Sunday, April 21, 2024

Phố Và Người - Thuyên Huy

 Phố Và Người




Thánh Chạp Nhớ - Trần Văn Nghĩa

 THÁNG CHẠP, NHỚ!















Ngập ngừng vai lạnh phố xưa

Bâng khuâng tháng chạp có mưa gọi về
Buốt bàn tay níu cơn mê
Nỗi đau sóng sánh câu thề thốt xa
Bóng đời theo dấu bụi qua
Nghiêng theo em , áo phù hoa quê người
Chút tình mê ngủ trong tôi
Bàng hoàng đêm nhớ hong trời sương bay
Chênh vênh tìm lại nơi này
Mùa xao xác , lá chao gầy lá rơi

Nghẹn ngào cùng tháng chạp ơi !…

Trần Văn Nghĩa

 

 

Buồn Như Bóng Đêm - Nguyễn Minh Phúc

BUỒN NHƯ BÓNG ĐÊM

















Chiều nay có ai về quanh mộ
Cho tôi vay một nén nhang tàn
Đắp lên mặt cỏ ngàn cơn gió
Và gió bồng bềnh treo nghĩa trang

Ngày đi rất chậm e chừng muộn
Buổi nằm nghe máu rã rời đông
Hồn khuya xơ xác mù con sóng
Lạnh trái tim khô chảy ngược dòng

Không chừng tôi ghé qua đời. chậm
Thả khói nhang trầm ngang bến sông
Đã nghe một thoáng buồn ngùi ngậm
Khi gió hoàng hôn buốt chạnh lòng

Chắc hẳn tôi về. nhưng không vội
Bao điều chưa nói được cùng em
Tiếng còi đã thổi ngày sau cuối
Riêng cõi tôi. buồn như bóng đêm…

Nguyễn Minh Phúc 

Hai Nhà Nghề - Nguyên Hồng

HAI NHÀ NGHỀ



Ðã lâu tôi không làm cái nghề nhào lộn ấy nữa để kiếm cơm ăn. Nhưng, một đôi khi, nghe tiếng thanh la inh-ỏi, hay tiếng phèng phèng khua ran, hay những điệu kèn đu-đủ rè rè, tôi lại thấy lòng náo nức. Một cái gì mềm yếu trong thâm tâm tôi bị rung động lúc bấy giờ, và một cái gì chua xót làm tê dại linh hồn tôi. Lập tức, tôi phải đi xa chỗ tụi trẻ làm trò kia, hoặc cho chúng một vài hào để chúng đi nơi khác biểu diễn tài nghệ.

Thưa các bạn, những bạn đã từng nếm qua các vị ngọt bùi, cay đắng của một nghề tự do trong sạch nào, chắc các bạn phải từng có những phút giờ bùi ngùi như tôi, sau khi các bạn bỏ nghề ấy, bỏ hẳn nghề ấy.

Một kỷ niệm cũ dù êm đềm, sáng suốt, hay thảm khốc, tối tăm, bao giờ cũng xúc động lòng ta hơn là những sự lo âu, mừng rỡ của tương lai dẫn đến. Nhất là những kỷ niệm ấy lại thuộc về thời kỳ thơ ấu của ta, cái thời kỳ rất yêu dấu, rất nên thơ, vì chan chứa cảm tình.

Một ngày xuân đã qua, lâu lắm rồi, một ngày xuân sáng và ấm, nghề nhào lộn đã khắc sâu vào tâm khảm tôi những dấu vết không thể mờ nhạt được.

° ° °

Dạo ấy, bọn trẻ con cặn bã đặt cho tôi cái tên kép: Nhân-đen vì tôi, hết năm này sang năm khác, lang thang trong nắng, mưa và gió bụi, có một nước da bóng nhẫy, mùi gỗ lim cũ đóng bàn học trong những nhà trường. Chúng lại còn gọi tôi là Nhân-đu-đủ, vì tôi kiếm tiền của thiên hạ rất dễ dãi bằng những bài kèn "la-mát", "mạc-xây-e", "ma-đơ-lông" vân vân, thổi với ba ống đu-đủ.

Trước kia, đi theo tôi có một thằng bé kém tôi hai tuổi. Nó không biết thổi kèn, không biết ca những bài cải lương mà bây giờ người ta cho là chướng tai vô cùng, nhưng nhào lộn giỏi. Tôi gặp nó ở chợ nhà quê, vùng Hà-Ðông dắt thuê cho một ông già mù. Thấy nó kháu khỉnh, mắt sáng, miệng cười luôn, tóc hung hung xoăn xoăn như tóc tây, lại tinh lanh, chỉ xem tôi nhào lộn vài lần mà đã bắt chước uốn cầu vòng đi bằng tay được, tôi liền dỗ nó bỏ ông cụ ăn mày.

Cùng tôi lang thang nay đây mai đó được hơn một năm, tới khi biết làm nhiều trò, thì nó bỏ tôi, đi kiếm tiền một mình. Tại dạo ấy tôi ốm yếu luôn, không thể nhào lộn nhiều được và ca hát, thổi kèn hay như trước. Mấy ngày đầu, tôi buồn rầu và nhớ nó chẳng khác gì một người anh có đứa em gái nhỏ chết ở dọc đường khi cùng nhau đi tha phương cầu thực.

Nó bỏ ông già, vì sống với ông, khổ sở, bệ rạc quá. Nhưng làm bạn tôi, được tôi quý mến, có cái gì cũng chia sẻ cho, mà nó đánh "rơi" ngay tôi khi tôi cùng quẫn, hỏi sự bội bạc ấy còn gì khốn nạn hơn? ấy là tôi không nghĩ đến công phu luyện tập cho nó thành một nhà nghề khéo, giỏi.

Tuy bị một phen lừa lọc, tôi vẫn cố gắng tìm kiếm một đứa bé kháu khỉnh, khôn ngoan như nó, để truyền cho các cách múa lộn rồi cùng đi kiếm tiền. Nhưng gần hai năm, tôi chẳng chọn được đứa nào hết.

Cuối năm thứ ba, tôi càng ốm yếu hơn... rồi sang xuân năm thứ tư, tôi bắt đầu đi sâu vào một quãng đời thiếu thốn, khổ sở vô cùng.

Tiếng hát của tôi đã khàn khàn! Tiếng kèn không vang to và ngân dài như trước. Ði bàn tay chỉ được bốn, năm thước. Nhiều lúc, trên dây thép, tôi phải bỏ dở trò vì thấy đầu bốc nóng, ù tai, quáng mắt.

Nghề làm xiếc của tôi đến thời kỳ cùng mạt rồi!

° ° °

Tôi bỏ Hải Dương về Hải Phòng chính lúc người đời đương vui mừng đón chào xuân mới. Bởi cái tỉnh nhỏ với vài dãy phố vắng vẻ kia, đến một thành phố không sầm uất lắm nhưng cũng đông dân cư, tôi hy vọng sẽ kiếm được một món tiền kha khá, đủ cho tôi chuộc lại ít quần áo gán nợ cho hàng cơm và cắt vài chén thuốc.

Xe lửa qua khỏi cầu Phú Lương lại bắt đầu chạy rất nhanh, lắm lúc đến quãng đường vòng tưởng như sắp chồm ra ngoài đường sắt. Bấy giờ ánh nắng vàng tươi đã láng khắp bầu trời không gợn một vệt mây đen và khắp vùng quê lặng lẽ trong một thứ hơi gì mong manh ướt lạnh.

Tới khi mặt trời lên cao, phải che tay nghiêng mắt mới nhìn được, và gió lồng lộng tung cát bụi lầm, tôi thấy đâu đâu cũng như có những mầu sắc gì rực rỡ và những tiếng gì trong sáng.

Từ cánh đồng mạ bao la nổi sóng xanh rờn, từ những mắt nước thỉnh thoảng rùng lên như tấm nhung nõn nà căng trùng, từ những chòm cây phấp phới, lấp loáng, đến những đàn chim yên lặng xoãi cánh bay về những lũy tre bơ phờ, hết thảy đều như nó rỡn vì vui mừng, vì sung sướng.

Lòng khấp khởi của tôi phút chốc bừng bột; tâm trí tôi trở nên tươi sáng, những cái gì mới mẻ, ấm áp lan rộng trong linh hồn tôi, tôi không còn nghĩ đến hơn một tuần lễ vừa qua, nằm liệt trong một quán trọ bẩn thỉu, không được ai săn sóc, trái lại, còn bị hắt hủi, xua đuổi.

Ngày đầu xuân bao giờ cũng xóa bỏ hết những sự buồn bã, chán nản đến ám ảnh người ta, làm cho người ta lây sự vui sướng của vạn vật và ham thích sống. Nhìn cảnh vật rực rỡ dưới ánh nắng một giờ một chói lọi, tôi cảm thấy có thể gặp những ngày đầy đủ như năm nào, hay hơn cũng có. Không phải vì nhờ cái nghề làm xiếc và ca hát này, mà vì một sự may mắn gì bỗng đến.

Xuống ga Hải Phòng, tôi đeo túi vải đi lên Ngã Sáu, rẽ qua Ngõ Cấm. Thấy không có mấy đám bạc và trẻ con tụ họp chơi đùa, tôi lên phố Ðầu Cầu. Phố này gần bót, nên rất ít xóc đĩa và súc-sắc. Tôi phải đi lên phố Khách. Ðến đây tôi đứng lại, vì chỗ tôi định diễn trò ấy có ba đám xóc-đĩa, người lớn, trẻ em chen chúc nhau, vòng trong vòng ngoài.

Ðặt cái túi vải xuống thềm gạch tháo miếng vải vàng để lợp mui xe ra, quẳng nốt chiếc mũ dạ tàng rúm ró ra giữa vòng, đoạn rút chiếc kèn bằng ba ống đu đủ, tôi phồng má lên, thổi một hơi kèn.

Cũng như lần trước, trăm nghìn lần trước, điệu kèn nhà binh ca khúc khải hoàn kia đã kéo đến chung quanh tôi một số đông người.

Tôi hởi dạ, ngẩng mặt lên trời cao và sáng, lấy hơi thổi nốt đoạn cuối.

Sao hôm nay tiếng kèn vang to thế? Tại tôi khoan khoái, nức lòng chăng? Hay bởi trong người tôi nhẹ nhõm vì luôn mấy ngày nghỉ ngơi và ăn rất ít? Khi đó, nếu dư tiền tiêu xài, tôi quyết hiến không cho đám người đông nghịt quây tròn lấy tôi tất cả những bài kèn và những trò nhào lộn điêu luyện của tôi, để hưởng cái khoan khoái thấy nhiều kẻ thưởng thức tài nghệ của mình.

Tiếng kèn ngừng, dưới ánh mặt trời nóng ấm, tôi từ từ đưa ngang tay gạt mồ hôi trán. Một giọt rớt xuống mắt tôi, xót quá! Tôi phải dụi hồi lâu bằng chiếc khăn bông giắt ở cạp quần thâm cộc có nẹp trắng. Cơn sốt lai nhai làm cho tôi nhọc mệt và rét run không được, đến giờ là hết!

Tôi trải miếng vải vàng ra giữa thềm gạch, mặc chiếc maillot đỏ dòng dọc xanh, và lấy ở túi vải ra những dây thép, những cọc tre, và hai quả bóng quần. Bắt đầu tự lúc này tôi được người ta chú ý đến một cách sốt sắng.

Vây chung quanh tôi có tới hơn trăm người. Nhiều nhất là trẻ con hí hởn trong những bộ quần áo mới, đến các phu phen ế việc, những thằng nhỏ, con sen, và vài tốp đàn bà nhà quê.

Tôi đã đi ngược bằng tay ba, bốn bận. Muốn cho người xem sướng mắt hơn, tôi đổi sang trò uốn cầu vòng, uốn con tôm, uốn cong người để cắn đồng xu cắm xuống đất và nhặt mùi soa. Càng phấn khởi tôi càng không thấy mệt nhọc. Tôi trổ hết tài nhào lộn trên mặt đất.

Bao nhiêu tiếng vỗ tay, tiếng reo hò cất lên không ngớt. Trong lúc ấy, người lớn và trẻ con tưởng chừng như đã lạc vào được một rạp xiếc nào. Họ không ngờ tôi, một đứa trẻ đi làm trò một mình, lại tài giỏi đến thế, làm họ khoái trá đến thế. Trời! Sự khoái trá vui thích tăng thêm sự tươi tốt của ngày đầu xuân êm đềm trở lại trong đời họ.

Nhưng... tôi bắt đầu thở bằng tai sau trò tung cầu trên dây thép. Sau ba phút biểu diễn trò ấy, nhảy xuống đất, tôi nhao hẳn người đi, và khi ngẩng đầu lên, mắt tôi tia ra những đốm sáng, trong tai tôi như có muỗi nhỏ sa vào.

Tôi phải đứng lặng một hồi lâu, và, chợt tôi nhận ra một cái gì, một sự phung phí vì kiêu ngạo nếu không phải vì dại dột, ánh nắng đã trở nên gay gắt. Mồ hôi trán tôi càng vã ra. Tôi rút khăn lau qua mặt nóng bừng, đoạn vươn vai thở hắt mạnh ra một cái. Tức thì, bao nhiêu sự nhọc mệt mất hết, xác thịt và tâm trí tôi lại nhẹ nhõm phẳng lặng như thường.

Ðời sống cấm ngặt tôi không được một giây nào chán nản và ủy mị, phải luôn luôn hoạt động, hớn hở hơn là ánh nắng tưng bừng nô rỡn với muôn loài.

Không ngờ rằng tôi sắp sửa xin tiền, bọn phu xe và vài người quần chúng áo dài thúc giục:

- Hay quá! Làm nữa đi.

- Làm nữa đi, kìa người xem càng kéo đến đông kìa!

- Thế nào chả được nhiều tiền.

Có kẻ giọng quả quyết:

- ít nhất là hàng hào.

Tôi mỉm cười, trật chiếc mũ nồi đội lệch trên đầu ra, thong thả đi lại chỗ người nói sau cùng, lễ phép thưa:

- Vâng, tôi xin làm nữa, nhưng xin ngài và các ngài hẵng thưởng cho ít nhiều.

Những nét mặt tươi tỉnh của hắn ta phút chốc đổi thành những nét cau có. Hắn lắc đầu một cái, ngoảnh mặt đi, lùi bước. Giá là kẻ làm trò khác đã kèo nhèo xin, nhưng tôi đây có chút ít học vấn, biết tự trọng và khinh bỉ kẻ không biết tự trọng, tôi chỉ nhìn hắn bằng đuôi con mắt rồi chìa mũ đi xin người khác.

Tiếng vỗ đùi đèn đẹt làm tôi chán ngán. Tôi phải đến xin người thứ ba. Tuy ăn vận bảnh bao nhưng chàng nào cũng túi không. Ðến người thứ tư, thứ năm, thứ sáu... thứ mười rồi thứ mười mấy chả rõ, cũng túi không.

Rồi những phu phen và đám đàn bà nhà quê lảng dần. Còn lại mấy chục đứa bé... suýt soát... tuổi tôi giương những con mắt thao láo nhìn.

Ngay bấy giờ những tiếng nhạc đồng xoang xoảng từ đầu phố vẳng tới. Tôi kiễng chân lên trông: một thằng bé để tóc hớt kiểu móng lừa, quần vải áo xanh thô, chân dận hài sảo, vừa đi vừa tung đôi dao sáng loáng vừa lắc một chuỗi nhạc đồng. Kêu gọi người xem, anh nhà nghề này dùng những hát lố lăng, giọng lè nhè:

- Sế cô pa lý sềnh ế ề ê... Sề cồ pà lỷ sềnh ể ề ề... ể ề ề...

Lũ trẻ con bỏ ngay tôi, chạy lại xúm xít quanh thằng bé. Tốp đàn bà nhà quê và phu phen cũng kéo đến liền. Phút chốc trên thềm hè trơ khấc mỗi mình tôi, mà đằng đầu phố đông nghịt những người.

Thằng bé múa dao hởi dạ, tung thêm một con dao nữa, và ráng sức ném nhanh hơn, vừa lắc mạnh cho nhạc càng vang to. Giọng hát lố lăng của nó như cố dướn cao lên:

- ế ề ê... ế ề ê ... sế cô pa lý sềnh ế ề ê... sể cổ pà lý sềnh ế ề ề ... ể ề ề...

Hơn lúc nãy bội phần, đám người xem, vẫn đám khán giả cũ của tôi, reo hò ầm ĩ.

Thằng bé múa dao bỗng dừng tay. Nó rút cái khăn bông cũng giắt ở cạp quần ra, lau mồ hôi trán, và tháo bình nước đeo ở sau lưng, tu một hơi dài. Mặt nó đỏ bừng đã dìu dịu. Nó cởi chiếc áo cụt tay ném phắt xuống đất, mặc một chiếc xích sắt vào một đôi dao:

- Các ông các pà tứng lôi ra, tứng lôi ra.

Dứt lời, nó cầm chắc hai con dao có chuôi nối dây xích rồi hắt một con dao khác lên. Con dao này vừa rơi xuống, thằng bé không bắt bằng tay, nó lấy một chuôi dao cầm chắc trong tay hắt bắn chuôi dao kia lên.

Ðồng thời, một lưỡi dao sáng loáng vọt lên theo.

Nguy hiểm hơn, không dùng chuôi dao nữa, nó dùng đoạn xích căng thẳng hất cả hai con dao trước khi và sau khi lộn mũi rơi xuống.

Nó tung thật nhanh, mắt nó sáng ngời lấp lánh như những lưỡi dao ấy, vầng trán bóng rô hẳn ra cũng nhịp theo.

Trò nhào lộn và tung cầu của tôi trên dây thép đã nguy hiểm nhưng đem so sánh với trò múa dao của anh nhà nghề người Tàu này còn thua kém xa.

Nếu không cứng tay, nếu không tinh mắt, nếu chỉ nghĩ lảng đi một giây, hai mũi dao sắc, nhọn kia sẽ cắm sâu hoặc trên đầu, hoặc giữa mặt.

Những tia máu sẽ vọt lên! Những tia máu mà tài múa dao đã cho nó!

Tiếng nhạc rung càng ròn rã, tiếng hát lố lăng càng kêu gọi thêm được một số đông người thua bạc đến xem. Hai lưỡi dao tung lên, rơi xuống nhanh quá đỗi, chỉ còn là những làn chớp loáng.

Thằng bé này quả là một nhà nghề đặc sắc, một con cưng của sông hồ. Tôi quên hẳn mình đương cần phải kiếm tiền nuôi miệng bữa chiều nay và những bữa ngày mai, tôi thẫn thờ trông anh bạn trôi dạt ấy trổ hết tài năng.

Chuỗi nhạc đồng rung lên một hồi thật dài rồi ngừng tiếng. Phập, bốn lưỡi dao chập cả lại vào lòng bàn tay phải. Thằng bé múa dao quỳ một gối xuống đất, cúi đầu chào tất cả người xem.

Cánh tay phải nó chuỗi thẳng ra, bốn mũi dao ấy đỡ lấy một giỏ mây xinh xắn. Nó yên lặng chờ những xu hào...

Không thể nói nhanh tới chừng nào, những cảm giác chua cay, đau tủi ran lên khắp tim tôi. Tôi không thể cầm lòng nhìn thằng bé cũng dạn dày vì lang thang kia quỳ lâu thêm một phút nữa, chìa giỏ xin tiền những người xem không tiền và không giàu lòng thương lảng dần dần ra những chỗ khác.

Trời! Hai đứa bé nhà nghề chúng tôi đã phô diễn hết tài năng trong bao giờ để sau cùng đổi lấy những cặp mắt lãnh đạm của mọi người.

Tôi vội chạy lại, đỡ thắng bé múa dao kia dậy; tôi muốn nói với nó một câu gì nhưng cổ họng đã nghẹn ứ mất rồi.

Nguyên Hồng

  

Wednesday, April 17, 2024

Xuân Sang - Vườn Thơ Mới Xướng Họa

 THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 144_VƯỜN THƠ MỚI

 Xướng:

Xuân sang


















Mai đào nở rộ đón xuân sang,
Thấp thoáng lưng trời cánh én ngang.
Mặt lá sương tan viên ngọc bích,
Lòng sông nắng chiếu sợi tơ vàng.
Bên hoa thoảng gió hương thơm ngát,
Dưới liễu nghe chim hót rộn ràng.
Thảm cỏ đơm bông như bức họa,
Thiên nhiên tỉnh giấc đẹp mơ màng.

Mỹ Ngọc

Mar. 27, 2024.

Họa 1:

Tình chung

Đất khách bao xuân lặng lẽ sang

Đớn đau dằng dặc khó nguôi ngang

Bảy lăm ôm hận tình dang dở

Bốn chín năm qua xót nghĩa vàng

Khăn đỏ trùm đầu em nuốt lệ

Tai bèo úp mặt nó giăng ràng

Tình ta đôi ngã sắc son giữ

Dẫu đợi chờ bao chẳng muộn màng.

 

Tâm Quã

Họa 2:

Mùa xuân không đến

Thời gian lặng lẽ tháng Tư sang
Thời thế nhiễu nhương thật trái ngang
Ông xuống làm thằng đi hốt rác
Đốc tờ cầm cuốc nát tay vàng
Giáo sư chặt nứa khiêng từng bó
Bác vật cắt tranh buộc cọng ràng
Bốn chín năm qua đời nghiệt ngã
Đến nay nhắc lại mấy ai màng ?!!

Nguyễn Cang
Mar. 29, 2024

Họa 3:

Tội đồ vô vọng

Trưởng giả vi xi cố học sang
Quần là áo lụa bước nghênh ngang
Vẫn không dấu được chưn phèn mốc
Quanh cổ khoe khoang lắm chuổi vàng
Đức hạnh người khôn chìm quá tối
Gian manh kẻ dại hiện ràng ràng
Ăn năn sửa đổi dù sao nữa
Sám hối đi tu chẳng muộn màng

THT

Họa 4:

Lễ Hội Hoa Anh Đào DC

Một dãy hoa đào trông rất sang
Dòng Potomac vẫn nằm ngang
Lăn tăn mặt nước theo cơn gió
Lác đác trên sông gợn sóng vàng
Ong bướm tới lui vờn hút mật
Vo ve khoảnh khắc thấy chàng ràng
DC nổi tiếng hoa đào đẹp
Du khách đến xem dẫu muộn màng

Hương Lệ Oanh VA
Mar. 30, 2024

Họa 5:

Cảnh xuân

Đào nở rợp trời trông rất sang
Hướng theo chiều dọc lẫn bề ngang
Hoàng hôn lững thững quanh bờ suối
Cảnh vật lung linh dưới nắng vàng
Lữ khách về đây xem thắng cảnh
Người đông rảo bước đứng chàng ràng
Nơi này nhộn nhịp khi xuân đến
Chờ đợi bao lâu cũng chẳng màng

PTL

Mar. 2024

Họa 6:

 

Xuân của ngày xưa

Vũ trụ tưng bừng đón tết sang.
Trời xanh đầy nắng én xuyên ngang,
Chào xuân đào nở muôn hoa thắm,
Thuận tiết mai khoe vạn cánh vàng.
Sân dựng cây nêu cao chót vót,
Nhà treo liễn đối đỏ ràng ràng.
Nhớ về nếp cũ trăm năm trước,
Nay đã nhòa phai mấy kẻ màng?

Minh Tâm

1. Tân nhạc: xuân tha hương

Ca sĩ: Như Hoa

https://www.youtube.com/watch?v=e5rziJWYsXM

2. Tân cổ: xuân tha hương

Nghệ sĩ: Nguyễn văn Khởi & Kim Luận

 

https://www.youtube.com/watch?v=s8f2nK7Gsfw

 

 

 

 

 

 

Những Dòng Thơ Tháng Tư Đen - PTL, Nguyễn Cang, THT

 

NHỮNG DÒNG THƠ THÁNG TƯ ĐEN

Thói đời




Hạm trưởng Lê Bá Hùng tàu khu trục USS Lassen năm 2009 cặp bến Đà nẳng

 

1. Thói đời

 Năm bảy lăm bị anh xua đuổi
Nay trở về anh trổi hoan ca
Anh
nào quý mến dân ta
Chỉ hòng bòn xén đô la của người
 
Hãy
bình tâm nhịn cười nhìn kỹ
Anh thật lòng hoan hỉ vô cùng
Nào anh có điếc có khùng
Nhưng anh mở miệng “anh hùng của tôi”
 
Nếu tôi vẫn tả tơi khố rách
Anh đi tìm ngõ ngách bỏ tù
Anh nào có dại có ngu
Mà anh chỉ biết cái lu đồng tiền
 
Tháng 11 năm 2009

PTL 

2. Người ở lại

Chiều tàn đồi núi hoang vu
Hoàng hôn buông xuống khói mù hắt hiu
Chim bay mỏi cánh đường chiều
Chạnh lòng nghe thấy ít nhiều hư vô
Rừng thưa rải rác nấm mồ
Nghe chừng thác đổ trận đồ năm xưa
Anh nằm gió lạnh đong đưa
Bốn lăm năm lẻ chưa về gặp nhau
Người đi bỏ áo chiến bào
Trần gian cát bụi bay vào hư không
Dọc bờ sóng biển mông mênh
Thuận An* thân xác lênh đênh giữa dòng
Gọi hồn cuối bãi ngoài sông
Vùi thây biển mặn long đong tháng ngày
Thương người góa phụ bi ai
Trăm năm cổ mộ khóc hoài nghìn thu . 

Nguyễn Cang

26/4/21

*Thuận An: cửa biển chết người trong cuộc di tản 1975.

 3. Xuân nguyện cầu 

Biết ai hèn hạ biết ai sang
Lẫn lộn vàng thau đứng ngổn ngang
Đất nước sản sinh loài quỷ đỏ 
Nhân dân xuất hiện tấm lòng vàng
Chóp bu lãnh đạo đầu mù tịt
Quần chúng ngu đen óc rõ ràng
Cầu mong Thượng Đế ban ơn
Phước
Cho Việt Nam mình được mở
mang

THT 

 

 

Tiếng Ve Sầu & Cơn Mưa Trong Lòng - Nguyễn Thị Châu

 TIẾNG VE SẦU

 














Nắng Hạ ngoài sân rực ánh vàng

Gió lay nhè nhẹ lá bay sang

Nhặt chiếc lá rơi lòng xao xuyến

Lại một mùa hoa Phượng đỏ hồng

 

Nghe tiếng ca vang khúc ve sầu

Ngân nga, tha thiết, khúc tình sâu

Gởi trao, lưu luyến ngày xa cách

Nhớ thương, thương nhớ mối tình đầu

 

Tuổi ngọc, tuổi ngà cùng trang sách

Ước mơ, mơ ước, tuổi học sinh

Trao nhau lưu luyến, ngày xa cách

Ép cánh hoa xinh đậm nghĩa tình

 

Nghe tiếng ve ngân gọi Hè về

Nhạc buồn vang mãi,ôi! Tái tê

Thời gian rồi cũng qua mãi mãi

Kẻ ở, người đi, người trở về

 

Mái trường chung bước ngày hai buổi

Cười nói, vui tươi, bạn với ta

Tay nắm tay nhau, không rời bước

Bây giờ đôi ngã lệ chan hoà….!!!

 

17-4-2024

Nguyễn thị Châu

 

CƠN MƯA TRONG LÒNG

 

Đã lâu chợt nhớ trang mặc khách

Ngày ấy từ đâu? Ghé thăm nhà

Cùng nhau đối ẩm hương trà

Cho nhau mật ngọt đậm đà trao duyên

 

Rồi cứ hoàng hôn, hoàng hôn đến

Tôi vẫn nghe tiếng bước bên song

Để tôi xao xuyến trong lòng

Thì ra tôi đã phải lòng người dưng

 

Nhìn trăng, cũng thấy trăng huyền ảo

Cảnh vật bên ngoài, cũng rất vui

Chút bâng khuâng, dạ bùi ngùi

Gặp nhau chỉ để tìm vui nhất thời …

 

Một đêm vắng lặng, ngoài song cửa

Khách đã đi rồi, đêm gió mưa

Hương trà phai nhạt lưa thưa

Mình tôi lặng lẽ, cơn mưa trong lòng….!!!

 

17-4-2024

Nguyễn thị Châu

 

Tôi Về: Hồi Ức Tháng Tư - Nguyễn Cang

 

TÔI VỀ: HỒI ỨC THÁNG TƯ

(phần I) TÔI ĐƯỢC THA




 

Khoảng cuối năm 1978 tôi được “tha về” từ trại tù Bùi Gia Phúc ( thuộc tỉnh Phước Long) . Không có niềm vui nào bằng thoát khỏi cảnh tù tội. Người ta thường nói “Nhật nhật tại tù thiên thu tại ngoại” đó sao! Tôi như con chim sổ lồng từ cái lồng kẽm gai đệm lớp lồ ô vạt nhọn. Xin vĩnh biệt trại tù Phước Long, vĩnh biệt phòng giam ọp ẹp, vĩnh biệt những những ngày lao động vất vả thiếu ăn, vĩnh biệt chốn lưu đày nghiệt ngã …Tôi và anh bạn tù Phan Văn Nam được thả ra cùng một lượt. Sau khi làm xong thủ tục giấy tờ chúng tôi bước nhanh ra khỏi cổng như bị ma đuổi vì sợ quản giáo đổi ý, bất ngờ kêu lại. Anh Nam còn dặn tôi đừng ngước đầu nhìn lại trại giam sợ có cô hồn!

Đồ đạc tư trang chúng tôi bỏ lại gần hết cho bạn bè nên thân nhẹ thênh thang. Chúng tôi cuốc bộ tới “Ngã Ba” cách cầu Đắc Luông độ một cây số , đón  xe đò về tỉnh Phước Bình, từ đó sang xe đò về Sài Gòn. Đợi một lúc lâu không thấy chiếc xe khách nào nên chúng tôi tiếp tục cuốc bộ. Đường tuy xa thăm thẳm nhưng chúng tôi không thấy mệt vì mình được tự do, tự dưng có thêm sức mạnh lạ thường . Khi hoàng hôn vừa buông xuống thì chúng tôi tới một nơi có nhiều nhà cửa, mà không biết nơi đây là đâu, để tìm chỗ ngủ tạm thời,  sáng mai đi tiếp.  Bất ngờ chúng tôi thấy phía trước có một ngôi chùa, bèn xin vào tá túc qua đêm. Một bà ni sư tuổi độ 50, đem cho chúng tôi mượn 2 chiếc chiếu, trải bên hiên chùa để chúng tôi nằm ngủ. Suốt đêm chúng tôi không ngủ vì nôn nao trông cho trời mau sáng để đi về .Khi nghe tiếng gà gáy sáng thì đồng hồ chỉ 4 giờ, chúng tôi thức dậy, dọn dẹp đồ đạc, xếp chiếu lại dựng trước cửa phòng rồi nhẹ bước đi ra, không lời từ biệt ni sư vì lúc đó trời còn tối sợ phá giấc ngủ của sư. Sương khuya giăng phủ đầy trời, hai tay ôm sát vào ngực, lạnh thấm vào thân thể gầy còm xác xơ. Sau cùng chúng tôi ra tới phố chợ Phước Thành, đón xe đò về Sài Gòn còn anh bạn Nam thì về Vũng Tàu, chúng tôi chia tay từ đây, hẹn ngày tái ngộ tại Sài Gòn, tôi cho bạn địa chỉ nhà ở Tân Quy Đông Nhà Bè. nhưng cho mãi tới nay, hơn nửa thế kỷ trôi qua tôi cũng chưa gặp lại bạn. Không biết bây giờ bạn ấy ra sao, sống chết thế nảo?

        Tôi về tới nhà đúng 10 giờ tối, lúc nầy mọi người đều đi ngủ, tôi gõ mạnh cửa, gọi tên vợ con nhưng không có tiếng trả lời, bỗng chị Bảy Tâm hàng xóm không biết từ đâu bước tới nhận ra tôi bèn reo lên: Anh Tư ( Nguyễn Cang)  về rồi nè chị Tư ơi! Rồi chị nói : Để em về nhà lấy chìa khóa mở cửa, tháng rồi vợ anh có gởi chìa khóa nhà em. Tôi nghe hụt hẫng, một nỗi buồn như xé con tim, tại sao vợ con đi đâu cả ? Chị Tâm trở lại, tôi hỏi nhanh: Vợ con tôi đi đâu rồi chị Tâm ? Chị đáp: Nghe chị Tư nói xuống Mỹ Tho làm mướn kiếm gạo, còn mấy đứa nhỏ thì gởi về bà nội ở Tây Ninh !Tôi nghe đau nhói trong lòng, cửa nhà sa sút đến thế sao? Hai mắt cay xè ! Nhớ tới mấy lần thăm nuôi vợ mang đồ ăn tiếp tế` nào đường, mắm ruốc, đậu phọng… tôi mới hiểu sự vất vả, dè xẻn của vợ để mua cho tôi những thứ đó, tôi bỗng dưng thấy nghèn nghẹn trong cổ họng.

Độ 4,5 ngày sau có người xuống Mỹ Tho nhắn vợ tôi về, gặp lại tôi nàng mừng lắm như chết đi sống lại, rồi một  tháng sau nàng lên Tây Ninh, mang đủ mấy đứa con trở về, tất cả còn nguyên vẹn chỉ khác một điểm là đứa nào cũng đen đúa, khét nắng vì hằng ngày chúng thường lội ruộng bắt cá, hay ra đồng bắt dế.

Về sống tại địa phương tôi tưởng sẽ được tự do bay nhảy, đi thăm cha mẹ, bà con, bạn bè nhưng không thể vì còn bị quản chế 6 tháng. Mỗi tuần tôi phải trình diện công an, báo cáo những việc đã làm trong tuần. Điều làm tôi khổ tâm là không biết làm gì để phụ vợ kiếm tiền nuôi con, muốn chạy xe ôm, phụ hồ cũng không được vì tôi không được phép rời xã để qua Sài Gòn hay nơi khác. Ngoài ra còn bị áp lực buộc đi kinh tế mới nhường nhà cho người khác. Ở trong tù sự kềm kẹp thật khắc nghiệt, ra ngoài xã hội cũng không kém. Bà con lối xóm không ai dám đến nhà  tôi chơi hay chào hỏi lúc gặp ngoài đường. Tôi thật sự bị cô lập giữa thế giới loài người trên chính quê hương mình. Tôi tủi thân tủi phận cho kiếp nhân sinh. Một hôm trên đường ra chợ gần nhà bất chợt tôi đụng đầu một anh bạn từng dạy học chung ở Gò Công, tôi mừng rỡ kêu lên : Anh Tiếp! Anh ngỡ ngàng nhìn tôi ra vẽ ái ngại, nói vài câu xã giao rồi vội vã bỏ đi, sợ có ai trông thấy.  Tôi ngơ ngác như trời trồng, biết thân phận mình là kẻ bị ghép tội sĩ quan biệt phái Bộ Giáo Dục nên ai cũng sợ bị liên lụy. Ôi, thói đời sao lắm chua cay, độc ác! 

 

(Mời xem tiếp phần II)

Nguyễn Cang (Apr. 13, 2024)   

 

 

Tôi Đã Khóc - Dư Thị Diễm Buồn

 TÔI ĐÃ KHÓC




                                   

 











Tôi đã khóc từ khi rời lòng mẹ                               

Sợ hay mừng đời đã tiếp nhận tôi                        

Và từ đó một hình hài nhỏ bé                           

Lớn khôn dần ngọt sữa mẹ thơm môi                 

           

Tôi đã khóc mẹ dãi dầu cơ cực                          

Vì cha còn nặng nợ bước chinh nhân                  

Nghĩa hy sinh trong tim người thắm rực            

Dưỡng dục con còn lận đận nuôi chồng             

 

Tôi đã khóc mẹ ra đi vĩnh viễn                               

Bởi giặc về đã cày nát xóm thôn                         

Những đạn pháo vô tình gây tai biến                  

Người đớn đau quằn quại trút linh hồn                         

 

Tôi đã khóc tối ba mươi hôm đó                     

Tháng tư buồn vụn vỡ bảy mươi lăm               

Những con tàu vượt trùng dương sóng gió       

Chở bao người mang thống khổ hờn căm         

 

Tôi đã khóc được tin anh ngã gục                        

Trong trại giam cải tạo tận Miền Trung              

Mười mấy năm, niềm tin không rã mục         

Chí kiên cường khó lay động chuyển rung

           

Tôi đã khóc cảnh quê nhà điêu đứng                  

Mỗi địa danh mang chiến sử oai hùng            

Đã bao đời ông cha ta gầy dựng                                   

Nay còn chăng, những hoang phế tàn vong  

 

Tôi đã khóc suốt quãng đời lưu lạc                      

Khóc cho người và khóc cả cho tôi                       

Bao tang tóc, bao lầm than dân tộc                     

Đoạn trường này còn khóc mãi khôn nguôi      

 

Dư Thị Diễm Buồn

Trích trong tuyển tập văn&thơ

“Bóng Thời Gian.2” phát hành mùa xuân 2024.

 

 

Thơ: Dư Thị Diễm Buồn

Nhạc & ca: Nguyên Bích

https://www.youtube.com/watch?v=HYPERLINK "https://www.youtube.com/watch?v=2ZcMoxdgSI4&t=140s"2HYPERLINK "https://www.youtube.com/watch?v=2ZcMoxdgSI4&t=140s"ZcMoxdgSIHYPERLINK "https://www.youtube.com/watch?v=2ZcMoxdgSI4&t=140s"4HYPERLINK "https://www.youtube.com/watch?v=2ZcMoxdgSI4&t=140s"&HYPERLINK "https://www.youtube.com/watch?v=2ZcMoxdgSI4&t=140s"t=HYPERLINK "https://www.youtube.com/watch?v=2ZcMoxdgSI4&t=140s"140HYPERLINK "https://www.youtube.com/watch?v=2ZcMoxdgSI4&t=140s"s

 

Nguyên Bích tên thật là Nguyễn Văn Bích sinh năm 1944 tại Hà Nội, di cư vào nam năm 1954, sống và lớn lên tại Saigon. Học trung học tại các trường Nguyễn Bá Tòng, Hàn Thuyên, Phan Sào Nam và Chu Văn An. Tốt nghiệp YKĐH Saigon khóa 1963-1970, cũng là cựu Sinh Viên Quân Y tốt nghiệp khóa HD17. Ra trường phục vụ tại SĐ9BB, năm 1975 là Tiểu đoàn phó TĐ9QY. Sau tháng 4/1975 bị đi tù cải tạo, đến 1977 thì được tạm tha, được chỉ định làm BS phòng cấp cứu kiêm BS gây mê BV An Nhơn Tây Củ Chi. Tháng 5/1979 cùng với vợ vượt biên sang được Mã Lai, ở trại tỵ nạn Pulau Tengah, được định cư tại Mỹ tháng 9/1979 tại Houston. Vợ đi làm, chồng đi học, làm residency tại UTMB Galveston, bắt đầu hành nghề lại làm BS gia đình tại Houston từ tháng 7/1988 cho tới nay. Dự định về hưu năm 2023.

 

Với lòng chân thành xin đa tạ và biết ơn nhạc sĩ Nguyên Bích đã cho một người mới viết vì sở thích, vì đam mê như DTDB niềm vui lớn. Nếu không được anh phổ nhạc, thì tôi nghĩ rằng bài thơ “Tôi Đã Khóc” sẽ không được nhiều người biết đến và chiếu cố như vậy... Bởi: “...Tôi đã khóc suốt quãng đời lưu lạc/ Khóc cho người và khóc cả cho tôi/ Bao tang tóc, bao lầm than dân tộc/ Đoạn trường này còn khóc mãi khôn nguôi...”.