Tuesday, August 25, 2026

Sầu Hạ - Hằng Vũ

Sầu Hạ

 















Buổi sáng phố chia hai lòng ẩm đục
Gót chân về em gửi lại bâng khuâng
Ngày tháng cách em niềm mơ rã mục
Một phương duyên anh vọng tưởng bao lần

Dù mắt ngỏ lòng trao vời vợi quá
Người xa người rồi nỗi nhớ bình phương
Quanh giấc ngủ cơn trầm mê mệt lả
Mầm cô đơn mọc rễ bốn chân giường

Rời cố đô mù nỗi sầu lăng tẩm
Mộng phiêu du nghe mỏi rụng tay chèo
Biển lặng sông dài trời cao thăm thẳm
Một con thuyền không có bến buông neo

Hằng Vũ
Bách Khoa số 328, ngày 1-9-1970

Trên Đồi Cỏ Úa - Nguyễn Thành Nhân

 

Trên Đồi Cỏ Úa




Tặng KC


Đã năm năm rồi, anh mới trở lên Đà Lạt. Thành phố giờ đây có nhiều thay đổi. Đồi Cù đã bị san bằng, trở thành một sân golf nhạt nhẽo. Hồ Xuân Hương ngập đầy rác rưởi. Du khách đến nhiều hơn, đến rồi đi, khuấy động sự tĩnh lặng êm ả của nếp sống vùng cao, du nhập thêm những lề thói xấu xa cho người dân bản địa. Và thành phố này cũng đã đánh mất rất nhiều nét buồn buồn thơ mộng thầm lặng của ngày xưa.

Ngôi mộ nằm trên một ngọn đồi nhỏ ở hướng Đông thành phố. Một nghĩa trang Công giáo có nhiều cây hoa anh ddào, và cũng thật nhiều những cụm dã quỳ vàng một màu luyến nhớ. Anh lên Đà Lạt ddêm qua, lúc hơn mười hai giờ khuya. Và sáng nay, khi sương mù còn giăng khắp các đỉnh thông già, anh đã ngồi lặng lẽ trước nấm mộ của Ngọc Anh. Mùa xuân vẫn còn nán lại trên hoa cỏ, trong không khí man mác lạnh, nhưng giờ đây, lòng anh là một trời thu hoang vắng. Nắng đã phai, cỏ đã úa, và gió đã ngưng thổi trong lòng.

Anh ngồi bó gối, nhìn những lượn khói hương bay lẫn quất trên mấy cành hoa dại đặt trước tấm mộ bia mà lúc nãy anh vừa hái ở ven đường, đôi mắt rưng rưng. Bé ơi! Đã lâu rồi tôi mới lại đến thăm em. Đừng giận tôi nha. Lúc nào tôi cũng nhớ đến em, thật đó. Luôn luôn. Mãi mãi. Hương hồn em giờ đang ở nơi đâu? Hãy quay về đây hội ngộ.

Chuyện xưa qua đã lâu rồi, sao bây giờ chợt quay về, mồn một trong ký ức, như thể mới hôm qua...

° ° °

Con dốc nằm bên hông khuôn viên Đại học Đà Lạt, đỗ dài đến tận đầu đường Hai Bà Trưng. Hai bên đường là những căn nhà vườn xinh xắn mọc đầy hoa cỏ trước sân. Và những thảm dã quỳ vàng rực trải dài trong nắng. Ngày nào anh cũng đi qua con dốc ấy. Buổi sáng ra đi, lang thang khắp những ngọn đồi, những khoảnh rừng thông vắng lặng. Rồi khi mặt trời sắp khuất sau ngọn đồi Cù, anh lại quay trở về căn nhà trọ nằm ở gần cuối con dốc.

Anh lên xứ cao nguyên này đã hơn một tuần. Để vẽ tranh, để thư giãn sau những tháng ngày bon chen vật lộn ở Sài Gòn náo nhiệt, hay để đi tìm một cái gì đó mà chính anh cũng chưa thật hiểu. Phải chăng anh đang tìm kiếm tình yêu?... Mấy đứa bạn học cũ hay nửa ddùa nửa thật trêu anh: "Lấy vợ cho rồi đi ông ơi! Già rồi mà cứ long nhong hoài nguy hiểm lắm nha... Hay để tụi này làm mai cho một mối ngon lành há." Những lúc đó, anh chỉ lặng lẽ mỉm cười đáp lễ tụi nó. "Ba mươi tuổi, có phải mình đã bước sang lứa già nua?", nhiều khi anh lẩn thẩn tự hỏi mình như vậy, rồi lại bật cười tự đáp, "Có lẽ mình già thật, 'Hỡi ơi, tôi chưa bao giờ được trẻ. Ngay từ lúc tóc còn xanh tôi đã già cả ngàn tuổi hơn một cụ già', hình như Kierkegaard đã từng nói vậy."

Cuộc sống của anh trầm lặng, hơi buồn và tẻ nhạt, ít những cuộc vui phù phiếm, ít những tiếp xúc xã giao hời hợt bâng quơ. Thế giới của anh là những bản vẽ thiết kế công trình, những con số vô hồn, những tháng ngày dằng dặc chán chường, lặp đi lặp lại, hoặc ở trong phòng, hoặc ngoài công trường đầy nắng gió. Đôi khi, anh tự nhủ cuộc đời sao đáng chán vô nghĩa quá đi. Có lẽ cuộc đời sẽ thật sự đáng chán, nếu anh không còn một niềm vui duy nhất: vẽ tranh. Vứt lại sau lưng mọi công việc làm ăn, mọi suy tư tính toán, mỗi năm một lần anh đeo chiếc ba lô đựng vài bộ quần áo, mớ cọ, màu và xách chiếc giá vẽ dã chiến đi ra bến xe, tới một thị trấn ở một tỉnh xa heo hút nào đó dăm tuần, một tháng, lang thang khắp các xó xỉnh, vẽ nguệch ngoạc những bức tranh lãng đãng mà sau đó anh tặng lại đám bạn bè hay chất thành đống dưới gầm giường. Vẽ với anh là một thú vui, không có gì ràng buộc, cũng không cần ai khen chê, đánh giá.

Lần đầu tiên anh gặp Ngọc Anh, là chính ở nhà cô. Ngôi nhà cổ kính, mái ngói rêu phong, nằm giữa lưng chừng con dốc, phía trước hàng hiên thật dài là một luống đất trồng nhiều loại hoa cỏ, và những gốc liễu già thật đẹp rải rác trong sân. Một dãy dâm bụt ken dày tạo thành bức tường rào tự nhiên phía trước, và một chiếc cổng gỗ nho nhỏ, cao ngang tầm ngực, hình như sơn màu xanh ngọc bích nhưng nắng gió phôi pha đã biến nó sang một màu xanh thẫm hơi vàng ố. Anh để ý thấy một điều là chiếc cổng đó luôn luôn hé mở, như để đón chờ ai vậy. Toàn bộ khung cảnh ngôi nhà toát lên một vẻ bình yên và thơ mộng lạ lùng. Mỗi lúc đi ngang, anh thường dừng lại một chút để ngắm nhìn nó. Anh đã tự nhủ một hôm nào đó sẽ xin phép chủ nhân để vẽ ngôi nhà, nhưng không biết sao cứ dần dà trì hoãn lại. Cho tới chiều hôm đó, anh đang trên đường trở về, sắp tới chỗ ngôi nhà thì trời chợt đổ mưa. Quãng đường này ít nhà, căn này cách căn kia cũng vài trăm mét. Khi anh kịp lách người qua chiếc cổng hé mở, chạy đến nép dưới hàng hiên, quần áo anh đã ướt sũng nước mưa. Anh đứng run lập cập, tự trách mình sao đãng trí, đi ra ngoài vào mùa mưa mà cứ quên mang áo mưa theo.

Anh đang loay hoay giũ những giọt nước mưa bám trên lớp sơn của bức vẽ chợt giật bắn mình khi nghe thấy một giọng nói con gái sau lưng, thật nhẹ:

"Trời, anh ướt hết trơn rồi!"

Anh quay lại. Ánh sáng cuối ngày trong cơn mưa mờ mờ nhoà nhạt làm anh không thể nhìn rõ gương mặt của cô gái đó. Nhưng những tia chớp loé lên trong khoảnh khắc và giọng nói trong veo cũng đủ cho anh nhận biết cô gái còn rất trẻ. Một mái tóc dài thoáng nét liêu trai, một thân hình thanh tú, và ddôi mắt long lanh sáng nổi bật trong bóng chiều vàng vọt.

Cô bé nói tiếp, trên môi thoáng một nụ cười hiền:

"Anh hãy vào trong nhà sưởi ấm, em sẽ lấy quần áo của ba em cho anh thay tạm, không anh sẽ bị cảm lạnh mất thôi."

Anh ngạc nhiên. Và cảm động. Sau một lúc, anh mới có thể lúng túng đáp lời cô:

"Rất cám ơn em. Nhưng tôi sẽ không sao đâu mà."

Anh nói anh sẽ không sao đâu, nhưng giọng anh run rẩy, người anh run rẩy, không tài nào che giấu được.

Cô bé lại nói, giọng nằn nì:

"Vào đi anh, đừng ngại. Em biết anh là người tốt. Mấy hôm rồi, em thường gặp anh xách giá vẽ đi ngang nhà. Anh là họa sĩ phải không?"

Cơn mưa chiều hôm đó thật dài, đến gần mười giờ ddêm mới dứt. Và anh được cô bé đó cho mượn một bộ pijama thay tạm, được cô giúp hong khô bộ quần áo ướt, được mời ăn một bữa tối thật đạm bạc, nhưng sao ngon miệng lạ lùng. Cả ngôi nhà rộng chỉ có mình cô ddêm ấy. Ba cô đã sang Di Linh thăm một người bạn thiết, có lẽ đến mai mới về nhà. Khi hai người trò chuyện, cô nhiều lần lặp lại với anh, rằng cô rất vui khi được gặp anh, giúp anh, vì cô đang cảm thấy cô đơn và buồn lắm. Trong suốt mấy giờ đồng hồ ngồi thoải mái bên ngọn lửa ấm nồng, bên một cô gái dịu hiền xinh đẹp, anh cứ ngỡ như mình đang lạc vào một câu chuyện liêu trai nào đó. Anh vừa trò chuyện với cô bé, vừa lắng nghe tiếng mưa ddêm rào rào đổ trên mái ngói, tiếng sấm ì ầm vang động, tiếng củi nổ lách tách trong lò sưởi, thầm tự nhủ rằng cuộc đời không hề đáng chán. Cuộc đời thật huyền ảo kỳ diệu biết bao. Chỉ cần được một lần nếm trải niềm hạnh phúc an bình như thế này thôi, cuộc đời đã không còn vô nghĩa.

Sau hôm ấy, anh đã trở thành một người bạn thiết của gia đình. Ba của Ngọc Anh là một ông giáo về hưu hiền lành trung thực. Ông lập gia đình hơi muộn. Vợ của ông, một hoa khôi của trường trung học Đà Lạt, học trò của ông khi trước, đã thầm yêu người thầy tài năng nhưng khiêm nhường lặng lẽ của mình từ năm cuối cấp, nhưng chỉ rất lâu về sau ước mơ của bà mới thành sự thật, vì những định kiến và dư luận cản ngăn. Hạnh phúc của ông bà cũng thật là ngắn ngủi. Bà mất sau một cơn đột quỵ tim khi Ngọc Anh vừa lên tám. Từ đó, người thầy giáo một mình gà trống nuôi con. Khỏi phải nói ông yêu Ngọc Anh đến mức nào, và cô đối với ông cũng vậy. Ngọc Anh đã kể cho anh nghe mấy chuyện đó trong những lúc anh cùng cô lang thang rong ruổi khắp các đồi thông, anh vẽ tranh, cô vừa tung tăng hái hoa, nhặt những quả thông khô rơi rụng, vừa hát véo von những bài hát lạ lùng, buồn buồn dịu nhẹ, chắc là do tự cô ứng tác. Có những buổi chiều, sau khi đi vẽ về, anh tạt vào nhà, ngồi với hai cha con một lát, bỗng thấy chốn cao nguyên này đã trở thành một cái gì thật là gần gũi, thấy hai người bạn vong niên của mình, một già, một trẻ, sao quá đỗi thân thương. Có một điều anh không hiểu lắm, là nhiều khi trong những lúc ddàm đạo chuyện thơ văn nghệ thuật với ba của Ngọc Anh, anh chợt thấy trán ông hằn xuống những nếp nhăn sâu, đôi mắt ông chợt đăm chiêu tư lự khi nhìn Ngọc Anh đang ríu rít nói cười. Dù sao, đó chính là những ngày vui và hạnh phúc nhất mà anh từng biết, nên anh cũng không suy nghĩ gì nhiều về sự việc hơi kỳ lạ đó, dù ddôi khi thắc mắc.

Rồi một chiều kia, mọi chuyện trở nên sáng tỏ. Lúc ấy, anh đang đứng ngắm nhìn cô, cố sửa lại một chi tiết nào đó trong bức tranh mà anh chưa vừa ý lắm. Ngọc Anh nghiêng người ngắt một đoá mimosa mọc gần bên, đưa lên môi hôn nhẹ, những sợi tóc loã xoã bay trong gió. Khuôn mặt thiên thần chợt xanh xao thật lạ, dù ddôi môi xinh xắn vẫn còn một chút ánh hồng.

"Ngày mai em không tới đây đâu. Ngày mốt cũng vậy. Ngày kia cũng vậy", cô bé nói, ánh mắt trôi về một chốn xa xôi, "em không biết em có còn tới đây được nữa hay không...Anh đã vẽ xong chưa?"

Bức tranh hãy còn dang dở. Còn thiếu một điều mà mấy hôm rồi anh chưa nắm bắt được. Đó chính là cái vẻ xa vời, lẻ loi nhưng thanh thoát của cô. Hình như cô là một thiên thần bé bỏng đi lạc xuống chốn trần gian. Hình như cô không thuộc về cõi người ta quá nhiều hệ lụy này. Điều đó toát lên từ thân hình thanh tú, từ mái tóc đen mềm như một loài mây lạ, từ đôi mắt nâu trong veo ngơ ngác, từ từng cử chỉ đi đứng cười nói dịu dàng thiên bẩm của cô. Ngay từ lần đầu gặp gỡ, và trong những lúc đứng vẽ cô sau này, thỉnh thoảng anh lại bất chợt ngây người vì cái dáng vẻ lạ lùng thoát tục ấy. Những lúc như thế, hầu như anh không thể cưỡng lại một lời thở than thầm kín: "Tại sao tôi không trẻ đi mười tuổi, hoặc em lớn hơn mười tuổi, hở Ngọc Anh?"

"Em phải vào bệnh viện, em sắp phải chia tay với cuộc đời rồi, anh có biết không", cô bé đột ngột nói thêm, đôi mắt thật buồn.

Anh giật mình chết lặng. Phải, từ lần đầu gặp cô, anh đã thấy cô có chút gì đó thật mong manh yếu ớt. Nhưng anh không thể ngờ cô lại ốm nặng thế này. Anh lắp bắp hỏi cô, dù khi vừa thốt ra đã thấy ngay sự vô lý của câu hỏi đó:

" Nhưng... nhưng tại sao như vậy? ...Em chỉ mới mười bảy tuổi, em còn quá trẻ mà bé..."

Cổ họng anh bỗng dưng ứ nghẹn, anh ngưng một lúc, thật lâu, để có thể lại nói nên lời:

"Em không thể chết đâu mà!"

"Em bị bệnh tim đã mấy năm nay, không biết có phải di truyền từ mẹ hay không nữa... Vị bác sĩ là bạn học của ba thời trung học ở thành phố này đã làm hết sức mình để cứu em. Lẽ ra, em đã ra đi cách đây năm tháng. Em còn sống đến lúc này, được gặp anh, cũng đã may mắn lắm rồi, anh ạ".

Cô ngước lên nhìn anh, ánh mắt vẫn buồn buồn nhưng nét mặt giờ đây bỗng thanh thản lạ lùng. Những tia nắng chiều rơi xuống áo cô, như những sợi tơ vàng lóng lánh, chợt nhoà ddi trong mắt của anh. Anh đã khóc từ lúc nào không biết.

° ° °

Anh rời ngọn đồi vào lúc chiều chạng vạng. Nắng cuối ngày đang luyến tiếc buông rơi những sợi cuối cùng lên những vạt cỏ úa khô trên từng nấm mộ. Trong tiếng thông reo xa xa vẳng lại, trong tiếng gió réo vi vu, anh nghe như mơ hồ có tiếng ai đó hát, thật buồn: "Người hãy đến tìm một ngày nào đó. Người hãy ngắt giùm một sợi cỏ úa. Cỏ úa khô, đang ngủ vùi, trên đồi này. Rồi thả, cho cuốn bay, bay về quê hương mặt trời. Rồi thả, cho gió đưa, đưa về ...mịt mùng xa". Anh thì thầm nói với một cơn gió thoảng qua: "Bé ơi, tạm biệt. Rồi tôi sẽ đến thăm em, một ngày nào đó".

Trên đường trở về, anh ghé vào ngôi nhà cổ, thăm ba của Ngọc Anh. Mái tóc của người thầy giáo già năm năm về trước hãy còn đen nhánh giờ đã hầu như bạc trắng. Anh ngồi im lặng nhìn ông, rồi nhìn lên tường, nơi bức tranh dở dang ngày cũ đang nằm trơ trọi. Đôi mắt của Ngọc Anh trong bức tranh đăm đăm nhìn thẳng vào anh. Đôi mắt mà dạo đó anh cố công mấy vẫn chưa thể hiện được vẻ xa vời khó tả, bây giờ lại hoá hay.

...Đôi mắt này dịu hiền ấm áp, không quá xa cách lạnh lùng. Ba em quá cô đơn, Ngọc Anh ạ. Trái tim già khô héo của ông chỉ còn tìm được chút niềm an ủi khi nhìn thấy em mãi mãi bên ông, trẻ thơ, trong trắng. Còn tôi, tôi sẽ không sao đâu mà. Tôi chẳng cô đơn một chút nào đâu. Tin không em?...Tôi sẽ chẳng cô đơn một chút nào đâu.

Nguyễn Thành Nhân

03/2002

 

 

Man Mác Chiều Man Mác Nhớ - Từ Nguyễn

 Man mác chiều, man mác nhớ…

 
















Con chim sẻ đứng co ro bên thềm
Nghiêng nghiêng mái đầu, yên lặng
Có lẽ lòng chim nhớ nắng
Nhớ một bầu trời xanh trong ước mơ

Ngày chớm vào hè lại đã nhớ mưa
Khiến chút nắng vàng thơm vội vàng trốn lánh
Mấy tiếng ve mong manh tôi vừa nhặt nhạnh
Hôm qua. Giờ đã bặt tiếng đầu cành…

Cơn giông đầu mùa mang mưa tới buông mành
Từ thẳm sâu có nỗi lòng sóng sánh
Khúc ca buồn thấm ướt mi, se lạnh
Man mác chiều, man mác nhớ, vây quanh …

Từ Nguyễn

 

Với Tay Là Đến - Nguyễn Thị Thu Huệ

 

Với Tay Là Đến





Càng đi càng xa.

Hoá ra. Con đường thân thuộc nhất, gần gũi nhất gắn bó dài tuổi thơ, khi bắt đầu là một bào thai, tấp tểnh tròn co trong bụng mẹ, sấp ngửa lên xuống như sóng biển sáng dâng chiều rút, hay lúc chạy cá ngoài bãi mỗi khi thuyền về.

Thế mà bây giờ.

Đại Dương - bào thai bé bỏng ngày ấy - không nghe, không biết không trông thấy gì.

Vừa đi qua nhà mà cứ như nhà ở hành tinh khác. Bố mẹ ở ngoài biển. Lạc đã dỡ về, phơi chật kín lối vào. Ngóng vu vơ nhà hàng xóm, tịch không có bóng người. Mùa làm ăn, trẻ già lớn bé ra biển tuốt tuột. Cứ ra biển là có tiền.

Chiếc xe Honda Accord đời mới lừ lừ trôi trên con đường nhỏ, phẳng. Kính xe đen. Người trong xe nhìn ra thấy tất. Người ngoài chịu. Đại Dương chăm chăm nhìn chợ chiều riu riu trong những tia nắng quái tai ác sau một ngày nung đốt.

Chợ chiều.

Dương nhớ ngày xưa. Sao bỗng nhiên tất cả lại xếp hàng thẳng trở về trong trí nhớ thế này nhỉ. Hay bị kỷ niệm chi phối, là người uỷ mị, yếu lòng. Hoặc là người gần đất xa trời, hoặc biết mình sắp trắng tay, phá sản. Ngày xưa. Mẹ gánh Dương một bên, gánh tép một bên, đung đưa, đung đưa từ chợ chiều về.

Qua khu chợ. Qua rặng phi lao. Là biển.

Ngày xưa. Lúc mới biết chạy. Mẹ hay thả Dương bập bõm bước trên cát, gần với mép sóng. Thỉnh thoảng, có một con sóng nhẹ nhàng, cố cố chạy vào liếm chân thằng bé một cái. Lúc đầu. Nó sợ. Sau quen. Cứ mỗi khi mẹ cắp nách ra bãi là cậu tụt xuốt, chạy lao ra biển, lăn lộn như một con cá gặp nước. Không có nước. Nó sẽ chết khô.

Đã nghe tiếng biển ì ầm ngoài xa. Nặng nặng một âm thanh muôn thủa, đều đều nhưng quyến rũ, lôi kéo vô cùng. Hàng quán hai bên đường mọc nhanh như cỏ dại sau mưa. Cần thì phục vụ thêm món tự có. Miễn là ra tiền. Nhà nào cũng treo đung đưa trong gió những áo tắm, quần bơi loại rẻ tiền, mạt hạng, mặc một vụ nghỉ là vứt. Vài lốp xe ô tô bơm căng làm phao. Mực khô. Cá khô. Nước mắm. Tôm ghẹ... buộc chặt mắt thao láo, chân đủ tám cái ngọ nguậy chứng tỏ sự sống. Và cạnh đó. Là hàng sống. Những cô gái quê phốp pháp. Ngực to. Bàn tay bàn chân to. Mặt phấn son rẻ tiền không biết trang điểm lem nhem, xanh ra xanh, đỏ ra đỏ. Đánh phấn dày như trát xi măng trứng cá vẫn nghênh ngang ngạo nghễ ngẩng cao đầu... Ngẩn ngơ đần độn ngồi dãi thẻ chả ra bán tôm cua cá mực, nước mắm. Mạnh ai nấy ngồi, mặt ai ngu người ấy chịu. Thấy có chiếc ôtô xịn lừ lừ trôi trên con đường nhỏ, các cô không ai bảo ai, cùng loé lên trong đầu là khách đang đi săn hàng, chạy túa ra vẫy.

Chiếc xe như điếc, như câm, chạy lừ lừ rất quen ra trước biển.

2. Hơi thuốc Vinataba nặng xộc thẳng lên óc một tia chói gắt, đắng nghét. Hai sống mũi cay. Trán bỗng nhức nhối. Mắt hoa và cổ họng khô. Hơi thuốc đầu tiên trong đời luôn để lại những ám ảnh nặng nề, dù cho bây giờ, thuốc lá hạng nặng nhất cũng chỉ giúp cậu tan bớt cơn vật trong lúc đói thuốc, thiếu rượu. Thường thì người ta không ý thức những chuyện,chi tiết đầu tiên của một sự việc kéo dài suốt cuộc đời, nhưng thế quái nào nó lại lù lù trong một góc của bộ não, càng ngày càng rõ nét theo thời gian.

Hôm cô gái dễ hơn mình đến mười tuổi sà gần mặt, thở phì phò sát tai. Em nhờ anh đứng gần bên em vì em say quá, sắp ngã rồi, mà ngã ra đây thì ngượng lắm. Có cái mùi nước hoa gì mà đến bây giờ, ba năm sau mình vẫn thấy nó quanh quẩn.

Hút thuốc phiện không nặng nề như hơi Vinataba đầu tiên.

Có lẽ tại có người hướng dẫn, có bàn tay ve vuốt, lại thơm và mát. Nói chung, mình thấy là đàn bà da phải mát.

3. Người dân làng biển muôn đời vẫn thế. Sóng có thể to. Biển có thể động. Những chính biến thể chế quốc gia này, quốc gia kia họ cũng nghe ngóng từ các bản tin của Đài truyền hình. Tin và ham xem truyền hình, nhưng lại không thấy cần phải vận vào cho mình những trông tin thật cần để tránh cạm bẫy hay rút kinh nghiệm.

Sáng nay. Bố bảo mẹ: Tôi đi sang xóm Cù mua vài thứ, trưa về, chuẩn bị mai đi tàu lớn. Mẹ vừa xếp mấy quả ổi xanh, miếng mít gọt sạch thơm thơm, vài quả thị vẹo, giọng nhập nhèm: Ông đi dễ đến ba ngày. Năm ngày. Ông đáp rồi cun cút đi. Đơn giản thông tin chỉ có thế. Nhưng đủ.

Hai người hai hướng nhưng cuối cùng cũng gặp nhau ở biển.

Biển tung bọt trắng ầm ào. Vào đến bờ, bọt vỡ tung, tan biến, trơ ra những lưng là lưng, rốn là rốn. Đúng là người đẹp bao giờ cũng lợi. Lợi nhất khi ở biển. Xấu đẹp thấy ngay, không gì che được.

Mẹ ngồi cạnh những dãy hàng rong dọc bãi biển. Ngóng khách quen khách lạ như một phản xạ nhiều khi không phải là vì họ sẽ mua hàng của mình. Đơn giản, ngồi không thì nhìn, cho đỡ chán. Vậy thôi.

Bây giờ đã là chiều. Mặt trời lừ đỏ như đốt sóng, như muốn luộc chín lũ người bé tí đang nhảy tưng tưng kia.

4. Chiếc xe đã chọn được chỗ đỗ. Lái xe và Dương cùng đi ra.

Tất cả những ai có đủ hai mắt là nhìn. Dương cũng nhìn lại. Không phải Dương thích nhìn họ, mà là anh muốn tìm mẹ. Đông thế kia, lại chia làm hai phe. Phe thỗn thện phơi bụng phơi rốn chắc chắn không có mẹ trong đó, phe quần áo đủ đầy nhưng giống nhau cứ nhuôm nhuôm, mờ mịt khó nhận quá.

Có một cái mẹt đựng vài quả thị, mấy quả ổi, gói kẹo văng ra chân mình. Tiếng kêu thất thanh. Một thân người đổ lên làm Dương chao đảo. Mẹ. Mẹ. Đúng mẹ rồi. Con về lâu chưa? Sao biết mẹ ở đây mà tìm? Dương cười, da xanh gầy trắng nhởn dù là chiều xuống đỏ lừ nhuộm đến cây còn thẫm. Mẹ cuống cuồng hỏi con về lâu không, ăn gì chưa, uống gì chưa, bao giờ đi tiếp. Con giai chỉ cười, vẻ điềm đạm chững chạc lạ lùng, hiếm thấy. Dương hỏi bố đâu. Mẹ bảo về nhà bây giờ chắc gặp. Con giai bưng mẹt quả lăn lăn, mời mẹ lên xe con đưa về. Mẹ cười bẽn lẽn bảo mẹ chân đất, trèo lên xe của con cho bẩn hết à, với lại mẹ cả đời không đi bao giờ, say chục ngày chưa chắc tỉnh lại. Con cứ về trước đi, mẹ chạy mua cua, mua mực tươi về cha con uống chén rượu.

5. Dùng dằng mãi rồi cũng rứt ra mà đi. Sao bao lần chia tay con lên thành phố học không như lần chia tay này. Lúc bố mẹ vui vẻ thì con lại bịn rịn. Ra đến đường. Tất cả tối đen. Chỉ có gió là hào phóng, mạnh mẽ mang đủ mùi hương vị không thể lẫn vào đâu. Mùi nước mắm, mùi tanh, mùi mặn nồng ấm áp.

Dương tưởng không đi nổi. Đến lúc đi được lại sợ mình không giữ nổi lòng nói ra những điều có thể làm bố hay mẹ đột quỵ. Thế là đi. Như trốn. Như chạy. Như đứa con chẳng ra gì vừa về nhà thấy bố mẹ nghèo bỏ đi. Trong khi bố mẹ thì báo cả xóm đến luộc lạc uống rượu chia vui cho nhà tôi. Con tôi được đi học tận nước ngoài. Con tôi sẽ là anh kỹ sư mai sau về giúp nhiều thì không biết chứ chắc chắn giúp được người vùng mình xây cái nhà máy đông lạnh, bảo quản hải sản, khỏi thiu thối, mất giá. Cả xóm biển rôm rả như sắp có đám lễ. Bố mẹ tần ngần. Vui thế mà con bỏ đi. Con giai nói như nuốt tiếng vào trong, tức ngực quá. Con không thể ở thêm được, bố mẹ cứ coi như con vẫn ở nhà.

Lại một vòng ngang biển.

Biển đêm. Đùng đục mây xa báo hiệu hôm nay trăng muộn và sáng. Bãi tắm vẫn đông, thấp thoáng những dáng người. Dương mở cửa xe bước xuống, bỏ giày đen bóng mũi dài hợp mốt mượn anh công an chưa vợ trót yêu đơn phương cô diễn viên đang học hát chèo. Chân trần. Giẫm lên cát mát dịu dàng. Gió lồng lộng thốc vào mặt, trùm lên đầu. Một lần về với biển. Để đi. Một lần về với mẹ để rời xa vĩnh viễn.

Chui vào trong xe. Chạy chậm, gió thổi thốc tháo. Đại Dương lôi trong chiếc cặp đen mang theo một bơm kim tiêm đầy nước trắng, lấy một tay bóp chặt cánh tay kia, co vào, ruỗi ra cho nổi ven, và cắm phập kim tiêm vào.

Ngoài kia. Biển chỉ còn là tiếng sóng ầm ì.

Đại Dương ngả người ra xe, mắt nhắm lại.

6. Buổi sáng. Trại cai nghiện thức giấc sớm. Công việc của ngày hôm qua như ngày hôm nay. Ngày mai chắc cũng vậy...

Riêng đối với Dương chắc khác. Nằm bệt trên giường, toàn thân như sáp và xương tan biến, còn lại đúng đôi mắt. Dương nhìn ra ngoài những chấn song sắt.

Ngoài kia. Trời tháng chín nắng hanh hao vàng rượi. Nắng chạy rất xa làm cảnh vật như trong hơn. Dương ở đây gần một năm, đủ dài bằng cả quãng thời gian sống từ lúc còn trong bụng mẹ nhấp nha nhấp nhô trên đường.

Hôm qua. Giám thị báo hôm nay trại đón khách. Nếu không nằm thế này chắc chắn mình sẽ hát ít nhất ba bài trong buổi biểu diễn văn nghệ. Dương thở dài. Không nhìn ra ngoài trời nắng hanh hao ong vàng nữa, lại nhìn lên trần nhà.

Dương nhìn thấy biển. Thấy ngày bố mẹ ngậm ngùi thu va hà vén dúi tiền cho con ở bến xe lên tỉnh học đại học. Mẹ còn nhét xuống chân gói cá thu khô, suýt nữa cả can nước mắm nếu anh tài không nhìn thấy bắt mang xuống khỏi xui. Dương thấy hết. Trọn vẹn từng đường gân thớ thịt cảm nhận được hết cuộc đời không phải là dài nhưng có lẽ là đủ với mình. Cảm nhận được sự tan rã thân xác như một con cá còn sống nhưng nhiễm độc chờ chết trương phình giương đôi mắt cá chết nhìn lũ bọ rỉa thịt mình nhấm nháy.

7. Biển hôm nay động. Bãi tắm vắng. Nghe đâu có cơn bão đang về. Bố vẫn ra biển. Mẹ thì sắm nắm đôi quang gánh lấy vài chục cân riu về muối. Bố từ ngày con giai về rồi đi lúc nào cũng cười. Tất tật mọi chuyện từ xa đến giờ có thể làm bố cáu giận muốn hét to hoặc phải đập phá một cái gì thì bây giờ, bố chỉ cười và cho qua. Không ai hiểu điều đó, chỉ mình bố hiểu. đấy là liều thuốc tiên con trai bố hôm nào vừa về tiêm vào người bố. Con trai về chào bố mẹ để đi nước ngoài du học. Trong lúc học con trai sẽ đi làm thêm lấy tiền sau về xây nhà, lấy vợ đẻ con. Con trai bảo dứt khoát sẽ lấy vợ ở quê chứ không dặt dẹo bám lại Hà Nội như bao đứa dặt dẹo khác chết đói chết khát làm thuê làm mướn đủ nghề vẫn không chịu về quê danh giá. Con trai còn bảo lúc con trai về, sẽ giúp huyện xây nhà đông lạnh... Nghe con trai nói, nhìn mắt con trai đầy ánh sáng, ông như được hồi sinh thành người khác. Một thế giới khác không giống thế giới ông đang sống cùng tồn tại và nuôi dưỡng ông. Bà cũng vậy. Từ lúc con trai về rồi đi, bà bỗng có nhu cầu buôn chuyện. Gặp ai cũng chào, cũng hỏi, và nếu ai có thời gian là bà kể về con trai. Ông ngồi trên chiếc tàu lớn đang dong buồm ra khơi.

Phía chân trời, mặt trời lên. Một vầng đỏ tròn cháy bừng trên mặt sóng xanh ngăn ngắt như bừng lên nghìn ánh nắng hy vọng sau những ngày mưa, như niềm tin của ông vào một ngày mai, rất gần, con trai ông trở về cùng ông sống trên miền đất mặn.

Lúc đó. Trong trại. Đại Dương giương đôi mắt đục như có một màn sương che phủ ra để nhìn ra song cửa sắt. Cố nhấc một cánh tay để kéo tấm màng che đang kéo tối dần tất cả những gì gọi là cuộc sống trước mắt. Nhưng cánh tay cũng như tay ai mất rồi. Tay tan đi đằng tay. Chân biến đằng chân. Vừa nặng vừa nhẹ, mà là không có gì.

Bỗng dưng có một luồng ánh sáng chói chang chiếu thẳng vào mặt con trai. Mọi sự bừng lên ánh mặt trời cháy bỏng trên mặt biển xanh. Dương nhìn thấy bố đang dong thuyền về buổi chiều nhuộm nắng. Thấy mẹ cắp chiếc thúng nhỏ chạy ra đựng mực tươi về luộc chấm mắm tôm tươi. Dương thấy hết. Tất cả thật gần. Như thể chỉ cần với tay là đến. Với tay là có. Bố. Mẹ. Tuổi thơ đẹp đẽ, đơn giản trong ngần. Học bổng đi du học. Nhà máy đông lạnh... Chỉ cần. Với tay là đến...

Nguyễn Thị Thu Huệ

Wednesday, August 19, 2026

Chị, Người Con Gái Trời Định Phận - Thuyên Huy

 

Chị Người Con Gái Trời Định Phận




    Chị, người con lớn của ba cô con gái trong nhà, nhà có cái tiệm bán hủ tiếu và cà phê pha vợt vải duy nhất ở chợ xã, cái xã không quá nghèo, chừng như ai cũng đủ ăn đủ mặc, năm sáu nhà tạm gọi khá giả, chợ xã có hai dãy phố hai bên, chợ cất chính giữa, mái tôn, cột, nền bằng xi măng cao ráo tuy nhiên nhà lồng chợ không tường che, xa chợ nhà dân cất dọc theo bên này sát đường lộ, bên kia ngó qua là rừng cao su hun hút sâu của người Pháp.

     Chị tuổi chừng hơn mười tám mười chín. Chị đẹp nhất trong ba chị em, đều đi học trường tiểu học sau lưng chợ, lên tới lớp Nhất, chị thi rớt đệ Thất trường trung học quận, chị bỏ học, ở nhà phụ bán tiệm.

*

    Chị đẹp, ăn nói nhỏ nhẹ, dạ thưa, từ tốn, vui vẻ nên người ở chợ ở xã đều mến, lớn nhỏ ai chọc ghẹo gì chị cũng cười trừ. Xã có ông sư già, trụ trì cái chùa nhỏ nghèo cũ kỹ cuối ấp chợ, sát bờ sông, ở đó dân trong làng thường tới cúng quảy. Có lần coi tuổi coi tay cho mấy chị em nói chị có số “sát chồng” nhưng ai nấy nghe rồi cười cười, không mấy gì tin vì ông Sư vừa cười vừa nói.

*

   Một ngày đầu Hạ, chợ xã rộn rịp, pháo đỏ rượu hồng, mừng đám cưới chị và người sĩ quan, đại đội phó Địa Phương Quân đóng trên đồn lớn, đầu xã ngay ngã ba rẻ ngang rừng cao su đi Cầu Khởi.

    Cuối Thu, sau ngày cưới chừng nửa năm, không may, chồng chị tử trận, một đêm mưa dầm lớn khi quân du kích từ mật khu nào đó kéo qua, tấn công đồn ác liệt. Người ta đưa xác chồng chị về chôn ở quê nhà miền tây sông nước.  Cả chợ cả xã, ai nấy đều bùi ngùi thương xót cho tình cảnh chị, tiệm đóng cửa mấy ngày, ít khi thấy chị ra ngoài từ đó.

*

    Hơn một năm sau, chị vào làm cô đỡ hương thôn cho bệnh xá xã, sau khi học xong khóa huấn luyện dưới quận, vừa làm vừa phụ nhà bán buôn. Tiệm hủ tiếu vẫn đông khách, chị vẫn vui cười không khác gì ngày trước.

    Không lâu chị bước thêm bước nữa, lập gia đình với một anh giáo viên lớp Ba trường tiểu học nhà, không phải đi xa, không phải làm dâu. Chợ xã một lần nữa nghe tiếng pháo, rình rang chung vui chúc mừng.

    Chiến tranh ngày càng lớn dần, dân xã ấp biết thấp thõm lo thấp thõm sợ hơn trước, một ngày hơn một năm sau, qua Tết, trên đường về thăm nhà dưới Suối Cụt trở lên trường, cũng không may chuyến xe đò sớm cán trúng mìn của quân du kích gài ban đêm trong mấy cái mô đất chặn đường, nổ tung, người đi vừa chết vừa bị thương hơn một chục, có anh giáo viên, chồng chị trong số những người chết đó. Một lần nữa, tuổi xuân chưa quá, lần thứ hai chị chịu thêm cái tang chồng.

*

    Người ở chợ, bây giờ mới nhớ tới lời ông sư già ở cái chùa nghèo ngày trước về hai chữ “sát chồng”, họ chưng hửng bảo nhau “chẳng lẽ”, lúc này thì không còn ông sư già nữa, chùa quạnh quẽ khói nhang chuông mỏ, bải đất cỏ quanh chùa, chạy dài tận bờ sông giờ là nơi người dân trong làng thả trâu bò ăn cỏ, ông đã bỏ đi từ lâu lắm rồi.

    Bẳng đi một dạo, vắng chị, tiệm vẫn mở cửa, cũng sáng tới chiều nhưng không thấy chị ra vào nữa. Hai cô em cũng đã lớn, không ai nhắc tới chị.

*

    Bốn năm sau, có người ni cô còn trẻ, khăn áo nâu sồng từ xa đâu đó, về chợ xã mừng đám cưới em mình, cô con gái kế của chú thiếm tiệm hủ tiếu. Bà con tại bữa tiệc và chung quanh chợ xã hôm đó, nhận ra, mà buồn, có người muốn khóc, người ni cô kia là chị.

Thuyên Huy

Viết mượn một phần tình tiết thật của một đời người.

Chờ Người Dưới Mộ Sâu - Thuyên Huy

 Chờ Người Dưới Mộ Sâu




Trang Nhật Ký - Hà Kỳ Lam

 

Trang Nhậ­t Ký




Tặng Võ Đình Tuyết như đã hứa

Cuốn sổ tay nhỏ vừa bằng cỡ túi áo trên, với một lỗ đạn dùi xuyên suốt gần gáy, bìa cứng màu xanh nhạt đã sờn nhiều chỗ, góc các trang bên trong bị xoắn lên. Trang trong của tờ bìa dán một tấm ảnh trắng đen nhỏ xíu, bằng khổ hình căn cước. Điều may mắn khá mỉa mai là ảnh còn nguyên vẹn, không bị đạn cày nát - còn chủ nó thì sao? Người trong ảnh khoác áo âu­ phục trắng kiểu cổ bẻ, để lộ chiếc áo bên trong cũng màu trắng, và một chiếc cà vạt đen, đầu đội mũ kết trắng. Không đoán nổi tuổi tác, chỉ có thể nói người ấy không thể tới bốn mươi, mặc dù khuông mặt xương xương. Cũng không thể nói lính gì, và cấp bậc gì. Không thấy ghi tên họ trong cuốn sổ.

Chủ nhân của cuốn sổ tay dường như thích ghi lại những sự việc, những niềm riêng tây. Có vẻ như một nhu cầu cần bộc bạch trên giấy cho chính mình đọc. Những điều ghi chép phần lớn liên quan đến cuộc sống trong rừng, không nói gì về quê hương, gia đình đương sự ngoài Bắc, ngoại trừ mấy hàng nhật ký cuối cùng viết trong ngày của đêm đụng trận - nhóm ngày tháng ghi ở đầu giòng cho Quang biết như thế.

Mở đầu, cuốn nhật ký viết:

" Trên đường Trường Sơn ngày 29 tháng 8 năm 1968.

Mấy hôm nay cứ lên cơn sốt mãi, nhưng cứ gắng bám theo đơn vị không dám khai bệnh. Nếu nằm lại trạm xá điều trị, đơn vị sẽ bỏ lại, và phải chờ để bổ sung vào một đoàn khác ngoài Bắc vào. Ra đi từ quê nhà có anh có em, nương tựa, đỡ đần nhau, nếu phải sung vào một đơn vị lạ thì buồn quá!

Cách khoảng gần một tháng, những giòng nhật ký tiếp tục:

Ngày 20 tháng 9 năm 1968.

" Thời tiết đây khác quá, chiều nào cũng mưa rả rích."

Với giòng chữ này có lẽ chủ nhân của cuốn nhật ký đã đặt chân lên vùng " Tây Nguyên" - tên họ gọi vùng Cao Nguyên - và là ma mới chưa quen nước quen cái vùng này, vì nếu không thì anh ta đã biết mùa mưa của Cao Nguyên kéo dài từ tháng năm đến tháng mười, trùng với mùa mưa miền hạ lưu sông Đồng Nai. Rồi lướt qua các trang ghi những sinh hoạt nội bộ đơn vị như học chính trị, đi lãnh gạo, thuốc men, nghỉ dưỡng quân, t¡m giặt v.v., Quang lại chú ý tới mấy giòng vắn tắt nhưng khá đặc biệt:

" Ngày 30 tháng 11 năm 1968.

Sáng nay tắm dưới suối lên thấy cuốn sổ đặt sai vị trí cũ. Thế là không tốt, có ai xem lén nhật ký rồi."

Rồi kế tiếp, có lẽ cùng trong ngày đó vì không thấy ghi ngày tháng, tác giả buông một câu nghe như cung đàn lạc điệu, " Cái tình của người thủ trưởng thật quí hóa."


Ngày 17 tháng 12 năm 1968.

Trong lúc đang điều nghiên và vẽ lại vị trí đóng quân cũ của Mỹ trên đồi, đói quá, nom thấy một hộp thịt mình đã mở ra chén hết. Ăn xong thì đã đến giờ phải về. Thế là không hoàn thành nhiệm vụ. Cũng chỉ tại cái hộp thịt!

Quang thấy mấy hàng nhật ký trên vừa ngộ nghĩnh vừa có một giá trị nào đó. Đây là chi tiết đầu tiên từ nãy giờ giúp anh biết tác giả là một trinh sát viên. Rồi người đọc lại nhảy bỏ một số trang không hay ho l¡m. Đầu giòng một trang mới, với nhóm ngày tháng mới, người đọc thấy:

" Ngày 10 tháng 4 năm 1969.

Đêm nay đi kích đường 14. Chiếc L 19 cứ bay rà rà trên đầu, loa cứ lãi nhãi '' chiêu hồi, chiêu hồi.'' Mẹ kiếp, ông hồi cho mấy quả bây giờ."

Quang vẫn dõi theo những trang nhật ký chảy miên man, không chủ định, không tuần tự, như những con đường mòn ngoằn ngoèo của núi rừng Trường Sơn. Anh bỗng khựng lại, như một người đi rừng bỗng dừng bước vì con đường mòn đột ngột chấm dứt, và rừng cây um tùm chắn lối:

" Ngày 15 tháng 7 năm 1969.

Cả tháng nay không ghi nhật ký. Giờ này không biết Hoàng hay Thúy Ái đã ra đời. Nhớ đêm cuối cùng trước khi đi B, Thu đã tìm đến nơi đơn vị tập trung. Một người bạn cho mình biết cô ấy cần gặp mình. Mình đã trốn trại, trèo rào ra gặp vợ. Mình biết như thế là không đúng, là mềm yếu. Thu báo tin đã có thai. Hai vợ chồng đã bàn bạc với nhau, nếu là con trai thì đặt tên Hoàng, gái thì là Thúy Ái."

Và con đường Trường Sơn ngoằn ngoèo trong tâm tư của chủ nhân cuốn sổ tay đến đây bị nghẽn lối. Một phần ba cuốn sổ còn lại là những trang giấy trắng sẽ vĩnh viễ­n không còn nhận được một chữ nào của chủ nó nữa...

° ° °

Quang bước vào trung tâm hành quân một lần nữa để nhìn mớ chiến lợi phẩm mà toán phục kích đêm qua vừa mang về căn cứ lúc nãy. Tất cả gồm có ba chiếc ba lô, hai khẩu tiểu liên AK 47, mấy quả đạn B 40, mấy quả lựu đạn chày. Anh nhìn thật lâu mớ đồ vật đó, vẻ mặt thoáng nét đăm chiêu. Nhưng thật ra, nếu ai tinh ý có thể thấy anh không nhìn toàn thể đống chiến lợi phẩm, anh chỉ nhìn chăm chú một món đồ, chiếc ba lô có một lỗ đạn xuyên từ hông này sang hông kia, hay nói cho chính xác, từ hông bên phải sang hông bên trái, một điều sơ đẳng nhất mà người lính chiến nào cũng nói được khi nhìn lỗ bên phải nhỏ bằng đầu đũa, và lỗ bên kia lớn bằng cái nút phéng chai bia. Anh lại nhấc cái của đáng tội kia lên, xem xét tứ phía rồi đặt lại chỗ cũ. " Không có lấy một vết máu," anh khẽ nói với chính mình. Hai chiếc ba lô còn lại thì lành lặn nhưng bê bết máu.

Ba lô lủng như thế thì viên đạn đã đi song song với thân người, chứ không thể cắt một đường thẳng góc với thân thể anh ta. Quang thấy d­ễ chịu. Nhưng anh bỗng khựng lại: Tại sao lại vứt ba lô lại? Anh ta bị trúng đạn ở chỗ khác trên thân thể chăng. Có thể đạn trúng ngực, trúng vào đầu, hay trúng vào chân làm gãy xương. Quang thích nghĩ đến điều sau cùng: vâng, chắc đồng đội lại dìu anh ta đi; vứt ba lô để bôn tẩu cho nhẹ nhàng. Và chiếc ba lô không nhất thiết phải vấy máu.

Quang ôn lại những chi tiết cuộc đụng độ mà tiểu đội trưởng Thanh đã báo cáo với anh. " Như đại úy đã căn dặn: ở hoàn cảnh phục kích đêm không thể thấy được chiều dài của mục tiêu, nên cách tốt nhất là đánh khúc đuôi, và tôi đã làm như thế, nổ súng ngay khi cái bóng đen nhờ nhờ sau cùng di chuyển qua trước mặt một đoạn. Tôi phải đợi một đoạn, để chắc ăn đoàn người đã dứt. Chúng chỉ vào khoảng một trung đội. Thành phần đi trước bắn trả dữ dội. Tôi cho tiểu đội dạt ra xa con đường mòn, đổ dốc xuống bờ suối, bố trí thành hình cánh cung, hướng về phía vừa chạm địch, và " trụ" qua đêm. Chúng tiếp tục bắn cầm chừng về phía chúng tôi. Rồi hỏa lực bỗng rộ lên, mưa đạn xối xả bay ngang đầu chúng tôi cả mấy phút. Chúng tôi biết đối phương đang bắn phủ đầu để kéo xác và di tản thương binh... Tờ mờ sáng, tiểu đội bò đến gần con đường, quan sát chẳng thấy động tĩnh gì cả. Rải rác trên đường là mớ vũ khí, ba lô, đạn dược như thế. Có điều vết máu chạy dài khoảng vài trăm thước về hướng Tây, lên các đồi cao, rồi mất dấu..."

Tất cả chỉ có thế, không giúp gì cho giả thuyết của anh. Đôi lần Quang định gọi trung sĩ Thanh lên để hỏi xem hắn có biết loạt đạn đầu tiên của mình - cũng là hiệu lệnh cho tiểu đội khai hỏa - có trúng vào " cái bóng đen nhờ nhờ" đi sau cùng đó không. Rồi anh quyết định không nên làm thế. Chẳng rọi được tia sáng nào vào điều muốn biết, cho dù biết chiếc bóng đen kia trúng đạn, và lại có thể gây thắc mắc cho thuộc cấp.

Quang không lạ gì với hiện tượng viết nhật ký trong hàng ngũ cán binh miền Bắc tại chiến trường miền Nam. Anh cũng biết được vì sao có hiện tượng kia, qua các câu chuyện với tù binh và hồi chánh viên. Cần thổ lộ để giải tỏa, nhưng chỉ dám trút nỗi niềm vào giấy thôi. Cứ mỗi lần chiến lợi phẩm thu được có cả ba lô thì những thứ đó luôn luôn được anh " chiếu cố" trước tiên, vì ngoài mục đích tìm những tài liệu của đối phương, anh còn có cái thú là đọc những gì riêng tư thầm kín được ký thác trong những cuốn sổ tay nho nhỏ. Đối với Quang chiếc ba lô là gia tài của người lính ở mặt trận, chứ không phải khẩu súng. Chiếc ba lô nói nhiều về chủ nhân của nó. Anh đã đọc khá nhiều nhật ký lấy từ trong các ba lô đã vượt cả nghìn cây số đường Trường Sơn.


Nhưng lần này lạ quá, những hàng chữ sau cùng trong cuốn nhật ký của một kẻ đối phương bỗng làm bận tâm viên sĩ quan từng dày dạn chiến trận, từng được chiến tranh dạy cho cái nguyên lý của nó. Quang có một bức ảnh nhòa nhạt của một người lính Bắc Việt, nhưng không biết danh tính. Và anh lại biết tên một người phụ nữ ngoài Bắc nhưng không biết mặt. Một đôi vợ chồng kẻ Bắc người Nam. Họ vừa có một đứa con, chắc lên vài tháng. Những gì còn lại về họ, Quang không sao biết được. Anh chỉ biết phó thác tất cả cho sự an bài của số mệnh. Chị Thu, tôi muốn gửi đến chị một ước mong, mà xét cho cùng nó phi lý không kém những điều phi lý vẫn đầy dẫy trong mọi cuộc chiến tranh, là mong rằng anh ấy chỉ bị thương xoàng để nhận được thư chị báo tin cháu Hoàng hay cháu Thúy Ái đã ra đời, và để còn có cơ may sống sót qua cuộc chiến này, dù bên nào thắng.

Trích từ tập truyện ngắn: " Núi Vẫn Xanh", nhà xuất bản Thế Kỷ, 1999

Hà Kỳ Lam