Nhờ Sài Gòn Nhớ Em
Tuesday, April 21, 2026
Dạ Mộ Khúc - Thuyên Huy
Dạ Mộ Khúc
Để nhớ HTN - người lẻ loi mang theo những gì muốn nói nhưng chưa nói được
xuống lòng mộ lạnh.
Giữa tháng giêng, cuối hạ, buổi sáng, trời
vẫn nắng như những ngày đầu mùa, vài ba cơn gió bắc gay gắt nóng hậm hực tụ
nhau về rồi lửng thửng bỏ đi không chào không hỏi, chủ nhật, nghĩa trang vắng
tanh, không bao nhiêu người thăm, dọc theo mấy hàng mộ bia, cùng kích thước
vuông, lớn cở hai gang tay, cùng loại đá, đặt nằm thẳng, cách đều nhau, trên cái
đồng cỏ xanh trải đầy xác hoa phượng tím, sâu hút phía trong cùng, lác đác đôi
ba người đứng ngồi ở cuối đường. Ngồi đó lâu rồi, trước mộ, nói là mộ nhưng ở
đây, mộ là những khoảnh đất xanh cỏ, bằng phẳng, tro cốt chôn bên dưới, chính
giữa phía trên, người ta đặt một cái bình đựng hoa bằng sứ đen, mộ nào cũng như
mộ nào, chỉ khác nhau ở chỗ là hàng chữ khắc trên bia và loại hoa cắm trong
bình, Đạm chưa nói được trọn những gì mình muốn nói, hơn năm năm gặp lại nơi xứ
người, cùng cảnh đời lẻ loi, vui buồn có nhau, vậy mà cuối cùng, ngày anh Huỳnh
mất, Đạm đã không tiễn anh lần đi sau cùng, không như lần tiễn nhau tại một góc
quán cà phê, ở chợ Nancy, đêm chờ khuya ra biển, hẹn ngày gặp lại, tay vuốt nhẹ
mộ bia, khắc vỏn vẹn tên người và ngày sinh ngày chết, chợt dưng Đạm nức nghẹn,
thì thầm, rấm rứt khóc “vậy mà em đã thất
hẹn với anh rồi”.
Tuần trước, trưa thứ sáu, khi đến phụ anh điền một số giấy tờ,
để tái xin trợ cấp tiền thuê nhà hàng tuần, nộp cho văn phòng “Nhà Cửa” của
chính phủ tiểu bang, anh cho biết bệnh tình, từ tim tới phổi, từ đầu gối tới
bàn chân, vốn đều trải qua hơn một lần giải phẩu, xem ra tệ hơn, mấy ngày nay
anh trông rã rời, mệt mỏi và không đi đứng lâu được, cũng như thường ngày, hai
anh em ngồi nhìn ra trời bên kia sông, nói qua hỏi lại chuyện chợ búa chuyện
tin tức thường ngày, anh cười mà buồn rười rượi “không biết còn chịu được bao lâu nữa”, ra về, Đạm hẹn ngày mai, thứ
bảy, đến cắt đám cỏ đã lên cao ở sân trước, rộng chừng đủ cho hai chiếc xe hơi
đậu, lần này anh ngồi dựa vào tường nhìn theo, không còn đủ sức đứng lên ra tới
cửa như mọi khi, đám bồ câu hoang chờ ăn thường ngày, không đủ kiên nhẩn, bỏ
bay đi từ lâu vì cũng đã nhiều ngày, anh không rải gạo khô dư cho bọn chúng.
Mây bất chợt kéo về xám xịch và chùng xuống thấp bên kia sông, trời có chút gió
mát muộn, chắc sắp mưa, xe ra khỏi ngã tư đường, nhìn từ kính chiếu hậu, cửa
nhà anh Huỳnh không thấy mở.
Đi loanh quanh tìm
mua vài thứ lặt vặt, nhìn người qua kẻ lại ở khu thương mại gần nhà cho đở buồn,
về đến nhà, nhận điện thoại của vợ chồng người bạn quen thân từ trên Wollongong
kêu xuống, nhắn một hai lên gấp, giúp giùm ai đó một số giấy tờ để sáng thứ hai
họ kịp ra tòa, tìm chuyến bay qua mạng điện tử, Đạm đi chuyến bay Jetstar sáng
sớm thứ bảy vì vé hạ giá chuyến trễ trong ngày không còn nữa. Tối lại, Đạm gọi
điện thoại cho anh Huỳnh biết không tới được ngày mai như đã hẹn, vì phải lên
Sydney vài ngày, khi về lại sẽ cho anh hay và không quên nhắc anh nhớ uống đủ
thuốc như thường lệ. Không như mấy lần trước, vì có một vài trục trặc, chờ xong
xuôi.
Đạm ở lại Wollongong
thêm mấy ngày, trưa hôm về tới nhà, vội gọi điện thoại cho anh Huỳnh ngay mấy lần
mà không được, nên gọi cho cô Hiền, người đã sống gá nghĩa vợ chồng với anh một
hai năm qua, cô có nhà riêng trên miệt Bắc Richmond, nhưng anh Huỳnh thường ở
nhà mình, đi đi về về một tuần hai ba ngày, một căn vi la nhỏ đầu dãy trong khu
nhà của chính phủ cấp cho người già cả ở, Đạm gặp chị đôi ba lần, chuyện anh chị
như thế nào, anh Huỳnh chưa lần nào nói tới, biết thì biết vậy thôi, Đạm cũng
chưa lần hỏi, Đạm buột miệng, chết nghẹn “trời
ơi” khi chị cho biết anh chết rạng sáng chủ nhật, trên đường từ nhà chị tới
bệnh viện, bỏ điện thoại xuống bàn, Đạm ngồi bất động, nhìn ra bên kia sông,
theo nhau chút mây xám đong đưa hửng hờ xuống thấp rồi thật thấp, không khóc
nhưng nước mắt cứ tuôn dài trên mặt.
*
Hôm
cùng thiếu tá Huỳnh, quận trưởng, đi qua bàn vài chuyện với bên quận
Bình Lâm về, ngồi ăn trưa ở một quán cơm trong chợ quận Lạc Tánh, không mấy người
qua người lại, chợ vắng tanh, lâu lâu mới thấy vài anh lính nghĩa quân, thượng
có kinh có, súng khoát hờ trên vai, nhìn lên nhìn xuống, thả bộ tán gẫu về hướng
chi khu, chim rừng đậu từng đám trên nóc gọi nhau ồn ào cả chợ, trời nắng và nắng
nóng, cũng như thường lệ, từ ngày đổi về quận Tánh Linh, Bình Tuy, làm việc với
thiếu tá Huỳnh sau tết, đầu năm 1974, cho tới giờ, ông ít khi nào hỏi han gì về
chuyện hành chánh văn phòng, trừ khi cần có chữ ký của ông cho công văn nào đó,
ký tên mà miệng lúc nào cũng bảo Đạm “mọi
thứ ông phó cứ tự quyết định, không cần phải chờ tôi”, ông vui tánh và ít
nói, bình dân, giúp người nên trong quận chẳng ai phiền hà than vản, lính tráng
thì coi như con cháu anh em, lầm lỗi gì nặng lắm ông mới rầy rà chút đỉnh rồi
thôi, không nhắc tới, trước đây không biết sao, an ninh trong cả quận giờ tạm gọi
là khả quan, quân du kích thỉnh thoảng phối họp với quân chính quy Bắc việt
đánh phá nhiều lần, nhất là sau mùa hè đỏ lửa nhưng chưa chiếm giữ được gì,
lính quận, có chết có bị thương nhưng chưa đến nổi tản cư, hồi cư như mấy tỉnh
cao nguyên, ăn xong, trên đường chở Đạm qua văn phòng quận, ông cười cười, nửa
đùa nửa thật “tình hình này cả nước, xem
ra cũng găng lắm chứ không dễ như mình tưởng đâu, thôi ông phó về Sài Gòn nghỉ
phép vài ngày đi cho đở buồn”.
Đạm nhận chuông, đứng
chờ ngoài cổng rào, thấy người lạ, cô con gái chừng khoảng mười chín hai mươi,
khá đẹp, bước ra cửa nhìn rồi quay nói gì đó với ai trong nhà, ở một góc vườn
trước, xác phượng rụng ngập đỏ bầm một khoảng sân, Sài Gòn bây giờ là những ngày
cuối hè, cũng còn nghe tiếng ve nấn ná và rã mệt đâu đó, trời sắp giữa trưa,
không nhiều nắng, cô gái chậm bước ra cổng gật đầu chào mời vào. Vào nhà, Đạm
giới thiệu mình và trao lại lá thư của ông gởi cho gia đình, cầm lấy thư, bà
thiếu tá Huỳnh hối hả gọi vào trong “ Nhã
Quyên, Nhã Tuyền ơi, ra đây con chào anh Đạm nè, ông phó quận của ba ngoài Tánh
Linh về đó”, bẽn lẽn ngồi xuống bên cạnh, bà thiếu tá nhìn hai cô con gái,
cô lớn, Nhã Quyên, là cô ra mở cổng hồi nãy, tựu trường năm nay vào năm thứ nhất
dược, cô nhỏ, Nhã Tuyền, lên đệ nhị ở Gia Long, bà hỏi Đạm đủ thứ chuyện, cười
nói luôn miệng, từ ba mẹ dưới Mỹ Tho tới chuyện ngoài Tánh Linh, đầu câu cứ “một ông phó hai ông phó”, Đạm chỉ biết
cười trừ, bỡ ngỡ lúc đầu, trước lạ sau quen, quen thân quen thiết hồi nào không
ai biết, anh anh em em rộn ràng trong nhà vườn trước sân, sau đó, suốt hai ba
ngày còn lại ở Sài Gòn, chiều nào Đạm cũng đến ăn cơm chiều với ba mẹ con bà
thiếu tá Huỳnh như đã hứa. Buổi sáng, hôm trở lên Tánh Linh, hai chị em đưa Đạm
ra tận bến xe, nhắc lần sau có về, nhớ đến nhà, ở lâu hơn lần này, xe rời bến,
khuất cuối đường, nhìn lại sau, chợt dưng Đạm thấy lòng mình như có chút gì
nhung nhung nhớ nhớ.
Tình hình chiến trận
xem ra có vẻ sôi động hơn trước, Bắc quân xe người, ùn ùn, rầm rập vượt đường
mòn “HCM”, tràn qua tam biên, bủa vây kìm hảm cao nguyên, các tỉnh dọc biển còn
có chút dễ thở hơn nhưng không biết được bao lâu. Buổi chiều, tại văn phòng quận,
sau buổi họp nghe mấy anh trong ủy ban Phượng hoàng quận báo cáo tình hình “ta địch” xong, Đạm qua chi khu ăn cơm tối
với thiếu tá Huỳnh, bây giờ là những ngày vào đông, trời lành lạnh mang theo hơi
gió biển, đêm xuống mau hơn mọi khi, ngồi bên nhau, một lần nữa, thiếu tá Huỳnh
cười cười, nhắc lại câu hỏi mà ông đã hỏi hôm Đạm từ Sài Gòn trở ra “ông phó thấy con Nhã Quyên thế nào, cũng được
hả”, không đợi Đạm trả lời, ông gục gặt đầu tiếp “hy vọng mình còn làm việc chung ở đây lâu hơn, nếu không có gì trở ngại,
có ngày nào đó mình cùng về Sài Gòn một chuyến, chắc là vui lắm”, hiểu ý
ông, thêm một lần Đạm chợt nhớ Sài Gòn, Đạm không nói gì thêm ngoài tiếng “dạ” rất nhẹ.
Có tiếng súng nổ
liên hồi phía cuối hàng rào phòng thủ chi khu, tiếng chân người dồn dập chạy tới
chạy lui ngoài cổng, anh lính cận vệ quen, tay cầm súng, mặt đăm đăm đẩy cửa
vào cho biết chi khu bị tấn công rồi đứng yên chờ lệnh, thiếu tá Huỳnh đứng dậy,
anh lính đưa khẩu súng M16 cho Đạm, ba người bước nhanh ra ngoài, rồi mất dạng
giữa tốp lính địa phương quân, nghĩa quân chừng mười mấy người súng ống chờ tự
nãy giờ, có tiếng đạn pháo kích của quân Bắc việt rớt đâu đó phía bên phố chợ, súng nổ nhiều và nghe gần hơn, lửa cháy lập
lòe trong màn đêm tối đen và đen thăm thẳm.
Cuối tháng
ba, những ngày giữa tháng tư năm 1975, vùng Một, rồi vùng Hai, các tỉnh cao nguyên, tới Phú Yên,
Qui Nhơn Khánh Hòa, xuống Ninh Thuận lần lượt bỏ trống vào tay quân Bắc việt,
Bình Tuy cũng không khá hơn, đường quốc lộ Một về Sài Gòn bị cắt đứt, người
hàng hàng lớp lớp chạy giặc tràn xuống ngả Hàm Tân ra biển xuôi Nam. Theo dòng
người, bằng đường bộ thiếu tá Huỳnh, Đạm cùng một số sĩ quan trẻ của chi khu, bỏ
Tánh Linh đi, xuống tới Hàm Tân giữa khuya đêm trước ngày có lệnh buông súng đầu
hàng từ Sài Gòn, bờ biển Hàm Tân người đông như kiến, ghe tàu đánh cá đèn tối
mù mờ cả một vùng, chiếc nào chiếc nấy đầy ắp, lính tráng dân thường, trẻ già lớn
bé, chòng chành sóng vỗ chen nhau bỏ bờ ra khơi, người còn lại trên đường gọi
nhau nhắn nhau ơi ới, át cả tiếng súng tiếng đạn đại bác từng chập dọa nạt đuổi
theo, cứ vậy lẳng lặng nhấp nhô trên sóng biển âm u.
Quá giữa khuya, trời
bổng dưng nổi gió, gió gào gió thét, mây đen một màu ma quái, mưa bất chợt trút
xuống như thác, bão nổi lên gầm gừ, che kín người và nước, người nhìn người, hớt
hãi lo sợ, đoàn tàu nối nhau cố bám sát dọc theo bờ, vì chở quá đông, nhiều chiếc
đã lật ngang, lật úp, mất hút giữa những con sóng cao hơn nhà, chiếc có thiếu
tá Huỳnh và Đạm, không may đã cùng chung số phận trong đám tàu đó, tàu họ chìm,
người chìm theo, người còn lại từ các chiếc tàu khác muốn cứu cũng không làm
sao mà cứu, biển cứ lồng lộng đen ngòm, nhìn lại, thở dài, đoàn ghe tàu cứ đi,
trời vẫn mưa, bão vẫn vậy cho tới rạng sáng. Đạm nằm bất tỉnh trên tấm ván nắp
đậy hầm chứa cá nhấp nhô ẩn hiện, được một chiếc ghe nhỏ, hư hết một máy, chở
ít người, lẻ loi phía sau cứu, có phần muộn nhưng cuối cùng cũng tấp vào được bờ
Long Hải, Phước Tuy, rạng sáng ngày 30 tháng 4, đành thôi, ngồi thừ người trên
bải cát, nhìn ra biển nước mênh mông, nước mắt mặn pha chút nước biển trên môi,
tim đau nhói, Đạm rươm rướm khóc “thiếu
tá ơi thiếu tá”.
*
Đem mớ bánh ba-tê-sô giao cho tiệm cà phê quen ngay góc đường như mỗi sáng xong, đẩy cái xe đạp
cũ, người dì họ cho mượn làm chân, có mà chạy đi chạy lại kiếm sống chờ thời, xuống
lề đường, sau ngày ở tù về, ở Mỹ Tho bị làng xã hạch hỏi dòm ngó quá, nên bỏ
lên Sài Gòn tìm chốn dung thân, mặc dù phải rày đây mai đó, lang thang bến xe bến
tàu, may gặp lại chị Trang, có sạp bán vải trên đường Lê Lợi trước đây, vốn
quen nhau vì là khách hàng thường xuyên trong những ngày còn đi học, giờ chị mở
tiệm làm bánh ngọt Tây tại nhà, ở cuối hẽm ngã tư Cao Thắng - Phan Thanh Giản,
nhận làm người đi giao bánh cho mấy tiệm cà phê còn mở cửa, nên tạm yên thân,
có chút đồng ra đồng vô, bữa cơm bữa bánh mì, cũng cảm thấy hạnh phúc lắm rồi, đội
cái nón kết xám bạc màu lên, định đạp đi thì chiếc xích lô trờ tới bỏ khách xuống
chặn ngang, Đạm cầm ghi đông chờ, người đạp xe xích lô giở nón khỏi mặt nhìn
lên nhỏ nhẹ “cám ơn”, Đạm buông xe đạp
ngã xuống đường, cùng lúc cả hai, há hốc buột miệng “thiếu tá, ông phó”, Đạm nắm tay thiếu tá Huỳnh, hai người ngồi đại
xuống bờ lề xi măng, nghèn nghẹn.
Đêm tàu chìm, thiếu
tá Huỳnh được một chiếc tàu khác, chở không đông người lắm, lính nhiều hơn dân,
cứu lên, nhưng không may, chiếc này máy bị hư sau đó, thả lềnh bềnh ngược chiều
gió bão cuốn trôi tấp vào bờ Phước Tỉnh chiều 30 tháng 4, ngồi thở dốc trên đám
cát phủ màu rong úa, nhìn ra xa chập chùng biển dữ, thiếu tá Huỳnh thì thầm “ông phó ơi ông phó”, nhờ nhà này miếng
cơm nhà kia miếng cháo, mấy ngày sau, thiếu tá Huỳnh quá giang đám xe hàng từ
miền trung vào về đến Sài Gòn, căn nhà vẫn còn, cả nhà ôm nhau, đóng cửa kín lại
khóc ròng, khóc mà sợ người bên hàng xóm nghe.
Trước ngày có lệnh
gọi công chức quân nhân VNCH trình diện, tập trung đi tù, tình hình phường khóm
vẫn còn nhập nhằng mới cũ, nên chưa đến nổi cùng đường, bà thiếu tá thay chồng,
chạy về Long An, gặp người bạn cũ, cùng dạy ở trường tiểu học Mộc Hóa trước khi
bà nghỉ dạy, có chồng cũng là sĩ quan làm việc dưới tiểu khu Sa Đéc, hỏi thăm
liệu còn đường nào ra đi không, lên xuống vài lần, cả gia đình thiếu tá Huỳnh
quyết định theo vợ chồng người bạn cô giáo đi chuyến tàu của người em bà con của
bà này ở Trà Vinh.
Ngày đi, chạng vạng
chiều, từng nhóm nhỏ được mấy người tổ chức đón từ một số nhà tạm trốn quanh chợ
Trà Vinh, đưa xuống tàu trót lọt, trong đó có nhóm bà thiếu tá Huỳnh, hai cô
con gái và bà bạn cô giáo, xui xẻo đi sau cùng, chiếc xe lam chở nhóm thiếu tá
Huỳnh, người chồng cô giáo bạn và ba người thanh niên khác, bị đám công an đi
đâu đó về ngang chận xét hỏi, rồi đem về nhà tù tỉnh nhốt vì tội vượt biên, dưới
bải biển, đêm xuống tối mịt, chờ cũng đã lâu, sợ bị bể, nên tàu lớn đành phải
ra khơi, có người khóc có người than, có người lâm râm cầu nguyện, trời vẫn đen
một màu đen rùng rợn. Hơn một ngày đêm ròng rã trên biển nước mênh mông, sườn
phía hông tàu sau bị nứt, dây kéo máy bơm cũng bị đứt, máy nóng quá không chạy
được nữa, tàu quay vòng loanh quanh, nhấp nhô hụp lặn, nước bắt đầu vô ngập các
hầm khoan dưới, người lôi kéo nhau lên sàn, la hét, tàu bể ra, gần một trăm, ai
nấy gào khóc, bám víu cái gì cứ bám để mà sống nhưng không ai biết sẽ kéo dài
bao lâu giữa biển cả mênh mông, sóng phủ sóng chập chùng, từng người một xa
nhau dần và trời lặng thinh, đâu đó chút mây tan, rớt xuống vài ba vạt ánh
trăng thiểu nảo, cũng may, một số người chừng mười mấy, còn bập bềnh trên nước
được chiếc tàu chở hàng lớn Nhật, trên đường từ Tân Gia Ba về ngang, cứu lên đưa
về tạm trú ở Okinawa.
Sau gần ba tháng
tù, nhờ có mớ giấy tờ giả, hai người, chồng cô giáo và thiếu tá Huỳnh được thả,
về Sài Gòn thì căn nhà của ông đã bị tịch thu làm trụ sở ủy ban nhân dân phường,
vợ con chưa biết đi đứng ra sao, không thể về quê cũ vì ở đó ai cũng biết ông,
đầu đường xó chợ vài ngày, ông đành tìm tới nhà trung sĩ Thưởng ở bên Rạch Cát,
người tài xế theo ông từ ngày còn ở tiểu đoàn, trung sĩ Thưởng cũng cùng đi với
ông bỏ Tánh Linh, nhưng lạc mất nhau không biết khi nào, vợ chồng trung sĩ Thưởng
mừng rơi nước mắt, một “ông thầy hai ông
thầy”, vợ chồng nhờ “ăn chia ăn chịu”
gì đó với đám phường khóm trong việc buôn bán chợ trời, trung sĩ Thưởng chạy chọt
cho thiếu tá Huỳnh tạm có tên trong sổ hộ khẩu, cơm nước tuy không nhiều nhưng
họ lo mọi thứ, không lâu, ông quyết định đi đạp xich lô, dù cho vợ chồng trung
sĩ Thưởng cản ngăn ngày này qua ngày nọ.
Thiếu tá Huỳnh, ngưng ở đó, lấy khăn lau chút mồ hôi của nắng Sài Gòn
vừa lên, nhìn mông lung, dường như muốn nói thêm nhưng lại thôi, ông nhìn Đạm
chờ, cũng như ông, anh kể lại chuyện đêm chìm tàu và những ngày “ăn bờ ngủ bụi” sau ngày ở tù về, bổng
dưng nhớ lại, Đạm chợt buột miệng hỏi “còn
bà và hai cô”, thiếu tá Huỳnh bóp chặt hai bàn tay, nghiến môi “còn đâu nữa mà hỏi, chết giữa biển rồi”,
hai người bật khóc, đám bộ đội mặt mày trắng bạch thiếu nắng, ngồi trên chiếc
xe jeep cũ của cảnh sát VNCH chạy ngang qua, quay đầu lại nhìn, nói với nhau gì
đó.
Những ngày sau đó,
cứ hai ba hôm, chiều chiều, Đạm đạp xe đạp qua thăm thiếu tá Huỳnh bên Rạch
Cát, gặp lại Đạm trung sĩ Thưởng mừng mà muốn khóc, nhắc hoài chuyện cũ, qua
anh, Đạm mới biết là bà thiếu tá và Nhã Quyên, Nhã Tuyền đã chết ngoài biển đêm
vượt biên, tin do người bạn cô giáo, viết thư cho chồng là người sĩ quan bị bắt
và nhốt cùng khám ở Trà Vinh biết, bà là một trong mười mấy người được tàu hàng
vớt đưa về Nhật. Đêm cuối tháng ba, gần sáu bảy tháng sau, Đạm đưa thiếu tá Huỳnh
cùng gia đình anh trung sĩ Thưởng vượt biên, ngồi bên ông lần sau cùng, giọt cà
phê cuối cùng không ai cạn, bỏ lửng, tiễn nhau hy vọng có ngày gặp lại đâu đó nếu
trời còn thương.
*
Đạm không ngăn được nước mắt khi
gặp lại thiếu tá Huỳnh ở chùa, hôm theo anh bạn tới đó ăn cơm chay cho biết, sau
lễ cầu siêu, không hỏi Đạm cũng đã biết lý do, không ai ngờ được, mừng không biết
là bao nhiêu, chuyện trước chuyện sau rưng rưng, cũng như lần hai người ngồi
bên lề đường Phan Thanh Giản năm xưa, hỏi nhau nói nhau không hết, ông hiện sống
một mình và ở cũng gần đây. Đạm đưa ông về, nhà ông ở là một căn vi la nhỏ
trong dãy nhà chính phủ cất dành cho người già, ông ở thui thủi một mình, sống
nhờ vào tiền trợ cấp, trong nhà trống trơn, chỉ có cái giường ngủ, cái tủ gỗ cũ
nứt nẻ vài chỗ, cái bàn viết nhỏ kê bên cửa sổ ngó ra đường, ba bốn cái ghế ngồi,
không cái nào giống cái nào, cũng rách bương không thua bộ sa lông bằng vải đen
bạc màu, dán băng keo đầu này đầu kia, chằng chịt, ngồi lõm xuống tận đáy và
cái tủ lạnh nhỏ, đứng khiêm nhượng trong nhà bếp, trên đầu tủ, là bàn thờ nhỏ,
tấm hình bà và hai cô con gái đen trắng để sau lưng cái ly làm lư hương, bên cạnh
là bình bông đen, ít khi thấy hoa tươi, vậy đó, ông lặng lẽ ra vào, theo tháng
ngày quanh quẩn, nhưng chưa thấy ông buồn và than phiền gì cả, thiếu tá Huỳnh,
xuất thân từ sĩ quan thời Pháp, tiếng Pháp khỏi nói nhưng không nói được tiếng
Anh nhiều, nhưng vẫn hỏi thăm hỏi lom được ông già Bill nhà bên cạnh bằng “ngôn ngữ tay chân” sáng nắng trong chiều
mưa xám. Bạn bè, cựu sĩ quan có, bác sĩ dược sĩ có, công chức cũ có cũng đến
thăm đôi ba lần, nhưng ai nấy còn lo phần mình, không thường trở lại, năm khi
mười họa mới tạt ngang.
Tháng ngày sau đó,
cũng đơn độc như ông, hể tới cuối tuần, thứ bảy chủ nhật là Đạm tới nhà ông, so
tuổi tác thì thiếu tá Huỳnh lớn như cha nhưng quen rồi, Đạm cứ gọi là anh, khi
thì mang theo mớ đồ ăn mua ở chợ mình, khi thì đem bánh ngọt của ai đó ở chỗ
làm cho đến, hai người chia nhau ăn chút cho vui, thỉnh thoảng cũng ra chợ ăn
phở này phở kia, với chút tiền còn dư lại trong tuần, cứ như vậy anh em an ủi
nhau, chia sẻ buồn vui ngọt bùi của đời người nơi xứ lạ, ngày thường, khi cần
đi ngân hàng, bệnh viện hay văn phòng chính phủ về chuyện gì đó, ông gọi một tiếng,
Đạm tạm bỏ sở làm, vài tiếng đồng hồ đến đưa ông đi làm ngay. Ông hút thuốc nhiều,
Đạm không dám cản, còn gì khác hơn đâu, một hôm ông bị nghẽn tim, ngã quỵ trong
nhà, xe cứu thương hụ còi chở ông vào bệnh viện, suốt mười ngày trong đó, chiều
nào Đạm cũng vô thăm ở tới khuya, bệnh khỏi về lại nhà, ông bỏ thuốc, chưa xong
lại phải trở vào vì cứ khó thở hoài, giờ sang qua tới phổi, cuối cùng, tim phổi
được giải phẩu hai ba lần, thuốc uống cả chục thứ đủ loại mỗi ngày, trời còn
thương, những lần tái khám sau đó, bác sĩ cho biết bệnh không còn đáng ngại nữa,
ông xem ra khỏe và tươi tắn hơn trước.
Chừng nửa năm sau,
không biết ở đâu và làm thế nào, ông quen với cô Hiền, góa chồng, người gá
nghĩa vợ chồng với ông, cô có người con trai lớn, đã lập gia đình ở riêng, cô
còn đi làm ở một công ty bán sỉ quần áo, không giàu nhưng tạm dư giả, Đạm mừng
cho ông, ít ra cũng còn chút gì vui mà sống, ông không ở với cô mà vẫn ở nhà
mình, đi về hai ba ngày trong tuần. Chuyện ông với cô, Đạm chưa bao giờ nhắc tới,
coi như biết rồi, chỉ có một lần, trưa chủ nhật, trời mưa lớn, bây giờ là những
ngày lập đông, gió lạnh thật lạnh, loay hoay nấu mì ăn, Đạm vô ý hỏi sao ông
không về ở trên đó với cô Hương cho khỏe, ông cười lắc đầu “dù sao trên đó cũng là nhà của người ta, nhà
mình dù nghèo nhưng là của mình”.
*
Trời chớm thu, khắp
nghĩa trang, đường ngoài đường trong cây trở mình rụng lá, sáng chủ nhật, vắng
người, đâu đó đôi ba con bướm lẻ bạn, ngập ngừng vờn quanh mấy chiếc lá rụng sớm,
lả tả bay theo chiều gió hắt hiu, man mác lạnh, ngồi chờ người phụ trách việc
chăm sóc mộ phần như đã có hẹn từ tuần trước, sau khi có sự đồng ý của ông giám
đốc, Đạm đặt tấm hình chụp gia đình thiếu tá Huỳnh, tấm hình tìm ra được từ
trong xấp hồ sơ bệnh tình của ông mà anh còn giữ, trên tấm mộ bia, giữa khoảnh
cỏ, chết lặng. Phần giữa mộ được đào lên, trống một khoảng, cầm cái hủ đựng tro
cốt thiếu tá Huỳnh lên đưa cho Đạm, người làm của nghĩa trang đứng thụt lùi lại
phía sau chờ, Đạm xếp tấm hình bỏ vào, mân mê một hồi lâu rồi đặt xuống, người
làm của nghĩa trang từ nãy giờ lẳng lặng chờ, giờ cũng lẳng lặng lấp đất lại,
không nói tiếng nào, mặt buồn xo.
Một chút nắng rực
lên phía trên đồi, trời hâm hấp giữa trưa, người thăm mộ bắt đầu đông dần, có
tiếng ai đó đọc kinh lâm râm và tiếng ai đó khóc nho nhỏ ở mấy hàng mộ gần bên,
cắm bó hoa chi chít nhỏ vàng, không biết tên, mua từ sạp bán hoa ngoài cổng vào
bình, nước mắt chảy dài xuống mặt, Đạm nghèn nghẹn khóc theo “thôi em về, hẹn anh lần tới, em nói cho anh
nghe nhiều hơn, chuyện em chưa kịp nói về cái tên Nhã Quyên”.
Thuyên Huy
Mượn chút phần đời của một người có thật, tình tiết, bối cảnh và những
gì còn lại của chuyện được viết bằng tưởng tượng
Hệ Lụy - Âu Tím
Hệ Lụy
Thôi à nha, nói nhiêu đó đủ chưa? Mấy bà đừng lên mặt dậy dỗ
bạn bè chớ , sao thì cũng đồng tuổi đồng niên hơn gì nhau mà dậy với bảo , mấy
bà ham vui sớm con lớn , mấy bà mắt nhắm mắt mở xỏ áo cưới về làm vợ người ta
không hề đắn đo hơn thiệt, có gì hay mà khoe với khoang ? Có bà bị bắt lấy chồng
khóc chảy cả máu mắt bây giờ cũng lên mặt dậy tôi ? Ừ tôi khó tính , ừ tôi làm
tàng , ừ tôi “già kén kẹn hom” ừ các bà nói cái gì cũng đúng hết. Thật đúng hết...
Bàn tay ngón thuôn dài sơn đỏ, môi chúm chím làm duyên , ngón áp úp bà đeo cái
nhẫn lấp lánh , nói chuyện rổn rảng tay chỉ tứ tung , ông chồng ngoan ngoãn
nghe bà một phép. Con gái có bằng MS con trai làm công ty lớn , chúng sắp có vợ
có chồng, bà và ông tha hồ về hứ du lịch. Nghe chuyện bây giờ ai biết ngày xưa
có thời bà cùng tôi đi buôn chè, cafe' miền Đông? buôn gạo, thịt miền Tây kia
chứ . Ngày ấy bà lanh hơn tôi mánh lới hơn tôi. Đang mơn mởn phơi phới sinh
viên thành hai cô nàng buôn hàng chuyến, kể hết ra cũng đã ly kỳ tiểu thuyết.
Nhà bà ngay bến xe Pe'trus Ký nằm trên con đường Pe'trus Ký ngã bảy , một sớm một
chiều treo bảng LHP.
Cái bến xe này sao mà nhộn nhịp bán buôn. Bà cụ mẹ của ba, chỉ có cái tủ thuốc lá nhỏ nhưng là nơi mua bán lớn che mắt bọn kinh tế thị trường. Khách hàng của cụ là những ông bà đi từ Bắc vào Nam thăm họ hàng, những ông “vẹm” đóng bộ đồng phục nhăn nheo màu cứt ngựa, nồng nặc mùi mồ hôi trộn lẫn bụi đường khăm khắm , sau mấy ngày chen chúc trong chiếc xe đò mang tên Thống Nhất. Họ đem thuốc lá Sông Cầu, Tam Đảo vào Nam bán cho cụ sau khi xuống khỏi xe , và dặn cụ mua cho họ mì chính (bột ngọt) , phụ tùng xe đạp , vải vóc. Bà và tôi ngồi xem bà cụ buôn bán , thương trường lầm thầm, dấu diếm , kẻ mở túi xách tay nải giao hàng, người dúi vội nắm tiền vào tay kẻ bán, cả hai chẳng ngóù mặt nhau. Tôi có cái tủ bán trà đá, mía ghim bên cạnh bà cụ. Kinh tế cộng sản dậy cho dân Sài Gòn như tôi biết mua bó mía vài đồng từ chợ Cầu Oâng Lãnh mang về róc vỏ cắt khúc , sai cô em xếp hàng gần hai tiếng đồng hồ để mua đá cục ở Công Ty Rượu Bia về ướp mía cho lạnh, bán cho dân chúng chầu chực mua vé ở bến xe.
Mua vé xe đi đó đây năm 1976 vui không chịu được , xăng dầu chính phủ quản lý, lâu lâu có một chuyến xe được chạy , người dân tha hồ đợi phòng bán vé ra ơn mưa móc , lâu lâu hé cửa bán vài vé cho có gọi là , phần còn lại dành riêng cho người nhà, chợ đen chợ đỏ. Nhờ sự tân tiến vượt bực này mà có thêm một nghề nói ra tưởng bỡn “nghề bán chổ”. Nghề này không đòi hỏi gì trình độ học vấn hay kinh nghiệm, không xét lý lịch bản thân mà chỉ cần chút kiên nhẫn, lì lợm , dám cãi vã hay đánh lộn, gia đình càng đông càng tốt trong việc xếp hàng sẵn, giữ chỗ chờ phòng vé mở cửa, bán lại chỗ mình đứng, cho những người cần mua vé xe để đi. Giá chỗ đôi khi bằng một nửa giá vé? Xếp hàng đây là mang chiếu ra ngủ ngay tại quầy vé , ngày đêm người này ra, người nọ vào thay thế. Có những gia đình vợ chồng con cái nheo nhóc ra sống hẳn tại bến xe , vừa là không cần thuê chỗ ở (dân quê chạy lên SG) vừa khỏi cần có hộ khẩu phiền phức. Tôi biết có gia đình bỏ đi vượt biên không thành, trở về , nhà đã mất ra bến xe sống bằng nghề này cũng đủ kiếm tiền mua gạo nuôi nhau.
Từ bến xe này tôi và bà theo nhau đi buôn. Cafe' , trà mộc, đem từ Bảo-Lộc về được đến bến xe này (bến xe LHP ) là sống vui cả tháng. Nghe thì dễ thế đấy nhưng bước chân vào mới biết kiếm được một vốn bốn lời cũng phải đổ máu mắt sôi mồ hôi.
Bà kết ngay với anh chàng con bà chủ xe , anh chàng nhờ phước nhà giầu trốn lính , không dính nợ máu nhân dân mà thảnh thơi theo xe thu tiền , dấu hàng buôn lậu. Bà liếc mắt, bà đẩy bà đưa , bà chanh bà cốm , một bà nhờ, hai bà nhờ cứ anh anh em em ngọt hơn đường cát, mát hơn đường phèn nên anh chàng nhét hàng cafe' vào giữa bao than dấu cho bà , anh chàng cho trà vào thùng đựng nước hai đáy dấu cho bà , đến trạm anh chàng thuê người tại địa phương vác hàng của bà vòng vèo vượt trạm.
Tình của bà là mối tình buôn lậu, bán chui thế mà cũng thành đôi thành cặp , khăng khít keo sơn. Làm sao bà biết song song với mối tình của bà là mối chân tình tôi dành cho anh chàng xe đạp thồ đen đúa , được mướn thồ hàng vượt trạm. Nếu không có anh chàng xe thồ chắc gì toàn bộ hàng buôn lậu của tôi với bà đến bến bình an , bà đâu để ý, chỉ biết quăng mớ giấy bạc bảo tôi đưa cho anh ấy. Anh ấy có ánh mắt sáng quắt hào quang dù khuôn mặt gầy gò , đen đúa. Chiếc nón rơm che gần hết khuôn mặt mà tôi vẫn thấy chiếc mụn ruồi ngay góc cằm mạnh mẽ.
Tôi thì còn nhớ, (nhưng chắc bà chẳng hề nhớ gì), đến cái trạm khét tiếng kinh hoàng đối với dân buôn hàng chuyến miền Đông. Trạm Phương Lâm-Định Quán. Nếu chủ xe không biết quà cáp tí đỉnh như cây thuốc 3 con 5 hay Pallmal , hay chai rượu tây bán theo tiêu chuẩn ngoại giao từ khách sạn Palace Đà-lạt, hay cả xấp tiền gần 4 lần lương chính thức do nhà nước trả , thì toàn xe bị xổ thốc tháo , từng chiếc nệm ghế hành khách bị tháo tung, gói lớn gói bé bị xâm rách toạc , nào đậu nào mè tuôn thốc tháo vô tội vạ , chưa kể xe bị giữ lại qua đêm, để uỷ ban nhân dân làm việc.
Vì một lần bị giữ lại ấy tôi biết anh chàng xe thồ là ai. Anh là chiến sĩ Cộng Hoà không chịu trình diện kẻ thù, lén lút sống chui nhủi , ngày vào sâu trong rừng đốt than cho bà chị dâu có sạp hàng ngay chợ xép Phương Lâm , kiếm thêm tiền bằng cách chuyển hàng lậu băng đường đất, vòng qua lưng trạm gác của bọn kiểm soát kinh tế thị trường huyện , ngồi đợi xe được phép qua trạm giao trả lại. Tiền kiếm được anh giúp nhóm bạn cùng chí hướng. Tôi chỉ biết thế là đủ cho lòng tôi không sao mở rộng khi bà làm mai ông tài kia thằng lơ nọ cho tôi. Bà mắng tôi dại , ừ thì tôi dại , tâm tình tôi dành cho người không tiền không thế nhưng bà biết đâu tôi nể tôi kính vì họ còn hun đúc lý tưởng ngày xưa.
Khuôn mặt bà vẫn đẹp như sáp , đường nét thật rõ ràng , gặp lại bà tôi nhớ biết bao điều. Bà cũng trách cứ tôi sao không chịu lấy chồng? Năm 75 xong , hai đứa mình loanh quanh như hai con kiến bò vòng vòng miệng chén. Những buổi chiều lang thang Tự Do Nguyễn Huệ nhìn đổi thay , nhìn nhốn nháo mà buồn. Ngày bà lấy chồng vội vã , vì gia đình bà sợ con gái phải lấy “thương binh Bắc quân”, cả đám bạn trong đó có tôi ra đứng xếp hàng mua bánh tại quầy cafe' khách sạn Continental một đứa được mua 5 cái bánh sữa... 10 đứa được 50 cái , nâng niu sợ cái hoa tigon tí ti trên ngọn bánh bị hư khi về đến nhà.
Ngày cưới bà, tôi vẫn còn đơm nốt hạt khuy lên chiếc áo màu hồng kim tuyến và nhìn bà khóc. Tôi biết bà chưa biết yêu , chẳng một lần hò hẹn , trái tim bà trong suốt thuỷ tinh. Bà khóc ! có lẽ bà tiếc cuộc chơi đang còn dang dở hay lo sợ ngày trước mặt bỗng ràng buộc với một người mà tôi biết bà chẳng chút tơ vương. Nếu không bất ngờ đến thăm tôi vẫn nghĩ bà hạnh phúc. Hình ảnh hai mẹ con ôm nhau khóc , đứa bé dễ thương 5 tháng tuổi , chuyện gì? Thế là tôi biết chuyện, anh công tử chồng bà vướng vất với ma tuý , biết ra thì chuyện đã rồi, hởi ơi.
Tôi theo bà từng bước đoạn trường , những giọt nước mắt tủi thân không biết trách móc ai , nghẹn ngào không tìm nơi khơi chảy ngọn nguồn. Trường phục hồi nhân phẩm Bình Triệu kề bên nhà thờ ngày xưa hai đứa hay đến cầu xin, khi ấy rủ bà vào , bà báng bổ không còn tin gì nữa cả. Đôi mắt to ươn ướt vận vào đời bà đó sao? Rồi gia đình anh ấy cho anh ấy vượt biển , bà ở lại cùng con , đời bà bôn ba biển sóng , có chồng rồi lại như chưa , thà chẳng có chồng cho xong bà nhỉ. Thời gian ấy anh chàng anh họ của bà theo tôi như đỉa , anh chàng từ Hà Nội vào , bà biết nhưng giữ khẩu như bình không tán ra tán vào gì cả , hai đứa mình nhờ anh ta mà được làm thư ký, thủ khọ Không đục khoét thì giám đốc công ty đuổi cổ, đục khoét theo ý họ thì chẳng biết khi nào lưỡi dao tế thần buông xuống. Cũng đành nhắm mắt đưa chân. Từng xe ba bánh chở sắt được tôi giao cho con buôn , bà ký giấy xuất kho , tiền ăn cắp chia tam chia tứ đủ cho bà nuôi con, tôi phụ đỡ gia đình.
Tôi nhớ mãi một lần hai đứa xanh mặt vì đám kinh tế thị trường bắt được xe thép không về công ty liên hệ mà vào căn nhà lụp xụp trong khu xóm Thiết , cơ sở sản xuất hàng gia dụng. May là cấp trên sợ động rừng can thiệp kịp thời. Hai đứa xin chuyển sang khâu khác , không muốn bị đi tù lãng nhách lãng nhơ.
Bây giờ con bà đã lớn , bà vẫn xinh , người chồng thứ hai yêu bà tha thiết , bà quên nỗi nhục nhằn chồng con nheo nhóc quay lại trách cứ tôi không chịu lấy chồng. Bà trách tôi không chịu đại ông anh con chú con bác của bà ngày xựa Bà mà hay, tôi cũng đã có lần ráng bảo con tim ngu ngốc của mình yêu đại ông ấy cho xong mà nó nhất định không yêu là không yêu. Đi uống cafe anh chàng hút thuốc như ống khói phà , xúc miệng bằng nước trà xùng xục , đi ăn tối anh chàng xỉa răng xoèn xoẹt , dĩa thức ăn chàng vét cho đến giọt nước cuối cùng , tưởng tượng mỗi ngày vào ra đụng nhau như thế tôi thà chết già không chồng hơn là có ông chồng như thế.
Bà vẫn ồn ào như bao giờ , ồn ào chê bai , ồn ào khen nức nở ngay cả khi than phiền về ông chồng người Việt gốc Hoa của bà. Tôi cứ ngóng đợi xem khi nào bà kể cho nghe về niềm hạnh phúc được chồng che chở , thương yêu lo toan sau trước. Bà không nhớ những đoạn đường khốn khổ ngày xưa tìm cách vượt biên sao? Có giấy tờ chứng minh người Việt gốc Hoa được đóng tiền đi bán chính thức. Anh chàng nhà có tiệm thuốc bắc , bà và tôi đến mua trần bì , xí muội từ ngày nảo ngày nào , ai ngờ anh chàng âm thầm mang bóng hình bà để vào tim thờ phượng.
Đám cưới của bà tưng bừng tại Soái Kình Lâm cho kịp chuyến tàu thứ 4 vàng đã đóng đủ 16 cây. Bà hí hửng nôn nao sắp được sang thế giới tự do quên mất giọng nói lơ lớ , quên mất anh ấy không thơ văn thi phú lãng mạn , quên luôn anh không cùng sở thích với bà. Bà mê nhạc Phạm Duy, giọng ca Duy Trác , anh lại mê Lam Phương, Chế Linh, Duy Khánh. Bà khoái đọc thơ đọc truyện, anh chẳng biết câu lục câu thất thế nào. Bà muốn nghe lời tình tứ , anh nói ra dùi đục mắm nệm Tôi biết rõ ràng ông Tơ bà Nguyệt se duyên lộm cộm cho bà , nhưng bà ơi trên đời có điều gì toàn vẹn , quí nhau chăng là ở cái tình. Tôi người ngoài mà thương chồng bà quá đỗi , một đời dành cho bà như nô lệ , bà sung sướng không hay , mãi lo chì chiết hối tiếc sao chồng bà không là nhà thơ , nhà văn , nhạc sĩ , mở miệng ra tuôn thơ tuôn nhạc nhẹ nhàng ru hồn thiên hạ? Sao chồng bà không là ông sĩ quan ngày xưa để bà có chút tiếng tăm nghe người ta xưng tụng? Sao chồng bà không chải chuốt mượt mà để bà hân hoan mang đi khoe cùng thiên hạ. Đi với chồng bà né tránh âu yếm , bà bỏ anh ấy một mình đi tìm người cùng sở thích để đấu hót tưng bừng , thế mà bà vẫn bảo tôi sao không nhận lời làm vợ ông anh đã goá vơ của chồng của bà để một bước biến thành bà đại phú gia?
Cứ mỗi lần tụ họp trong căn phòng nhỏ nhà tôi , các bà lại lôi tôi ra làm đề tài khuyên nhủ sau khi đã kể lể đủ điều về chồng về con. Mười điều tôi nghe thì chín điều là không hài lòng không hợp ý. Tôi tự hỏi :” thế thì người ta lấy nhau làm gì? Đời sống hôn nhân có để làm gì?”
Các bà muốn tôi chấm dứt cuộc đời độc thân , chí ít, tôi phải thấy điều vui vẻ hạnh phúc đủ lôi cuốn tôi ra khỏi chiếc vỏ sò bao bọc tôi bấy lâu nay chứ. Các bà lọt vào 72 phần trăm phụ nữ may mắn có chồng hẳn hoi sau biến cố lịch sử Việt Nam năm 1975 mà không hay , đáng lẽ các bà phải ăn mừng mỗi năm vào ngày lên xe hoa cho dù không thật sự hài lòng hợp ý. Các bà tính đi , sau biến cố ấy , các anh chiến sĩ VNCH đẹp trai oai hùng lẫm liệt , lớp chết , lớp đi tù, lớp vượt thoát , ngay cả các anh bàn giấy nho nhã thư sinh cũng đi tù đi vượt , thì còn ai cho tôi lựa, còn ai cho tôi gởi tấm lụa đào. Càng ngày tôi càng tìm ra bao nhiêu người lâm vào tình cảnh cô độc như tôi , dở dang như tôi. Hơn bốn mươi tuổi đầu, nét thanh xuân còn đâu mà nhí nhảnh đong đưa, chưa kể tâm hồn khô cạn bao nhiêu lãng mạn tình tứ thuở nào biến thành lãng nhách thảm thương. Các anh bằng tuổi ngang tầm thê tử hẳn hoi , anh nào còn độc thân cũng như tôi gàn dở , một mình bấy lâu quen rồi có người xía vào đời mình liệu chịu nổi hay không? Các anh goá vợ hay giữa đường đứt gánh , liệu tôi đủ bản lãnh không ghen tương , không cho vài khúc xương vào khuôn bánh đúc? Càng nghĩ càng bế tắc chưa kể già rồi , vác thêm ông già về mà hầu à , nhất là ông già VN , trong máu vẫn luân lứ con vi trùng gia trưởng.
Có nhiều đêm dật dờ cùng cơn lạnh một mình, tôi cũng mơ vòng tay tri âm tri kỷ , vùi đầu vào sách đọc cho mê mẩn vẫn chẳng dỗ được cơn buồn.
Ngày đi ngày qua, vòng bánh xe đời đưa tôi dần về mức đến, tôi mơ màng thèm chiếc áo cưới, thèm chiếc voan che mặt , thèm nụ hôn , thèm lời an ủi vỗ về ngay cả thèm cơn giận để to tiếng cãi vã nhau , thèm nghe tiếng con nít khóc , thèm nghe tiếng nói bi bô , nỗi thèm muốn phụ nữ , nếu không có nỗi niềm này tôi đảø chẳng thuận tình cho các bà dùng nhà tôi làm nơi hội họp , nơi tuôn ra hết những uẩn ức tâm hồn cho cân bằng nỗi cô độc của tôi. Khi các bà ai về nhà nấy, chén đĩa ngổn ngang, hơi nước hoa còn thoang thoảng là khi tôi thắp cho tôi điếu thuốc. Tôi không nghiền hút thuốc mà thèm hơi hướm của người đàn ông trong căn nhà quạnh quẹ Các bà thì đang cấm cửa các ông không được hút thuốc trong nhà.
Tôi nhớ những mảnh tình con trong đời , những mảnh tình chưa đủ lớn để thành chồng vợ , những mảnh tình chết non vì thế sự đổi dời , những mảnh tình nuôi tâm hồn tôi trong đơn lạnh. Trên góc bàn thờ xinh xinh tôi thờ người tình chết trẻ ngày cuối cuộc chiến , những tờ thơ từ KBC thay hình người đã khuất , tôi ky cóp giữ gìn dù bao lần thân tôi suýt mất khi đi vượt biên đường bộ sang ngã Cam Bốt , bị bắt bỏ tù rồi bị trả lại Việt Nam. Tôi cũng thờ viên đá cuội cho người tình cùng trên đường vượt biên bằng đường thuỷ, bị công an rượt theo bắn chết ngay trước mắt tôi. Hai người được tôi tôn lên hàng người tình cho đậm đà đời sống chả dại gì tôi kể cho các bà nghe , tôi lại được thêm tính sát “người tình”. Còn thêm vài anh chàng ngày xưa theo đuổi tôi thời còn đi học, tôi cũng cứ cho là vài mảnh tình cũ , vô tình gặp lại quả thật hỡi ôi , họ gặp lại tôi chắc cũng dấu đi tiếng tắc lưỡi tội nghiệp cho thời gian tàn phá. Người đã có vợ , kẻ đang chăm sóc con vì cô vợ ngoại quốc không hiểu hết được tính chồng , có người tôi vờ chối đây đẩy là chưa từng quen biết cho đỡ tủi thân nhau.
Cứ tìm cách vượt biên , dám nào cho thuyền cập bến , đất đảo trời nghiêng dám nào nghĩ chuyện nợ duyên , thà ngây thơ hẳn cho mẹ cha định đoạt , thà khờ khạo hẳn để chẳng tính thiệt hơn , đàng này tôi sợ tôi lo , tôi không đủ can đảm “lấy đaị” cho xong. Ngay bây giờ đã đạt được điều mình tìm kiếm , đã đến được thế giới tự do nhìn ngang nhìn dọc bến nào tương đối ngang ngửa với mình thì đã có thuyền chiếm chỗ, bến ấm a ấm ớ nhiều vô kể , lại không đủ dại đậu vào. Có nhiều bến , thuyền đã bỏ đi , tôi vẫn không đủ can đảm tấp vào sợ trong sợ đục. Lấy chồng ngoại quốc? Cũng có lúc loáng thoáng trong đầu , nhưng , lại nhưng với nhị , khi cãi nhau làm sao họ hiểu câu chì câu chiết láng lẫy của tôi?
Tôi vẫn nhận những lá thơ từ các bạn khác còn đang ở VN , những người bạn đã đợi chờ hơn 11 năm để được đoàn tụ cùng gia đình , do anh chị em đang bảo lãnh. Những người bạn như tôi lủi thủi một mình một bóng , sợ vương vấn ái tình không nỡ kẻ ở người đi. Cứ đợi cứ chờ mỏi mòn sầu héo , ai tính cho tôi con tính đơn giản , 20 tuổi năm 1975... Trời ơi sang được đến đây đã gần nửa đời , còn gì hương , còn gì ngọc?
Tôi muốn nói cho các bà nghe hết những điều tôi dấu diếm tận đáy tâm tư , chỉ mong các bà hiểu các bà đang sung sướng mà không hay , đứng núi này còn trông núi nọ , cỏ nhà hàng xóm lúc nào lại chẳng mướt xanh. Sợ chạm tự ái làm các bà buồn , không thèm đến mắng nhiếc tôi nữa. Bao lần tôi nằm mơ , nghe các bà kể cho tôi nghe, chuyện đầu gối tay ấp , chuyện ngọt ngào yêu thương , chuyện êm đềm chia xẻ. Gặp được nhau rồi , toàn nghe ác mộng giữa ban ngày.
Hai mươi bẩy năm qua rồi ai cũng nhớ , cũng bàn luận về sự được thua , nhưng tôi chưa nghe ai nhắc đến thân phận phụ nữ lỡ thời, những người phụ nữ lỡ thời như tôi, những hệ luỵ sau chiến tranh bao giờ mới hết , chả lẽ các ông giơ vai ra gánh thêm nửa bà nữa làm phúc? Liệu các bà có đồng ý không? hay khi ấy chợt thấy cây củi tầm thường biến thành cây quế , cây trầm?
Saturday, April 18, 2026
Qua Cầu Sông Ba - Nguyễn Cang
QUA CẦU SÔNG BA* / CN
(Cảm tác bài Qua Cầu Ba Ngòi của TLT)
Lệnh hành quân
chẳng cho ai biết
Giờ rút lui gần giữa tháng ba
Dân với lính ùn ùn tháo chạy
Sao đành lòng bỏ lại quê cha?!
Tới Ba Ngòi mặt trời chưa tắt
Lính với dân chen chúc giữa cầu
Tiếng khóc la nghe chừng tuyệt vọng
Bên rừng già dội tiếng binh đao
Chiều nắng hạ nghe lòng bứt rứt
Giờ qua đây kẹt cứng xe hơi
Chất cao ngất những đồ trang bị
Phút tử sinh giao phó mệnh Trời
Ngồi bên đường đứa bé mười tuổi
Lạc mẹ cha ầm ỉ khóc hoài
Tội nghiệp quá làm sao cứu được?
Bước đi rồi mắt vẫn còn cay!
Xe đậu cách cầu chừng chục thước
Lính đi tìm nước, nấu cơm chiều
Trong đêm tối lập lòe tia lữa
Tạm lót lòng qua bữa bấy nhiêu...
Trời chưa sáng, súng ầm ầm nổ
Đạn lửa bay ngang, thấy hết hồn
Phi đội F5 oanh kích địch
Vội vàng bay mất khỏi tiền đồn!
Mười năm chinh chiến chưa hề chạy
Sao đến bây giờ lại tả tơi?
Thất thế sa cơ đành thảm bại
Tìm đâu sinh lộ hỡi ông Trời!
Bỗng tin sét đánh, cầu vừa sập
Giặc chận bên kia hết nẽo về
Lùi lại chẳng xong thôi cứ mặc
Tủi thân cay đắng hận đời ghê!
Nuốt vội chén cơm chưa kịp chín
Thầy trò mê sảng, nắng buông lơi
Dật dờ chợp mắt trời chưa tối
Nghe thấy oan hồn gọi tới chơi!...
Nhìn lại Nha Trang thành phố biển
Giờ nầy chắc giặc đã vào trong
Hoãng hồn chạy trốn dân cùng lính
Dáo dác trên bờ ngập bến sông...
Người xe mỗi lúc càng đông nghẹt
Sương lạnh chiều hoang bóng đỗ dài
Người vẫn cứ đi lê lết mỏi
Đường dài hun hút hết tương lai!
Nguyễn Cang/
Tháng Tư 2017
Sông Ba*: nồi
liền quốc lộ 7B với Tuy Hòa. Năm 1975, quân của tướng Phú ở vùng II rút
qua cầu nầy bị địch chận đánh gây thiệt hại nặng dẫn tới mất miền Nam .
Huế Xưa Xa Rồi - Nguyễn Cang
HUẾ XƯA XA RỒI
Huế đã xa rồi, xa thật
xa
Huế mang tâm sự tháng
ngày qua
Huế không chia cắt mà
ly biệt
Huế mãi trong tôi những
thiết tha
Ai ra xứ Huế cho tôi
nhắn
Gởi chút tình thương
thật đậm đà
Núi Ngự bây chừ còn đứng
đợi
Sông Hương còn chở
khách đi qua?
Tôi nhớ xứ Đoài mây
trắng phủ
Hồi chuông Thiên Mụ
giục hồn ta
Hoàng Thành man mác sầu
nhân thế
Cung điện triều xưa tấu
khúc ca
Tôi có người em Thành
Nội Huế
Của kinh đô chính điện
Hoàng Cung
Của Vương Đình một thời
quyền lực
Điện ngọc nay hưng phế
khốn cùng
Huế xưa ơi chẳng biết
bây chừ
Sóng vỗ lắt lư bên mạn
thuyền
Cất giọng hò lơ đò chở
khách
Nữ sinh Đồng Khánh nụ
cười duyên?
Ta đã xa rồi Huế mộng
mơ
Đâu còn vọng tiếng
chuông chùa xa
Bỗng nghe se thắt trời
hiu quạnh
Mưa rớt vô tình giọt
thiết tha
Đã xa rồi đất mẹ Thần
Kinh
Vỹ Dạ em thơ áo trắng
tinh
Một thoáng mơ về hình
bóng cũ
Nghe hương xưa sóng vỗ
quanh mình
Tôi nhớ Mậu Thân Huế hãi
hùng
Kinh Thành khói lửa
Huế lầm than
Chiến tranh tàn phá
gây tang tóc
Thương xót vô vàn những
mộ hoang
Bây chừ thăm lại Huế
ngày xưa
Hồn Huế còn đâu, khuất
bóng mờ
Đâu tiếng cười vui
chung nhịp bước
Trường Tiền ngơ ngác
lạnh bơ vơ!
Huế ơi, ta vẫn nhớ
muôn đời
Để nghe hiu hắt giữa
trùng khơi
Để nghe ray rứt bờ
môi lạnh
Khắc khoải trong lòng
Huế của tôi !
Nguyễn Cang ( Mar 9,
2023)
