa chùa cũng chẳng mở cho mọi người tới thắp
hương. Rồi một bà đi dâng hương đền Lạc Đạo nghe được chuyện về kể, mọi người mới
ngã ngửa ra. Thì ra, ông sư nọ đã trả lại ấn quyết nhà chùa hoàn tục.
Sau
chuyện ấy, lại xảy ra chuyện có đôi nam nữ yêu nhau, đêm đêm vào trong vườn
chùa tình tự. Cho đến một tối, họ đưa nhau vào nơi linh thiêng làm việc bậy bạ.
Rồi họ lấy nhau, sinh con nhưng những đứa con họ đều khác người. Thân thể dỏng
dớt, tay chân lều nghều như khỉ. Người ta bảo, họ dám làm việc đó ở nơi linh
thiêng nên giờ bị phạt. Sau ngần ấy chuyện, hai vị sư nữ về, mọi người e dè
cũng là dễ hiểu.
Sư
cụ đã ngoài thất thập. Dáng người nhỏ thó rộng lùng thùng trong chiếc áo nâu,
cái đầu gọt trọc. Nhìn sư cụ Đàm Thuyên người ta nghĩ đến một bà lão khắc khổ
nhiều hơn một nhà tu hành. Ni cô Đàm Thảnh thì ngược lại. Đó là một cô gái độ
mười tám đôi mươi. Dù khoác trên người bộ quần áo nâu sồng song những nét toát
ra trên khuôn mặt thì không có chút gì của người thoát tục. Đôi mắt to tròn sâu
thăm thẳm như chốn bể đời. Cái miệng không ăn trầu, không tô son nhưng lúc nào
cũng đỏ tươi như một vệt máu. Nước da trắng hồng, cái cổ ba ngấn lồ lộ dưới chiếc
áo nâu càng tôn thêm vẻ đẹp lạ lùng. Khuôn mặt đó vừa có những nét trần tục vừa
mang nét không trần thế. “Một người con gái như thế sao lại gởi thân nơi cửa phật?”.
Mỗi lần nhìn thấy Đàm Thảnh cầm chổi quét lá đa thấp thoáng ở cổng chùa, mọi
người lại xì xào bảo nhau: “Chắc cuộc đời có gì uẩn khúc?”. “Mới mười mấy tuổi
đầu hẳn bị tình phụ.”. Nhưng sau những câu nói đó, sự nuối tiếc lại nghiêng về
phía họ. Những người đàn ông trạnh lòng nghĩ đến vợ mình. Những người đàn bà tủi
cho nhan sắc của mình. Là một cô gái chị cũng đã có lần trạnh lòng.
Ở
đời, cái gì khắc sâu đều khiến người ta nhớ. Cho dù có chôn vùi nó trong tiền
thức thì một ngày kia nó vẫn sống lại như giấc mơ. Với chị đó là cái đêm ngắn
ngủi ấy. Những ngón tay bấu chặt vào hông. Những cú huých. Không gian bốn bề ma
mị. Khi người đàn bà không tự nguyện thì người đàn ông sẽ tìm cách chiếm đoạt.
–
Lần đầu à?- Người đó hỏi.
Chị
gật đầu. Nếu đó có thể gọi đó là một mối tình.
Mỗi
ngày rằm và đầu tháng bà ngoại lại mang hoa quả, thẻ hương ra chùa thắp. Chị
gái là người thường được bà cho theo xách làn. Mẹ phát cáu bảo: “Con gái gì mà
suốt ngày lân la cửa chùa”. Mẹ còn tuyên bố từ sau cấm chỉ không cho đi. Mẹ ngại
ra chùa. Chắc tại bà tiếc việc. Mẹ là người suốt đời không muốn một phút tay
chân đươc nghỉ ngơi. Mẹ chỉ đi ra ngoài khi có việc bắt buộc hoặc đi thăm ai đó
ốm đau. Chị cũng có vài lần theo bà và chị gái ra nghe sư giảng kinh. Những lúc
làm lễ, chị rất hay nhìn trộm Đàm Thảnh. Ngày xưa nói Thị Mầu lên chùa rồi yêu
tiểu Kính Tâm, bây giờ nếu Đàm Thảnh là chú tiểu chắc chị cũng đem lòng yêu như
Thị Mầu.
Ra
sân chùa thấy Đàm Thảnh đun nước ở bếp, chị ngồi bắt chuyện. Đàm Thảnh cười. Trời
ơi! Nụ cười đó không thể là nụ cười nơi cửa phật được. Nó quyến rũ hơn bất cứ nụ
cười nào. Thấy chị ngẩn ra, Đàm Thảnh chắp tay:
-A
di đà phật. Thí chủ sao thế?
–
Chẳng sao đâu. Chỉ thấy tiếc khi Đàm Thảnh trong màu áo này.
Đàm
Thảnh nhặt dưới đất lên một bông hoa đại, nhìn vào đó:
–
Tôi không có gia đình. Sư cụ Đàm Thuyên đã nuôi tôi từ nhỏ.
–
Chứ không phải vào chùa như người ta nói?
–
Nói sao?
–
Tình phụ!
Chị
biết, Đàm Thảnh còn bỏ ngoài tai bao lời trêu ghẹo của người đời khi thấy cô xuất
hiện ở cổng chùa hay có việc đi ra đường. Có lẽ đối với một cô gái bình thường
thì đó là niềm kiêu hãnh, nhưng đằng này Đàm Thảnh là ni cô, còn gì bất nhã
hơn.
Một
công ty nước ngoài chọn làng chị xây dựng nhà máy chế biến hoa quả. Quyết định
này đã khiến cuộc sống cả cộng đồng dân cư thay đổi. Kinh tế thị trường thật mạnh
mẽ. Nó vươn tới cả những nơi hẻo lánh như làng này. Nhớ lại chục năm trước đây,
người dân không bước chân ra khỏi luỹ tre làng. Cuộc sống vật chất eo hẹp, những
hủ tục, lệ làng như ma chay, cưới hỏi nặng nề khiến nhiều gia cảnh điêu đứng.
Làng thay đổi từng ngày. Nhìn lại quả chưa bao giờ dám nghĩ tới. Con người
không thể tồn tại nếu mãi giấu mình trong bọc kén. Cũng không thể sống nếu cắt
đứt mọi mối liên hệ với bên ngoài. Giờ chỉ với chiếc máy thu hình người ta có
thể biết cả thế giới đang diễn biến ra sao, từ chuyện chính trị, khinh tế bạo
loạn, khủng bố đến xung đột sắc tộc.
Sự
du nhập của cái mới kéo theo những cái cũ hoặc cùng thay đổi hoặc mất đi. Ngẫm
lại đời người lúc thăng lúc trầm, mình hôm nay chẳng là mình hôm qua. Và tất
nhiên ngày mai mình lại là mình khác. Cuộc sống như dòng nước cứ trôi, con người
vướng vào cảnh ngộ nào cũng gồng mình lên được.
Nơi
đặt nhà máy là khoảnh đất giáp với chùa. Chỉ mấy ngày những ao chuôm bao năm
nay chỉ để nghể nước mọc hoang đã được đổ đầy đất. Ngày trước, khi chưa xây dựng
nhà máy, chỉ có một mình, ngôi chùa nằm ở một vị trí cao ráo. Giờ khi nhà máy
xây xong và đi vào hoạt động ngôi chùa bị thu hẹp một cách đáng thương.
Chị
gái lấy chồng. Lũ con gái tuổi chị cũng lần lượt về nhà chồng. Trong lúc chúng
nó co kéo để vun vén cho một mái ấm riêng, chị thi đậu vào trường sư phạm. Sau
ba năm học trở về làm giáo viên âm nhạc ở ngôi trường làng. Tưởng cuộc sống thế
là ưu ái với mình, không ngờ những chuyển động biến thiên của cuộc sống bên
ngoài vẫn tác động nhiều thế. Đôi lúc tự hỏi rồi đây cái gì đang chờ mình phía
trước. Mẹ bảo: “Đối với người đàn bà mái ấm gia đình là quan trọng”. Chị không
phủ nhận điều đó. Chị gái cười ngất: “Cái gì mà quan trọng chứ. Thời nay câu
nói ấy chưa chắc đúng.” Cái cười của chị khiến thấy ghét. Ông trời vốn không rộng
lượng: cho người này cái này lại lấy đi cái khác. Phải chăng cái mà chị gái được
ông trời cho lại chẳng đáng giá khiến chị coi rẻ. Chị nhổ tóc sâu cho mẹ, mẹ
nói: “Con gái ngoài đôi rồi đấy”. Chị cười mà chẳng biết mình buồn cười vì gì.
Chị nhổ tóc sâu cho mẹ, mẹ nói: “Ở làng này con gái ngoài hăm là thấy lo”. Chị
vân vê sợi tóc trong tay. Không muốn để trong đầu mà lời mẹ cứ chui vào đáy óc.
Chị nhổ tóc sâu cho mẹ, mẹ nói: “Bụng cái Vân nhọn thế là sinh con trai đấy, đứa
đầu là gái thế là đủ cả nếp tẻ. Cùng tuổi với nhau mà mày…” Câu nói bỏ lửng của
mẹ khiến chị đánh rơi sợi tóc. Chị nhổ tóc sâu cho mẹ. Tuổi ba mươi đến lúc nào
chẳng rõ.
Chị
gái lấy chồng ở ngay làng. Nhà chồng chị gái giáp ngay chùa. Bà mẹ chồng chị
gái hơn mẹ ba tuổi. Bà là người coi việc đi dâng hương ở các cửa chùa là phận sự.
Chị gái bảo: “Bà ấy mê tín lắm. Ngay như chuyện hai đứa, bà ấy phải xem xét
chán mới ưng thuận. Lúc yêu nhau tao với ông ấy đã mấy lần định chia tay nhưng
không biết xem đâu người ta bảo tao là số quý tướng, gia đình có ăn nên làm ra
là nhờ tao nên mới cố níu lấy.” Rồi chị nói tiếp: “Ai đời trông cháu, nó khóc lại
lôi kinh phật ra đọc. Trẻ con hiểu thế nào được kinh kệ mà đọc cho nó nghe. Đồng
bóng đến mức vậy. Đến lúc thằng bé biết bập bẹ nói thì câu nó nói sõi nhất là:
A di đà phật.”
Sau
một đêm có thể nhiều thứ sẽ biến mất. Chị đã chứng kiến sau một đêm người đó
vĩnh viễn biến mất khỏi cuộc đời chị. Cũng dạng một giấc mơ chăng. Nhưng với chị
đó là giấc mơ có thật.
Cái
làng nhỏ bé này nom vậy mà cũng nảy sinh lắm chuyện: vợ chồng ly dị, anh em bất
hoà tranh giành đất hương hoả, tệ nạn xã hội, nghiện hút, đĩ điếm. Rồi kiện cáo
việc bớt xén tiền đền bù. Nhưng có hai chuyện mà chị nhớ nhất. Chuyện thứ nhất:
đột nhiên ni cô Đàm Thảnh đi khỏi chùa. Có tin đồn ni cô bỏ theo một người con
trai về xây dựng nhà máy chế biến hoa quả. Sư cụ Đàm Thuyên ngồi chết lặng.
Không phải chỉ mình người bất ngờ mà ngay đến dân làng cũng bàng hoàng. Chùa
làng giờ chỉ còn sư cụ Đàm Thuyên trụ trì. Câu chuyện về ni cô Đàm Thảnh cũng
theo thời gian trôi vào quên lãng. Chuyện thứ hai: đang yên đang lành chị gái
đùng đùng đâm đơn ra toà li dị chồng. Cha mẹ bàng hoàng trước sự việc này. Có
hai đứa con gái, đứa sau chưa ai rước đi thì đứa trước đã qua một đời chồng. Mẹ
bảo chị gái:
–
Dù gì thằng con mày cũng là dòng dõi nhà người ta. Khi lớn nó lại theo về bên ấy
thôi. Công của mày cũng chỉ là công cốc.
Chị
gái cười xoà:
–
Mẹ khỏi phải lo. Có phải dòng giống của họ đâu mà nhận.
Mẹ
tái mặt. Chị không mấy ngạc nhiên vì điều đó. Cha thằng bé chắc là một người
nào đó trong đám công nhân. Lúc nhà máy đang thi công, làng nhiều quán bia,
quán cà phê mọc lên. Ngồi sau những quầy hàng là các cô gái trát phấn lên mặt
còn vụng về. Sau khi cuộc sống trở lại làng có nhiều cô gái nuôi con một mình.
Thêm
nhiều người đàn ông đến với chị nhưng rốt cuộc cũng chẳng đâu vào đâu. Chị xót
xa nhận thấy trong số những người đó trên mái đầu đã pha hai màu tóc.
Làng
nhiều người phát đạt nhờ đền bù đất sau khi xây dựng nhà máy, nhiều người phất
lên vì đi nước ngoài. Những họ lớn kêu gọi con cháu đóng góp tiền của dựng từ
đường. Chưa bao giờ làng có nhiều những ngôi từ đường to đẹp, khang trang thế.
Ngôi chùa Phổ Địa cũng được xây dựng tu bổ lại. Một nửa số tiền tu bổ chùa do
ông giám đốc nhà máy chế biến hoa quả người nước ngoài cung tiến. Ngày làm lễ động
thổ sư cụ Đàm Thuyên làm lễ suốt đêm. Nghe nói việc vận hành nhà máy gặp hết trở
ngại này đến trở ngại khác, đón thầy về xem bảo động đến cửa chùa. Muốn yên ổn
phải làm cái lễ tạ. Giám đốc là người phương tây chẳng hiểu sao cũng tín việc
này. Có lẽ nhập gia tuỳ tục thì sẽ được yên ổn.
Ngày
hoàn thành chùa vợ chồng ông trưởng phòng địa chính cung tiến vào một bức tượng
Di Lặc thuê ô tô chở đến. Chẳng hiểu sao dân làng ùn ùn kéo ra chặn không cho
mang tượng vào chùa. Cuối cùng thương thuyết mãi pho tượng cũng được đặt lên bệ.
Nhưng một dạo sau bỗng nhiên người ta không thấy pho tượng ở trong chùa nữa. Nó
đã bị ai đó bí mật ném ra sông. Cuối năm ông trưởng phòng bị kỷ luật và chờ hầu
toà vì liên quan đến việc bán đất công.
Từ
khi biết rõ thằng Phú không phải dòng giống nhà mình, gia đình chồng cũ của chị
gái chẳng còn ngó ngàng gì tới nó. Thế mới biết mọi mối quan hệ của con người đều
được xác lập một cách tương đối, nó có thể thay đổi bất cứ lúc nào. Ngay cả việc
chị gái đột ngột ra tu tại chùa cũng khiến mọi không sao hiểu được. Phải chăng
chị đã đến cái tuổi chiêm nghiệm ra một điều gì đấy.
–
Còn thằng Phú- Chị hỏi.
–
Nó đã quen sống một mình từ nhỏ.
Chị
giận tím mặt bỏ về. Trách nhiệm người mẹ chị gái để đâu. Nhưng gần về đến nhà
cái đầu căng nhức của chị lại giãn ra. Ừ! Ở đời ai làm gì đó mà chẳng có một lí
do. Nó có thể không chấp nhận được với người này nhưng lại hợp lí với người
khác. Cách sống của chị gái khiến cha mẹ chị choáng váng. Cha sinh uống rượu. Hễ
uống rượu là ông lôi chị gái ra chửi. Có lúc sự tức giận của ông lây cả thằng
Phú.
Hãy
thừa nhận một điều cuộc sống đầy rẫy những bất ngờ. Việc chị gái đùng đùng bỏ cả
thằng con trai vào chùa ở cũng là một chuyện bất ngờ. Nhưng việc chị gái đột ngột
bỏ chùa hoàn tục lấy chồng nhanh như khi quyết định nương thân nơi cửa phật lại
là một điều bất ngờ hơn. Chồng chị gái là phó giám đốc của nhà máy chế biến hoa
quả. Anh ta là người Canađa tên Giô. Một người đàn ông phương tây cao to, mạnh
mẽ. Cưới nhau tháng trước tháng sau một ngôi biệt thự to đùng mọc lên ngay đầu
làng. Giô say chị gái như điếu đổ. Một lần vô tình vãn cảnh chùa, nhìn thấy chị
thế là không rời được nữa. Đã cưới chị gái vậy mà nhiều lúc chị vẫn bắt gặp ánh
mắt thèm muốn của Giô nhìn mình. Hay là con người mẫn cảm chị khéo tưởng tượng
ra thế. Có lẽ chị gái cũng hợp với Giô. Hai người đi đâu cũng quấn lấy nhau như
đôi sam. Thấy chị lôi chuyện nhạo, chị gái cười khanh khách nói:
–
Cái số tao nó ba đào vậy đấy. Đời nom vậy mà dài lắm. Muốn kết thúc cũng không
ngay được đâu.
Ở
quê chị chưa hề ai có khái niệm đi nghỉ ngày cuối tuần, kể cả những gia đình
khá giả. Vợ chồng chị gái cứ nay đi Sầm Sơn, Mai đi Đồ Sơn, rồi Hạ Long, Bãi
Cháy…Nghe cách chị sắp xếp lịch mà chóng cả mặt. Người làng tò mò. Người làng đồn
thổi. Người làng chửi rủa: “Con đĩ lấy tây”. Cha lên mặt. Cha hậm hực. Cha chửi
chị gái và ông con rể tây: “Lũ chó. Vì chúng mày mà ông khổ”. Thế mà trước mặt
bố vợ, ông con rể chẳng nể nang mà đè nghiến cô vợ xuống giường. Ông tuyên bố
không thèm bước chân vào nhà con gái và cấm cửa luôn ông con rể. Vậy mà vẫn có
nhiều người đến cầu cạnh chị để xin cho con em mình vào làm công nhân trong nhà
máy. Có người bảo: “Trước mặt chúng nó cầu cạnh, sau lưng chúng nó chửi, giúp
cái loại vô ơn làm gì.” Chị gái chỉ cười khẩy: ” Đời nó thế, chấp làm gì.”
Mấy
lần gặp cảnh vợ chồng chị gái trên giường, chị cứ thấy thế nào ấy. Vừa muốn
nhìn vừa muốn quay đi. Có lúc lại thấy tò mò cái lối sống lạ lẫm đó. Thấy chị
ngẩn ra nhìn thằng Phú nhếch mép cười:
–
Thích hả dì. Những lần khác còn bạo liệt hơn cơ.
Chị
giật mình vì câu nói của một đứa trẻ. Chị bảo nó không nên nhìn những cảnh này.
Nó nói:
–
Suốt ngày đập vào mắt không muốn thì cũng phải nhìn.
Sư
Đàm Thuyên đổ bệnh nặng. Từ ngày sư cụ ốm, mấy bà trong xóm suốt ngày túc trực
ngoài chùa. Cơm nước nấu luôn ngoài đó. Mẹ chị bảo:
–
Sư cụ năm nay yếu đi nhiều. Sức này nhà chùa khó mà trụ được. Người tu hành chỉ
trông vào sự hảo tâm của các phật tử.
Thành
thử tiền chữa bệnh cho sư Đàm Thuyên, làng, mỗi người đóng góp một ít. Hội phật
giáo cũng có cắt cử người về, thi thoảng cổng nhà chùa lại xuất hiện vài bóng
áo nâu.
Một
buổi, sư Đàm Thuyên có vẻ khó ở hơn thường lệ. Không hiểu sao dạo này chị cũng
hay nấn ná ra chùa. Đang loay hoay rửa ấm sắc thuốc ở cầu ao, chị nhìn thấy một
người đàn bà đội nón, tay cầm làn, dắt theo một đứa trẻ rẽ vào cổng chùa. Một
lát ngờ ngợ song chị nhận ra ngay. Đàm Thảnh!
Người
đàn bà nghoảnh sang phía chị. Sau một giây lưỡng lự, Đàm Thảnh cũng nhận ra người
quen. Đàm Thảnh bỏ nón cầm ở tay.
–
Em nghe tin sư cụ ốm nên tìm về – Rồi Đàm Thảnh cúi mặt – Em bất nghĩa lắm phải
không chị?
Lần
đầu tiên chị nghe Đàm Thảnh gọi là chị chứ không phải hai từ thí chủ của ngày
xưa. Vậy là Đàm Thảnh đã hoàn tục và đứa trẻ này là…
–
Nó là con em!
Nghe
mẹ nói đến mình, thằng nhỏ xấu hổ nép vào sau lưng mẹ, thò đầu qua háng. Vậy
ra! Nhưng tại sao hoàn tục, Đàm Thảnh vẫn để cái đầu cạo trọc như ngày xưa. Câu
hỏi đó cứ vương vấn trong chị suốt từ lúc gặp lại Đàm Thảnh.
Lúc
đem thuốc vào cửa gian trong, chị thấy hai mẹ con Đàm Thảnh đang quỳ dưới đất.
Mấy bà vừa rồi còn ở bên giường, nay đã lui ra phía sau chùa. Chị nhìn sư cụ,
thấy miệng người mấp máy. Có lẽ người đang dặn dò Đàm Thảnh điều gì đó, chỉ thấy
cái đầu trọc của Đàm Thảnh gật gật.
Từ
hôm đó, hai mẹ con Đàm Thảnh ở lại chùa. Hàng ngày, chị lại thấy cô cầm chổi
quét lá đa. Thằng Phú và thằng con Đàm Thảnh nhanh chóng chơi thân với nhau. Trẻ
con dễ làm bạn thật!
Sư
cụ Đàm Thuyên dần khoẻ lại. Cứ tưởng sư cụ đi ngay trong đợt ốm vừa rồi nhưng bệnh
tật đã không quật ngã được người. Một hôm từ ngoài chùa về, mẹ bảo:
–
Mẹ con Đàm Thảnh vừa đi. Chị hỏi đi bao giờ, bà bảo:
–
Đi sớm qua.
Chị
thần ra, những tưởng lần này mẹ con cô ở hẳn lại chùa, không ngờ…
–
Sư Đàm Thuyên đuổi đi – Mẹ thủng thẳng – Cửa phật không dung nạp những người
như thế.
Lòng
chị có một chút buồn. Chị hướng về ngôi biệt thự của chị gái. Nó đang nhoè
trong mưa. Sao cánh cửa lại mở toang. Sao lại lạnh lẽo thế. Giô dồn chị vào góc
phòng. Hai cánh tay đầy lông lá của Giô đã túm chặt được chị. Chị hét lên. Giô
cười. Chị càng thét Giô càng cười. Giô đè chị xuống giường. Giô giật áo trên
người chị. Hai bầu vú chị bật tung trắng nhẫy. Giô đưa cái lưỡi lướt trên ngực
chị. Mái tóc vàng hoe xoăn tít của Giô như mớ bùi nhùi quét vào mặt chị. Khi
cái lưỡi của Giô sục vào mồm chị, chị há ra đón lấy. Chị cắn vào tay mình và tỉnh.
Con người ta ai chẳng nằm mơ. Có những giấc mơ khiến cả đời nghĩ đến còn xấu hổ.
Buổi
tối nay cảm tưởng điện thắp sáng của cả làng này đều dành cho căn nhà của chị
gái. Ở đó đang nườm nượp người qua lại. Một bữa tiệc lớn mời khắp lượt họ hàng
để ngày mai chị gái theo chồng sang trời tây sinh sống. Chị gái bảo:
–
Sang đó rồi chị sẽ tìm cách đưa em sang.
Chị
lắc đầu:
–
Không. Em sẽ nuôi thằng Phú.
Sư
Đàm Thuyên qua đời. Ngày sư mất, cả làng chị từ người già đến trẻ đều ra đưa
đám. Lúc làm lễ hạ quan, chị cứ nấn ná chờ một người đàn bà có chiếc đầu trọc
xuất hiện trước cửa chùa. ĐàmThảnh đã không về. Có thể cô không biết về cái chết
của vị sư già đã nuôi dưỡng mình từ nhỏ. Cũng có thể mẹ con cô đã tới một nơi
nào xa lắm. Hoặc giả vì một lời nguyền nào đó của sư Đàm Thuyên, mà cô không được
phép xuất hiện trong tang lễ của người. Nói dại, biết đâu Đàm Thảnh chẳng còn
trên cõi đời này.
Chị
gái đi rồi, bố mẹ, chị và thằng Phú dọn về ở căn nhà rộng thênh thang có chỗ
chân không đi đến. Ở căn nhà này chị hay bị ám ảnh cảnh chị gái với anh chồng
tây ân ái. Hôm nay ở trường về chị thấy bực mình vì chuyện ông hiệu phó sắp về
hưu giở trò ve vãn. Vậy mà con người ấy ngày trước chị đã từng kính phục biết
bao.
Thằng
Phú càng lầm lì hơn trước. Chị gái bảo, khi nào bên đó thu xếp ổn định chị sẽ về
đón nó sang. Nhưng sẽ không bao giờ có cái ngày đó. Dáng nằm sõng xoài trong của
nó với đứa bạn gái thật khủng khiếp. Chúng nó chỉ là những đứa trẻ mới lớn.
Chúng nó tìm thấy gì trong cái trò chơi xác thịt ấy để rồi có kết cục như vậy.
Chị gái điện về: “Thôi, nhờ dì thu xếp yên lành cho cháu. Chị không chắc về được”.
Những lúc một mình chị hay nghĩ đến lời chị gái. Nếu mình cũng lấy một ông tây
thì sao nhỉ? Chắc chẳng sao. Giờ làng cũng có nhiều cô gái sang Đài Loan lấy chồng.
Thế nhưng hôm trước ti vi đưa tin một cô gái lấy chồng Hàn Quốc bị đánh chết
khiến ý nghĩ của chị tan biến. Một số gia đình có con lấy chồng nước ngoài cuống
cuồng lên vì lo lắng.
Dạo
này chị hay lang thang ra chùa mà không nhớ rằng ngôi chùa đã đóng cửa từ sau
khi sư Đàm Thuyên chết. Khi người ta không giữ được cân bằng thì hay tìm đến một
cứu cánh. Phải chăng chị cũng vậy. Sau khi người ấy vĩnh viễn ra đi, chị sống rụt
rè, co mình như lúc nào cũng sợ cuộc đời thò những xúc tua bám hút mình. Với chị
một lần đau là quá đủ. Chị không chấp nhận cách sống cách nghĩ của chị gái. Nhưng
ở đời ai chẳng có một hạt nhân chân lý cho riêng mình. Chị gái khác chị dám
quăng bản thân vào dòng đời để quẫy đạp, để giành giật. Được mất ai là người
phán xét và tại sao người ta nhất thiết phải cần sự phán xét. Giữa cuộc đời rộng
lớn này, không ít người sống trong thiền mộng. Chưa bao giờ thấy nói ai đó có
dư một cuộc đời để dự trữ. Nhưng dù gì dòng đời vẫn cứ trôi. Và trong cuộc đời
ít ai không từng hối hận. Chiều qua, ngoài cổng chùa, chị giật mình khi đứa học
trò bắt con nó gọi bà giáo. Sáng nay chải đầu chị lại quơ được một nhúm tóc trắng.
Ngôi
chùa Phổ Địa dù khuất giữa khu công nghiệp song vẫn chiếm một vị trí quan trọng
đối với người làng. Nó chứng kiến bao đổi thay, thăng trầm đất này. Nó mang hồn
cốt đất này. Không biết tới đây nhà sư nào sẽ về trụ trì tại cửa chùa? Ở giữa
làng rộn rình tiếng loa đài vọng lại. Đó là tiếng nhạc mừng đám cưới. Con gái
ông Ao đi Hàn Quốc về dẫn theo một anh chàng bản xứ xấp xỉ tuổi cha mình. Ngày
mai làng lại có một cô dâu khoác lên mình cái mác lấy chồng ngoại. Rằm tháng
sau đã là ngày xá tội vong nhân.
ĐINH
NGỌC HÙNG






