Sunday, October 4, 2026

Biệt Ly Khúc - Nguyễn Đạm Luân

 Biệt Ly Khúc




Áo Trắng Xưa Thôi Bay - Thuyên Huy

 

 Áo Trắng Xưa Thôi Bay

Viết mà nhớ một người đã nằm xuống từ những năm sáu tám sáu chín




    Buổi chiều, trời đầu thu, tựu trường, một lần nữa, anh ngồi trầm ngâm buồn, ở một góc, trước hiên cái quán cũ quen, ngay ngã ba nhìn qua cổng trường, phía bên con gái ra đường, con đường mà anh đã đi đi về về, không đếm hết nổi bao nhiêu lần trong suốt những năm tháng nợ nần với kiếp học trò bút nghiên giấy mực.

    Ly cà phê, tự nãy tới giờ vẫn còn nguyên, nguội rồi nhưng nhờ mấy vạt nắng hờ hắt vào cũng còn được chút hơi đủ ấm, anh cứ nhìn ra đường, hàng dừa xanh không cao không thấp, lá xanh lá úa vàng xen kẻ mấy cây phượng già hoa héo hoa hắt tàn, lạ không lạ quen không quen.

*

    Đám con gái túa ra, cười rộn cười rả cả một trời chiều, phía bên kia sau lưng trường, mặt trời úa vàng pha sắc tím hoàng hôn chầm chậm xuống, ngang qua xóm chài dưới con sông nhỏ, chạy ra tới phố chợ, ngã ba đường trắng một màu trắng, chập chờn như ngàn cánh bướm bay bay, áo nối tiếp áo thả tả, vờn theo gió chiều, giờ tan trường. Chỉ là những tà áo lạ.

Nuốt ngụm cà phê nguội lạnh đáy ly cùng lúc phía trong quán, tiếng ai đó hát bài tình ca quen thuở anh mới biết yêu người, bắt đầu cho buổi chiều đông khách, anh gật đầu chào cô chủ, bước chập choạng đi ra đường, nhìn xuống đất, chiều xuống thật nhanh, phía bờ bên kia sông, phố chợ nhá nhem lên đèn, vàng vọt, le lói. Đã trễ rồi không còn đón kịp chuyến xe chiều rời phố. Một lần nữa

*

    Anh thẩn thờ cay mắt, cố tìm trong đó, tìm để mà thấy mình còn muốn tìm, vậy thôi, không có tà áo trắng năm xưa, tà áo của cô con gái xóm đạo mà anh thương thầm, nhớ trộm và chỉ duy nhất một lần, can đảm ngỏ lời, và chỉ nhận lại nụ cười, một nụ cười trọn vẹn, thánh thiện.



    Rồi từ đó, chiều trường tan, người ta, bạn bè thấy trên đường về hai người bước song đôi bên nhau, nghe nhiều nói ít mà cười, phố nghèo có thêm người biết thương nhau, nhà thờ có thêm một người ngoan đạo dù là ngoại đạo, đứng chờ tan thánh lễ mỗi chiều chủ Nhật ngay trước cánh cửa mở rộng của thánh đường, nhẹ cúi người chào Cha và mộ đạo.

*

    Năm đệ Nhất, cô nàng lớp đệ Nhị, hai người vẫn đi về sáng chiều như những ngày qua, hết đường phượng hồng đầu hạ tới lối vàng lá rụng giữa thu. Rồi sau mùa thi cuối cùng anh xuống Sài Gòn, bắt đầu những ngày đầu với giảng đường đại học, hai người không còn thường bên nhau như trước, bạn bè quen biết mà thương cho.  

    Nhà ở cách tỉnh hơn bốn mươi mấy cây số, cũng không còn ai quen ở đó, trừ cô nàng, từ đó, anh cũng trở lên tỉnh gặp lại người thương, ho vẫn còn thương như đã thương, cũng ngồi bên nhau ở quán nước đầu trường ngày nào hay bên nhau ngắm hoàng hôn tím nắng chiều bên kia sông trên cái ghế đá lẻ loi của cái công viên cây nhiều hoa ít.  

    Cô vẫn đi học những ngày đầu năm đệ Nhất, năm vắng anh nhưng sau đó thường vắng đến trường, dù năm này là năm thi, mấy cô bạn cùng lớp cũng không ai biết lý do tại sao nhưng ai nấy đều nhận ra cô trông buồn và ít nói hơn trước, dù vậy sợ gợi thêm buồn cho bạn nên không ai hỏi gì hơn.

   Mấy lần trở về, lên tỉnh, ngồi chờ giờ tan trường chiều, trong cái quán cũ quen, ngay ngã ba đường, anh đều không thấy cô ra cổng, tìm gặp mấy cô bạn biết anh, họ cũng không biết gì hơn về sự vắng mặt khá thường của cô, anh cũng không làm sao hơn vì gia đình cô không biết anh là ai, nếu có tới đó hỏi, những ngày sau đó ở Sài Gòn, giảng đường, ghế đá, anh ngồi thừ ra, nhớ người hơn là nhớ sách vở, khóc thầm chỉ riêng minh hiểu.

*

   Thi cuối năm xong, anh hối hả về thăm nhà rồi trở lên tinh, cũng chiều chủ Nhật, cũng như những chiều chủ Nhật ngày xưa, anh đứng nép một bên cửa nhà thờ chờ, thánh lễ chiều xong, người đi lễ lần lượt ra về, sân giáo đường vắng lặng, chỉ còn đôi ba con chim gọi bạn trên gác chuông, tiếng kêu kéo dài, buồn.

    Anh theo Cha xứ vào phòng tiếp khách, sau lưng nhà thờ. Không lâu sau, anh ra về, ông đứng trước cửa nhìn theo lắc đầu, bóng anh nghiêng đổ dài theo nắng chiều héo hắt xuống, trải dài trên sân, anh chậm bước đi, run rẫy, người ta không biết Cha xứ đã nói với anh những gì, tới cổng nhà thờ, đứng lại nhìn nhà thờ lần nữa, anh bật khóc.

*

    Anh cố kiềm lòng, nén lòng đừng khóc nhưng nước mắt cứ mặc tình ứa ra, lăn tròn trên mặt, khi ngồi nhìn tấm bia trước mồ, cái mồ xây bằng xi măng, gọn nhỏ trong nghĩa địa đất thánh tây so với nhiều ngôi nhà mồ lớn của ai đó, có tiền có của. Hình trên mộ bia, cũng là tấm hình đen trắng mà cô nàng tặng mà anh đang có trong bóp của mình, với nụ cười trọn vẹn, thánh thiện, nụ cười mà cô nàng trả lời hôm anh dám lần đầu ngỏ lời đã thương.

    Nắng chiều dần buông, hanh vàng hắt ngang, đưa bóng anh trải dài tròn lên nấm mồ, chừng như anh đang ôm cô vào trọn vòng tay mình. Anh vẫn ngồi bất động, ngừng khóc nhưng vẫn sụt sùi, đưa tay vuốt mái tóc dài đen tuyền trong hình, run rẩy từng chập, ngậm ngùi gọi tên cô nàng, rồi thẩn thờ đứng chết trân như người không hồn bên lề đường.

*

   Theo lời cha xứ, Chúa không thương cho trót, nửa năm đệ Nhất, cô thường nghỉ học vì phải vào nhà thương tỉnh, cả xóm đạo bàng hoàng, người khóc thương, người chấp tay lạy Chúa, cô bị bệnh ung thư ác tính thời kỳ cuối, cô cố gượng sống sau những lần hóa trị nhưng cũng không qua phần số, cô mất đi về với Chúa, vào một ngày đầu Hạ, bải trường mùa hè.

    Đám tang chật kín người xóm đạo ở nhà thờ, họ khóc và cha xứ cũng khóc khi nói tiếng “A Men” tàn thánh lễ, thầy cô, bạn bè chật cứng đường Phan Thanh Giản, đưa cô tới nghĩa địa đất thánh tây và cô ngủ yên ở đó.

*

   Anh đứng dậy, đưa tay vuốt nhẹ nấm mồ, vuốt tóc cô nàng một lần nữa, hẹn sẽ về rồi lảo đảo đi ra đường, vừa đi vừa mân mê tấm hình đen trắng trong tay, nắng tàn, chiều xuống thấp thật thấp, lẻ loi vài vạt cuối, lùa ngang đầu, trời nghĩa địa bắt đầu nhá nhem tối, nước mắt ứa ra, anh, lại một lần nữa, chắc không phải là lần sau cùng, khóc thành tiếng.

Thuyên Huy

Tàn thu 2026

  

   

   

   

   

   

  

   

  

   

 

 

   

 

 

 

 

Bài Toán - Vũ Thư Nguyên

 

Bài Toán





Văn đẩy tấm cửa kiếng, lách mình ra ngoài lan can. Buổi sáng tịch mịch, không nắng, trời u ám. Căn phòng của anh nằm ở lầu ba của một chung cư dành cho người lớn, xoay lưng ra một khu rừng thưa, chạy dọc theo xa lộ vùng Bethesda. Từ nơi đang đứng, anh có thể nhìn thấy, khuất sau đám rừng thưa ấy, từng đoàn xe nối đuôi nhau trên xa lộ, như một đoàn viễn chinh trên đường ra trận mỗi sáng. Hôm nay dậy trễ, xa lộ đã thưa thớt xe cộ, anh tần ngần đứng nhìn xuống khoảng cỏ úa dưới sân ngập đầy lá vàng. Một cơn gió sớm bỡn cợt thổi đùa những chiếc lá úa,vàng, xanh đỏ, xoáy tròn quanh những gốc cây redwood cao sừng sững, giang những cánh tay khẳng khiu như cố đón bắt lấy những chiếc lá đã lìa cành. Một vài cành cây đong đưa uốn éo như muốn nhặt lấy những chiếc lá khô đó để kết lại lên thân hình khô héo của mình, để trở lại mùa hè rực rỡ, như một người già vân vê những sợi tóc úa, nuối tiếc một thời son trẻ. Nhưng không, mùa hè đã qua, mùa đông sắp đến, còn mùa xuân thì xa mù dịu vợi. Anh mê mải nhìn những chiếc lá vàng nô đùa duỗi nhau khỏi thảm cỏ khô, chạy xuống mặt đường rồi mất dấu dưới chân đồi, cho đến khi những giọt mưa phùn lất phất hắt nhẹ vào mặt. Trời chuyển mưa sang mùa. Văn ngửa mặt nhìn lên bầu trời xám xịt, hứng lấy những giọt nước mưa lấm tấm, nghiêng nghiêng, bám nhẹ lên má, lên tóc, như vỗ về, như thấm mềm những khô cằn trong anh.

Chậm chạp quay vào phòng, Văn nhìn căn phòng ngổn ngang, bừa bãi những sách vở, quần áo, dĩa chén dơ dáy chồng chất, tự thấy mình muốn làm biếng. Muốn bừa bãi, cẩu thả như thời còn sinh viên. Có mấy khi mình được làm học trò lại một lần nữa nhỉ. Những tháng đầu khi mới dọn đến đây, anh cảm thấy thừa thãi, bứt rứt vì những ngày cuối tuần trống rỗng. Bây giờ Văn lại thấy quý cái lê thê, chậm chạp đó. Quý những khoảng thời gian trống rỗng ấy, để được ngồi ì bên khung cửa sổ nhìn mùa thu đi qua. Để tưởng tượng. Để mơ mộng vẩn vơ. Để nhớ nhung lẩn thẩn. Rùng mình, Văn nghĩ đến những ngày quay cuồng trong con lốc của đời sống. Cuộc sống đầy hỉ, nộ ái, ố, tham, sân, si. Sợ người ta dành bên nầy, lấn bên kia, đâm sau lưng, chém đằng trước. Tại sao không? Lấn được thì người ta cứ lấn, chèn được thì cứ chèn, dại gì không làm, đâm chém, chèn ép nhau để mà sống chứ! Ôi, những năm tháng lăn lộn đã biến Văn thành một tên nô lệ giác đấu, đầy vết sẹo của bon chen theo thời gian. Đời sống đã cuốn hút anh vào một dòng thác cheo leo. Nó nhồi anh vất vưởng, lên xuống gập ghềnh. Bây giờ đến khúc sông êm đềm, Văn buông mái chèo, từ từ tận hưởng sự bình yên, như lúc bé thích để dành đồ ăn ngon tận đáy chén cơm, sợ ăn liền sẽ mất. Anh muốn ôm ấp, tận hưởng cái hạnh phúc hiện có, vì Văn hiểu, một khi hạnh phúc đã qua, sẽ không quay trở lại. Hạnh phúc dường như chỉ là một làn khói mong manh, không bao giờ thật. Hạnh phúc bao giờ cũng chỉ là ước mơ, mà có mấy khi ước mơ lại trở thành sự thật?
Văn đun nước nấu cà phê, không dùng lò microwave như mọi khi. Anh muốn ngồi chờ nghe tiếng nước reo, cười thầm khi nghĩ đến mẹ của anh, vẫn nói mỗi khi pha cà phê cho Văn, rằng cà phê nấu bằng nước đun lò uống ngon hơn là nấu bằng microwave oven! Cái ngon ở đây có lẽ do sự chờ đợi, khao khát, ly cà phê đắm thêm hương vị, ngược lại khi con người ta có đủ mọi thứ dễ dàng, tất cả sẽ trở thành lạt lẽo, vô vị. Có rất nhiều thứ, đối với Văn là một trời ước mơ của tuổi nhỏ, giờ đây trên xứ người, đã trở thành nhạt nhẽo. Cái có đến với con người ta quá dễ dàng thì người ta không thấy quý cái không.

Nhấm nháp ly cà phê nóng, Văn ngồi xuống bàn học, bâng quơ nhìn những hạt nước mưa lăn tròn trên khung cửa kính. Anh không vội đi làm bữa nay, nhất là những khi mưa lất phất như thế nầy. Kệ tía chúng nó. Bom nguyên tử nổ nó cũng chưa chết nữa là nhịn đói vài giờ. Chúng nó, là những tế bào ung thư mà Văn cấy trong những ống thí nghiệm để dùng vào việc tìm thuốc chửa trị ung thư. Những tế bào đó sinh sản rất man rợ. Chỉ cần một chút máu bò là chúng có thể sinh sôi nẩy nở. Một thành hai, thành bốn, thành tám trong vòng vài ngày, cho tới khi chật ống nghiệm và hết đồ ăn mới thôi. Có lần Văn thầm nghỉ nếu mình cho chúng ăn nước mắm xem chúng có chịu nổi không nhỉ. Chổ Văn làm, Viện Ung Thư Quốc Gia, là một trung tâm nghiên cứu và chửa trị ung thư nổi tiếng nhất thế giới, nằm trong một khu khá khang trang của tiểu bang Maryland. Hàng ngàn khoa học gia từ khắp nơi trên thế giới đổ về đây làm thí nghiệm. Hàng triệu bệnh nhân đủ mọi chủng tộc đã đến đây mong được chữa trị bằng những phương pháp mới lạ còn trong vòng thí nghiệm. Giờ ăn trưa tíu tít những ngôn ngữ khác nhau làm át cả tiếng chim trong khoảng công viên rợp nắng sau bệnh viện. Phòng thí nghiệm chỗ Văn làm thì nhỏ, mà người làm nghiên cứu thì đông. Vì thế anh phải chia phiên với những người khác. Văn chịu vào trễ, làm trễ, và về trễ.

Khi ly cà phê đã uống cạn thì trời hãy còn mưa rỉ rã. Văn quyết định đi vào thăm các tế bào ung thư của mình. Anh vẫn thích đi lang thang dưới mưa. Cái thú đơn giản gợi nhớ quãng đời thơ ấu, ở truồng chạy rông tắm mưa. Mặc kệ.Văn kéo cao cổ áo ngoài rồi bước thẳng lên đồi. Con đường từ nhà đến chỗ làm non hai cây số, mưa hay nắng, Văn vẫn thích đi bộ xuyên qua cánh rừng thưa hằng ngày, để lòng mình lắng đọng, không âu lo, không vướng bận. Văn thích con đường nầy từ mùa hè vừa qua, khi rừng còn ngập lá, với tiếng ve sầu rộn rã. Với tiếng chim líu lo. Với những chú sóc nhút nhát chạy tung tăng trên cỏ rồi vọt lẹ lên những thân cây cổ thụ mỗi khi Văn đến gần. Có một chú mạnh bạo chạy theo Văn mỗi ngày để được ăn những mẫu bánh mì khô mà Văn để dành mang theo cho chú. Dần quen, chú nhảy phóc vào lòng của Văn với đôi mắt lim dim để Văn được vuốt ve, thủ thỉ. Văn nhận ra chú sóc ấy mỗi ngày rất dễ dàng vì lông chú màu trắng xám. Một con sóc bạch tạng. Anh cũng đã quen với những người đi bộ, chạy bộ để tập thể thao hai buổi sáng chiều. Lúc nào gặp anh họ cũng nhã nhặn gật đầu chào xã giao. Văn cười một mình khi nghĩ đến bà mập, bà ốm. Đó là bà Ann và bà Cathy. Ann tướng người cao dong dỏng, hơi ốm, ít nói, nhưng nét mặt rất hiền và quý phái. Còn Cathy lại mập và lùn, mặt mày chất phát, rất bặt thiệp. Hai bà cao, lùn nầy, Văn đặt tên cho hai bà ngay từ hôm gặp lần đầu, vào khoảng sáu mươi, có lẽ là bạn thân của nhau, ngày ngày, sáng cũng như chiều dắt chó đi dạo. Lần mới gặp, con chó nhỏ chạy lăng quăng tìm chỗ phóng uế, thấy Văn đi qua, nó quấn quýt theo chân anh. Vừa khi đó hai bà thong dong đi bộ lên từ phía bên kia đồi. Sợ chó muốn cắn khác lạ, Cathy xuýt xoa xin lỗi. Hôm nay trời mưa, anh hơi buồn vì không thấy sóc, không thấy chó, không thấy hai bà mập ốm Ann và Cathy.

Văn bước đều trên đám lá vàng dày cộm. Cơn mưa nhỏ chỉ đủ sức làm thấm ướt lớp lá khô trên mặt. Lớp bên dưới vẫn còn khô, rộp rộp theo từng bước chân của anh. Những bước chân đưa anh về những năm tháng ấu thơ không mấy thơ mộng ở làng quê Non Nước. Những đêm nằm nơm nớp sợ, nghe tiếng chân người dẫm lên lá bàng khô xào xạc sau nhà. Tiếng chân của du kích về làng. Tiếng chó sủa. Tiếng súng đì đoàng lẻ tẻ. Để sáng hôm sau thấy cờ sao xanh đỏ tung bay giữa chợ, trên vài xác người đẫm máu tươi lây lất dưới chân cột cờ. Rồi thì lính Mỹ lên làng, bắt dân chúng sắp hàng ngoài giếng nước ngoài đầu đình. Họ đánh đập những người đàn ông bị tình nghi là Việt Cộng. Thảm kịch cứ lập đi lập lại như một đoạn phim kinh dị mà Văn đã coi nhiều lần đến độ nhàm chán cái đoạn kết. Làng của Văn thì nhỏ, nhỏ đến nỗi mọi người dường như là bà con của nhau. Chỉ ban ngày thôi. Khi đêm về, kẻ quốc gia, người cộng sản, giết nhau như một bầy con nít chơi trò đánh giặc. Người dân vô tội bị nghi can cộng tác với bên này, hay bên kia cũng bị giết lây. Đi lang thang sau giờ giới nghiêm cũng có thể mất mạng vì bị bắn lầm bởi bên này, hay bên kia. Làng xóm ngày càng thưa dần, hình như chỉ còn người già và con nít. Đám con nít cũng đổi thay, những mái tóc vàng ngày càng nhiều thêm. Vì lẽ con gái không đi bán bar cho Mỹ, thì theo du kích, chỉ một trong hai con đường lựa chọn, có khi là cả hai. Người lớn thù ghét nhau. Con nít cũng học thù ghét nhau, để tranh sống. Tuổi thơ của Văn dường như quá ngắn ngủi, không đủ cho Văn. Anh lớn quá nhanh theo chiến tranh. Mười tuổi, Văn đã luôn miệng chửi thề tối ngày, đã biết mài một con dao nhọn, nguỵ trang trong cây viết máy, thủ sẵn trong túi quần sọt. Có lần, không nhớ rõ lý do, Văn đánh lộn với một tên nhóc cùng trường, tiểu học cộng đồng An Hải, suýt, lụi nó một dao. May, có đám bạn can kịp. Mười tuổi, Văn đã dẫn gái cho lính Mỹ ở ngã Ba cầu Đà Lách, để được vài chục xu, hay có khi, hên, một đồng đô la đỏ chói có in hình ông mọi da đỏ mặt như người say rượu. Mười một tuổi, bập bẹ hút cần sa. Mười hai tuổi, phi xì ke. Rồi mười ba tuổi...

Khi Văn gần đến khu bệnh viện thì trời chuyển mưa nặng hạt. Không mang dù, anh chạy vội vào trạm xe buýt ven đường để đụt mưa. Nép bên vách tường bằng mica chắn gió, một người đàn ông Á Đông, dáng gầy, xương xẩu, đang co ro vì gió lạnh. Cái dáng mảnh khảnh ấy run lên từng hồi theo cơn gió lộng thổi từ ngoài vào. Bàn tay gầy guộc bám lấy bờ tường trạm xe buýt như sợ gió cuốn bay đi mất. Đôi vai hơi gù trồi lên thụt xuống theo cơn ho sù sụ từ cái lồng phổi lép kẹp. Thấy Văn vào, người đàn ông, gượng gạo cười chào sau một cơn ho húng hắng. Cả hai im lặng cùng đưa mắt nhìn những giọt mưa trĩu nặng trên mái. Thịnh thoảng một cơn gió lùa, tạt từng chuỗi nước mưa vào bên trong. Hạt nước mưa rớt xuống mặt nền, vỡ toang như những bong bóng thuỷ tinh tan ra ngàn mảnh. Người khách lạ lại húng hắng ho. Văn nhìn ông, ái ngại. Ông nhìn Văn, rồi rút trong túi ra một gói thuốc, lịch sự mời. Văn nhè nhẹ lắc đầu. Bây giờ anh mới nhìn rõ nét mặt của người lạ. Một người xấp xỉ lục tuần, khá đẹp trai với cái cằm vuông và làn da sạm nắng thành màu nâu đậm làm cho khuôn mặt chất chồng nét khắc khổ. Tóc của ông đã hói, lưa thưa như những sợi râu mép trên vành môi mỏng ẩn hiện nụ cười thân thiện. So với vành môi như muốn cười ấy, đôi mắt ông đục ngầu, buồn bã. Viền mí mắt dưới đã nhăn nheo, hơi nhíu lại.

Người đàn ông lặng lẽ rít một hơi thuốc, ém khói, nhìn xa xăm ra ngoài trời mưa. Ông có lối cầm thuốc lá kiểu một người nông dân hút thuốc vấn Cẩm Lệ, với hai ngón tay trỏ và tay cái nắm lấy đầu lọc, tàn lửa xoay về phía lòng bàn tay. điếu thuốc ngậm hơi trề xuống môi dưới. Ông khách gợi chuyện, giọng Mỹ rời rạc:

- Anh chờ xe buýt? Chuyến xe 31 dừng chỗ nầy phải không?
Cái âm hưởng khá quen thuộc, đầy dấu nhấn của một người Việt Nam mới đến. Văn trả lời ngập ngừng bằng tiếng Việt. Không hẳn là câu trả lời mà là một câu hỏi:

- Thầy...Thưa thầy ...Phò?
- Tôi là Phò đây, xin lỗi anh là ai mà biết tên tôi?
Ngạc nhiên, thầy Phò quay lại. Tròng mắt ông giựt nhanh hơn trước. Vành mi dưới nhăn nheo thêm, cặp lông mày nhướng cao hơn làm đôi mắt như tròn hẳn lại. Điếu thuốc trên môi trề hẳn xuống như gần rớt khỏi cái miệng nhỏ nhỏ nhắn. Đôi vai gù chùn xuống thêm chút đỉnh.

- Con là Văn đây thầy. Thầy dạy con ở trường La San đó thầy.
Văn nhắc tên trường cho thầy nhớ, vì ngày xưa thầy dạy nhiều trường, bán cháo phổi kiếm cơn, như thầy thương nói.

-Văn? Trần Hưng Văn? Lớp bảy phải không?
- Phải thầy.
Văn. Trần Hưng Văn. Lớp bảy. Năm mười ba tuổi, gia đình Văn chạy giặc mùa hè đỏ lửa, từ Đà Nẳng vào Sài Gòn. Năm mười ba tuổi...Ba mẹ biết con mình du côn, nên đã bỏ Văn vào trường dòng La San cho các sư huynh trị. Ôi năm mười ba tuổi, Văn thù mấy ông phe quá. Nhất là frère giám thị Léon, rồi frère giám học Bienvenu. Có lần đi học để tóc dài, Frère Léon dùng tông đơ cạo sạch đầu. Lần khác mặc quần ống voi, Frère Bienvenu cắt cụt ống quần, đuổi ra khỏi trường. Mấy frère cũng chán ngán Văn không ít, cái tên Trần Hưng Văn được đổi thành Trần Hung Hăn mới sau hai tháng học.Văn thù đi học, thích chuồn ra ngoài ăn phở Hiền Vương, ngồi hút thuốc, rồi vù qua Đa Kao coi phim Lý Tiểu Long.

- Anh làm gì ở đây?
- Con qua đây làm nghiên cứu về bịnh ung thư thầy ạ.
- A` ra thế. Thầy mừng cho anh. Thầy biết là Văn làm được.
- Còn thầy?
- Thầy mới qua diện H.Ọ Khi giải phóng vào thầy đi cải tạo vì là giáo sư biệt phái...Hai mươi mấy năm rồi...Văn lớn quá thầy nhìn không ra nữa.

Anh cũng muốn nói là, thầy thay đổi quá nhiều. Nhiều đến nỗi Văn không còn nhận ra thầy nữa. Nhưng sợ thầy buồn. Ngày ấy, thầy rất bảnh trai. Da dẻ trắng trẻo thư sinh. Mái tóc không hói, đen lánh, chải mượt. Văn thường nghịch ngợm đùa, con ruồi trợt patin gãy cẳng. Cũng vành môi mỏng lúc nào cũng muốn cười ấy. Đôi mắt ấy ngày xưa trong sáng, tinh nghịch hơn bây giờ nhiều. Thầy hay diễu cợt, làm nghề bán cháo phổi không khá, vì phổi thầy là phổi Phò, không phải là phổi Fe. Fe là ký hiệu hoá học của chất sắt, ý thầy muốn nói phổi thầy không phải là phổi sắt. Có đứa nghịch nhái lại, phổi bò chứ không phải phổi frère. Thầy dạy toán Đại Số năm lớp bảy. Văn còn nhớ, một hôm phát bài kiểm, thầy nói trước lớp là thầy rất ngạc nhiên về một tài năng mới. TròVăn. Trần Hưng Văn. Văn du đãng. Văn văng tục. Văn được 17 trên 20. Thầy khen Văn giỏi và bão Văn lên bảng giảng lại bài toán cho cả lớp. Bàng hoàng Văn sợ không dám nắm lấy cục phấn trắng thầy chìa cho Văn, cũng như lúc thầy mời Văn điếu thuốc lúc nãy.

- Thầy biết là Văn làm được. Thầy gật nhẹ đầu, khuyến khích.

Nhìn nụ cười thân thiện trên đuôi mắt, khoé môi của thầy,Văn run muốn khóc. Cũng may, thầy chỉ muốn Văn chép lại bài toán cho thầy giảng mà thôi. Trong khoảnh khắc,Văn trở thành một người hùng. Từ hôm đó đời học sinh của Văn như qua một cuộc đổi đời.Văn hối hận. Văn ăn năn. Văn không còn là Văn du đãng. Văn đứng hạng ba năm lớp bảy do chính sức mình. Hạng nhất toàn trường năm lớp tám. Năm lớp chín...

Khi cái áo dòng đen của frère Bienvenu vừa khuất cuối hành lang, sau khi sư huynh phát xong học bạ cuối năm, Văn nghe lòng mình hụt hẫng. Thầy Phò tiến lại chỗ Văn ngồi. Thầy là giáo sư hướng dẫn của Văn năm lớp chín. Đặt cái thước kẻ lên đầu Văn, thầy khỏ nhẹ:

- Cái đầu to năm nay đứng hạng nhì rồi...Thầy biết là Văn làm được mà. Tại sao thế?

Thầy biết là Văn làm được mà. Tại sao thế. Mắt Văn cay cay, đỏ hoe. Nước mắt như chạy tròn trong bờ mi, rồi trào ra khoé mắt. Văn khóc. Khóc giận mình. Tại sao chỉ hạng nhì nhỉ. Tại sao chỉ 16,54 nhỉ. Thằng Bá ngồi nhìn Văn có vẻ hả hê. Nó được 16,60. Cái thằng khốn nạn. Nó cười. Văn khóc.

Văn thấy tròng mắt mình cay cay.
- Văn cho thầy xin số điện thoại đi..
Mưa đã tạnh. Tiếng thắng xe của chiếc xe buýt rít lên cót két. Hai cánh cửa xe xập xoè đón mời khách. Văn vội vã dúi vào tay thầy mảnh giấy nhỏ ghi số điện thoại của mình. Thầy lên xe. anh vói theo:

- Thầy...Bài toán năm lớp bảy...
- Thầy biết...Thầy biết là Văn làm được...

Thầy biết là Văn làm được. Anh không biết là thầy biết những gì. Có một điều canh cánh trong lòng anh suốt hai mươi mấy năm về bài toán đầu tiên thầy cho Văn 17 điểm. Văn chỉ mong được thú tội với thầy là anh chỉ cọp dê thằng Bá. Là Trần Hung Hăn đã chận đường Bá, doạ hắn phải cho Văn cọp dê hôm làm bài kiểm năm lớp bảy.

Chiếc xe buýt chạy qua. Sau khung cửa sổ nhỏ đục ngầu, mờ mờ đôi vai gù của thầy Phò run lên, thụp xuống.

Hôm ấy là một ngày đẹp trời cuối thu. Gió đông đã về mơn man lành lạnh. Trời cao và trong. Nắng vàng hoe. Trên con đường quen thuộc đến chỗ làm, trừ những cây thông già sừng sững, đám cây sồi đều trụi lá. Từ phía bên kia đồi, loáng thoáng bóng bà Ann dòng dõng. Vẫn con chó lăng quăng vô tư lự, tìm chỗ phóng uế. Không thấy bà Cathy lùn, Vặn hỏi:

- Bà Cathy đâu?
- Bà ấy mất hai tuần rồi.
- Tại sao? Văn thảng thốt.
- Bà ấy bị ung thư nhũ hoa cậu không biết sao?
Thật tình không biết, Văn lắp bắp chia buồn. Bà Ann lịch sự chào Văn rồi tiếp tục rảo bước. Con chó vẫn lăng quăng, vô tư lự. Anh nghĩ đến con sóc bạch tạng. Không thấy nó. Không biết nó có khờ khạo băng qua đường bị xe cán chết hay chăng. Một chiếc lá vàng theo cơn gió nhẹ, quấn quýt xoay tròn trên không rồi rơi thẳng vào bàn tay của Văn. Vuốt nhẹ chiếc lá trong tay, anh ngước nhìn lên cành. Chiếc lá vàng cuối cùng. Trời xanh vẫn xanh. Gió lạnh vẫn mơn man lành lạnh. Nắng vàng vẫn vàng tươi.

Văn lụi cụi đếm những tế bào ung thư trước khi cho vào dĩa thử nghiệm thuốc. Những tế bào li ti như những con vi trùng nổi lềnh bềnh dưới kính hiển vi. Một ngàn. Hai ngàn. Một triệu. Chuông điện thoại reo. Anh buông ống nghiệm xuống bàn, nhất ống nói:

- Eh, Van. Mày có muốn chút thịt tươi không?
Giọng Travis hăm hở qua điện thoại. Travis là bác sĩ điều trị ung thư, chuyên về lâm sàng, vẫn thường gởi fresh meat, thịt tươi, những mẫu tế bào lấy ra từ các người bệnh, để Văn làm thí nghiệm. Hắn lải nhải kể công, như nhắc cho Văn nhớ là phải kê tên hắn trong những biên khảo của anh.
- Người quá cố để lại di ngôn là cho mà người nhà thì không chịu. Khó lắm tao mới xin gia đình bệnh nhân được cái post. (*)

Post, post-mortem autopsy. Giảo nghiệm tử thi sau khi bệnh nhân đã qua đời để hy vọng tìm ra nguyên nhân gây ra cái chết.
- Okay. Fedex lên cho tao.

Gửi cấp tốc lên. Thật ra từ chỗ Travis đến Văn chỉ cách nhau một khoảng sân cỏ rộng. Buổi chiều, miếng thịt tươi ướp đá được chuyển đến. Miếng thịt phổi đã bầm tím, với những ống khí quản li ti xám xịt, chơ hơ trên nước đá xay, trắng phau, như một tên lính bại trận phơi mình trên chiến trường phủ đày tuyết trắng, sau một trận đánh khốc liệt với tử thần ung thư.Chợt nhớ đến miếng phổi bò lều bều trong tô cháo lòng hôm cuối tuần, Văn hơi lợm trong cuống họng.Cầm hồ sơ bệnh lý, Văn lướt qua tên người quá cố.

Patient’s Name: Tran, Pho D.

Văn nhìn miếng thịt phổi. Không còn chất sống. Bãt động. Anh nghĩ đến Cathy. Đến con sóc. Đến con người ta. Con người ta sanh ra, con người ta giành giật, con người ta đâm chém nhau, con người ta hơn thua từng tí, con người ta giở trò hỉ nộ, ái, ố, tham, sân si, để rồi con người ta... ai cũng chết. Cái chết, một bài toán. Bài toán cuối cùng mà thầy để lại cho anh. Một bài toán mà cả thầy lẫn Văn, hay bất cứ một ai, vẫn chưa có thể tìm ra câu trả lời. Và, một bài toán mà không ai có thể gian lận nổi.

Ngoài kia đám cây khô vẫn trút lá vàng xuống sân cỏ úa. Trời xanh vẫn xanh. Nắng vàng vẫn vàng tươi. Như mọi ngày.
Vũ Thư Nguyên

Maryland 1994

Monday, September 28, 2026

Gió Về Kể Chuyện Thu - Nguyễn Đạm Luân

 Gió Về Kể ChuyệnThu




Thu Phai Theo Người - Thuyên Huy

 

Thu Phai Theo Người




    Mùa Thu, bây giờ những ngày cuối Thu, lâu lắm rồi mới về lại đây, hơn mấy năm, nơi anh bỏ đi, từ mùa thi cuối măm. Phố vẫn là phố xưa, đường dọc ngang vẫn những con đường cũ. Chiều nay cũng như buổi chiều ngày đó, đón chuyến xe đò sớm, ngày người theo về thăm cho biết quê anh, một làng quê nghèo lần đầu, và cũng không ngờ lại là lần cuối, chưa và không lần gặp lại. 

*

    Nắng thoi thóp tàn, cái nắng của hoàng hôn, vàng úa như màu của lá Thu trải ngập đường, rơi rớt bên kia sông về ngang phố chợ, để đêm mau xuống. Cây hoa dại đơn lẻ, một mình cố sống, khó nhọc, mọc len lên từ khe nứt vô tình của phiến đá lớn rong rêu, nằm trơ trọi sau cái ghế cây bạc màu, hoang phế duy nhất mà anh với người đã ngồi, nhìn xuống cuối con đường dốc, thì thầm thương nhau, ở góc công viên nghèo nàn, ngày đó chắc giờ tuổi đã già và gầy guộc hơn nhưng vẫn còn hoa, cũng là cái hoa đơn lẻ, duy nhất.

*

    Ở một thành phố khác, cũng hôm nay, người bỏ anh về nhà chồng, một bác sĩ quân y, vị bác sĩ mà có lần anh đã gặp, với chiếc xe jeep đục màu bụi rừng đất đỏ, buổi chiều cuối trời giao mùa Xuân Hạ, ở xế ngã ba, hôm anh tới đón người, sớm hơn giờ hẹn trước cổng trường, khi chuông tan trường chưa dứt hồi cuối.

    Anh hơi ngỡ ngàng, đứng khựng nép sau gốc cây Phượng già nhìn, thấy người cười tươi, nói qua nói lại gì đó, anh nhíu mày tự nhủ, chắc người quen vậy thôi. Trên đường về bên nhau ra phố chợ, anh bất chợt ít nói hơn thường và không hỏi gì chuyện thấy trước đó, người thì nói cười như những hẹn lần cũ từ lúc mới quen nhau cho tới bây giờ.

*

   Người, cô con gái dân tỉnh thành, nhà ở xế ngã ba chợ Cũ, gia đình có tiệm thuốc Tây ngoài phố Gia Long, khá giàu.  Anh, con nhà quê ở làng xa, cách tỉnh thành hơn bốn năm chục cây số, nhà không nghèo, cũng đủ ăn đủ mặc, nhờ cái sạp bán rau cải mà má anh lo, ba thì mất sớm rất sớm, ở chợ xã.

    Người và anh học cùng lớp, tình cờ quen nhau năm đệ Nhị, khi cùng ở trong nhóm làm báo cuối năm, nhóm do cô Thảo, dạy Vạn vật sắp xếp, anh có tài lẻ lặt vặt, văn thơ văn nghệ mà bạn bè đều biết, được cô ưu ái, nên người cũng thầm để ý tới. Gặp nhau nhiều lần, anh thêm ăn nói vui nhộn, cuốn hút người nghe nên cả nhóm, kể cả người càng quý càng mến, rồi thì anh cảm thấy mình biết thương, biết nhớ mỗi khi chia tay ra về, với cô Thảo, để ý những lần hai đứa trộm nhìn nhau thì cô biết họ có gì rồi, cái có gì của tuổi mới biết yêu.

*

   Vậy đó, gần gũi, hỏi nhau, nói cho nhau nghe chuyện trường, chuyện lớp học, chuyện hàng cây Trứng Cá, dọc bên hông phòng Thí nghiệm và chuyện đời, hai người thương nhau không chờ không đợi, sáng chờ nhau đến trường chiều bên nhau đường về, cười mà không nói thêm gì nữa, tình yêu đến cứ đến như lẻ trời đất có tự ngàn năm.

*

    Cả hai đậu mùa thi Tú tài Một, cũng bên nhau như từ đó, chưa “thề non hẹn biển” nhưng ngọt ngào, tha thiết “bên anh bên em”. Mùa thi năm cuối, nắng hạ hồng tươi tô rực ngàn cánh phượng đỏ, xong nợ sách đèn, trường học vào hè, đường phố tỉnh rộn rã tiếng ve sầu gọi bạn, vắng tênh những tà áo trắng thả gió bay, tan trường vào lớp.

*

   Trở lại tỉnh, bạn bè cùng lớp, không còn mấy ai, người đậu cũng như anh, khăn gói xuống Sài Gòn, làm quen với giảng đường ghế đá, tiếp tục đời chưa trọn, người không thành, từ giã bút nghiên vào lính, đi và đi biền biệt. Căn phố lầu ở chợ Cũ không thấy bóng dáng ngày xưa ra vào, khung cửa sổ màu xanh đóng kín, ngỡ ngàng, anh đứng bên này đường nhìn qua, chờ mà hy vọng.

    Chờ cũng đủ lâu, anh bỏ đi, ngang qua cô con gái đang chờ mua gì đó trước cửa tiệm tạp hóa, chắc cũng biết chút chuyện  gì, nhìn anh, chậm giọng buồn cho biết, người đã xuống Sài Gòn từ lâu lắm rồi.

*

     Từ trên dốc nhìn xuống con sông, con sông vẫn vô tình, thản nhiên nước lớn nước ròng, bên bồi bên lỡ, cây cầu Quan cũng đó, ba nhịp bạc màu vôi như những ngày tháng cũ, đèn đường lên héo hắt, mù mờ từ lâu, đêm chầm chậm xuống. Chim đâu đó gọi nhau đi ăn đêm từng đôi từng cặp, người thưa thớt qua cầu xuống chợ, chợ đêm chắc cũng như chim.

    Giờ này công viên không ai màn tới, anh ngồi đó buồn cho mình, nhặt mớ lá vàng khô, gom lại thành nấm mộ nhỏ, chôn mùa Thu của mối tình đầu, bên cạnh phiến đá rong rêu, có cây hoa dại già nua, lẻ loi, mùa Thu chết. Ngày mai, một lần nữa anh bỏ đi và có lẽ lần này đi không trở lại.

Thuyên Huy

Viết cho một người, nếu có đọc được sẽ biết người trong chuyện là ai.

Điệu Hát Ru - tôn nữ thu dung

 Bài hát ru




 








Ngủ đi…nắng khuất bên đồi

Ngủ đi…cho mộng bùi ngùi bay xa
Ngủ đi…cùng bóng trăng tà
Ngủ đi…trong tiếng yên hà nghiêng rơi
Ngủ đi…gió tạt chân trời
Ngủ đi…cỏ hát những lời yêu thương
Ngủ đi em…giấc ngủ hờn
Buông tay cho gió về hôn mặt người
Ngủ đi em…giấc ngủ vùi
Ngủ đi em…tiếng khóc cười vô ngôn
Ngủ đi em…giấc ngủ buồn
Ngủ đi em…giấc nghìn trùng…không anh .

tôn nữ thu dung

 

Điều Ao Ước Cũ - Cao Xuân Lý

 

Điều Ao Ước Cũ





Thằng Dương đang đi thì đứng khựng lại, lõ mắt nhìn một thanh niên từ trên xe tắc- xi bước xuống. Nhưng nó nhận ra anh Toản ngay . Như vậy anh Toản lại mới ở Mỹ về! Nó thấy hình như anh ấy mới về đây, bây giờ lại về nữa . Nó nhớ hồi đó nó hỏi, khi nào anh lại về thăm, thì anh nói sang năm. Như vậy là anh đã đi được mt năm rồi sao . Nó nghi hoặc không biết như thế nào, thậm chí nó vừa nghĩ là mình nhìn nhầm người . Ðã thế thì nó phải theo đến nhà bà Sáu xem có phải đúng là anh Toản về thật không. Tự nhiên nó nhớ đến mấy cái kẹo sô- cô- la mà anh Toản cho nó năm ngoái . Kẹo thì nó ăn không thiếu gì, nhưng sô- cô- la thì nó mới ăn lần đầu thôi . Nó thích lắm, nhưng đâu có nữa mà ăn. Nó ước cũng được ở Mỹ như anh Toản, để cả ngày chỉ ăn sô- cô- la thôi . Ăn cho thật đã thì mới hết thèm được. Người nào cũng gọi là sô- cô- la nhưng chính anh Toản không gọi như thế đâu, anh gọi bằng cái tên gì nghe lạ lắm nhưng nó chưa bắt chước được, tên ấy chắc là tiếng Mỹ đấy! Anh Toản chắc giỏi tiếng Mỹ lắm, vì thỉnh thoảng nó lại thấy anh chêm vào mt hai tiếng khiến ai cũng phục, mà người phục anh Toản nhất là nó. Có lẽ biết được những gì nó nghĩ trong đầu, nên khi anh Toản thấy nó đứng nhìn nhìn thì bốc cho nó mấy cái sô- cô- la . Chợt thằng Dương nuốt nước dãi đang ứ ra đầy mồn nó.
Vừa đi vừa nghĩ về anh Toản nên nó đến nhà bà Sáu lúc nào không hay .
Bà Sáu đang ở trong nhà đi ra, thấy thằng Dương thập thò trước nhà, hỏi nó:
- Nhìn gì thế cái thằng ranh con này ?
Bị người lớn mắng nhiều nên nó không để ý đến giọng hằn học của bà Sáu, nó hỏi:
- Anh Toản mới về hả bác?
Bà Sáu chợt nhớ ra, mỗi khi thằng Toản về là trẻ con thường đứng chầu trước cửa, lõ mắt ra nhìn. Lúc đầu, Toản mang nhiều tiền và cả quà nữa, nên bà nghĩ, cho mỗi đứa vài cái kẹo để nó đi cho rảnh nợ, chẳng ngờ càng cho, chúng càng kéo đến. Rút kinh nghiệm ấy, bây giờ bà không còn đem kẹo ra cho lũ trẻ con nữa . Hơn nữa, Toản bây giờ cũng chẳng có gì, cả tiền lẫn quà đều ít, thậm chí có khi không mang gì về, vì cứ về xoành xoạch thì xoay đủ tiền vé máy bay đã khó, nên dù có muốn cho bà cũng không đào đâu ra . Bà Sáu nhìn thằng Dương đang đứng ở cửa, nói như đuổi:
- Ừ, nhưng nó không có gì đâu . Mày về đi mẹ mày mới gọi đấy!
Thằng Dương tưởng mẹ nó gọi thật, cắm đầu chạy về.

Về đến nhà, thằng Dương thấy mẹ nó đang nhặt mớ rau ở đầu nhà. Nó len lén bước vào trong nhà mà không dám hỏi mẹ. Nó hơi ngạc nhiên không thấy mẹ nó nói năng gì. Mọi khi mà để mẹ nó phải gọi rát cổ bỏng họng mới về là thế nào bà cũng chửi mấy câu . Hôm nay nó thấy mẹ nó hiền quá, không chửi mà cũng chả nói gì. Thằng Dương muốn chạy đi chơi nữa nhưng lại không dám, sợ mẹ nó thấy rồi bà nhớ ra việc đã gọi mà không thấy nó, nên nó đành ngồi ở chái nhà phía sau cầm mảnh sành vẽ nguệch ngoạc trên mặt đất chẳng ra hình thù gì cả. Chợt nó lại nghĩ đến anh Toản. Anh Toản chắc chỉ lớn hơn nó mười tuổi thôi mà anh ấy giỏi quá, mt mình đi sang tận Mỹ rồi lại về, đi như đi chợ! Còn nó thì cứ ở mãi trong cái xó xỉnh này, chả biết đâu là đâu . Nó lại ao ước được như anh Toản. Nhưng ao ước là ao ước suông vậy thôi, chứ nó biết chả khi nào nó sang được bên ấy!

Ðang buồn vì không có gì ăn, cũng chẳng có gì chơi, thì thằng Long huýt sáo gọi nó ở ngoài cổng. Nó quên cả mẹ nó đang ngồi cạnh đấy chạy ù ra ngoài cổng với thằng Long. Cũng may, mẹ nó biết nhưng cũng không nói gì.
Vừa ra đến nơi thì thằng Dương thấy thằng Long đi với mt thằng nữa, mà thằng Dương chưa biết thằng này . Nó hơi ngạc nhiên, khựng lại, trố mắt nhìn thằng bạn mới của nó. Thằng Long cũng biết là thằng Dương ngạc nhiên, nên chỉ thằng bạn mới, nói:
- Thằng này mới ở Mỹ về đấy!

Tự nhiên thằng Dương đâm lúng túng. Nó quan sát thằng bạn mới kỹ hơn. Rồi nó nhận ra ngay cái vẻ Mỹ trên con người thằng bạn mới . Vừa lúc đó thì thằng kia đưa tay bắt tay nó:
- "Hello!"
Ðến bây giờ thì thằng Dương thật sự lúng túng, nó không biết nói thế nào . Nó có cảm tưởng thằng này là người ngoại quốc thật sự vì nó đâu có nói tiếng Việt. Nghĩ thế nên thằng Dương không trả lời thằng bạn mới, mà quay lại thằng Long, hỏi:
- Nó nói cái gì thế?
- Nó chào mày đấy
Thằng Dương nhìn thằng bạn mới, hỏi:
- Tên mày là gì?
- Ổi . Thằng Dương suýt cười thành tiếng. Nó không ngờ thằng này mới ở Mỹ về mà lại có cái tên gần gũi với nó như thế. Nó cứ tưởng mt thằng từ Mỹ về thì phải có cái tên cao sang lắm, ai ngờ lại là 'i, mt thứ mà thằng Dương rất hay ăn.

Thằng Ổi thấy thằng Dương cười nhưng nó không biết chuyện gì. Nó cũng hơi tiếc là đã không có dịp khoe cái tên nghe rất "Mỹ" của nó là David, vì trước khi về, bố mẹ nó đã dặn là không được nói tiếng Mỹ, dùng tên Mỹ khi ở Việt Nam, vì không ai hiểu . Nhưng thằng Dương thì lại thắc mắc về cái tên 'i của nó, nên hỏi:
- Trường mày học ở bên đó có mấy thằng Mỹ học chung với mày không?
Ổi được dịp vênh mặt:
- Có chứ, toàn là Mỹ hết, chỉ có tao và hai thằng nữa là không phải Mỹ thôi:
Thằng Dương hỏi mt câu ngớ ngẩn:
- Thế mày biết nói tiếng Mỹ không?

Thằng Ổi nói với vẻ hãnh diện:
- Biết chứ, tao nói tiếng Mỹ cũng như tụi nó.
- Mày nói mt tiếng tao nghe thử.
- Mày muốn tao nói cái gì?
- Như, "tên tao là Ổi".

Thằng Ổi trổ tài nói tiếng Mỹ cho thằng Dương nghe, nghe xong nó không biết thằng 'i nói thật hay nói xạo, vì trong câu nó nói không nghe được tiếng nào là 'i hết, nhưng vì là bạn mới nên nó không dám truy đến cùng. Hơn nữa, nó ở bên Mỹ về chẳng lẽ nó lại không biết nói tiếng Mỹ!
Thằng Long đứng nghe hai thằng nói chuyện về cái thứ tiếng Mỹ khó nói, khó hiểu, mà từ khi đi với thằng Ổi đến giờ nó phải nghe không biết bao nhiêu bận, vì gặp toàn những thằng tò mò như thằng Dương, mỗi thằng đều bắt thằng 'i nói mt câu, nhiều thằng còn bắt thằng 'i chửi thề bằng tiếng Mỹ nữa, nhưng những câu như thế không biết thằng 'i không biết, hay không dám nói, mà chỉ thấy nó cười cười rồi lảng sang chuyện khác.
Vì nghe hoài như thế nên thằng Long sốt rut, nói với thằng Dương:
- Mày muốn học tiếng Mỹ thì mai mốt xin tiền mẹ mày mà đi học. Bây giờ tao với thằng 'i đến rủ mày đi chơi, thằng này nó nhiều tiền "đô" lắm, mình có thể đi sở thú, ăn kem, đậu đỏ bánh lọt, "hầm bà lằng"..., đi hay không thì bảo!
- Ngu gì không đi, nhưng chờ tao mt chút đã, tao về qua nhà xin phép mẹ tao rồi tao đi ngay .

Thằng Dương chưa kịp nói hết câu thì thằng Long kéo thằng Dương đi luôn, vừa đi vừa sỉ vả thằng Dương:
- Mày ngu vừa thôi, xin, rồi mẹ mày không cho đi thì mày làm sao ?. Cứ đi, lúc về rồi tính!
Bị kéo đi nên thằng Dương đành đi theo, nhưng trong lòng nó không yên. Giá mà thằng Long chìu ý nó, nó chỉ cần đảo qua nhà mt tí, nói con đi chơi với bạn con ở Mỹ mới về, thì nó tin thế nào mẹ nó cũng cho đi . Ði như thế thì mới vui mt trăm phần trăm. Ðằng này, vừa chơi vừa áy náy!

Nhưng rồi, những hấp dẫn của việc đi sở thú, những ly kem, đậu đỏ bánh lọt, và nhiều thứ khác nữa khiến thằng Dương không kháng cự nổi .
Thằng Dương vừa đi theo vừa để ý quan sát thằng 'i, thằng bạn mới của nó, có cái tên mà mỗi khi nhắc đến nó chỉ liên tưởng đến thứ trái cây mà nó rất là mê, vừa giòn, vừa ngọt, vừa thơm. Sau này, khi thằng 'i đã về Mỹ rồi chắc nó sẽ không bao giờ quên được thằng này mỗi khi cầm trái ổi trong tay .

Ði chơi với thằng 'i, thằng Dương mới thấy là chỉ đi chơi với Việt kiều là sướng nhất. Sướng ở chỗ tha hồ ăn. Ăn thả dàn! Từ hồi nào đến giờ, mỗi khi đi chơi với lũ bạn trong xóm, ít khi nào nó được ăn uống thả cửa như vậy . Giỏi lắm là mỗi thằng ly đậu đỏ bánh lọt, đĩa thịt bò khô là đã sang lắm rồi . Ðó là những khi trong bọn nó có thằng nào trúng mánh thì mới được như vậy . Không thì mỗi thằng được mt ly nước mía nhạt thếch đã là may . Cũng có khi cả bọn chả có thằng nào có xu teng nào ở trong túi . Thành ra đi với cái bụng đói, rồi về với cái bụng rỗng. Muốn no, chỉ việc ra vòi nước ních đầy mt bụng, khi nào óc ách thì thôi .
Từ khi được đi chơi với thằng 'i, thằng Dương chỉ ao ước được ở Mỹ. Ao ước thì ao ước suông vậy thôi, vì bây giờ có còn ai vượt biên nữa đâu, mà nghe nói cũng chả có nước nào nhận nữa . Thành ra, thích thì ao ước nhưng biết là không bao giờ được cả.

Từ hôm được thằng Ổi, từ Mỹ về bao tụi nó đi chơi, thằng Dương cứ chờ đợi thằng Ổi rủ tụi nó đi chơi nữa, nhưng thằng 'i còn phải về quê thăm bên ni bên ngoại của nó, rồi lại còn phải theo gia đình ra tít tận Nha Trang, Ðà Lạt, rồi ra cả Huế và Hà Ni nữa . Trong có mấy ngày mà gia đình thằng Ổi đi tùm lum hết. Trong khi đó thằng Dương ở trong cái xóm Tân Việt, Bảy Hiền, hết năm này sang năm khác, nó chán ơi là chán, nhưng đâu có biết làm thế nào . Hằng ngày nó nhìn thấy máy bay ở phi trường Tân Sơn Nhất bay lên đáp xuống không biết bao nhiêu bận, nhưng nó thì vẫn ở lì mt chỗ.

Nhiều lúc nhìn lên máy bay, bay ngang qua khu nhà thằng Dương, nó ao ước được chui vào mt khoảng trống nào đó trên cái máy bay, để đi đây đi đó. Cái ao ước ấy mãnh liệt nhất là ngày thằng Long cho nó biết ngày giờ máy bay chở thằng Ổi trở về Mỹ. Ngày ấy, thỉnh thoảng thằng Dương lại nhìn lên bầu trời mỗi khi nó thấy có máy bay bay ngang khu nhà nó. Và máy bay nào nó cũng nghĩ là trên ấy đang có thằng 'i, mt thằng bạn nó mới gặp đây thôi, nhưng đã gây cho nó những ấn tượng thật đậm nét.

° ° °

Vài năm sau, thằng Dương vẫn còn ở cái xóm Tân Việt, Bảy Hiền. Cuc đời của nó vẫn thế. Có khác chăng là nó đã bắt đầu để ý đến những đứa con gái cùng xóm, hay cùng lớp. Nó bắt đầu biết yêu!

Khốn thay, những cô gái đẹp ở trong xóm nó không có bao nhiêu . Quanh đi quẩn lại vẫn là các cô: Nhàn, Luyến, Mùi, Lệ. Trong mấy cô đó, Lệ là đẹp nhất, thì hình như nhóm bạn nó thằng nào cũng mê . Nhiều lúc nó mơ hồ cảm nhận được những rắc rối xẩy ra, nếu mt thằng trong bọn chiếm được trái tim Lệ.

Nhưng hình như Lệ cao sang quá đối với bọn thằng Dương, nên thằng nào cũng chỉ ao ước thầm vậy thôi, chứ không thằng nào làm quen được với Lệ.
Trong nhóm bạn thằng Dương, có lẽ, thằng Dương mê con Lệ hơn cả. Thỉnh thoảng nó lại đạp xe qua nhà Lệ rồi nhìn vào . Cả hàng chục lần như thế may ra mới có mt lần nó được nhìn thấy Lệ thấp thoáng đâu đó trong nhà. Chỉ thế thôi mà khi về nó vui hẳn lên. Tự nhiên muốn huýt gió, muốn hát lên mt bản nhạc nào đó. Khốn thay, với giọng vịt đực, dù trong nhà nó không ai chê dở, nhưng không bao giờ nó dám cất tiếng hát giữa đám bạn bè. Vì hơn ai hết, nó biết chắc, nếu thằng Long nghe được giọng hát của nó, thế nào cũng cười nhạo! Nụ cười thằng đó coi vậy mà đểu lắm, mặc dù nó cũng khá tốt với bạn bè!

° ° °

Từ khi biết yêu và suốt ngày mơ mng về chuyện trai gái, thằng Dương và đám bạn của nó đã quên hẳn chuyện anh Toản và thằng 'i giàu có ở nước Mỹ xa xôi, thì cũng là lúc, thật tình cờ, cả thằng 'i và anh Toản trở về.

Thằng Dương vẫn còn nhớ đến chuyện thằng Ổi dẫn bọn nó đi sở thú, rồi còn đãi đằng đủ thứ, nên khi thấy thằng 'i về thì cũng mừng. Phen này, nó đoán, thế nào thằng 'i cũng lại đãi tụi nó nữa . Lần đãi này chắc phải sang hơn lần trước nhiều . Những trò chơi bình dân như đi sở thú, hay những món ăn rẻ tiền như đậu đỏ bánh lọt, chắc là không có trong mục giải trí của tụi nó nữa . Thằng Dương nghĩ thế vì trước nhất là tụi nó đã lớn rồi, không còn ham đi sở thú nữa . Kế đến là nghe nói, ở bên Mỹ thằng 'i đã đi làm, nghĩa là có rất nhiều tiền để đãi đằng bạn bè, chứ không phải như lần trước, tiền đãi bọn nó là tiền nó xin được của mẹ nó. Ni nghĩ như vậy thôi thằng Dương cũng vẽ ra được những trò chơi náo nhiệt tưng bừng, hợp với tuổi trẻ đang yêu đời và yêu người của bọn nó.

Rồi quả những điều thằng Dương dự đoán cũng không quá sai . Thằng 'i vẫn đãi bạn bè mt bữa thật thịnh soạn ở nhà hàng loại sang trọng, mà bình thường tụi nó không bao giờ nghĩ đến việc vào những nhà hàng sang như thế. Nhưng cũng chỉ có thế thôi, chứ không dẫn tụi nó đi đến những nơi như thằng Dương đã tưởng tượng. Riêng có mt điều, thằng Dương cũng không tưởng tượng ra, là anh Toản về kỳ này còn với mục đích hỏi vợ. Và người mà anh Toản sẽ hỏi cưới là con Lệ, người con gái mà thằng Dương thường ấp ủ trong giấc mơ .

Còn thằng Ổi, thì hình như cũng đang ngấp nghé mt cô nào đó, trong cái đám con gái xinh xắn mà bọn thằng Dương hằng mơ ước.

Vì thế, những ngày thằng Ổi và anh Toản về xóm Tân Việt kỳ này là mt đại họa cho thằng Dương. Nó biết là nó thua ngay khi phải đấu kiếm với một địch thủ mà trên tay nó không có lấy một con dao cùn!
Thằng Dương lại ao ước những điều thật cũ.

Cao Xuân Lý