Wednesday, March 18, 2026

Gặp Lại Nhau Chiều Thu Muộn - Nguyễn Đạm Luân

 Gặp Lại Nhau Chiều Thu Muộn



Cửa Sổ - Như Bình

 

Cửa Sổ




Không có gì khá hơn ở ngoài đó. Khung cửa sổ đã sờn cũ. Bốn thanh gỗ bợt bạt áp vào bốn bức tường đã ruỗng mọt. Trên đó lỗ rỗ những chấm đen. Hằng đêm, thậm chí cả ban trưa, tiếng mọt nghiến gỗ kiên nhẫn.

Đương nhiên không thể có gì khác ngoài những thứ đã quá cũ. Cây bàng già chậm chạp nghiêng những cành trần truồng sần sùi như cố thu vén dáng vẻ đồ sộ cũ kỹ của mình qua bao tháng năm phôi pha với sương gió. Em có thể không cần lắng nghe, không cần áp cái nhìn qua ô cửa sổ căn buồng ẩm tối này cũng thấu được tiếng thở dài trầm đục và buồn bã của những chiếc chồi non chưa thức giấc trên thân thể cây bàng cổ kính ấy. Em ngồi trong bóng tối, lưng dựa vào bức tường lạnh giá loang lổ những mảng lở lói, gục đầu vào giữa hai gối, say sưa ngủ. Từ ngày thôi không đến trường, em giam mình trong căn phòng nhờ nhợ tối với giấc ngủ chập chờn miên man nối nhau vô tận.
Mẹ vẫn chưa về, nếu mẹ về thì vòi nước ở cạnh cửa ra vào sẽ tuôn xối xả. Tiếng xoong chảo sẽ va vào nhau lanh canh, mẹ sẽ nói rất to, quát mắng ầm ĩ lũ nhện sao lại chăng tơ ở cửa toalét, hay lũ gián can cớ gì mò vào chạn bát. Mẹ sẽ càu nhàu, quát tháo, làm cho căn nhà tĩnh lặng tuyệt đối ấy rung lên bởi những thanh âm ồn ã của cuộc sống náo động mà mẹ mang từ ngoài phố về. Những thanh âm loảng xoảng ấy sẽ ngưng bặt khi bước chân nặng chịch của bố vang lên ngoài hành lang hẹp. Bố về đấy, mẹ sẽ chuyển tất cả những câu chuyện không có chủ ngữ, không có người đối thoại sang bố. Thôi thì đủ thứ trên trời dưới biển, từ lão ăn xin giả vờ què chân đến bà cô lên đồng không chồng mà chửa.... Sau rốt, mẹ cười nịnh bợ đến bên bố thẽ thọt xem hôm nay bố có đắt khách không, cả ngày làm được mấy cuốc xe ôm và số tiền cụ thể bố kiếm được trong ngày có nhỉnh hơn hôm qua chút đỉnh. Bố lột hết mấy túi quần sờn cũ đưa kỳ hết những tờ giấy bạc nhàu nhĩ, cáu bẩn. Mẹ vồ lấy hoan hỉ, rồi thở dài tiếc rẻ. Với mẹ, tiền không bao giờ đủ. Tiền lúc nào cũng quý báu và ít ỏi, để nuôi cuộc đời nghèo túng của cả nhà em. Bố thả người xuống một góc nhà kê chiếc bàn gỗ vẹo vọ trong góc dựng chiếc điếu cày. Bố lọ mọ tẩy điếu, thong thả véo nhúm thuốc lào, dém thật chắc thật kỹ vào nõ điếu. Với cái bật lửa để trên bàn, bố quẹt vào cái đèn dầu vặn bấc cho lửa lên ngọn, khi đó mới thong thả nhón một chiếc đóm dui lửa thắp cho cháy lên châm điếu cày, rít một hơi sâu lẻm rồi đổ kềnh bên góc nhà nhả khói. Mẹ quay ra, hai tay quạt khói thuốc lào lại tiếp tục câu chuyện dở dang ngoài đường ngoài chợ cho đến khi thằng Ngọc, đứa em trai duy nhất của em chạy bầm bập từ ngoài cửa vào, vứt xoạc cái cặp sách xuống ghế thì mẹ mới ngừng nói. Mẹ chạy lại ôm chặp lấy Ngọc, mừng húm lên, xoa xoa cả người nó nựng rối rít. Thằng Ngọc đã lớn, nó cao hơn mẹ tới nửa cái đầu, năm tới nó thi vào đại học rồi, thế mà mẹ coi nó y như đứa trẻ lên ba.

Nhưng bây giờ là miên man yên tĩnh. Mẹ chưa về. Em ngồi tựa lưng vào tường, hơi lạnh ẩm ướt từ ngoài bức tường thấm vào làn áo mỏng làm cho cả người em giá như một thỏi kem. Có lần, mẹ em về nhà giữa buổi bắt gặp cảnh tượng ấy, mẹ bước tới giang tay tát bốp vào mặt em. Mẹ cười óng ánh, đôi mắt đầy nước. Mẹ nói, làm như thế cho em đỡ mê. Cho em tỉnh trí lại. Mẹ đứng dậy mở cửa sổ, vén màn và bế em lên xe rồi đẩy em đến bên khung cửa sổ. Mẹ nói để con nhìn thấy biết bao chuyện của người khác mà không chán khi cả nhà đi vắng. Mẹ chỉ sợ em buồn, em không là em nữa khi sơ sểnh đôi cánh tay của mẹ. Từ đó mẹ đi kiếm những cuốn sách cho em. Những cuốn Đôrêmon đã mất đầu mất cuối, chắc mẹ nhặt được từ bãi rác góc đường ai vứt ra, hay xin của trẻ con hàng xóm. Cả những cuốn sách không có tên đã giữ em ở mãi tuổi thơ.

Nhưng có gì lạ ở bên ngoài cửa sổ đâu. Mùa đông làm cho cây bàng già trơ trụi lá. Mùa đông phả những cơn gió buốt lạnh qua cửa sổ vào căn buồng của em khiến em run rẩy. Thỉnh thoảng, gió rứt từ ngoài xa những chiếc lá xà cừ còn biếc xanh thả lên bậu cửa sổ. Những chiếc lá không kịp chết trước khi bị tước đi cuộc sống của chính nó, giẫy lên dưới ánh nắng trong ngơ ngác. Lũ sẻ nâu chán cãi nhau ở cây bàng già lại về chíu chít trên vòm xà cừ rỉa mỏ cho nhau. Chúng gù gù trong nắng hanh, trong gió lạnh, hệt như tiếng thở than của người già trong thời tiết lạnh ghê người.

Thấp thoáng sau vòm xà cừ kia là những ô cửa sổ có rèm che. Mỗi ô cửa sổ giấu sau đó những cuộc đời, những con người và những số phận. Là em đoán thế bởi ít ra, có vô số những gương mặt khác nhau xuất hiện nơi ô cửa sổ. Mẹ nói đúng, quan sát cuộc sống của người khác cũng thú vị. Nhưng em sẽ làm gì khi sau một ô cửa có một gương mặt đàn bà muộn phiền đang khóc. Hay một gương mặt đàn ông nhàu nhĩ bên chiếc đèn bàn mỏi mệt ngủ vùi...

Nhưng, dưới gốc bàng già nua ấy, sau tán lá xà cừ sum sê ấy có một người hay dừng xe đứng đợi. Người ấy như chỉ chờ em mở cửa sổ ra để ngước nhìn lên. Người ấy hay mặc áo trắng, quần màu ghi, trước giỏ xe vắt vẻo chiếc cặp lớn đựng đầy sách (là em đoán vậy). Người ấy không đeo kính cận như thằng Ngọc, không đội mũ lưỡi trai như bố. Dưới vòm trời đầy nắng, người ấy hay ngước nhìn lên ô cửa sổ nhà em, hay chăm chú nhìn em và đôi lúc như thể là mỉm cười. Từ đó em vụt lớn lên. Những cuốn truyện Đôrêmon không giữ được em, cô bé 19 tuổi, ở mãi tuổi thơ...

"Thằng Ngọc đỗ đại học rồi Lành ơi! Em con đỗ một lúc cả ba trường đấy". Đó là tiếng loan báo náo động của mẹ. Mẹ về. Mẹ ào vào, giật tung cửa sổ, hét to lên sung sướng: "Em con đậu một lúc cả ba trường đại học. Con thử nghĩ xem em con nên chọn trường nào nhỉ. Ôi thôi, phải chờ bố chúng mày về. Chỉ ông ấy mới quyết định được". Nói rồi mẹ lại ào ra. Mẹ đi làm cơm, mẹ tíu tít với niềm hạnh phúc vô bờ bến.

Bố lệt xệt trở về. Đôi chân đi chừng ấy dặm đường hẳn đã mỏi mệt lắm. Lần đầu tiên mẹ không kể chuyện ngoài phố. Mẹ không hỏi tiền bố kiếm cả ngày được bao nhiêu. Mẹ khóc cười sang sảng, rối rít. Bố lại ngồi bệt nơi góc nhà, mó chiếc điếu cày thong thả rứt một nhúm sợi thuốc vàng tơ từ đùm nilông giắt trên túi áo. Tiếng rít thuốc lào của bố em nghe mạnh và sâu hơn rất nhiều lần trước. Bố ngã vật ra nền nhà say lơ mơ. Mẹ đỡ bố dựa lưng vào tường cười như sấm: "Ông cứ bắn vài điếu say cho nó đã, rồi đợi tôi làm cơm". Bố bước vào căn buồng của em khẽ khàng đến mức làm em giật mình. Đôi mắt của bố nhìn em lạ lắm. ánh mắt của một người đàn ông ít lời bao giờ cũng ẩn chứa quá nhiều điều. Bố lẳng lặng bước đến bên khung cửa sổ. Hoàng hôn buông sẫm trên từng tán xà cừ đong đưa. Bóng bố in lên nền trời xám nhạt mơ hồ và hiu hắt. Lâu lâu, bố quay mặt về phía em, cất tiếng như chỉ để mình bố nghe. "Chỗ này em con sẽ đặt chiếc máy tính để con muốn viết gì tuỳ thích. Bố thấy con thích đọc, hẳn con cũng sẽ thích viết. Đấy là sáng kiến của em Ngọc con nhân ngày sinh nhật con tròn 20 tuổi. Em nó nói, con có thể ôn thi vào đại học với chiếc máy tính này mà không cần ai phải giúp đỡ. Em con muốn con cũng thi đỗ đại học như nó".

Nước mắt em rơi trong veo vào bóng tối.

Cửa buồng đã mở. Ngọc lễ mễ bưng vào một chiếc máy tính. Nó nhìn em và háo hức: "Nó cũ một tý thôi nhưng chị sẽ thấy thật tuyệt vờí". Mẹ cũng vào buồng há hốc mồm. "Trời ơi! Tiền đâu ra mà mua thế này?". Không ai trả lời mẹ. Bố và Ngọc lụi hụi tìm chỗ kê máy tính cạnh khung cửa sổ.

Ngọc lầm lì như chưa hề xảy ra điều gì đáng kể để có thể làm xáo động được cuộc sống xưa nay của nó. Em nghe Ngọc thở dài khe khẽ: "Chị hãy viết đi, viết những gì chị nhìn thấy, tưởng tượng ra". Ôi trời ơi! Thay vì việc mang về cho em những cuốn Đôrêmon cáu bẩn thì bố đã dành lại, chắt chiu những đồng tiền còm cõi để mua cho em món quà khi em tròn 20 tuổi. Món quà này là do thằng em trai lầm lỳ ít nói của em nghĩ ra. Em lần đến bên khung cửa sổ. Em đã thèm khát biết bao được tự do bay vào trời xanh. Dưới kia, người ấy lại đang ngước mắt nhìn lên. Hình như người ấy đang mỉm cười với em đấy. Người ấy có biết không, ngày hôm nay em tròn 20 tuổi.

° ° °

Đây là tự truyện đầu tiên chị tôi viết bằng chiếc máy tính cũ kỹ tôi mua bằng số tiền dành dụm được trong suốt cả cuộc đời lam lũ của bố. Khi đọc nó, tôi đã không thể cầm được nước mắt. Tôi mang đến cho một toà soạn báo văn học. Ông nhà văn già giương mục kỉnh nhìn tôi lạ lẫm. "Của cậu à?" "Không". "Thì là của ai, già hay trẻ". "Của một người viết trẻ ạ". Ông nhà văn già cười khằng khặc: "Tôi biết ngay mà. Đích thị là một sáng tác đầu tay của người viết trẻ. Thứ văn học này chẳng có một tý tư tưởng nào sất. Hãy về bảo với bạn cậu cố lên, viết thật nhiều vào, phải có vốn sống, phải lăn lộn thực tế thật nhiều hơn nữa để khi cầm bút cho nó chín chắn.Truyện ngắn là một lát cắt của đời sống hiện thực, một lát cắt của tiểu thuyết, nhớ phải là lát cắt ấy đầy ám ảnh đấy nhé. Truyện thiếu tính tư tưởng, đó là điểm yếu của những người viết trẻ".

Tôi đành mang nó trở về căn gác xép của mình. Ngoài khung cửa sổ căn buồng của chị tôi, những lộc non đã líu ríu đâm chen trên thân bàng khẳng khiu. Lũ sẻ non rí rích nhảy loi choi giữa những cụm lá vừa kịp mở đôi mắt non ngơ ngác. Nắng ấm nồng rót nhựa lên những tay bàng vươn cao giữa trời xanh. Nhưng ở dưới đó, người đàn ông vẫn hay ngắm nhìn chị tôi không bao giờ còn xuất hiện ở đó nữa. Anh ta đã cưới được người con gái kiêu kỳ thường bắt anh phải đợi ít nhất một tiếng đồng hồ dưới sân trước khi đi chơi. Và trong khoảng thời gian đợi người yêu mặc quần áo, trang điểm, người đàn ông ấy đã ngắm nhìn và quan sát mọi thứ xung quanh. Trong vô số thứ anh ta quan sát có gương mặt trong veo của một người tật nguyền là chị tôi, mà anh ta không bao giờ biết chị tôi sống được là nhờ những tưởng tượng, và trong số ấy, có cả anh.

Chị tôi không tiếp tục học để thi vào đại học như tôi đã thầm nghĩ. Chị cũng không trở thành một người làm vi tính văn phòng thật giỏi để sau này có cái nghề cầm tay mà sống như mong đợi của bố, khi bố mẹ không còn mãi trên đời để lo cho chị được nữa. Chị như chiếc lá xanh gió trời tàn nhẫn rứt xuống ném vào khung cửa sổ ngôi nhà của tôi. Và mẹ tôi không sao hiểu nổi chị không vĩnh viễn ở tuổi thơ để sống cùng với mẹ, để được mẹ được thương xót cưu mang suốt đời và mãi mãi. Chị trở thành người viết văn xuất sắc. Một người viết không cố cho mình có tư tưởng. Tôi không biết chị tôi cần phải đi những đâu, học những gì để trở thành một người giàu tư tưởng, khi cái quý giá nhất từ trang viết của chị đã rút ruột hết mình với những tự truyện mang dấu ấn của đời sống mà chị đang đi qua. Mỗi một tự truyện của chị là những mảng sáng tối của cuộc đời mà chị đã sống cùng tưởng tượng và trải nghiệm. Không một ai trong gia đình tôi hình dung được điều này.

Như Bình

Rồi Thì Người Ở Một Mình - Tô Hoài

 

Rồi thì người ở một mình




 

Dạo trước, trên báo Người Hà Nội tôi đã báo động ở vùng Đồng Tháp Mười trong Nam bây giờ người ta bẫy chim bằng cát xét, tiếng chim đã được thu băng, mở cát xét ra chim kêu chim hót líu lo. Đàn chim bay qua ngỡ chim gọi đàn, sà xuống bờ nước, hàng trăm hàng chục con mòng két, con cu gáy, con ngói lao xuống, sa cả vào lưới

Mỗi ngày cả ngàn con chim hoá ra chả chim, xáo chim trong các quán nhậu bên kênh rạch, ven đường, các lái chim còn tải chim lên Sài Gòn - Chợ Lớn bán vào các nhà hàng sang trọng. Bây giờ cái cạm chim ghê gớm có tiếng chim hót ấy đã được đưa ra đến Hà Nội. Cái đầu đề trong một số báo Hà Nội Mới vừa đây: có những xâu chim đem về chợ chim ở đường Hoàng Hoa Thám. Thoạt đầu tôi lấy làm lạ con chim sâu, chim chích thì nuôi sao được mà người ta cũng đem bán. Đọc bài mới biết xâu chim đây là cái dây, cái lạt, xâu dây thép buộc con chim lại thành một xâu đem đi bán

Tôi vẫn băn khoăn nỗi ở ngoài này đâu có nhiều chim như ở các cánh đồng và vườn, rừng phía Nam. Ở Hà Nội, đêm đêm chỉ còn nghe con chim lợn kêu rùng rợn mà người ta bảo chim lợn bay qua đâu mà kêu là ở đó sắp có người chết, còn muốn trông thấy con cò bay, con diều hâu miệng "xây giếng cho tròn" thì phải tìm đến lưng chừng núi Tam Đảo, núi Ba Vì may ra mới trông thấy được. Thế mà bây giờ có người đem cả xâu chim đi bán?

Chủ nhật, tôi đến đường Hoàng Hoa Thám có những cửa hàng chuyên bán chim và cây cảnh. Hai bên đường bóng cây mát rượi, đầy nhan nhẩn những chim là chim, không phải chim trên cây mà chim trong lồng nan tre, nan nhôm những con sáo, con khướu, con hoạ mi.., ca trăm thứ chim. Những chưa thấy xâu chim nào ở đâu. Hỏi thăm mới biết người bán chim ăn thịt, ở tận ciối đường đằng kia, dạo trước, người ta xách xâu chim đi bán rong, nhưng rồi những hàng chim trong lồng trống thấy những người cứ vác chim chết lượn lồ đi, đâm ra sốt ruột. Biết đâu những con chim sống trong lồng thấy những con chim bị xâu, bị trói, nhỡ cái nó biết sợ, biết chạnh lòng, nó cắn lưỡi chết cả thì sao. Thế là người ta đuổi bọn bán chim chết không được lướn phướn đến mà phải đứng một chỗ.

Những người xách xâu chim túm tụm lại một nơi. Năm trước, tôi thường trông thấy mỗi chiều chủ nhật có ông đi xe máy vai đeo súng săn phóng xe từ các vùng đầm nước ở Suối Hai, ở Đại Lải về: buộc đằng trước xe những xâu chim bắn được, nào con le, con mòng, nào vịt trời. sâm cầm. Đấy là những ông đi chơi săn chim và "cải thiện" đôi chút. Nhưng bây giờ trông những người đi bán xâu chim thì thiểu não, vất vả nhiều. Chiết xe đạp méo mó và cả người như vùi trong bùn lên. Họ vắt trước ghi đông những xâu chim chết, thôi thì chào mào sáo đá, cả con choi choi bé tí tẹo. Trông thấy mà thương tâm. Thế nào thì xung quanh thành phố người ta tiêu diệt hết các giống chim đến nơi.

Tôi hỏi bâng quơ:

- Không bán diều hâu à?

Người bán chim lật xât chim lên, có con diều hâu mình vằn máu, mỏ khoằm nằm chết rũ ở dưới.

Tôi lại hỏi:

- Diều hâu bay cao thế, sao bẫy được?

- Mở băng tiếng diều hâu kêu la, xuống ngay chứ?

- Thu được băng diều hâu?

- Ông ơi? Cụ giời trên thiên đình mà nói cũng thu được tiếng cả cụ giời. Nào ông mua đi, diều hâu nướng lên thơm chẳng kém gì gà gô. Cháu lên Lương Sơn nhiều, có chục con diều hâu vào bẫy cũng hết băng, chim rừng mà.

- Diều hâu này bắt ở tận đâu?

- Chân Tam Đảo đấy.

Tam Đảo và Ba Vì, những vùng rừng quốc gia, nghe uy nghiêm lắm, thế mà người ta đương phá đến kiệt cùng mà cũng chẳng ai cấm đoán, bắt bớ gì. Những con chim con cò này còn thấy có lúc nó bay trên sông, có lúc nó lội dưới ruộng, chứ còn bao nhiêu thứ của rừng, trong rừng, giữa rừng mà người ta đã bòn mót quanh năm đến hết sạch, mất sạch. Tôi đã từng viết về nạn tiêu diệt bướm ở Tam Đảo. Tôi đã mắt trông thấy những người châu Âu, người Nhật chơi Tam Đảo vào rừng tay cầm vợt vợt bướm và đeo những cái lồng đựng bướm. Đã nhiều năm rồi, người lớn và trẻ con các làng quanh núi đã hành nghề đi bắt bướm cho Tây. Không mấy ai để ý khi mùa xuân về, rừng Tam Đảo chỉ còn những đàn bướm trắng và bướm ma chập chờn bay ra, chứ những bướm rồng, bướm chúa, bướm tiên quý hiếm chẳng thấy đâu nữa.

Mới đây, tôi lại biết thêm có nghề lẩy phong lan ở Tam Đảo và Ba Vì. Thật ra tôi chỉ mới được biết, chứ nghề này đã sinh ra từ mười mấy năm nay, mà toàn người tỉnh xa về hành nghề. Cũng như ít ai để ý việc mò ốc bươu, ốc vặn ở hồ Tây phần nhiều người Thanh Hoá ra, ở Nam Định lên. Nghề lấy phong lan cũng thế, nhưng công phu và bán được nhiều tiền hơn mò ốc. Người ta nói bây giờ người đi rừng kiếm phong lan ngày một nhiều, những năm trước chỉ cái rìu với cái dao, vào rừng nửa buổi đã vác về hàng giỏ, bấy giờ phong lan còn mọc la liệt trong hẻm núi, ở gốc cây. Bây giờ người kiếm phong lan phải đi thành bọn vào rừng sâu mang cả bạt, đeo cả gạo và xoong nồi đi vài ngày. Mà đồ lề lấy phong lan bây giờ không chỉ có chiếc rìu, con dao mà phải đem cưa, thang dây, có cả cưa máy chạy điện quay tay, còn nhiêu khê hơn thợ sơn tràng đi rừng. Bởi bây giờ chỉ còn phong lan trên lưng chừng cây, phải trèo lên cưa cây, hạ cây xuống thì mới lấy được một vừng phong lan có nghĩa là phải phá rừng mới lấy được phong lan.

Ở bên Nhật có núi Phú Sĩ ngoại ô Tôkyô, ngọn núi thiêng liêng, trong mỗi bức ảnh phong cảnh Tôkyô nhất định phải có núi Phú Sĩ nên thơ. Ở Hà Nội, đứng bờ hồ Tây cũng trông thấy núi Tam Đảo, núi Ba Vì nổi lên bên kia ngấn nước, đẹp lạ lùng. Chẳng biết núi Phú Sĩ có nạn bắt bướm, nạn phá rừng lấy phong lan và săn chim, bẫy chim đến kiệt cùng như ở ta không? Ở thủ đô Tân Đê Li bên Ấn Độ, đứng đợi xe buýt trên hè, trông lên cây thấy mấy con chim vàng anh đương nhảy lao xao. Ở ta, chúng mày đậu thế thì chết với ông rồi.

Và ở ta, chỉ nghe khẩu hiệu hò hét trên báo về bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường chứ chẳng thấy người để mắt đến tác hại cụ thể, tỉ mỉ ấy. Rồi một ngày kia, trên mặt đất, trên bầu trời sẽ hết chim, hết hoa thì con người ở với ai.

Tô Hoài

Tôi Đi Học - Nổi Buồn Mùa Thu - Phạm Tín An Ninh

 TÔI ĐI HỌC NỖI BUỒN MÙA THU




Có lẽ những chiếc lá mùa thu đã nhuộm vàng phần lớn thi ca nhân loại. Và dường như nếu không có mùa thu thì những cuộc tình sẽ không còn lãng mạn, thế gian này sẽ không có mặt của thi nhân. Ông Văn Cao đã khởi đầu sự nghiệp của mình bằng “Buồn Tàn Thu” để rồi cuộc đời của người nghệ sĩ tài hoa này cũng tàn theo Giai Phẩm Mùa Thu (trong Nhân Văn Giai Phẩm).

Ông mất đi trong cảnh khốn cùng để lại cho đời một kho tàng âm nhạc quí giá, cùng sự thương tiếc ngậm ngùi và bao điều suy ngẫm. “Cây đại thụ” Phạm Duy phỏng theo một bài thơ Tây, phổ bản “Mùa Thu Chết”. Ở Việt nam ta, nếu “con nai vàng ngơ ngác đạp trên lá vàng khô” đã làm nên Lưu Trọng Lư, thì bên Tây “Les Feuilles Mortes” đã khắc sâu tên tuổi Jacques Prévert trong lòng những người mê thơ, yêu nhạc.

Riêng cái thằng vừa nhà quê vừa ít chữ như tôi dĩ nhiên không thể nào làm nổi một câu thơ và cũng chẳng mò ra được một nốt nhạc, vậy mà tâm hồn lại rất dễ bị đắm chìm trong những lời thơ tiếng nhạc – đặc biệt có Mùa Thu trong đó. Nhưng trong tất cả những tác phẩm có bóng dáng Mùa Thu trên thế gian này, cái bài làm tôi xúc động nhất, thuộc lòng từ thời tấm bé, không phải là thơ, là nhạc, của ta hay tây, mà lại là một bài văn xuôi rất… học trò của ông Thanh Tịnh.

“Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi quên thế nào được…

Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp…”

Không biết ngày ấy ông Thanh Tịnh ở tận nơi đâu, mà sao cái cảnh ngày đầu tiên ông đi học giống tôi như đúc. Tôi cũng được mẹ nắm tay dẫn đi trên con đường làng Phú Hội, cũng vào một buổi sáng có (một chút) sương thu và gió lạnh.

Một năm sau mẹ tôi qua đời, bỏ lại tôi một mình đi trên con đường dài và hẹp đó với bóng dáng yêu dấu của bà. Rồi cũng một năm sau nữa, cha tôi đang dạy học ở trường Pháp Việt thì bị Việt Minh bắt đưa ra Liên Khu Năm làm “công tác xóa nạn mù chữ”. Tôi trở thành thằng bé mồ côi, phải về ở với ông bà nội. Mỗi ngày tôi vẫn đi trên con đường làng ấy, nhưng bây giờ tôi đến trường cùng một đám anh em bà con trạc tuổi. Sau này, trong đám học trò dưới mái trường làng ngày ấy có vài thằng lên núi đi làm… kách mệnh, có đứa sớm thành liệt sĩ; nhiều đứa làm quan làm lính cộng hòa, cũng có lắm thằng đuợc Tổ Quốc Ghi Ơn; đám còn lại là nông dân năm tháng soi mặt với ruộng đồng, nhưng cũng có thằng trở thành giáo sư, bác sĩ, lấy vợ rồi đóng đô luôn ở chốn thị thành, chỉ lâu lâu dắt díu nhau về thăm làng cũ.

Vậy mà cái tình đồng môn của thời thơ ấu đó lại keo sơn gắn bó đến không ngờ. Mấy ông nông dân có con cháu đi lính, được mấy ông bạn nhà binh nhận về đơn vị chở che, xuống thành phố đi học có mấy ông bạn thầy giáo hướng dẫn lo trường lo lớp, nơi ăn chốn ở; đau bệnh thì có mấy thằng bác sĩ chăm sóc thuốc men, xin vào nhà thương miễn phí. Mấy thằng làm quan lâu lâu về quê chở cả đám nông dân ra thành phố tập tễnh ăn chơi cho biết cái sự đời. Quân với dân còn hơn cả cá với nước.

Rồi đùng một cái, tháng 4/75, bão tố bất ngờ ập xuống, kéo theo cơn lốc đổi đời bi thảm: Mấy ông bạn trên núi nghênh ngang về nắm chính quyền, mấy ông nông dân vốn bao năm an nhàn với đồng áng bây giờ lại được mấy ông bạn chính quyền ưu ái lấy hết ruộng đất đưa vào hợp tác xã, giúp những thằng bạn cũ sớm trở thành vô sản, hầu cùng nhau “tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc” lên thế giới đại đồng (!). Mấy ông lính, ông thầy, ông bác sĩ tự dưng trở thành “những con nai vàng ngơ ngác”, cuốn gói về quê nương náu để đợi chờ số phận, lại được mấy ông bạn nông dân ngày trước cho gạo cho tiền, chí ít cũng đãi đằng được một chầu thịt gà rượu đế, tiễn đồng môn cũ đi vào “trường cải tạo”. Một ít vào trường sơ cấp, trung cấp trong nam, số còn lại được ưu ái ra trường cao cấp tận vùng núi rừng Việt Bắc.

Sau sáu, tám, rồi mười năm, thằng nào còn sống mang tấm thân tàn tạ ra tù, kẻ thì vượt biển, người thì đi diện HO, lưu lạc tha phương, bỏ lại sau lưng con đường quê, ngôi trường làng cũ với biết bao kỷ niệm êm đềm. Đất khách gặp nhau, chỉ còn biết vỗ vai an ủi:

Qua cơn mờ mịt binh đao

đứa còn đứa mất ba đào tang thuơng

Lạc loài trên chính quê hương

thôi thì gió cuốn mười phương cũng đành

Định cư xong, lo góp tiền gom bạc gởi về cứu đói mấy ông bạn nông dân, bây giờ đã bạc cả mái đầu mà còn trắng cả đôi tay. Còn mấy ông bỏ trường lên núi hồi còn son trẻ bây giờ phục viên về nằm nghỉ mát, mỗi ngày uống trà ngắm mấy cái “bằng khen”, mấy cái huy chương “dũng sĩ” treo tòn ten trên vách mà ngẫm nghĩ con đường cách mệnh đã bỏ gần cả một đời theo đuổi mà sao cái làng quê của mình vẫn cứ xác xơ và những bạn bè ấu thơ giờ thì đã chết hoặc điêu linh tan tác.

Rồi cũng vào một mùa thu, từ đất khách tôi về lại quê hương. “Mùa thu năm ấy tôi ra đi, mùa thu này nữa tôi… trở về”. Khoảng cách giữa hai mùa thu… vậy mà cũng đã hai mươi năm. Tôi về để tìm lại ngôi mộ của cha tôi được mấy người bạn tù chôn cất sơ sài trên núi bên ngoài trại cải tạo Đá Bàn. Ông đã chết sau hơn một năm bị giam trong trại tù này, cũng vào một ngày cuối thu ảm đạm. Tôi nhờ người cải táng, đưa ông về nằm bên cạnh mẹ tôi và ông bà nội trong nghĩa trang gia tộc.

Tôi đi một vòng thăm lại làng xưa. Cái làng Phú Hội của tôi một thời đông vui giàu có như cái tên gọi, bây giờ sao trở nên vắng vẻ điêu tàn. Đám bạn bè cũ bây giờ chẳng còn mấy đứa, thằng chết, kẻ ra đi, gởi thân khắp bốn phương trời. Hôm nay, tôi lại đi trên con đường làng cũ, vẫn con đường dài và hẹp mà ngày xưa mẹ tôi âu yếm dắt tay tôi tới lớp. Hôm nay cũng có nhiều sương thu và gió lạnh, tôi đi một mình trơ trọi, chỉ còn đâu đây bóng dáng, tiếng nói tiếng cười của đám bè bạn ngày xưa rì rào trong gió. Tôi chợt nhớ tới bài thơ của một ông bạn già thân thiết:

Tôi về đứng trước ngôi trường cũ

nhìn xuống làng xưa chạnh nỗi niềm

nhấp nhô những mái nhà rêu phủ

thương hải tang điền mấy biến thiên

Tôi về xuôi một giòng sông chảy

con nước vô tình lặng lẽ trôi

hiểu nghĩa cuộc đời đành không thể

hai lần tắm ở một giòng thôi

– Tôi về – có phải sông về biển

sao nghe từng con sóng não nề

như thể bây giờ là cổ tích

tôi về – chỉ gặp lại mình… tôi

Bây giờ nhờ tiền tài trợ của mấy ông tư bản, nên ngôi trường vừa được xây cất lại khang trang. Có lẽ học sinh cũng vừa mới tựu trường, nên cờ xí khẩu hiệu còn đỏ cả sân trường. Cái trường mang tên làng Phú Hội ngày xưa bây giờ đã được đổi tên thành “Trường PTCS Lê văn Tám”. Nhìn các em bé sắp hàng vào lớp mà lòng tôi cứ bâng khuâng. Không phải vì vừa mới tìm lại được bóng dáng của mình ngày trước, mà vì thấy thương và tội nghiệp cho các cháu học trò. Không biết mỗi ngày phải học thuộc lòng những bài “thơ trong tù”của bác, thơ “Khóc ông Lê Nin” của nhà thơ lớn Tố Hữu, có bao nhiêu em đã “từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, mặt trời chân lý chói qua tim” (thơ T.H), và liệu các em có còn nhớ đuợc cái bài văn xuôi “hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc…” hồn nhiên và dễ thương của ông Thanh Tịnh mà thế hệ cha ông ai cũng nằm lòng? Các em có xót xa khi biết trường của các em mang tên “anh hùng Lê văn Tám” mà các em được dạy như là một tấm gương, lại là một người không hề có thật, mà chỉ là nhân vật trong phim truyện của đạo diễn Phan Vũ (xem Báo Thế Giới – Hà Nội số 39 (154) ngày 27.09.04 trang 22-23, website Talawas ngày 11.10.04 / Quang Hùng, đài BBC chương trình ngày 15.10.04)

Rồi mới đây bà Hiệu trưởng Trần Thanh Vân đầy quyền uy (dưới những ô dù) kéo theo một nhóm thầy cô vây cánh của trường chuyên Lê Quí Đôn nào đó ở “thành phố mang tên bác” thản nhiên lấy tiền đô la, làm hồ sơ ma nhận cả một đám học trò dốt nát, con cháu của những đại gia và các ngài quan lớn (trong đó có con trai của đồng chí chánh thanh tra sở giáo dục thành phố) vào ngôi trường chuyên một thời có tiếng.

Tội nghiệp, chẳng lẽ mới lớn lên, các em đã phải học những điều gian dối, và tương lai các em sẽ ra sao với một nền giáo dục và văn hóa “phong bì”?

Cũng may mà các em còn bé và ở tận một vùng quê, nên không biết nhiều về đạo đức của các nhà “mô phạm”, những “nhất tự vi sư bán tự vi sư” một thời được dân chúng trải chiếu hoa mời ngồi dưới mái đình làng.

Ngoài Hà Nội, có lẽ vì thành phố thủ đô trữ tình với mùa thu và hương hoa sữa, nên ông thầy già trưởng khoa Đỗ Tư Đông “khả kính” ở trường Cao đẳng Truyền Thanh Truyền Hình nhà nước “lấy điểm gạ tình” một số nữ sinh viên. Thầy chỉ cho điểm cao khi nào trò hoàn thành nhiệm vụ “trả bài” cho thầy trong khách sạn!

Dưới cái tỉnh Bình Phước mới toanh, nên thầy Lê Hoàng Sang, Hiệu trưởng trường Lê văn Tám (lại Lê Văn Tám!) cũng vừa làm một điều vô cùng tân tiến: bắt các cô giáo chưa chồng phải uống rượu cùng các quan lớn địa phương, bất kể trưa chiều hay trước giờ lên lớp. Nếu lỡ gọi các quan già bằng “chú” mà không phải bằng “anh” thì bị thầy hiệu trưởng nạt nộ đòi kỷ luật.

Mới đây trên đài BBC, Tạ Phong Tần, cán bộ sở thuơng Mại Du Lịch Bạc Liêu, sau một khóa được đào tạo tại chức, đã công khai tuyên bố: “Không ít tiến sĩ, thạc sĩ là những người biết diễn đạt những điều đơn giản trở thành khó hiểu hoặc không ai hiểu nỗi.” (nguyên văn)

Cầu mong cho các em học trò nhỏ ở quê tôi không nghe được mấy cái tin “vui” này đăng đầy trên báo mỗi ngày, để còn thấy mùa thu trên quê nghèo vần còn một chút thơ mộng dễ thương.

Trước khi rời khỏi quê hương, tôi ghé lên thành phố thăm thằng bạn học cũ, trước tháng 4/75 là một giáo sư toán-lý-hóa nổi tiếng của một trường trung học lớn. Bây giờ ngồi bán thuốc lá ở vỉa hè. Con cái nó cũng đã nghỉ học từ lâu để lăn vào cuộc sống, nên mấy cái bằng cử nhân toán từ cái thời 63-64 chỉ còn cùng để… gói thuốc lá. Bỗng dưng tôi nhớ tới bài thơ của một ông nhà thơ nào đó trong nước mà lòng thấy ngậm ngùi.

“Thầy có nhớ con không…?”

Tôi giật mình nhận ra người đàn ông áo quần nhếch nhác

người đàn ông gầy gò ngồi sau tủ thuốc ven đường.

“Thầy còn nhớ con không…?”

Câu lặp lại rụt rè rơi vào im lặng

hoa phượng tháng Năm rơi đầy vỉa hè

rụng xuống trên vai người thầy học cũ

“không… xin lỗi.. ông lầm…

Tôi chưa từng dạy học

Xin thối lại ông tiền thuốc… cám ơn!”

Cuộc sống cho ta nhiều quên, nhớ, vui, buồn

Thầy học cũ mười năm không lầm được

Thầy học cũ ngồi kia giấu mình sau tủ thuốc

giấu mình sau hoa phượng rụng buồn tênh.

Con biết nói gì hơn, đứa học trò tôn sư

người Thầy cũ lại chối từ kỷ niệm,

chối từ những bài giảng dạy con người đứng thẳng,

biết yêu anh em – đất nước – xóm giềng.

Đứa học trò vào đời với trăm nghìn giông bão,

Bài học ngày xưa vẫn nhớ mãi không quên.

Bên hè phố im lìm,

vành nón sụp che mắt nhìn mỏi mệt.

Câu phủ nhận phải vì câu áo rách

trước đứa học trò quần áo bảnh bao?

Tôi ngẩn ngơ đi giữa phố xá ồn ào,

những đứa trẻ con tan trường đuổi nhau trên phố.

Mười năm nữa đứa nào trong số đó,

sẽ gặp thầy mình như tôi gặp hôm nay?

(ĐỖ TRUNG QUÂN - Có Một Chiều Tháng Năm)

Ngày rời khỏi quê hương, ngồi trên máy bay nhìn xuống, mùa thu Sài gòn không có lá vàng rơi, cũng không có con nai vàng nào ngơ ngác, mà sao tôi thấy như vàng cả không gian, ảm đạm cả đất trời. Tôi bỗng ngộ ra một điều ngộ nghĩnh: Đâu phải chỉ có mấy ông nhà thơ, mấy ông nhạc sĩ mới nhuộm buồn được mùa Thu, mà có những “đỉnh cao” đang ngự trị trên quê hương tôi, dù chẳng có một chút xíu tâm hồn nào, có khi không có cả quả tim, cũng có thể làm cho mùa thu quê tôi… buồn chết được.

Phạm Tín An Ninh

304Đen - Llttm

 

 

 

Friday, March 13, 2026

Nơi Này Vẫn Vậy - Nguyễn Đạm Luân

 Nơi Này Vẫn Vậy




Đợi Thu Hoạch Mãng Cầu - Nguyễn Cang

 

Tản mạn : ĐỢI THU HOẠCH MÃNG CẦU




Cách nay 2 năm ở CA có phong trào “Trồng cây gây ghiền” do một nhóm ACE miền Bắc CA (Sanjose) thành lập, mỗi năm họp một lần tại một Park cách trung tâm Sanjose không xa. Mục đích chia sẻ cách trồng cây, chăm sóc, bón phân, thu hoạch. Có người mang theo sản phẩm để khoe với bạn, không khí thật vui tươi, hào hứng. Phong trào trồng cây ( ăn trái) phát triển rất mạnh, nhiều người đổ xô đi mua cây, những cây giống tốt được order từ Nam CA hoặc các tiểu bang khác chở đến giao cho khách hàng, qua XE ĐÒ HOÀNG, hoặc đường bưu điện.  Các loại cây được ưa chuộng là : mãng cầu, táo Tàu, nhãn, ổi v.v. Nói về táo thì có nhiều loại: táo GA 866, táo Sugar cane, Honey jar, Tiger tooth…Riêng mãng cầu thì có: mãng cầu Úc, mãng cầu Do Thái, mãng cầu Ta…

Ở Sanjose nhà hẹp, đất đá nên người ta thường trồng cây trong chậu, kích cở : 5, 10, 15, lớn nhất là 25 galon. Tôi ở apartment nên không trồng cây được, phải trồng nhờ nhà mấy đứa con. Mỗi tuần tôi đến đó để tưới cây, bón phân, phụ với con vì chúng nó không rãnh. Cách nay 2 năm tôi có trồng 2 cây mãng cầu ( tháp nhánh) bây giờ nó cho 5,3 trái ( sắp thu hoạch đầu tiên, chưa biết ngon dở thế nào) mấy đứa con lấy làm phấn khởi vì lần đầu thu hoạch mãng cầu do chính tay trồng trên đất nhà! Chúng bảo ngày nào cũng ra vườn ngắm nghía, sờ bóp trái mãng cầu, thử xem chin chưa? Tôi bảo hãy đợi 2 tuần nữa , hái sớm coi chừng chưa già !Niềm vui ở đây không phải là trái cây ngon mua từ chợ về mà chính là lúc ngắm cây từ khi nó trổ bông, ra trái, lớn dần từng ngày từng tháng cho tới khi trái chín. Hôm nay nó lớn một chút, ngày mai một chút, nó truyền niềm vui,  cảm hứng vào tim vào óc làm nhẹ đi những căng thẳng, bất bình trong cuộc sống. Ta thấy sự sinh tồn của loài thực vật hiện diện nơi đây, nó phát triển âm thằm nhưng mãnh liệt : lớn lên, già, chín, hủy diệt, giống kiếp sống của con người theo luật tuần hoàn của vũ trụ ( sinh lão bệnh tử).

Thật là một thứ giải trí thanh cao, lành mạnh thay vì nhậu nhẹt, đàn đúm. Cái thú tiêu khiển nầy hình như chỉ thích hợp cho người lớn tuổi chứ bọn trẻ nó không chịu. Xin giới thiệu với bạn đọc mấy trái mãng cầu đầu tiên sắp chín ở vườn nhà con trai, Sanjose. Chủ nhà vườn bảo đó là mãng cầu Úc ! Cây cao độ 1.5 m, có tất cả 3 trái trên cùng 1 nhánh, rất tiếc trái lớn nhất ( ở cành đối diện) bị rụng do gãy nhánh. Thật uổng !

Nguyễn Cang (Mar. 7, 2026)

 

 

 

 

Trong Bóng Tối Buổi Chiều - Thạch Lam

 

Trong bóng tối buổi chiều




Diên đứng nép mình vào cửa hàng nước, nhìn sang bên kia phố: một đám thợ chen nhau trong cổng nhà máy đi ra, người nào cũng có dáng mỏi mệt; cái ánh sáng buổi trưa mùa đông tuy mờ sạm cũng đủ làm cho họ nhấp nháy mắt và đưa tay lên che, như những người vừa bước trong bóng tối ra.

Diên nhận kỹ từng người, đưa mắt theo bọn thợ đàn bà vừa đi vừa chuyện trò vui vẻ và nghịch ngợm. Chàng không thấy có Mai trong đám ấy. Diên đợi một lát; đến khi thấy hai cánh cửa nặng nề của nhà máy khép lại, Diên mới quay đi rảo bước theo các người thợ. Trên nét mặt chàng hiện ra vẻ băn khoăn:

- Không biết Mai đâu? Hay là đã ra từ trước mà ta không thấy?

Diên muốn nắm lấy một người thợ đàn bà mà hỏi, nhưng lại không dám. Vả lại. Diên sợ hỏi người ta thế, Mai biết sẽ không bằng lòng. Diên vừa đi vừa nghĩ ngợi. Chàng nhớ hết lại các cử chỉ của Mai đối với chàng gần đây. Lần này không phải là lần đầu chàng đi đón Mai gấp. Trước kia không bao giờ thế, vì Mai đã biết thế nào Diên cũng đến đón nàng.

Vậy ra Mai đã có ý lẩn tránh, Diên hỏi đoán ra nguyên cớ tại sao và một mối hờn giận nổi dậy trong lòng; chàng nghiến chặt răng lại và nện bước mạnh trên hè phố.

Diên nhớ lại những ngày sung sướng khi còn ở quê nhà, khi chàng và Mai len lỏi đùa nghịch nhau trong những vườn sắn trên sườn đồi. Mai là một cô gái tinh nghịch và lanh lợi, hay cười nói luôn miệng. Còn Diên là một anh trai ít nói và nhút nhát, trước mặt con gái hay ấp úng và ngượng nghịu. Hai người yêu mến nhau từ thuở nhỏ với mối tình yêu mộc mạc và đằm thắm của những người nhà quê.

Rồi đến ngày cả hai gia đình nghèo. Diên và Mai theo cha mẹ ra tỉnh tìm việc. Mai được làm thợ con gái trong nhà máy, còn chàng thì học việc ở một hiệu buôn. Hai người kiếm chỉ đủ tiền sống một cuộc đời thiếu thốn và tồi tàn ở tỉnh thành. Cái tình của đôi bên, tuy vậy, vẫn không thay đổi và cứ mỗi buổi xong việc làm, Diên lại đến nhà máy đón Mai cũng về một xóm ở ngoại ô.

Diên thở dài. Bởi chàng nhận thấy ít lâu nay Mai không hay chuyện trò với chàng nữa, và hình như có ý muốn tránh mặt chàng.

Ít lâu nay, ngày nào Mai cũng đi chơi với mấy người bạn gái trong sở, mấy cô gái lẳng lơ và hay làm đỏm mà xưa kia Mai vẫn tỏ ý ghét. Trước sự thân thiết ấy, Diên một hôm đã ghen tức, nói mỉa bạn, thì Mai trả lời:

- Bọn họ cũng như tôi, có gì mà anh ghét?

Diên giận lắm, nói:

- Thế cô không biết tại sao mà họ có nhiều tiền tiêu ư?

Mai lặng yên không trả lời. Diên muốn cho Mai hiểu rằng những cô bạn đó trước cũng chỉ là những thợ "con gái" như mọi người thợ khác, nhưng nay được vừa mắt ông chủ, nên mới có nhiều tiền tiêu. Diên toan nói nhiều nữa nhưng lại thôi, sợ làm mất lòng Mai và chàng chắc rằng Mai cũng biết thừa sự ấy.

Một hôm, Diên bắt gặp Mai đang ngắm nghía vật gì trong bàn tay. Chàng vừa đến gần thì Mai vội giấu ra sau lưng. Diên giằng ra xem, thấy một cái nhẫn mặt nhỏ bằng vàng. Chàng ngạc nhiên hỏi:

- Cô mua nhẫn đấy à? Tiền đâu thế?

Mai ấp úng, ngượng nghịu không trả lời. Diên hỏi gặng mãi, Mai nói là của một người bạn gái cho mượn. Nhưng nhìn vào đôi mắt trong của Mai, Diên biết rằng Mai không nói thật.

Nghĩ đến đây, Diên thấy nao nao trong lòng; một điều lo sợ thấm dần vào tâm can chàng, cùng một lúc với sự chán nản. Một ý nghĩ muốn rời bỏ cái đời bụi bậm ở chốn tỉnh thành này, trở về với công việc ở thôn quê.

Đột nhiên, Diên đứng dừng ngay lại; chàng vừa thoáng thấy bóng Mai qua cửa kính một hiệu cao lâu nhỏ ở đầu phố. Diên rón rén đứng ngoài cái màn treo, nhìn vào. Chàng thấy Mai ngồi với mấy bạn gái, đương cười đùa vui vẻ và cuối bàn có một người thợ đàn ông đang ghé tai thì thầm với một cô trong bọn.

Khi trông thấy người ấy, quả tim Diên bỗng đập mạnh như một con chim sợ hãi. Mắt chàng hoa lên và chàng lảo đảo tựa vào bức tường cho khỏi ngã.

Diên mới nhận ra người đàn ông ngồi đó là một người thợ cùng làm ở nhà máy với Mai, mà tất cả mọi người đều gọi là "bà mối". Hắn ta chỉ có một công việc làm trong xưởng, là dẫn dụ các cô gái nào mà ông chủ để ý đến. Người thợ con gái được hắn vời đến tất sẽ trở nên một bà chủ con trong xưởng, quyền hành nắm trong tay và nhất là được tiền để sắm sửa ăn mặc. Rồi một hai tháng, khi ông chủ đã chán, lại nhường chân cho kẻ khác.

Nghĩ đến Mai cũng như những cô gái ấy, Diên thấy lòng thắt lại như trước một tai nạn gì ghê gớm. Diên thấy choáng váng cả người, chàng nghiến răng, khẽ lẩm bẩm: "Con khốn nạn!".

Chàng muốn nhảy ngay vào phía trong lôi ngay Mai ra mắng cho bõ ghét. Hai tay chàng nắm lại; nhưng cái bản tính nhút nhát vẫn thắng; chàng lưỡng lự một lát rồi lại lẳng lặng cúi mình rảo bước đi mau.

Về đến nhà, Diên nằm vật xuống giường, chán nản. Căn phòng chật hẹp, tối tăm làm chàng khó thở. Diên nhớ lại cái quang cảnh u ám buổi trưa: những thợ thuyền đầy bụi bậm, những bộ quần áo bẩn thỉu, cả căn phố đen với vết than và nhất là cái nhà máy sừng sững dưới các bức tường loang lổ. Diên lại nghĩ đến cánh đồng ruộng ở quê hương, đến những rặng cây mà ánh sáng buổi ban mai làm rung động đến cái hình dáng đáng yêu của Mai khi đi bên mình chàng.

Nghĩ đến những ngày sung sướng ấy, và sự nghèo hèn của mình bây giờ Diên thấy tủi thân, rơm rớm nước mắt khóc.

*

Buổi chiều. Diên sang nhà Mai, thấy nàng vừa mới đi làm về. Chàng đến gần Mai, không dám nhìn nàng, chỉ bảo:

- Cô Mai, cô ra đây tôi có câu chuyện muốn nói.

Mai bước theo sau. Hai người lặng yên đi trên con đường đất ra bãi cỏ sau nhà, chỗ mà mọi khi hai người vẫn gặp nhau nói chuyện.

Đến nơi, Mai ngồi xuống vệ hè, chờ đợi. Diên đứng yên bên cạnh không biết nói gì. Cái thương yêu mà giận dỗi rối loạn trong lòng chàng, và những câu muốn nói ngập ngừng như không ra khỏi miệng. Mai thì cứ cúi mặt xuống vân vê dải yếm. Mãi Diên mới cất tiếng hỏi ấp úng:

- Em Mai, sao độ này em cứ trốn tránh anh? Em không yêu anh nữa hay sao?...

Rồi Diên không rõ mình nói gì nữa: tất cả những sự uất ức, thương yêu chàng nói ra cả.

Diên nhắc lại những ngày đầm ấm ở thôn quê, đến cái tình thân thiết của đôi bên. Tự nhiên Diên thốt được những câu để bày tỏ nỗi lòng. Lời chàng dịu dàng và tha thiết như lời van xin của một người đau khổ.

Bỗng nhiên Diên ngừng lại. Mai, hai tay úp mặt xuống khóc. Diên thấy hai vai nàng nức lên. Cảm động, Diên cúi xuống để an ủi người yêu, chàng giơ tay để khẽ lên cánh tay Mai. Nhưng chàng lại đứng ngay dậy, mở mắt to ngơ ngác như người điên. Diên vừa mới nhận cách ăn mặc và trang điểm của Mai, nhẫn ở ngón tay và hoa tai lấp lánh dưới mái tóc, sang trọng như các bà giàu có.

Và Mai đánh phấn! Đôi môi có vết son của cô gái trước kia quê mùa mộc mạc làm chàng rùng mình nghĩ đến những bộ mặt trát phấn, những đôi môi đẫm son như thấm máu mà chàng thường trông trước cửa những chỗ ăn chơi.

Diên bàng hoàng và lạnh lẽo cả người; chàng hình như thấy một cái sức mạnh vô cùng đến chia rẽ Mai với chàng. Một nỗi đau đớn nghẹn ngào đưa lên chẹn ngang cổ họng, Diên nấc lên một tiếng rồi cúi đầu chạy trốn trong bóng tối của buổi chiều vừa xuống.

Thạch Lam