Tuesday, October 20, 2026

Kiếp Nào Mới Yêu Nhau - Thuyên Huy

 

Kiếp Nào Mới Yêu Nhau

Nhớ người bạn thân tên Triệu nhưng không phải là Triệu trong câu chuyện hư cấu, tưởng tượng này

       - Anh Triệu chết rồi

   Khánh mắt rươm rướm đỏ cho Hiếu biết tin, anh chết cứng, không nói được một lời, cho dù là một lời chia buồn ngắn, anh nhìn Khánh, nhìn ra đường, cố tình che mặt mình, vừa bật khóc. Bên kia hồ con Rùa, sinh viên trai gái, vội vã trở vào trường Luật, đã tới giờ học buổi chiều. Khánh cố gượng cười, hẹn gặp lại, vì cũng đã lâu hai người chưa gặp lại lần nào, chào Hiếu, bước vội băng qua bên kia đường trở vào trường, vẫy tay nhưng không quay nhìn lại, cô vẫn còn rấm rức khóc.

*

   Bây giờ Sài Gòn đầu thu, mùa tựu trường, Hiếu ngồi bất động, nhìn theo, bóng Khánh mất hút trong đám đông sinh viên ở cổng trường, môi mặn đắng, buồn hơn cái buồn lần chia tay bạn bè trong đó có cô bạn Quỳnh, năm cuối ở sân trường trung học quận. Nắng thu rạng lên vàng màu lá rụng từ lâu, trời hâm hấp nóng, Hiếu vẫn ngồi đó, bên trong quán kem, vọng ra bài hát “anh không chết đâu anh” kéo dài nảo nuột.

*

   Hiếu và Triệu thân nhau từ nhỏ, từ những ngày ở trường tiểu học xã cho tới những năm trung học trường tỉnh. Ở cùng làng, nhà Hiếu ở cuối dãy phố chợ xã, cũng là cái tiệm tạp hóa nhỏ của gia đình, con một, nhà Triệu ở đầu con đường đất làng ấp trên, khá giả hơn, có hai cái xe Daihatsu chở người đi chợ quận hay lên tỉnh, và có cô em gái nhỏ hơn Hiếu và Triệu, con bé Khánh, ba bốn tuổi gì đó.

*

    Thời trường xã, mới ngày đầu, mỗi sáng Triệu đi bộ tới nhà Hiếu, chơi, chờ trống vào, lúc nào cũng vậy, hai đứa đều được má Hiếu cho bánh tiêu hay giò chảo quẩy ở tiệm chú Thiêm, hay nửa ổ bánh mì tiệm bà tư Lên, rồi sau đó có thêm cô em gái Khánh, vậy đó, giờ có thêm cái bánh, nửa ổ bánh mì. Lớn lên một chút, lớp nhì lớp nhất, chiều về, nắng chênh chếch buông bên kia sông Vàm, Hiếu cũng thường đạp xe đạp lên nhà Triệu, ăn cơm chiều luôn, bữa cơm với dế cơm nhét đậu phọng chiên hay nấm rơm xào tôm xào tép mà Hiếu không hề quên.

*

   Rồi cái tuổi thơ chưa biết buồn cũng qua mau, cả hai đậu vào đệ Thất, lên trường tỉnh, ở trọ cùng một nhà, đi về đã có xe ba Triệu lo. Hai bên gia đình thân thiết, có chút quà cũng gởi chia nhau, má Hiếu, má Triệu thường đi chợ quận, sắm cái này mua cái kia với nhau, ba Hiếu vui vẻ trông coi tiệm, ba Triệu vui vẻ đưa đón đón đưa. Hè về, thấy vắng thì khỏi tìm, nếu không ở trên nhà Triệu thì cũng dưới chợ nhà Hiếu, hai đứa thân quá thân, có gì cũng chia hai, chén chè, ly nước mía hay cây mía xót của nhà bác năm Hòa, chủ tịch xã, nói mà quên cô em Khánh, đi đâu cũng đòi theo, anh Hiếu Anh Triệu, không sợ mỏi miệng đòi cái này cái nọ. Hai đứa chìu hết, sợ con nhỏ ở nhà thui thủi một mình buồn trong những ngày học trên trường tỉnh, hai người vắng nhà.


*

   Khánh thi đậu đệ Thất trường quận, năm hai anh lên đệ Tam, đầu năm vào học vài tuần hai người chia tay nhau, Triệu chuyển về trường quận, như ba má anh ta muốn, để hai anh em đi về có nhau. Họ xa nhau không lâu, năm sau năm đệ Nhị, Hiếu cũng về trường quận, sau Triệu một năm học. Họ lại bên nhau như ngày trước, giờ có thêm cô em gái Khánh, áo dài trắng thả gió tóc đuôi gà trong sân trường.




*

   Mới mấy tuần đầu còn bỡ ngỡ, vài ngày sau cô bé Khánh đã có đám bạn mới, hai ba cô bé dân ở phố quận, hai ba cô dân Phước Trạch, Trãng Bàng, tụ năm tụ ba không còn lẩn quẩn với hai ông anh của những ngày xưa thân ái nữa.

   Trước lạ sau quen, Hiếu cũng đã nhập bọn với nhóm bạn của Triệu, những người bạn từ năm rồi, trong đó Quỳnh, cô con gái cùng lớp mà Hiếu đã để ý cái nốt ruồi son trên mí mắt từ ngày đầu, nhanh nhẹn, tánh tình vui vẻ, dễ gần gũi, Quỳnh nhà ở đầu dốc xuống chợ, sát bên rào trường tiểu học. Hiếu cũng vốn ăn nói lanh lẹ, hoạt bát, thân thiện nên nhập bọn với mọi người dễ dàng ngay từ đầu.

*

    Tình bạn thân của Hiếu và Triệu từ những ngày cắp sách trường làng vẫn nguyên vẹn như xưa, vì là năm thi tú tài đầu, nên dù có những chiều lang thang trên đường phố chợ, hay ngồi quán cốc ngã ba hoặc kéo nhau đạp xe lên tận Cao Sơn Tự, họ vẫn phải lo đèn lo sách, giúp nhau bài vở, Hiếu học cũng tạm gọi là giỏi nhưng Triệu giỏi hơn rất nhiều. Những buổi nghỉ trưa, đứng ở hành lang lớp, thấy Triệu nhìn ra, nơi Quỳnh và mấy cô bạn nói cười ngoài sân trường, dưới bóng mát của hàng cây phượng già trơ lá, mắt đăm chiêu mơ mộng, mơ mộng gì thì Hiếu biết, nhất là những ngày đi chơi bên nhau, bắt gặp những lần Triệu nhìn trôm Quỳnh một cách âu yếm, thì đúng như anh ta nghĩ, Triệu yêu thầm Quỳnh rồi, từ bao lâu rồi, không ai biết.

*

   Cả bọn đậu tú tài Một, rồi lên đệ Nhất. Kỳ thi cuối thời trung học, mùa thi mùa chia tay, ngã rẽ của tuổi làm người lớn vào đời, mấy anh con trai thì lo lắng hơn, rớt một cái thì quân trường rộng cửa chờ cho nên bọn Triệu không còn thường lang thang đâu đó trên đường phố nữa, bài vở ngổn ngang. Nửa năm, qua Tết, một trưa giờ chơi, hai anh bỏ ra cái quán cốc thường ngồi, uống nước, và Triệu cho Hiếu biết anh đã yêu Quỳnh từ lâu mà chưa dám nói ra, Hiếu ngẩn người dù đã nhận ra nhưng không ai biết cho là chính Hiếu cũng đã thầm thương Quỳnh từ lâu, từ ngày mới xuống trường quận. Hiếu thương cho bạn và thương cho mình. Cô bé Khánh thì vẫn miệt mài, tuổi mới lớn vớ đám bạn gái đó, chiều nào ra bến xe chờ ba đón, thì ôi thôi, hết cô này nắm tay hết cô kia bá cổ, cười luôn miệng chia tay, chờ xe chạy đi rồi mới chịu tan hàng.

    Sau nhiều lần suy nghĩ, tự hỏi mình, Hiếu quyết định cố quên, đừng để lòng lâm vào ngõ cụt, không lối thoát, giữ tình bạn không dễ tìm của một thời tuổi thơ và một thời làm người mới lớn. Nửa năm đệ Nhất còn lại rồi cũng qua nhanh, mùa thi xong, cả hai Hiếu và Triệu cùng đám bạn chơi chung cũng may mắn, không ai trượt vỏ chuối. Triệu đậu cao hạng bình lận, Hiếu lọt tọt ở hạng chót thứ, miễn đậu là mừng rồi.

*

   Xuống Sài Gòn, Triệu vào Kỹ Thuật Phú Thọ, ở trọ nhà người bà con bên cư xá Lữ Gia, bước hai ba bước, bên kia đường là đã tới trường, Quỳnh vào Đại học Sư Phạm còn Hiếu thì dỡ tệ, đành đi với con đường Duy Tân cây dài bóng mát qua trường Luật. Vậy cũng xong một phần đời. Mặc dù cùng ở dưới này nhưng Hiếu không gặp Quỳnh, vì đã nhủ lòng cố quên, cố tránh né chuyện cũ, Triệu có gặp Quỳnh hay không, anh không biết và không hỏi dù hai người gặp nhau thường, từ chỗ nhà trọ ở cư xá Bắc Hải, ra Tô Hiến Thành, Hiếu thả bộ qua Lữ Gia không bao xa.




   Nói vậy chứ ai cũng ráng lo thân, Hiếu học Luật, đi về không ai màng, vui thì tới giảng đường, buồn thì mua “cua” đem về nhà vừa ngủ vừa đọc, miễn làm sao thi cuối năm đậu thôi, nhưng số anh ta cũng còn may, xong năm đầu Luật qua học năm đầu trường khác, qua bên này rồi, anh cũng như bên Triệu, bên Quỳnh thì học không hết, nhức đầu nhức óc nên không thể rảnh rổi, lơ là, cho nên đường ai nấy đi, chắc vậy. Vào học chừng hơn tháng, gia đình Triệu dọn về trên Giang Tân, không còn ở chợ xã, cô bé Khánh thì cũng giã từ bạn bè chuyển lên trường trung học tỉnh. Từ đó về thăm nhà Hiếu ít khi lên tận Giang Tân, vã lại Triệu không có đó nữa, không còn gặp cô bé Khánh.

*

   Chừng vài tháng, một chiều chủ Nhật Sài Gòn thiếu nắng, Triệu qua cư xá tìm Hiếu, rủ nhau qua quán cà phê khá ngon quen trên đường Triệu Đà, nhìn người qua lại, xem có vẻ buồn buồn, cho Hiếu biết anh bỏ học, sắp lên đường vào Võ Bị Đà Lạt nay mai, Hiếu chưng hửng, chết lặng. Ngạc nhiên không ít, chưa kịp hỏi gì thì Triệu đã nói, anh đã tỏ tình với Quỳnh, trước ngày xuống Sài Gòn, mối tình mà anh yêu thầm nhớ trộm từ những ngày đầu năm đệ Nhị, cô nàng xin lỗi là đã có người yêu từ ngày đó rồi.

    Nghe xong, buồn cho bạn nhưng mừng cho mình, anh không muốn biết người yêu của cô là ai, với anh quyết định quên Quỳnh là quyết định quá đúng. Ngày đưa Triệu ra bến xe Đà Lạt, gia đình anh không có ai, hai người ngồi chờ xe khởi hành, không biết nói gì, bảo nhau nhớ bảo trọng, hy vọng gặp lại nhau một ngày nào đó và nhiều may mắn. Xe ra khỏi đường, Triệu vói tay ra cửa sổ xe, cười, vẫy chào, Hiếu đứng nhìn theo, và không ngờ lần đó là lần gặp cuối cùng.

*

   Trước ngày thi ra trường, lần đó quên hỏi địa chỉ, Hiếu tới trường Luật hy vọng gặp Khánh ở đó. Đứng tần ngần, xa xa cổng vào một chút nhìn quanh nhìn quất, sinh viên trai gái, từng đôi từng nhóm, đông nghẹt đi ngang qua, còn may, người thưa dần, rải rác phía sau, thấy Khánh đang đi một mình, cô cũng thấy anh khi vừa tới cổng. Giờ vào học nên Hiếu hẹn Khánh, giờ nghỉ trưa, cô nàng gật đầu cười, hứa. Trời tuy chưa sáng hẳn lắm nhưng đã có nắng, Hiếu thả bộ xuống phố, xe cộ càng lúc càng đông, Sài Gòn sáng nào cũng vậy.

   Lần này. Khánh nói nhiều hơn và càng nghe anh càng buồn thêm. Khánh buồn buồn nhưng không khóc, anh Triệu vào lính vì thất tình, anh yêu chị Quỳnh tha thiết, có thể bỏ tất cả vì chị. Anh mất ở một chiến trận nào đó bên hạ Lào, anh được đem về chôn ở nghĩa trang quân đội Gò Vấp. Giờ học tới, Khánh chào Hiếu, hẹn gặp lại, nếu có dịp, anh cũng không biết nói gì hơn, Khánh vẫy tay chào, băng qua đường, Hiếu thẩn thờ nhìn theo, mắt cay xé đỏ.

*

   Xuống Cần Thơ làm việc hơn một năm, lấy vài ngày phép Hiếu trở lên Sài Gòn, vào trường nộp đơn xin học cao hơn chút. Mọi việc xong xuôi, còn rảnh nhiều, vài đêm ngủ tạm ở nhà trọ cũ cũng vui, bác chủ nhà chẳng những vui vẻ đón mà còn lo lắng bữa cơm bữa cá. Hiếu đón xe về thăm nhà, tiệm tạp hóa cúa mình cũng vậy, thấy ba má bình an, khỏe mạnh anh cũng mừng, bà con hai bên chợ phố vẫn như ngày nào, vẫn “anh Hiếu cậu Hiếu”.




   Hiếu ngồi bên mộ Triệu khá lâu, từ sáng sớm, bó hoa trắng vẫn tươi từ lúc mua từ tiệm hoa bên đường, theo lời Khánh chỉ, anh tìm ngôi mộ không mấy khó. Nhìn tấm hình Triệu cười rạng rỡ, nu cười mà anh không quên từ ngày hai đứa còn nhỏ, lòng Hiếu chùng xuống, xót xa nhớ lời Khánh, Triệu bỏ học vào lính vì “thất tình”. Nhắc lại chuyện xưa, chuyện cũ làm gì thêm buồn, nắng lên rực sáng cả nghĩa trang, người vào thăm mộ càng đông hơn, những gương mặt và những bó hoa buồn, Hiếu vuốt mặt bạn thật lâu, giã từ, ngủ yên, hẹn gặp lại chỗ này nhưng không nói khi nào.

*

   Mai phải trở xuống chỗ làm, chiều thư bảy, thứ bảy Sài Gòn, Hiếu thả bộ lang thang trên đường Lê Lợi, nhìn người nhìn xe cho đở buồn, Hiếu tình cờ gặp lại Vân, cô bạn của Quỳnh, trong nhóm bạn cũ ở trường quận, hình như Vân cũng học bên Sư Phạm, khi đứng trước nhà sách Khai Trí.

   Trời cũng ngã bóng, nắng loang loáng hắt hiu trên đường, hai người vào con hẻm Casino ăn chiều, lâu quá không gặp nên hỏi không biết bao nhiêu chuyện mà hỏi cũng chưa hết. Vân cho biết, cô và Quỳnh cùng dạy chung ở trường trung học Lý Thường Kiệt trên Hốc Môn. Hiếu chỉ nói là mình làm việc dưới Vĩnh Long mà không nói làm gì.

  Trước khi từ giã, mặt Vân buồn hiu, không còn vui như trước đây, nhắc câu trả lời của Quỳnh cho Triệu, khi anh nói yêu cô nàng, “Quỳnh đã có người yêu rồi”, người yêu đó là ai, Vân hơi nghẹn lời, chắc là thương cho bạn “người yêu của Quỳnh là anh Hiếu đó”. Hiếu lặng thinh nhìn ra ngoài đường. Họ chia tay, Vân không hỏi Hiếu ở đâu, Hiếu cũng không hỏi lại, rồi cũng cười hẹn một ngày nào đó gặp lại, ở một nơi nào đó, nếu có dịp như lời hẹn của Khánh.

*

   Hiếu đứng nhìn theo bóng Vân khuất xa trong giòng người Sài Gòn chiều thứ bảy, về hướng chợ Bến Thành, nhớ lại lời cô nhắc về Quỳnh, anh nghe lòng mình quặn đau, hồn như chết một nửa, còn lại một nửa cũng nghẹn ngào nhưng, nhưng một lần nữa, đã muộn màng gợi lại. Bên kia sông, mặt trời đang đi ngủ, nắng chầm chậm tàn, Hiếu cười, một cái cười không vui không buồn, chuyện ngày đó xin “gởi gió cho mây ngàn bay”. Sài Gòn phố lên đèn.

   Thuyên Huy

   

  

  

   

  

 

    

 

  

   

 

 Ta vốc đầy tay giấc lặng thầm

 













1) Đưa tay vuốt mặt
nghe buồn
Lá soan chưa rụng
mưa suông sũng đời
Tiễn em về
đắng nhạt môi
Chẳng ai lên tiếng
một trời lạnh câm

2) Ngựa về
nhớ cỏ đồng hoang
Thoáng nghe văng vẳng
tiếng than lửng trời
Vó buồn
nhịp đã buông lơi
Đã nghe tâm sự
tả tơi xuống chiều

3) Một đời buồn đứng
phi lao
Trách chi
mỏi cánh hải âu mịt mù
Sao về
bỏ lại lời ru ?
Bỏ bờ bỏ bãi
thiên thu lặng thầm…

Chu Thụy Nguyên

Hoa Thiên Lý Và Rau Bí Luộc - Vũ Thế Thành

 

Hoa thiên lý và rau bí luộc




Trong tập truyện ngắn Hoa thiên lý của Duyên Anh, tôi thích nhất truyện Con sáo của em tôi, bây giờ đọc lại vẫn thích. Hồi chín, mười tuổi, truyện ngắn này làm tôi rơi nước mắt.

Vũ Thế Thành

 

Nhưng Hoa thiên lý mới là truyện ngắn đầu tiên của Duyên Anh, viết năm 1960. Hai năm sau, ông tập hợp thêm nhiều truyện ngắn khác để xuất bản, mang tên tập truyện Hoa thiên lý. Tôi bắt đầu đọc Duyên Anh từ tập truyện này.

Chắc phải có lý do nào đó mà Hoa thiên lý mới được Duyên Anh chọn để làm tựa đề cho cả tập truyện đầu tay của ông.

Hồi đó, đọc Hoa thiên lý tôi thấy văn phong nhẹ nhàng, nhưng câu chuyện lại không để lại trong đầu tôi một chút ấn tượng nào. Cậu bé Duyên Anh không thích giàn thiên lý vì không phải là cây để leo trèo, không có trái để hái ăn. Nhưng mẹ ông yêu hoa thiên lý, ông miễn cưỡng yêu theo.

Mẹ ông tự tay trồng và chăm sóc giàn thiên lý. Bà trồng ở quê nhà khi còn con gái, theo chồng lên vùng rừng núi hoang vắng cũng trồng. Không chỉ trồng thiên lý để hái hoa nấu canh cua đồng cho các con ăn mà còn thủ thỉ kể chuyện cho con nghe dưới giàn hoa lý… Sau này, bà dạy Duyên Anh làm thơ, rồi kể chuyện đời của bà cũng ở dưới giàn hoa đó. Chuyện đời của một thiếu nữ nhà quê gá duyên cùng chàng trai ôm mộng hải hồ, chỉ biết ru con chờ chồng bên giàn hoa thiên lý.

Duyên Anh lớn lên cũng mộng hải hồ như cha. Mẹ ông đứng bên giàn hoa lý chờ chồng, và bây giờ chờ con. Xa nhà, đời bầm dập, ông mới bắt đầu biết yêu hoa thiên lý. Hồi ức của đứa con xa mẹ nhớ về giàn hoa thiên lý quê nhà được Duyên Anh thuật lại bằng giọng văn buồn buồn, phẳng như mặt nước.

Duyên Anh viết nhiều, viết dễ như hát nhạc vàng, chưa kể ông còn viết nhạc, làm thơ. Nhạc thì tôi chưa nghe, nhưng thơ Duyên Anh hay không kém gì truyện, lại có phần hay hơn vì cô đọng.

Các truyện dài về đời sống giang hồ, du đãng nơi phố thị của Duyên Anh như Điệu ru nước mắt, Vết thù trên lưng ngựa hoang, Ảo vọng tuổi trẻ… đã một thời lôi cuốn, tôi đọc mê mệt. Sau này, tôi không thích nữa, dù không phủ nhận những tác phẩm đó đầy tính hiện thực, vẽ ra được bức tranh của xã hội miền Nam một thời, nhưng hơi cường điệu và xen lẫn cả chút mộng mơ phi hiện thực quá mức.

Nhưng truyện tuổi thơ của Duyên Anh thì không thể chê được. Tôi đọc không sót quyển nào. Những Thằng Vũ, Bồn Lừa, Chương Còm, Dzũng Đa Kao, thằng Côn, con Thúy… Lại còn món bánh đa riêu cua ở làng quê Thái Bình của ông mà tôi không nhớ trong truyện nào đó, Duyên Anh đã tả. Đọc phát thèm, phải tìm ăn cho bằng được. Sài Gòn làm gì có bánh đa cua, chỉ có bún riêu cua, hoặc canh bún riêu! Mãi tới năm 2000, ra Hải Phòng, tôi mới được nếm mùi bánh đa riêu cua ở quán vỉa hè, đối diện với công viên gì đó (quên tên). Thấy lạ, và ngon, nhưng vẫn chưa nguôi được bánh đa riêu cua Thái Bình của Duyên Anh, mà tôi nghĩ chắc phải ngon hơn, ông tả nghe mê quá mà… Hơn nửa thế kỷ sau, dù vẫn chưa được nếm mùi bánh đa cua Thái Bình, người đọc như tôi vẫn còn thèm trong ký ức, thì đủ hiểu Duyên Anh có tài mô tả ẩm thực thế nào.

Tôi chưa thấy hoa thiên lý, không hình dung được giàn hoa đó ra sao, nhưng hễ ai nói tới hoa thiên lý, tôi lại nhớ tới giàn bí xanh. Mẹ tôi thích ăn rau bí luộc chấm nước mắm, ăn năm này tháng nọ không chán. Tôi không thích rau bí, xác xơ có gì đáng ngon để ăn đâu, nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn mua chai nước mắm ngon làm quà cho mẹ tôi. Bà thích lắm. Món ăn trân quý của bà già nhà quê nơi phố thị là thế. Cả đời là thế…

Duyên Anh nhớ mẹ, viết truyện ngắn đầu tay Hoa thiên lý trong cảnh bần hàn, dưới chân cầu Tân Thuận. Mẹ tôi mất đầu năm 2011. Mùa Vu Lan năm đó, tôi ngồi bệt dưới đất viết bài Những thằng già nhớ mẹ trên chiếc bàn nhỏ ở Đà Lạt. Nước mắt trên bàn phím! Đó là tùy bút đầu tiên trong đời tôi.

Ở tuổi xế chiều đọc lại Hoa thiên lý, tôi thấm từng câu từng chữ. Tôi bắt đầu biết yêu rau bí luộc. Tôi trồng giàn bí ở sân thượng. Tôi biết nhận ra, rau bí luộc chấm nước mắm rất ngon. Cái ngon từ ký ức muộn màng.

Vũ Thế Thành (trích “Những thằng già nhớ Mẹ”, tái bản 2022)

304Đen – Llttm -sgtc

 

Trời Ngó Lại - Nhóm Vườn Thơ Mới Xướng Họa

 THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 197_VƯỜN THƠ MỚI




 

 



















Chữ Hán trong tranh "ông tơ bà nguyệt":


Hàng chữ chiều đứng ở góc phải:

匪愿聘鳳 Phỉ nguyện sính phụng: thỏa lòng mong ước gặp được người tri kỷ, kết đôi vợ chồng tương xứng, hạnh phúc.

Phỉ nguyện
匪願

Phỉ: thỏa mãn, vừa lòng;

Nguyện: ước nguyện, cầu mong . 

Phỉ nguyện: thỏa lòng ước nguyện, đạt được điều hằng mong mỏi. 


Sính phụng
聘鳳

Sính: lễ dạm hỏi.

Phụng:loài chim phượng cao quý.

 

Trong văn học cổ, "sính phụng" dùng để ẩn dụ cho việc kết duyên lứa đôi tương xứng, hòa hợp

Hàng chữ phia dưới:

 

Bên phải:百年:bách niên

Bên trái: 偕老: giai lão

 

百年 偕老 bách niên giai lão: trăm năm cùng nhau đến bạc đầu 

 

 Xướng:


Trời ngó lại

Ngày ấy buồn người cất bước sang sông
Nhìn xe hoa dòng lệ ướt hai hàng
Tiếng pháo vu quy nhức nhối tâm can
Đành thầm khóc cho cuộc tình dang dở

Ngày tháng trôi qua lê bước hững hờ
Mong niềm đau sẽ đi vào quên lãng
Rồi một hôm tim thổn thức rộn ràng
Tao ngộ nàng trong buổi tiệc đoàn viên

Tiếng sét ái tình như bị thôi miên
Dang rộng hai tay nhận cảnh Thiên đàng
Hết tháng ngày phiêu dạt cảnh lang thang
Vui ca hát dưới trăng vàng rực rỡ

 

THT

 

Họa 1:

Mặc Kẻ Bội Bạc

Cớ chi bỏ bến lại vội sang sông
Người đứng nhìn theo lệ đổ hai dòng
Lặng nghe pháo hồng nổ vở tâm can
Buồn nào hơn một mối tình tan vỡ!

Ối mặc kẻ bạc, mặc người hờ hững
Như nước chảy mây trôi… đành quên lãng
Tội gì phải thổn thức, phải rộn ràng!
Chẳng mơ màng đến một buổi đoàn viên.

Có gặp nàng ta chẳng bị thôi miên
Kẻ bội bạc sao tạo được thiên đàng
Thà sống trong cảnh đời phiêu lang thang
Hơn cúi mặt cảnh vàng son rực rỡ!!!

Hàn Thiên Lương


Họa 2:

 

Gọi Đò

 

Tiếng gọi đò ai bước vội qua sông
Nhớ cha thương mẹ lệ đổ đôi hàng
Xót xa trong dạ ruột thắt tim can
Lần đầu xa xứ chợt hồn tan vỡ

Từ giã thơ ngây tuổi trẻ tình hờ
Bằng lòng hiện tại đành quên xao lãng
Đức lang quân thương thấu hiểu rõ ràng
Bồi hồi trong dạ ý mã tâm viên

Lấy chồng xa xứ cứ nghĩ liên miên
Một thuở vu quy lễ cưới đôi đàng
Phía trước con đường rộng mở thênh thang
Kỷ niệm hiện về lòng vui rạng rỡ

Hương Lệ Oanh VA
Sep, 29. 2026 

 

Chú thích:

Tâm viên ý mã (心猿意馬): Tâm như vượn leo trèo, ý như ngựa chạy rong. Nhóm từ này thường được dùng để ví dụ cho vọng tâm của người ta luôn luôn biến động bất định

 

https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2m_vi%C3%AAn_%C3%BD_m%C3%A3

 

Họa 3:

 

Duyên trời định

Lễ vu quy náo nhiệt cận dòng sông

Người qua đường tọc mạch ngóng thành hàng

Pháo đì đùng làm nát ruột xé can
Đành cam phận không than tình lỡ dở


Nén thương đau chấp nhận cuộc sống hờ

Tia hy vọng bến bờ dần quên lãng
Bổng một hôm trước mắt hiện ràng ràng
Nàng thẫn thờ tản mạn ở hoa viên


Sợi tơ hồng tiến tới buộc hai đàng
Kể chuyện u buồn bất tận triền miên
Quá an vui không nghĩ đến thuốc thang
Duyên trời định cả hai đều mừng rỡ

 

 PTL

 

 

Họa 4:

 

KHÔNG LÀ MƠ

Buông súng rồi vội giã biệt núi sông
Bỏ lai người thương ướm lệ đôi hàng
Đành cam lòng chịu cắt ruột nén can
Ôi số phận…Biết ngày mai hay dở

Viễn xứ bao năm tất bật ơ hờ
Tưởng hết nhớ nào ngờ không xao lãng.
Như đang mơ duyên nợ cứ buộc ràng.
Nên dặn lòng mở lối hướng đoàn viên

Gió tháng mười dìu dặt lối thùy miên
Thả hồn về sum họp chốn địa đàng…
Lên xuống cùng một nhịp của cầu thang
Nàng trước mặt… Tròn vòng tay… Mừng rỡ!


TQ
Oct 5, 2026

 

Họa 5:

 

DUYÊN XƯA

Thuyền dẫu rời bến lạnh một dòng sông
Bóng ai còn khuất nẻo sang đôi hàng
Tiếng lòng còn nhói tận đáy tâm can
Trêu duyên phận khiến người tình dang dở 

Tháng năm đơn
côi lặng lẽ hững hờ
Khép chặt trái tim chôn vào quên lãng 
Ai ngỡ ngày nao gió lộng rộn ràng

Gặp lại người trong buổi tiệc đoàn viên

Ánh mắt trao nhau ngỡ bị thôi miên 
Nối lại đường tơ bước tới thiên đàng 
Chấm dứt từ đây số kiếp lang thang 
Cùng nhau hát ca nhìn trăng rực rỡ

AI

 

 

 

 

 

 

Ngừa Cổ - Lê Vĩnh Húy

 

Ngứa Cổ

Tôi là con chim đến từ núi lạ/ Ngứa cổ hát chơi/ Khi gió sớm vào reo um khóm lá/ Khi trăng khuya lên ủ mộng xanh trời…/ …/Chim ngậm suối đơm trên cành bịn rịn/ Kêutự nhiên nào biết bởi sao ca... Xuân Diệu thời tiền chiến đã viết như vậy. 

Vĩnh Phúc

 


Nhưng giả sử loài chim có thể nghe và nói được tiếng người, ắt hẳn đây đó sẽ nổi lên không ít lời phản đối. Có thể một anh chích chòe hay một chú họa mi nào đó sẽ sửa lưng nhà thơ rằng: “Này thi sĩ hay mộng mơ và giàu tưởng tượng! Khi chúng tôi hót, không phải chỉ vì ngứa cổ hát chơi và nào biết bởi sao ca đâu. Chúng tôi biết rõ tại sao chúng tôi hót. Có chủ đích đấy!” 

Như vậy là khi cất tiếng hót, chim có chủ ý. Nếu theo dõi một con chích chòe hay một con hoàng oanh đang hót chẳng hạn, bao giờ ta cũng thấy chúng hay chọn những cành cây cao mà đậu. Hễ con nào càng tự tin, càng có đởm lược, thì càng thích đậu những chỗ thật cao. Như thế tiếng hót của chúng sẽ vọng được đi xa. 

Và khi cất tiếng hót, con chim trống đang làm một việc nhắm hai mục đích: lấy le và tán các con chim mái quanh đó, đồng thời xác định lãnh vực ngự trị của mình. Cũng chẳng khác gì chúa sơn lâm dùng tiếng gầm của mình để thị uy với các đối thủ, đồng thời thu hút phe khác phái. Một con chim trống có tiếng hót càng véo von, càng dũng mãnh, thì càng dễ quyến rũ những con mái, đồng thời làm cho các con trống khác đang có mặt trong khu vực lân cận, nếu tự nhận thấy non cơ hơn, sẽ phải lảng xa, không dám bén mảng tới gần. Giả sử có một con trống nào chưa chịu khuất phục, muốn thử tài, tất sẽ cất tiếng hót đối đáp lại. Cuộc tranh tài diễn ra cho tới khi một bên phải chịu thua và bỏ đi. Đó là một cách tranh tài cao thấp giữa những con chim trống. Con gà tức nhau tiếng gáy, thì con chim cũng vậy. Chúng dùng giọng hót để phân định tài sức, chứ ít khi phải sử dụng tới móng cựa như mấy chú gà trống vũ phu sống tầm thường nơi góc sân cuối vườn. Sau khi thi thố nội lực qua tiếng hót, đấu thủ nào tự lượng sức thua kém, sẽ lặng lẽ bỏ đi. Không việc gì phải xù lông phô cựa. Cao thượng biết chừng nào! 

Về nghệ thuật chơi chim hót, người Trung hoa đã đạt đến một trình độ rất cao. Phải gọi là một nghệ thuật, vì nó đòi hỏi nhiều dụng công và kiên nhẫn. Người ta có thể căn cứ vào giống chim được nuôi, vào giọng hót của con chim, vào công phu tỉ mỉ trong việc huấn luyện và chăm sóc chim, để đánh giá về nhân sinh quan, về tính tình, tư cách và trình độ thẩm âm của người chơi chim. 

Cũng có rất nhiều người Việt chơi chim đã đạt tới một trình độ thưởng ngoạn cao. Nhưng lắm khi ‘cái khó nó bó cái không khả năng tài chính là một yếu tố quan trọng quyết định sự chọn lựa giống chim nuôi của khách tài tử. Vì tốn kém không ít, chưa kể công phu chăm sóc chim. Đám thanh thiếu niên thường thích nuôi chào mào: hay hót, dễ nuôi nhưng bình dân. Chim cu gáy là thú chơi của các nhà phú nông, các ông lý trưởng, chánh tổng. 

Bên cạnh chào mào thì chim khuyên (tức vành khuyên) được ưa chuộng bởi những người thích một cái gì nhẹ nhàng, không ồn ào, không đồ sộ. Cũng như chào mào, chim khuyên là loại thường thấy ở Việt Nam – dễ bẫy, dễ nuôi, không tốn kém. Chỉ cần một miếng chuối, một cái hoa mướp hay dâm bụt, thỉnh thoảng thêm vài con châu chấu, cũng đủ đem lại hạnh phúc cho chú chim nhỏ bé xinh xinh, để chú cất tiếng hót thánh thót. Có hai loại chim khuyên: một loại mình nhỏ, nhiều lông xanh, tiếng hót nhỏ nhưng thánh thót, và ưa hót; một loại mình lớn hơn, lông nhiều sắc vàng hơn, tiếng hót lớn, nhưng không véo von bằng tiếng chim xanh. 

Cao hơn một bực và cũng đắt tiền hơn một chút, là chim yến. So với các loài chim hót nuôi trong lồng, chim yến là loài chim dễ thuần hóa nhất. Chúng sinh sản dễ dàng như ở ngoài thiên nhiên vậy. Cho nên có một số người nuôi chim yến để kiếm lời. Yến được phân loại tùy theo sắc lông. Ví dụ hồng yến, bạch yến, hoàng yến, thanh yến. Tiếng hót chim yến thường thường giống nhau. Chỉ những con hót hay mới thay đổi cung bậc trong giọng hót. 

Trên chim yến có sơn ca. Sơn ca là tiếng hót của bầu trời xanh vút, của bao la cánh đồng cỏ, của trùng điệp nhấp nhô những rặng núi. Hãy tưởng tượng ta đang đứng giữa cảnh mênh mông của bầu trời và đồng cỏ, bỗng nghe tiếng hót của sơn ca. Ngẩng đầu lên, cố phóng tầm mắt về phía phát ra những âm thanh thánh thót trong veo như tiếng những tấm phong linh bị làn gió khua động, ta bỗng nhận ra một chấm nâu nâu đen đen. Cái chấm lớn dần cho đến khi hiện ra một chú sơn ca đang nhấp nhô đùa với gió trên bầu trời xanh ngắt. Mọi ưu tư bỗng nhiên tiêu tan hết, thay thế bằng một cảm giác thanh thản thoát tục. Cảm giác này khác hẳn cái cảm giác khi giữa trưa hè nghe tiếng chim cu từng nhịp lơi vọng ra từ lũy tre trước ngõ. Tiếng cu gáy giữa trưa hè đem lại cho người nghe cảm giác như bị đè nặng bởi một nỗi buồn làm cho muốn nghẹt thở. 

Trái lại, cũng giữa trưa hè mà nghe tiếng ríu ríu nho nhỏ của một chú chim khuyên thì tuyệt vời. Mắc cái võng dưới một giàn thiên lý với những chùm hoa màu lá chuối non buông thõng quanh một lồng chim khuyên nho nhỏ. Trong giấc ngủ chập chờn, tiếng chim líu lo riu ríu bên tai, chẳng khác chi tiếng thỏ thẻ thì thầm của một người yêu bé nhỏ ru ta vào giấc mộng. Chim khuyên không hót lớn bằng các loài chim khác, vì vóc dáng nó nhỏ bé mảnh mai. Bởi vậy muốn thưởng thức giọng hót của chim khuyên, phải lựa lúc thật yên tĩnh như buổi sớm mai, hay giữa trưa hè khi mọi sinh hoạt đều lắng đọng. Nằm mơ màng trên chiếc võng mắc dưới giàn thiên lý; mỗi lần bị làn gió lay động nhẹ nhàng, những chùm hoa nho nhỏ phả vào khứu giác một làn hương nhẹ nhàng thoang thoảng, và nghe tiếng chim khuyên dịu dàng thỏ thẻ tâm sự, ta tưởng như đã lạc sang một thế giới thần tiên nào rồi. Cho nên không lấy làm lạ khi thấy những ông già người Hoa nghiện thuốc phiện thích nuôi chim khuyên. Sau khi đốt một hai bị, nghiêng đầu hớp một ngụm trà nóng cháy môi từ cái bình đặt bên cạnh, rồi xoay mình nằm vắt chân chữ ngũ, đệ tử Phù Dung Tiên Nữ thả hồn lâng lâng theo khói thuốc, bên tai thoang thoảng tiếng chim khuyên đang líu lo. Lúc đó tiên ông đang đằng vân! 

Lộng lẫy hơn nhiều, kiêu sa hơn nhiều so với vành khuyên, đó là hoàng oanh. Nếu vành khuyên được ví như một người yêu bé nhỏ dịu dàng giản dị thuộc tầng lớp dân dã, thì hoàng oanh là người đẹp xuất thân từ chốn đài các thượng lưu. Tuy nhiên, có giọng vương giả hơn, chính là họa mi. So với hoàng oanh, họa mi thua về dung mạo, nhưng giọng hót vượt trội hơn. 

Người ta thấy các nữ danh ca của chúng ta thích dùng tên chim làm ca danh. Dĩ nhiên, phải là tên những loài chim biết hót, và hót hay. Nhưng họ cũng kén chọn lắm. Bằng chứng là không hề thấy danh ca nào mang tên Chào Mào hay Chích Chòe, mà chỉ toàn những tên đẹp như Họa Mi, Bạch Yến, Hoàng Oanh, Sơn Ca, Kim Tước. Hẳn là các cô muốn ngụ ý rằng giọng hát của mình cũng du dương, ngọt ngào, véo von, thánh thót… như tiếng hót của các loài chim quí này. 

Nhưng ít người để ý biết rằng tất cả những con chim hót hay và đẹp đều là chim trống! 

Vĩnh Phúc, Phiếm 2006, Nxb Tam Vĩnh, London, 2006

304Đen – llttm - sgtc

Mã Số Giữa Kiên Và Ong - Cung Tích Biền

 

Mã Số Giữa Kiến Và Ong


Gởi Bạn, Họa sĩ Trịnh Cung.

I


Trong hiểu biết của tôi, kiến bò, ong bay. Kiến ở hang. Ong gầy tổ. Cùng ưa ngọt. Kiến, đường. Ong, mật. Hai loài này có một tổ chức xã hội khá chặt chẽ, tính kỷ luật rất cao, phân bố trách nhiệm rõ ràng. Có phải chỉ do mỗi phần bản năng, chỉ thuần nhất trong cấu trúc phi-tri-thức mà chúng hợp nhất, đồng điệu chăng.

Xưa kia cùng đứng trên cầu, Trang Tử và Huệ Tử nhân cùng nhìn một đàn cá lượn trong dòng nước trong. Một này cắc cớ nói:

– Trông lũ cá vui thật.

Hai kia hỏi vặn :

– Ông có là cá đâu mà biết cá vui buồn.

Một này phản kích:

– Ông có là tôi đâu mà ông biết cái cách tôi hiểu cá.

Có người sẽ bảo tôi: “ Ông có là ong là kiến đâu” mà biết bọn này đoàn kết, rất mực hòa thuận hòa hợp. Lại có khi cùng hòa xác ngay trong một chén… nước đường.

**

Thuở còn là một đứa bé quê nơi thôn dã, mùa lạnh, tôi thường ngồi co ro nhìn đàn kiến di tản từ cái hang sâu trong hốc nhà lên lánh nạn đâu đó trên vách cao. Lũ kiến tiên tri một cơn bão lụt sẽ tới, hang ổ sẽ bị ngập nước, nên vội di chuyển chỗ ở. Lắm khi thời tiết còn ấm áp, nắng trong gió lành, lũ kiến đã nhận ra tín hiệu mưa bão trước con người. Cảm ra cái rờn rợn của một cuộc nước Đỏ ngầu, Đỏ dữ, từ núi non tràn về [quê tôi dưới chân Trường sơn]. Sẽ ngập tràn, quét sạch. Sẽ bị tiêu vong, chết thảm trong bùn tanh nước Đỏ.

Nhìn Con-đường-kiến, tôi biết kiến biết Nói. Ít ra là “Nói Cùng Nhau”. Đương nhiên bằng ngôn ngữ Kiến.

Chúng nói khi cần Nói. Nếu tôi được làm con kiến, tôi trả lời ngon ơ lúc này: “Chúng tôi đang Nói”.

**

Lại trá ngụy. Kiến-biết-Nói ?

Dùng tuệ nhãn có thể nhìn ra cái bức tranh thiên tiên, đẹp đẽ tuyệt trần này:

Trong lúc đất trời âm thầm, lẫn âm mưu, gây ra mưa to bão lớn, bọn kiến từ những cái hang lỗ nhỏ trong lòng đất đã đồng loạt rời ổ. Chúng nương nhau, dìu dắt, khiêng vác cả những hạt gạo hạt tấm trắng nõn trên vai, bò ngược lên từng cao. Chúng rất trật tự. Phân công rất rõ ràng. Có những kiến lớn cõng kiến bé. Kiến dìu kiến. Kiến tải thương. Kiến nam nhi trợ giúp kiến yểu điệu bụng mang bầu.

Sợ thất lạc, con này cố làm sao gần gũi con kia, tạo thành một lối đi như một sợi chỉ nâu trên vách nhà. Sợi chỉ ngoằn ngoèo kham khổ, lúc nắng trời hãy còn quàng xiên in trên bờ vách. Có thể có bóng đổ từ một hàng cau, khóm trúc.

Mỗi con kiến “đi công tác” xong, trên từng cao trở về, trên đường đi, nó cụng cái đầu nhỏ nhoi vào đầu con kiến bò ngược chiều. Hai con nghiêng vào nhau như ta cụng ly mời dzô chăm phần chăm. Chắc là hai kiến rỉ tai tâm sự, báo tin lành dữ, chỉ đường cho nhau. Hình ảnh hai kiến cụng đầu chốc lát này này đẹp lạ lùng. Âm thầm, thân thiện. Có khi chúng lại cùng đồng loạt đổi hướng đi, nếu động ổ.

Nếu kiến không biết “Nói ” thì kiến làm cái động thái gì đây?

Thuở khoa học chưa phát triển, con người thường phải lắng nghe thiên nhiên. Phải theo Lệnh-của-kiến. Biết, do Phát-ngôn-của-chuồn-chuồn.

Trong những chiều hôm, mây trắng trời trong. Cha tôi chợt nhận ra tiếng sóng biển phía Đông Trì có hơi bất thường, ông nhìn tín hiệu từ đàn kiến bò kham khó trên bờ tường đất, hoặc ngoài vườn lũ chuồn chuồn bay thấp la đà mặt đất, ông liền bảo mẹ tôi: “Trời sắp giông gió rồi bà ơi, thu dọn đồ đạc đi là vừa”.

Con kiến con chuồn chuồn có khác con người. Con người thường đâm đầu vô chỗ chết.

Xa quá rồi, chìm trong bao chuồn chuồn cánh mỏng, lời báo bão ấy.

**

Có những Nói-không-thanh-âm. Cây đinh máu Chúa? là thiên-thu-Nói.

Khổng Tử dạy môn đệ cái Thể của Im Lặng: “ Thiên hà ngôn tai”. Trời có nói gì đâu. [Thiên hà ngôn tai, tứ thời hành yên, vạn vật sinh yên, thiên hà ngôn tai! // Trời luôn tịch mặc, bốn mùa vẫn vận hành, vạn vật vẫn sinh trưởng, nào, trời có nói gì đâu!]

Có những Tiếng-không-Lời.

Âm vang của cây đinh đóng lên thân Chúa?

Có Những Lời-không-phát âm.

Trong pháp hội núi Linh Thứu, xưa kia, khi được Chúng dâng một cánh hoa Ưu đàm, thỉnh Đức Phật vị Chúng thuyết Pháp. Thay vì thuyết giảng, Phật yên lặng mỉm cười, tay cầm cành hoa se nhẹ giữa những ngón. Chẳng ai trong Chúng hiểu được gì, ngoài Ma-ha Ca-diếp lĩnh hội được ý nghĩa của nụ cười, và trả lời bằng một mỉm cười. Ma-ha Ca-diếp có Chính pháp nhãn tạng, hiểu ra “Dĩ tâm truyền tâm’ này trong “Niêm hoa vi tiếu”. Ma-ha Ca-diếp, sau đó, đã nhận tâm ấn, trở thành Tổ thứ Nhứt của Thiền Tông.

II

Ngạn ngữ dân gian:

“Kiến ăn cá. Cá ăn kiến”.

Là để an ủi cái thời này anh làm cha, ăn trên ngồi tróc, hà hiếp người. Lại có lúc anh bỏ của chạy lấy người, vì kẻ kia có dịp lên ngôi. Mà cái trả thù thì luôn gấp ba gấp năm bảy lần cái chịu thù. Vay một vốn máu nhỏ nhoi, trả bằng một nửa nước thịt máu, lẫn xương hồn.

**

Phận kiến kể cũng đau. Bà con cháu chắt tị nạn lụt lũ. Nhưng chạy đâu tai trời ách nước. Như Thủy tinh trả thù Sơn tinh, để chụp giựt người mẫu. Ngập cả núi, sá chi cái Phủ Đầu Rồng. Bấy giờ lũ cá có dịp theo bùn tanh nước Đỏ. Đâu chỉ cá xà cá mập, ngay lia thia tép riu, cũng tha hồ đớp lũ kiến thất cơ lỡ cuộc trôi bập bềnh mặt nước.

Lo chi, có lúc sẽ nước lũ rút đi, cá không kịp trôi về sông, nằm phơi mình trên cạn. Kiến lại tha hồ xơi tái.

**

Mà. Có trả thù nào là đẹp đẽ đâu. Cũng đáng tởm cà thôi. Kiền rồi sẽ có dịp nhậu xác cá trả thù. Trên bờ cạn, bu quanh cá chết sẽ là đông đảo, đủ trường phái kiến, tạo thành một cục màu nâu nâu, nhung nhúc. Bên trong cái nhung nhúc “ vui vầy thắng lợi” vẫn là một xác chết, sình thối. Dù là xác cá.

Kiến chết nước, cá chết cạn.

Ong vẫn bay thanh thản trong không, tiếp tục hút mật.

Ong không nợ Kiến. Chẳng vay gì của Cá.

Nhưng vào cái thời Meo với Chát, tin đi-về nhanh như chớp sấm, anh im lặng, anh đứng trung lập, đôi khi cũng ăn đòn. Bị văng mảnh, tức khí, anh bất cẩn nhào vô, cũng te tua, bị tan tành cái Hũ Mật từ lâu dành dụm.

**

Trung quốc có Trường giang, tức Dương tử giang, dài những 6.600 km, đổ xuống từ độ cao gần 6000 mét. Bờ này thăm thẳm bờ kia mênh mông. Có nơi như biển. Trường giang có hằng trăm chi lưu chia nguồn. Có những chi lưu kỳ vĩ. Là những: Mịch La nơi Khuất Nguyên từ vẫn; Tiền Đường nơi Nàng Kiều huyền hoặc gieo hoa; Động Đình Hồ Lý Bạch ngâm vịnh, là Xích Bích lưu truyền sử lịch.

Nghìn năm trước Trường giang không hề có một cây cầu.

Từ thế kỷ thứ VI Bồ-đề Đạt-ma qua sông bằng một chiếc lá.[đúng ra, một chiếc thuyền con trước sóng dữ].

Bồ-đề vượt Trường giang bằng cái: không trọng lượng, không tốc độ. Càng không hề là khinh công.

Bồ rất xa, Bồ ở ngoài Cá và Kiến.

III

Ong và Kiến. Một tập thể đào hang. Một loài gầy tổ. Cùng một hang một tổ, nhưng lắm khi chẳng cùng băng đảng. Kiến có kiến cánh kiến càng. Ong có ong rừng ong nhà.

Đã ai từng nuôi chung kiến với ong để thử hòa giải hòa hợp một trận tao phùng giữa hai loài.

Đã ai ra công dạy con ong biết đào hang? Dạy kiến bay đi tìm mật?

Nhân loại văn minh quá cỡ thợ mộc này, đang dò tìm một Sự Sống ở trái đất thứ hai, chắc có ngày sẽ dùng kỹ thuật “phi mã số” giải mã được ý nghĩa “Nói với Nhau” giữa ngôn ngữ các loài vật. Tỉ như con én vui liệng trong bầu trời mùa xuân ắt là trong cổ họng, vừa vui vừa ngứa, của nó có phát ra bài tình ca, tợ tợ như “Anh cho em mùa xuân. Nụ hoa vừa mới.. nợ” [hát đúng theo xôn-phe [phẩy] của bản nhạc thì không phải Nở. Mà Nợ]. Nợ của ai? thì đi hỏi con Én.

Khác lập trường với én có thể tức giận, gạn hỏi: “Này én, mày hát vậy là có âm mưu gì? Ai đứng đằng sau?”

Con én, chắc nó sẽ trả lời: “Sau lưng em chỉ là một bầu trời xanh. Rất trong và… rất xanh”

**

Sau khi giải mã được ngôn ngữ muôn loài [chắc là cùng lúc với Tin Mừng đã tìm được trái đất thứ hai, có giống người Đại Cồ Việt sống… trên ấy] ta sẽ có dịp nối mạng. Web Ong. Blog Kiến. Để đọc xem hai Tiếng-Nói, của hai tập thể lắm nhiễu nhương lẫn chẳng hiền lành này. Kiến cắn phổng da phỏng thịt. Ong đốt tím mặt, lòi tròng trắng lòng đen. Đừng tưởng ong mật không biết cắn.

Bấy giờ, nhắc lại, khi loài người tìm ra những comments tràn ngập trên trái-đất-thứ-hai, Damau.org [bấy giờ Đặng Thơ Thơ thân yêu, Phùng Nguyễn thân ái đã ngoẻo củ tỏi từ trăm năm trước] nhưng theo truyền thống “Văn chương không giới hạn trong… Trái Đất” bọn chắt chít đáng kính phục của Phùng của Đặng, sẽ tiếp tục mở một Hội luận giữa loài bay với loài bò địa đạo, để tìm ra Tiếng Nói Chung. Mà đúc kết một trận đồ Hội luận Tương phùng, có chân thành mỗi người nhịn nhau một chút, đầy cười vui, thuận hòa mưa móc hy vọng?

Chờ trăm năm mà có kết quả tốt đẹp, có thật là sum họp, cũng nên Chờ. Chết, làm di chúc bảo cháu chắt lên gân… chờ.

**

Công Tôn Long, triết gia thời Chiến quốc, một trong những đại biểu của học phái Danh gia, tiêu biểu cho suy luận quỷ biện, cho rằng:

“Ngựa trắng không là ngựa”

[Bạch mã phi mã]

Ngựa là ngựa. Mà trắng là trắng.

Ngựa là tên gọi hình thể. Trắng là tên gọi màu sắc.

Hình thể là chỉ định chung cho loài [nội dung/thực]. Màu sắc là biểu hiện cá biệt [danh].

Từ cách quỷ biện này, ta gia thêm sự chất quỷ. Sẽ có khái niệm:

“Việt cộng sản không là Việt”

Việt là Việt. Mà Cộng là Cộng.

“Việt quốc gia không là Việt”

Việt là Việt. Mà Quốc là Quốc.

Nhưng đâm thử một nhát? đều có máu. Xét nghiệm, máu Việt nào cũng là máu như nhau.

Như sữa vắt ra từ vú con bò “da beo” Hà lan [Bò da beo không là bò] vẫn là sữa bò.

**

Tử biệt cái Danh sắc màu, tìm về Chính danh.

Nhưng tìm đâu, nơi nào để thấy Việt? cho rằng Việt? Đúng, đó là Tinh Việt? Đây là câu hỏi không mơ hồ.

Cánh cổng chúng ta “quay về” hôm nay không là cổng thành Chiến quốc trước mặt Công Tôn Long thuở nọ.

Chúng ta vẫn nỗi niềm:

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu”.

[Hoàng Hạc Lâu /Thôi Hiệu]

“Chiều hôm chốn cũ tìm đâu thấy

Chỉ những sầu thôi, khói sóng này”

[Cung Tích Biền dịch]

Thuở chiến chinh, cùng chia lửa.

Thời đờ-mi-thanh-bình, chia Cái Đau.

Cung Tích Biền.
Đồng Ông Cộ 08-09.