Muộn Chờ Đò Chiều
Sunday, October 25, 2026
Hồi Chuông Báo Tử - Lê Huy Oanh
Hồi chuông báo tử
Nhà thờ xứ chỉ cách xa nhà thờ họ chừng ngót một cây số ngàn. Khác nhau có một
chữ thế thôi mà địa vị hai cơ sở khác hẳn nhau. Xứ gồm nhiều họ. Mỗi họ lớn đều
có một ngôi thánh đường. Nhưng nhà thờ xứ sầm uất phồn thịnh hơn nhà thờ họ cả
trăm lần. Lý do vì các lễ nghi diễn ra thường nhật tại nhà thờ xứ, còn nhà thờ
họ thường khi đóng cửa then cài. Cả năm chỉ có đôi ba tuần lễ, linh mục hàng xứ
sang hàng họ làm phúc, quang cảnh nhà thờ họ mới náo nhiệt vui vẻ mà
thôi.
Nhà thờ họ này vốn to nhất địa phận, đứng sừng sững giữa một khoảng đất rộng chừng
vài mẫu ta. Ngọn tháp chuông cao vút chọc thẳng lên trời, đội trên đầu một cây
thánh giá sắt. Tháp chuông này tượng trưng cho một hình ảnh cao cả: đó là ngón
tay Thượng Đế chỉ cho loài người Nước Thiên Đàng đầy sự hoan lạc bình yên. Phúc
thay cho những ai đến với Chúa, phúc thay cho những ai đi theo con đường Chúa
đã chỉ dẫn, vì họ sẽ tới được nơi cao sang tột bậc và bền vững vô cùng. Có phải
thế chăng?
Sáng, trưa, chiều và nửa đêm, quả chuông đồng trên ngọn tháp lắc lư theo đà dây
kéo, truyền ra khắp các hướng trời những âm thanh trầm bổng. Ngôn ngữ của khối
kim khí thanh tao ấy cũng có nhiều sắc thái khác nhau: sầu thảm, vui mừng, thờ
ơ, rộn rã, than van, thúc giục, cầu khẩn, trêu cợt, tiếng chuông đổi thay tùy
theo thời tiết và thời gian của mỗi năm. Tiếng chuông nồng nàn trong tuần đại
phúc khác với tiếng chuông bình thản hằng ngày; tiếng chuông vào buổi nắng ráo
sáng sủa, khác với lúc đất trời nặng nề u ám.
Vấn đề còn tùy thuộc một phần lớn vào kẻ kéo chuông, khi buồn khi vui, lúc no
lúc đói, trạng thái tâm hồn và thể chất hắn có ảnh hưởng nhiều đến tiếng chuông
nhà thờ họ này.
Việc kéo chuông vốn là trách nhiệm của bác từ trong làng. Địa vị bác vốn thấp
kém nhưng bác sung sướng nhàn hạ hơn tất cả mọi người. Chỉ có việc trông coi
nhà thờ, và canh cho đúng giờ để kéo chuông, thế thôi. Nhà bác từ ở sát nách
nhà thờ, thấp thoáng trong một hàng rào cây găng bốn mùa xanh ngắt. Sống giữa cảnh
cô tịch nhàn hạ, bác thường uống rượu cho vui. Mới đầu uống ít, sau uống nhiều.
Dần dần bác nghiện rượu. Một lần ông trùm họ bắt gặp bác say rượu nằm ngủ dưới
cuối nhà thờ ngáy rền. Ông trùm vừa tức tối vì hành động bất kính của bác vừa
lo sợ thay cho bác là Chúa sẽ trừng phạt bác về tội ngủ trong nhà thờ. Ông hối
hả lay bác dậy bắt về nhà ngủ. Trước mặt người trên, bác chợt tỉnh rượu, chắp
tay bái ông trùm để xin xá lỗi. Vốn nhân từ, ông trùm cũng bỏ qua hành động của
bác, chỉ khuyên răn và nhắc nhở rằng nhà thờ là nơi để cầu nguyện chứ không phải
để ngủ. Và nghiêm nét mặt, ông trùm nói nhỏ với bác, cảnh cáo là Chúa có thể sẽ
trừng phạt bác nhãn tiền về tội say sưa bừa bãi như vậy.
Nhưng ít lâu sau, trong lúc ma men ngự trị thể xác, bác từ yếu đuối kia quên
phăng những lời cảnh cáo khuyên bảo của ông trùm. Kéo chuông xong bác lại nằm vật
xuống sàn nhà thờ mà ngủ. Ở đây rộng rãi mát mẻ hơn ở nhà, lại tĩnh mịch vì
không có tiếng khóc ỉ eo của đứa con dại, và tiếng ru sầu thảm của bà vợ gầy
gò.
Ngủ thỏa thuê rồi bác trở dậy lấm lét nhìn lên ngọn đèn lù mù trước bàn thờ
Chúa, rồi lùi lũi về nhà. Chúa không hề trừng phạt bác. Ý hẳn Đấng cao cả đâu
thèm chấp nhất đến những cử chỉ liều lĩnh của bác từ say rượu tầm thường kia.
Trong bầy lũ thế nhân dưới cõi trần tội lỗi này, có biết bao việc càn dỡ gấp
trăm lần việc bác từ nghèo nàn nằm ngủ quên trong thánh đường. Nhà nó thấp bé
chật chội thì nó tới đây ngủ một chút cũng chẳng sao. Thánh đường vừa rộng rãi
vừa hoang vắng. Chắc hẳn Chúa cũng chẳng hẹp lượng mà chấp nhất với bác như ý
nghĩ trong khối óc nông cạn của ông trùm họ. Mà bác từ vốn dĩ vẫn kính trọng
Chúa, chăm chỉ kéo chuông. Đã uống say, đã ngủ ngon giấc, bác từ thấy trong người
khoái hoạt, hai cánh tay như có thêm sức mạnh. Bác ghì sợi dây thừng một cách dẻo
dai hơn, nhịp nhàng hơn. Trên tháp cao, quả chuông chuyển động thật uyển chuyển,
phóng những âm thanh khoan nhặt vào lòng không khí. Cả ngôi làng êm ả như lung
linh trong màn sương chiều khi tiếng chuông ngân nga. Chuông thay lời Chúa nhắc
nhở cho mọi người bổn phận cao quý của họ đối với Thượng Đế, với kẻ đồng loại
và với chính mình. Tiếng chuông là lời nhắn nhủ của Chúa, còn đôi cánh tay gầy
gò của bác từ là một phần động lực làm phát hiện những thanh âm huyền diệu đó.
Những tín đồ đạo đức trong làng tạm ngưng công việc, cúi đầu nghe tiếng chuông
gợi cảm và lặng lẽ làm dấu thánh giá. Nghe tiếng chuông, người ta thường chỉ
nghĩ tới Chúa và nghĩ tới hạnh phúc trong gia đình mình. Gần như không khi nào
người ta nghĩ tới bác từ gầy gò đang vận dụng hết sức lực để kéo sợi dây
chuông.
Càng nhiều tuổi, bác từ càng say sưa nhiều hơn, đến đỗi nhiều khi bác ngủ khì
quên cả kéo chuông. Nhân từ đến mấy, ông trùm họ cũng chẳng sao làm ngơ cho
bác. Mà dầu ông có muốn làm ngơ đi nữa cũng không thể được. Còn có làng nước chứ.
Thiếu tiếng chuông báo hiệu giờ cầu nguyện đồng thời cầm chừng cho giờ làm việc.
Năm giờ sáng, đa số các người nhà quê nghe tiếng chuông ngân liền trở dậy làm
việc. Buổi trưa, buổi tối, họ xếp công việc lại khi tiếng chuông nổi dậy. Tiếng
chuông quan hệ đến đời sống hằng ngày của mọi người. Quên kéo chuông quả là một
tội lỗi nặng nề không thể tha thứ. Ông trùm liền họp các bậc chức sắc trong
làng để định thái độ với bác từ hư hỏng kia. Sau một cuộc bàn định sôi nổi, hội
nghị quyết định truất phế bác từ. Nhưng người ta cũng biết ái ngại cho gia đình
bác. Mất công việc làm ăn, rồi đây gia đình bác biết trông nhờ vào đâu để sống.
Sau cùng người ta giải quyết êm thắm vấn đề này bằng cách cấp lại chức vụ kéo
chuông cho thằng Phả, con trai bác từ. Thằng bé vừa lớn lên, sức lực có thừa ắt
hẳn sẽ làm tròn nhiệm vụ. Vả chăng, hội nghị còn nghĩ rằng: “Con vua thì lại
làm vua, con bác từ chùa lại quét lá đa”. Con sãi chùa làm sãi chùa thì con bác
từ ở nhà thờ nối nghiệp bố thật hết sức hợp lý. Các cụ trong hội nghị lấy làm đắc
ý về quyết định này lắm. Từ đấy thằng Phả lên thay quyền bố nó, nhưng cũng phải
qua một thời kỳ tập tành. Ông bố truyền nghề cho con ông. Kéo chuông cũng khó
khăn lắm chứ. Phải biết giật sợi dây thừng thế nào cho chuông lắc lư đều đặn.
Nhỡ tay một chút là hỏng cả. Tiếng chuông người chết khác với tiếng chuông báo
hiệu những dịp vui mừng. Tiếng chuông dịp Sinh Nhật khác với tiếng chuông Mùa
Chay. Bố chăm chú chỉ dẫn, con chăm chỉ thụ giáo. Chỉ một vài ngày, thẳng Phả
trở thành một chú sãi có tài. Ngay trong bước đầu, nó đã tỏ ra có nhiều năng
khiếu đối với nghề giật thừng và ít lâu sau nó vượt hẳn bố trên phương diện kéo
chuông. Tiếng chuông của nó rất quyến rũ, rất gợi cảm, đặc biệt là khi có kẻ vừa
qua đời. Như một nhạc sĩ giỏi trình bày những điệu nhạc sầu, thằng Phả biết tạo
cho tiếng chuông sầu của nó một linh hồn. Mỗi lần nghe tiếng chuông báo tử, những
đàn bà đa cảm trong làng đã phải nâng vạt áo chùi nước mắt. Không một nhà thờ
nào trong xứ có tiếng chuông thê thảm, đau đớn đến như vậy. Phải là một thiên
tài mới có thể sử dụng dây chuông một cách tài tình như thế. Và cũng như tiếng
đàn, tiếng chuông thường biểu lộ chân thành tâm hồn kẻ kéo chuông.
Tuy trẻ tuổi, nhưng thằng Phả vốn đã có một bộ mặt đăm chiêu âm thầm. Nó rất ít
nói, ít cười, lúc nào cũng trầm lặng, lờ đờ như một nhà khổ tu. Thỉnh thoảng,
sau khi kéo chuông nó leo thang lên tầng tháp thứ ba ngắm cảnh vật xung quanh.
Vào những đêm sáng trời, nó ngồi hàng giờ trên tháp chuông ngửa mặt quan sát những
đám mây đám sao trên trời. Ai biết được gã trai trẻ đó đang mãi tìm tòi gì
trong đám tinh vân mù mịt ấy. Ai biết được gã đang nghĩ ngợi đăm chiêu chuyện
gì.
Thằng bé vốn đa tình, mới mười tuổi đầu đã mê gái. Nó mê một con bé bằng trạc
tuổi. Ngày ngày, nàng tiên kiều diễm kia cắp sách đi học thường vẫn đi qua trước
cửa nhà thờ. Mỗi khi nghe tiếng chuông vang động trên ngọn tháp, cô bé lại dừng
bước ngẩng mặt nhìn quả chuông thấp thoáng lay động trong khung cửa sổ. Giữa mớ
tóc ngắn xõa xuống hai bờ vai, khuôn mặt trái xoan trắng muốt lộ ra trông thật
hiền hậu, dịu dàng. Cặp mắt to đen láy đượm một vẻ quyến rũ, say đắm lạ lùng.
Thằng Phả vốn vẫn để ý tới con bé ấy, nhưng chưa bao giờ nó dám mơ tưởng gì cả.
Chỉ là một chú sãi con một bác sãi, nó đâu dám hy vọng sẽ lọt vào mắt xanh con
bé xinh xắn sang trọng kia. Con bé là quý nữ độc nhất của một vị chức sắc giàu
có trong làng. Địa vị một chú sãi nhà thờ với một cô nữ sinh con nhà giàu quả
là chênh lệch rất nhiều. Không có chút hy vọng nào chiếm được trái tim người đẹp
nhưng thằng Phả vẫn có quyền ngắm nghía con bé chứ sao. Vào lúc cô bé đi qua,
thằng Phả đứng lảng vảng dưới chân tháp để ngó tấm thân uyển chuyển và khuôn mặt
kiều diễm ấy. Nhưng ngày nào cũng giáp mặt người đẹp trước sân nhà thờ thì thằng
Phả hơi ngượng. Nó đổi vị trí, leo lên tháp chuông, đứng trước cửa sổ để nhìn
ngắm cho tự nhiên hơn. Đứng trên tháp có điều hại nhưng cũng có điều lợi. Hại ở
chỗ nhìn không rõ mặt con bé nhưng lợi ở chỗ có thể thấy con bé rất lâu ngay cả
khi con bé đã rẽ vào những đường giong.
Mới đầu, cô bé không biết thằng Phả đang rình nó trên tháp. Cô đi đứng tự
nhiên, một bàn tay ép sách vào ngực còn bàn tay kia thõng xuống, khẽ ve vẩy bên
đùi. Nhìn cái thân hình óng ả đó Phả thấy lòng mình rung động nhè nhẹ. Một chút
rạo rực khẽ chuyển trong thân thể nó.
Rồi một chuyện xảy ra đã làm xáo trộn tâm hồn thằng bé đa tình. Một buổi trưa
mùa hạ, ánh nắng gay gắt đổ xuống khắp làng, cô bé đi học về vẫn qua nhà thờ
như thường lệ. Đến trước nhà thờ, hình như bị bóng ngọn tháp và cây cối chung
quanh quyến rũ nên cô bé dừng lại ngồi nghỉ trên bậc thềm dưới chân tháp. Thằng
Phả đứng rình trên tháp nhưng cô bé không biết. Cô ngửa hẳn người dựa lưng vào
tường nhà thờ, duỗi thẳng hai ống chân và hít mạnh mấy hơi dài cho đỡ mệt mỏi.
Phả uốn người ra phía ngoài cửa sổ ngó xuống. Dưới mái tóc đen, bộ ngực con bé
nhô hẳn lên và phập phồng theo hơi thở. Tà áo lụa bị gió thổi sang bên để lộ bộ
đùi nổi hằn dưới hai ống quần lĩnh bóng. Con bé tuy còn ít tuổi nhưng vốn dĩ
khoẻ mạnh nên bộ ngực đã căng tròn và bộ đùi vừa dài vừa mập trông có vẻ ngon
lành… quá chừng.
… Nó quay mặt đi, rồi quay lại. Hai ống chân ma quái kia thò hẳn ra ngoài nắng
và ánh sáng mặt trời làm cho chúng nõn nà bóng bẩy thêm.
Lát sau con bé thong thả kéo ống quần xuống… Thằng Phả giật mình như vừa tỉnh
giấc mơ. Vô tình nó thụt hẳn vào trong thân thể hơi run rẩy, dường như vừa phạm
một tội lỗi xấu xa. Con bé đã đứng dậy, lơ đãng cầm mấy cuốn sách thong thả bước
đi dưới những bóng cây xanh thấp thoáng ánh nắng. Người đẹp đã khuất sau rặng
tre um tùm ở cuối một đường đất nhỏ nhưng thằng Phả vẫn đứng thẫn thờ trên
tháp. Nó áp má vào quả chuông đồng mát rượi cho mặt đỡ nóng, rồi dùng móng tay
trỏ khẽ cào vào mặt chuông. Từ tảng kim khí gợn lên một âm thanh rất nhỏ nhưng Phả
vẫn nghe rõ. Đối với chú sãi trẻ tuổi, chút âm thanh ấy là một lời yên ủi. Phả
đăm đăm nhìn quả chuông như nhìn một người bạn thân thiết. Chỉ duy quả chuông
này biết được mối tình thầm kín của nó từ đây. Thằng bé lần xuống mấy cây thang
gỗ, uể oải thờ thẫn như kẻ mất hồn. Mà thật thế, hồn nó còn đâu. Hồn nó đã bị tấm
thân óng ả của cô nữ sinh kia thu hút mất rồi.
Lá vàng lìa cành rụng nhiều xuống mặt đất. Thời tiết cuối thu ở miền duyên hải
xứ Bắc mỗi ngày một thêm lạnh lẽo. Trên bầu trời mờ xám, thỉnh thoảng có những
đàn chim di thê bay đi tìm những miền ấm áp hơn để tránh mùa đông sắp tới. Mỗi
khi lên gác chuông thằng Phả phải mặc thêm áo, nó mặc một chiếc áo nâu rách
nhưng bề ngoài nó thường khoác thêm một chiếc sơ-mi trắng tuy có chỗ đã vàng ố
nhưng vẫn còn lành lặn. Tóc nó để dài hơn và được vuốt bằng nước lã cho ép sang
hai bên.
Ai biết được trong lòng chú sãi nhà thờ họ đã nảy ra một mối tình thầm kín, vô
vọng. Không ngày nào nó không luẩn quẩn ở khu nhà thờ để chờ đợi cô bé đi qua.
Nó tới trước rất sớm, chờ đợi trong sự mong mỏi hồi hộp. Cô bé vô tình không
hay biết gì cả. Tuy đôi ba lần bắt gặp Phả đứng trên gác chuông ngó xuống, cô
thoáng để ý tới hành động cử chỉ của Phả, nhưng chẳng bao giờ nghĩ là thằng sãi
thấp kém đó dám say mê cô. Một lần cô ngước mắt chăm chú nhìn Phả rồ cúi xuống
cười lặng lẽ. Chỉ có thế thôi nhưng thằng Phả cũng giật mình đến đỗi bàng hoàng
cả người. Trời ơi, cái nhìn kia sao có vẻ đắm say thân mật như vậy, và nụ cười
đó chắc hẳn bao hàm một ý nghĩa tốt đẹp đối với Phả. Thằng sãi không dám tin cô
bé có cảm tình đặc biệt với nó nhưng nó vẫn phải nhận rằng ánh mắt và nụ cười của
người đẹp có một ý nghĩa tốt lành quá. Thật ra nỗi cảm động của Phả chỉ là kết
quả của một ảo tưởng hão huyền. Trời sinh ra đôi mắt cô bé có một vẻ đắm say, dễ
dãi tự nhiên thế thì dầu cô có nhìn tảng đá, mắt cô cũng vẫn như vậy chứ có phải
cô nhìn riêng Phả bằng ánh mắt ấy đâu. Thấy Phả đứng trên lầu cao thì cô nhìn
chơi, rồi thấy dáng điệu Phả luống cuống thì cô cười. Nụ cười hồn nhiên không hề
có ẩn ý gì hết.
Nhưng chính cái ảo tưởng hão huyền buổi đó khiến Phả bắt đầu dám mơ ước hơn. Nếu
tình yêu có thể khiến cho kẻ hèn nhát trở nên can đảm, như lời một nhà văn đã
nói, thì sự si tình đã khiến thằng Phả dám vượt ra khỏi địa vị nó lắm chứ. Tình
yêu điên dại của nó thoáng nảy ra một tia hy vọng nhỏ bé. Hy vọng điều gì, nó
cũng chẳng biết rõ nữa. Nhưng tâm hồn nó đỡ đau đớn, tủi hổ hơn trước. Người
con gái mỹ miều ấy đã chẳng nhìn nó và cười với nó đấy hay sao. Thằng Phả cảm
thấy đầu óc lao đao hốt hoảng hơn, nhưng nó cũng sung sướng, hồi hộp hơn.
Tuần đại phúc tới vào khoảng giữa mùa đông. Cha chính xứ phái sang làng Phả một
vị linh mục để tổ chức các lễ nghi tại nhà thờ họ. Không khí nơi này bắt đầu
tưng bừng náo nhiệt. Cả năm chỉ có hai tuần đại phúc, một vào khoảng giữa năm
và một vào khoảng cuối năm. Những tín đồ trong làng hân hoan đón mừng vị linh mục
đại diện hàng xứ. Ai nấy đi xưng tội để dọn mình rước lễ cho thật trọng thể. Suốt
trong bảy ngày, nhà thờ họ sáng chiều nào cũng đầy người. Sáng có lễ mi-sa, chiều
có chầu Mình Thánh. Đầu tuần và cuối tuần có rước kiệu chung quanh làng. Trước
sân nhà thờ có những cột cờ cao vút được dựng lên, trên ngọn phất phới những lá
cờ ngũ sắc. Lòng nhà thờ cũng được trang hoàng bằng những dây lụa đủ màu. Đèn nến
rực sáng trên bàn thờ. Hương hoa bốc mùi thơm ngào ngạt. Chú sãi Phả lại phải một
phen làm việc vất vả. Tuy vậy, Phả rất hài lòng vì trong tuần đại phúc ngày nào
người đẹp của Phả cũng tới nhà thờ cầu nguyện. Tiếng chuông nhà thờ thường khi
rất tưng bừng rộn rã nhờ ở đôi tay linh hoạt đầy sinh lực của Phả. Lòng Phả vui
vẻ, tuần đại phúc vui vẻ ắt hẳn tiếng chuông phải rền lên những giọng hân hoan.
Trước kia Phả tài tình trong việc tạo nên những tiếng sầu, bây giờ gã tài tình
cả trong những điệu vui mừng. Nghe tiếng chuông nhà thờ thúc giục, dầu kẻ khô đạo
đến mấy cũng không thể nào ngồi yên ở nhà được.
Vào sáng ngày cuối tuần đại phúc tại nhà thờ họ có lễ cưới. Phả trổ hết tài
năng kéo một hồi chuông báo sự vui mừng. Người ta chờ đợi cô dâu chú rể tới. Vị
linh mục đã mặc áo lễ, sẵn sàng để chủ tế. Từ đầu giong gần đấy, một đám người
vụt xuất hiện tiến về phía nhà thờ. Các bộ quần áo đủ màu sắc chập chờn bên những
rặng lá thưa thớt. Tiếng đàn harmonium ở gian gác cuối nhà thờ nổi lên vui vẻ để
chào mừng hai họ. Người ta bắt đầu tiến lên bậc thềm. Cô dâu bẽn lẽn đi bên chú
rể, giơ chiếc nón che gần kín mặt.
Rất đông dân làng đứng chung quanh sân nhà thờ để xem mặt cô dâu chú rể. Trong
đám những người đứng quan sát đó dĩ nhiên có thằng Phả. Khi đám người rước dâu
tới gần, thằng Phả bỗng nhiên khẽ kêu lên một tiếng đau đớn. Nó nhận ra cô dâu
chính là người con gái mà nó thầm mơ ước suốt mấy tháng (cô bé trạc tuổi Phả –
10 tuổi – làm sao có thể lấy chồng?) nay. Chân tay run rẩy, Phả phải đứng tựa
vào một thân cây cho vững. Rồi không sao cầm lòng được, Phả vụt chạy khỏi nhà
thờ, lần ra ngoài ruộng vắng.
Trời trong trẻo không vẩn một đợt mây. Từng cơn gió khô lạnh chuyển mình trên
những đám mạ non. Thằng Phả chui vào một đám cỏ mọc hoang bên bờ ruộng, nằm úp
mặt xuống vành tay khóc nức nở. Mối tình đầu tiên của nó thầm lặng u uất từ bao
lâu bây giờ được dịp thoát ra bằng những giọt lệ nóng hổi.
Trong nhà thờ, lễ cưới bắt đầu cử hành. Hôm nay là ngày hạnh phúc nhất đời của
cô nữ sinh có đôi mắt huyền ảo và có tấm thân thể kiều diễm kia. Khi tân lang
âu yếm trịnh trọng luồn nhẫn cưới vào ngón tay thon dài của cô, cô đã đắm say
liếc nhìn người bạn trăm năm. Đó mới là cái nhìn thực sự say đắm, khác hẳn cái
nhìn vô tình cô đã ban cho thằng Phả trước kia.
Vào buổi tối, khi tuần đại phúc chấm dứt, vị linh mục đã trở về nhà chung và cửa
nhà thờ đã khép lại, từ tháp thánh đường vụt nổi lên một hồi chuông báo tử.
Chưa bao giờ người ta thấy những tiếng chuông thê thảm, rùng rợn đến như vậy.
những người đàn bà yếu bóng vía rùng mình, run rẩy giơ tay làm dấu thánh giá.
Có dăm cụ già quỳ úp mặt xuống đất đọc kinh sám hối. Tiếng chuông ảo não kia nhắc
nhở các cụ giờ chết đã gần tới.
Trong đêm tối, một bóng người lật đật chạy về phía nhà thờ. Đó là ông trùm họ.
Xưa nay phàm gia đình Công giáo nào trong họ có người qua đời đều phải báo cho
ông biết, rồi tự ông sẽ ra lệnh cho sãi nhà thờ nổi chuông báo tử. Chưa có lệnh
của ông không có người sãi nào dám nổi hồi chuông đó. hôm nay trong họ có ai chết
đâu. Tại sao lại có chuông báo tử?
Đến cửa nhà thờ, ông trùm họ lớn tiếng gọi tên thằng Phả. Tiếng chuông vẫn rền
rĩ xoáy vào đêm tối và thằng Phả không trả lời. Vừa tức bực, vừa ngạc nhiên,
ông trùm họ rút chiếc đèn pin trong túi, bật lên, rồi đẩy cửa bước vào nhà thờ.
Trong ánh đèn rọi sáng, thằng Phả đứng lạnh lẽo, một tay vẫn thong thả giật dây
chuông. Ông trùm họ trợn mắt, vừa tiến đến gần thằng sãi bướng bỉnh vừa hỏi giật
giọng:
“Ai chết mà mày kéo chuông báo tử? Ai bảo mày kéo chuông báo tử?”
Nhưng ông trùm đột nhiên rùng mình đứng sững. Trong ánh đèn, ông nhận thấy mặt
thằng Phả phờ phạc và xanh mét. Nó giương đôi mắt đỏ ngầu trân trối nhìn thẳng
vào mặt ông và tay nó vẫn giật tiếng chuông báo tử.
Lê
Huy Oanh
1960
Góc Giáo Đường Như Thàng Mười Hàng Năm - pk - cpsn
góc giáo đường như tháng mười hằng năm …
góc giáo
đường như tháng mười hằng năm, em thắp nến dâng lời cầu nguyện
có lời nguyện nào xóa được nỗi nhớ không anh ?
Giữa tim
em
Bạch lạp cháy…
Giữa tim em và Thu
Xin tháng 10 nguôi giông gió
Em vẫn để một khe cửa hở
Lạnh có nhiều…
Sao đốm lửa đau run ?
Ngày 15
Chiếc lá vàng chưa quên
Rụng sau mùa Nguyệt Thực
Trăn trở một vì sao vừa rớt
Dòng phù vân, vô sắc, lênh đênh
Có lẽ nến cũng nhớ anh
Em tự hỏi bóng mình qua nhập nhoè ảo ảnh
Mắt chợt ướt.. từ 20 năm
Mình hạnh phúc vẫn còn lệ nóng ?
Chỉ là không gian vắng
Nỗi niềm chưa biết chia xa
Em đặt trên bàn nhánh hoa
Dường như bốn mùa về vẫn nở
Đáy cốc rượu vàng pha
Em không chấp nhận nắng chiều vụn vỡ
Ở đâu đó có bài thơ
Mong manh cảm xúc từng hơi thở
Ở đâu đó có em anh
Đan khăn mùa đông bằng sợi nhớ
Ở đâu đó có biển tình
Sóng vẫn dâng bờ ngực nhỏ…
Thắp màu đêm, đêm nay
Lấp lánh hoa đăng bằng mắt
Cả bầu trời sao mai
Giữa tim em ngọn lửa hồng không biết tắt
pk –
cpsn
Cháy Nhà Ra Mặt Chuột:Nợ Cứt - Phạm Thế Việt (Lê Hồng Song ghi lại)
Cháy Nhà Ra Mặt Chuột: Nợ Cứt
Ô. Bà ta hay nói đàn ông sống ở đời có 3 cái khổ
lớn:
-Thứ nhât là vợ dại,
-Thứ hai là nhà dột,
-Thứ ba là nợ đòi!
Đã hơn 50 năm qua rồi cứ đến ngày 30 tháng Tư là Sài Gòn tưng bừng ăn
mừng thắng trận.
Tôi hay nghĩ vu vơ:
-Thắng cũng thắng rồi. Người thua cũng thua rồi. Nam Bắc gì cũng là
người VN cả, người Bắc kỳ cứ ăn mừng hoài không sợ người Nam buồn
sao?
-Người Nam kỳ thua trận tuy không bị tắm máu, nhưng nhà cửa tiền bạc
ruộng vườn đều bị cướp bóc trắng tay ...
Tại sao năm nào VC cũng ăn mừng ngày 30 tháng Tư đen, không sợ làm tổn
thương tình đoàn kết của dân tộc hay sao?
Thì ra ăn mừng là vì họ đã thoát được món nợ lớn, rất lớn đó là
nợ cứt !
NỢ CỨT
Ngày đó hợp tác xã ở miền Bắc VN xã hội chủ nghĩa ra một chiến dịch thu gom
phân bắc (cứt người), mỗi gia đình một tháng phải đóng đủ mười cân, nếu không
đóng đủ thì bị cắt gạo. Thật là một chiến dịch có một không hai trong xã hội
loài người.
Vậy nên, khi chiến dịch ra đời, cái cầu tiêu trở nên vô cùng quan trọng và cấp
thiết. Người người, nhà nhà mua xi măng mua gạch về xây cầu tiêu. Cầu tiêu phải
làm bằng xi măng thì cứt mới không bị phân huỷ, chứ ỉa xuống đất vài ngày là bọ
hung ăn hết, lấy gì mà đóng cho nhà nước. Vậy nên, cái cầu tiêu quan trọng hơn
cái nhà.
Chuyện ỉa đái lúc này cũng cực kỳ quan trọng, dù ai đó có bị tào tháo rượt ở
đâu thì cũng phải nhanh nhanh ba chân bốn cẳng chạy thẳng về cầu tiêu nhà mình mà
giải quyết chứ để mất đi một cục là mất đi lon gạo chứ chẳng chơi.
Nhiều người đi làm ngoài đồng, ngày trước, khi mắc ỉa thì chạy vô bờ, vô bụi
làm đại cho xong, nhưng bây giờ, làm như vậy có mà đói chết. Vậy nên, phải tìm
cách, có người làm đại vào bao ni lông, có người cuộn trong lá chuối, có người
cẩn thận hơn đi vào trong cái cà mèn đựng cơm để mang về cho an toàn mà đổ xuống
cầu.
Có nhiều chuyện dở khóc dở cười trong chiến dịch này lắm, ai sống thời đó chắc
biết.
Khi chiến dịch ra đời thì cũng là lúc không biết bao nhiêu con chó phải chết.
Chó chết vì đói, cơm khoai đã không có ăn, đến cục cứt cũng bị nhà nước dành mất
thì lấy gì mà sống. Nhà tôi có bốn người, một người lớn và ba đứa con nít, cố gắng
lắm không để thất thoát cục nào, vậy mà đến tháng vẫn không đủ cân nộp, má tôi
sai anh em chúng tôi đi tìm đá sỏi bỏ vào cho đủ. Khi mang lên cân người ta kiểm
tra và phát hiện nhà tôi gian lận nên lập biên bản và làm kiểm điểm. Họ còn ghi
rõ ràng trong biên bản gian lận như thế nào, có bao nhiêu cục cứt và bao nhiêu
cục đá sỏi.
Quả đúng không sai, cái đời người nông dân u tối làm sao mà lừa được mấy ông
nhà nước, mấy ông tinh vi vô cùng. Kết quả là nhà tôi bị cấm không cho nhận gạo
một tháng. Trong một buổi họp người ta đưa tên má tôi ra kiểm điểm trước dân về
việc gian lận lấy đá sỏi trộn với cứt để nộp cho nhà nước. Họ không cho má tôi
phân bua gì hết. Nhưng không đành lòng nhìn cảnh con đói, bà đứng dậy thẳng thừng,
dứt khoát.
Bà nói: “Việc tôi làm gian lận tôi chịu trách nhiệm trước toàn thể mọi người,
nhưng các người nhìn đi thì cũng phải nhìn lại, nhìn ngược thì cũng phải nhìn
xuôi, các người có nhìn vào nhà tôi không, nhà tôi có bốn người, một người lớn
và ba đứa con nít, tôi thì suốt ngày đi làm ngoài hợp tác xã, có cục nào tôi đã
ỉa ngoài hợp tác xã hết rồi, còn con tôi ở nhà, nó là con nít nó ăn bao nhiêu, ỉa
bao nhiêu, nó ỉa ra cục nào chó lủm cục đó thì lấy đâu đủ cứt để mà nộp cho mấy
ông. Vậy mà bây giờ mấy ông kiểm điểm tôi, cắt gạo thì lấy gì tôi nuôi con, lấy
gì ăn để mà ỉa mà đem cứt nộp cho mấy ông.”
Nói gì thì nói, la gì thì la, nhà tôi vẫn bị cắt gạo tháng đó. Không còn gì khốn
nạn hơn thế. Nói thiệt, đến bây giờ trong hồ sơ giấy tờ ở kho lưu trữ quốc gia
thì nhà tôi vẫn còn một món nợ lớn với nhà nước mà không thể nào trả nổi, đó là
nợ cứt.
Gia đình bạn nào được phân phát gạo là tốt lắm rồi nhá. Nhiều gia đình ở quê,
chồng đi làm công chức và vợ sản xuất nông nghiệp Hợp Tác Xã thì các con ăn
theo người Mẹ và không được gạo hàng tháng. Năm nào được mùa thì còn đỡ, nhưng
hầu như là mất mùa. Ngày công được qui ra thóc. Nếu cuối năm HTX mà may lắm thì
ngày công được 1kg lúa. Thử hỏi một người Mẹ có 5 đứa con mà mỗi ngày chỉ có
1kg thóc thì khoảng 1/2kg gạo là cùng.
Ôi ngày đó bọn chúng tôi lớn lên ở Miền Quê của Chế độ "Xã Hội Chủ
Nghĩa" mà ngay cả trong mơ cũng mong có được một bữa ăn no, đêm ngủ phải tỉnh
giấc canh chừng người khác vô vườn đào trộm củ chuối. Xã hội đói khổ nghèo hèn,
tạo cho người dân bần tiện vô cùng. Nhiều người khi cho lợn (heo) của HTX ăn và
đói quá họ đã bốc cám của lợn (Heo) để ăn và bị bắt ra kiểm điểm trước cuộc họp
của cả HTX.
Trẻ con thì cứ mong người già của mấy người lãnh đạo và giầu có chết, vì khi đó
trẻ con đến giả khóc sụt sùi hay là do đói khóc.... nhưng gia đình người ta tưởng
là thương nhớ người quá cố thì cho ăn bữa cơm no. Nhiều thằng trẻ thông minh
thì dọn dẹp tiếp ở bếp để được bữa ăn. Ôi, cái chế độ mà nhiều người ngủ cũng
mơ mong được bữa ăn no.
Đi cày mà hấng được một bãi cứt trâu thì thật là một niềm sung sướng vô cùng.
Khi đi cày người Bắc thường đội nón cối (Nón nhựa của người Bắc thường dùng) và
khi trâu ỉa, người đi cày lấy vội mũ cối trên đầu để hấng bãi cứt trâu. Nhiều
người lỡ đụng quá mạnh vô dái của trâu làm nó sợ không ỉa nữa và mất bãi cứt
trâu, lòng buồn khóc hu hu hu huuu... Đến giờ này nếu ai chứng kiến cảnh đó thì
cũng không hiểu được họ khóc vì mất bãi cứt trâu hay khóc cho một chế độ điêu
tàn...
Rồi xẩy ra chuyện trộm cứt, đánh nhau vì cứt. Hai người tranh nhau một bãi cứt
trâu cũng đánh nhau ra xã giải quyết...
Nghĩ lại thật là rùng rợn cho một XH tối tăm.
Phạm
Thế Việt (Lê Hồng Song ghi lại)
Người chuyển
bài – HV - USA
Con Số Ba - Tiểu Tử & Vương Trùng Dương
CON SỐ BA
Tháng 3 năm 2021, nhận được
bài viết của nhà văn Tiểu Tử ở Pháp. Năm nay ông đã 91 tuổi nhưng vẫn còn minh
mẫn viết lách. Ông tốt nghiệp kỹ sư tại Marseille, Pháp năm 1955. Ông về Việt
Nam, dạy tại trường trung học Pétrus Trương Vĩnh Ký niên khóa 1955-1956. Tháng
10 năm 1956, ông vào làm việc tại hãng xăng Shell Việt Nam cho đến ngày 30
tháng 4 năm 1975. Năm 1979, ông vượt biên và định cư tại Pháp.
Ông viết nhiều thể loại nhưng
thú vị nhất là lối viết phiếm, dí dỏm, ví von của văn phong miền Nam.
Bài viết Con Số 3 của ông, tôi
cảm hứng viết thêm: Phần I của Tiểu Tử & phần II của tôi (VTrD)
*
Phần I
Bài của Tiểu Tử
Trong mấy con số từ 1 đến 10 con số 3 là đặc biệt nhứt, vì nó
lúc nào cũng thấy có mặt trong cuộc sống hằng ngày.
Đây ví dụ, bà Hai cúng Phật: Bàn thờ Phật được gọi là “Ngôi
Tam Bảo”, trên bàn thờ có bộ ba “lư hương và hai chân đèn”, có ba chung nước,
bà Hai xá ba xá rồi lấy ba chung nước đem đi lau rồi cho nước mới vào mang lại
đặt lên bàn Phật, thắp ba cây nhang, chắp vào hai bàn tay xá ba lần mới cắm
nhang vào lư hương, xong là xá ba xá, mới gõ ba tiếng chuông rồi quỳ xuống lạy
ba lạy, đứng lên xá ba xá hướng về bốn hướng.
Đó: chỉ việc cúng Phật mà đã có biết bao nhiêu lần ba?
Trong ngôn ngữ thông thường, để nói về một Người không đứng đắn,
Người ta gọi người đó là “thằng ba trợn, thằng ba xạo, thằng ba que xỏ lá, thằng
ba gai, thằng ba phải, thằng ba búa …”.
Trường hợp hơi gấp cần gặp nhau để “nói ba điều bốn chuyện rồi
đi!”. Lỡ gặp bữa cơm thì “ăn ba miếng rồi đi!”. Bữa nay ngày rằm mà không có
cơm chay. Thôi thì “và ba miếng cơm lạt trước khi ăn cũng được!”.
Thông thường, nhà xưa có nền hơi cao nên phải bước lên tam cấp
để vào nhà! Ngôi nhà có ba gian hai chái với hàng ba rộng. Trong bếp có ông Táo
là ba cục đất, hoặc ba viên gạch... Theo truyền thuyết, đó là “một Bà và hai
Ông”. Họ như vậy mà vẫn chịu nổi sức nóng của lửa củi! Hay quá!
Đàn bà đi chợ, cho dù món hàng chỉ có đôi ba đồng, họ vẫn trả
giá đôi ba lần. Để khỏi bị hố! Cuộc sống của họ dính liền với “ba cọc ba đồng”
đó mà!
À! Nhân nói về đàn bà mới nhớ ra theo truyền thống, họ phải
chịu nép mình vào “Tam tòng tứ đức”! Kẹt lắm chớ không phải chơi đâu! Trong lúc
đàn ông thời xưa có “năm thê bảy thiếp” thì đàn bà thời nào cũng chỉ “Chính
chuyên một chồng”!
Trên đây là nói về dân dã. Thử nhìn qua cuộc sống của một ông
Vua coi ra sao bởi vì ông là “đối lập” với người dân…! Đầu tiên, ổng đi đâu
cũng có “tiền hô hậu ủng”, có tới “ba đạo quân” đi theo bảo vệ! Cho nên khi
nghe trên sân khấu ông Vua kêu lớn “Tam quân” là nghe dạ rân trên đó! Oai như vậy
na!
Khi ông Vua giận kẻ phản tặc nào là ổng ra lịnh “tru di tam tộc”
kẻ đó! Ghê chưa! Bằng không thì ổng cho “Tam ban triều điển” để phạm nhân tự xử:
đó là chén thuốc độc, sợi giây để thắt cổ và con dao nhọn để đâm vào bụng.
Chổ ở của ông Vua không phải là loại vi-la mà là một “Tam
cung lục viện”, mỗi viện, ổng cấp cho nơi chốn gái đẹp. Mấy cô nầy có trách nhiệm
“phục vụ” ổng! Sướng vậy đó! Và nơi nầy không ai được vô nên được gọi là “Tử cấm
thành”, trong đó có tất cả những gì để ông Vua tiêu khiển, tránh cho ổng khỏi
đi lan ban ra ngoài nguy hiểm!
Nhắc đến chuyện Vua chúa, không quên hồi thời đó thường hay đọc
truyện Tàu. Có truyện Tam Quốc Chí đọc cũng mê! Trong truyện Tàu có những nhân
vật làm người đọc khó quên. Tỉ như: ba người kết nghĩa đào viên: Lưu, Quan,
Trương, tỉ như Lưu Bị tam cố thảo lư, ba lần đến đứng trước cửa nhà Khổng Minh
để cầu hiền, tỉ như ông Trình Giảo Kim nằm mơ thấy Tiên Ông dạy võ công với cái
búa bửa củi. Đang học, bỗng ông ta giật mình thức dậy và chỉ nhớ có ba đường
búa, tỉ như Quan Công Hầu hóa ngũ quan - hai cộng ba trảm lục tướng - ba lần
hai …vân vân … và vân vân…
Cha! Con số 3 nó hành tôi từ đầu câu chuyện làm tôi muốn đo
ván! Thôi, ngừng đây nghen! Bái bai!
*
Phần II
Bài của VTD
Với chuyện viết lào lao cho vui nhưng cũng thú vị và hữu ích
nên góp thêm vào bài viết.
Truyện Ba Giai Tú Xuất trong dân gian của ta khá phổ biến.
Trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du có câu:
“Sầu đong càng lắc càng đầy,
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.”
Tại sao phải dùng h oba mà không dùng năm, mười… phải chăng
thi hào dựa vào Kinh Thi có câu “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề” nghĩa là “một
ngày không gặp dài như ba năm”…
Cũng con số 3 mà người xưa nói “Trong ba người đồng hành, ắt
có người làm thầy của ta” cũng lấy ý từ Luận Ngữ “Tam nhan đồng hành…”. Và ca
dao ta có câu;
“Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
Nhà thơ trào phúng Trần Tế Xương trong bài thơ Ba Thứ Lăng
Nhăng ví von:
“Một trà, một rượu, một đàn bà,
Ba thứ lăng nhăng nó quấy ta”.
Nhà thơ Cao Bá Quát bị bắt giam tại nhà ngục Sơn Tây, rồi bị
đóng cũi đưa về Hà Nội, và giải vào Huế.
Nằm trong ngục, Cao Bá Quát không hề sợ sệt, tự nhạo cái mộng
đế vương của mình:
“Một chiếc cùm lim chân có đế
Ba vòng xích sắt bước thì vương”
Trước khi thọ hình, ông cũng còn ứng khẩu ngâm hai câu chửi rủa:
“Ba hồi trống giục mồ cha kiếp
Một nhát gươm đưa đéo mẹ đời”
Cao Bá Quát treo câu đối nơi nhà dạy học
“Nhà trống ba gian, một thầy, một cô, một chó cái;
Học trò dăm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi”
Tuy dùng chữ “nửa” nhưng tính ra 1/3 người, 1/3 ngợm và 1/3
đười ươi.
Tác phẩm Ba Sinh Hương Lửa của nhà văn Doãn Quốc Sỹ rất nổi
tiếng vào đầu thập niên 60 ở miền Nam VN trong bộ trường thiên tiểu thuyết Khu
Rừng Lau gồm 4 tập: Ba Sinh Hương Lửa, Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến, Tình Yêu
Thánh Hóa, Đàm Thoại Độc Thoại.
Truyện Ba Người Lính Nhảy Dù Lâm Nạn của nhà văn Nguyễn Mạnh
Côn, Sài Gòn năm 1960
Tác phẩm Les Trois Mousquetaires của văn hào Alexandre Dumas.
Rất nổi tiếng và được dịch ra nhiều nhiều tiếng trên thế giới. Ở VN với tựa đề
Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ. Điện ảnh Pháp với tác phẩm nầy đã ra đời vào năm
1921, nay đúng 100 năm.
Các bà nội trợ thì rành thịt ba chỉ hay thịt ba rọi (Pork
belly) là loại thịt có cả phần nạc và mỡ, khi cắt ngang miếng thịt, bạn sẽ thấy
được 3 lớp xen kẽ theo thứ tự thịt, mỡ, thịt. Thịt ba chỉ ngon thường nằm ở phần
giữa cổ và vai (thường gọi là gáy) và phần chân giò. Loại thịt này sau khi chế
biến thường không bị khô và tạo cảm giác ngấy cho người ăn. Loại thịt nầy nguồn
cung cấp vitamin B1, B2, B5, B6, B12, PP, A, E… dồi dào và được chế biến nhiều
món ăn khoái khẩu.
Câu nói ví von trong dân gian “Hai người đàn bà và một con vịt
làm thành cái chợ”
Người xưa đã nói “sự bất quá tam” nhằm khuyên bảo việc gì
cũng không nên quá nhiều lần. Nhiều lắm là 3 lần trở lại. Tha thứ kẻ lầm lỗi,
chỉ nên tha ba lần, nếu vẫn còn tái phạm, lần thứ tư phải trách phạt. Luật ở Mỹ
cũng kết án nặng khi phạm luật lần thứ ba như uống rượu lái xe… lần thứ tư thì…
tiêu!
Các nước dân chủ trên thế giới với “Tam quyền phân lập”
(Hành, Lập & Tư pháp) khi không thi hành đúng thì bị lệch lạc.
Khi nghe 3 chữ “tam tam chế” thì mọi người đều dị ứng nên khỏi
bàn!
Ở Trung Hoa có hội Tam Điểm nhưng Illuminati & thuyết âm
mưu Trật Tự Thế Giới đã hình thành mấy h o năm về trước nhưng hiện nay trở
thành đề tài tranh cãi rất nhiều vì đây thế lực của của quyền lực ngầm thao
túng trên thế giới. Hình ảnh ban đầu còn in trong tờ 1 đồng Mỹ kim đầy bí ẩn.
Với số nhiều thì bắt đầu con số 2 nhưng con số nầy chưa hội đủ
yếu tố nên chọn con số 3 và vì từ xa xưa hình ảnh pyramid với các công trình
xây đụng đầy bí ẩn, trở thành kỳ quan trên thế giới. Và Số Pi (ký hiệu: π), hằng
số toán học… cho đến nay vẫn là con số kỳ diệu và bí ẩn. Công thức tính số thập
phân của hằng số Pi với số 3 đầu tiên 3,14159265358979326433…) nếu
liệt kê hết thì dài vô tận.
Nhưng quái gỡ nhất trên thế giới chỉ có Việt Nam tiền giấy 30
đồng phát hành lần đầu năm 1981, trên thế giới chưa có đồng bạc nào có mệnh giá
lẻ 30.
Năm 1985 Ngân Hàng Nhà Nước tiếp tục phát hành tờ tiền 30 đồng
lần thứ hai, nhiều người phản đối thì Tổng Giám Đốc Ngân Hàng Nguyễn Duy Gia giải
thích rằng: Chúng ta đã tiêu loại tiền 30 đồng, còn bà con nào muốn cặp tròn
thì dùng 3 loại 5+2+3=10. Ông tiến sĩ nầy ở trong lò ấp trứng… nên thiên hạ gọi
ông là Tiến Sĩ 30 đồng. Hết ý!
Có lẽ còn nhiều điều thú vị nữa với con số 3… Quý thân hữu
góp ý cho vui. Con số 3 và chữ ba cùng âm với nhau tuy không họ hàng dây mơ rễ
má gì nhưng khi viết gì thì viết, nói gì thì nói mà nghe “h ob ơi…”, tiếng gọi
“thiêng liêng” đó phải ngưng… tán dốc!
Vương Trùng Dương
Tháng 3/2021
*
Phụ Lục
BA, SỐ BA
Từ Nguyên
Gặp số ba, chữ ba…là vui nhất vì có thể nói ba hoa chích
chòe, ba chớp ba nháng nghĩa là nói lung tung, tán hươu tán vượn hay ba xí h ob,
chút này chút nọ, nói ba hoa thiên địa nói chuyện trời, trăng mây nước…không
đâu vào đâu.
Nhưng không nói như quân ba trợn ngh ĩa là người vô học, lỗ mảng,
đồ ba xạo, nói ba xàm ba láp nghĩa là nói tầm bậy tầm bạ, ba lăng nhăng. Người nói
vậy bị chê là ba que xỏ lá, ba gai, nói những lời nặng nề, thô tục, nói láo, ba
xàm ba đế.
Phải nói cho trúng, ba bảy hai mươi mốt mới được.
CON SỐ BA
Trong cuộc sống, chúng ta gặp số ba rất nhiều. Nhà ba gian
hai chái. Có tầng cấp ba bực bước vào nhà. Mời anh Ba vào chơi.
Trong nhà, gian giữa đặt bàn thờ. Trên bàn thờ là lư hương với
ba nén (cây) nhang (hương), bộ tam sự (hương, đèn, trầm). Khi lạy, lạy ba lạy
hay xá ba xá ba ngôi tam bảo,
Phật, Pháp, Tăng. Trước bàn thờ tổ tiên lạy bốn lạy, xá bốn
xá.
Khi cần gặp nhau nói ba điều bốn chuyện…tới nhà gặp bửa ăn
cũng xin mời anh chị ngồi vào mâm, xơi ba miếng. Bửa nay rằm mà không có cơm
chay, thôi thì xin ăn lạt cũng được. Cơm với muối mè và chuối ba tiêu.
Thịt ba rọi là có da, thịt và mỡ. Thịt ba chỉ nói miếng thịt ở
bụng (con heo), có ba thớ nạc lẫn với mỡ. Ăn nói ba rọi là nói xỏ nói xiên.
(Còn nói đến vải the, có ba đường chỉ lớn nhỏ, dùng để…che mắt thánh.) Bánh mì h
ob ? phải qua bên nước Phú lãng sa mới có.
Đi đâu, mới ra ngõ đã gặp ngã ba đường cái, tới quán hàng của
bà Ba Bủng. Ba bà đi bán lợn xề, h ob đội gạo lên chùa…
Ông già Ba Tri kể lại cuộc đánh Tàu, mà chú ba hay chú chệt hồi
đó qua xứ mình mua bán ve chai nay thành ông chủ, cầm ba toong đập chó. Ông ba
kẹ, ông ba bị h o quai hay bắt trẻ con. Người lớn sợ ông ba mươi (con cọp), mới
thấy bóng đã vội ba chân bốn cẳng, chạy cho lẹ.
Ba ba là một thứ rùa nhỏ, cũng ăn chớ, uống ba xịn đế (rượu
trắng nếp than), gẫm chuyện đời cho kiếp ba sinh (kiếp này, kiếp trước và kiếp
sau theo lẽ luân hồi nếu may mắn còn làm được con người.)
Ví chăng duyên nợ ba sinh
Làm chi đem thói khuynh thành trêu ngươi (Kiều)
Ba h o là trái banh, không có h o, ba gác là xe hai bánh chở
hàng hai chân phải đạp không được gác chân lên xe, ba khía là con vật dính vào
cây sống ở bờ rạch nước mặn bắt về làm mắm, ba lơn là nói pha trò, cù không cười.
BA LÀ CHA
Ba có trước chữ papa, đứa bé bập bẹ, kêu ba, ba, me, me…Con
đi với cha hay với bố. Thờ cha kính mẹ ấy là đạo con, không nói thờ ba…
Ba sanh không phải nói chuyện cha mẹ sinh mình ra, mà kể chuyện
cuộc đời biến chuyển nhanh chóng. Chuyện kể rằng có một người đốt nhang, nhang
chưa tàn mà thấy mình trải qua ba kiếp người, khi giàu sang khi nghèo khó.
h oba làm được ba sinh một lần cũng vui vậy !
Ba lo. Một mình lo bảy lo ba, lo cau trổ muộn lo già hết
duyên. Lo lắng : lo nên, lo hư; lo giàu lo nghèo ; lo sống, lo thác. Ba lô là
túi vải đeo sau lưng. Tây ba lô du lịch tới Việt Nam, ăn cơm tay cầm.
Bô lô ba la là ăn nói liếng thoắng, kể chuyện vui vẻ nghe
không kịp, cười cười nói nói khi mới gặp lại nhau.
Chưa nói đã cười là người vô duyên !
BA LA MẬT
Chữ ba la mật được nhắc tới hoài trong kinh Phật. Ba đó không
phải là số ba.
Ba la mật là tiếng âm của chữ Phạn paramita có nghĩa là tới bờ
bên kia. Người Ấn có thói quen khi làm xong việc gì, phủi tay sung sướng nói
paramita! Paramita! Như người sang sông tới bờ rồi.
Bờ đây là bờ nào ? Sách Phật nói bờ bên kia là chỗ mình muốn
tới là niết bàn là cực lạc, thì bờ bên này là cõi trần. Hai bờ có mà không có,
không cách xa nhau mà gần nhau. Muốn qua không cần thuyền bè mà là tu. Tu Phật
là tìm vật liệu để làm cho mình chiếc thuyền đi tới bờ bên kia, trong tâm trí.
BA PHẢI
Nói xuôi cũng được nói ngược cũng xong. Ba phải, cả ba người
nói trắng, nói đen đều phải cả. Được lòng mọi người nhưng lại bị chê là không dứt
khoát, không có lập trường.
Dạ, xin chào ông ba phải.
CHUYỆN ÔNG BA KIM
Ông bà này được bạn mời tới nhà dùng cơm trưa. Tới trước nhà,
lần nào ông cũng không vội. Chờ h oba kim trên chiếc đồng hồ đeo tay, coi sao
cho kim chỉ giờ, kim chỉ phút và kim chỉ giây chụm lại, lúc đó ông mới bấm
chuông.
Bạn bè biết chuyện, cho ông tên hiệu là Ba Kim. Ông Ba Kim
qua đời từ lâu.
Sưu tầm.
Người chuyển bài – HV -USA
Tuesday, October 20, 2026
Kiếp Nào Mới Yêu Nhau - Thuyên Huy
Kiếp Nào Mới Yêu Nhau
Nhớ người bạn thân tên Triệu nhưng
không phải là Triệu trong câu chuyện hư cấu, tưởng tượng này
- Anh Triệu chết
rồi
Khánh mắt rươm rướm đỏ cho Hiếu biết tin, anh chết cứng, không nói được
một lời, cho dù là một lời chia buồn ngắn, anh nhìn Khánh, nhìn ra đường, cố
tình che mặt mình, vừa bật khóc. Bên kia hồ con Rùa, sinh viên trai gái, vội vã
trở vào trường Luật, đã tới giờ học buổi chiều. Khánh cố gượng cười, hẹn gặp lại,
vì cũng đã lâu hai người chưa gặp lại lần nào, chào Hiếu, bước vội băng qua bên
kia đường trở vào trường, vẫy tay nhưng không quay nhìn lại, cô vẫn còn rấm rức
khóc.
*
Bây giờ Sài Gòn đầu thu, mùa tựu trường, Hiếu ngồi bất động, nhìn theo,
bóng Khánh mất hút trong đám đông sinh viên ở cổng trường, môi mặn đắng, buồn
hơn cái buồn lần chia tay bạn bè trong đó có cô bạn Quỳnh, năm cuối ở sân trường
trung học quận. Nắng thu rạng lên vàng màu lá rụng từ lâu, trời hâm hấp nóng,
Hiếu vẫn ngồi đó, bên trong quán kem, vọng ra bài hát “anh không chết đâu
anh” kéo dài nảo nuột.
*
Hiếu và Triệu thân nhau từ nhỏ, từ những ngày ở trường tiểu học xã cho tới
những năm trung học trường tỉnh. Ở cùng làng, nhà Hiếu ở cuối dãy phố chợ xã,
cũng là cái tiệm tạp hóa nhỏ của gia đình, con một, nhà Triệu ở đầu con đường đất
làng ấp trên, khá giả hơn, có hai cái xe Daihatsu chở người đi chợ quận hay lên
tỉnh, và có cô em gái nhỏ hơn Hiếu và Triệu, con bé Khánh, ba bốn tuổi gì đó.
*
Thời trường xã, mới ngày đầu, mỗi sáng Triệu đi bộ tới nhà Hiếu, chơi,
chờ trống vào, lúc nào cũng vậy, hai đứa đều được má Hiếu cho bánh tiêu hay giò
chảo quẩy ở tiệm chú Thiêm, hay nửa ổ bánh mì tiệm bà tư Lên, rồi sau đó có
thêm cô em gái Khánh, vậy đó, giờ có thêm cái bánh, nửa ổ bánh mì. Lớn lên một
chút, lớp nhì lớp nhất, chiều về, nắng chênh chếch buông bên kia sông Vàm, Hiếu
cũng thường đạp xe đạp lên nhà Triệu, ăn cơm chiều luôn, bữa cơm với dế cơm
nhét đậu phọng chiên hay nấm rơm xào tôm xào tép mà Hiếu không hề quên.
*
Rồi cái tuổi thơ chưa biết buồn cũng qua mau, cả hai đậu vào đệ Thất,
lên trường tỉnh, ở trọ cùng một nhà, đi về đã có xe ba Triệu lo. Hai bên gia
đình thân thiết, có chút quà cũng gởi chia nhau, má Hiếu, má Triệu thường đi chợ
quận, sắm cái này mua cái kia với nhau, ba Hiếu vui vẻ trông coi tiệm, ba Triệu
vui vẻ đưa đón đón đưa. Hè về, thấy vắng thì khỏi tìm, nếu không ở trên nhà Triệu
thì cũng dưới chợ nhà Hiếu, hai đứa thân quá thân, có gì cũng chia hai, chén
chè, ly nước mía hay cây mía xót của nhà bác năm Hòa, chủ tịch xã, nói mà quên
cô em Khánh, đi đâu cũng đòi theo, anh Hiếu Anh Triệu, không sợ mỏi miệng đòi
cái này cái nọ. Hai đứa chìu hết, sợ con nhỏ ở nhà thui thủi một mình buồn
trong những ngày học trên trường tỉnh, hai người vắng nhà.
*
Khánh thi đậu đệ Thất trường quận, năm hai anh lên đệ Tam, đầu năm vào học
vài tuần hai người chia tay nhau, Triệu chuyển về trường quận, như ba má anh ta
muốn, để hai anh em đi về có nhau. Họ xa nhau không lâu, năm sau năm đệ Nhị, Hiếu
cũng về trường quận, sau Triệu một năm học. Họ lại bên nhau như ngày trước, giờ
có thêm cô em gái Khánh, áo dài trắng thả gió tóc đuôi gà trong sân trường.
*
Mới mấy tuần đầu còn bỡ ngỡ, vài ngày sau cô bé Khánh đã có đám bạn mới,
hai ba cô bé dân ở phố quận, hai ba cô dân Phước Trạch, Trãng Bàng, tụ năm tụ
ba không còn lẩn quẩn với hai ông anh của những ngày xưa thân ái nữa.
Trước lạ sau quen, Hiếu cũng đã nhập bọn với nhóm bạn của Triệu, những
người bạn từ năm rồi, trong đó Quỳnh, cô con gái cùng lớp mà Hiếu đã để ý cái nốt
ruồi son trên mí mắt từ ngày đầu, nhanh nhẹn, tánh tình vui vẻ, dễ gần gũi, Quỳnh
nhà ở đầu dốc xuống chợ, sát bên rào trường tiểu học. Hiếu cũng vốn ăn nói lanh
lẹ, hoạt bát, thân thiện nên nhập bọn với mọi người dễ dàng ngay từ đầu.
*
Tình bạn thân của Hiếu và Triệu từ những ngày cắp sách trường làng vẫn
nguyên vẹn như xưa, vì là năm thi tú tài đầu, nên dù có những chiều lang thang
trên đường phố chợ, hay ngồi quán cốc ngã ba hoặc kéo nhau đạp xe lên tận Cao
Sơn Tự, họ vẫn phải lo đèn lo sách, giúp nhau bài vở, Hiếu học cũng tạm gọi là
giỏi nhưng Triệu giỏi hơn rất nhiều. Những buổi nghỉ trưa, đứng ở hành lang lớp,
thấy Triệu nhìn ra, nơi Quỳnh và mấy cô bạn nói cười ngoài sân trường, dưới
bóng mát của hàng cây phượng già trơ lá, mắt đăm chiêu mơ mộng, mơ mộng gì thì
Hiếu biết, nhất là những ngày đi chơi bên nhau, bắt gặp những lần Triệu nhìn
trôm Quỳnh một cách âu yếm, thì đúng như anh ta nghĩ, Triệu yêu thầm Quỳnh rồi,
từ bao lâu rồi, không ai biết.
*
Cả bọn đậu tú tài Một, rồi lên đệ Nhất. Kỳ thi cuối thời trung học, mùa
thi mùa chia tay, ngã rẽ của tuổi làm người lớn vào đời, mấy anh con trai thì
lo lắng hơn, rớt một cái thì quân trường rộng cửa chờ cho nên bọn Triệu không
còn thường lang thang đâu đó trên đường phố nữa, bài vở ngổn ngang. Nửa năm,
qua Tết, một trưa giờ chơi, hai anh bỏ ra cái quán cốc thường ngồi, uống nước,
và Triệu cho Hiếu biết anh đã yêu Quỳnh từ lâu mà chưa dám nói ra, Hiếu ngẩn
người dù đã nhận ra nhưng không ai biết cho là chính Hiếu cũng đã thầm thương Quỳnh
từ lâu, từ ngày mới xuống trường quận. Hiếu thương cho bạn và thương cho mình. Cô
bé Khánh thì vẫn miệt mài, tuổi mới lớn vớ đám bạn gái đó, chiều nào ra bến xe
chờ ba đón, thì ôi thôi, hết cô này nắm tay hết cô kia bá cổ, cười luôn miệng
chia tay, chờ xe chạy đi rồi mới chịu tan hàng.
Sau nhiều lần suy nghĩ, tự hỏi mình, Hiếu quyết định cố quên, đừng để
lòng lâm vào ngõ cụt, không lối thoát, giữ tình bạn không dễ tìm của một thời
tuổi thơ và một thời làm người mới lớn. Nửa năm đệ Nhất còn lại rồi cũng qua
nhanh, mùa thi xong, cả hai Hiếu và Triệu cùng đám bạn chơi chung cũng may mắn,
không ai trượt vỏ chuối. Triệu đậu cao hạng bình lận, Hiếu lọt tọt ở hạng chót
thứ, miễn đậu là mừng rồi.
*
Xuống Sài Gòn, Triệu vào Kỹ Thuật Phú Thọ, ở trọ nhà người bà con bên cư
xá Lữ Gia, bước hai ba bước, bên kia đường là đã tới trường, Quỳnh vào Đại học
Sư Phạm còn Hiếu thì dỡ tệ, đành đi với con đường Duy Tân cây dài bóng mát qua
trường Luật. Vậy cũng xong một phần đời. Mặc dù cùng ở dưới này nhưng Hiếu
không gặp Quỳnh, vì đã nhủ lòng cố quên, cố tránh né chuyện cũ, Triệu có gặp Quỳnh
hay không, anh không biết và không hỏi dù hai người gặp nhau thường, từ chỗ nhà
trọ ở cư xá Bắc Hải, ra Tô Hiến Thành, Hiếu thả bộ qua Lữ Gia không bao xa.
Nói vậy chứ ai cũng ráng lo thân, Hiếu học Luật, đi về không ai màng,
vui thì tới giảng đường, buồn thì mua “cua” đem về nhà vừa ngủ vừa đọc, miễn
làm sao thi cuối năm đậu thôi, nhưng số anh ta cũng còn may, xong năm đầu Luật
qua học năm đầu trường khác, qua bên này rồi, anh cũng như bên Triệu, bên Quỳnh
thì học không hết, nhức đầu nhức óc nên không thể rảnh rổi, lơ là, cho nên đường
ai nấy đi, chắc vậy. Vào học chừng hơn tháng, gia đình Triệu dọn về trên Giang
Tân, không còn ở chợ xã, cô bé Khánh thì cũng giã từ bạn bè chuyển lên trường
trung học tỉnh. Từ đó về thăm nhà Hiếu ít khi lên tận Giang Tân, vã lại Triệu
không có đó nữa, không còn gặp cô bé Khánh.
*
Chừng vài tháng, một chiều chủ Nhật Sài Gòn thiếu nắng, Triệu qua cư xá
tìm Hiếu, rủ nhau qua quán cà phê khá ngon quen trên đường Triệu Đà, nhìn người
qua lại, xem có vẻ buồn buồn, cho Hiếu biết anh bỏ học, sắp lên đường vào Võ Bị
Đà Lạt nay mai, Hiếu chưng hửng, chết lặng. Ngạc nhiên không ít, chưa kịp hỏi
gì thì Triệu đã nói, anh đã tỏ tình với Quỳnh, trước ngày xuống Sài Gòn, mối
tình mà anh yêu thầm nhớ trộm từ những ngày đầu năm đệ Nhị, cô nàng xin lỗi là
đã có người yêu từ ngày đó rồi.
Nghe xong, buồn cho bạn nhưng mừng cho mình, anh không muốn biết người
yêu của cô là ai, với anh quyết định quên Quỳnh là quyết định quá đúng. Ngày
đưa Triệu ra bến xe Đà Lạt, gia đình anh không có ai, hai người ngồi chờ xe khởi
hành, không biết nói gì, bảo nhau nhớ bảo trọng, hy vọng gặp lại nhau một ngày
nào đó và nhiều may mắn. Xe ra khỏi đường, Triệu vói tay ra cửa sổ xe, cười, vẫy
chào, Hiếu đứng nhìn theo, và không ngờ lần đó là lần gặp cuối cùng.
*
Trước ngày thi ra trường, lần đó quên hỏi địa chỉ, Hiếu tới trường Luật
hy vọng gặp Khánh ở đó. Đứng tần ngần, xa xa cổng vào một chút nhìn quanh nhìn
quất, sinh viên trai gái, từng đôi từng nhóm, đông nghẹt đi ngang qua, còn may,
người thưa dần, rải rác phía sau, thấy Khánh đang đi một mình, cô cũng thấy anh
khi vừa tới cổng. Giờ vào học nên Hiếu hẹn Khánh, giờ nghỉ trưa, cô nàng gật đầu
cười, hứa. Trời tuy chưa sáng hẳn lắm nhưng đã có nắng, Hiếu thả bộ xuống phố,
xe cộ càng lúc càng đông, Sài Gòn sáng nào cũng vậy.
Lần này. Khánh nói nhiều hơn và càng nghe anh càng buồn thêm. Khánh buồn
buồn nhưng không khóc, anh Triệu vào lính vì thất tình, anh yêu chị Quỳnh tha
thiết, có thể bỏ tất cả vì chị. Anh mất ở một chiến trận nào đó bên hạ Lào, anh
được đem về chôn ở nghĩa trang quân đội Gò Vấp. Giờ học tới, Khánh chào Hiếu, hẹn
gặp lại, nếu có dịp, anh cũng không biết nói gì hơn, Khánh vẫy tay chào, băng
qua đường, Hiếu thẩn thờ nhìn theo, mắt cay xé đỏ.
*
Xuống Cần Thơ làm việc hơn một năm, lấy vài ngày phép Hiếu trở lên Sài
Gòn, vào trường nộp đơn xin học cao hơn chút. Mọi việc xong xuôi, còn rảnh nhiều,
vài đêm ngủ tạm ở nhà trọ cũ cũng vui, bác chủ nhà chẳng những vui vẻ đón mà
còn lo lắng bữa cơm bữa cá. Hiếu đón xe về thăm nhà, tiệm tạp hóa cúa mình cũng
vậy, thấy ba má bình an, khỏe mạnh anh cũng mừng, bà con hai bên chợ phố vẫn
như ngày nào, vẫn “anh Hiếu cậu Hiếu”.
Hiếu ngồi bên mộ Triệu khá lâu, từ sáng sớm, bó hoa trắng vẫn tươi từ
lúc mua từ tiệm hoa bên đường, theo lời Khánh chỉ, anh tìm ngôi mộ không mấy
khó. Nhìn tấm hình Triệu cười rạng rỡ, nu cười mà anh không quên từ ngày hai đứa
còn nhỏ, lòng Hiếu chùng xuống, xót xa nhớ lời Khánh, Triệu bỏ học vào lính vì “thất
tình”. Nhắc lại chuyện xưa, chuyện cũ làm gì thêm buồn, nắng lên rực sáng cả
nghĩa trang, người vào thăm mộ càng đông hơn, những gương mặt và những bó hoa
buồn, Hiếu vuốt mặt bạn thật lâu, giã từ, ngủ yên, hẹn gặp lại chỗ này nhưng
không nói khi nào.
*
Mai phải trở xuống chỗ làm, chiều thư bảy, thứ bảy Sài Gòn, Hiếu thả bộ
lang thang trên đường Lê Lợi, nhìn người nhìn xe cho đở buồn, Hiếu tình cờ gặp
lại Vân, cô bạn của Quỳnh, trong nhóm bạn cũ ở trường quận, hình như Vân cũng học
bên Sư Phạm, khi đứng trước nhà sách Khai Trí.
Trời cũng ngã bóng, nắng loang loáng hắt hiu trên đường, hai người vào
con hẻm Casino ăn chiều, lâu quá không gặp nên hỏi không biết bao nhiêu chuyện
mà hỏi cũng chưa hết. Vân cho biết, cô và Quỳnh cùng dạy chung ở trường trung học
Lý Thường Kiệt trên Hốc Môn. Hiếu chỉ nói là mình làm việc dưới Vĩnh Long mà
không nói làm gì.
Trước khi từ giã, mặt Vân buồn hiu, không còn vui như trước đây, nhắc
câu trả lời của Quỳnh cho Triệu, khi anh nói yêu cô nàng, “Quỳnh đã có người
yêu rồi”, người yêu đó là ai, Vân hơi nghẹn lời, chắc là thương cho bạn “người
yêu của Quỳnh là anh Hiếu đó”. Hiếu lặng thinh nhìn ra ngoài đường. Họ chia
tay, Vân không hỏi Hiếu ở đâu, Hiếu cũng không hỏi lại, rồi cũng cười hẹn một
ngày nào đó gặp lại, ở một nơi nào đó, nếu có dịp như lời hẹn của Khánh.
*
Hiếu đứng nhìn theo bóng Vân khuất xa trong giòng người Sài Gòn chiều thứ
bảy, về hướng chợ Bến Thành, nhớ lại lời cô nhắc về Quỳnh, anh nghe lòng mình
quặn đau, hồn như chết một nửa, còn lại một nửa cũng nghẹn ngào nhưng, nhưng một
lần nữa, đã muộn màng gợi lại. Bên kia sông, mặt trời đang đi ngủ, nắng chầm chậm
tàn, Hiếu cười, một cái cười không vui không buồn, chuyện ngày đó xin “gởi
gió cho mây ngàn bay”. Sài Gòn phố lên đèn.
Thuyên Huy
Ta vốc đầy tay giấc lặng thầm
1) Đưa
tay vuốt mặt
nghe buồn
Lá soan chưa rụng
mưa suông sũng đời
Tiễn em về
đắng nhạt môi
Chẳng ai lên tiếng
một trời lạnh câm
2) Ngựa về
nhớ cỏ đồng hoang
Thoáng nghe văng vẳng
tiếng than lửng trời
Vó buồn
nhịp đã buông lơi
Đã nghe tâm sự
tả tơi xuống chiều
3) Một đời buồn đứng
phi lao
Trách chi
mỏi cánh hải âu mịt mù
Sao về
bỏ lại lời ru ?
Bỏ bờ bỏ bãi
thiên thu lặng thầm…
Chu Thụy Nguyên







