Monday, August 31, 2026

Cái Địa Chỉ Tình - Thuyên Huy

 

Cái Địa Chỉ Tình




 

     Chiều thứ bảy, trời và phố xá Sài Gòn vẫn vậy, cũng hai ba cơn mưa bất chợt, vội đến rồi vội đi, cũng người đuổi chân người, ngựa xe rộn rịp ngược xuôi, có quen có lạ trên vĩa hè rộng thênh thang hai bên đường, đường lên đường xuống.

    Anh ngồi đó, ngay cái bàn thấp của tiệm kem Mai Hương, ngã tư, ngó qua rạp chiếu bóng Casino quen, không thấy người chờ vào xem, vắng, đủ cho cô gái bán vé che miệng ngáp dài thoải mái, một cặp tình nhân còn rất trẻ nắm tay nhau, lắc lư theo nhịp chân đi, ngang qua, nhìn vào cười, anh cũng nhìn ra cười đáp lễ nhưng không biết cái cười của vui hay của buồn.

*

    Anh cứ ngồi đó, đọc cái địa chỉ trên tấm giấy nhỏ màu xanh lá mạ, rồi ngó ra đường chờ, đường vẫn đông người quần là áo lụa, muôn màu muôn sắc, không phải là chờ ai, mà dường như là chờ để bỏ đi. Tấm giấy cất trong bóp, từ tay của người con gái tiếp viên Air Viet Nam vừa quen đưa, có cái tên ngồ ngộ “Ly Cơ”, trên chuyến bay giữa trưa từ Đà Lạt về Sài Gòn, hôm anh về nhà nghỉ vài ngày phép.

    Chuyến bay vắng khách, anh không khỏe cho lắm vì mấy ngày bị cảm lạnh, chưa quen với mưa rừng gió núi của trời cao nguyên, anh được cô nàng săn sóc tận tình, đủ thứ, thuốc men nước uống, ngồi ghế trống bên cạnh, hai ba cô khác cũng rảnh rổi, đi qua đi lại, mớ hành khách lác đác ghế này ghế kia, không ai kêu ai gọi, liếc mắt cười che miệng, anh và cô hỏi thăm nhau vài chuyện, chuyện mình chuyện người rồi quen nhau, quen nhau không chờ không đợi.

*

    Máy bay đáp, Ly Cơ theo tiễn anh ra tới đường, ở đó cũng như anh, cô nàng trao tấm giấymàu xanh lá mạ nhỏ, hẹn gặp lại mà không hứa là bao giờ. Ngồi trên taxi, nhìn lại sau, chuyến xe của hảng hàng không đưa đón nhân viên, phi hành đoàn vừa tới chờ, anh ngẫn ngơ, hồn tưởng chừng như ở lại trên chuyến bay, chuyến bay không hẹn “người ơi gặp gỡ làm chi”.

*

   Cũng còn may, ngày phép không nhiều, muốn kịp về tỉnh nhà ngay hôm nay, tới bến xe, xuống taxi, chiếc xe đò chót chưa chạy, anh cười môt mình, đã có nhiều khách chờ, người đứng người ngồi, đồ đạc ngổn ngang, nghe anh lơ nói còn lâu, chừng hơn một tiếng nữa mới chạy, anh bỏ vào cái quán bán cơm cuối bến, ngồi nhìn ra đường, trời nắng hơn, ăn dĩa cơm xế trưa cho chắc bụng. Chiếc xe xích lô không khách, người chạy xe già, ngáp dài, chân đạp bước rời bước rã. Chiều Sài Gòn còn nắng.

*

    Về nhà, không vội không vàng, thấy ba má vẫn mạnh lành như trước, tuy tóc già đã có chút hoa râm, cũng chuyện này chuyện nọ, chuyện đời chuyện tình, cứ vậy mà cũng chưa đủ cho hai ngày nghĩ phép. Rồi anh trở xuống Sài gòn, hẹn ba má về lại lần sau. Ông bà cũng đưa anh ra đường chờ xe như những lần trước, gởi theo anh nụ cười tươi trọn vẹn, nụ cười từ ngày anh còn học trường tỉnh vẫn vậy cho tới bây giờ.

*

    Nắng dịu hơn, trời đứng gió, rạp chiếu bóng đông người trở lại, anh đứng dậy, quyết định bỏ đi, nhẩm đọc thầm địa chỉ trên tờ giấy, phải tới đó vì ngày mai sẽ trở ra chỗ làm, cho dù có được việc như mình thầm mong hay không.

    Đứng chờ đèn xanh đỏ qua đường, nghe có tiếng gọi mẹ dễ thương, anh quay lại sau, tay dắt con bé độ ba bốn tuổi, đứng khựng lại, người con gái ngẩn đầu lên, ngạc nhiên, tròn mắt, cả hai cùng gọi tên, bổng dưng trời Sài Gòn chợt mát. Ly Cơ chỉ về hướng bải giữ xe phía quốc hội, cho biết tính lấy xe chở con bé tới tìm anh, còn anh cũng chờ băng qua đường đón taxi tới nhà cô nàng.

*

    Hai người lớn nắm tay con bé đi hai bên, không ai nói gì hết mà cũng không biết phải nói gi đây, chỉ nhìn nhau cười, cái cười bắt đầu cho một câu chuyện, câu chuyện từ một cái địa chỉ, anh thì thầm, hy vọng không phải là một câu chuyện buồn. Chuông thánh lễ chiều nhà thờ Đức Bà vừa chầm chậm lên, đôi chim hoang bên nhau ríu rít, lăng tăng theo sau, nắng chiều buông nhè nhẹ hồng xuống cả một khoảng sân rộng. Sài Gòn vui lây.

Thuyên Huy

Để tặng một người tiếp viên hàng không Air VN có thật và một chuyện tình không có thật

Ngày Em Làm Ni Cô - tvu

 Ngày Em Làm Ni Cô

 


 














ngày em thề xuống tóc
khoác áo làm ni cô
con chim nào bật khóc
trên đỉnh tháp chuông chùa

em quỳ trên chánh điện
dáng từ, tâm Quan Âm
anh náu thân thiền viện
mong nhận chút ơn thầm

lòng đại dương bát ngát
em yêu hết muôn loài
anh nhỏ nhoi hạt cát
chỉ yêu một người thôi

em niệm hương quán tưởng
cầu nguyện muôn sanh linh
anh dâng hoa chiêm ngưỡng
khấn vái một chút tình

em hành thâm Bát nhã
thấy năm uẩn đều không
anh tâm còn chấp ngã
tụng kinh thấy bóng hồng…

em chuông vàng, khánh ngọc
một đời trọn hạnh ni
anh hồn gai tâm góc
sa đọa ngục A tỳ

ngày em thề xuống tóc
nhập tự làm ni cô
anh đêm ngày trằn trọc
tín đồ, ôi, tội đồ…

tvu (12/02/03)

Hai Mưa Nắng - Khuyết Danh

 

Hai Mưa Nắng




 

Người ta gọi ông Hai Tường với cái tên là Hai Mưa Nắng, không phải vì tánh tình ông dễ dàng thay đổi… sáng nắng chiều mưa mà do ông có biệt tài xem thiên văn để đoán thời tiết.
Mười bốn tuổi, mồ côi cha mẹ, Hai Tường rời làng quê Tân Trụ tha phương cầu thực tận đất Thủ Dầu Một, Bình Dương. Ở đây, Hai Tường vào làm công cho một lò gốm. Công việc của Hai Tường là nhào đất mang sản phẩm ra phơi hoặc đem vào lò nung. Công việc tuy có phần nặng nhọc nhưng Hai Tường không hề than van, vì có cơm ngày hai buổi đã là điều đáng mừng.
Lò gốm Thiên Sanh, nơi Hai Tường làm, ngoài lao động phổ thông còn có thợ đốt lò, thợ vẽ gốm và đặc biệt là cái nghề nhìn trời để đoán nắng mưa. Thời đó, đâu có đài khí tượng thủy sản thông báo nắng mưa cho người dân biết nên đối với một lò gốm thì ông thầy đoán nắng mưa luôn giữ một vai trò cực kỳ quan trọng. Vì thế, ông thầy chỉ suốt ngày uống trà, thỉnh thoảng chắp tay sau lưng ra sân ngước mặt nhìn trời rồi nói như phán truyền:
– Lát nữa sẽ có mưa, bảo mọi người mau đem đồ gốm vào!
Nếu không nghe lời ông thầy, khi mưa không kịp dọn những món đang phơi vào, kể như bao nhiêu công lao nhào nắn sẽ trở thành đất nhão. Ông thầy mưa nắng của lò gốm Thiên Sanh gốc người ở đảo Hải Nam bên Tàu. Ông thầy nói tiếng Việt khá rành nhưng giọng còn trọ trẹ. Thấy Hai Tường là một thiếu niên hiền lành và chịu khó, ông thầy có lòng thương. Một buổi chiều, cơm nước, tắm rửa xong xuôi, ông thầy nói với Hai Tường:
– Ta không vợ không con, nghề nghiệp rồi đây chắc sẽ thất truyền. Nếu con bằng lòng, ta sẽ truyền nghề cho.
Mừng còn hơn lượm được vàng bạc, Hai Tường lính quýnh quỳ xuống lạy ông Tàu già ba lạy, tôn làm sư phụ. Những lúc Hai Tường rỗi rảnh, ông Tàu già thường kéo anh ra gốc khế sau nhà để truyền nghề. Có lần ông nói:
-Nghề bói nắng mưa, ngoài con mắt nhìn trời còn phải biết tận dụng hết tất cả các giác quan. Lỗ tai phải nghe gió thổi, mũi hít mùi không khí, da nghe ấm lạnh. Tóm lại, phải biết hòa nhập tinh thần và thể chất vào thiên nhiên. Tự thân với thiên nhiên là một, vũ trụ với ta là một để hiểu sự biến đổi của đất trời.
Hai Tường ngồi nghe sư phụ giảng như vịt nghe sấm, ngơ ngác chẳng hiểu gì. Ông thầy không nói lý thuyết nữa mà chuyển qua thực hành. Ông chỉ cho Hai Tường nhìn mây cao, mây thấp, mây xuất hiện ở phương hướng nào. Thế nào là gió “rao rao” và gió “hiu hiu” lẫn gió “tạt mặt”. Mùi vị của không khí “khét”, “nồng”, “chua” hay “thơm”. Nhiệt độ qua da người mát lạnh, nóng hay nực, mỗi thứ cộng lại phân tích sẽ biết khi nào nắng, khi nào mưa; mưa bao lâu và nắng kéo dài nhiều hay ít.
Thoạt đầu ông thầy cho Hai Tường đoán thử, tất nhiên Hai Tường thường đoán sai. Ông chỉ cho Hai Tường chỗ nào sai, tận tâm như tình phụ tử. Một buổi tối, ông Tàu già nói với Hai Tường:
-Bây giờ con đã nắm vững bí quyết của nghề, lại là người có căn cơ nên về sau con sẽ vượt trội hơn ta, ta tin chắc như vậy!
Trong một lần thân mật, Hai Tường hỏi sư phụ tại sao lại bỏ quê hương qua Việt Nam sinh sống. Ông Tàu già trầm ngâm một lúc rồi nói:
-Ta tên thật là Triệu Bá Hoằng. Dòng họ ta nổi tiếng nhiều đời về nghề xem thiên văn. Năm bằng tuổi con, ta yêu con gái một chủ lò gốm và nàng cũng yêu ta, nhưng ông chủ lò gốm lại muốn gả nàng cho chàng trai họ Phù. Họ Phù cũng là một dòng họ nổi tiếng về tài bói mưa nắng của đảo Hải Nam. Cuối cùng, để cưới được con gái chủ lò, ta phải chấp nhận tranh tài cùng người con trai ấy.
Ngừng lại một chút, ông Tàu già thở dài, kể tiếp:
-Cuộc tranh tài ngoài chuyện tình yêu còn có một chuyện tối quan trọng khác đó là danh dự của hai dòng họ Phù và Triệu. Gần đến ngày tranh tài, ta phải chay tịnh cả tháng, tắm gội nước thơm, sưởi hương trầm. Đối với những người sống với nghề bói nắng, mưa thì việc đoán ngày giờ nào mưa là việc dễ dàng, mưa kéo dài trong bao lâu cũng là điều không khó. Nhưng để đoán lượng mưa nhiều hay ít thì quả là việc không dễ chút nào. Đúng ngày giờ tranh tài, sau khi nhìn trời, ngắm mây, ngửi gió… để đoán giờ sẽ mưa, ta và người thanh niên họ Phù phải vạch một vạch sơn vào trong lòng một cái tô kiểu rồi đem cái tô đó đặt giữa trời. Nếu lượng nước mưa ngập đến vạch sơn của người nào, thì người đó sẽ thắng. Ta vạch mức ở giữa thành tô, còn người thanh niên họ Phù vạch trên ta một đốt ngón tay, có nghĩa là lượng mưa sẽ nhiều hơn ta đoán.
Trời chuyển dông, mưa bắt đầu rớt hột. Cái tô kiểu đặt giữa trời nước càng lúc càng dâng lên. Đến chừng lượng nước mưa lên đến vạch sơn ở giữa thì trời dứt hột. Như vậy là ta thắng. Giữa lúc ta khấp khởi vui mừng thì đột nhiên gió đổi hướng, một cụm mây nhỏ từ phương Bắc bỗng nhiên bay tới với tốc độ không ngờ, cụm mây lớn dần ở nơi tranh tài và bắt đầu rớt hột. Một lúc sau, mưa tạnh hẳn, nước trong tô dâng lên đúng vạch sơn của chàng thanh niên họ Phù.
Vậy là ta đã thua! Ta đau đớn vì người mình yêu đã về tay người khác. Nhưng càng đau đớn nhất là danh dự dòng họ Triệu từ nay đã mất vì một đứa con bất tài như ta. Buồn rầu và xấu hổ, ta từ bỏ quê hương, từ bỏ đảo Hải Nam vượt biển qua đây, trôi nổi về sống ở đất Bình Dương này.
Ba ngày sau, từ lúc kể câu chuyện đời mình, trước khi mất, ông Tàu già nói với Hai Tường:
-Ta mong con hãy xem ta như người cha thứ hai. Ngoài họ Nguyễn, con còn có thêm họ Triệu. Nếu thương ta, vì ta, con hãy hứa!
Hai Tường nức nở gật đầu, khe khẽ kêu lên “tía ơi!”. Vậy là ông Tàu già qua đời. Lạ một điều là khi mất, một con mắt của ông nhắm và một con mắt mở trừng trừng. Người hiểu chuyện cho rằng, con mắt nhắm vì từ nay ông đã có người kế nghiệp, riêng một con mắt mở trừng trừng vì món nợ danh dự với giòng họ Phù, ông chưa có dịp trả xong.
Thắm thoát thời gian, Hai Mưa Nắng khá già. Ông trở về quê, sống ở xóm Xẻo Bần thuộc huyện Tân Trụ, truyền nghề bói nắng mưa cho con trai là Ba Đảm. Rồi Ba Đảm truyền cho con trai là Út Thân.
Khi Út Thân bắt đầu hành nghề bói nắng mưa thì nghề đó không còn được các lò gốm ưa chuộng nữa, không phải vì đài khí tượng thủy văn báo chính xác mà vì máy móc kỹ thuật hiện đại khiến các sản phẩm mộc của gốm không còn phải đem ra sân phơi, chỉ cần đem sấy là xong.
Thất nghiệp, Út Thân cháu nội của ông Hai Mưa Nắng trôi dạt về vùng Xóm Củi. Ngày ngày, vào mùa mưa, Út Thân ra đứng trên cầu Nhị Thiên Đường bắc ngang kinh Tàu Hủ nhìn trời cá độ nắng mưa. Nhờ vốn gia truyền, Út Thân đánh đâu thắng đó, túi tiền luôn luôn rủng rỉnh.
Biết thằng cháu nội đem nghề tổ truyền ra đánh bạc, ông Hai Mưa Nắng buồn lắm, ông nhắn Út Thân về khuyên răn:
– Cháu à! Nghề bói nắng mưa là nghề giúp đời làm ra vật dụng cần thiết cho cuộc sống, không thể đem nghề tổ truyền ra đánh đố với đỏ đen!
Thằng cháu nội nhe răng cười, bỏ đi không nói tiếng nào, nó tiếp tục ngửa mặt nhìn trời nơi cầu Nhị Thiên Đường để kiếm tiền.
Một hôm, Út Thân về gặp ông nội với khuôn mặt thất thần:
-Nhất định ông nội phải giúp con, ông nội à! Mấy tháng nay con thua liểng xiểng, cá đâu thua đó!
Ông Hai Mưa Nắng lắc đầu:
-Đáng đời! Ai biểu đem tổ nghiệp vào vòng cá độ?
Út Thân nhăn nhó:
-Mấy năm nay con không có đối thủ. Lần này gặp phải đối thủ quá dữ, nó từ bên Tàu sang đây!
Nghe nói từ bên Tàu, ông Hai Tường vội hỏi:
-Bên Tàu, mà ở tỉnh nào?
– Không phải tỉnh mà là đảo. Đảo Hải Nam!
Giật nẩy người, ông Hai Tường hấp tấp hỏi:
– Mầy biết thằng đó họ gì không?
Út Thân không trả lời, nói qua chuyện khác:
– Ông giúp con giấu mặt chỉ huy đi ông nội. Của cải, nhà cửa của con sau những ngày đoán mưa nắng, lớp cầm, lớp bán hết rồi!
Ông Hai Tường không quan tâm lời nó, nhắc lại:
-Tao hỏi mầy… thằng đó họ gì ?
Nhìn vẻ mặt khẩn trương của ông nội, Út Thân nói như phản xạ:
-Da, họ Phù… Phù Khắc Hồng!
Ông Hai Tường ngồi im lặng như pho tượng, lát sau nói nhỏ nhưng rành rọt:
-Được rồi! Mầy thách đấu lần nữa đi! Tao giấu mặt chỉ huy. Nhưng mầy phải hứa với tao là sẽ không bao giờ cá độ nắng mưa nữa, phải kiếm việc làm ăn chân chính như người ta.
Mừng quá, Út Thân đáp ngay:
– Cám ơn ông! Con hứa!
Đến ngày giờ cá độ, một cái tô được đem ra đặt ở sân một quán cà phê ở gần cầu Nhị Thiên Đường. Dân cá mưa ngồi gần như chật kín cả quán, hồi hộp theo dõi. Út Thân đưa mắt nhìn ông nội. Ông Hai kín đáo đưa sống bàn tay lên ngang bụng. Nhận được ám hiệu Út Thân bước ra sân lấy sơn đỏ vạch khoảng giữa cái tô. Tới lượt Phù Khắc Hồng, gã vênh váo nhìn trời rồi vạch cao hơn dấu sơn của Út Thân một ngón tay.
Trời vần vũ và đổ mưa, nước trong tô lên cao dần, sắp đến vạch sơn của Út Thân mà trời chưa có dấu hiệu gì sắp dứt mưa. Thua là cái chắc, Út Thân lo lắng liếc mắt nhìn ông nội nhưng ông Hai Tường vẫn thản nhiên như không.
Giữa lúc không khí đang căng thẳng thì bỗng dưng trời trở gió. Một luồng gió từ phương Nam thổi tới như cơn bão. Đám mây đen trên đầu bị thổi dạt qua phương Bắc, thoáng chốc mưa tạnh hẳn. Mực nước trong tô xấp xỉ mức vạch của Út Thân. Út Thân nhảy cuống lên như một thằng điên. Ông Hai Tường đứng dậy, không nói không rằng chụp cái nón nỉ lên mái tóc bạc phơ, rồi chậm rãi bước ra khỏi quán.
Ba ngày sau của lần đoán mưa kể trên, ông Hai Tường qua đời. Hai con mắt của ông cũng vẫn một con nhắm, một con mở. Người hiểu chuyện cho rằng con mắt nhắm vì mối thù xưa của thầy ông đã trả, còn con mắt mở vì thằng cháu nội đích tôn vẫn còn đem nghề nghiệp tổ vào cuộc đỏ đen.

Khuyết Danh

 

 

 

Lời Tạ Từ - Mắt Sen

Lời Tạ Từ

 














………………
Anh vẫn biết
Đời anh giông tố
Chạm vào em
Bỗng thấy xa vời
Em dịu êm
Như làn sương buổi sáng
Đậu cành mai
Đợi gió đông về
Một giọt sương
Mỏng manh…Trắc ẩn
Như nước hồ thu
Soi rõ một đời
Trái tim anh
Khô cằn, sỏi đá
Một trời yêu
Tình có đáp đền
Anh nhắm mắt
… Thả rơi…
Lời tạ từ trong suốt
Chỉ để em nhìn
Xuyên thấu thời gian.

Mắt Sen

 


Hai Đứa Trẻ - Yến Khương

 


Hai đứa trẻ

 

Nhà tôi sát vách nhà chị, chung khoảng sân và một vườn hoa nhỏ. Tôi thích hoa còn chị thì không. Chị bảo: “Con trai thích hoa thì yếu đuối, đa cảm và lụy tình”. Tôi bĩu môi: “Chị là thầy bói chắc?”. Chị cười: “Chị lớn hơn nhóc. Chị biết”.
Chị hai mốt, hơn tôi 7 tuổi, kém bố tôi một giáp. Mẹ chị là người tâm thần. Suốt ngày ra vườn tước lá chuối khô mang vào chăng đầy bờ liếp. Bà sẽ gào lên nếu bị ai gỡ đi dù là một mảnh. Chị kệ. Không ai nỡ. Bà nói chỉ để nói. Người tâm thần như mẹ chị không còn ý thức để phân biệt sự thân tình chứ đừng nói gì đến những lời cửa miệng.
Mẹ chị mang thai chị được hai tháng mới biết bố chị là người đã có vợ. Chuyện vỡ lở, bà ngoại chị hái lá bàng sắc nước, ép mẹ chị uống để sổ thai. Bà hắt đi. Bà bị cả họ từ mặt, đuổi khỏi nhà. Mẹ chị chấp nhận như chấp nhận sai lầm… Sức mạnh của tình yêu? Chắc thế, đã khiến bà tin tưởng, chịu đựng và đương đầu với tất cả những bi kịch diễn ra trong cuộc đời mình.
Đêm mẹ chị ra đi, bố chị lén trốn vợ mang cho bà ít tiền. Bà không nhận mà còn rủ bố chị đến một nơi khác sinh sống. Ông chối quầy quậy: “Tha lỗi cho tôi. Tôi còn vợ con”. Mẹ chị chỉ là người bị ru ngủ bởi tính tham lam, dục tính trăng hoa của ông. Bà hận. Tình yêu là thế. Khi đỉnh cao của ái tình đã bị cắt đứt bởi sự bội bạc, con người ta không còn sự khoan dung hay tha thứ, chỉ còn lòng hận thù tột đỉnh. Bà mỉa mai sự hèn nhát của bố chị bằng một hơi cười ngất, gằn rít nơi yết hầu. Mẹ chị điên loạn ngay từ lúc ra đi.
Chị nhờ tôi đóng giường. Tôi ngạc nhiên. Với người khác không nói làm gì, nhưng với chị, đúng là tôi ngạc nhiên thật. Nhà chỉ có hai mẹ con. Mẹ chị bệnh tật, đêm ngủ thường hay trở dậy ra vườn tước lá chuối, rú lên những tiếng man dại. Chị phải canh chằm chặp như một đứa trẻ. Thậm chí nhiều đêm chị mệt, lo bà ra vườn nên phải dùng dây buộc chân bà vào chân mình ngủ. Nhưng thói quen khi bị kìm kẹp, cấm đoán sẽ khiến con người ta đến với những hành vi phẫn uất. Đang say sưa chị bị mẹ dùng dây siết cổ, giãy giụa như một con mèo bị nhúi cổ xuống nước vôi. Chị đạp dấp mẹ vào bờ vách, ho sù sụ. Mẹ chị lại rú lên như một con thú cùng đường.
Nhà bên, bố tôi giật mình vội đáo qua, dấp dầu hỏa lên lòng bàn tay xoa cổ cho chị. Hình ảnh đó vô tình khơi gợi trong mẹ chị nỗi căm phẫn năm xưa. Bà lại thét lên, lao thẳng vào bố tôi mà cắn xé, cào cấu, chửi rủa: “Đồ hèn nhát. Cút đi. Thằng lừa đảo…”. Bố tôi ngượng tím mặt. Không phải lời chửi mắng đầy ẩn ức đó của mẹ chị mà vì ánh mắt của chị, ánh mắt cần sự che chở, thậm chí là yêu thương. Sự ngượng nghịu nơi chị làm lộ rõ điều đó.
– Chị định cho bác ngủ một mình ư? – Tôi hỏi.
– Ừ. Chị cũng không muốn thế. Chị lấy chồng. Chồng chị định sẽ ở rể. Ông ấy vừa bỏ vợ. Gần nhà, làm luôn cho tiện.
Chị nói như không, tránh nhìn tôi để khỏi đối diện với những cái nhìn lục vấn sôi trong mắt của một đứa trẻ đang ghen.
Tôi dừng tay cưa. Tim đập thùm thụp. Nói một câu chưa bao giờ tôi nói với một khách hàng:
– Đi nơi khác. Tôi không đóng giường cưới. Kỳ công lắm.
– Người ta không thể túm gấu áo nhau rong chơi suốt ngày mãi được. Như thế sẽ bị đánh đòn. Người khác chị sẽ làm cho em hiểu điều đó.
Trước đây, mỗi lúc chị nói thế tôi thường khoặm mặt bỏ đi. Chị giữ lại, nựng tôi bằng một cái hôn rất nhẹ lên tóc. Tôi thích thú nhận món quà mà tâm niệm tôi không khi nào chán. Thân với chị từ khi nào tôi không nhớ chỉ biết rằng ngoài chị ra tôi không thích chơi với ai. Chị chiều tôi bằng chính những gì tôi sinh ra không có được từ một người mẹ. Nhưng tôi không muốn chị xem tôi là nhóc con. Sự gần gũi, yêu thương đã khiến tôi nhận ra một điều, tâm hồn tôi thuộc về chị với tất cả những suy nghĩ tốt đẹp.
Hành động của chị và bố tôi hằng đêm đã bóp nghẹt những suy nghĩ tốt đẹp của tôi dành cho chị. Còn bố, tôi chỉ thấy coi thường. Tôi miệt thị hai người bằng những cái nhìn hằn học. Chị bối rối. Bố lảng tránh. Tôi muốn bỏ đi, nhưng không thể. Lòng tham có chị bên cạnh giữ chân tôi. Hình ảnh bố tôi và chị ám ảnh tôi trong từng chiều cạnh suy nghĩ. Nó dẫn tôi rơi vào những biến thái tâm lý khủng khiếp trong mỗi giấc mơ.
Tôi mơ tôi lớn nhanh. Có thể như vậy tôi mới được đáp ứng một cách tôn trọng những tình cảm tôi dành cho chị. Bố ngấm ngầm theo dõi tôi. Không nói, chỉ bằng hành động và những cái nhìn. Ông như con mọt gỗ, ngấm ngầm và rất giỏi bắt hơi.
Mỗi lần chị rủ tôi ra chõng tre vào những đêm trăng tròn tán gẫu, chị vẫn thường hỏi tôi: “Lớn lên nhóc sẽ làm gì?”. Tôi chắc chắn: “Tôi làm thợ mộc nhưng sẽ cho chị cả một cung điện”. Chị cười: “Định ảo tưởng như Tần Thủy Hoàng hả nhóc. Hoang đường”. Tôi bật dậy: “Có nghĩa là một thằng nhóc thì không làm được Hoàng đế? Chị chờ xem”.
Chị cố nhịn cười: “Thôi được, thôi được… tôi chờ…”. Bố tôi bắt tôi theo nghề mộc như ông để hạn chế sự gần gũi của tôi và chị. Ông hợp thức hóa lý do để ở bên chị suốt ngày trong khi tôi làm không hết việc. Khi thì sửa khóa tủ, lúc lắp lại cái bản lề gácmăngiê… Vặt vãnh, đơn điệu nhưng những việc ấy đã lấy hết quỹ thời gian trong ngày của bố một cách hiệu quả. Chả thấy ông than thở gì. Thậm chí ông vui.
Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén. Bố yêu được chị. Tôi biết. Buồn. Chán nản. Thất vọng. Chỉ cần không đủ tỉnh táo, tôi có thể điên loạn, phá phách tất cả. Thâm tâm của một kẻ bị ruồng bỏ cho tôi bản năng không biết sợ sệt. Nhưng không. Mình mẹ chị điên loạn xé lá chuối là đủ rồi. Tôi sợ. Điều tôi cần là tỉnh táo để lấy lại tất cả. Tôi có quyền. Tôi nghĩ vậy.
Hết ngày rồi đến đêm. Chị hay gọi bố tôi lúc nửa đêm bằng cách gõ nhẹ vào bờ vách. Bố lại tháo màn trở dậy. Tôi khẽ cựa. Ông ngần ngừ. “Ngủ đi, tao sang sửa lại cái mộng giường cho mẹ con bà ấy một tí rồi về ngay”. Ông vớ búa trong hộp đồ, ở trần sang với chị.
Tôi nghển cổ:
– Bố nên mang theo khoan chốt luôn cho chắc.
Bố tôi lúng túng. Hình như ông hiểu ngụ ý của tôi.
– Thôi. Đêm hôm, khoan khoáy gì. Chốt đinh cũng chắc chán – Nói rồi ông bước vội đi như để không phải nghe thêm những lời xấc xược từ tôi.
Tôi biết những lúc như thế mẹ chị lại lên cơn điên, ra vườn tước lá chuối. Bố tôi thay chỗ của bà để làm việc của đàn ông. Tiếng ót ét, ọt ẹt của cái giường modec từ những năm 1980 khoáy vào tai tôi theo một cấp độ đáng khinh bỉ. Toàn thân tôi nóng ran, mồ hôi đầm đìa như xông cảm. Tiếng mẹ chị cười ré cuối vườn. Tiếng thở trong đêm của ba con người ở hai hoàn cảnh khác nhau bị tiếng búa ngụy trang của bố đập vào thành giường lúc ái ân với chị hình như cũng làm mạch đêm trở nên gấp gáp.
Nhà chị có ma. Chị khẳng định thế. Từ ngày yêu bố tôi, không dưng nhà chị xuất hiện một con ma nữ. Hằng đêm sau khi bố tôi rời khỏi cơ thể chị về lại nhà, con ma nữ ấy vẫn hiện lên dựng giường chị, làm chị hồn bay phách lạc. Duy chỉ mẹ chị là không. Thậm chí bà còn nói chuyện với con ma ấy. Chẳng hiểu ma nữ nói gì mà mẹ chị sáng sớm đã bỏ đi, tìm đúng lá bàng mang về sắc nước đè cổ chị ra ép uống. Chị đạp bà ra, đổ bát nước đi, kinh hãi.
Sau khi nghe chị kể, thấy bố tôi đốt nhang cắm lên bàn thờ mẹ, nét mặt lo âu.
Bố tôi thưa dần sang với chị. Tiếng gõ bờ phên mời gọi cũng không dồn dập nữa. Tôi không còn phải mất ngủ hằng đêm. Ý định trừng trị hay nói đúng hơn là trả thù chị đã được thế giới tâm linh mà đại diện là hồn ma mẹ tôi làm thay. Linh hồn bà cũng giúp tôi tỉnh ngộ ham muốn cùng chị và không xem thường thế giới những người đã khuất…
Nhưng không phải thế mà bố tôi không sang. Chị không cần. Bây giờ mỗi đêm chị đi ngủ đều buộc vào bốn chân giường bốn ống nước tiểu. Thứ ấy sẽ cản trở việc xuất hồn quấy nhiễu của mẹ tôi. Tôi không phản đối. Chị cũng là con người. Con người cần nhất sự bình yên. Tinh thần chị ổn định trở lại. Tôi nhận ra nỗi mừng trên khuôn mặt chị. Chị bảo:
– Hôm nào cho chị ra mộ mẹ nhóc nhé.
Tôi hiểu ý chị nhưng gạt đi:
– Ích gì. Mẹ tôi chẳng bao giờ thanh thản được.
Mặt chị tái xạm, gượng gạo quay đi.
Mẹ chị ôm cột hiên rú lên cười, chõ sang tôi một câu:
– Đồ hèn.
Bố tôi dừng tay đục, nhấc đít đi vào nhà, ném sang mẹ chị một tiếng:
– Đồ điên.
Mẹ chị cười ngất, nhảy chân sáo như một đứa trẻ ra vườn xé lá chuối xoèn xoẹt.
Quan hệ giữa chị và bố tôi được thời gian thì chị bất ngờ quyết định đi lấy chồng. Chị muốn có tiền chữa bệnh cho mẹ mà một người như bố tôi không thể đáp ứng được. Chị lựa chọn người đàn ông giàu có vì không muốn cái nghèo truyền kiếp đeo đẳng, nó làm cho đời thế hệ tiếp theo của chị chỉ bần cùng khốn khổ như mẹ chị. Chị yêu bố tôi. Nhưng một người khác bố sẽ lo phần còn lại cuộc đời chị.
Đám cưới chị linh đình. Nhà trai bao tất. Chú rể là một ông già giàu có tỉnh bên. Dân làng nhìn vào cụ bĩu môi: “Đồ mù dở. Gái trinh chết hết rồi hay sao mà cưới đĩ về làm vợ. Loại ấy có nằm với cụ, đít cũng quay ra cửa sổ thôi. Người đâu mà…”. Nhìn vào chị, lũ đàn bà nhếch mép: “Chuột sa chĩnh gạo. Mèo mù vớ cá rán. Ai ngờ một phương dành cho đĩ lại là mỏ vàng”. Chị điềm nhiên, coi như không có chuyện gì.
Chị mời làng ăn cỗ ba ngày ba đêm. Tiền mừng, chị không thèm nhận. “Các bác, các anh, các chị đến vui với đứa được làng xem là thối thây như em là phúc cho em lắm rồi. Nào đâu dám nhận thêm tiền mừng nữa”. Chẳng ai nói được câu nào, đành ngậm tức ra mương mà nôn thốc nôn tháo, chửi đổng chị sau lưng. Chỉ có bố tôi là không chửi chị. Ông không chửi được.
Ông uống thấu ba ngày vui của chị. Ông say. Nằm vật trên tấm gỗ xẻ mộc để ngoài sân, không ăn một miếng, chẳng nói nửa lời. Ông mềm như một tàu mùng nhúng lửa. Tôi kệ. Con người ta có quyền hưởng thụ thì đau khổ có quyền xâm hại. Dù không hài lòng nhưng buộc phải chấp nhận nó. Tôi là một thằng nhóc nhưng cũng đã phải nếm trải điều đó khi yêu chị. Tôi hiểu bố.
Cưới xong được ba tháng chị về, định rước mẹ đi. Chồng chị cũng thôi ý định về ở rể. Bụng chị giờ lùm lùm như úp rổ sau lần vải áo. Mẹ chị từ chối, chạy ra vườn vừa xé lá chuối vừa cười man rợ. Chị qua nhà thăm bố con tôi, tặng tôi một đôi giày, tặng bố một lời khoe:
– Bốn tháng rồi. Siêu âm bác sĩ bảo con trai – Chị nói, hai tay đặt lên bụng mắt nhìn xuôi, ương ương nước.
Bố tôi dừng lại. Chén nước trên tay ông sánh nước ra khỏi miệng chén vì run. Ông lần đốt ngón tay. Chị quay sang tôi.
– Lớn quá rồi nhỉ, lấy vợ đi thôi chứ?
Tôi cởi bút chì khỏi kẽ tai, phóng vào hộp đồ nghề.
– Còn ai mà lấy.
Chị cúi gằm. Bố mím chặt môi…
Ở chơi được tuần, chị nhận được điện chồng đột tử. Chị ghé dặn bố tôi gì đó rồi đi luôn. Bố tôi nhìn theo, gật đầu.
Mẹ mất vào đúng ngày chị sinh. Phần hậu sự của mẹ chị bố tôi lo tất. Đơn giản. Nghĩa tử là nghĩa tận. Chỉ thương cho cụ là có đứa con gái duy nhất đến phút lâm chung cũng không được gặp. Thôi thì, đời người sống nay thác mai không biết đâu mà định. Sơ suất này, một người như cụ chắc cũng dễ bỏ qua.
Giỗ đầu bà cụ, chị về, mang theo cả đứa bé. Đầy năm của nó là tròn giỗ của bà.
Mộ mẹ chị nằm ngay cạnh mộ mẹ tôi. Một sự ngẫu nhiên bởi những người đào huyệt. Chẳng sao, hàng xóm, láng giềng với nhau cả. Quan niệm này nọ thật là vớ vẩn.
Bố tôi đi phát cây xung quanh mộ. Tôi trải chiếu cho thầy cúng bày lễ. Chị đặt thằng cu nằm tạm xuống chiếu để lên nhang. Nó khóc inh ỏi. Bố ẵm thằng nhóc lên, nhìn chăm chăm rồi áp nhẹ mặt nó lên má. Được lát, nó im. Bố đặt nó lại chỗ cũ, nhận hương từ tay chị đi thắp cho những mộ bên cạnh. Đến mộ mẹ tôi, bố hơi lưỡng lự nhưng rồi cũng cắm được ba cây nhang. Đột nhiên ông quỳ gối, chắp tay khấn lạy.
Thầy cúng bắt đầu vào lễ. Thằng cu con chị lại khóc. Chị đang quỳ, cúi đầu theo phán chỉ của thầy nên không đành rời chỗ. Nhưng nghĩ thế nào chị quay sang nói với tôi:
– Em nó quấy quá. Điệu này phải nhờ anh Tâm (tên tôi) đóng cho một cái xe cút kít mới được. Đồng ý không Tâm?
Tôi chưa biết trả lời sao thì bố đã lên tiếng:
– Phải đấy. Đóng cho cu cậu một cái xe cút kít, cho cu cậu đẩy, nhanh biết đi nữa. Như Tâm trước đây ấy, con nhỉ.
Bố nhìn tôi, ánh mắt lộ nét phấn khởi lạ thường.
Thầy cúng kẹp hai đồng tiền chinh vào nhau, gõ nhẹ vào lòng đĩa giơ lên ngang trán. Ông buông tay. Tiếng đồng tiền chinh rơi trên đĩa xoay vòng lách cách rồi cả hai đều úp sấp. Tất cả im lặng. Thầy cúng lắc đầu. Chỉ có thằng nhóc con chị nằm trên chiếu đột nhiên nhấc đầu nhìn tôi cười ….

Yến Khương

Dịch giả: Đỗ Thành

Tuesday, August 25, 2026

Sầu Hạ - Hằng Vũ

Sầu Hạ

 















Buổi sáng phố chia hai lòng ẩm đục
Gót chân về em gửi lại bâng khuâng
Ngày tháng cách em niềm mơ rã mục
Một phương duyên anh vọng tưởng bao lần

Dù mắt ngỏ lòng trao vời vợi quá
Người xa người rồi nỗi nhớ bình phương
Quanh giấc ngủ cơn trầm mê mệt lả
Mầm cô đơn mọc rễ bốn chân giường

Rời cố đô mù nỗi sầu lăng tẩm
Mộng phiêu du nghe mỏi rụng tay chèo
Biển lặng sông dài trời cao thăm thẳm
Một con thuyền không có bến buông neo

Hằng Vũ
Bách Khoa số 328, ngày 1-9-1970

Trên Đồi Cỏ Úa - Nguyễn Thành Nhân

 

Trên Đồi Cỏ Úa




Tặng KC


Đã năm năm rồi, anh mới trở lên Đà Lạt. Thành phố giờ đây có nhiều thay đổi. Đồi Cù đã bị san bằng, trở thành một sân golf nhạt nhẽo. Hồ Xuân Hương ngập đầy rác rưởi. Du khách đến nhiều hơn, đến rồi đi, khuấy động sự tĩnh lặng êm ả của nếp sống vùng cao, du nhập thêm những lề thói xấu xa cho người dân bản địa. Và thành phố này cũng đã đánh mất rất nhiều nét buồn buồn thơ mộng thầm lặng của ngày xưa.

Ngôi mộ nằm trên một ngọn đồi nhỏ ở hướng Đông thành phố. Một nghĩa trang Công giáo có nhiều cây hoa anh ddào, và cũng thật nhiều những cụm dã quỳ vàng một màu luyến nhớ. Anh lên Đà Lạt ddêm qua, lúc hơn mười hai giờ khuya. Và sáng nay, khi sương mù còn giăng khắp các đỉnh thông già, anh đã ngồi lặng lẽ trước nấm mộ của Ngọc Anh. Mùa xuân vẫn còn nán lại trên hoa cỏ, trong không khí man mác lạnh, nhưng giờ đây, lòng anh là một trời thu hoang vắng. Nắng đã phai, cỏ đã úa, và gió đã ngưng thổi trong lòng.

Anh ngồi bó gối, nhìn những lượn khói hương bay lẫn quất trên mấy cành hoa dại đặt trước tấm mộ bia mà lúc nãy anh vừa hái ở ven đường, đôi mắt rưng rưng. Bé ơi! Đã lâu rồi tôi mới lại đến thăm em. Đừng giận tôi nha. Lúc nào tôi cũng nhớ đến em, thật đó. Luôn luôn. Mãi mãi. Hương hồn em giờ đang ở nơi đâu? Hãy quay về đây hội ngộ.

Chuyện xưa qua đã lâu rồi, sao bây giờ chợt quay về, mồn một trong ký ức, như thể mới hôm qua...

° ° °

Con dốc nằm bên hông khuôn viên Đại học Đà Lạt, đỗ dài đến tận đầu đường Hai Bà Trưng. Hai bên đường là những căn nhà vườn xinh xắn mọc đầy hoa cỏ trước sân. Và những thảm dã quỳ vàng rực trải dài trong nắng. Ngày nào anh cũng đi qua con dốc ấy. Buổi sáng ra đi, lang thang khắp những ngọn đồi, những khoảnh rừng thông vắng lặng. Rồi khi mặt trời sắp khuất sau ngọn đồi Cù, anh lại quay trở về căn nhà trọ nằm ở gần cuối con dốc.

Anh lên xứ cao nguyên này đã hơn một tuần. Để vẽ tranh, để thư giãn sau những tháng ngày bon chen vật lộn ở Sài Gòn náo nhiệt, hay để đi tìm một cái gì đó mà chính anh cũng chưa thật hiểu. Phải chăng anh đang tìm kiếm tình yêu?... Mấy đứa bạn học cũ hay nửa ddùa nửa thật trêu anh: "Lấy vợ cho rồi đi ông ơi! Già rồi mà cứ long nhong hoài nguy hiểm lắm nha... Hay để tụi này làm mai cho một mối ngon lành há." Những lúc đó, anh chỉ lặng lẽ mỉm cười đáp lễ tụi nó. "Ba mươi tuổi, có phải mình đã bước sang lứa già nua?", nhiều khi anh lẩn thẩn tự hỏi mình như vậy, rồi lại bật cười tự đáp, "Có lẽ mình già thật, 'Hỡi ơi, tôi chưa bao giờ được trẻ. Ngay từ lúc tóc còn xanh tôi đã già cả ngàn tuổi hơn một cụ già', hình như Kierkegaard đã từng nói vậy."

Cuộc sống của anh trầm lặng, hơi buồn và tẻ nhạt, ít những cuộc vui phù phiếm, ít những tiếp xúc xã giao hời hợt bâng quơ. Thế giới của anh là những bản vẽ thiết kế công trình, những con số vô hồn, những tháng ngày dằng dặc chán chường, lặp đi lặp lại, hoặc ở trong phòng, hoặc ngoài công trường đầy nắng gió. Đôi khi, anh tự nhủ cuộc đời sao đáng chán vô nghĩa quá đi. Có lẽ cuộc đời sẽ thật sự đáng chán, nếu anh không còn một niềm vui duy nhất: vẽ tranh. Vứt lại sau lưng mọi công việc làm ăn, mọi suy tư tính toán, mỗi năm một lần anh đeo chiếc ba lô đựng vài bộ quần áo, mớ cọ, màu và xách chiếc giá vẽ dã chiến đi ra bến xe, tới một thị trấn ở một tỉnh xa heo hút nào đó dăm tuần, một tháng, lang thang khắp các xó xỉnh, vẽ nguệch ngoạc những bức tranh lãng đãng mà sau đó anh tặng lại đám bạn bè hay chất thành đống dưới gầm giường. Vẽ với anh là một thú vui, không có gì ràng buộc, cũng không cần ai khen chê, đánh giá.

Lần đầu tiên anh gặp Ngọc Anh, là chính ở nhà cô. Ngôi nhà cổ kính, mái ngói rêu phong, nằm giữa lưng chừng con dốc, phía trước hàng hiên thật dài là một luống đất trồng nhiều loại hoa cỏ, và những gốc liễu già thật đẹp rải rác trong sân. Một dãy dâm bụt ken dày tạo thành bức tường rào tự nhiên phía trước, và một chiếc cổng gỗ nho nhỏ, cao ngang tầm ngực, hình như sơn màu xanh ngọc bích nhưng nắng gió phôi pha đã biến nó sang một màu xanh thẫm hơi vàng ố. Anh để ý thấy một điều là chiếc cổng đó luôn luôn hé mở, như để đón chờ ai vậy. Toàn bộ khung cảnh ngôi nhà toát lên một vẻ bình yên và thơ mộng lạ lùng. Mỗi lúc đi ngang, anh thường dừng lại một chút để ngắm nhìn nó. Anh đã tự nhủ một hôm nào đó sẽ xin phép chủ nhân để vẽ ngôi nhà, nhưng không biết sao cứ dần dà trì hoãn lại. Cho tới chiều hôm đó, anh đang trên đường trở về, sắp tới chỗ ngôi nhà thì trời chợt đổ mưa. Quãng đường này ít nhà, căn này cách căn kia cũng vài trăm mét. Khi anh kịp lách người qua chiếc cổng hé mở, chạy đến nép dưới hàng hiên, quần áo anh đã ướt sũng nước mưa. Anh đứng run lập cập, tự trách mình sao đãng trí, đi ra ngoài vào mùa mưa mà cứ quên mang áo mưa theo.

Anh đang loay hoay giũ những giọt nước mưa bám trên lớp sơn của bức vẽ chợt giật bắn mình khi nghe thấy một giọng nói con gái sau lưng, thật nhẹ:

"Trời, anh ướt hết trơn rồi!"

Anh quay lại. Ánh sáng cuối ngày trong cơn mưa mờ mờ nhoà nhạt làm anh không thể nhìn rõ gương mặt của cô gái đó. Nhưng những tia chớp loé lên trong khoảnh khắc và giọng nói trong veo cũng đủ cho anh nhận biết cô gái còn rất trẻ. Một mái tóc dài thoáng nét liêu trai, một thân hình thanh tú, và ddôi mắt long lanh sáng nổi bật trong bóng chiều vàng vọt.

Cô bé nói tiếp, trên môi thoáng một nụ cười hiền:

"Anh hãy vào trong nhà sưởi ấm, em sẽ lấy quần áo của ba em cho anh thay tạm, không anh sẽ bị cảm lạnh mất thôi."

Anh ngạc nhiên. Và cảm động. Sau một lúc, anh mới có thể lúng túng đáp lời cô:

"Rất cám ơn em. Nhưng tôi sẽ không sao đâu mà."

Anh nói anh sẽ không sao đâu, nhưng giọng anh run rẩy, người anh run rẩy, không tài nào che giấu được.

Cô bé lại nói, giọng nằn nì:

"Vào đi anh, đừng ngại. Em biết anh là người tốt. Mấy hôm rồi, em thường gặp anh xách giá vẽ đi ngang nhà. Anh là họa sĩ phải không?"

Cơn mưa chiều hôm đó thật dài, đến gần mười giờ ddêm mới dứt. Và anh được cô bé đó cho mượn một bộ pijama thay tạm, được cô giúp hong khô bộ quần áo ướt, được mời ăn một bữa tối thật đạm bạc, nhưng sao ngon miệng lạ lùng. Cả ngôi nhà rộng chỉ có mình cô ddêm ấy. Ba cô đã sang Di Linh thăm một người bạn thiết, có lẽ đến mai mới về nhà. Khi hai người trò chuyện, cô nhiều lần lặp lại với anh, rằng cô rất vui khi được gặp anh, giúp anh, vì cô đang cảm thấy cô đơn và buồn lắm. Trong suốt mấy giờ đồng hồ ngồi thoải mái bên ngọn lửa ấm nồng, bên một cô gái dịu hiền xinh đẹp, anh cứ ngỡ như mình đang lạc vào một câu chuyện liêu trai nào đó. Anh vừa trò chuyện với cô bé, vừa lắng nghe tiếng mưa ddêm rào rào đổ trên mái ngói, tiếng sấm ì ầm vang động, tiếng củi nổ lách tách trong lò sưởi, thầm tự nhủ rằng cuộc đời không hề đáng chán. Cuộc đời thật huyền ảo kỳ diệu biết bao. Chỉ cần được một lần nếm trải niềm hạnh phúc an bình như thế này thôi, cuộc đời đã không còn vô nghĩa.

Sau hôm ấy, anh đã trở thành một người bạn thiết của gia đình. Ba của Ngọc Anh là một ông giáo về hưu hiền lành trung thực. Ông lập gia đình hơi muộn. Vợ của ông, một hoa khôi của trường trung học Đà Lạt, học trò của ông khi trước, đã thầm yêu người thầy tài năng nhưng khiêm nhường lặng lẽ của mình từ năm cuối cấp, nhưng chỉ rất lâu về sau ước mơ của bà mới thành sự thật, vì những định kiến và dư luận cản ngăn. Hạnh phúc của ông bà cũng thật là ngắn ngủi. Bà mất sau một cơn đột quỵ tim khi Ngọc Anh vừa lên tám. Từ đó, người thầy giáo một mình gà trống nuôi con. Khỏi phải nói ông yêu Ngọc Anh đến mức nào, và cô đối với ông cũng vậy. Ngọc Anh đã kể cho anh nghe mấy chuyện đó trong những lúc anh cùng cô lang thang rong ruổi khắp các đồi thông, anh vẽ tranh, cô vừa tung tăng hái hoa, nhặt những quả thông khô rơi rụng, vừa hát véo von những bài hát lạ lùng, buồn buồn dịu nhẹ, chắc là do tự cô ứng tác. Có những buổi chiều, sau khi đi vẽ về, anh tạt vào nhà, ngồi với hai cha con một lát, bỗng thấy chốn cao nguyên này đã trở thành một cái gì thật là gần gũi, thấy hai người bạn vong niên của mình, một già, một trẻ, sao quá đỗi thân thương. Có một điều anh không hiểu lắm, là nhiều khi trong những lúc ddàm đạo chuyện thơ văn nghệ thuật với ba của Ngọc Anh, anh chợt thấy trán ông hằn xuống những nếp nhăn sâu, đôi mắt ông chợt đăm chiêu tư lự khi nhìn Ngọc Anh đang ríu rít nói cười. Dù sao, đó chính là những ngày vui và hạnh phúc nhất mà anh từng biết, nên anh cũng không suy nghĩ gì nhiều về sự việc hơi kỳ lạ đó, dù ddôi khi thắc mắc.

Rồi một chiều kia, mọi chuyện trở nên sáng tỏ. Lúc ấy, anh đang đứng ngắm nhìn cô, cố sửa lại một chi tiết nào đó trong bức tranh mà anh chưa vừa ý lắm. Ngọc Anh nghiêng người ngắt một đoá mimosa mọc gần bên, đưa lên môi hôn nhẹ, những sợi tóc loã xoã bay trong gió. Khuôn mặt thiên thần chợt xanh xao thật lạ, dù ddôi môi xinh xắn vẫn còn một chút ánh hồng.

"Ngày mai em không tới đây đâu. Ngày mốt cũng vậy. Ngày kia cũng vậy", cô bé nói, ánh mắt trôi về một chốn xa xôi, "em không biết em có còn tới đây được nữa hay không...Anh đã vẽ xong chưa?"

Bức tranh hãy còn dang dở. Còn thiếu một điều mà mấy hôm rồi anh chưa nắm bắt được. Đó chính là cái vẻ xa vời, lẻ loi nhưng thanh thoát của cô. Hình như cô là một thiên thần bé bỏng đi lạc xuống chốn trần gian. Hình như cô không thuộc về cõi người ta quá nhiều hệ lụy này. Điều đó toát lên từ thân hình thanh tú, từ mái tóc đen mềm như một loài mây lạ, từ đôi mắt nâu trong veo ngơ ngác, từ từng cử chỉ đi đứng cười nói dịu dàng thiên bẩm của cô. Ngay từ lần đầu gặp gỡ, và trong những lúc đứng vẽ cô sau này, thỉnh thoảng anh lại bất chợt ngây người vì cái dáng vẻ lạ lùng thoát tục ấy. Những lúc như thế, hầu như anh không thể cưỡng lại một lời thở than thầm kín: "Tại sao tôi không trẻ đi mười tuổi, hoặc em lớn hơn mười tuổi, hở Ngọc Anh?"

"Em phải vào bệnh viện, em sắp phải chia tay với cuộc đời rồi, anh có biết không", cô bé đột ngột nói thêm, đôi mắt thật buồn.

Anh giật mình chết lặng. Phải, từ lần đầu gặp cô, anh đã thấy cô có chút gì đó thật mong manh yếu ớt. Nhưng anh không thể ngờ cô lại ốm nặng thế này. Anh lắp bắp hỏi cô, dù khi vừa thốt ra đã thấy ngay sự vô lý của câu hỏi đó:

" Nhưng... nhưng tại sao như vậy? ...Em chỉ mới mười bảy tuổi, em còn quá trẻ mà bé..."

Cổ họng anh bỗng dưng ứ nghẹn, anh ngưng một lúc, thật lâu, để có thể lại nói nên lời:

"Em không thể chết đâu mà!"

"Em bị bệnh tim đã mấy năm nay, không biết có phải di truyền từ mẹ hay không nữa... Vị bác sĩ là bạn học của ba thời trung học ở thành phố này đã làm hết sức mình để cứu em. Lẽ ra, em đã ra đi cách đây năm tháng. Em còn sống đến lúc này, được gặp anh, cũng đã may mắn lắm rồi, anh ạ".

Cô ngước lên nhìn anh, ánh mắt vẫn buồn buồn nhưng nét mặt giờ đây bỗng thanh thản lạ lùng. Những tia nắng chiều rơi xuống áo cô, như những sợi tơ vàng lóng lánh, chợt nhoà ddi trong mắt của anh. Anh đã khóc từ lúc nào không biết.

° ° °

Anh rời ngọn đồi vào lúc chiều chạng vạng. Nắng cuối ngày đang luyến tiếc buông rơi những sợi cuối cùng lên những vạt cỏ úa khô trên từng nấm mộ. Trong tiếng thông reo xa xa vẳng lại, trong tiếng gió réo vi vu, anh nghe như mơ hồ có tiếng ai đó hát, thật buồn: "Người hãy đến tìm một ngày nào đó. Người hãy ngắt giùm một sợi cỏ úa. Cỏ úa khô, đang ngủ vùi, trên đồi này. Rồi thả, cho cuốn bay, bay về quê hương mặt trời. Rồi thả, cho gió đưa, đưa về ...mịt mùng xa". Anh thì thầm nói với một cơn gió thoảng qua: "Bé ơi, tạm biệt. Rồi tôi sẽ đến thăm em, một ngày nào đó".

Trên đường trở về, anh ghé vào ngôi nhà cổ, thăm ba của Ngọc Anh. Mái tóc của người thầy giáo già năm năm về trước hãy còn đen nhánh giờ đã hầu như bạc trắng. Anh ngồi im lặng nhìn ông, rồi nhìn lên tường, nơi bức tranh dở dang ngày cũ đang nằm trơ trọi. Đôi mắt của Ngọc Anh trong bức tranh đăm đăm nhìn thẳng vào anh. Đôi mắt mà dạo đó anh cố công mấy vẫn chưa thể hiện được vẻ xa vời khó tả, bây giờ lại hoá hay.

...Đôi mắt này dịu hiền ấm áp, không quá xa cách lạnh lùng. Ba em quá cô đơn, Ngọc Anh ạ. Trái tim già khô héo của ông chỉ còn tìm được chút niềm an ủi khi nhìn thấy em mãi mãi bên ông, trẻ thơ, trong trắng. Còn tôi, tôi sẽ không sao đâu mà. Tôi chẳng cô đơn một chút nào đâu. Tin không em?...Tôi sẽ chẳng cô đơn một chút nào đâu.

Nguyễn Thành Nhân

03/2002