Phố Thu Đi
Thursday, May 28, 2026
Trái Đắng & Bức Tranh Quê ... Vườn Thơ Mới Xướng Họa
THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 190_VƯỜN THƠ MỚI
Trái đắng
Bà kia chành choẹ lại lanh chanh
Hợm hĩnh, khoe khoan nổ nát bành
Thương cảm ông chồng câm miệng hến
Cố tìm phương án để ngừng phanh
Năm năm khốn đốn lời chanh ớt
Tháng tháng lao đao tiếng tỏi hành
Vui vẻ an phần ôm trái đắng
Ngợi khen tánh nết nhất kinh thành
THT
Bức
tranh quê
Gà
trống tìm mồi giữa bụi chanh
Lợn con ủn ỉn nhảy tanh bành
Mục đồng ba đứa chờ mưa rớt
Thôn nữ vài đôi ngại áo phanh
Những lúc rảnh rang bày tiệc rượu
Nhiều khi đắc thắng tỏ quyền hành
Mơ về phố thị đời thay đổi
Mộng ước ai ngờ lại bất thành !
Nguyễn
Cang
May,
16, 2026
Họa 2:
Đoan
trang
Bếp
núc xong rồi ra hái chanh
Tính
tình điềm đạm chẳng tam bành
Dù chồng lêu lỏng luôn kiềm chế
Gìn giữ êm nhà không cắt phanh
Bận rộn tháng ngày chăm trẻ nhỏ
Gian lao tứ đức vẫn thi hành
Đoan trang thùy mị không than vãn
Xây
dựng cơ ngơi với chí thành
PTL
Họa 3:
Tình Nồng
Xứ
nóng tình nồng ly đá chanh
Trưa
hè oi bức nổi tam bành
Đoan
trang nhi nữ đừng manh động
Thùy mị công dung phải giử phanh
Chồng nóng vợ lành luôn hạnh phúc
Cơm sôi lửa nhỏ chẳng ai hành
Tiếng
đồn tốt đẹp vợ chồng trẻ
Ai
nấy đều khen nhất thị thành
Hương Lệ Oanh VA
Jun,
5. 2026
Họa 4:
Duyên
& nợ
An phận không màng lẽ ớt chanh
Nín thinh chấp nhận dẫu tanh bành
Đến thời quý mợ… Tha hồ nổ…
Hết vận ông đành… Liệu sức phanh…
Sự thế xoay chiều sao thể cưỡng
Cuộc chơi vốn dĩ cứ song hành
Nợ duyên duyên nợ chừng vay trả
Hết nợ tròn duyên ấy khả thành
TQ
Họa 5:
Ngũ vị trần ai
Ngọt đắng mặn cay chua dấm chanh
Đừng nên nổi nóng phá tanh bành
Thuyền theo con nước năng kềm lái
Xe đổ dốc đèo khá hãm phanh
Dầu chẳng xênh xang vui đĩnh đạc
Cũng đành kham nhẫn giữ an hành
Thế gian nào khác trường thi lớn
Nếm đủ gian nan mới đắc thành
Minh
Tâm
Giai Thoại Về Con Ma Nhà Họ hứa - Trang Nguyên
Giai thoại về Con ma nhà Họ Hứa
Báo chí từng
đưa ra kiến giải, chú Hỏa bí mật đưa con gái mình đến ngôi nhà nghỉ của gia
đình gần nghĩa trang gia tộc khu vực ngã ba Bình Thung (Thủ Ðức). Rồi không biết
người con gái kia chết khi nào nhưng chuyện ma quái bắt đầu xuất hiện được người
đời đồn đại xảy ra trên tầng lầu ngay chính căn phòng mà cô con gái của chú Hỏa
từng ở trước đây.
Trang Nguyên
Căn phòng này trước đây là phòng ngủ
của con gái chú Hỏa.
Nhắc đến chuyện ma, tự nhiên tôi nhớ
đến chú Năm ba gác ở trọ trong chái bếp của nhà bà Chín trầu cuối xóm. Chú sống
mình nên không vợ con, chí thú với chiếc xe ba gác chạy rong khắp nơi mua bán
ve chai. Công việc kiếm sống cực nhọc hằng ngày như vậy nhưng chú không phải là
người cộc cằn, lúc nào cũng vui cười và hay nói chuyện tiếu lâm nên bọn nhóc
xóm tôi mỗi khi rảnh rỗi thường tụ tập trước chái nhà của chú. Một lần, chú kể
chuyện ma có thật ngoài đời, không phải
con ma trong truyện, trong phim. Chú nói: “Hôm nào chú chở cả đám đi ra Sài Gòn
ghé nhà chú
Hỏa (Hui Bon Hoa), rình xem con ma nhà họ Hứa”.
Do cái tính tếu tếu của chú Năm nên kể
chuyện ma lại nghe mắc cười. Ma gì mà kiều diễm, là người con gái bảo bối của
chú Hỏa giàu có nức tiếng. Hồi xưa, từ đời bà nội của chú đã nghe câu truyền khẩu
“Ði tàu chú
Hỷ, ở nhà chú Hỏa” để nói lên sự giàu sang vượt bực của hai nhà đại gia ở xứ
Nam kỳ. Con cái của chú Hỏa rất đông, toàn là trai, trong đó chỉ có mỗi mụn con
gái. Cô con gái chẳng may bị bệnh phong cùi, không có thuốc chữa trị, ngày càng
biến chứng. Khuôn mặt đẹp ngày nào bị bạo bệnh tàn phá, chân tay lở loét, phải
sống khép kín trong phòng riêng của mình. Mỗi ngày gia nhân mang thức ăn đến để
trên bàn rồi lui ra. Một hôm, người gia nhân đến phòng phục dịch, chợt thấy
gương mặt của cô tiểu thư thì liền té xỉu. Từ đó, chú Hỏa cho đăng báo rằng cô
con gái mất tích để tránh người đời bới móc đời tư.
Kỳ thật, báo chí từng đưa ra kiến giải,
chú Hỏa bí mật đưa con gái mình đến ngôi nhà nghỉ của gia đình gần nghĩa trang
gia tộc khu vực ngã ba Bình Thung (Thủ Ðức). Rồi không biết người con gái kia
chết khi nào nhưng chuyện ma quái bắt đầu xuất hiện được người đời đồn đại xảy
ra trên tầng lầu ngay chính căn phòng mà cô con gái của chú Hỏa từng ở trước
đây.
Trong câu chuyện, chú Năm khẳng định
mình có duyên gặp ma. Một buổi chiều mưa lớn lúc trời nhá nhem khi dừng chiếc
xe ba gác, trốn mưa dưới mái hiên căn nhà lầu của người con trai chú Hỏa cạnh
bên có kiến trúc na ná ngôi nhà lớn. Chú Năm nói giọng nhát gừng cố tình làm
cho lũ con nít chúng tôi khiếp đảm. “Một âm thanh kỳ dị của cơn gió vừa lướt
qua chỗ chú đứng, mùi nước hoa còn thoảng trong cơn mưa sụt sùi, rồi bóng người
con gái thướt tha trong chiếc xườn xám trắng, tóc ngắn tới cổ rủ xuống che toàn
bộ khuôn mặt, đi tới cửa chính của toà nhà, mở cửa bước vào trong. Kỳ lạ một điều
là nước mưa không làm ướt cô gái. Một lúc sau, đèn trên tầng lầu của một ô cửa
sổ vụt sáng. Tiếng kéo bàn kéo ghế nghe như rên xiết trên sàn nhà, tiếng kêu la
than khóc vọng ra từ ô cửa sáng”. Chú Năm trầm ngâm, nhìn đám nhỏ chúng tôi rồi
trợn mắt hỏi: “Chẳng lẽ là ma?”.
Bọn con nít chúng tôi đồng thanh “xì” lên một tiếng. Thằng Tèo nói chắc nịch:
“Ma quỷ chỉ hiện hình sau mười hai giờ khuya thôi, í vậy chú Năm lại còn ngửi
được mùi nước hoa thơm lừng nữa chứ. Không tin tí nào!”. Tôi chen vào: “Thằng
Tèo nói đúng, chứ không thì chương trình lúc 0 giờ của La Thoại Tân và Thẩm
Thuý Hằng trên truyền hình đâu có kịch bản Ác quỷ hiện hình khi trăng lên. Tin
không tin, đi xem mới biết. Chú hứa rồi đó nghe, hôm nào rảnh, chở cả đám ra
nhà chú Hỏa, xem ma đó nha. Không thôi, chú Năm thành con ma nhà họ Hứa đó”.
Chuyện phim “Con ma nhà họ Hứa” của
hãng phim Dạ Lý Hương với các tài tử Bạch Tuyết, Thanh Tú, Dũng Thanh Lâm kèm
theo cây hài Thanh Việt, Tùng Lâm, tôi nghe trên radio quảng cáo rùm beng sắp sửa
chiếu rạp từ mấy hôm trước. Câu chuyện dựa theo giai thoại “Oan hồn Thị Hứa” từ
nguồn gốc con gái chú Hỏa bị phong cùi. Do vậy khi nghe chuyện con ma nhà họ Hứa
của chú Năm thì chẳng thấy sợ gì hết. Không sợ, ấy vậy mà nó lại ám ảnh tôi mất
mấy đêm liền khi gió tốc mở toang cửa sổ. Bên ngoài cửa sổ trên tầng gác nhà
tôi, ngó sang nghĩa địa Chà Và thấy lồng lộng những ngôi mộ nằm im dưới ánh
trăng tà. Ðất thánh Chà từ lâu không còn đám ma nào chôn ở đây nữa, có chăng một
đám ma nghèo, vợ của ông già người Việt trông coi đất thánh, mồ còn mới. Hàng
xóm nói bả chết vì bệnh phong cùi. Nghe mà tội nghiệp! Sao chuyện bệnh phong
cùi này trùng với chuyện ma của chú Năm quá vậy
Tôi nhớ chú Năm kể, chú Hỏa gốc người
Quảng Châu di cư sang Sài Gòn ngay sau khi Pháp chiếm Sài Gòn. Lúc mới đến đất
lạ quê người còn nghèo lắm, phải kiếm sống bằng cái gánh ve chai. Ông rảo bước
khắp phố phường mua đồ đồng nát. Một lần mua được mớ tĩn nước mắm trong góc bếp
nhà nọ, trong đó có một tĩn hàn kín nắp sành. Khi về mở ra thì ôi thánh Quan
Công ơi, một tĩn vàng sáng chói. Nhờ có của trời cho làm vốn, chú Hỏa chuyển
nghề mở các tiệm cầm đồ. Thời buổi bấy giờ, ở Sài Gòn nghề cầm đồ làm ăn phát đạt
lắm. Người Pháp mở sở thuốc phiện, cho người Tàu kinh doanh hàng trăm tiệm hút
khắp Sài Gòn Chợ Lớn để thu tiền thuế và làm cho dân chúng mê mệt “nàng tiên
nâu” với mục đích làm cho sức tàn lực kiệt, làm cho đại đa số quần chúng mất đi
ý chí đấu tranh chống lại chính quyền. Dân nghiện xì ke (thuốc phiện), con bạc
cháy túi, cầm cố đồ đạc trong nhà rất nhiều. Cầm rồi không bao giờ chuộc, nên
chú Hỏa bán ra lại càng giàu thêm. Sau nghề cầm đồ, có vốn liếng lớn trong tay,
chú Hỏa chuyển sang nghề xây cất nhà cho thuê. Chú Hỏa cho xây một căn nhà to lớn
trên đường A-Sặc – Lô-rai (Alsace-Lorraine – Phó Ðức Chính ngày nay), tầng dưới
làm văn phòng công ty, tầng trên làm nơi ở cho gia đình, trên tường cánh cửa
chính khắc nổi mấy chữ “SIHBH” (Société Immobilière Hui Bon Hoa).
Chuyện chú Hỏa, sau này tôi nghe nhiều
người khác kể lại, không riêng gì chú Năm. Mỗi người mỗi phách nhưng tựu trung
nói lên ý chí làm việc siêng năng để trở thành giàu có. Cách nay mấy năm tôi
tình cờ đọc được bài viết “Chuyện thật về Hui Bon Hoa và ngôi nhà chú Hỏa” bằng
tiếng Anh do nhà báo Chen Bichiun liên lạc với người cháu cố (đời thứ 4) của
chú Hỏa, sống ở Paris. Ông Fernand Hui Bon Hoa cung cấp hình ảnh và nhiều chi
tiết khá thú vị về các câu chuyện cũng như dòng họ. Một chi tiết cần chú ý ngay
khi chú Hỏa đến Sài Gòn không phải làm nghề mua bán ve chai mà là làm công cho
công ty cầm đồ Antonio Ogliastro. Ông chủ đề nghị chú Hỏa nhập tịch Pháp để
cùng quản lý công ty. Làm ăn có tiền, chú Hỏa mới bước sang lãnh vực mua đất cất
nhà cho thuê. Chú Hỏa chỉ có ba người con trai và dòng họ Hui Bon Hoa không có
người nào mang bệnh phong cùi. Duy chỉ có một người con trai có đứa con gái bệnh
tâm thần và chết tại nhà.
Ngay cả tôi cũng từng lầm tưởng chú Hỏa
là người từng đóng góp tiền bạc xây dựng bệnh viện, trường học, nhà cô nhi ở
Sài Gòn Chợ Lớn ngày xưa mà các báo Nam
Kỳ Lục Tỉnh hay Phụ nữ Tân Văn nêu tên ân nhân trên báo. Tên Hui Bon Hoa này là
tên dòng họ đồng thời là tên công ty sau khi ba người con trai của chú Hỏa là
Thắng Phiên, Thắng Chánh, Thắng Hưng đến Sài Gòn giúp cha việc xây cất mua bán,
cho thuê nhà cửa và mở công ty trong thời gian chú Hỏa cùng vợ trở về Quảng
Châu an hưởng tuổi già và qua đời vào năm 1901 để lại sự nghiệp tại Sài Gòn cho
các con tiếp bước. Như Vậy Công ty Hui Bon Hoa (Hiện nay dùng làm Bảo tàng Mỹ
thuật thành phố) do đời thứ 2 xây dựng vào năm 1929, và sau đó là ba ngôi nhà của
ba người con chung quanh công ty. Cũng như hồi năm 1937, có báo viết thương gia
Hui Bon Hoa hiến tặng mảnh đất rộng gần 2 héc ta trên đường Arras (nay Cống Quỳnh)
để xây Bảo sanh viện Ðông Dương đến năm 1946 đổi thành Maternité George
Béchamps, người dân thường gọi Nhà bảo sanh Chú Hỏa (nay là Bảo sanh Từ Dũ). Vào
thời gian này, đời thứ 3 của dòng họ Hui Bon Hoa bắt đầu tiếp tục sự nghiệp của
gia đình cho đến trước 1975 rời Việt Nam, hầu hết sang Pháp.
Cháu cố Fernand Hui Bon Hoa từng về
Sài Gòn thăm lại mồ mả cha ông chôn cất tại khu nghĩa trang gia tộc (Bình
Trưng, Thủ Ðức). Và những anh em chú bác của Fernand vào năm 2007 về Sài Gòn
tình cờ mua được tấm hoành ngoài chợ đồ cổ mang về Paris. Tấm hoành khắc hoạ
bài thơ của ông chú Thắng Hưng nói về gia tộc Hui Bon Hoa làm ăn ở Sài Gòn trải
qua trăm năm.
Một chi tiết thú vị khác là vào năm
2011, nhân chuyến du lịch sang Paris, một người Mỹ gốc Việt liên lạc được với
Fernand Hui Bon Hoa, có ghé tặng cho ông một Kỷ niệm chương ghi nhớ công lao của
dòng họ Hui Bon Hoa. Số là hồi sống ở Sài Gòn, người này gia cảnh rất nghèo, mẹ
bệnh thập tử nhất sinh, may mà đến bệnh viện chú Hỏa được bác sĩ tận tình chữa
trị. Nay ghi ơn sâu, truy tìm dòng dõi họ Hui Bon Hoa chỉ để gặp mặt nói lời
tri ân tận đáy lòng.
Trang Nguyên
Nguồn: Thời
Đại Mới
304đen – Llttm - sgtc
Họ Chỉ Có Thể Là Sản Phẩm ... - Song Chi
Họ chỉ có thể là “sản phẩm của một chế độ xã hội tự do, nhân bản và khai phóng
Mấy ngày qua có khá nhiều bài viết về nhà thơ Phạm Thiên Thư sau khi ông ra đi, phần lớn là bài viết của những người từng sống ở miền Nam trước năm 1975. Với đa số người miền Bắc và nhất là những người sinh ra sau năm 1975 chắc chẳng mấy ai biết đến ông.
Chợt nhớ lại, khi Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ viên tịch, có những người là trí thức,
giáo sư, tiến sĩ… mà đến lúc đó mới nghe đến tên của Hòa thượng, mới biết là có
một Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tồn tại bao nhiêu năm nay, bên ngoài
cái Giáo hội Phật giáo Việt Nam mà nhiều người vẫn gọi là Giáo hội Phật giáo
“quốc doanh”.
Sau hơn nửa thế kỷ, có thể nói đảng
CSVN đã thành công rất lớn trong việc “tẩy não” người dân, xóa bỏ lịch sử, xóa
bỏ tất cả những gì mà đảng và nhà nước này không muốn người dân được biết.
Còn đối với tất cả những ai từng biết
và may mắn hơn nữa, được đọc, nghe tác phẩm của những khuôn mặt xuất chúng của
miền Nam trước 1975, dù là một vị chân tu trí tuệ cao vời, một nhạc sĩ, hay một
thi sĩ… thì đều ngậm ngùi hiểu rất rõ rằng, mỗi một người như vậy ra đi, là mất
luôn không bao giờ có nữa. Bởi vì, họ chỉ có thể là “sản phẩm” của một chế độ tự
do, nhân bản và khai phóng đã không còn tồn tại.
Chắc chắn, nếu không có 20 năm của chế
độ VNCH đó, đã không thể có hàng trăm hàng ngàn tài năng độc đáo trong mọi lĩnh
vực từ báo chí đến văn học nghệ thuật. Sẽ không có Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Phạm
Đình Chương, Từ Công Phụng, Cung Tiến, Lam Phương… Sẽ không có Nguyễn Tất
Nhiên, Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng, Trần Dạ Từ, Cung Trầm Tưởng, Thanh Tâm Tuyền,
Tô Thùy Yên, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn), Du Tử Lê…; Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy
Vũ, Túy Hồng, Trần Thị NgH, Nguyễn Thị Hoàng, Mai Thảo, Võ Phiến, Dương Nghiễm
Mậu, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Phan Nhật Nam, Cung Tích Biền, Hoàng Ngọc
Biên…
Sẽ không có những tên tuổi trong mảng
nghiên cứu, phê bình, dịch thuật, triết học phật giáo và công giáo như Nguyễn
Đăng Thục, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Nhất Hạnh, Võ Hồng, Hoài
Khanh, Phạm Công Thiện, các giáo sư và linh mục Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm,
Cao Văn Luận, Nguyễn Văn Thích, Hoàng Sỹ Quý, Nguyễn Khắc Xuyên, Kim Định…
Sẽ không có nhiều nhóm văn nghệ, tư
tưởng ra đời như nhóm Bách Khoa, Nhân Loại, Nhận Thức (Huế), Sống Đạo, Phương
Đông, Đối Diện, Sáng Tạo, Hiện Đại, Thế Kỷ Hai Mươi, Gió Mới, Nghệ Thuật… các tạp
chí chuyên về tư tưởng, triết học như Tư Tưởng, Vạn Hạnh, Giữ Thơm Quê Mẹ, các
nhà xuất bản Lá Bối, An Tiêm, Ca Dao…, và vô số những tờ báo, tạp chí văn học
nghệ thuật như Sáng Tạo, Quan Điểm, Văn Hóa Ngày Nay, Nhân Loại, Văn Đàn, Bách
Khoa, Văn Học, Văn, Nghệ Thuật, Tiếng Nói…
Sẽ không có một nền phật học rực rỡ,
những vị chân tu lừng lững cả về trí tuệ, kiến thức và nhân cách v.v.
Không thể kể hết những thành tựu về
con người, về văn học nghệ thuật trong 20 năm ngắn ngủi của chế độ VNCH.
Đó là bởi vì, dù ngay trong những năm
tháng chiến tranh khốc liệt nhất, chế độ VNCH vẫn cố gắng xây dựng một xã hội
bình thường. Trẻ em vẫn được sống hồn nhiên đúng lứa tuổi, không bị nhồi nhét
lòng căm thù quá sớm, vẫn được dạy dỗ từ những điều nhân ái nhỏ nhặt hàng ngày,
sách, báo, truyện, nhạc dành cho thiếu nhi, thiếu niên, tuổi mới lớn từ truyện
tranh, truyện cổ tích thế giới, tuần báo Thiếu Nhi, tuần báo Tuổi Ngọc, tủ sách
Tuổi Hoa – Hoa Đỏ, Hoa Xanh, Hoa Tím… chỉ toàn dạy điều thiện, dạy thương yêu, dạy
sống tử tế, không có một chút gì vẩn đục bởi lòng căm thù địch – ta, lý thuyết
cách mạng nọ kia…
Thanh niên vẫn có khung trời dành cho
tình yêu lãng mạn mộng mơ trong sáng và những lý tưởng, hoài bão lớn; trí thức
vẫn được đọc được nghe đủ loại báo đài quốc tế, viết, tranh luận về đủ loại triết
học Đông – Tây, đủ loại lý thuyết chính trị kể cả học thuyết Mác Lenin, tư tưởng
của Mao…
Chế độ VNCH đã không biến cả xã hội
thành trại lính, trong đó tất cả chỉ được phép suy nghĩ một chiều, mọi tình cảm,
cảm xúc cá nhân, mọi suy nghĩ khác, mọi tự do đều bị kìm hãm, cấm đoán triệt
tiêu; ngược lại, con người vẫn được sống như là con người, ai chiến đấu cứ chiến
đấu, ai làm thơ, nhạc lãng mạn cứ làm, ai mơ mộng suy tư cứ mơ mộng, có lẽ đó
cũng là một trong những lý do mà chế độ VNCH đã thua. Nhưng bù lại, chế độ đã để
lại cả một di sản văn học nghệ thuật và dòng chảy đó ít nhất vẫn không chết yểu
mà vẫn âm thầm tồn tại trong nước và phần nào được tiếp nối ở hải ngoại 50 năm
qua.
Xã hội Việt Nam bây giờ đã hơn 50 năm
trong thời bình. Bề mặt của nhiều thành phố, tỉnh thành đã thay đổi rất nhiều.
Số người giàu hơn ngày xưa cũng nhiều, thậm chí phải nói là giàu kinh khủng, một
ông cán bộ cấp huyện cũng còn giàu hơn cả tướng tá VNCH thời xưa và cách nhiều
người xài tiền có lẽ ngay dân Mỹ cũng choáng.
Rồi thơ văn nhạc họa phim… tính về số
lượng đều nhiều. Nhưng trong thơ ca văn học nghệ thuật bây giờ vẫn thiếu: Thiếu
sự trong trẻo lãng mạn, thiếu tính thiền, tính triết học, tính tư tưởng, tính
khai phóng. Nhiều về số lượng nhưng những tác phẩm thực sự nâng con người lên
cao cả hơn, đẹp hơn thì hiếm.
Nó vừa là hậu quả của một chế độ độc
tài toàn trị, vừa là hậu quả của một nền giáo dục nhồi nhét, ngu dân, chạy theo
điểm số, thành tích, bằng cấp, hoàn toàn không có một triết lý giáo dục đúng đắn,
và là hậu quả của một xã hội thực dụng, nơi mà mọi người đua nhau chạy theo tiền,
chạy theo “ghế”, chạy theo những giá trị vật chất, giá trị ảo bên ngoài, thì
làm gì còn có chỗ để sống chậm, làm gì còn có chỗ cho mơ mộng, lãng mạn, suy
tư, và lắng đọng?
Song Chi (baotiengdan.com)
Người chuyển bài – HV - USA
Sunday, May 24, 2026
Người Đi Tìm Hạnh Phúc - Thuyên Huy
Người
Đi Tìm Hạnh Phúc
Chuyện
những người không có thật
Đầu thu, học trò trở lại trường, lớn nhỏ gì
cũng thấy quàng khăn đỏ, lớn thì tương lai thành đồng tổ quốc, nhỏ thì cháu
ngoan bác hồ, cứ vậy mà rộn rã khắp đường, khắp ngõ. Công viên Tao Đàn vàng một
màu lá úa, không che kín nổi đám cỏ loang lở, chết mòn không ai chăm sóc. Cây
bên đường cũng chờ nhau thay lá, Sài gòn buồn theo dăm ba cơn mưa bụi cuối
ngày. Liên hờ hững đi dạy, Luân trở về làm phu lục lộ, ngồi đếm lá me rơi bên
lề đường Triệu Đà. Công an phường lại gọi Luân lên làm việc, hỏi không biết bao
nhiêu là câu từ lý lịch của đời ông đời cha đến tình cảm riêng tư. Anh Trưởng
công an, dốt chữ ra lệnh cô thư ký ghi ghi chép chép những cái anh gật gù, Luân
ký tên xác nhận tờ khai, anh giữ giấy ra trại của Luân theo lệnh của sở công an
thành phố.
*
Chủ nhật, Luân dọn một số đồ đạc thường
dùng hàng ngày qua cư xá Bắc Hải ở, sau khi báo cho anh Lân biết sự việc xảy
ra. Liên chạy ra chợ Thiếc mua vội con vịt quay và vài miếng thịt xá xíu, bữa
cơm chiều có mặt đủ người, trừ chị Ngoan. Anh Lân mang cho chai rượu sâm-banh,
mua từ ngày ra khỏi trại tù, trước Luân vài tháng. Sập tối, Hiên tới nhà, chị
Ngoan qua chơi với mẹ Hiếu nên đóng kín cửa, không mở đèn. Không biết Hiên chờ
ở đó bao lâu, khi chị Ngoan về, Hiên bỏ lại tờ giấy dưới ngạch cửa, viết mấy chữ
có đến tìm. Luân không còn gặp anh công an khu vực từ đó, anh có đến nhà thăm
hỏi Luân nhiều lần, chị Hương trả lời Luân đi công tác cho sở làm ngoài Phan
Thiết vài tuần, anh trách sao không nói gì với anh cả.
*
Thanh tìm Luân ở chợ Thái Bình, Hiếu chỉ
đến đường Triệu Đà, hai thằng ngồi bó gối trên cái xe thùng trống, vài cây chổi
quét, dăm ba cái cuốc chất cẩu thả, phơi nắng trưa, trời chưa nóng hẳn. Thanh
lần này, ăn mặc có vẻ tươm tất hơn, cái áo lính bạc màu bỏ rồi, thay bằng aó
kaki hải quân xanh dương đậm gọn gàng, có thêm đôi giày bata, không trắng nhưng
trông còn tốt, Thanh nhắc chuyện vượt biên, Luân hứa giới thiệu hắn chú ba Hảo,
bảo Thanh tính gấp vì chú ba sắp có chuyến đi, Thanh đưa cho Luân coi hai ba
cây vàng, gói dẹp trong bao thuốc lá Hoa Mai cũ nhèm, của cải anh dành dụm được
sau những ngày ăn đường ngủ chợ.
Thanh cất vàng vào túi, chợt dưng rấm rức
khóc, chút đỉnh này cũng đủ giúp ba má Thanh, hai bác bảy giờ già yếu, sống dễ
thở một thời gian, nhưng hắn đau xót giữ lấy cho mình, kiếm đường ra đi vì,
giống như Luân, bọn họ không còn đất sống, nhìn Thanh đỏ cay mắt mà hồn Luân
mềm nhũn bùi ngùi. Chiếc xe jeep quân đội, hai ba cái nón cối ngồi trong, vượt
ngã tư đường Trần Hoàng Quân, Thanh lầm lũi đạp xe cúi mặt, Luân lững thững kéo
xe cây lên, hắn vẫy tay chào không buồn quay lại.
*
Mấy ngày liền, Hiên qua nhà đều không gặp
Luân, cho dù cô nàng đã nán lại tới khuya. Hai chị bảo, Luân đi công chuyện gì
đó vài bữa mới về. Hiên mất vui, không cười nói nhiều như trước. Chị Hương thấy
thương cho Hiên, nhưng không làm sao khác được. Chiều thứ sáu, trời nổi giông,
mưa lớn, hơi đất bốc nặc mùi trên đường nhựa, Hiên vừa vào nhà, bỏ áo mưa xuống
thành ghế, anh công an khu vực cũng đến, đứng ngoài cổng rào, đưa cho chị Hương
tờ giấy rồi đi liền. Chị Hương để trên bàn, chán chường đọc, Hiên cũng đứng đọc
theo. Công an quận, thừa lệnh sở công an hẹn hai tuần nữa, Luân lên quận gặp để
trả lời về việc không chấp hành tốt chính sách nhà nước tại phường. Chị liếc
nhìn Hiên, cô nàng có vẻ giận dữ, nhưng không nói gì.
Chị
Hương ngồi xuống ghế lắc đầu:
-
Đây không phải lần đầu họ làm khó dễ thằng Luân.
Hiên
nhìn chị ngạc nhiên:
-
Sao anh Luân không nói cho em biết? Hiên hỏi vì nóng lòng mà hỏi, không cần chị
Hương, tự chính mình cũng đã biết được câu trả lời. Hiên,một Bí thư Thành đoàn,
một Tổng đoàn trưởng Thanh niên Xung phong, phút chốc bỗng là người xa lạ, Hiên gục đầu,
nước mắt rươm rướm trên mặt:
- Em
biết nói làm sao đây chị Hương, chắc không ai chịu hiểu nỗi lòng của em, có lẽ
quá muộn để gần nhau sao chị?
Chị
Hương thấy Hiên khóc không cầm được lòng:
-
Luân nó quá quen với ba cái chuyện này, em đừng lo, rồi cũng qua em ạ!
Hiên
ấp úng:
- Em
nghĩ, em chắc cũng không lo gì kịp chị ạ! nói thật để chị biết, em sắp đi vượt
biên nay mai.
Hiên
nhìn chị Hương chờ đợi, chị Hương không ngờ Hiên lại nói ra, chị chưa có phản
ứng gì thì Hiên tiếp:
-
Chị nhớ có lần em hỏi chị kiếm được đường nào chưa không, em đi bằng mối đó.
-
Hiên coi chừng, nguy hiểm lắm!
-
Nguy hiểm một lần, còn hơn đau khổ cả đời, em đã sai lầm gần nửa cuộc đời rồi
chị Hương ơi!
Chị
Hương cố không nói chuyện của bọn Luân, chị vuốt tóc Hiên xúc động:
-
Chị biết nói gì đây, xin ơn trên ông bà phù hộ em được may mắn.
Hiên ra về mang theo cơn mưa khuya lạnh
buốt hồn mình.
*
Trưa thứ bảy, ngồi tán dóc với Hồng và Hiếu
trong quán chè đậu quen, cạnh rạp chiếu bóng Khải Hoàn, Thanh đạp xe đến, mặt
mày hớn hở cho Luân hay, chú ba Hảo đồng ý nhận giúp, chắc trong nay mai, Thanh
trách Luân, trong đường dây của chú ba mà dấu kín quá. Luân cười trừ, đãi hắn
mấy chén chè, hai ba ly cà phê sữa đá. Luân nói thật cho Thanh biết, bọn họ
cũng đã chuẩn bị xong rồi, chỉ còn chờ chú ba sắp xếp ghe cộ thôi. Hồng kéo cả
bọn ra chợ Sài Gòn, vào rạp Rex coi phim Ba Lan, Nạn Hồng Thủy, ăn bún bò
thương xá Tam Đa suốt buổi chiều còn lại. Thanh còng lưng đạp xe về Gò Vấp,
lâng lâng hy vọng, bọn Luân trở lại nhà Hồng, kiểm số thuốc nhận hồi sáng, để
tối nay, trước khi về nhà, Hiếu đem giao cho đám bán lẻ ở đường Nguyễn Thông
như đã hứa.
*
Chú ba Hảo dẫn Luân vào chợ Nancy, gặp mấy
người cùng lo với chú quyết định ngày giờ, rồi xuống chợ An Đông kiếm mua bánh
in đậu phọng, loại khẩu phần hành quân của lính Trung Cộng, để đem theo tàu ăn.
Về nhà, ngồi nói chuyện, mới biết chú cũng đi chuyến này, nghe nói, nhìn quanh,
đồ đạc quả thật trống đi nhiều. Chú đưa Luân mười mấy miếng vàng, cần gì thì
mua thêm, không còn ở bao lâu đâu. Luân đón anh Lân, giờ tan sở, báo tin giờ
chót, ngay sau khi từ nhà chú ba ra. Bỏ anh Lân cuối đường, Luân đạp xe về Cao
Thắng gặp Hồng, họ có hẹn nhau ở đó. Đi lòng vòng vậy mà trở lại nhà trời tối
lúc nào không hay.
*
Sáng sớm thứ ba, chị Ngoan về Tây Ninh,
chiều trở xuống Sài Gòn với vợ chồng Tân. Hoàng vẫn chưa được thả về, Kiệt nghe
tin đã trốn ra khỏi trại Lộc Ninh, không biết hiện nay ra sao, chánh quyền tỉnh
đang kiếm chuyện đánh tư sản mại bản lần nữa, nhiều người vượt biên bằng đường
bộ, băng qua biên giới Cam bốt bị bắt giam chật cả khám. Ba mẹ Tân nhắn lời
thăm hỏi Luân, ráng cẩn thận.
Chị Ngoan nấu bữa tiệc nhỏ tại nhà bên cư
xá Bắc Hải, gọi là bữa tiệc chia tay. Luân gởi lại chị nửa lượng vàng mà chú ba
Hảo cho cùng số tiền Luân dành dụm bấy lâu nay, chị Hương cũng đã tính toán với
chị xong rồi. Ngồi ăn mà ai nấy mặt mài buồn hiu, chị Ngoan nói đó rồi khóc đó,
bọn Luân mắt đỏ hoe, nếu may thoát được, không biết chừng nào mới gặp lại.
Mấy
chùm hoa giấy trắng mỏng manh, trên khung cửa sổ nhà ai đó bên kia đường, tơi
tả từng cánh rụng, buồn hiu hắt buồn. Chị Hương kỹ càng, bao hai cái hủ đựng
tro cốt ba mẹ Luân, gói vào một gói, để trên bàn. Mọi người ra về, Luân ngồi
lại một mình trong đêm, chờ sáng.
*
Bốn giờ khuya, sáng chủ nhật, Luân ngồi chờ
tin hai chiếc tàu, một chiếc từ Phước Tỉnh vào, chiếc khác thì do anh Quyền lái
lên, từ dọc biển tới ngã ba Vàm Láng, tại nhà chú ba Hảo. Cả hai chú cháu đứng
không đứng, ngồi không ngồi, cứ dán mắt ra đường, dưới ánh đèn vàng đục, mờ mờ
trong màn sương sớm. Đường vắng tanh, lưa thưa một vài chiếc xe chở hàng nặng
nề ra chợ Cầu Ông Lãnh. Tiếng xe Honda vào sân, người đưa tin, kéo cổ áo che
ngang miệng chống lạnh xuống, cho biết tàu vào bãi an toàn, chú ba móc trong
túi áo, vổ vai anh, trao gói giấy đựng phần tiền công. Anh ta vội vã đi ngay,
trời cũng vừa rựng sáng, bên kia sông có chút mặt trời, Luân đạp xe chở chú ba
qua chợ Nancy, vài tiệm cà phê bắt đầu lai rai có khách.
*
Luân uống ly cà phê nóng cuối cùng, chú ba
thả bộ về nhà, Luân lặng lẽ rẽ lên hướng Ngã Bảy, anh công an gát đêm, đứng xoa
tay ngoài cái chòi canh, sơn màu đỏ chói, trước cổng Sở Công An, nhìn theo rã
rời ngáy ngủ. Luân dừng xe đạp, ngậm ngùi nhìn vào trong sân trường Petrus Ký,
không một bóng người, cây cỏ đìu hiu, thấy hồn mình vấn vương theo từng viên
gạch, lối mòn của những ngày hai buổi đi về, buồn vui đời mực đen giấy trắng.
*
Trưa hôm đó, hai ba anh công an quận đi xe
jeep đến nhà tìm Luân, chị Hương đang đứng ngoài cửa chờ Liên, họ hỏi vài câu
rồi đưa cho chị cái giấy kêu Luân, lên trình diện sáng thứ hai mang theo tất cả
giấy tờ cá nhân. Chờ họ bỏ đi, nhìn quanh nhìn quất, chị xé nát tờ giấy, quăng
xuống đường. Chị Hương, Tân, Hân và Liên đi bộ qua cư xá Bắc Hải không bao lâu,
thì Hiên đến cư xá Lữ Gia, chỉ thấy chị Ngoan, cho nên hỏi thăm qua loa rồi ra
về.
Ăn cơm trưa xong, bọn Luân kiểm lại đồ đạc
mang theo, mặc dù chỉ là mấy cái túi cũ mèm nhỏ xíu, Luân hơn mấy người khác vì
có thêm hai hủ đựng tro cốt ba mẹ. Hồng chuẩn bị cho mỗi người vài viên thuốc
cảm, tiêu chảy, say sóng và vài viên vitamin C. Trời bỗng dưng dịu nắng rồi tối
sầm dần trên miệt ngã tư Bảy Hiền, mây đen lác đác vài cụm đâu đây chờ mưa
xuống. Tới giờ hẹn, không ai bảo ai, họ nhìn nhau rưng rưng nước mắt, xiết tay
giã biệt. Anh Lân, chị Hương, vợ chồng Tân, Liên, Hồng, lần lượt theo nhau đón
xe đi Nhà Bè, Luân và Hiếu đón xích lô xuống nhà chú ba Hảo, ở đây có người đưa
chú cháu xuống ngã ba Vàm Láng bằng xe Honda. Luân cố nhìn Sài Gòn trong cơn
mưa vội vàng chợt đổ, lá me cuối thu, hai bên đường Hồng Thập Tự, tan tác rụng.
*
Trong cái bóng đêm mờ mờ ánh trăng, đám
người từ Sài Gòn ra, lớn nhỏ, lặng thinh theo nhau lên tàu, neo từ tối qua
trước khu nhà sàn làm trụ sở đội du kích xã Thạnh An. Tiếng sóng vỗ êm êm lên
hàng dừa nước hai bên bờ con rạch đục ngầu, dẫn ra cửa biển giữa khuya nghe
buồn ray rứt. Phía cửa Cần Giờ đằng xa, đèn điện sáng rực một góc trời, biển
mênh mông đen rờn rợn. Anh Lân, Hồng, vợ chồng Toàn, chị Hương và Liên lên tàu
của anh Quyền, đậu cách tàu Luân, Hiếu, chú ba Hảo lố nhố mấy căn nhà, lắc lư
theo con nước thủy triều lên. Trăng vừa cao quá đỉnh đầu, toán du kích làm dấu
khởi hành, tàu anh Quyền nổ máy, lặng lẽ chập chờn ra biển trước, không lâu thì
mất hút theo từng cơn sóng nhấp nhô giữa trời và nước.
*
Chờ anh du kích dẫn đường, đưa tàu anh
Quyền đi rồi trở lại, tàu bọn Luân rục rịch tách ra giữa sông, Luân đứng trên
mũi tàu, ôm cái túi xách lên ngực nhìn vào bờ, nước lớn, che lần hàng dừa nước
không còn đong đưa chờ sóng vỗ. Dưới khoang tàu, bắt đầu có tiếng người lào
xào, di động. Hiếu bỏ đi lần theo hông thành tàu xuống phía sau chút xíu trở
lại, trong ánh trăng chênh chếch sáng, mặt hắn có vẻ hớt hãi, ngồi xuống cạnh
Luân, chỉ tay về phía đuôi tàu, giọng đứt quảng:
-
Chị Hiên... chị Hiên, em thấy chị Hiên ở phía sau.
Nhìn
thẳng vào Hiếu, Luân kinh ngạc hỏi:
- Có
chắc là chị Hiên không?
Hiếu
gật đầu, không trả lời. Tiếng máy nổ đều đều, con tàu lặng im vượt sóng, lù đù
tiến dần ra khỏi cửa Vàm Láng. Luân mang túi xách trên người, đi lần về phía
sau. Hiên sững sờ nhìn, Luân lặng câm bất động. Luân vừa gọi được tên Hiên, thì
có tiếng người la lớn phía đằng trước:
-
Công an, công an!
*
Người tài công bớt ga, cho tàu chạy chậm
lại, từ phía Cần Giờ, Vũng Tàu, nhiều ánh đèn nhấp nhô tiến về hướng Luân, rõ
dần rồi rõ dần, chú ba Hảo đứng chết trân, người trên tàu nhốn nháo, hoảng hốt
kêu trời kêu đất. Tiếng máy của mấy chiếc ca nô PCF, có trang bị súng đại liên,
của hải quân VNCH cũ, xé màn đêm hùng hổ bủa quanh. Người tài công, quay tàu về
hướng bờ Vàm Láng, mở hết tốc độ, mặc cho công an phát loa gọi ngừng ơi ới.
*
Hiên thẫn thờ ôm chầm lấy Luân, công an bắn
súng thị oai, tiếng nổ xé tan màn đêm, vang vọng vội vào bờ, kéo dài rồi im
bặt. Người tài công kéo cổ áo, lau mồ hôi đổ như tắm trên mặt, tiếp tục tăng
ga, tàu khừng khựng theo từng đợt sóng của con nước đang lên, trong tàu có
tiếng con nít khóc. Một chiếc tàu lớn, có gắn cờ đỏ sao vàng, lố nhố người, lố
nhố súng, pha đèn sáng rực, tiến về từ xa, mấy chiếc PCF chậm lại đôi chút,
chạy vòng quanh.
Công an tiếp tục đuổi theo, lại phóng loa
ra lệnh, tàu vào sâu tới khúc sông nhỏ, truông sậy bát ngát cao tới đầu người,
ủi đại lên bờ, tiếng thành tàu cọ xát đám cây tràm già nua rờn rợn, tàu rung
rung rồi tắt máy. Người trên tàu bồng bế nhau nhảy càn xuống nước, trốn chạy,
tàu công an tiến gần, nổ súng đại liên xối xả, Luân đẩy Hiên chạy đi, ván thành
tàu bể vắng tứ tung, một số người lên được bờ, ẩn hiện trên truông, dật dờ như
những bóng ma đêm.
Luân
bị trúng đạn, hai cái hủ đựng tro cốt ba mẹ trong túi xách mang trước ngực, bể
tan, tro ướt đẫm mùi máu. Tiếng Hiên thét lên đâu đây:
-
Chết Hiên rồi anh Luân ơi!
*
Luân ngã quỵ xuống sàn phía đuôi tàu, nước
tràn lên lấp xấp, mắt mờ dần, súng vẫn còn nổ vang rân, đưa tay chùi máu trên
mặt, cố nhìn, xác Hiên nổi đập vào bờ sậy, bềnh bồng tóc trải dài trên nước.
Luân ráng sức, đưa tay lên ngực loang lở máu, mân mê nhúm tro cốt ba mẹ rồi
không còn nghe gì nữa, người Luân bập bềnh trên sóng theo chiều ra biển, qua
cái màn đục mờ của nước mắt ứa tràn, Luân ráng sức nhìn, chiếc tàu lớn của công
an cặp sát vào, tiếng vạc ăn đêm về bắt đầu kêu những tiếng kêu đầu ngày rời rạc,
trên mấy cánh đồng xa xa, chiếu đèn pha sáng một khoảng sông, Tuân, Giám đốc Sở
công an, chồng Hiên, đứng bên hông thành tàu khoan khoái cười, một nụ cười nham
hiểm.
Thuyên
Huy
Viết
lại từ chuyện cũng giống như câu chuyện này.
Hoa Thời Chinh Chiến & Quê Hương Tôi Đó - Nguyễn Thị Châu
HOA THỜI CHINH CHIẾN
Dáng xưa còn
đó nét trang đài
Ru tình ai
đó buổi sớm mai
Trái tim
ngây dại trao ngày ấy
Áo trắng còn
đây nhớ nhung hoài
Anh ngoài trận
tuyến suốt đêm ngày
Vai còn nặng
gánh cả tương lai
Tiếng súng
còn vang trong đồng vắng
Là còn tiếng
khóc các anh ơi !
Đêm về canh
vắng nước mắt rơi
Áo trắng
ngày xưa tóc rối bời
Nhớ ai? Chiếc
lá rơi ngoài ngõ
Mưa buồn
rưng rức khóc bi ai!
Dáng xưa
đánh mất nét trang đài
Chờ người
chiến tuyến trở về đây
Thềm rêu vắng
bóng người xưa cũ
Chiến tranh
gieo rắc bao đắng cay
Hoa nở, hoa
tàn, chiếc lá phai
Chờ người
chinh chiến tóc thôi cài
Hoa thời
chinh chiến là thế đó
Áo trắng hôm
nào đã phôi phai…!!!
20-5-2026
Nguyễn thị
Châu
Ai đi không
nhớ quê nhà?
Nhớ sông Vàm
Cỏ nhớ đò Cẩm Giang
Sông xanh đồng
lúa ngút ngàn
Hàng Dừa lã
ngọn bên làng xanh tươi
Bến Cầu nắng
cháy da người
Hàng cây Thốt
Nốt đứng phơi nắng vàng
Trái ngon nước
ngọt mát lòng
Chờ người lữ
thứ, hằng mong trở về
Người đi hãy
nhớ tình quê
Quê hương
yêu dấu lối về của ta
Bao năm xa
cách quê nhà
Rời xa kỷ niệm
đã qua tháng ngày
Quê hương có
một mà thôi
Về thăm trường
cũ một thời đi qua
Rừng Da nào
có đâu xa
Mái trường
đã phủ rêu xanh hết rồi
Bùi ngùi nước
mắt rơi rơi
Phường buồn
buông cánh khắp nơi sân trường
Hoa xưa kỷ
niệm mến thương
Một thời bụi
phấn còn vươn vai gầy
Nhớ sao, nhớ
mãi nơi nầy
Quê hương
tôi đó, có ai cùng về???
20-5-2026
Nguyễn thị Châu
Hoài Thương - Phương Nguyên
Hoài Thương
Một năm sau
ngày tôi ra đời, chiến tranh kết thúc, điều đó đồng nghĩa với sự đoàn tụ. Những
người lính còn sống lần lượt trở về tron sự mừng tủi ngày sum họp. Gia đình tôi
cũng khắc khoải chờ đợi ngày bố tôi trở về. Bà tôi xăng xái lo đi chợ, mua về
đôi gà mái tơ: “Ðợi bố nó về rồi ăn mừng.” Trông bà như trẻ lại, những nếp nhăn
trên mặt dãn ra, đôi mắt lấp lánh những tia sáng ngời. Bà nhanh nhẹn dọn dẹp, sắp
lại cái này, xếp lại cái kia. Mẹ ôm tôi trong lòng, nước mắt rưng rưng nhưng
môi lại cười vì hạnh phúc.
Lại một năm nữa trôi qua, những người lính còn sống sau cuộc chiến đã trở về hoặc
đều có tin tức, ba tôi vẫn chưa thấy về. Ðêm đêm, chong ngọn đèn dầu, bà tôi ngồi
bó gối lặng lẽ, mắt đục mờ nhìn ra bóng đêm đen đặc. Mẹ ôm tôi chặt hơn, trái
tim không ngường khắc khoải, mỏi mòn trong chờ đợi. Những đêm mưa, gió quật tả
tơi vào bức vách, lá rụng rào rào, bà tôi lập cập chồm dậy, quờ quạng xuống giường,
ra mở cửa. Gó từ ngoài thốc vào, bóng bà nghiên ngả, xiêu vẹo. Mẹ đặt tôi xuống
giường, lần mò trong bóng tối bước đến, ôm vai bà: “Mẹ”. Bà thẫn thờ, giọng
nghèn nghẹn:
- Tao nghe tiếng gõ cửa, cứ ngỡ bố nó về.
Nước mắt mẹ ứa ra. Những đêm như thế, cả mẹ và bà đều không ngủ. Sáng ra, mắt
hai người đỏ hoe, sưng mọng, cả hai không dám nhìn mặt nhau.
Bốn năm sau, trước khi mất, bà còn nói: Mẹ tin nó còn sống, rồi nó sẽ về...
Mẹ tôi gạt nước mắt, gật đầu. Bà nhắm mắt, buông xuôi, môi phảng phất nụ cười.
Ðám tang bà trời mưa như trút nước, trắng xoá đất trời. Mẹ tôi khăn xô, áo trắng,
ướt lướt thướt, ngất rồi lại tỉnh mấy lần. Chiếc khăn tang dành cho bố tôi trước
áo quan bà, phất phơ. Ði bên cạnh người hàng xóm, tôi nhìn ảnh bà, mắt ráo hoảnh.
Bà hàng xóm giật tay: “Con bé này, khóc bà một tiếng chứ!”
Trẻ con không phải không biết buồn, nhưng tôi không khóc, nước mắt lặng lẽ chảy
vào trong. Ðứa trẻ sáu tuổi là tôi chưa hiểu hết cái chết nghĩa là gì. Chết
cũng như là một sự ra đi, tôi không còn gặp lại được bà nữa, không được bà ôm ấp,
vuốt ve, nâng niu hôn hít:
- Cục cưng của
bà, cục vàng của bà, lớn lên thì giống cha, giống mẹ lắm đấy. Bố mày không về
mà xem con lớn!
oOo
Thời gian qua đi, trên bàn thờ, cạnh ảnh bà, mẹ tôi treo thêm ảnh ba tôi. Trong
ảnh là người đàn ông còn rất trẻ, cao lớn và một đôi mắt rực sáng, như những đốm
lửa. Những ngày giỗ, Tết, mẹ bày thêm đôi đũa, bát cơm. Tóc mẹ bạc dần. Ba tôi
không được công nhận là liệt sĩ, không ai nhận được giấy báo tử của ba.
Tôi lớn lên, trưởng thành trong vòng tay chăm bẳm của mẹ, tóc mẹ thêm nhiều sợi
bạc, đôi vai gầy nhô cao, những giọt mồ hôi trên trán mẹ to hơn, mặn chát hơn.
Mẹ nhận thêm việc về làm, đến tận khuya. Trong giấc mơ, tôi thường nghe rõ tiếng
máy may xè xè, lọc cọc của mẹ. Ðôi lúc dừng tay, mẹ quay lại, mỉm cười nhìn tôi
ngủ rôi lại làm việc tiếp. Cho đến trọn đời, tôi cũng không thể quên những nụ
cười ấy của mẹ, nó đã động viên tôi rất nhiều trên mỗi bước tôi đi.
oOo
- Chị Thương, hôm nay mình nghỉ sớm nhé! – Thùy Linh nũng nịu kéo áo tôi, đôi mắt
có hàng mi cong chớp chớp, năn nỉ. Cử chỉ trẻ con đầy đáng yêu ấy làm tôi bật
cười, vui vẻ gật đầu, xếp lại chồng sách vở lên giá.
- Hôm nay chị em mình đi chơi nhé. Em đưa chị đi ăn kem. Kem ngon tuyệt. Ðồng ý
nha chị!
- Có chuyện phải không? – Tôi buông lời thăm dò.
- Ba em gửi thư về từ Ðại lục. Ba nói sẽ về dự sinh nhật em, nhất định em sẽ có
quà và cho cả chị nữa.
- Em có người cha thật tuyệt vời, nhưng tại sao lại có chị trong đó? - Thùy
Linh cất tiếng cười, lúm đồng tiền hằn sâu trên hai má trắng hồng.
- Em viết thư cho ba, nói chị là gia sư của em.
Ðã hơn hai tháng nay, tôi nhận lời làm gia sư, giúp việc học cho Thùy Linh. Trừ
buổi lên giảng đường học, tuần ba buổi tôi đến nhà dạy thêm cho Thùy Linh, cô
bé đang chuẩn bị thi vượt cấp. Công việc không đến nỗi vất vả, lại là chuyên
môn nên tôi vừa có thêm thu nhập phụ với số tiền ít ỏi hàng tháng mẹ gửi lên, lại
vừa thực hànhh những phương pháp giảng dạy đã học trên lớp. Nhà Thùy Linh rất
giàu có, ba mẹ cô bé tỏ ra rất quan tâm tới việt học của con, chuyện công sá họ
tính toán khá sòng phẳng.
Thùy Linh đập nhẹ lên vai tôi, ấn vào tay ly nước quả:
- Chị nghĩ gì mà thần người ra thế?
- Chị nghĩ đến mẹ, giờ này chắc mẹ đã đi làm về. Chị nhớ mẹ chị!
- Hèn chi mẹ đặt tên chị là Thương – Linh hóm hỉnh cười – có ý nghĩa ghê hén.
Còn ba chị?
- Ba chị?!? Từ nhỏ cho tới giờ, chị chưa một lần biết mặt cha. Ông đã không về
từ khi chiến tranh kết thúc, chị chỉ biết qua bức ảnh nhỏ xíu và qua những lời
kể của mẹ. Nói chung, chị không giống ba nhiều lắm.
- Tại sao vậy? Sau cuộc chiến, những người lính còn lại đều về với gia đình.
- Ðúng, nhưng chi tin ba đã không còn. Chiến tranh không loại trừ một ai. Không
có con số chính xác về những người đã xuống, có rất nhiều mộ liệt sĩ vô danh.
Chắc chắn ba chị nằm trong số đó.
- Chị nghĩ vậy à?
Cả mẹ lẫn tôi đều tin rằng ba đã mất, nếu không ông đã trở về. Chiến tranh qua
đã lâu, mà tôi thì đã hai mươi tuổi. Không còn gì để hy vọng. Thời gian trôi thật
nhanh mà cuộc đời mỗi người đều quá ngắn ngủi. Ðêm nằm có một mình trên chiếc
giường tầng ở ký túc xá, tôi nhớ tới mẹ, nước mắt ứa ra. Từ ngày bà mất, không
khi nào tôi để rơi nước mắt trước mặt mọi người. Trái tim không bằng đá, nhưng
chưa đến nỗi mềm để lúc nào cũng tan thành nước, nhỏ lụy khóc than. Tôi lớn lên
trong sự thiếu vắng người cha mặc dù mẹ cố gắng bù đắp nỗi thiếu hụt ấy. Nhưng
tôi chưa khi nào cảm thấy trọn vẹn tình yêu của người cha. Dẫu trong mơ, ba có
trở về, chưa khi nào ông âu yếm tôi. Ðiều đó làm tôi đau đớn. Tỉnh dậy sau những
giấc mơ như thế, tôi mệt đến rã rời thể xác.
oOo
Ðang nằm đọc sách, đứa bạn đến gần, nói:
- Hoài Thương, có người gặp kìa!
Tôi chồm dậy, ra là Linh. Cô bé tới gặp tôi có chuyệngì? Nó đã thi xong và tôi cũng không còn phải tới nhà dạy phụ đạo Linh nữa.
- Chị Thương, ba em đã về rồi! Ông muốn gặp chị!
- Ðể làm gì, chị không hiểu?
- Em viết thư và kể chị là gia sư của em. Co thể ba không tin kết quả thi của em nên muốn biết em học hành ra sao?
Tôi cười, cảm thấy ganh tỵ với Linh. Ganh tỵ và xót xa cho bản thân thật nhiều. Mẹ tôi vẫn còng lưng trên chiếc máy khâu cũ mòn, nhẫn nại vắt kiệt những giọt mồ hôi mặng đắng, nhặt nhạnh từng đồng gửi lên cho tôi. Mẹ thường bảo: “Nếu ba còn sống, con sẽ đỡ thiếu thốn hơn”. Có thể, nếu ba còn sống, cuộc đời hai mẹ con tôi đã khác, nhưng điều đó không khi nào thành sự thật. Và tôi vẫn mãi là đứa con mất cha. Ðôi lúc tôi có cảm giác căm thù chiến tranh, nó đã cướp đi những người thân của mình, cướp đi tuổi xuân mỏi mòn chờ đợi của mẹ. Tôi căm thù nó và ganh tỵ với những người bạn có đầy đủ bố lẫn mẹ.
Linh đưa tôì vào phòng khách, một người đàn ông đứng tuổi đã ngồi ở đó. Linh vui vẻ:
- Ba ơi! Chị ấy đây này.
Hình như ông ta đã giật mình, một cái nhìn thật lạ lướt nhanh trên mặt tôi, có cảm giác như vừa phát hiện ra điều gì, cốc nước trên tay ông sóng sánh, chao đảo:
- Cháu là Hoài Thương, gia sư của Thùy Linh?
- Dạ. - Tôi nói khẽ khàng, mắt không rời được khuôn mặt ông. Ông ta có những nét thật quen, quen đến mức sững sờ, và nhất là đôi mắt, đôi mắt giống ba tôi trong ảnh đến lạ lùng! Ðất dưới chân tôi như sụp xuống, cả căng phòng như chao đảo, tôi nhắm mắt, cố xua đi hình ảnh vừa thoáng hiện trong ý nghĩ. Ông ta là bố của Thùy Linh!
- Ba ơi, con lấy quà của ba cho chị ấy nhé!
Linh nói và chạyh đi, ánh mắt ông nhìn theo thật ấm áp, đây trìu mến. sống mũi tôi bất giác cay cay.
- Cháu ngồi đi, Hoài Thương.
Rót nước đưa cho tôi, ánh mắt ông dừng lại thật lâu trên mặt tôi. Cử chỉ bỗng vụng về: “Cháu có cái tên rất đẹp nhưng buồn”.
- Ðó là một câu chuyện, bác ạ.
- Có thể kể cho bác nghe được không?
Tôi ngập ngừng, chưa khi nào tôi kể cho mọi người nghe vì sao tôi mang cái tên buồn đến thế. Mắt ông ta nhìn tôi cầu khẩn.
- Nó gắn với sự chờ đợi của một người mẹ, một người vợ, và một người con đối với một người đi xa.
- Mẹ cháu tên gì?
- Mẹ cháu tên Mai Hương, trong một lần hành quân qua nhà, bố cháu ghé lại, mẹ cháu có mang cháu từ đó. Cái tên là cách nói mẹ vẫn luôn chờ và nhớ tới ba cháu, mong ba trở về.
Bàn tay để hờ hững trên bàn tay người đàn ông bỗng run rẩy, ông ta cười, nụ cười méo mó:
- Ba cháu đã không về!
- Vâng, đã hai mươi năm, cả mẹ và cháu đều tin rằng ông đã mất.
- Thế còn bà cháu?
- Bà cháu đã mất sau hòa bình vài năm, bác có biết tại sao không? Tôi nghẹn ngào – vì bà đã mỏi mòn sống trong chờ đợi con, bà đã không thể chờ đợi được. Cho đến lúc nhắm mắt, bà còn nắm chặt tay mẹ cháu dặn dò hãy đợi bố cháu. Bà tin ông ấy vẫn còn sống!
- Trái tim của người mẹ... - Người đàn ông thầm thì, khóe mắt ông giật giật liên tục, ông ta lảo đảo đứng dậy, xoay lưng lại phía tôi, chậm chạp rời khỏi phòng.
Tôi cắm chặt hai chân xuống sàn nhà, không đủ sức đứng dậy, cảm giác mệt mỏi, trống rỗng xâm chiếm khắp người. Tôi uể oải đứng lên, nặng nhọc bước ra khỏi nhà, ý nghĩ muốn mau chóng đi khỏi nơi đây làm tôi đi như chạy, nước mắt đột nhiên tuôn rơi. Có cái gì đó vừa rơi xuống, vỡ tan thành ngàn mảnh, hình ảnh ba tôi tan biến, nhòe nhoẹt trong hai hàng nước mắt. Ngày kia là ngày giỗ của ba, tôi phải trở về nhà, đó mới là sự thật. Sự thật là ba đã chết, chết từ lâu.
Tôi ra bưu điện, đánh điện tín về cho mẹ: “Con sẽ về trong ngày giỗ của ba, con muốn thắp hương cho ba. Mẹ nhớ đón con, mẹ nhé!”.




