Thursday, February 26, 2026

Thơ Ngọc Ánh & Các Bài Họa - Nguyễn Cang - Diệp Văn

 Thơ Ngọc Ánh và các bài họa:

 


             

 

 













CHỜ..!

(Nđt)(bvđâ)

 

Mong chờ mỏi mệt bóng hình ai?

Tết đã về sao trẻ miệt mài

Giữa cột hai hàng câu đối trải

Trên bàn ngũ quả với nhành mai

Bao mùa nước lụt thân dầu dãi

Những buổi nhà xiêu bụng đói dài

Rộn rã trời trưa lòng khắc khoải

Âm thầm cuộc thế cũng mờ phai

 

Ngoc Anh Nguoideplongyen

 

Họa 1/.

 

 NHỚ

(nđt+bvđâ)

 

Mộng tưởng xuân nồng với những ai

Chiều buông vội vã phải nên mài

Trang thờ khói quyện mờ mâm trải

Bếp lửa tro tàn rực lẵng mai

Cửa nọ an bình thôi nắng dãi

Đường kia khổ cc biết than dài

Sầu tư độc tấu đời nan giải

Kỷ niệm quê nhà mãi khó phai !!!

 

Nguyễn Cang ( Feb. 18, 2026)

 

Họa 2/.

 

ĐỢI

 

Dáng nhỏ xưa rày vẫn đợi ai

Thềm Xuân mãi ngóng dạ luôn mài.

Chung lòng vững nhớ tình tuôn trải

Một ý thương tròn nghĩa ẩn mai.

Khổ nhọc không màng xua nắng dãi

Trầm kha chẳng ngại quyết lâu dài.

Tình chung dạ khắc đâu nề khoải

Mãi đợi trông người ý chẳng phai.

 

SanJose 2026 Diệp Văn.

 

Top of Form

 

Bottom of Form

 

Nhớ Bình Minh & Nổi Buồn Đêm Xuân - Nguyễn Thị Châu

 NHỚ BÌNH MINH

 


 












Lạc lõng mây trôi gởi bóng sầu

Hoàng hôn sợi nắng gởi về đâu?

Biết ai trút hết lời tâm sự

Biết gởi về đâu vạn nỗi đau

 

Nắng vàng xót lại dưới hàng cây

Người đi còn nhớ lúc sum vầy

Cho nhau giây phút hương tình ái

Vụng về môi chạm lúc chia tay

 

Anh đi cho đất nước bình yên

Anh về hoa nở bướm khoe duyên

Em đón anh về trong gió mới

Tình thơ mong ước buổi đoàn viên

 

Bỡ ngỡ chiều nay vắng bóng chàng

Lối cũ không người, tôi lang thang

Một phút trong lòng nghe giông bão

Một đời hoa mộng ôi! Dở dang

 

Hoàng hôn lại nhớ câu chuyện tình

Bao năm xa cách ánh bình minh

Nhớ nhau,rất nhớ người tình cũ

Lâu lắm xa rồi, nhớ bình minh…!!!

 

18-2-2026

Nguyễn thị Châu

 

NỖI BUỒN ĐÊM XUÂN

 


 













Nhè nhẹ Xuân về qua khung cửa

Gió đưa rèm trúc khẽ mỉm cười

Áo lụa nắng vàng khoe áo mới

Nàng Xuân duyên dáng nụ cười tươi

 

Chim Én mây trời khe khẽ gọi

Nắng hồng tươi mát cất lời ru

Xuân đến Xuân đi Xuân lại đến

Thời gian còn lại tuổi xế chiều

 

Đêm Xuân thức trắng cùng nỗi nhớ

Nhớ mãi người xưa đã cùng tôi

Đốt pháo giao thừa trong đêm vắng

Đêm Xuân thao thức quên đất trời

 

Có ai thức trắng đêm tâm sự?

Hãy lắng nghe tôi trải nỗi lòng

Mất anh ngày ấy tim se thắt

Nước mắt đêm buồn kiếp long đong

 

Một nén tâm hương cho anh đó

Đêm Xuân một bóng nhớ về anh

Gió Xuân se lạnh buồn da diết

Anh ở nơi nào? Biết không anh???

 

18-2-2026

 Nguyễn thị Châu

Đi Tìm tác Giả Bí Ẩn T.T.KH - Trần Đình Thu

  

Đi tìm tác giả bí ẩn T.T.Kh




         


T.T.Kh là một câu chuyện chưa từng có trong lịch sử văn chương. Đó là câu chuyện về một thi sĩ bí ẩn bỗng nhiên tung lên thi đàn mấy bài thơ tình tuyệt tác làm ngẩn ngơ độc giả rồi lặng lẽ biến mất trong cái bàng hoàng sửng sốt của người yêu thơ.

Bảy mươi năm đã trôi qua kể từ ngày xảy ra câu chuyện kỳ lạ ấy. Rất nhiều người đã tìm cách vén lên bức màn bí ẩn của câu chuyện nhưng hầu như chưa ai làm thỏa mãn độc giả. Còn người yêu thơ vẫn luôn khát khao được biết sự thật: T.T.Kh là ai và đã vì ai mà sáng tác nên những áng thơ tình đặc sắc đó?

Có một số nhân vật được các nhà sưu tầm đưa ra để giả định rằng đó là T.T.Kh. Nam giới có, phụ nữ có. Trong số những "nghi can" có hai nhà thơ nổi tiếng là Thâm Tâm và Nguyễn Bính. Độc giả tưởng như đã lần ra được tung tích của con người kỳ lạ này nhưng sự thực không phải như vậy. Bởi tất cả những thông tin đưa ra đều do lời người khác kể lại. Còn bản thân những người như Thâm Tâm, Nguyễn Bính chưa bao giờ có phát biểu chính thức nhận mình là T.T.Kh. Vì thế, tuy người kể cũng là người có uy tín trong làng văn làng báo nhưng độc giả vẫn thấy mơ hồ khó tin. Việc tìm kiếm con người thật của T.T.Kh thành ra vẫn rơi vào vòng lẩn quẩn trong bao nhiêu năm qua, khiến câu chuyện thêm nhuốm màu huyền thoại.

Bằng cách phân tích các hình ảnh, biểu tượng, tình tiết văn học, thói quen sử dụng ngôn ngữ trong thơ, trong truyện ngắn..., tác giả Trần Đình Thu đưa ra một cách làm mới: so sánh đối chiếu với những người được cho là T.T.Kh lâu nay để nhận xét xem ai là người phù hợp nhất. Đó là cách làm khá đặc biệt so với những nhà sưu tầm khác trước đây chỉ hoàn toàn dựa vào lời kể của nhân chứng. Vì thế, Thanh Niên xin giới thiệu loạt bài viết trích từ bản thảo cuốn sách Giải mã nghi án văn học T.T.Kh chưa xuất bản của tác giả để bạn đọc tham khảo.
            

Tác giả Trần Đình Thu sinh năm 1964. Anh từng xuất bản các cuốn sách: Giải mã nghi án văn học T.T.Kh, Bùi Giáng - thi sĩ kỳ dị, Nguyễn Bính - thi sĩ giang hồ. Hiện anh là Chủ biên trang web Bình chọn thơ hay Việt Nam (binhchonthohay.com).

***

Kỳ 1: Câu chuyện tình buồn 70 năm trước

Có thể nhiều bạn đọc đã biết, đã thuộc làu thơ T.T.Kh nhưng vẫn có một số người khác chưa nắm rõ câu chuyện như thế nào. Vì thế, trước khi bước vào phân tích lý giải, chúng tôi xin dẫn lại toàn bộ câu chuyện này một cách có hệ thống. Câu chuyện T.T.Kh bắt đầu vào tháng 7/1937, khi tuần báoTiểu thuyết thứ bảy đăng một truyện ngắn mang tên Hoa ti gôn của nhà văn Thanh Châu . Nội dung truyện ngắn được tóm tắt như sau:

Có một họa sĩ nghèo mới ra trường. Trong một lần đi tìm cảnh vẽ, chàng đã gặp một thiếu nữ đang hái hoa ti gôn trong vườn. Từ đó, chàng đâm ra mê người đẹp, luôn đạp xe vào làng để ngắm trộm nàng hái hoa.

Năm tháng qua đi, chàng họa sĩ trở nên nổi tiếng. Tranh vẽ của chàng bán được giá rất cao. Họa sĩ trở nên giàu có. Một mùa đông, chàng đi vẽ ở một vùng nọ. Trong một bữa tiệc chiêu đãi, họa sĩ trông thấy một thiếu phụ. Chàng ngờ ngợ như đã từng gặp người này ở đâu. Cuối cùng nhớ ra, nàng chính là cô gái hái hoa ngày ấy. Trong khi khiêu vũ với nàng, chàng nhắc lại chuyện cũ. Nàng vô cùng ngạc nhiên.

Nàng kể chuyện cuộc đời mình cho chàng nghe. Nàng lấy một người chồng môn đăng hộ đối nhưng cuộc hôn nhân quá tẻ nhạt. Từ đó, nàng hay lui tới chỗ họa sĩ trọ để chơi và để chàng vẽ cho một bức chân dung. Chuyện gì đến đã đến. Một buổi sáng, hai người đi chơi ở một ngôi chùa trên đỉnh núi, chàng đã tỏ nỗi lòng mình. Nàng đáp lại tình yêu của chàng.

Chàng bàn với nàng trốn đi Nhật để chung sống với nhau. Nàng nhận lời. Chàng về Hà Nội, sắp đặt xong mọi việc thì nhận được thư nàng vào giờ chót. Nàng từ chối chuyến đi vì không đủ can đảm vượt qua. Trong thư, một dây hoa ti gôn nhỏ ép rơi ra. Chàng nhìn những nụ hoa hình quả tim vỡ, đỏ hồng như nhuộm máu, lặng lẽ hôn lên những cánh hoa và khóc.

Bốn năm sau, một hôm chàng nhìn thấy trên bàn mình một phong thư viền đen. Mở ra xem thì đó là của người chồng nàng báo tin nàng đã chết. Chàng đáp xe lửa đến nơi để đặt lên mộ nàng dây hoa quen thuộc. Từ đó, chàng luôn mua hoa ti gôn về đặt trong phòng mình.

Hoa ti gôn là một truyện ngắn không có gì đặc sắc nhưng nhẹ nhàng và bay bổng. Truyện ký thác một tâm sự khắc khoải, nhớ nhung hoài niệm. Hình ảnh dây hoa ti gôn được lặp đi lặp lại nhiều lần như muốn khơi gợi một điều gì đó không tiện nói ra. Tác giả của nó - nhà văn Thanh Châu, khi đó là một chàng trai trẻ 25 tuổi, vừa quyết định bước vào nghiệp văn chương. Chàng cũng vừa trải qua một chuyện tình buồn.

Hai tháng sau ngày Thanh Châu đăng truyện ngắn nói trên, một sự kiện đặc biệt xảy ra. Vào tháng 9/1937, tòa soạn tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy nhận được một bài thơ của một tác giả ký tên là T.T.Kh. Đó là bài Hai sắc hoa ti gôn , được đăng vào ngày 23/9/1937.

Bài thơ Hai sắc hoa ti gôn đã gây nên xúc động lớn trong lòng người yêu thơ bởi những câu thơ quá da diết. Giới văn nghệ xôn xao. Gần hai tháng sau, tòa soạn lại nhận được một bài thơ nữa. Bài thơ này có tựa đề là Bài thơ thứ nhất dù đó là bài thơ thứ hai gửi đến. Bài này được đăng trên số báo ngày 20/11/1937. Và một năm sau nữa, tòa soạn nhận thêm bài Bài thơ cuối cùng . Bài này được đăng trên số báo ra ngày 30/10/1938.

Từ đó, tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy không còn nhận thêm bài thơ nào của con người bí ẩn này nữa. Ngược lại, có một bài thơ cũng ký tên T.T.Kh gửi đến một tờ báo khác. Đó là Bài thơ đan áo . Những bài thơ mang tên T.T.Kh đã làm cho độc giả bàng hoàng sửng sốt. Nhưng tác giả của nó đã lặng lẽ rời bỏ văn đàn, không bao giờ xuất hiện ở đâu nữa. Không ai biết một chút gì về con người bí ẩn này. Nghi án văn học T.T.Kh từ đó bắt đầu...

Năm 1942, Hoài Thanh - Hoài Chân xuất bản Thi nhân Việt Nam lần đầu tiên, T.T.Kh đã được đưa vào tập sách quan trọng này. Song song đó, nhiều người lại liên tục công bố những thông tin về T.T.Kh. Nào Thâm Tâm, nào Nguyễn Bính, nào em gái nhà thơ Tế Hanh, nào là Trần Thị Khánh... Rất nhiều "ứng viên".

Câu chuyện về Thâm Tâm có khá nhiều người kể. Chẳng hạn Nguyễn Vỹ, một người có mặt trong Thi nhân Việt Nam đã viết một bài dài trên Tạp chíPhổ Thông vào những năm 1960. Ông Vỹ cho biết, một buổi tối trên đường về nhà, ông gặp Thâm Tâm đang lang thang. Ông mời Thâm Tâm về nhà mình uống rượu. Ngà ngà say, Thâm Tâm cao hứng kể chuyện tình của mình. Thâm Tâm cho biết, người yêu của mình là một nữ sinh tên là Trần Thị Khánh. Nàng đã có lần gợi ý Thâm Tâm đến nhà hỏi cưới nhưng chàng bảo sự nghiệp chưa có gì. Bẵng đi một thời gian, một hôm chàng nhận được phong thư báo tin nàng sắp lấy chồng. Đã bị người yêu bỏ đi lấy chồng, lại còn bị đám bạn chế nhạo, Thâm Tâm đâm ra bị quê. Vì thế đã phải thức một đêm để làm một bài thơ tựa đề là Hai sắc hoa ti gôn, ký tên T.T.Kh. Thâm Tâm làm như vậy với dụng ý để các bạn của mình tin là của Khánh làm, cho khỏi mang tiếng bị tình phụ. Sau đó, Thâm Tâm gửi bài thơ tới tòa soạn. Về phần cô gái đó, sau khi đọc được bài thơ Hai sắc hoa ti gôn, liền viết thư phản đối Thâm Tâm kịch liệt. Thâm Tâm bèn lấy những câu chữ trong bức thư này để viết tiếp các bài thơ sau này, vẫn ký là T.T.Kh...

Ngược với Nguyễn Vỹ thì một số tác giả, chẳng hạn như Hoàng Tiến, lại cho rằng chính cô Trần Thị Khánh, cô người yêu của Thâm Tâm đã sáng tác ra những bài thơ ký tên T.T.Kh. Một số tác giả khác còn tiến thêm một bước cụ thể hơn nữa khi cho rằng Trần Thị Khánh chính là em gái họ của nhà thơ Tế Hanh...

Với Nguyễn Bính, không thấy có những câu chuyện cụ thể như trường hợp của Thâm Tâm. Người ta chỉ dựa vào bài thơ Cô gái vườn Thanh đề tên tác giả Nguyễn Bính để cho rằng Nguyễn Bính chính là T.T.Kh.
 

Kỳ 2 :  T.T.Kh có thể là Thâm Tâm hoặc Nguyễn Bính không?


Tác giả Hoài Việt, một người cầm bút trước năm 1945, từng quen biết với hai thi sĩ này cho biết: Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân hồi đó là ba thi sĩ chủ chốt trong một nhóm thơ được các văn hữu mệnh danh là các nhà thơ xóm áo bào gốc liễu. Ba người tuổi tác xấp xỉ nhau, đều xuất thân từ tầng lớp dân nghèo, không được học hành nhiều ở các trường lớp chính quy, vì thế ảnh hưởng của văn học phương Tây đối với họ hầu như không có gì. Ngược lại họ là những người được học nhiều chữ Hán, chữ Nôm. Cả ba người có lúc cùng ở trọ một nhà với nhau để viết văn, làm báo. Những hoàn cảnh như trên đã ảnh hưởng đến phong cách sáng tác của nhau, hình thành nên một nhóm thơ có tên gọi như trên.

Ngoài những nét riêng biệt trong các tác phẩm của từng người thì nhóm thơ này có một đặc điểm chung. Đó là các thành viên rất thích cái giọng văn chương hiệp sĩ, ưa dùng hình ảnh những tráng sĩ lên đường thời Xuân Thu Chiến Quốc. Những tráng sĩ mặc áo bào từ trên lưng ngựa nhảy xuống đất, buộc ngựa vào gốc liễu, nghênh ngang bước vào tửu quán. Vì thế mà thơ của họ chứa đựng cái chất tráng ca, cái khí phách ngang tàng của những trang hảo hớn: "Chí lớn chưa về bàn tay không/Thì không bao giờ nói trở lại/Ba năm mẹ già cũng đừng mong" (thơ Thâm Tâm), "Kinh Kha giữa chợ sầu nghiêng chén/Ai kẻ dâng vàng, kẻ biếu tay?/Mơ gì áp Tiết thiên văn tự/Giầy cỏ gươm cùn ta đi đây" (thơ Nguyễn Bính).

Nhận định của Hoài Việt như thế rất đúng với trường hợp của Thâm Tâm. Chất giọng văn chương hiệp sĩ của ông tạo nên nét riêng biệt không ai có được. Thơ ông là thứ thơ hùng tráng. Nếu có bi thì cũng là hùng bi: "Ngươi chẳng thấy/Thao thao Hồng Hà vạn thuở chảy/Nước mạnh như thác, một con thuyền/Ta lênh đênh hoài sầu biết mấy!" (Can trường hành), "Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch/Ta ghét hoài câu "nhất khứ hề"" (Vọng nhân hành). Chất rắn rỏi này không chỉ thể hiện trong những bài thơ thuộc thể hành mà cả khi Thâm Tâm làm những loại thơ khác.

Với Nguyễn Bính, ngoài cái phần chung với nhóm thơ trên mà ông ít nhiều chịu ảnh hưởng của bạn bè, thể hiện trong vài trường hợp (chẳng hạn bài Hành phương Nam) thì thơ Nguyễn Bính được bao trùm bởi cái chất quê, như Hoài Thanh nhận định trong Thi nhân Việt Nam: "Ở Nguyễn Bính thì không thế. Người nhà quê của Nguyễn Bính vẫn ngang nhiên sống như thường. Tôi muốn nói Nguyễn Bính vẫn còn giữ được bản chất nhà quê nhiều lắm". Thơ Nguyễn Bính phần lớn gần gũi với đời sống lam lũ quê mùa dù ông đang ở thành thị hay thôn quê. Từ ngữ nhiều khi quá dân dã đến nỗi một số nhà thơ thời ấy chê là ông làm hò vè: "Nuôi hai con lợn từ ngày xưa/Mẹ tôi đã tính "Tết thì vừa"/Trữ gạo nếp thơm mo gói bó/Dọn nhà, dọn cửa, rửa bàn thờ" (Tết của mẹ tôi). Ngay cả khi làm thơ tình thì Nguyễn Bính cũng quê mùa chất phác như thế: "Lòng em như quán bán hàng/Dừng chân cho khách qua đàng mà thôi/Lòng anh như mảng bè trôi/Chỉ về một bến chỉ xuôi một chiều" (Em với anh). Cái chất dân dã quê mùa, pha lẫn với một ít chất tráng ca, có lẽ ảnh hưởng từ Thâm Tâm, đã tạo nên một Nguyễn Bính khó có thể lẫn vào ai.

Đó là những nét đặc thù trong thơ Thâm Tâm và Nguyễn Bính, hai tác giả được nhiều người coi là T.T.Kh. Vậy còn thơ T.T.Kh thì sao? Ta hãy đọc lại vài khổ thơ của tác giả này: "Người ấy thường hay vuốt tóc tôi/Thở dài trong lúc thấy tôi vui/Bảo rằng hoa dáng như tim vỡ/Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi" (Hai sắc hoa ti gôn), "Anh hỡi tháng ngày xa quá nhỉ/Một mùa thu cũ một lòng đau/Ba năm ví biết anh còn nhớ/Em đã câm lời có nói đâu" (Bài thơ cuối cùng).

Bạn đọc thấy gì trong những câu thơ này? Rõ ràng đây là những câu thơ nỗi lòng của một người con gái khuê các, từ nhỏ tới lớn có lẽ quen sống trong cảnh mơ màng, không vướng bận chuyện đời thường. Nàng thích nhìn gió ngắm trăng mỗi khi cô đơn trong lòng. Nàng lại đọc tiểu thuyết mỗi khi buồn: "Buồn quá hôm nay xem tiểu thuyết/Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa". Gia cảnh của nàng rõ ràng là khá giả. Không phải thuộc loại "Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều/Mẹ tôi lo liệu đủ trăm chiều" như Nguyễn Bính hay "Sinh ta, cha ném bút rồi/Rừng nho tàn rụng cho đời sang xuân" như Thâm Tâm.

Ta lướt qua những bài thơ của T.T.Kh và thấy, tác giả là người có thói quen sử dụng từ ngữ hiện đại. Có lẽ tác giả được đi học trường Tây chứ không phải đi học trường làng. Ta không tìm thấy những từ ngữ làng quê hay từ ngữ có nguồn gốc Hán-Việt nhiều ở đây. Vả lại những câu thơ như câu"Người ấy thường hay vuốt tóc tôi/Thở dài trong lúc thấy tôi vui" quá là hiện đại. Tình yêu trong thơ Thâm Tâm hoặc thơ Nguyễn Bính đâu có như thế.

Ta cần nhớ rằng vào khoảng thời kỳ 1932-1938, văn xuôi cũng như thơ Việt Nam còn đang cố gắng tìm một sự thay đổi căn bản. Về thơ, đó là sự thay thế thể thơ Đường luật gò bó bằng thể thơ tự do, tức thơ mới. Đến năm 1936, cuộc cách mạng này coi như thành công mỹ mãn. Tuy nhiên có sự phân hóa. Một số tác giả muốn cách tân một cách mạnh mẽ cả nội dung lẫn hình thức trong khi số khác lại không muốn bị "Tây hóa" quá nhiều về mặt nội dung mà chỉ muốn đổi mới chỉ hình thức thôi. Xuất hiện một lớp nhà thơ "tân" bên cạnh những nhà thơ "cựu" vốn ít học chữ Tây. Văn chương của hai tầng lớp này có một sự khác biệt rất dễ nhận ra. Nếu như Xuân Diệu đạt đến đỉnh cao của sự ảnh hưởng thơ Pháp thì Thâm Tâm lại quay về với hồn thơ Đường còn Nguyễn Bính thì chìm đắm trong kho tàng ca dao, dân ca Việt Nam để góp phần tạo nên dòng thơ Việt.

Còn thơ T.T.Kh? Ngay cả Hoài Thanh vào năm 1942 cũng đã rất ngập ngừng không dám xếp hẳn thơ T.T.Kh vào dòng thơ Việt. Cho nên, giữa thơ Thâm Tâm, Nguyễn Bính và T.T.Kh không thể nào chung trong một dòng thơ được. Thâm Tâm và Nguyễn Bính "cựu" quá trong khi T.T.Kh thì lại rất "tân".
                                                

Kỳ 3 :  T.T.Kh là "nàng" hay là "chàng"?
                   
Ta đã tìm hiểu qua về thơ T.T.Kh trong kỳ trước. Thật ra, ta thấy thơ T.T.Kh nghiêng về dòng thơ ảnh hưởng thơ Pháp mà Thế Lữ đã khơi nguồn và Xuân Diệu đẩy lên đến tận cùng hơn: "Hơn một loài hoa đã rụng cành/Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh/Những luồng run rẩy rung rinh lá.../Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh" (Thơ Xuân Diệu); "Ở lại vườn Thanh có một mình/Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh/Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo/Yêu bóng chim xa nắng lướt mành" (Thơ T.T.Kh).

Cũng là những câu thơ tả cảnh như thế, nhưng nó quá khác biệt khi đặt bên cạnh thơ Thâm Tâm hay Nguyễn Bính: "Thu sang trên những cành bàng/Chỉ còn hai chiếc lá vàng mà thôi/Hôm qua đã rụng một rồi/Lá theo gió cuốn ra ngoài sơn thôn" (Thơ Nguyễn Bính), "Bừng sáng, xuân bay tang tảng sương/Canh gà heo hút nẻo giang thôn/Chài ai gấp gấp giăng giăng bạc/Tiếng mác qua giời, dịp sáo non"  (Thơ Thâm Tâm).

Thơ T.T.Kh hiện đại từ ngôn ngữ cho đến hình ảnh. Nhà văn Thanh Châu đã bỏ công tìm hiểu cách sử dụng từ ngữ của những đối tượng liên quan và đi đến nhận xét: thơ T.T.Kh không có những chữ như ly khách, cửa ải xa, xóm thanh bình, trường thành, quan san, trường đình, thét roi, cô phụ, đoạn trường như Thâm Tâm, không có những chữ như vương tơ, lão bộc, vật đổi sao dời, quay tơ, guồng tơ, hận tình, buồng the như Nguyễn Bính. Nhận xét này của Thanh Châu khá tỉ mỉ và chính xác, cho ta thấy sự khác biệt về cách sử dụng từ ngữ giữa T.T.Kh và Thâm Tâm, Nguyễn Bính. Chúng ta thấy thêm, ở Nguyễn Bính thường có xu hướng sử dụng từ ngữ địa phương mỗi khi có điều kiện, chẳng hạn "giời" thay cho "trời", "giầu" thay cho "trầu"... Như trong bài Cô gái vườn Thanh, Nguyễn Bính viết:"Vườn Thanh qua đấy năm xưa/Trọ nhờ đêm ấy giời mưa tối giời". Đây là một thói quen mà T.T.Kh không hề có.

Chúng ta thấy một điều rất quan trọng nữa về mặt ngôn ngữ trong thơ T.T.Kh là tác giả hầu như chỉ sử dụng từ thuần Việt. Đây là một đặc điểm cho thấy tác giả không hề hoặc rất ít được tiếp xúc với Hán học mà chủ yếu được đào tạo theo quốc học. Về mặt sử dụng hình ảnh, cũng có những điểm cho ta thấy sự khác biệt. Một ví dụ đơn giản: hình ảnh bông hoa ti gôn. Ti gôn là một thứ hoa của phương Tây du nhập vào Việt Nam trước đó không lâu. Vào thời ấy, nó là loài hoa của những gia đình trưởng giả. Nó có thể quen thuộc với những thi sĩ hiện đại như Xuân Diệu, Huy Cận, nhưng nó sẽ xa lạ với một nhà thơ chân quê như Nguyễn Bính hoặc một nhà thơ áo bào gốc liễu như Thâm Tâm. Nếu cần dùng hình ảnh một loài hoa nào đó để làm thơ thay cho người khác thì với Thâm Tâm, có lẽ ông sẽ dùng hoa gạo, hoa lý, hoa xoan... còn với Nguyễn Bính thì ông sẽ dùng hoa cải, hoa cà, hoa chanh, hoa mướp... để gợi cảm hứng. Thâm Tâm và Nguyễn Bính quyết không bao giờ dùng thứ hoa ti gôn xa lạ ấy: "Hoa chanh nở giữa vườn chanh/Thầy u mình với chúng mình chân quê" (Thơ Nguyễn Bính), "Trăm giàn lý đỏ đã lên hoa/Tâm sự in như cảnh ác tà" (Thơ Thâm Tâm).

Thế nhưng hình ảnh trong thơ T.T.Kh thì lại khác. Nhiều hình ảnh trong thơ T.T.Kh không thể có được trong thơ của Thâm Tâm hoặc Nguyễn Bính: nhặt cánh hoa rơi, buồn quá xem tiểu thuyết, tiếng lá thu khô... Những hình ảnh này rất "Tây", tiêu biểu cho một tầng lớp thị dân "chính cống" chứ không phải "từ quê lên tỉnh" như Nguyễn Bính.

Đến đây, chúng tôi muốn đi vào điều cốt lõi hơn nữa. Một điều rất rõ là khi đọc các bài thơ của T.T.Kh, người ta có cảm giác ngay lập tức tác giả phải là một người phụ nữ. Thế nhưng như đã thấy, nhiều người vẫn cho rằng T.T.Kh là đàn ông. Bởi vậy chúng ta cần tìm hiểu xem liệu có thể xảy ra điều giả định ấy được không? Điều này cũng góp phần loại bỏ bớt những "ứng viên" là nam giới.

Thật ra, nhiều câu thơ của T.T.Kh thể hiện rất rõ tính nữ trong đó. Đọc kỹ những câu thơ của T.T.Kh, có những câu dường như chỉ là tác giả nữ thì mới viết như thế: "Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng/Trời ơi người ấy có buồn không" (Hai sắc hoa ti gôn). Chúng ta phải thừa nhận điều này, đàn ông và phụ nữ có cách nói, cách nghĩ khác nhau. Có những điều, đàn ông nghĩ thế này nhưng phụ nữ sẽ nghĩ thế khác. Chẳng hạn người đàn ông thường lo người mình yêu bị khổ còn phụ nữ sẽ lo người mình yêu bị buồn. Cho nên là phụ nữ thì T.T.Kh mới viết câu: "Trời ơi người ấy có buồn không". Ta tin rằng Thâm Tâm hoặc Nguyễn Bính sẽ không bao giờ viết câu này nếu họ là tác giả của bài thơ. Trong ba bài thơ có khá nhiều câu thể hiện cách nghĩ cách nói của người phụ nữ mà đàn ông không thể nghĩ và nói: "Từ đấy, thu rồi, thu, lại thu/Lòng tôi còn giá đến bao giờ?/Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ.../Người ấy cho nên vẫn hững hờ". Đây là những cảm nhận hết sức tinh tế của một người phụ nữ, hơn nữa là người phụ nữ đã có chồng. Đàn ông không thể làm được những câu thơ này.

Chúng tôi muốn nói với bạn đọc điều này: thơ là tiếng nói của tâm hồn, là sự thể hiện ra bằng ngôn ngữ những tâm tư tình cảm của con người. Nếu là một người hóa thân thành người khác để làm thơ thì rất khó, ngoại trừ đấy là thể loại truyện thơ. Đọc những vần thơ của T.T.Kh, ta thấy tràn ngập trong đó những nỗi niềm tâm sự, những xót xa ngậm ngùi, những buồn thương uất hận: "Tôi oán hờn anh mỗi phút giây/Tôi run sợ viết bởi rồi đây/Nếu không yên được thì tôi chết/Đêm hỡi, làm sao tối thế này" (Bài thơ cuối cùng), "Là giết đời nhau đấy phải không/Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung/Giận anh em viết dòng dư lệ/Là chút dư hương điệu cuối cùng" (Bài thơ cuối cùng), "Đâu biết lần đi một lỡ làng/Dưới trời gian khổ chết yêu đương/Người xa xăm quá tôi buồn lắm/Trong một ngày vui pháo nhuộm đường" (Hai sắc hoa ti gôn)...

Với những câu thơ này, làm sao có thể tin rằng do một người khác phái "đóng vai" để tạo ra? Làm sao từ một câu chuyện tình phụ tầm thường nhạt nhẽo giữa Thâm Tâm với một cô gái mang tên Trần Thị Khánh nào đó mà thi sĩ viết nên được những câu thơ đớn đau thế này? Thật là ngây thơ khi chúng ta tin rằng Thâm Tâm hay Nguyễn Bính có thể là tác giả của những bài thơ mang tên T.T.Kh. T.T.Kh dứt khoát phải là một tác giả nữ.

Kỳ 4: Mối quan hệ giữa T.T.Kh và tác giả truyện ngắn

                                                                                  
T.T.Kh đã sáng tác nên những bài thơ tình bất hủ vì chuyện ngang trái tình duyên. Điều này thì đã quá rõ. Nhưng ta cần biết ai là người đã làm cho thi sĩ đớn đau đến tột cùng khiến phải thốt ra những lời thơ thấm đẫm đầy nước mắt ấy? Đây là một câu hỏi quan trọng. Giải đáp được câu hỏi này là ta có trong tay chiếc chìa khóa để có thể mở cánh cửa đi sâu vào những ngóc ngách bí ẩn bên trong câu chuyện kỳ lạ này.

Hãy đọc lại bài thơ đầu tiên của T.T.Kh. Hai sắc hoa ti gôn là bài thơ hay nhất trong ba bài thơ và là bài thơ mà tác giả viết ngay sau khi đọc được truyện ngắn Hoa ti gôn. Điều dễ nhận thấy đầu tiên là bài thơ như "họa" lại truyện ngắn, từ hình thức cho đến nội dung. Khởi đầu là cái tựa: Hoa ti gôn - Hai sắc hoa ti gôn. Truyện ngắn mở đầu bằng hình ảnh một ông họa sĩ già ngày nào cũng tỉ mẩn bên những cánh hoa: "Sáng nào cũng vậy, hết giờ dạy vẽ ở trường Mỹ thuật về qua phố Tràng Tiền, họa sư Lê cũng không quên mua một bó hoa ti gôn". Chuyện tình thơ cũng bắt đầu từ những kỷ niệm êm đềm với loài hoa có cái tên Tây ấy: "Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn/Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn/Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc/Tôi chờ người đến với yêu đương".

T.T.Kh và Thanh Châu đã lấy cùng một loài hoa để khơi dòng tâm sự. Thứ hoa dây leo có những cành nhỏ nhắn dễ thương trổ ra vô số nụ, năm cánh chụm lại thành "hình quả tim", trong một hai ngày sẽ nở bung ra. Thế là "quả tim vỡ". "Người ấy thường hay vuốt tóc tôi/Thở dài trong lúc thấy tôi vui/Bảo rằng: " Hoa dáng như tim vỡ/Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi".

Hoa dáng như tim vỡ là một chi tiết quan trọng. Thật ra bây giờ khi loài hoa này đã quá nổi tiếng thì nhìn nó, người ta có thể nghĩ đến hình dáng quả tim vỡ làm nhiều mảnh nhưng vào thời điểm câu chuyện này chưa xảy ra, khó có ai nghĩ đến điều này. Quan sát kỹ nụ hoa ti gôn ta thấy rằng, thật khéo tưởng tượng thì mới nghĩ ra được như thế. Thế mà câu chuyện của Thanh Châu và câu chuyện của T.T.Kh đều xoay quanh cái chi tiết "quả tim vỡ" ấy. Không hiểu vì sao những nhân vật trong thơ và trong truyện có cách nhìn giống nhau đến vậy? T.T.Kh nói rằng đó chẳng qua chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên: "Buồn quá hôm nay xem tiểu thuyết/Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa".

Như vậy là ta đoán nhầm? Vì T.T.Kh đã nói rõ rằng hai người không quen biết gì nhau. Chẳng qua chỉ là sự tình cờ. Nhưng ta vẫn thấy có quá nhiều băn khoăn. Vì lẽ gì cánh hoa ti gôn ấy lại ám ảnh cả hai người như vậy?

Trong truyện ngắn, cánh hoa ti gôn từ chỗ là nguồn cảm hứng bao la của chàng họa sĩ trẻ khi gặp người con gái cho đến chỗ là thông điệp của bi kịch khi chàng nhận phong thư báo tang viền đen có ép một dây hoa ti gôn nhỏ rơi ra. Trong bài thơ, cánh hoa ti gôn từ chỗ là niềm vui, niềm mong đợi của người con gái: “Tôi chờ người đến với yêu đương” cho đến chỗ kết thúc một mối tình: “Có thầm nghĩ đến loài hoa vỡ/Tựa trái tim phai, tựa máu hồng”.

Bài thơ thứ nhất nối tiếp những điều mà Hai sắc hoa ti gôn chưa nói hết:"Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên/Bỗng ai mang lại cánh hoa tim/Cho tôi ép nốt dòng dư lệ/Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên".

Bạn đọc hãy lưu ý đến những cánh hoa ti gôn. Không chỉ trong bài thơ trước mới có mặt chúng, loài hoa này hầu như luôn hiện diện trong câu chuyện tình buồn này. Lẽ ra ta nên gọi nghi án văn học này là nghi án văn học hoa ti gôn. Hoa ti gôn - chính thứ hoa "sắc đỏ, sắc hồng, sắc trắng năm nào cũng vậy, một mùa tàn lại một mùa nở" như lời tả trong tiểu thuyết Gánh hàng hoa của nhà văn Khái Hưng mà Thanh Châu lấy làm đề tựa cho truyện ngắn Hoa ti gôn mới là đầu dây mối nhợ của mọi chuyện. Nếu không có hoa ti gôn, ta sẽ không bao giờ có những bài thơ tuyệt tác của T.T.Kh, không bao giờ có được câu chuyện tình văn chương kỳ lạ này.

Nhưng ta hãy chú ý điều này: trong bài thơ thứ hai, T.T.Kh không còn nhìn những cánh hoa ti gôn với vẻ lãng mạn u buồn của nó nữa. Nàng có vẻ như giận người nhắc đến cánh hoa ti gôn: "Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên/Bỗng ai mang lại cánh hoa tim/Cho tôi ép nốt dòng dư lệ/Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên".

Chúng ta thấy hé lộ ra một điều không bình thường. Lúc trước nàng bảo, ngồi buồn đọc báo Tiểu thuyết thứ bảy, bắt gặp truyện ngắn Hoa ti gôn, thấy ai cũng có tâm trạng giống mình nên cảm xúc viết ra bài thơ gửi đăng báo cho vơi bớt nỗi lòng, thế mà bây giờ lại có ý trách người viết truyện.

Bạn đọc hỏi, có thấy nàng giận hờn trách móc chỗ nào đâu? Có đấy! Nàng trách nhưng mà trách khéo lắm. Trách mà không có lời trách. Ta hãy đọc tiếp: "Đẹp gì một mảnh lòng tan vỡ/Đã bọc hoa tàn dấu xác xơ". Ý nàng muốn nói rằng, còn gì đâu nữa, giờ mọi chuyện đã lỡ làng hết cả rồi, tình tan nát như loài hoa tim vỡ rồi, người nhắc đến chuyện xưa làm gì nữa.

Dường như nàng đang đối thoại với người viết truyện qua bài thơ. Nhưng nàng đối thoại một cách rất khéo, khiến không ai nghi ngờ điều gì. Nhờ tài hoa, nàng đã làm được điều đó mà không ai nhận thấy trong gần cả thế kỷ qua. Đây là lời dặn của nàng: "Viết đoạn thơ đầu lo ngại quá/Vì tôi còn nhớ hẹn nhau xưa:/“Cố quên đi nhé câm mà nín/Đừng thở than bằng những giọng thơ".

Nhưng thật không may. Bài thơ cuối cùng đã làm nàng lộ tẩy. Nàng không thể giữ kín cuộc đối thoại: "Đã lỡ thôi rồi chuyện biệt ly/Càng khơi càng thấy lụy từng khi/Trách ai mang cánh "ti gôn" ấy/Mà viết tình em được ích gì?"

Trách ai mang cánh "ti gôn" ấy! Bạn đọc đã thấy chưa! Thật là giấu đầu hở đuôi. Nàng đã quên cả giữ ý tứ, đi trách một người mà nàng bảo là không quen biết. Cái bọc đã không giấu nổi cây kim. Ấy là vì chuyện Bài thơ đan áo mà chúng tôi sẽ nói ở sau làm cho nàng bực bội. Đến đây, chúng ta thấy được một điều quan trọng: Hóa ra tác giả truyện ngắn Hoa ti gôn không phải là người dưng. Bởi có mối quan hệ gì thì mới đi trách người chứ!...


Kỳ 5: Ai là người yêu của T.T.Kh?  

Thưa bạn đọc, chúng tôi đã có dịp nói chuyện với nhà văn Thanh Châu và chỉ ra với ông việc T.T.Kh đã trách ông. Nhà văn cũng đồng ý với chúng tôi rằng quả thật câu thơ của T.T.Kh có hàm ý như thế.

Đến đây, chúng tôi muốn tạm gác câu chuyện hoa ti gôn lại trong chốc lát để chuyển qua chuyện Bài thơ đan áo. Bài thơ này nhiều người không chịu thừa nhận là của T.T.Kh. Quả thật sự xuất hiện của nó cũng tương đối bất thường. Thứ nhất là nó không đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy mà lại đăng ở báo khác. Thứ hai là về hình thức, nó cũng khác ba bài thơ kia. So sánh với ba bài kia, Bài thơ đan áo có vẻ thô vụng hơn nhiều. Đặc biệt trong khi ba bài thơ của T.T.Kh đều là thơ bảy chữ thìBài thơ đan áo lại theo thể thơ lục bát. Thật là vô lý khi T.T.Kh đang rất điêu luyện trong thể thơ bảy chữ lại nhảy qua thơ lục bát để rồi lúng túng trong lối thơ này đến nỗi đôi chỗ vần không được nhuyễn. Chính những vướng mắc trên đã khiến người ta nghi ngờ bài thơ này là của người khác giả mạo T.T.Kh.

Thế nhưng T.T.Kh lại không hề lên tiếng cải chính mà ngược lại trong Bài thơ cuối cùng nàng lại nhắc đến nó: "Bài thơ đan áo nay rao bán/Cho khắp người đời thóc mách xem". Hiểu thế nào cho đúng về vấn đề này? Ai là người đã viết Bài thơ đan áo? Chúng ta nhớ một điều, Bài thơ đan áo ngoài những bất thường như nói trên còn có điểm khác biệt rất lớn với ba bài thơ kia. Đó là tác giả không viết cho người ấy mà viết cho một người chị nào đó: "Chị ơi, nếu chị đã yêu/Đã từng lỡ hái ít nhiều đau thương".

Chi tiết này lại khá khớp với Bài thơ cuối cùng . Trong bài thơ đó, T.T.Kh đã nhắc đến một người nào đó ngoài người ấy: "Chỉ có ba người đã đọc riêng/Bài thơ đan áo của chồng em". Ba người ấy là ai? Phải chăng là có mặt cả người chị trong Bài thơ đan áo?

Ở trên, chúng ta có nói đến mối quan hệ giữa tác giả truyện ngắn và tác giả thơ. Qua phân tích cuộc "đối thoại", chúng ta đã thấy được phần nào mối quan hệ "không phải người dưng" giữa họ. Tác giả truyện ngắn, tức nhà văn Thanh Châu chính là nhân vật ai mà nàng đã trách "Trách ai mang cánh "ti gôn" ấy/Mà viết tình em được ích gì". Chúng ta tiếp tục phân tích thêm. Trước hết khẳng định Thanh Châu chính là nhân vật ai trong các câu thơ. Nhưng trong thơ T.T.Kh, ngoài ai ra còn có thêm nhân vật anh: "Giận anh em viết dòng dư lệ/Là chút dư hương điệu cuối cùng". Vậy nhân vật ai này và nhân vật anh trong câu thơ trên là hai người hay một người?

Có thể có hai trường hợp: Ai là một người bạn của nàng, hoặc ai chính là người yêu của nàng, tức ai chính là anh. Nếu xảy ra trường hợp đầu thì Thanh Châu chỉ là người bạn của T.T.Kh, được biết đến chuyện tình duyên ngang trái của nàng nên cảm hứng viết nên truyện Hoa ti gôn . Nếu xảy ra trường hợp sau thì Thanh Châu chính là người yêu của T.T.Kh.

Chúng ta chú ý, trong ba bài thơ, chỉ có Bài thơ cuối cùng là nàng đối thoại trực tiếp với người yêu mình: "Anh hỡi, tháng ngày xa quá nhỉ?". Tại sao như vậy? Là vì lúc này nàng đang giận chàng. Nàng muốn nói chuyện "đâu ra đấy" với chàng một lần cho xong. Chúng ta đọc thêm khổ thơ thứ năm: "Từ đây anh hãy bán thơ anh/Còn để yên tôi với một mình". Ta thấy lúc này nàng cự cãi với chàng một cách khá căng thẳng. Có lẽ chàng vừa gây ra một lỗi lầm gì đó làm cho nàng giận. Liên hệ đến khổ thơ thứ ba có câu "Bài thơ đan áo nay rao bán/Cho khắp người đời thóc mách xem" thì ta sẽ hiểu ngay chuyện gì. Đó là chuyện Bài thơ đan áo, chàng đã lấy nó đem "rao bán" làm cho nàng bực tức. "Rao bán" là từ mà nàng ví von cho hả tức chứ thực sự là chàng đã để lọt bài thơ đó ra ngoài. Bài thơ này vì một lẽ gì đó mà nàng không muốn cho ai đọc. Việc đăng báo bài thơ này có lẽ gây nên điều gì hệ trọng lắm nên nàng đã hết sức tức giận: "Là giết đời nhau đấy biết không".

Hãy để ý thêm chút nữa. Sau khi nói xong chuyện Bài thơ đan áo, nàng liền quay sang chuyện những cánh hoa ti gôn: "Những cánh hoa lòng, hừ đã ghét/Thì đem mà đổi lấy hư vinh". Chúng ta thấy rất rõ: người gây ra chuyện Bài thơ đan áo cũng chính là người nhắc đến những cánh hoa ti gôn. Trước thì nàng cố giấu nhưng bây giờ vì đang tức giận nên nhân nói chuyện này nàng nói qua chuyện kia một thể luôn.

Như vậy thì nhân vật ai, người liên quan đến những cánh hoa ti gôn (Trách ai mang cánh ti gôn ấy) và nhân vật anh, người yêu của nàng (Anh hỡi tháng ngày xa quá nhỉ) chính là một.

Như vậy mối quan hệ là đã rõ. Thanh Châu chính là người yêu của T.T.Kh. Điều này cũng phù hợp với lời kể của nàng ở khổ thơ đầu trong Bài thơ thứ nhất rằng người yêu nàng là một chàng văn nghệ sĩ: "Thuở trước hồn tôi phơi phới quá/Lòng thơ nguyên vẹn một làn hương/Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu lại/ Êm ái trao tôi một vết thương".

Thật sự ta đã giải mã được vấn đề quan trọng là tìm ra người ấy của T.T.Kh. Đến đây, chúng tôi muốn trở lại vấn đề ai đã viết Bài thơ đan áo. Như trên đã phân tích, bài thơ này có một số điểm khác biệt so với ba bài thơ kia về thể loại, về giá trị nghệ thuật. Tuy nhiên, có một đặc điểm quan trọng nhất thì nó lại không khác, đó là phong cách sáng tác. Bài thơ đan áo cũng được viết bởi một ngôn ngữ dung dị rất "T.T.Kh": "Chị ơi nếu chị đã yêu/Đã từng lỡ hái ít nhiều đau thương". Chúng tôi cho rằng, bài thơ này cũng là của T.T.Kh nhưng được viết trước ba bài thơ kia rất lâu. Bạn đọc có thể thắc mắc: vì sao Bài thơ đan áo không hay như mấy bài thơ kia. Đó là do hoàn cảnh sáng tác. Trước đây, T.T.Kh chỉ sáng tác để gửi cho người chị nào đó của mình đọc nên có thể cảm xúc không trào dâng bằng viết cho người mình yêu.
 

Kỳ 6: Ai có thể là T.T.Kh?
                                          
Quá trình lần theo dấu vết con người bí ẩn này, chúng ta đã đưa ra được một số tiêu chí để xác định ai có thể là T.T.Kh. Thứ nhất, T.T.Kh phải là một người phụ nữ. Thứ hai, T.T.Kh phải là người thân thiết với nhà văn Thanh Châu. Cụ thể hơn, người đó phải là người yêu của nhà văn Thanh Châu. Như vậy, ta phải loại bỏ tất cả các "ứng viên" là nam giới như Thâm Tâm, Nguyễn Bính, J.Leiba... cùng một số "ứng viên" nữ như Trần Thị Khánh...

Vậy còn lại ai sẽ là người phù hợp với T.T.Kh? Đến đây, có lẽ ta cần cho nhân vật thật xuất hiện để đối chiếu. Trong số những người phụ nữ được giả định trước đây, chỉ có một "ứng viên" duy nhất phù hợp với vị trí của T.T.Kh theo tiêu chí nói trên. Đó chính là bà Trần Thị Vân Chung, người được tác giả Thế Nhật phát hiện ra và tiết lộ trong cuốn sách T.T.Kh, nàng là ai? Đây là nhân vật đã gây ra nhiều tranh cãi trên công luận vào năm 1994.

Xin nhắc lại một số thông tin về bà Trần Thị Vân Chung. Bà sinh năm 1919 tại Thanh Hóa. Sinh trưởng trong một gia đình khá giả, lớn lên lập gia đình với một người đỗ cử nhân luật, có lúc làm quan tri huyện, về sau làm đến chức Tổng trưởng Quốc phòng trong chế độ Sài Gòn.

Về văn chương, bà Vân Chung là người thường hay làm thơ, viết văn với bút danh Vân Nương, Tam Nương... Bà tham gia nhóm thơ Quỳnh Dao - nhóm thơ của những người phụ nữ đài các trưởng giả lúc trước ở miền Nam, thường làm thơ xướng họa với nhau như một sinh hoạt tinh thần. Nữ sĩ Mộng Tuyết cũng là một trong những chủ soái của nhóm thơ này. Bà đã có một số thơ đăng trên các báo ở Sài Gòn trước năm 1975. Năm 1986, bà cùng các con xuất cảnh sang Pháp. Bà vẫn tiếp tục làm thơ đăng trên các tạp chí tiếng Việt ở nước ngoài.

Năm 1994, khi cuốn sách T.T.Kh, nàng là ai? ra đời, nêu đích danh tên tuổi bà Vân Chung, thì chính bà Vân Chung đã công khai lên tiếng phủ nhận mình là T.T.Kh. Thư của bà từ Pháp gửi về được đăng tải trên Thanh Niên và một số tờ báo khác. Ngoài ra có một số độc giả cũng viết bài gửi đến báo, không tin bà Vân Chung chính là T.T.Kh. Điều này đã làm nhiều người ngờ vực tính chân thực của cuốn sách nói trên. Bởi vì cuốn sách được viết ra dựa trên sự tiết lộ vô tình của một người khác là bà Thư Linh, người quen biết với bà Vân Chung sau năm 1975 chứ tác giả không có thông tin trực tiếp.

Nhưng bên cạnh đó, một số tác giả lại ủng hộ việc cho rằng T.T.Kh chính là Trần Thị Vân Chung. Chẳng hạn tác giả T.N trên Báo Tuổi Trẻ chủ nhật ngày 2/10/1994 viết: "Đưa ra tên tuổi thật của T.T.Kh, với đầy đủ cuộc đời, nguồn gốc. Một nghi án văn học đã quá lâu, nay lỡ biết rồi thì không thể không công bố". Tác giả Ngọc Tình trên Báo Sài Gòn Giải Phóng vào ngày 9.10.1994 cũng viết: "Cuối cùng bí mật đã được phát giác, tác giả cuốn sách giải trình đầy đủ tư liệu hơn nửa thế kỷ qua". Báo Lao Động số ra ngày 13/10/1994 viết: "Một nghi án văn học đã gần 60 năm quanh một chùm thơ nổi tiếng của tác giả T.T.Kh. Đến nay, Thế Nhật với những tư liệu và chứng cứ rõ ràng mới bật mí được câu chuyện tình lãng mạn bậc nhất trong văn học Việt Nam này".

Các ý kiến của người quan tâm rất không thống nhất với nhau như vậy. Riêng chúng tôi, khi xem xét lại tất cả các vấn đề, thật đáng ngạc nhiên là chúng tôi thấy bà Vân Chung có một nhân thân phù hợp với T.T.Kh đến kỳ lạ.

Trước hết, bà Vân Chung chính là người yêu của nhà văn Thanh Châu, tác giả truyện ngắn Hoa ti gôn. Đây là thông tin được chính nhà văn Thanh Châu xác nhận - một điều trước nay chưa từng được tiết lộ bởi người trong cuộc. Đây là một điều tối quan trọng, đáp ứng tiêu chí cần phải có của T.T.Kh (xin nhấn mạnh lại một lần nữa, bất cứ nhân vật nào, muốn là "ứng viên" để vào vị trí T.T.Kh thì theo quan điểm của chúng tôi, người đó phải là người yêu của nhà văn Thanh Châu).

Nhà văn Thanh Châu cùng sinh trưởng ở thị xã Thanh Hóa như bà Vân Chung, gia đình thuộc dòng dõi quan lại nhưng đến thời của ông thì gia cảnh sa sút. Ngược lại, gia đình bà Vân Chung lúc đó làm kinh doanh buôn bán, kinh tế khá giả hơn rất nhiều.

Thanh Châu là bạn của người anh ruột bà Vân Chung. Ông có dịp trò chuyện với cô em của người bạn mình là bà Vân Chung khi đi trên chuyến tàu từ Hà Nội về Thanh Hóa. Cuộc gặp gỡ định mệnh này đã khởi đầu cho một cuộc tình đầy nước mắt về sau.

Trở về Thanh Hóa, hai người tiếp tục qua lại với nhau và tình cảm ngày càng thắm thiết. Gia đình hai bên cũng đều biết việc này nhưng cuộc tình duyên không đi đến đoạn kết vì vấn đề môn đăng hộ đối. Sau cú sốc này, Thanh Châu ra Hà Nội sống, Vân Chung ở lại quê nhà, một thời gian sau thì đi lấy chồng. Chi tiết này phù hợp với câu thơ trong Bài thơ thứ nhất: "Ở lại vườn Thanh có một mình/Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh/Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo/Yêu bóng chim xa nắng lướt mành".

Ra Hà Nội một thời gian, Thanh Châu nhận được tin tức từ gia đình nhắn ra cho biết bà Vân Chung chuẩn bị lên xe hoa về nhà chồng. Câu thơ tiếp theo của T.T.Kh viết đúng như hoàn cảnh của bà Vân Chung: "Và một ngày kia tôi phải yêu/Cả chồng tôi nữa lúc đi theo/Những cô áo đỏ sang nhà khác/Gió hỡi làm sao lạnh rất nhiều".

Mối tình giữa Thanh Châu và Vân Chung là một mối tình văn chương cao đẹp vì cả hai người đều có tâm hồn văn nghệ sĩ. Truyện ngắn Hoa ti gôn của Thanh Châu thể hiện đầy chất lãng mạn và những bài thơ của Vân Chung viết sau này cũng thật lãng mạn mà chúng tôi sẽ giới thiệu với bạn đọc trong kỳ tới để tiện so sánh với thơ T.T.Kh.

Sau khi chia tay, hai người không có điều kiện gặp lại nhau nữa vì đến năm 1954, hai miền Nam Bắc chia đôi, Vân Chung đã cùng chồng vào Nam còn Thanh Châu ở lại quê nhà. Mãi cho đến bốn mươi năm sau, khi miền Nam giải phóng, Thanh Châu mới tìm vào Sài Gòn để thăm lại cố nhân.

Nhà văn Thanh Châu đã trực tiếp xác nhận chừng đó thông tin với chúng tôi. Nhưng ông không đồng ý khi chúng tôi đặt vấn đề rằng T.T.Kh chính là bà Trần Thị Vân Chung. Vì vậy, chúng ta hãy tiếp tục so sánh đối chiếu.

Kỳ 7: Sự phù hợp giữa Trần Thị Vân Chung và T.T.Kh

Chúng ta thấy, trước hết việc giả định Trần Thị Vân Chung chính là T.T.Kh đã giải quyết được nhiều vướng mắc trong nghi án. Chẳng hạn chi tiết "vườn Thanh" làm nhiều người tranh cãi kịch liệt từ bao năm nay sẽ trở nên rất đơn giản khi đưa vào đây. Nếu chúng ta chấp nhận Vân Chung là T.T.Kh thì vườn Thanh sẽ được hiểu đơn giản hơn: đó là một cách nói hoa mỹ để chỉ thị xã Thanh Hóa, nơi mà hai người có nhiều kỷ niệm trong thời gian quen biết nhau.

Chúng ta hãy xét về nhân thân bà Vân Chung để so sánh với T.T.Kh. Trong phần phân tích thơ T.T.Kh, chúng ta đã đưa ra nhận định, tác giả này phải là một người sinh trưởng trong một gia đình khá giả, thuộc tầng lớp tân học. Điều này rất đúng với trường hợp của bà Vân Chung. Và Thanh Châu cũng là một người tân học: trước học cao đẳng tiểu học Vinh, sau ra Hà Nội học trường đạo.

Một điều quan trọng nữa là tuổi của "ứng viên". Theo xác nhận của chính bà Vân Chung, thì bà sinh năm 1919, tính đến năm 1937 là bà đã 18 tuổi tròn. Đó là tính theo tuổi Tây. Còn theo tuổi ta thì đã 19. Như vậy bà hoàn toàn có thể lấy chồng hoặc chồng đi dạm hỏi vào trước năm 1937. Vậy thì đến tháng 9/1937, nếu là T.T.Kh thì bà có thể viết trong Hai sắc hoa ti gôn: "Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng/Trời ơi! Người ấy có buồn không".

Cũng cần nhắc lại là khi bà Vân Chung lấy chồng, ông Thanh Châu ở Hà Nội chứ không ở quê nhà. Vì thế cho nên Vân Chung mới nghĩ rằng ông không biết việc bà đi lấy chồng. Chi tiết này phù hợp với câu thơ "Nếu biết rằng...".

Đến đây ta tạm dừng việc so sánh đối chiếu lại một chút để đọc lại những trang viết của ông Thanh Châu. Liên quan đến nghi án này, Thanh Châu đã viết cả thảy hai tác phẩm. Một là truyện ngắn Hoa ti gôn mà từ đó có thơ của T.T.Kh "họa" lại. Hai là bài tùy bút Những cánh hoa tim vào năm 1939 để kết lại câu chuyện. Ta thấy gì trong những trang viết của Thanh Châu?

Khi xa Vân Chung ra Hà Nội, Thanh Châu đã hết sức sầu thương về mối tình ấy. Trong bài tùy bút Những cánh hoa tim đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy, ông viết: "Vì tôi thấy tôi cảm thấu hết được những cái gì là tê tái trong tình ái. Tôi có tất cả tâm sự của một người đã từng chua xót vì yêu". Đó chính là sự chua xót về mối tình giữa ông và Vân Chung mà ngày nay ông đã xác nhận.

Vào thời gian này, tiểu thuyết Đoạn tuyệt của Nhất Linh cũng vừa mới ra đời. Đó là cuốn tiểu thuyết luận đề, có ý nghĩa đả phá những tập tục hôn nhân gia đình phong kiến ngự trị ngàn năm trong xã hội Việt Nam. Thế nhưng Nhất Linh cũng không sắp xếp nổi cho nhân vật Loan của mình trốn đi với Dũng mà phải để cho hai người chia tay nhau, Loan lên xe hoa về nhà chồng, Dũng cất bước ra đi chốn hải hồ. Ấy là vì lúc này hoàn cảnh xã hội chưa cho phép nhà văn thực hiện cuộc cải cách quá mạnh mẽ như vậy, dù là trong tiểu thuyết. Bởi quan niệm cổ xưa còn hết sức nặng nề. Như thế để thấy rằng, vào thời kỳ 1935 - 1937, những cô gái dù tân học đến mấy cũng rất khó có thể thoát ra được ngoài vòng cương tỏa của chế độ gia đình phong kiến. Tình cảnh của Thanh Châu và Vân Chung có lẽ cũng tương tự như tình cảnh của Dũng và Loan.

Trong truyện ngắn Hoa ti gôn của Thanh Châu, nhân vật chính là họa sư Lê đã rủ Mai Hạnh trốn đi Nhật để cùng nhau xây cuộc đời mới. Đó là lòng khát khao của những người đang yêu trước cảnh ngang trái tình duyên. Tuy nhiên, nhân vật Mai Hạnh không đủ can đảm thực hiện vì "em không phải là loại đàn bà có thể vượt hết được những khó khăn như anh tưởng", vì "em bỗng sợ, em sợ gia đình tan tác, khổ thân thầy mẹ em". Những chi tiết, hình ảnh tiếp theo trong truyện ngắn mang đầy ẩn ý. Chẳng hạn như chi tiết nhân vật Mai Hạnh chết đi, chi tiết dây hoa ti gôn trong thư báo tang rơi ra, chi tiết họa sư Lê đặt bó hoa lên nấm mộ nàng... Những chi tiết ấy mang đầy sự trách móc, hờn giận, đớn đau. Nửa phần muốn chôn chặt tình yêu xuống đáy mồ sâu, nửa phần nhớ thương quay quắt cuồng dại mãi không thôi. Ta tin rằng những nỗi niềm của nhân vật chính là nỗi niềm của tác giả. Những hoài niệm, u uất của nhân vật về những "cánh hoa tim vỡ" là của Thanh Châu.

Năm 1939, sau khi câu chuyện T.T.Kh đã đi qua, Thanh Châu cho đăng bài tùy bút Những cánh hoa tim trên Tiểu thuyết thứ bảy. Bài tùy bút này, một mặt ông phủ nhận mọi sự dính líu đến T.T.Kh, một mặt ông giãi bày tâm sự của mình.

Chính ra Thanh Châu đã bị ám ảnh bởi những cánh hoa ti gôn khi ông viết trong Những cánh hoa tim: "Một mùa thu cũ, tôi đã ngắt những bông hoa ấy trong tay và vò nát chúng nó đi trước một giàn hoa. Đó là thời kỳ tôi ốm dậy, buổi chiều thường đi thơ thẩn trong sân". Ta nhớ rằng, tác phẩm Hoa ti gôn là truyện ngắn nhưng tác phẩm Những cánh hoa tim là tùy bút. Mà tùy bút là nói chuyện thật chứ không nói chuyện hư cấu. Thanh Châu đã vò nát những cánh hoa ti gôn vì lẽ gì? Phải chăng vì nó đã từng là "chứng nhân" một thời của tình yêu giữa ông và Vân Chung? Thanh Châu viết tiếp trong bài: "Bỗng nhiên, nhìn những cánh hoa đỏ trong tay, tôi nghĩ đến một quả tim rớm máu".

Trong những phần trước, chúng ta đã nhắc đến chuyện những cánh hoa ti gôn. Giờ đây ta lại thấy rõ hơn chút nữa. Như vậy chính ra Thanh Châu là người đầu tiên nhìn thấy bông hoa ti gôn có hình quả tim vỡ chứ không phải nhân vật truyện ngắn họa sư Lê. Giữa Thanh Châu và Vân Chung có thể đã có nhiều kỷ niệm về loài hoa "đỏ như màu máu thắm phai" này. Cho nên Thanh Châu trong một đêm buồn bã nhớ nhung hoài niệm về mối tình xưa, xót xa nghĩ lại những cánh hoa tàn úa thuở nào, đã không kìm nổi lòng mình mà cầm bút viết nên truyện ngắn để giải tỏa cảm xúc, cũng là để gửi về "vườn Thanh" cho người xưa.

Vào thời kỳ 1937, những cô gái có tâm hồn văn chương lãng mạn đều tìm đọc tạp chí Tiểu thuyết thứ bảy. Vì thế truyện ngắn này đã đến tay Vân Chung ngay lập tức. Đọc xong truyện ngắn, Vân Chung chắc chắn cũng đau lòng không kém. Trong tình cảnh như thế, thì một người như Vân Chung hiển nhiên phải làm thơ để gửi lại cho Thanh Châu. Và những bài thơ ấy, rất có thể là những bài Hai sắc hoa ti gôn, Bài thơ thứ nhất, Bài thơ cuối cùng lắm chứ? Tại sao không?

Đến đây chúng tôi muốn trở lại với riêng bà Vân Chung. Trước đây có người đưa ra một số "ứng viên" nữ, nhưng không thấy nhắc đến lý lịch văn học của những người đó. Chúng ta nhớ rằng, nếu là T.T.Kh thì dứt khoát phải là một người cầm bút. Ít ra là phải như bà Vân Chung, có thơ in thành tập, có sinh hoạt văn học nơi này nơi kia, có thơ đăng báo...

Chúng tôi đã cố gắng sưu tầm được một ít thơ của bà Vân Chung để bạn đọc có thể đánh giá chúng. Trước hết xin đọc vài câu thơ của bà Vân Chung viết về mùa thu:
Nhớ những mùa thu trước
Êm cảnh thanh bình
Trăng ngà trải lụa thiên thanh
Khuôn hoa e ấp trên cành thắm tươi
Thế rồi
Bão táp mưa sa
Trăng tàn hoa tạ
Mông mênh sầu ngập biển đời
Trời thu lộng gió để người sầu thương
(Bài thơ cuối thu, 1960)
Hơi may se cả bầu trời
Hàng cây lá đã vàng phơi ít nhiều
Nhà ai một mái tịch liêu
Chìm trong làng vắng tiêu điều chiêm bao
(Vào thu - 1993) 

Bạn đọc thấy thế nào về những câu thơ này? Có chút gì là của T.T.Kh không?
Một điều đặc biệt, bà Vân Chung luôn luôn làm thơ về mùa thu. Mười bài thơ thì có đến năm bài bà nhắc đến mùa thu rồi. Dường như bà bị ám ảnh bởi mùa thu. Đây cũng là một điểm chung với T.T.Kh.

Thơ của bà Vân Chung sau năm 1954 cho đến nay không phải là thơ hay. Hầu hết đều bình thường. Chính vì vậy mà nhiều người cho rằng bà Vân Chung không thể là T.T.Kh vì thơ bà không xứng tầm với thơ T.T.Kh. Lập luận như thế là không đúng. Thật ra không có nhà thơ nào có thể làm thơ hay suốt đời. Nhiều nhà thơ nổi tiếng nhưng về sau vẫn làm những câu thơ rất tầm thường.

Một bài thơ hay phải gắn liền với một hoàn cảnh đặc biệt. Không có hoàn cảnh đặc biệt thì khó có thể có thơ hay. Chẳng hạn Hàn Mặc Tử sẽ không thể nào sáng tác được bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ nếu người đẹp Hoàng Hoa không gửi vào cho chàng một tấm hình chụp phong cảnh bến đò Vỹ Dạ lúc chàng đang tuyệt vọng chán chường trên giường bệnh. Nếu Hữu Loan không có nỗi đau về người vợ vắn số thì không thể nào có được bài thơMàu tím hoa sim để đời. Nếu Vân Chung là T.T.Kh thì cũng thế. Chỉ trong hoàn cảnh tình duyên ngang trái lỡ làng với người yêu một cách đớn đau tột cùng thì mới sáng tác được những câu thơ như viết bằng máu thịt ấy. Đó là những tác phẩm đỉnh cao của một người làm thơ. Đó là tinh hoa tinh huyết. Còn như Vân Chung sau này, sống một cuộc đời bình thường bên cạnh người chồng giàu sang của mình, làm sao sáng tác được thơ hay, dù trước đó có là T.T.Kh đi chăng nữa. Đó là chuyện bình thường và hợp lý.

Đến đây chúng tôi muốn thưa đôi lời với nhà thơ Vân Chung và nhà văn Thanh Châu cùng quý bạn đọc. Loạt bài này cũng như cuốn sách Giải mã nghi án văn học T.T.Kh sắp xuất bản của chúng tôi chỉ là những giả định. Tuy nhiên, dù giả định nhưng nó vẫn gợi lại những vết thương cũ trong lòng hai người. Đó là một điều đáng tiếc. Tuy vậy chúng tôi không thể không viết lại câu chuyện này. Vì nó là khát khao của người yêu thơ, muốn biết T.T.Kh là ai, vì ai mà để lại cho đời những vần thơ xao xuyến cõi lòng ấy. Chính khi xưa, Hoài Thanh cũng đã từng nhắc trong Thi nhân Việt Nam: "Bốn năm đã qua từ ngày tờ báo vô tình hé mở cho ta một cõi lòng. Ai biết "con người vườn Thanh" bây giờ ra thế nào? Liệu rồi đây người có thể lẳng lặng ôm nỗi buồn riêng cho đến khi về chín suối?". Cho đến nay, đã qua bảy mươi năm, có lẽ người đã quyết định "ôm nỗi buồn riêng về nơi chín suối" rồi. Vì thế giả định này nếu đúng chắc người cũng không lên tiếng tự nhận mình là T.T.Kh. Vậy xin hãy xem đây như là một việc làm vì lòng mến yêu con người đã để lại cho đời những vần thơ say đắm ấy để có câu chuyện này.

Trần Đình Thu


 


 

Bên Ngoài Cỏi Chết - Kawabata Yasunari

 

Bên Ngoài Cõi Chết





Tác Giả Và Tác Phẩm

Kawabata Yasunari là một đại văn hào Nhật Bản. Ông được giải thưởng NOBEL
 về văn chương năm 1968. Độc giả Việt Nam biết đến ông nhiều qua các tiểu thuyết lớn như Xứ Tuyết, Ngàn Cánh Hạc, Tình Yêu Và Nỗi Buồn... Kawabata cũng viết những truyện rất ngắn. Truyện ngắn Bên Ngoài Cõi Chết dưới đây rút ra từ một tuyển tập truyện ngắn của ông, có tên là "Những Truyện Ngắn Bằng Bàn Tay."

Trong truyện này, một cô gái trẻ mười bảy tuổi trầm mình xuống biển tự tử vì gia
 đình cấm không cho gặp người yêu. Vì người con gái chết trẻ nên tình yêu trinh nữ của nàng vẫn còn vĩnh viễn nguyên vẹn. Năm mươi lăm năm sau, nàng trinh nữ ấy gặp lại người tình, nay đã già ngoài bảy mươi tuổi. Có thể họ gặp nhau trong cõi chết, mà cũng có thể là trong cõi của người sống. Kết luận của truyện cho người trinh nữ đã chết và người yêu nhập vào một cây cổ thụ, có lẽ phản ảnh quan niệm tình yêu lý tưởng của Kawabata - một thứ tình yêu tinh khiết không gợn một chút dục vọng xác thịt.

° ° °

Lão già và người thiếu nữ đang đi.

Hai người trông có vẻ kỳ cục về nhiều phương diện. Hai người cách nhau tới sáu mươi tuổi, nhưng họ dường như không hề quan tâm đến điều ấy, dù là đôi chút. Họ sát cánh bước đi bên nhau như một đôi tình nhân. Lão già thì điếc. Lão không nghe thấy những gì người thiếu nữ nói. Nàng mặc một chiếc kimono màu tím có vẽ những mũi tên nhỏ màu trắng, mặc dầu phía bên dưới được che khuất bằng một chiếc "hakama" màu tím đỏ. Ống tay áo của nàng hơi rộng. Lão già thì mặc quần áo trông giống một người đàn bà nhà quê thường mặc khi đi làm cỏ ngoài ruộng lúa. Lão không đeo bao tay hoặc vải quấn chân, nhưng áo và quần lão bằng vải trông giống quần áo của một người đàn bà. Chiếc quần quá rộng ngang thắt lưng gầy gò của lão.

Trên bãi cỏ ở phía trước hai người một quãng có một hàng rào kẽm khá cao. Tuy hàng rào kẽm chắn ngang đường đi của họ, nhưng họ hầu như không thèm để ý tới. Hai người bước qua hàng rào như một làn gió, mà không cần phải chậm bước lại. Người thiếu nữ dường như để ý đến hàng rào kẽm sau khi hai người đã đi sang bên kia hàng rào.

"Trời!" nàng nhìn lão già đăm đăm với đôi mắt dò hỏi. "Anh Shintaro, anh cũng đi xuyên qua hàng rào được, hả anh?"

Lão già không nghe thấy câu hỏi. Nhưng lão nắm lấy hàng rào và bắt đầu lay mạnh. Lão gào lên, "Đồ khốn này! Đồ khốn này!”

Lão đẩy hàng rào mạnh đến nỗi hàng rào bật ra xa khỏi lão, và làm lão ngạc nhiên. Lão lảo đảo và nắm lấy hàng rào, thân thể lão nghiêng về phía trước.

Người thiếu nữ kêu lên và chạy lại ôm lấy vai lão. "Shintaro, anh phải cẩn thận! Sao thế này? Anh hãy buông tay khỏi hàng rào đi." Rồi nàng nói thêm, "Sao bây giờ anh nhẹ thế!”

Cuối cùng lão già đứng lên được. Trong lúc lão thở hổn hển, vai lão nhô lên và hụp xuống.

"Cám ơn," lão nói và lại nắm hàng rào, lần này thật khẽ bằng một bàn tay. Rồi lão tiếp tục nói bằng một giọng nói lớn đặc biệt của người điếc, "Hết ngày này sang ngày khác, anh đã quen với việc nhặt banh gôn ở phía bên kia hàng rào này. Đó là nghề của anh trong suốt mười bảy năm.”

"Chỉ có mười bảy năm thôi à? Thế đâu có lâu dài gì!"

"Họ đánh banh về bất cứ phía nào họ thích! Trái banh âm vang lên khi đụng phải lưới. Cứ mỗi tiếng động anh lại cúi đầu xuống tránh, cho đến lúc anh quen dần. Chính những âm thanh ấy làm tai anh điếc. Cái việc làm khốn kiếp này!"

Hàng rào kẽm, dùng để bảo vệ những người xem đánh gôn, có bánh xe đẩy ở dưới và có thể đẩy đi về bất cứ phía nào của sân tập đánh gôn. Sân tập và sân gôn phân cách nhau bằng một hàng cây. Hàng cây không đứng thẳng lối vì những cây này mọc lên tự nhiên, và được để lại khi cả khu vườn được làm thành một sân chơi gôn.

Lão già và thiếu nữ bắt đầu bước xa khỏi hàng rào.

Thiếu nữ nói, "Anh có thể nghe thấy những âm thanh thân yêu cũ của sóng biển." Muốn cho lão già nghe thật rõ, nàng ghé miệng vào tai lão và nhắc lại, "Anh có thể nghe thấy âm thanh thân yêu cũ của sóng biển."

"Cái gì?" Lão già nhắm mắt lại. "Misako ơi, hơi thở của em thực là ngọt ngào. Giống y như ngày xưa vậy."

"Anh không nghe thấy âm thanh thân yêu cũ của sóng biển hay sao?”

"Sóng biển? Có phải em nói sóng biển? Và thân yêu nữa? Làm sao sóng biển có thể thân yêu đối với em, sau khi em đã chết chìm trong sóng biển ấy?”

"Thực là thân yêu, em đã trở về căn nhà cũ của em sau năm mươi lăm năm để thấy anh cũng trở lại cố hương. Ôi, thơ mộng quá!" Mặc dầu lão già không còn nghe thấy những lời nói của nàng mà nàng vẫn nói tiếp. "Em trầm mình xuống biển là đúng lắm. Nhờ thế em đã và sẽ vẫn có thể yêu anh mãi mãi, giống y như em yêu anh lúc em chết. Hơn nữa, tất cả mọi ký ức của em chấm dứt ở tuổi mười bảy. Theo như em biết thì anh vẫn mãi mãi là một thanh niên trẻ. Đối với anh cũng vậy, anh Shintaro của em. Nếu em không tự tử lúc em mười bảy tuổi và nếu anh trở về để thăm em, anh sẽ trông thấy một bà già bẩn thỉu. Thực là hãi hùng! Như thế em làm sao dám gặp anh nữa.”

Lão già bắt đầu nói, bằng giọng lẩm bẩm của một người điếc, "Anh đi lên tận Đông Kinh, nhưng anh vẫn không khá được. Anh trở lại cố hương thành một lão già bất mãn. Anh xin được một việc làm tại sân gôn. Đó là sân gôn trông xuống biển, tại đó một người con gái nhẩy xuống biển tự tử sau khi người ta cấm cô ta không được gặp anh nữa. Anh năn nỉ họ mướn anh, và họ đã mướn vì tội nghiệp anh."

"Chúng ta đang đi trên mảnh đất trước kia thuộc về gia đình anh, anh Shintaro.”

"Đi nhặt banh tại sân tập - đó là những gì anh có thể làm được. Lưng anh đau, nhưng anh vẫn phải tiếp tục. Có một người con gái nhảy xuống biển chỉ vì anh. Bờ đá nơi cô gái gieo mình xuống biển cũng gần đây, vì thế ngay một lão già yếu đuối như anh cũng có thể tới đó và nhảy xuống - vì thế anh vẫn suy nghĩ.”

"Đừng làm thế, anh Shintaro! Anh phải tiếp tục sống. Khi anh chết rồi, sẽ không còn ai trên đời này tưởng nhớ đến em nữa. Lúc đó thì em sẽ chết thực sự đấy." Thiếu nữ choàng ôm lấy lão già khi nàng nói như thế, nhưng lão đâu có nghe thấy gì.

Cũng như nàng, lão vòng tay ôm nàng.

Lão nói, "Phải, hãy chết cùng nhau. Em và anh lần này. Em tới để đưa anh đi với em phải không?"

"Chết cùng nhau ư? Không, xin anh phải sống. Sống vì em." Thiếu nữ ngẩng đầu khỏi vai lão già và nhìn thẳng trước mặt. Giọng nàng trở nên linh hoạt. "Coi kìa! Những cây cổ thụ vẫn còn kia. Tất cả ba cây trông giống y như ngày xưa. Ôi, những cây ấy nhắc nhở em tới những ngày hạnh phúc cũ!"

Lão già cũng quay mắt về phía ba cây cổ thụ, khi thấy thiếu nữ chỉ tay về phía đó.

Lão nói, "Mấy người chơi gôn sợ ba cây đó lắm. Họ muốn cưa ba cây ấy xuống. Họ nói những trái banh của họ luôn luôn bật về phía phải, như thể những cây kia cuốn banh của họ bằng một sức mạnh ma quái."

"Những người chơi gôn rồi cũng chết đi. Chết sớm hơn là những cây kia đã đứng tại đó hàng thế kỷ rồi. Họ nói những điều ấy là vì họ không hiểu cuộc nhân sinh ngắn ngủi biết bao!”

"Tổ tiên của anh đã chăm sóc những cây đó hàng trăm năm, vì thế khi anh bán đất, anh đã bắt họ hứa không được cưa những cây ấy đi.”

"Hãy lại đó đi," thiếu nữ giục và lấy tay kéo lão già loạng choạng về phía mấy cây cổ thụ.

Nàng đi xuyên qua một thân cây. Lão già cũng đi như vậy

Nàng kinh ngạc nhìn lão già đăm đăm. "Ồ! Anh cũng chết rồi à, phải không anh Shintaro? Anh chết hồi nào?" Lão già không trả lời.

"Anh chết rồi! Anh chết thực rồi phải không anh? Em ngạc nhiên tại sao chúng mình không gặp nhau trong cõi của người chết. Bây giờ thử xem anh chết thực hay còn sống. Nếu anh chết rồi, em sẽ vào trong cây này với anh."

Lão già và người thiếu nữ biến mất vào trong thân cây. Hai người không bước ra nữa.

Màu chiều bắt đầu nhuộm trên những bụi cây đằng sau ba cây cổ thụ. Chân trời, phía có tiếng sóng biển vọng lại, lờ mờ một màu đỏ nhạt.

Yasunari Kawabata
Nguyễn Vạn Lý dịch

 

 

Thursday, February 19, 2026

Đầu Xuân Vắng Người Năm Ngoái - Nguyễn Đạm Luân

 Đầu Xuân Vắng Người Năm Ngoái




Chú Tiểu Nhỏ - Biển Chết

 

Chú Tiểu Nhỏ

I

Trong Thập niên 1960, đường Sài Gòn - Vũng Tàu qua khỏi căn cứ Long bình là rừng già và rừng cao su trùng điệp, đứng tại Thị trấn Long Thành ta đã thấy ẩn hiện xa xa là rặng núi chạy dài qua Bà Rịa đến Long Hải trong dó có ngọn núi Thị Vải; Ngày đó những xe đò liên Tỉnh đều là loại xe nhỏ mang nhãn hiệu Renault mà đầu xe giống như con heo (nên dân chúng thường hay gọi là xe con heo).

Hôm ấy, chuyến xe đò Biên Hòa - Bà Rịa khi chạy đến cách Phước Lễ khoảng 8 cây số, nó dừng lại cho một nhóm người xuống, khung cảnh nơi đây thật yên tĩnh và âm u, bên phải là cánh đồng lúa chạy dài mút mắt, bên trái là rừng trùng trùng điệp điệp, cạnh bên đường có ngôi Tịnh Xá nhỏ nằm khuất trong khu vườn cây ăn trái và có một dòng suối nhỏ chạy ngang, ở đây cũng có một con đường đất cát dẫn vào chân núi.

Trên xe bước xuống là 9 người đủ mọi lứa tuổi, họ mặc quần áo nâu sồng, trên vai từng người đều có một tay nải đựng quần áo, họ là những người Tu hành đang trên đường trở về núi.


Đi đầu là một nhà Sư tuổi trạc trung niên, dáng người cao lớn, uy nghi và nét mặt thần hiền từ, ông hướng dẫn mọi người ghé vào Tịnh Xá nghỉ chân, đoàn người sắp hàng một theo sau nhà Sư trung niên, trong tám người còn lại thuộc mọi lứa tuổi nhưng đáng chú ý nhất là một Chú Tiểu tuổi trạc lên 9, với bộ nâu sồng còn mới may hơi rộng, trông chú như đang bơi trong bộ quần áo ấy, nhưng cái đáng chú ý nhất là chú là người nhỏ tuổi nhất trong Đoàn, trên cái đầu cạo trọc nhưng vẫn còn chừa lại ba mỏm gía phía trước và hai bên trên vành tai, chú có nước da thật trắng, đôi mắt ngơ ngác thơ ngây dưới làn lông mày cong như lá liễu, chiếc mũi xinh xắn và đôi môi đỏ thắm như con gái nằm bên trên chiếc cằm chẻ, có lẽ đây là lần đầu chú đặt chân đến đây cho nên thấy chú ngơ ngác trông đến tội nghiệp.

Đoàn người sau khi nghỉ ngơi, rửa mặt mũi dưới con suối cạnh Tịnh Xá lại vội vã lên đường vì đường vào đến chân núi còn xa (khoảng 10 cây số). Dẫn đầu đoàn vẫn là vị Sư trung niên và người đi sau cùng vẫn là chú tiểu nhỏ, với chiếc tay nải mang trên vai và những bước chân trần nhỏ bé in trên đất cát khiến người ta có cảm tưởng như một con bướm nâu bé nhỏ mới vừa chập chững biết bay.

Đôi mắt chú nhìn hai bên đường mòn toàn rừng là rừng với những thân cây cao vút hay những bụi rậm đan lại từng chùm, thỉnh thoảng trên đường đi cũng có một vài vạt rẫy của người dân hoặc của những nhà Tu ở ẩn, lâu lâu một dòng suối chảy cắt ngang đường hoặc chạy song song với đường mòn một đoạn rồi lại biến mất vào rừng sâu, tiếng chim chóc đủ loại ríu rít hót trên cành, đôi chân trần chú vẫn bước đều trên đất cát theo đoàn người phía trước; Tuy nhiên với lứa tuổi lên 9 của chú, với đoạn đường xa, với cái tay nải trên vai đã bắt đầu nặng dần theo từng đoạn đường và theo thời gian trôi chầm chậm, mồ hôi ướt đẫm cả lưng dán chặt chiếc áo nâu vào lưng chú, chú vẫn cố gắng bước đều về phía trước mặc dù chú đã bị đoàn người đi trước bỏ lại khá xa, đôi mắt chú vẫn long lanh và trong cái nắng buổi trưa hè hai má chú bây giờ ửng hồng như cô gái mới dồi phấn.

Khoảng xế chiều đoàn người đến gần chân núi, thấp thoáng từ xa trong đám cây rừng chú đã thấy ẩn hiện mái ngói cong của một ngôi Chùa, lòng chú vui mừng vội bước nhanh tới, trên cổng ngôi Chùa hiện lên bốn chữ "Linh Sơn Cổ Tự", nhưng đây chỉ là ngôi Chùa dưới chân núi thôi, vị Sư trung niên cho phép mọi người ngồi lại nghỉ dưỡng sức trước khi qua chặng đường thứ hai là leo núi.

Đường càng lên cao càng dốc, có những chỗ có những bậc tam cấp để đi nhưng đa phần là phải đi theo những đường mòn dốc đứng, có khi phải trèo qua nhửng tảng đá nhô ra từ triền núi, gió rừng lay động, càng lên cao khí hậu càng mát mẻ, nhất là bây giờ khung cảnh đã về chiều, càng đi lên cao lòng chú càng thấy lâng lâng thoát tục, nhìn về bên dưới chú thấy rừng là rừng trải dài đến cuối chân trời và trên không những đám mây trắng lững lờ trôi giăng mắc trên những ngọn cây cổ thụ.

Mặt trời đã lặn sau dãy núi, bóng tối cũng từ từ buông phủ dần cảnh vật, trên không vang vọng tiếng chuông ngân và đoàn người cũng vừa đến ngôi Chùa chính được xây dựng bên lưng chừng núi, trong ánh sáng nhập nhòe còn xót lại, chú thấy hình tượng Ông Tiêu với chiếc lưỡi dài màu đỏ đứng trấn trước con đường dẫn vào Chùa và trong khung cảnh ngôi Chùa thật to lớn đang từ từ chìm dần vào bóng tối.

Theo đoàn người vào hậu liêu cất chiếc tay nải, chú được đưa ra suối tắm rửa trước khi ăn cơm tối, bữa cơm tối thanh đạm là cháo trộn khoai mì xắt lát ăn với củ cải mặn và muối tiêu, vì sau một ngày đi đường mệt nhọc chú ăn thật ngon và trong đêm đó lần đầu tiên chú ngủ giữa núi rừng cùng tiếng Cọp gầm, Vượn hú đưa chú vào giấc ngủ.




II

Tiếng chuông công phu buổi sáng đánh thức chú tiểu nhỏ thức dậy, sau khi làm vệ sinh cá nhân, chú theo đoàn người tiến vào Đại Hùng Bảo Điện, dưới ánh sáng của những ngọn đèn dầu và đèn nến lung linh theo từng cơn gió, chú thấy Chính điện thật là hùng vĩ với những hảng cột to bằng người ôm được chạm chỗ rồng phụng và đánh bóng láng, trên các trính kèo là các khuôn hình với những hàng chữ nho đắp nổi ẩn hiện theo từng ánh sáng chập chờn và trên Tòa Sen Đức Phật Tổ Như Lai trong ánh mắt hiền từ và trên môi Ngài nở nụ cười như đang mỉm cười với chú.

Sau khóa tụng niệm là buổi điểm tâm, chú ra sau Chánh Điện vào trai đường, trai đường là một căn nhà dài nền tráng xi măng, ở đây trên nền xi măng là những mâm gỗ được sắp dài, trên đó là những thau cháo đang tỏa khói nghi ngút, mọi người sắp thành hai hàng bên những mâm cháo rồi ngồi xếp bằng xuống đất; Trước khi ăn tất cả đều phải đọc kinh :

" Cầu cho lễ Cúng dường này
đến với Đức Như Lai
xin Phật chứng minh

Cầu cho lễ Cúng Dường này
đến với Chư Bồ Tát
xin Tam Bảo chứng minh ........"

Bữa ăn sáng cũng là cháo độn với khoai, móm mặn chính là những lá bắp cải đã được phơi khô xong xắt nhỏ kho lên cùng với một dĩa muối tiêu.

° ° °

Ngôi Chùa này đã được xây dựng từ bao giờ chú cũng không biết nhưng chú hiểu rằng đã có biết bao nhiêu công của đã đổ vào đây nên bây giờ ngôi Chùa mới được to lớn như thế này.

Xin được mô tả một chút về khung cảnh ngôi Chùa : Đứng từ dưới triền núi nhìn lên dưới một ghềnh đá cao là dãy nhà của các chú tiểu đang tuổi thiếu và thanh niên (13 - 18 tuổi) đi lên một đoạn là dãy nhà nuôi trẻ (từ mới sanh cho đến 6 - 7 tuổi, đây là các em bé mồ côi hoặc bị cha mẹ bỏ rơi) lên một đoạn nữa bên trái là nhà khách (dành cho bổn đạo hoặc Phât tử từ khắp nơi khi về núi có chỗ ngủ qua đêm), bên phải là Chánh điện, bên hông chánh điện (bên phải) là các dãy phòng của các Sư nữ, phía sau Chánh điện là Trai phòng, sau Trai phòng chạy dài lên núi là những cóc nhỏ (Tịnh thất) dành cho những người tu luyện riêng hay của những ngưởi lớn tuổi.

° ° °

Mặt trời đã bắt đầu mọc, khung cảnh bình minh trên núi thật là hùng tráng, ánh nắng xuyên qua những khe lá còn đọng hơi sương tạo thành những sắc cầu vồng lấp lánh, tiếng chim hót véo von trên các cành cây, tiếng hú của các loài vượn vọng về từ xa và vẳng trong tiếng gió là tiếng róc rách của dòng suối chảy bên hông Chùa quyện lấy mùi hương trầm hòa vào mùi của núi rừng hoang dã tạo nên một bức tranh Bồng lai Tiên cảnh mà chú đang lạc vào.

Chú được đưa xuống dãy nhà bên ghềnh đá vì lứa tuổi của chú không còn ấu nhi nhưng cũng chưa đủ tuổi thiếu niên; Tuy nhiên các Sư sau khi thảo luận đã đưa chú xuống đây chung sống với các Sư huynh lớn hơn chú, với cái ngơ ngác buổi đầu chú nhanh chóng được các Sư huynh thương mến.

Ở đây, ngoài phần Giới luật ra, tất cả mọi ngưởi đều cư xử với nhau theo pháp Lục Hòa và tự giác, cả hàng trăm ngưởi nhưng lúc nào cảnh Chùa cũng yên tịnh, ngoại trừ những lúc tụng niệm, tiếng kinh hòa với tiếng chuông mõ vang động núi rừng hoặc thỉnh thoảng vang lên tiếng khóc của trẻ thơ, còn hầu hết đều là im lặng.

Ngoài 4 buổi kinh sáng, trưa, chiều, tối; buổi sáng chú được học về kinh Phật và Văn hóa, buổi chiều luyện tập võ công để thân thể tráng kiện hầu chống chọi lại với khí hậu khắc nghiệt cùa núi rừng.


III

Thời nào cũng vậy, trong hoàn cảnh nào cũng thế, tuổi trẻ là tuổi bồng bột, nghịch phá, lãng mạn và mơ mộng, mặc dù đây là cảnh tôn nghiên nhưng trong lúc rỗi rảnh các chú tiểu cũng đùa nghịch, chọc phà gấy không ít những phiền toái cho nguời lớn.

Non một cây số về bên trái ngôi chùa là một dòng suối có những ghềnh thác cheo leo hiểm trở, dòng nước đang trôi xuôi gặp những ghềnh đá tạo thành những thác nước đổ ập xuống gây nên những tiếng vang vang động cả một vùng, nơi đây là chỗ tụ tập của các chú tiểu nam, họ đến để bơi lội đùa nghịch và có chú cỏn leo lên các ghềnh đá cao rồi lông nhông nhảy xuống vực sâu của thác nước khiến có chú đã bị bể đầu, chú tiểu nhỏ cũng được các sư huynh đưa đến đây đùa nghịch , chính nơi con suối này chú tiểu nhỏ đã tập bơi lần đầu tiên trong sự hướng dẫn của các sư huynh và cũng bên con suối này sau này sẽ xảy ra nhiều biến động trong cuộc đời chú tiểu nhỏ.

Phía sau chùa có một đường mòn dắt qua một triền núi thấp, đi bộ khoảng 2 tiếng sẽ gặp một con suối nữa, suối này bề ngang rất rộng, chạy quanh co theo các rặng cây bờ đá nhưng không có những ghềnh thác nên dòng chảy thật hiền hòa và con suối được đặt tên "Suối Tiên". Con suối này được các chú tiểu nữ chiếm cứ làm điểm tắm trong nhửng lúc rảnh rỗi; Tuy nhiên các chú tiểu nam cũng thường hay xâm lấn con suối này vì con suối bên kia chỉ toàn là ghềnh thác không thể tự do bơi lôi như suối Tiên được, có vài lần khi các chú tiểu nam đến nơi đã bị bên nữ chiếm cứ trước ỡ khúc suối thật tốt, sau khi thương lượng không kết qủa, các chú tiểu nam cùng nhau len lỏi lên thượng nguồn và bẻ những cành cây, chà tre gai thả xuôi dòng suối khiến các chú tiểu nữ không thể tắm được đành bỏ ra về, lúc đó các chú tiểu nam từ thượng nguồn thả mình trôi xuống và ở đây chú tiểu nhỏ cũng được vùng vẫy với những bước tập bơi càng ngày càng xa hơn dưới sự che chở của các sư huynh.

Chung quanh chùa là vườn trái cây đủ loại ra trái theo từng mùa, đây cũng là nguyên nhân mà các chú tiểu thường hay bị phạt "qùy hương" (nhang) mỗi khi ăn cắp trái cây trong đó không ngoại trừ chú tiểu nhỏ ví trong 3 loại (dân gian có câu nhất qủy, nhì ma, thứ ba học trò) thì các chú chiếm hàng thứ ba.

Thời gian cứ thế êm đềm trôi đi, chú tiểu nhỏ sống cuộc đời thanh thản như thế.


IV

Một buổi trưa hè bốn bề thanh vắng, họa hoẵn mới có vài tiếng chim kêu hoặc tiếng hú của một con vượn gọi đàn, trên không trung lác đác những đám mây trắng bàng bạc trôi ngang đỉnh núi, gió rừng cũng im tiếng; Chú tiểu nhỏ bỏ giấc ngủ trưa một mình thơ thẩn bên bờ suối, chú ngồi trên một mõm đá nhô ra phía mặt nước ngước nhìn dòng nước trên cao đang thi nhau đổ ập xuống tung lên những bọt nuớc trắng xóa, chú để tâm hồn mình bay bổng đến những cõi thần tiên trong những truyện cổ tích mà chú từng đọc, ở nơi đó những nàng tiên có chiếc đũa thần làm nên những điều kỳ diệu. Đang để hồn đi hoang chú bỗng giật mình, toàn thân chú lạnh toát và cứng đờ, miệng chú không thốt nên lời, đôi mắt chú trừng trừng nhìn qua bên kia bờ suối, trên một mõm đá có một con cọp cũng đã ngồi đó từ bao giờ, thân hình nó to lớn với bộ lông vàng điểm những sọc đen, cái đầu to như một qủa banh, trong cái miệng rộng là hàm răng nhọn hoắt, đôi mắt nó cũng đang chăm chăm nhìn chú, bốn mắt ngưởi và thú gặp nhau, chú nhìn nó không nháy mắt, chú nghĩ từ chỗ chú ngồi đến đó khoảng cách quá gần, chỉ cần một cái đập đuôi là nó có thể nhảy đến vồ chú được và chú đang là miếng mồi ngon trước mặt nó, bốn mắt vẫn nhìn nhau; Chú ngồi đó nhìn nó không biết đến bao lâu, chợt nó ngúc ngắc cái đầu, há miệng ra như ngáp rồi thong thả đứng lên, nó nhìn chú lần cuối rồi quay đi về hướng thượng nguồn con suối.

Chở một lúc khá lâu, chú định thấn lại rồi vội vàng đứng lên ba chân bốn cẳng chạy về chùa, về đến nơi chú vẫn còn sợ và vì sợ bị phạt quỳ nhang (hương) nên chú không dám nói cho ai biết là chú đã gặp cọp.

° ° °

Bẳng đi một thời gian, hôm đó sau khi cùng các sư huynh đùa nghịch dưới suối, cả bọn kéo nhau trờ về chùa, đi đến nửa đường chú chợt nhớ đã bỏ quện cái khăn nên quay trờ lại, chú đang lom khom tìm kiếm bên hốc đá, chợt linh tính cho chú biết có ai đó đang nhìn mình và chú quay nhìn lại, hai mắt chú chạm vào hai mắt của con cọp hôm trước đang ngồi trên một mỏm đá nhìn chú, toàn thân chú như bị trời trồng, chú đứng đó yên lặng nhìn nó và cũng như lần trước, sau một hồi nhìn chú nó lại ngoảnh cái đầu và hả to họng rồi đứng dậy lững thững tiến vào rừng sâu; Trong lòng hồn phiêu phách lạc, chú lại vội vã chạy nhanh về chùa, lần này chú tìm đến vị sư huynh cao tuổi nhất để kể cho huynh biết chuyện chú đã gặp cọp và kể cho huynh nghe lần gặp trước của chú. Huynh mỉm cười vỗ vai chú và nói : "ở đây ai cũng biết đệ à! ông cọp (trong chùa ai cũng gọi cọp là ông) đó đã tu rồi nên rất hiền. Tuy nhiên ít ai được gặp ông lắm, chỉ có những người hữu duyên mới gặp được ông mà thôi, như vậy đệ là ngưởi có phước lớn đó" Lúc ấy trong lòng chú cũng nửa tin nửa ngờ, nhưng rồi chú tự nghĩ trong hai lần gặp đó nếu con cọp có vồ chú thì bây giờ chú đâu còn sống nữa, cho nên từ đó chú an tâm để mỗi khi rảnh rỗi chú lại lang thang đây đó với những cảnh thần tiên hiện đến trong đầu.

Tiếng thác nước đổ, tiếng chim kêu, tiếng cành lá xào xạc trong gió, trên một phiến đá bằng phẳng bên suối có một bóng màu nâu đang nằm, đó là chú tiểu nhỏ; Cũng như mọi lần, mỗi khi rảnh rỗi chú lại lang thang và hôm nay trên phiến đá này sau một hồi nằm nghĩ vơ vẩn chú ngủ quên đi trong khung cảnh của núi rừng và trong giấc mơ chú thấy mình đang bay lên, bay lên ....

"Cà um .m.m.m." tiếng cọp gầm làm chú giật mình tỉnh giấc, vừa mới ngồi dậy chú đã thấy con cọp to lớn hôm trước đứng cạnh bên, con cọp lớn đến độ chú ngồi mà đầu chú chỉ đụng vào ngực nó, có nghĩa là nó đang đứng phủ lên người chú, không còn hồn vía, chú vẫn ngồi im bất động và trong thâm tâm chú nghĩ đến đây là hết vì chỉ cần một cái vồ nhẹ là chú sẽ đi qua bên kia thế giới, như thấu hiểu được ý nghĩ của chú, con cọp lùi lại và đưa cái đầu to của nó dụi dụi vào người chú như con mèo con đang nũng nịu với chủ, hình như nó muốn trấn an chú cho nên nó cứ đứng đó dụi đầu vào người chú, một lúc thật lâu nó dùng miệng ngậm vào vạt áo nâu sồng rộng thùng thình của chú để nâng chú đứng dậy, bây giờ chú đã hoàn hồn trở lại và thấy nó cũng hiền lành nên chú cũng an tâm, chú rụt rè đưa tay ra xoa nhẹ nhẹ vào ngưởi nó và thấy nó đứng im hai mắt lim dim rồi đột nhiên nó nằm dài xuống và dùng đầu ngoắc ngoắc về phía sau lưng, chú đang ngơ ngác không hiểu nó muốn gì thì miệng của nó đã ngậm ngang lưng áo chú và một cái ngoắc đầu nó đã đưa chú lên ngồi trên lưng nó, chú giật mình vội ôm chầm lấy cái cổ to lớn của nó, con cọp chậm rãi đứng dậy và với những bước đi nhẹ nhàng nó men theo lối mòn đi ngược dòng suối lên đỉnh núi.

Khoảng tàn một cây nhang, nó đến bên bờ một dòng suối khác, từ trên cao có một thác nước đang đổ xuống, nó thong thả lội xuống suối bơi đến một mõm đá nhô lên giữa dòng suối gần chân thác, đến nơi nó từ từ leo lên mõm đá và sau một tiếng gầm lớn nó nhún mình phóng qua làn nước bạc, chú tiểu nhỏ vội vàng ôm cứng lấy cổ nó và nhắm mắt lại, khi mở mắt ra chú đã thấy mỉnh ở sau ngọn thác, thì ra đây có một hang động rất lớn mà nếu ai không chú ý sẽ không biết được, cũng với những bước chân uyển chuyển nó cõng chú tiểu nhỏ trên lưng tiến sâu vào hang núi; Trong ánh sáng mờ mờ chú nhìn thấy trên trần hang có rất nhiều thạch nhủ đủ màu sắc đang rũ xuống, mỗi thạch nhũ một dáng một vẻ đẹp khác nhau gây ấn tượng mạnh trong đầu óc chú, có thạch nhủ giống Đức Phật Bà Quan Âm trên tay cầm bình nước cam lộ tay kia là cành dương liễu, có thạch nhủ giống tượng Đức Phật Di Lạc với nụ cười toe toét trên môi và cái bụng bự của Ngài, có thạch nhủ trông giống một cây Thánh Giá có Đức Chúa Zêsu bị đóng đinh chịu nạn ....... cứ thế và cứ thế, chú hoa cả mắt trong cảnh đẹp lộng lẫy của hang động, càng vào sâu càng tối dần, con cọp cứ thong thả bước hình như chốn này đã quá quen thuộc đối vơí nó; Một lúc sau bắt đầu có ánh sáng từ cuối hang rọi tới, rồi sau một khúc quanh là ánh sáng ùa đến làm chú vội vàng nhắm mắt lại cho khỏi chói, và lần mở mắt này chú đã thấy mình đang ở trong một thung lũng trong lòng núi, trên cao cũng có một thác nước đổ xuống một cái hồ và chung quanh thung lũng đủ loại cỏ hoa cây trái đưa trong không gian một mùi thơm quyến rũ.

Thời gian chầm chậm trôi đi, chú và cọp bây giờ đã trở thành đôi bạn thân, hình như có một sự linh tính nào đó chú không thể biết được là cứ mỗi lần chú đến bên bờ suối là đã thấy nó ngồi sẵn ở đó chờ chú và trên cái lưng êm ái nó đưa chú về lại hang động trên đỉnh núi.


V

Nhưng rồi thời cuộc đổi thay, chiến tranh càng ngày càng lan rộng, cái yên tĩnh của ngôi chùa từ từ không còn nữa, có những ngày chú nghe tiếng bom đạn vang vọng về từ bên kia núi, có những chiều ngồi trên tảng đá lưng chừng núi nhìn xuống xa xa ngoài con đường dẫn về Bà Rịa là những cột khói bốc lên cùng âm vang những tiếng súng lớn, súng nhỏ vọng về và đêm đêm trong mịi mù của bóng tối là những ánh sáng le lói của hỏa châu; Có đêm những bước chân dồn dập của từng đoàn người dùng con đường của chùa để đi ra sau đỉnh núi, có khi họ tải lương thực, có đêm tải đạn dược, có đêm họ tải thương với những người bị thương nằm rên rỉ trên những cái võng, cũng có đêm họ dừng lại tại chùa và bắt ngưởi trong chùa thức dậy nấu cho họ ăn, cái không khí chiến tranh càng đến gần và hằn lên trong ánh mắt ưu tư của tất cả những người sống trong chùa.

Rồi chuyện gì đến nó cũng phải đến, vào một đêm không trăng sao, bầu trời nghìn nghịt mây đen như báo hiệu một cơn bão táp sắp xảy đến, trong đêm đen yên tịnh ấy bỗng có những tiếng hú xé gió trên bầu trời và rồi từng tiếng nổ long trời lở đất của hàng trăm trái đạn pháo không biết từ đâu bay đến đổ ập xuống mái chùa, trong những tiếng nổ chát chúa ấy là những âm thanh rên rỉ, kêu gào hoảng loạn của hàng trăm người đang sống yên ổn dưới mái chùa, từng cột lửa bốc cao, lẫn trong gió mùi cháy khét của xác ngưởi quyện với mùi thuốc súng. Ôi! chiến tranh ....

Đêm kinh hoàng trôi qua thật chậm, trong cái hãi hùng của từng con người còn sống sót, họ đang hy vọng, tất cả đang chờ đợi một tia sáng của bình minh.

Mặt trời đỏ ối chầm chậm nhô lên dưới đường chân trời, bình minh đang trở lại, mọi người bớt đi cái lo âu đang đè nặng trong lòng họ, và việc đều tiên là kiểm điểm xem ai còn ai chết, ngôi chùa bây giờ đã tang hoang không còn chỗ để mà dung thân nữa nên tất cả được lịnh thu dọn hành lý xuống núi, cũng nhờ ơn trên che chở hay những tảng đá lớn đã chở che mà trong hàng trăm ngưởi có mặt chỉ chết đi có 7 người mà đa số là các chú tiểu tuổi còn đang xuân.

Trong dòng ngưởi xuôi về trần thế, ngoài 7 xác chết ra không ai tìm thấy chú tiểu nhỏ đâu cả, có người đoán trong đêm kinh hoàng chú đã quá sợ hãi và trong cơn hoảng loạn đó đã một thân một mình chạy xuống núi trở về với thế gian.

Nhưng cho đến nay người ta cũng không biết chú tiểu nhỏ đã lạc loài ở phương trời nào.

Biển Chết

viết xong ngày 17/7/2003 tại Houston - Texas - USA

Viết thêm :

Ngày nay, nếu ai có đi Vũng Tàu gần đến Bà Rỉa hãy nhìn về bên trái sẽ thấy cỏn 7 ngôi mộ nhỏ nằm chơ vơ bên cạnh đường, ngôi Tịnh Xá bây giờ chỉ còn trơ những cột kèo, vườn trái cấy đã tàn lụi, con suối ngang hông Tịnh Xá cũng đã khô cạn và bên đường cũng không còn rừng là rừng chập chùng nữa mà ánh mắt có thể nhìn suốt vào chân nuí, còn trên núi bây giờ cũng không còn màu xanh của lá của những cây cổ thụ mà năm, bảy ngưởi ôm mới hết vòng vì dãy núi bây giờ đã biến thành núi trọc trơ những tảng đá màu trắng nhìn từ xa ta cứ ngỡ là những sọ người.