Ở Đây Buồn Hơn Gò Dầu
Saturday, March 28, 2026
Xa Cha - Nhóm Vườn Thơ Mới Xướng Họa
THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 187_VƯỜN THƠ MỚI
Xa Cha
Năm bảy chín (1979) tiển Cha về quê nội
Con vội vàng vĩnh biệt nước ra đi
Không biết tương lai có được cái gì
Đành thắt ruột xa Cha thêm lần nữa
Nhìn xe đò đến đón Cha nơi cửa
Con ngậm ngùi xin bất hiếu với Cha
Rồi ngày mai con sẽ đến phương xa
Không thân thuộc người quen hay bằng hữu
Nơi đất khách con trông về quê cũ
Đời quan phu lặng lẽ sống nuôi con
Con biệt tăm Cha ngóng đợi mõi mòn
Năm tám bảy (1987), Bồng lai, nơi Cha đến
PTL
Oct. 10, 2025
quan phu 鰥 夫 : người góa vợ
Họa 1:
Nhớ quê xưa.
Mỗi dịp tết háo hức về nhà nội
Kiến trúc xưa sàn gỗ mát chân đi
Thuở ấu thơ chưa phải nghĩ lo gì
Leo hái trái hết cây này, cây nữa...
Chơi cút bắt trốn mình sau cánh cửa
Chiều tắm sông, sợ nước níu chân cha
Ngắm lục bình theo sóng mãi trôi xa
Hoa tim tím như mời ai sở hữu.
Năm tháng dần trôi còn đâu cảnh cũ
Tóc bạc màu mong trở lại trẻ con
Bờ sông xưa sóng xô lở hao mòn
Bao ký ức chợt về khi tết đến.
Minh Tâm
Họa 2:
Mất Ba
Rơi nước mắt đưa ba ra đồng nội
Bảy chín mùng mười ba trút hơi đi
Tai họa từ đâu ập tới làm gì
Ba đã mất không còn mong chi nữa
Quan tài của ba cây gòn trước cửa
Bốn thanh dài đủ đựng hình hài cha
Đau xót tâm cang máu chảy chia xa
Mắt đẩm lệ đám ma vài thân hữu
Đổi đời đói khổ năm giao thời cũ
Anh trai tù cải tạo thiếu bà con
Tiển cha đi theo xóm nhỏ lối mòn
Khăn tang trắng mộ phần nơi ba đến
Hương Lệ Oanh VA
Họa 3:
Nỗi lòng
Chủ tịch Đảng hổn danh Ông Cố Nội
Nước non nầy Ông quyết định hướng đi
Đất nước ta Ông chả phải quái gì
Tài sức hẳn khỏi cần bàn tới nữa
Hậu quả đến cảnh tan nhà nát cửa
Con cái cam đành cách biệt mẹ cha
Tìm đất lành dù lạc bước phương xa
Ruộng vườn đất Đảng Ta đà chiếm hữu
Nơi xa xôi chợt nhớ về chốn cũ
Con sông Đồng ôm ấp mái tranh con
Thôn ấp nhỏ giăng mắc dấu chân mòn
Ông Cố Nội tại sao Ông lại đến ?!
THT
Họa 4:
Ký ức
Sau cuộc chiến Mẹ đưa về xứ nội
Bến Ninh Kiều tấp nập lắm người đi
Nhìn mong lung không hiểu bởi lẽ gì
Chỉ cảm nhận bình an không còn nữa
Chập choạng tối, ông tựa mình trước cửa
Nét buồn lo trông ngóng của người cha…
Khánh chồng con đồn trú ở phương xa*
Ảnh không thể nào rời xa chiến hữu…
Lời mẹ nói đầm đìa dòng lệ cũ
Kể từ khi Mẹ biết mất cha con
Mắt mẹ thâm sẫm tím đến héo mòn
Ông vội bảo… Tìm nơi an trú đến… **
Tâm Quã
*Lời
của mẹ
**Ông
bà nội và Mẹ-Tôi ra biển
Cuộc
đời trôi theo một chuyến hãi hành
Họa 5:
Xa Mẹ vĩnh viễn
Đậu phỏng vấn tôi vội về bên nội
Thăm mẹ già lần cuối , bước chân đi
Nhìn tương lai không biết trước điều gì
Nhưng quyết định, cơ may không còn nữa
Nhà tôi đó bóng mẹ già tựa cửa
Ngồi trông con về làm giỗ cúng cha
Gặp mẹ lần cuối vĩnh viễn chia xa
Cô đơn cất bước không ai thân hữu
Ôi ly khách nay ngóng về chốn cũ
Ta ngày đêm sống lặng lẽ vì con
Vui một ngày vẫn nhớ mẹ hao mòn
Mẹ tạ thế chốn Vĩnh hằng tìm đến…
Nguyễn Cang
Mar. 1, 2026
Họa 6:
Ân phụ
Con tiễn bước đau lòng cha về nội
Lệ rơi hoài lòng nghẹn tiễn cha đi
Mai ra đi lòng quặn biết được gì
Đêm vắng bước con tim đau lần nữa
Sân chiều vắng con thơ nhìn ra cửa
Con xa quê lòng nghẹn nhớ về Cha
Mai ly hương đời mỏi bước đường xa
Tình nghĩa cũ con còn đâu bằng hữu
Nơi đất lạ con tìm về quê cũ
Cha âm thầm đời tần tảo nuôi con
Con xa quê lòng khắc khoải đợi mòn
Ngày trở gót con mong cha về đến
ChatGPT AI
Chú thích của PTL : Từ cải tạo
Sau 30-4-1975, chính quyền dùng từ cải tạo 改造 .
Đó là sai lầm. Cải tao nghĩa là sửa đổi, làm cho
thích ứng với hình thế và nhu cầu mới.
Từ này dùng cho vật vô tri vô giác.
Trong Thi Kinh 詩經 có câu:
Truy y chi hảo hề, Tệ dư hựu cải tạo hề
緇衣之好兮, 敝予又改造兮
Áo đen (xưa dùng chỉ trang phục mộc mạc) đẹp tốt,
nếu rách thì chúng tôi làm cái áo khác đổi cho
Muốn dùng cho con người thì phải dùng cải hối 改悔 nghĩa là hối lỗi và sửa đổi
Trong Chiến quốc sách 戰國策 có câu:
Thái tử trì chi, nghi kì hữu cải hối
子遲之, 疑其有改悔
Thái Tử Đan thấy chậm trễ, ngờ Kinh Kha đã hối
hận mà đổi ý.
Trước 30-4-1975, miền Nam dùng từ Cải huấn
改 訓
Cải 改: biến đổi
Huấn 訓 :
dạy dỗ
Cải huấn nghĩa là quá trình dạy đỗ,
rèn luyện và uốn nắn lại hành vi, tư tưởng của những người vi phạm pháp luật hoặc
trẻ em hư hỏng.
Miếng Ngon Quê Hương - Trần Thị Lai Hồng
Miếng ngon quê hương
Trở về từ chuyến viếng thăm quê hương, nhiều
bà con bạn bè ân cần thăm hỏi. Một số còn tò mò hơn về những món ăn bên nhà, nhất
là những “đặc sản” từng vùng.
Nói về “đặc sản”, tức là những sản phẩm đặc biệt,
mà riêng về miếng ăn thức uống, Việt Nam bây giờ không thiếu chi sơn hào hải vị
quí hiếm. Sơn hào có thịt khỉ thịt voi thịt gấu thịt cọp thịt heo rừng thịt
cheo thịt trút thịt trăn thịt rắn … Hải vị có rắn đẻn cá óc-nóc nhum đồn đột hải
sâm hải mã … Còn phải kể “quí vị” ruộng rẫy cào cào châu chấu chim sâm cầm kỳ
nhông cắc kè … không xiết !
“Đặc sản” nếm trong đời, hẳn nhiều người lưỡi
từng tê tân khổ. Dở ngon, ít nhiều, không quan trọng. Điều đáng kể là có nhiều
miếng ngon chẳng phải hiếm hoi trân quí, nhưng một khi đã thấm đậm khẩu vị cùng
tâm ý, còn nhớ mãi cả đời.
Miếng ngon quê hương của tôi, có ba món đáng gọi
là “đặc sản.”
Đầu tiên, là Cơm Nắm, còn gọi là Cơm Vắt hay
Cơm Bới.
Cơm Nắm
Cơm nấu bằng gạo tẻ. Gạo gie gạo dự nàng hương nàng hai tám xoan tám thơm nanh
chồn … Chỉ cần một loại gạo dẻo, thơm, mềm. Được gạo mới càng hay. Khi nấu,
thêm vài lá dứa cho thơm. Nấu khéo vừa chín, không khô, chẳng nhão, hạt cơm vừa
nở đúng độ. Dùng mo cau non, loại mo bao quanh buồng cau, mỏng mềm, không phải
mo bẹ lá. Cơm vừa chín tới xới ra mo cau sạch, nhồi nhanh mạnh tay nhiều lần
cho hạt cơm dẻo mềm nhuyễn nhừ dính sát nhau thật mịn, rồi nắm lại.
Tùy sở thích, nắm cơm có hình dáng tròn đầy cỡ
miệng chén, hoặc vuông vức dẹp hơn cái bánh chưng, hay một thỏi tròn lẳn có đường
kính nhỏ hơn miệng chén và dài khoảng một gang tay. Nắm cơm để nguội, gói lại
trong lá chuối hay lá sen xanh mượt, hoặc mo cau mềm, để giữ khỏi bị khô.
Thức ăn kèm cơm nắm thường là muối mè trộn đậu
phụng rang vàng giã nhuyễn. Có thể thêm tí đường. Sang hơn thì dùng thịt ruốc
chà bông hay giò lụa chả quế. Rất đơn giản thì chỉ cần chấm lát cơm nắm mềm mịn
vào một chút nước mắm ngon, là đủ. Người Hà Nội dùng cơm nắm xong, có bát nước
chè tươi hay trà Thái Nguyên, rồi hút một điếu thuốc lào.
Dân Quảng Trị Thừa Thiên thích cơm nắm với cá
hẻn – cá trê nhỏ – kho khô, hoặc muối sả. Sả tươi băm nhuyễn xào với mỡ gáy cắt
hạt lựu, có tỏi, ớt bột, thịt heo hay bò băm, trộn thêm mè rang vàng giã hơi dập,
và mắm ruốc. Mắm ruốc, không phải mắm tôm. Ngoài ra, giản tiện dễ dãi hơn, chỉ
cần chấm cơm nắm với mắm ruốc có rắc chút ớt bột. Người miền Trung ăn cơm nắm –
còn gọi là cơm bới – như vậy kèm thêm trái khế chua hay ngọt. Ăn xong làm một đọi
nước chè tươi nấu có vài lát gừng. Tuyệt!
Miếng cơm nắm tôi được ăn lại, không phải tại
quê miền Trung, mà tại một con ngõ nhỏ phố phường Hà Nội.
Sáng hôm ấy một mình lang thang khu “phố Tây,”
nhìn lại những căn biệt thự thời Pháp thuộc nay đổi chủ, vui chân về phía sông
Hồng, cuối phố Trần Hưng Đạo, thấy hai bên Bệnh viện Việt Nam có hai con ngõ ngồ
ngộ. Rẽ vào một. Ngõ 90.
Đang đi, bỗng nghe một giọng rao cao vút “Ai
cơm nắm! Cơm nắm muối vừng đê … !” Nhìn lại, một chị áo cánh trắng quần đen nón
lá, dắt xe đạp. Chiếc xe thồ phía sau một thúng lớn đậy lá chuối, bên trên lủ
khủ mấy hộp nhựa trắng đục đậy kín, ngăn nắp xếp trên một cái mẹt vừa nhỉnh hơn
miệng thúng, và trên cùng là vài chiếc mẹt cỡ nhỏ hơn.
Chị dừng xe bên lề, dưới gốc bàng lá đỏ, cạnh
một quán ăn nho nhỏ. Tôi cũng dừng cạnh chị, lân la làm quen bằng cách mua một
nắm cơm trong lá chuối, kèm vài miếng giò quế và tí muối vừng. Vài khách trong
quán cũng gọi mua.
Khi chị ngừng tay, tôi bèn hỏi chuyện.
Chị cho biết gốc làng Liên Xá huyện Yên Mỹ tỉnh
Hưng Yên ngay phía Nam Hà Nội, cùng quê với danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu
Trác. Đôi mắt đen của chị lấp lánh dưới vành nón lá gợi nhớ quan họ lấp lánh là
lấp lánh ơi … Đôi mắt đen phản chiếu màu nắng, sáng ánh nét vui khi chị nhìn
tôi :
– Con ngõ này ngộ lắm. Có khi người ta gọi là
Ngõ Không Tên, nhưng nhiều khi được gọi là Ngõ Nguyễn Tuân đấy cô ạ.
Thấy tôi nhướng mắt sắp mở miệng hỏi, chị tươi
cười giải thích :
– Cháu mới theo nghề này mấy năm đây thôi. Trước
mẹ cháu đội thúng cơm nắm đi bán, và từng gần như mỗi ngày vào con ngõ này là
được ông ấy gọi mua. Mẹ cháu bảo lúc sinh thời nhà ông lúc nào cũng lắm bè bạn
vang vang vui chuyện. Con ngõ nay được mang tên Ngõ Nguyễn Tuân vì dạo ấy nhiều
khách bốn phương đến tìm ông, ra vào tụ họp hàng ngày.
Tôi ngây người, nhớ Tùy Bút Tóc Chị Hoài Chùa
Đàn Vang Bóng Một Thời … Nguyễn Tuân, người từng đi và viết nhiều từ hơn nửa thế
kỷ trước, từng sống trong ngõ này, từng kể nhiều chuyện về miếng ăn thức uống,
từng cơm nắm chấm nước mắm …
Chị cơm nắm kéo tôi về thực tại :
– Mười mấy năm trước, làng Liên Xá cháu đã
tươi mươi* trổi dậy nhờ nghề cơm nắm. Mấy năm gần đây, cơm nắm không cạnh tranh
nổi với vô số “đặc sản” tân kỳ kinh tế thị trường của nhiều hàng quán la liệt
khắp phố phường Hà Nội. Tuy nhiên, cũng còn người yêu cơm nắm. Hầu hết là giới
công nhân chân tay, một số người Hà Nội hoài cổ, và – chị ngập ngừng nhìn tôi rồi
nói tiếp – còn lác đác vài người hoài hương như cô đây.
Tôi mỉm cười chịu nhận :
– Cơm nắm ăn chắc bụng. Nếu ở nhà thì tôi đã
ăn cơm nắm với cá kho khô. Cơm với cá như mạ với con mà lị !
Chị cười vui với lời ví von của tôi. Nụ cười tắt
ngay và đôi mắt đen sáng bỗng tối sầm :
– Nghề này hết thời rồi. Ngày xưa ra đi ngó
trước ngó sau, ngó nhà mấy cột ngó cau mấy buồng. Bây giờ nhà chẳng cần cột vườn
không trồng cau. Nhà bây giờ bê-tông với gạch, vườn bây giờ đất đai đắt đỏ nên
bỏ vườn chặt cây bán đất cất nhà. Cau chẳng mấy ai ăn nên chẳng ai thiết trồng
lại. Xưa dùng mo cau non nắm cơm, bây giờ dùng khăn vải thay vào đấy cô ạ.
Tôi nhìn gói cơm nắm như một bạn cũ lâu ngày gặp
lại. Người bạn chân quê ngày xưa nay theo cuộc đổi đời đưa đẩy đã được sửa sang
nhan sắc để đi vào phố thị. Ngậm miếng ngon cơm nắm, bỗng thấy mình vụt biến
thành bà mẹ quê còm cõi áo cánh nâu khăn mỏ quạ tựa gốc cau sau hè có buồng hoa
đuôi phượng le te trắng ngà tỏa hương dìu dịu. Ngoài kia, cánh đồng lúa con gái
đương thì rì rào dào dạt sóng. Nắng bỗng thẫm lại. Một đám mây giăng ngang rồi
trôi đi. Giải nắng lại sáng rực trôi trên đồng ruộng.
Miếng ngon quê hương thân thương ngọt bùi chưa
nuốt trọn bỗng thấy nghẹn ngào. Lòng ngậm ngùi không vui. Có phải tại mình vô
tình – hay cố ý – uống hai lần trong cùng một dòng sông, dẫu là sông Đào ?
Miếng ngon quê hương của tôi, sau Cơm nắm, là
Xôi Lúa.
Xôi Lúa
Những ngày ở Saigòn, khi được hỏi về những món ăn ưa thích, tôi chỉ xin Xôi
Lúa. Ai cũng ngạc nhiên, nhưng không thắc mắc.
Họ không thắc mắc, nhưng tôi thì có. Xôi Lúa
dùng gạo nếp, bắp, đậu xanh, hành phi mỡ hay dầu, và tí đường. Vậy sao gọi là
Xôi Lúa ?
Gạo nếp có khắp cùng thế giới, và quê ta có đủ
từ nếp dài nếp tròn nếp đen nếp hồng nếp than nếp quạï nếp cẩm nếp vàng nếp
hương … Nhưng Xôi Lúa chẳng lẫn hạt lúa nào, ý nói hạt lúa nguyên vỏ trấu. Mà gạo
nếp gạo tẻ khi còn vỏ đều gọi chung là lúa, chỉ khác loại tự lúa. Vậy sao lại
là Xôi Lúa ?
Giở Miếng Ngon Hà Nội của Vũ Bằng mong tìm
tông tích, thấy bài về Ngô Rang “… ngày xưa còn bé, tối đến cứ ra dưới gốc đèn
dầu Hàng Trống, mua lúa nướng về ăn … cầm ấm cả bàn tay.” Lúa nướng ? Lạ ! Mãi
cả hai đoạn sau đó mới thấy nói rõ “… mà có thế mới thật cảm giác được hết cái
thú ăn ngô nướng về mùa đông !” **À, lúa nướng, tức là ngô nướng.
Nhưng tại sao từ lúa lại đổi sang ngô ? Lại tò
mò. May khi xem Việt Nam Bách Khoa Toàn Thư, Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quí Đôn,
giở chương Phẩm Vật Loại, bắt được nguồn gốc : Lúa ngô, tên chữ Ngọc thục thử,
du nhập từ Trung Hoa vào Việt Nam thế kỷ 17. ***
Lục trí nhớ, dấu vết lúa ngô được ghi trong ca
dao xứ Nghệ : “Ai về làng Vọt mà coi, tháng hai đã phải cạp cồi ló (lúa) ngô.”
Còn bắp, thì giải thích bằng hình dáng trái không thuôn dài mà lại ngắn đẫn mập
ú tựa bắp chuối.
Vậy, miếng ngon Xôi Lúa này mang quá trình đổi
thay ngôn ngữ cả ba trăm năm, đi từ văn chương bác học Ngọc thục thử vay mượn
xa vời, tìm đủ cách hội nhập bình dân, thay hình đổi dạng Xôi Lúa Ngô, Xôi Lúa
Ngô Bắp, rút gọn Xôi Ngô, cuối cùng nôm na Xôi Bắp, nói lên ai cũng hiểu được.
Nguồn cội bắp còn trong vòng mơ hồ, nhưng kể
lâu đời sử sách thì Mễ có bắp từ 7 ngàn năm nay, châu Mỹ có khoảng 3 ngàn năm,
Trung Hoa có từ rất xưa không biết tự bao giờ, còn Việt Nam ta có từ thế kỷ 17,
tức là cách đây hơn ba trăm năm. Sơn Tây là nơi đầu tiên trồng bắp. Bắp ngon có
tiếng thì Nghệ An Sơn Tây Thái Nguyên Lạng Sơn, bắp cồn ở Huế, và bắp Biên Hòa.
Có bắp tẻ bắp nếp bắp lòn bắp trắng bắp ngũ sắc bắp mọi …
Hạt bắp phơi khô chà sạch mày, ngâm nước qua
đêm rồi hầm nở bung, trộn chung với nếp hông chín mềm. Đậu xanh đãi vỏ sạch,
hông chín, giã nhuyễn, nắm lại, cắt nhỏ rải đều trên đĩa xôi bắp. Hành hương
phi vàng với mỡ hay dầu, rắc rưới lên trên cùng. Muốn ngọt, cho tí đường. Có thể
thêm muối mè rang vàng, tùy thích.
Ngày rời Việt Nam, tôi cũng chỉ xin một gói
Xôi Lúa đem theo ăn đường, thay vì phải ăn những “đặc sản” máy bay.
Giở gói lá chuối bọc ngoài, bên trong là chiếc
lá bàng rực rỡ roi rói tươi màu hổ hoàng, bao quanh những hạt ngọc xôi và bắp
long lanh óng ánh, nằm ngoan dưới lớp đậu vàng mịn, bên trên điểm những khoanh
hành hương xém nâu. Xúc một muỗng cho vào miệng, quyền quyện ngọt bùi những tặng
phẩm mộc mạc ruộng rẫy bưng biền. Nghe những hương vị quê mùa thấm vào lưỡi qua
khẩu cái trôi xuống cổ họng rồi vào bao tử, cảm thấy con tì con vị nở ra chín
khúc tựa chín con rồng đồng bằng miền Nam.
Từ tầng mây cao ngất, tưởng nghe được tiếng
rao lảnh lót ” Bắp Biên Hòa nóng hổi vừa thổi vừa ăn nè!” mỗi xế chiều ở
Saigòn, và văng vẳng đâu đây vọng lại câu hò trên bến Thủ Thiêm bắp non mà nướng
lửa lò …
Miếng ngon quê hương của tôi sau Cơm nắm Xôi Bắp,
là Măng.
Măng Trúc
Muốn ăn Măng Trúc măng giang
Măng tre măng nứa, chè bàng cơm lam
Chè bàng cơm lam thì không ham, nhưng măng thì
bất cứ nấu nướng cách nào tôi chẳng bao giờ khước từ.
Trước khi nói về măng, mầm non của tre trúc, bản
năng tò mò của tôi nổi dậy. Bèn tìm tòi lục lọi, được biết tiếng Việt cổ gọi
tre trúc là pheo, đến nay vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình Quảng Trị Thừa
Thiên vẫn còn dùng cụm từ tre pheo* này.
Tre trúc hay tre pheo cùng họ hàng với lúa và
bắp, đều thuộc họ Hòa Bản, gọi nôm là họ nhà cỏ – Poaceae, nguyên gọi là
Graminae – gồm nhiều họ phụ và có cả ngàn loại, được trồng nhiều nhất bên Tầu,
Nhật và Ấn độ. Bên ta có khoảng 300 loại : bương giang hóp luồng nứa lồ-ô, tre
đốm tre đen tre vàng tre la-ngà tre miễu, tầm vông mạnh tông tre ống điếu tre bụng
Phật, tre xiêm tre nghệ … vô số kể !
Tre trúc khác nhau về hình dáng, kích thước,
màu sắc, tầm cỡ, nhưng cùng chung đặc tính là mọc thành rừng lũy lùm cụm bụi,
và mọc rất nhanh. Một đặc tính khác, là phải cả 30, 60 hay đến 120 năm mới ra
hoa. Hoa kết quả là rừng tàn lụi. Mãi 5 đến 10 năm sau mới có rừng khác nhờ hạt
nẩy mầm và măng mọc từ rễ ngầm. Hạt tre ăn được, từng là thức ăn trong những trận
đói lớn tại Ấn Độ và Trung Hoa. Bài này chỉ nói về măng, miếng ngon quê hương,
nên chỉ vòng vo đôi chút về tre trúc mà phải riêng một bài dài mới có thể kể hết
được.
Về ẩm thực, măng có đặc tính thấm đậm hết
hương vị ngon ngọt của bất cứ loại tôm cá thịt nào nấu chung, biến hương vị các
thứ đó thành của nó, miếng măng trở thành ngon hơn gấp bội.
Xưa cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm ẩn nhàn đơn giản thu
ăn măng trúc đông ăn giá, nhưng không thấy ghi nấu nướng ra sao. Măng gần gũi với
dân gian hơn.
Ai
về nhắn với họ nguồn
Măng non gửi xuống cá chuồn gửi lên
Măng kho cá chuồn cá đối cá chẻm cá dầy cá diếc
cá măng … bất cứ loại cá béo nào. Tuyệt nhất là măng kho cá mòi. Tỉnh Bình Thuận
ê hề cá, người Bình Thuận chê cá mòi quá béo nhưng không chê măng kho cá mòi,
và chỉ chiếu cố gắp măng.
Ngoài ra, măng còn được kho với tôm và thịt
heo, hoặc chỉ cần thịt mỡ có da, và nêm thêm mắm ruốc. Trời trở mùa se lạnh, nấu
nồi cơm vừa chín tới, ăn với măng kho ruốc điểm ớt bột cay cay, hết sẩy !
Một câu nói vui líu lưỡi trêu nhau là xắt măng
vằm măng chắm nước mắm, để tả món dễ làm nhất của măng. Măng luộc kỹ cắt mỏng
thái sợi – hoặc băm/vằm – bóp ráo nước đem chấm nước mắm ớt đường chanh tỏi. Chỉ
ăn đơn sơ như vậy, hoặc kèm cá mòi cá trê nướng vàng dòn.
Cầu kỳ hơn tí thì có món măng trộn. Cũng xắt
măng vằm măng, trộn cùng tôm thịt luộc cắt mỏng, mè rang giã dập và rau răm
thái nhuyễn, rưới nước mắm ớt đường chanh tỏi. Dùng bánh tráng dày nướng vàng
xúc ăn.
Món măng xào đặc biệt ý nhị là :
Măng
non nấu với gà đồng
Chơi nhau một chuyến xem chồng về ai
Măng này phải là măng le măng tầm vông hay mạnh
tông là ba thứ ngon nhất, loại tre cật đặc ruột, vừa mềm vừa dòn. Những lát
măng nõn nà màu ngà chen giữa những miếng gà đồng (thịt ếch), bày rõ cặp đùi
non trắng mịn óng mượt e ấp giữa đám hành lá màu lụa hoa hiên hoa thiên lý, những
cọng ngò ngăn ngắt xanh và mấy cọng ớt đỏ hồng. Rất gợi tình ! Đúng là lơ mơ có
kẻ mất chồng như chơi !
Ngoài món măng xào gà đồng, măng còn đi chung
các thứ rau đậu khác kèm với bất cứ loại thịt nào – tôm gà heo bò … – hoặc chỉ
cần đậu phụ, là đầy đủ chất tươi có cả khoáng và đạm.
Măng
giang nấu cá ngạnh nguồn
Đến đây em phải bán buồn mua vui
Măng giang là mầm loại tre lóng dài rỗng ruột,
đem bào mỏng muối chua để dành. Đến mùa cá ngạnh nguồn béo ngậy bụng trứng ửng
hồng, đem nấu canh có cà chua ớt đỏ phi lên cho nước dùng óng ánh tươi, trên rắc
tiêu cho ngọt rắc hành cho thơm. Măng giang và cá ngạnh đi vào văn chương bình
dân, trong khi các thứ canh măng chua khác cũng dùng cá – bông lau diếc hanh
kình thu thác lác … – không được may mắn đó, có lẽ vì không mang nỗi buồn xa xứ
như người nấu canh cá ngạnh.
Miền Trung có món canh thập toàn – nôm na là tập
tàng – gồm trên dưới mười thứ rau, nấu với tôm khô giã dập hay tôm tươi bóp dẹp,
thịt nạc heo băm nhuyễn hoặc giò sống. Ngoài rau, còn có măng vòi. Măng vòi là
mầm non của hóp và tre nhỏ. Mồng tơi bồ ngót mềm dịu, bát bát rau má mềm dòn,
rau sam rau me đất mềm chua, rau đay mềm rền, mướp hương mềm ngọt … trong khi
măng vòi sần sật dòn. Các thứ rau mướp xanh ngăn ngắt lẫn vào nhau, tôn màu trắng
lụa nõn nà của những lát măng bào mỏng mịn. Đùa cuộn rau và măng giữa răng, cắn
đệm một quả cà phào nhỏ muối xổi đã quẹt tí mắm tôm, cảm thấy miệng lưỡi ôm trọn
hương vị vườn rau sau nhà mẹ.
Măng vòi thái sợi có mặt trong món mắm tôm
chua Huế, trộn lẫn những lát tỏi mỏng, sợi riềng màu ngà, thú đủ ngọc thạch, ớt
đỏ tươi, và cà-rốt màu gạch non. Mắm tôm chua kẹp thịt heo luộc kèm khế chuối
chát vả rau sống, ăn với cơm rất đậm vị, mà với bún cũng hết ý.
Nói tới bún, phải kể bún gà bún vịt bún ngan,
gọi chung là bún xáo măng. Món xáo măng đặc biệt nhất không biết mấy ai được
thưởng thức thực, hay chỉ biết qua ca dao:
Con
cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng …
Măng với bún, không ai quên được bún măng khô
hầm giò heo nấm mèo đông cô. Măng khô ngon phải là măng đặc ruột dày miếng như
măng lưỡi heo lưỡi trâu lưỡi bò, luộc đi luộc lại thay nước kỹ hầm mềm rồi mới
nêm nếm nấu nướng. Tết đến, từ Bắc chí Nam qua hải ngoại, hầu như nhà nào cũng
có nồi măng khô hầm giò. Hết Tết, các thức ăn thừa được dồn vào nồi hầm này, đệm
thêm cải cúc cải cay cải xanh cải trắng, là có đủ hương vị thơm ngon béo bổ ngọt
bùi.
Miếng ngon quê hương của tôi, dẫu xa xôi hải
ngoại cũng vẫn dễ kiếm tìm, bởi chúng nằm chính trong trái tim, trong máu thịt
mình. “Đặc sản” quê mùa mộc mạc như những thứ vừa kể nếu không trồng trỉa được,
không tìm đúng gốc Việt thì gốc Hoa gốc Hàn gốc Lào gốc Miên gốc Nhật gốc Thái
gốc Phi gốc Mỹ gốc Mễ … Trong ba ngàn cõi ấy****, gốc nào lại chẳng có cội nguồn
từ lòng đất, quê hương của con người, riêng chi Đất Mẹ !
Trần
thị Lai hồng
Nguồn: Sáng
Tạo
Chú thích :
* Tươi
mươi : sống; pheo : tre, tiếng Việt cổ, theo Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng, Từ điển Nguồn
gốc Tiếng Việt, sắp xuất bản
** Vũ Bằng,
Miếng Ngon Hà Nội, Nam Chi Tùng Thư, Saigòn 1960
*** Lê Quí
Đôn, Vân Đài Loại Ngữ, Việt Nam Bách khoa Toàn thư, Nhà Xuất bản Miền Nam,
Saigon 1973
“ Ngọc thục
thử : Về ngọc thục thử, sách Bản thảo nói rằng : ” Ngọc thục thử cũng giống như
cây ý dĩ, cây cao độ ba, bốn thước, trong giữa cây có một cái bọng, trên cái bọng
có râu trắng. Cái bọng ấy mà nứt, thì lòi ra hạt chi chít với nhau, sắc vừa
vàng, vừa trắng, đem rang lên ăn được. Khi rang thì nó nở bỏng trắng, như rang
thóc nếp; ăn bỏng ấy thì thân thể điều hòa, miệng ăn biết ngon (điều trung khai
vị)” Nước Nam ta gọi thứ ngọc thục này là lúa ngô (bắp). … Hồi đầu đời Khang Hy
(1662 – 1723), Trần Thế Vinh người huyện Tiên phong (Sơn Tây) sang sứ nhà
Thanh, mới lấy được giống lúa ngô đem về nước. Suốt cả hạt Sơn Tây nhờ có lúa
ngô thay cho cơm gạo.”
**** Võ
Đình, Một Cành Mai, An Tiêm Paris xuất bản
Đạo vốn không nhan sắc
Mà ngày một gấm hoa
Trong ba ngàn cõi ấy
Đâu chẳng phải là nhà
(Thiền sư Thiền Chiếu, đời Lý, thế kỷ 11)
Lá Rơi Ngoài Ngõ & Vết Nứt Tháng Tư - Nguyển Thị Châu
LÁ RƠI NGOÀI NGÕ
Thu chưa đến, sao lá rơi ngoài ngõ
Nắng hanh vàng chen chút bóng mây bay
Lá nhớ ai? Mà lá chóng tàn phai
Thu chưa đến mắt buồn buông ngấn lệ
Chờ anh đó, tiếng gió reo ngoài ngõ
Thương người đi, lâu lắm không thấy về
Anh đi rồi, theo mấy dặm sơn khê
Dẩu biết thế, sao vẫn chờ vẫn đợi
Nhớ thuở ấy bước chân ai đầu ngõ?
Theo tiếng cười khúc khích nhớ người yêu
Tay trong tay, nước mắt rơi thật nhiều
Lau dòng lệ Ôi! Lâu đài tình ái
Lâu lắm rồi không thấy ai ngoài ngõ
Chỉ còn nghe chiếc lá xào xạc rơi
Mùa Thu ơi! Nghe sao thấu đất trời
Thu chưa đến mà lá rơi ngoài ngõ…!!!
25-3-2026
Nguyễn thị Châu
Thời gian lặng lẽ trôi nhanh
Quanh đi quẩn lại cũng đành phôi phai
Trời xanh nay đã an bài
Nhớ chi cái cảnh lạc loài khi xưa
Ngoài trời có nắng có mưa
Chiến tranh máu thịt thắng thua thường tình
Hôm nay nhớ chuyện của mình
Pháo bay tứ phía rung rinh mái nhà
Tiếng người réo gọi từ xa
Kẻ rên, người khóc xót xa trong lòng
Tiếng xe, tiếng pháo rền vang
Có người ngã xuống tâm cang rối bời
Tôi đi chưa nửa cuộc đời
Chiến tranh cướp mất đi người tôi thương
Bỏ tôi ở lại đời thường
Ra đi vì nước, vì thương dân lành
Ba mươi tiếng súng tan hàng
Tháng tư đau xót bên đàng xác ai?
Đứng nhìn nuốt lệ đắng cay
Miền Nam tôi đó những ngày đau thương…!!!
Nguyễn thị Châu
Lối Cũ Chẳng Sao quên - Bích Huyền
Lối Cũ Chẳng Sao Quên
Ðường trần quên lối cũ
Người đời xa cách mãi
Tình trần khôn hàn gắn thương lòng…
(Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay – Ðoàn Chuẩn-Từ Linh)
Vĩnh Phú, địa danh tôi muốn quên mà không thể nào quên.
Trong suốt hơn mười năm qua và trong cả cuộc đời . K1, K2, K3, K4…những chữ số
ký hiệu kinh hoàng. Của tôi. Của những người tù và gia đình họ. Ở rồi, đến rồi,
đi rồi…mấy ai muốn quay trở lại? Vậy mà hôm nay tôi vẫn phải trở về đây. Cảnh vật
không khác xưa là bao nhiêu dù thời gian trôi qua bốn năm rồi…
Những khẩu hiệu:”Chào mừng thành công
Ðại Hội Ðảng 5,” “Ðảng Cộng sản Việt Nam , Người lãnh đạo Tài Tình”, “Ðảng Cộng
sản Việt Nam muôn năm…” lem luốc màu đỏ vì nước mưa, chảy dài xuống như những
dòng nước mắt pha máu ngoằn ngoèo trên từng bờ tường loang lổ, cũ kỹ. Ngay phía
dưới lại có hàng chữ mang tính “Pháp lệnh” bằng những lời thô tục “Cấm ỉa đái”
. Có cả những nét chữ nguệch ngoạc chửi thề. Hình như không một ai để ý.
Ở cái ga xép èo uôc gần tận cùng của
đất nước này, những con người lam lũ, ngác ngơ, còn đang loay hoay với ký trà,
bao gạo, rổ rá nhựa, nồi niêu xoong chảo, xấp vải hoa Chợ Lớn hoa xanh, hoa đỏ…Che
che, giấu giấu, tránh con mắt dòm ngó của bọn Công an kinh tế. Chính sách của Ðảng
đổi mới rồi, tự do buôn bán nhưng người dân lại khổ vì sưu cao thuế nặng.
Theo lời chỉ dẫn, chúng tôi không đến
trại Tân Lập bằng đường sông nữa. Ðạp xe trên bờ đê. Dắt xe đi bộ qua bãi cát lổn
nhổn những vỏ sò, vỏ ốc. Băng ngang qua những thửa ruộng khô cằn của vùng đất
miền trung du. Cái hình ảnh “quê em miền trung du, đồng chiêm lúa xanh rì…”của
một thời hoàng kim nào xa lắm, nay ở đâu? Giặc tràn về đốt phá thôn làng. Gia
đình ly tán. “Vườn không nhà trống tàn hoang” còn trong trí óc non nớt của tuổi
thơ tôi. Giờ đây, giặc nào đã làm cho miền Bắc điêu tàn?
Ðảng Cộng Sản Việt Nam, đỉnh cao của
trí tuệ loài người! Ôi! mỉa mai thay những khẩu hiệu kêu to như những chiếc
thùng rỗng! Ðảng lãnh đạo tài tình làm sao để bao nhiêu năm đời ta có Ðảng, bấy
nhiêu năm Ðảng phá nát tan? Ðể những người dân quê hiền hoà cởi mở trở nên ngu
ngơ câm lặng đến thế kia sao?
Dân cư ở đây rất thưa thớt. Họ sống
trong những mái nhà lụp xụp, vách đất, mái tranh. Mảnh vườn. Rào thưa. Khoảng
sân đất. Giếng nước. Chiếc gầu..tất cả đều quá nhỏ bé, trơ trụi, xa lạ. Trẻ con
gầy còm, ốm yếu. Quần đùi vá víu miếng nọ miếng kia. Cởi trần, ngồi nghịch đất.
Không tiếng nô đùa. Không tiếng hát. Không tiếng nhạc của máy thu thanh. Không
cả tiếng hót. Như một vùng đất chết.
Ba người anh cùng đi với tôi chuyến
này đều là những thanh niên đầy nhiệt huyết của hơn ba mươi năm về trước. Thoát
ly gia đình, mang tuổi trẻ của mình cống hiến cho đất nước . Ðể rồi khi biết
mình bị lừa thì đã muộn. Cũng dòng sông Lô nắng vàng lấp lánh nhưng còn đâu tiếng
hát rộn ràng? Cũng con đê này của những buổi chiều vai đeo ba lô từ chiến khu về,
rầm rập bước chân.
Trong thời gian, “Hồi chuông ngân nga
trong chiều thu ngập gió…Hồn ta chìm đắm tiếng chuông xa vời.” Ba người anh tôi
ôn lại một vài kỷ niệm xưa. Tiếc nuối. Tôi làm các anh tỉnh giấc mơ:”Phải chi
ngày ấy các anh không đi theo phong trào Thanh Niên Cứu Quốc thì nay em đâu phải
đi bốc mộ chồng ở một nơi đèo heo hút gió này!” Ba người anh im lặng. Họ như muốn
quên đi những năm tháng sục sôi khí thế cách mạng. Yêu tự do. Yêu tổ quốc. Ðánh
đuổi giặc Pháp ra khỏi đất nước . Chiến thắng Ðiện Biên Phủ, ngày trở về giải
phóng thủ đô Hà Nội. Những người bộ độ với tuổi hai mươi. Trẻ trung. Học thức.
Hà Nội đã bừng lên một sức sống mới.
Hà Nội rực rỡ cờ hoa. Hà Nội tưng bừng
tiếng hát. Không bao lâu, những cuộc đấu tố dã man diễn ra khắp nơi. Ông bác
tôi bị đấu tố, dù có năm người con đi kháng chiến. Nghe tin dữ, các anh về quê
xin Ðảng khoan hồng. Không những không tha, họ còn xúi giục các anh tôi: phải
giác ngộ cách mạng, phải đứng vào hàng ngũ nhân dân, cùng vạch tội, chỉ tên địa
chủ, cường hào, ác bá. Ông bác tôi bị tù. Khổ sai lao động. Thất vọng, đớn đau
nhìn bố vác cây, đào đất, khiêng đá, trộn hồ…Những người tù già này làm việc suốt
ngày đêm để đạt chỉ tiêu biến khu đất hoang quanh hồ Bảy Mẫu, Hà Nội, thành một
công viên mang tên Thống Nhất. Ðến thập niên 1980 đổi thành công viên Lê Nin.
Cũng vì sự khổ nhục của người bác
thân yêu mà bao lần ra Hà Nội là bấy nhiêu lần tôi không đặt chân vào công viên
này. Cũng như tôi đã không đến vui chơi khu K4 Long Khánh, một địa điểm du lịch
mới lạ của miền Nam. Vì nơi đây được tạo nên bởi những bàn tay của cựu sĩ quan
Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bị Cộng sản tù đầy, hành hạ.
Các anh tôi, vài năm đầu “Sài Gòn giải
phóng” vì đường lối của Ðảng, hay vì muốn các em của mình ở miền Nam sớm “giác
ngộ” để hoà nhập ngay với cuộc sống mới, đã có những lần tranh luận. Bao giờ
cũng trở thành lớn tiếng cãi nhau. Tôi đã làm các anh nhức đầu không ít. Lần cuối
cùng, tôi không cãi lại các anh nữa. “Ðảng đã cho các anh tôi sáng mắt sáng
lòng. “Ðó là lần một anh nói với tôi:”Người em không yêu làm em khổ, em đâu có
đau bằng anh? Anh đã yêu, anh đã dâng hiến cả cuộc đời mình mà ngày nay anh bị
phụ bạc, anh bị lừa dối…” Một anh khác:”Viên gạch đã trót để vào xây tường, giờ
có rút ra cũng bị vỡ tan. Thôi em ạ, không còn còn đường nào khác!”
Trên con đê này, giữa khung cảnh
hoang vắng của buổi chiều trung du, bốn anh em đi bên nhau. Thương cho thân
mình. Thương cho các anh. Lý tưởng sụp đổ tan tành. Ngày mai đen tối.
Trời chạng vạng. Tôi đã bắt đầu đi những
bước thấp bước cao. Quãng đường này làm tôi nhớ lại những lần vượt biên. Xuống
ghe tại Nhà Bè khi thành phố còn chìm trong màn đêm. Lên bờ đi bộ băng qua bao
nhiêu là thửa ruộng. Vấp ngã bao lần mà không cảm thấy đau đớn vì thần kinh
đang trong tình trạng căng thẳng: hồi hộp, lo sợ.
Lần nầy trên cánh đồng: mệt mỏi, chán
chường. Cũng phải vài giờ nữa mới tới trụ sở Ban Chỉ Huy. Tiếng dế nỉ non. Xa
xa ánh đèn leo lét. Cố lê bước tới đó để xin ngủ nhờ qua đêm. Nhìn một căn nhà
tương đối khang trang, chúng tôi vào gặp chủ nhà xin ngủ đỡ ngoài mái hiên.
Nhưng cũng bị từ chối. Ðang lo lắng không biết tôi có đủ sức đi tiếp hay không,
thì như có phép lạ, một người đàn bà gánh lúa từ xa đi tới. Bà ta dừng lại:”Các
bác tìm nhà ai thế?” Khi biết ý, bà ta mời chúng tôi về nhà. Bốn anh em mừng rỡ
như người sắp chết đuối vớ được chiếc phao. Dù gánh lúa nặng trĩu trên vai, bà
ta vẫn bước đi thoăn thoắt. Trong khi tôi lẽo đẽo theo sau.
Khi bà đẩy cánh cổng tre, bóng tối
làm tôi không thể nhìn rõ một người đàn ông đang xếp lúa ngay đầu nhà. Ông ta
không quay lại và cũng không lên tiếng đáp lại lời chào của các anh tôi. Trước
thái độ lạnh nhạt đó, chúng tôi hơi e ngại. Trong lòng vẫn mừng thầm không bị
đuổi ra.
Một gian nhà ba gian bằng tre sơ sài
nhưng gọn ghẽ. Nhìn cách trang trí nhà cửa, nhìn bức tượng Chúa nho nhỏ trên
bàn thờ cao, tôi có thể đoán chủ nhân không phải là người quê mùa. Tôi ôm bộ quần
áo ra giếng. Những giọt nước mát lạnh làm tôi tỉnh táo lại. Trăng bắt đầu lên.
Tôi đã nhìn rõ khung cảnh chung quanh. Mảnh sân hình chữ nhật. Khu vườn nhỏ.
Chái bếp cuối sân. Ánh lửa bập bùng. Hàng cây cau vươn cao đón ánh trăng. Tôi
liên tưởng tới hàng cau của khu vườn trước nhà tôi ở quê hương. Ngày còn nhỏ,
tôi vẫn thường trèo lên nhanh như một chú mèo con để hái quả cau cho mẹ tôi têm
trầu đãi khách. Trong không gian thoang thoảng mùi hương hoa thiên lý. Âm thanh
tiếng đàn mandoline bản Valse Favorite vui tươi, tiếng hát chan chứa tình quê
“Làng tôi xanh bóng tre. Hồn lắng tiếng chuông ngân. Tiếng chuông nhà thờ
rung…” chợt khua động trong tôi ngày tháng êm đềm thời thơ ấu.
Tôi thở thật sâu để nén xúc cảm. Ðêm
yên lặng. Ðêm mờ ảo. Tất cả đều rất mong manh. Một tiếng động nhỏ cũng đủ làm
tan vỡ giấc mơ xưa thoáng đến với tôi, đưa tôi về thực tại. Tôi phải vào nhà để
bàn chuyện ngày mai.
Tiếng cười nói làm tôi ngạc nhiên.
Ông chủ nhà cùng ba anh tôi đang vui vẻ quây quần bên khay trà bốc khói. Thấy
tôi vào, ông kéo ghế trịnh trọng mời ngồi. Tôi còn đang ngơ ngác trước thái độ
thay đổi nhanh chóng thì một anh đã giải thích:”Ban đầu ông Tuyển tưởng anh em
mình đi thăm nuôi tù. Bây giờ ở đây có tù hình sự (những thanh thiếu niên can tội
cướp của giết người ) Tù chính trị chuyển đi từ lâu rồi. Một số về trại Hà Nam
Ninh. Ða số vào Nam.”
Ông Tuyển đặt ly trà thơm phức trước
mặt tôi:”Ðược biết cô về đây bốc mộ cho chồng, chúng tôi vô cùng cảm kích. Gia
đình chúng tôi xin hết sức giúp đỡ cô và các ông anh đây.”
Vầng trán cao. Khuôn mặt chữ điền.
Cách nói chuyện lưu loát cùng dáng điệu từ tốn, cử chỉ lịch sự, chứng tỏ ông
Tuyển là một người có một số vốn kiến thức về học vấn cũng như về xã hội. Ông
cho biết có một người anh là linh mục trong một ngôi nhà thờ vùng đất đỏ Long
Khánh.
Ông Tuyển đã sắp xếp chỗ ngủ cho
chúng tôi. Ðể khách được tự do, ông Tuyển dặn dò vợ con và đi vào thôn tìm người
quen chuyên việc cải táng.
Gian phòng khác rộng, sơ sài nhưng
ngăn nắp. Giường tre, bàn gỗ mộc mạc, thô kệch, được hình thành có lẽ do bàn
tay của chủ nhà. Tượng Chúa và tượng Ðức Mẹ trên cao là một hình ảnh cảm động
hiếm có trong những ngôi nhà tại miền Bắc. Theo như lời ông Tuyển, đời sống gia
đình ông bắt đầu khá hơn kể từ khi hợp tác xã nhà nước tan vỡ. Lối làm ăn tập
thể nhường lại cho lối khoán sản phẩm. Tuy nhiên, vẫn phải nộp đủ cho nhà nước
, cả nhà xúm nhau cày cấy mới có gạo ăn.
Dưới nhà ngang, các con ông bà Tuyển
đang đập lúa, giã gạo, sàng sẩy…Mọi người chăm chú làm việc, không tò mò để ý
khách phương xa. Tôi mệt mỏi nằm thiếp đi trong chốc lát.
Khi tôi tỉnh dậy, trăng đã lên cao.
Ông Tuyển vừa về tới. Tay cầm hai chai rượu và một bó hoa tươi. Ông cho biết đã
tìm được một người rất thành thạo trong việc bốc mộ. Chai rượu này để rửa hài cốt.
Tìm mua được rượu ở miền núi không phải là chuyện dễ dàng.
Bà Tuyển bưng mâm cơm từ nhà bếp lên.
Chúng tôi trải chiếu ngoài hiên, ngồi ăn cơm dưới ánh trăng. Ðĩa thịt gà luộc
thơm mùi lá chanh thái chỉ rắc lên trên. Tô canh rau “tập tàng”- đủ mọi loại
rau hái ngoài vườn – mát ngọt. Tôi không ngờ anh em chúng tôi được đối xử như một
thượng khách ở nơi đây. Thế mới biết ở một nơi tưởng chừng như không có, ta vẫn
tìm thấy một tấm lòng.
Qua một đêm ngủ với nhiều mộng mị,
sáng sớm hôm sau, tôi và các anh đến Bộ Chỉ Huy. Có quãng đường đi được bằng xe
đạp. Có quãng đường đá lởm chởm phải dắt bộ. Chỉ huy trại là người mới. Không
phải Thiếu Tá Nguyễn Thùy tôi gặp lần trước. Hắn vồn vã thái quá, khiến tôi chỉ
im lặng ngồi nghe. Hắn kể chuyện, có một người nước ngoài, cách đây không lâu,
về đây bốc mộ bố. Cầm bình hài cốt lên xe, xe không nổ máy. Gọi xe ngựa đến
kéo, con ngựa nhảy quớ lên không chịu chạy.
Nhìn hắn ba hoa, ngồi bỏ cả hai chân
lên ghế, tôi hơi khó chịu. Nhất là cặp mắt hắn thỉnh thoảng lại nhìn vào mấy
bao thuốc là “555” anh tôi mang đến làm quà. “Ba con năm vừa nằm vừa ký”, cho
nên bọn tôi mới được chấp thuận một cách dễ dàng.
Những chuyện hắn nói có thể xảy ra ở
đâu, hắn nghe được. Hắn muốn nói đến đời sống tâm linh. Anh em tôi thì có rất
ít thời gian. Cũng có thể sau một thời gian quá dài bị đè nén, những con người
triệt để chống chủ nghĩa duy tâm ngày nay bắt đầu duy tâm hơn ai hết.
Xe Volga cọc cạch chở chúng tôi đi
lên ngọn đồi, nơi an nghỉ của những quân nhân chế độ cũ. Ít ra từ ngày Việt
Công muốn bang giao với Mỹ, đã có lúc họ bỏ được từ ngữ “ngụy quân ngụy quyền”.
Nhưng tiếc tay những tên gọi này vẫn là vết hằn trong lòng người Việt.
Tôi ngồi đợi trong một căn nhà nhỏ dựng
sơ sài bằng tre nứa. Nền đất lồi lõm. Trên vách nhỏ treo đủ thứ khẩu hiệu, kế
hoạch công tác hàng tháng, tuần… Hình ảnh các lãnh tụ Cộng Sản thế giới và
trong nước quá khổ so với bức vách, treo xộc xệch như sắp rơi. Ðây là nơi làm
việc của toán công an canh gác.
Cách đây bốn năm, khi tôi đến nơi đây
nhận mộ chồng, cảnh vật chung quanh gọn ghẽ hơn. Hàng ngày còn có bàn tay bạn
tù săn sóc. Giờ đây cỏ cây, dây leo chằng chịt, không nhìn thấy lối đi. Hơn một
giờ đồng hồ trôi qua, tên công an cầm bản đồ nghĩa trang và các anh tôi trở lại
trụ sở với gương mặt thất vọng. Không tìm thấy mộ vì cỏ cây che lấp cả một vùng
rộng lớn. Tim tôi như muốn ngừng lại. Chẳng lẽ lại về không?
Tôi xin mọi người hãy cho tôi đến
tìm. Tôi thầm cầu nguyện cũng như ở Sài Gòn, mẹ tôi và các em tôi đã cầu nguyện
cho chuyến đi của tôi được tốt đẹp.
Kỳ lạ thay! Tôi chỉ vạch lá chui vào
đúng một quãng ngắn là tìm ra mộ. Tôi reo to lên. Các anh tôi đứng ngoài không
tin. Ngôi mộ có hai bia đá. Tôi lầm thế nào được. Một tấm bia tôi mang từ Hà Nội
lên. Một tấm bia nữa của anh em bạn tù đẽo gọt bằng tay. Nét chữ khắc vào đá mờ
đi vì rêu phủ.
Trong khi người thợ cải táng chặt cây
cối chung quanh, tôi thắp nhang lui cui cắm trên từng ngôi mộ. Ðêm mưa, cỏ ướt,
ngửi thấy có hơi người, những con vắt nhảy ra, bám lấy chúng tôi. Máu chảy ròng
ròng. Tôi muốn ngất người đi vì sợ. Cây cối quang dần. Dầu nóng tôi bôi đầy mặt,
mũi, chân, tay, khiến những chú dế bé xíu cũng không dám nhảy ra đột kích nữa.
Một ít trái cây mua vội dọc đường, bó
hoa ông Tuyển mua dùm, chúng tôi chỉ có những tấm lòng thành trước linh hồn người
đã khuất. Người anh lớn nhất của tôi khấn thật lâu. Những cây nhang cháy rất
nhanh, tàn cong vòng…khói nhang thơm toả ngát. Nhát cuốc đầu tiên bổ xuống đất,
lòng tôi đau buốt. Tiếng cuốc, xẻng đều đều vang vọng giữa miền rừng núi hoang
vu. Từng tảng đất bật lên, tâm hồn tôi như vỡ vụn. Cho tới lúc lưỡi cuốc đụng
vào quan tài. Tôi hồi hộp. Các anh tôi nôn nóng.
Khi tôi ra đến Hà Nội, các bậc lão
thành có trấn an:”Ðất núi miền khô ráo, xương cốt lâu ngày sẽ tan đi. Phải chuẩn
bị tinh thần: có thể đứng trước một cái hòm chỉ có đầy cát bụi!”
Thế cho nên khi những nhát búa đầu
tiên bổ xuống để nạy nắp quan tài, tôi cứ giật thót mình. Một cảm giác đớn đau
như lần đầu tiên nghe thấy tiếng đóng đinh vào quan tài bố tôi lúc liệm quan…
Gỗ áo quan dầy và chắc. Khi chiếc nắp
bật lên, tôi lạnh người: chiếc chăn len màu đỏ! Suốt đêm qua, người anh lớn của
tôi cứ chợp mắt là nằm mơ thấy xác chồng tôi quấn bằng mảnh vải màu đỏ. Gương mặt
các anh tôi xúc động. Bóc lượt chăn len ra là quần áo. Hết lớp áo này đến lớp
quần khác. Bàn bè đã dồn tất cả cho người chết mang đi. Nước mắt tôi ràn rụa.
Màu xanh lá cây đậm của chiếc áo len mẹ tôi mua tặng, gửi trong năm ký lô quà đầu
tiên ra Bắc. Chiếc sơ-mi trắng ngà có từng sợi chỉ xanh xanh, hồng nhạt, mang về
Sài Gòn sau chuyến du học tại Mỹ năm 1971. Chai dầu gió, đôi giày ba ta…tất cả
tôi đã tự tay xếp vào ba lô trước ngày anh đi trình diện “học tập cải tạo”.
Không còn lầm được. Không còn ảo tưởng:”Ðã
trốn trại, còn đang ẩn trốn tại một nơi nào.” Tôi mất anh thật rồi! Thế là hết.
Tôi khóc nức lên. Trời như nổi gió. Cỏ cây chao đảo. Ðồi núi quay cuồng. Quanh
tôi cảnh vật mờ đi…
Lâu lắm, khi tôi tỉnh dậy, đống tro
tàn của áo quần vừa đốt còn âm ỉ cháy. Trong một cái xanh to bằng gang dùng thổi
cơm cho trại tù đã gẫy tay cầm, các anh tôi đã đổ bột nhang thơm với rượu trắng
để ngâm xương cốt. Người thợ cải táng cùng các anh tôi quấn giấy bao từng lóng
xương, đặt từng mảnh vào trong nhiều túi ni-lông …
Không gian mênh mông yên lặng. Tôi lặng lẽ theo các anh
tôi bước nhanh cho kịp chuyến đò cuối cùng…
Trích từ tập hồi ký “Lối
Cũ Chẳng Sao Quên”
(The Trail I Never Forget)
Bích Huyền


