Chị Người Con Gái Trời Định Phận
Chị, người con lớn của ba cô con gái trong
nhà, nhà có cái tiệm bán hủ tiếu và cà phê pha vợt vải duy nhất ở chợ xã, cái
xã không quá nghèo, chừng như ai cũng đủ ăn đủ mặc, năm sáu nhà tạm gọi khá
giả, chợ xã có hai dãy phố hai bên, chợ cất chính giữa, mái tôn, cột, nền bằng
xi măng cao ráo tuy nhiên nhà lồng chợ không tường che, xa chợ nhà dân cất dọc
theo bên này sát đường lộ, bên kia ngó qua là rừng cao su hun hút sâu của người
Pháp.
Chị tuổi chừng hơn mười tám mười chín. Chị
đẹp nhất trong ba chị em, đều đi học trường tiểu học sau lưng chợ, lên tới lớp
Nhất, chị thi rớt đệ Thất trường trung học quận, chị bỏ học, ở nhà phụ bán
tiệm.
*
Chị đẹp, ăn nói nhỏ nhẹ, dạ thưa, từ tốn,
vui vẻ nên người ở chợ ở xã đều mến, lớn nhỏ ai chọc ghẹo gì chị cũng cười trừ.
Xã có ông sư già, trụ trì cái chùa nhỏ nghèo cũ kỹ cuối ấp chợ, sát bờ sông, ở
đó dân trong làng thường tới cúng quảy. Có lần coi tuổi coi tay cho mấy chị em
nói chị có số “sát chồng” nhưng ai nấy nghe rồi cười cười, không mấy gì tin vì
ông Sư vừa cười vừa nói.
*
Một ngày đầu Hạ, chợ xã rộn rịp, pháo đỏ
rượu hồng, mừng đám cưới chị và người sĩ quan, đại đội phó Địa Phương Quân đóng
trên đồn lớn, đầu xã ngay ngã ba rẻ ngang rừng cao su đi Cầu Khởi.
Cuối Thu, sau ngày cưới chừng nửa năm,
không may, chồng chị tử trận, một đêm mưa dầm lớn khi quân du kích từ mật khu nào
đó kéo qua, tấn công đồn ác liệt. Người ta đưa xác chồng chị về chôn ở quê nhà
miền tây sông nước. Cả chợ cả xã, ai nấy
đều bùi ngùi thương xót cho tình cảnh chị, tiệm đóng cửa mấy ngày, ít khi thấy
chị ra ngoài từ đó.
*
Hơn một năm sau, chị vào làm cô đỡ hương
thôn cho bệnh xá xã, sau khi học xong khóa huấn luyện dưới quận, vừa làm vừa
phụ nhà bán buôn. Tiệm hủ tiếu vẫn đông khách, chị vẫn vui cười không khác gì
ngày trước.
Không lâu chị bước thêm bước nữa, lập gia
đình với một anh giáo viên lớp Ba trường tiểu học nhà, không phải đi xa, không
phải làm dâu. Chợ xã một lần nữa nghe tiếng pháo, rình rang chung vui chúc
mừng.
Chiến tranh ngày càng lớn dần, dân xã ấp
biết thấp thõm lo thấp thõm sợ hơn trước, một ngày hơn một năm sau, qua Tết,
trên đường về thăm nhà dưới Suối Cụt trở lên trường, cũng không may chuyến xe
đò sớm cán trúng mìn của quân du kích gài ban đêm trong mấy cái mô đất chặn
đường, nổ tung, người đi vừa chết vừa bị thương hơn một chục, có anh giáo viên,
chồng chị trong số những người chết đó. Một lần nữa, tuổi xuân chưa quá, lần
thứ hai chị chịu thêm cái tang chồng.
*
Người ở chợ, bây giờ mới nhớ tới lời ông
sư già ở cái chùa nghèo ngày trước về hai chữ “sát chồng”, họ chưng hửng bảo
nhau “chẳng lẽ”, lúc này thì không còn ông sư già nữa, chùa quạnh quẽ khói
nhang chuông mỏ, bải đất cỏ quanh chùa, chạy dài tận bờ sông giờ là nơi người
dân trong làng thả trâu bò ăn cỏ, ông đã bỏ đi từ lâu lắm rồi.
Bẳng đi một dạo, vắng chị, tiệm vẫn mở cửa,
cũng sáng tới chiều nhưng không thấy chị ra vào nữa. Hai cô em cũng đã lớn,
không ai nhắc tới chị.
*
Bốn năm sau, có người ni cô còn trẻ, khăn
áo nâu sồng từ xa đâu đó, về chợ xã mừng đám cưới em mình, cô con gái kế của
chú thiếm tiệm hủ tiếu. Bà con tại bữa tiệc và chung quanh chợ xã hôm đó, nhận
ra, mà buồn, có người muốn khóc, người ni cô kia là chị.
Thuyên
Huy
Viết mượn
một phần tình tiết thật của một đời người.




