Saturday, April 4, 2026

Bông Cải Trời - Nguyễn Cang

 BÔNG CẢI TRỜI

 


 

 

 





Tháng Ba nắng hạ trời xa

Mùa xuân chưa hết thiết tha tìm về

Cải trời nở rộ bờ đê

Bông hoa nhỏ bé say mê lòng người

Cánh đồng trải thảm vàng tươi

Người đi bỏ lại hương rơi cải trời

Hết rồi mộng ước trong tôi

Cô đơn tuổi dại nửa đời đắng cay

Đêm rằm ngắm ánh sao mai

Ngẫm đời hư ảo tàn phai mấy hồi

Bây giờ bèo giạt mây trôi

Bên đồi héo hắt cải trời rũ hoa

Người còn lưu lạc phương xa

Ta đây vẫn đợi tuyết pha mái đầu

Qua rồi một cuộc bể dâu

Thời gian gãy khúc tím màu hoàng hôn

Nghe như sóng vỗ dập dồn

Chiều rơi xuống thấp mưa tuôn ngập lòng !

Nguyễn Cang (Mar. 24, 2026)

 

Chuyện Không Đề Giữa Tháng Ba Cuối Tháng Tư - Thuyên Huy

 

Chuyện Không Đề Giữa Tháng Ba Cuối Tháng Tư

Viết cho đám bạn cũ, khi đọc chuyện có thể thấy có mình là người trong đó không chừng.

Một



    Đêm tháng Ba, người nối tiếp người, xe nối tiếp xe, lầm lũi, lẳng lặng đi, dài không khác gì một con rắn khổng lồ, giữa trời đêm hun hút của núi rừng cao nguyên buốt lạnh. Quá giữa khuya, liên tỉnh lộ 7, anh bớt ga, chậm chiếc xe Jeep, chất đầy ba lô, quân trang quân dụng lại, vừa qua đèo Chu Sê.

   Bên lề đường, ở một khúc người thưa, đứt đoạn, dưới bóng trăng đêm lờ mờ, vằng vặt, thằng con trai nhỏ, chừng sáu bảy tuổi, tóc hớt cua, quần sà lỏn đen, áo thun rách mất một bên tay, quảy trên vai khúc cây khô, treo đầu trước đôi dép xanh dương đậm cũ, đầu sau cái túi ni lông đựng gì đó nằng nặng, lầm lũi một mình ngó xuống đường, đôi chân trần, khẳng khiu gầy, bước từng bước chậm theo dòng người đi trước.

    Nó cứ lầm lũi đi, không ngó lại, thấy thương, anh lái xe chậm theo sau một khoảng, người gồng gánh, níu kéo nhau qua ngang, cũng như nó, không ai màng cứ nhìn ra đường, phía trước. Cứ như vậy một lúc, lái xe nhanh lên khúc trên chừng trăm thước, chắc chắn là nó chỉ đi một mình, nhưng tại sao chỉ có một mình, anh ngừng xe tấp vào cùng bên lề, sát vào mé mương bìa rừng, ngồi chờ. Đoàn xe chở đầy người, đầy đồ đạc vẫn cố tỉnh ngủ đi qua.

   Trăng vẫn màu trăng như từ đầu hôm, anh dắt thằng nhỏ tới ngồi bên anh ngay đầu chiếc xe Jeep, nó khư khư ôm khúc cây khô, đôi dép và cái túi ni lông, nhìn kỹ, trong đó có hai ba nửa cũ khoai mì, khoai lang nguội, khô khốc. Anh hỏi tên, nó lắc đầu, rồi òa lên khóc sướt mướt, anh không cầm được nước mắt.

   Cha mẹ nó chết vì bị loạt đạn pháo Bắc quân bắn theo tại ngã ba Mỹ Thạnh, chổ ngả rẽ vào liên tỉnh lộ 7, đoàn người di tản từ Pleiku xuống, hoảng loạn, túa chạy, mạnh ai nấy lo thân, thằng nhỏ cũng chạy theo, lạc giữa rừng người, người tiếp tục tụ tập lại đi, nó cũng đi, đi hoài, không biết đường trở lại. Cha mẹ nó nằm lại đó.

   Chở thằng nhỏ theo, hết ngày rồi đêm, theo đoàn người, cuối cùng, cũng như cả hàng trăm chiếc xe khác, xe nhà binh, xe tư nhân, xe gắn máy đủ lại, xe của anh không còn xăng, máy không còn nổ, bỏ xe, anh vừa dắt vừa cõng thằng nhỏ, đã ho từng cơn từ lâu, một lớn một nhỏ cứ vậy mà tiếp tục nhập vào rừng người đi.

    Qua Phú Túc, tan hoang, gần tới cầu Cà Lúi, trong bóng đêm, lại cũng một đêm trăng vằng vặt, trong số hàng trăm xác người chết nằm dọc hai bên đường, một đoạn dài, không biết vì đạn pháo hay đạn súng của Bắc quân, có lẽ nằm đó cũng đã mấy ngày, xác một người lớn ôm thằng con trai nhỏ, chừng sáu bảy tuổi trên ngực, tóc hớt cua, tay còn ôm đôi dép màu xanh dương đậm cũ, nằm chết, có mùi hôi, một nửa trên lề đường một nửa dưới bờ ruộng khô cằn màu bùn pha máu đỏ.

Hai



    Anh đẩy chiếc xe xích lô, mướn của ai đó, vào dưới gốc cây lớn nghỉ mệt, chiếc xe mà nhờ nó anh còn có được chút miếng ăn, chút nước uống đủ sống hơn mấy tháng nay, từ những ngày được thả ra sau mấy năm tù, kể từ ngày miền Nam thua cuộc, anh kéo cái nón vải cũ rách vài lỗ, không lớn lắm, còn che được nhúm tóc lưa thưa sạm nắng xuống, mồ hôi xuống theo, ngồi trong lòng xe nhìn vào bên chợ, vắng người  đi, nắng sắp ngã màu về chiều, người con gái bán hoa, ngay ngõ đường ra đầu chợ, anh đã thấy nhiều lần khi chở khách đến đây, tay lật tới lật lui hết bó này tới bó kia, hoa còn màu nhưng không thấy người mua, ngồi nhìn trời, thở dài mệt mỏi, anh cũng như cô cũng thở dài mệt mỏi, đường về đêm nay không biết đường của ai dài hơn ai, chắc cũng não nuột ngõ sâu hun hút.



    Hôm nay, cũng buổi tàn chợ chiều, có chút tiền dư, chắc cũng đủ trả hơn là mua vào buổi sáng, anh nghĩ vậy, trên đường về trả xe, nghỉ sớm vì cảm thấy không khỏe, ghé ngang qua mua bó hoa, hoa nào cũng được, sáng mai, nghỉ một buổi, vào nghĩa trang thăm mộ thằng bạn thân, thằng lính, không cha không mẹ, giờ thứ hai mươi lăm năm đó, nhất định chết chứ không chịu bó tay, ngày giỗ của nó.

    Chưa biết và ngại cũng chưa hỏi giá, anh nhìn qua nhìn lại, người con gái bán hoa, khá đẹp, nhưng nét mặt thoáng chút u buồn, tóc dài đen huyền như màu mắt, áo bà ba xanh thiên thanh, cũ nhưng còn nét người xưa, người của ngày thành phố chưa mất tên, chừng trên hai mươi, thấy anh chần chừ, lên tiếng hỏi, anh thật tình nói, cô nhoẻn miệng cười, lựa cho anh bó hoa còn tươi nhất trong số những bó khác, héo rũ chờ bỏ quên đâu đó, không nhận tiền trả, anh ngồi xuống, cám ơn, chợ thưa người, hai người hỏi nhau qua lại, vài ba anh bộ đội gầy guộc, khệ nệ rau củ trên tay, ngang qua nhìn đăm đăm.

    Cô, con gái duy nhất của một người sĩ quan Sư Đoàn 5 Bộ Binh, chết trận, mẹ bỏ đi không thấy về, học tới lớp 12, bỏ lại với ngoại mấy năm nay, bị đuổi ra khỏi nhà ở cư xá Bắc Hải, hai bà cháu dắt díu nhau về sống với bà dì tu tại gia dưới miệt Cây Da Xà, Phú Lâm, cô bỏ học, vào đời, tập buôn tập bán, nuôi bà nuôi thân. Câu chuyện có vậy, rồi họ quen nhau, anh phụ dẹp hàng, đạp xe đưa người con gái về nhà, đèn đêm chán chường vàng vỏ, đường xa nhưng trên đường trở về, anh thấy con đường bỗng dưng vui.

    Những ngày sau đó, đi về, chiếc xích lô của anh, lúc nào cũng thấy có một người khách, người con gái và những bó hoa tươi đủ màu rực rỡ ra chợ sớm và không về muộn như trước và cũng từ đó, hoa đua nhau không còn ủ dột như xưa.

 

Thuyên Huy

Tháng Tư nhớ- viết lại chuyện cũ

 

Nhỏ Ơi & Mẹ Vẫn Chờ - Nguyễn Thị Châu

NHỎ ƠI…!

 















“ Nhỏ ơi..”Hai tiếng ngọt ngào

Của anh lính chiến hôm nào ghé thăm

Những ngày rừng núi xa xăm

Nắng mưa gian khổ ăn nằm hố sâu

Chỉ cần nhớ “ Nhỏ”Hôm nào

Áo bay trước cổng ra vào trường xưa

Bụi phấn trên tóc lưa thưa

Che ngang chiếc nón nắng trưa tan trường

“Nhỏ “ ơi! Cô bé dễ thương

Để tôi lưu luyến vấn vương tháng ngày

Ra đi để có ngày mai

Trở về trường cũ có ai đứng chờ

Cuộc đời không được như mơ

Nổi cơn giông bão ván cờ đổi thay

Anh đi mang nỗi đắng cay

Xứ người lưu lạc để ai mong chờ

“Nhỏ” ơi! Thương nhớ vô bờ

Cũng đành gởi lại bên bờ đại dương

Ra đi bỏ lại người thương

Cánh chim phiêu bạc, đừng buồn “ Nhỏ “ ơi…!!!

 

 1-4-2026

 Nguyễn thị Châu

 

MẸ VẪN CHỜ

 













Dòng lệ của mẹ già

Cho anh, cho chúng ta

Cho miền Nam máu thịt

Bị bức tử hôm qua

 

Còn đâu những mái nhà

Khói lam chiều thông thả

Có mẹ hiền chờ đợi

Đứa con ở phương xa

 

Mẹ ơi! Con sẽ về

Bao năm tháng xa quê

Lá rừng rơi lác đác

Khao khát mẹ gần kề

 

Mẹ già tóc bạc phơ

Chờ con theo từng giờ

Tay run lau ngấn lệ

Con ơi! Mẹ vẫn chờ …!!!

 

    1-4-2026

    Nguyễn thị Châu

Sau Tháng Tư 1975, Đời Trăm Ngàn Nhánh Khổ - Vũ Thế Thành

 

SAU THÁNG TƯ 1975, ĐỜI TRĂM NGÀN NHÁNH KHỔ…




Sau 75, tôi học được một điều, mà đến nay vẫn thấy chí lý. Đó là, người chiến thắng tuyệt đối đúng. Lịch sử thuộc về người chiến thắng. Chân lý cũng thuộc về người chiến thắng luôn. Đánh thắng cả 3 tên đế quốc đầu sỏ, sao lại không đúng ? Cái gì không có nội dung, mới cần tới hình thức là thế.

Người chiến thắng tự hào là đúng rồi, nhưng tự hào cả những cái sai. Sai mà cứ tưởng mình đúng. Chuyện “tủ lạnh chạy đầy đường” chỉ là chuyện khôi hài, chuyện nhỏ. Cái “sai mà tưởng đúng” mới làm đất nước ra nông nỗi thế này, di lụy chẳng biết bao giờ mới hết.

Các quán nhậu vỉa hè dọc kênh Nhiêu Lộc dạo này nhiều người hát rong, cũng ampli, loa, micro không dây, nhạc đệm,…Họ chỉ hát toàn nhạc xưa, nhạc sến, với điệu rumba, bolero nghe tưởng như đồng hồ đếm ngược. Lần trước về Sàigòn, tôi đã ngồi quán vỉa hè, nghe những bài ca vỉa hè như thế…Lặng cả người, “…Buồn vào hồn không tên, thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời. Đường phố vắng đêm nao quen một người, mà yêu thương trót trao nhau trọn lời..

Tôi chợt nhớ những ngày sau Tháng Tư 75, đám bạn bỗng nhiên làm đám cưới chớp nhoáng, lấy vợ lấy chồng để “đối phó” với thời cuộc, rồi vội vã tìm đường vượt biên. Có đứa vượt qua biên giới, nhưng cũng có đứa về bên kia thế giới. Những người ở lại tưởng họ đã đến bến bờ thiên đường.

Bước lên tàu là ngàn khơi sóng vỗ, không phải là chuyến xe Sàigòn- Đà Lạt. Có khi Hà bá mời xuống chơi, có khi tủi nhục trên đường vượt biển, phần còn lại là may mắn. Mà có may mắn lọt vào xứ người cũng chưa hết. Cô bạn tôi cao chưa quá thước rưỡi, với tay đưa khay bánh vào ngăn, trượt chân, u đầu sứt trán. Quên cả đau, vội vội vàng vàng lượm bánh xếp lại vào khay. Bà xếp Tây mắng, “Xứ này không ăn dơ như thế”.

Cũng có người đi làm nail, tiền tươi thóc thật, dồn hết cho con ăn học. Hy sinh đời bố, củng cố đời con, hiểu sát nghĩa đen là đây, là mồ hôi trộn nước mắt. Tiền gửi về nhà, người thân trong nước tưởng đâu bên đó kiếm tiền dễ như ăn cơm sườn, xin thêm thứ này thứ nọ. Có biết đâu đó là tiền chắt chiu, có khi là tiền thí mạng, không mua bảo hiểm y tế.

Nhưng cũng có người kiên nhẫn vừa làm vừa học, thành danh nơi xứ người. Nhưng cho dù thế nào nơi xứ người, vẫn còn ít nhiều cơ hội, có chịu nắm hay không mà thôi. Trong nước thì coi như bế tắc. Hồi đó, tôi dạy kèm thêm luyện thi đại học, dạy nhóm 5-7 học sinh. Có em học xuất sắc, bài thi làm không chê vào đâu được. Vậy mà rớt. Em là con “ngụy”, thứ “ngụy” còn trong trại cải tạo, làm sao vào đại học nổi, em rớt ngay từ… bãi gửi xe. Em đến báo tin, thầy trò ngồi uống cà phê vỉa hè, buồn ứa nước mắt. Đất nước này không dung những tiềm năng như em… Số phận đời người chứ đâu phải trò chơi chính trị. Sao lại có thể xây dựng đất nước bởi những con người bằng thiệt học giả? Những năm sau 75, đói khổ và ê chề thấy rõ. Giáo sư, bác sĩ, ông này bà nọ xuống đường ra chợ trời hết, người đạp xích lô, người bơm mực bút bi, bán bún riêu, buôn hàng lạc xon,… Lanh hơn thì buôn hột xoàn đổi đô la Mỹ…

Năm 78, tôi gặp một phụ nữ ăn mặc lam lũ, nhưng đẹp, quý phái, không quá 30, trên chuyến tàu chợ. Chị kéo lê 2 bao than ra gần cửa tàu, ngước mắt nhìn tôi, nói như năn nỉ: “Lát nữa gần đến ga Bình Triệu, anh làm ơn đạp dùm tôi 2 bao than này xuống”. Chị buôn lậu than, đến ga sẽ bị tịch thu. Đôi mắt chị buồn và nhẫn nhục quá, làm tôi nhớ đến đôi mắt của bà mẹ trong một tác phẩm của C.V.Gheorghiu. Cảnh sát bắt bà mẹ vào bót để tra hỏi nơi ẩn nấp của con bà. Gheorghiu đã mô tả đôi mắt của bà cũng buồn và nhẫn nhục như thế.

Có lần đi chơi khuya, tôi gặp Bùi Giáng ở ngã ba Trần Quang Diệu-Trương Minh Giảng, ăn mặc chắp vá màu mè như phường tuồng, cầm cây chổi cùn múa may, chặn đầu xe tôi lại, “Cho trẫm điếu thuốc”. Hoàng thượng đã chiếu cố xin thuốc dân đen, dân nào dám cãi. Tôi rút điếu thuốc và cung kính châm lửa cho hoàng thượng. Ngài rít một hơi rồi phẩy tay, “Cho lui…”. Lui rồi, ngoái cổ lại, thấy hoàng thượng tiếp tục múa chổi đi quyền.

Bùi Giáng đã có mầm mống bất thường từ trước rồi, sau 75 nặng hơn, lang thang khắp chốn. Cái điên của Bùi Giáng thật hay giả, cũng khó biết. Mất trí như ông vậy mà hay, ý thức buồn vui làm chi cho khổ?

Mà Sài Gòn lúc đó sao lắm người điên thế ! Cũng không phải điên, họ có phá phách gì ai đâu. Tôi thường gặp vài ông ăn mặc lịch sự lắm, áo sơ mi trong quần, có ông còn đeo cà vạt, đi đi lại lại ở khu Lê Công Kiều, nơi bán sách cũ. Vừa đi vừa khua tay, lảm nhảm rồi lại gật gù, nào là Marx, Hegel, Mounier, Sartre,…

Người bạn tôi qua được tới bến bờ, vừa làm vừa học, gửi về cho tôi thùng quà chừng 1,5 kg kèm bức thư ngắn: “Gửi mày mấy hộp thuốc tây, bán đi mà lai rai. Còn lọ nhỏ để uống, đừng bán. Thuốc an thần đó”. Tâm thần phải chăng là lối thoát của con người với thực tại quá phũ phàng?

Ngẫm lại, một nhà chính trị tài giỏi là người có thể đưa đất nước tới mục tiêu mà ít đổ máu nhất, chứ đâu cần phải đốt cả dãy Trường Sơn, đánh tới người cuối cùng. Mạng người quá bèo. Bèo thì cũng đành, nhưng hệ lụy cho người còn sống, cha mẹ vợ con họ mới là nỗi đau gặm nhấm cả đời.

Cả đất nước sống bằng khẩu hiệu, đất nước ta dân chủ gấp vạn lần,… Nghe riết rồi quen, nghe tai này lọt tai kia cũng quen luôn. Không quen lỡ có ngày phát điên thì sao?

Người lẽ ra phải điên mà không chịu điên, đó là mấy bà. Cầm có tí tẹo tiền, xách giỏ đi chợ, loanh quanh đầu chợ cuối chợ cả tiếng đồng hồ,có khi chẳng mua được thứ gì. Mà có tiền đi chợ là còn may, có người chỉ khoai sắn, rau lang, bí đỏ,… quanh năm. Ăn để sống sót thì thứ gì chẳng nhét vô bụng được. Bột ngọt khi đó là thần thánh.

Mấy ông “tù cải tạo” coi vậy chứ chỉ khổ cái thân, chứ cái đầu chưa đến nỗi. Có biết bên ngoài thế nào đâu mà khổ, mà lo. Vợ một bác sĩ quân y đi thăm nuôi, dúi vào tay chồng ít tiền. Thăm nuôi lần sau, thấy tiền vẫn còn nguyên, ông chồng không dám xài. Bà than, “Tội nghiệp cho cả gia đình tôi!

Ở ngoài vợ con nhịn đói để nuôi tù,ở trong nhịn đói vì không nỡ nuốt cái đói khát của vợ con”. Não lòng đến thế là cùng! Nước mắt nuốt ngược thế này, chỉ bị nghẹn mà không phát điên,bà này chắc có căn phần phúc đức.

Nghe nói mấy ông “ngụy cải tạo” định lập ra ngày vinh danh mấy bà vợ. Không đủ đâu mấy ông. Mấy bà này chắc phải phong… Thánh.

Sắp vào Tháng Tư năm nay, Sàigòn nóng khủng khiếp. Sàigòn không mưa nhưng Đà Lạt mưa. Những ngày cuối tháng tư năm nào Đà Lạt cũng mưa, mưa mù mịt che khuất cả đồi thông ở Couvent des Oiseaux đối diện nhà, nhưng mưa chỉ vào lúc trưa chiều, tối tạnh.

Đà Lạt 8 giờ tối đã như 12 giờ khuya ở Sài Gòn. Tôi vẫn thích đi bộ mỗi khi có chút hơi men thế này. Con đường dốc về nhà như kéo theo mệt mỏi của đời người. Tựa lưng vào cửa nhà, hoa lá trong vườn yên tĩnh như đêm. Dưới ánh đèn đường rọi qua hàng rào, bóng của lá cây ngọc lan chập chờn trên mặt sân. Cuối tháng tư rồi. Người ta sẽ đốt pháo hoa ở Sàigòn để ăn mừng. Ai vui xin cứ vui. Nhưng còn chút tâm tình này của kẻ buồn, không nói cho thế hệ sau biết những buồn bã sau 75 là như thế đó, lòng dạ nào yên?

Đời trăm nghìn nhánh khổ, nhánh nào cho người, nhánh nào cho mình? Năm 75 là ngã rẽ của đời người. Bạn bè, người thành danh, đứa bầm dập, và cho dù có ở phương trời nào, tây hay ta, nỗi khổ vẫn theo số mệnh mà đến. Giờ đây, đứa nào cũng chạm tay vào buổi hoàng hôn cuộc đời rồi….

Tháng tư, tôi thắp ngọn nến trong lòng. Thoảng trong mùi hương ngọc lan, tôi hát theo, hát thầm bài hát nghe được ở quán rượu “…Cuộc đời là hư vô, bôn ba chi xứ người, khi mình còn đôi tay…”.

VŨ THẾ THÀNH

Người chuyển bài - HV USA

 

Thursday, April 2, 2026

Dốc Sương Mù Tự Tình - Thuyên Huy

 Dốc Sương Mù Tự Tình




Thương Chưa Kịp Đã Vội Đi - Thuyên Huy

 

Thương Chưa Kịp Đã Vội Đi

Chuyện viết mượn một chút thật, còn lại chỉ là hư cấu




 

    Kontum, một tỉnh nhỏ và lẻ loi của rừng núi cao nguyên, nằm cách Pleiku, thủ phủ vùng hai chiến thuật không hơn bốn mươi cây số. Phía bắc Kontum, hai quận Dakto, Daksuk, nằm sâu cạnh ranh giới Quảng Ngải đã bị chiếm, từ những ngày mùa hè đỏ lửa. Ngồi trên trực thăng người ta có thể thấy rõ ràng bóng dáng bộ đội Bắc quân đi qua đi lại quanh vùng, nhất là sau ngày có hiệp định Ba Lê. Tỉnh lỵ không có bao nhiêu con đường, thành phố chạy quanh chạy quẩn cũng chỉ là mấy dãy phố bao quanh cái chợ tỉnh luôn vắng người từ xế trưa.

*

    Từ đỉnh núi Kompa bốn mùa mù sương nhìn xuống, Kontum như cái lòng dĩa tròn đơn độc. Sông Dakla, con sông chảy ngược giòng, đổ về núi thay vì ra biển, uốn mình chia đôi thành phố, hai bờ cát trắng phau, khác Pleiku mịt mùng bụi đỏ, lặng lờ, dưới cái cầu nửa sắt nửa xi măng dẫn vào tỉnh lỵ, từ hướng Pleiku lên. Bên này cầu, ngôi nhà gỗ mung hai tầng lầu, dân ở đây thường gọi là Biệt Điện vì đó là nơi dùng làm nhà nghỉ mát cho Tổng Thống , mỗi khi lên cao nguyên, lúc còn sống và còn quyền, là nơi giờ trở thành cư xá cho dăm ba công chức cao cấp, độc thân trong Nam ra tỉnh ở.

*

     Sau lưng là góc công viên nhỏ, cỏ xanh dầy đặc và hoa leo đủ loại vây quanh cái bia đá “ghi ơn chiến sĩ màu xám bám đầy rêu. Cuối phố, qua trường trung học tỉnh, chạy vòng theo dưới đồi, đường về xã Phương Quý, hai bên mấy dãy rừng cà phê hun hút. Lính trận trên phố thường nhiều hơn dân trừ những giờ tan trường có chút màu trắng áo dài. Kontum không có bao nhiêu ngày nắng trọn, trời cứ khói sương mờ mờ lành lạnh quanh năm.

*

    Chợ có độc nhất một rạp chiếu bóng Diệp Kính, ít khi mở cửa trễ về đêm. Quán cà phê với cái tên ngồ ngộ “Forget Me Not”, do hai chị em, người từ Đà Lạt lên làm chủ, trên đường Ngô Quyền hình như lúc nào cũng thấy đông khách. Lác đác một vài thiếu nữ Thượng, nặng nề mang gùi bán hoa Lan rừng, đi lên đi xuống trong buổi chợ sớm.

*

    Mới đó cũng đã gần hai tháng, kể từ ngày Lâm lên làm việc ở Kontum. Chỗ làm việc nằm trên một con đường dốc, lặng im ẩn mình sau hàng cây thông xanh thẳng tấp bao quanh, lẻ loi, xa phố chính hai ba cây số. Bạn bè ở đây không có mấy ai, vài anh Trưởng ty hoặc Phó quận độc thân từ miền Nam ra, không còn thêm ai nữa. Chiều chiều tụ năm tụ ba, không tập tành đánh quần vợt thì bài bạc cho qua ngày tháng. Đêm ở đây xuống rất nhanh, chưa thấy hết giờ làm việc thì phố xá đã lên đèn, trời mù sương lạnh, ít khi thấy người lang thang ngoài đường ngoại trừ những chiếc xe cảnh sát tuần tiễu mờ mờ lên xuống, không có tiếng súng lưa thưa nổ xa xa đâu đó như những ngày ở Tây Ninh nhưng vẫn thấy ánh sáng hỏa châu bập bùng tận một phía bên trời.

*

    Căn nhà nhỏ được một người nhân viên tốt bụng cho Lâm ở, nằm cạnh bờ sông Dakla, cách hàng rào khu gia cư của thương phế binh khoảng mươi thước. Lâm thường thả bộ một mình, dọc theo bờ cát trắng phau khi con nước xuống, nhìn mặt trời đỏ bầm chầm chậm lặn phía sau rừng cuối xã Phương Hòa. Thỉnh thoảng Lâm theo anh Nông, thư ký kiêm thông dịch viên tiếng Thượng, lớn hơn vài tuổi, gốc người Ra-đê, có Tú tài một, được tuyển vào làm việc cho tỉnh từ năm ngoái, lên buôn Thượng chơi, ngồi sàn nhà rong, tập uống rượu Cần, ngọt lần đầu nhưng say nằm liệt lúc nào thì có trời mới biết.

*

    Theo anh, Lâm cũng quen dăm ba cô gái. Mấy người bà con của anh Nông sống trong buôn, đi săn trong rừng sâu, hái cho Lâm vài cụm hoa Lan rừng đẹp lạ lùng, treo trên tường, quên cả tưới nước, cụm hoa vẫn tươi một màu vàng rực rỡ. Lâm đã thấy lòng mình se thắt, ngậm ngùi nhiều đêm, khi nhìn cụm hoa Lan vô tội vô tình phơi màu, ẩn trên tường vôi trắng. Cái màu áo mà Trân mặc trong ngày gặp Lâm, tại quán sinh tố Hằng Phương, một chiều đầy nắng ở Tây Ninh, ngày mà lòng Lâm thà “về yêu hoa cúc, không mến lá sân trường”. Hình như Lâm đã sống quá dài trong ray rứt, trong lạnh lùng. Kỷ niệm của một đời yêu nhau chừng như tan tác buông xuôi theo năm dài tháng đợi. Lâm hờ hững sống đời con tằm, cứ lặng lẽ nhả tơ trong ổ kén quạnh hiu xanh lá.

*

    Trời ở đây giờ đã cuối mùa thu, dăm ba cành lá thông khô, khẳng khiu gãy vụn, nằm trơ trọi bên những con đường trên dốc quanh phố trong những sáng mù sương, buồn da diết. Cuối thu lập đông, mới giao mùa mà Kontum lạnh buốt. Đường phố lạ hẳn lên, áo len đủ màu đủ sắc, từ ngõ hẹp đầu chợ đến khắp sân trường. Ly cà phê nóng chợt trở thành một cái gì không thể thiếu mỗi sáng, trước khi đến sở làm, dù có muộn màng, ngồi bên này nhìn con sông Dakla, sương phủ mịt mù như khói tỏa, mới hiểu lòng ai buồn sương khói mờ nhân ảnh, Lâm lẻ loi ở Kontum những ngày tháng đó.

*

    Thứ bảy chủ nhật cuối tuần, thỉnh thoảng, đôi ba lần, Lâm theo mấy người bạn bên tòa Hành Chánh xuống Pleiku, cái thành phố buổi chiều quanh năm mùa đông. Tỉnh lỵ Pleiku lớn hơn và nhộn nhịp hơn Kontum vì là bản doanh của Quân Đoàn 2 và Vùng 2 chiến thuật. Phố xá không khác nhau cho lắm, cũng những con đường đồi dốc ngoằn ngoèo, cũng dăm ba hàng cây thông thẳng tấp. Phi trường Cù Hanh về chiều, nếu không có chuyến bay đêm nào đó, buồn như một nghĩa trang chiều ba mươi tết.

*

    Đâu đâu cũng là bụi đỏ, bụi đỏ nhuộm công viên, phố chợ trong ngày hanh nắng, bụi đỏ in dấu chân người trong ngày mưa lầy lội. Bọn họ lang thang hết đường Hoàng Diệu, khu tắm hơi đấm bóp rồi qua Phượng Hoàng nhìn thiên hạ nhảy đầm trong tiếng nhạc bập bùng. Đêm ghé quán Vông Vang, uống cà phê Ban Mê Thuộc nghe nhạc tình buồn, khóc đời cô lữ trước khi trở lại khách sạn Thanh Lịch, quăng người xuống giường, đêm ngủ quên, sáng ngày dậy muộn.

*

      Rảnh rỗi hơn, trên đường về lại Kontum, vòng qua Biển Hồ, quay xuống quận Lệ Trung, xem thằng bạn tên Nhựt ngồi tán gái sơn cước, bằng tiếng đồng bào Thượng, học tới học lui vẫn còn ngọng nghệu thấy mà thương. Vào điạ phận Kontum, cố nhấn ga cho xe chạy nhanh khỏi ngọn đồi trọc Chupao, nơi lính Dù VNCH quần thảo với Bắc quân, cày nát từng gốc cây ngọn cỏ vài năm trước, nếu thấy nắng chiều tắt sớm phía sau lưng, mà thường thường nắng chiều hay tắt sớm.

*

    Không đầy một tuần lễ, sau ngày mất Ban Mê Thuộc, thành phố Kontum bắt đầu di tản, tỉnh lỵ hỗn loạn như một gánh hát rã hàng không tiền trả tiền mướn rạp. Công chức quân nhân, nhỏ lớn mặc ai, không còn thấy gì là lệnh lạc. Các buôn làng Thượng im lìm thu mình trong màn sương dưới núi. Sáng thứ bảy, lái xe lên chỗ làm, anh Nông, thư ký đã đứng chờ Lâm ngay cổng ra vào, người lính nghĩa quân, thường gát trong cái chòi canh không thấy bóng. Anh Nông lo lắng nhìn:

- Thưa ông, không còn ai trong đó đâu, họ đi hết rồi

Lâm ngỡ ngàng chưa kịp đáp, anh tiếp theo với vẻ mặt buồn vời vợi:

- Tôi nghĩ chắc ông cũng lo về Sài Gòn đi, họ đã về Pleiku từ chiều hôm qua, ngay sau khi đóng cửa.

- Rồi còn anh thì sao? Lâm đắn đo hỏi:

Anh lắc đầu cười gượng:

- Tôi là người ở đây, thì đi đâu bây giờ!

Anh lên xe Honda nổ máy, chậm ra đường, quay đầu nói vọng lại: 

- Cám ơn ông, chúc ông bình an, mau gặp lại gia đình.

Lâm đứng nhìn theo bóng anh mất hút, ngược hướng đoàn người bỏ đi từ phía xã Phương Qúy, buồn muốn khóc.

    Trở lại nhà, quơ vội mấy thứ cần, quăng đại lên xe, Lâm lái qua Biệt Điện, đón đám bạn công chức, chen lấn lớp người lớp xe, hấp tấp qua cầu, thản nhiên, con sông hiền Dakla vẫn lặng lờ chảy ngược lên rừng, chưa kịp thương anh đã vội bỏ Kontum mà đi, một sáng giữa tháng Ba nghiệt ngả.

 

Thuyên Huy

Viết lại từ một câu chuyện cũ

Nỗi Lòng Người Vợt Tù Cải Tạo - Nguyễn Cang

 NỖI LÒNG NGƯỜI VỢ TÙ CẢI TẠO

(Tháng Tư buồn, viết thay lời vợ)

 


 














Ta lưu lạc không nhà nơi thành phố

Đông phong về đêm lạnh phủ mù sương

Ta còn đây hay đã mất quê hương

Nghe con khóc biết mình còn đang sống

 

Xuân sắp đến bạc tiền như vườn trống

Hạt mưa rơi gom nỗi nhớ vào tim

Đi về đâu trong cõi vắng im lìm

Nghe mặn đắng bờ môi tê buốt giá

 

Mùa đông lạnh anh phong phanh áo vá

Gió cao nguyên có tê tái trong lòng

Thân phận nghèo mình cứ mãi long đong

Em vẫn đợi vẫn chờ ngày gặp lại

 

Soi gương mặt tóc nào còn xanh mãi

Chiều Tân Quy* chiều mắt đỏ mong chờ

Trong khổ đau đành mất tuổi mộng mơ

Đứa con nhỏ giật mình kêu mẹ khóc

 

Trả hết anh những hẹn hò trách móc

Còn lại đây những cay đắng dật dờ

Rót ưu tư vào bến giác hoang sơ

Lau nước mắt nhạt nhòa mưa cuối hạ!

 

Nguyễn Cang (Apr 10, 2025)