Sunday, May 24, 2026

Người Đi Tìm Hạnh Phúc - Thuyên Huy

 

Người Đi Tìm Hạnh Phúc

Chuyện những người không có thật




 

    Đầu thu, học trò trở lại trường, lớn nhỏ gì cũng thấy quàng khăn đỏ, lớn thì tương lai thành đồng tổ quốc, nhỏ thì cháu ngoan bác hồ, cứ vậy mà rộn rã khắp đường, khắp ngõ. Công viên Tao Đàn vàng một màu lá úa, không che kín nổi đám cỏ loang lở, chết mòn không ai chăm sóc. Cây bên đường cũng chờ nhau thay lá, Sài gòn buồn theo dăm ba cơn mưa bụi cuối ngày. Liên hờ hững đi dạy, Luân trở về làm phu lục lộ, ngồi đếm lá me rơi bên lề đường Triệu Đà. Công an phường lại gọi Luân lên làm việc, hỏi không biết bao nhiêu là câu từ lý lịch của đời ông đời cha đến tình cảm riêng tư. Anh Trưởng công an, dốt chữ ra lệnh cô thư ký ghi ghi chép chép những cái anh gật gù, Luân ký tên xác nhận tờ khai, anh giữ giấy ra trại của Luân theo lệnh của sở công an thành phố.

*

    Chủ nhật, Luân dọn một số đồ đạc thường dùng hàng ngày qua cư xá Bắc Hải ở, sau khi báo cho anh Lân biết sự việc xảy ra. Liên chạy ra chợ Thiếc mua vội con vịt quay và vài miếng thịt xá xíu, bữa cơm chiều có mặt đủ người, trừ chị Ngoan. Anh Lân mang cho chai rượu sâm-banh, mua từ ngày ra khỏi trại tù, trước Luân vài tháng. Sập tối, Hiên tới nhà, chị Ngoan qua chơi với mẹ Hiếu nên đóng kín cửa, không mở đèn. Không biết Hiên chờ ở đó bao lâu, khi chị Ngoan về, Hiên bỏ lại tờ giấy dưới ngạch cửa, viết mấy chữ có đến tìm. Luân không còn gặp anh công an khu vực từ đó, anh có đến nhà thăm hỏi Luân nhiều lần, chị Hương trả lời Luân đi công tác cho sở làm ngoài Phan Thiết vài tuần, anh trách sao không nói gì với anh cả.

*

     Thanh tìm Luân ở chợ Thái Bình, Hiếu chỉ đến đường Triệu Đà, hai thằng ngồi bó gối trên cái xe thùng trống, vài cây chổi quét, dăm ba cái cuốc chất cẩu thả, phơi nắng trưa, trời chưa nóng hẳn. Thanh lần này, ăn mặc có vẻ tươm tất hơn, cái áo lính bạc màu bỏ rồi, thay bằng aó kaki hải quân xanh dương đậm gọn gàng, có thêm đôi giày bata, không trắng nhưng trông còn tốt, Thanh nhắc chuyện vượt biên, Luân hứa giới thiệu hắn chú ba Hảo, bảo Thanh tính gấp vì chú ba sắp có chuyến đi, Thanh đưa cho Luân coi hai ba cây vàng, gói dẹp trong bao thuốc lá Hoa Mai cũ nhèm, của cải anh dành dụm được sau những ngày ăn đường ngủ chợ.




     Thanh cất vàng vào túi, chợt dưng rấm rức khóc, chút đỉnh này cũng đủ giúp ba má Thanh, hai bác bảy giờ già yếu, sống dễ thở một thời gian, nhưng hắn đau xót giữ lấy cho mình, kiếm đường ra đi vì, giống như Luân, bọn họ không còn đất sống, nhìn Thanh đỏ cay mắt mà hồn Luân mềm nhũn bùi ngùi. Chiếc xe jeep quân đội, hai ba cái nón cối ngồi trong, vượt ngã tư đường Trần Hoàng Quân, Thanh lầm lũi đạp xe cúi mặt, Luân lững thững kéo xe cây lên, hắn vẫy tay chào không buồn quay lại.

*

    Mấy ngày liền, Hiên qua nhà đều không gặp Luân, cho dù cô nàng đã nán lại tới khuya. Hai chị bảo, Luân đi công chuyện gì đó vài bữa mới về. Hiên mất vui, không cười nói nhiều như trước. Chị Hương thấy thương cho Hiên, nhưng không làm sao khác được. Chiều thứ sáu, trời nổi giông, mưa lớn, hơi đất bốc nặc mùi trên đường nhựa, Hiên vừa vào nhà, bỏ áo mưa xuống thành ghế, anh công an khu vực cũng đến, đứng ngoài cổng rào, đưa cho chị Hương tờ giấy rồi đi liền. Chị Hương để trên bàn, chán chường đọc, Hiên cũng đứng đọc theo. Công an quận, thừa lệnh sở công an hẹn hai tuần nữa, Luân lên quận gặp để trả lời về việc không chấp hành tốt chính sách nhà nước tại phường. Chị liếc nhìn Hiên, cô nàng có vẻ giận dữ, nhưng không nói gì.

Chị Hương ngồi xuống ghế lắc đầu:

- Đây không phải lần đầu họ làm khó dễ thằng Luân.

Hiên nhìn chị ngạc nhiên:

- Sao anh Luân không nói cho em biết? Hiên hỏi vì nóng lòng mà hỏi, không cần chị Hương, tự chính mình cũng đã biết được câu trả lời. Hiên,một Bí thư Thành đoàn, một Tổng đoàn trưởng Thanh niên Xung phong,  phút chốc bỗng là người xa lạ, Hiên gục đầu, nước mắt rươm rướm trên mặt:

- Em biết nói làm sao đây chị Hương, chắc không ai chịu hiểu nỗi lòng của em, có lẽ quá muộn để gần nhau sao chị?

Chị Hương thấy Hiên khóc không cầm được lòng:

- Luân nó quá quen với ba cái chuyện này, em đừng lo, rồi cũng qua em ạ!

Hiên ấp úng:

- Em nghĩ, em chắc cũng không lo gì kịp chị ạ! nói thật để chị biết, em sắp đi vượt biên nay mai.

Hiên nhìn chị Hương chờ đợi, chị Hương không ngờ Hiên lại nói ra, chị chưa có phản ứng gì thì Hiên tiếp:

- Chị nhớ có lần em hỏi chị kiếm được đường nào chưa không, em đi bằng mối đó.

- Hiên coi chừng, nguy hiểm lắm!

- Nguy hiểm một lần, còn hơn đau khổ cả đời, em đã sai lầm gần nửa cuộc đời rồi chị Hương ơi!

Chị Hương cố không nói chuyện của bọn Luân, chị vuốt tóc Hiên xúc động:

- Chị biết nói gì đây, xin ơn trên ông bà phù hộ em được may mắn.

    Hiên ra về mang theo cơn mưa khuya lạnh buốt hồn mình.

*

    Trưa thứ bảy, ngồi tán dóc với Hồng và Hiếu trong quán chè đậu quen, cạnh rạp chiếu bóng Khải Hoàn, Thanh đạp xe đến, mặt mày hớn hở cho Luân hay, chú ba Hảo đồng ý nhận giúp, chắc trong nay mai, Thanh trách Luân, trong đường dây của chú ba mà dấu kín quá. Luân cười trừ, đãi hắn mấy chén chè, hai ba ly cà phê sữa đá. Luân nói thật cho Thanh biết, bọn họ cũng đã chuẩn bị xong rồi, chỉ còn chờ chú ba sắp xếp ghe cộ thôi. Hồng kéo cả bọn ra chợ Sài Gòn, vào rạp Rex coi phim Ba Lan, Nạn Hồng Thủy, ăn bún bò thương xá Tam Đa suốt buổi chiều còn lại. Thanh còng lưng đạp xe về Gò Vấp, lâng lâng hy vọng, bọn Luân trở lại nhà Hồng, kiểm số thuốc nhận hồi sáng, để tối nay, trước khi về nhà, Hiếu đem giao cho đám bán lẻ ở đường Nguyễn Thông như đã hứa.

*

     Chú ba Hảo dẫn Luân vào chợ Nancy, gặp mấy người cùng lo với chú quyết định ngày giờ, rồi xuống chợ An Đông kiếm mua bánh in đậu phọng, loại khẩu phần hành quân của lính Trung Cộng, để đem theo tàu ăn. Về nhà, ngồi nói chuyện, mới biết chú cũng đi chuyến này, nghe nói, nhìn quanh, đồ đạc quả thật trống đi nhiều. Chú đưa Luân mười mấy miếng vàng, cần gì thì mua thêm, không còn ở bao lâu đâu. Luân đón anh Lân, giờ tan sở, báo tin giờ chót, ngay sau khi từ nhà chú ba ra. Bỏ anh Lân cuối đường, Luân đạp xe về Cao Thắng gặp Hồng, họ có hẹn nhau ở đó. Đi lòng vòng vậy mà trở lại nhà trời tối lúc nào không hay.

*

    Sáng sớm thứ ba, chị Ngoan về Tây Ninh, chiều trở xuống Sài Gòn với vợ chồng Tân. Hoàng vẫn chưa được thả về, Kiệt nghe tin đã trốn ra khỏi trại Lộc Ninh, không biết hiện nay ra sao, chánh quyền tỉnh đang kiếm chuyện đánh tư sản mại bản lần nữa, nhiều người vượt biên bằng đường bộ, băng qua biên giới Cam bốt bị bắt giam chật cả khám. Ba mẹ Tân nhắn lời thăm hỏi Luân, ráng cẩn thận.

    Chị Ngoan nấu bữa tiệc nhỏ tại nhà bên cư xá Bắc Hải, gọi là bữa tiệc chia tay. Luân gởi lại chị nửa lượng vàng mà chú ba Hảo cho cùng số tiền Luân dành dụm bấy lâu nay, chị Hương cũng đã tính toán với chị xong rồi. Ngồi ăn mà ai nấy mặt mài buồn hiu, chị Ngoan nói đó rồi khóc đó, bọn Luân mắt đỏ hoe, nếu may thoát được, không biết chừng nào mới gặp lại.

     Mấy chùm hoa giấy trắng mỏng manh, trên khung cửa sổ nhà ai đó bên kia đường, tơi tả từng cánh rụng, buồn hiu hắt buồn. Chị Hương kỹ càng, bao hai cái hủ đựng tro cốt ba mẹ Luân, gói vào một gói, để trên bàn. Mọi người ra về, Luân ngồi lại một mình trong đêm, chờ sáng.

*

    Bốn giờ khuya, sáng chủ nhật, Luân ngồi chờ tin hai chiếc tàu, một chiếc từ Phước Tỉnh vào, chiếc khác thì do anh Quyền lái lên, từ dọc biển tới ngã ba Vàm Láng, tại nhà chú ba Hảo. Cả hai chú cháu đứng không đứng, ngồi không ngồi, cứ dán mắt ra đường, dưới ánh đèn vàng đục, mờ mờ trong màn sương sớm. Đường vắng tanh, lưa thưa một vài chiếc xe chở hàng nặng nề ra chợ Cầu Ông Lãnh. Tiếng xe Honda vào sân, người đưa tin, kéo cổ áo che ngang miệng chống lạnh xuống, cho biết tàu vào bãi an toàn, chú ba móc trong túi áo, vổ vai anh, trao gói giấy đựng phần tiền công. Anh ta vội vã đi ngay, trời cũng vừa rựng sáng, bên kia sông có chút mặt trời, Luân đạp xe chở chú ba qua chợ Nancy, vài tiệm cà phê bắt đầu lai rai có khách.

*

     Luân uống ly cà phê nóng cuối cùng, chú ba thả bộ về nhà, Luân lặng lẽ rẽ lên hướng Ngã Bảy, anh công an gát đêm, đứng xoa tay ngoài cái chòi canh, sơn màu đỏ chói, trước cổng Sở Công An, nhìn theo rã rời ngáy ngủ. Luân dừng xe đạp, ngậm ngùi nhìn vào trong sân trường Petrus Ký, không một bóng người, cây cỏ đìu hiu, thấy hồn mình vấn vương theo từng viên gạch, lối mòn của những ngày hai buổi đi về, buồn vui đời mực đen giấy trắng.

*

    Trưa hôm đó, hai ba anh công an quận đi xe jeep đến nhà tìm Luân, chị Hương đang đứng ngoài cửa chờ Liên, họ hỏi vài câu rồi đưa cho chị cái giấy kêu Luân, lên trình diện sáng thứ hai mang theo tất cả giấy tờ cá nhân. Chờ họ bỏ đi, nhìn quanh nhìn quất, chị xé nát tờ giấy, quăng xuống đường. Chị Hương, Tân, Hân và Liên đi bộ qua cư xá Bắc Hải không bao lâu, thì Hiên đến cư xá Lữ Gia, chỉ thấy chị Ngoan, cho nên hỏi thăm qua loa rồi ra về.

    Ăn cơm trưa xong, bọn Luân kiểm lại đồ đạc mang theo, mặc dù chỉ là mấy cái túi cũ mèm nhỏ xíu, Luân hơn mấy người khác vì có thêm hai hủ đựng tro cốt ba mẹ. Hồng chuẩn bị cho mỗi người vài viên thuốc cảm, tiêu chảy, say sóng và vài viên vitamin C. Trời bỗng dưng dịu nắng rồi tối sầm dần trên miệt ngã tư Bảy Hiền, mây đen lác đác vài cụm đâu đây chờ mưa xuống. Tới giờ hẹn, không ai bảo ai, họ nhìn nhau rưng rưng nước mắt, xiết tay giã biệt. Anh Lân, chị Hương, vợ chồng Tân, Liên, Hồng, lần lượt theo nhau đón xe đi Nhà Bè, Luân và Hiếu đón xích lô xuống nhà chú ba Hảo, ở đây có người đưa chú cháu xuống ngã ba Vàm Láng bằng xe Honda. Luân cố nhìn Sài Gòn trong cơn mưa vội vàng chợt đổ, lá me cuối thu, hai bên đường Hồng Thập Tự, tan tác rụng.

*



    Trong cái bóng đêm mờ mờ ánh trăng, đám người từ Sài Gòn ra, lớn nhỏ, lặng thinh theo nhau lên tàu, neo từ tối qua trước khu nhà sàn làm trụ sở đội du kích xã Thạnh An. Tiếng sóng vỗ êm êm lên hàng dừa nước hai bên bờ con rạch đục ngầu, dẫn ra cửa biển giữa khuya nghe buồn ray rứt. Phía cửa Cần Giờ đằng xa, đèn điện sáng rực một góc trời, biển mênh mông đen rờn rợn. Anh Lân, Hồng, vợ chồng Toàn, chị Hương và Liên lên tàu của anh Quyền, đậu cách tàu Luân, Hiếu, chú ba Hảo lố nhố mấy căn nhà, lắc lư theo con nước thủy triều lên. Trăng vừa cao quá đỉnh đầu, toán du kích làm dấu khởi hành, tàu anh Quyền nổ máy, lặng lẽ chập chờn ra biển trước, không lâu thì mất hút theo từng cơn sóng nhấp nhô giữa trời và nước.

*

    Chờ anh du kích dẫn đường, đưa tàu anh Quyền đi rồi trở lại, tàu bọn Luân rục rịch tách ra giữa sông, Luân đứng trên mũi tàu, ôm cái túi xách lên ngực nhìn vào bờ, nước lớn, che lần hàng dừa nước không còn đong đưa chờ sóng vỗ. Dưới khoang tàu, bắt đầu có tiếng người lào xào, di động. Hiếu bỏ đi lần theo hông thành tàu xuống phía sau chút xíu trở lại, trong ánh trăng chênh chếch sáng, mặt hắn có vẻ hớt hãi, ngồi xuống cạnh Luân, chỉ tay về phía đuôi tàu, giọng đứt quảng:

- Chị Hiên... chị Hiên, em thấy chị Hiên ở phía sau.

Nhìn thẳng vào Hiếu, Luân kinh ngạc hỏi:

- Có chắc là chị Hiên không?

Hiếu gật đầu, không trả lời. Tiếng máy nổ đều đều, con tàu lặng im vượt sóng, lù đù tiến dần ra khỏi cửa Vàm Láng. Luân mang túi xách trên người, đi lần về phía sau. Hiên sững sờ nhìn, Luân lặng câm bất động. Luân vừa gọi được tên Hiên, thì có tiếng người la lớn phía đằng trước:

- Công an, công an!

*

    Người tài công bớt ga, cho tàu chạy chậm lại, từ phía Cần Giờ, Vũng Tàu, nhiều ánh đèn nhấp nhô tiến về hướng Luân, rõ dần rồi rõ dần, chú ba Hảo đứng chết trân, người trên tàu nhốn nháo, hoảng hốt kêu trời kêu đất. Tiếng máy của mấy chiếc ca nô PCF, có trang bị súng đại liên, của hải quân VNCH cũ, xé màn đêm hùng hổ bủa quanh. Người tài công, quay tàu về hướng bờ Vàm Láng, mở hết tốc độ, mặc cho công an phát loa gọi ngừng ơi ới.

*

    Hiên thẫn thờ ôm chầm lấy Luân, công an bắn súng thị oai, tiếng nổ xé tan màn đêm, vang vọng vội vào bờ, kéo dài rồi im bặt. Người tài công kéo cổ áo, lau mồ hôi đổ như tắm trên mặt, tiếp tục tăng ga, tàu khừng khựng theo từng đợt sóng của con nước đang lên, trong tàu có tiếng con nít khóc. Một chiếc tàu lớn, có gắn cờ đỏ sao vàng, lố nhố người, lố nhố súng, pha đèn sáng rực, tiến về từ xa, mấy chiếc PCF chậm lại đôi chút, chạy vòng quanh.

    Công an tiếp tục đuổi theo, lại phóng loa ra lệnh, tàu vào sâu tới khúc sông nhỏ, truông sậy bát ngát cao tới đầu người, ủi đại lên bờ, tiếng thành tàu cọ xát đám cây tràm già nua rờn rợn, tàu rung rung rồi tắt máy. Người trên tàu bồng bế nhau nhảy càn xuống nước, trốn chạy, tàu công an tiến gần, nổ súng đại liên xối xả, Luân đẩy Hiên chạy đi, ván thành tàu bể vắng tứ tung, một số người lên được bờ, ẩn hiện trên truông, dật dờ như những bóng ma đêm.

Luân bị trúng đạn, hai cái hủ đựng tro cốt ba mẹ trong túi xách mang trước ngực, bể tan, tro ướt đẫm mùi máu. Tiếng Hiên thét lên đâu đây:

- Chết Hiên rồi anh Luân ơi!

*

    Luân ngã quỵ xuống sàn phía đuôi tàu, nước tràn lên lấp xấp, mắt mờ dần, súng vẫn còn nổ vang rân, đưa tay chùi máu trên mặt, cố nhìn, xác Hiên nổi đập vào bờ sậy, bềnh bồng tóc trải dài trên nước. Luân ráng sức, đưa tay lên ngực loang lở máu, mân mê nhúm tro cốt ba mẹ rồi không còn nghe gì nữa, người Luân bập bềnh trên sóng theo chiều ra biển, qua cái màn đục mờ của nước mắt ứa tràn, Luân ráng sức nhìn, chiếc tàu lớn của công an cặp sát vào, tiếng vạc ăn đêm về bắt đầu kêu những tiếng kêu đầu ngày rời rạc, trên mấy cánh đồng xa xa, chiếu đèn pha sáng một khoảng sông, Tuân, Giám đốc Sở công an, chồng Hiên, đứng bên hông thành tàu khoan khoái cười, một nụ cười nham hiểm.

           

Thuyên Huy

Viết lại từ chuyện cũng giống như câu chuyện này.

 

  

Hoa Thời Chinh Chiến & Quê Hương Tôi Đó - Nguyễn Thị Châu

HOA THỜI CHINH CHIẾN

 


 












Dáng xưa còn đó nét trang đài

Ru tình ai đó buổi sớm mai

Trái tim ngây dại trao ngày ấy

Áo trắng còn đây nhớ nhung hoài

 

Anh ngoài trận tuyến suốt đêm ngày

Vai còn nặng gánh cả tương lai

Tiếng súng còn vang trong đồng vắng

Là còn tiếng khóc các anh ơi !

 

Đêm về canh vắng nước mắt rơi

Áo trắng ngày xưa tóc rối bời

Nhớ ai? Chiếc lá rơi ngoài ngõ

Mưa buồn rưng rức khóc bi ai!

 

Dáng xưa đánh mất nét trang đài

Chờ người chiến tuyến trở về đây

Thềm rêu vắng bóng người xưa cũ

Chiến tranh gieo rắc bao đắng cay

 

Hoa nở, hoa tàn, chiếc lá phai

Chờ người chinh chiến tóc thôi cài

Hoa thời chinh chiến là thế đó

Áo trắng hôm nào đã phôi phai…!!!

 

20-5-2026

Nguyễn thị Châu

 QUÊ HƯƠNG TÔI ĐÓ

 


 











Ai đi không nhớ quê nhà?

Nhớ sông Vàm Cỏ nhớ đò Cẩm Giang

Sông xanh đồng lúa ngút ngàn

Hàng Dừa lã ngọn bên làng xanh tươi

Bến Cầu nắng cháy da người

Hàng cây Thốt Nốt đứng phơi nắng vàng

Trái ngon nước ngọt mát lòng

Chờ người lữ thứ, hằng mong trở về

Người đi hãy nhớ tình quê

Quê hương yêu dấu lối về của ta

Bao năm xa cách quê nhà

Rời xa kỷ niệm đã qua tháng ngày

Quê hương có một mà thôi

Về thăm trường cũ một thời đi qua

Rừng Da nào có đâu xa

Mái trường đã phủ rêu xanh hết rồi

Bùi ngùi nước mắt rơi rơi

Phường buồn buông cánh khắp nơi sân trường

Hoa xưa kỷ niệm mến thương

Một thời bụi phấn còn vươn vai gầy

Nhớ sao, nhớ mãi nơi nầy

Quê hương tôi đó, có ai cùng về???

 

20-5-2026

 Nguyễn thị Châu

Hoài Thương - Phương Nguyên

 

Hoài Thương

Một năm sau ngày tôi ra đời, chiến tranh kết thúc, điều đó đồng nghĩa với sự đoàn tụ. Những người lính còn sống lần lượt trở về tron sự mừng tủi ngày sum họp. Gia đình tôi cũng khắc khoải chờ đợi ngày bố tôi trở về. Bà tôi xăng xái lo đi chợ, mua về đôi gà mái tơ: “Ðợi bố nó về rồi ăn mừng.” Trông bà như trẻ lại, những nếp nhăn trên mặt dãn ra, đôi mắt lấp lánh những tia sáng ngời. Bà nhanh nhẹn dọn dẹp, sắp lại cái này, xếp lại cái kia. Mẹ ôm tôi trong lòng, nước mắt rưng rưng nhưng môi lại cười vì hạnh phúc.

Lại một năm nữa trôi qua, những người lính còn sống sau cuộc chiến đã trở về hoặc đều có tin tức, ba tôi vẫn chưa thấy về. Ðêm đêm, chong ngọn đèn dầu, bà tôi ngồi bó gối lặng lẽ, mắt đục mờ nhìn ra bóng đêm đen đặc. Mẹ ôm tôi chặt hơn, trái tim không ngường khắc khoải, mỏi mòn trong chờ đợi. Những đêm mưa, gió quật tả tơi vào bức vách, lá rụng rào rào, bà tôi lập cập chồm dậy, quờ quạng xuống giường, ra mở cửa. Gó từ ngoài thốc vào, bóng bà nghiên ngả, xiêu vẹo. Mẹ đặt tôi xuống giường, lần mò trong bóng tối bước đến, ôm vai bà: “Mẹ”. Bà thẫn thờ, giọng nghèn nghẹn:

- Tao nghe tiếng gõ cửa, cứ ngỡ bố nó về.

Nước mắt mẹ ứa ra. Những đêm như thế, cả mẹ và bà đều không ngủ. Sáng ra, mắt hai người đỏ hoe, sưng mọng, cả hai không dám nhìn mặt nhau.
Bốn năm sau, trước khi mất, bà còn nói: Mẹ tin nó còn sống, rồi nó sẽ về...
Mẹ tôi gạt nước mắt, gật đầu. Bà nhắm mắt, buông xuôi, môi phảng phất nụ cười.
Ðám tang bà trời mưa như trút nước, trắng xoá đất trời. Mẹ tôi khăn xô, áo trắng, ướt lướt thướt, ngất rồi lại tỉnh mấy lần. Chiếc khăn tang dành cho bố tôi trước áo quan bà, phất phơ. Ði bên cạnh người hàng xóm, tôi nhìn ảnh bà, mắt ráo hoảnh. Bà hàng xóm giật tay: “Con bé này, khóc bà một tiếng chứ!”

Trẻ con không phải không biết buồn, nhưng tôi không khóc, nước mắt lặng lẽ chảy vào trong. Ðứa trẻ sáu tuổi là tôi chưa hiểu hết cái chết nghĩa là gì. Chết cũng như là một sự ra đi, tôi không còn gặp lại được bà nữa, không được bà ôm ấp, vuốt ve, nâng niu hôn hít:

- Cục cưng của bà, cục vàng của bà, lớn lên thì giống cha, giống mẹ lắm đấy. Bố mày không về mà xem con lớn!

oOo

Thời gian qua đi, trên bàn thờ, cạnh ảnh bà, mẹ tôi treo thêm ảnh ba tôi. Trong ảnh là người đàn ông còn rất trẻ, cao lớn và một đôi mắt rực sáng, như những đốm lửa. Những ngày giỗ, Tết, mẹ bày thêm đôi đũa, bát cơm. Tóc mẹ bạc dần. Ba tôi không được công nhận là liệt sĩ, không ai nhận được giấy báo tử của ba.
Tôi lớn lên, trưởng thành trong vòng tay chăm bẳm của mẹ, tóc mẹ thêm nhiều sợi bạc, đôi vai gầy nhô cao, những giọt mồ hôi trên trán mẹ to hơn, mặn chát hơn. Mẹ nhận thêm việc về làm, đến tận khuya. Trong giấc mơ, tôi thường nghe rõ tiếng máy may xè xè, lọc cọc của mẹ. Ðôi lúc dừng tay, mẹ quay lại, mỉm cười nhìn tôi ngủ rôi lại làm việc tiếp. Cho đến trọn đời, tôi cũng không thể quên những nụ cười ấy của mẹ, nó đã động viên tôi rất nhiều trên mỗi bước tôi đi.

oOo

- Chị Thương, hôm nay mình nghỉ sớm nhé! – Thùy Linh nũng nịu kéo áo tôi, đôi mắt có hàng mi cong chớp chớp, năn nỉ. Cử chỉ trẻ con đầy đáng yêu ấy làm tôi bật cười, vui vẻ gật đầu, xếp lại chồng sách vở lên giá.

- Hôm nay chị em mình đi chơi nhé. Em đưa chị đi ăn kem. Kem ngon tuyệt. Ðồng ý nha chị!

- Có chuyện phải không? – Tôi buông lời thăm dò.

- Ba em gửi thư về từ Ðại lục. Ba nói sẽ về dự sinh nhật em, nhất định em sẽ có quà và cho cả chị nữa.

- Em có người cha thật tuyệt vời, nhưng tại sao lại có chị trong đó? - Thùy Linh cất tiếng cười, lúm đồng tiền hằn sâu trên hai má trắng hồng.

- Em viết thư cho ba, nói chị là gia sư của em.

Ðã hơn hai tháng nay, tôi nhận lời làm gia sư, giúp việc học cho Thùy Linh. Trừ buổi lên giảng đường học, tuần ba buổi tôi đến nhà dạy thêm cho Thùy Linh, cô bé đang chuẩn bị thi vượt cấp. Công việc không đến nỗi vất vả, lại là chuyên môn nên tôi vừa có thêm thu nhập phụ với số tiền ít ỏi hàng tháng mẹ gửi lên, lại vừa thực hànhh những phương pháp giảng dạy đã học trên lớp. Nhà Thùy Linh rất giàu có, ba mẹ cô bé tỏ ra rất quan tâm tới việt học của con, chuyện công sá họ tính toán khá sòng phẳng.

Thùy Linh đập nhẹ lên vai tôi, ấn vào tay ly nước quả:

- Chị nghĩ gì mà thần người ra thế?

- Chị nghĩ đến mẹ, giờ này chắc mẹ đã đi làm về. Chị nhớ mẹ chị!

- Hèn chi mẹ đặt tên chị là Thương – Linh hóm hỉnh cười – có ý nghĩa ghê hén. Còn ba chị?

- Ba chị?!? Từ nhỏ cho tới giờ, chị chưa một lần biết mặt cha. Ông đã không về từ khi chiến tranh kết thúc, chị chỉ biết qua bức ảnh nhỏ xíu và qua những lời kể của mẹ. Nói chung, chị không giống ba nhiều lắm.

- Tại sao vậy? Sau cuộc chiến, những người lính còn lại đều về với gia đình.

- Ðúng, nhưng chi tin ba đã không còn. Chiến tranh không loại trừ một ai. Không có con số chính xác về những người đã xuống, có rất nhiều mộ liệt sĩ vô danh. Chắc chắn ba chị nằm trong số đó.

- Chị nghĩ vậy à?

Cả mẹ lẫn tôi đều tin rằng ba đã mất, nếu không ông đã trở về. Chiến tranh qua đã lâu, mà tôi thì đã hai mươi tuổi. Không còn gì để hy vọng. Thời gian trôi thật nhanh mà cuộc đời mỗi người đều quá ngắn ngủi. Ðêm nằm có một mình trên chiếc giường tầng ở ký túc xá, tôi nhớ tới mẹ, nước mắt ứa ra. Từ ngày bà mất, không khi nào tôi để rơi nước mắt trước mặt mọi người. Trái tim không bằng đá, nhưng chưa đến nỗi mềm để lúc nào cũng tan thành nước, nhỏ lụy khóc than. Tôi lớn lên trong sự thiếu vắng người cha mặc dù mẹ cố gắng bù đắp nỗi thiếu hụt ấy. Nhưng tôi chưa khi nào cảm thấy trọn vẹn tình yêu của người cha. Dẫu trong mơ, ba có trở về, chưa khi nào ông âu yếm tôi. Ðiều đó làm tôi đau đớn. Tỉnh dậy sau những giấc mơ như thế, tôi mệt đến rã rời thể xác.

oOo




Ðang nằm đọc sách, đứa bạn đến gần, nói:

- Hoài Thương, có người gặp kìa!

Tôi chồm dậy, ra là Linh. Cô bé tới gặp tôi có chuyệngì? Nó đã thi xong và tôi cũng không còn phải tới nhà dạy phụ đạo Linh nữa.

- Chị Thương, ba em đã về rồi! Ông muốn gặp chị!

- Ðể làm gì, chị không hiểu?

- Em viết thư và kể chị là gia sư của em. Co thể ba không tin kết quả thi của em nên muốn biết em học hành ra sao?

Tôi cười, cảm thấy ganh tỵ với Linh. Ganh tỵ và xót xa cho bản thân thật nhiều. Mẹ tôi vẫn còng lưng trên chiếc máy khâu cũ mòn, nhẫn nại vắt kiệt những giọt mồ hôi mặng đắng, nhặt nhạnh từng đồng gửi lên cho tôi. Mẹ thường bảo: “Nếu ba còn sống, con sẽ đỡ thiếu thốn hơn”. Có thể, nếu ba còn sống, cuộc đời hai mẹ con tôi đã khác, nhưng điều đó không khi nào thành sự thật. Và tôi vẫn mãi là đứa con mất cha. Ðôi lúc tôi có cảm giác căm thù chiến tranh, nó đã cướp đi những người thân của mình, cướp đi tuổi xuân mỏi mòn chờ đợi của mẹ. Tôi căm thù nó và ganh tỵ với những người bạn có đầy đủ bố lẫn mẹ.

Linh đưa tôì vào phòng khách, một người đàn ông đứng tuổi đã ngồi ở đó. Linh vui vẻ:

- Ba ơi! Chị ấy đây này.

Hình như ông ta đã giật mình, một cái nhìn thật lạ lướt nhanh trên mặt tôi, có cảm giác như vừa phát hiện ra điều gì, cốc nước trên tay ông sóng sánh, chao đảo:

- Cháu là Hoài Thương, gia sư của Thùy Linh?

- Dạ. - Tôi nói khẽ khàng, mắt không rời được khuôn mặt ông. Ông ta có những nét thật quen, quen đến mức sững sờ, và nhất là đôi mắt, đôi mắt giống ba tôi trong ảnh đến lạ lùng! Ðất dưới chân tôi như sụp xuống, cả căng phòng như chao đảo, tôi nhắm mắt, cố xua đi hình ảnh vừa thoáng hiện trong ý nghĩ. Ông ta là bố của Thùy Linh!

- Ba ơi, con lấy quà của ba cho chị ấy nhé!

Linh nói và chạyh đi, ánh mắt ông nhìn theo thật ấm áp, đây trìu mến. sống mũi tôi bất giác cay cay.

- Cháu ngồi đi, Hoài Thương.

Rót nước đưa cho tôi, ánh mắt ông dừng lại thật lâu trên mặt tôi. Cử chỉ bỗng vụng về: “Cháu có cái tên rất đẹp nhưng buồn”.

- Ðó là một câu chuyện, bác ạ.

- Có thể kể cho bác nghe được không?

Tôi ngập ngừng, chưa khi nào tôi kể cho mọi người nghe vì sao tôi mang cái tên buồn đến thế. Mắt ông ta nhìn tôi cầu khẩn.

- Nó gắn với sự chờ đợi của một người mẹ, một người vợ, và một người con đối với một người đi xa.

- Mẹ cháu tên gì?

- Mẹ cháu tên Mai Hương, trong một lần hành quân qua nhà, bố cháu ghé lại, mẹ cháu có mang cháu từ đó. Cái tên là cách nói mẹ vẫn luôn chờ và nhớ tới ba cháu, mong ba trở về.

Bàn tay để hờ hững trên bàn tay người đàn ông bỗng run rẩy, ông ta cười, nụ cười méo mó:

- Ba cháu đã không về!

- Vâng, đã hai mươi năm, cả mẹ và cháu đều tin rằng ông đã mất.

- Thế còn bà cháu?

- Bà cháu đã mất sau hòa bình vài năm, bác có biết tại sao không? Tôi nghẹn ngào – vì bà đã mỏi mòn sống trong chờ đợi con, bà đã không thể chờ đợi được. Cho đến lúc nhắm mắt, bà còn nắm chặt tay mẹ cháu dặn dò hãy đợi bố cháu. Bà tin ông ấy vẫn còn sống!

- Trái tim của người mẹ... - Người đàn ông thầm thì, khóe mắt ông giật giật liên tục, ông ta lảo đảo đứng dậy, xoay lưng lại phía tôi, chậm chạp rời khỏi phòng.

Tôi cắm chặt hai chân xuống sàn nhà, không đủ sức đứng dậy, cảm giác mệt mỏi, trống rỗng xâm chiếm khắp người. Tôi uể oải đứng lên, nặng nhọc bước ra khỏi nhà, ý nghĩ muốn mau chóng đi khỏi nơi đây làm tôi đi như chạy, nước mắt đột nhiên tuôn rơi. Có cái gì đó vừa rơi xuống, vỡ tan thành ngàn mảnh, hình ảnh ba tôi tan biến, nhòe nhoẹt trong hai hàng nước mắt. Ngày kia là ngày giỗ của ba, tôi phải trở về nhà, đó mới là sự thật. Sự thật là ba đã chết, chết từ lâu.

Tôi ra bưu điện, đánh điện tín về cho mẹ: “Con sẽ về trong ngày giỗ của ba, con muốn thắp hương cho ba. Mẹ nhớ đón con, mẹ nhé!”.

Phương Nguyên

Wednesday, May 20, 2026

Gò Dầu Mới Đó Mà Đã Quen - Thuyên Huy

 Gò Dầu Mới Đó Mà Đã Quen




Biển Nuốt Rừng Chôn "Những Linh Hồn Không Bao Giờ Tới Bờ" - Phạm Sơn Liêm

 

 BIỂN NUỐT – RỪNG CHÔN

(Những Linh Hồn Không Bao Giờ Tới Bờ)



 

Có những trang lịch sử không được viết bằng mực.

Chúng được viết bằng nước biển mặn… và nước mắt con người.

“BIỂN NUỐT – RỪNG CHÔN” không phải là một câu chuyện để đọc cho hay.

Đây là một vết thương. Một vết thương chưa bao giờ lành.

Có những con thuyền rời bến trong đêm, không đèn, không tiếng… Chỉ có lời dặn dò nghẹn lại nơi cổ họng:

“Đi đi con… còn sống là được…”

Có những bước chân lầm lũi trong rừng sâu, mỗi bước là một lần đánh đổi giữa sự sống và cái chết.

Không ai biết sáng mai còn đủ người để đi tiếp hay không.

Ở đâu đó giữa biển đen, có những bàn tay đã buông nhau ra mãi mãi.

Ở đâu đó giữa rừng sâu,

có những cái tên chưa từng được khắc lên bia đá.

Họ không phải là những nhân vật trong sách.

Họ là cha, là mẹ, là con…

là những con người bình thường bị đẩy vào một hành trình phi thường, hành trình chạy trốn cái chết… để tìm một nơi được sống như một con người.

Bài này không thể kể hết.

Không ai có thể kể hết.

Vì mỗi con sóng đã nuốt đi một câu chuyện.

Mỗi tấc đất rừng đã chôn đi một cuộc đời.

Không phải vì bài hay.

Mà vì đâu đó trong từng dòng này… có một linh hồn đang được nhớ lại.

Và có lẽ, điều duy nhất chúng ta còn có thể làm cho họ, là đừng quên.

Đêm đó, biển đen như mực. Không trăng. Không sao.

Chỉ có tiếng máy ghe khục khặc như hơi thở hấp hối của một người già sắp tắt.

“Má ơi… mình đi bao lâu nữa?” thằng bé níu áo, giọng run như sắp khóc.

Người mẹ không trả lời. Bà không dám trả lời. Vì bà cũng không biết.

Bà chỉ ôm con chặt hơn, như thể nếu buông ra một chút thôi… biển sẽ cướp nó đi.

Chiếc ghe gỗ chở hơn trăm mạng người. Người chen người. Mùi mồ hôi, mùi nước biển, mùi sợ hãi… quyện lại thành một thứ không ai gọi tên nổi.

Một ông lão ngồi sát mạn thuyền, mắt nhìn xa xăm:

“Ngày xưa… tao đi lính… chưa bao giờ sợ như vầy…”

Người đàn ông bên cạnh cười nhẹ :

“Ở lại… thì chết kiểu khác thôi, bác à…”

Bỗng…. RẦM!

Một con sóng lớn đập ngang.

Chiếc ghe nghiêng hẳn.

Tiếng la hét bật lên như một bản hợp xướng của tuyệt vọng.

“Ôm con! Ôm con chặt vô!”

“Đừng đứng dậy! Ngồi xuống!”

“Trời ơi… nước vô rồi!”

Nước tràn vào khoang.

Những bàn tay trần hối hả tát nước như tát số phận mình.

Đứa bé khóc thét:

“Má ơi… con lạnh…”

Người mẹ run rẩy, cởi áo mình ra, quấn cho con.

“Ráng chút nữa… qua tới bờ là hết… hết rồi con…”

Nhưng chính bà cũng không tin câu nói đó.

Rồi… tiếng máy tắt.

Phụt…Phụt!!

Im lặng.

Một sự im lặng đáng sợ hơn cả tiếng sóng.

“Máy… chết rồi…” ai đó thì thào.

Không ai khóc lớn nữa.

Chỉ còn tiếng nấc nghẹn, như bị bóp cổ.

Ngoài xa… một ánh đèn.

“Có tàu! Có tàu!” — ai đó hét lên, giọng mừng run.

Những cánh tay vẫy loạn.

“Cứu với! Cứu tụi tôi!”

Nhưng ánh đèn đó… không tiến lại.

Nó đứng xa. Rồi quay đi.

Như chưa từng thấy.

Một người phụ nữ gục xuống:

“Trời ơi… họ bỏ mình rồi…”

Một người đàn ông đập tay vào mạn ghe đến bật máu:

“Không ai cứu mình hết! Không ai hết!”

Sáng hôm sau… biển lặng.

Nhưng ghe không còn nguyên.

Một nửa đã chìm.

Những người còn lại… ôm lấy nhau như những cái xác chưa kịp chết.

Người mẹ… vẫn ôm con.

Nhưng đứa bé không khóc nữa. Không nói nữa.

Chỉ còn đôi mắt mở trừng… nhìn về phía chân trời không có đất.

“Con ơi…” — bà lay nhẹ.

Không trả lời.

“Con ơi… dậy đi con… mình tới rồi mà…”

Giọng bà vỡ ra từng mảnh.

Một người đàn bà khác quay mặt đi, cắn chặt môi đến bật máu.

Không ai dám nhìn.

———-

Ở một nơi khác… Trong rừng sâu.

Đường bộ. Một đoàn người lặng lẽ bước. Không đèn. Không tiếng. Chỉ có tiếng lá khô vỡ dưới chân.

“Đi nhanh… biên phòng tuần đó…” người dẫn đường thì thào. Một cô gái thở dốc:

“Em… em không đi nổi nữa…”

Người đàn ông quay lại:

“Ở lại là chết. Đi tiếp mới có sống.”

Cô gật đầu. Nước mắt chảy mà không dám khóc!

Người dẫn đường kéo tay:

“Phải đi! Không đi là chết hết!”

Không mộ. Không bia.

Chỉ có đất và lá.

Có những người… chết vì đói.

Có những người… chết vì khát.

Có những người… mất tích, không bao giờ tìm thấy.

Và có những người… sống.

Nhưng suốt đời… không bao giờ thật sự sống lại.

Nhiều năm sau…

Một người đàn ông đứng trước biển, ở một đất nước xa lạ.

Ông nhìn sóng… rất lâu.

Đứa con hỏi:

“Ba… sao ba hay nhìn biển vậy?”

Ông không trả lời ngay.

Chỉ nói nhỏ, như nói với chính mình:

“Biển đó… nuốt hết bạn ba… nuốt luôn một phần của ba…”

Đứa bé không hiểu. Nó nắm tay ba.

“Con ở đây mà…”

Ông cúi xuống, ôm con. Nhưng mắt vẫn nhìn xa. Ở đâu đó… ngoài kia…

có những linh hồn chưa bao giờ vào được bờ.

Có những chuyến đi… không có ngày về.

Có những giấc mơ… đổi bằng mạng sống.

Và có những lịch sử… được viết bằng nước mắt mặn hơn cả biển.

Người ta gọi họ là thuyền nhân.

Nhưng không ai gọi đúng cái tên thật của họ:

Những con người đã đi qua địa ngục… chỉ để tìm một nơi được làm người.

 

Phạm Sơn liêm

Nguồn: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

304Đen – llttm - dsc

Tạ Ơn Đời * Tạ Ơn Mẹ - Tôn Thất Tuệ

 

TẠ ƠN ĐỜI * TẠ ƠN MẸ




 

Theo kinh Niết Bàn, lấy tất cả vũ trụ vo thành trái cau còn dễ hơn nói cho hết việc sinh (và tử); sữa con bú vú mẹ nhiều hơn nước biển và nhiều ví dụ khác. Sự đầu thai đã có trong hiện tại khi con người mang những dấu tích di truyền của bố mẹ.

Trong sự sinh thành vô tận của vô số cảnh giới của thời gian vô thủy vô chung, có sự sinh thành trên quả đất của chúng ta trong đó người mẹ đóng vai trò quyết định. Dĩ nhiên tất cả đều phải có phối hợp âm dương. Trong thống kê, đàn bà sống lâu hơn đàn ông, kể cả trong các xã hội đàn bà đàn ông đều có quyền hút thuốc uống rượu và xả láng mọi thứ như nhau. Trẻ chết lúc sinh nhiều nhất là con trai.

Nhìn vào thế giới thú vật, con cái bảo vệ và nuôi dưỡng lứa mới sinh. Ngay trước khi sinh, chúng đã tìm nơi an toàn, theo khả năng nhận thức của chúng. Có những côn trùng lúc sinh nở có nhiều chất độc để tấn công kẻ phá hoại gia cang.

Trở lại thế giới người. Hoàn cảnh khó khăn nhất là lúc nguy khốn về tài chánh biểu lộ bản năng - hay ý thức tùy bạn - của người mẹ. Điều đó làm cho con cái thấy rõ sự hy sinh. Lại càng thấy rõ khi người cha vắng bóng vì bất cứ lý do gì.

Con ơi mẹ là Thượng Đế, cho con nguyên lý diệu vời; đó là ý chính của bài đạo ca, thơ của Phạm Thiên Thư. Nguyên lý diệu vời ấy là nguyên lý yêu thương, mẹ truyền cho con qua dây rún. Nhưng khi thực phẩm vật chất và tinh thần không còn đi qua dây rốn ấy, mẹ vẫn tiếp tục cho con tình thương và ý niệm ngoại vật. Hình tròn của vú mẹ, nét hình cung thân thể mẹ tạo cho con ý niệm ngoại vật qua xúc giác. Trẻ thơ thích hình tròn không thích hình vuông.

 

Và thực phẩm mẹ cho ăn, nếu không phải là một nguyên lý sống, là một nét vẽ trên cuộc đời không bao giờ phai. Một nhà dinh dưỡng Pháp nói: con người có thể quên tổ quốc, tôn giáo, ngôn ngữ ... quên tất cả trừ món ăn đầu tiên trong cuộc đời, do mẹ cho.

Tôi đã đi săn sóc một người già tê liệt nhưng ông ta rất thích thú khi bà vợ cho ăn McDonald. Bà vợ cho biết ông ăn hamburger từ khi mới biết bò. Một người già lúc nhỏ theo cha qua Nga; khi Nga sụp đổ ông trở về Chicago đã 70 chỉ mong ăn junk food. Montaigne, triết gia Pháp, lúc còn rất nhỏ về sống ở vùng quê nơi đó người ta bỏ tỏi vào sữa mà uống, từ đó suốt đời ông cứ dùng món nầy với cái mùi khó chịu trong xã hội quan cách Paris.

Tôi không phải là bác sĩ nhưng học ở Oshawa rằng nước miếng là một vị thuốc nên ăn gạo lức muối mè mà nhai thật nhuyễn đó là thần dược. Bây giờ nói đến cơm mem, e nhiều người ói mữa trong cái vệ sinh hiện đại. Nhưng nhai cơm rồi đút cho con là bài học của chim, nhai nhỏ côn trùng rồi mớm cho con. Cùng với sữa, nước miếng tạo nên những kháng thể tự nhiên trước khi có chủng ngừa.

Nếu ta quan niệm tính chất tự nhiên là điều quí hóa, mẹ là điều tự nhiên lớn nhất, bao trùm nhất. Mẹ cho cả chủng tử, mẹ nuôi chủng từ ấy bằng chính thân xác mình bằng bàn tay khổ cực của mình. Bàn tay mẹ vo gạo, sinh tố trong cám làm da mẹ mịn như công chúa tắm sữa, mà chất chua chất phèn trong đất trong bùn khi mẹ đi cấy hay trồng khoai đã làm da mẹ nứt nẻ, gót mẹ không hồng nữa như ngày xưa.

Trên đường du thuyết, Phật thấy một đống xương khô, bèn ra lệnh đệ tử đem chôn theo tập tục xương đàn ông riêng, đàn bà riêng. Môn đệ hỏi Ngài làm sao phân biệt; Ngài chỉ cho rằng xương đàn bà có vết đen là dấu tích cực nhọc cho con bú và nuôi dưỡng. Tuy là ẩn dụ, chuyện xương đen ngày nay được chứng minh đúng bởi y học. Văn chương VN có nhắc đến điển tích nầy.

 

Nhưng rồi người ta cũng không để mẹ yên như người ta không để yên thằng bờm có cái quạt mo. Người ta đã dùng cái gọi là duy vật biện chứng, để nói thế nầy thế kia. Thật ra người ta chỉ nói cho qua việc để thực hiện mục đích là hủy bỏ tất cả các giá trị luân lý, dân tộc, những quan niệm ăn sâu vào sự suy nghĩ như thằng bờm, nhưng phải nói cho nó nghe có vần có lối, cho có vẻ triết học.

Họ nói mẹ ta sinh ta là kết quả của một sự truy hoan, chung đụng thân xác. Có tin như vậy, có tin một cách ngây ngô như vậy, đứa trẻ mới chấp nhận sự sắp xếp của nhà nước mà đấu tố cha mẹ như Nguyễn Mạnh Tường đã viết. Câu chuyện không phải là chứng minh đúng sai mà vì một kết quả. Người ta cho phép nói đủ thứ, không kể trước sau, xuôi ngược miễn là đến kết luận Kiều là bông lài cắm bãi cứt trâu trong chiến dịch bài trừ những giá trị cũ.

Nhưng xem cái ngoành ngoạch ấy, ta thấy dẫu sao họ cũng bị lôi cuốn vào cái nhìn phân biệt; phân biệt ta và không ta, vật chất và tinh thần, bản năng và ý thức, thể xác và tâm hồn; thú vật và con người. Và cũng theo truyền thống tây phương lấy một khía cạnh nhỏ làm cơ sở cho một trường phái.

Phải chặt ngay cái đầu con rắn. Ảnh hưởng của mẹ có tính cách quyết định như nói trên qua thực phẩm, qua giáo huấn v.v...Do đó muốn thay thế tình yêu cho mẹ bằng tình yêu cho lãnh tụ, phải chặt ngay từ đầu, càng quyết liệt càng tốt; mẹ đây là mẹ thật hay mẹ chiến sĩ như bà Nguyễn Thị Năm.

Gorbachev đã được mẹ lén lút bồng đi rửa tội TCG Orthodox và nuôi dưỡng trong tình người; ông đã ra lệnh 700 ngàn lính Nga đồn trú ở Đông Đức án binh bất động để cho dân chúng đạp hàng rào biên giới qua Tây Đức. Tinh thần mẹ ông dạy nào khác tinh thần Á Đông, "mai sau chớ sống một mình".

 

Sinh hoạt sinh lý đã được nhìn qua các lăng kính quá khích một chiều, cũng dựa trên sự phân biệt, và các quan niệm xã hội từng thời. Nó lồng vào trong những định chế xã hội như thừa tự, mẫu hệ hay phụ hệ. Nhưng thiên nhiên đã dành cho phái nữ những bảo đảm để tiếp tục sinh sản. Chỉ cần một tinh trùng cho một thai noãn nhưng vô số tinh trùng khác nằm trong tình trạng ứng chiến nhưng không có địch để bắn. Trong một tổ ong, có vô số ong sắc to hơn ong thợ nằm trong những ứng viên chồng nữ hoàng ong. Người nuôi ong phải loại bỏ bằng cách để một cái lược chỉ vừa cho ong thợ vào, còn các con ong sắc phải chết bờ chết bụi thay vì ăn hết mật.

Có gì ngạc nhiên khi những chủ thuyết phi nhân chối bỏ, hủy diệt tính chất tự nhiên trong tình mẫu tử và quan hệ gia đình. Platon đã chủ trương bắt hết trẻ con về giáo dục, đào tạo trong mục tiêu như lính chiến bảo vệ chính quyền; nếu chuyện nầy xẩy ra, người ta sẽ dạy trẻ con đánh vào cục đá và vào đầu con chó như nhau.

Nhưng giới văn nghệ thì nhìn sự thương yêu và sự đau thương là một. Trong một truyện ngắn của William Saroyan, Mỹ gốc Armenia (1908-1981), một thanh niên trên một chuyến du lịch dài; giữa đường một kẻ đồng hành phái nữ chuyển bụng. Anh ta phải làm cô đỡ. Anh thấy tiếng khóc la của người mẹ chẳng khác nào tiếng rên la của người tình khi anh giao tiếp bằng thể xác.

 

Không có loài người trừu tượng mà chỉ có những thành tố hiện hữu. Không có mẹ trừu tượng. Chỉ có những bà mẹ gánh trái mít non, vài trái khế, vài trái thơm từ quê xa lên tỉnh thăm con trọ học. Những bà mẹ ru con suốt đêm vào thời chưa có thuốc ho. Những bà mẹ mua đầu chợ bán cuối chợ, trả tiền vay góp, lúc tối mua được lon gạo đem về. Những bà mẹ có thật, không có trong biện chứng. Chỉ có những bà mẹ chúng ta ngồi ở ngưỡng cửa trông chờ rỗ bánh ế, mẹ vui cho con cái bánh mà buồn hôm nay thua lỗ. Những bà mẹ có thật.

Xin cúi đầu tạ ơn Đời, cúi đầu tạ ơn Mẹ.-

 

Tôn Thất Tuệ

304Đen – Llttm – MT68