Thursday, May 28, 2026

Phố Thu Đi - Nguyễn Đạm Luân

 Phố Thu Đi




Trái Đắng & Bức Tranh Quê ... Vườn Thơ Mới Xướng Họa

 THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 190_VƯỜN THƠ MỚI

 Xướng:















Trái đắng


Bà kia chành choẹ lại lanh chanh
Hợm hĩnh, khoe khoan nổ nát bành
Thương cảm ông chồng câm miệng hến
Cố tìm phương án để ngừng phanh
Năm năm khốn đốn lời chanh ớt
Tháng tháng lao đao tiếng tỏi hành
Vui vẻ an phần ôm trái đắng
Ngợi khen tánh nết nhất kinh thành
THT

 Họa 1:


Bức tranh quê

 

Gà trống tìm mồi giữa bụi chanh
Lợn con ủn ỉn nhảy tanh bành
Mục đồng ba đứa chờ mưa rớt
Thôn nữ vài đôi ngại áo phanh
Những lúc rảnh rang bày tiệc rượu
Nhiều khi đắc thắng tỏ quyền hành
Mơ về phố thị đời thay đổi
Mộng ước ai ngờ lại bất thành !
Nguyễn Cang

May, 16, 2026

 

Họa 2:


Đoan trang

 

Bếp núc xong rồi ra hái chanh

Tính tình điềm đạm chẳng tam bành
Dù chồng lêu lỏng luôn kiềm chế
Gìn giữ êm nhà không cắt phanh
Bận rộn tháng ngày chăm trẻ nhỏ
Gian lao tứ đức vẫn thi hành
Đoan trang thùy mị không than vãn 

Xây dựng cơ ngơi với chí thành

PTL

 

Họa 3:

 

Tình Nồng 

 

Xứ nóng tình nồng ly đá chanh 

Trưa hè oi bức nổi tam bành 

Đoan trang nhi nữ đừng manh động
Thùy mị công dung phải giử phanh
Chồng nóng vợ lành luôn hạnh phúc
Cơm sôi lửa nhỏ chẳng ai hành

Tiếng đồn tốt đẹp vợ chồng trẻ 

Ai nấy đều khen nhất thị thành 

Hương Lệ Oanh VA

Jun, 5. 2026

 

Họa 4:


Duyên & nợ 

An phận không màng lẽ ớt chanh
Nín thinh chấp nhận dẫu tanh bành
Đến thời quý mợ… Tha hồ nổ…
Hết vận ông đành… Liệu sức phanh…
Sự thế xoay chiều sao thể cưỡng
Cuộc chơi vốn dĩ cứ song hành
Nợ duyên duyên nợ chừng vay trả
Hết nợ tròn duyên ấy khả thành

TQ

 

Họa 5:

 

Ngũ vị trần ai


Ngọt đắng mặn cay chua dấm chanh
Đừng nên nổi nóng phá tanh bành
Thuyền theo con nước năng kềm lái
Xe đổ dốc đèo khá hãm phanh
Dầu chẳng xênh xang vui đĩnh đạc
Cũng đành kham nhẫn giữ an hành
Thế gian nào khác trường thi lớn
Nếm đủ gian nan mới đắc thành
Minh Tâm

 

 

Giai Thoại Về Con Ma Nhà Họ hứa - Trang Nguyên

 

Giai thoại về Con ma nhà Họ Hứa

Báo chí từng đưa ra kiến giải, chú Hỏa bí mật đưa con gái mình đến ngôi nhà nghỉ của gia đình gần nghĩa trang gia tộc khu vực ngã ba Bình Thung (Thủ Ðức). Rồi không biết người con gái kia chết khi nào nhưng chuyện ma quái bắt đầu xuất hiện được người đời đồn đại xảy ra trên tầng lầu ngay chính căn phòng mà cô con gái của chú Hỏa từng ở trước đây.

Trang Nguyên




Căn phòng này trước đây là phòng ngủ của con gái chú Hỏa.

Nhắc đến chuyện ma, tự nhiên tôi nhớ đến chú Năm ba gác ở trọ trong chái bếp của nhà bà Chín trầu cuối xóm. Chú sống mình nên không vợ con, chí thú với chiếc xe ba gác chạy rong khắp nơi mua bán ve chai. Công việc kiếm sống cực nhọc hằng ngày như vậy nhưng chú không phải là người cộc cằn, lúc nào cũng vui cười và hay nói chuyện tiếu lâm nên bọn nhóc xóm tôi mỗi khi rảnh rỗi thường tụ tập trước chái nhà của chú. Một lần, chú kể chuyện ma có thật ngoài  đời, không phải con ma trong truyện, trong phim. Chú nói: “Hôm nào chú chở cả đám đi ra Sài Gòn ghé nhà chú Hỏa (Hui Bon Hoa), rình xem con ma nhà họ Hứa”.

Do cái tính tếu tếu của chú Năm nên kể chuyện ma lại nghe mắc cười. Ma gì mà kiều diễm, là người con gái bảo bối của chú Hỏa giàu có nức tiếng. Hồi xưa, từ đời bà nội của chú đã nghe câu truyền khẩu “Ði tàu chú Hỷ, ở nhà chú Hỏa” để nói lên sự giàu sang vượt bực của hai nhà đại gia ở xứ Nam kỳ. Con cái của chú Hỏa rất đông, toàn là trai, trong đó chỉ có mỗi mụn con gái. Cô con gái chẳng may bị bệnh phong cùi, không có thuốc chữa trị, ngày càng biến chứng. Khuôn mặt đẹp ngày nào bị bạo bệnh tàn phá, chân tay lở loét, phải sống khép kín trong phòng riêng của mình. Mỗi ngày gia nhân mang thức ăn đến để trên bàn rồi lui ra. Một hôm, người gia nhân đến phòng phục dịch, chợt thấy gương mặt của cô tiểu thư thì liền té xỉu. Từ đó, chú Hỏa cho đăng báo rằng cô con gái mất tích để tránh người đời bới móc đời tư.

Kỳ thật, báo chí từng đưa ra kiến giải, chú Hỏa bí mật đưa con gái mình đến ngôi nhà nghỉ của gia đình gần nghĩa trang gia tộc khu vực ngã ba Bình Thung (Thủ Ðức). Rồi không biết người con gái kia chết khi nào nhưng chuyện ma quái bắt đầu xuất hiện được người đời đồn đại xảy ra trên tầng lầu ngay chính căn phòng mà cô con gái của chú Hỏa từng ở trước đây.

Trong câu chuyện, chú Năm khẳng định mình có duyên gặp ma. Một buổi chiều mưa lớn lúc trời nhá nhem khi dừng chiếc xe ba gác, trốn mưa dưới mái hiên căn nhà lầu của người con trai chú Hỏa cạnh bên có kiến trúc na ná ngôi nhà lớn. Chú Năm nói giọng nhát gừng cố tình làm cho lũ con nít chúng tôi khiếp đảm. “Một âm thanh kỳ dị của cơn gió vừa lướt qua chỗ chú đứng, mùi nước hoa còn thoảng trong cơn mưa sụt sùi, rồi bóng người con gái thướt tha trong chiếc xườn xám trắng, tóc ngắn tới cổ rủ xuống che toàn bộ khuôn mặt, đi tới cửa chính của toà nhà, mở cửa bước vào trong. Kỳ lạ một điều là nước mưa không làm ướt cô gái. Một lúc sau, đèn trên tầng lầu của một ô cửa sổ vụt sáng. Tiếng kéo bàn kéo ghế nghe như rên xiết trên sàn nhà, tiếng kêu la than khóc vọng ra từ ô cửa sáng”. Chú Năm trầm ngâm, nhìn đám nhỏ chúng tôi rồi trợn mắt hỏi: “Chẳng lẽ là ma?”.
Bọn con nít chúng tôi đồng thanh “xì” lên một tiếng. Thằng Tèo nói chắc nịch: “Ma quỷ chỉ hiện hình sau mười hai giờ khuya thôi, í vậy chú Năm lại còn ngửi được mùi nước hoa thơm lừng nữa chứ. Không tin tí nào!”. Tôi chen vào: “Thằng Tèo nói đúng, chứ không thì chương trình lúc 0 giờ của La Thoại Tân và Thẩm Thuý Hằng trên truyền hình đâu có kịch bản Ác quỷ hiện hình khi trăng lên. Tin không tin, đi xem mới biết. Chú hứa rồi đó nghe, hôm nào rảnh, chở cả đám ra nhà chú Hỏa, xem ma đó nha. Không thôi, chú Năm thành con ma nhà họ Hứa đó”.

Chuyện phim “Con ma nhà họ Hứa” của hãng phim Dạ Lý Hương với các tài tử Bạch Tuyết, Thanh Tú, Dũng Thanh Lâm kèm theo cây hài Thanh Việt, Tùng Lâm, tôi nghe trên radio quảng cáo rùm beng sắp sửa chiếu rạp từ mấy hôm trước. Câu chuyện dựa theo giai thoại “Oan hồn Thị Hứa” từ nguồn gốc con gái chú Hỏa bị phong cùi. Do vậy khi nghe chuyện con ma nhà họ Hứa của chú Năm thì chẳng thấy sợ gì hết. Không sợ, ấy vậy mà nó lại ám ảnh tôi mất mấy đêm liền khi gió tốc mở toang cửa sổ. Bên ngoài cửa sổ trên tầng gác nhà tôi, ngó sang nghĩa địa Chà Và thấy lồng lộng những ngôi mộ nằm im dưới ánh trăng tà. Ðất thánh Chà từ lâu không còn đám ma nào chôn ở đây nữa, có chăng một đám ma nghèo, vợ của ông già người Việt trông coi đất thánh, mồ còn mới. Hàng xóm nói bả chết vì bệnh phong cùi. Nghe mà tội nghiệp! Sao chuyện bệnh phong cùi này trùng với chuyện ma của chú Năm quá vậy

Tôi nhớ chú Năm kể, chú Hỏa gốc người Quảng Châu di cư sang Sài Gòn ngay sau khi Pháp chiếm Sài Gòn. Lúc mới đến đất lạ quê người còn nghèo lắm, phải kiếm sống bằng cái gánh ve chai. Ông rảo bước khắp phố phường mua đồ đồng nát. Một lần mua được mớ tĩn nước mắm trong góc bếp nhà nọ, trong đó có một tĩn hàn kín nắp sành. Khi về mở ra thì ôi thánh Quan Công ơi, một tĩn vàng sáng chói. Nhờ có của trời cho làm vốn, chú Hỏa chuyển nghề mở các tiệm cầm đồ. Thời buổi bấy giờ, ở Sài Gòn nghề cầm đồ làm ăn phát đạt lắm. Người Pháp mở sở thuốc phiện, cho người Tàu kinh doanh hàng trăm tiệm hút khắp Sài Gòn Chợ Lớn để thu tiền thuế và làm cho dân chúng mê mệt “nàng tiên nâu” với mục đích làm cho sức tàn lực kiệt, làm cho đại đa số quần chúng mất đi ý chí đấu tranh chống lại chính quyền. Dân nghiện xì ke (thuốc phiện), con bạc cháy túi, cầm cố đồ đạc trong nhà rất nhiều. Cầm rồi không bao giờ chuộc, nên chú Hỏa bán ra lại càng giàu thêm. Sau nghề cầm đồ, có vốn liếng lớn trong tay, chú Hỏa chuyển sang nghề xây cất nhà cho thuê. Chú Hỏa cho xây một căn nhà to lớn trên đường A-Sặc – Lô-rai (Alsace-Lorraine – Phó Ðức Chính ngày nay), tầng dưới làm văn phòng công ty, tầng trên làm nơi ở cho gia đình, trên tường cánh cửa chính khắc nổi mấy chữ “SIHBH” (Société Immobilière Hui Bon Hoa).

Chuyện chú Hỏa, sau này tôi nghe nhiều người khác kể lại, không riêng gì chú Năm. Mỗi người mỗi phách nhưng tựu trung nói lên ý chí làm việc siêng năng để trở thành giàu có. Cách nay mấy năm tôi tình cờ đọc được bài viết “Chuyện thật về Hui Bon Hoa và ngôi nhà chú Hỏa” bằng tiếng Anh do nhà báo Chen Bichiun liên lạc với người cháu cố (đời thứ 4) của chú Hỏa, sống ở Paris. Ông Fernand Hui Bon Hoa cung cấp hình ảnh và nhiều chi tiết khá thú vị về các câu chuyện cũng như dòng họ. Một chi tiết cần chú ý ngay khi chú Hỏa đến Sài Gòn không phải làm nghề mua bán ve chai mà là làm công cho công ty cầm đồ Antonio Ogliastro. Ông chủ đề nghị chú Hỏa nhập tịch Pháp để cùng quản lý công ty. Làm ăn có tiền, chú Hỏa mới bước sang lãnh vực mua đất cất nhà cho thuê. Chú Hỏa chỉ có ba người con trai và dòng họ Hui Bon Hoa không có người nào mang bệnh phong cùi. Duy chỉ có một người con trai có đứa con gái bệnh tâm thần và chết tại nhà.

Ngay cả tôi cũng từng lầm tưởng chú Hỏa là người từng đóng góp tiền bạc xây dựng bệnh viện, trường học, nhà cô nhi ở Sài Gòn Chợ Lớn ngày xưa mà các báo  Nam Kỳ Lục Tỉnh hay Phụ nữ Tân Văn nêu tên ân nhân trên báo. Tên Hui Bon Hoa này là tên dòng họ đồng thời là tên công ty sau khi ba người con trai của chú Hỏa là Thắng Phiên, Thắng Chánh, Thắng Hưng đến Sài Gòn giúp cha việc xây cất mua bán, cho thuê nhà cửa và mở công ty trong thời gian chú Hỏa cùng vợ trở về Quảng Châu an hưởng tuổi già và qua đời vào năm 1901 để lại sự nghiệp tại Sài Gòn cho các con tiếp bước. Như Vậy Công ty Hui Bon Hoa (Hiện nay dùng làm Bảo tàng Mỹ thuật thành phố) do đời thứ 2 xây dựng vào năm 1929, và sau đó là ba ngôi nhà của ba người con chung quanh công ty. Cũng như hồi năm 1937, có báo viết thương gia Hui Bon Hoa hiến tặng mảnh đất rộng gần 2 héc ta trên đường Arras (nay Cống Quỳnh) để xây Bảo sanh viện Ðông Dương đến năm 1946 đổi thành Maternité George Béchamps, người dân thường gọi Nhà bảo sanh Chú Hỏa (nay là Bảo sanh Từ Dũ). Vào thời gian này, đời thứ 3 của dòng họ Hui Bon Hoa bắt đầu tiếp tục sự nghiệp của gia đình cho đến trước 1975 rời Việt Nam, hầu hết sang Pháp.

Cháu cố Fernand Hui Bon Hoa từng về Sài Gòn thăm lại mồ mả cha ông chôn cất tại khu nghĩa trang gia tộc (Bình Trưng, Thủ Ðức). Và những anh em chú bác của Fernand vào năm 2007 về Sài Gòn tình cờ mua được tấm hoành ngoài chợ đồ cổ mang về Paris. Tấm hoành khắc hoạ bài thơ của ông chú Thắng Hưng nói về gia tộc Hui Bon Hoa làm ăn ở Sài Gòn trải qua trăm năm.

Một chi tiết thú vị khác là vào năm 2011, nhân chuyến du lịch sang Paris, một người Mỹ gốc Việt liên lạc được với Fernand Hui Bon Hoa, có ghé tặng cho ông một Kỷ niệm chương ghi nhớ công lao của dòng họ Hui Bon Hoa. Số là hồi sống ở Sài Gòn, người này gia cảnh rất nghèo, mẹ bệnh thập tử nhất sinh, may mà đến bệnh viện chú Hỏa được bác sĩ tận tình chữa trị. Nay ghi ơn sâu, truy tìm dòng dõi họ Hui Bon Hoa chỉ để gặp mặt nói lời tri ân tận đáy lòng.

Trang Nguyên

Nguồn: Thời Đại Mới

304đen – Llttm - sgtc

 

 

Họ Chỉ Có Thể Là Sản Phẩm ... - Song Chi

              Họ chỉ có thể là “sản phẩm của một chế độ xã hội tự do, nhân bản và khai phóng




Mấy ngày qua có khá nhiều bài viết về nhà thơ Phạm Thiên Thư sau khi ông ra đi, phần lớn là bài viết của những người từng sống ở miền Nam trước năm 1975. Với đa số người miền Bắc và nhất là những người sinh ra sau năm 1975 chắc chẳng mấy ai biết đến ông.

Chợt nhớ lại, khi Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ viên tịch, có những người là trí thức, giáo sư, tiến sĩ… mà đến lúc đó mới nghe đến tên của Hòa thượng, mới biết là có một Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tồn tại bao nhiêu năm nay, bên ngoài cái Giáo hội Phật giáo Việt Nam mà nhiều người vẫn gọi là Giáo hội Phật giáo “quốc doanh”.

Sau hơn nửa thế kỷ, có thể nói đảng CSVN đã thành công rất lớn trong việc “tẩy não” người dân, xóa bỏ lịch sử, xóa bỏ tất cả những gì mà đảng và nhà nước này không muốn người dân được biết.

Còn đối với tất cả những ai từng biết và may mắn hơn nữa, được đọc, nghe tác phẩm của những khuôn mặt xuất chúng của miền Nam trước 1975, dù là một vị chân tu trí tuệ cao vời, một nhạc sĩ, hay một thi sĩ… thì đều ngậm ngùi hiểu rất rõ rằng, mỗi một người như vậy ra đi, là mất luôn không bao giờ có nữa. Bởi vì, họ chỉ có thể là “sản phẩm” của một chế độ tự do, nhân bản và khai phóng đã không còn tồn tại.

Chắc chắn, nếu không có 20 năm của chế độ VNCH đó, đã không thể có hàng trăm hàng ngàn tài năng độc đáo trong mọi lĩnh vực từ báo chí đến văn học nghệ thuật. Sẽ không có Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương, Từ Công Phụng, Cung Tiến, Lam Phương… Sẽ không có Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng, Trần Dạ Từ, Cung Trầm Tưởng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn), Du Tử Lê…; Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng, Trần Thị NgH, Nguyễn Thị Hoàng, Mai Thảo, Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Phan Nhật Nam, Cung Tích Biền, Hoàng Ngọc Biên…

Sẽ không có những tên tuổi trong mảng nghiên cứu, phê bình, dịch thuật, triết học phật giáo và công giáo như Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Nhất Hạnh, Võ Hồng, Hoài Khanh, Phạm Công Thiện, các giáo sư và linh mục Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Cao Văn Luận, Nguyễn Văn Thích, Hoàng Sỹ Quý, Nguyễn Khắc Xuyên, Kim Định…

Sẽ không có nhiều nhóm văn nghệ, tư tưởng ra đời như nhóm Bách Khoa, Nhân Loại, Nhận Thức (Huế), Sống Đạo, Phương Đông, Đối Diện, Sáng Tạo, Hiện Đại, Thế Kỷ Hai Mươi, Gió Mới, Nghệ Thuật… các tạp chí chuyên về tư tưởng, triết học như Tư Tưởng, Vạn Hạnh, Giữ Thơm Quê Mẹ, các nhà xuất bản Lá Bối, An Tiêm, Ca Dao…, và vô số những tờ báo, tạp chí văn học nghệ thuật như Sáng Tạo, Quan Điểm, Văn Hóa Ngày Nay, Nhân Loại, Văn Đàn, Bách Khoa, Văn Học, Văn, Nghệ Thuật, Tiếng Nói…

Sẽ không có một nền phật học rực rỡ, những vị chân tu lừng lững cả về trí tuệ, kiến thức và nhân cách v.v.

Không thể kể hết những thành tựu về con người, về văn học nghệ thuật trong 20 năm ngắn ngủi của chế độ VNCH.

Đó là bởi vì, dù ngay trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt nhất, chế độ VNCH vẫn cố gắng xây dựng một xã hội bình thường. Trẻ em vẫn được sống hồn nhiên đúng lứa tuổi, không bị nhồi nhét lòng căm thù quá sớm, vẫn được dạy dỗ từ những điều nhân ái nhỏ nhặt hàng ngày, sách, báo, truyện, nhạc dành cho thiếu nhi, thiếu niên, tuổi mới lớn từ truyện tranh, truyện cổ tích thế giới, tuần báo Thiếu Nhi, tuần báo Tuổi Ngọc, tủ sách Tuổi Hoa – Hoa Đỏ, Hoa Xanh, Hoa Tím… chỉ toàn dạy điều thiện, dạy thương yêu, dạy sống tử tế, không có một chút gì vẩn đục bởi lòng căm thù địch – ta, lý thuyết cách mạng nọ kia…

Thanh niên vẫn có khung trời dành cho tình yêu lãng mạn mộng mơ trong sáng và những lý tưởng, hoài bão lớn; trí thức vẫn được đọc được nghe đủ loại báo đài quốc tế, viết, tranh luận về đủ loại triết học Đông – Tây, đủ loại lý thuyết chính trị kể cả học thuyết Mác Lenin, tư tưởng của Mao…

Chế độ VNCH đã không biến cả xã hội thành trại lính, trong đó tất cả chỉ được phép suy nghĩ một chiều, mọi tình cảm, cảm xúc cá nhân, mọi suy nghĩ khác, mọi tự do đều bị kìm hãm, cấm đoán triệt tiêu; ngược lại, con người vẫn được sống như là con người, ai chiến đấu cứ chiến đấu, ai làm thơ, nhạc lãng mạn cứ làm, ai mơ mộng suy tư cứ mơ mộng, có lẽ đó cũng là một trong những lý do mà chế độ VNCH đã thua. Nhưng bù lại, chế độ đã để lại cả một di sản văn học nghệ thuật và dòng chảy đó ít nhất vẫn không chết yểu mà vẫn âm thầm tồn tại trong nước và phần nào được tiếp nối ở hải ngoại 50 năm qua.

Xã hội Việt Nam bây giờ đã hơn 50 năm trong thời bình. Bề mặt của nhiều thành phố, tỉnh thành đã thay đổi rất nhiều. Số người giàu hơn ngày xưa cũng nhiều, thậm chí phải nói là giàu kinh khủng, một ông cán bộ cấp huyện cũng còn giàu hơn cả tướng tá VNCH thời xưa và cách nhiều người xài tiền có lẽ ngay dân Mỹ cũng choáng.

Rồi thơ văn nhạc họa phim… tính về số lượng đều nhiều. Nhưng trong thơ ca văn học nghệ thuật bây giờ vẫn thiếu: Thiếu sự trong trẻo lãng mạn, thiếu tính thiền, tính triết học, tính tư tưởng, tính khai phóng. Nhiều về số lượng nhưng những tác phẩm thực sự nâng con người lên cao cả hơn, đẹp hơn thì hiếm.

Nó vừa là hậu quả của một chế độ độc tài toàn trị, vừa là hậu quả của một nền giáo dục nhồi nhét, ngu dân, chạy theo điểm số, thành tích, bằng cấp, hoàn toàn không có một triết lý giáo dục đúng đắn, và là hậu quả của một xã hội thực dụng, nơi mà mọi người đua nhau chạy theo tiền, chạy theo “ghế”, chạy theo những giá trị vật chất, giá trị ảo bên ngoài, thì làm gì còn có chỗ để sống chậm, làm gì còn có chỗ cho mơ mộng, lãng mạn, suy tư, và lắng đọng?

Song Chi (baotiengdan.com)

Người chuyển bài – HV - USA

 

 

 

Sunday, May 24, 2026

Người Đi Tìm Hạnh Phúc - Thuyên Huy

 

Người Đi Tìm Hạnh Phúc

Chuyện những người không có thật




 

    Đầu thu, học trò trở lại trường, lớn nhỏ gì cũng thấy quàng khăn đỏ, lớn thì tương lai thành đồng tổ quốc, nhỏ thì cháu ngoan bác hồ, cứ vậy mà rộn rã khắp đường, khắp ngõ. Công viên Tao Đàn vàng một màu lá úa, không che kín nổi đám cỏ loang lở, chết mòn không ai chăm sóc. Cây bên đường cũng chờ nhau thay lá, Sài gòn buồn theo dăm ba cơn mưa bụi cuối ngày. Liên hờ hững đi dạy, Luân trở về làm phu lục lộ, ngồi đếm lá me rơi bên lề đường Triệu Đà. Công an phường lại gọi Luân lên làm việc, hỏi không biết bao nhiêu là câu từ lý lịch của đời ông đời cha đến tình cảm riêng tư. Anh Trưởng công an, dốt chữ ra lệnh cô thư ký ghi ghi chép chép những cái anh gật gù, Luân ký tên xác nhận tờ khai, anh giữ giấy ra trại của Luân theo lệnh của sở công an thành phố.

*

    Chủ nhật, Luân dọn một số đồ đạc thường dùng hàng ngày qua cư xá Bắc Hải ở, sau khi báo cho anh Lân biết sự việc xảy ra. Liên chạy ra chợ Thiếc mua vội con vịt quay và vài miếng thịt xá xíu, bữa cơm chiều có mặt đủ người, trừ chị Ngoan. Anh Lân mang cho chai rượu sâm-banh, mua từ ngày ra khỏi trại tù, trước Luân vài tháng. Sập tối, Hiên tới nhà, chị Ngoan qua chơi với mẹ Hiếu nên đóng kín cửa, không mở đèn. Không biết Hiên chờ ở đó bao lâu, khi chị Ngoan về, Hiên bỏ lại tờ giấy dưới ngạch cửa, viết mấy chữ có đến tìm. Luân không còn gặp anh công an khu vực từ đó, anh có đến nhà thăm hỏi Luân nhiều lần, chị Hương trả lời Luân đi công tác cho sở làm ngoài Phan Thiết vài tuần, anh trách sao không nói gì với anh cả.

*

     Thanh tìm Luân ở chợ Thái Bình, Hiếu chỉ đến đường Triệu Đà, hai thằng ngồi bó gối trên cái xe thùng trống, vài cây chổi quét, dăm ba cái cuốc chất cẩu thả, phơi nắng trưa, trời chưa nóng hẳn. Thanh lần này, ăn mặc có vẻ tươm tất hơn, cái áo lính bạc màu bỏ rồi, thay bằng aó kaki hải quân xanh dương đậm gọn gàng, có thêm đôi giày bata, không trắng nhưng trông còn tốt, Thanh nhắc chuyện vượt biên, Luân hứa giới thiệu hắn chú ba Hảo, bảo Thanh tính gấp vì chú ba sắp có chuyến đi, Thanh đưa cho Luân coi hai ba cây vàng, gói dẹp trong bao thuốc lá Hoa Mai cũ nhèm, của cải anh dành dụm được sau những ngày ăn đường ngủ chợ.




     Thanh cất vàng vào túi, chợt dưng rấm rức khóc, chút đỉnh này cũng đủ giúp ba má Thanh, hai bác bảy giờ già yếu, sống dễ thở một thời gian, nhưng hắn đau xót giữ lấy cho mình, kiếm đường ra đi vì, giống như Luân, bọn họ không còn đất sống, nhìn Thanh đỏ cay mắt mà hồn Luân mềm nhũn bùi ngùi. Chiếc xe jeep quân đội, hai ba cái nón cối ngồi trong, vượt ngã tư đường Trần Hoàng Quân, Thanh lầm lũi đạp xe cúi mặt, Luân lững thững kéo xe cây lên, hắn vẫy tay chào không buồn quay lại.

*

    Mấy ngày liền, Hiên qua nhà đều không gặp Luân, cho dù cô nàng đã nán lại tới khuya. Hai chị bảo, Luân đi công chuyện gì đó vài bữa mới về. Hiên mất vui, không cười nói nhiều như trước. Chị Hương thấy thương cho Hiên, nhưng không làm sao khác được. Chiều thứ sáu, trời nổi giông, mưa lớn, hơi đất bốc nặc mùi trên đường nhựa, Hiên vừa vào nhà, bỏ áo mưa xuống thành ghế, anh công an khu vực cũng đến, đứng ngoài cổng rào, đưa cho chị Hương tờ giấy rồi đi liền. Chị Hương để trên bàn, chán chường đọc, Hiên cũng đứng đọc theo. Công an quận, thừa lệnh sở công an hẹn hai tuần nữa, Luân lên quận gặp để trả lời về việc không chấp hành tốt chính sách nhà nước tại phường. Chị liếc nhìn Hiên, cô nàng có vẻ giận dữ, nhưng không nói gì.

Chị Hương ngồi xuống ghế lắc đầu:

- Đây không phải lần đầu họ làm khó dễ thằng Luân.

Hiên nhìn chị ngạc nhiên:

- Sao anh Luân không nói cho em biết? Hiên hỏi vì nóng lòng mà hỏi, không cần chị Hương, tự chính mình cũng đã biết được câu trả lời. Hiên,một Bí thư Thành đoàn, một Tổng đoàn trưởng Thanh niên Xung phong,  phút chốc bỗng là người xa lạ, Hiên gục đầu, nước mắt rươm rướm trên mặt:

- Em biết nói làm sao đây chị Hương, chắc không ai chịu hiểu nỗi lòng của em, có lẽ quá muộn để gần nhau sao chị?

Chị Hương thấy Hiên khóc không cầm được lòng:

- Luân nó quá quen với ba cái chuyện này, em đừng lo, rồi cũng qua em ạ!

Hiên ấp úng:

- Em nghĩ, em chắc cũng không lo gì kịp chị ạ! nói thật để chị biết, em sắp đi vượt biên nay mai.

Hiên nhìn chị Hương chờ đợi, chị Hương không ngờ Hiên lại nói ra, chị chưa có phản ứng gì thì Hiên tiếp:

- Chị nhớ có lần em hỏi chị kiếm được đường nào chưa không, em đi bằng mối đó.

- Hiên coi chừng, nguy hiểm lắm!

- Nguy hiểm một lần, còn hơn đau khổ cả đời, em đã sai lầm gần nửa cuộc đời rồi chị Hương ơi!

Chị Hương cố không nói chuyện của bọn Luân, chị vuốt tóc Hiên xúc động:

- Chị biết nói gì đây, xin ơn trên ông bà phù hộ em được may mắn.

    Hiên ra về mang theo cơn mưa khuya lạnh buốt hồn mình.

*

    Trưa thứ bảy, ngồi tán dóc với Hồng và Hiếu trong quán chè đậu quen, cạnh rạp chiếu bóng Khải Hoàn, Thanh đạp xe đến, mặt mày hớn hở cho Luân hay, chú ba Hảo đồng ý nhận giúp, chắc trong nay mai, Thanh trách Luân, trong đường dây của chú ba mà dấu kín quá. Luân cười trừ, đãi hắn mấy chén chè, hai ba ly cà phê sữa đá. Luân nói thật cho Thanh biết, bọn họ cũng đã chuẩn bị xong rồi, chỉ còn chờ chú ba sắp xếp ghe cộ thôi. Hồng kéo cả bọn ra chợ Sài Gòn, vào rạp Rex coi phim Ba Lan, Nạn Hồng Thủy, ăn bún bò thương xá Tam Đa suốt buổi chiều còn lại. Thanh còng lưng đạp xe về Gò Vấp, lâng lâng hy vọng, bọn Luân trở lại nhà Hồng, kiểm số thuốc nhận hồi sáng, để tối nay, trước khi về nhà, Hiếu đem giao cho đám bán lẻ ở đường Nguyễn Thông như đã hứa.

*

     Chú ba Hảo dẫn Luân vào chợ Nancy, gặp mấy người cùng lo với chú quyết định ngày giờ, rồi xuống chợ An Đông kiếm mua bánh in đậu phọng, loại khẩu phần hành quân của lính Trung Cộng, để đem theo tàu ăn. Về nhà, ngồi nói chuyện, mới biết chú cũng đi chuyến này, nghe nói, nhìn quanh, đồ đạc quả thật trống đi nhiều. Chú đưa Luân mười mấy miếng vàng, cần gì thì mua thêm, không còn ở bao lâu đâu. Luân đón anh Lân, giờ tan sở, báo tin giờ chót, ngay sau khi từ nhà chú ba ra. Bỏ anh Lân cuối đường, Luân đạp xe về Cao Thắng gặp Hồng, họ có hẹn nhau ở đó. Đi lòng vòng vậy mà trở lại nhà trời tối lúc nào không hay.

*

    Sáng sớm thứ ba, chị Ngoan về Tây Ninh, chiều trở xuống Sài Gòn với vợ chồng Tân. Hoàng vẫn chưa được thả về, Kiệt nghe tin đã trốn ra khỏi trại Lộc Ninh, không biết hiện nay ra sao, chánh quyền tỉnh đang kiếm chuyện đánh tư sản mại bản lần nữa, nhiều người vượt biên bằng đường bộ, băng qua biên giới Cam bốt bị bắt giam chật cả khám. Ba mẹ Tân nhắn lời thăm hỏi Luân, ráng cẩn thận.

    Chị Ngoan nấu bữa tiệc nhỏ tại nhà bên cư xá Bắc Hải, gọi là bữa tiệc chia tay. Luân gởi lại chị nửa lượng vàng mà chú ba Hảo cho cùng số tiền Luân dành dụm bấy lâu nay, chị Hương cũng đã tính toán với chị xong rồi. Ngồi ăn mà ai nấy mặt mài buồn hiu, chị Ngoan nói đó rồi khóc đó, bọn Luân mắt đỏ hoe, nếu may thoát được, không biết chừng nào mới gặp lại.

     Mấy chùm hoa giấy trắng mỏng manh, trên khung cửa sổ nhà ai đó bên kia đường, tơi tả từng cánh rụng, buồn hiu hắt buồn. Chị Hương kỹ càng, bao hai cái hủ đựng tro cốt ba mẹ Luân, gói vào một gói, để trên bàn. Mọi người ra về, Luân ngồi lại một mình trong đêm, chờ sáng.

*

    Bốn giờ khuya, sáng chủ nhật, Luân ngồi chờ tin hai chiếc tàu, một chiếc từ Phước Tỉnh vào, chiếc khác thì do anh Quyền lái lên, từ dọc biển tới ngã ba Vàm Láng, tại nhà chú ba Hảo. Cả hai chú cháu đứng không đứng, ngồi không ngồi, cứ dán mắt ra đường, dưới ánh đèn vàng đục, mờ mờ trong màn sương sớm. Đường vắng tanh, lưa thưa một vài chiếc xe chở hàng nặng nề ra chợ Cầu Ông Lãnh. Tiếng xe Honda vào sân, người đưa tin, kéo cổ áo che ngang miệng chống lạnh xuống, cho biết tàu vào bãi an toàn, chú ba móc trong túi áo, vổ vai anh, trao gói giấy đựng phần tiền công. Anh ta vội vã đi ngay, trời cũng vừa rựng sáng, bên kia sông có chút mặt trời, Luân đạp xe chở chú ba qua chợ Nancy, vài tiệm cà phê bắt đầu lai rai có khách.

*

     Luân uống ly cà phê nóng cuối cùng, chú ba thả bộ về nhà, Luân lặng lẽ rẽ lên hướng Ngã Bảy, anh công an gát đêm, đứng xoa tay ngoài cái chòi canh, sơn màu đỏ chói, trước cổng Sở Công An, nhìn theo rã rời ngáy ngủ. Luân dừng xe đạp, ngậm ngùi nhìn vào trong sân trường Petrus Ký, không một bóng người, cây cỏ đìu hiu, thấy hồn mình vấn vương theo từng viên gạch, lối mòn của những ngày hai buổi đi về, buồn vui đời mực đen giấy trắng.

*

    Trưa hôm đó, hai ba anh công an quận đi xe jeep đến nhà tìm Luân, chị Hương đang đứng ngoài cửa chờ Liên, họ hỏi vài câu rồi đưa cho chị cái giấy kêu Luân, lên trình diện sáng thứ hai mang theo tất cả giấy tờ cá nhân. Chờ họ bỏ đi, nhìn quanh nhìn quất, chị xé nát tờ giấy, quăng xuống đường. Chị Hương, Tân, Hân và Liên đi bộ qua cư xá Bắc Hải không bao lâu, thì Hiên đến cư xá Lữ Gia, chỉ thấy chị Ngoan, cho nên hỏi thăm qua loa rồi ra về.

    Ăn cơm trưa xong, bọn Luân kiểm lại đồ đạc mang theo, mặc dù chỉ là mấy cái túi cũ mèm nhỏ xíu, Luân hơn mấy người khác vì có thêm hai hủ đựng tro cốt ba mẹ. Hồng chuẩn bị cho mỗi người vài viên thuốc cảm, tiêu chảy, say sóng và vài viên vitamin C. Trời bỗng dưng dịu nắng rồi tối sầm dần trên miệt ngã tư Bảy Hiền, mây đen lác đác vài cụm đâu đây chờ mưa xuống. Tới giờ hẹn, không ai bảo ai, họ nhìn nhau rưng rưng nước mắt, xiết tay giã biệt. Anh Lân, chị Hương, vợ chồng Tân, Liên, Hồng, lần lượt theo nhau đón xe đi Nhà Bè, Luân và Hiếu đón xích lô xuống nhà chú ba Hảo, ở đây có người đưa chú cháu xuống ngã ba Vàm Láng bằng xe Honda. Luân cố nhìn Sài Gòn trong cơn mưa vội vàng chợt đổ, lá me cuối thu, hai bên đường Hồng Thập Tự, tan tác rụng.

*



    Trong cái bóng đêm mờ mờ ánh trăng, đám người từ Sài Gòn ra, lớn nhỏ, lặng thinh theo nhau lên tàu, neo từ tối qua trước khu nhà sàn làm trụ sở đội du kích xã Thạnh An. Tiếng sóng vỗ êm êm lên hàng dừa nước hai bên bờ con rạch đục ngầu, dẫn ra cửa biển giữa khuya nghe buồn ray rứt. Phía cửa Cần Giờ đằng xa, đèn điện sáng rực một góc trời, biển mênh mông đen rờn rợn. Anh Lân, Hồng, vợ chồng Toàn, chị Hương và Liên lên tàu của anh Quyền, đậu cách tàu Luân, Hiếu, chú ba Hảo lố nhố mấy căn nhà, lắc lư theo con nước thủy triều lên. Trăng vừa cao quá đỉnh đầu, toán du kích làm dấu khởi hành, tàu anh Quyền nổ máy, lặng lẽ chập chờn ra biển trước, không lâu thì mất hút theo từng cơn sóng nhấp nhô giữa trời và nước.

*

    Chờ anh du kích dẫn đường, đưa tàu anh Quyền đi rồi trở lại, tàu bọn Luân rục rịch tách ra giữa sông, Luân đứng trên mũi tàu, ôm cái túi xách lên ngực nhìn vào bờ, nước lớn, che lần hàng dừa nước không còn đong đưa chờ sóng vỗ. Dưới khoang tàu, bắt đầu có tiếng người lào xào, di động. Hiếu bỏ đi lần theo hông thành tàu xuống phía sau chút xíu trở lại, trong ánh trăng chênh chếch sáng, mặt hắn có vẻ hớt hãi, ngồi xuống cạnh Luân, chỉ tay về phía đuôi tàu, giọng đứt quảng:

- Chị Hiên... chị Hiên, em thấy chị Hiên ở phía sau.

Nhìn thẳng vào Hiếu, Luân kinh ngạc hỏi:

- Có chắc là chị Hiên không?

Hiếu gật đầu, không trả lời. Tiếng máy nổ đều đều, con tàu lặng im vượt sóng, lù đù tiến dần ra khỏi cửa Vàm Láng. Luân mang túi xách trên người, đi lần về phía sau. Hiên sững sờ nhìn, Luân lặng câm bất động. Luân vừa gọi được tên Hiên, thì có tiếng người la lớn phía đằng trước:

- Công an, công an!

*

    Người tài công bớt ga, cho tàu chạy chậm lại, từ phía Cần Giờ, Vũng Tàu, nhiều ánh đèn nhấp nhô tiến về hướng Luân, rõ dần rồi rõ dần, chú ba Hảo đứng chết trân, người trên tàu nhốn nháo, hoảng hốt kêu trời kêu đất. Tiếng máy của mấy chiếc ca nô PCF, có trang bị súng đại liên, của hải quân VNCH cũ, xé màn đêm hùng hổ bủa quanh. Người tài công, quay tàu về hướng bờ Vàm Láng, mở hết tốc độ, mặc cho công an phát loa gọi ngừng ơi ới.

*

    Hiên thẫn thờ ôm chầm lấy Luân, công an bắn súng thị oai, tiếng nổ xé tan màn đêm, vang vọng vội vào bờ, kéo dài rồi im bặt. Người tài công kéo cổ áo, lau mồ hôi đổ như tắm trên mặt, tiếp tục tăng ga, tàu khừng khựng theo từng đợt sóng của con nước đang lên, trong tàu có tiếng con nít khóc. Một chiếc tàu lớn, có gắn cờ đỏ sao vàng, lố nhố người, lố nhố súng, pha đèn sáng rực, tiến về từ xa, mấy chiếc PCF chậm lại đôi chút, chạy vòng quanh.

    Công an tiếp tục đuổi theo, lại phóng loa ra lệnh, tàu vào sâu tới khúc sông nhỏ, truông sậy bát ngát cao tới đầu người, ủi đại lên bờ, tiếng thành tàu cọ xát đám cây tràm già nua rờn rợn, tàu rung rung rồi tắt máy. Người trên tàu bồng bế nhau nhảy càn xuống nước, trốn chạy, tàu công an tiến gần, nổ súng đại liên xối xả, Luân đẩy Hiên chạy đi, ván thành tàu bể vắng tứ tung, một số người lên được bờ, ẩn hiện trên truông, dật dờ như những bóng ma đêm.

Luân bị trúng đạn, hai cái hủ đựng tro cốt ba mẹ trong túi xách mang trước ngực, bể tan, tro ướt đẫm mùi máu. Tiếng Hiên thét lên đâu đây:

- Chết Hiên rồi anh Luân ơi!

*

    Luân ngã quỵ xuống sàn phía đuôi tàu, nước tràn lên lấp xấp, mắt mờ dần, súng vẫn còn nổ vang rân, đưa tay chùi máu trên mặt, cố nhìn, xác Hiên nổi đập vào bờ sậy, bềnh bồng tóc trải dài trên nước. Luân ráng sức, đưa tay lên ngực loang lở máu, mân mê nhúm tro cốt ba mẹ rồi không còn nghe gì nữa, người Luân bập bềnh trên sóng theo chiều ra biển, qua cái màn đục mờ của nước mắt ứa tràn, Luân ráng sức nhìn, chiếc tàu lớn của công an cặp sát vào, tiếng vạc ăn đêm về bắt đầu kêu những tiếng kêu đầu ngày rời rạc, trên mấy cánh đồng xa xa, chiếu đèn pha sáng một khoảng sông, Tuân, Giám đốc Sở công an, chồng Hiên, đứng bên hông thành tàu khoan khoái cười, một nụ cười nham hiểm.

           

Thuyên Huy

Viết lại từ chuyện cũng giống như câu chuyện này.

 

  

Hoa Thời Chinh Chiến & Quê Hương Tôi Đó - Nguyễn Thị Châu

HOA THỜI CHINH CHIẾN

 


 












Dáng xưa còn đó nét trang đài

Ru tình ai đó buổi sớm mai

Trái tim ngây dại trao ngày ấy

Áo trắng còn đây nhớ nhung hoài

 

Anh ngoài trận tuyến suốt đêm ngày

Vai còn nặng gánh cả tương lai

Tiếng súng còn vang trong đồng vắng

Là còn tiếng khóc các anh ơi !

 

Đêm về canh vắng nước mắt rơi

Áo trắng ngày xưa tóc rối bời

Nhớ ai? Chiếc lá rơi ngoài ngõ

Mưa buồn rưng rức khóc bi ai!

 

Dáng xưa đánh mất nét trang đài

Chờ người chiến tuyến trở về đây

Thềm rêu vắng bóng người xưa cũ

Chiến tranh gieo rắc bao đắng cay

 

Hoa nở, hoa tàn, chiếc lá phai

Chờ người chinh chiến tóc thôi cài

Hoa thời chinh chiến là thế đó

Áo trắng hôm nào đã phôi phai…!!!

 

20-5-2026

Nguyễn thị Châu

 QUÊ HƯƠNG TÔI ĐÓ

 


 











Ai đi không nhớ quê nhà?

Nhớ sông Vàm Cỏ nhớ đò Cẩm Giang

Sông xanh đồng lúa ngút ngàn

Hàng Dừa lã ngọn bên làng xanh tươi

Bến Cầu nắng cháy da người

Hàng cây Thốt Nốt đứng phơi nắng vàng

Trái ngon nước ngọt mát lòng

Chờ người lữ thứ, hằng mong trở về

Người đi hãy nhớ tình quê

Quê hương yêu dấu lối về của ta

Bao năm xa cách quê nhà

Rời xa kỷ niệm đã qua tháng ngày

Quê hương có một mà thôi

Về thăm trường cũ một thời đi qua

Rừng Da nào có đâu xa

Mái trường đã phủ rêu xanh hết rồi

Bùi ngùi nước mắt rơi rơi

Phường buồn buông cánh khắp nơi sân trường

Hoa xưa kỷ niệm mến thương

Một thời bụi phấn còn vươn vai gầy

Nhớ sao, nhớ mãi nơi nầy

Quê hương tôi đó, có ai cùng về???

 

20-5-2026

 Nguyễn thị Châu

Hoài Thương - Phương Nguyên

 

Hoài Thương

Một năm sau ngày tôi ra đời, chiến tranh kết thúc, điều đó đồng nghĩa với sự đoàn tụ. Những người lính còn sống lần lượt trở về tron sự mừng tủi ngày sum họp. Gia đình tôi cũng khắc khoải chờ đợi ngày bố tôi trở về. Bà tôi xăng xái lo đi chợ, mua về đôi gà mái tơ: “Ðợi bố nó về rồi ăn mừng.” Trông bà như trẻ lại, những nếp nhăn trên mặt dãn ra, đôi mắt lấp lánh những tia sáng ngời. Bà nhanh nhẹn dọn dẹp, sắp lại cái này, xếp lại cái kia. Mẹ ôm tôi trong lòng, nước mắt rưng rưng nhưng môi lại cười vì hạnh phúc.

Lại một năm nữa trôi qua, những người lính còn sống sau cuộc chiến đã trở về hoặc đều có tin tức, ba tôi vẫn chưa thấy về. Ðêm đêm, chong ngọn đèn dầu, bà tôi ngồi bó gối lặng lẽ, mắt đục mờ nhìn ra bóng đêm đen đặc. Mẹ ôm tôi chặt hơn, trái tim không ngường khắc khoải, mỏi mòn trong chờ đợi. Những đêm mưa, gió quật tả tơi vào bức vách, lá rụng rào rào, bà tôi lập cập chồm dậy, quờ quạng xuống giường, ra mở cửa. Gó từ ngoài thốc vào, bóng bà nghiên ngả, xiêu vẹo. Mẹ đặt tôi xuống giường, lần mò trong bóng tối bước đến, ôm vai bà: “Mẹ”. Bà thẫn thờ, giọng nghèn nghẹn:

- Tao nghe tiếng gõ cửa, cứ ngỡ bố nó về.

Nước mắt mẹ ứa ra. Những đêm như thế, cả mẹ và bà đều không ngủ. Sáng ra, mắt hai người đỏ hoe, sưng mọng, cả hai không dám nhìn mặt nhau.
Bốn năm sau, trước khi mất, bà còn nói: Mẹ tin nó còn sống, rồi nó sẽ về...
Mẹ tôi gạt nước mắt, gật đầu. Bà nhắm mắt, buông xuôi, môi phảng phất nụ cười.
Ðám tang bà trời mưa như trút nước, trắng xoá đất trời. Mẹ tôi khăn xô, áo trắng, ướt lướt thướt, ngất rồi lại tỉnh mấy lần. Chiếc khăn tang dành cho bố tôi trước áo quan bà, phất phơ. Ði bên cạnh người hàng xóm, tôi nhìn ảnh bà, mắt ráo hoảnh. Bà hàng xóm giật tay: “Con bé này, khóc bà một tiếng chứ!”

Trẻ con không phải không biết buồn, nhưng tôi không khóc, nước mắt lặng lẽ chảy vào trong. Ðứa trẻ sáu tuổi là tôi chưa hiểu hết cái chết nghĩa là gì. Chết cũng như là một sự ra đi, tôi không còn gặp lại được bà nữa, không được bà ôm ấp, vuốt ve, nâng niu hôn hít:

- Cục cưng của bà, cục vàng của bà, lớn lên thì giống cha, giống mẹ lắm đấy. Bố mày không về mà xem con lớn!

oOo

Thời gian qua đi, trên bàn thờ, cạnh ảnh bà, mẹ tôi treo thêm ảnh ba tôi. Trong ảnh là người đàn ông còn rất trẻ, cao lớn và một đôi mắt rực sáng, như những đốm lửa. Những ngày giỗ, Tết, mẹ bày thêm đôi đũa, bát cơm. Tóc mẹ bạc dần. Ba tôi không được công nhận là liệt sĩ, không ai nhận được giấy báo tử của ba.
Tôi lớn lên, trưởng thành trong vòng tay chăm bẳm của mẹ, tóc mẹ thêm nhiều sợi bạc, đôi vai gầy nhô cao, những giọt mồ hôi trên trán mẹ to hơn, mặn chát hơn. Mẹ nhận thêm việc về làm, đến tận khuya. Trong giấc mơ, tôi thường nghe rõ tiếng máy may xè xè, lọc cọc của mẹ. Ðôi lúc dừng tay, mẹ quay lại, mỉm cười nhìn tôi ngủ rôi lại làm việc tiếp. Cho đến trọn đời, tôi cũng không thể quên những nụ cười ấy của mẹ, nó đã động viên tôi rất nhiều trên mỗi bước tôi đi.

oOo

- Chị Thương, hôm nay mình nghỉ sớm nhé! – Thùy Linh nũng nịu kéo áo tôi, đôi mắt có hàng mi cong chớp chớp, năn nỉ. Cử chỉ trẻ con đầy đáng yêu ấy làm tôi bật cười, vui vẻ gật đầu, xếp lại chồng sách vở lên giá.

- Hôm nay chị em mình đi chơi nhé. Em đưa chị đi ăn kem. Kem ngon tuyệt. Ðồng ý nha chị!

- Có chuyện phải không? – Tôi buông lời thăm dò.

- Ba em gửi thư về từ Ðại lục. Ba nói sẽ về dự sinh nhật em, nhất định em sẽ có quà và cho cả chị nữa.

- Em có người cha thật tuyệt vời, nhưng tại sao lại có chị trong đó? - Thùy Linh cất tiếng cười, lúm đồng tiền hằn sâu trên hai má trắng hồng.

- Em viết thư cho ba, nói chị là gia sư của em.

Ðã hơn hai tháng nay, tôi nhận lời làm gia sư, giúp việc học cho Thùy Linh. Trừ buổi lên giảng đường học, tuần ba buổi tôi đến nhà dạy thêm cho Thùy Linh, cô bé đang chuẩn bị thi vượt cấp. Công việc không đến nỗi vất vả, lại là chuyên môn nên tôi vừa có thêm thu nhập phụ với số tiền ít ỏi hàng tháng mẹ gửi lên, lại vừa thực hànhh những phương pháp giảng dạy đã học trên lớp. Nhà Thùy Linh rất giàu có, ba mẹ cô bé tỏ ra rất quan tâm tới việt học của con, chuyện công sá họ tính toán khá sòng phẳng.

Thùy Linh đập nhẹ lên vai tôi, ấn vào tay ly nước quả:

- Chị nghĩ gì mà thần người ra thế?

- Chị nghĩ đến mẹ, giờ này chắc mẹ đã đi làm về. Chị nhớ mẹ chị!

- Hèn chi mẹ đặt tên chị là Thương – Linh hóm hỉnh cười – có ý nghĩa ghê hén. Còn ba chị?

- Ba chị?!? Từ nhỏ cho tới giờ, chị chưa một lần biết mặt cha. Ông đã không về từ khi chiến tranh kết thúc, chị chỉ biết qua bức ảnh nhỏ xíu và qua những lời kể của mẹ. Nói chung, chị không giống ba nhiều lắm.

- Tại sao vậy? Sau cuộc chiến, những người lính còn lại đều về với gia đình.

- Ðúng, nhưng chi tin ba đã không còn. Chiến tranh không loại trừ một ai. Không có con số chính xác về những người đã xuống, có rất nhiều mộ liệt sĩ vô danh. Chắc chắn ba chị nằm trong số đó.

- Chị nghĩ vậy à?

Cả mẹ lẫn tôi đều tin rằng ba đã mất, nếu không ông đã trở về. Chiến tranh qua đã lâu, mà tôi thì đã hai mươi tuổi. Không còn gì để hy vọng. Thời gian trôi thật nhanh mà cuộc đời mỗi người đều quá ngắn ngủi. Ðêm nằm có một mình trên chiếc giường tầng ở ký túc xá, tôi nhớ tới mẹ, nước mắt ứa ra. Từ ngày bà mất, không khi nào tôi để rơi nước mắt trước mặt mọi người. Trái tim không bằng đá, nhưng chưa đến nỗi mềm để lúc nào cũng tan thành nước, nhỏ lụy khóc than. Tôi lớn lên trong sự thiếu vắng người cha mặc dù mẹ cố gắng bù đắp nỗi thiếu hụt ấy. Nhưng tôi chưa khi nào cảm thấy trọn vẹn tình yêu của người cha. Dẫu trong mơ, ba có trở về, chưa khi nào ông âu yếm tôi. Ðiều đó làm tôi đau đớn. Tỉnh dậy sau những giấc mơ như thế, tôi mệt đến rã rời thể xác.

oOo




Ðang nằm đọc sách, đứa bạn đến gần, nói:

- Hoài Thương, có người gặp kìa!

Tôi chồm dậy, ra là Linh. Cô bé tới gặp tôi có chuyệngì? Nó đã thi xong và tôi cũng không còn phải tới nhà dạy phụ đạo Linh nữa.

- Chị Thương, ba em đã về rồi! Ông muốn gặp chị!

- Ðể làm gì, chị không hiểu?

- Em viết thư và kể chị là gia sư của em. Co thể ba không tin kết quả thi của em nên muốn biết em học hành ra sao?

Tôi cười, cảm thấy ganh tỵ với Linh. Ganh tỵ và xót xa cho bản thân thật nhiều. Mẹ tôi vẫn còng lưng trên chiếc máy khâu cũ mòn, nhẫn nại vắt kiệt những giọt mồ hôi mặng đắng, nhặt nhạnh từng đồng gửi lên cho tôi. Mẹ thường bảo: “Nếu ba còn sống, con sẽ đỡ thiếu thốn hơn”. Có thể, nếu ba còn sống, cuộc đời hai mẹ con tôi đã khác, nhưng điều đó không khi nào thành sự thật. Và tôi vẫn mãi là đứa con mất cha. Ðôi lúc tôi có cảm giác căm thù chiến tranh, nó đã cướp đi những người thân của mình, cướp đi tuổi xuân mỏi mòn chờ đợi của mẹ. Tôi căm thù nó và ganh tỵ với những người bạn có đầy đủ bố lẫn mẹ.

Linh đưa tôì vào phòng khách, một người đàn ông đứng tuổi đã ngồi ở đó. Linh vui vẻ:

- Ba ơi! Chị ấy đây này.

Hình như ông ta đã giật mình, một cái nhìn thật lạ lướt nhanh trên mặt tôi, có cảm giác như vừa phát hiện ra điều gì, cốc nước trên tay ông sóng sánh, chao đảo:

- Cháu là Hoài Thương, gia sư của Thùy Linh?

- Dạ. - Tôi nói khẽ khàng, mắt không rời được khuôn mặt ông. Ông ta có những nét thật quen, quen đến mức sững sờ, và nhất là đôi mắt, đôi mắt giống ba tôi trong ảnh đến lạ lùng! Ðất dưới chân tôi như sụp xuống, cả căng phòng như chao đảo, tôi nhắm mắt, cố xua đi hình ảnh vừa thoáng hiện trong ý nghĩ. Ông ta là bố của Thùy Linh!

- Ba ơi, con lấy quà của ba cho chị ấy nhé!

Linh nói và chạyh đi, ánh mắt ông nhìn theo thật ấm áp, đây trìu mến. sống mũi tôi bất giác cay cay.

- Cháu ngồi đi, Hoài Thương.

Rót nước đưa cho tôi, ánh mắt ông dừng lại thật lâu trên mặt tôi. Cử chỉ bỗng vụng về: “Cháu có cái tên rất đẹp nhưng buồn”.

- Ðó là một câu chuyện, bác ạ.

- Có thể kể cho bác nghe được không?

Tôi ngập ngừng, chưa khi nào tôi kể cho mọi người nghe vì sao tôi mang cái tên buồn đến thế. Mắt ông ta nhìn tôi cầu khẩn.

- Nó gắn với sự chờ đợi của một người mẹ, một người vợ, và một người con đối với một người đi xa.

- Mẹ cháu tên gì?

- Mẹ cháu tên Mai Hương, trong một lần hành quân qua nhà, bố cháu ghé lại, mẹ cháu có mang cháu từ đó. Cái tên là cách nói mẹ vẫn luôn chờ và nhớ tới ba cháu, mong ba trở về.

Bàn tay để hờ hững trên bàn tay người đàn ông bỗng run rẩy, ông ta cười, nụ cười méo mó:

- Ba cháu đã không về!

- Vâng, đã hai mươi năm, cả mẹ và cháu đều tin rằng ông đã mất.

- Thế còn bà cháu?

- Bà cháu đã mất sau hòa bình vài năm, bác có biết tại sao không? Tôi nghẹn ngào – vì bà đã mỏi mòn sống trong chờ đợi con, bà đã không thể chờ đợi được. Cho đến lúc nhắm mắt, bà còn nắm chặt tay mẹ cháu dặn dò hãy đợi bố cháu. Bà tin ông ấy vẫn còn sống!

- Trái tim của người mẹ... - Người đàn ông thầm thì, khóe mắt ông giật giật liên tục, ông ta lảo đảo đứng dậy, xoay lưng lại phía tôi, chậm chạp rời khỏi phòng.

Tôi cắm chặt hai chân xuống sàn nhà, không đủ sức đứng dậy, cảm giác mệt mỏi, trống rỗng xâm chiếm khắp người. Tôi uể oải đứng lên, nặng nhọc bước ra khỏi nhà, ý nghĩ muốn mau chóng đi khỏi nơi đây làm tôi đi như chạy, nước mắt đột nhiên tuôn rơi. Có cái gì đó vừa rơi xuống, vỡ tan thành ngàn mảnh, hình ảnh ba tôi tan biến, nhòe nhoẹt trong hai hàng nước mắt. Ngày kia là ngày giỗ của ba, tôi phải trở về nhà, đó mới là sự thật. Sự thật là ba đã chết, chết từ lâu.

Tôi ra bưu điện, đánh điện tín về cho mẹ: “Con sẽ về trong ngày giỗ của ba, con muốn thắp hương cho ba. Mẹ nhớ đón con, mẹ nhé!”.

Phương Nguyên