Thursday, July 16, 2026

Bởi Vì Thương - Vườn Thơ Mới Xướng Họa

THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 192_VƯỜN THƠ MỚI



 















Xướng:


Bởi Vì Thương

Họ yêu nhau như tuổi còn thơ dại
Trên đường đời nhiều trở ngại gian lao
Như mùa xuân với vạn đóa hoa đào
Dòng Potomac ngày nao lỗi hẹn

Thì thôi có mấy ai được tròn vẹn
Ở nơi đây mà chẳng thẹn với lòng
Dẫu gì rồi cũng có lần sang sông
Sóng cứ vỗ nhưng lòng ta tĩnh lặng

Bởi vì thương nên nghĩa tình sâu nặng
Trót đã rồi nên quặng thắt lòng đau
Dù thời gian có đổi sắc phai màu
Trong tâm khảm luôn in hình bóng cũ

Trần gian vạn người mấy ai có đủ
Nên dặn lòng ru ngủ giấc mơ hoa
Dù ở nơi đâu cũng vẫn là nhà
Bằng lòng hiện tại cho đời thanh thản

Hương Lệ Oanh VA

 

Họa 1:

 

Từ giã

Tuổi đã lớn trãi qua thời khờ dại

Hiểu tấm lòng sư đệ với công lao
Có ngờ đâu cảnh sóng dậy ba đào
Phải từ giã sân trường đành thất hẹn

Không còn nghiệp có chi đâu trọn vẹn

Buộc ra đi với uất ức trong lòng 

Như lái đò đưa khách chửa qua sông
Dưới ánh sáng trăng mờ trong im lặng

Nay vĩnh biệt ngành nghề tình sâu nặng
Xa lớp trường với những nổi xót đau
Dẫu biết rằng cuộc sống mới thay màu
Tâm tư vẫn hướng về nơi chốn cũ

 

Nơi đất khách cuộc đời tuy đầy đủ
Không mơ gì đến cuộc sống xa hoa
Cuối tháng tư lại nhớ đến quê nhà

Với tâm khảm chia lìa sao bình thản


PTL

Họa 2:

Duyên lầm

Làm sao biết ai khôn và ai dại
Chớ tưởng rằng đương sự ngại gian lao
Không quan tâm, không tích cực bôn đào
Nào đâu biết hắn nôn nao đến hẹn


Luôn ấp ũ một tình yêu trọn vẹn
Mãi có nhau để chẳng thẹn với lòng
Lời nguyện thề chứng giám bởi dòng sông
Hắn tin tưởng với lòng thành tĩnh lặng

Có đâu biết đã sai lầm quá nặng
Vỡ mộng, sầu đời quặng thẳt lòng đau
Than trách sao tranh đẹp chóng phai màu
Mong tái tạo thời gian hình ảnh cũ

Đến phút cuối niềm tin còn tạm đủ
Cho tuổi già giấc ngủ vẫn nở hoa
Dù đôi chim không ở một mái nhà
Vẫn vui vẻ, sống tà tà bình thản

THT


Họa 3:

Bâng khuâng tuổi hạc

 

Chiều hiu hắt trên đồi hoa cỏ dại,

Thời gian trôi vun vút tựa tên lao

Mới xuân tươi rạng rỡ những mai đào

Nay thu muộn gió sương dường có hẹn.

 

Tóc dẫu bạc, tình xưa mong giữ vẹn.

Buổi hoàng hôn cách mặt chẳng xa lòng

Dòng đời đưa thuyền lay lắt trên sông

Mặc trong đục, cầu gió yên sóng lặng

 

Theo con nước, đôi tay chèo thấm nặng

Sóng xô thuyền chân mỏi lại lưng đau

Mây che trời nắng cũng đã nhạt màu

Lòng lưu luyến ngẵng trông bờ bến cũ

 

Bao cay đắng ngọt bùi đời nếm đủ

Giờ lại thêm da dẻ trổ đầy hoa

Mộng du sơn ngoạn thủy nước non nhà

Cưỡi hoàng hạc tìm cội nguồn thanh thản...

 

Minh Tâm

 

Họa 4:

 

Tình tuổi mộng


Thủa còn trẻ mấy ai khôn ai dại

Đã yêu rồi ai tính toán công lao

Bao khó khăn chẳng nản cứ bôn đào

Dẫu mưa nắng không một lần trể hẹn

 

Sống chân chất tình nồng luôn giữ vẹn

Dẫu đi đâu vẫn thể hiện một lòng

Không ngờ ngày phải giã biệt núi sông

Hai đứa ở hai nơi cùng chết lặng

 

Xa cách vẫn tình sâu dày nghĩa nặng

Vẫn chung trời dằng dặc một niềm đau

Dẫu chốn xưa điểm hẹn có thay màu

Tình tuổi mộng vẫn in hình dáng cũ

 

Dẫu thương nhớ không làm sao đắp đủ

Sóng bạc đầu sông núi ngát hương hoa

Mây chiều loang hay khói tỏa quê nhà

Khắc khoải vẫn…Biết bao giờ thanh thản


Tâm Quã
Jul 02, 2026

 

 

Wednesday, July 15, 2026

Bến Sông Chiều Ngựa Về - Thuyên Huy

 Bến Sông Chiều Ngựa Về




Hai Nấm Mồ - Thuyên Huy

 

Hai Nấm Mồ




    Rồi anh cũng về, làng nghèo vẫn nghèo như ngày đó, ruộng mùa này đồng hoang trơ trơ gốc rạ. Đứng trước mồ, nhìn ra con đường đất màu bùn, còn in dấu chân trâu loang lở, đã có chút nắng bên kia sông, con sông chưa một lần mưa cuồng sóng lũ, rựng lên, nhưng sương tàn đêm chưa chịu tan vội, trời vẫn còn mù mờ, chập chờn sáng, lác đác mấy cái nhà mái tranh mái lá trên đồng, đèn dầu chưa tắt, vẫn cảnh cũ như xưa.

    Hàng Sim dọc theo đường, chạy dài bên bờ đê ruộng mùa này hoa nở muộn, muộn như ngày chị của anh, cũng con đường này ra bến đò theo chồng về làm dâu xứ xa, bỏ lại anh với ngoại, hôm tiễn chị đi, chị vui hay không thì anh không biết nhưng chị cũng như ngoại đều khóc.

*

    Nhà nghèo, gạo đong gạo đếm, ba má mất sớm, tai sao và mất bao giờ, hai chị em không nhớ rõ, ngoại cũng không nhắc tới, hai chị em sống với ngoại, miếng cơm miếng cháo bằng số tiền phụ ngoại bắt ốc hái rau, bưng bán ngoài chợ xã, ba bà cháu chắt chiu bên nhau, trong cái nhà mái tranh vách đất trên miếng đất gò cuối ấp trong, ngó ra cái vàm lớn xa. Vậy đó, ngoại cũng ráng dẩn hai chị em đi học trường làng, trên con đường đất xa, cách nhà chừng nửa tiếng đi bộ, ba bà cháu vui với phận mình, chị em lớn lên từ những ngày tháng cơm đong gạo đếm đó.

*

    Anh lớn lên rồi cũng như chị, bỏ ngoại đi, lây lất đời tha hương xứ người vì trót mang nợ đời cơm áo, ngoại ở lại một mình, bóng già thui thủi, mắt già trông mong, từ ngày theo chồng, không biết chị có vui không, có “chiều chiều ra đứng ngõ sau, ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều” không, anh không biết, ngoại cũng như anh, chị ít khi về, dong ruỗi mọi nẻo đường đời anh cũng chưa có lần nào tới xứ xa thăm chị, anh có về nhà đôi ba lần rồi thôi, người trong ấp, trong làng, xầm xì chê trách, cho là hai chị em không tròn hiếu đạo.

*

    Ngoại mất hôm anh về, sau Tết năm nào đó, lần này anh ở lại với ngoại cũng lâu hơn, hai bà cháu hủ hỉ, chuyện này chuyện kia, chuyện đời chuyện cơm áo công hầu, cũng cơm cá rô kho mặn, rau mùng tơi luộc như những ngày xưa còn nhỏ, ngoại vui không biết làm sao mà nói, vậy mà ngoại mất, tuổi già bình thản, sau một đêm mưa lất phất về ngang từ ngoài Vàm lớn, anh khóc sướt mướt, buổi sáng hôm đó trời âm mu chắc cũng buồn cho kiếp người của ngoại.

     Đám tang ngoại, chị không về, mồ ngoại chôn ở gò đất cao khoảnh vườn chuối, không xa con rạch nhỏ chạy ra vàm lớn, căn nhà trống trơn, đám tang không mấy ai, năm sáu người nhà kế bên, cũng nghèo như ngoại, nói kế bên, nhưng cách nhau một cũng khoảng vài bờ đê ruộng, những gì của ngoại, mà ngoại có gì đâu, mấy bộ quần áo bạc màu nâu, cái lược cũ mèm ngoại chảy tóc già bạc như sương, hai ba cái khăn rằn thưa chấp vá, vậy thôi, anh đã không quên gởi chôn theo, trong đó có cuốn tập, năm anh học lớp nhất trường làng, được cô giáo cho bài viết “tả ngoại em” của anh mười điểm, để ngoại vui dưới đó. Ngoại ở lại, nằm đó một mình.

*

    Kiếp đời cứ theo mình, sau mâm cơm cúng, anh lạy ngoại, anh lại ra đi, đi miệt mài, đi biền biệt, anh không biết chị có về lại nhà xưa đó lần nào không. Cũng còn may, còn được người thương tình, anh gởi lại nhà, cái nhà cột xiêu vách ngã, không ai thèm ngó tới, và hết một số tiền dư trong những tháng năm tha phương kiếm được, cho gia đình chú thiếm Dần, hai vợ chồng làm ruộng quanh năm, căn nhà tranh gần nhất, trông nom và lo săn sóc nhang đèn giùm, anh nhất định sẽ về nhưng không dám chắc là khi nào.

*

    Bây giờ, bốn năm năm về lại nhà xưa, gò đất cao sau nhà giờ có thêm cái mồ nằm bên cạnh mồ ngoại, mộ chị đó, rồi cuối cùng thì chị cũng về, không biết chị về bao lâu rồi, tại sao chị về, dù cho thế nào đi nửa thì chị cũng đã hết đi.

*

    Anh quàng túi xách vải bạc màu lên vai, trời sáng hẳn từ lâu, phía bến đò cuối đường đã có tiếng người gọi nhau ơi ới, đứng chấp tay lạy tạ mấy lần trước mồ ngoại và chị, thêm một lần anh bỏ ngoại đi và lần này chị ở lại.

    Bước ra đường, anh bật khóc.

Thuyên Huy

Viết lại từ một câu chuyện cũ thật cũ – thu 2026

Tiếng Rơi - Nguyễn Văn Bảo (con cò)

 Tiếng rơi!













Trong không rơi khúc lá khô
Tiếng rơi khắc khổ cơ hồ không tên
Thềm hoa rơi giọt sương đêm
Tiếng rơi sướt mướt vươn lên mái lầu
Trời trong rơi lẹ hạt sao
Tiếng rơi lặng lẽ tan vào hư không
Trái sầu rơi ngập cõi lòng
Tiếng rơi hiu hắt hằn trong  phận  người
Trăng ngà rơi ngát cõi đời
Tiếng rơi thanh thoát thành lời thiên thu.

Nguyễn Văn Bảo ( Con Cò)

 

Dưới Làn Sóng - Hoàng Đạo

Dưới Làn Sóng




 

Đã mươi hôm, mưa tầm tã. Mực nước lên cao dần. Trống hộ đê đánh liên thanh không dứt. Tiếng trống đều đều gợi trong linh hồn dân quê những nỗi hãi hùng man mác, nghe buồn thảm như tiếng trống ngũ liên một đêm tối trời. Dân phu từng đám trên đê, đắp cừ, đan tre trong không khí yên lặng ghê sợ. Mấy ông kỳ mục, quần ống cao ống thấp, ngồi xổm dưới túp lều trống gió, vẻ mặt bơ phờ nhìn theo chiếc xe “quan” đi về phía huyện lỵ. Chiếc xe tay khấp khểnh nhọc mệt lăn trên con đường gồ ghề; một chú lính lệ tay xách chiếc điếu ống chạy theo sau.
Trong một đám dân phu, Mịch đang nai lưng làm việc. Anh vác từng thúng đất đào ở một thửa ruộng gần đấy đem lên mặt đê để đắp cừ. Thỉnh thoảng, mệt, anh đứng lại thở, nhìn ra mặt sông, lắc đầu lo ngại. Sông đỏ mênh mông, chảy từ từ như một huyết quản khổng lồ của một con quái vật nào. Mịch đưa mắt theo những đám bọt vẩn, những thanh củi lạc từ từ trôi về miền hạ du, mơ màng nghĩ đến cảnh rừng thẳm âm u là nơi mưa lũ đuổi những lá, những cành các thứ cây lạ trôi về. Cảm giác ấy thoáng qua trong óc Mịch như một tia chớp rồi Mịch lại quay trở lại với công việc. Mịch hì hục vác, nhanh nhẹn, nhịp nhàng, không hề nghĩ đến cái cớ bắt Mịch ra đây làm việc công.

*

Trưa hôm ấy, trời hửng nắng. Mọi người trông nhau, tươi tỉnh hẳn lại. Mịch vui vẻ ngồi ăn bữa cơm trưa. Anh đói nên ăn rất ngon miệng. Vài bát cơm khoai, mấy con cá kho muối, anh thấy hương vị đậm đà, nên lúc giỏ cơm đã hết, anh chép miệng nói một mình:
– Giá có cơm nữa mà ăn nhỉ!
Bỗng Mịch nghĩ đến gia đình. Anh băn khoăn tự hỏi:
– Chẳng biết hôm nay mẹ cái ốc có mò được con cua nào không? Rõ khổ… Mình ở đây còn có cơm ăn, chứ mẹ con nó biết nuôi nhau bằng cái gì?
Mịch thở dài nghĩ đến cảnh nhà bần bách. Có vài sào ruộng công để cày cấy thì đã đem cầm cố đi cả; anh chỉ còn nghề làm mướn để sinh nhai. Nhưng anh không bao giờ bận lòng oán thán, vì yên chí rằng ở trên đời, sự khổ sở, cơ cực là phận của anh, còn sung sướng, thong thả là phận của người khác.

*

Chiều đến, công việc hộ đê có vẻ uể oải. Mấy ông kỳ mục, được hôm tạnh ráo, ngồi đánh tổ tôm với nhau trong điếm. Dân phu thì tụm năm túm ba ngồi trên bờ đê than thở.
– Nước năm nay to y như năm Dần…
– Có lẽ hơn, bác ạ.
Ai nấy buồn bã nhìn ra ngoài đệ ánh tà dương viền bạc đám mây xám nằm ngang phương tây, nhuộm tía mấy đám mây lơ lửng trôi ở trên không, phản chiếu xuống mặt sông, mặt đê, xuống cánh đồng lúa non rợn xanh đến chân trời. Không một ngọn gió trong không khí nặng nề.
Lòng sông mênh mông cũng ngừng lại không chảy nữa. Người và vật chìm đắm trong một giấc mơ êm tĩnh lạ thường…


Bỗng trong đám mây xám, Mịch nhác thấy một tia chớp. Một lúc sau, trời tự dưng tối sầm lại; mầu nước, mầu mây biến ra nhợt nhạt trong một thứ ánh sáng mờ ảo. Mặt sông gợn sóng. Mây kéo lên khắp trời. Khoảnh khắc, dưới ngọn cuồng phong, sóng bạc đầu theo nhau nổi lên trên mặt sông mỗi lúc một mau. Mưa đổ xuống như thác. Trời tối hẳn. Tiếng trống hộ đê lại bắt đầu gieo nỗi kinh hoàng vào lòng người. Lẫn trong tiếng tre sột soạt, tiếng sóng ì ầm vỗ vào mạn đê, tiếng trống nghe bổng trầm như tiếng kêu cứu của một người hấp hối. Thỉnh thoảng, trong khoảng trời mù mịt, hiện ra một bó đuốc gieo ánh sáng đỏ thê thảm ra chung quanh rồi biến đi, khiến đêm tối lại càng thêm tối. Mịch, thân thể ướt át, đứng ở mạn đê cắm cọc tre xuống một cách mạnh mẽ, nhưng tuyệt vọng. Anh cảm thấy sự kinh khủng bao bọc lấy mình, như nom được sự hung hãn dị thường của những sức mạnh huyền bí vô cùng của trời đất. Trước những mãnh lực tàn khốc ấy, Mịch có cái cảm tưởng rõ rệt rằng cả anh và những người khác bên cạnh đều nhỏ nhặt, yếu hèn như giống kiến, giống trùng, không thể cản trở hay kháng cự lại được.


Như đáp lại tư tưởng của Mịch, gió gào một khắc một mạnh. Hạt mưa nặng rơi trên chiếc nón lá bắn nước tung tóe ra chung quanh, gió thổi tạt vào một phía, khiến chàng tối tăm cả mặt mũi. Mỗi khi Mịch cúi xuống đổ đất, anh lại nghe thấy tiếng sóng vỗ mạnh vào mạn đê như tiếng gầm giận dữ của một con mãnh thú trong cơn điên cuồng. Bỗng cách Mịch vài trăm thước, ầm lên một tiếng lớn vang động như sấm. Theo ngay sau một tiếng kêu thất thanh rơi vào trong bóng tối. Giật mình, dân phu ai nấy đều dừng tay, yên lặng. Họ đều có cái cảm giác rằng một tai nạn ghê gớm vừa tới. Trước mặt họ, những hình ảnh khốc hại thoáng hiện ra, những hình ảnh họ đã từng biết: cánh đồng lúa xanh mềm biến đổi ra hồ nước mênh mông, nhà cửa đổ sụp trôi theo dòng nước, đàn bà trẻ con nheo nhó chạy lụt… Mịch sực nhớ đến vợ con. Anh kinh động lo lắng. Nhà anh ở ngoài đầu làng, gần cây đa lớn bên đường và nếu nước chảy xiết về, anh sợ không đủ vững.


– Phải về, phải về mới được.

Tiếng nước reo mỗi giây một rõ. Mịch hồi hộp nhìn lên. Hai bên bờ hội khẩu, dưới ánh trăng mờ tỏ của vài bó đuốc bạt ngọn trước luồng gió dữ, bóng người lung lay trên nền trời đen thẫm, dệt nên một cảnh tượng ghê sợ. Mịch rùng mình. Anh nhìn con nước xói vào cánh đồng ầm ầm như thác ngàn đổ, mãnh liệt không có sức nào cản nổi. Anh nhìn chung quanh. Toàn những bộ mặt nhợt tái diễn tả bao nhiêu nỗi khủng khiếp ngấm ngầm. Hơn một giờ sau, Mịch mới tìm được chiếc thuyền nan. Anh nhân lúc lính vô ý, trốn thoát nhảy xuống thuyền, tâm trí để hết đến việc trở về làng. Một tay anh cầm gáo tát nước ứ ra ngoài, còn một tay ra sức chèo. Trong đêm tối, hạt mưa nặng vẫn ào ào đáp lên chiếc nón lá, gió vẫn thổi mạnh. Con thuyền bị trôi băng trên mặt nước, Mịch phải để ý giữ gìn từng li từng tý mới khỏi sóng đánh úp. Anh thuộc đường lắm nên khi ngược nước, chiếc thuyền con có chòng chành nhưng đi vẫn thoát.


Nửa giờ qua. Mịch thoáng thấy bóng cây đa cổ thụ in đám lá đen kịt lên mầu trời đen xám. Lòng anh hồi hộp, phấp phỏng. Anh vẫn biết trong lúc nguy kịch, trong làng không còn ai nghĩ đến vợ con anh. Anh chỉ còn cậy vào sức mình. May mà vài mươi con sào nữa là anh về đến nhà. Vợ anh chắc lúc này đâng ngồi ẵm con trên nóc túp lều tranh. ý tưởng ấy khiến Mịch chèo thêm mạnh tay. Giây phút, con thuyền đã vượt qua con đường bên gốc đa. Ngọn nước kéo chiếc thuyền về phía dưới, anh ra sức chèo ngược lên, con thuyền ở giữa hai cái mãnh lực gần thăng bằng đứng im một chỗ.

Bỗng Mịch nghe trong khoảng đêm tối một tiếng kêu cứu, tiếng kêu hốt hoảng bao hàm bao nhiêu nỗi kinh khủng. Chàng ráng hết sức, vượt qua ngọn sóng, giơ tay vơ lấy một cành đa. Con thuyền nhẹ bồng lên, những đợt sóng réo theo nhau chạy về phía dưới. Mịch bật bồng nhìn về nhà, kêu:

– Mẹ cái Ốc đâu?

Tiếng gió trả lời anh. Anh gọi luôn mấy tiếng nữa cũng không ai đáp lại. Lòng Mịch rạo rực; trái tim anh đập rất mau. Hết sức, anh dún mình đưa con thuyền đè sóng đâm ngang vào bụi tre mà anh biết là ở cạnh cổng nhà, rồi hai tay anh với cành tre giữ thuyền lại. Mắt tre đâm vào cánh tay, anh cũng không thấy đau. ánh sáng của bó đuốc nhỏ chiếu tỏa ra chung quanh. Mịch rên lên một tiếng khổ não. Anh đăm đăm nhìn về phía nhà và chỉ trông thấy vũng nước đỏ ngầu lấp lánh dưới ánh đuốc. Mắt mở to, anh trừng trừng nhìn lên mặt sóng bấp bênh chiếc mái nhà lật ngược. Tuyệt vọng, Mịch sực nhớ đến tiếng kêu ban nãy, tiếng kêu cuối cùng của vợ anh có lẽ đang ẵm con thơ. Mịch run bắn cả người, hai tay rời cành tre. Một làn gió mạnh, một đợt sóng qua. Chiếc thuyền nghiêng ngửa, Mịch không vững chân, ngã ngửa người vật xuống…

*

Vài giờ sau, vừng thái dương xán lạn mọc lên trong bầu trời quang đãng, âu yếm nhuộm hồng mấy sợi mây tơ chăng lên trên da trời màu bạch nguyệt, dịu dàng mơn trớn cánh đồng nước lặng sóng như mặt hồ. ánh sáng buổi bình minh tinh khiết như hồi thiên địa mới sơ khai.

Nếu không có vài chiếc thuyền thỉnh thoảng lách vào mấy ngọn tre xơ xác, những sự khủng bố hồi hôm có lẽ khách du chỉ cho là một giấc mơ dữ dội.

Hoàng Đạo

Rút từ tập truyện ngắn Tiếng đàn,
Nxb. Đời Nay, Hà Nội, 1941

  

Cây Mùa Đông - P Khanh Pham

 Cây mùa đông
























sáng hôm nay
mặt trời mùa đông lóe vài tia nắng ấm
hanh hanh vàng
cả dáng ai bước thầm lặng giữa hàng cây
trơ trụi quá
cành không đan vòm như khi say nắng hạ
trong cô đơn
cây cũng liêu xiêu nghiêng ngả tựa như người

(một ngày nắng mùa Đông)

P Khanh Pham

 

Một Chút Hương Vị Xưa - Vũ Thế Thành

 

Một chút hương vị xưa

Tôi vừa tìm được một nơi bán cà phê sữa đá có hương vị gần như cà phê Lá me ngày trước. Hơn nửa thế kỷ rồi, tôi mới được thưởng thức lại hương vị ấy. Thật không ngờ, giống đến hơn 90%.

Vũ Thế Thành

 


Cà phê Lá Me là quán vỉa hè, nằm ở góc đường Duy Tân và Nguyễn Văn Chiêm, cạnh sân quần vợt. Đường Duy Tân đã đổi tên thành Phạm Ngọc Thạch. Đường Nguyễn Văn Chiêm (Chim?), dài khoảng 100 mét, vẫn còn giữ tên. Chắc để tưởng nhớ danh thủ Chiêm, vô địch quần vợt thưở trước.

Quán vỉa hè này nằm ở vị trí lý tưởng để ngắm… gái. Quanh đó là các đại học: Dược Khoa, Nông Lâm Súc, Luật khoa, Kiến trúc, nhưng đáng kể là trường Văn khoa. Đó là chưa kể các em Trưng Vương cũng thường đi qua đường này, trên đường về học, hoặc ra hồ Con Rùa vơ vẩn.

Ngồi cà phê Lá Me mà ngắm mấy cô mà tha thướt áo dài, hay đạp xe mini thì… Con bà nó!  Hồn xiêu phách lạc. Hồi đó tôi thường trốn học giờ lý thuyết, vượt 3-4 cây số từ ĐHKH ra ngồi đồng ở cà phê Lá Me. Thật cũng không lãng phí một thời vừa “mộng với tay cao hơn Trời”, vừa lãng mạn.

Cà phê sữa đá ở đấy có hương vị tuyệt hảo, theo tôi, ngon nhất Sài Gòn lúc đấy. Tôi không biết chủ quán dùng cà phê loại gì, thêm thắt những gì, và pha chế thế nào. Chỉ biết là cà phê pha vợt. Sau này, cũng có nơi bán cà phê vợt ở con hẻm đường Võ Di Nguy (Phan Đình Phùng bây giờ), cách Cầu Kiệu khoảng 200 mét. Quán này nổi tiếng đã hơn hai mươi năm, nhưng hương vị cà phê chỉ cỡ 50% so với cà phê Lá Me.

Giá một ly cà phê sữa đá ở Lá Me khoảng 70 hay 80 đồng. Nếu vào cà phê Chiêu ở đường Cao Thắng, một ly cà phê phin, đèn mờ, nghe nhạc, khoảng 250 đồng. Lương của một chuẩn úy vừa tốt nghiệp khoảng 20.000 đồng (tôi nhớ mang máng như thế). Đi dạy kèm thì cà phê Lá me không phải là điều khó khăn, nhưng cà phê Chiêu chỉ là làm dáng với những bạn bè đi lính về phép

Quán cà phê có hương vị xưa tôi vừa tìm thấy nằm ở làng gốm Bàu Trúc, cách tp. Phan Rang khoảng hơn 10 cây số. Đây là làng nghề của dân tộc Chăm tồn tại cả gần 10 thế kỷ.

Khi tôi đến thăm làng gốm Bàu Trúc, một phụ nữ trạc U70 đang tạo hình một cái tô nhỏ từ khối đất sét đã trộn sẵn. Cách làm gốm ở đây có vài điểm khác biệt so với cách làm gốm ở Biên Hòa hay Bát Tràng mà ta thường thấy.

  • Không dùng bàn xoay để tạo hình (như cách làm thông thường), mà dùng tay để nặn, dùng dụng cụ như que, muỗng gỗ để đập, nặn và vuốt, nếu cần thì người thợ sẽ di chuyển quanh vật nặn. Những động tác tạo hình tuy trông đơn giản, nhưng cần đôi tay cực khéo, đẳng cấp nghệ nhân. Sau đó dùng vải cuộn để làm nhẵn.
  • Quan sát, tôi thấy màu sắc khác nhau đậm nhạt  tùy vùng trên cùng một sản phẩm do nhiệt độ nung không phân bố đều. Tôi hỏi, lò nung ở đâu. Không có. Thì ra nơi đây nung lộ thiên (không dùng lò). Nung lộ thiên nên nhiệt độ không cao, chắc chỉ khoảng 700 – 800 độ C, và phân bố nhiệt không đồng đều.

Sản phẩm là vật dụng đơn giản như tô chén dĩa vại, nồi. Đẳng cấp hơn thì là các tượng thần, bình hoa. Tất cả chỉ toàn là gốm mộc, không dùng men. Dấu vết làm nhẵn không đều trên bề mặt sản phẩm có thể quan sát được.

Nguyên liệu làm từ đất sét địa phương, trộn với cát mịn theo một bí quyết riêng. Các bí quyết trộn đất và tạo hình gốm của người Chăm chỉ truyền nghề cho phụ nữ trong nhà (có lẽ do người Chăm theo chế độ mẫu hệ). Còn đàn ông làm những chuyện nặng nhọc bên ngoài (khai thác đất sét, cát mịn, vận chuyển).

Một sản phẩm khá độc đáo được trưng bày ở khuôn viên Bàu Trúc, đó là Linga- Yoni. Văn hóa thờ ngẫu tượng Linga và Yoni được cho là phát xuất từ Ấn Độ giáo, truyền đến Phan Rang theo ngõ giao thương hàng hải.

Nếu với Ấn Độ, Linga- Yoni được xem là biểu tượng của sự kết hợp giữa nam và nữ. Đó là sự sáng tạo của vũ trụ, sự sinh thành và tái tạo muôn loài.

Sang tới đất Chăm, biểu tượng này được bản địa hóa, Linga -Yoni tượng trưng cho sự sinh sôi và phát triển, không chỉ với con người mà còn là mùa màng, sung túc. Văn hóa Chăm còn xem Linga -Yoni là biểu hiện của vương quyền và sự bảo hộ của thần linh. Vài tài liệu cho biết, một số tượng Linga (sinh thực khí Nam) còn được chạm mặt vua. Chạm khắc trên Linga thiệt sao? Nghe sởn da gà!

Một vài dân tộc thiểu số  ở cao nguyên Trung phần cũng tôn thờ biểu tượng Linga-Yoni. Không rõ đó là ảnh hưởng từ văn hóa Chăm hay chỉ là biểu tượng phồn thực vốn đã có trong tín ngưỡng bản địa của người Thượng.

Trở lại với hương vị cà phê sữa nơi Bàu Trúc. Gọi là quán cho sang chứ thật ra chỉ là một xe giải khát, nằm ké trong khuôn viên làng nghề, đậu sát cổng ra vào, phía sau là tượng Linga-Yoni bằng gốm.

Hương vị cà phê sữa đá nơi đây làm tôi bất ngờ. Bao nhiêu ký ức quay về. Không nén khỏi tò mò, tôi hỏi cô chủ quán pha chế cà phê thế nào. Cô vô tư nói hết bí quyết, ngoài cà phê còn trộn thêm thứ này, thứ nọ. Nói xong, cô cười cười – Chết rồi, cháu nói hết bí mật nghề nghiệp rồi. Khi viết những dòng chữ này, Tôi cũng đành giả vờ quên sạch “know-how” của cô chủ. Chỉ có thể tiết lộ, không phải cà phê pha vợt, mà là pha trong phin khá to rồi chiết ra xài dần.

Phan Rang là nơi tôi đã từ nghỉ đêm vài ba lần trên đường trở về từ Huế hay Đà Nẵng. Phan Rang hồi đó còn nghèo lắm, kiếm chỗ qua đêm cũng khó. Bây giờ Phan Rang là địa điểm du lịch vùng biển, nhưng du khách không nhiều. Phan Rang chưa bị du lịch dày vò, nên người dân nơi đây mộc mạc, chất phác như cô chủ quán.

Nghỉ chân ở Bàu Trúc, thưởng thức hương vị cà phê năm xưa, nhâm nhi chút ký ức, tưởng chừng như mới đâu đây, vừa gần vừa xa. Tôi thấy như mình như trẻ lại. Tôi mua thêm 1 ly cà phê đem lên xe, uống từng ngụm nhỏ, vừa quên đi đường về còn xa, vừa chìm trong hương vị thật gần. Thật đáng giá biết bao, chút hương vị dĩ vãng bỗng trỗi dậy ở tuổi xế chiều này.

Giá ly cà phê sữa đá ở Bàu Trúc, uống tại chỗ hay “take-away” cũng chỉ 15.000 đồng. Nếu quy sang giá trị so với cà phê Lá Me hồi đó thì chỉ 50 đồng (Lá me 70 đồng).

Quán cà phê Lá Me không có bảng hiệu — quán vỉa hè mà. Tôi cũng chẳng hiểu vì sao đám sinh viên ngày ấy lại gọi là cà phê Lá Me, dù quanh đó chẳng thấy cây me nào. Quán ở Bàu Trúc cũng vô danh. Ngay phía sau xe giải khát là một tượng Linga – Yoni bằng gốm. Thôi thì tôi tạm gọi là… cà phê Linga. Không biết gọi vậy có mạo phạm thần thánh không?

Vũ Thế Thành

sgtc