Saturday, September 19, 2026

Mùa Thu Sang Ta Về Thăm Lại Cõi Buồn - Nguyễn Chí Hiệp

 Mùa thu sang ta về thăm lại cõi buồn

 














Mùa thu sang
lá rơi đầy lối qua sông
Con thuyền
ngày xưa đã rời bến
Người ơi,
giọt nước mắt trên môi thầm thương

Mùa thu hỡi, có giăng giăng mưa ngâu
Huế cũ hồn ta nhớ vương vấn biển sầu
Huế cũ ngày xưa nhìn em vui cười nói
Chung bước cùng nhau qua bến Vân Lâu

Bây giờ thì đã giữa mùa thu vắng
Áo tím xưa bây giờ không thấy dáng người
Buồn chợt rơi rơi về trong kỷ niệm
Nhớ em ta đã nhớ đến muôn đời

Người ơi mối tình đầu đã xa rời
Có hay chăng một người về lại Huế
Mang đầy trong tim những lời ước thệ
Được sống bên nhau hạnh phúc muôn đời

Mùa thu sang
đêm ngắm mãi những cung đường

Gió vẫn say
bên dòng sông quê hương

Gió thổi bay
bay những chiếc lá úa

Lữ khách buồn
nhớ mãi dáng người thương

Nguyễn Chí Hiệp
05.7.2013

Nguồn: eCircles CVA Toronto & Thân Hữu

Đừng Bao Giờ Em Hỏi - Nguyễn Đạm Luân

 Đừng Bao giờ Em Hỏi




Khi Miền Tây Không Còn Nói Tiếng Nói Miền Tây - Lisa Luong

 

Khi miền Tây không còn nói tiếng miền Tây?




 

 “Nước dùng ở đây, ạ.” “Chào buổi sáng, ạ!”

 Tôi giật mình. Trước đây, tôi đã từng nghe cách nói này ở Sài Gòn và đã thấy ngạc nhiên. Nhưng lần này, nghe câu ấy thốt ra từ một cô tiếp viên ở một khách sạn tại vùng đất từng được mệnh danh là “Tây Đô”, tôi không còn ngạc nhiên nữa. Tôi sốc.

 Sốc, bởi trước mặt tôi là một cô gái trẻ, tuổi chỉ đáng con cháu mình, giọng nói rặt miền Tây, âm điệu miền Tây, dáng vẻ cũng rất miền Tây. Vậy mà cuối câu lại nó nhẹ nhàng buông một tiếng: “ạ”.

 Trời đất ơi! Giữa miền Tây sông nước mà nghe một tiếng “ạ” sao thấy lạ lẫm đến vậy.

 Không phải chữ “ạ” có gì sai. Nó là một từ rất đẹp trong tiếng Việt, biểu thị sự lễ phép, kính trọng, và từ lâu đã là một phần tự nhiên trong cách nói của người miền Bắc.

 Cái làm tôi chạnh lòng không nằm ở bản thân chữ “ạ”, mà ở chỗ nó xuất hiện trong một không gian ngôn ngữ vốn có những cách biểu đạt lễ phép rất riêng. Người miền Tây ngày trước đâu cần chữ “ạ” mới lễ phép.

 “Dạ, con chào cô.”

 “Dạ, chú mới tới hả?”

 “Dạ, bác ăn cơm chưa?” Chỉ một tiếng “dạ” thôi, nghe đã thấy cả bầu trời miền Nam trong đó. Có sự kính trọng nhưng không kiểu cách; có lễ phép mà vẫn gần gũi. Nó mềm, nó thiệt thà, nó có cái tình của một vùng đất. Vậy mà bây giờ, tiếng nói miền Tây đang thay đổi nhanh đến mức đôi khi người đi xa lâu ngày trở về phải giật mình.

 Miền Tây vẫn là miền Tây. Sông vẫn chảy, ghe xuồng vẫn còn, những hàng dừa vẫn nghiêng xuống mé nước. Người miền Tây vẫn hào sảng, vẫn hiếu khách, vẫn cái giọng ngân nga nghe một câu là nhận ra quê xứ. Nhưng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, một cái gì đó đang mất dần....

 Có người gọi đó là sự giao thoa ngôn ngữ. Có người phách lối nói đó là “chuẩn”. Có người nói đó là kết quả tự nhiên của truyền hình, Internet, mạng xã hội và sự đi lại giữa các vùng miền. Tất cả đều đúng. Nhưng tôi vẫn muốn dùng một chữ cũ, hơi nặng: “Lai căng.”

 Bởi giao thoa là khi mình tiếp nhận cái hay của người khác mà vẫn biết mình là ai. Còn khi những từ ngữ vốn tự nhiên trên đầu môi của ba má, ông bà mình bị thay thế chỉ vì người ta tưởng một cách nói khác nghe “chuẩn” hơn, “văn minh” hơn hay “sang” hơn, thì đó không còn đơn thuần là giao thoa nữa.

 Ngày trước ở miền Nam, người ta nói “gà chiên”.

 Bây giờ không ít nơi ghi “gà rán”.

 Người miền Nam nói “vỏ xe”.> Bây giờ nghe “lốp xe” ngày càng thường xuyên.

 Người miền Tây nói “quẹo trái”, “quẹo phải”.

 Bây giờ có người nói “rẽ trái”, “rẽ phải”.

 Cái vòng tròn giữa ngã tư mà xe cộ chạy vòng quanh, bao nhiêu thế hệ miền Nam gọi là “bùng binh”. Một chữ nghe vui tai, sanh động, gần như có thể hình dung được cảnh xe cộ chạy vòng vòng trong đó.

 Bây giờ nó thành “vòng xuyến”.

 Anh tài xế chở tôi về Cần Thơ hôm ấy nói rất tự nhiên:

 “Chút nữa mình rẽ sang đường này, qua vòng xuyến kia.....”

 Anh nói bằng giọng miền Tây đặc sệt. Tôi ngồi phía sau mà cứ thấy có gì đó không ổn. Không phải “rẽ” sai.

 Không phải “vòng xuyến” sai. Chẳng có chữ nào sai cả.

 Nhưng “quẹo” đâu rồi? “Bùng binh” đâu rồi? Những chữ ấy có tội tình gì mà phải biến mất?...

 Rồi có lần tôi nghe một người miền Tây đã ngoài 60 tuổi nhắc đến thân phụ mình bằng chữ “bố”.

 Tôi thật sự sững người. Bởi trong ký ức của tôi, 2 tiếng “ba”, “má” gần như là hai tiếng căn cước của người miền Nam. “Ba tui...” “Má tui...” Chỉ cần nghe vậy là quê nhà hiện ra. Trong hai chữ ấy có căn bếp, có cái võng, có hàng ba, có mâm cơm chiều, có tiếng người lớn gọi con cháu vào ăn cơm. Có cả một đời sống nằm trong hai tiếng tưởng chừng rất bình thường ấy. Ngôn ngữ không chỉ là công cụ để truyền đạt thông tin. Ngôn ngữ là ký ức. Một chữ có thể mang theo cả một vùng đất.

 “Má” không hoàn toàn giống “mẹ”.

 “Ba” không hoàn toàn giống “bố”.

 “Quẹo” không hoàn toàn giống “rẽ”.

 “Bùng binh” không hoàn toàn giống “vòng xuyến”.

 Về nghĩa, người ta có thể mở từ điển và bảo chúng tương đương. Nhưng ngôn ngữ của con người đâu chỉ có nghĩa từ điển. Mỗi chữ còn có âm thanh, ký ức, địa phương, gia đình, tuổi thơ và lịch sử.

 Một người nói “má” và một người nói “mẹ” đều đang nói về người sanh ra mình. Nhưng tiếng gọi bật lên khi đau đớn, hoảng sợ hay nhớ thương thường không phải là một lựa chọn trong từ điển. Nó đến từ nơi sâu hơn thế.

 Nó đến từ tuổi thơ. Và vì vậy, điều đáng lo không phải là người miền Tây biết thêm những chữ như “ạ”, “rán”, “lốp”, “rẽ”, “vòng xuyến” hay “bố”. Biết thêm một cách nói chưa bao giờ là điều xấu. Một người càng biết nhiều cách sử dụng tiếng Việt càng giàu có về ngôn ngữ. Điều đáng lo là họ biết thêm cái mới nhưng lại bỏ cái cũ. Đáng lo hơn nữa là khi họ bỏ cái cũ vì nghĩ cái cũ là quê mùa.

 Nếu một cô gái Cần Thơ nói “dạ” mà cảm thấy mình kém sang hơn khi nói “ạ”, đó mới là chuyện đáng buồn. Lai căng. Nếu một đứa con nít miền Tây lớn lên biết “rẽ” nhưng không biết “quẹo”, biết “vòng xuyến” nhưng chưa từng nghe “bùng binh”, biết “bố mẹ” nhưng thấy “ba má” là quê mùa, thì chúng ta đã mất một thứ lớn hơn vài chữ địa phương. Lai căng.

 Chúng ta mất một phần ký ức văn hóa. Tất nhiên, ngôn ngữ luôn thay đổi. Đừng lên lớp tôi! Không ai có thể dựng một hàng rào quanh miền Tây rồi ra lệnh rằng từ hôm nay người miền Tây chỉ được dùng những chữ mà ông bà họ từng dùng. Làm như vậy vừa vô lý vừa trái với bản chất của ngôn ngữ.

 Con người đi lại nhiều hơn. Người Bắc vào Nam. Người Nam ra Bắc. Người miền Trung sống ở Sài Gòn. Người Cần Thơ học ở Hà Nội. Trẻ con xem cùng những chương trình, những video, những bộ phim trên cùng một chiếc điện thoại. Tiếng nói tất nhiên sẽ hòa vào nhau. Điều đó không hẳn là xấu.

 Cái đáng suy nghĩ là trong sự hòa trộn ấy, tại sao có những cách nói địa phương cứ lặng lẽ rút lui?Có phải vì truyền hình và sách báo lâu nay vô tình tạo cho người ta cảm giác rằng chỉ có một kiểu tiếng Việt mới là “chuẩn”? Có phải vì nhà trường sửa những chữ địa phương của học sinh quá mạnh tay? Có phải vì những người làm dịch vụ được huấn luyện theo những mẫu câu chung đến mức một cô gái miền Tây phải nói “Chào buổi sáng, ạ” thay vì một câu chào tự nhiên của chính quê mình? Hay đơn giản hơn, có phải chúng ta đã bắt đầu xấu hổ về tiếng nói của ba má và ông bà mình? Nếu là điều cuối cùng, thì đó mới thật sự đáng buồn.

 Tôi không phản đối tiếng Bắc.Tôi cũng không nghĩ tiếng Bắc hay hơn tiếng Nam, hay tiếng miền Tây hay hơn tiếng miền Trung. Mỗi vùng đất Việt Nam đều đã góp vào tiếng Việt những âm thanh và từ ngữ tuyệt đẹp. Chính sự phong phú đó mới làm nên một tiếng Việt sống động. Tôi chỉ phản đối một thứ: tâm lý tự ti với tiếng nói của chính quê hương mình.

 Học cách nói của người khác để hiểu nhau hơn là điều tốt. Nhưng bắt chước người khác vì tưởng rằng nói giống họ thì mình “sang” hơn là một chuyện khác.

 Không có gì sang trọng trong việc đánh mất mình.

 Một người Hà Nội cứ việc nói “bố”, “mẹ”, “rẽ”, “rán”, “lốp xe”. Đó là tiếng nói tự nhiên của họ. Họ không cần đổi.

 Một người Huế cứ giữ “mạ”. Một người Quảng cứ giữ giọng Quảng. Và người miền Tây cũng chẳng có lý do gì phải ngượng khi nói: “Ba má.” “Dạ.” “Quẹo.” “Bùng binh.” “Gà chiên.” “Vỏ xe.” “Nước lèo.”

 Đó không phải là những phiên bản “sai” của tiếng Việt.

Đó là tiếng Việt. Một thứ tiếng Việt đã được phù sa, ruộng đồng, kinh rạch, ghe xuồng và bao thế hệ cư dân phương Nam nhào nặn nên.

 Người ta thường nghĩ di sản phải là đình chùa, nhà cổ, áo quần, món ăn, câu hát. Không!!! Một chữ cũng là di sản. Có những di sản không cần bảo tàng để cất giữ. Chúng sống trên đầu môi của con người. Và cũng chính vì thế, chúng có thể chết đi rất âm thầm.

 Một ngôi nhà cổ bị đập, người ta nhìn thấy. Một con rạch bị lấp, người ta nhìn thấy. Nhưng một chữ biến mất thì chẳng ai nghe tiếng động. Một thế hệ thôi không nói nữa, thế hệ sau sẽ không biết nó từng tồn tại.

 Rồi một ngày nào đó, một đứa trẻ miền Tây sẽ phải mở từ điển để hỏi: “Bùng binh là gì vậy?” Và có lẽ đến lúc ấy chúng ta mới nhận ra rằng mình đã đánh mất một thứ mà tiền bạc không thể mua lại được. Cho nên tôi không mong người miền Tây khép cửa với những cách nói khác. Tôi chỉ mong họ đừng quên tiếng nói của mình.

 Cứ học thêm. Cứ đi xa. Cứ giao lưu. Cứ biết “rẽ” là gì, “vòng xuyến” là gì, “lốp xe” là gì. Nhưng khi về đến miền Tây, nếu có thể, hãy cứ: “Quẹo phải nghen anh.” “Qua cái bùng binh đó rồi chạy thẳng.” “Dạ, con biết rồi.” Và khi trở về nhà, hãy cứ gọi: “Ba ơi!” “Má ơi!”  Bởi giữ một tiếng nói không phải là chống lại sự thay đổi. Đó là nhớ mình từ đâu mà tới. Và một vùng đất còn giữ được tiếng nói của mình là một vùng đất còn giữ được ký ức.

 Miền Tây có thể thay đổi. Nhưng xin đừng để một ngày nào đó, giữa chính miền Tây, chúng ta phải đi tìm lại tiếng miền Tây.

Đây là bài thơ do AI nó sáng tác, sau khi tôi kể cho nó nghe câu chuyện. Đọc cũng được

 Con gục đầu chua xót đắng cay

 Nghe tiếng quê hương sụt sùi mỗi ngày

 Cái thuở “nói nào ngay” chân chất

 Giờ lạc lòng giữa phố thị lung lay.

 Đâu rồi tiếng “dạ” thưa ngọt lịm?

 Tiếng “bằng nay”, “mần ruộng”, “xuồng bơi”

 Sông sấu lội, câu hò ai tím nghẹn

 Nay nhạt nhòa theo bọt nước trôi xuôi.

 Thương con cá chốt, bông bần rụng

 Thương cả từ “mầy”, “bây” thuở ấu thơ

 Mai mốt này ai còn nhớ nữa

 Tiếng miền Tây gói lại một giấc mơ

 Con gục đầu chua xót đắng cay...

 Thank you

 Lisa Luong

 

 

 

Sầu Ai Lao - Đổ Hữu

 Sầu Ai Lao

 













Đã lâu trăng cứ vàng hiu hắt

Mây cứ sầu tuôn núi võ vàng

Lá vẫn phai chàm trên sắc áo

Mưa nguồn thác đổ đá mù sương.

 

Giữa ngày lạc lõng trên rừng rậm

Với nắng bâng khuâng mây thuở nào

Với núi xanh lơ chiều tím nhạt

Mây trời bàng bạc sầu Ai Lao.

 

Lưng đèo quán gió mờ hun hút

Thôn bản nằm trơ dưới nắng chiều

Tai vẫn nghe đều dòng thác đổ

Người ơi, thương nhớ biết bao nhiêu!

 

Ở đây hơi đá chiều vây khắp

Khép chặt mình tôi giữa núi rừng

Buồn quá ngày đi đêm trở lại

Hoàng hôn hoa bản phấn rưng rưng.

 

Người có theo tôi lên dốc nắng

Nhìn xem hoa rải sắc trên đường

Chiều nay gió thổi buồn ghê lắm

Lá đổ sau chân một lối vàng.---

 

Đỗ Hữu

304Đen – llttm – MT68

 

 

 

Về Ảnh Hưởng Của Văn Hóa VNCH (Tên Khác Là Văn Hóa Miền Nam) Sau 1975 - Hoàng Hưng

 Về ảnh hưởng của văn hóa VNCH (tên khác là văn hóa miền Nam) sau 1975 -

 


 Về ảnh hưởng của văn hóa VNCH (tên khác là văn hóa miền Nam) sau 1975 - Hoàng Hưng Hoàng Hưng: Nhà thơ, nhà báo, dịch giả Hoàng Hưng, từ Hà Nội vào sinh sống và làm việc ở Sài Gòn từ 1977. Nhìn một cách bao quát, Lối sống Miền Nam là LỐI SỐNG TỰ NHIÊN CỦA CON NGƯỜI dưới một chế độ tôn trọng tự do cá nhân theo ảnh hưởng phương Tây (Pháp rồi Mỹ). Nó khá bất lợi trong việc tham chiến (thực sự là có góp phần không nhỏ trong việc miền Nam “thua cuộc”), nhưng lại có sức hấp dẫn tất yếu sau hoà bình đối với những người từng bị sống trong “trại lính khổng lồ”.

 *** 

Tóm lại, nhìn một cách tổng thể, toàn bộ đời sống miền Nam, trong đó có đời sống văn hoá, văn học, trong 45 năm qua đã dần dần “giải phóng” người dân miền Bắc khỏi cái nhà tù lớn trong đó con người bị buộc phải giả tạo, “gồng mình” hoặc bị mê hoặc mà mù quáng tuân phục trong thời chiến và theo “định hướng XHCN”. “Giải thiêng”, “hoàn tục” hay “phá giới” tuỳ cách gọi, điều quan trọng là trở lại với CON NGƯỜI THẬT, CON NGƯỜI TỰ NHIÊN; CUỘC SỐNG THẬT, CUỘC SỐNG TỰ NHIÊN, với tất cả những mặt mạnh và yếu. Đến nay nó vẫn tiếp tục đóng góp vào tiến trình “giải Cộng” gian lao của đất nước! Chắc chắn sẽ đến một ngày, đất nước chứng kiến một cuộc phục hưng văn hoá, văn học, đi tiếp con đường mà văn hoá, văn học miền Nam đã đi. Con đường TỰ DO, NHÂN BẢN, HỘI NHẬP QUỐC TẾ. *** 

Trường hợp của tôi có lẽ hơi cá biệt so với số đông đồng nghiệp ở miền Bắc trước 1975: Sinh trưởng trong một gia tộc thuộc “tầng lớp trên” thời Pháp thuộc; năm 1954 hầu hết họ hàng của tôi di cư vào Nam, chỉ riêng gia đình tôi ở lại miền Bắc vì bố tôi là một bác sĩ “chuyên môn thuần tuý” quá tin vào “hiệp thương tổng tuyển cử sau 2 năm” và chưa thấy được bản chất “Cộng sản” của Việt Minh; tuy nhiên bản thân tôi ham đọc sách tiếng Pháp từ nhỏ, được học tiểu học trong nhà trường “quốc gia” và Pháp, cấp 2 (Middle School) theo chương trình chuyển tiếp “quốc gia” sang “dân chủ nhân dân”, đến cấp 3 (High School) mới bắt đầu “nhà trường xã hội chủ nghĩa”; thêm nữa, từ 1954 đến 1975 tôi vẫn chịu khó đọc sách tiếng Pháp trong tủ sách gia đình và kho sách trong Thư viện Quốc gia được Sứ quán Pháp cung cấp. Có lẽ vì thế, khi vào Sài Gòn khá sớm sau 30/4/1975 để tìm mẹ và họ hàng, tôi thấy như được trở về đời sống tự nhiên của tuổi thơ mình vốn đã bị chế độ chính trị miền Bắc và tình trạng chiến tranh làm cho… quên mất! Phải nói dài dòng thế, vì có thể nhận xét của tôi về đời sống và văn hoá miền Nam có phần chủ quan, cá biệt. 

 

1. Về lối sống của người Miền Nam trước 1975 và ảnh hưởng của nó sau 1975 Xã hội miền Nam mà tôi thâm nhập trước hết là xã hội của bà con họ hàng thân tộc ở Sài Gòn. Họ vẫn giữ khá đầy đủ những đặc điểm (cả hay lẫn dở) của tầng lớp trung lưu Hà Nội trước 1954. Tất nhiên là nó đối nghịch với xã hội miền Bắc mà tôi sống trong 20 năm “cải tạo xã hội chủ nghĩa” và chiến tranh, ở đó chính quyền toàn trị biến xã hội thành một trại lính khổng lồ, tất cả cho cuộc chiến, mọi người chia sẻ với nhau cảnh nghèo nàn đơn điệu; ở đó sự “nông thôn hoá” Hà Nội khiến cho lối sinh hoạt bình dân, suồng sã đánh bạt lối sống đài các, thanh lịch của chốn ngàn năm văn vật… Nhìn một cách bao quát, lối sống Miền Nam là LỐI SỐNG TỰ NHIÊN CỦA CON NGƯỜI dưới một chế độ tôn trọng tự do cá nhân theo ảnh hưởng phương Tây (Pháp rồi Mỹ). Nó khá bất lợi trong việc tham chiến (thực sự là có góp phần không nhỏ trong việc miền Nam “thua cuộc”), nhưng lại có sức hấp dẫn tất yếu sau hoà bình đối với những người từng bị sống trong “trại lính khổng lồ”. Với người miền Bắc, lối sống ấy còn thêm hấp dẫn bởi nét hồn nhiên phóng khoáng vô tư của cư dân đồng bằng Nam Bộ cộng thêm tâm thế tự do bình đẳng của người công dân một xứ Nam Kỳ được hưởng chế độ trực trị lâu năm của Pháp. Chưa kể sự “phồn vinh giả tạo” mà viện trợ Mỹ đem đến cho Sài Gòn đã làm cho sức hấp dẫn tăng thêm bội phần; chỉ cần nhớ lại cảm giác đầu tiên khi đặt chân xuống đường Đinh Tiên Hoàng từ chuyến xe đò đường dài, tôi tưởng mình đang từ Việt Nam sang đến Paris! 

Lối sống Miền Nam càng được tiếc nuối sau khi con đường “xã hội chủ nghĩa” đưa kinh tế Việt Nam đến bờ vực, “con người xã hội chủ nghĩa” chưa thấy đâu đã phải được “cởi trói” để lao vào “tự cứu” bằng mọi cách, khiến cho chủ nghĩa cá nhân bị đè nén lâu nay bung ra một cách cực đoan theo luật con lắc! Thậm chí một số điểm tích cực mà những người sống có lý tưởng thực sự trong xã hội miền Bắc có được như tinh thần sống giản dị, cống hiến, tập thể, đồng cam cộng khổ… cũng nhanh chóng phai nhạt thậm chí biến mất ở số đông bọn họ! Nhưng điều đó không thể coi là do “ảnh hưởng tiêu cực” của lối sống “cá nhân chủ nghĩa”, “hưởng thụ” của miền Nam như “Tuyên giáo” gán ghép, mà chỉ đơn giản là phản ứng dễ hiểu mang tính “nổi loạn” của con người miền Bắc khi thấy “những ảo mộng tiêu tan” (Illusions perdues) trước mắt mình! Ngược lại, cũng không thể phủ nhận một số ảnh hưởng tiêu cực từ những tệ nạn của một xã hội thời chiến, dưới chế độ dân chủ chưa toàn vẹn, với sự lũng đoạn của “đảng Kaki” và sự hiện diện của hàng chục vạn quân viễn chinh (đĩ điếm, ma tuý, băng đảng, ăn cắp của công và tham nhũng) sau khi trật tự áp đặt của chế độ toàn trị bung vỡ! Có lẽ hai ưu điểm nổi bật của lối sống Miền Nam đã thâm nhập mạnh, sâu, rộng vào miền Bắc sau 1975 là: 

-- Tinh thần tự lập, tự vận động, tự định đoạt cuộc sống của cá nhân đã ngày càng chiến thắng thói quen “gà công nghiệp”, thụ động trông chờ “nhà nước, đoàn thể” mà chế độ tập trung bao cấp đã tạo ra trong thời gian dài. Nhất là sau khi nhà nước kiệt quệ, phải thả lỏng cho người dân “tự cứu”. Điều này có tính quyết định cho xã hội dần dần tự do hoá, thoát khỏi sự khống chế, ràng buộc của nhà nước toàn trị. Độc lập về kinh tế thì mới độc lập về tư tưởng.

 -- Đời sống tâm linh, chủ yếu là niềm tin và thực hành Phật giáo. Phật giáo bị hạn chế và kiểm soát gắt gao ở miền Bắc đã hồi sinh sau 1975 nhờ được tiếp sức và truyền đạo từ miền Nam. Mặc dù tín ngưỡng bị nhà nước và bọn buôn thần bán thánh lợi dụng tối đa làm cho méo mó tha hoá khủng khiếp, Phật giáo chân chính trong cả nước vẫn phát triển khá mạnh nhờ ảnh hưởng tốt đẹp của truyền thống Phật giáo miền Nam.

 

 2. Đời sống văn hoá văn nghệ miền Nam và ảnh hưởng của nó sau 1975: nên được nhìn nhận trên cái nền tảng xã hội, lối sống như nói trên. Tôi muốn nói lên những ấn tượng sâu sắc nhất của bản thân trước khi nhận xét về đời sống chung mà mình quan sát. Đầu tiên là âm nhạc Hiện tượng Trịnh Công Sơn. Không thể quên cái buổi tối tháng 5/1975, nhóm bạn văn nghệ Hà Nội chúng tôi ngồi nghe băng “cối” ở nhà một người quen là sĩ quan công an được vào Sài Gòn ngay sau 30/4 đem ra. Có thể nói là một buổi xuất thần ít có trong đời! Mọi người chìm đắm vào không gian âm thanh ma mị, lôi hồn mình thoát khỏi thực tại, đi đến một thế giới hư hư thực thực không rõ là đâu nhưng hình như đó là sự giải thoát! Nói thêm là 7 năm sau đó, trong trại tạm giam của Bộ Công an ở ngoại thành Hà Nội, trưa nào tôi cũng ngóng nghe những âm thanh ấy phát ra từ phòng Giám thị trại! Nghĩa là nó chiếm lĩnh tâm hồn của số rất đông trong “Bên thắng cuộc”. 

    Ca khúc Trịnh Công Sơn theo tôi là sản phẩm văn hoá độc đáo nhất của miền Nam, nó kết tinh cõi sâu lắng của tâm hồn người Việt trong một hoàn cảnh bi thương nhất của lịch sử, chưa từng có trong âm nhạc Việt Nam cho đến tận bây giờ. Nhu cầu ca hát, một trong những nhu cầu tự nhiên nhất của con người, sau nhiều năm bị “nhạc đỏ” độc quyền thống trị, đã bùng lên với “nhạc vàng” khắp phố phường ngõ xóm (trước sự ngơ ngác đáng thương của những người tù trong vụ án “nhạc vàng” ở Hà Nội khi trở về!). Đến mức bây giờ, nhạc “bolero” một thời vốn không được đánh giá cao lắm bởi giới có học ở Sài Gòn, nay đang “tràn ngập lãnh thổ”, chiếm lĩnh không gian âm nhạc cả chính thống lẫn tự phát! (Tuy nhiên không ít người vẫn cho rằng thứ âm nhạc uỷ mị mà bolero là chủ đạo góp sức không nhỏ làm nản chí chiến đấu của người lính miền Nam, giống như điệu hậu đình hoa xưa!!!).

 Có một chi tiết thú vị về âm nhạc miền Nam: phong cách hát của ca sĩ. Các ca sĩ miền Bắc nhìn chung được học bài bản hơn, nhưng sau khi nghe ca sĩ miền Nam, số đông người nghe bỗng nhận ra cái gì đó không thú lắm ở lối hát miền Bắc. Thì ra kỹ thuật thanh nhạc không thay thế được tình cảm tự nhiên, càng không lại được cái hồn gửi vào tiếng hát, và bel canto của opera không thể cuốn hút bằng cái sự tròn vành rõ chữ tiếng Việt! Nói cho công bằng, việc tàn lụi của đời sống âm nhạc cổ điển thính phòng miền Bắc trước 1975 cũng đáng tiếc (do chiến tranh với không quân Mỹ ở miền Bắc từ 1965 và không còn được “bao cấp” đủ sau 1975); mãi gần đây nó mới bắt đầu hồi phục nhờ sự lớn lên của tầng lớp trung lưu sau 30 năm phát triển kinh tế mang tính thị trường. 

 

Hội hoạ. 

Điều thú vị là trong giới văn nghệ sĩ Sài Gòn, tôi giao du nhiều nhất với các hoạ sĩ! Từ Nguyên Khai ở ngay gần nhà, đến Thái Tuấn, Nghiêu Đề, Trịnh Cung, Đỗ Quang Em, Phạm Văn Hạng, Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Trung… và tìm hiểu khá kỹ hội hoạ miền Nam trước 1975, đặc biệt là tác phẩm của các thành viên Hội hoạ sĩ Trẻ. Đến thập niên 1990, khi làm báo Lao Động, tôi đã có cơ hội viết bài giới thiệu về họ cũng như mời một số hoạ sĩ cộng tác với báo. Có lẽ vì hội hoạ là “siêu ngôn ngữ” ít động chạm trực tiếp chuyện chính trị, nên các hoạ sĩ Sài Gòn có phần dễ được tiếp nhận vào đời sống văn nghệ sau 1975. Họ đã đóng góp rất nhiều cho đời sống nghệ thuật phong phú ở TPHCM, Huế, và tác động đáng kể đến việc hiện đại hoá phương pháp nghệ thuật của các hoạ sĩ miền Bắc cũ, như siêu thực, trừu tượng, cực thực… 

Sách báo 

Khi vào Sài Gòn tháng 7 năm 1975, cái hấp dẫn chủ yếu với tôi là… núi sách ở chợ sách đường Đặng Thị Nhu và các tủ sách gia đình. Tôi hối hả mua, mượn về đọc, rồi chở ra Hà Nội! Vốn khao khát những kiến thức mới về khoa học xã hội nhân văn và văn học thế giới mà những nguồn sách tiếng Pháp ở Hà Nội rất hạn chế, tôi mê mệt với đống sách biên khảo của Lê Thanh Hoàng Dân, Nguyễn Hiến Lê… sách của NXB Lá Bối, các truyện dịch của nhiều tác giả khác nhau, từ Dostoivevski đến Kazanzaki, Remarque, Herman Hesse… các tạp chí văn chương và nghiên cứu như Sáng Tạo, Văn, Bách Khoa… Ảnh hưởng sâu đậm nhất đến nhận thức và sáng tác của tôi có lẽ là: Thiền luận của Suzuki và các sách Phật giáo, tiểu thuyết của Henry Miller, William Faulkner. 

Đặc biệt tư tưởng Phật giáo là phát hiện quan trọng nhất đối với tôi sau mấy mươi năm sống trong xã hội bị “vô thần hoá” thành duy vật tầm thường! Sau “Đổi mới”, ngày càng nhiều sách biên khảo và dịch thuật của miền Nam được tái bản, cung cấp cho công chúng một thị trường kiến thức và giải trí phong phú chưa từng có; có những tác phẩm “hot” không kém ca khúc “bolero”, như tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung của dịch giả Hàn Giang Nhạn… tuy cũng bị trách là dịch phóng, không trung thành với nguyên tác; cũng như việc dịch và xuất bản nhanh để đáp ứng thị trường ở Miền Nam có phần hại cho chất lượng bản dịch! Phật giáo đang phục hồi trên khắp nước, lôi cuốn không ít người trẻ, có phần tác động quan trọng của những sách Phật học của miền Nam, trong đó nổi bật là các tác phẩm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Do báo chí là hoạt động mà đảng Cộng sản phải nắm rất chặt làm công cụ tuyên truyền dẫn dắt công luận nên ảnh hưởng của báo chí miền Nam (một nền báo chí đúng nghĩa) đối với báo chí sau 1975 thì chủ yếu ở mặt nghiệp vụ làm báo. Báo Tin Sáng của những người ủng hộ “Mặt trận Giải phóng” là tờ báo kiểu Sài Gòn trong chế độ mới rất được ưa chuộng. Sau “Đổi mới”, nhờ có sự nới lỏng, một số tờ báo ở thành phố HCM đã mạnh dạn sử dụng những nhà báo kỳ cựu của miền Nam, tạo nên sự khởi sắc của báo chí với khuynh hướng tiếp cận sự thật, điều tra độc lập, thông tin nhanh chóng, và các thủ pháp làm báo thị trường mà người Sài Gòn có truyền thống lâu đời được giới báo chí “bao cấp” học theo. Ảnh hưởng của lối làm báo ấy có thể thấy rất rõ đối với các tờ báo ở TP HCM (rõ nhất ở các báo Tuổi Trẻ, Lao động Chủ nhật…) và ngày càng rõ với các tờ báo ở Hà Nội. 

    Sách báo miền Nam còn có tác động khá mạnh đến ngôn ngữ nói cũng như ngôn ngữ viết miền Bắc. Không ít từ ngữ miền Nam đã nghiễm nhiên trở thành phổ biến toàn quốc, việc viết tên riêng bằng ký tự Anh ngữ đã thách thức và đang lấn lướt lối phiên âm Việt hoá lạc hậu và bất cập của miền Bắc.

 

 Giáo dục 

Vốn là người làm việc lâu năm trong ngành giáo dục miền Bắc, khi vào các trường học miền Nam, tôi bị ấn tượng mạnh bởi sự nghiêm túc kỷ cương của lớp học và và sự lễ phép của học sinh. “Thầy ra thầy, trò ra trò”. Còn nhớ, nhà văn-thầy giáo Nhật Tiến một hôm rất “bức xúc” kể với tôi: Hôm qua anh đến trường, thấy trên bảng thông báo giữa sân trường có dòng chữ lớn: “Hôm nay mỗi thầy cô giáo 1kg thịt lợn!” Anh coi đó là sự xúc phạm không thể chấp nhận. Có lẽ đó là một “giọt nước tràn ly” khiến anh quyết định vượt biên! Giáo dục là lĩnh vực mà đảng Cộng sản nắm còn chặt hơn báo chí để thi hành chính sách biến con người thành công cụ. Có lẽ vì thế thực tình tôi chưa thấy được nhiều ảnh hưởng cụ thể của giáo dục miền Nam đối với giáo dục sau 1975, đặc biệt là nền giáo dục đại học theo đường lối “tự do học thuật, tự trị đại học”. Tuy nhiên nội dung giáo dục ngày càng bớt chính trị hoá, tính nhân văn được tăng cường, chắc chắn cũng có ảnh hưởng từ giáo dục miền Nam với triết lý DÂN TỘC, NHÂN BẢN, KHAI PHÓNG của nó. Một chi tiết đáng yêu: ở nhiều trường tiểu học miền Bắc hiện nay, thầy cô giáo với học trò xưng hô “thầy/cô – con” giống như miền Nam. Trong lĩnh vực này, có một ngộ nhận, bộc lộ rõ trong cuộc tranh cãi ồn ào mới đây quanh việc “cải cách giáo dục”, “công nghệ giáo dục”: Có những ý kiến cho rằng chẳng cần “cải tiến” gì hết, cứ trở lại theo chương trình và phương pháp của nhà trường miền Nam cũ là xong! Những người nói như thế, có thể chỉ để phản ứng lại nền giáo dục đậm tính chính trị mà nhà nước toàn trị áp đặt cho lớp trẻ lâu nay, nhưng cũng cho thấy họ chưa để tâm đến những chuyển biến rất căn bản trong đường lối giáo dục của thế giới nửa thế kỷ gần đây, mà giáo dục Việt Nam hôm nay buộc phải cập nhật để thoát khỏi sự khủng hoảng không còn đất lùi. 

 

3. Nói riêng về văn học Bản thân tôi đã thích thơ Thanh Tâm Tuyền và Nhã Ca ngay khi có cơ hội đọc từ trước 1975 (mà những bạn bè làm ở bộ phận “Đô thị miền Nam” của Đài Tiếng nói Việt Nam cho mượn). Các nhà văn nhà thơ như Nhật Tiến, Hà Thúc Sinh là những người bạn thân gần với tôi trong đời sống ở Sài Gòn trước khi các anh vượt biên. Tôi khám phá dần dần kho tàng văn học miền Nam, đặc biệt chú ý đến những cách tân trong thơ Tô Thuỳ Yên, truyện Dương Nghiễm Mậu, đến sự thực trần trụi của những truyện và ký sự chiến tranh như của Phan Nhật Nam, Thế Uyên… Gần đây, tôi lại rất thích truyện Võ Phiến. Tôi vẫn tiếp tục khám phá và thưởng thức sự phong phú, đa dạng của văn học miền Nam trong quá trình sưu tầm cho mục “Văn học miền Nam 1954-1975” của diễn đàn Văn Việt mấy năm gần đây (đã lên tới khoảng 650 kỳ). Nếu văn học miền Bắc trước 1975 nói đại quát là nền văn học tuyên truyền nhằm phục vụ chiến tranh, “văn học phải đạo”, văn chương “đồng phục”, bị kiểm soát chặt chẽ, bị cô lập với thế giới (không kể vài biệt lệ vượt lên được nhờ tài năng và sự uyển chuyển; và số ít tác phẩm “chui” của các thành viên Nhân văn-Giai phẩm và “nhóm Xét lại”) thì văn học miền Nam trước 1975 là một nền văn học của đời sống tự nhiên, của con người tự nhiên, chân thực và hết sức đa dạng, đang phát triển mạnh mẽ trong một xã hội tự do và gắn bó với thế giới văn minh. Yếu tố ảnh hưởng phương Tây rất quyết định cho sự phát triển trong 20 năm này, có thể so sánh với giai đoạn hoàng kim của văn học hiện đại Việt Nam 1930-1945. Thật vô cùng đáng tiếc là dòng chảy đang cuồn cuộn ấy đã bị chặn đứng vì biến cố 30/4/1975, khiến cho văn học đương đại Việt Nam bị khựng lại rất lâu, mãi cho đến nay chưa phục hồi được cái đà phát triển. Sự tiếp xúc với Văn học Miền Nam trước 1975 đã tạo bước ngoặt quyết định về khuynh hướng tư tưởng cho không ít tác giả của nền văn học “chính thống” miền Bắc. Tinh thần tự do, nhân bản và cách tân của nó đã dần dần “tẩy rửa” thói quen “tự kiểm duyệt” và “phục vụ chính trị”, giáo điều “hiện thực xã hội chủ nghĩa”… vốn ngấm sâu vào tâm trí của thế hệ cầm bút “chống Pháp chống Mỹ”. Chắc chắn nó đã khởi hứng cho những ý tưởng thay đổi mạnh mẽ của vài nhà lãnh đạo văn nghệ cuối thập niên 1970 như Trần Độ, Nguyên Ngọc… và của nhiều cây bút thành công từ sau khi có chính sách “Đổi mới” cuối thập niên 1980. Hầu hết những cây bút trẻ hiện nay ở Việt Nam đang đi theo tinh thần ấy.

 

 4. Tóm lại, nhìn một cách tổng thể, toàn bộ đời sống miền Nam, trong đó có đời sống văn hoá, văn học, trong 45 năm qua đã dần dần “giải phóng” người dân miền Bắc khỏi cái nhà tù lớn trong đó con người bị buộc phải giả tạo, “gồng mình” hoặc bị mê hoặc mà mù quáng tuân phục trong thời chiến và theo “định hướng XHCN”. “Giải thiêng”, “hoàn tục” hay “phá giới” tuỳ cách gọi, điều quan trọng là trở lại với CON NGƯỜI THẬT, CON NGƯỜI TỰ NHIÊN; CUỘC SỐNG THẬT, CUỘC SỐNG TỰ NHIÊN, với tất cả những mặt mạnh và yếu. Đến nay nó vẫn tiếp tục đóng góp vào tiến trình “giải Cộng” gian lao của đất nước! Chắc chắn sẽ đến một ngày, đất nước chứng kiến một cuộc phục hưng văn hoá, văn học, đi tiếp con đường mà văn hoá, văn học miền Nam đã đi. Con đường TỰ DO, NHÂN BẢN, HỘI NHẬP QUỐC TẾ.

Hoàng Hưng 

 https://quangtribacca.blogspot.com/2026/08/ve-anh-huong-cua-van-hoa-vnch-ten-khac.html#more

 

 

 

 

Sunday, September 13, 2026

Chờ Người Chiều Sông Vàm - Thuyên Huy

 Chờ Người Chiều Sông Vàm




Còn Một Nửa Chuyện Đời - Thuyên Huy

 

Còn Một Nửa Chuyện Đời

 


    Trước ngày bãi trường nghỉ hè vài hôm, thằng nhỏ đến tìm tôi ngoài cổng ký túc xá. Trời lấp xấp về chiều, bọn tôi tụm năm tụm ba dọc theo hành lang nhà ăn chờ cơm. Ve kêu rộn rã trên hàng cây Sao cao lớn quanh sân từ mấy ngày trước, nhất là vào những buổi chiều rạng nắng. Tiếng ve kêu buồn thật buồn, cái buồn khó nói. Con đường sỏi đỏ dốc lên ký túc xá, hai bên phượng nở rực một màu đỏ bầm, vài cánh hoa đầu mùa rụng ngỡ ngàng bên lề đâu đó.

*

    Tôi mở cánh cổng nhỏ bên hông cửa chính đi ra, thằng nhỏ trông có vẻ bảnh trai, đứng vịn chiếc xe “vê lô xô lết” đen chờ, tròn mắt nhìn tôi. Cả hai nhìn nhau là lạ vì tôi thật không quen biết nó và chắc rằng nó cũng chẵng quen biết tôi. Tôi đến gần bên, gật đầu chào làm quen:

- Em tìm anh Ngữ phải không? Anh là anh Ngữ đây.

    Nó gật đầu dạ thật nhỏ, chưa kịp nói gì thì tôi hỏi tiếp:

- Em tên gì, tìm anh có chuyện gì không?

- Dạ, em tên Phúc.

    Phúc vừa trả lời vừa nhìn tôi chờ đợi. Tôi mở cánh cổng rộng hơn một chút nữa, bảo Phúc dắt xe vào sân, tôi bỏ đi vô, chờ Phúc trước cửa phòng khách.      

     Đám hoa huệ trắng cắm trong cái bình bông màu xanh lục, đặt trên thành khung cửa sổ có vẻ héo từ mấy ngày qua, cô năm Vân, người quản lý ký túc xá, không buồn thay hoa mới, vì hai ba ngày nữa, ở đây không còn ai đâu mà ngắm mà nhìn.

    Cô sẽ ra vào một mình, lặng thinh như những mùa hè năm trước, hết rồi tiếng cô la cô hét đám học trò đệ thất đệ lục về chuyện xả rác và xài nước lung tung. Không còn ai để cô kể chuyện đời xưa, chuyện của những ngày cô còn son trẻ của bốn chục năm đi qua, sau giờ cơm ồn ào, khi bên kia sông mặt trời chầm chậm xuống.

*

    Tôi ngồi xuống kế bên Phúc, thằng nhỏ nhoẻn miệng cười, không nói gì, ôm khư khư gói giấy trong tay, tôi đoán không lầm, dù tôi chưa hỏi, Phúc giỏi lắm chắc đang học cở mấy thằng Biểu, thằng Long, đệ lục là cao lắm. Nó vẫn không chịu nói gì, tôi cũng hơi tức cười, thôi cứ hỏi nó trước cho xong việc. Tôi đứng dậy kéo cái ghế trống, ngồi xuống trước mặt Phúc:

- Phúc tìm anh có chuyện gì hay không?

    Vừa hỏi tôi vừa nghĩ tới mấy đứa từ xã ấp xa lên tỉnh học, đang ở trong ký túc xá, học trò của mấy cô Thu, cô Quyên, đệ thất đệ lục, hễ gặp rắc rối hay thiếu điểm trong kỳ thi lục cá nguyệt cuối năm, hớt hơ hớt hãi tìm tôi, nhờ nói mấy cô giùm một tiếng, vì bọn nó biết tôi chơi thân với mấy cô và nói gì mấy cô cũng nghe, nếu không thì bị ở lại lớp, ba má vừa buồn vừa la rầy, sợ tá hỏa.

    Cho nên hễ xong thi lục cá nguyệt cuối năm thì trong ký túc xá tôi là người bận rộn nhất, không phải vì mấy cái bài thi tú tài hóc búa mà bận rộn vì mấy cậu ấm nhà quê này.

    Phúc nhỏ nhẹ đáp lời:

- Dạ, má em là cô tư Hòa, bên chợ bảo tìm anh, mời anh qua nhà em chơi, má em muốn hỏi thăm anh chút chuyện, má cũng bảo đưa cho anh cái này. Phúc vừa nói vừa đưa gói giấy mà nó đã cầm trong tay từ lúc mới vào đây.

*

    Tôi nhận lấy gói giấy mà trong lòng hơi hồi hộp. Nghe Phúc nói thì nghe vậy, tôi chưa biết cô tư Hòa là ai, có liên hệ gì với mình. Vã lại từ nhỏ lớn lên, gần hơn mười tám năm rồi, đâu có nghe ba má tôi nhắc nhở gì tới cô tư này, ngay cả bà con hai bên nội ngoại cùng khách khứa cũng không thấy ai tên đó. Tôi vồn vã cám ơn, mở vội gói giấy ra xem, bên trong là hai hộp bánh ngọt hiệu LU nhập cảng của Pháp, thứ bánh này ngon và hơi mắc tiền, hình như phải mua từ Sài Gòn chớ chợ tỉnh ít khi có bán. Tôi vừa cám ơn Phúc vừa hỏi thêm:

- Làm sao má em, biết anh ở đây mà bảo em vô đây tìm.

- Em cũng không biết nữa.

    Tôi đứng dậy, Phúc đứng theo, tôi nhìn nó.

- Rồi anh sẽ qua nhà em chiều mai, vì ngày mốt bãi trường rồi, nói với má là anh cám ơn nhiều.

    Phúc dẫn xe “vê-lô” ra cổng, miệng cười vô tư, tôi quên hẳn hỏi thăm nó kết quả thi lên lớp cuối năm ra sao. Phúc đẩy cái cần phía trước cho xe nổ máy chầm chậm xuống dốc, đầu ngoãnh lại và vẫy vẫy tay chào. Tôi đứng nhìn theo, chờ bóng nó khuất hẵn khỏi dãy nhà ngoài đường. Khu nhà ăn bắt đầu có đèn và có tiếng chén đủa khua lao xao. Tiếng ve sầu thưa dần theo nắng chiều chợt tắt.

*

      Tôi xuống xe lôi máy ngay ngã ba cuối chợ, thả bộ dọc theo đường Nguyễn Duy Dương, băng ngang khu xóm có vẻ không lấy gì giàu có cho lắm. Theo chỗ mà thằng Phúc chỉ, tôi tìm đến nhà nó không gì khó.

    Mới bốn giờ chiều mà thiên hạ lớn nhỏ đứng chật ních trước rạp chiếu bóng, nói nói cười cười. Tiếng máy quay của cái xe nước mía bên hông rạp kéo dài mệt mỏi. Nắng từ miệt Cao Xá, Phước Ninh trải dài, nhạt dần xuống chợ tỉnh. Hàng ô môi dọc hai bên đường rộn ràng khua lá theo chiều gió từ hướng sông lên, trời mát rượi.

*

    Tôi vừa tới trước nhà, thằng Phúc đã đứng chờ ngay ngoài cái cổng cây lỏng lẻo. Phúc gật đầu chào rồi đi vào trước, tôi thật tình hồi hộp theo sau. Trong nhà rất đông người, ai nấy lạ ngắt, ngoại trừ thằng Phúc. Tôi bối rối phút đầu, cúi đầu chào tất cả rồi ngồi xuống cái ghế xa-lông bằng gỗ cẩm lai nâu xậm. kế bên cô tư. Đối diện là bà bác và một người cô trạc tuổi cô tư, tôi nghe trước đó, họ trong nhà gọi là bà ngoại và dì ba, số người còn lại, vài người đứng gần tường, vài người ngồi quanh cái bàn ăn dài kê cận bên cửa sổ ngó ra hông nhà láng giềng.

    Chừng bốn năm người hàng xóm, thập thò ngoài sân trước nhìn vô, tiếng xe lôi máy chở khách nặng nề trên đường từ Cao Xá xuống, không át nổi tiếng người xì xào trong nhà. Tôi còn chưng hửng chưa biết chuyện gì thì bà ngoại đã nắm lấy tay tôi, mắt bà đỏ hoe, hình như tôi thấy cô tư và dì ba cũng rưng rưng. Thằng Phúc đứng lặng thinh trong góc phòng. Bà ngoại nhìn thẳng vào tôi rồi buột miệng:

- Cha thằng Ngữ đây hả?

    Cô tư Hòa không hỏi tôi nhiều, chỉ nhìn, cười một mình. Anh chị của thằng Phúc thì thôi khỏi nói, họ thay phiên nhau hỏi tôi đủ thứ chuyện, chuyện của những ngày tôi còn nhỏ và chuyện của đời tôi bây giờ, họ gọi ba má tôi bằng tiếng cô cậu ba, thân thiết ngọt ngào chừng như là đã quen nhau từ lâu lắm. Phía ngoài sân trước, mấy người hàng xóm tụ quanh nhau, vừa nhìn vô trong vừa bàn qua tán lại.

*

    Tôi ở lại ăn cơm chiều với gia đình cô tư Hòa hôm đó, trong bữa ăn, cô tư cho biết lý do tại sao gia đình biết tôi và biết cả chỗ tôi đang ở mà sai Phúc đến tìm. Thì ra, ba má tôi từ Gò Dầu lên tỉnh thăm tôi, thỉnh thoảng có ghé qua nhà cô tư chơi. Mỗi lần như vậy, gia đình cô tư đều được ba má tôi kể chuyện về tôi, từ học hành tới tính nết. Ba má tôi cũng nói cái bộ bàn ghế sa lông bằng gỗ mun nâu đỏ, mà cô cho tôi hồi còn nhỏ, ngồi chơi hay ăn cơm cũng còn giữ nguyên đó.

    Cô tư nghe ba má tôi nói, cuối năm nay sau khi thi Tú tài Một, tôi sẽ xuống Sài Gòn học đệ Nhất, chớ không học ở tỉnh. Sợ là sẽ không có dịp gặp tôi thường trong năm tới, nhất là bãi trường sắp tới nơi, nên cô quyết định, sắp xếp cho cả nhà gặp tôi một lần cho bằng được. Ba má tôi không hề nói với tôi về sự quen biết của ông bà và gia đình cô tư Hòa từ đó đến giờ. Ăn cơm xong, trời cũng vừa tối, cô tư bảo thằng Phúc lấy xe “vê-lô” đưa về, không quên dặn tôi là nếu có rãnh thì qua chơi. Tôi cám ơn cô đã cho hai hộp bánh lần nữa. Cho đến lúc này cô tư hay ai đó trong nhà, không ai nói gì về sự liên hệ giữa họ với tôi ra sao, tôi cũng ngại, dù biết chắc có cái gì đó trong chuyện này nhưng, không hỏi.

*

    Phúc dắt xe”vê-lô” ra trước đứng chờ, đường lên đèn, đám người tụ trước sân nhà vẫn còn đó. Tôi chào mọi người ra về, hai anh em chạy đi một khoảng khá xa, họ vẫn còn đứng nhìn theo.

    Qua ngang phố Gia Long, vài ba tiếng đại bác vọng, lẻ loi đâu đó trên miệt trời biên giới. Phố tỉnh chập chững vào đêm.

 

Thuyên Huy

Viết mở đầu cho một chút thật của một chuyện đời có thật