Tuesday, March 3, 2026

Truyện Ngắn Vương Hồng Sễn - VHS

 

Trối Trăng, Tự Tình

  Tôi đang bực tức và bất mãn, giận lấy mình, nhưng khó nói nên lời, đành gõ máy giấc trưa, gởi ấm ách cho xì ra hơi, xả xú bắp, lông lông đỡ tức.

Năm rồi, tôi ưng cho xuất bản hai tập nhỏ, viết ứ đọng từ lâu, nhưng khi in thành sách, tôi đã bị sửa văn, thiến của tôi bộn bàng, người sửa văn, vốn có học với tôi vài niên, nay có bằng Hán học, và tuân lời ông ra vốn cho máy in chạy và có lịnh của bề trên, nên văn tôi bị thiến. Tôi dùng chữ “văn” đây là tạm bợ, và nên nói lại, những gì tôi viết ra, họ đốn không nương tay, duy tôi là thằng chơi đồ cổ, xin hỏi tỷ như khi chưng một lục bình dịp tết, bình hoa vẫn có xen kẽ đôi lá lơ thơ cho dễ coi, rồi người mướn tôi trưng bày, đã rút tỉa những hoa lá phụ, rằng cho thêm gọn thêm xinh, nhưng về mặt mỹ thuật, xin cho tôi tỏ ý kiến rằng làm như vậy, bình hoa sẽ trơ trẽn, nhứt là trái ý của tôi, vả lại theo như tôi hiểu và tỉ thí, văn pháp, người xuất bản nào đụng chạm đến bao giờ.

Nói sơ sơ để tỷ ví, có nhiều câu tôi cho là đắc thể, tôi rặn è è lâu hoắc hoặc đó là lời nói của những nhà có kinh nghiệm đã rỉ tai tôi, và tôi cố ghi lại vào bản thảo, đều bị bôi bỏ, chê là rườm rà, nhưng quên rằng đó là những cái mốc để đánh dấu thời đại, như giá vàng, ngày mua, người bán, nay lượt bớt... khiến cho hiện nay, có một cuốn của tôi được tái bản, nhưng bán rất chậm, vì khách chơi cổ ngoạn vẫn tìm sách cũ bản của tôi và để ế bản của kỳ nhì (không phải tự tôi cho in) tuy trong ruột sách vẫn y chang, duy ngoài bìa đã thay đổi và thay thế một cách ngu dốt nên sách bán không chạy...

V.H.S. (4-3-1993)

Trích từ trang 53 và 54 trong cuốn “Tạp Bút Năm Quí Dậu, 1993 – Di Cảo Vương Hồng Sển” do nhà xuất bản Trẻ phát hành năm 2012 tại Sài Gòn – Việt

Nam)

 Tết Và Tôi




Tôi xin nói Tết và tôi. Thằng tôi là đáng ghét, nhưng phải nói, và xin kể một chuyện không tốt, gọi xả xú bắp để bước qua năm Dậu – con Gà:

Hôm ấy là hai mươi chín tháng chạp thiếu, lối mười giờ khuya, thiên hạ đang rần rần mua vui buổi chợ đêm nơi Bến Thành, và tôi đang thơ thẩn đưa một bạn gái về nhà đường Farinole, nay đổi gọi Đặng Trần Côn.

Nàng là một bô-tê, vì chữ hoa khôi chưa có. Tóc đỏ hoe hoe, ăn nói có duyên, nhà ở hẻm chẹt nầy, chuyên nấu cơm tháng cho mấy thầy, và tôi chịu miệng, đầu tháng tới sẽ cho người xách gào-mên (ngoài kia gọi cầu mền), lãnh phần đem về, nhưng bữa nay phải cho tôi trước xem nhà, sau cho thử bất thình lình một dĩa lập-là cho rõ tài ngự thiện. Hai đứa cặp kè đang đi cà rịch cà tang trên đường Lý Tự Trọng, pháo nổ điếc tai, và trận mưa buổi chiều còn đọng nước... Bỗng Mười nói:

-  Anh S., nước dơ quá, ướt giày tôi hết.

Tôi đang xách tay một gói thịt nguội, vừa mua đùm đề, nào ba-tê nào gà ướp lạnh, thêm một chay sâm banh hiệu Veude Amiot giá chín cắc bạc, mình đang hai tay không rảnh mà “con nầy” làm khó, chê dơ chê bẩn... Tôi vụt đáp: “Lưng đây nè! Lại đây, cõng cho! Mà phải chịu khó xách dùm mấy món nầy!” Tôi nói nãy giờ còn dài quá chớ sự việc xảy ra ngắn xủn! Qua khỏi vũng nước cũ vừa thấy cửa phố của Mười. Tôi đứng thẳng lưng, chờ Tóc Đỏ bước xuống. Nhưng vẫn đánh đeo và ngâm giọng Bạch Vân, Hồng Vân gì gì đó. Ngâm rằng: “Chuối cau năm nải một quày! Mặt mầy không đáng xách giày tao đi!”

-  Con nầy hỗn! Chưa chi nó đã trèo đèo!

Tôi ểnh ngực cho rớt xuống, và miệng hát giáo đầu giọng mở màn: “Nghe đây!”

-  “Lưng vừa vắt L... mầy hăm hở! Tay cầm xúc xích thung thăng!

Chốn chiến trường tớ vẫn nhát gan! Nơi lộ vắng, thay hồ tay bốc!”

Rồi tôi bốc thiệt và bỏ ăn Tết, bỏ chai rượu, bỏ gói thịt, về nhà rửa tay và mang tiếng ngày nay “học giả”, xin đính chánh “giả chớ không thiệt”.

 

V.H.S. (18-12-1992)

 

(Trích từ trang 21, 22 và 23 trong cuốn “Tạp Bút Năm Quí Dậu 1993 – Di Cảo Vương Hồng Sển” do nhà xuất bản Trẻ phát hành năm 2012 tại Sài Gòn – Việt Nam)

 

Hỡi Người Dưới Thế Tình Là Vật Chi - Vũ Thế Thành

 HỠI NGƯỜI DƯỚI THẾ TÌNH LÀ VẬT CHI?

Trong “Thần Điêu Đại Hiệp”, nhân vật Lý Mạc Thu hận tình, trúng độc hoa tình, vừa chạy vào biển lửa ở Tuyệt Tình Cốc, vừa ngâm:

Hỡi người dưới thế tình là vật chi

Hẹn nhau sanh tử cùng đi

Vũ Thế Thành

 


Mấy chục năm trước đó, khi mới độ 16, Lý Mạc Thu cùng tình nhân, Lục Triển Nguyên cưỡi ngựa rong ruổi, thề non hẹn biển. Chuyện trăm năm không thành, Lục Triển Nguyên bội ước, lấy vợ. Lý Mạc Thu sinh hận, biến thù hận thành sự tàn độc, chết chóc. Dù người tình và vợ đã mất, nàng vẫn báo thù, giết hết toàn gia con cháu họ Lục, đầy tớ, heo gà chó cũng không tha. Không chỉ thế, nàng giết người bừa bãi, không cần lý do, gây thù chuốc oán khắp nơi.

Lý Mạc Thu là đệ tử đời thứ ba của phái Cổ Mộ (cùng thế hệ với Tiểu Long Nữ – sư muội của cô). Phái Cổ Mộ do Lâm Triều Anh sáng lập,  thuộc chính phái. Võ công chính là Ngọc Nữ Tâm Kinh, Ngọc Phong Châm, Băng Phách Ngân Châm (ám khí đặc trưng của phái), kiếm pháp nhẹ nhàng, thanh thoát, khắc chế Toàn Chân giáo. Cổ Mộ có quy định khắc nghiệt, đệ tử không được dính vào chuyện ái tình. Khi yêu Lục Triển Nguyên, Lý Mạc Thu vi phạm giới luật nên bị trục xuất khỏi phái.

Không rõ Lý Mạc Thu học Ngũ độc thần chưởng ở đâu (một loại võ công dùng độc dược để luyện chưởng). Võ công Cổ Mộ gốc vẫn còn là kiếm pháp, phất trần, ngân châm, nhưng nàng đã dùng chúng theo cách độc ác, tàn nhẫn, kết hợp độc chưởng, độc dược trở thành tà phái trong mắt giang hồ.

Trước khi ra tay, Lý Mạc Thu thường ngâm bài thơ “Hỡi người dưới thế tình là vật chi, hẹn nhau sanh tử cùng đi” như là dấu hiệu của sự tàn sát sắp đến.

Ban đầu tôi đọc bài thơ trên, tưởng là của Kim Dung. Sau này mới biết- Không phải. Đó là hai câu mở đầu bài từ “Nhạn khâu” của Nguyên Hiếu Vấn, thời Kim mạt.

Nguồn gốc bài từ thế này: Nguyên Hiếu Vấn trên đường đi thi, gặp người thợ săn bắt được một con nhạn, giết nó. Con nhạn còn lại thoát lưới kêu bi ai không chịu bay đi, cuối cùng lao đầu xuống đất tự vẫn theo bạn tình. Nguyên Hiếu Vấn mua lại xác đôi chim nhạn, chôn bên sông Phần Thủy, gọi là Nhạn Khâu (mồ chim nhạn). Cảm xúc trước cái chết của đôi chim, ông sáng tác bài từ nổi tiếng “Nhạn Khâu”.

Hai câu thơ mà tôi trích dẫn ở trên, là hai câu đầu trong bài từ “Nhạn Khâu”. Bài này khá dài, trong “Thần Điêu đại hiệp in trước 75, được dịch thoát, có vần điệu, nên dễ nhớ, nhưng tôi chỉ nhớ được hai câu. Gần 60 năm rồi còn gì.

Toàn bài từ đúng là giọng điệu tha thiết buồn bã! Dưới đây bài từ Nhạn Khâu, được Lê Vĩnh Húy dịch nghĩa từ chữ Hán:

Hỏi thế gian tình là giống gì

Mà làm cho sống chết khôn nguôi?

Trời nam đất bắc, đôi lứa sát cánh cùng bay,

Đã chia nhau bao mùa ấm lạnh.

Càng vui sum họp càng sầu chia phôi

Mối si tình đó biết tìm đâu trên đời này?

Mịt mù tăm suốt vạn trùng mây cao tuyết cả

Cánh chim lẻ biết về đâu.

Bờ sông Phần năm xưa rộn rã tiếng trống tiếng tiêu

Nay thành đám cỏ gai tịch mịch. 

Bạn tình đã chết

Khúc Chiêu hồn nào giúp được gì

Hãy nghe kìa tiếng quỷ núi khóc trong mưa xiết bao sầu thảm.

Khối tình chung làm trời cũng động lòng.

Bọn yến oanh rồi cũng thành đất vàng ngui ngút.

Mối sầu này rồi sẽ truyền mãi

Để tao nhân mặc khách muôn đời sau tới khóc thương bên nấm mộ

Còn “Lý Mạc Sầu” hay “Lý Mạc Thu” thì Lê Vĩnh Húy đã giải thích: Trong bản gốc, trước và sau nhuận sắc vẫn là chữ Sầu, không hiểu sao các dịch giả trước 75 lại phiên âm thành Mạc Thu. Thậm chí Húy còn giải thích – Mạc Sầu nghĩa là “đừng buồn”. Không còn tranh cãi “Thu” hay “Sầu” đúng sai gì nữa.

Chỉ có tôi là còn vấn vương “âm thanh dĩ vãng” nên vẫn ngoan cố gọi là Lý Mạc Thu. Các bạn trẻ đọc bản dịch nhuận sắc cũng nên hỷ xả cho.  Dù sao, đó cũng là ký ức văn hóa của một thế hệ đọc feuilleton, trong đó âm thanh, dù là phiên âm, cũng là một phần của ký ức.

Chưa hết, Lê Vĩnh Húy tự nhiên thòng thêm một câu để giải thích hận tình máu lửa của Lý Mạc Thu: “Kim Dung không hề cho biết Lý Mạc Sầu có thất thân với Lục Triển Nguyên không”. Rõ ràng y không nhét chữ vào miệng Kim Dung, nhưng lại nhét ý tưởng mây mưa, tiền dâm vào đầu độc giả. Tên Húy này đúng là bẩm sinh có máu… cuồng khẩu.

Hận tình, rồi hành xử cực đoan, với bàn tay nhuốm máu của Lý Mạc Thu làm tôi liên tưởng đến một hận tình khác, cũng ở trong Thần Điêu Đại Hiệp, cũng hành xử cực đoan, không nhuốm máu, nhưng lại tự hành hạ chính mình. Đó là Lâm Triều Anh, sư tổ của Lý Mạc Thu.

Lâm Triều Anh yêu Vương Trùng Dương sâu đậm từ thời trẻ. Khi ông còn là anh hùng chống Kim, hai người đã nhiều lần thư từ tâm sự với nhau, “tình trong như đã mặt ngoài còn e”, cả hai chưa hề thổ lộ tình cảm với nhau. Bà mong chờ hai người sẽ nên duyên khi đại nghiệp thành công.

Nhưng cuộc kháng chiến chống Kim ngày càng bất lợi, Vương Trùng Dương u uất trước thời cuộc, lui về núi Chung Nam, xây mộ sống (Hoạt Tử Nhân Mộ) trên núi Chung Nam để tu luyện, truyền bá tư tưởng, không để chuyện riêng tư xen vào.

Không đi được tới hôn nhân như mong đợi, Lâm Triều Anh – từ yêu đến hận – nhiều lần đến núi Chung Nam đòi tỉ thí với Vương Trùng Dương. Cả hai bất phân thắng bại. Bà biết thừa là ông nhường nhịn, nên nghĩ ông coi thường mình. Lần tỉ đấu cuối, bà ra điều kiện:

Nếu Vương Trùng Dương thua, ông phải:

  • Nhường Hoạt tử nhân mộ cho bà.
  • Xuất gia, tu theo đạo nào cũng được (chi mà ghen ác ôn dữ vậy nè!)
  • Chưa hết, ông phải lập đạo quán xuất gia ở núi Chung Nam, gần cổ mộ (ghen tuyệt tự kiểu này thì người hùng VTD coi như hết léng phéng)

Nếu Lâm Triều Anh thua, bà sẽ tự sát trước mặt ông (Con bà nó! Có cho châu báu, cha nội VTD cũng không dám thắng).

Lần này không tỉ đấu võ công nữa, mà thi nội lực, dùng ngón tay viết chữ trên đá (là điều không thể). Vậy mà bà thắng. Dĩ nhiên bà dùng thủ thuật, một tay sờ vào bia đá (bôi hóa chất làm mềm đá), tay kia “khắc” nguyên bài thơ trên đá.

Vương Trùng Dương là thiên hạ đệ nhất võ công thời đó, kể cả nội lực, biết thừa mánh khóe của bà, nhưng không dám hó hé. Đành ríu rít dọn đồ ra khỏi Cổ mộ, và xây cung Trùng Dương gần đó để tu hành, lập ra Toàn Chơn giáo phái.

Lâm Triều Anh dọn về Hoạt Tử Nhân, lập ra Cổ Mộ phái. Cũng ở mặt cực đoan khác, bà lại lập ra môn quy, môn đệ không được lấy chồng, không được dính líu vào tình ái. Bà chỉ có một môn đệ duy nhất, và cũng là a hoàn theo hầu bà. A Hoàn này sau thu nhận hai môn đệ là Lý Mạc Thu và Tiểu Long Nữ. Lý Mạc Thu, như đã nói bị trục xuất vì dính tới ái tình. Còn Tiểu Long Nữ thì sau này “phá giới” lấy Dương Qua. Mối tình “vòng tay học trò” này tuyệt đẹp và táo bạo với luân lý xã hội thời đó. Tôi sẽ nói vào dịp khác, không bàn ở đây.

Trở lại với mối tình hận của sư tổ, đồ tôn của nhà Cổ Mộ. Cả hai đều là phụ nữ thông minh. Cả hai đều thất tình vì không thể nên duyên vợ chồng như mong đợi. Một bên vì nghĩa lớn, bên kia vì thay lòng, nhưng cả hai đều đối diện với cách ứng xử cực đoan.

Nếu Lý Mạc Thu biến tình hận thành tàn ác, không kiểm soát được, lan tỏa thành ác nghiệp giang hồ, để sau cùng chết vì độc hoa tình, chết trong biển lửa tại Tuyệt Tình Cốc, mà vẫn chưa ngộ ra “tuyệt tình”. Nàng chết vì biển lửa, hay chết vì lửa tình?

Còn Lâm Triều Anh, chỉ vì lòng kiêu hãnh, háo thắng, đã không nhận ra chuyện đời đa dạng và phức tạp, không hiểu được nỗi lòng người mình yêu, để rồi dẫn đến ngộ nhận với những ứng xử cực đoan, cố chấp. Bà không chấp nhận thất bại, cả trong võ công lẫn tình cảm. Bà bắt ông phải xuất gia, ở đâu đó quanh bà, nhưng ông thanh thản với đời sống tu đạo. Còn bà cũng gần như đi tu, không giết ai, nhưng lại tự giam mình trong Cổ Mộ, chuyên nghiên cứu võ công để khắc chế Toàn Chơn phái. Rồi để tình yêu hóa thành cô độc lạnh lẽo, tự hành hạ nỗi đau của mình.

Tất cả cũng chỉ vì hận tình. Nếu Lý Mạc Thu hướng nỗi đau ra ngoài và thiêu đốt thiên hạ, thì Lâm Triều Anh lại hướng nó vào trong và thiêu đốt chính mình. Tình yêu không làm con người trở nên cực đoan, nhưng chính cách con người giải quyết nỗi đau mới tạo ra bi kịch.

Tình yêu đúng là nhức đầu thiệt. Viết tới đây, tôi cũng phải thở dài:

Hỡi người dưới thế tình là vật chi

Hẹn nhau sanh tử cùng đi…

Vũ Thế Thành

 

 



Chuyện Không Đáng Kể - Lê Việt Điểu

 

   Chuyện Không Đáng Kể




 

Con đường quanh co qua mấy gốc liễu, những cây sồi già, những tán lá rộng của hàng cây bả đậu và đột ngột mở rộng. Khoảng trời xanh trưóc mặt cho người ta có cảm giác thoáng mát, thoải mái. Bên phải con đường một ao nhỏ có hình dáng chiếc hồ lô, một sân cỏ bao quanh có một vài chiếc bàn gỗ bên cạnh đó là nhũng lò nướng BBQ quen thuộc.

Cuối công viên, nằm xéo bên phải có một căn nhà nhỏ sơn màu rêu pha một chút sắc vàng. Cổng vào nhà làm bằng gỗ có giàn hoa leo, vào mùa hè những chùm hoa màu tím than treo lơ lửng càng tạo vẻ trầm mặc cho ngôi nhà. Căn nhà nằm khuất dưới bóng cây thông già cụt ngọn.

Hôm nay, bầu trời cuối năm vẫn đục màu chì, mây mù bao phủ những ngọn đồi ở phía xa xa. Hai cửa sổ có màn che cùng màu với căn nhà, mở rộng, làn gió nhẹ rung động các tấm màn. Con chó nhỏ nằm im trên chiếc xích đu đặt trước hiên nhà dưới cửa sổ bên cánh trái căn nhà.

Đồng Khuyên nhìn rõ căn nhà từ bên kia bờ hồ khi chiếc xe taxi vừa thoát ra khỏi mấy lùm cây. Xuống xe, trả tiền, Đồng Khuyên hồi hộp đặt bước chân đầu tiên lên thảm cỏ công viên. Nàng sẽ ngạc nhiên, mở tròn đôi mắt ? Nàng sẽ bụm miệng ngăn tiếng kêu thảng thốt? Nàng sung sướng chào đón cuộc gặp mặt bất ngờ? Nàng sẽ phản ứng thế nào? Chàng sẽ nhào tới ôm nàng trong vòng tay hạnh phúc? Sẽ hôn nàng say đắm? Nàng rụng rời, mềm nhủn, ú ớ đón nụ hôn trong cảm giác thích thú?

Bao nhiêu luồng tư tưởng nhảy múa trong đầu theo những bước chân càng lúc càng gần hơn. Đồng Khuyên nhìn một lần nữa căn nhà. Ờ, chưa nhìn rõ số nhà, nhưng chàng biết chắc đó là căn nhà chàng đang muốn tìm đến. Nàng đã nói về căn nhà của nàng:

- Căn nhà có màu xanh rêu anh nhé. Ở ngoài có một cây thông...Cây thông cụt đầu anh ạ.

- Tại sao lại chọn cây thông kỳ thế?

- Í, ai mà chọn. Ô...khi mua căn nhà nó đã có sẵn đó rồi mà. Anh mà thấy nó anh sẽ thương lắm.

- Kiếp sau xin chớ làm người

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo. Phải thế không em?

- Anh nầy. Bao giờ anh sẽ lên thăm em nè.

- Tết.

Có tiếng cười rúc rích:

- Tết Marốc hả?

- Cái gì? Tết này đó.

Có tiếng reo vui:

- Chắc! Ngày nào nè. Trước? Sau?

- Bí mật.

- Xí, thấy ghét.

Bây giờ chàng đang đứng trước nhà nàng, vài phút nữa chàng sẽ găïp nàng. Lòng Đồng Khuyên như mở hội. Mùa Xuân chưa về mà lòng chàng đã nở hoa.

Sân cỏ mới cắt còn nồng ngai ngái. Cỏ mới cắt có mùi rất đặc biệt. Không thơm mùi hoa dại, không nồng sặt sụa như đống lá ủ mục; nó có mùi hơi ngai ngái cay nồng ấm áp và thoảng thoảng mùi thơm của cỏ, cái mùi trong gió khi ta chạy qua cánh đồng cỏ hoang.

Đồng Khuyên đăït những bước chân nhẹ nhàng làm như chàng không muốn kinh động không gian còn đang ngái ngủ trong một buổi sáng chúa nhật không có nắng. Đang là cuối mùa Đông và sắp bước sang Xuân và đây đó vết tích mùa Đông còn vương vãi với những xác xơ của cây của cỏ bị vùi dập trong những trận mưa tuyết bất ngờ. Đồng Khuyên kiểng chân nhìn ra phía xa, mờ mờ trong màn sương đục.

- Nếu anh đứng trước sân nhà em...Ô, không phải...đứng trên mô đất cao của công viên trước nhà em và anh chỉ cần nhón chân lên một chút anh sẽ nhìn thấy vịnh Victoria nằm phục dưới chân anh.

Nghe nàng tả cảnh, lòng Đồng Khuyên càng nao nức. Bây giờ chàng đang đứng đây. Chàng nhón gót mong tìm được cảm giác "Vịnh Victoria nằm dưới chân anh." Nàng quên nói cho chàng biết từ đây chỉ nhìn được Vịnh Victoria vào mùa nắng hoặc những ngày đẹp trời mà thôi. Trong những ngày sương mù vịnh Victoria chỉ là động Thiên Thai của chàng Từ Thức thuở xưa. Bây giờ, ánh nắng đang cố ngoi ngóp trong đống chăn bông nõn nà, những luồng sáng xuyên mây như cố vùng vẩy thoát khỏi một cơn ngủ nướng. Mây ửng sắc hồng, màu hồng đôi má của cô gái đương xuân xứ hoa Anh Đào Đà Lạt. Đồng Khuyên nhớ về Đà Lạt với xóm Da Thiện, với chợ Hòa Bình, với cây cầu đá đi ngang qua con đường đến Chợ. Nhũng bậc đá leo lên chợ tràn đầy kỉ niệm một thời. Đừng từ trên cao nhìn qua bên kia thung lũng, nóc chuông giáo đường chìm ngập trong sương, dưới thung lũng, thấp thoáng trong sương mù, những luống rau cải mơn mở còn ngậm nước, những cô gái quảy đôi gàu tưới thoăn thoắt bước đi giữa hai luống rau đôi tay nhuần nhuyển nghiêng thùng đổ nước. Những cô gái đầu đội nón lá, trùm kín gương mặt ửng hồng sau tấm khăn lông chống lạnh. Những đôi má hồng như trái mận khó quên trong lòng các chàng trai Sài Gòn (đa tình) sau lần viếng thăm thành phố sương mù.

Đồng Khuyên đứng đây, một thành phố sương mù, có nhiều đồi thông rất Đà Lạt. Vịnh Victoria dưới kia ẩn hiện một chút nhớ thương về bờ hồ Hồ Xuân Hương. Nhưng người con gái nơi đây, nơi thành phố vùng Tây Bắc Hoa Kỳ, không phải là người thôn nữ gánh nước tưới rau có đôi má hồng đào. Nàng đến từ Hà Nội phố. Xứ sở của 36 phố phường.

- Anh à, 36 phố phường là của các nhà văn, nhà thơ còn đối với em. Hà Nội là những ngỏ cụt, nhà thấp lè tè, mưa bên kia đổ nước xuống nhà bên đây. Là những ngày ba mẹ đã ra đi, em còn ở lại sống với ngoại. Hà Nội trong mắt ai? Anh đã xem cuốn phim phóng sự nầy chưa? Hay lắm. Hãy nên xem một lần để thấy Hà Nội bây giờ.

- Ừ, thì "Hà Nội trong mắt em" nhé. Chàng cười rất nhẹ, miệng thổi phù phù vào điện thoại.

- Anh tinh nghịch quá đi. Nàng cười rúc rích.

- Anh sẽ về, em ơi anh sẽ về...chàng ca nho nhỏ...về thăm ngôi nhà thân thiết với hàng thông xanh...

- Thôi đi ông tướng. Ca hát cái gì ông ổng như người thợ rèn thổi ống bể thế hở. Nàng cười to sảng khoái khi hạ được chàng.

- Okay. Tỉ số 2/1 nhé. Đợi đó.

Những câu chuyện không đầu đuôi vẫn tiếp diễn hàng đêm trong "Private Room." Người con gái nói về Hà Nội của nàng, và chàng nói về cánh đồng nước nổi của chàng. Nước sông Hồng bắt kịp nước Cửu Long. Phù sa màu cám pha trộn đỏ ối nước sông Hồng, cho cây vông vang ra kịp nụ. Nước sông Thương có 6 cửa chảy xuôi một dòng, và Vàm Cỏ có chia Đông Tây nhưng vẫn bắt kịp nhau ở đất Gò Công Đông cùng xuôi ra biển. Nàng kể huyên thuyên về chùa Quán Sứ, về đền Ngọc Sơn, chàng liên tu bất tận về Miễu Bà Chúa Xứ, Núi Oâng Cấm, Thạch Động Hà Tiên.

- Nè, em có biết nàng công chúa con vua Hùng Vương bị chằng tinh bắt về thạch động không?

- Biết. Sao cơ?

- Thạch Sanh nhìn thấy chim đại bàng bắt cóc nàng công chúa bay ngang qua làng, chàng liền theo dấu chim và cứu nàng ra khỏi thạch động đem nàng về với vua cha. Thạch động đó bây giờ còn vết tích tại Hà Tiên, Rạch Giá.

- Chuyện đó em có đọc, nhưng anh ăn gian. Thạch Động nào ở Hà Tiên? Giọng nàng nghi ngờ.

- Em chưa biết hả. Thạch Động ở Hà Tiên có cái động ăn thông ra biển. Ngày xưa ngưòi ta nói thả xuống đó một trái dừa thì vài ba ngày sau nó đã trôi ra bải biển đó em à.

- Hổng tin.

Giọng nàng phụng phịu và chàng biết chắc chắn hai má nàng sẽ phồng lên nủng nịu.

- Hổng tin thì thôi.

- Vậy anh có biết Hồ Hoàn Kiếm không nè?

- Dễ ẹt. Con nít học lớp ba cũng biết.

- Ờ, nhưng anh đã đăït chân đến đó chưa? Đã thấy mặt hồ in bóng những tàng cây liểu ven bờ. Có nhìn thấy cây sấu có rể lồi lên mặt đất bò ngổn ngang như đàn rắn chưa? Biết chắc là chưa mà.

Nàng cứ thao thao về những địa danh lịch sử. Và nàng chìm trong nhớ thương không vơi. Cứ thế chàng và nàng kể cho nhau nghe về hai đầu đất nước. Cho đến một hôm chàng kể ra một câu chuyện (chàng đã nghe hoặc đọc được ở đâu đó trên báo chí) một câu chuyện thật ra không nên kể.

- Anh này. Trong quê anh có chuyện gì làm anh nhớ nhất trước khi anh cất bước ra đi?

- Em thì sao?

- Em ấy à? Đã kể anh nghe hết rồi đấy.

- Anh à? Chuyện làm anh nhớ nhất hả? Nó không phải xảy ra ở bên nhà, nhưng nó ở bên nầy?

- Kỳ há. Anh kể nghe đi.

- Cũng không hẳn là hoàn toàn ở bên này. Nhưng nó kết thúc ở bên nầy.

- Thế à? Chuyện vui hay buồn?

- Câu chuyện thật bình thường, tầm thường nữa là khác. Câu chuyện về một buổi chiều mưa ở San Francisco.

- A, em biết rồi. Anh ngồi ở trong quán café nhìn mưa nhớ Sài Gòn hả?

- Em chỉ được giỏi cái tài đoán mò. Nó không hẳn vậy, nhưng cũng có khung cảnh như vậy. Nhưng có một điều không phải là anh đâu nha. Một câu chuyện anh nghe kể hay đọc đâu đó trên báo?

- Thôi được rồi kể đi. Nàng nôn nóng thúc giục.

- Ừ. Nghe nghen...câu chuyện như thế nầy.

Buổi chiều ở SF vào mùa này thường có những trận mưa phùn kéo dài. Những cơn mưa trơn trợt những con đường dốc đứng trong thành phố. Tôi thường hay ra quan Kiến Giang đầu ngõ uống café vào những lúc như thế nầy. Chiều hôm nay vẫn như thường lệ, con ngõ vắng sũng nước trong cơn mưa. Tôi ngồi im ở một góc quán nhấm nháp ly café sữa nóng nhìn màn mưa kéo dài qua các cột đèn, qua các hàng quán và nhớ Sài Gòn da diết. Trong quán có một vài ba người khách đang ăn uống, bỗng có tiếng một phụ nữ vang lên từ sau lưng:

- Ông là người Việt Nam.

- Dạ thưa vâng. Có chi không ạ. Tôi vừa quay lại nhìn người vừa hỏi, đáp lời.

- Tôi có thể ngồi chung bàn với ông không? Người đàn bà trùm kín trong lơp áo dạ, khăn choàng cổ.

- Vâng xin bà cứ tự nhiên.

Người đàn bà ngồi xuống bên cạnh, tôi để ý và nhận ra người đàn bà vào trạc tứ tuần, không có nét gì đặc biệt ngoài mái tóc dài lòa xòa trên đôi vai gầy và phảng phất nét đẹp của thời con gái còn sót lại. Tôi cứ ngở bà muốn ngồi chung bàn để có bạn nói chuyện. Nhưng không. Tôi lầm. Người phụ nữ ngồi im lặng, cúi gầm mặt xuống ly nước, không nói một lời nào sau câu xin phép ngồi chung bàn lúc ban đầu. Tôi cũng chẳng quan tâm làm gì. Ở xứ nầy chuyện một người phụ nữ đẹp ngồi chung là chuyện thường xảy ra. Và cũng có thể sau đó là một màn mời mọc nhau đi "dinner" và chuyện gì nối tiếp sau đó "Có trời mới biết." Sau phút chờ đợi người đàn bà ngồi xuống chiếc ghế đối diện, không nghe thấy bà ta nói năng gì cho nên tôi cũng chẳng quan tâm đến nữa. Cho đến khi cơn mưa vừa dứt cũng là lúc người đàn bà đứng lên bước ra cửa tôi mới ngạc nhiên về thái độ hơi kỳ quặc của bà ta. Ra đi không một lời cáo từ. Từ chỗ ngạc nhiên dẫn tôi đến sự lưu ý. Tôi nhìn theo cho đến khi bà khuất dạng sau một góc đường.

- Này, ông Kiến Giang. Bà vừa rồi là ai thế. Tôi hỏi ông chủ quán khi ông ta đi ngang qua bàn tôi.

- Bà nào? Ông hỏi thế bố tôi cũng không trả lời được.

- Thì người đàn bà ngồi chung với tôi vừa bước ra đó.

- À. Người bận áo dạ màu đen đó hả.

Tôi ngước mắt chờ đợi câu trả lời.

- Oái cái ông này. Bà điên đó mà. Ở đây ai mà không biết bà ta.

- Điên à? Tôi không dấu nỗi ngạc nhiên. Điên! Ông không nói đùa đấy chứ.

- Tôi đùa với ông làm gì? Người chủ quán quay lưng bước đi. Ông không tin tôi à? Thì ông cứ đến đây vài lần rồi khắc biết. Ông sẽ được nhìn thấy bà ta "chuổng cời" chạy nhông nhông ngoài phố.

Câu chuyện về người đàn bà nhanh chóng rơi vào quên lãng trong cuộc sống quá nhiều lo toan ở đây. Và chắc hẳn là tôi đã quên nếu không có một buổi chiều kia, tôi nhìn thấy tận mắt người đàn bà hôm trước, không mảnh vãi che thân chạy băng ngang qua đưòng cũng trong cơn mưa tầm tả. Dòng xe cộ ngừng hẳn để tránh gây ra tai nạn. Một chiếc xe cảnh sát chạy trờ tới, và rất thành thuộc trong động tác, người cảnh sát viên to lớn như hộ pháp đã bước xuống xe với một chiếc mền nhào tới vồ lấy người đàn bà và nhấc bổng lên như con gà bắt con ngóe. ông ta nâng hẳn người đàn bà khỏi mặt đất, mặc cho bà ta chòi đạp và la ú ớ những tiếng vô nghĩa. Sau đó người cảnh sát viên đã ôm người đàn bà đến một căn chung cư gần đó và tấn bà ta vào một căn buồng.

- Người đàn có chồng con gì không ông chủ. Tôi hỏi ông chủ Kiến Giang sau khi nhìn trọn hoạt cảnh gần như quen thuộc với dân chúng khu phố nầy.

- Ai mà vô công rỗi nghề đi tìm hiểu làm gì? Ông chủ quán hờ hửng trả lời và trở lại với công việc thường ngày của ông ta.

Không hiểu vì một lý do nào đó, câu chuyện về người đàn bà điên cứ xoắn tít lấy tôi không rời. Tôi định trong bụng là sẽ hỏi nơi ông chủ quán. Sau nhiều lần bắt chuyện, ông chủ quán, và nhiều người khách rất thờ ơ với câu chuyện của người đàn bà điên. Có nhiều khi tôi bị nhìn với ánh mắt ngạc nhiên

- Ông thật vô công rỗi nghề. Ông Kiến Giang đã nói với tôi như thế khi biết tôi tìm hiểu câu chuyện về người đàn bà điên.

Tôi không bỏ cuộc, và sau bao nhiêu chắp nối những điều vụn văït trong những khi nói chuyện với các khách hàng trong quán tôi có được một câu chuyện tương đối hoàn chỉnh như thế nầy. Người đàn bà trước năm 1975 là một người thiếu nữ có sắc và có học. Tuổi hoa niên của nàng như bao nhiêu cô gái Sài Gòn khác, lớn lên trong an bình, ngập tràn trong yêu đương với những mối tình lãng mạn. Cho đến một ngày vào đầu năm 1974, nàng đã yêu tha thiết một người bạn học chung trường. Chàng chưa kịp đại đăng khoa với "võng anh đi trước vòng nàng theo sau" tình tứ lãng mạn thì "chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt" đã phải "xếp bút nghiêng theo việc đao cung." Chàng vào quân trường vào một chiều Sài Gòn có mưa phùn lất phất. Mùa Xuân năm 75 chàng vừa ra trường kịp lúc theo chân các bạn đồng khóa buớc vào cửa "cải tạo" Nàng ở nhà sắc son chờ đợi và tiếp tế cho chàng, mặc dù hai người chưa có danh phận vợ chồng. Nhà nàng đã ra đi trong những ngày lộn xộn của Sài Gòn. Nàng quyết ở lại cùng chàng chia nhau ngọt bùi. Mối tình thật đẹp. Vài năm sau, nàng đã lo lót được cho chàng ra tù và chuẩn bị cùng nàng vượt biên xây tổ ấm ở nước ngoài. Ngày chàng ngơ ngác trở về thì mọi chuyện đã có nhiều thay đổi. Chàng như lạc lõng giữa Đô Thành hoa lệ ngày xưa. Nhìn người xưa chỉ còn lại đôi nét của thời hoa mộng ẩn khuất đâu đó trên mái tóc dải dầu, trên đôi má rám nắng.

Gia cảnh nàng không giàu có, nhà chàng cũng suy sụp hơn xưa. Nhưng tại sao nàng có tiền để lo lót cho chàng ra tù và chuẩn bị chuyến vượt biên? Chàng mang nỗi thắc mắc trong lòng cho đến một đêm hai đứa năm chờ trên bãi biển đợi "taxi" vào rước ra "cá lớn" chàng không chịu đựng được nữa.

- Trước khi chúng ta ra đi. Anh có một nỗi thắc mắc mang hoài trong lòng chưa giải đáp được. Trước khi từ giả quê hương em có thể nói cho anh biết được không? Em lấy đâu ra được 2 lạng vàng lo cho anh "ra trại" và tiền của đâu cho chuyền đi nầy?

- Em biết nỗi khoăùc khoải thắc mắc của anh. Em sẽ kể một khi nào thuận tiện. Hôm nay anh hỏi, thì, em xin được thưa thật để giải tỏa một lần cho xong. Anh biết đó, em là con gái mới lớn, chưa lập gia đình, và ba mẹ thì đã ra đi. Em làm gì có tiền thăm nuôi và lo lót cho anh. Em có theo người ta buôn bán nhưng làm sao có đủ. Của ba má để lại bán lần hồi cũng hết em chẳng còn gì để bán.

- Vậy tiền đâu em có? Người con trai gằn giọng.

- Em đã bán...Anh nghĩ coi. Em còn cái gì quý giá để bán lo cho chúng ta?...Em thú thật...em... em đã bán đời con gái để đổi lấy hạnh phúc cho chúng ta về sau.

Người thanh niên nghe như đất trời quay cuồng và sụp đổ. Anh thảng thốt kêu lên như không tin ở tai mình:

- Em đã bán...đã bán đi cái đời con gái của em?

Người con gái cuối đầu. Người thanh niên chết lặng. Trời trồng; trong khi đó chiếc "taxi" đã rọi đèn làm hiệu, mọi người âm thầm rời chỗ ẩn náu để lên ghe. Người con gái vỗ vai người con trai nhắc nhở:

- Chúng ta đi anh. Tàu đã đến rồi.

Chiếc tàu đã rời bến, lặng lẻ xẻ nước hướng ra biển đông, tại bãi đáp vẫn còn hai bóng người đứng lại. Người con trai nhất định không đi. Người con gái thương chồng không thể bỏ lại.

Vài ngày sau, tại nhà, người đàn ông đã tự tử để lại một bức thư ngắn gọn có nội dung như sau "Anh xin lỗi đã làm cho em trễ chuyến tàu. Em ơi, anh đi làm gì khi không có em bên anh. Anh ra đi là muốn mang em theo cùng, mang theo một trời hạnh phúc bên em. Nhưng làm sao anh quên được chuyện gì đã xảy ra. Vĩnh biệt em... Người tình bất hạnh."

Và sau đó người đàn bà đã vượt biên đến được Hoa Kỳ, sau nhiều tháng ngày lang thang một vài nơi , bà đã định cư tại SF và đó là người đàn bà điên.

Tôi định bụng sẽ gặp bà để nói chuyện. Sáng nay, một buổi sáng không được tốt trời. Cơn mưa đã đổ ập xuống thành phố từ tinh mơ. Tôi rời nhà ra quán tìm chút hơi ấm với hương vị ngan ngát mùi café. Đến ngã tư đường có đám đông đang vây quanh một vụ tai nạn xe hơi, tôi ghé mắt trông vào. Người đàn bà trần truồng nằm dưới mưa. Mọi người chỉ trỏ. Bà điên.

Tôi thẩn thờ rời đám đông đi thẳng đến quán Kiến Giang. Hôm nay quán vắng khách. Ông chủ quán ngồi sau quày tính tiền đang gõ máy lách cách. Tôi bước vào, ông nhướng mắt nhìn lên và thản nhiên cuối xuống chiếc máy tính tiếp tục làm việc. Người hầu bàn mang ra một ly café. Tôi chưa uống vội. Hương café tràn ngập căn phòng ấm cúng, ngoài trời cơn mưa vẫn tiếp tục bay qua cửa kính. Tôi thẩn thờ đến bên ông chủ đang ngồi sau bàn tính.

- Ông ạ.

Người chủ quán ngước lên chờ.

- Bà điên vừa mới bị đụng xe ngoài kia ông ạ.

- Tưởng chuyện gì.

Nhìn thấy thái độ không mấy ngạc nhiên hay vồn vả biểu đồng tình của ông chủ Quán (dù cho đó là hành động làm dáng). Tôi quay lại bàn ngồi và nhìn ra ngoài trời, cơn mưa vẫn chưa ngớt hạt.

Bỗng có tiếng động sau lưng. Ông chủ bước đến gần vỗ vai tôi.

- Ông hay lo nghĩ những chuyện vớ vẩn. Chuyện người đàn bà điên bị xe đụng có gì đáng quan tâm lắm đâu. Chuyện đó bình thường thôi. Ở đây còn có nhiều chuyện đáng quan tâm hơn sao ông không nói.

Ông chủ thản nhiên cười và quay đi. Nhìn gương mặt ông không tỏ lộ một chút gì gọi là xúc động-dù giả dối. Gương mặt bình thản đến độ lạnh lùng. Gương mặt nó không đểu nhưng chai lì làm sao. Tôi chợt rùng mình."

Đó là câu chuyện anh muốn kể cho em nghe. Nàng im lặng...mọi sự nhạt nhòa...

Mọi tiếng động đều im bặt chỉ còn một tiếng thét thật to của thằng bé đang năm trên giuờng bệnh. Đồng Khuyên giật mình trở về với căn phòng bệnh viện và đứa bé chàng phải trông coi trong đêm nay.

Lê Việt Điểu

 

Saturday, February 28, 2026

Người Đi Không Về - Nguyễn Đạm Luân

 Người Đi Không về




Dì Tôi Người Nữ Tu Bạc Mệnh - Thuyên Huy

Dì Tôi – Người Nữ Tu Bạc Mệnh

     Đứng trước ba nấm mồ đất, nằm cạnh bên nhau, cuối góc sân sau nhà, hai của ngoại và má, đất đã khô cằn, lẻ loi hai ba bụi hoa dại trắng cố chen kẻ nứt vươn lên, một của dì ba , còn thơm mùi đất bùn, vừa đấp hai ngày qua, mấy cây nhang thơm mà dì mua trên chợ xã, để cúng ngoại cúng má từ ngày đó đến giờ, cắm chia đều ba bên, lập lòe cháy trước ba tấm mồ bia bằng gỗ, do bác thợ mộc nhà đầu xóm bên bờ này sông khắc giùm, có họ tên, không có hình, cũng như ba ngày qua, sau ngày đám tang dì, đám tang không kèn không trống nhưng có được tiếng cầu kinh, làm phép giải tội của ông cha già, cha xứ cái nhà thờ nhỏ, ở cuối con đường ngang bến xe xã, tôi không khóc nhưng nước mắt cứ ứa ra, tràn xuống mặt, nghẹn lời, môi mặn đắng.

*

   Chưa quá hai tuổi thì ba đã bỏ đi xa, đi không về, từ đó. Nghèo nhưng trời còn thương, nhà vách ván mái tranh, có được miếng đất sau tốt, ba bốn bụi chuối già quằng trái, má và dì trồng cả chục luống khoai lang khoai môn, nên bán cũng kiếm được, không thiếu không dư.




   Không may, má tôi mất vì bệnh xơ gan bộc phát sau mấy ngày mấy đêm, hết nhà thương quận tới nhà thương tỉnh, bà ngoại chôn má ở xéo góc cuối miếng đất trồng khoai, ở đó chừa ra một khoảng trống, theo lời ngoại là để dành sau này cho ngoại nằm ngủ, hôm đám tang, người lớn khóc, trong tay dì tôi cũng khóc, với cái tuổi con nít lên năm, cứ khóc như những lần khóc đòi ăn đòi bú vậy thôi.

    Dì ba Thắm học tới lớp đệ Ngủ trường dưới quận rồi nghỉ, ở nhà phụ  ngoại già yếu quá rồi, nhà chỉ còn ba bà cháu, nhà có cái xuồng ba lá, mà má và dì thường chèo hái bông Súng ngoài sông lớn. Sau ngày nghỉ học, sáng sớm hừng đông dì chèo xuồng chở khoai lang khoai môn, năm ba nải chuối, cộng thêm ba mớ xà lách, cà tím cà chua, dưa leo trồng được ở nhà qua bên kia sông, cột xuồng ngay cái cầu cây cũ, gánh lên chợ xã bán, tan chợ, chèo xuồng về, cất dọn, lo cơm lo nước, từ chỗ này lên chợ xã gần xịt, gần hơn là đi theo con đường dọc bờ sông xóm nhà tôi bên này lên tới cây cầu đúc xi măng bắt ngang, nếu không ở đầu trên, bà con đi chợ quá giang xuồng dì, mới đầu quá giang, riết rồi với người bên này bên kia qua lại, dì tự nhiên trở thành cô lái đò ngang dễ thương dễ mến, có tiền họ trả cho mỗi lần qua lại.

*

    Xóm tôi ở bên này nhánh sông, bên kia sông là chợ xã, có bến xe lam chạy xuống quận, trường tiểu học nằm sau chợ xã không mấy xa. Xóm có chừng trăm nhà, nghèo như nhau, phần lớn làm ruộng, nhà nằm không xa không gần cạnh bờ sông, cái tranh cái ván, ngó ra con đường đất chạy dọc theo bờ tới cái cầu xi măng đúc, cách mấy cái nhà đầu xóm chừng đâu đó chắc hơn một hai cây số, ở trên đó có cái nhà làm bún và cái khác làm bánh tráng, tương đối tiền ra tiền vô, có xe đạp xe kéo. Trong xóm có chừng hơn hai chục đứa trai gái, cùng học trường tiểu học xã, mấy đứa gần nhà thì cùng tôi theo xuồng dì đi học, đám ở đầu trên lội bộ qua cầu, ngày qua tháng lại, xuân hạ thu đông, nắng sáng mưa chiều, cứ vậy, xóm bên này nhà tôi vẫn là xóm nghèo.

    *

    Tôi lên lớp Ba trường xã thì ngoại mất, mất vì tuổi già chứ không vì bệnh như má, mồ ngoại chôn bên cạnh mồ má, bây giờ tôi mới hiểu, lời ngoại khi chỉ miếng đất kế bên mồ má, để ngoại ngủ có nghĩa gì. Ngoại mất nhà chỉ còn lại hai dì cháu, dì ba lúc bấy giờ chắc cũng hơn hai mươi, dì ba đẹp lắm, tôi không biết đẹp như thế nào nhưng bà con hàng xóm ai cũng nói như vậy, bên chợ làng cũng có nhiều anh chàng ngắm nghía, hỏi qua lời lại nhưng dì chỉ cười, không nói gì thêm, có một vài gia đình, bên chợ cũng như người quen hàng xóm,  nhờ người nhắn tin, muốn dạm hỏi dì, dì cười luôn miệng bảo “chờ dì nuôi tôi học xong trung học, tới chừng đó dì mới tính chuyện vợ chồng nếu họ còn chờ được”, hơn mười năm nữa, liệu người ta có chờ hay dì đã quá tuổi xuân rồi, ai biết.

    Ở nhà, bên chợ, hai dì cháu hủ hỉ với nhau, tôi cũng bắt đầu biết buồn hơn, biết nhớ má hơn từ những ngày tháng đó. Dì an ủi dỗ dành mỗi khi nhắc tới bà tới má, bên nhau lúc nào dì cũng nhắc đi nhắc lại là dì sẽ không đi đâu, sẽ ở đây với tôi như đã nói với người ta, chòm xóm. Ngày qua ngày đời sống của dì cháu cứ vẫn vậy, giỗ má giỗ ngoại cũng một dì một cháu, cây nhang, chùm bông trước mồ cũng một cháu một dì.

*

   Năm tôi lên đệ Nhị trường quận, dì vẫn sớm trưa hai chuyến xuồng đi về như ngày cũ, dì bây giờ trông già hơn trước, thấy mà thương, thương không biết nói sao cho vừa, nhưng vẫn đẹp, bà con đều nói vậy, và dì thường đi lễ chiều, ở cái nhà thờ cũ, nhỏ trên bến xe xã, có ông cha xứ già, người làm phép giải tội cho ngoại cho má về cỏi Chúa, thường hơn và vui hơn, vui mà hỏi thì dì chỉ cười, cái cười trọn tình của mẹ.

   Đậu tú Tài Một, rồi Hai, tôi vẫn đi về căn nhà xóm nghèo bên sông cũ, dì bớt chèo xuồng qua chợ hơn, xem ra dì đang chuẩn bị, lo lo cái gì đó mà dì không nói nhưng không buồn, hảnh diện với chòm xóm, có thằng cháu sắp vào Đại học dưới Sài Gòn, xã này không có mấy ai.

   Hôm xuống Sài Gòn lo chỗ ăn chỗ ở đi học dì cũng cùng đi, cũng nhờ ông cha già nhà thờ xã giới thiệu chỗ cho học trò ở trọ của nhà thờ Đắc Lộ, ngã tư Bảy Hiền, mọi việc êm xuôi, hai di cháu ra làm quen với đường phố ngựa xe như nức áo quần như niêm của Sài gòn phồn hoa đô hội, ăn bữa cơm chay mà ngon bên đường Hàm Nghi rồi trở ra bến, chờ chuyến xe đò cuối ngày về lại nhà.

*

   Một chiều nắng muộn, vài ngày trước khi xuống Sài Gòn vào học, ngồi bên nhau trên cái gốc cây cũ mà hai dì cháu thường ngồi, nhìn đám lục bình rực đầy bông tim tím trên nhánh sông quê chầm chậm, lững lờ trôi, lần đầu và cũng là lần đầu, tôi thấy có đượm một chút buồn trong mắt dì, dì nhìn tôi thật lâu, mĩm cười rồi cho biết, “lời nguyện lo cho con ăn học tới chốn tới nơi dì đã làm tròn, hai dì cháu sống đùm bọc, sẻ chia buồn vui cũng trọn vẹn, tất cả nhờ ơn Chúa, với dì như vậy là đã đủ mãn nguyện, bụi hồng trần, tuổi xuân thì với dì chỉ là phù du cát bụi, dì đã chọn đường tu và chi có đường tu mới cho dì hạnh phúc. Dì sẽ vào chủng viện dòng nữ tu “Mến Thánh Giá” trên Đà Lạt, mọi việc đã sắp xếp xong hết rồi, ở nhà con thay mặt dì, trông coi trước sau, luôn nhớ đốt nhang, châm nước cho mồ ngoại và má, mỗi khi nghỉ học về lại nhà, luống khoai, cụm cải, dây cà không cần lo, thấy buồn thì tưới cho vui, dì đã nhờ thiếm sáu nhà bên cạnh lo giùm, khi có trái có củ, thiếm cứ nhổ, hái, đem đi bán tiền bạc đưa cho con, bao nhiêu  cũng được, con biết rồi thiếm sáu tốt bụng lắm, ngày giỗ ngoại giỗ má dì sẽ về, con yên tâm, hai dì cháu, ngoại và má, cả gia đình mình chung vui”.

    Dì ngưng nói, nhìn ra trời xa xa rồi nhìn chiếc xuồng ba lá, chiếc xuồng đã cùng dì buồn vui hơn nửa đời người, cột lững bên gốc cây Bình Bác dưới bờ sông trước nhà, vài vệt nắng chiều tàn bỏ đi muộn chiếu ngang, mắt dì đỏ hoe, rươm rướm lệ. Tôi bật khóc thành tiếng.

*

    Ngày đi, hai dì cháu dậy sớm hơn thường ngày, ăn sáng với mấy củ khoai lang mà dì nấu hôm qua, coi qua coi lại đồ đạc đem theo, thật ra cả hai dì cháu không có gì mà phải coi , tôi thì một túi vải hơi lớn, mấy bộ đồ, năm ba cuốn sách và mấy thứ đồ dùng cá nhân lặt vặt, dì chắc ít hơn, chỉ thấy gọn gàng một túi xách nhỏ, vậy thôi. Dì đi ra sau tới trước, coi lại cửa nẻo, tôi đứng nhìn, xong xuôi, dì lấy trong túi xách ra một bao vải cở bằng cái bóp đựng giấy tờ, căn cước linh tinh của tôi, hai dì cháu ngồi xuống bàn giữa nhà, cái bàn vừa là bàn ăn vừa là bàn học, dì đưa cho tôi cái bao vải, từ tốn nói nhỏ “ trong này là số tiền dì dành dụm từ đó đến nay, không nhiều lắm nhưng tiện tặn thì không phải lo, dì cho con giữ để phòng thân, dì đâu có cần nó nữa”, tôi nhìn dì, nghẹn lời, một lần nữa bật khóc như đã có lần khóc. Mặt trời rựng hồng lên bên kia sông, ngang qua nóc nhà lồng chợ xã, hai dì cháu tay cầm tay mang hai túi vải, thả bộ ngược lên đầu trên xóm, qua cầu tới bến xe lam đi xuống phố quận, ở đó, đón chuyến xe đò lỡ sớm đi Sài Gòn.




*

   Trên bến, hành khách lần lượt lên, chuyến xe đò Đà Lạt Sài Gòn, quá giữa trưa rục rịch nổ máy, dì nắm tay, dặn dò ráng học mấy lần, hứa sẽ về ngày giỗ của má của ngoại, nước mắt tôi ứa ra, môi tôi mặn đắng, tôi ôm chầm lấy dì, không cầm được lòng, cố nén nhưng bật khóc. Xe chầm chậm ra đường, dì vẫy tay, tôi đứng chết trân, gật đầu, gọi vọng theo “dì ơi, dì ơi”, hai dì cháu xa nhau từ đó, thui thủi trở lại đón xe lam về Bảy Hiền.

    Đêm đó tôi thức suốt tới sáng, cứ nhớ cứ thương dì vô hạn, biết bao giờ, khi nào mới đền đáp được công lao nuổi dưỡng thay cho tình người mẹ suốt nửa đời thanh xuân, để rồi, tôi không dám nghĩ xa hơn. Từng hồi nhẹ nhàng lễ sáng, chuông nhà thờ Đắc Lộ vang vọng lên, trầm trầm, chầm chậm, ngã tư Bảy Hiền thức giấc.

*

    Ngày giỗ má, giỗ ngoại dì không về, nhận được thư dì gởi về trước đó mấy ngày, cho biết, dì không được phép của mẹ bề trên theo quy luật và nội quy của chủng viện, dì viết biết tôi buồn lắm nhưng dì cũng không hơn, cuối thư cho dì xin lỗi, dặn tôi ráng lo thay dì, nhứt định năm sau sẽ về.

    Bữa cúng giỗ của má của ngoại, lần nào cũng vậy, từ Sài Gòn về, tới đâu đó cũng quá trưa, tôi ghé ngang qua cái tiệm cơm bên bến xe xã, mua nửa con gà luộc, tô cơm trắng, miếng thịt heo nướng, tạt ngang quán mua thêm vài cái bánh ngọt, cái quán ngày còn học trường làng mà tôi và đám bạn giành nhau mấy cái bánh tai heo giòn mỡ, chờ trống trường vào học sáng. Vậy đó, lần nào cũng vậy, ngồi nhìn mâm cúng trên bàn, nhìn nhang lập lòe cháy rồi nhìn ra bờ sông, cũng như ngày dì ra đi, cái xuồng ba lá cột lững bên cây Bình Bác cằn cỗi vẫn nằm im chờ người mà buồn dịu vợi. Má, ngoại có về nhưng không có dì như đã hứa, chắc má, ngoại cũng buồn như tôi.

*

    Trên đường về Sài Gòn, dì mất vì một tai nạn đụng xe trên đường tới đèo Chuối, Bảo Lộc, trong một buổi sáng mù sương, mưa như trút nước, mất ngay cái ngày mà dì đã chuẩn bị mấy hôm qua, về để làm giỗ má như đã hứa. Người ta đưa xác dì về chủng viện, tẩm lịm, rồi họ nhờ sự giúp đở của chính quyền tỉnh, quan tài và những thứ còn lại của dì, được chở về Sài gòn trên chiếc phi cơ vận tải quân sự C130.




     Buổi chiều, sau giờ cơm, ngồi bên bàn học, tôi ngã quỵ xuống sàn nhà, tim tưởng như ngừng đập, ràng rụa nước mắt khi nghe bác giám thị báo tin, bác đứng chết lặng, đỏ hoe mắt, bác chờ tôi bình tỉnh lại, bỏ ra ngoài, bước từng bước chậm khập khễnh xuống cầu thang. Rụng rời tay chân, cố đứng lên, vịn tay trên thành khung cửa sổ, nhìn xuống, ngã tư Bảy Hiền đường đông nghẹt người. Nghẹn ngào, sướt mướt, vuốt mặt, tôi khóc “dì ơi”.

*

    Từ nhà thờ, sau khi làm đủ các phép giải tội, ông cha già cha xứ và tôi theo chiếc xe lam nhỏ, đưa quan tài, chạy chậm, qua cầu, men theo đường bờ sông về nhà, mấy chú bác hàng xóm, những người đã phụ giúp việc chôn cất ngoại và má trước đây, lại một lần nữa chôn cất dì, ba ngôi mồ nằm cạnh nhau, cùng một mùi đất nhà. Xong xuôi, mọi người bỏ đi rồi, ông cha già nắm tay từ giã ra về, chiếc xe lam quay đầu trở ra đường cũ, tôi đứng nhìn theo ông, nát lòng buồn.

*

    Trời dịu nắng, có chút mây mùa thu lãng đãng về gần, bên kia sông,  mấy cây nhang trước mồ tàn từ lâu, những lời van vái má, ngoại, dì yên nghỉ lập đi lập lại mấy lần, không biết nói gì thêm nữa, đau buồn khôn xiết nhưng cũng đành thôi, có tiếng chuông nhà thờ bên chợ xã vọng về, chiều lưng lửng xuống, thui thủi một mình, chấp tay xá lạy, căn nhà lặng vắng, tôi vĩnh viễn mất dì, dì tôi, người nữ tu bạc mệnh từ hôm đó.

 

Thuyên Huy

Một ngày mưa 2026

   

  

  

     

 

  

Ánh Trăng Thề - Vườn Thơ Mới Xướng Họa

 THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 186_VƯỜN THƠ MỚI

 


 

 












Xướng:


Ánh Trăng thề

Quê tôi nước Việt mến yêu
Ngàn năm văn hiến bao triều đại xưa
Nắng chiều nghiêng ngả hàng dừa
Bầy trâu tắm mát lưa thưa mục đồng

Mái nhà thấp thoáng bên sông
Cánh diều bay bổng quanh vòng con đê
Nhớ xưa dưới ánh trăng thề
Có đôi bạn nhỏ a ê học vần

Thanh bình chưa được bao xuân
Bổng nhiên chinh chiến ngập tràn quê hương
Gây bao nhiêu cảnh tang thương
Tài trai tuổi trẻ lên đường đấu tranh

Đêm nay trăng chiếu qua mành
Có tâm hồn nhỏ đợi anh trở về
Người từ ngàn dặm sơn khê
Lặng nghe tiếng gió tư bề xuyến xao
Hương Lệ Oanh VA

Họa 1:


Đêm trăng

Quê tôi phong cảnh đáng yêu
Nhớ công Nam tiến quan triều thuở xưa
Ban đêm trăng rọi bóng dừa
Vi vu gió lọt rào thưa ra đồng

Lững lờ dòng nước trên song
Quanh qua lượn lại theo vòng bờ đê

Nghe ca tân cổ hẹn thề
Hòa trong giọng trẻ o ê đánh vần

Bốn năm êm ả đón xuân
Thanh bình trổi dậy lan tràn dư hương
Thế rồi chiến sự bi thương
Mậu thân ở khắp nẻo đường giao tranh

 

Tháng giêng gió đẩy mành mành
Ngắm trăng mơ ước chờ anh quay về
Thương người băng dặm hàm khê
Đứng lên ngồi xuống bốn bề lao xao

PTL
Hẹn thề: Tân cổ "Lỗi hẹn câu thề" của Loan Thảo

 

Bốn năm: thuở thanh bình 1956-1960, thời đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa
hàm khê
含谿 : động núi

 

Họa 2:

 

Giấc mơ vụn dại


Mười lăm tui đã biết yêu
Thả hồn theo nước thuỷ triều bến xưa
Nghiêng nghiêng chiều ngã bóng dừa
Gió lay nhè nhẹ lưa thưa ngô đồng

Bóng hồng chợt đến bên sông
Thướt tha chân bước lượn vòng trên đê
Say sưa ngắm mái tóc thề
Thẩn thờ như trẻ à ê đánh vần

Đẹp sao cái tuổi thanh xuân
Như vườn hoa đẹp ngập tràn sắc hương
Tim tui đập nhịp yêu thương
Nghĩ về tổ ấm Thiên Đường mái tranh

Đêm đêm trăng khuyết xuyên mành
Đùa dai ôm miết chân anh không về
Ham chơi anh để cơm khê
Khói đen khét nghẹt tư bề xôn xao

THT


Họa 3:


Xuân này anh không về

Ai về Vàm Cỏ thân yêu
Dừng chân ngắm cảnh thủy triều bãi xưa
Xa xa in bóng rừng dừa
Tây Ninh nền cũ còn thưa chợ đồng


Nhà ai thấp thoáng bờ sông
Có đàn chiền chiện bay vòng chân đê
Đêm nghe tiếng hát câu thề
Hòa cùng giọng đọc i, ê đánh vần

Yên bình chẳng được mấy xuân
Chiến tranh bùng nổ, khuất dần quê hương
Khăn tang phủ kín người thương
Trai làng hăng hái tìm đường đấu tranh

Đêm nay sương đẫm vai mành
Ta ngồi đợi mãi sao anh không về
Bụi đường mấy nẻo sơn khê
Ly Tao mộ khúc tứ bề luyến xao !!!
Nguyễn Cang 

Feb. 11, 2026

Họa 4:

 

Non nước hữu tình

Hoàng Sa đảo biển tôi yêu
Trường Sơn đất Việt vương triều ngàn xưa.
Miền Nam bát ngát ruộng dừa
Trung phần san sát rừng thưa thớt đồng

Thị thành luôn tựa ven sông.
Thủ đô Hà Nội đường vòng quanh đê
Xưa đôi trẻ tập ước thề
Tuổi thơ bập bẹ y..ê..( ) Đánh vần!

Thoáng nay ngoài tám mươi xuân
Tha phương vọng ngóng bội phần ngát hương
Quê nhà trăm nhớ ngàn thương
Bởi đâu chinh chiến đôi đường phân tranh?

Gió xuyên lá xót đưa mành
Nắng soi thấu dạ… Em anh cùng về.
Dặm trường bảo tuyết nhiêu khê
Tình non nghĩa nước một bề không xao!

Tâm Quã

 

Họa 5:

 

Thương một trời quê


Nước non ngàn thuở mãi yêu,
Mở mang bờ cõi trăm triều xa xưa.
Vườn cây xoài mận ổi dừa,
Cánh diều lơi lả khói thưa đốt đồng.


Phù sa bồi đắp ven sông,
Kênh mương dẫn nước chảy vòng chân đê.
Thương sao những mái tóc thề,
Trường xưa lớp cũ i ê ráp vần.


Tuần hoàn thu mãn chờ xuân,
Mạ xanh mơn mỡn dâng tràn thơm hương.
Núi sông đã lắm đau thương
Máu hồng xương trắng nhuộm đường chiến tranh.
Lung linh nắng rọi xuyên mành


Trời quê thương mến hỏi anh có về?
Dẫu là gạo hẩm cơm khê,
Giậu rào xiêu đổ trăm bề lao xao…
Minh Tâm

 

 

Kiếm Hiệp Feuilleton - Ký Ức Môt Thế Hệ - Vũ Thế Thành

 

Kiếm Hiệp Feuilleton – Ký Ức Một Thế Hệ

 

Đây là bài mở đầu cho loạt bài “mượn kiếm hiệp Kim Dung để nói chuyện đời”, mà sẽ nói lai rai cả năm, viết tùy cơn hửng, không định kỳ gì cả.

Vũ Thế Thành

 


Truyện kiếm hiệp đầu tiên tôi đọc feuilleton, không phải là kiếm hiệp Kim Dung, mà là “Lệnh xé xác” của Lã Phi Khanh (hình như đăng trên nhật báo Tia Sáng).Truyện này không có gì hay ho lắm, chỉ toàn tung chưởng sấm sét, hoang đường, nhưng nghiện chữ thì cái gì cũng đọc, kể cả tin tức thời sự.

Nhờ đọc báo dạo ở mấy tiệm hớt tóc, mà tôi biết đến kiếm hiệp Kim Dung. Hồi đó báo chí trong nước bắt đầu khởi đăng “Tiếu ngạo giang hồ”, sau đó là Lộc Đỉnh Ký, kéo dài cả 4-5 năm. Còn các bộ truyện khác của Kim Dung như Anh hùng xạ điêu, Thần điêu đại hiệp, Cô gái Đồ Long, Thiên Long bát bộ… thì tôi thuê truyện về đọc.

Nhựt báo ở Sài Gòn hồi đó ra buổi chiều, chứ không sáng sớm như bây giờ, khoảng bốn giờ chiều là báo đã lên sạp. Tan sở, nhiều người bu vào sạp báo, đa số là những con nghiện feuilleton kiếm hiệp. Một thằng nhóc như tôi không có cửa để đọc báo chùa tại sạp báo. Vì sao? Đọc báo ở sạp phải trả phí, dĩ nhiên thấp hơn nhiều so với giá mua báo. Chủ báo rên quá trời, vì trưa hôm sau báo bán không hết trả về kho, nhưng làm gì được nhau? Đọc báo ở tiệm hớt tóc thì chậm lại một chút, vì phải chờ tới phiên mình.

Feuilleton kiếm hiệp, mỗi bài chỉ cỡ 1.200 chữ, đọc không quá 5 phút là xong. Đó là đọc “tiếc nuối”, đọc đi đọc lại 2 lần. Nghĩ coi! Đang hồi gay cấn mà đụng phải hai chữ ba trợn trong ngoặc đơn…“còn tiếp” thì ấm ức cỡ nào. Đành chờ đợi hôm sau…

Đọc kiếm hiệp Kim Dung, bạn có thể thích bộ truyện này, nhân vật nọ, nhưng để đi tới đỉnh cao nghệ thuật viết truyện kiếm hiệp lại là chuyện khác. Khi đọc xong Lộc Đỉnh Ký, tôi đoán, bút lực của Kim Dung đã lên tới đỉnh cao, ông sẽ không thể viết được nữa. Nếu trong Tiếu ngạo giang hồ, ông đã để chính tà lẫn lộn – trong chính có tà, trong tà có chính,  thể hiện qua khúc ca “Tiếu ngạo giang hồ”. Thì trong Lộc Đỉnh Ký, tất cả bộ mặt của xã hội, đen – trắng – xám,  ông nhét hết vào trong một con người – tên nhãi ranh Vi Tiểu Bảo.

Đúng vậy! Sau Lộc Đỉnh Ký, Kim Dung lui về nhuận sắc lại các tác phẩm của mình. Viết theo kiểu feuilleton (đăng báo từng kỳ), nên dễ sơ sót về logic, nhân vật, hoặc cốt truyện. Chẳng hạn trong Tiếu ngạo giang hồ, bản feuilleton có chi tiết về bí kíp Quỳ Hoa Bảo Điển do một cặp vợ chồng sáng tạo ra, dĩ nhiên là không cần phải thiến để luyện tập. Kim Dung đã quên khuấy tình tiết này, nên phần sau ông tỉnh bơ cho rằng, để luyện Tịch tà kiếm phổ (một phần của Quỳ Hoa Bảo Điển), người luyện cần phải thiến. Trong bản nhuận sắc, Kim Dung đã bỏ đi tình tiết Quỳ hoa bảo điển do một cặp vợ chồng tạo ra.

Nhưng có một nhuận sắc mà Kim Dung làm đã làm tôi… lùng bùng. Đó là ông sửa tên một số nhân vật, chẳng hạn Triệu Minh thành Triệu Mẫn, Lý Mạc Thu thành Lý Mạc Sầu,… Việc ông sửa tên nhân vật có thể do phát âm thuận tai với ngôn ngữ xứ ông, hoặc ý nghĩa của tên tương xứng với cá tính nhân vật, hoặc giai thoại nào đó. Tôi mù tịt tiếng Hán nên không dám xía vào. Có điều phiên âm qua tiếng Việt vẫn chưa lọt tai những độc giả feuilleton một thời như tôi. Đến giờ

Các bản dịch sau này dựa trên bản Kim Dung đã nhuận sắc lại, nên hợp lý hơn về nội dung. Bản dịch Việt ngữ sau này của các dịch giả cũng trau chuốt hơn, và Việt hóa nhiều hơn so với bản dịch chớp nhoáng feuilleton.

Dù sao, tôi vẫn thích bản dịch feuilleton hơn, nhất là, qua ngòi bút chuyển ngữ đầy chất giang hồ của Hàn Giang Nhạn.

Nói tới Hàn Giang Nhạn, tôi xin liều mạng làm thợ vịn, “bắt quàng lạm họ” (theo nghĩa đen). Hàn Giang Nhạn là ông thầy tôi, dạy tôi năm đệ thất (lớp 6 bây giờ). Ông tên thật là Bùi Xuân Trang. Con ông là Bùi Thiếu X, học chung lớp với tôi. Ông không dạy tụi tôi môn nào cả, mà là giám thị khối lớp đệ thất.

Công việc của giám thị khá nhàn nhã: mỗi giờ ghé các lớp điểm danh. Sơ đồ lớp đã có sẵn, chỉ cần đếm đầu học sinh điểm danh. Thông thường học sinh ngán thầy giám thị hơn thầy dạy, vì đó là “đối tượng” tụi tôi phải đối phó với kỷ luật. Phiền nhất là phải mang giấy mời phụ huynh đến trường “làm việc”. Nhưng thầy Trang quá hiền, chưa bao giờ nhắc nhở bọn tôi điều gì. Có lẽ học sinh đệ thất vẫn còn khá ngoan, chưa đủ thời gian thành…quỷ.

Thầy Trang dáng cao ráo, gầy, lưng hơi khòm một chút. Ông ăn mặc như công chức thời Tây, lưng quần xắn cao, trông rất lẩm cẩm… cù lần. Mặt mũi tươi cười khi bước vào lớp. Dĩ nhiên tươi cười với thầy cô đang lên lớp, chứ không phải với bọn học sinh cắc ké. Thiệt tình, lúc đó tụi tôi đâu biết mình đang đối diện với thứ dữ Hàn Giang Nhạn. Trong con mắt bọn tôi, thầy giám thị Trang thật mờ nhạt, có thằng còn không nhớ tên ông là gì.

Còn thằng con ông, học chung lớp, dĩ nhiên bọn tôi nhớ chứ. Nó cao lêu khêu, cao còn hơn ba nó, lưng hơi khòm. Lại còn ngồi bàn đầu, dãy giữa, đối diện với bàn thầy cô. Tụi tôi nhiều thằng chọc ghẹo nó hơi quá, nhưng nó hiền, ít khi phản ứng. Nghe nói bây giờ nó đang ở Mỹ. Vài bạn TL tìm cách liên lạc với nó, nhưng không thể. Hỏi thăm loay hoay thế nào lại liên lạc được với ông anh lớn của nó (nếu còn sống, cũng gần chạm đến tuổi 90). Hỏi thăm mới biết thêm nhiều chuyện ly kỳ quanh cuộc đời của Hàn Giang Nhạn. Mà thôi, đó là chuyện không thể kiểm chứng, lại là chuyện riêng tư, không tiện nói ra đây.

Sau này, tôi ngồi chuyện vãn với “Ông thầy Việt Văn” mới biết, thầy Trang tốt nghiệp sư phạm từ hồi còn ngoài Bắc. Vào Nam, thầy dịch nhiều bộ sách cho Bộ Giáo Dục. Nhưng dịch những bộ truyện kiếm hiệp mới tạo dấu ấn cho sự nghiệp của thầy với bút danh Hàn Giang Nhạn. Hồi “dạy” bọn tôi, thầy đã khá nổi tiếng, nhà trường thu xếp để thầy làm giám thị, công việc nhàn nhã để có thời gian dịch thuật. Các thầy cô trong trường đều rất quý mến và nể phục tài nghệ của Hàn Giang Nhạn, nên không có gì suy bì.

Trường TH Trần Lục nơi tôi học là trường công lập. Làm giáo sư trường công không phải là chuyện dễ, sớm muộn sẽ là công chức chính ngạch. Lương không phủ phê, nhưng dư sống, và được xã hội kính trọng. Thầy Trang vì vậy không thể bỏ công việc ổn định, dù lúc đó kiếm ra tiền khá bộn nhờ dịch feuilleton.

Có người nói, đọc truyện kiếm hiệp Cổ Long hay hơn Kim Dung – Tùy khẩu vị mỗi người, không thể tranh cãi đúng sai. Theo cái nhìn của tôi, Cổ Long phân tích tâm lý nhân vật có tính bài bản, học thuật hơn. Tình tiết câu chuyện cũng biến hóa có mùi vị trinh thám phương Tây.

Trong khi kiếm hiệp Kim Dung, có tính sử thi, bao gồm cả lịch sử, văn hóa, văn học, võ thuật, y thuật, nghệ thuật ẩm thực, đan xen với mọi ngóc ngách nguồn gốc, lịch sử (mặc dù hư cấu không ít). Phân tích tâm lý nhân vật một cách cảm xúc, ảnh hưởng bởi một nền luân lý xã hội nhất định, ẩn nấp trong đó bóng dáng của văn dĩ tải đạo, chính tà phân minh. Ai mắng tôi là đồ lạc hậu, không bắt kịp thời đại để phát triển thì tôi chịu.

Với tôi, đọc Kim Dung không chỉ là đọc truyện, mà là học cách nhận diện cái xám trong đời, cũng một phần giúp tôi biết cách làm người, ít ra cũng ngăn tôi bước tới vùng xám xịt trong những năm tháng mưu sinh nghiệt ngã.

Một người bạn gửi cho tôi các bộ truyện Kim Dung in trước năm 75 (bản feuilleton). Gửi đã lâu, dịp Tết này nằm đọc lai rai. Bây giờ, vừa nâng ly, vừa gõ phím tán nhảm chuyện đời qua kiếm hiệp Kim Dung. Các bạn đọc Kim Dung qua bản dịch bộ mới (đã được tác giả nhuận sắc), xin rộng lượng, đừng bắt bẻ vì tôi dùng nội dung, cũng như ngôn ngữ trong bản dịch feuilleton cũ kỹ trước năm 75. Thú thiệt, các bản dịch mới tôi cũng chỉ đọc lướt qua, lướt qua rất nhanh vì không đủ can đảm đọc hết. Tôi chọn bản dịch feuilleton vì:

Dù nội dung bất toàn, nhưng đó là sự bất toàn đầy hấp dẫn, như bàn thắng “bàn tay của Chúa” của Maradona trong trận đấu chung kết World Cup năm nào. Trọng tài không thể dừng trận đấu để xem chiếu chậm lại, và quyết định. Bất toàn là sai lầm tự nhiên của con người (miễn là không cố ý), đã tạo ra bàn thắng đầy kịch tính. Truyện feuilleton cũng thế.

Tán nhảm chuyện đời qua truyện Kim Dung feuilleton, cũng là sống lại một phần ký ức của thế hệ tôi, một thời đi đọc báo chùa ở các tiệm hớt tóc, rồi hồi hộp, mong đợi, chiều hôm sau báo ra.

Tôi thích bản dịch bất toàn, gấp gáp, đầy ngẫu hứng của Hàn Giang Nhạn, nhất là với Tiếu ngạo giang hồ và Lộc Đỉnh Ký.  Trong bài kế tiếp, tôi sẽ nói về bút pháp đầy chất “giang hồ máu lửa” của Hàn Giang Nhạn.

Đầu năm con Ngựa, khai bút thế này là quá đủ. Con bà nó! Chúc các bạn cả năm “Đại công cáo thành”

Vũ Thế Thành

304Đen – Llttm - sgtc