Friday, June 26, 2026

Tống Biệt - Tản Đà

 Tống Biệt


















Lá đào rơi rắc lối thiên thai
Suối tiễn, oanh đưa luống ngậm ngùi
Nửa năm tiên cảnh
Một bước trần ai
Ước cũ, duyên thừa có thế thôi!
Đá mòn, rêu nhạt.
Nước chảy, huê trôi
Cái hạc bay lên vút tận trời
Trời đất từ nay xa cách mãi
Cửa động
Đầu non
Đường lối cũ
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi …

Tản Đà

 

 

Nguyễn Thị Cẫm Giang - Thuyên Huy

 

Nguyễn Thị Cẫm Giang


1.

    Một chiều đầu hè năm đệ Thất, ba tôi đi đâu đó về, dắt theo đứa bé gái trạc chừng năm tuổi, má tôi chưng hửng nhưng nhìn cười, không có gì ngạc nhiên cho lắm, có lẽ bà vui, chắc là một cái vui bất chợt. Nó biết chào biết dạ thưa, chừng như đã quen rồi với mấy chuyện này. Từ hôm đó, nhà tôi có thêm người và tôi có đứa em gái, và cũng từ hôm đó, nhà tôi có thêm tiếng cười. Ba đặt cho em tên “Nguyễn thị Cẫm Giang”, vì ông xin nó ở Cẫm Giang, rồi dẫn ra trụ sở xã, bên kia đường, nhờ chú tư Bình, xã trưởng làm cho cái giấy “thế vì khai sanh” với tên mà ba đã đặt, để có giấy tờ đi học trường xã nay mai.

2.

    Trên tỉnh về, thấy trời còn sớm, mới lưng chừng giữa trưa, ba tôi xuống xe ở Cẫm Giang, sẳn tiện đường, ghé nhà anh chị năm Thiết, hỏi chuyện thu hoạch vườn dừa bên Bến Cầu của nhà mà ông giao khoán cho vợ chồng anh ta lo từ bao nhiêu năm qua mùa này, ghe cộ, chi phí đủ thiếu ra sao. Nhà anh năm Thiết, nằm dọc theo bờ sông, cách cái quán cơm trên dốc, ngó xuống ngay bến tàu đò, chị năm dẫn thằng con lớn đi đâu đó trên chợ chưa về, hỏi qua hỏi lại, chợt anh năm nhắc chuyện muốn kiếm một đứa con về nuôi cho vui nhà vui cửa, hỏi ông có còn ý định đó không, ba cười vẫn còn.

    Anh năm đưa ba tôi đi qua cái nhà mái tôn nhỏ, cách nhà anh ba bốn căn, chị năm vừa về tới cũng nhanh chân chạy qua theo. Tới ngạch cửa, có tiếng đọc kinh trong nhà, chị năm nhanh miệng gọi trước, ba và anh năm đứng sau chờ. Không lâu, một bà bác khá già, chậm yếu, mặt phúc hậu bước ra, bà cười gật đầu chào, có đứa bé gái đi theo sau lưng, chị năm quay qua, không biết nói nho nhỏ gì đó với bà, bà mĩm cười gật gù xem ra có gì vui trên mặt, che chút lằn nhăn, làm quen ba, một người khách lạ. Cũng đã quá trưa, chuyến tàu đò về lại Bến Cầu đi từ lâu, bến vắng khách, cái quán cơm cũng vắng người, chờ chuyến tàu qua sáng mai, nước con sông Vàm, sóng gập ghềnh đưa từng mảng lục bình đi xuôi, về ngược, nắng vẫn nắng, rớt từng mảnh, lấp lánh màu ửng hồng của trời mùa hạ.

*

    Bà bác già, bà con hàng xóm ở đây ai cũng biết, người ta quen gọi bà là bà Ba chay trường và bà tu tại gia, hiền từ, nhân đức, giúp người không nề hà, thằng con trai anh năm thường chạy qua chơi với đám bạn cùng trang lứa trước nhà, khi nắng chiều bên kia sông buông xuống, lúc đó bà thường ra ngồi trên cái ghế cây trước ngạch cửa, nhìn cười, dặn hết đứa này tới đứa kia,”coi chừng té, coi chừng té”. Chị năm chắc cũng thường qua lại nên tự động đứng dậy, lấy ấm trà nóng trong cái bình bằng vỏ dừa khô, nấp đậy cũng của trái dừa đó, đem tới, rót ra cái tách sành, thay bà, bà cầm lấy mời ba tôi và anh năm ngồi ở đầu bên này bộ ván gõ, đứa bé gái nấn níu, bẻn lẻn, bên bà ngồi đầu đằng kia, bà gọi tên nó là bé, vậy thôi, chị năm chào ba tôi rồi về bên nhà, ba tôi nóng lòng nghe chuyện, cầm tách trà trên tay mà chưa uống, chờ.

*

    Đầu năm ngoái, phía bên Long Chữ, Long Giang, mấy chỗ sát biên giới Miên bị cuồng phong bão dữ dội từ hướng Miên kéo về, thổi ngang, đất trời tối đen, mưa trút như thác đổ, lụt lủ dâng cao hơn nóc nhà, kèm theo gió hú rùng rợn suốt hai ba ngày, nhà cửa, gió thổi tróc nóc, cây cối bật gốc, trôi lềnh bềnh khắp chỗ, người ta réo, người ta kêu, hớt hơ hớt hãi, chèo ghe, chèo xuồng kiếm nhau, mạnh ai nấy lo thân, không đủ sức chịu đựng trước những trận mưa cuồng sóng lũ có một không hai đó.

    Nước rút, giông gió dịu đi, trời bắt đầu sáng, nhà cửa không còn gì, mái tranh, mái tôn, cửa cây cửa lá dồn lại từng đống chỗ này chỗ kia. Có người chết chưa tìm thấy xác, bà Ba chỉ con bé, dân làng cứu được nó nằm co ro trên mảng lực bình dày đặc, lớn hơn cái nhà, nằm lắc lư dính vào bờ tường rào trụ sở ấp, người quen biết nó là con gái của hai vợ chồng anh hai Tằn, chuyên làm ruộng mướn, ở căn nhà tranh nhỏ cuối triền dốc ấp, không xa cái truông nứa, và không may đã chết, dân trong ấp đem xác vợ chồng về chôn ở nghĩa địa làng cùng với một số người chết khác. Chú trưởng ấp đem nó tới gởi cho gia đình ông bác giữ đình Long Chữ tạm trông nom rồi tính sau.

   Bà Ba đi Bến Cầu sau đó vài hôm, rồi qua Long Chữ, nhờ người bà con giúp trả tiền công cho mấy người gặt đám ruộng năm rồi, người bà con đó là ông bác vai anh, lo trông nom trong ngoài cái đình. Ở lại đó, hôm sau bà rời Long Chữ, xuống tàu đò Bến Cầu về lại Cẫm Giang với con bé gái, mặt mài dễ thương và bộ quần áo cũ rộng thùng thình.

*

   Cẫm Giang, em tôi đẹp lắm, hai má lúm đồng tiền, miệng cười rạng rỡ, bà con quen ở phố chợ, ai cũng trầm trồ “con nhỏ đẹp quá chừng”, Cẫm Giang gặp ai cũng chào cũng dạ, sáng theo má tôi ra chợ thì ôi thôi, bạn hàng, bất kể chị cô thiếm bác, đều phải chận lại nựng một cái mới được, nó cười luôn miệng đáp lễ, Cẫm Giang dễ dạy, và sáng dạ, ba tôi dạy đánh vần, tập viết chữ, cái nào nó cũng thuộc nhanh làm giỏi. Cẫm Giang dễ hòa đồng với đám con nít nhà trong chợ dù mới về không bao lâu, chiều nào tan trường về ngang nhà, tụi nó cũng xúm xa xúm xích ngoài cổng, ơi ới Giang hởi Giang ơi. Em tôi mới chừng đó tuổi đầu, mà thấy má giặt đồ, nấu cơm, phơi củi thì khỏi nói, cứ quấn quít theo hỏi “má cho con làm má cho con làm”.

    Suốt hè năm đó, bây giờ là “anh hai”, tôi thường dắt em đi theo, chỉ em chỗ này chỗ nọ, dường như chỗ nào có tôi thì có em. Mỗi tối ngồi học bài, em cũng ngồi kế bên, nhìn sách nhìn vở, hỏi cái nọ cái kia, mấy lúc đó, như ba, tôi dạy em chữ này chữ kia cho vui. Có Cẫm Giang, không chỉ ba má tôi vui hơn trước nhiều, vắng nó một chút là “Cẫm Giang ơi con đâu rồi”, mà tôi cũng vậy. Ba tôi thì mỗi tháng, tới ngày lảnh lương dưới văn phòng hảng về thế nào em tôi cũng có, áo mới hay món này món nọ như tôi đã có từ ngày còn nhỏ, mỗi lẩn có đồ chơi hay bánh kẹo gì, nó cũng gặn hỏi “của anh hai đâu của anh hai đâu”, ba má tôi xoa đầu “anh hai lớn rồi, mai mốt ba cho anh hai cái khác”, nó nủng nịu, nắm tay tôi cười khoái chí.

*

    Tựu trường năm sau, tôi lên đệ Lục, em vào lớp năm trường xã, vì ở nhà đã dạy, biết đọc biết viết, nên chưa mấy ngày thì cô Hiền cũng như bác hiệu trưởng, đều biết ba má tôi, gặp ba cho biết cho em nhảy lên lới tư, Cẫm Giang siêng học, chăm chỉ, biết nghe lời thầy cô nên, gặp ba má tôi ai nấy đều khen hết. Bạn bè trong lớp, trong trường, nhứt là đám con nhà giàu phố bên kia chợ đều khoái chơi với em, cứ tìm em “đánh đôi đánh đọ”, bày đủ thứ trò chơi con gái ở mấy sạp bán hàng, khi chợ chiều không nhóm cho tới góc sân trường.




    Buổi sáng, khi tôi đi ra bến xe lam đi học sớm, lúc nào cũng đi theo ra tới cổng nhà, cái cổng cây so le cao chừng hơn đầu gối người lớn một chút, nhìn theo, chiều nào tan trường về cũng kêu ba dẫn ra bến xe đón “anh hai” cho được, tung tăng cười toe cười toét nắm tay tôi về nhà. Lên lớp ba, Cẫm Giang đã biết phụ má nhúm lửa bếp than, biết vo gạo cho má nấu cơm, biết phụ má đem quần áo giặt ra phơi ngoài sân sau, biết dọn chén dọn đủa, làm cái nào cũng đàng hoàng, ngăn nắp.

    Tết nào ba má tôi cũng dắt Cẫm Giang đi Cẫm Giang, tôi ít khi đi theo,  thăm bà Ba và vợ chồng anh năm Thiết, biếu bà Ba chút quà trà bánh cùng ít tiền lì xì, chúc bà vui khỏe, gặp lại em, ba Ba tròn mắt, ôm nó hun đầu hun trán không biết bao nhiêu lần, em cũng rờ chân rờ tay bà “bà khỏe hông hả bà, bà ngủ môt mình buồn hông…”, nghe em hỏi mà bồi hồi xúc động, bà muốn rơi nước mắt, anh chị năm cứ ôm nó mà trầm trồ, con đẹp quá vậy, ba má tôi cười mà sung sướng trong lòng. Ở chơi tới hơn quá trưa, bà Ba chậm chậm theo ra đường tiễn, không quên ôm hôn Cẫm Giang mấy lần, mới để cho nó lên xe.

*

   Rồi hết năm này tới năm kia, năm nào Cẫm Giang cũng lảnh phần thưởng hạng Nhứt trong trường. Cuối năm lớp Nhất em đậu vào đệ Thất trường quận cùng với hai ba đứa khác cùng lớp nhưng họ lại lên trường tỉnh, tôi xuống Sài Gòn vào năm đầu Đại học. Chưa có thứ Bảy chủ Nhật nào mà tôi ở Sài Gòn, có anh có em, chuyện này chuyện nọ, vậy đó như thói quen, chuyến xe đò sớm đầu ngày về tới nhà, xe chưa ngừng đã thấy Cẫm Giang bên đường lộ chờ. Ba má tôi thương em lắm, có khi thương còn hơn tôi nữa, tôi cũng thương em không khác gì ổng bả.

3.

   Tôi ra trường, lên Lái Thiêu làm cũng hơn một năm, Cẫm Giang lên đệ Nhị rồi đậu Tú Tài Một hạng cao, cả trường quận đều biết, người phố chợ đồn lan ra, tiệm quán, cha mẹ học trò, nhất là cha mẹ đám học lớp đệ Nhị đệ Nhất. Đoán chừng cũng đúng, làm việc ngồi ở văn phòng, hôm nào cũng vậy nhớ ngày em thi, tôi đứng ngồi không yên, tôi nghỉ phép vài ngày, nhờ một anh nhân viên đưa từ Lái Thiêu về Sài Gòn, bằng xe Honda, không quên mang theo cái đồng hồ Seiko con gái dây bạc đã mua từ trước đó, dành quà cho em khi có dịp, đón xe về kịp buổi trưa, ngay hôm ở nhà làm bữa ăn, không dám gọi là bữa tiệc vì dân nhà quê mà tiệc với tùng cái gì trừ nhà ai đó có đám cưới đám hỏi. Nhà có thêm mấy cô, mấy cậu chung lớp từ dưới quận lên chung vui, bữa ăn không có gì, gỏi cuốn, cà ri gà, canh chua cá lóc, đám bạn giờ biết tôi, nên cũng tự nhiên, vui cười “anh hai anh hai”.

    Để ý một chút, có một cậu, khá đẹp trai, cười nhiều nói ít, tên Trọng, hỏi ra biết nhà Trọng, có tiệm bán tạp hóa đầu ngã ba xuống chợ quận, là con một, học giỏi nhất trong lớp, xem ra được cô em tôi lăng xăng lo cho hơn mấy người khác, thỉnh thoảng Trọng lén nhìn tôi ra chiều e ngại, nhìn sơ qua, ngay cả ba má tôi cũng như tôi đều biết trong bụng là, chắc hai đứa này có gì đây, mà nếu có thì cũng mừng.

    Bữa ăn xong, trời cũng còn sớm, mới lưng lửng trưa, nắng hè vẫn là nắng của trời giữa Hạ, rưng rung đổ một trời hồng. Rồi cũng chia tay, tôi theo đưa bọn họ ra đón xe lam chuyến chiều của bác tư cuối phố chợ ra về, bác tư nổ máy xe chờ, thấy đám nhỏ bịn rịn không chịu lên cho trọn, nhìn tôi lắc đầu cười, xe chạy ra đường, đứa nào cũng vẫy tay “anh hai ơi, anh hai hởi”. Hôm sau, buổi sáng ra đầu chợ đón xe đò về lại Lái Thiêu, chuyện của cô ta với anh chàng Trọng, hai anh em nói nhau nghe đêm qua rồi, tôi không hỏi thêm gì trước khi xe tới, cười dặn dò mấy câu, ráng học và phụ giúp ba má, vây thôi, em cười hứa chắc.

3.

    Nửa năm em học đệ Nhất, tôi về nhà ăn Tết. Anh em bên nhau, thấy em lo học cho mùa thi, nên không cần hỏi gì, cứ kể chuyện trường, chuyện đời cho vui nhà vui cửa, tôi an tâm, yên lòng và thương Cẫm Giang, em tôi, không biết bao nhiêu mà nói, ba má cũng vậy, xem ra má cưng cô nàng hết sức, nhắc ăn nhắc ngủ mỗi ngày. Vậy đó, cả nhà vui theo ngày tháng đi qua.

   Mùa thu tới, thi xong, chờ kết quả, một ngày em cảm thấy mình mệt mỏi, bần thần, ăn uống qua loa, chóng mặt, dù trong người không nóng, mới đầu ba má nghỉ chắc lo học thi quá nên như vậy, má bắt em nằm nghỉ, chuyện nhà để má lo, ba đưa em mấy thứ thuốc cảm, thuốc nhức đầu hình viên trứng nhện, nhưng không thấy có hiệu quả gì cả.




   Gần tới sáng, má vào phòng, em ngất xỉu hồi nào, bà la hoáng lên, ba chạy xuống nhà bác tư, lấy xe lam chở em xuống bệnh viện quận, bác sĩ làm đủ thứ, thử nghiệm máu, chụp hình quang tuyến, đo tâm biểu đồ, chích thuốc trợ tim, kháng sinh cũng không có kết quả, thay vì chuyển lên tỉnh, ba quyết định mướn xe hơi tư ngay trong ngày đưa em xuống bệnh viện St Paul, theo lời giới thiệu và kết quả kiểm nghiệm, định bệnh của bệnh viện quận. Cẫm Giang nằm đó, nhờ hai bác sĩ mình và sự trợ giúp của một vị bác sĩ người Pháp, hôm sau em tỉnh lại, nói chuyện nhiều, ăn uống được chút đỉnh.

    Được tin, tức tốc tôi bỏ nhiệm sở, mượn xe Honda chạy ngay xuống Sài Gòn. Lên tới phòng em nằm trên lầu, ba má tôi có đó, nhìn tôi lắc đầu, thấy tôi em cười thật tươi một cách bình thường, bình thường như cái cười mà em vẫn có từ ngày còn nhỏ. Tôi ở lại Sài Gòn hai ba hôm, gần như ngày nào cũng trong bệnh viện cả ngày, ba má tôi thì thay phiên nhau, đêm về ngủ ở nhà ông cậu bên Gò Vấp, tuổi già rồi làm sao thức suốt ngày này qua ngày kia nổi.

4.

    Em nằm bệnh viện gần hai tuần, hôm về lại chỗ làm, Cẫm Giang còn cười tươi nhắc nhớ về thăm em, yên lòng, xoa đầu em tôi đi. Buổi chiều, chiều thứ Bảy, ông bác sĩ người Pháp và hai anh bác sĩ người mình, hai người đã ngày đêm lo cho em tôi, mời ba má ra ngoài hành lang, cho biết tin buồn, em đã bị ung thư tủy sống thời kỳ cuối, chắc không còn sống bao lâu nữa, má khóc òa lên “trời ơi, con tôi”, họ bắt tay chào, rồi bỏ đi, ba đứng chết lặng, nhìn vào trong, em tôi nằm ngủ như mơ, bấy giờ ba mới bật khóc nhưng nghẹn không thành tiếng.

    Vậy mà, chưa kịp sáng, chập chửng vào thu, em tôi mất, ra đi một cách thanh thản sau khi cố ngồi lên gượng cười gọi “má ơi ba ơi”, và cũng cùng hôm đó, bảng niêm yết danh sách đậu kỳ thi Tú Tài Hai ở trường Trưng Vương, ai cũng thấy nét mực in rõ chữ “Nguyễn thị Cẫm Giang” ở vần N. Trước đó năm sáu ngày, bà Ba chay trường ở bến tàu Cẫm Giang cũng qua đời.

*

    Sau hôm đám cúng 49 ngày “thất tuần”, buổi sáng, trước khi đón xe đò trở lại Lái Thiêu, trời rựng hồng, nắng cuối thu về khá sớm, hong chút hơi ấm đầu ngày, chơ xã nhóm từ lâu. Đi ra chưa gần tới cổng vào nghĩa địa, tôi bật khóc, như lần đám tang Cẫm Giang tôi đã khóc, từ xa nhìn, ai đó đang ngồi trước mộ em, đầu gục xuống, có mùi nhang thơm thoang thoảng theo chiều gió sớm về ngang, tôi chậm bước tới sau lưng, Trọng ngồi đó, vội vàng đứng dậy gật đầu “anh hai”, nước mắt lưng tròng, đỏ hoe, không kìm lòng được, tôi ôm lấy Trọng, cả hai cùng khóc sụt sùi, dù cho trong hình mộ bia, em tôi đang cười tươi thật tươi, nụ cười mà cả phố chợ, cả trường quận đều thương đều mến, hai anh em ngồi nói với Cẫm Giang nhiều lắm, một lúc lâu vì sợ trễ chuyến xe, để Trọng ở lại, tôi bỏ đi xa rồi, quay lại Trọng vẫn còn ngồi đó.

5.

    Từ đó, từ ngày em mất đi, những tiếng cười vui của nhà tôi đã theo em vào nơi ngàn năm yên nghỉ và tôi cũng không còn tìm đâu được nữa một buổi chiều hè đầu năm đệ Thất. Bây giờ thì ba má, tôi chắc rồi sẽ gặp lại em ở một nơi xa xăm và một ngày nào đó. Em tôi đó, Nguyễn Thị Cẫm Giang.

Thuyên Huy 

Chuyện tưởng tưởng từ tình tiết tới tên người  

   

   

   

 

  

   

   

    

   

   

Giọt Máu Chung Tình (Võ Đông Sơ - Bạch Thu Hà) - Trần Huy Thạch

 

Giọt máu chung tình (Võ Đông sơ – Bạch Thu Hà)

Dân Nam bộ, đặc biệt là giới mộ điệu cải lương, không ai không biết thiên tình sử của đôi trai tài gái sắc Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà qua bản tân cổ nổi tiếng của cố soạn giả Viễn Châu. Nhưng có lẽ ít người biết rõ thân thế của hai nhân vật này cũng như nhiều người lầm tưởng câu chuyện này có xuất xứ từ Trung Quốc.

Trần Huy Thạch

“Trời ơi! Bởi sa cơ giữa chiến truờng thọ tiễn nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu… Hà.”

 


Thực ra đây là hai nhân vật hư cấu trong tiểu thuyết Giọt máu chung tình của nhà văn gốc Nam bộ Tân Dân Tử (1875 – 1955), xuất bản lần đầu tiên vào năm 1926. 

Trong quá trình tra cứu tìm tòi trên mạng, tôi may mắn kiếm được bản in gốc của tiểu thuyết “Giọt máu chung tình – Tòng đình thảm kịch” xuất bản năm 1926 trong bộ sưu tập Sách Đông Dương của Thư viện Quốc gia Việt Nam. Tôi mạn phép chia sẻ qua liên kết dưới đây để các bạn thưởng thức. 

Đọc xong cuốn tiểu thuyết này, tôi thấy có nhiều điều lý thú nên tóm tắt lại để ai lười đọc thì cũng có thể tỏ tường nội dung. Vả lại truyện này viết theo lối xưa nên có dùng nhiều từ ngữ khác với bây giờ, cộng thêm chất lượng in ấn hồi đó không được tốt lắm và còn nhiều lỗi chánh tả nên hơi khó đọc. Đầu đuôi như sau. 

Đầu truyện tác giả Tân Dân Tử giới thiệu Võ Đông Sơ là con của Hoài Quốc Công Võ Tánh và công chúa Ngọc Du, chị cùng cha khác mẹ của vua Gia Long. Trên thực tế, ngoài tiểu thuyết này ra không có sử liệu chính thống nào chứng nhận Võ Tánh có con tên là Võ Đông Sơ cả. Theo nhiều tài liệu, Võ Tánh và Ngọc Du có với nhau hai con gái và một người con trai tên là Võ Khánh, làm tới chức Khinh xa đô úy. Trong truyện nhân vật Võ Đông Sơ sau này cũng được nhà vua ban chức Khinh xa đô úy. Có lẽ Tân Dân Tử đã xây dựng nhân vật Võ Đông Sơ dựa trên hình mẫu ngoài đời của Võ Khánh. Ngoài ra, trong truyện còn có tình tiết hư cấu không đúng với lịch sử là Võ Đông Sơ tuân lệnh vua đi đánh giặc Mãn Thanh sang xâm lược rồi chết trên sa trường. Thực tế quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và nhà Thanh bên Trung Quốc thời bấy giờ tương đối êm đẹp. 

Trở lại câu chuyện, sau khi song thân mất Võ Đông Sơ được chú ruột nuôi dưỡng dạy dỗ. Trên đường lên kinh đô luyện thi chờ ngày ứng thí tranh cử Võ khoa Tiến sĩ, Võ Đông Sơ tình cờ gặp Triệu Dõng và giúp đỡ tiền bạc để Triệu Dõng làm đám tang cho mẹ. Cảm kích trước tấm lòng hào hiệp của Đông Sơ Triệu Dõng xin kết nghĩa huynh đệ với chàng. Võ Đông Sơ lớn tuổi hơn nên được tôn làm anh. 

Một hôm nhân dịp dạo chơi Quan Âm các Võ Đông Sơ tình cờ gặp và cứu mạng tiểu thơ Bạch Thu Hà khỏi tay côn đồ cướp giựt. Mô típ anh hùng cứu mỹ nhân này nghe rất quen cũng giống như những truyện xuất hiện trước đó như Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga. Thấy Thu Hà sắc nước hương trời đối đáp lễ nghĩa nên Đông Sơ đem lòng yêu mến, lấy danh thiếp ra trao làm quen. Thu Hà khi từ biệt Đông Sơ cũng giả bộ đánh rơi cái khăn lụa có thêu tên mình để Đông Sơ nhặt lấy. 

Thu Hà có anh trai tên Bạch Xuân Phương, tướng người dềnh dàng, tính tình kiêu ngạo. Sau kỳ thi văn Bạch Xuân Phương thấy Đông Sơ tướng mạo hơn người nên sinh lòng đố kỵ cho người ám sát. Tình cờ Thu Hà nghe lỏm được âm mưu của anh trai. Để đền ơn cứu mạng bữa trước Thu Hà cho người báo cho Đông Sơ đề phòng nên chàng thoát nạn. Bước vào kỳ thi võ Đông Sơ đối đầu trực tiếp Bạch Xuân Phương. Đông Sơ dùng chiêu “Đại bàng phi thạch động, sư tử thượng lầu đài” đánh bại Xuân Phương. Xuân Phương bực bội về nhà. Thu Hà ra hỏi chuyện thì Xuân Phương, mặc dù vẫn rất căm hận Đông Sơ nhưng phải công nhận Đông Sơ “chẳng những võ nghệ cao cường mà thôi, mà văn trường nó cũng xuất chúng”. Thu Hà nghe anh nói càng thêm lòng ái mộ Đông Sơ. 

Sau khi thắng Bạch Xuân Phương trong cuộc tỉ thí ở diễn trường, Võ Đông Sơ đạt ngôi vị võ khoa tiến sĩ. Một đêm trăng thanh gió mát Võ Đông Sơ tới gặp Bạch Thu Hà ở tư gia, tại lương đình, hai người tỏ rõ lòng nhau và buông lời thệ ước, trao vật đính ước và hẹn cùng nhau trăm năm tơ tóc. 

Sau đó Võ Đông Sơ được triều đình phong chức trung úy và làm việc dưới quyền tổng trấn Lê Văn Duyệt. Nghe tin hải khấu Trung Quốc quấy nhiễu ở vùng biển Hoàng Sa, Lê Văn Duyệt lệnh cho Võ Đông Sơ thống lãnh thủy quân ra đánh dẹp, đồng thời lập bản đồ địa thế các cửa biển ở Quảng Đông. Đông Sơ hẹn gặp Thu Hà ở lương đình rồi từ biệt lên đường. 

Trong thời gian Đông Sơ đi tuần dương, cha Thu Hà là binh bộ thượng thư Bạch Công lâm trọng bệnh và được đưa về nhà. Trong phút lâm chung ông trăn trối nhờ Bạch Xuân Phương lo chuyện hôn nhân cho em gái nhưng cũng nhắc nhở Xuân Phương không nên cưỡng ép nếu Thu Hà không ưng thuận. Sau khi cha chết, Xuân Phương cậy quyền huynh thế phụ ép buộc Thu Hà lấy Vương Bích là một công tử nhà giàu ăn chơi trác táng. Bạch Thu Hà cãi không lại nên giả bộ ưng thuận nhưng đến ngày cưới nàng cùng tì nữ bỏ nhà trốn đi. Sợ Xuân Phương cho người đuổi theo nàng để lại bức thư nói là đã quyên sinh để đoàn tụ cùng cha mẹ. 

Trải qua nhiều biến cố, nhiều lúc hiểm nguy đến tính mạng, cuối cùng Bạch Thu Hà cũng được trùng phùng cùng Võ Đông Sơ. Niềm vui đoàn tụ ngắn chẳng tày gang, Đông Sơ nhận được thánh chỉ của hoàng thượng đem quân chống giặc Tàu xâm lược. Đông Sơ làm Ngự tiền hộ giá Khinh xa đô úy tháp tùng hoàng thượng đi đánh giặc. Quân giặc đông thế mạnh, quân ta ít thế yếu. Võ Đông Sơ cùng Triệu Dõng tình nguyện xung phong đem quân giải vây. Triệu Dõng hy sinh trong đám loạn binh. Khi quân cứu viện vừa tới thì Võ Đông Sơ bị trọng thương vừa kịp cưỡi ngựa về phục mạng với hoàng thượng thì ngã lăn ra chết. Quân đem linh cữu Đông Sơ về báo tin cho Thu Hà. Thu Hà ôm xác Đông Sơ khóc rồi rút dao đâm cổ chết theo, quyết giữ một lòng trinh liệt cho trọn chữ ân tình. 

Về sau, dựa trên câu chuyện tình bi thương này, soạn giả Viễn Châu đã sáng tác hai bài tân cổ là “Võ Đông Sơ” và “Bạch Thu Hà”. Trong đó bài Võ Đông Sơ được nhiều người thuộc và phổ biến rộng rãi hơn. Ở Gò Công, mỗi năm vào ngày giỗ Hoài Quốc Công Võ Tánh, bao giờ cũng có chương trình đờn ca tài tử ở miếu thờ của ông kéo dài đến tận khuya. Và dĩ nhiên hai bài tân cổ này là không thể thiếu trong chương trình. 

Đọc xong cuốn tiểu thuyết tôi rất tâm đắc với ý nguyện của tác giả Tân Dân Tử được ghi trong lời tựa ở đầu cuốn sách. Ông muốn lồng ghép lịch sử vào những tác phẩm tiểu thuyết để đưa những kiến thức lịch sử đến với đông đảo người đọc qua đó khơi dậy tinh thần yêu nước cũng như giáo dục lối sống có đạo lý và nhiều điều tốt đẹp khác. Tuy nhiên theo thiển ý của tôi, Tân Dân Tử có phần hư cấu hơi quá đà, dẫn đến những ngộ nhận không đáng có. Lẽ ra ông nên thêm phần phụ lục giải thích những sự kiện lịch sử liên quan hoặc chú thích ghi rõ những nhân vật trong truyện là hư cấu để cho độc giả tỏ tường. Ngoài hạn chế này, tiểu thuyết Giọt máu chung tình của ông có thể xem là một trong những tác phẩm tiểu thuyết lịch sử đầu tiên của văn học Việt Nam đầu thế kỷ 20 và trở thành một phần trong kho tàng văn hóa dân tộc.

Trần Huy ThạchSài Gòn 16/3/2016

Nguồn: http://nghiencuulichsu.com/2016/03/29/giot-mau-chung-tinh-vo-dong-so-bach-thu-ha/

Tết Về Thay Áo Mới - Trần Vấn Lệ

 Tết Về Thay Áo Mới




 











Người ta nói chim Quyên chuyên ăn trái nhãn lồng.
Tôi thật có ước mong được nhìn thấy chim đó.
Nhà tôi ngay đầu ngõ, cây nhãn trồng ba năm.
Cây nhãn đã trổ bông. Và nó đã kết trái…

Thế mà tôi chờ mãi không thấy chim quyên đâu!
Nó ở tận rừng sâu? Hay nó trên núi thẳm?
Chưa thấy vẫn nhớ lắm, chim Quyên ơi chim Quyên!
Tôi nhớ như nhớ em yêu từ trong tiền kiếp…

Tuơng lai, đường đi tiếp. Ai về quá khứ xa?
Cái ngộ: Niềm Thiết Tha lại nằm trong hiện tại!
Trời sinh chi con gái cho con trai nhớ thương?
Trời sinh chi Quê Hương…đất chờn vờn mây khói…

Tôi không ai để hỏi, ba mươi năm quê người…
Trái nhãn cầm săm soi, cây nhãn mờ muôn dặm!
Một thời tôi núi thẳm, một thời tôi rừng sâu
Chim Quyên lúc đó đâu hồi tôi…chưa biết nhớ?

Buồn lật trang sách cũ, đọc ca dao bâng khuâng:
“Chim Quyên ăn trái nhãn lồng
Thia lia nhớ chậu, vợ chồng quen hơi”
Chắc tôi chưa tới nơi cái mùi xưa vời vợi…

Tết về thay áo mới
mùi Quê Hương tuơng tư…
Tôi cúi xuống bài thơ
thấy chim Quyên cái bóng!

Trần Vấn Lệ

 

 

Còn Ai Nhớ Đường Võ Tánh Của Sài Gòn Ngày xưa - Nguyễn Gia Việt

 

Còn ai nhớ đường Võ Tánh của Sài Gòn xưa?

Sài Gòn có ngã sáu Phù Đổng vì giữa bùng binh có tượng Thánh Dóng cỡi ngựa cầm cây tre. Người Sài Gòn còn kêu là ngã sáu Sài Gòn hay ngã sáu Gia Long.

Nguyễn Gia Việt

 


Ngã Sáu Phù Đổng

Đây là ngã sáu tụ hội vua và danh tướng của nhà Nguyễn: Gia Long (Lý Tự Trọng), Võ Tánh (Nguyễn Trãi) ,Lê Văn Duyệt (CMT8) ,Ngô Tùng Châu (Lê Thị Riêng) và Phạm Hồng Thái ,Phan Văn Hùm (Nguyễn Thị Nghĩa).

Sử gia VNCH đặt tên đường rất ý nghĩa,có hai con đường của hai danh nhân người Gò Công gần như song song nhau ở trung tâm, đó là đường Ngô Tùng Châu (Lê Thị Riêng) và Võ Tánh (Nguyễn Trãi).

Ngã sáu Phù Đổng có tượng Phù Đổng Thiên Vương Thánh Dóng, được dựng vào năm 1966 thời Nguyễn Cao Kỳ nhưng cái đường Phù Đổng Thiên Vương thì lọt tuốt xuống bên hông Đại Học Y Khoa Sài Gòn mé quận 5 thể hiện sự vô duyên vô dùng, đoản hậu của ông Nguyễn Cao Kỳ.

Tướng Võ Tánh xưa là chủ quân của đạo quân “Khổng Tước nguyên võ” ở Gò Công, ông Ngô Tùng Châu làm Tham mưu (quân sư).

Ngô Tùng Châu sanh ở Bình Định nhưng 12 tuổi theo cha vào Gò Công sống ở xóm Thủ, lấy em gái của Võ Tánh là Võ Thị Lội tại Gò Tre ,tham gia cuộc khởi binh của Võ Tánh tại Gò Tre. Hai ông này mất cùng một ngày tại thành Qui Nhơn Bình Định, đó là năm năm 1801 với cuộc bao vây thành Qui Nhơn của Trần Quang Diệu 2 năm trời,quân Nguyễn không giải cứu được, cuối cùng Tây Sơn bức tướng Võ Tánh tự thiêu mà chết,  thì ông “quân sư” Ngô Tùng Châu cũng uống thuốc độc quyên sanh theo Võ Tánh.

Trong lịch sử nhà Nguyễn vai trò tướng Võ Tánh vô cùng quan trọng,đó là đại diện quyền lực Miền Nam ủng hộ chúa Nguyễn Ánh.Không có thế lực này vua Gia Long không thể trung hưng nhà Nguyễn.  Vua Gia Long truy tặng Võ Tánh là Dực vận công thần Thái úy Quốc công. Vua Minh Mạng truy phong ông là Hoài Quốc Công. Bảo Đại năm thứ 18 (1943), phong cho Võ Tánh là “Trác Vĩ Dực Bảo Trung Hưng Thượng Đẳng Thần”. Người đời sau ca ngợi tướng Võ Tánh là “Quận Trung tiết anh hùng”.

Sau 1975 đường Võ Tánh ở Nam Kỳ bị xóa sạch sẽ.Ngày nay chỉ còn Mỹ Tho là còn đường Võ Tánh.

Chừng khoảng 23h 30 đêm 26/11/1978, nghệ sĩ Thanh Nga bị sát hại trên xe hơi ngay trước cửa nhà mình trên đường Ngô Tùng Châu ở thành phố lúc này mang tên là HCM.

Đường Võ Tánh từ ngã sáu Gia Long chạy dọc trổ dài xuống đi ngang nhà thờ Huyện Sĩ

Ngôi nhà thờ này đã được ông Huyện Sĩ hiến đất và xuất 1/7 gia sản để xây dựng khoảng trên 30 ngàn đồng bạc. Nhà thờ được khởi công xây dựng năm 1902 đến năm 1905 thì nhà thờ được khánh thành. Dân gian gọi là nhà thờ Huyện Sĩ nhưng nó là nhà thờ Chợ Đũi và còn được gọi là nhà thờ Thánh Philípphê.

Đường Võ Tánh chạy xuống cặp mé thành Ô Ma. Cuốn “Đò dọc” của Bình-nguyên Lộc chép rằng:

“Nhà ông Nam Thành ở trong ngõ hẻm ba mươi căn đường Vỏ Tánh, ngang hông thành Ô Ma. Ông ở căn bìa hết và chuyên bán rương và va li da cho quân nhân Pháp”.

Khu đất thành Ô Ma là khu đất của đền Hiển Trung mà vua Gia Long thờ các bậc đại thần trung quân ái quốc tử trận vì sự nghiệp trung hưng nhà Nguyễn trong đó có tướng Võ Tánh.

Sử chép đền Hiển Trung thờ cả thảy 1015 vị mà bàn thờ chánh ở giữa thờ ba vị: Võ Tánh, Ngô Tùng Châu và Nguyễn Tấn Huyên.

Trong sự kiện Ngô Tùng Châu uống độc dược, Võ Tánh tự thiêu ở Qui Nhơn, quan Thống Binh Nguyễn Tấn Huyên ở ngoài cũng chạy vào nhảy vào lửa tự thiêu theo.

Có lẽ vì vậy con đường bên hông hành Ô Ma Rue Frère Louis được đặt tên là Võ Tánh

Pháp qua khu đất thành “Camp aux Mares” và rồi dân Nam Kỳ kêu thành “thành Ô Ma”

“Đàng Ô Ma hai đứa ta nói chuyện

Lúc giã từ còn quyến nhau hoài

Về nhà anh cậy mối mai

Mẹ cha em khó hỏi hoài không xong”

Sau 1954 thành Ô Ma trở thành Tổng Nha Cảnh Sát, rồi là Bộ Tư lệnh Cảnh Sát Quốc Gia VNCH và nay là “Bộ CA 2” đầy quyền lực.

Lịch sử Miền Nam đầy oai hùng mà nhắm con cháu trẻ trẻ chắc gì đã biết vì sau 1975 đường Võ Tánh bị xóa tên. Khi “uốn nắn” Miền Nam, xóa tên đường, sửa sách sử là một cách cai trị. Con cháu nó khỏi nhớ gì tới ông bà nó.

Hãy nhìn cách Việt Nam Cộng Hòa đặt tên đường sẽ thấy rõ là sự trung dung ghi nhận đó ,có đường Gia Long và có đường Nguyễn Huệ ,có Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu thì cũng có Võ Tánh, Lê Văn Duyệt,Võ Di Nguy,Trương Tấn Bửu.

Những đô thị của Miền Nam ta xưa đều có dính líu với những ông tướng, ông quan của phe chúa Nguyễn Ánh. Cái công khai ấp định làng, giữ gìn, trị an và phát triển thì có tên đường là đương nhiên. Con đường hàng ngày thân quen đã hằn ghi vào tâm trí bao thế hệ người Sài Gòn

“Đường chẳng riêng hai chúng mình

Nên khi vắng anh đường đã thay tên, còn chăng kỷ niệm

lạnh đầy theo tiếng bước ưu tư đi tìm”

Thôi kệ! tên đường thôi mà,xóa rồi đặt mấy hồ.

Nhưng các bạn trẻ Miền Nam hay dữ lắm,họ tìm cách tiếp cận sự thực lịch sử Miền Nam vì bản thân họ không muốn là tội đồ kiểu mả cha không khóc mà đi khóc đống gì đó

Chúng ta là trí thức thì nhìn sử, đọc sử cũng đòi hỏi một mức độ văn minh nhứt định đối với những nhân vật lịch sử. Những nhân vật lịch sử dù ghét hay thích,đều phải được đối xử ở mức độ lịch sự, có văn hóa, đó cũng là tôn trọng người khác và tôn trọng chính người viết.

Bình luận về nhân vật lịch sử phải thông đạt chánh trị nhân tình, công bằng, nhìn sự thực.

Và luôn biết đặt con người vào trong hoàn cảnh cá nhân cụ thể cùng với những mối tương tác nhân quả trùng trùng duyên khởi của các sự kiện chi phối bên ngoài, từ đó có được quan điểm phóng khoáng khoan dung, biết hòa giải với quá khứ trong tinh thần cởi mở để hướng đến hiện tại và tương lai, chứ không nên chỉ chuyên moi móc quá khứ với các kiểu thái độ cực đoan, phiến diện, căm thù, chỉ gây thêm mầm mống chia rẽ trong lòng dân tộc, và vì thế cũng không thể đạt được sự hòa giải đích thực trong hiện tại được.

Du Tử Lê có mấy câu thơ tả về Sài Gòn rất hay:

“…lạc nhau cuối phố sương quàng cổ cây

ngỡ hồn tu xứ mưa bay

tôi chiêng trống gọi mỗi ngày mỗi xa”

Đánh trống,đánh chiêng học lại lịch sử Sài Gòn.

Nguyễn Gia Việt

Nguồn:Facebook Nguyễn Gia Việt https://www.facebook.com/Conduongthienly.vi/posts/1612644722440288

 

 

 

Thursday, June 25, 2026

Bóng Tà Huy - Vườn Thơ Mới Xướng Họa

 THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 191_VƯỜN THƠ MỚI




 

 

 










Xướng:


Bóng tà huy


Rừng chiều xào xạc gió lay
Áo màu trinh nữ mây bay cuối trời
Sáo diều làm động tim côi
Cô liêu một nhánh chợt trôi bất thường
Mộng đời còn mãi tơ vương
Bóng người xa thẳm đoạn trường trong tôi
Chợt nghe lòng những bồi hồi
Phương trời viễn mộng xa xôi khó về !
Nguyễn Cang

 

Họa 1:

Tuồi Hạc
(Tặng anh trai cùng quê NC thơ diệp khúc)

Đời người tuổi hạc lá lay
Quên quên nhớ nhớ én bay lưng trời
Xuân về lại thấy đơn côi
Than thân trách phận mây trôi vô thường
Đâu còn cái thuở vấn vương
Người anh bạn hữu dặm trường quê tôi
Nhịp tim như trống liên hồi
Bao nhiêu kỷ niệm xa xôi tìm về
Hương Lệ Oanh VA
Jun. 04, 2026

 

Họa 2:

 

Giấc mơ tình

Chiều về nắng nhẹ gió lay
Đưa hồn trinh nữ nhẹ bay lưng trời
Lững lờ mang trái tim côi
Trên con thuyền mộng nổi trôi đời thường
Nợ nần còn chút vấn vương
Chuyện tình ngày cũ nơi trường làng tôi
Thúy Kiều Kim Trọng tái hồi
Liên hoan mỹ tửu, chè xôi quên về
THT

 

Họa 3:

Ước mong

Hiu hiu cành lá lung lay
Nhìn đàn chim én lượn bay khắp trời
Tiếc cho thân phận đơn côi
Giang sơn đã mất nổi trôi thất thường
Còn chi đâu nữa mà vương
Nhớ về quê mẹ đoản trường tim tôi
Ước mong cơ hội phục hồi
Nghìn trùng cách trở xa xôi cũng về
PTL

Họa 4:


Vọng cố tri

Một mình gió tám phương lay
Đưa hồn đa cảm nhẹ bay lưng trời
Trông xa thấm nỗi cút côi
Bạt ngàn dòng ái cuốn trôi mộng thường
Đất lành nở đóa sầu vương
Kết tình trái đắng đêm trường riêng tôi
Thời gian vò võ tưởng hồi
Chừng tri âm ở xa xôi vọng về
Tâm Quã

 

Họa 5:

 

Hương xưa

Gió đùa hàng phượng lung lay,
Lá vàng lả tả tung bay khắp trời.
Trông xa một cánh chim côi
Gọi bầy giữa áng mây trôi vô thường.
Giọng ve rền rỉ sầu vương

Gợi khơi ký ức mái trường làng tôi.
Đường đời chìm nổi bao hồi
Còn nghe tiếng trống xa xôi vọng về...
Minh Tâm

 

 

 

Tuesday, June 23, 2026

Chiều Cuối Năm - Quan Dương

 Chiều Cuối Năm












Tờ lịch trên tường nếu không là tờ cuối
Chắc ta cũng quên năm tháng tận săn lùng
Trời bên ngoài vẫn còn đông chưa xuân
Nghe câu hát bolero buồn đứt ruột

Ném tờ lịch cuối năm vào một góc
Giấu mùa đông trong ký ức quê nhà
Ly rượu chiều ta rót một mình ta
Nhấp một ngụm ngắm mình cùng đáy cốc

Thiên hạ happy new year đầy trên facebook
Ta cũng happy đáy cốc sót giọt buồn
Tiếng thở dài con mắt khép cuối năm
Điểm danh bạn từng thằng còn sót lại

Con phố hôm nay ngùi câu vọng cổ
Ngày cuối năm nắng cõng vội chiều về
Những chiếc xe đời lặng lẽ đi qua
chở thời gian một lần rồi biệt tích

và cứ thế bạc màu theo sợi tóc
Chờ đời ta dài cổ lặng thầm trôi

Quan Dương