Wednesday, October 7, 2026

Qua Cầu Tàn Thu - Thuyên Huy

 Qua Cầu Tàn Thu 


Thằng Bé Cu Li - Khuyết Danh

 

Thằng Bé Cu Li




Dạo hoa phượng còn rực đỏ trên cành, thằng bé bắt đầu bằng một nghề nhàn hạ một cách chân chính: bán trà đá. Mẹ nó sắm cho nó đủ bộ đồ nghề: một thùng càrem bằng mốp cũ kỹ, sang lại của ông già Năm. Một cái ấm nhôm hi cũ, nhưng được mẹ nó kỳ cọ bằng tro, chà đánh bằng xơ mướp nên sáng loáng lên, coi cũng vệ sinh lắm. Và hai cái ly thuỷ tinh.

Mỗi sáng, trước khi quảy gánh ve chai ra đi, mẹ nó nấu một nồi nước sôi, pha trà, đổ vô ấm nhôm. Nó mua ở tủ lạnh nhà bác Ba một chục đá cục bỏ vô thùng càrem, chèn bao nilông thật kỹ trước khi đậy nắp thật kín. Nó quàng dây qua vai gầy, đeo thùng càrem ngang hông, thân hình bé nhỏ hi vẹo đi một tí. Một tay xách ấm nước, một tay cầm hai cái ly, nó đi bộ hai cây số từ nhà đến bến xe Ký Thủ Ôn.

Bán trà đá tưởng như là một nghề chơi chơi: mình chỉ việc xách ấm và ly đi đến một người khách và mời: "Trà đá, chú!" hay "Trà đá, dì!". Khách có thể hỏi: "Bao nhiêu một ly?". Trả lời: "Một trăm đồng". Khách gật đầu: "Cho một ly". Mình chỉ việc bỏ cục đá vào ly, rót đầy nước trà vào. Đá tan làm ly nước rịn mồ hôi. Nước trà màu mâu hổ phách trong veo, thong mùi thơm lá dứa. Khách cầm ly uống ừng ực, nước trà chảy qua cổ họng đang khát khô, tới bao tử, làm mát cả ruột gan. Khách đã khát, mặt mày tươi tỉnh lại, vui vẻ móc túi trả tiền. Thế là được một trăm đồng. Khoẻ re. Vì vậy, già trẻ bé lớn gì cũng có thể bán trà đá.

Nhưng bến xe Ký Thủ Ôn là một bến xe nhỏ, chỉ có mấy chiếc xe đò cà tàng, mỗi ngày vài chuyến, chạy đến những xứ sở buồn hiu như Cần Giuộc, Chợ Trạm, Cần Đước, Gò Công. Người về xứ đò không nhiều, bến xe lưa thưa hành khách. Mỗi lượt tài mới có năm bảy khách mà đã tới cả chục người bán hàng rong vây quanh, ồn ào chào mời nhặng xị: "Bánh tráng phồng đây", "Cốm ngò đây", "Kẹo dừa", "Trà đá đây", "Trà đá, hông?" "Trà đá, chú"...

Thằng bé cũng lăn xả vô. Nhưng hoặc là nó không cạnh tranh lại đám trà đá "chuyên nghiệp" hơn, hoặc nếu hôm nào tranh được mối thì sẽ bị tụi kia kiếm chuyện quần cho một trận cho "biết điều" hơn.

Cuối cùng thằng bé lủi thủi xách ấm nước và đeo thùng đá cục đi lang thang xuống phố. Xe cộ đông đúc làm sao, người ta sang trọng làm sao. Họ phóng xe vù vù rồi ngồi quán có nhạc đêm, dù che, uống nước cam tươi hay la hán quả. Nó đi mỏi rục giò mà chỉ bán được một ly trà đá cho chú xích lô, một ly cho chị bán riêu, một ly nữa cho ông già bán vé số. Hôm nào may mắn lắm cũng có thể bán được chục ly, có hôm mưa gió eo xèo, chẳng ai thèm uống trà đá. Mấy cục đá buổi sáng bự hơn nắm tay, đến chiều teo lại bằng ngón chân cái, đến tối thì tan biến luôn, lỗ vốn!

Một hôm, nó đang đi lững thững thì có người kêu trà đá. Ôi, trúng mánh! Hàng chục người đang làm việc ở một bãi dất ngổn ngang gạch đá, vôi vữa, tôn thép... Hẳn là họ làm việc nặng nhọc lắm, người nào người nấy mồ hôi mồ kê đầm đìa như tắm. Một người kêu trà đá, lập tức mấy người kia kêu theo. Chưa từng có bao giờ trà đá đắt như vậy. Thằng bé lăng xăng lít xít, tay chân lanh lẹ đập đá, rót trà, bưng ly, chạy lui chạy tới như một tay trà đá chuyên nghiệp. Mấy người thấy thằng bé có vẻ tháo vát , tỏ ra thân mật và trêu chọc nó. Nó không thật sự hiểu hết những lời đùa cợt, nhưng vẫn toe toét cười, miệng rộng tới mang tai.

Vèo một cái, ấm trà hết veo. Túi nó rủng rỉnh ngàn bạc. Mặt mày nó phấn chấn, người nó thi thới, lòng nó rộn ràng. Môi nó chỉ chực nở thành nụ cười và tai nó cũng vểnh lên để đón nghe mọi điều người ta nói. Một hồi, nó tự thấy đã quen với mấy người lúc nãy là khách hàng của nó. Nó bạo dạn hỏi chuyện:

- Mấy anh làm gì ở chỗ này?

Họ cười:

- Làm cu li chứ làm gì hở nhỏ?

- Là làm cái gì?

- Là đào đất, xúc xà bần, khiêng gạch, vác xi măng, là làm đủ thứ chuyện mà người ta sai biểu. Cu li là làm cực khổ như trâu bò mà mỗi ngày công được có năm ngàn bạc.

Thằng bé tròn mắt kêu lên:

- Năm sáu ngàn lận?

Thật là một con số vĩ đại. Từ ngày đeo thùng đá và xách ấm trà đi bán dạo, nó đã biết đồng bạc khó kiếm như thế nào, cả ngày trời lang thang dầm mưa, dãi nắng, có khi nó chỉ kiếm được vài trăm. Hôm nào trúng mánh như hôm nay cũng chỉ hơn ngàn bạc. Nó lẩm nhẩm cộng tất cả tiền dành dụm từ hồi đi bán trà đá tới giờ vẫn chưa bằng được cái con số năm, sáu ngàn đó. Mà đó chỉ là tiền công mỗi ngày mà thôi. Nó ngước nhìn những công nhân xây dựng một cách ngưỡng mộ và thật thà nói lên ước vọng của nó:

- Phải chi em được làm cu li!

Mọi người phá ra cười:

- Không chuyên môn gì mới phi làm cu li. Cực chết mẹ chứ chi à?

Họ chỉ một người ăn mặc lịch sự, đang coi một bản vẽ, nói:

- Có ước mơ thì thành kỹ sư như ông đó, vừa khoẻ vừa có tiền. Nhưng mà phải học thiệt giỏi mới hòng! Mày có đi học không?

- Có, em học hết lớp năm rồi. Tựu trường này em lên lớp sáu. Mẹ nói lên cấp hai, muốn đi học tốn nhiều tiền lắm. Đồng phục, sách vở, tiền bảo trợ, tiền sửa chữa trường, đủ thứ hết. Mẹ sợ không đủ tiền đóng nên biểu em nghỉ hè đừng đi chơi, đi bán trà để dành tiền mai mốt phụ với má đóng tiền học.

Mọi người nhìn thằng bé đen củi còm nhom. Có thể nhận thấy qua ánh mắt vẻ mặt họ một niềm thương cảm. Nhưng chẳng ai nói gì cả. Mấy người lớn tuổi chắc cũng có con cái lớn cỡ nó, chắc họ cũng đang lo nghĩ về tiền học, tiền sách vở, áo quần...

Với lại, cũng hết giờ giải lao rồi. Họ lại làm việc quần quật, không hở tay, hở miệng, hở mắt để mà ngó tới nữa.

Nhưng thằng bé vẫn đứng đó nhìn người ta làm việc. Nó thấy đẩy xe cút kít chở xà bần đi đổ không khó gì. Tưới nước cho ướt gạch, rồi tiếp gạch cho thợ xây thì nó nhắm nó cũng làm được. Ngay cả chuyện trộn hồ, nó đứng coi một hồi thì kết luận nó cũng... làm được, nếu nó cao và to hơn chút nữa.

Tất nhiên là công việc đòi hỏi nhiều sức lực. Nhưng mà thằng bé cho rằng nó cũng dẻo dai lắm. Quả là cực nhọc thật. Nhưng đi bộ suốt ngày với thùng đá đeo bên hông và ấm nước gần bốn lít trong tay cũng không phải là việc nhẹ nhàng gì. Nó đâu có sợ cực. Vả lại, nó thấy người ta làm việc rất vui. Không khí lao động tất bật làm nó đứng coi mà cũng thấy hăng hái và táy máy tay chân.

ấm trà đã hết rồi. Như mọi khi nó có thể đi lượm trái dầu quăng lên không trung để ngó chúng riưi xuống, xoáy tít thật vui mắt. Nhưng bây giờ thằng bé không màng gì đến trò chi đó. Nó lảng vảng ở công trường xây cất coi người ta làm, rồi động tay động chân phụ một người đang đẩy xe cút kít, gặp phi mô đất cao, xe lên không nổi. Thấy không ai kêu rằng mình vướng tay vướng chân họ, thằng bé bạo dạn hơn. Khi chú thợ xây kêu: "Gạch!", nó lập tức ba chân bốn cẳng phóng lại đống gạch, ôm một mớ chạy lại tiếp ngay. Rồi cứ chạy đi chạy lại tiếp gạch, tiếp hồ suốt buổi đó.

Hôm sau, mới hưng hửng sáng thằng bé đã có mặt ở công trường, với thùng đá và ấm trà. Nhưng hôm đó ai cũng bận tối mặt. Cứ nghe cai với đội trưởng hò hét công nhân mà hãi hùng. Nào là xi măng tới phải dọn kho chất vô; nào là gạch về, cát về, sân bãi đâu mà đổ. Bọn vật tư chết tiệt, khi cần thì không có, khi chưa cần thì đổ tới ào ào, không nhận thì mai mốt không có dùng, nhân bây giờ thì nhét vô đâu. Mấy thằng kia ra dọn hết đống xà bần này coi! Thằng này nữa, vô xếp xi măng lại coi rộng được chỗ nào không? Còn thằng nào ra trộn hồ nè! Còn thằng nào nữa... Hết thằng rồi! Ai cũng bù đầu tối mặt, mà công việc thì cứ việc này đẻ ra việc kia.

Ông đội trưởng gào thét để chỉ huy một hồi khản cả tiếng. Bỗng ông thấy thằng bé. Hôm qua ông cũng thấy có lăng xăng ôm gạch tiếp thợ hồ, ông chỉ mặt nó, quát:

- Thằng này phụ hồ được không?

- Dạ được.

Nó gật đầu lia lịa. Ông đội trưởng phất tay, bố trí nó "công tác" chung với một ông thợ gì. Thằng bé xông vô làm như chiến sĩ xông pha trận mạc.

Buổi chiều, nó bắt đầu thấy oi. Mặc dù người ta đã giao nó toàn việc "nhẹ nhàng" so với những cu li khác. Nó vẫn bở hơi tai, thè cả lưỡi ra.

Khi nó đeo thùng đá và xách ấm về, ông đội trưởng xoa đầu nó, nói:

- Còn bao nhiêu trà coi như tao uống hết. Chiều thứ bảy trả công luôn.

Bữa nay mới thứ năm. Thằng bé về nhà, thân thể ê ẩm suốt đêm, lòng thì hoang mang không biết mình có thể được lĩnh bao nhiêu tiền công, và liệu ông đội trưởng có quỵt mình không? Chú thợ già mà nó phụ hồ lúc trưa có nói nó nhỏ quá, làm toàn việc vặt, chắc được nửa tiền công thôi. Ba ngàn đối với nó cũng lớn lắm rồi. Nhưng nó siêng năng chịu khó như vậy, có thể được bốn ngàn. Ôi!, bốn ngàn! Nó quên được phần nào sự mệt mỏi của thân xác và ngủ thiếp đi.

Hôm nay nữa mới chỉ là ngày thứ sáu. Thằng bé đến công trưởng, đánh bạo hỏi anh bảo vệ:

- Bữa nay em có được làm nữa không?

- Mày ấy hả? Công trường không bóc lột sức lao động của trẻ em. Hôm qua tại kẹt quá, chứ bữa nay thì miễn.

Thằng bé khẩn khoản nói là nó thích làm cu li lắm và biết đâu bữa nay công trường cũng kẹt nữa. Anh bảo vệ nhún vai:

- Chờ ông đội trưởng tới coi! Mướn mày mang tiếng chớ ích gì?

Nó phập phồng chờ ông đội trưởng. Chờ hoài sao ổng lâu tới vậy. Cai đã thúc thợ bắt tay làm. Không ai kêu thằng bé làm gì cả. Nhưng nó không đợi kêu. Vừa thấy chú thợ già hôm qua chuẩn bị đồ nghề, nó lập tức đi ôm gạch lại chỗ ông, nhúng nước cho ướt gạch, xúc hồ vào xô, xách tới để cạnh ông, rồi chăm chỉ tiếp gạch. Tuy nó nhỏ xíu, chưa thạo việc lắm, nhưng tháo vát và dễ bảo nên ông thợ già chịu cho nó phụ. Cuối ngày hôm dó, ông đã khoái nó tới mức hứa hẹn sẽ truyền nghề cho nó nếu nó muốn.

Sáng thứ bảy, nó đang làm thì ông đội trưởng xuất hiện. Ông chỉ mặt nó:

- Thằng này làm nổi không?

Nó vội vã gật đầu:

- Dạ nổi chứ! Con làm từ hôm kia, hôm qua mà!

Ông không nói gì thêm, bỏ đi:

Chiều thứ bảy. Thật là một buổi chiều trọng đại. Thầy thợ làm xong việc, thong thả rửa mặt mũi tai chân, ngồi hút thuôc là, nói chuyện tầm phào chờ ông đội trưởng. Ông đã đi lên công ty lãnh tiễn tạm ứng để trả lương công nhân. Mọi người tuy không tỏ ra sốt ruột nhưng cũng ngong ngóng bóng hình ông đội trưởng. Cũng có khi công ty đang kẹt tiền, hay bản chiết tính của đội có trục trặc gì đó, thì sẽ không có tiền. Ông đội trưởng sẽ đến rất trễ để những công nhân không kiên nhẫn bỏ về bớt, và ông đeo một bộ mặt bí xị khất nợ với những kẻ kiên trì đến thứ hai, thứ ba...

Nghe tới tình huống này, tim thằng bé thắt lại. Chẳng lẽ nào? Bao nhiêu đợi chờ, bao nhiêu lo lắng của nó, suốt ba ngfy nay. Liệu nó có được trả lương không? Trả bao nhiêu? Trả mấy ngày công? Hôm thứ sáu ông đội trưởng không có mặt ở công trường, đâu có thấy nó làm việc. Hôm nay ông cũng không nói rõ ràng là ông chấm công nó. Tất cả lo lắng đó, nó chỉ còn cách nhẫn nại chờ ông đội trưởng tới phút phát lưng mới biết. Nếu mà... Tim thằng bé suýt vỡ ra. Nó như ngồi trên lửa bỏng vạc dầu, nhấp nha nhấp nhổm ngóng ra đường:

- A! Ông đội trưởng về!

Thằng bé hét to lên, mừng vui đến nỗi những người khác phi phì cười. Ông đội trưởng dựng xe, ôm cái túi da căng phồng vào lán bảo vệ. Ông giở sổ chấm công ra, dò theo danh sách, đếm ngày công của từng người, đếm tiền rồi trao cho họ. Ông cứ theo thứ tự trong sổ chấm công mà phát. Cuối cùng, hết danh sách. Thằng bé không có tên trong sổ chấm công! Nó đứng thập thò nhìn ông đội trưởng, mặt tái đi, tay chân lạnh ngắt. Chờ cho người cu li cuối cùng ra về, ông mới làm như chợt thấy thằng bé:

- Thằng kia, lại biểu!

Nó lật đật chạy lại, ngước đôi mắt trẻ th đầy lo âu nhìn ông đội trưởng. Ông cầm một cọc tiền giấy một ngàn, hỏi:

- Mày làm mấy ngày?

- Dạ ba ngày: thứ năm, thứ sáu, thứ bảy.

Ông đếm tiền, một, hai, ba, bốn, năm, sáu, by, tám, chín. Ông ngừng lại, hỏi:

- Ba mày làm gì?

- Dạ, ba con chết hồi năm ngoái rồi.

Ông nhìn nó một chút, đếm tiếp mười, mười một, mười hai.

- Má mày làm gì?

- Dạ, má con mua bán ve chai.

- Mày có đi học không?

- Dạ có.

- Vậy ráng mà học. Chứ làm cu li biết cực chưa?

- Dạ, con chịu cực được mà.

Ông đếm tiếp: mười ba, mười bốn, mười lăm.

Ông toan đếm nữa nhưng đắn đo một chút, hỏi:

- Má mày có đánh đề, đánh bài không?

- Dạ, không.

Ông đếm nốt: mười sáu, mười bảy, mười tám. Ông đưa tiền cho thằng bé:

- Đem về đưa má mày cất, đừng chơi điện tử hết nghe!

Xong ông đứng dậy, đi về.

Thằng bé cầm mười tám tờ giấy bạc mà ngón tay run bần bật. Nó chưa từng cầm trong tay một số tiền lớn như vậy. Mà lại là tiền chính nó làm ra, bằng ba ngày quần quật ngoài trời nắng, bằng sự cố gắng vượt quá sức trẻ em. Má nó cũng xúc động đến rơi nước mắt khi nó đưa tiền cho bà. Bà đếm đi đếm lại, lộn tới lộn lui, nó phải cầm từng tờ đếm cho má nó coi. Bà gói vào một tờ giấy dầu, đem dấu sau ảnh thờ của ba nó:

- Má cất ở đây cho con, để tựu trường có mà đi học với con người ta.

Đêm đó thằng bé ngủ vùi trong tay má. Má nó bồi hồi thao thức mãi, thỉnh thoảng bà lại vuốt mái tóc khét nắng của con.

Có thể nửa thế kỷ sau, có một tỉ phú hay một nhà bác học để lại tiểu sử như vầy: Mười hai tuổi, tôi đi làm cu li để có tiền ăn học... Nhưng hiện giờ, dưới một mái tranh ở vùng ven, có một đứa bé gầy gò, đen thui vì nắng gió, trong giấc ngủ say nhọc nhằn đang mơ rằng ngày khai trường, em sẽ đến lớp với đồng phục tươm tất như mọi học sinh, và không ngay ngáy lo lắng cô chủ nhiệm sẽ phiền trách vì không đóng nổi các thứ tiền tập vở, tiền thuê sách, tiền bo trợ, tiền sửa trưởng ốc, tiền hội phụ huynh và đủ thứ tiền gì gì nữa.....

Không Rõ (Khuyết Danh)

 

Trả Súng Đạn Này - Vũ Thế Thành

 

Trả súng đạn này




 

Vậy mà bốn mươi năm trôi qua rồi. Chiều nay tình cờ xem 55 năm nhìn lại, đôi khi phải bám chặt tay vào thành ghế… Biết bao tâm tư chất chứa, cũng muốn một lần trải lòng, nhưng rồi thấy bà Dương Nguyệt Ánh đã ‘giành’ nói hết cả rồi, nói từ năm, sáu năm trước, nói ngắn, gọn và đủ. Nói cả những điều nhỏ nhặt mà lịch sử đã quên, đang quên và có lẽ cũng sẽ quên luôn: Người lính ra trận với vũ khí kém cỏi. Lỡ thua thì bị chê bai, nhưng nếu thắng thì chỉ những người bạn lớn được nói đến. Tủi quá! Xin cám ơn bà.

Đã “sạch nợ sông núi rồi”. Mệnh Trời bắt thế, chỉ là lực bất tòng tâm thôi. Đâu cần phải đấm ngực Mea culpa… Mea culpa… Cái đó nên dành cho những chính khách salon, những người tinh hoa, những kẻ ba rọi. Sự thật là sự thật. Người lính bên nào lại chẳng đau, mỗi bên đau mỗi kiểu. Cuộc chiến tàn rồi. Ván cờ thế bày ra, không có cửa cho những tay chơi cờ thí chốt”.

Chuyện hôm nay mau quên, chứ chuyện ngày xưa lại nhớ dai.

Tác giả tự sự: Tôi viết bài này cách nay 9 năm, định đưa vào tập tùy bút “Sài Gòn một góc ký ức”, nhưng không sao biên tập cho “tế nhị” hơn được, đành tự ý rút ra.

Trong dòng ký ức của “mọi thứ như mới đâu đây, tưởng như chạm tay vào được. Hai mươi năm trước, cha bỏ xứ ra đi. Hai mươi năm sau, con bỏ nước ra đi. Bỏ đi không đành, con ngu hơn cha. Bây giờ con ngồi lẩn thẩn”, Vũ Thế Thành viết… Tôi có thể ngồi đồng cả ngày trên mạng, nhảy tường lửa, đọc tài liệu, đọc báo nhăng nhít, nhưng chưa bao giờ xem/nghe trọn một chương trình ca nhạc, dù là ở nhà hay trên những chuyến xe đò đường dài. Xem không trọn chỉ vì ngủ… gật, đúng hơn, trình độ thưởng thức của tôi chỉ tới cỡ đó. Vậy mà chiều nay tôi đã xem trọn một chương trình ca nhạc.

Ở Việt Nam, các DVD ca nhạc hải ngoại Thuý Nga Paris, Vân Sơn… dễ kiếm, nhưng Asia thì khó. Asia ‘phản động’ lắm, lỡ bị phát hiện, sẽ bị tịch thu cả xe, hết đường sống, những người bán DVD dạo nói thế.

Nhưng bây giờ, chỉ cần một media hub, người ta có thể tải từ internet đủ loại chương trình giải trí để xem qua TV. Ngủ gật cũng sướng như ăn vụng. Thỉnh thoảng tôi cũng click đại một liveshow nào đó để ru mình ngủ… gật. Và chiều nay, tôi muốn ngủ gật với Asia, để xem ‘phản động’ tới đâu. Tôi chọn chủ đề 55 năm nhìn lại vì đoán là nói miền Nam từ thời di cư 54.

Không chỉ là chương trình ca nhạc, mà đan xen vào đó là những thước phim tài liệu, những hình ảnh năm xưa, khỏi cần thuyết minh, tôi cũng nhớ ra gần hết. Chuyện hôm nay mau quên, chứ chuyện ngày xưa lại nhớ dai. Con tàu há mồm Passage to Freedom, Đệ nhất, Đệ nhị Cộng hoà, kinh tế, giáo dục, văn hoá, mùa hè đỏ lửa, đại lộ kinh hoàng… Mọi thứ như mới đâu đây, tưởng như chạm tay vào được. Hai mươi năm trước, cha bỏ xứ ra đi. Hai mươi năm sau, con bỏ nước ra đi. Bỏ đi không đành, con ngu hơn cha. Bây giờ con ngồi lẩn thẩn.

Nhiều bản nhạc từ lâu lắm rồi, bây giờ mới nghe lại. Nghe lại mà có thể hát theo trong đầu được. Những ca khúc thanh bình thuở xưa đó, ngày trước nghe hờ hững, bây giờ lại thấy hay. Dĩ vãng sao êm đềm quá!

“Trả súng đạn này, khi sạch nợ sông núi rồi. Anh trở về quê, trở về quê, tìm tuổi thơ mất năm nao…”

Chưa bao giờ tôi nghe “Một mai giã từ vũ khí” với một cảm xúc ngậm ngùi như thế, như nuốt từng lời ca tiếng nhạc vào tim óc.

Chương trình này cũng khéo ‘dụ’ được bà Dương Nguyệt Ánh làm MC. Cho dù là kịch bản đi nữa, thì MC Dương Nguyệt Ánh giống như nhà toán học có khiếu làm thơ: ngôn ngữ chắc nịch và giọng nói biểu cảm.

Tôi cũng lần đầu nhìn lại nhiều khuôn mặt ca sĩ quen thuộc. Cận cảnh mới thấy thời gian nghiệt ngã. Son phấn không thể cứu vãn, kỹ thuật âm thanh cũng bó tay. Khi giọng hát vút lên đuối hơi, những đường gân hiện trên cổ thấy rõ. Con tằm đang nhả những sợi tơ cuối cùng cho đời…

Tôi đọc đâu đó, có lần ông bác sĩ kiêm ca sĩ Trung Chỉnh phải nhảy trực thăng xuống vùng chiến sự để cấp cứu. Ông nhảy thoát được, nhưng túi đồ nghề thuốc men bị bắn bể. Ông y sĩ đành lấy tiếng hát thay thuốc men để làm dịu cơn đau của thương binh. Chuyện thật bao nhiêu phần trăm không rõ, nhưng thiệt đậm ‘chất người’ giữa làn ranh sống chết.

Thời gian cứ thế trôi ngược theo hình ảnh và âm thanh…

** ** ** ** ** **

Những ngày sau 75, nếu chết chưa chắc là hết, thì sau khi chết, tôi sẽ không quên được cảnh tượng các em thiếu niên đi tịch thu sách vở ‘đồi truỵ phản động’, quẳng rầm rầm lên xe ba gác, như chuyển hết căm thù vào đó, vừa quăng vừa dạy đời người lớn.

Hai mươi năm sau, tôi sống lại cảm giác này khi đọc “Sống và chết ở Thượng Hải” của Trịnh Niệm. Người đàn bà cứng cỏi này, dù bị áp lực, ngược đãi tới đâu, cũng nhất định không nhận tội ‘phản động’, nhưng đã phải cuống quýt van nài bọn Hồng vệ binh, xin hãy tịch thu hết bộ sưu tập đồ cổ tranh quý của bà, nhưng đừng đập phá, dày xéo chúng. Cái cảm giác lạnh buốt chạy dọc theo sống lưng…

Vài năm trước, một đạo diễn trẻ, bà Lê Phong Lan làm bộ phim tài liệu để chứng minh thảm sát Mậu Thân ở Huế chỉ là xuyên tạc. Và mới đây, phó giáo sư tiến sĩ sử học Vũ Quang Hiển, trả lời phỏng vấn đài BBC: làm gì có chuyện ngược đãi tù đày những người thua cuộc sau 75, chỉ là tập trung học tập cải tạo cho thông đường lối chính sách, thế thôi.

Nhiều người hải ngoại phản ứng gay gắt. Tôi thì quen rồi. Những điều ‘vẫn thế’ như bao điều ‘vẫn thế’ ở đất nước này. Trước họ còn những G. Porter (Mỹ) chứng minh (bằng cách ‘chặt chém’ số liệu của người khác) rằng, thảm sát Mậu Thân chỉ là chuyện bôi nhọ. Lùi lại hơn chục năm, vị giáo sư này cũng cho rằng, xử chết ‘quá tay’ trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc cũng là chuyện bôi nhọ luôn. Nhà báo W. Burchett (Úc) đã từng ‘đi dạo’ ở Củ Chi thập niên 60 để viết bình luận, cũng lại là người hết lời ca tụng ‘Bước đại nhảy vọt’ và ‘Đại cách mạng văn hoá’ của Mao Trạch Đông. Thế đấy!

Tôi phục họ. Bước ra khỏi ranh giới của nhân cách, đâu phải ai cũng dám làm.

Lịch sử có thể được nhìn dưới nhiều góc cạnh khác nhau, nhưng sự thật lịch sử thì chỉ có một. Nhân chứng còn đó, lịch sử vẫn còn đó.

Bây giờ, những ngày cuối tháng Tư này, nơi đây đốt pháo hoa ăn mừng. Bên kia cúi đầu tưởng niệm. Triệu người vui, triệu người buồn. Vui nhiều kiểu, mà buồn chỉ một kiểu. Vui vì tự hào là người chiến thắng. Buồn thì chưa chắc đã vì chiến bại, mà hậu quả chiến bại thì đúng hơn. Bốn mươi năm rồi chứ đâu ngắn ngủi. Về kinh tế, chỉ cần nhìn qua các nước lân cận cũng đủ thở dài rồi. Giáo dục thúc đẩy bản năng nhiều hơn, cướp giựt chợ hoa, leo rào bơi miễn phí… Mỗi năm khoảng năm ngàn phụ nữ Việt bị đưa qua Malaysia và Singapore bán dâm. Đó là con số chính thức, thực tế nhiều hơn. Và đó cũng chỉ mới nói đến hai thị trường, còn Campuchia, Thái Lan, và nhất là Trung Quốc, còn nhiều hơn nữa.

Nhưng cũng có những niềm vui vô tư vì ‘ngày giải phóng’ là ngày nghỉ dài, đi chơi thỏa thích. Rồi cũng có những nỗi buồn lẩm cẩm với quá khứ, nằm nhà nghe nhạc. Vui buồn, hiểu theo nghĩa tuyệt đối, thì mỗi năm sẽ thêm triệu triệu người vui. Còn buồn, thì vài ngàn, vài trăm, rồi vài chục, chỉ còn tí tẹo. Đất nước có chỉ số hạnh phúc cao nhất nhì thế giới là thế. Ngẫm lại mới thấy hội chứng Stockholm thiệt éo le!

** ** ** ** **

Vậy mà bốn mươi năm trôi qua rồi. Chiều nay tình cờ xem 55 năm nhìn lại, đôi khi phải bám chặt tay vào thành ghế… Biết bao tâm tư chất chứa, cũng muốn một lần trải lòng, nhưng rồi thấy bà Dương Nguyệt Ánh đã ‘giành’ nói hết cả rồi, nói từ năm, sáu năm trước, nói ngắn, gọn và đủ. Nói cả những điều nhỏ nhặt mà lịch sử đã quên, đang quên và có lẽ cũng sẽ quên luôn: Người lính ra trận với vũ khí kém cỏi. Lỡ thua thì bị chê bai, nhưng nếu thắng thì chỉ những người bạn lớn được nói đến. Tủi quá! Xin cám ơn bà.

Đã “sạch nợ sông núi rồi”. Mệnh Trời bắt thế, chỉ là lực bất tòng tâm thôi. Đâu cần phải đấm ngực Mea culpa… Mea culpa… Cái đó nên dành cho những chính khách salon, những người tinh hoa, những kẻ ba rọi. Sự thật là sự thật. Người lính bên nào lại chẳng đau, mỗi bên đau mỗi kiểu. Cuộc chiến tàn rồi. Ván cờ thế bày ra, không có cửa cho những tay chơi cờ thí chốt.

Tháng Tư nào trời chẳng mưa. Quá khứ đâu dễ gì quên được. Hai mươi năm đau thương của chiến cuộc, cũng may mắn có được những năm tháng bình yên. Rồi thêm bốn mươi năm nữa, học được biết bao chuyện trò đời… Nhưng vẫn còn sót lại đâu đó chút tình người, phải thế không?

Xin kết thúc bài viết bằng lời nhạc:… Xin cám ơn, xin cám ơn… người nằm xuống…

Vũ Thế Thành

Nguồn: http://batkhuat.net/van-trasung-dannay.htm

 

 

Hóa Bướm - Đa Sự Lang Y

 

Hóa Bướm





Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.

Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗ i lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.

Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ . Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học .

(Tôi đi học -- Thanh Tịnh)

Hắn yên lặng lái xe từ trường Ðại Học chính của tiểu bang về nhà, trong đầu cứ vương vấn về bài tập đọc nổi tiếng "Tôi đi học " của Thanh Tịnh từ cuốn "Quốc Văn Toàn Thư" các lớp tiểu học mà ai trong thế hệ hắn cũng thuộc nằm lòng. Hôm nay hắn và vợ hắn đem đứa con trai đầu lòng đi học Ðại Học. Trời hôm nay không phải cuối thu mà là cuối hạ, không đầy sương thu và gío lạnh mà đầy khí nóng và độ ẩm. Cái nóng giết người của vùng Mid-West ở Hoa Kỳ. Chuyến đi về nhà hắn lái xe trong yên lặng, phần vì mệt nhọc sau một ngày nóng nực mà phải khuân đồ đạc của con hắn vào nhà trường nội trú (dormitory), phần vì hắn đang bực mình với vợ hắn, không muốn tiếp tục câu chuyện mà hắn biết sẽ không đi về đâu.

Vợ hắn, như những bà mẹ khác, cứ lo lắng cho thằng con đầu lòng đi học xa. Hết lo xa, lại lo gần. Nào là không biết nó có giặt quần áo đúng không. Nào là ai sẽ đánh thức nó dậy buổi sáng. Nào là không biết đồ ăn trong trường có hợp khẩu nó không. Thấy mà bực mình.

- Tôi nói cho bà hay là đời nó bây giờ còn sướng chán. Hồi xưa tôi và bà có ai đem vô trường đâu mà vẫn học ra ông này bà nọ như ai vậỷ Chưa kể hồi đó còn phải đi làm thêm và lo chuyện mượn tiền để trả học phí và bao nhiêu phí tổn khác nữa.

Vợ hắn chanh chua:

- Hồi xưa khác, bây giờ khác. Hồi đó mình là dân tị nạn nghèo đói đã quen, được đi học đã là may. Còn tụi nó từ nhỏ đến lớn có khi nào xa nhà bao giờ đâu, làm sao mà ông bảo "Ðời cua cua máy, đời cáy cáy đào" được. Mình là cha mẹ thì phải lo cho chúng chứ. Con tôi, mang nặng đẻ đau thì tôi thương, có chết ai.

Hắn biết cái lý luận này thì không bao giờ có hòa đàm. Cũng như hôm nọ hắn và vợ hắn đi chợ. Ði ra khỏi Siêu Thị vợ hắn bảo hắn:

- Chỉ có một hai bao đồ mà ông cũng dùng xe (shopping cart) à? Sao không xách tay để mấy thằng bé khỏi phải cực nhọc đem xe trở lạị Trời nắng nôi. Tuị nó cũng như con mình,đi học về đi làm kiếm được có mấy đồng mà phải khổ sở.

- Trời đất ơi! Còn tôi thân gìa phải cực nhọc xách đồ cho bà thì bà không nghĩ tới à!

Hắn còn muốn nói thêm nữa,nhưng biết nói lắm thì cũng bằng thừạ

Cái chuyện con hắn đi học này cũng cam go lắm. Lúc đầu con hắn định đi học đại học tư nổi tiếng gần nhà. Vợ hắn rất là đắc ý. Nhưng sau con hắn đổi ý bỏ đi đại học tiểu bang. Phần vì nó có nhiều bạn bè cùng ghi danh, nhưng chắc phần chính là nó muốn đi xa nhà một chút. Bả cũng giận dỗi mấy ngàỵ Hắn thì chẳng có ý kiến. Hai đại học này, cái nào nào hắn cũng học rồị Chỗ nào cũng có người quen. Chỗ nào cũng nổi tiếng cả. Ăn thua là thằng con nó có chịu khó học hành hay lại ham chơi mà thôi. Càng thấy vợ hắn quá cưng con, hắn càng đồng ý với câu ca dao:

" Ði cho biết đó biết đây
Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn"

Hắn cứ nghĩ đến câu:

"Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà"

thật không phải là không có cái lý lẽ của nó.

Vợ hắn quan niệm mình cực khổ là cho con cái nó nhờ chứ chúng nó cũng phải cực khổ như mình thì có nghiã lý gì. Hắn với kinh nghiệm nhà binh luôn theo chính sách: "Quân trường đổ mồ hôi; Chiến trường bớt đổ máu".

Mình có sống cho đời chúng nó mãi được đâu. Cuộc đời có khổ thì mới có cái hay, cái vui và cái thú vị của nó. Cuộc chiến mà không đổ máu thì chiến thắng nào có vinh quang như người ta thường nóị

Vợ hắn cứ lo thằng con thiếu tiền tiêụ Vừa viết cho ngân phiếu vừa dí tiền mặt vào túi nó. Hắn nghĩ sinh viên thì cần tiền làm gì mà lắm thế. Học phí, sách vở, đồ lặt vặt , tiền ăn cũng như tiền phòng đã có hắn trả hết rồị Thời đại này chúng còn có máy vi tính di dộng, phôn di động, phiếu tín chỉ (credit cards) , cần gì thì cứ "charge" trước rồi gọi về nhà tính sau. Trong phòng thì đầy máy móc , tủ lạnh, máy hát, máy truyền hình mà con hắn còn than thiếu thốn. Chẳng bù cho sinh viên, học trò hồi xưa:

Ðôi guốc năm hiên kéo bốn mùa.
Tiền nhà ít gửi, biết chi mua !
Áo nhà cọ mãi đôi tay rách,
Gương lược thăm hoài tóc ngắn thưa.

(Học Sinh - Huy Cận)

Hết chuyện tiền bạc rồi tới chuyện phòng ốc. Vợ hắn lo cái phòng ngủ quá nhỏ, chật chội, nóng nảỵ Mượn cớ trời nóng nực hôm nay Bả cứ trách hắn là không chịu viết giấy để cho con nó có máy lạnh, loại nho nhỏ để cửa sổ, sợ tối nóng quá nó ngủ không được.

- Con người ta còn bỏ tiền ra đi thăm Bác Sĩ mà lấy giấy chứng thực, còn ông thì chỉ ngoặc vài chữ mà cũng không chịu làm. Tôi thật cũng hết ý kiến với ông.

- Ði học mà bà làm như đi nghỉ mát không bằng! Trời nóng thì vô thư viện mà học có phải là một công hai chuyện không chứ. Ðêm về, nóng thì mở cửa , bỏ quạt trần mà ngủ.

Hắn còn thêm:

- Nóng thì cũng chỉ có mấy tuần rồi trời lại lạnh cóng.

Máy lạnh chỉ tổ cồng kềnh, choán mất cả cửa sổ không thấy cảnh đẹp của sân trường.

Thật ! Thời của chúng nó bây giờ chẳng biết thơ mộng như thời của bọn hắn:

Lên gác yên tâm nghĩ sự đời,
Hương nồng quanh gối vẩn vơ chơi.
Giường bên cửa sổ, cây đưa mát,
Không chịu mùng che để ngó trời.


(Học Sinh - Huy Cận)

Về đến nhà, hắn bỏ ra sau vườn cắt cỏ, chăm sóc vườn tược. Có thằng con cắt cỏ phụ cũng đỡ mệt và ít mất nhiều thời gi+ờ. Hắn cũng bắt đầu thấy nhớ thằng bé. Bên hông nhà, mấy cây sồi (oak) mới trồng thiếu nước, cành lá khô héo quăn queo dưới cơn nắng nung ngườị Hắn lại bực mình vì vợ hắn trồng hai cây đầu vườn quá gần nhau nên chúng không lớn lên được. Chả bù cho mấy cây trồng xa nhau ở cuối vườn. Hắn lẩm bẩm :

- Cây cối cũng như người, phải có chỗ rộng, có đất dung thân mới hy vọng lớn lên được!

Vợ hắn cũng theo hắn ra vườn chăm nom mấy cây hồng. Bất chợt bả kêu lên:

- Ông ơi! Lại đây coị Sao con bướm này kỳ vậỷ

Thì ra khi thấy con nhộng đang khổ sở cắn tổ chui ra, vợ hắn vì lòng nhân đạo đã cắt cái kén để con nhộng chui ra nhanh hơn. Ðâu biết rằng con nhộng chui từ từ qua lổ hẹp để ép hết nước trên cặp cánh. Con bướm này ra tổ với cặp cánh dầy, mập ú vì ứ đọng đầy nước. Lòng nhân đạo của vợ hắn đã làm con bướm này cả đời bò sát đất, không bay lượn vờn hoa như bao con bướm khác . Cái giai đoạn khổ nhọc từ từ chui qua lỗ hẹp của cái kén cũng là giai đoạn cần thiết, bắt buộc của luật tự nhiên cho nhộng hóa bướm.

Cuối vườn chợt vang lên tiếng ve ca. Khởi sự bằng một vài tiếng ca lẻ loi rồi chợt rền lên như tất cả mọi con ve cùng đồng ý hòa điệụ Hồi nhỏ hắn đọc sách hay nghe nhạc thấy ai cũng nói là ve kêu báo hiệu mùa hè sắp tới, như khóc than cho cảnh xa thầy xa bạn. Mấy đứa con của hắn lại nghĩ khác. Chúng bảo ve kêu vào cuối hạ thì đúng hơn. Như khóc than cho một mùa hè vui vẻ đã qua mất. Con gái út của hắn còn văn chương hơn bảo: " Ba không thấy ngày tháng hè trôi nhanh như nước chảy qua chân con à?" Hắn lơ đãng nhìn về cuối vườn, hướng tiếng ve kêu, bất chợt hắn cũng đồng ý là tiếng ve kêu to hơn vào cuối hạ, nhất lànăm nay. Hắn lập lại : "Gớm, ngày tháng qua mau thật!!" rồi lững thững bỏ vào nhà, quên hẳn vợ hắn ngoài vườn vẫn đang còn ái ngại nhìn con nhộng không bao giờ hóa bướm.

Vậy đó bỗng nhiên mà họ lớn,
Tuổi hai mươi đến, có ai ngờ!

(Học Sinh - Huy Cận)
Đa Sự Lang Y

Cuối hè 2003

Sunday, October 4, 2026

Biệt Ly Khúc - Nguyễn Đạm Luân

 Biệt Ly Khúc




Áo Trắng Xưa Thôi Bay - Thuyên Huy

 

 Áo Trắng Xưa Thôi Bay

Viết mà nhớ một người đã nằm xuống từ những năm sáu tám sáu chín




    Buổi chiều, trời đầu thu, tựu trường, một lần nữa, anh ngồi trầm ngâm buồn, ở một góc, trước hiên cái quán cũ quen, ngay ngã ba nhìn qua cổng trường, phía bên con gái ra đường, con đường mà anh đã đi đi về về, không đếm hết nổi bao nhiêu lần trong suốt những năm tháng nợ nần với kiếp học trò bút nghiên giấy mực.

    Ly cà phê, tự nãy tới giờ vẫn còn nguyên, nguội rồi nhưng nhờ mấy vạt nắng hờ hắt vào cũng còn được chút hơi đủ ấm, anh cứ nhìn ra đường, hàng dừa xanh không cao không thấp, lá xanh lá úa vàng xen kẻ mấy cây phượng già hoa héo hoa hắt tàn, lạ không lạ quen không quen.

*

    Đám con gái túa ra, cười rộn cười rả cả một trời chiều, phía bên kia sau lưng trường, mặt trời úa vàng pha sắc tím hoàng hôn chầm chậm xuống, ngang qua xóm chài dưới con sông nhỏ, chạy ra tới phố chợ, ngã ba đường trắng một màu trắng, chập chờn như ngàn cánh bướm bay bay, áo nối tiếp áo thả tả, vờn theo gió chiều, giờ tan trường. Chỉ là những tà áo lạ.

Nuốt ngụm cà phê nguội lạnh đáy ly cùng lúc phía trong quán, tiếng ai đó hát bài tình ca quen thuở anh mới biết yêu người, bắt đầu cho buổi chiều đông khách, anh gật đầu chào cô chủ, bước chập choạng đi ra đường, nhìn xuống đất, chiều xuống thật nhanh, phía bờ bên kia sông, phố chợ nhá nhem lên đèn, vàng vọt, le lói. Đã trễ rồi không còn đón kịp chuyến xe chiều rời phố. Một lần nữa

*

    Anh thẩn thờ cay mắt, cố tìm trong đó, tìm để mà thấy mình còn muốn tìm, vậy thôi, không có tà áo trắng năm xưa, tà áo của cô con gái xóm đạo mà anh thương thầm, nhớ trộm và chỉ duy nhất một lần, can đảm ngỏ lời, và chỉ nhận lại nụ cười, một nụ cười trọn vẹn, thánh thiện.



    Rồi từ đó, chiều trường tan, người ta, bạn bè thấy trên đường về hai người bước song đôi bên nhau, nghe nhiều nói ít mà cười, phố nghèo có thêm người biết thương nhau, nhà thờ có thêm một người ngoan đạo dù là ngoại đạo, đứng chờ tan thánh lễ mỗi chiều chủ Nhật ngay trước cánh cửa mở rộng của thánh đường, nhẹ cúi người chào Cha và mộ đạo.

*

    Năm đệ Nhất, cô nàng lớp đệ Nhị, hai người vẫn đi về sáng chiều như những ngày qua, hết đường phượng hồng đầu hạ tới lối vàng lá rụng giữa thu. Rồi sau mùa thi cuối cùng anh xuống Sài Gòn, bắt đầu những ngày đầu với giảng đường đại học, hai người không còn thường bên nhau như trước, bạn bè quen biết mà thương cho.  

    Nhà ở cách tỉnh hơn bốn mươi mấy cây số, cũng không còn ai quen ở đó, trừ cô nàng, từ đó, anh cũng trở lên tỉnh gặp lại người thương, ho vẫn còn thương như đã thương, cũng ngồi bên nhau ở quán nước đầu trường ngày nào hay bên nhau ngắm hoàng hôn tím nắng chiều bên kia sông trên cái ghế đá lẻ loi của cái công viên cây nhiều hoa ít.  

    Cô vẫn đi học những ngày đầu năm đệ Nhất, năm vắng anh nhưng sau đó thường vắng đến trường, dù năm này là năm thi, mấy cô bạn cùng lớp cũng không ai biết lý do tại sao nhưng ai nấy đều nhận ra cô trông buồn và ít nói hơn trước, dù vậy sợ gợi thêm buồn cho bạn nên không ai hỏi gì hơn.

   Mấy lần trở về, lên tỉnh, ngồi chờ giờ tan trường chiều, trong cái quán cũ quen, ngay ngã ba đường, anh đều không thấy cô ra cổng, tìm gặp mấy cô bạn biết anh, họ cũng không biết gì hơn về sự vắng mặt khá thường của cô, anh cũng không làm sao hơn vì gia đình cô không biết anh là ai, nếu có tới đó hỏi, những ngày sau đó ở Sài Gòn, giảng đường, ghế đá, anh ngồi thừ ra, nhớ người hơn là nhớ sách vở, khóc thầm chỉ riêng minh hiểu.

*

   Thi cuối năm xong, anh hối hả về thăm nhà rồi trở lên tinh, cũng chiều chủ Nhật, cũng như những chiều chủ Nhật ngày xưa, anh đứng nép một bên cửa nhà thờ chờ, thánh lễ chiều xong, người đi lễ lần lượt ra về, sân giáo đường vắng lặng, chỉ còn đôi ba con chim gọi bạn trên gác chuông, tiếng kêu kéo dài, buồn.

    Anh theo Cha xứ vào phòng tiếp khách, sau lưng nhà thờ. Không lâu sau, anh ra về, ông đứng trước cửa nhìn theo lắc đầu, bóng anh nghiêng đổ dài theo nắng chiều héo hắt xuống, trải dài trên sân, anh chậm bước đi, run rẫy, người ta không biết Cha xứ đã nói với anh những gì, tới cổng nhà thờ, đứng lại nhìn nhà thờ lần nữa, anh bật khóc.

*

    Anh cố kiềm lòng, nén lòng đừng khóc nhưng nước mắt cứ mặc tình ứa ra, lăn tròn trên mặt, khi ngồi nhìn tấm bia trước mồ, cái mồ xây bằng xi măng, gọn nhỏ trong nghĩa địa đất thánh tây so với nhiều ngôi nhà mồ lớn của ai đó, có tiền có của. Hình trên mộ bia, cũng là tấm hình đen trắng mà cô nàng tặng mà anh đang có trong bóp của mình, với nụ cười trọn vẹn, thánh thiện, nụ cười mà cô nàng trả lời hôm anh dám lần đầu ngỏ lời đã thương.

    Nắng chiều dần buông, hanh vàng hắt ngang, đưa bóng anh trải dài tròn lên nấm mồ, chừng như anh đang ôm cô vào trọn vòng tay mình. Anh vẫn ngồi bất động, ngừng khóc nhưng vẫn sụt sùi, đưa tay vuốt mái tóc dài đen tuyền trong hình, run rẩy từng chập, ngậm ngùi gọi tên cô nàng, rồi thẩn thờ đứng chết trân như người không hồn bên lề đường.

*

   Theo lời cha xứ, Chúa không thương cho trót, nửa năm đệ Nhất, cô thường nghỉ học vì phải vào nhà thương tỉnh, cả xóm đạo bàng hoàng, người khóc thương, người chấp tay lạy Chúa, cô bị bệnh ung thư ác tính thời kỳ cuối, cô cố gượng sống sau những lần hóa trị nhưng cũng không qua phần số, cô mất đi về với Chúa, vào một ngày đầu Hạ, bải trường mùa hè.

    Đám tang chật kín người xóm đạo ở nhà thờ, họ khóc và cha xứ cũng khóc khi nói tiếng “A Men” tàn thánh lễ, thầy cô, bạn bè chật cứng đường Phan Thanh Giản, đưa cô tới nghĩa địa đất thánh tây và cô ngủ yên ở đó.

*

   Anh đứng dậy, đưa tay vuốt nhẹ nấm mồ, vuốt tóc cô nàng một lần nữa, hẹn sẽ về rồi lảo đảo đi ra đường, vừa đi vừa mân mê tấm hình đen trắng trong tay, nắng tàn, chiều xuống thấp thật thấp, lẻ loi vài vạt cuối, lùa ngang đầu, trời nghĩa địa bắt đầu nhá nhem tối, nước mắt ứa ra, anh, lại một lần nữa, chắc không phải là lần sau cùng, khóc thành tiếng.

Thuyên Huy

Tàn thu 2026

  

   

   

   

   

   

  

   

  

   

 

 

   

 

 

 

 

Bài Toán - Vũ Thư Nguyên

 

Bài Toán





Văn đẩy tấm cửa kiếng, lách mình ra ngoài lan can. Buổi sáng tịch mịch, không nắng, trời u ám. Căn phòng của anh nằm ở lầu ba của một chung cư dành cho người lớn, xoay lưng ra một khu rừng thưa, chạy dọc theo xa lộ vùng Bethesda. Từ nơi đang đứng, anh có thể nhìn thấy, khuất sau đám rừng thưa ấy, từng đoàn xe nối đuôi nhau trên xa lộ, như một đoàn viễn chinh trên đường ra trận mỗi sáng. Hôm nay dậy trễ, xa lộ đã thưa thớt xe cộ, anh tần ngần đứng nhìn xuống khoảng cỏ úa dưới sân ngập đầy lá vàng. Một cơn gió sớm bỡn cợt thổi đùa những chiếc lá úa,vàng, xanh đỏ, xoáy tròn quanh những gốc cây redwood cao sừng sững, giang những cánh tay khẳng khiu như cố đón bắt lấy những chiếc lá đã lìa cành. Một vài cành cây đong đưa uốn éo như muốn nhặt lấy những chiếc lá khô đó để kết lại lên thân hình khô héo của mình, để trở lại mùa hè rực rỡ, như một người già vân vê những sợi tóc úa, nuối tiếc một thời son trẻ. Nhưng không, mùa hè đã qua, mùa đông sắp đến, còn mùa xuân thì xa mù dịu vợi. Anh mê mải nhìn những chiếc lá vàng nô đùa duỗi nhau khỏi thảm cỏ khô, chạy xuống mặt đường rồi mất dấu dưới chân đồi, cho đến khi những giọt mưa phùn lất phất hắt nhẹ vào mặt. Trời chuyển mưa sang mùa. Văn ngửa mặt nhìn lên bầu trời xám xịt, hứng lấy những giọt nước mưa lấm tấm, nghiêng nghiêng, bám nhẹ lên má, lên tóc, như vỗ về, như thấm mềm những khô cằn trong anh.

Chậm chạp quay vào phòng, Văn nhìn căn phòng ngổn ngang, bừa bãi những sách vở, quần áo, dĩa chén dơ dáy chồng chất, tự thấy mình muốn làm biếng. Muốn bừa bãi, cẩu thả như thời còn sinh viên. Có mấy khi mình được làm học trò lại một lần nữa nhỉ. Những tháng đầu khi mới dọn đến đây, anh cảm thấy thừa thãi, bứt rứt vì những ngày cuối tuần trống rỗng. Bây giờ Văn lại thấy quý cái lê thê, chậm chạp đó. Quý những khoảng thời gian trống rỗng ấy, để được ngồi ì bên khung cửa sổ nhìn mùa thu đi qua. Để tưởng tượng. Để mơ mộng vẩn vơ. Để nhớ nhung lẩn thẩn. Rùng mình, Văn nghĩ đến những ngày quay cuồng trong con lốc của đời sống. Cuộc sống đầy hỉ, nộ ái, ố, tham, sân, si. Sợ người ta dành bên nầy, lấn bên kia, đâm sau lưng, chém đằng trước. Tại sao không? Lấn được thì người ta cứ lấn, chèn được thì cứ chèn, dại gì không làm, đâm chém, chèn ép nhau để mà sống chứ! Ôi, những năm tháng lăn lộn đã biến Văn thành một tên nô lệ giác đấu, đầy vết sẹo của bon chen theo thời gian. Đời sống đã cuốn hút anh vào một dòng thác cheo leo. Nó nhồi anh vất vưởng, lên xuống gập ghềnh. Bây giờ đến khúc sông êm đềm, Văn buông mái chèo, từ từ tận hưởng sự bình yên, như lúc bé thích để dành đồ ăn ngon tận đáy chén cơm, sợ ăn liền sẽ mất. Anh muốn ôm ấp, tận hưởng cái hạnh phúc hiện có, vì Văn hiểu, một khi hạnh phúc đã qua, sẽ không quay trở lại. Hạnh phúc dường như chỉ là một làn khói mong manh, không bao giờ thật. Hạnh phúc bao giờ cũng chỉ là ước mơ, mà có mấy khi ước mơ lại trở thành sự thật?
Văn đun nước nấu cà phê, không dùng lò microwave như mọi khi. Anh muốn ngồi chờ nghe tiếng nước reo, cười thầm khi nghĩ đến mẹ của anh, vẫn nói mỗi khi pha cà phê cho Văn, rằng cà phê nấu bằng nước đun lò uống ngon hơn là nấu bằng microwave oven! Cái ngon ở đây có lẽ do sự chờ đợi, khao khát, ly cà phê đắm thêm hương vị, ngược lại khi con người ta có đủ mọi thứ dễ dàng, tất cả sẽ trở thành lạt lẽo, vô vị. Có rất nhiều thứ, đối với Văn là một trời ước mơ của tuổi nhỏ, giờ đây trên xứ người, đã trở thành nhạt nhẽo. Cái có đến với con người ta quá dễ dàng thì người ta không thấy quý cái không.

Nhấm nháp ly cà phê nóng, Văn ngồi xuống bàn học, bâng quơ nhìn những hạt nước mưa lăn tròn trên khung cửa kính. Anh không vội đi làm bữa nay, nhất là những khi mưa lất phất như thế nầy. Kệ tía chúng nó. Bom nguyên tử nổ nó cũng chưa chết nữa là nhịn đói vài giờ. Chúng nó, là những tế bào ung thư mà Văn cấy trong những ống thí nghiệm để dùng vào việc tìm thuốc chửa trị ung thư. Những tế bào đó sinh sản rất man rợ. Chỉ cần một chút máu bò là chúng có thể sinh sôi nẩy nở. Một thành hai, thành bốn, thành tám trong vòng vài ngày, cho tới khi chật ống nghiệm và hết đồ ăn mới thôi. Có lần Văn thầm nghỉ nếu mình cho chúng ăn nước mắm xem chúng có chịu nổi không nhỉ. Chổ Văn làm, Viện Ung Thư Quốc Gia, là một trung tâm nghiên cứu và chửa trị ung thư nổi tiếng nhất thế giới, nằm trong một khu khá khang trang của tiểu bang Maryland. Hàng ngàn khoa học gia từ khắp nơi trên thế giới đổ về đây làm thí nghiệm. Hàng triệu bệnh nhân đủ mọi chủng tộc đã đến đây mong được chữa trị bằng những phương pháp mới lạ còn trong vòng thí nghiệm. Giờ ăn trưa tíu tít những ngôn ngữ khác nhau làm át cả tiếng chim trong khoảng công viên rợp nắng sau bệnh viện. Phòng thí nghiệm chỗ Văn làm thì nhỏ, mà người làm nghiên cứu thì đông. Vì thế anh phải chia phiên với những người khác. Văn chịu vào trễ, làm trễ, và về trễ.

Khi ly cà phê đã uống cạn thì trời hãy còn mưa rỉ rã. Văn quyết định đi vào thăm các tế bào ung thư của mình. Anh vẫn thích đi lang thang dưới mưa. Cái thú đơn giản gợi nhớ quãng đời thơ ấu, ở truồng chạy rông tắm mưa. Mặc kệ.Văn kéo cao cổ áo ngoài rồi bước thẳng lên đồi. Con đường từ nhà đến chỗ làm non hai cây số, mưa hay nắng, Văn vẫn thích đi bộ xuyên qua cánh rừng thưa hằng ngày, để lòng mình lắng đọng, không âu lo, không vướng bận. Văn thích con đường nầy từ mùa hè vừa qua, khi rừng còn ngập lá, với tiếng ve sầu rộn rã. Với tiếng chim líu lo. Với những chú sóc nhút nhát chạy tung tăng trên cỏ rồi vọt lẹ lên những thân cây cổ thụ mỗi khi Văn đến gần. Có một chú mạnh bạo chạy theo Văn mỗi ngày để được ăn những mẫu bánh mì khô mà Văn để dành mang theo cho chú. Dần quen, chú nhảy phóc vào lòng của Văn với đôi mắt lim dim để Văn được vuốt ve, thủ thỉ. Văn nhận ra chú sóc ấy mỗi ngày rất dễ dàng vì lông chú màu trắng xám. Một con sóc bạch tạng. Anh cũng đã quen với những người đi bộ, chạy bộ để tập thể thao hai buổi sáng chiều. Lúc nào gặp anh họ cũng nhã nhặn gật đầu chào xã giao. Văn cười một mình khi nghĩ đến bà mập, bà ốm. Đó là bà Ann và bà Cathy. Ann tướng người cao dong dỏng, hơi ốm, ít nói, nhưng nét mặt rất hiền và quý phái. Còn Cathy lại mập và lùn, mặt mày chất phát, rất bặt thiệp. Hai bà cao, lùn nầy, Văn đặt tên cho hai bà ngay từ hôm gặp lần đầu, vào khoảng sáu mươi, có lẽ là bạn thân của nhau, ngày ngày, sáng cũng như chiều dắt chó đi dạo. Lần mới gặp, con chó nhỏ chạy lăng quăng tìm chỗ phóng uế, thấy Văn đi qua, nó quấn quýt theo chân anh. Vừa khi đó hai bà thong dong đi bộ lên từ phía bên kia đồi. Sợ chó muốn cắn khác lạ, Cathy xuýt xoa xin lỗi. Hôm nay trời mưa, anh hơi buồn vì không thấy sóc, không thấy chó, không thấy hai bà mập ốm Ann và Cathy.

Văn bước đều trên đám lá vàng dày cộm. Cơn mưa nhỏ chỉ đủ sức làm thấm ướt lớp lá khô trên mặt. Lớp bên dưới vẫn còn khô, rộp rộp theo từng bước chân của anh. Những bước chân đưa anh về những năm tháng ấu thơ không mấy thơ mộng ở làng quê Non Nước. Những đêm nằm nơm nớp sợ, nghe tiếng chân người dẫm lên lá bàng khô xào xạc sau nhà. Tiếng chân của du kích về làng. Tiếng chó sủa. Tiếng súng đì đoàng lẻ tẻ. Để sáng hôm sau thấy cờ sao xanh đỏ tung bay giữa chợ, trên vài xác người đẫm máu tươi lây lất dưới chân cột cờ. Rồi thì lính Mỹ lên làng, bắt dân chúng sắp hàng ngoài giếng nước ngoài đầu đình. Họ đánh đập những người đàn ông bị tình nghi là Việt Cộng. Thảm kịch cứ lập đi lập lại như một đoạn phim kinh dị mà Văn đã coi nhiều lần đến độ nhàm chán cái đoạn kết. Làng của Văn thì nhỏ, nhỏ đến nỗi mọi người dường như là bà con của nhau. Chỉ ban ngày thôi. Khi đêm về, kẻ quốc gia, người cộng sản, giết nhau như một bầy con nít chơi trò đánh giặc. Người dân vô tội bị nghi can cộng tác với bên này, hay bên kia cũng bị giết lây. Đi lang thang sau giờ giới nghiêm cũng có thể mất mạng vì bị bắn lầm bởi bên này, hay bên kia. Làng xóm ngày càng thưa dần, hình như chỉ còn người già và con nít. Đám con nít cũng đổi thay, những mái tóc vàng ngày càng nhiều thêm. Vì lẽ con gái không đi bán bar cho Mỹ, thì theo du kích, chỉ một trong hai con đường lựa chọn, có khi là cả hai. Người lớn thù ghét nhau. Con nít cũng học thù ghét nhau, để tranh sống. Tuổi thơ của Văn dường như quá ngắn ngủi, không đủ cho Văn. Anh lớn quá nhanh theo chiến tranh. Mười tuổi, Văn đã luôn miệng chửi thề tối ngày, đã biết mài một con dao nhọn, nguỵ trang trong cây viết máy, thủ sẵn trong túi quần sọt. Có lần, không nhớ rõ lý do, Văn đánh lộn với một tên nhóc cùng trường, tiểu học cộng đồng An Hải, suýt, lụi nó một dao. May, có đám bạn can kịp. Mười tuổi, Văn đã dẫn gái cho lính Mỹ ở ngã Ba cầu Đà Lách, để được vài chục xu, hay có khi, hên, một đồng đô la đỏ chói có in hình ông mọi da đỏ mặt như người say rượu. Mười một tuổi, bập bẹ hút cần sa. Mười hai tuổi, phi xì ke. Rồi mười ba tuổi...

Khi Văn gần đến khu bệnh viện thì trời chuyển mưa nặng hạt. Không mang dù, anh chạy vội vào trạm xe buýt ven đường để đụt mưa. Nép bên vách tường bằng mica chắn gió, một người đàn ông Á Đông, dáng gầy, xương xẩu, đang co ro vì gió lạnh. Cái dáng mảnh khảnh ấy run lên từng hồi theo cơn gió lộng thổi từ ngoài vào. Bàn tay gầy guộc bám lấy bờ tường trạm xe buýt như sợ gió cuốn bay đi mất. Đôi vai hơi gù trồi lên thụt xuống theo cơn ho sù sụ từ cái lồng phổi lép kẹp. Thấy Văn vào, người đàn ông, gượng gạo cười chào sau một cơn ho húng hắng. Cả hai im lặng cùng đưa mắt nhìn những giọt mưa trĩu nặng trên mái. Thịnh thoảng một cơn gió lùa, tạt từng chuỗi nước mưa vào bên trong. Hạt nước mưa rớt xuống mặt nền, vỡ toang như những bong bóng thuỷ tinh tan ra ngàn mảnh. Người khách lạ lại húng hắng ho. Văn nhìn ông, ái ngại. Ông nhìn Văn, rồi rút trong túi ra một gói thuốc, lịch sự mời. Văn nhè nhẹ lắc đầu. Bây giờ anh mới nhìn rõ nét mặt của người lạ. Một người xấp xỉ lục tuần, khá đẹp trai với cái cằm vuông và làn da sạm nắng thành màu nâu đậm làm cho khuôn mặt chất chồng nét khắc khổ. Tóc của ông đã hói, lưa thưa như những sợi râu mép trên vành môi mỏng ẩn hiện nụ cười thân thiện. So với vành môi như muốn cười ấy, đôi mắt ông đục ngầu, buồn bã. Viền mí mắt dưới đã nhăn nheo, hơi nhíu lại.

Người đàn ông lặng lẽ rít một hơi thuốc, ém khói, nhìn xa xăm ra ngoài trời mưa. Ông có lối cầm thuốc lá kiểu một người nông dân hút thuốc vấn Cẩm Lệ, với hai ngón tay trỏ và tay cái nắm lấy đầu lọc, tàn lửa xoay về phía lòng bàn tay. điếu thuốc ngậm hơi trề xuống môi dưới. Ông khách gợi chuyện, giọng Mỹ rời rạc:

- Anh chờ xe buýt? Chuyến xe 31 dừng chỗ nầy phải không?
Cái âm hưởng khá quen thuộc, đầy dấu nhấn của một người Việt Nam mới đến. Văn trả lời ngập ngừng bằng tiếng Việt. Không hẳn là câu trả lời mà là một câu hỏi:

- Thầy...Thưa thầy ...Phò?
- Tôi là Phò đây, xin lỗi anh là ai mà biết tên tôi?
Ngạc nhiên, thầy Phò quay lại. Tròng mắt ông giựt nhanh hơn trước. Vành mi dưới nhăn nheo thêm, cặp lông mày nhướng cao hơn làm đôi mắt như tròn hẳn lại. Điếu thuốc trên môi trề hẳn xuống như gần rớt khỏi cái miệng nhỏ nhỏ nhắn. Đôi vai gù chùn xuống thêm chút đỉnh.

- Con là Văn đây thầy. Thầy dạy con ở trường La San đó thầy.
Văn nhắc tên trường cho thầy nhớ, vì ngày xưa thầy dạy nhiều trường, bán cháo phổi kiếm cơn, như thầy thương nói.

-Văn? Trần Hưng Văn? Lớp bảy phải không?
- Phải thầy.
Văn. Trần Hưng Văn. Lớp bảy. Năm mười ba tuổi, gia đình Văn chạy giặc mùa hè đỏ lửa, từ Đà Nẳng vào Sài Gòn. Năm mười ba tuổi...Ba mẹ biết con mình du côn, nên đã bỏ Văn vào trường dòng La San cho các sư huynh trị. Ôi năm mười ba tuổi, Văn thù mấy ông phe quá. Nhất là frère giám thị Léon, rồi frère giám học Bienvenu. Có lần đi học để tóc dài, Frère Léon dùng tông đơ cạo sạch đầu. Lần khác mặc quần ống voi, Frère Bienvenu cắt cụt ống quần, đuổi ra khỏi trường. Mấy frère cũng chán ngán Văn không ít, cái tên Trần Hưng Văn được đổi thành Trần Hung Hăn mới sau hai tháng học.Văn thù đi học, thích chuồn ra ngoài ăn phở Hiền Vương, ngồi hút thuốc, rồi vù qua Đa Kao coi phim Lý Tiểu Long.

- Anh làm gì ở đây?
- Con qua đây làm nghiên cứu về bịnh ung thư thầy ạ.
- A` ra thế. Thầy mừng cho anh. Thầy biết là Văn làm được.
- Còn thầy?
- Thầy mới qua diện H.Ọ Khi giải phóng vào thầy đi cải tạo vì là giáo sư biệt phái...Hai mươi mấy năm rồi...Văn lớn quá thầy nhìn không ra nữa.

Anh cũng muốn nói là, thầy thay đổi quá nhiều. Nhiều đến nỗi Văn không còn nhận ra thầy nữa. Nhưng sợ thầy buồn. Ngày ấy, thầy rất bảnh trai. Da dẻ trắng trẻo thư sinh. Mái tóc không hói, đen lánh, chải mượt. Văn thường nghịch ngợm đùa, con ruồi trợt patin gãy cẳng. Cũng vành môi mỏng lúc nào cũng muốn cười ấy. Đôi mắt ấy ngày xưa trong sáng, tinh nghịch hơn bây giờ nhiều. Thầy hay diễu cợt, làm nghề bán cháo phổi không khá, vì phổi thầy là phổi Phò, không phải là phổi Fe. Fe là ký hiệu hoá học của chất sắt, ý thầy muốn nói phổi thầy không phải là phổi sắt. Có đứa nghịch nhái lại, phổi bò chứ không phải phổi frère. Thầy dạy toán Đại Số năm lớp bảy. Văn còn nhớ, một hôm phát bài kiểm, thầy nói trước lớp là thầy rất ngạc nhiên về một tài năng mới. TròVăn. Trần Hưng Văn. Văn du đãng. Văn văng tục. Văn được 17 trên 20. Thầy khen Văn giỏi và bão Văn lên bảng giảng lại bài toán cho cả lớp. Bàng hoàng Văn sợ không dám nắm lấy cục phấn trắng thầy chìa cho Văn, cũng như lúc thầy mời Văn điếu thuốc lúc nãy.

- Thầy biết là Văn làm được. Thầy gật nhẹ đầu, khuyến khích.

Nhìn nụ cười thân thiện trên đuôi mắt, khoé môi của thầy,Văn run muốn khóc. Cũng may, thầy chỉ muốn Văn chép lại bài toán cho thầy giảng mà thôi. Trong khoảnh khắc,Văn trở thành một người hùng. Từ hôm đó đời học sinh của Văn như qua một cuộc đổi đời.Văn hối hận. Văn ăn năn. Văn không còn là Văn du đãng. Văn đứng hạng ba năm lớp bảy do chính sức mình. Hạng nhất toàn trường năm lớp tám. Năm lớp chín...

Khi cái áo dòng đen của frère Bienvenu vừa khuất cuối hành lang, sau khi sư huynh phát xong học bạ cuối năm, Văn nghe lòng mình hụt hẫng. Thầy Phò tiến lại chỗ Văn ngồi. Thầy là giáo sư hướng dẫn của Văn năm lớp chín. Đặt cái thước kẻ lên đầu Văn, thầy khỏ nhẹ:

- Cái đầu to năm nay đứng hạng nhì rồi...Thầy biết là Văn làm được mà. Tại sao thế?

Thầy biết là Văn làm được mà. Tại sao thế. Mắt Văn cay cay, đỏ hoe. Nước mắt như chạy tròn trong bờ mi, rồi trào ra khoé mắt. Văn khóc. Khóc giận mình. Tại sao chỉ hạng nhì nhỉ. Tại sao chỉ 16,54 nhỉ. Thằng Bá ngồi nhìn Văn có vẻ hả hê. Nó được 16,60. Cái thằng khốn nạn. Nó cười. Văn khóc.

Văn thấy tròng mắt mình cay cay.
- Văn cho thầy xin số điện thoại đi..
Mưa đã tạnh. Tiếng thắng xe của chiếc xe buýt rít lên cót két. Hai cánh cửa xe xập xoè đón mời khách. Văn vội vã dúi vào tay thầy mảnh giấy nhỏ ghi số điện thoại của mình. Thầy lên xe. anh vói theo:

- Thầy...Bài toán năm lớp bảy...
- Thầy biết...Thầy biết là Văn làm được...

Thầy biết là Văn làm được. Anh không biết là thầy biết những gì. Có một điều canh cánh trong lòng anh suốt hai mươi mấy năm về bài toán đầu tiên thầy cho Văn 17 điểm. Văn chỉ mong được thú tội với thầy là anh chỉ cọp dê thằng Bá. Là Trần Hung Hăn đã chận đường Bá, doạ hắn phải cho Văn cọp dê hôm làm bài kiểm năm lớp bảy.

Chiếc xe buýt chạy qua. Sau khung cửa sổ nhỏ đục ngầu, mờ mờ đôi vai gù của thầy Phò run lên, thụp xuống.

Hôm ấy là một ngày đẹp trời cuối thu. Gió đông đã về mơn man lành lạnh. Trời cao và trong. Nắng vàng hoe. Trên con đường quen thuộc đến chỗ làm, trừ những cây thông già sừng sững, đám cây sồi đều trụi lá. Từ phía bên kia đồi, loáng thoáng bóng bà Ann dòng dõng. Vẫn con chó lăng quăng vô tư lự, tìm chỗ phóng uế. Không thấy bà Cathy lùn, Vặn hỏi:

- Bà Cathy đâu?
- Bà ấy mất hai tuần rồi.
- Tại sao? Văn thảng thốt.
- Bà ấy bị ung thư nhũ hoa cậu không biết sao?
Thật tình không biết, Văn lắp bắp chia buồn. Bà Ann lịch sự chào Văn rồi tiếp tục rảo bước. Con chó vẫn lăng quăng, vô tư lự. Anh nghĩ đến con sóc bạch tạng. Không thấy nó. Không biết nó có khờ khạo băng qua đường bị xe cán chết hay chăng. Một chiếc lá vàng theo cơn gió nhẹ, quấn quýt xoay tròn trên không rồi rơi thẳng vào bàn tay của Văn. Vuốt nhẹ chiếc lá trong tay, anh ngước nhìn lên cành. Chiếc lá vàng cuối cùng. Trời xanh vẫn xanh. Gió lạnh vẫn mơn man lành lạnh. Nắng vàng vẫn vàng tươi.

Văn lụi cụi đếm những tế bào ung thư trước khi cho vào dĩa thử nghiệm thuốc. Những tế bào li ti như những con vi trùng nổi lềnh bềnh dưới kính hiển vi. Một ngàn. Hai ngàn. Một triệu. Chuông điện thoại reo. Anh buông ống nghiệm xuống bàn, nhất ống nói:

- Eh, Van. Mày có muốn chút thịt tươi không?
Giọng Travis hăm hở qua điện thoại. Travis là bác sĩ điều trị ung thư, chuyên về lâm sàng, vẫn thường gởi fresh meat, thịt tươi, những mẫu tế bào lấy ra từ các người bệnh, để Văn làm thí nghiệm. Hắn lải nhải kể công, như nhắc cho Văn nhớ là phải kê tên hắn trong những biên khảo của anh.
- Người quá cố để lại di ngôn là cho mà người nhà thì không chịu. Khó lắm tao mới xin gia đình bệnh nhân được cái post. (*)

Post, post-mortem autopsy. Giảo nghiệm tử thi sau khi bệnh nhân đã qua đời để hy vọng tìm ra nguyên nhân gây ra cái chết.
- Okay. Fedex lên cho tao.

Gửi cấp tốc lên. Thật ra từ chỗ Travis đến Văn chỉ cách nhau một khoảng sân cỏ rộng. Buổi chiều, miếng thịt tươi ướp đá được chuyển đến. Miếng thịt phổi đã bầm tím, với những ống khí quản li ti xám xịt, chơ hơ trên nước đá xay, trắng phau, như một tên lính bại trận phơi mình trên chiến trường phủ đày tuyết trắng, sau một trận đánh khốc liệt với tử thần ung thư.Chợt nhớ đến miếng phổi bò lều bều trong tô cháo lòng hôm cuối tuần, Văn hơi lợm trong cuống họng.Cầm hồ sơ bệnh lý, Văn lướt qua tên người quá cố.

Patient’s Name: Tran, Pho D.

Văn nhìn miếng thịt phổi. Không còn chất sống. Bãt động. Anh nghĩ đến Cathy. Đến con sóc. Đến con người ta. Con người ta sanh ra, con người ta giành giật, con người ta đâm chém nhau, con người ta hơn thua từng tí, con người ta giở trò hỉ nộ, ái, ố, tham, sân si, để rồi con người ta... ai cũng chết. Cái chết, một bài toán. Bài toán cuối cùng mà thầy để lại cho anh. Một bài toán mà cả thầy lẫn Văn, hay bất cứ một ai, vẫn chưa có thể tìm ra câu trả lời. Và, một bài toán mà không ai có thể gian lận nổi.

Ngoài kia đám cây khô vẫn trút lá vàng xuống sân cỏ úa. Trời xanh vẫn xanh. Nắng vàng vẫn vàng tươi. Như mọi ngày.
Vũ Thư Nguyên

Maryland 1994