Tháng Tư Bỏ Tây Ninh
Friday, April 10, 2026
Nỗi Buồn Tháng Tư - Nguyễn Cang
NỖI BUỒN THÁNG TƯ
Tháng Tư lại đến
nghĩ thêm buồn
Cố quốc chạnh
lòng lệ đổ tuôn
Một trận cuồng
phong tan khí dũng
Ba lần bão táp*
nộ tâm cuồng
Vợ hiền lội ruộng
lo cơm gạo
Con trẻ bỏ trường
tập bán buôn
Năm tháng mõi
mòn thân rách`nát
Tháng Tư lại đến
nghĩ thêm buồn !
Nguyễn Cang
Chú thích: * Ba lần đổi tiền đánh tư sản, đưa dân đi
kinh tế mới.
Ký Ức Tháng Tư & Lời Hứa - Nguyễn Thị Châu
KÝ ỨC THÁNG TƯ
Tôi nghe tiếng
pháo từ đâu tới
Tiếng nổ rền
vang một góc trời
Nắng vàng rực
cháy bay tung toé
Tiếng kêu tức tửi
hởi Trời ơi!
Xác ai nằm đó?
Bên đường vắng
Máu đỏ bờ
vai,ôi! Xót xa
Đôi mắt còn
nhìn mây đen thẩm
Như còn lưu luyến
chuyện đường xa
Mẹ hiền ôm xác
con thơ dại
Nước mắt tràn
mi khóc nghẹn ngào
Quấn hết chiếc
khăn cho con trẻ
Vội vàng để lại
dưới hố sâu
Trẻ thơ ngơ
ngác tìm cha mẹ
Mẹ ở đâu? Còn
cha ở đâu?
Lang thang khắp
nơi, tìm cuối xóm
Cơm chẳng no
lòng ôi! Nỗi đau
Những xác nằm
kia thây phơi nắng
Máu tươi đổ xuống
đã khô rồi
Một bức tranh
buồn cho nước Việt
Tháng tư buồn lắm
miền Nam ơi…!!!
8-4-2026
Nguyễn thị Châu
LỜI HỨA
Anh
sẽ về khi hoa Xuân đua nở
Hãy chờ anh,
ngày tháng sẽ qua nhanh
Nắng mùa Xuân
lung linh chiếu qua mành
Anh sẽ về xác
pháo bay khắp lối
Chờ anh mãi,
Xuân nầy và Xuân nửa
Pháo vang rền
sao không thấy anh đâu?
Nơi miền xa anh
lại ở tuyến đầu
Bao vất vả hiểm
nguy ngoài Quãng trị
Nắng chiều rơi
sợi tơ vàng óng ả
Anh trở về hoa
nở hết lối đi
Trao cho nhau
những yêu thương cuộc đời
Anh tạm biệt trở
về đơn vị mới
Đây Cần Thơ đất
mới miền sông nước
Áo nhà binh anh
tiếp tục quân hành
Ngày qua ngày
anh cũng nói “ Chờ anh”
Chờ anh, chờ đến
bao giờ anh hỡi!
Rồi một chiều
mưa rơi rơi ngoài ngõ
Được tin anh vừa
rời bỏ bạn bè
Anh bây giờ
đang về lại chốn quê
Anh sẽ về, như
lời anh đã hứa…!!!
8-4-2026
Nguyễn thị Châu
Nửa Hồn Xuân lộc - Tôn Thất Tuệ
Nửa hồn Xuân Lộc
Xuân Lộc 1970
Em ơi
Xuân Lộc, em Xuân Lộc
Xích
sắt nghiến qua những xác người.
Cặp
thất ngôn nầy là nhát chém quyết định, là thanh kiếm giữ kín, giờ cuối mới
dùng, nghiến qua thần thức của người đọc. Thái Luân NPSH vô cùng
"độc ác" như xích sắt nghiến qua những xác người.
Tôn
Thất Tuệ giới thiệu
Nửa
Hồn Xuân Lộc
Thái
Luân Nguyễn Phúc Sông Hương
Khi
xuân Tân Mão 2011 còn nóng hổi mới ra lò, tôi viết một lời bàn ngắn về cái
video có Khánh Ly hát tặng lãnh sự CSVN tại San Francisco. Theo tôi việc nầy
đã manh nha từ ngày xưa khi cô Mai (hổn danh Mai Đen) đã tham dự nhiều buổi
sinh hoạt tại Đà Lạt trước những biến động đấu tranh miền Trung; trong dịp nầy
Linh Mục Nguyễn Ngọc Lan đã minh thị nói VN chỉ có một con đường là đi theo
MTGPMN tuy ông không chịu nói đã nhiều lần vô bưng. Ở đoạn nầy tôi viện dẫn hồi
ký của Nguyễn Đắc Xuân, ông viết thêm rằng các người tham dự đã đọc và bình luận
thơ của Thái Luân. Ngoài LM Lan còn có nhiều nhân vật trí vận và có Trịnh Công
Sơn. Sau đó TCS cho ra những bản nhạc phản chiến mạnh mẽ, tăng cường bởi tiếng
hát Khánh Ly đến tầm mức công phá.
Nguyễn
Đắc Xuân không nói nội dung các bài thơ của Thái Luân. Tôi còn nghi vấn phải
chăng Thái Luân có mặt. Sau khi tra cứu và hỏi các nhân vật sống, thì được biết
Thái Luân không có mặt ở Đà Lạt bao giờ, đồng thời “mất tích” trên địa
bàn sinh hoạt ở Huế. Nhưng không khí, như mô tả qua ngòi bút của NĐX, đã gây ý
nghĩ không tốt cho Thái Luân.
Thái
Luân trong quá khứ đã gây cho vợ chồng tôi một ấn tượng khó tả khi chúng tôi đến
thăm Phạm Duy vào lúc nhạc sĩ nầy vừa hoàn tất phổ nhạc Bi Hài Kịch thơ
của Thái Luân. PD chỉ nói tác giả là một sĩ quan QLVNCH ngành tâm lý chiến ở Huế. Bi
Hài Kịch là bi hài kịch thực sự của chúng ta, khi hai bên tương tranh
chém giết nhau chỉ như công cụ của đạo diễn. Diễn viên ôm súng bắn, diễn viên gục
đầu đường, diễn viên đang tra tấn, diễn viên chịu cực hình, tất cả xẩy ra trên
quê hương, mà quê hương là ba má, quê hương là khoai sắn, là con thơ.
Tôi
tin NĐX đã chuyển tập thơ cho PD vì PD đã phổ mấy bài của NĐX trong Tâm
Ca. PD nói ông đang phổ bài thứ hai thuật lại lời nói của một một kỹ nữ với
học sinh Đồng Khánh: em đừng cười chị, để chị diễn lại trò móc túi để cho thằng
lính Mỹ thỏa mãn thú con heo, nếu không chúng sẽ đè em ra mà làm. Vợ chồng tôi
thấy khó chịu vì nó hoàn toàn khác với tính cách cao thượng và nghệ thuật của Bi
Hài Kịch và tôi mất cảm tình với Thái Luân. Tâm cảm nầy tôi vẫn còn giữ
khi viết về các buổi họp tại ĐaLạt như trên.
Sau
khi viết xong lời ghi vội, tôi gặp bài Nửa Hồn Xuân Lộc dưới
tên Nguyễn Phúc Sông Hương. Tôi chưa nhất thiết đã kéo Thái Luân vào một chiều
hướng nào nhưng tôi thấy sự thiết tha của TL là chân thành. Tôi tìm hiểu
thêm. PD hay thay đổi lời thơ của kẻ khác theo ý mình, thêm nhân vật tên Duyên
vào thơ Nguyễn Tất Nhiên; chỉ dùng ý thơ từ một bài rất dài của Phạm Thiên Thư
thành bài Lên Non Tìm Động Hoa Vàng. Ông cũng đã phổ bài Lá
Diêu Bông của Hoàng Cầm theo một lối khác với nguyên bản. Việc nầy
không tác hại quyết liệt, hơn nữa ông phải uyển chuyển lời cho ăn khớp với nhạc.
Nhưng lời diễn dịch của PD trong trường hợp nầy đã quá xa với một đoạn ngắn
Thái Luân viết như sau:
Xin cám ơn những cô gái bán bar nhỏ con
Đã gồng mình chịu đựng
Vì cuộc sống
Của các cô
Và của Việt Nam.
Thưa thầy giáo, thưa công chức:
Xin đừng vênh vênh cái mặt đạo đức
Chửi người ta
Con gái Huế bây giờ đi bán bar!
Không
biết PD có hoàn tất dự án Phẫn Nộ Ca hay không, ngoại trừ Bi
Hài Kịch xuất hiện trên nguyệt san của Thích Đức Nhuận.
Đoạn
thơ ngắn trên đây đã đảo ngược cái nhìn của tôi về Thái Luân, cho nên tôi đã
chuyển bài Nửa Hồn Xuân Lộc cho nhiều thân hữu.
Thái
Luân lúc còn là thiếu úy ở Huế đã ấn hành Vùng Tủi Nhục gồm 25
bài thơ trong đó có bài Bi Hài Kịch và Cảm Ơn
Bar nói trên. Ông bị phạt 40 ngày trọng cấm và ba tháng tù, rồi đi
lính tiếp; và chức vụ cuối cùng là thiếu tá tiểu đoàn trưởng, Quân Đoàn 3, - ở
trong cuộc - chứng kiến sự thất thủ Xuân Lộc vào những giờ cuối.
Bài
thơ mà tôi hân hạnh chép bên dưới được trích từ web Đặc Trưng đăng giữa năm
2001, gồm phần thứ nhất và phần kế tiếp xem như một điệp khúc, in khác màu.
Thật
ra tôi có biết Thái Luân xuất bản một cuốn sách và được một ông tiến sĩ giới
thiệu theo một lối mà tôi nghĩ nói loanh quanh và – vì chính trị - không cho thấy
một NPSH với những sôi động tâm tư vào những ngày cuối của VNCH. Tôi không
có cơ hội mua cuốn Tháng Tư Lính Không Cần Hớt Tóc. Khi sửa lỗi
đánh máy bài giới thiệu cũ nầy, tôi cố tìm thêm hiểu thêm về NPSH và gặp một
bài trên vietbao.com, giới thiệu cuốn sách một cách rất nhát gừng và đăng
bài Nửa Hồn Xuân Lộc một nửa tương đương với phần thứ nhất in
màu xanh bên dưới.
Ngắn
dài không phải là điều đáng nói. Điều đáng nói là có quá nhiều thay đổi mà theo
cảm quan riêng không nên có. Trừ ra một điểm, là hai câu cuối cùng rất mới mà
tôi nghĩ Đặc Trưng ghi thiếu vì đoạn cuối chỉ có hai câu, tôi xin ghi vào phần
in bên dưới.
Em
ơi Xuân Lộc, em Xuân Lộc
Xích
sắt nghiến qua những xác người!
Những
thay đổi khác làm cho bài thơ xưa mất nhiều hào hùng.
Vỗ
về nón sắt trở thành ném bi đông đế
(cười khinh bạc). Ném bi đông rượu vẫn còn nóng nãy không khinh đời như thượng
sĩ già, vỗ về nón sắt như cổ bồn cùng Trang Tử mà hát khúc bi ca. Rồi đến (mới):
Mây
xa quen kiếp đời phiêu bạt,
Bỏ
núi ra đi cũng ngậm ngùi,
Huống
chi bóng với hình tha thiết;
Hình
nghiêng chao đổ, bóng chơi vơi!
Hai
câu cuối, ngoài tính chất ước lệ, không ăn nhập vào đâu. Xin lấy hai câu cũ trở
lại thì có chỗ mà so sánh (cũ):
Mây xa dù quen đời chia biệt
Ngoảnh mặt ra đi cũng ngậm ngùi.
Rút quân, bỏ lại hồn ta đó
Bảo Chánh, Gia Rai lửa ngút trời!
Thêm một dẫn chứng;
cũ
Vì bí mật quân, ta đành phụ
Mối tình Long Khánh tội người ơi
Mất thêm Xuân Lộc tay càng ngắn,
Núm ruột miền Trung càng xa vời.
mới:
Bí mật lui quân nên đành phụ
Mối tình Long Khánh, tội người ơi!
Cao nguyên bài học đầy xương máu;
Một bước chân đi một xác người!
Mất
thêm Xuân Lộc tay càng ngắn, núm ruột miền Trung càng xa vời.; hai câu nầy cho thấy tầm nhìn rộng rãi
của tác giả về chiến lược, Xuân Lộc và miền Trung tuy xa cách giao thông đều là
hai phần đất của Cao Nguyên, mất Xuân Lộc thì miền trung chỉ là một chân của
chiếc ghế gãy, mất Xuân Lộc là mất yết hầu, mất con đê chận nước lũ từ cao
nguyên Boloven ngập lút Saigon. Tuy vậy, cũng như miền Trung, Xuân Lộc trong
ngôn ngữ bình thường và ngay trong sách giáo khoa địa dư không được xem là Cao
nguyên như Kontum, Pleiku, Darlac. Quân đoàn 2, với bộ tư lệnh trên cao, lại gồm
thêm mấy tỉnh duyên hải.
Cao
nguyên bài học đầy xương máu, Một bước chân đi một xác người! Có thế ý niệm Cao nguyên đi quá nhanh từ
Xuân Lộc, dựa trên chiến lực và địa dư như vừa nói. Nhưng hai chữ "cao
nguyên" chia trí người đọc. Ngoài ra, hai câu nầy đánh mất giá trị hai câu
cuối của cả bài, âm vọng mất đi vì tội lập lại
Em ơi Xuân Lộc, em Xuân Lộc
Xích sắt nghiến qua những xác người.
Cặp
thất ngôn nầy là nhát chém quyết định, là thanh kiếm giữ kín, giờ cuối mới
dùng, nghiến qua thần thức của người đọc. Thái Luân NPSH vô cùng "độc
ác" như xích sắt nghiến qua những xác người.
Khi
đối chiếu lần nầy, tôi thấy bài thơ đăng trên vietbao.com đã bỏ điệp khúc để kết
chung thành một bài. Bài mới có những đoạn ước lệ và ủy mỵ, hoặc chỗ cũ sửa lại
chải chuốc mỹ miều văn tự, bỏ đi những đoạn nghe rợn gáy ví như:
Bao
năm ta trọn tình đất đỏ,
Một
phút này thôi thẹn với đời
Sốt
rét đêm run, ngày không ngã
Bao
lần máu đổ dửng dưng cười.
Một
phút này thôi, hừ lại ngã,
Bỏ
thành, bỏ đất nhục nào vơi.
Thân
ta là ngựa sao không hí
Cho
nỗi đau lan rộng đất trời.
Hồn
ta là kiếm sao không chém
Rạp
ngã rừng xanh, bạt núi đồi.
Ta
đi, áo nhuộm màu đất đỏ
Cao
su vướng tóc mãi thơm mùi,
Tiếc
quá nắng vàng phơi áo trận,
Vườn
nhà em chuối chín vàng tươi.
Tôi
thật phân vân, đêm qua ngủ không yên. Người viết bài báo sửa lại theo ý mình
thì chán quá. Việc sửa bài của người khác xẩy ra luôn. Ngay cả Truyện Kiều mà
còn bị viết lại một cách ngu xuẩn. Văn chương bây giờ thật không có gì “quí hơn
độc lập tự do”. Người thân trong gia đình tôi tự nhiên được cho là nhà thơ Đỗ Hữu;
một cô gái vô danh lấy chồng Huế, có tên là Huyền Chi thì được cho là tác giả của Thuyền
Viễn Xứ thay vì Hà Huyền Chi. Tất cả chữ “vô” đều sửa là “vào”
như “vào lý” cho “vô lý”; gọi “một chai bia” được sửa thành “một cái
bia”.
Riêng
việc sửa bài nầy, nó không có gì tệ hại đến như thế. Chỉ mất đi cái hào hùng,
dĩ nhiên dưới cái nhìn chủ quan của riêng tôi.
Nhưng
nếu chính do NPSH viết lại của mình thì sự thể sẽ khác đi. Theo hộ luật, chứng
từ mới như di chúc, ủy quyền v.v… hủy bỏ cái cũ. Vậy thì tôi đã vi phạm khi in
phần chính và điệp khúc dưới tên NPSH.
Tôi
có làm vài bài văn vần nên không dám nói chi vì sợ bị cho là đố kỵ, thợ thơ bao
giờ cũng ganh với thi sĩ (versificateur contre poète). Cho nên tôi chỉ muốn
đóng vai người thưởng ngoạn. Vẫn giữ những câu thơ cũ của Thái Luân NPSH trên
dòng thời gian.
Mà
thời gian – tôi mới học của nhà báo Ý Tiziano Terzani – như một dòng sông.
Tương lai còn xa trên thượng nguồn chưa có nhưng đã có, rồi chảy vào hiện tại để
thành quá khứ ở hạ lưu, đã có và tiếp tục có, chưa nói tiếp chuyện bốc hơi,
thành mây thành mưa. Cứ thế mà đọc chơi. Hơn nữa, những kiệt tác – một Nửa
Hồn Xuân Lộc của NPSH, một Tây Tiến của Quang Dũng, một Sầu
Ai Lao của Đỗ Hữu… phóng lên cao, tự tại nhi nhiên như trăng sáng làm
của chung, nhưng mỗi
người
tiếp nhận với cảm quan riêng. Thật vậy, Cao Bá Quát không do dự phát biểu:
Duy giang thượng chi thanh phong
Dữ gian sơn chi minh nguyệt
Kho trời chung mà vô tận của mình riêng.
Bài
viết đã xưa nay đem ra cập nhật với lời cầu chúc an vui cho mọi người, cầu
mong có thái luân trường cửu như tên Thái Luân; nhịp nhàng của triệu chòm
thiên thể, nhịp nhàng của loài ong trong tổ mật, nhịp nhàng trong ý
nguyện tình đời, đừng làm như tôi, chảy nước mắt thầm chỉ đủ ướt mi mỗi
khi đọc
Nửa
Hồn Xuân Lộc.
Cẩn bút từ thung lũng Subligna,
Georgia.
Nửa Hồn Xuân Lộc
Nguyễn Phúc Sông Hương
Nếu
được như bố già thượng sĩ
Nghe
tin lui quân chỉ nhìn trời,
Vỗ về nón
sắt, cười khinh bạc,
Chắc
hẳn lòng ta cũng thảnh thơi.
Còn
ta nhận lệnh rời Xuân Lộc
Lại
muốn tìm em nói ít lời,
Nhưng
sợ áo mình đầy khói súng
Cay
nồng mắt người gục trên vai.
Vì
chắc ôm nhau em sẽ khóc,
Khóc theo, vợ lính cả trăm người!
Em biết dù tim ta sắt đá
Cũng vỡ theo ngàn giọt lệ rơi.
Mây xa dù quen đời chia biệt
Ngoảnh mặt ra đi cũng ngậm ngùi.
Rút quân, bỏ lại hồn ta đó
Bảo Chánh, Gia Rai lửa ngút trời!
Bí mật lui quân mà đành phụ
Mối tình Long Khánh tội người ơi.
Mất thêm Xuân Lộc tay càng ngắn
Núm
ruột miền Trung càng xa vời.
Sáng
mai thức dậy, em buồn lắm
Sẽ khóc
trách ta nỡ phụ người.
Lòng
ta như trái sầu riêng rụng
Trong
vườn em đó vỡ làm đôi!
Đêm
nay Xuân Lộc vầng trăng khuyết
Như một
vành tang bịt đất trời!
Chân
theo quân rút, hồn ta ở
Sông
nước La Ngà pha máu sôi;
Thương
chiếc cầu tre chờ thác lũ
Cuốn qua Xuân Lộc khóc cùng người
Ta đi, áo nhuộm màu đất đỏ
Cao su vướng tóc mãi thơm mùi,
Tiếc quá nắng vàng phơi áo trận,
Vườn nhà em chuối chín vàng tươi.
Ta nhớ người bên đàn thỏ trắng,
Cho bầy gà nắm lúa đang phơi,
Chôm chôm hai gốc đong đưa võng,
Ru nắng mùa xuân đẹp nụ cười...
Nếu được đưa quân lên Định Quán
Cuối cùng một trận cũng là vui
Núi Chứa Chan kia sừng sững đứng
Sư đoàn 18 sao quân lui?
Thân ta là ngựa sao không hí
Cho nỗi đau lan rộng đất trời.
Hồn ta là kiếm sao không chém
Rạp ngã rừng xanh, bạt núi đồi.
Hỡi ơi! chân bước qua Bình Giã
Cẩm Mỹ nhà ai khói, ngậm ngùi!
Lửa cháy, cả lòng ta lửa cháy
Xóm làng Gia Kiệm nhớ khôn nguôi.
Đêm nay Xuân Lộc, đoàn quân rút
Đành biệt nhau, xin tạ lỗi người.
Chao ơi tiếng tắc kè thê thiết
Kêu giữa đêm dài sợ lẻ loi,
Chân bước, nửa hồn chinh chiến giục
Nửa hồn Xuân Lộc gọi quay lui.
Ta biết dưới hầm em đang khóc
Thét
gầm pháo địch dập không thôi
Em ơi
Xuân Lộc, em Xuân Lộc
Xích
sắt nghiến qua những xác người.
---------------------
Buổi
chiều nhận lệnh rời Xuân Lộc
Ta
muốn tìm em nói ít lời,
Nhưng
sợ em buồn, không nói được
Nên
đành lặng lẽ mà đi thôi!
Ngại
phút rời xa em sẽ khóc,
Bao
người vợ lính sẽ buồn theo
Yếu
đuối tim ta người chiến sĩ
Loạn
rừng, tội nghiệp tiếng chim kêu.
Rút quân bỏ lại đời ta đó,
Bảo Chánh, Gia Rai lửa ngút trời,
Lửa ngút, trái tim ta lửa ngút,
Trái tim người lính mới yêu người.
Vì bí mật quân, ta đành phụ
Mối tình Long Khánh tội người ơi
Mất thêm Xuân Lộc tay càng ngắn,
Núm ruột miền Trung càng xa vời.
Sáng mai chắc chắn em buồn lắm
Sẽ trách sao ta lại phụ người.
Lòng ta như trái sầu riêng rụng
Trong vườn em đó vỡ làm đôi
Cao nguyên bài học đầy cay đắng
Lớp lớp người rơi, lớp lớp rơi ...
Ta chẳng muốn làm người bại trận
Thành người tình phụ đó em ơi.
Ðêm nay quân rút hồn ta ở
Nhìn nước La Ngà pha máu sôi,
Thương chiếc cầu chờ cơn thác lũ
Tràn qua Xuân Lộc cuốn theo người.
Ta đi áo nhuộm màu đất đỏ
Cao su vướng tóc mãi thơm mùi,
Tội nghiệp nắng vàng chờ áo trận
Khi tàn chinh chiến sẽ đem phơi.
Em hỡi, em thương đàn thỏ trắng,
Bầy gà mất mẹ sống mồ côi
Em hỡi em thương người lính trận
Người lính đêm nay phụ bạc rồi.
Bao năm ta trọn tình đất đỏ,
Một phút này thôi thẹn với đời
Sốt rét đêm run, ngày không ngã
Bao lần máu đổ dửng dưng cười.
Một phút này thôi, hừ lại ngã,
Bỏ thành, bỏ đất nhục nào vơi.
Nếu được đưa quân lên Ðịnh Quán,
Cuối cùng một trận cũng là vui.
Sáng mai chân bước qua Bình Giã,
Cẩm Mỹ nhìn lui luống ngậm ngùi!
Lửa cháy, cả lòng ta lửa cháy,
Một trời Gia Kiệm nhớ khôn nguôi.
Muôn năm em hỡi trời xuân Lộc
Giữ nửa hồn ta mãi với người.
Giữ nửa hồn ta bên chiếc võng
Dưới giàn thiên lý bóng trăng soi .. .
Ðêm nay quân rút sầu riêng rụng
Trong vườn em và trong tim tôi!
Tôi sợ một ngày mai bại trận
Ðể em côi cút lại trên đời.
Nếu phải một ngày mai bại trận
Ðêm nay sao ta lại bỏ người!
Em hỡi, dưới hầm ai đang khóc,
Thét gào pháo địch mãi không thôi.
Xuân Lộc trời ơi Xuân Lộc cháy
Ai gọi tôi về trời Gia
Rai!!
trích
từ vietbao
Nửa
hồn Xuân Lộc
Nếu
được như bố già thượng sĩ
Nghe
tin lui quân, ngước nhìn trời,
Ném
bi đông đế, cười khinh bạc
Chắc
hẳn lòng ta cũng thảnh thơi.
Còn ta nhận lệnh rời Xuân Lộc,
Lại muốn tìm em nói ít lời,
Nhưng sợ áo mình đầy khói súng
Cay nồng đôi mắt gục trên vai,
Giây phút cầm tay em sẽ khóc,
Khóc theo, vợ lính biết bao người,
Ta biết dù tim mình sắt đá
Cũng vỡ theo ngàn giọt lệ rơi.
Mây xa quen kiếp đời phiêu bạt,
Bỏ núi ra đi cũng ngậm ngùi,
Huống chi bóng với hình tha thiết;
Hình nghiêng chao đổ, bóng chơi vơi!
Bí mật lui quân nên đành phụ
Mối tình Long Khánh, tội người ơi!
Cao nguyên bài học đầy xương máu;
Một bước chân đi một xác người!
Sáng mai thức dậy em buồn lắm
Sẽ khóc trách ta nỡ phụ rồi.
Lòng ta như trái sầu riêng rụng
Trong vườn em đó vỡ làm đôi.
Bao nhiêu gai nhọn sầu riêng đó,
Ta sẽ quỳ lên chịu suốt đời!
Nếu thật lui quân là bại trận
Thì ta nhất quyết chẳng xa người.
Đêm nay Xuân Lộc vầng trăng khuyết;
Một mãnh khăn tang khóc giống nòi!
Chân theo quân bước hồn ta ở
Sông nước La Ngà pha máu sôi.
Trách mình quên rót ly từ giả
Những hồn anh kiệt đã nằm nơi...
Ôi cuộc giao tranh buồn bã quá,
Hạ bao nhiêu địch vẫn không cười.
Nếu được tràn quân lên Định Quán,
Đánh vùi một trận để đời vui.
Núi Chứa Chan kia sừng sừng đứng
Sư đoàn 18 sao quân lui"
Ngựa lồng bãi chiến mà không hí,
Phải chăng ngựa chiến đã tàn hơi"
Tay vung kiếm bén mà không chém.,
Phải chăng kiếm chủ chẳng còn người"
Không! không! ta hiểu lòng ta lắm
Sông núi bao ngày đã tả tơi!
Người lính miền Nam đi chiến trận
Luôn khắc trong tim nghĩa giống nòi.
Bước chân lững thững vào Quân sử,
Nghe trống trận xưa giục liên hồi!
Đây giáo Chi Lăng, gươm Vạn Kiếp,
Tiếng hò đuổi giặc dậy ngàn nơi.
Đạp chốt nghe đau lòng tĩnh lộ,
Nhìn lui, lữa đỏ nhuộm góc trời,
Cao su trùng điệp rừng che mộ,
Thị trấn hoang tàn, pháo địch rơi...
Em ơi Xuân Lộc, ơi Xuân Lộc,
Người lính hôm qua tạ lỗi Người.
Chao ơi tiếng tắc kè thê thiết
Gọi giữa đêm dài sợ lẻ loi.
Chân bước nửa hồn chinh chiến giục,
Nửa hồn Xuân Lộc gọi quay lui!
Dưới hầm, ta biết em đang khóc,
Thét, gầm...pháo địch dập không thôi!
Em ơi Xuân Lộc, em Xuân Lộc
Xích sắt nghiến qua những xác người!
vietbao.com/a129001/tho-30-thang-tu-1975-
Những Tấm Hình Của Chị Thời - Mai Thảo
Những tấm hình của chị Thời
Tiếng chuông vang lên, âm thanh mang hình ảnh
một đường chỉ thẳng vút truyền đi, thật sâu và thật xa vào một phía bên trong
thăm thẳm, ở đó là một sự im lặng nằm giữa một lắng đọng đầy. Tiếng chuông vang
lên, chìm dần rồi mất hẳn. Chuông ở quá cao trên thành cửa. Nhị phải kiễng
chân, đứng riêng trên ngón, căng rướn cái Thân thể chuột nhắt của Nhị lên, mới
chạm được tới cái nút bấm bằng một đầu ngón tay. Cánh cửa vẫn đóng kín. Bên
trong lặng tờ, không một tiếng động. Sự im lặng kéo dài. Và ở Nhịn, là khởi sự
một trạng thái bối bối lúng túng. Không biết làm gì hơn là đợi chờ, Nhị đặt cái
va ly xuống bực thềm căn nhà đóng kín, quay lại, nhìn con phố xa lạ mới đến, mới
nhìn thấy lần thứ nhất trong đời.
Buổi chiều. Trời tháng Chín thấp và xám. Những
ngày nghỉ hè đã chấm dứt. Những chùm phượng vĩ chói chang đã nở, đã kết thành một
cái mái thiên nhiên rực rỡ cho những ngày làm một cánh bướm đồng, rong chơi thỏa
thích trong thế giới tuổi vàng, và một chuyến xe đò đã chở Nhị xa dần những
bóng tre những con đường ấu thơ, đặc sương mù, Nhịn bỏ lại một chân trời, xếp
vào đáy cặp những kỷ niệm hồng, rồi một chiếc xe kéo ọc ạch, long gãy đã chở Nhị
tới giữa lòng con phố này, thả Nhị xuống trước căn nhà xa lạ thù nghịch. Con phố
thật cũ kỹ thật khuất tịch, đầy đặc những ổ gà, những khoảng trũng. Trước mắt
Nhị, một dãy nhà chạy dài một tầng. Đó là những căn nhà bà già, kề vai lên những
ngôi nhà ông lão. Những bờ tường ọp ẹp, xiêu đổ, nghiêng nghiêng, nâng đội nặng
nhọc lặc lè trên đầu trên cổ chúng những hàng mái cong trũng. Trĩu nặng trên những
hàng mái sầu thảm cúi đầu ấy là những viên ngói rêu xanh phủ kín, viên nào viên
đó như sẵn sàng rớt xuống, tan vỡ thành muôn nghìn mảnh nhỏ xuống mặt đường. Buổi
chiều nhá nhem phủ kín lên cái cảnh tượng hắt hiu một lớp khói chập chờn loãng
nhạt. Mùa thu bén tới rồi. Nhị rùng mình. Trong không khí, là những luồng hơi lạnh
tràn chiếm dần cùng bóng tối.
“Ai đó?”
Tiếng hỏi bất chợt nổi lên ở phía sau lưng làm
Nhị giật bắn người quay lại. Bằng một phản ứng thảng thốt, mất tự nhiên, Nhị cầm
vội lấy chiếc va ly. Đứa nhỏ quê mùa, mới ra tỉnh lần đầu mím miệng, nín thở.
Trái tim nhỏ bé đập mạnh như muốn vỡ tan lồng ngực.
Người vừa mở cửa nhìn ra, vừa lên tiếng hỏi là
một người đàn bà.
Tròng mắt thỏ non của Nhị là thứ tròng mắt
chưa biết phân định những tuổi người. Một trái na mới mở mắt trong vườn sau một
trận mưa đêm, với một trái na ủ nóng đã chín mềm trong một áo lá khoai, một con
chim già mỏ đã nhọn hoắt, một đài hoa mới hàm tiếu mởn mởn và một đài hoa đã rực
rỡ mãn khai, Nhị phân biệt được. Phát triển được cái già của một ngọn cỏ. Cái
non của một búp lá. Nhưng người, Nhị chịu. Chỉ biết cái khuôn mặt vừa hiện hình
sau khung cửa mở hé là một khuôn mặt đàn bà. Thực ra đó chỉ là một thiếu nữ. Cô
tên là Châm. Cô lớn hơn Nhị nhiều. Nhưng họ hàng có những thứ bậc trên dưới kỳ
cục ngộ nghĩnh. Châm phải gọi Nhị bằng chú. Xưng cháu. Nhị đâu biết thế. Mặt đỏ
gay, lưới líu ríu, Nhị lắp bắp:
“Thưa bà…”
Chừng như người con gái đưa tay lên che miệng
cười. Nhị đã lúng túng, càng lúng túng thêm. Cuối cùng Nhị cũng nói được:
“Đây có phải là bà phán Tuyên không ạ!”
Người con gái nhìn Nhị đăm đăm. Chợt nàng hỏi:
“Chú phải là chú Nhị không?”
Nhị sững người. Dân thành phố thần thánh thật.
Biết ngay Nhị là Nhị, mặc dù chưa hề gặp. Nhị tròn mắt, gật. Người con gái cười
thành tiếng, bước ra, xách lấy va ly, rất thân mật và tự nhiên kéo thốc Nhị vào
trong nhà, để Nhị đứng đó. Rồi vừa chạy vào trong nhà trong vừa la lớn:
“Mẹ ơi! Chú Nhị đã lên. Chú Nhị đã tới”.
Phía bên trong ngôi nhà tối thẳm đã lãng đãng
bóng tối và sương mù của buổi chiều tỉnh lẻ, một tiếng dép lẹp kẹp bước xuống từ
một cầu thang khuất. Nhị đứng chờ mất chừng vài phút nữa. Rồi bà phán Tuyên từ
nhà trong lững thững đi ra. Bà phán Tuyên thì Nhị đã thấy mặt. Còn nhớ. Bà đã
xuống chơi dưới ấp với cha mẹ nhiều lần, mỗi lần xuống ấp, bà đem theo biếu cha
mẹ những thứ đồ ăn chỉ có trên thành phố. Như chuối ngự, cốm Vòng, bánh trái.
Nhiều lần vào mùa hè, bà còn khệ nệ đem theo cả mấy ký nước đá lạnh buốt ủ
trong mạt cưa cho khỏi tan. Bà ở chơi dưới ấp một vài ngày, khi về, mẹ làm quà
cho bà những thứ thịt cá, rau cỏ tươi tốt mà bà nói với mẹ là không thể có được
ngon lành và tươi, mới như thế ở những chợ búa phường phố.
Chính một phần vì bà phán Tuyên mà cha mẹ cho
Nhị lên tỉnh trọ học sớm hơn một năm. Cha mẹ định thế nào cũng cho Nhị giã từ
những chân tre cũ, những nhánh lúa vàng, những con đường đất cỏ non xanh ngắt
hai bờ mùa xuân, để ra tỉnh học. Nhưng là năm sau kia. Sợ Nhị còn nhỏ quá. Năm
đó Nhị mới mười một tuổi mà. Đi đâu xa còn nắm chặt lấy tà áo mẹ. Nhưng bà phán
đã thuyết phục được cha mẹ cho Nhị lên đường sớm hơn đúng một năm học. Nhà con
cũng là nhà ông bà. Con sẽ xin chăm sóc chú Nhị cẩn thận. Thằng Chuẩn thằng Tài
nhà con cũng bằng trạc tuổi chú ấy. Mấy chú cháu chơi với nhau, đi học cùng một
trường, tiện lắm. Trẻ con bây giờ cũng phải cho xa nhà dần đi thì vừa. Cho nó bạo
dạn mới được. Đại khái bà phán đã nói như thế. Cuối cùng cha mẹ Nhị đã nghe
theo. Và buổi chiều tháng Chín năm đó, với Nhị, đã khởi sự những tháng ngày trọ
học.
°
So với lần gặp trước ở dưới ấp, lần gặp tuy đã
nhạt nhòa, nhưng hình ảnh người chị họ còn phảng phất trong trí nhớ, bà phán
Tuyên đã thay đổi nhiều. Một thay đổi héo hắt. Làm bằng lo âu, bệnh tật và phiền
muộn. Bà không cười nữa. Trán đầy những nếp nhăn. Mái tóc, Nhị nhớ chải chuốt
và đen nhánh trong vành khăn nhung đã điểm những sợi bạc. Mới tháng Chín, heo
may đầu mùa chỉ mới thả vào không khí một thoáng lạnh dịu dàng mà bà phán đã mặc
một chiếc áo len dầy, hàng khuy cài hết tới cổ. Cặp mắt bà mỏi mệt. Cái nhìn đầy
đau buồn. Bà còn thúng thắng ho. Cái nhìn đầy đau buồn. Bà xoa đầu Nhị: “Chú đã
lên đó à! Tốt lắm. Ở đây ăn học với các cháu”. Bà chỉ tay giới thiệu: “Đây là
Châm. Nó là cháu của chú đấy”. Bà cho Nhị biết là cha mẹ dưới ấp đã đánh điện
tín lên báo tin Nhị tới từ chiều hôm trước. Bà bảo Nhị đi rửa mặt, thay áo, chờ
ông phán đi làm ở sở về rồi ăn cơm. Đoạn, bỏ Nhị đứng lại dưới nhà, bà ôm ngực,
ho mấy tiếng rũ rượi, mệt nhọc quay gót đi lên cầu thang.
Không bao giờ Nhị quên được buổi chiều đầu
tiên ra tỉnh và xa nhà ấy. Cái thân thể chuột nhắt, cái tâm hồn trong vắt như một
dòng suối, mỏng manh như một đài hoa, cái tuổi mười một ở đồng ở nội như nằm
trên cái nôi êm ái nhất của một ấu thời bằng ngọc, chiều phường phố thứ nhất ấy,
thảy đã bỡ ngỡ, đã ngẩn ngơ với một trạng thái rời dứt bàng hoàng rộng lớn. Người
lớn đã nhấc bổng Nhị từ một thế giới, ném Nhị lạc lõng sững sờ vào một thế giới
khác, hoàn toàn xa lạ, hoàn toàn chưa quen. Ngôi nhà dưới ấp thênh thang gió thổi
tràn đầy Nhị không nhìn thấy nữa. Đã xa, những bờ mái buổi sáng, mặt trời óng
ánh trên từng phiến ngói. Chim sẻ nâu từng đàn bay lượn nhảy múa dưới nắng, hoa
hoàng lan dịu dàng tinh khiết tỏa hương trên những đầu cành, lá tre nghìn ngón
tay phất phất trên con đường nhỏ tới trường, và dòng sông nhỏ hiền như một dải
lụa, là tấm gương trong vắt và an lành nhất phản chiếu những ảnh hình đôn hậu của
vòm trời ấu thơ. Đã mất cái âm thanh quen thuộc bạn hữu của gà vịt những ban
mai thôn dã lìa chuồng, Nhị chạy vòng giữa chúng, ném thóc ăn thành một trận
mưa hoa. Đã khuất bờ đê ấy là hướng mặt trời lên, cây cầu ấy là hướng lặn mặt
trời, cái ngõ ruối đầy đặc bóng mát sau ngôi chùa mái cổ cong vút là nơi Nhị
thường tìm đến những buổi trưa hè. Không còn nữa, cái ánh trăng rằm trên sân gạch
thênh thang, cái ánh trăng đuổi theo bóng Nhị chạy, tới giấc ngủ còn đậu xuống
hiền hòa trên mái tóc. Suốt dọc đường, Nhị đã nhớ. Chiếc xe đò càng đưa Nhị xa
nhà bao nhiêu muôn nghìn nỗi nhớ, bấy nhiêu, càng lớn. Thằng Ấu, thằng Thóc, thằng
Phiên, con Phượng đang làm gì? Nhị nhớ chúng. Nhị xa lũ bạn để chỏm và Nhị nhớ
bạn, ghê gớm, trên từng số đường. Nhà thằng Ấu có một cây khế. Thật ngọt. Cả
làng chả có nhà ai có được một cây khế ngọt như thế. Cắn một miếng, nước khế ứa
ra, đầy lưỡi, đầy miệng, vị khế ngọt như đường phèn. Thằng Ấu là bạn thân nhất
của Nhị. Từ đồng ấu tới dự bị. Từ dự bị tới sơ đẳng. Đi đâu cũng là Nhị, Ấu
khoác tay, kề vai, cặp chân thỏ non song song với cặp chân chim sẻ. Cây khế nhà
Ấu, mùa nào Nhị cũng được ăn ít nhất là hàng chục trái. Hôm được tin Nhị ra tỉnh
học, Ấu thủ hai trái khế chín vàng trong vạt áo, luồn qua ba thửa vườn, chạy hết
một lối xóm, đem tặng cho Nhị. Ấu đen nhẻm. Ngỗ nghịch. Mắt trắng dã như mắt rắn
ráo. Người làng đồn cha Ấu ngày xưa đi ăn cướp bị ông quan huyện đeo bài ngà
đem lính từ trên huyện về bắt được. Cha Ấu phá rào, băng qua ao trốn. Nhưng
lính bắn theo trúng chân, ngã quỵ. Rồi bị cùm tay, giải đi. Và chết trong nhà
ngục. Cha nào con ấy. Ấu rắn đầu, trán gồ thành bướu, nổi tiếng gan lì nhất lớp.
Thầy Chử dữ đòn là thế, một buổi gọi Ấu là con thằng tướng cướp, bắt Ấu nằm sấp,
đánh đủ mười roi mây tóe máu. Ấu quằn người như con giun mà chịu đòn anh hùng,
không bật một tiếng kêu một tiếng khóc nào. Nhị chứng kiến trận đòn, mỗi lần nhớ
lại còn xám xanh mặt mũi. Cha tướng cướp chẳng thấy đâu, chỉ thấy con chí hiếu.
Ấu thương mẹ lạ thường là thương. Mẹ Ấu ở một túp lều nhỏ, bán hàng ở cái quán
nước lộ thiên gần cây đa đầu làng. Sáng sáng, Ấu đội hàng ra quán cho mẹ rồi mới
đến trường. Mỗi lần làm gì không nên không phải, mẹ mắng, Ấu khoanh tay trước
ngực, cúi đầu, đứng im phăng phắc. Ấu khỏe như trâu lăn, đánh lộn một cây, mình
mẩy thâm tím, thân thể đau nhừ cũng chỉ nghiến răng, chứ không bao giờ khóc. Vậy
mà hôm tiễn Nhị và tặng bạn hai trái khế cuối cùng chấm dứt cho một tuổi hồng
đoàn viên, Ấu đã chảy nước mắt.
Riêng với Ấu, Nhị đã có không biết bao nhiêu
là kỷ niệm. Ngăn ký ức nào đựng cho đủ. Cặp học trò nào chất cho vừa. Còn thằng
Thóc nữa. Cho nó thân thứ nhì đi. Thân sau Ấu thân thiết nhất. Thóc học giỏi
quá thể. Óc nó chứa đựng đầy chữ. Chữ vào trong đầu Thóc, chữ ở lại, hóa thành
những bài học thuộc lòng đọc băng băng một hơi, thành những bài toán làm không
bao giờ sai một con số nhỏ, thành những lần lên bảng, cái giọng Thóc sang sảng,
thước kẻ trên tay, giờ địa dư vừa nói vừa chỉ bản đồ, không sai tên một dòng
sông, không lầm tên một triền núi. Bợm và thánh thật chứ. Không bợm sao Thóc đứng
dầu lớp ba năm tiểu học liền. Không thánh sao thầy cũng phải chịu. Thầy bắt mọi
người bắt chước Thóc, cũng phải học giỏi như Thóc. Nhị muốn mà không được. Theo
kịp Thóc là cái chuyện đứt hơi. Học như Thóc, một hơi thôi, đã hoa mắt chóng mặt.
Trước ngày Nhị lên đường, Thóc rủ Nhị ra chợ. Đãi Nhị một bữa bún riêu no căng
bụng. Thóc bảo: “Mày muốn lấy gì tao cho”. Thóc có nhiều cái Nhị thích lắm.
Thóc có con chim vành khuyên nhốt trong một cái lồng sơn son, cái hộp bút chì đủ
mười hai màu, một cuốn sách đóng
gáy da đầy những con bướm ép đủ kiểu đủ cỡ, một cuốn truyện thần
tiên là phần thưởng nhất lớp của Thóc, Nhị nhớ đâu như chỉ mượn xem qua được có
một lần.
Cộng đồng đọc sách
Lại còn thằng Phiệt nữa. Nó chẳng thân lắm
nhưng nhiều buổi sáng Chủ nhật, chính Nhị đã phải làm thân với Phiệt. Chả là Nhị
mê đi câu cá mà nhà Phiệt lại có một cái ao nhiều cá nhất làng. Cái ao cá nhà
Phiệt là nỗi mê đắm tận cùng và lớn nhất của Nhị đó. Nghĩ đến đã đành, đêm còn
mơ thấy mặt ao với những bầy cá đầy đặc quẫy nhảy hoa mắt cùng khắp cõi mộng.
Cái ao ở phía sau nhà ba phía là bụi tre um tùm vây bọc. Chỉ có một phía vào được
thì ông Xã, cha Phiệt, đã ngồi đó, ở một đầu thềm, suốt ngày suốt buổi.
Một lần, Nhị đánh bạo vác cần câu đi vào,
nhưng không thoát. Ông Xã thủng thẳng hỏi: “Cậu Nhị đi đâu đấy”. Nhị đáp: “Cháu
vào tìm Phiệt”. Trẻ con không đánh lừa nổi người già. Ông lão quái ác, vẫn cái
giọng thủng thẳng tiếng một: “Tìm ai thì tìm, tha hồ, nhưng không có được tìm bắt
cá của tôi đâu đấy nhá”. Ông lão giữ cá thật còn cẩn mật hơn ông thần tóc đỏ giữ
của, Nhị đã xem trong một truyện thần tiên. Lần đó, Nhị cụt hứng đành vác cần
câu lủi thủi đi trở ra. Kẻ mách Nhị câu trộm được những con cái nghìn vàng của
ông Xã lại chính là Phiệt. Thấy Nhị mê quá, Phiệt mách nước cho Nhị đánh lừa bố.
Mày làm một cái cần câu ngắn thôi, giấu vào trong vạt áo. Bố tao có hỏi, khai
là vào vườn sau tìm cỏ gà. Tới ao, hãy giở cần câu ra. Ngồi câu ở gốc cây sung ấy.
Chỗ ấy um tùm, kín khuất, thầy tao không thấy được. Câu được cá cứ để ở gốc
sung, tao lấy tao mang ra cổng cho. Suốt một vụ hè, Nhị đã làm theo kế hoạch của
Phiệt. Và quả nhiên tuần nào cũng câu trộm được hàng chục con cá chép của ông
Xã. Bây giờ thì hết rồi. Hết những con tép, con giun làm mồi. Hết những con bống
trứng vàng phình bụng, những con rô đen nhẫy, những con rói mắt đỏ, những con
trê trơn nhẫy, những con chép nặng trĩu làm cong vút cái cần câu nhỏ, hết chỗ ẩn
náu um tùm kín khuất sau gốc sung vươn mình ra mặt nước ao kia.
Sách online miễn phí
Giã từ. Từ giã. Lên đường. Bỏ lại. Con Phượng,
mắt tròn như hòn bi, đen láy, cười đấy, rồi khóc đấy, hay đòi Nhị cho đi theo
những cuộc phiêu lưu sảng khoái mê ngất qua những bờ bụi, nó cùng luồn những
hàng rào, cũng lách qua những chân tre, cũng nhảy qua những lòng rạch, vừa đi
theo Nhị vừa sợ, nhưng sợ mà đòi đi, lần nào Nhị không chịu, cô bạn Nhị giậm
chân bành bạch, dọa khóc, dọa hét, Nhị muốn kêu trời nhưng rồi lại nắm lấy cái
cổ tay bụ bẫm có ngấn của Phượng, dắt bạn chạy lao và giữa cái xanh lam đầy đặc
bóng mát thênh thang vui thú tràn đầy của cái thiên đường bao giờ cùng dành cho
Nhị những khám phá kỳ thú. Con Phượng phút này làm gì? Tao xa rồi, Phượng! Ai
đưa mày đi bắt những con bướm buổi trưa say nắng, những ngọn cỏ gà, những con
chuồn kim, và đêm tối, những con đom đóm lập lòe, và ngày mưa, ai nữa, cùng người
bạn nhỏ, vui thú thả theo con lạch tràn bờ những con thuyền giấy? Giã từ. Từ
giã. Bỏ lại. Chia tay. Xa bạn. Lên đường. Những hình ảnh số đường. Và bây giờ
là một đường phố xa lạ, chẳng có bướm vàng chẳng có bạn cũ. Những chùm hoa phượng
đỏ chói của tuổi nhỏ bông hoa đã nở. Đã rụng. Một năm học mới bắt đầu. Một năm
học phường phố đầy vẻ xa lạ thù nghịch. Thù nghịch ngay từ căn phố Nhị vừa đặt
chân tới. Thù nghịch ngay từ ngôi nhà ở đó những ngày trọ học của Nhị đã bắt đầu
với Nhị bằng cái cảm giác rùng rợn của một kiếp lưu đày.
°
Đó là một ngôi nhà kiểu cổ. Như tất cả những
ngôi nhà cùng một kiểu, nằm thiểu não thành một hàng dài xiêu đổ, tối tăm trong
lòng con phố khuất tịch. Mãi về sau, mẹ kể chuyện, Nhị mới biết là tới kỳ Nhị đến
trọ học, người chị họ – bà phán Tuyên – gặp phải một bất hạnh lớn. Gia đình bà
phán trước đó sống sung túc, phong lưu. Căn nhà sáng chiều vang động tiếng cười
tiếng nói. Ông phán đi làm. Ba phán buôn bán thêm. Công việc làm ăn phát đạt,
thì đột nhiên bà phán bị một người bạn lừa đảo. Người bạn gái phản phúc lá mặt
lá trái đã dụ dỗ ngon ngọt thế nào không biết, chỉ biết bà phán đã đưa hết tiền
bạc dấn vốn cho ả, và một buổi, ả đã bỏ đi mất tích. Thế là một phút trắng tay.
Để trừng phạt vợ về cái tội nhẹ dạ tin người, ông phán bắt bà phán ở nhà. Một
cuộc sống khắc khổ bắt đầu từ đó. Tiền lương trích ra một nửa để trả nợ, một nửa
giao cho chị Châm, người con gái lớn. Khoản tiền quá ít, tằn tiện thế nào cũng
không đủ chi tiêu. Căn nhà từ bất hạnh đột ngột, đắm chìm trong một bầu không
khí u uất. Bà phán đau buồn, sinh bệnh, nằm suốt ngày trên gác tối. Những tiếng
cười mất biến trên những khuôn mặt trầm tư, khép kín. Chỉ còn những cặp mắt ngó
xuống, và những giọt lệ thầm và những tiếng thở dài.
Ngay từ buổi chiều mới đến, cái không khí lạnh
buốt, thiêm thiếp của ngôi nhà không hạnh phúc đã là một dội đập bàng hoàng vào
trí óc non nớt của Nhị. Tối xuống. Bật đèn lên. Ánh đèn cũng vàng vọt, cũng buồn
rầu. Ông phán từ sở về. Mệt nhọc, cau có. Ông hỏi thăm Nhị một vài câu qua loa.
Mấy thằng nhỏ con ông từ bên kia bàn ăn ném cho Nhị những cái nhìn gờm gờm thiếu
thiện cảm. Chị Châm xem chừng có cảm tình với Nhị hơn. Nhưng người con gái lớn
của cái ngoài sa sút không thể là một thiếu nữ tươi tắn, mà đã sớm những lo buồn
không tên, những ưu tư nhiều mặt. Bữa cơm thứ nhất đánh dấu cho chuỗi ngày
tháng trọ học, Nhị nhớ chẳng vui gì. Mọi người cắm đầu ăn. Rồi đèn tắt đi. Tất
cả cùng lên lầu.
Nhị ra ngồi một mình ở ngoài thêm cửa. Tầng dưới
của căn nhà tối om sau lưng. Trước mắt Nhị, con phố nhỏ nằm dài dưới những ánh
điện đường nhợt nhạt. Một vài bóng người di động, lặng lẽ, dưới những mái hiên
thấp. Thỉnh thoảng, ánh đèn lắc lư của một xe hàng rong chậm chạp lăn qua. Tiếng
rao hàng cất lên, khàn khàn, mỏi mệt. Những âm thành rời rạc ấy mất hút vào im
lặng với ánh lửa lay tạt nhỏ dần về một cuối phố. Đêm tháng Chín lạnh. Tiếng
hanh nỏ của một phiến lá rụng trên một lòng mái cong trũng. Lòng phố ướt át dần.
Sương chập chờn, xanh biếc. Nhị chống tay dưới cằm, nhìn con phố xa lạ, lại nhớ
đến những đêm trăng sáng ở làng. Nhà Nhị ở sát gần một bờ sông. Đêm trăng, mọi
người từ trong làng ra tắm giặt thật khuya trên những bến đá. Những bầy trẻ nhỏ
cùng tuổi Nhị bơi lội, vùng vẫy trên mặt nước óng ánh những gợn vàng. Giã từ
ánh trăng cũ. Trăng ấu thơ ơi, từ biệt từ đây. Nhị chìm đắm trong một dòng hồi
tưởng miên man như thế, cho đến khi Nhị nhìn thấy ở một căn nhà đối diện, một
cánh cửa mở ra, một ánh đèn bật sáng và một bóng người vượt đường đi sang.
Cái bóng nhằm đúng chỗ Nhị ngồi đi thẳng tới.
Nhị hoang mang chưa biết nên ngồi im đó hay đứng lên, cái bóng đã sát tới gần,
và đứng lại trước mặt. Một tiếng nói dịu dàng, dịu dàng và êm ái lạ thường:
“Tài đấy hả?”
Nhị ngơ ngác:
“Tài nào ạ?”
Cái bóng cúi xuống nhìn soi vào mặt Nhị. Và Nhị
nhìn thấy khuôn mặt người đàn bà của ngôi nhà đối diện. Cùng một tầm thước với
chị Châm nhưng người đàn bà mảnh khảnh hơn. Trên khuôn mặt trái xoan của nàng,
một đôi mắt sâu thẳm đen láy. Khuôn mặt đó, mà sau này, lúc nào Nhị cũng như cảm
thấy phảng phất một nỗi buồn ẩn giấu, đẹp lạ thường. Cũng đẹp dịu dàng, và hiền
hậu như cái tiếng nói ngọt ngào Nhị vừa nghe thấy. Một tiếng cười khúc khích:
“Chết! Lầm rồi. Chị lại tưởng cậu Tài, em chị
Châm. Chị Châm đâu?”
“Ở trong nhà ạ!”
“Em là ai?”
Không chờ Nhị trả lời, người đàn bà đặt bàn
tay nàng lên mái tóc Nhị, một bàn tay mềm mại và ấm áp:
“Em là cậu học trò ở dưới ấp mới lên trọ học đấy
hả?”
“Dạ!”
“Buổi sáng chị Châm có sang nhà nói chuyện. Ngồi
ở đây làm gì một mình thế?”
“Em xem phố”.
Lại tiếng cười thân mật, khúc khích:
“Xem phố? Cái con phố này xấu và cổ nhất. Có
gì đáng xem đâu. Sương xuống rồi đấy. Đừng ngồi ở thềm cửa này nữa. Lạnh lắm.
Sáng mai tha hồ xem. Nhà chị ở bên kia đường. Chỗ khung cửa có đèn sáng ấy, em
nhìn thấy không?”
Nhị gật đầu. Người đàn bà xoa đầu Nhị, đứng thẳng
người lên:
“Mà tên em là gì?”
“Nhị, Nhị ạ!”
“Nhị? Được lắm. Ở đây đi học rồi lúc nào buồn,
Chủ nhật ngày nghỉ chẳng hạn, sang chơi với chị nhé. Chị mời em ăn bánh. Thích
ăn bánh, cứ sang, tha hồ ăn. Thôi đứng lên. Vào tìm chị Châm bảo hộ chị là chị
Thời cần gặp”.
°
Bao nhiêu năm về sau, mỗi lần hoa phượng nở, mỗi
năm tháng Chín về cho tựu trường tới, cậu học trò nhà quê đã quen lắm với những
ánh điện đường thành phố, lại đến với những cửa trường khác, lại có những người
bạn mới, lại xa thêm mãi ngôi nhà trọ và lòng phố cũ, những vòm trời tỉnh lẻ lấy
dẫu đã nhạt nhòa trong trí nhớ vẫn đằm thắm một hình ảnh một khuôn mặt. Đó là
cái hình ảnh dịu dàng, cái khuôn mặt đôn hậu của chị Thời. Giọng nói ngọt ngào
của chị. Ánh mắt nhân từ, bàn tay ấm áp của chị. Giữa chú nhỏ và người con gái
lớn tuổi, một sợi dây bằng hữu đã được nối kết, sợi dây ấy đã không đứt rời mà
còn buộc, thật chặt, những kỷ niệm của Nhị về chị Thời thành một khối tình cảm
trân trọng, cái khối tình cảm đó nguyên vẹn trong hồi tưởng Nhị, là cái phần
gìn giữ cảm động và trau chuốt nhất của những ngày trọ học đầu tiên.
Nhị đang nhớ lại chị Thời đây. Nhớ lại cái thế
giới thu nhỏ của chị, lặng lẽ như một dòng sông trong đồng chảy âm thầm giữa những
đời cỏ hèn mọn. Đến cái dáng đi của chị, bóng hình, không tiếng động, trong
ngôi nhà cũ, ở đó, cho một cuộc đời thiếu nữ, những xuân hồng đã biệt tích, đã
đi qua. Đến cái khoảng sân sau, cái khoảng sân rêu phong lủi thủi giữa bốn vì
tường cao vút, ở đó như chuỗi ngày tháng mưa phùn của chị Thời, không một tia nắng
chiếu tới và lọt xuống, cho dù là vào những buổi sáng mùa hạ rất đẹp trời. Đến
khuôn mặt chị, hiền hậu, buồn rầu, che giấu một tâm sự riêng tây không tỏ lộ. Đến
ánh mắt chị u uẩn. Và những tiếng thở dài nhẹ như một hơi gió thoảng, đôi khi
Nhị bắt gặp, nhưng bây giờ Nhị còn nhỏ quá, chưa hiểu được nguyên nhân.
°
Những ngày trọ học đầu tiên lạc lõng và bỡ ngỡ
trôi qua. Con phố khuất tịch của tỉnh lẻ không bao giờ có được cái sáng hồng,
cái nhảy nhót, cái tươi vui phơi phới của một con đường đồng dưới ấp. Nhưng Nhị
cũng quen dần với nó. Không thể làm khác. Có điều là cái gia đình tắm đẫm trong
bầu không khí phiền muộn của người chị họ sa sút thì Nhị không tài nào tìm được
một hòa nhập tốt đẹp. Bà phán vẫn nằm trên căn gác tối thẳm. Với chiếc áo len
khuy cài tới cổ, tròng mắt trũng và những tiếng ho thúng thắng mỗi khi trời trở
lạnh. Ông phán, chiều chiều từ sở về, vẫn cái điệu mệt mỏi, cau có. Nhà không
nuôi người ở, chị Châm đầu tắt mặt tối suốt ngày dưới bếp. Và thằng Chuẩn, thằng
Tài thì không phải là thằng Ấu, thằng Thóc. Chúng không chịu kết bạn với Nhị.
Nhiều lần, chị Châm mắng: “Sao chúng mày không chịu chơi với chú Nhị?”. Hai thẳng
oắt đưa mắt nhìn nhau, tiếp tục những cuộc chơi riêng. Chúng chê Nhị ngố nghế.
Cười Nhị nhà quê. Chế giễu Nhị đủ điều. Chú mà phải làm thân với cháu mới ngặt
chứ. Vậy mà mọi đề nghị giao hảo và sống chung hòa bình nào của nhị cũng bị hai
cái đối phương chuột nhắt đồng tuổi từ chối. Một từ chối quyết liệt, tàn nhẫn.
Một lần bà phán cho tiền ba chú cháu dắt nhau đi coi chiếu bóng. Phim Ba
chàng ngự lâm pháo thủ. Phim có đánh kiếm như chớp, phi ngựa như bay, Nhị
mê quá thể là mê. Thế mà vừa chạy vào nhà trong lấy cái mũ trắng chạy ra, hai
tên pháo thủ khốn nạn đã lẻn đi mất hút, và pháo thủ Nhị đành ở nhà. Chiều về,
hai thằng cháu cô hồn kể chuyện đấu kiếm bô bô, Nhị tức đến muốn phát khóc.
Nhưng chúng khỏe hơn, lại bênh nhau chầm chập, Nhị không làm gì chúng được. Cái
quyển sách đầy
những con bướm ép, tặng vật của Thóc ngày đôi bạn chia tay và Nhị lên đường,
chúng cũng ăn cắp mất. Đòi, chúng bảo thích lấy, chán chơi, xé, đốt đi rồi.
Ngang ngược, láo lếu, và mất dạy đến thế là cùng. Thành ra tiếng là sống chung
dưới một mái nhà, học cùng một lớp, về chung một lối, mà giữa mấy thằng cháu và
ông chú nhỏ thó, không hề có cái tình bằng hữu tưởng là tự nhiên và dễ dàng phải
có, là cái tình bằng hữu của tuổi nhỏ.
Sách online miễn phí
Mà Nhị cũng cóc cần. Nhị đã có một người bạn mới.
Thân thiết. Đôn hậu. Tử tế. Người đó là chị Thời. Ngày nào Nhị cũng sang chơi
bên nhà chị. Ít nhất là một lần. Chiều thứ Bảy, ở cả buổi. Chủ nhật, ở cả ngày.
Hồi đầu Nhị còn sợ bà phán không bằng lòng. Chị Thời bảo cứ yên tâm, để chị nói
với bà phán. Và chị nói. Và bà phán cũng chỉ phản đối lấy lệ. Lâu dần, gần như
là Nhị chuyển dần đời sống của Nhị sang nhà chị, thực hiện một cuộc di cư ngắn
sang qua một lòng đường.
Nhà chị Thời cũng là một ngôi nhà kiểu cổ với
những hàng cột lớn, những bờ mái cong trũng, những bức tường rêu phong như những
căn nhà cùng phố. Nhưng nó lớn rộng mênh mông. Và thật sạch sẽ, thật yên tĩnh.
Chị Thời có hai người anh trai. Họ đã lớn, lấy vợ, cùng đi lập nghiệp ở phương
xa, thỉnh thoảng lắm mới trở về vào những ngày giỗ tết. Ngôi nhà thênh thang chỉ
có chị Thời sống với người mẹ già. Bà lão đã bảy mươi. Mái tóc bạc trắng. Phong
cách thoát tục. Bà cũng hiền hậu, cũng dịu dàng như người con gái. Đôi khi đi
qua căn buồng nhỏ kế liền khoảng sân trong, Nhị ngó vào, thấy bà lão ngồi đó,
trước một bàn thờ Phật. Chuỗi tràng hạt lần chậm từng hạt trên những ngón tay gầy.
Ánh nến lung linh. Hương trầm thơm ngát. Bà lão ngồi tụng kinh hàng giờ, tiếng
mõ làm nhịp cho những lời tụng niệm trầm tiếng. Ngoại trừ căn buồng nhỏ ấy, tất
cả ngôi nhà trở thành cái thế giới riêng của Nhị. Chị Trầm mến Nhị, khen Nhị hiền
lành, ngoan ngoãn, để cho Nhị hoàn toàn tự do. Trưa, bên này mát hơn bên nhà bà
phán, Nhị sang đây mà ngủ. Chiều đi học về, chị mới làm xong mẻ bánh quế đó, nhớ
sang mà ăn. Chỉ còn bảo quần áo Nhị có đứt khuy, mang sang, chị khâu vá lại
cho. Và những bài toán khó, cầm vở sang, chị giải nghĩa cho cách tìm đáp số. Nhị
yêu nhất những buổi trưa mùa hè nằm ngủ thiếp đi trên cái ghế ngựa gỗ lim mát lạnh
như da người dưới mái nhà đằm đẵm bóng mát của người chị nhân hậu. Ngôi nhà như
được che phủ dưới những tàn lá đầy đặc. Không khí ngưng đọng. Phảng phất ở những
xóc góc, một thứ bóng tối thân mật. Và trên một nền đá hoa sạch bóng như gương,
tròng mắt ngà ngà sắp rơi chìm vào giấc ngủ thơ ngây của Nhị chập chờn cái hình
bóng di động uyển chuyển đó của chị Thời, cái hình bóng bao nhiêu buổi trưa hè
xưa đã làm cho Nhị yên tâm và sung sướng.
Sau này, nhớ lại, Nhị mới nhận thức được chị
Thời đúng là một điển hình tốt đẹp nhất của người con gái công dung ngôn hạnh,
cái khuôn mặt diễm lệ của tâm hồn và đức tính tổng hợp này, bây giờ, Nhị chỉ mới
thấy được ngợi ca mơ hồ trong những bài luân lý. Chị Thời giỏi thật. Như Thóc của
ba năm tiểu học đứng đầu cả lớp, chị Thời trên mọi mặt của gia chánh và nội trợ
đều vượt rất xa, chị Châm, chị Hiền, chị Thảo là mấy người bạn gái cùng phố.
Thêu thùa, làm bếp, may vá, ở chị Thời thảy đều là một nghệ thuật tinh diệu.
Bây giờ, Nhị đâu có biết. Chỉ nghe thấy chị Châm, chị Hiền, mọi người đều tấm tắc
như thế. Người ta còn nói khác nữa. Về chị. Là khéo léo, nết na, công dung thế
kia, ngôn hạnh nhường ấy, mà chị Thời, không hiểu bởi một trớ trêu quái gì nào
của cảnh ngộ và định mệnh lại không có được cho đời chị một xuân hồng.
Những người thiếu nữ cùng tuổi lần lượt lên xe
hoa về nhà chồng, riêng chị Thời vẫn ở lại với cái thế giới lặng lờ. Hết một
mùa mưa. Qua một mùa nắng. Hết một năm này sang một năm khác. Hồi Nhị mới đến ở
khu phố, ngôi nhà chị Thời mỗi buổi sáng Chủ nhật là nơi họp mặt của những người
bạn chị. Đám bạn gái làm bánh, thêu thùa, đùa cợt với nhau. Căn nhà vang động
tiếng cười tiếng nói. Rồi Nhị thấy những khuôn mặt bằng hữu ấy thưa vắng dần.
Vào mỗi mùa xuân lại có những đoàn người đầu đội quả song, thắt khăn lưng đỏ đi
vào trong phố. Họ đi, nghiêm chỉnh, thành một hàng dài. Họ khiêng những mâm đồng,
chất cao có ngọn những chồng bánh bọc giấy kim tuyến, bọc giấy hồng điều đỏ
chói. Trẻ con hàng phố đổ ra xem, vỗ tay reo hò: đám cưới, đám cưới. Ít ngày
sau, một đoàn xe hòm sơn đen vào theo, cũng nối hàng như đoàn người. Trong khói
pháo khét lẹt, trong tiếng pháo ném sự kinh động bàng hoàng vào lòng phố tĩnh mịch
là những khuôn mặt hân hoan. Và sau những ngày vui đó, lại mất đi một chị Hiền,
chị Lụa. Nhị ở trọ nhà bà phán cả thảy bốn năm. Những người bạn của chị Thời lần
lượt lên xe hoa. Đến năm thứ tư, bà phán cũng gả chồng cho chị Châm. Tiệc cưới
linh đình có được nhờ ở bàn tay nội trợ tuyệt vời của chị Thời một phần lớn. Chị
sang làm giúp gần hết mọi việc. Phút chia tay với bạn, chị Thời từ chối không
chịu làm phù dâu – đôi bạn ôm lấy nhau khóc. Đám cưới là vui mà, người lớn bảo
thế, sao hai chị lại khóc, Nhị không tài nào hiểu được. Buổi chiều, lòng con phố
cổ trở lại quạnh hiu như cũ. Ngôi nhà bà phán vắng tanh buồn rầu. Nhị lại chạy
sang nhà chị Thời. Chị không thấy Nhị tới. Chị ngồi đó, bóng tối của buổi chiều
phủ dần trên mái tóc, cúi đầu xuống, bất động, đắm chìm, lại lòng tay đưa lên,
bưng lấy mặt. Chưa bao giờ Nhị thấy chị Thời buồn như buổi chiều hôm ấy.
Chị kéo Nhị lại gần:
“Chị Châm xa chị em chúng mình rồi”.
Nhị nói, ngớ ngẩn:
“Lấy chồng thì phải xa”.
“Em nói đúng lắm”.
Nhị nghiêng đầu ngẫm nghĩ rồi hỏi chị đột ngột:
“Còn chị, sao chị không đi lấy chồng?”
Một nụ cười buồn rầu:
“Không ai lấy chị hết”.
Nhị không chịu tin như thế. Lại thơ ngây hỏi:
“Sao người ta lấy các chị ấy?”
“Các chị ấy may mắn hơn chị nhiều”.
Rồi như không muốn kéo dài câu chuyện, không
muốn đề cập tới chút nào, chị Thời ngăn lại, chị bảo Nhị còn nhỏ, không nên biết
đến chuyện người lớn. Và đứng lên lấy bánh cho Nhị ăn. Điều khác thường là buổi
chiều hôm đó, chị Thời còn cho Nhị vào thăm căn buồng riêng của chị. Đó là một
căn buồng nhỏ, cũng giống như căn buồng của chị Châm. Nhưng đèn vừa bật sáng,
Nhị thoạt bước vào, đã đứng ngẩn người ra. Căn buồng có sự lạ lùng này là trên
những vì tường của nó, đều có những tấm hình treo kín khắp. Phải, những tấm
hình. Điều làm cho Nhị ngạc nhiên hơn, là những tấm hình đó không phải là hình
chị Châm, chị Lụa, mà là những tấm hình tài tử. Những tấm hình tài tử màn bạc.
Những tấm hình tài tử chiếu bóng. Chúng thật nhiều. Hàng mấy chục cái, lớn nhỏ
đủ cỡ, tấm nào tấm nấy đều được trang trọng lồng kính, và treo đính ngay ngắn
lên trường bằng những cái khung da thật đẹp. Và điều ngạc nhiên cuối cùng cho
cái khối óc ngây thơ của Nhị: những tấm hình tài tử đó toàn là những tấm hình
đàn ông, chứ tuyệt nhiên không có hình của một nữ tài tử nào.
Trọ học ở tỉnh tới năm thứ tư là năm đó, Nhị
đã biết đến cái thú màn bạc. Mê xi nê. Mê lắm. Mê như điếu đổ vậy. Nhưng một
cái vé xi nê “đi tuần” bấy giờ với Nhị đã là một chi khoản thật lớn so với nền
tài chính eo hẹp của một cậu học trò trọ học. Cha cho có một đồng. Phải tiêu đủ
một tháng. Thế đã là nhiều lắm. Nhiều thế chẳng thấm gì. Thằng bò khô, thằng
bánh tôm, anh kẹo kéo với cái vòng quay số có cắm một lá cờ nhỏ xíu ở giữa, chú
Tầu sực tắc với hai thanh tre va đập lách tách, ông lão sê cấu với những móng
tay cáu ghét và cái đèn bão rập rình ánh lửa, đã chia nhau gần hết đồng bạc của
Nhị. Lại còn những hòn bi ve. Lại còn những con cù sừng nữa. Chưa giữa tháng,
Nhị đã là chú học trò vô sản chính cống. May mà có chị Thời. Chị cho tiền Nhị
đi xem xi nê ít nhất một tuần cũng được một lần.
Nhìn thấy những tấm hình tài tử treo kín khắp
ba vì tường phòng ngủ của chị, Nhị sáng mắt ra, như bắt được của. Nhận diện được
tức thì đám tài tử là ai. Kia là Robert Taylor, tóc đen như mun, mái tóc lượn
sóng. Kia là Tyronne Power, mặc như kiểu hiệp sĩ thế kỷ mười chín, mắt sáng
gương, hàm răng trắng bóng, nụ cười mê hoặc. Kìa nữa là Clark Gable, với đường
ria chải chuốt. Kia nữa là Franchot Tone, kia nữa là Douglas Fairbank Jr. Có thể
nói là tất cả những ngôi sao, những thần tượng, những khuôn mặt mà sau này Nhị
được nghe nói như những ước mơ một thời đằm thắm nhất của đàn bà, điều có mặt
trong căn buồng riêng của chị Thời. Sưu tập về những tấm hình tài tử này, với
Nhị hồi đó, và sau này lớn khôn cũng vậy. Ngoài những tấm hình treo trên tường,
chị Thời còn có hàng chục tập album nữa chứ. Riêng Robert Taylor thôi, con số
hình đã tới hàng trăm. Những tập album dán hình tài tử của chị Thời cũng là những
tập album tuyệt đẹp. Chữ mạ vàng và bìa thì bọc gấm hết. Gấm màu huyết dụ. Gấm
màu vàng diệp. Gấm màu xanh nước biển. Và gấm màu bạc, đài các, óng ánh.
Thật là một khám phá. Một khám phá kinh ngạc.
Cái điều cuối cùng làm Nhị ngạc nhiên hơn nữa là chị Thời rất ít có khi đi xem
chớp bóng. Đâu như một năm chỉ một vài lần. Vào những dịp lễ tết. Và phải là một
phim đặc biệt lắm. Thế thì chị có hàng mấy trăm tấm hình tài tử treo đính kín
khắp trước tầm mắt, đầy đặc trong căn buồng riêng của chị như thế để làm gì? Nhị
hỏi:
“Chị thích xi nê lắm hả?”
“Vừa thôi”.
Thích vừa thôi. Chỉ thích, chỉ mê những tấm
hình. Lại là một bí mật ở ngoài tầm hiểu biết thơ dại của Nhị.
“Thích để làm gì?”
“Chẳng để làm gì hết”.
Và chị Thời xoa đầu Nhị, giọng chị bất chợt
trang nghiêm, mơ màng, như nói với một người lớn:
“Một người đàn bà như chị chỉ còn những tấm
hình này”.
“Em không hiểu”.
“Lớn lên, rồi em sẽ hiểu. Thôi đi ra”.
°
Giã từ lòng phố cũ, những bờ mái cong trũng
mang cái linh hồn hắt hiu phai tàn của nhiều mùa lá rụng, giã từ vòm trời tỉnh
nhỏ khuất lùi sau những mưa phùn và sương mù quá khứ, sóng đời từng lớp dồn đẩy
chú nhỏ đến những bến bờ khác, sáng tươi hơn. Không bao giờ Nhị còn có dịp trở
lại nơi chốn đánh dấu cho bốn năm bỡ ngỡ dưới những ánh điện đường phường phố.
Châm đi lấy chồng. Ông phán phải đổi lên mạn ngược, mang theo gia đình theo. Một
cuối năm nào đó, giữa chiến tranh kín trùm, Nhị được tin bà phán tạ thế. Con phố
cũ, cái thế giới lặng lờ khuất tịch, vòm trời tỉnh lẻ buồn rầu, với Nhị là đã
chặt đứt mọi liên lạc. Lắm lúc muốn tưởng nhớ lại, Nhị cũng chỉ còn thấy thấp
thoáng hiện lên trong một hồi tưởng trùng, nhòa, ít nhiều ảnh hình lãng đãng.
Nhưng chị Thời thì Nhị không quên được. Người thiếu nữ xấu số vì lỡ hết mọi
chuyến xe hoa chạy qua cái ga sầu không bao giờ được thấy đỏ chói một trận mưa
hoa là cái màu hồng pháo cưới lại chính là một mặt trời của kỷ niệm, đóa mặt trời
dịu dàng ấy còn sáng chói mãi mãi trong trí nhớ. Nhị vẫn ước mong được gặp lại
chị Thời, ít nhất cũng một lần. Nhưng người ta nói gia đình chị cũng không còn ở
địa chỉ cũ. Cái số chị Thời lận đận, trôi dạt. Nhớ đến chị Thời, Nhị lại nhớ đến
ngôi nhà ngày xưa. Khoảng sân sau rêu phong. Cái bể non bộ và những chậu cây cảnh.
Người mẹ già, bàn thờ Phật. Hương trầm thơm và ánh nến lung linh. Những buổi
trưa mùa hè, bóng tối làm thành bóng mát, khuôn mặt dịu dàng của chị Thời ở đó,
nghiêng xuống giấc ngủ thơ ngây của đứa nhỏ xa nhà. Và tiếng nói của chị, êm
ái. Và những tấm hình của chị. “Chị chỉ còn những tấm hình ấy. Để sống. Lớn lên,
sau này em sẽ hiểu”. Nhị đã lớn. Nhị đã hiểu. Những tấm hình tài tử ấy là tổng
hợp cho một khuôn mặt đàn ông mơ tưởng không bao giờ trở thành sự thật cho đời
chị. Nàng công chúa buồn vẫn ở trên cái tháp lạnh và cô đơn của tòa lâu đài
kia. Những mùa xuân đã tới. Rồi qua. Hoa nở trong nội. Bướm bay trên đồng. Những
chiếc xe hoa. Màu hồng của pháo cưới. Nhưng với chị Thời, không một chàng hiệp
sĩ nào tới trước cửa lâu đài với con ngựa trắng. Và nàng công chúa phiền muộn vẫn
sống với giấc mơ không bao giờ thành tựu của mình. Rồi những tấm hình cũng phải
úa một ngày. Chị Thời ở đâu bây giờ? Dạt tới một bến bờ nào? Nhị hỏi thăm chị
đó. Chúc chị may mắn. Chúc chị sung sướng. Chúc chị thế nào rồi cũng có một mùa
xuân, dẫu chỉ là một mùa xuân thật muộn.
Mai Thảo


