Sunday, April 26, 2026

Tháng Tư Đường Phố Lạ - Thuyên Huy

 Tháng Tư Đường Phố Lạ

 
















Tháng Tư đường phố lạ

Người ngồi đó lặng thinh

Quê hương giờ xa quá

Hơn nửa đời chênh vênh

 

Người xa người từ đó

Một sáng tháng Tư buồn

Xót xa đường phượng úa

Ngẹn ngào biệt cố hương

 

Nhớ người nhớ da diết

Quặn thắt một nổi đau

Người vẫy tay tống biệt

Người lệ đẩm mắt sâu

 

Người có vui ở đó

Hay cũng tháng Tư buồn

Lời thương muộn xin ngỏ

Người nơi này lệ tuôn

 

Tháng Tư thêm lần nữa

Người vẫn cứ xa người

Còn đâu ngày tháng cũ

Phố lạ cũng ngậm ngùi

 

Thuyên Huy

 

Tội Tình - Thuyên Huy

 

Tội Tình

Viết cho chị, hơn phân nửa đời người ở đợ nơi quê xưa, đã không còn trên đời này

 

    Vào Đệ Thất, anh lên tỉnh trọ học, nhà nghèo, ở tận một xã xa dưới quê, ba mẹ làm ruộng mướn, không quen biết ai, cũng may, hôm xuống dưới quận tính chuyện trả tiền trả lúa cho chủ, gặp một ông bác cũng tới trả nợ, người bên xã trong, hỏi han hoàn cảnh nhau, bác có người cháu bà con, đang học lớp Đệ Tứ trên đó, bác chỉ chỗ anh này ở, nhờ vậy, mừng quá, mừng đến nổi ba anh cứ run run cầm tay bác cám ơn không biết bao nhiêu lần. Trước ngày khai trường mấy ngày, hai cha con đón xe đò thật sớm lên tỉnh, chỗ ông bác chỉ cũng dễ tìm, ngay mặt đường lộ, đi bộ tới trường trung học chừng hơn hai ba trăm thước.




*

    Nhà trọ, chỗ anh ở, một căn nhà lợp tôn, tường ván còn tốt, khang trang, nằm cách lề bởi cái mương dài chạy dọc theo đường, có khoảng sân đất cát trắng, phía sau là khu vườn cây vú sữa, bao quanh cái nhà ngói lớn, mái âm dương, bề thế của bà Bảy Hiền, tuổi già, sống một mình, tu tại gia, cất cho đám học trò quê xa lên ở trọ nhiều năm rồi, không lấy tiền, hết lớp này tới lớp kia. Trong nhà, có bốn người, người nào cũng học trên nhiều lớp, có anh sắp thi Tú Tài Một năm này, anh là thằng nhỏ nhỏ nhất, nhà có điện hẳn hoi, sáng hơn cây đèn dầu leo lét dưới nhà quê , thấy thương anh một mình, tội nghiệp, mấy anh lớn an ủi, vỗ về chút chút vậy thôi, chứ không biết làm gì hơn, họ cũng nghèo, cơm bữa chao bữa tương, dưa leo dưa chuột, chia nhau miếng khô miếng tép, ba mẹ anh cũng lên thăm, đón về năm ba lần, chắt chiu mang lên mớ cá mớ tôm kho quẹt, anh em chia nhau, rồi dần dà quen, thứ bảy chủ nhật, anh theo mấy anh lớn, đón xe về nhà, may mà cả đám đều cùng một đường dưới đó, chỉ khác là người xuống trước xuống sau nên anh không còn lo còn sợ nữa.

    Chị ba Thắm, người ở cho bà Bảy Hiền, chắc cũng hai mươi, dễ thương, vui tính, chị hiền lắm, ăn nói nhỏ nhẹ, mỗi sáng đi chợ, ngang qua sân nhà, thấy anh đứng loanh quanh chờ tới trường, đều tới hỏi đủ chuyện, từ chuyện nhớ nhà, chuyện đi học tới chuyện ăn uống, một hai ân cần dặn, nếu cần gì thì vào nhà trong kêu chị, chị giúp cho, cứ hai ba bữa, chiều chờ mấy anh em đi học về, chị mang ra cho thêm mấy cái hột vịt, hủ chao hủ tương, cải chua dưa muối, đôi khi cái bánh, miếng kẹo. Riết rồi thân, rồi mến, thấy anh nhỏ, trọ học xa nhà tội nghiệp, chị giặt cả quần áo cho luôn, chiều chiều anh vào nhà trong, hai chị em ngồi bên nhau, cười đùa luôn miệng, cứ vậy mà về nghỉ hè bải trường, xa chị, nhiều lần nhớ anh khóc.

    Mấy anh lớn ở nhà trọ, những năm sau lần lượt bỏ đi thì hai ba anh khác đến, căn nhà vẫn vậy, anh lên lớp, anh lớn hơn nhưng chị Thắm cứ lo cho  y hệt như ngày mới lên tỉnh học, anh thương chị không ít, cũng phải vì thiếu tình thương người chị. Cuối năm Đệ Tứ, nghe lời ba mẹ, anh chuyển về dưới trường trung học quận mới mở hơn một năm nay, gần nhà, đi về cũng tiện, ông bà đở lo tiền nong gạo thóc.

*

    Hôm từ giã chị Thắm, cũng là ngày cuối năm học, vào Hè, bải trường, buổi sáng hai chị em dắt nhau ra chợ tỉnh, chị đãi anh ăn một bữa hủ tiếu tôm thịt, ly chè sâm bổ lượng đầy ém, dặn nhớ ráng học, “khi nào rảnh lên thăm chị nếu còn nhớ”. Buổi trưa, chị ra đứng bên đường, chờ xe đưa anh đi, cho anh gói quà, bộ đồng phục nam sinh, quần xanh dương áo trắng, chị may vài tháng trước, định để dành tặng anh năm tới, anh cầm mà rươm rướm nước mắt, xe tới, anh lên xe nhìn xuống, đứng dưới ngó lên vẫy tay, chị che mặt khóc.

    Mấy năm sau, cảnh nhà ngày thêm chật vật, ba anh già yếu, mẹ anh cũng không khá hơn, sức người mòi mỏn chuyện cày sâu cuốc bẩm, đi học thì thôi, về nhà anh cũng dầm mưa dãi nắng, theo ông ra ruộng ra sông, cắm câu giăng lưới, bất kể ngày nghỉ ngày hè, nhiều lần muốn lên tỉnh, hẹn lần hẹn lựa nhưng vẫn chưa được dù cho có muốn lắm, anh nhớ nhưng chưa lần nào trở lại tỉnh từ dạo đó.

*

   Từ căn cứ Đồng Tâm, sau khi xuống thăm người bạn Hải quân về, trời còn sớm, nắng rưng rức nóng, từ mấy cánh đồng trơ xác rạ xa cuối làng đứng gió, tới ngã ba Trung Lương, chỗ sạp quán, người bán người buôn đủ loại trái cây dọc hai bên, thì xe đò xe hàng nối đuôi, kẹt cứng ngay ngả đường vào Mỹ Tho, mấy chị, mấy bà bán hàng từ phía đầu trên chạy xuống, hớt hơ hớt hãi la lớn “xe đụng chết người”, cả khu nhốn nháo chỉ chỏ nói qua nói lại, chật cứng trên đường, tấp xe vào đậu phía sau, người tài xế ngồi yên, lấy thuốc ra hút, anh bỏ xuống, len vào đám đông tới phía trước, chỗ xảy ra tai nạn.




    Một chị bán hàng xem ra rành chuyện, cho biết, người bị xe đụng là chị có sạp bán mận, bán chôm chôm gần bên sạp mình, chưa có chồng, lúc vội chạy theo chiếc xe đò lớn về Mỹ Tho, đưa túi đụng mấy ký mận cho người khách ngồi trên xe chờ, bên kia lề, lấy tiền, xong lẹ băng qua đường lại, không nhìn trước nhìn sau, chiếc xe đò nhỏ cũng về hướng Mỹ Tho, chạy giành đám đông khách đứng chờ phía trên xa, phóng vụt vượt qua bên hông, thắng không kịp, đụng chị ngã sấp xuống, máu me tùm lum, may nhờ có mấy người lính chạy  Honda về dưới tỉnh, gọi xe cứu thương giùm, đang chờ họ lên, bạn hàng không biết làm gì, đứng chung quanh nhìn, than trời trách đất, không dám động đậy.

   Tới nơi, chiếc xe đò loại nhỏ đậu chắn ngang giữa đường, anh chen đám đông bu quanh, đi lên xem thử, anh chết trân, nghẹn ngào, ngồi quỵ xuống “trời ơi, chị Thắm, chị Thắm ơi”, trên vũng máu đọng tím bầm, chưa khô, chị nằm cong queo, mắt nhắm nghiền, thân người không động đậy, xe cứu thương, xe cảnh sát từ Mỹ Tho lên tới, nhận ra anh, họ vội vàng chào, anh nói với họ gì đó, họ gật đầu đứng chờ, hai người y tá khiêng chị lên xe, anh lên theo. Hụ còi lớn, xe cứu thương vụt chạy đi, anh ngồi bên cạnh, cầm tay chị, nước mắt lăn dài trên má.

*

    Chừng hơn hai năm, sau ngày anh về dưới trường quận, bà Bảy Hiền mất, người cháu bà con trên Đà Lạt về lo đám tang, họ đem hỏa thiêu rồi mang tro cốt vào gởi trong cái chùa cổ xưa ngoài xa ngoại ô tỉnh, họ bàn và chị Thắm, phận người ăn người ở, không muốn cũng phải chịu, họ bán căn nhà ngói và cái nhà tôn ngoài đường mà bà cho đám học trò ở trọ. Chị rời tỉnh về lại quê cũ, gần Long Định, cũng như chị đám học trò tản mác, lo thân đi ở đâu đó. Với chị, hôm bỏ tỉnh đi, đã không còn nghĩ tới chuyện gặp lại anh như lời chị dặn “lên thăm chị nếu còn nhớ” trong buổi sáng ngày đó đưa anh đi bên lề đường.

    Về Long Định, với số tiền dành dụm từ những năm ở với bà Bảy Hiền, nghe lời người dì họ, cũng già lắm rồi, chị sang lại cái sạp nhỏ bán trái cây trên ngã ba Trung Lương, mới đầu chưa quen nhưng dần dà khá hơn, khách qua đường, khách đi xe lên xuống tới mua cũng khá đông, chị vui mà quên chuyện cũ, chuyện vui buồn của kiếp đời ở đợ. Người bán hàng chung quanh, kế bên đều thương đều mến vì chị ăn nói nhỏ nhẹ, nhường khách nhường phần, tiếp tay sạp hàng kế bên, túi nhẹ túi nặng, ngay cả mấy anh tài xế, lơ xe đò đều ngắm nghía, chọc ghẹo luôn miệng, chị cười trừ, dù chị không còn trẻ nữa.

    Từ đó, chị kiếm đươc đồng vô đồng ra, nhà hai dì cháu giờ có thêm cái bàn cái ghế, cái chén cái nồi, người quen trong ấp, bạn hàng ngoài Trung Lương, tỏ ý gợi chuyện muốn làm mai cho người quen, con cháu nhưng chị vui vẻ từ chối, cứ bảo là để thủng thẳng rồi tính. Ngày qua tháng lại, chị vẫn bương chải một mình, ngày hai buổi đi về Long Định, không buồn không tiếc gì hết nhưng không ai biết là chị cũng đã có một lần thương, trong những ngày còn ở với bà Bảy Hiền, chỉ một lần thương mà không trọn vì thân phận “con ở đợ”.

*

    Chắc cũng hơn tám chín năm, không gặp lại từ ngày anh về học trường quận nhưng vẫn còn nhớ rõ như in gương mặt của chị Thắm, giờ ngồi nhìn không khác nhiều hơn trước, hôm theo xe cứu thương chở chị về bênh viện Mỹ Tho, anh ở bên cạnh, đi qua đi lại, phụ mấy chị y tá lấy ống chích cây kim, giữ kéo dây chuyền nước biển, chị vẫn nằm bất động, máu đọng bên khóe miệng đã đặc khô cứng màu bầm, miệng thầm gọi “chị ơi, chị ơi”, ở lại đó cho tới giờ đổi ca trực đêm, giữa khuya, chị y tá sau cùng, quen biết anh, kéo lại tấm vải đắp trên mình chị Thắm, xếp mấy thứ lặt vặt trên cái bàn kê ở đầu giường bệnh, ra ngoài đứng chờ, anh đi tới, cúi xuống gần nhìn mặt chị thì thầm “chị ơi chị ơi”, mắt chị vẫn nhắm nghiền, rồi bước ra theo, chị y tá nhẹ tay khép cửa, gật đầu chào, lặng thinh bỏ đi, anh nấn ná ở lại đôi phút, hành lang bệnh viện vắng tanh, không bóng người, rồi cũng bỏ đi, dưới ánh đèn vàng mù mờ trong phòng bệnh, giọt từng giọt vẫn đếm từng cái một rớt xuống trong cái chai nước biển treo ngay đầu giường.

*

     Sáng sớm, mặt trời chưa hé, sương mù mờ, chập chờn cả đêm không ngủ, cứ nhớ ray nhớ rứt những năm đầu học trường tỉnh, nhớ căn nhà tôn trên cái sân cát rộng sát bên đường lộ, nhớ nụ cười nhớ lời dặn dò của chị, nhớ quay quắt, nhất là lời chị nhắc “lên thăm chị nếu còn nhớ”, nhớ mà muốn khóc, anh lái xe chạy một mạch tới bệnh viện, người cảnh sát gát đêm trên đường về, mệt mỏi nhưng cũng dừng lại, đứng bên lề, vẫy tay chào, anh hững hờ cười chào lại.

    Bỏ xe đậu đại đâu đó trong sân dãy phòng bệnh, đi vội đi vàng về hướng cuối hành lang chỗ chị Thắm chưa được nửa đường, anh giựt thót người, hớt hãi, một nhóm nhiều chị y tá đứng trước cửa phòng mặt mài buồn xo, nhìn vào, nói qua nói lại gì đó, anh chạy nhanh tới, chị y tá quen anh, người rời phòng bệnh cuối cùng đêm qua cũng vừa bước ra, nhìn anh rồi nhìn vào trong, anh nhìn theo, trên giường tấm khăn trắng phủ toàn thân người chị Thắm, không chừa đầu như hôm qua, chai nước biển cũng đã gở xuống, đèn trong phòng mù mờ như cái mù mờ như vậy từ chiều qua, chị chờ anh quay ra, thở dài “chị đã mất chừng nửa giờ trước đây”.




*

   Anh đẩy cửa vào, mấy chị y tá tránh qua một bên, họ nói nhau gì đó rồi lẳng lặng bỏ đi, một mình người chị quen anh, ở lại bên ngoài, kiên nhẩn chờ như đã chờ anh để khép cửa hồi khuya đêm qua, anh cúi xuống, tay run run kéo tấm vải phủ xuống khỏi đầu, mặt chị đã đổi màu, nhưng vẫn là gương mặt đó, gương mặt của những buổi chiều, hai chị em ngồi nói chuyện với nhau, trước mái hiên căn nhà ngói mái âm dương  bà bác Bảy Hiền của hơn tám năm trước, đầm đìa nước mắt.

    Lảo đảo quỵ người xuống, đưa tay vuốt mặt chị trước khi kéo tấm vải lên khỏi đầu, trời bắt đầu có chút nắng sáng, bên ngoài trước phòng, mấy chị y tá hồi nảy trở lại, có đẩy thêm chiếc băng ca, anh thẩn thờ nói nhỏ “vĩnh biệt chị của tôi”, rồi ôm đầu nức nở khóc.

 

Thuyên Huy

Cũng là những ngày đầu đông 2020

 

   

 

Phố Hạ Em Về - Nguyễn Đạm Luân

 Phố Hạ Em Về

 













Em về dưới phố Hạ. Đường phượng một trời hồng

Tôi là người khách lạ. Ngập ngừng giữa chợ đông

 

Áo hờ đôi tà lụa. Em nghiêng nón tóc lơi

Lối quen này một thuở. Hoa nắng Hạ theo người

 

Tôi cũng về dưới phố. Chiều chợ vẫn còn người

Quen em nơi cuối ngõ. Rộn ràng đường phượng vui

 

Giữ chút tình sơ ngộ. Nắng Hạ ngã bóng chiều

Chào em tôi bỏ phố. Phố Hạ hiu quạnh hiu

 

Chưa biết ngày trở lại. Ruỗi dong quán bên đường

Hơn nửa đời vẫn vậy. Thương chỉ để mà thương

 

Nguyễn Đạm Luân

Họ Là Con Gái - Lê Xuân Khoa

Họ Là Con Gái




Nó nắm chặt tay nhỏ bạn, cố gắng nở nụ cười thật tươi để chen lấn qua một đống người. Quán cà phê sinh viên tối thứ bảy có khác – đông đúc, ồn ào. Tất cả mọi thứ đều mờ mịt trong khói thuốc lá, chìm nghỉm giữa một mớ âm thanh hỗn tạp. Nó đưa mắt nhìn khắp căn phòng không thể kiếm đâu ra một khoảng trống đẻ có thể tìm ra một chỗ ngồi. Nhỏ bạn kéo tay nó và hất mắt về phía ban công:

- A! Tao thấy có người quen ngoài kia đấy!

Nó nhướng mắt. Chịu - chẳng thể nhận ra ai ngoài mấy cánh tay đang giơ lên cao vẫy vẫy. Thôi thì đành “bay” vào vậy, kiếm được chỗ ngồi là tốt rồi. Nó nhủ thầm và lại xông xáo bước theo chân nhỏ bạn vượt qua một dãy bàn chật ních…

Cầm chiếc thìa trong tay, nó lơ đãng khuấy đều. Phải nói rằng nước quất mặn ở đay là món nó thích nhất. Chỉ cần nói đến  cài vị ngọt ngọt, chua chua, mặn mặn lại chơi chát một chút lá đã phát thèm. Nó vẫn thường hay gọi đúa đây là “ly nứơc cuộ đời…”

- Đây là Thảo học cùng lớp với tớ.

Nó giật mình dáo dác quay sang xung quanh rồi tự cười thầm trong bụng. Đúng là “Có tật giật mình”, mà cái Hằng cũng thật buồn cười, không dưng lạ đá vào chân nó cứ như đây là giờ học toán không bằng. Cái màn giới thiệu cũ rích này quan trọng hoá làm gì cho mệt. Cũng may là nó chưa đứng lên và cúi đầu lễ phép “Thưa thầy! Thầy hỏi gì ạ?”.

* * *

Nó bực bội cố xoay chàng lính thủy quay mặt lại với cô thôn nữ. Đôi chút chít này liên tục gây cho nó sự phiền nhiễu. Chúng không bao giờ tuân thủ theo sự sắp đặt của nó cả, lúc nào cũng quay lộn xộn chẳng có thứ tự gì hết.

- Thảo này, có lẽ tao yêu mất rồi.

- Yêu cái gì cơ? – Nó ngạc nhiên quay lại hỏi. Bạn của nó đang tư lự chống tay ngang cằm.

- Mày làm sao mà hiểu được tình yêu cơ chứ. Suốt ngày lọ mọ với một đống đồ chơi. Tao sợ mày cũng trống rỗng như cô thôn nữ của mày lắm.

Nó nhún vai ra dáng bất cần. Yêu với chả đương. Khi người ta 18 tuổi như nó, nguời ta sống bằng những hoài bão, ước mơ chứ không bằng tình yêu kiểu bọ xít.

- Mà mày thấy Minh thế nào?

“Thế nào ư?”. Nó lẩm bẩm trong miệng. Từ sau lần gặp nhau trong quán sinh viên, tụi nó có đi chơi ba bốn lần với nhau. Đấy là anh chàng biết hạ giọng thì thầm bản tình ca bất hủ “Still loving you” hay biết cách rút khăn mùi xoa khi nó xơi xong ba que liền một lúc.

- Đôi lúc mắt Minh gặp mắt tao. Nó cứ thế nào ấy Thảo ạ. Tao thấy người mình cứ run bắn lên.

- Thế à? – Nó hờ hững hỏi lại - Chỉ có nhìn mà đã được gọi là tình yêu ư? Vậy giải thích sao đây khi thỉnh thoảng mắt nó và Minh cũng gặp nhau? Vớ vẩn thật. Nếu vậy thì nó đã có nhiều mối tình rồi. Bất cứ lúc nào nó chẳng có thể nhìn sâu vào mắt một thằng cha nào đấy.

- Mày cứ nghĩ cái gì thế? Nói chuyện với mày chán chết y như người mất hồn - Hằng đứng lên giận dỗi bỏ về. Nó cũng chẳng thèm đuổi theo làm gì. Đúng là đồ trẻ con.

* * *

“Một …hai…ba”.

Lại là nó đang kiên nhẫn đếm từng chú kiến đang chăm chỉ chạy đi chạy lại trên bờ tường. Sống trong những ngày này quả là khó chịu. Ngày nào cũng như ngày nào lặp lại như nhau, trùng khít lên nhau trong cái vòng luẩn quẩn: Học – ăn - ngủ. Nó đứng lên bĩu môi, vứt que tăm xuống đường giao thông của lũ kiến và quay vào nhà. Bạn nó đã đến từ lúc nào. Hằng tựa lưng vào tường nhìn nó – cái nhìn đầy thất vọng.

- Tao không hiểu nổi mày Thảo ạ!

Nó nhếch miệng lẩm bẩm “Việc ấy cũng không cần thiết lắm”.

- Mày lẩn thẩn như một bà cụ non nhưng lại tha về nhà một đống chơi của trẻ lên ba để làm bạn. Mày luôn bay bổng trong mớ hoài vọng rắc rối. Mày hãy cứ sống thật với chính mình đi. Hãy yêu – hãy tin – hãy thất vọng và hãy đau khổ, rồi mày sẽ biết thế nào là hạnh phúc.

Nó ơ hờ gật đầu. Cũng có thể là Hằng nói đúng. Nó luôn chế nhạo tình kiểu bọ xít của bạn bè nhưng nó lại thèm sự quan tâm  đến từng cái hắt hơi của Minh đối với Hằng. Nó ghét cái õng ẹo, làm duyên, làm dáng của các cô gái nhưng nó lại muốn có cái nhìn đầy khích lệ, thương yêu của các chành trai. Nó cười vào sự theo đuổi lẵng nhẵng của cái đuôi nhưng lại run sợ khi phải đạp xe một mình trên đường phố. Phải đối diện với chính mình, với cái cô đơn đang dày vò. Nó là thế đấy. Luôn ra vẻ đang ngẩng cao đầu đầy kiêu hãng nhưng thật ra lại đang bồn chồn mong ngóng một nửa còn lại của chính mình. Cũng có thể là một cái gì đầy mâu thuẫn nhưng tất cả đều không có gì đáng lo ngại lắm, bởi vì nó là con gái. Và con gái thì được quyền kiêu hãnh chứ gì?

Có lẽ ngày mai hoặc ngày kia trên đường phố bạn sẽ gặp một cô gái đang hùng hồn tuyên bố giữa đám bạn bè “Tôi khôn thèm yêu” hay “Tôi không thèm lấy chồng”, hoặc những câu đại loại như thế thì bạn hãy cứ tin chắc rằng đấy chính là những người đang chờ đợi tình yêu nhất.

Mà biết đâu người đấy chính là nó, là tôi hoặc là bạn?

Lê xuân hòa 

Như Ngàn Cơn Gió Nổi Trôi - Vũ Thế Thành

 

Như ngàn cơn gió nổi trôi…

Thỉnh thoảng tôi cũng viết nhăng cuội tùy bút, còn làm thơ thì tuyệt đối không. Không làm thơ được thì dịch thơ. Dịch thơ có cái sướng là, chỉ cần diễn nghĩa, khỏi cần vần điệu. Ý nghĩa thực sự của thơ lại nằm sâu dưới nhiều lớp chữ nghĩa, tưởng hiểu mà có khi không hiểu. Chính sự mông lung này lại là cái cớ để… biện minh – Đó là “ẩn ý” tác giả!

Vũ Thế Thành

 

Bài thơ tôi liều mạng dịch thử có tựa là “Do not stand by my grave and weep” (Đừng khóc bên mộ tôi). Tôi không rõ tác giả bài thơ là ai. Có nguồn nói là của bà Mary Frye. Nguồn khác lại nói của ông Clare Harner. Cuối cùng tôi cũng chẳng biết là của ông hay của của bà, dù cả hai đều đều là người Mỹ.

Tôi yêu ý tưởng của bài thơ này: sự sống không kết thúc nơi nấm mồ, mà hóa thân vào thiên nhiên, là mây, là gió, là nắng, là giọt mưa,… Bài thơ xuất hiện trước Thế chiến II, và sau này James E. Parker Jr đưa bài thơ này vào hồi ký “Last Man Out” của ông xuất bản năm 1996.

J. Parker là phi công Mỹ, người chỉ huy chiếc trực thăng cuối cùng rời khỏi Sài Gòn trong những giờ phút kết thúc của chiến tranh Việt Nam năm 1975. Trong hồi ký xuất bản khoảng 20 năm sau đó, Parker đã kể lại, những trải nghiệm trực tiếp trong chiến dịch di tản hỗn loạn mang tên Operation Frequent Wind – Ông cũng tiết lộ những sự kiện ít ai để ý như thiếu nhiên liệu, quá tải, áp lực thời gian. Nhưng ám ảnh nhất với tác giả, đó là người lên được trực thăng, người phải ở lại. Không sao đáp ứng được hết.

Nếu muốn hiểu chi tiết cuộc di tản, mà các bạn trẻ trong nước chế giễu là bọn “ba que đu càng”, kịch tính thế nào, thì nên tìm đọc “Last Man Out”. Chỉ có điều tác giả, J. Parker viết ra, không phải để chế giễu những người “đu càng”, mà với một gánh nặng tâm lý – ông rời đi khi vẫn còn nhiều người bị bỏ lại.

Hơn hai mươi năm sau, Parker đã nhìn lại cuộc chiến, không chỉ với góc nhìn của một phi công, mà ở tầm vĩ mô hơn khi nhiều tài liệu đã được giải mật. Tác giả mang theo tâm trạng ray rứt – Mặc cảm đã bỏ rơi đồng minh, và cụ thể là hình ảnh khi chiếc trực thăng cuối cùng rời đi mà quá nhiều người bị bỏ lại. Đâu là nghĩa vụ, là trách nhiệm, và đạo đức?

Mặc dù tôi không thấy dấu vết của chiến tranh, của đau buồn trong bài thơ “Do not stand by my grave and weep”, nhưng có lẽ vì tâm trạng mặc cảm này mà James E. Parker Jr đã đưa bài thơ vào hồi ký “Last Man Out” của ông. – Chết không có nghĩa là kết thúc với nấm mồ. Chính vì vậy nó tạo cảm giác an ủi, nhất là trong bối cảnh mất mát của chiến tranh Việt Nam.

Bài thơ “Do not stand by my grave and weep” như sau:

I am not there. I do not sleep.

I am a thousand winds that blow

I am the diamond’s glint on snow

I am the sunlight on ripened grain

I am the gentle autumn’s rain

When you awake in the morning’s hush

I am the swift uplifting rush

Of quiet birds in circle flight

Do not stand by my grave and cry:

I am not there. I did not die.

———

Tạm dịch (Vtt):

Xin đừng khóc bên mộ anh

Anh không nằm trong đó, không yên nghỉ nơi đó.

Anh như ngàn cơn gió nổi trôi,

như ánh ngọc lấp lánh trên tuyết,

như ánh nắng trên đồng lúa chín,

như những giọt mưa thu nhẹ nhàng rơi

Rồi một sáng mai tĩnh lặng, em tỉnh giấc

Sẽ thấy anh là cánh chim vút bay

Lặng lẽ lượn quanh bầu trời

Đừng khóc bên mộ anh

Anh không ở đấy, anh chưa hề khuất bóng.

—–

Bây giờ đang là những ngày cuối tháng Tư, tôi cũng muốn viết điều gì đó, nhưng không sao viết được. Tháng Tư năm ngoái, 50 năm cũng không sao viết nổi. Tuổi đời càng cao, ký ức càng chật kín thêm những chuyện năm xưa – Nói sao cho hết? Đành dịch bài thơ này để trang trải nỗi lòng – Sự sống không kết thúc nơi nấm mồ.

Sau cùng, tôi phải xin lỗi tác giả bài thơ, vì bản dịch có thể có nhiều phần không đúng với ý tác giả. Xin lượng thứ (Vtt)

Vũ Thế Thành

304Đen – llttm - sgtc

 

Tuesday, April 21, 2026

Nhớ Sài Gòn Nhớ Em - Thuyên Huy

 Nhờ Sài Gòn Nhớ Em




Dạ Mộ Khúc - Thuyên Huy

 

Dạ Mộ Khúc

Để nhớ HTN - người lẻ loi mang theo những gì muốn nói nhưng chưa nói được xuống lòng mộ lạnh.




 

    Giữa tháng giêng, cuối hạ, buổi sáng, trời vẫn nắng như những ngày đầu mùa, vài ba cơn gió bắc gay gắt nóng hậm hực tụ nhau về rồi lửng thửng bỏ đi không chào không hỏi, chủ nhật, nghĩa trang vắng tanh, không bao nhiêu người thăm, dọc theo mấy hàng mộ bia, cùng kích thước vuông, lớn cở hai gang tay, cùng loại đá, đặt nằm thẳng, cách đều nhau, trên cái đồng cỏ xanh trải đầy xác hoa phượng tím, sâu hút phía trong cùng, lác đác đôi ba người đứng ngồi ở cuối đường. Ngồi đó lâu rồi, trước mộ, nói là mộ nhưng ở đây, mộ là những khoảnh đất xanh cỏ, bằng phẳng, tro cốt chôn bên dưới, chính giữa phía trên, người ta đặt một cái bình đựng hoa bằng sứ đen, mộ nào cũng như mộ nào, chỉ khác nhau ở chỗ là hàng chữ khắc trên bia và loại hoa cắm trong bình, Đạm chưa nói được trọn những gì mình muốn nói, hơn năm năm gặp lại nơi xứ người, cùng cảnh đời lẻ loi, vui buồn có nhau, vậy mà cuối cùng, ngày anh Huỳnh mất, Đạm đã không tiễn anh lần đi sau cùng, không như lần tiễn nhau tại một góc quán cà phê, ở chợ Nancy, đêm chờ khuya ra biển, hẹn ngày gặp lại, tay vuốt nhẹ mộ bia, khắc vỏn vẹn tên người và ngày sinh ngày chết, chợt dưng Đạm nức nghẹn, thì thầm, rấm rứt khóc “vậy mà em đã thất hẹn với anh rồi”.

    Tuần trước, trưa thứ sáu, khi đến phụ anh điền một số giấy tờ, để tái xin trợ cấp tiền thuê nhà hàng tuần, nộp cho văn phòng “Nhà Cửa” của chính phủ tiểu bang, anh cho biết bệnh tình, từ tim tới phổi, từ đầu gối tới bàn chân, vốn đều trải qua hơn một lần giải phẩu, xem ra tệ hơn, mấy ngày nay anh trông rã rời, mệt mỏi và không đi đứng lâu được, cũng như thường ngày, hai anh em ngồi nhìn ra trời bên kia sông, nói qua hỏi lại chuyện chợ búa chuyện tin tức thường ngày, anh cười mà buồn rười rượi “không biết còn chịu được bao lâu nữa”, ra về, Đạm hẹn ngày mai, thứ bảy, đến cắt đám cỏ đã lên cao ở sân trước, rộng chừng đủ cho hai chiếc xe hơi đậu, lần này anh ngồi dựa vào tường nhìn theo, không còn đủ sức đứng lên ra tới cửa như mọi khi, đám bồ câu hoang chờ ăn thường ngày, không đủ kiên nhẩn, bỏ bay đi từ lâu vì cũng đã nhiều ngày, anh không rải gạo khô dư cho bọn chúng. Mây bất chợt kéo về xám xịch và chùng xuống thấp bên kia sông, trời có chút gió mát muộn, chắc sắp mưa, xe ra khỏi ngã tư đường, nhìn từ kính chiếu hậu, cửa nhà anh Huỳnh không thấy mở.

    Đi loanh quanh tìm mua vài thứ lặt vặt, nhìn người qua kẻ lại ở khu thương mại gần nhà cho đở buồn, về đến nhà, nhận điện thoại của vợ chồng người bạn quen thân từ trên Wollongong kêu xuống, nhắn một hai lên gấp, giúp giùm ai đó một số giấy tờ để sáng thứ hai họ kịp ra tòa, tìm chuyến bay qua mạng điện tử, Đạm đi chuyến bay Jetstar sáng sớm thứ bảy vì vé hạ giá chuyến trễ trong ngày không còn nữa. Tối lại, Đạm gọi điện thoại cho anh Huỳnh biết không tới được ngày mai như đã hẹn, vì phải lên Sydney vài ngày, khi về lại sẽ cho anh hay và không quên nhắc anh nhớ uống đủ thuốc như thường lệ. Không như mấy lần trước, vì có một vài trục trặc, chờ xong xuôi.

    Đạm ở lại Wollongong thêm mấy ngày, trưa hôm về tới nhà, vội gọi điện thoại cho anh Huỳnh ngay mấy lần mà không được, nên gọi cho cô Hiền, người đã sống gá nghĩa vợ chồng với anh một hai năm qua, cô có nhà riêng trên miệt Bắc Richmond, nhưng anh Huỳnh thường ở nhà mình, đi đi về về một tuần hai ba ngày, một căn vi la nhỏ đầu dãy trong khu nhà của chính phủ cấp cho người già cả ở, Đạm gặp chị đôi ba lần, chuyện anh chị như thế nào, anh Huỳnh chưa lần nào nói tới, biết thì biết vậy thôi, Đạm cũng chưa lần hỏi, Đạm buột miệng, chết nghẹn “trời ơi” khi chị cho biết anh chết rạng sáng chủ nhật, trên đường từ nhà chị tới bệnh viện, bỏ điện thoại xuống bàn, Đạm ngồi bất động, nhìn ra bên kia sông, theo nhau chút mây xám đong đưa hửng hờ xuống thấp rồi thật thấp, không khóc nhưng nước mắt cứ tuôn dài trên mặt.

*

     Hôm cùng thiếu tá Huỳnh, quận trưởng, đi qua bàn vài chuyện với bên quận Bình Lâm về, ngồi ăn trưa ở một quán cơm trong chợ quận Lạc Tánh, không mấy người qua người lại, chợ vắng tanh, lâu lâu mới thấy vài anh lính nghĩa quân, thượng có kinh có, súng khoát hờ trên vai, nhìn lên nhìn xuống, thả bộ tán gẫu về hướng chi khu, chim rừng đậu từng đám trên nóc gọi nhau ồn ào cả chợ, trời nắng và nắng nóng, cũng như thường lệ, từ ngày đổi về quận Tánh Linh, Bình Tuy, làm việc với thiếu tá Huỳnh sau tết, đầu năm 1974, cho tới giờ, ông ít khi nào hỏi han gì về chuyện hành chánh văn phòng, trừ khi cần có chữ ký của ông cho công văn nào đó, ký tên mà miệng lúc nào cũng bảo Đạm “mọi thứ ông phó cứ tự quyết định, không cần phải chờ tôi”, ông vui tánh và ít nói, bình dân, giúp người nên trong quận chẳng ai phiền hà than vản, lính tráng thì coi như con cháu anh em, lầm lỗi gì nặng lắm ông mới rầy rà chút đỉnh rồi thôi, không nhắc tới, trước đây không biết sao, an ninh trong cả quận giờ tạm gọi là khả quan, quân du kích thỉnh thoảng phối họp với quân chính quy Bắc việt đánh phá nhiều lần, nhất là sau mùa hè đỏ lửa nhưng chưa chiếm giữ được gì, lính quận, có chết có bị thương nhưng chưa đến nổi tản cư, hồi cư như mấy tỉnh cao nguyên, ăn xong, trên đường chở Đạm qua văn phòng quận, ông cười cười, nửa đùa nửa thật “tình hình này cả nước, xem ra cũng găng lắm chứ không dễ như mình tưởng đâu, thôi ông phó về Sài Gòn nghỉ phép vài ngày đi cho đở buồn”.




    Đạm nhận chuông, đứng chờ ngoài cổng rào, thấy người lạ, cô con gái chừng khoảng mười chín hai mươi, khá đẹp, bước ra cửa nhìn rồi quay nói gì đó với ai trong nhà, ở một góc vườn trước, xác phượng rụng ngập đỏ bầm một khoảng sân, Sài Gòn bây giờ là những ngày cuối hè, cũng còn nghe tiếng ve nấn ná và rã mệt đâu đó, trời sắp giữa trưa, không nhiều nắng, cô gái chậm bước ra cổng gật đầu chào mời vào. Vào nhà, Đạm giới thiệu mình và trao lại lá thư của ông gởi cho gia đình, cầm lấy thư, bà thiếu tá Huỳnh hối hả gọi vào trong “ Nhã Quyên, Nhã Tuyền ơi, ra đây con chào anh Đạm nè, ông phó quận của ba ngoài Tánh Linh về đó”, bẽn lẽn ngồi xuống bên cạnh, bà thiếu tá nhìn hai cô con gái, cô lớn, Nhã Quyên, là cô ra mở cổng hồi nãy, tựu trường năm nay vào năm thứ nhất dược, cô nhỏ, Nhã Tuyền, lên đệ nhị ở Gia Long, bà hỏi Đạm đủ thứ chuyện, cười nói luôn miệng, từ ba mẹ dưới Mỹ Tho tới chuyện ngoài Tánh Linh, đầu câu cứ “một ông phó hai ông phó”, Đạm chỉ biết cười trừ, bỡ ngỡ lúc đầu, trước lạ sau quen, quen thân quen thiết hồi nào không ai biết, anh anh em em rộn ràng trong nhà vườn trước sân, sau đó, suốt hai ba ngày còn lại ở Sài Gòn, chiều nào Đạm cũng đến ăn cơm chiều với ba mẹ con bà thiếu tá Huỳnh như đã hứa. Buổi sáng, hôm trở lên Tánh Linh, hai chị em đưa Đạm ra tận bến xe, nhắc lần sau có về, nhớ đến nhà, ở lâu hơn lần này, xe rời bến, khuất cuối đường, nhìn lại sau, chợt dưng Đạm thấy lòng mình như có chút gì nhung nhung nhớ nhớ.

    Tình hình chiến trận xem ra có vẻ sôi động hơn trước, Bắc quân xe người, ùn ùn, rầm rập vượt đường mòn “HCM”, tràn qua tam biên, bủa vây kìm hảm cao nguyên, các tỉnh dọc biển còn có chút dễ thở hơn nhưng không biết được bao lâu. Buổi chiều, tại văn phòng quận, sau buổi họp nghe mấy anh trong ủy ban Phượng hoàng quận báo cáo tình hình “ta địch” xong, Đạm qua chi khu ăn cơm tối với thiếu tá Huỳnh, bây giờ là những ngày vào đông, trời lành lạnh mang theo hơi gió biển, đêm xuống mau hơn mọi khi, ngồi bên nhau, một lần nữa, thiếu tá Huỳnh cười cười, nhắc lại câu hỏi mà ông đã hỏi hôm Đạm từ Sài Gòn trở ra “ông phó thấy con Nhã Quyên thế nào, cũng được hả”, không đợi Đạm trả lời, ông gục gặt đầu tiếp “hy vọng mình còn làm việc chung ở đây lâu hơn, nếu không có gì trở ngại, có ngày nào đó mình cùng về Sài Gòn một chuyến, chắc là vui lắm”, hiểu ý ông, thêm một lần Đạm chợt nhớ Sài Gòn, Đạm không nói gì thêm ngoài tiếng “dạ” rất nhẹ.

    Có tiếng súng nổ liên hồi phía cuối hàng rào phòng thủ chi khu, tiếng chân người dồn dập chạy tới chạy lui ngoài cổng, anh lính cận vệ quen, tay cầm súng, mặt đăm đăm đẩy cửa vào cho biết chi khu bị tấn công rồi đứng yên chờ lệnh, thiếu tá Huỳnh đứng dậy, anh lính đưa khẩu súng M16 cho Đạm, ba người bước nhanh ra ngoài, rồi mất dạng giữa tốp lính địa phương quân, nghĩa quân chừng mười mấy người súng ống chờ tự nãy giờ, có tiếng đạn pháo kích của quân Bắc việt rớt đâu đó phía bên phố chợ,  súng nổ nhiều và nghe gần hơn, lửa cháy lập lòe trong màn đêm tối đen và đen thăm thẳm.

     Cuối tháng ba, những ngày giữa tháng tư năm 1975, vùng Một, rồi vùng Hai, các tỉnh cao nguyên, tới Phú Yên, Qui Nhơn Khánh Hòa, xuống Ninh Thuận lần lượt bỏ trống vào tay quân Bắc việt, Bình Tuy cũng không khá hơn, đường quốc lộ Một về Sài Gòn bị cắt đứt, người hàng hàng lớp lớp chạy giặc tràn xuống ngả Hàm Tân ra biển xuôi Nam. Theo dòng người, bằng đường bộ thiếu tá Huỳnh, Đạm cùng một số sĩ quan trẻ của chi khu, bỏ Tánh Linh đi, xuống tới Hàm Tân giữa khuya đêm trước ngày có lệnh buông súng đầu hàng từ Sài Gòn, bờ biển Hàm Tân người đông như kiến, ghe tàu đánh cá đèn tối mù mờ cả một vùng, chiếc nào chiếc nấy đầy ắp, lính tráng dân thường, trẻ già lớn bé, chòng chành sóng vỗ chen nhau bỏ bờ ra khơi, người còn lại trên đường gọi nhau nhắn nhau ơi ới, át cả tiếng súng tiếng đạn đại bác từng chập dọa nạt đuổi theo, cứ vậy lẳng lặng nhấp nhô trên sóng biển âm u.

    Quá giữa khuya, trời bổng dưng nổi gió, gió gào gió thét, mây đen một màu ma quái, mưa bất chợt trút xuống như thác, bão nổi lên gầm gừ, che kín người và nước, người nhìn người, hớt hãi lo sợ, đoàn tàu nối nhau cố bám sát dọc theo bờ, vì chở quá đông, nhiều chiếc đã lật ngang, lật úp, mất hút giữa những con sóng cao hơn nhà, chiếc có thiếu tá Huỳnh và Đạm, không may đã cùng chung số phận trong đám tàu đó, tàu họ chìm, người chìm theo, người còn lại từ các chiếc tàu khác muốn cứu cũng không làm sao mà cứu, biển cứ lồng lộng đen ngòm, nhìn lại, thở dài, đoàn ghe tàu cứ đi, trời vẫn mưa, bão vẫn vậy cho tới rạng sáng. Đạm nằm bất tỉnh trên tấm ván nắp đậy hầm chứa cá nhấp nhô ẩn hiện, được một chiếc ghe nhỏ, hư hết một máy, chở ít người, lẻ loi phía sau cứu, có phần muộn nhưng cuối cùng cũng tấp vào được bờ Long Hải, Phước Tuy, rạng sáng ngày 30 tháng 4, đành thôi, ngồi thừ người trên bải cát, nhìn ra biển nước mênh mông, nước mắt mặn pha chút nước biển trên môi, tim đau nhói, Đạm rươm rướm khóc “thiếu tá ơi thiếu tá”.

*

    Đem mớ bánh ba-tê-sô giao cho tiệm cà phê quen ngay góc đường như mỗi sáng xong, đẩy cái xe đạp cũ, người dì họ cho mượn làm chân, có mà chạy đi chạy lại kiếm sống chờ thời, xuống lề đường, sau ngày ở tù về, ở Mỹ Tho bị làng xã hạch hỏi dòm ngó quá, nên bỏ lên Sài Gòn tìm chốn dung thân, mặc dù phải rày đây mai đó, lang thang bến xe bến tàu, may gặp lại chị Trang, có sạp bán vải trên đường Lê Lợi trước đây, vốn quen nhau vì là khách hàng thường xuyên trong những ngày còn đi học, giờ chị mở tiệm làm bánh ngọt Tây tại nhà, ở cuối hẽm ngã tư Cao Thắng - Phan Thanh Giản, nhận làm người đi giao bánh cho mấy tiệm cà phê còn mở cửa, nên tạm yên thân, có chút đồng ra đồng vô, bữa cơm bữa bánh mì, cũng cảm thấy hạnh phúc lắm rồi, đội cái nón kết xám bạc màu lên, định đạp đi thì chiếc xích lô trờ tới bỏ khách xuống chặn ngang, Đạm cầm ghi đông chờ, người đạp xe xích lô giở nón khỏi mặt nhìn lên nhỏ nhẹ “cám ơn”, Đạm buông xe đạp ngã xuống đường, cùng lúc cả hai, há hốc buột miệng “thiếu tá, ông phó”, Đạm nắm tay thiếu tá Huỳnh, hai người ngồi đại xuống bờ lề xi măng, nghèn nghẹn.

    Đêm tàu chìm, thiếu tá Huỳnh được một chiếc tàu khác, chở không đông người lắm, lính nhiều hơn dân, cứu lên, nhưng không may, chiếc này máy bị hư sau đó, thả lềnh bềnh ngược chiều gió bão cuốn trôi tấp vào bờ Phước Tỉnh chiều 30 tháng 4, ngồi thở dốc trên đám cát phủ màu rong úa, nhìn ra xa chập chùng biển dữ, thiếu tá Huỳnh thì thầm “ông phó ơi ông phó”, nhờ nhà này miếng cơm nhà kia miếng cháo, mấy ngày sau, thiếu tá Huỳnh quá giang đám xe hàng từ miền trung vào về đến Sài Gòn, căn nhà vẫn còn, cả nhà ôm nhau, đóng cửa kín lại khóc ròng, khóc mà sợ người bên hàng xóm nghe.

    Trước ngày có lệnh gọi công chức quân nhân VNCH trình diện, tập trung đi tù, tình hình phường khóm vẫn còn nhập nhằng mới cũ, nên chưa đến nổi cùng đường, bà thiếu tá thay chồng, chạy về Long An, gặp người bạn cũ, cùng dạy ở trường tiểu học Mộc Hóa trước khi bà nghỉ dạy, có chồng cũng là sĩ quan làm việc dưới tiểu khu Sa Đéc, hỏi thăm liệu còn đường nào ra đi không, lên xuống vài lần, cả gia đình thiếu tá Huỳnh quyết định theo vợ chồng người bạn cô giáo đi chuyến tàu của người em bà con của bà này ở Trà Vinh.

    Ngày đi, chạng vạng chiều, từng nhóm nhỏ được mấy người tổ chức đón từ một số nhà tạm trốn quanh chợ Trà Vinh, đưa xuống tàu trót lọt, trong đó có nhóm bà thiếu tá Huỳnh, hai cô con gái và bà bạn cô giáo, xui xẻo đi sau cùng, chiếc xe lam chở nhóm thiếu tá Huỳnh, người chồng cô giáo bạn và ba người thanh niên khác, bị đám công an đi đâu đó về ngang chận xét hỏi, rồi đem về nhà tù tỉnh nhốt vì tội vượt biên, dưới bải biển, đêm xuống tối mịt, chờ cũng đã lâu, sợ bị bể, nên tàu lớn đành phải ra khơi, có người khóc có người than, có người lâm râm cầu nguyện, trời vẫn đen một màu đen rùng rợn. Hơn một ngày đêm ròng rã trên biển nước mênh mông, sườn phía hông tàu sau bị nứt, dây kéo máy bơm cũng bị đứt, máy nóng quá không chạy được nữa, tàu quay vòng loanh quanh, nhấp nhô hụp lặn, nước bắt đầu vô ngập các hầm khoan dưới, người lôi kéo nhau lên sàn, la hét, tàu bể ra, gần một trăm, ai nấy gào khóc, bám víu cái gì cứ bám để mà sống nhưng không ai biết sẽ kéo dài bao lâu giữa biển cả mênh mông, sóng phủ sóng chập chùng, từng người một xa nhau dần và trời lặng thinh, đâu đó chút mây tan, rớt xuống vài ba vạt ánh trăng thiểu nảo, cũng may, một số người chừng mười mấy, còn bập bềnh trên nước được chiếc tàu chở hàng lớn Nhật, trên đường từ Tân Gia Ba về ngang, cứu lên đưa về tạm trú ở Okinawa.




    Sau gần ba tháng tù, nhờ có mớ giấy tờ giả, hai người, chồng cô giáo và thiếu tá Huỳnh được thả, về Sài Gòn thì căn nhà của ông đã bị tịch thu làm trụ sở ủy ban nhân dân phường, vợ con chưa biết đi đứng ra sao, không thể về quê cũ vì ở đó ai cũng biết ông, đầu đường xó chợ vài ngày, ông đành tìm tới nhà trung sĩ Thưởng ở bên Rạch Cát, người tài xế theo ông từ ngày còn ở tiểu đoàn, trung sĩ Thưởng cũng cùng đi với ông bỏ Tánh Linh, nhưng lạc mất nhau không biết khi nào, vợ chồng trung sĩ Thưởng mừng rơi nước mắt, một “ông thầy hai ông thầy”, vợ chồng nhờ “ăn chia ăn chịu” gì đó với đám phường khóm trong việc buôn bán chợ trời, trung sĩ Thưởng chạy chọt cho thiếu tá Huỳnh tạm có tên trong sổ hộ khẩu, cơm nước tuy không nhiều nhưng họ lo mọi thứ, không lâu, ông quyết định đi đạp xich lô, dù cho vợ chồng trung sĩ Thưởng cản ngăn ngày này qua ngày nọ.

    Thiếu tá Huỳnh, ngưng ở đó, lấy khăn lau chút mồ hôi của nắng Sài Gòn vừa lên, nhìn mông lung, dường như muốn nói thêm nhưng lại thôi, ông nhìn Đạm chờ, cũng như ông, anh kể lại chuyện đêm chìm tàu và những ngày “ăn bờ ngủ bụi” sau ngày ở tù về, bổng dưng nhớ lại, Đạm chợt buột miệng hỏi “còn bà và hai cô”, thiếu tá Huỳnh bóp chặt hai bàn tay, nghiến môi “còn đâu nữa mà hỏi, chết giữa biển rồi”, hai người bật khóc, đám bộ đội mặt mày trắng bạch thiếu nắng, ngồi trên chiếc xe jeep cũ của cảnh sát VNCH chạy ngang qua, quay đầu lại nhìn, nói với nhau gì đó.

    Những ngày sau đó, cứ hai ba hôm, chiều chiều, Đạm đạp xe đạp qua thăm thiếu tá Huỳnh bên Rạch Cát, gặp lại Đạm trung sĩ Thưởng mừng mà muốn khóc, nhắc hoài chuyện cũ, qua anh, Đạm mới biết là bà thiếu tá và Nhã Quyên, Nhã Tuyền đã chết ngoài biển đêm vượt biên, tin do người bạn cô giáo, viết thư cho chồng là người sĩ quan bị bắt và nhốt cùng khám ở Trà Vinh biết, bà là một trong mười mấy người được tàu hàng vớt đưa về Nhật. Đêm cuối tháng ba, gần sáu bảy tháng sau, Đạm đưa thiếu tá Huỳnh cùng gia đình anh trung sĩ Thưởng vượt biên, ngồi bên ông lần sau cùng, giọt cà phê cuối cùng không ai cạn, bỏ lửng, tiễn nhau hy vọng có ngày gặp lại đâu đó nếu trời còn thương.

*

      Đạm không ngăn được nước mắt khi gặp lại thiếu tá Huỳnh ở chùa, hôm theo anh bạn tới đó ăn cơm chay cho biết, sau lễ cầu siêu, không hỏi Đạm cũng đã biết lý do, không ai ngờ được, mừng không biết là bao nhiêu, chuyện trước chuyện sau rưng rưng, cũng như lần hai người ngồi bên lề đường Phan Thanh Giản năm xưa, hỏi nhau nói nhau không hết, ông hiện sống một mình và ở cũng gần đây. Đạm đưa ông về, nhà ông ở là một căn vi la nhỏ trong dãy nhà chính phủ cất dành cho người già, ông ở thui thủi một mình, sống nhờ vào tiền trợ cấp, trong nhà trống trơn, chỉ có cái giường ngủ, cái tủ gỗ cũ nứt nẻ vài chỗ, cái bàn viết nhỏ kê bên cửa sổ ngó ra đường, ba bốn cái ghế ngồi, không cái nào giống cái nào, cũng rách bương không thua bộ sa lông bằng vải đen bạc màu, dán băng keo đầu này đầu kia, chằng chịt, ngồi lõm xuống tận đáy và cái tủ lạnh nhỏ, đứng khiêm nhượng trong nhà bếp, trên đầu tủ, là bàn thờ nhỏ, tấm hình bà và hai cô con gái đen trắng để sau lưng cái ly làm lư hương, bên cạnh là bình bông đen, ít khi thấy hoa tươi, vậy đó, ông lặng lẽ ra vào, theo tháng ngày quanh quẩn, nhưng chưa thấy ông buồn và than phiền gì cả, thiếu tá Huỳnh, xuất thân từ sĩ quan thời Pháp, tiếng Pháp khỏi nói nhưng không nói được tiếng Anh nhiều, nhưng vẫn hỏi thăm hỏi lom được ông già Bill nhà bên cạnh bằng “ngôn ngữ tay chân” sáng nắng trong chiều mưa xám. Bạn bè, cựu sĩ quan có, bác sĩ dược sĩ có, công chức cũ có cũng đến thăm đôi ba lần, nhưng ai nấy còn lo phần mình, không thường trở lại, năm khi mười họa mới tạt ngang.

    Tháng ngày sau đó, cũng đơn độc như ông, hể tới cuối tuần, thứ bảy chủ nhật là Đạm tới nhà ông, so tuổi tác thì thiếu tá Huỳnh lớn như cha nhưng quen rồi, Đạm cứ gọi là anh, khi thì mang theo mớ đồ ăn mua ở chợ mình, khi thì đem bánh ngọt của ai đó ở chỗ làm cho đến, hai người chia nhau ăn chút cho vui, thỉnh thoảng cũng ra chợ ăn phở này phở kia, với chút tiền còn dư lại trong tuần, cứ như vậy anh em an ủi nhau, chia sẻ buồn vui ngọt bùi của đời người nơi xứ lạ, ngày thường, khi cần đi ngân hàng, bệnh viện hay văn phòng chính phủ về chuyện gì đó, ông gọi một tiếng, Đạm tạm bỏ sở làm, vài tiếng đồng hồ đến đưa ông đi làm ngay. Ông hút thuốc nhiều, Đạm không dám cản, còn gì khác hơn đâu, một hôm ông bị nghẽn tim, ngã quỵ trong nhà, xe cứu thương hụ còi chở ông vào bệnh viện, suốt mười ngày trong đó, chiều nào Đạm cũng vô thăm ở tới khuya, bệnh khỏi về lại nhà, ông bỏ thuốc, chưa xong lại phải trở vào vì cứ khó thở hoài, giờ sang qua tới phổi, cuối cùng, tim phổi được giải phẩu hai ba lần, thuốc uống cả chục thứ đủ loại mỗi ngày, trời còn thương, những lần tái khám sau đó, bác sĩ cho biết bệnh không còn đáng ngại nữa, ông xem ra khỏe và tươi tắn hơn trước.

    Chừng nửa năm sau, không biết ở đâu và làm thế nào, ông quen với cô Hiền, góa chồng, người gá nghĩa vợ chồng với ông, cô có người con trai lớn, đã lập gia đình ở riêng, cô còn đi làm ở một công ty bán sỉ quần áo, không giàu nhưng tạm dư giả, Đạm mừng cho ông, ít ra cũng còn chút gì vui mà sống, ông không ở với cô mà vẫn ở nhà mình, đi về hai ba ngày trong tuần. Chuyện ông với cô, Đạm chưa bao giờ nhắc tới, coi như biết rồi, chỉ có một lần, trưa chủ nhật, trời mưa lớn, bây giờ là những ngày lập đông, gió lạnh thật lạnh, loay hoay nấu mì ăn, Đạm vô ý hỏi sao ông không về ở trên đó với cô Hiền cho khỏe, ông cười lắc đầu “dù sao trên đó cũng là nhà của người ta, nhà mình dù nghèo nhưng là của mình”.

*

    Trời chớm thu, khắp nghĩa trang, đường ngoài đường trong cây trở mình rụng lá, sáng chủ nhật, vắng người, đâu đó đôi ba con bướm lẻ bạn, ngập ngừng vờn quanh mấy chiếc lá rụng sớm, lả tả bay theo chiều gió hắt hiu, man mác lạnh, ngồi chờ người phụ trách việc chăm sóc mộ phần như đã có hẹn từ tuần trước, sau khi có sự đồng ý của ông giám đốc, Đạm đặt tấm hình chụp gia đình thiếu tá Huỳnh, tấm hình tìm ra được từ trong xấp hồ sơ bệnh tình của ông mà anh còn giữ, trên tấm mộ bia, giữa khoảnh cỏ, chết lặng. Phần giữa mộ được đào lên, trống một khoảng, cầm cái hủ đựng tro cốt thiếu tá Huỳnh lên đưa cho Đạm, người làm của nghĩa trang đứng thụt lùi lại phía sau chờ, Đạm xếp tấm hình bỏ vào, mân mê một hồi lâu rồi đặt xuống, người làm của nghĩa trang từ nãy giờ lẳng lặng chờ, giờ cũng lẳng lặng lấp đất lại, không nói tiếng nào, mặt buồn xo.

    Một chút nắng rực lên phía trên đồi, trời hâm hấp giữa trưa, người thăm mộ bắt đầu đông dần, có tiếng ai đó đọc kinh lâm râm và tiếng ai đó khóc nho nhỏ ở mấy hàng mộ gần bên, cắm bó hoa chi chít nhỏ vàng, không biết tên, mua từ sạp bán hoa ngoài cổng vào bình, nước mắt chảy dài xuống mặt, Đạm nghèn nghẹn khóc theo “thôi em về, hẹn anh lần tới, em nói cho anh nghe nhiều hơn, chuyện em chưa kịp nói về cái tên Nhã Quyên”.

Thuyên Huy

Mượn chút phần đời của một người có thật, tình tiết, bối cảnh và những gì còn lại của chuyện được viết bằng tưởng tượng