Sunday, May 3, 2026

Về Đi Sông Biết Buồn - Thuyên Huy

 Về Đi Sông Biết Buồn

Nhớ con sông quê nhà xa xưa

 













Hôm đò ngang đưa người qua bên ấy

Con sông quê từ đó đã biết buồn

Lá thu vàng mặc sóng đưa sóng đẩy

Phố thay màu ngơ ngác mưa chiều tuông

 

Và từ đó bến bên này khách vắng

Quạnh hiu chờ kẻ đón muộn người đưa

Hạ giữa mùa nhưng trời thường quên nắng

Hàng phượng già gầy cành hoa lá thưa

 

Chút kỷ niệm hôm nào sông giữ lại

Sông bây giờ tan tác cả cỏi lòng

Cũng đành thôi đã một lần khờ dại

Ngậm ngùi rơi mưa khóc giọt lệ sông

 

Sông cứ một đời theo chiều ra biển

Bờ đôi bờ vẫn cách biệt phân ly

Cũng cái vẫy tay câu chào đưa tiễn

Có vui gì khi người ở người đi

 

Lắng hồn đau réo rắt lau sậy hát

Bài thương ca tình lỡ một giấc mơ

Người đi rồi chắc phấn son đã nhạt

Sông biết buồn thôi đành dứt đường tơ

 

Thuyên Huy

Đầu thu 2022

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chuyến Tàu Bến Cầu Cẫm Giang - Thuyên Huy

 

Chuyến Tàu Bến Cầu Cẫm Giang

Chuyện tưởng tượng, hư cấu từ tên người tới tình tiết




1.

     Trời bất chợt đổ mưa, tàu đò lớn vừa về tới Cẫm Giang, hơn mấy chục khách nhốn nháo, hối hả lên, người thì ùa túa vào chật cứng cái quán cơm dưới cây đa bên bờ sông trốn mưa, người từ trong quán thì cũng hối hả gọi nhau, tay xách tay mang chạy xuống tàu, sợ không kịp chuyến trở lại Bến Cầu, cơn mưa ngày càng lớn hơn, trời cũng buồn nên không nắng, sương trắng mù mờ trên sông sáng, đám lục bình buồn theo lơ lững nằm yên, mặc tình cho sóng lơi sóng lả.

*

    Đứng ở góc hiên ngoài quán, trốn mưa như mấy người bên trong, chờ mưa tạnh, mưa bổng dưng bớt ngang, nhẹ hơn trước, lất phất bay, bên kia sông có chút nắng hé lên, từng nhóm người bên trong quán chắc có chuyện gấp gì đó nên bỏ đi đại ra ngoài, chân lẹ chân quàng trên con đường đất dốc lên tỉnh lộ, cũng như họ, Phúc bước vội ra, mưa vẫn lất phất mưa, nhẹ hạt, không vội vã, theo sau.

    Trên đường, giờ đã có người, có xe kéo xe lôi, chạy lên chạy xuống, nhìn đồng hồ đeo tay, còn sớm, trời chưa vào trưa, ngay chỗ xe đò xuôi ngược thường ngừng cho khách xuống khách lên, đã có đâu đó năm bảy người chờ, đa số là người từ Bến Cầu qua Cẫm Giang hay ngược lại về Bến Cầu bằng tàu đò, chiếc tàu lớn duy nhất mà Phúc vừa đi, cũng có chỗ đón khách nữa trên đầu chợ xã, ở đó có khi khách không nhiều bằng dưới này.

     Phủi mấy giọt mưa ướt nhẹ trên mớ tóc lòa xòa, Phúc chầm chậm bước vào cái quán ngay sát bên lề đường, kiếm chút gì ăn, Phúc không nhìn quanh, quán có nhiều người, chưa sáng lắm, đi ngay vào cái bàn trong góc, ngồi nhìn ra đường mưa có pha chút nắng nhạt, con bé chừng mười ba mười bốn, vừa tới chưa kịp hỏi anh ta ăn gì thì trước cửa quán, có cô gái, tóc thề dài đen mướt, quần tây áo sơ-mi, xanh lá mạ, chút nước mưa còn đọng lấp lánh trên đầu, bước vào, nhìn quanh tìm chỗ, con bé bỏ đi tới, cũng nhìn quanh, không còn bàn trống, chỉ chỗ Phúc đang ngồi, nói qua nói lại gì đó, cô gật đầu, đứng chờ, con bé trở lại bàn, cười toe toét, gật đầu cười Phúc đứng lên, mời tới.

*

     Họ quen nhau tự nhiên, không ngại ngùng, hỏi qua nói lại đủ thứ chuyện, chuyện trời trăng mây nước, chuyện sân trường lớp học, chuyện hoa lá cỏ cây, Thùy, tên cô gái, học lớp đệ Nhất trên trường tỉnh còn Phúc thì đã sắp xong năm thứ hai Đại Học dưới Sài Gòn, nhà ở dưới quận. Thùy khá đẹp, má lúm đồng tiền, thùy mị, ăn nói nhỏ nhẹ dễ gây cảm tình với người chung quanh, bữa nay Chủ Nhật, xuống Cẫm Giang chơi với cô bạn, ngủ lại từ hôm qua, nhà bên kia đường, dọc theo bờ sông, ngó qua nhà lồng chợ xã, cùng học chung lớp, ở trọ nhà người quen, cách nhà Thùy trên tỉnh năm sáu căn, chơi nhau khá thân, “tâm sự đời tôi mày mày tao tao” dài hơn chuyện “nhân dân tự vệ”. Sáng nay, cô bạn tính đưa Thùy đón xe về nhưng giờ chót phải chở má cô ta tới chùa xin lễ gì đó nên chỉ đưa tới đây, vì theo cô bạn chỗ này xe ngừng nhiều và lâu hơn trên chợ, rồi quay về nhà ngay, mưa chỉ còn lất phất bay như bụi phấn, không còn nặng trút như hồi sáng.




    Nói cứ nói hỏi cứ hỏi, hai dĩa cơm buồn chờ, không ai màng đụng tới nhưng rồi cũng tạm xong. Có tiếng ai đó gọi vào trong nói xe đò về tỉnh sắp tới, sẽ ngừng lâu một chút cho tài xế, lơ xe ăn trưa, hai người nhìn ra đường, Phúc đứng dậy nhanh chân trả tiền dù tiền không có bao nhiêu, con bé khi nãy cầm tiền nhìn hai người cười mĩm mĩm, không biết là nó đang nghĩ gì, Thùy đứng kế bên cười thật tươi “cám ơn anh”, rồi bước ra trước, chờ Phúc ra sau, cùng bên nhau đi tới chỗ xe ngừng, chiếc xe đò Tân Nguyên Thành từ Sài Gòn cũng vừa về tới.

*

   Anh lơ nhìn bà con vội vã lên xe, cười hô hố, “còn lâu mà, cho tụi tui ăn cơm nữa chứ”, Thùy ngồi bên Phúc trên cái băng cây, chắc để làm chỗ cho bà con nghỉ chân chờ xe, nhìn bộ dạng anh lơ, tức cười rồi quay qua nói nhỏ gì đó với anh ta, cô nàng đứng dậy bỏ đi qua bên kia đường, chỗ dưới bóng mấy cây xoài, có năm sáu cái sạp dựng cây tạp sơ sài, bán đủ thứ trái cây, khoai củ. Thùy cười nói với thiếm bán trái cây, cầm túi ni lông có vẻ nặng, chưa kịp băng qua đường thì có cô gái chạy chiếc xe Honda từ hướng chợ xuống ngừng gấp chận lại, đẩy xe vô trong lề, nhanh nhẩu xuống, hai cô tay lắt tay bóp, cười toe cười toét, cô kia nói gì với thiếm bán hàng, bỏ xe vội vã cùng Thùy băng qua đường, trở lại chỗ Phúc.

   Chú tài xế, anh lơ xe miệng ngậm thuốc lá phì phà đi ra, có bin rịn, chần chừ thì cũng tới lúc phải từ giã, lên xe chào cười nhưng nụ cười của Thùy có vẻ đượm chút gì đó buồn hơn vui, Hạ, cô bạn thân nhà ở Cẫm Giang, đứng bên Phúc tiễn, hẹn có ngày gặp lại, xe chạy chậm ra đường, bên cửa sổ xe Thùy đưa tay ra vẫy vẫy cho tới khuất xa xa dần trên hướng chợ. Trên tay cầm túi trái cây Phúc cứ nhìn theo, lặng thinh một hồi, Hạ liếc qua mĩm cười nói thầm “chắc có gì đây rồi”, rồi cũng quen như đã quen, hai người băng ngược qua bên kia đường, chỗ Hạ để xe, cũng là bên chờ xe từ trên tỉnh về, thêm chuyện này chuyện kia không lâu, chiếc xe đò lỡ tới, ngừng bỏ khách xuống, đón hai ba người cũng đứng chờ  như Phúc lên, Hạ còn đứng đó, trước khi lên xe, anh quay qua nhìn cô nàng “cám ơn Hạ nhiều, gặp lại Thùy cho anh hẹn có lần nào đó gặp lại”, như lời mời của Hạ, anh cười nói thêm “chắc sẽ tới thăm Hạ ở Cẫm Giang một ngày rất gần đây”, cũng như chiếc xe đò lớn về tỉnh có Thùy, xe về dưới Gò Dầu chạy xa rồi, Hạ còn ngồi trên xe Honda nhìn theo, cười một mình, một cái cười thích thú. Trời đã quá giữa trưa, nắng hanh nắng, dưới kia bến lặng im vắng người, con tàu đò về Bến Cầu đã rời bến từ lâu.

*

   Bữa tiệc mừng Thùy và mấy cô bạn cùng lớp, đậu Tú Tài Hai tại nhà Thùy, căn phố lầu ngó ra đường bờ sông chạy về cầu Quan phố chợ, nhà Thùy không giàu lắm nhưng cũng gọi là khá giả, có hai cửa tiệm bán vải vóc lớn ở chợ tỉnh và một trong chợ Long Hoa, nhà còn cô em gái, giống hệt như chị cũng vừa xong Đệ Tứ, chấm dứt lúc trời quá giữa trưa đôi chút, trời giữa hè nắng rực, còn sớm nên Phúc nấn ná ở lại, hôm nay không phải lo chuyện trễ xe vì có chiếc Honda mượn của ông anh bà con là giáo viên của trường tiểu học quận. Vì là đàn anh, đang là sinh viên Đại học, hai chữ“đại học” ước mơ một ngày của mấy cô vừa “bảng hỗ đề tên”, nên anh ta được ai nấy xúm xa xúm xích hỏi đủ thứ chuyện “anh Phúc ơi anh Phúc ơi”.

    Thấy Thùy lăng xăng lo cho Phúc, mặt mài rạng rỡ, đôi lúc liếc trộm nhìn, xem ra có gì đó vui khó nói, Hạ cười thầm nhìn bạn, nhìn Phúc “rồi, như vậy chuyện anh nhờ mình đã làm xong, còn lại ngày sau sẽ ra sao thì hai người đó biết”. Ra về, cả bọn theo ra ngoài cửa tiễn, Phúc dắt xe ra, Thùy đi bên cạnh, không biết nói gì đó mà anh cười thật tươi, Phúc đi rồi, Hạ mĩm cười nhìn bạn “sao được hả mậy?”, Thùy gật đầu vui mà không nói gì hết.

2.

    Tàn hè, phượng cũng tàn theo, ghế giảng đường có thêm người, đường phố Sài Gòn có thêm đôi tà áo mới nhưng Sài Gòn vẫn vậy, vẫn mưa nắng bất chợt như từ đó đến giờ. Những ngày đầu, Thùy cũng như Hạ lại chọn học chung ngành, đi về có nhau vì cùng ở chung nhà trọ, tiếng nhà trọ dùng cho Hạ thì đúng hơn vì nhà đang ở là người dì bà con của Thùy. Họ bận bịu bài vở, sách học nhiều hơn nghĩ tới chuyện dạo phố dạo phường, Phúc thì lo thân cho mùa thi cuối năm thứ ba, nhưng họ vẫn cố dành cho nhau đôi lần bên nhau vui trên đường phố tấp nập ngựa xe hay ngồi nhắc chuyện cũ chuyện xưa ngày đó trong một quán cà phê góc phố hay một quán nước bên lề, vậy rồi thôi. Chuyện thương Thùy từ ngày đó, cô nàng cũng đã biết, nhưng Phúc chưa chính thức nói ra, ai cũng hiểu, người ngoại cuộc như Hạ cũng hiểu. Đầu năm thứ hai đại học của Thùy sau những ngày tháng đó, hình như Phúc ít khi gặp lại Thùy, cũng còn gặp Hạ nhưng anh không hỏi, chắc là bận lo học hành quá, nhưng … Phúc bỏ ngang không nghĩ thêm, vẫn thương như đã thương.

*

   Lang thang ngoài chợ cũ Hàm Nghi, chiều thứ Bảy, trời nắng tốt, có gió nhẹ mang hơi nước mát từ hướng sông lên, kiếm mua một vài cuốn sách cũ, cần cho kỳ thi năm cuối cùng, thiên hạ lại qua tấp nập, lên xuống, cũng quần áo muôn màu muôn vẻ, cũng lần nữa tàn hè, rốt cuộc chẳng có gì, anh lửng thửng trở lên đường Lê Lợi, tiếp tục lang thang như đã lên xuống tự nãy giờ. Khát nước, tới cái xe nước mía Viễn Đông ngay góc ngã tư, có ông chú người Tàu bán phá lấu, có mấy cô gái áo dài áo ngắn xúm xích vây quanh, cầm ly nước mía trên tay, nhấp một ngụm mát lạnh, thong thả nhìn phố nắng, nhìn người mơ.




     Hạ, từ hướng dưới bệnh viện Sài gòn đi lên, đứng khựng lại, chưng hửng, trố mắt buột miệng “ủa anh Phúc, làm gì đứng đây?”, Phúc buông ly nước mía xuống cười nhẹ “Hạ đi một mình hả?”, Hạ đứng bên anh, nhìn ra đường, con đường mà cô, Thùy và Phúc đã đi qua mấy lần, rồi quay qua anh nói nhỏ gì đó, cũng cười nhưng anh thấy cái cười không trọn vẹn như cũ, Phúc uống vội ly nước mía, đưa trả lại cho chủ, xe nước mía vẫn đông người chờ, hai người băng qua bên kia đường.

    Trời dịu nắng, nắng về chiều, từ tiệm kem Mai Hương đi ra, hai người từ giã, Hạ khuất trong sóng người Sài Gòn chiều thứ Bảy, Phúc đứng nép bên mái hiên tiệm nhìn theo, buồn. Chuyến xe buýt về tới trạm xuống, đường đâu đó lên đèn, cũng ánh đèn hiu hắt vàng như hôm qua nhưng chiều nay, lạnh lùng vàng và ảm đạm hơn. Thẩn thờ, chưa bước vội, Phúc thở dài “hết rồi”. Hạ vừa cho anh biết mà buồn như người trong cuộc “Thùy đã làm lễ đính hôn với một người du học vừa về từ Pháp”. Sài Gòn đã chết, tình đã chết như “mùa thu chết”, lời nhạc của một nhạc sĩ quen thuộc trong hồn anh từ buổi chiều hôm đó.

*

    Tốt nghiệp Cán sự Điều Dưỡng, Thùy ở lại học thêm chứng chỉ gì đó và cũng để gần gũi với người bạn đính hôn, đang làm ở bộ Kinh Tế với bằng cấp bên trời Tây về, Hạ chọn về lại Tây Ninh, rồi tình nguyện xuống bệnh viện dưới quận khi ty Y Tế cần người. Đường từ nhà ở Cẫm Giang xuống quận gần hơn là ngược lên tỉnh, trừ những hôm phải trực, đi làm hàng ngày chạy xe Honda cũng tiện, khỏi Bàu Nâu thì xem như tới nhà rồi. Hôm nào phải trực, mà trực cũng thường, ở lại ngủ đêm tại nhà bà con của chị y tá từ Trãng Bàng lên. Với Thùy thì, vì đã có cặp có đôi rồi, không còn mấy khi rảnh rổi mà “chuyện mầy chuyện tao” như những ngày “còn không”, từ ngày xuống quận làm, sau lần giã từ nhau sau lễ tốt nghiệp, tới giờ chắc gần hai năm, Hạ cũng ít khi lên tỉnh nên chưa lần gặp lại cô ta.

3.

    Tin ba đau nặng, bị nóng sốt dữ dội và nghẹt thở từng cơn, người chú bà con làm ở văn phòng quận, đã đưa ông vào bệnh viện quận chiều hôm qua, từ Long An, Phúc mượn chiếc xe jeep số ẩn tế của tỉnh, tự lái về ngay sáng sớm hôm sau, giao mấy việc chưa xong cho ai đó lo liệu. Má bị bệnh mất từ ngày Phúc mới lên đệ Lục, ba ở vậy, hai cha con hủ hỉ sống với nhau với số tiền lương tạm đủ của ba, làm thư ký cho một hảng làm nước đá lớn, đắt hàng gần bờ sông, dưới chân cầu cuối chợ, giờ đã nghỉ hưu, thỉnh thoảng gặp mấy bác bạn già, nhâm nhi sáng cà phê chiều chốt xe vài bàn cờ tướng.

    Buổi sáng bệnh viện quận chưa quá đông người, vừa tới phòng bệnh nhân nằm, cái phòng theo lời ông chú chỉ, còn đứng chần chừ, thì từ bên trong một cô y tá còn khá trẻ, tay cầm xấp giấy đi ra, gật đầu chào rồi bỏ đi, chưa kịp hỏi gì, một cô khác cũng áo khoát trắng bước ra, cổ mang ống nghe bác sĩ, Phúc giựt thót mình chưng hửng, cô cũng chết trân, cả hai buột miệng “anh Phúc, Hạ hả”. Cô cười, cái cười vui khó tả, cứ lầm thầm “trời ơi, trời ơi”, không ai biết “trời ơi” đó có nghĩa gì. Hơn mấy năm rồi họ không gặp nhau kể từ buổi chiều thứ Bảy cay nghiệt đó.

*

    Anh và Hạ cùng trở vô phòng, hai giường nhưng chỉ có một mình ba anh nằm, Hạ đứng nhìn anh nắm tay ông bác bệnh nhân gọi tiếng “ba”, cô chết sửng một lần nữa, không nói được lời nào. Nhìn mặt ông hốc hác, Phúc buồn quá, đưa tay vuốt mấy sợi tóc bạc lòa xòa trên trán ông, nói nhỏ nhỏ gì đó, cô không nghe được, ông không nhìn anh mà nhìn Hạ, khàn giọng “cám ơn con”. Hạ nhìn ông xúc động dịu dàng khẻ đáp nhỏ “dạ cám ơn bác”rồi bước ra ngoài hành lang, trời quá giữa trưa, nắng thu bâng khuâng hanh vàng như màu lá rụng, cái “ước gì” của buổi sáng mưa bay ngồi bên Phúc ở bến Cẫm Giang và mấy lần gặp gỡ sau đó trong tìm thức xa xôi, tưởng đã ngủ yên thâm sâu trong quên lảng, bất chợt sống lại tưởng như mới hôm qua, Hạ cười thầm, cười mà lo, nhưng không biết lo cái gì.



     Sau khi được chích liều thuốc an thần, ba Phúc đã ngủ tự lúc nào, Phúc đi ra ngoài, nét mặt lo âu hiện rõ, Hạ nhìn anh cười nhẹ, dịu giọng thấy mà thương “bác khỏe rồi, chắc mai về nhà, anh yên tâm, có em đây”, rồi hai người bỏ đi ra bên kia đường, về hường cái quán cơm ngay ngã ba đường xuống chợ, bữa ăn trưa. Chưa băng qua hết đường, bên bến xe lôi đạp xe lôi máy, hai ba người vẫy tay gọi lớn “cô Hạ cô Hạ”, Hạ chờ chiếc xe hàng qua, quay lại vẫy tay cười chào.

*

    Ngồi xuống cái bàn để bên ngoài trước quán, chưa kịp ngay ngắn, thiếm tư chủ đã ra tới, cũng nụ cười hiền ngày xưa “cậu Phúc mới về hả, chào cô Hạ, ủa hai người quen nhau hồi nào”. Phúc thì thiếm tư không lạ gì, cha con anh cũng không lạ gì với thiếm từ ngày má anh mất tới ngày xuống Sài Gòn học. Hạ tuy mới làm ở bệnh viện chừng hơn một năm nay nhưng, cô là cô y tá, người dân ở đây, không biết bốn chữ Cán sự Điều dưỡng là gì nhưng tiếng y tá họ gọi quen rồi, không ai mà không mến không thương, ngoài đường, trên phố, trong bệnh viện, cứ gặp thì dù xa hay gần cũng chào cũng gọi “cô Hạ cô Hạ”.

    Mấy tiếng “cô Hạ, cậu Phúc”của thiếm tư, Hạ nghe mà lòng bổng dưng xuyến xao xao xuyến, tim mình có cái gì là lạ rộn ràng, bất chợt dâng lên, vui khó tả, hay là cái “ước gì” của ngày tháng đó một lần nữa sống lại, Hạ trộm nhìn Phúc tự hỏi mình, “có thể như vậy sao”. Một lần nữa, quán thưa khách, thiếm tư đi ra, hỏi Phúc mà nheo mắt nhìn Hạ đang chào ai đó bên kia đường, “chừng nào đám cưới cậu Phúc đây”, anh cười mà không nói gì hết, thật ra, anh cũng không khác gì Hạ, cũng có cái gì đó là lạ trong tim mình như những ngày mới biết yêu lần đầu, nếu thật vậy, xin là biết yêu lần cuối.

   Người chợ quận, từ đó, từ buổi trưa ở quán cơm thiếm tư, thường thấy Phúc và cô y tá Hạ đi bên nhau trên đường phố, nói cười theo nhịp bước chân đợi chân chờ, cũng vậy, người chợ xã Cẫm Giang quen thêm một người mới, người mới mà họ thương như đã thương cô y tá Hạ.

4

   Hàng phượng già trên đường ngang trường tiểu học xuống dốc ngã ba chợ, nở một màu đỏ rực trên phố, trời sang mùa, một ngày lưng chừng đầu hạ, căn nhà vách ván, mái tôn nằm xế ngõ trúc vào, xa bến xe quận một đổi đường, người ra người vào, nói cười không ngớt, trước chái hiên nhà, tấm bảng “lễ Thành Hôn” rực rỡ hoa, đua khoe màu trong nắng sớm, nắng mùa hạ, xác phượng ôm ấp xác pháo hồng, ngày cưới của Phúc và cô y tá Hạ, phố rộn ràng vui lây theo cái vui của người chợ quận.

*

   Cũng ngày hôm đó, cũng buổi sáng mùa hạ, Thùy ngồi bên cửa sổ nhìn ra đường, con đường vui ngày xưa, chạy dài bên bờ con sông chia đôi phố, con sông nhắc cô chuyến tàu Bến Cầu Cẫm Giang, chuyến tàu đó giờ biết đâu tìm nữa, việc đính hôn mơ mộng cao xa đã hủy bỏ, đôi ba cánh phượng lẻ loi cuốn theo chiều gió sớm lùa ngang, lả tả rụng ngoài sân, buồn, muộn rồi còn đâu nữa, mất thật rồi cái cái hạnh phúc dịu êm, đơn giản khó tìm nằm trong tay mình, không chịu giữ, Thùy bật khóc.

Thuyên Huy

Giữa thu 2026

     

   

   

 

  

 

   

     

 

 

   

    

  

   

   

   

     

   

 

 

Điệp Khúc Mùa Hè & Thiếu Phụ - Nguyễn Thị Châu

 ĐIỆP KHÚC MÙA HÈ














Thắm thoát hôm nay tuổi đã già

Chợt buồn ngồi nhớ chuyện đã qua

Bao năm vẫn còn trong tiềm thức

Nỗi nhớ nước non với tình nhà

 

Nước non, non nước đi về đâu?

Năm tháng thăng trầm cuộc bể dâu

Người đi bỏ lại hương tình cũ

Chiến trường nằm xuống ôm nỗi đau

 

Biển mặn ngoài khơi vơi cơn khát

No lòng cơm nắm muối quê hương

Ước ao hoa nở trong lòng đất

Kẻ còn người mất theo đại dương

 

Thời gian như nước xuôi dòng chảy

Nước cứ trôi nhanh không quay đầu

Con người tiếp nối mau cằn cỗi

Mây trắng trên đầu, đôi mắt sâu

 

Bây giờ còn lại những phôi phai

Cánh Phượng rơi đều nghe đắng cay

Tiếng Ve nức nở trong đêm vắng

Mùa Hè tan tác khóc bi ai…!!!

29-4-2026

Nguyễn thị Châu

 

THIẾU PHỤ















Tiếng ai nức nở ngoài hiên?

Vì đâu mà phải khóc duyên lỡ làng

Đầu ai đang quấn khăn tang ?

Run run tay mẹ ôm choàng trẻ thơ

Từ đây con, mẹ bơ vơ

Thiếu đi cái bóng để chờ để thương

Thương anh vất vả chiến trường

Chờ anh về lại con đường tình yêu

Bây giờ tìm lại những chiều

Mưa rơi nặng hạt mang nhiều đắng cay

Nỗi đau theo mãi tháng ngày

Con tim rỉ máu đêm dài xót xa

Xa rồi mấy chục năm qua

Trẻ thơ khôn lớn, tóc pha sương rồi

Vẫn còn vương vấn tình đời

Vẫn còn nhỏ lệ với lời  thở than

Mỗi chiều gom góp nắng vàng

Ủi an, an ủi cho lòng thêm vui

Gởi tình theo gió mây trôi

Cho người nằm xuống đôi môi mĩm cười…!!!

29-4-2026

Nguyễn thị Châu

Cầu Bao Nhiêu Nhịp - Bích Huyền

 

Cầu Bao Nhiêu Nhịp




 

Dãy hành lang chạy dài, chan hòa ánh nắng. Mảnh sân vuông trầm tư trong những ngày vắng học sinh. Nga thường có những giờ văn dạy bồi dưỡng cho học sinh giỏi của quận và của thành phố vào những buổi này. Đối với Nga, đây là một niềm vui, một hạnh phúc nhỏ nhoi khó tìm thấy trong quãng đời dạy học đều đều, buồn chán sau 1975. Học sinh: qua những kỳ thi của trường, của quận, chọn lọc mới được theo học các lớp này. Các em đã giỏi, lại ngoan, nhất là có tinh thần say mê học tập. Chương trình: do giáo viên tự biên soạn, tự chọn. Giờ dạy: không phải đủ “năm bước lên lớp” rập khuôn, cứng ngắc. Một lớp chỉ có khoảng mười lăm học sinh, ngoài những tiết học trong chương trình phổ thông, các em được học với ba giáo viên dạy bồi dưỡng.
Đây là một trong những chỉ tiêu thi đua lớn của ngành giáo dục toàn quốc để công nhận danh hiệu thi đua. Cho nên ngân sách của Quận tốn kém khá nhiều vào công tác này.
Khi Sài Gòn bị mất, tất cả các giáo viên dạy môn Việt Văn đều bị “xét lại”, bởi quan niệm của nhà cầm quyền Cộng sản là “dạy Văn là dạy chính trị.” Những giáo viên có bố mẹ, chồng con là “Ngụy” phải chuyển làm văn phòng hoặc dạy tạm môn khác.
Chất lượng về môn Văn của học sinh giảm sút tới mức báo động.
Những năm sau, giáo viên lần lượt trở lại với đúng chức năng của mình. Về tư tưởng chính trị đã có những giáo viên của Đoàn, Đảng phụ trách. Các đề thi về sau, càng bớt “mùi” chính trị, đấu tranh…
Nga bước vào lớp học. Chùm hoa ti-gôn màu hồng lay động trong lọ hoa nhỏ như chào đón. Lớp học ít học sinh nhưng ấm cúng vì tình thầy trò rất gần gũi với nhau. Nga đưa mắt thân yêu nhìn tất cả các em, nàng mỉm cười. Những ánh mắt long lanh chờ đợi. Bảng đen, phấn trắng sẵn sàng để Nga ghi tựa đề bài giảng…

Qua cầu ngả nón trông cầu,
Cầu bao nhiêu nhịp, dạ em sầu bấy nhiêu…

Người phụ nữ đã gửi gấm tâm trạng gì trong câu ca dao này? Em hãy phân tích nghệ thuật diễn đạt của câu ca dao để tìm hiểu giá trị gợi cảm của nó.
Miệng nói, tay ghi, và những hình ảnh trong quá khứ chập chờn, chập chờn…
“Về nội dung, câu ca dao phản ảnh nỗi buồn da diết và mênh mông của người phụ nữ. Các em có thể tưởng tượng đây là tâm trạng của một người con gái vừa mới chia tay người yêu để không bao giờ gặp lại. Về nghệ thuật, cần phân tích cao mặt âm điệu, hình ảnh, từ ngữ gợi tả.”
Mười lăm phút thăm nuôi, mười lăm phút thoáng qua như giấc mộng. Tôi và Hưng chia tay không một lời từ giã. Chỉ có những ánh mắt xót xa. “Mấy phút bên nhau rồi thôi…” Khi bóng Hưng khuất sau khúc quanh cuối đường, tôi có ngờ đâu đó là lần vĩnh biệt.
Mảnh giấy nhỏ, vết cuộn tròn, chữ viết vội vàng: “Trung tá Hưng, nhà ở số 45 hay 50 đường Tự Đức, quận I, có vợ vừa đi thăm nuôi, đã bị chết…” Mảnh giấy với mẩu tin oan nghiệt. Cả nhà sững sờ. Tôi nhận tin đau đớn. Cổ khô. Mắt ráo hoảnh. Tôi không khóc được…

*

Về âm điệu, với thể thơ lục bát biến thể, câu dưới kéo dài chín tiếng tạo ra một âm điệu buồn buồn, lặng lặng và kéo dài, dàn ra mênh mông. Qua cầu ngả nón trông cầu như trầm lắng vào lòng người. Ở đây, không có cái sôi nổi hào hứng:”rủ nhau đi cấy đi cầy”, không có cái xáo động “đố ai quét sạch lá rừng, để ta khuyên gió, gió đừng rung cây,” không có cái tưng bừng, hớn hở “trèo lên cây bưởi hái hoa, bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.” Ở đây, chỉ có cái buồn sâu xa, lắng đọng, dàn trải, mênh mông…
*
Tôi bắt đầu cuộc hành trình ra Vĩnh Phú. Hành trang nặng trĩu buồn lo. Cầu Long Biên cũ kỹ. Nước sông Hồng dâng cao, đỏ ngầu cuồn cuộn như giận dữ, oán hờn. Mới hôm nào đây, đồng ruộng cạn khô. Bây giờ nước ngập ruộng vườn. Ngập mái tranh. Mùa này không mấy ai đi thăm nuôi vì đường trơn, ngập nước.
Tôi không nhận ra được quãng đường vừa mới đi qua. Ga Ấm Thượng vốn tiêu điều lại càng lạnh lẽo hơn. Đò dọc, đò ngang không thấy bến. Trong tầm mắt, nước mênh mông, mênh mông… Những chiếc cầu khỉ mới bắt thô sơ bằng những thân tre nhỏ. Mỗi lần đi qua, vịn tay đi từng bước. Có lúc sợ quá, phải nhắm mắt bò, cảm giác như sắp rớt xuống vực sâu. Có những quãng đường phải đi bè, ngồi chòng chành không vững để bước sang vùng đất ẩm ướt bên kia. Bến đò Ngọc, nước sông ôm kín sỏi đá buồn.
*
“Với hình ảnh chiếc cầu, các em hãy hình dung người con gái đang đứng cạnh con sông, con ngòi, với một chiếc cầu bắc ngang. Con sông, chiếc cầu trong hoạt động tinh thần của người Việt Nam ngày xưa cũng như trong văn học đều gợi lên một cảm giác buồn rầu, xa cách, và vắng lặng.”
Huy Cận đã viết:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Không gian ở đây trở nên bát ngát làm nền cho nội tâm, càng làm nổi bật tâm trạng buồn da diết, mênh mông, như không gian mênh mông xung quanh cô gái.
*
Tôi lầm lũi bước đi, quần xắn cao, lội nước. K1 tiếp tôi với một bộ mặt lạnh lùng: “Đã chuyển trại. Không biết chuyển trại nào.” (?) Tôi vòng trở lại K2: “Không có tù nhân nào tên như trong giấy tờ xin gặp.”
Lê bước tới K3: “Vừa mới thăm nuôi. Chưa được phép lần hai.” Tôi không thể kiên nhẫn: “Tôi chỉ cần các ông dẫn chồng tôi ra, đứng ở xa xa cho tôi được nhìn thấy. Thế thôi!” “Chị sang K5 gặp Ban chỉ huy để xin giải quyết.”
K5 ở đâu? Xung quanh tôi chỉ là những rừng và núi. Tôi mệt quá rồi! Căng thẳng tinh thần, rã rời thể xác. Một vài người dân đi qua ái ngại. Họ rụt rè nói về cái chết của chồng tôi. Mỗi người một tin. Như vậy là hy vọng còn sống rất mong manh. Mảnh giấy nhỏ nhàu nát, còn vết cuộn tròn. Nét chữ nhảy múa trong đầu óc tôi… Rồi tôi cũng tới được K5. Trình giấy tờ, hỏi lý do. Tên công an dò xét:
“Ai báo tin cho gia đình là anh Hưng chết?”
“Tôi không biết. Một người đi thăm nuôi nào đó gửi giấy tới nhà. Có lẽ cũng vì sự hạch hỏi này mà người ta không dám nói tên.”
“Chị không được nghe những tin đồn thất thiệt. Đó là một trong những luận điệu xuyên tạc đường lối đúng đắn của Cách Mạng…”
“Tôi không muốn nghe anh giảng chính trị nữa. Từ bấy lâu nay, khi một người tù cải tạo chết, các anh có báo tin ngay không? Nếu các anh cứ thẳng thắn cho hay, thì làm gì có những tin đồn có hại cho đường lối chính sách của Đảng của các anh. Chính vì cách làm việc che giấu của các anh…”
Tên công an dằn giọng:
“Thôi, chị nên bớt lại lời. Bây giờ chị có muốn chúng tôi giải quyết không?”
“Giải quyết cái gì? Tôi chỉ muốn các anh cho tôi biết chồng tôi còn sống hay đã chết. Anh có biết là tôi đã đi lòng vòng hết K1, K2, rồi tới K3, và rồi ở những nơi ấy trả lời như thế nào không?”
Biết là không ngăn cản được cơn tức giận của tôi, tên công an cầm giấy phép đi vào trại.
Bên ngoài trời không có nắng, không gian bao trùm ẩm ướt. Bầu trời như chùng thấp. Thời gian nặng nề trôi. Tôi cũng không hiểu Ban chỉ huy học bàn hay hỏi ý kiến cấp trên ra sao mà mãi một tiếng đồng hồ sau, tên công an ban nãy mới trở ra. Thái độ của hắn khác trước. Hắn nhẹ nhàng mời tôi đi theo.
Bộ Chỉ huy của trại là một căn phòng không lớn nhưng tôi vẫn có cảm giác lạnh người. Ly nước trà tên công an mời uống đặt trước mặt, tôi hững hờ đẩy về phía giữa bàn.
“Tôi, Thiếu Tá Nguyễn Thùy. Xin chào chị.”
Tôi không ngạc nhiên về thái độ của tên chỉ huy trại. Hắn niềm nở hỏi thăm sức khỏe, hỏi thăm nỗi vất vả dọc đường…
Tôi lạnh lùng:
“Xin các ông cho biết về tin tức của chồng tôi.”
“Thay mặt nhà nước, thay mặt Đảng, tôi xin chia buồn cùng chị.”
Hắn nói thật nhiều. Về những đức tính của chồng tôi. Về tinh thần học tập lao động. Về tai nạn chết người. Tôi như một khán giả ngồi xem một diễn viên loại dở đang vụng về diễn kịch. Cái phông làm nền cho sân khấu là lá cờ màu đỏ. Lạ thay! tôi đón nhận tin trong một tâm trạng hoàn toàn bình thản:
“Tại sao không nói cho tôi hay khi tôi tới K1, nơi mà cách đây khoảng một tháng rưỡi tôi đã đến thăm nuôi? Tại sao phải dấu diếm sự thật, khi tôi đã lặn lội ra tận nơi đây? Tại sao gặp ai ở đường tôi cũng níu lại hỏi thăm? Các ông thật vô cùng tàn nhẫn. Nhân viên của các ông còn trách tôi nghe tin đồn nhảm. Tôi rất hoang mang, nghi ngờ về cái chết của chồng tôi. Vậy sự thật chồng tôi chết ra sao?”
Nguyễn Thùy ngồi xuống chiếc ghế đối diện tôi:
“Chúng tôi có đầy đủ hồ sơ và hình ảnh người đã chết. Chị có muốn xem?”
“Các anh lập hồ sơ người chết để các anh tránh vi phạm nhân quyền. Tôi cũng không tin những hồ sơ đó.”
“Hay chị có muốn gặp một trong những người bạn của anh cùng đi lao động?”
Tôi ngồi yên. Bất động. Khoảng mười phút trôi qua, trung tá nhảy dù Việt Nam Cộng Hòa Phạm Ngọc Khanh được đưa lên. Ông nói y hệt Nguyễn Thùy. Có lẽ chỉ có câu nói cuối cùng ông dành cho tôi “Thương tiếc anh và chia sẻ nỗi đau cùng chị… ”
Tôi nhận lại di vật của người yêu dấu. Lương thực, tôi nhờ Trung tá Khanh chia lại cho các anh em cùng phòng giam. Nguyễn Thùy chỉ cho nhận 2kg đường.
Xe Vôn-ga đưa tôi đi thăm mộ. Hưng nằm yên trên một ngọn đồi cao, quanh đó còn có khoảng năm ngôi mộ nữa. Tên công an ôm một bia đá nhỏ có khắc tên chồng tôi đặt vào trước khoảng đất không cao. Hắn loay hoay thắp nhang…
Lòng tôi giá lạnh. Tôi quay gót, xuống đồi…
*
Người con gái đã bước qua cầu. Qua cầu ngả nón trông cầu. Cái nón như che rợp cả không gian, cũng như choán hết nỗi buồn chia ly. Người con gái bước qua sông cũng như bước sang một đoạn khác của cuộc đời. Ngả nón, trông cầu: người con gái như thoát khỏi sự chế ngự của không gian và hoàn cảnh. Nỗi buồn da diết và lắng đọng trở thành rõ nét hơn. Không phải một nhịp cầu, không phải hai nhịp cầu, mà rất nhiều nhịp cầu. Cầu bao nhiêu nhịp, con số không thể xác định được. Các nhịp cầu liên tiếp nhau như những đợt sóng lòng sầu muộn, triền miên của người con gái.
Chỉ với những chữ rất thường dùng, rất quen thuộc, nhưng do cách sắp xếp các chữ đúng chỗ, có giá trị tạo hình và gợi cảm, câu ca dao chứa đựng bao nhiêu là tình cảm mà người con gái gửi gấm vào đó. Tất cả những chữ, những hình ảnh trên, làm nhiệm vụ chuẩn bị cho ý quan trọng nhất ở cuối câu ca dao xuất hiện và bao trùm lấy cả câu ca dao: Dạ em sầu bấy nhiêu.
Nhóm chữ kép “bao nhiêu… bấy nhiêu” ở đây cũng thật gợi cảm: “cầu bao nhiêu nhịp, dạ em sầu bấy nhiêu” làm cho người đọc hiểu rằng nỗi buồn của cô gái trước cảnh trời cao, sông rộng, những nhịp cầu liên tiếp nhau như những đợt sóng tình cảm, là một nỗi buồn sâu lắng và không bao giờ dứt…”
Phải chăng đây là nỗi buồn riêng của một con người? Không! Đặt vào bối cảnh lịch sử của ca dao cổ, chúng ta hiểu đây là nỗi niềm tâm sự của cả một kiếp người, là tiếng kêu ai oán của nhiều thế hệ trong một xã hội không thể bảo đảm hạnh phúc cho mỗi con người…”
Tiếng chuông chuyển tiết vang lên. Tiếng chuông rung như làm Nga chợt tỉnh. Qua khung cửa, khoảng trời nhỏ màu xanh tràn ngập nắng vàng. Một vài con chim sẻ ríu rít chuyền cành. Nga xếp sách vở. Học sinh còn đang cắm cúi ghi chép…

Bích Huyền

 

 

Thursday, April 30, 2026

Nếu Tôi Được Làm Lại Từ Đầu - Thuyên Huy

 Nếu Tôi Được Làm Lại Từ Đầu

Tặng cho người bạn muốn được làm lại từ đầu

 












Nếu tôi đươc làm lại từ đầu

Trở về làng cũ đi cắm câu

Chờ ễnh ương đêm buồn gọi bạn

Ngắm trăng tàn chìm đáy sông sâu

 

Trở về nhặt trầu úa sau vườn

Nhìn đàn cá nhỏ lượn dưới mương

Ngồi bên bờ dừa soi bóng nắng

Chờ người lần đầu mới biết thương

 

Trở về bên mẹ nhóm bếp chiều

Chờ rau muống luộc cá kho tiêu

Nhà ai khói tỏa như sương sớm

Ngoài vàm vẳng tiếng bìm bịp kêu

 

Trở về tìm tóc bạc ngoại già

Những chiều mùa sang gió thoáng qua

Bạc như những cánh bông bưởi trắng

Đong đưa rụng ngập trước sân nhà

 

Trở về hái sen đỏ trong đầm

Tặng em mơ ước chuyện trăm năm

Bước thẹn bước thùng qua cầu gỗ

Em cười chừng nào lại ghé thăm

 

Trở về nghe tiếng võng sau hè

Lùa đàn trâu gặm cỏ đường đê

Hái bông mướp vàng cài lên tóc

Tóc em thơm mượt ngát hương quê

 

Thuyên Huy

Từ nơi xa nhớ nhà 2022

 

 

 

 

Chiếc Dương Cầm - Trần Vũ

 

Chiếc dương cầm

Ngày đầu tiên đạp xe xuống Củ Chi, nhận một chỗ giáo viên cấp một, Hòa đã chú ý đến chiếc dương cầm kê lây lất trong một góc tối của gian lớp học quạnh quẽ. Giữa bốn bức tường gạch xây không sơn phết, chiếc dương cầm nằm trơ trẽn, trần trụi và im lìm như một quý vật đang hấp hối.

Trần Vũ

 


Lớp gỗ đánh bên ngoài hãy còn bóng, mảnh khăn nhung phủ phím đàn vẫn còn mịn. Cả chiếc ghế ngồi hình chữ nhật, có bốn chân cong cũng còn gần bên. Cây đàn chưa mất đi dáng dấp sang trọng, lẫn vẻ kiêu sa của chính nó. Hòa đứng yên trong gian phòng vắng. Anh nhìn cây đàn chìm trong bóng mờ của bức tường khuất nắng. Trên nền đất không tráng xi măng, xông lên một mùi ẩm. Cả mùi gỗ tươi của mớ bàn ghế đóng tạm bợ, vội vàng cho niên học sắp khai giảng, vất ngổn ngang bên chiếc dương cầm. Dưới lớp bụi lấm tấm, cây đàn giữ lại trọn vẹn hình ảnh của cả một thời đại vừa đi qua. Hòa vẫn không rời mắt cái nắp đàn khép hờ, phô bày hàng phím trắng nõn, thẳng đều tinh xảo dưới sắc màu đỏ gụ của giải khăn nhung dịu, cũng chỉ che đậy hờ. Hòa đến gần cây đàn như bị kích thích của tò mò ham muốn chạm tay vào món vật quý giá ấy. Tấm biển chạm nổi nhỏ, khắc tên hiệu của nhà sản xuất – chiếu sáng ngời màu đồng lúc Hòa mở nâng nắp đàn. Làm sao một món hàng rất tư sản, rất trưởng giả xa hoa như chiếc dương cầm này lại hiện diện nơi đây, trong một ngôi trường giải phóng, thiếu thốn trăm bề của vùng Củ Chi “thành đồng đất thép này”? Hòa không rõ lắm, chỉ nghe từ đáy lòng mình những phím âm thanh xôn xao của một thời hoa mộng vừa vọng lên. Từ chiếc dương cầm toát ra sức lôi cuốn mạnh mẽ khác thường mà Hòa không sao tự chủ nổi. Năm ngón tay anh mơn trớn, ve vuốt trên mặt đàn, chỉ dám lướt hờ trên những phím nhạt. Lúc những đầu ngón tay hơi cong lại, sắp gõ xuống một nốt nhạc, nhấn xuống một hợp âm, Hòa chợt rụt tay về. Gian lớp học vắng người vẫn yên lặng như tờ. Một vài đọt lá rụng rơi bên ngoài. Vạt nắng nhỏ luồn vào khe cửa. Nền đất ẩm, trần vôi tơi tả… và chiếc dương cầm ở đó, giữ nguyên tiếng lòng của nó hãy còn ẩn núp, chưa thức giấc.

– Buổi chiều đạp xe trở về thành phố, Hòa bằng lòng với chính mình. Anh đã để yên cho chiếc dương cầm im ngủ trong gian lớp học. Không nên đánh thức một thời đại đã chết, đã câm tiếng. Trong những khí cụ của âm nhạc, dương cầm là vị hoàng tử không có chỗ đứng trong dân gian, không lẫn với giai cấp bần nông. Nó tự cách biệt bằng địa vị quý tộc, bằng những âm hưởng của giây đàn không hòa điệu với loại nhạc thép đấu tranh. Cao sang chừng đó, vọng tộc ngần ấy, vậy mà hồi trưa nó đã chịu nằm hẩm hiu trong một xó góc gần như bị bỏ bê, hoang phế. Hòa không thấy buồn bã, chỉ một nỗi buồn vu vơ bâng quơ, lãng đãng theo cùng cơn gió ngoại ô thổi hững hờ từng chập dai dẳng. Hai năm ở trường trung học sư phạm, để bây giờ ra nhận một chỗ giáo viên tiểu học, với Hòa thôi thế cũng xong. Một chỗ đứng để qua ngày, như cây đàn đã tìm ra cho mình một xó lớp an phận.

*Những ngày khai giảng đầu tiên, Hòa tiến hành chức năng mới của người giáo viên dưới mái trường Xã hội Chủ nghĩa hoàn toàn trong thiếu thốn đủ mọi vật liệu học đường. Phấn màu chưa có, phấn trắng không đủ. Tấm bảng đen duy nhất loang lở, lồi lõm vì thớ gỗ bị dột mưa. Học trò hơn bốn mươi đứa, đủ mọi lứa tuổi. Từ những đứa nhỏ chưa biết đọc kêu khóc trong lớp, đến những đứa già đầu nhìn Hòa cười nham nhở. Trong thâm tâm Hòa không mấy tha thiết với thiên chức của mình. Mà hình như tất cả những đồng nghiệp ở đây của anh cũng chẳng ai quan tâm đến chức năng của một thầy giáo. Họ chỉ tha thiết hết lòng vào những ngày cuối tháng, chia nhau khẩu phần tiêu chuẩn thịt cá, tranh nhau ỏm tỏi trước đôi mắt của lũ học trò ngơ ngác. Đã hết thật cái thời tiên học lễ, hậu học văn. Không phải vì những câu châm ngôn mà cổ nhân di lại cho hậu thế như phú quý sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc không còn đúng nữa. Tất cả vẫn đúng, chỉ có đám hậu sinh bây giờ là khả ố. Hòa thường đi rảo trong hành lang, trước những tiết học với ý tưởng mình là một tên khả ố. Anh chỉ tìm thấy chút bình an mỗi khi ghé mắt nhìn vào trong gian nhà dùng làm kho chứa đồ phế thải, nơi có chiếc dương cầm trầm ngâm suy lặng. Hòa an tâm nhìn cây đàn mặc dù bị xem như món hàng phế thải vẫn còn nguyên vẹn dáng dấp hình hài và đức tính quý phái, uy nghi. Một đôi lần họp hiệu đoàn, có người đưa ý kiến hồ đồ và bỡn cợt là đem cây đàn bửa làm củi đốt. Nhưng dù chuyên chính vô sản và có tính triệt để cách mạng đến đâu, ban giám hiệu nhà trường vẫn nhận ra đây là một vật quý. Người ta không trọng dụng nó vì không biết cách sử dụng. Nên cây đàn vẫn được để yên, nằm riêng rẽ một góc trong căn phòng chứa đồ không dùng đến. Hòa là người ngó ngàng và chăm sóc cây đàn trong âm thầm lặng lẽ. Đối với anh, nó là biểu tượng của sự sống sót của cả một triều đại phú túc vừa bị vùi dập. Chỉ một mình anh hiểu nó và chỉ một mình nó hiểu anh. Hòa thường hay đến mân mê lau chùi chiếc dương cầm mỗi khi rảnh rỗi. Nhưng không lần nào anh có đủ can đảm gõ xuống một nốt nhạc. Cây đàn đã câm tiếng như từ lâu Hòa biết im lặng trong cuộc sống.

Phải chờ đến một buổi chiều, như rất nhiều buổi chiều Hòa cùng với bạn đồng nghiệp ngủ đêm tại trường để soạn giáo án cho một tiết học sớm, tránh cái cảnh đạp xe hàng nhiều mươi cây số để hộc tốc đến trường với đôi chân rã rời, đôi mắt lạc thần vì đuối sức. Hòa trở ra từ phòng giáo viên với tâm trạng buồn bảng lảng. Dáng điệu của Tuyền ngúng nguẩy từ chối lúc anh rủ nàng đi dạo dưới làng. Ánh mắt Tuyền thờ ơ với đuôi tóc đỏng đảnh tinh nghịch:

– Hòa đi dạo đi, nghe nói có quán nếp cẩm mới mở đắt khách lắm. Tuyền bị trễ giáo án mấy hôm nay, phải soạn ngắn lại cho tuần sau. Chắc không đi với Hòa được, thôi để lần sau. Đừng giận Tuyền nghe Hòa.

Nắng buổi chiều phơi trên lối đi đỏ gay. Đất thép thành đồng, nên nắng cũng là nắng lửa, Hòa dừng chân nơi tàu lá chuối xanh rờn trồng ven hàng rào ở khu lớp học. Hòa biết anh chọn về dạy ở Củ Chi cũng vì Tuyền. Chọn? Có nghĩa là không nộp đơn xin thôi, mà chấp nhận đi xa theo yêu cầu. Về Củ Chi với Tuyền, không xa thành phố lắm, Hòa hy vọng một cuộc tình trong xây dựng. Hai năm chung trường trung học sư phạm, Hòa đeo đuổi mái tóc lưng chừng vai, sóng mũi thanh và hai vai nhỏ nhẫn nại của Tuyền.

Nhiều lần đi chơi chung. Một đôi lần chia nhau dĩa bánh cuốn. Một đôi lần Hòa chở Tuyền ở yên sau, đạp lên Thủ Đức, đạp xuống Lái Thiêu. Và cũng có đôi lần sợ ngã, Tuyền ôm lấy thắt lưng Hòa. Rồi dừng ở đó, không có cái nắm tay trai gái. Dầu sao Hòa vẫn hy vọng Tuyền sẽ chấp nhận mối tình của mình, như Tuyền đã chấp nhận về dạy ở vùng Củ Chi đơn sơ, mộc mạc này. Lúc rời hàng tàu lá chuối, để đầu trần đi về căn phòng chứa đồ phế thải, Hòa nghe nóng bỏng ở trán. Từng phiến nắng lửa rơi xuống người Hòa, Vỡ tan thành trăm nghìn tia lửa nhỏ. Tuyền có cố tình khi bảo anh ra quán một mình? Chỉ có những tên thất tình mới đi uống rượu một mình. Hòa ngao ngán nhận ra giữa anh và Tuyền chỉ chung một lối đi đất đỏ dẫn đến phòng giáo viên.

Chiếc dương cầm hiện ra sau cánh cửa mở, với tất cả sự lạ lùng và quyến rũ của lần đầu Hòa bước chân vô căn phòng này. Nhưng lần này, Hòa trông thấy nhiều hơn ở cây đàn một vẻ chờ đợi đầy chung thủy. Chiếc dương cầm kê sát vách tường toát ra sự mời gọi tha thiết của người tố nữ, e ấp, thẹn thùa. Hòa ngồi xuống trước cây đàn như một bắt buộc không cưỡng lại. Anh chậm rãi nâng nắp đàn, khám phá những phím trắng ngà phơi bày thôi gìn giữ. Âm thanh của phím đàn vọng lên đầu tiên như một tiếng kêu bất ngờ, thảng thốt. Ở những nốt nhạc tiếp là sự chất ngất của yêu thương. Đến khi Hòa đặt luôn cả hai bàn tay của mình xuống phím đàn, thì chuỗi âm thanh trầm ngắn, từng chập lảnh lót, thánh thót ngân lên vang ngời ngời, biến thành những hợp âm của cả một nỗi si mê. Hòa không còn kiểm soát được hai tay mình, không còn ngửi thấy mùi đất ẩm, cùng mùi gỗ mục mốc meo ở đà nhà. Mười ngón tay trước mặt anh là mười ngón tay của đứa trẻ theo học dương cầm cách đây lâu lắm. Gian phòng dùng làm nhà kho chợt biến thành căn phòng học nhạc ở tầng trệt dẫy lầu đường Gia Long, phía trong sân tập võ nhu đạo. Trong những âm giai bay bổng, Hòa nghe cả tiếng thầm thì của người sư huynh già phụ trách lớp nhạc. Anh trông thấy cả vừng me la đà trước hiên trường Quốc gia Âm nhạc. Buổi trình tấu đầu tiên, những phím đàn rơi rụng xuống lớp thính giả im phắc. Mớ hình ảnh đầy mầu sắc, lên xuống âm vang theo từng cung bậc của phím đàn chợt tan biến, ngưng bặt. Hòa nhấc tay lên trong sự run rẩy của toàn thân đẫm mồ hôi. Đôi mắt của đứa trẻ soi mói, chiếu thẳng vào lưng Hòa. Anh đọc được trong ánh mắt ngây dại đó, có cái gì nửa ghen tức, nửa thán phục. Tia mắt của đứa trẻ lạ kỳ, chăm bẳm. Trước khi Hòa kịp lên tiếng, đứa bé gái chạy vụt ra khỏi lớp. Hòa không nhận ra đứa trẻ trong số những khuôn mặt thoáng nhanh qua đầu anh. Có lẽ nó học ở một lớp nào đó. Hòa vẫn ngồi bất động trước phím đàn khi cánh cửa bật mở tung và bóng Tuyền lật đật.

– Trời ơi! Ban đầu Tuyền cứ ngỡ là có cả một bầy họa mi cùng cất tiếng hót. Không ngờ là Hòa. Học đàn bao giờ mà mãi mới chịu trổ tài!

– Tuyền có thấy một đứa học sinh vừa chạy ra khỏi đây?

– Không. Đứa nào? Ở đây có cả trăm. Đàn nữa đi Hòa! Trời ơi, Tuyền mê nhạc. Hòa đàn được bản Sonate không?

Từ khi có chiếc đàn dương cầm chen vào giữa, quan hệ tình cảm của Hòa với Tuyền ngày một thêm gần gũi, mật thiết hơn. Những buổi tối thay vì đạp xe về thành phố, Tuyền ở lại trường thường hơn. Nàng cũng gắn bó với cây đàn như Hòa. Từ chiếc dương cầm nẩy sinh niềm thông cảm và quyến luyến giữa hai người, Hòa phải công nhận Tuyền mê âm nhạc và sành sỏi biết thưởng thức ít nhiều. Một đôi lần sau giấc cơm tối, Hòa ở lại dạo những tấu khúc của Mozart và Bach. Tiếng đàn vọng lên giữa đêm trầm bổng, như một khúc sáo trời. Đôi khi vài người bạn đồng nghiệp trẻ vây quanh Hòa, đề nghị chơi nhạc mới. Tuyền và hai cô bạn gái hợp ca bản Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây. Những lúc đó, Hòa để ý thấy tiếng đàn mình dị hợm và thô kệch, trơ trẽn. Mãi mãi, dương cầm không bao giờ là nhạc khí được tạo ra để đệm những bài ca Cách mạng. Tiếng đàn chỉ trở lại truyền cảm, rung động mỗi khi họ đóng cửa lén chơi nhạc vàng. Một đoạn Hoài Cảm, một khúc Ngậm Ngùi, mà sau khi những bạn đồng nghiệp về ngủ, Tuyền thường ngồi nán lại dựa đầu trên vai Hòa hát nho nhỏ những bài tình khúc xưa. Những buổi tối của họ luôn kèm tiếng dương cầm réo rắt.

Có một chuyện mà Hòa dấu người yêu, là ánh mắt của đứa bé vẫn rình rập soi mói sau lưng anh, mỗi khi Hòa đánh dương cầm. Tia mắt của đứa trẻ ngột ngạt kỳ lạ, gần như đố kỵ và ghen tức với Hòa. Bao nhiêu lần bắt gặp ánh mắt đầy tức giận đó, Hòa chỉ kịp đứng lên chạy ra hành lang để thấy đôi mắt nhỏ tan biến vào trong những lùm cây um tùm sau trường. Một bận duy nhất vào buổi trưa, Hòa vào phòng dương cầm với mảnh nùi giẻ và ít verni xin được với dụng ý chùi lại cây đàn đã cũ. Đang dở tay lau chùi, anh chợt nối gai ốc đây mình và ngưng lên bắt gặp đứa trẻ đang nhìn mình đăm đăm. Đứa bé đứng ở cửa gian lớp, không sợ hãi, không chạy trốn. Tia nhìn giận giữ chiếu thẳng vào mặt Hòa. Ánh mắt oán hận giữ rịt lấy bàn tay Hòa còn đặt trên thùng đàn. Đôi mắt của đứa bé gái khoảng chín hay mười tuổi chỉ dịu bớt, giảm hẳn ngọn lửa đang phừng phừng khi anh lấy tay ra khỏi thùng đàn. Hòa ngạc nhiên lắm. Anh ngạc nhiên vì thái độ bất thường của đứa học trò và ngạc nhiên cả chính mình đã đứng yên trong góc phòng, chịu hứng cái nhìn của đứa nhỏ cho đến khi nó bỏ đi. Sau này tò mò thăm hỏi, anh được biết tên đứa bé là Phụng, học lớp nhất A. Gia đình Phụng sống trong căn nhà lợp tôn xiêu vẹo, nằm gần đường lộ, phía sau ngôi biệt thự ba tầng của trụ sở phường.

Việc tụ họp đàn địch, hát xướng nhạc vàng của Hòa chẳng bao lâu đến tai ban giám hiệu. Người hiệu phó cho gọi Hòa vào văn phòng. Sau khi lớn tiếng giảng giải về… chức năng mới của người giáo viên dưới mái trường mới xã hội chủ nghĩa, về tinh thần đạo đức cách mạng tư tưởng văn hóa, người hiệu phó già mất mười năm vượt Trường Sơn nhìn Hòa thông cảm:

– Các cậu còn trẻ, mê nhạc mê đàn địch thì cũng dễ hiểu thôi! Mình ngày xưa chả mê Hoàng Cầm ấy à?! Nhưng quan trọng là phải biết phân biệt sai trái, đấu tranh tư tưởng ngay thì mới có tiến bộ! Mình đề nghị thế này: Thay vì các cậu tụ tập đàn hát buổi tối, mình lập hẳn một tổ văn nghệ và một lớp nhạc sơ cấp cho toàn trường và học trò cùng sinh hoạt. Cậu thấy mình dự kiến phương án có tốt không? Nhất trí đi nhé!

Hòa lẳng lặng gật đầu, không thắc mắc vấn đề phụ cấp bồi dưỡng cho những giờ dạy nhạc phụ trội ngoài thời khóa biểu. Với anh, được tự do đánh dương cầm là… tốt thôi.

*

Lớp nhạc sơ cấp khai giảng đầu tiên với hai mươi em tình nguyện, trong số có Phụng. Trước khi học đàn, học ca, môn học trước nhất bao giờ cũng là nhạc lý. Hòa bắt đầu với những khóa Sol, khóa Fa. Tập cho lũ trẻ đánh nhịp hai, nhịp ba và nhịp bốn. Ánh mắt của Phụng đã dịu đi rất nhiều từ khi Hoa cầm tay nó, nâng lên hạ xuống chỉ tay cách đánh nhịp. Phụng tỏ ra có năng khiếu đặc biệt. Nó thuộc nhạc lý rất nhanh và mau chóng quen với mặt phím dương cầm. Sự tiến bộ vượt bậc của Phụng trong lúc những đứa khác còn quờ quạng với những nốt Do Ré Mi làm Hòa có cảm tưởng Phụng đã quen với cây đàn trước đó. Trong hai con mắt to mở rộng đầy thèm khát học hỏi của Phụng, lâu lâu vẫn nẩy lên những tia máu đỏ ối, đục ngầu dữ tợn mỗi khi trông thấy những đứa trẻ khác sờ mó, đụng chạm vào cây đàn. Cặp mắt của Phụng, ngoài những phút tập đàn cho chính bản thân như chỉ được mụ nặn để rình rập, soi mói canh chừng tất cả mọi thứ tiến đến gần cây đàn. Mà Phụng cũng có lý của nó, khi chiếc dương cầm – từ ngày căn phòng chứa đồ dư mở cửa đón nhận mọi người – càng thêm tàn tạ xơ xác. Lũ nhỏ đến lớp nhạc để chơi đùa nhiều hơn để học. Chúng nạy phá nắp đàn, lấy dao khắc gạch và vạch vòng tròn để phóng phi tiêu. Hòa hết sức la mắng, khuyên răn, nhưng chỉ cần anh rời khỏi gian lớp năm phút để lên văn phòng nộp sổ lương thực, chiếc dương cầm đủ tả tơi. Tệ hơn nữa là tổ văn nghệ trường mỗi khi tập dượt, có những kẻ vô ý thức gạt tàn thuốc đầy lên phím đàn và bỏ cả vỏ chai bia vào trong thùng đàn. Những lúc vắng mặt rồi trở về chứng kiến cảnh tượng bê hề như thế, Hòa đau nhói trong lòng. Lại ra sức lau chùi, lượm lặt vỏ chai, tàn thuốc trước đôi mắt đỏ hoe của Phụng. Nhưng công sức của Hòa, của Tuyền và của cả Phụng không đủ giữ cho cây đàn khỏi ngày thêm bệ rạc, điêu tàn. Hòa thấy rõ ràng mình không cứu nổi chiếc dương cầm. Như không thể cứu giúp, vớt vát cái thời đại phú túc đã qua đi.

– Một buổi sáng đến trường cho giờ phụ đạo nhạc lý. Hòa chán chường nhận thấy chiếc ghế dài hình chữ nhật, có khoảng mặt ngồi bọc da đặt trước cây dương cầm đã bị mất cắp. Có tay nào đã nâng nhẹ chiếc ghế quý. Miếng vải nhung che phủ phím đàn rơi thõng dưới đất, cáu bẩn. Đôi mắt Phụng trong tiết học hôm đó mới tóe lửa dễ sợ. Suốt buổi học nhạc lý, nó lầm lỳ nhìn trừng trừng vào những đứa trẻ chung quanh, như thể đám trẻ này là thủ phạm trong vụ ăn cắp. Lúc Hòa cho gọi từng hai đứa một lên tập đàn, đến phiên Phụng và thằng con trai, đứa nhãi ranh vô phúc đánh đổ bình mực tím cất trong túi áo đậy không kỹ. Mực tím thấm ướt chiếc áo cộc tay của thằng con trai và thấm ướt cả mặt phím đàn. Diễn biến xảy ra nhanh đến độ Hòa không kịp ngăn chận. Phụng chụp lấy cây bút chì gác trên nắp đàn chọc vào mắt đứa con trai. Thằng nhỏ ngã lăn quay trên nền đất vãi mực tím, dẫy đành đạch và la khóc inh ỏi. Cái bợp tại bay đi quá mau, quá bất ngờ đến nỗi Hòa không kịp nhận ra là mình vừa tát trái Phụng. Tiếng khóc nức nở của Phụng hòa vào tiếng la thét của thằng nhỏ. Căn lớp học bồn chồn. Phím đàn vấy mực. Hai chiếc ghế đẩu ngã chỏng chơ trên mặt đất và chiếc dương cầm thu mình trong góc.

Sau đó Phụng bị đưa lên văn phòng giám hiệu. May mắn là đứa con trai không bị đui chột, chỉ rách một chút mí mắt. Buổi chiều mẹ Phụng đến trường để nghe những lời cảnh cáo con gái và ký vào tờ giấy cam kết giáo dục lại con. Bóng hai mẹ con đã ra khỏi cổng trường, biến mất ngoài đường mà Hòa vẫn còn cảm thấy bàn tay run rẩy gầy đét của người mẹ đang ký giấy trong lòng mình. Những ngày dạy học ở Củ Chi, mối tình của anh và Tuyền tiến triển dần trong chiều hướng khích lệ xây dựng. Tuyền bằng lòng làm lễ cưới khi hè đến. Những tối ngồi ở hàng hiên tâm sự, nàng tâm tình thổ lộ với Hòa những ao ước ham muốn vụn vặt mai sau. Tuyền không hiểu trong Hòa đang ăn sâu một vết thương. Mà chính Hòa cũng không rõ căn nguyên của vết thương trong lòng anh. Đến từ bạt tại quá mạnh hôm nào không kềm chế được đã đánh Phụng? Hay từ hình ảnh của chiếc dương cầm tàn tạ, thoi thóp chết từ từ? Hòa úp mặt vào mái tóc người yêu, nhưng cảm nhận rõ ràng là những vòng ôm xoắn xít của Tuyền không đủ khép kín miệng vết thương vô hình trong tim anh.

*

Vết thương trong lòng Hòa bật máu sau hai tuần Phụng không đến trường. Từ sau hôm bị đánh, Phụng bỏ hẳn giờ nhạc lý, chỉ đến lớp học rời rạc rồi nghỉ luôn. Sáng thứ hai của tuần lễ thứ ba, Hòa bỏ ăn trưa đạp xe xuống làng. Ngôi biệt thự sừng sững ba tầng gạch ngói tây, ngả chiếc bóng đồ sộ đè lên căn nhà vách ván lợp tôn – nếu có thể gọi đó là căn nhà của mẹ con Phụng. Con đường lộ của vùng đất thép, thành đồng nắng chói chang. Và vì là đất thép nên không thể trồng trọt cày cấy bao nhiêu. Những người dân Củ Chi đã đào bao nhiêu hầm hố để chống Mỹ. Chắc tay cuốc, nên lỏng tay cày. Những ruộng lúa èo uột, trây xát hai ven đường. Căn nhà sơ sài đến mức độ bần cùng nhất. Bốn cây cột chống một mảng tôn, dăm tấm ván che bên hông và những thùng các tông đập dẹp để làm nệm. Người mẹ hôm nọ lúi húi sau chái bếp, ngẩng lên nhìn Hòa.

– Thưa bác, cháu là giáo viên ở trường đến kiếm em Phụng.

Vẫn là một đôi mắt của Phụng, nhưng nhiều nếp nhăn và già héo hơn trả lời Hòa. Người mẹ cho biết Phụng đã theo cha ra chợ bán củi. Bà xin phép cho Phụng không phải trở lại trường nữa. Họ sắp đi kinh tế mới. Hòa bỡ ngỡ với tiếng “Thầy” người mẹ dùng để chỉ anh. Đã từ lâu Hòa quen với lối xưng hô anh giáo, chú giáo, cậu giáo của những bậc phụ huynh quanh vùng. Những người dân mà trên ba phần tư gia đình liệt sĩ cách mạng. Con em họ không học cũng lên lớp, không cần nể trọng thầy cô. Tiếng “Thầy” từ cặp môi người mẹ run run bám lấy Hòa khi anh trở ra đường lộ về trường. Chiếc bóng vĩ đại của ngôi nhà lầu, nơi đặt trụ sở phường, in đậm choáng ngợp sau lưng anh.

Hòa không còn gặp lại Phụng lần nào nữa. Gia đình của những con người khốn khổ này dời đi mất biệt vào trong nỗi bất hạnh không biên giới của quê hương. Chiếc dương cầm tàn tạ dần theo cùng với năm học. Những đêm trằn trọc, Hòa hình dung lại rõ mồn một đôi mắt của Phụng. Anh bắt gặp lại lần lượt tất cả những ánh mắt soi mói, canh chừng. Những tia nhìn tức giận, khinh bỉ mà Phụng đã ném vào mọi người đụng tới chiếc dương cầm. Ở đầu đốm lửa của những điếu thuốc hút liên miên vào những đêm trắng, Hòa mơ hồ mường tượng ra sợi giây liên lạc giữa Phụng và cây đàn. Giữa ngôi nhà lầu ba tầng dùng làm trụ sở phường và cái hình thể dị hợm được gọi là căn nhà phía sau. Phụng, cây đàn, ngôi nhà, trụ sở phường. Bấy nhiêu hình ảnh ám ảnh Hòa. Anh tự tìm lấy cho mình một giải đáp về ánh mắt kinh khủng của Phụng. Tự đoán mơ hồ rằng cây đàn trong trường hiện thời đã là của Phụng. Đã thuộc về gia đình Phụng, cho đến khi họ bị đuổi ra khỏi nhà và bị tịch thâu tài sản. Ngôi nhà lầu biệt thự, tiền bạc của cải phường đã chiếm hết. Chỉ còn chiếc dương cầm không biết dùng làm gì phường hiến tặng cho trường. Và Phụng đã đi theo canh chừng cây đàn, món vật quý giá đã trở thành sở hữu chung. Lối suy luận này giải thích hợp lý phần nào những hiện tượng xảy ra ở Phụng. Nó hãy còn quá nhỏ ngày cây đàn bị tiếp thâu để sành sỏi nhiều về âm nhạc. Song Phụng đã cố gắng phát triển vượt bậc năng khiếu học tập của nó về dương cầm, để chứng tỏ chỉ có mình nó – nữ chủ nhân của chiếc dương cầm – là xứng đáng được đánh trên những phím đàn đó. Hòa chỉ ray rứt hối hận cho bạt tại đã đánh Phụng trong lần quá nóng giận. Anh làm sao hiểu được những căm thù trong lòng đứa bé gái chín tuổi, khi nhìn thấy món đồ chơi quý giá nhất của nó bị phá hư hỏng, vấy mực lem luốc?

Buổi sáng cuối cùng của niên học đã mãn. Hòa buộc những túi sắc của mình và Tuyền lên hai bên sau xe đạp. Trong lúc chờ đợi Tuyền đi chào tất cả những chị em đồng nghiệp bạn gái, Hòa trở vào thăm lớp nhạc lần cuối. Chiếc dương cầm mang hình thù một con quái vật, nằm tênh hênh xiêu đổ giữa nhà. Cái nắp đàn đã long bản lề, không đóng được nữa, phơi bày toang hoác những phím đàn vàng ố cáu bẩn. Hơn quá nửa phím bị mẻ, lốm đốm màu mực tím. Nửa số phím còn lại, long lay gập gềnh như hàm răng người già. Tấm biển nhỏ chạm trổ tên hiệu của nhà sản xuất đã biến mất. Giải khăn nhung cũng đã mất tích. Thùng đàn in lỗ chỗ những mũi đâm nhọn của phi tiêu. Dăm hình vẽ khắc bằng compas và chi chít những hàng chữ có ký tên. Hòa ngồi xuống chiếc ghế đẩu đang lây lất trước miệng đàn. Phải bay lớp bụi bặm cùng tro tàn thuốc đóng mờ trên phím. Không gian của căn phòng yên lặng lắm. Vẫn là cái không gian thênh vắng của một năm trước đây Hòa đến nhận chỗ giáo viên cấp một, tình cờ chú ý đến chiếc dương cầm. Những đọt lá rụng rơi bên ngoài. Vạt nắng nhỏ luồn qua khe cửa. Nền đất ẩm. Trần vôi tơi tả… Hòa nhấn tay xuống phím đàn. Những thanh âm vừa vọt lên thật kỳ quặc. Trong một giây Hòa ngượng ngừng tưởng mình nhấn sai hợp âm Do thứ. Anh cúi nhìn những đầu ngón tay đang ở đúng vị trí của các nốt thăng giảm, quy chuẩn cho hợp âm Do thứ. Anh thử lại lần nữa. Lần này thì Hòa biết rõ thứ âm thanh vừa phát lên, không còn là những âm thanh của đàn dương cầm.

Trần Vũ