Showing posts with label Thiên hạ sự. Show all posts
Showing posts with label Thiên hạ sự. Show all posts

Thursday, May 28, 2026

Giai Thoại Về Con Ma Nhà Họ hứa - Trang Nguyên

 

Giai thoại về Con ma nhà Họ Hứa

Báo chí từng đưa ra kiến giải, chú Hỏa bí mật đưa con gái mình đến ngôi nhà nghỉ của gia đình gần nghĩa trang gia tộc khu vực ngã ba Bình Thung (Thủ Ðức). Rồi không biết người con gái kia chết khi nào nhưng chuyện ma quái bắt đầu xuất hiện được người đời đồn đại xảy ra trên tầng lầu ngay chính căn phòng mà cô con gái của chú Hỏa từng ở trước đây.

Trang Nguyên




Căn phòng này trước đây là phòng ngủ của con gái chú Hỏa.

Nhắc đến chuyện ma, tự nhiên tôi nhớ đến chú Năm ba gác ở trọ trong chái bếp của nhà bà Chín trầu cuối xóm. Chú sống mình nên không vợ con, chí thú với chiếc xe ba gác chạy rong khắp nơi mua bán ve chai. Công việc kiếm sống cực nhọc hằng ngày như vậy nhưng chú không phải là người cộc cằn, lúc nào cũng vui cười và hay nói chuyện tiếu lâm nên bọn nhóc xóm tôi mỗi khi rảnh rỗi thường tụ tập trước chái nhà của chú. Một lần, chú kể chuyện ma có thật ngoài  đời, không phải con ma trong truyện, trong phim. Chú nói: “Hôm nào chú chở cả đám đi ra Sài Gòn ghé nhà chú Hỏa (Hui Bon Hoa), rình xem con ma nhà họ Hứa”.

Do cái tính tếu tếu của chú Năm nên kể chuyện ma lại nghe mắc cười. Ma gì mà kiều diễm, là người con gái bảo bối của chú Hỏa giàu có nức tiếng. Hồi xưa, từ đời bà nội của chú đã nghe câu truyền khẩu “Ði tàu chú Hỷ, ở nhà chú Hỏa” để nói lên sự giàu sang vượt bực của hai nhà đại gia ở xứ Nam kỳ. Con cái của chú Hỏa rất đông, toàn là trai, trong đó chỉ có mỗi mụn con gái. Cô con gái chẳng may bị bệnh phong cùi, không có thuốc chữa trị, ngày càng biến chứng. Khuôn mặt đẹp ngày nào bị bạo bệnh tàn phá, chân tay lở loét, phải sống khép kín trong phòng riêng của mình. Mỗi ngày gia nhân mang thức ăn đến để trên bàn rồi lui ra. Một hôm, người gia nhân đến phòng phục dịch, chợt thấy gương mặt của cô tiểu thư thì liền té xỉu. Từ đó, chú Hỏa cho đăng báo rằng cô con gái mất tích để tránh người đời bới móc đời tư.

Kỳ thật, báo chí từng đưa ra kiến giải, chú Hỏa bí mật đưa con gái mình đến ngôi nhà nghỉ của gia đình gần nghĩa trang gia tộc khu vực ngã ba Bình Thung (Thủ Ðức). Rồi không biết người con gái kia chết khi nào nhưng chuyện ma quái bắt đầu xuất hiện được người đời đồn đại xảy ra trên tầng lầu ngay chính căn phòng mà cô con gái của chú Hỏa từng ở trước đây.

Trong câu chuyện, chú Năm khẳng định mình có duyên gặp ma. Một buổi chiều mưa lớn lúc trời nhá nhem khi dừng chiếc xe ba gác, trốn mưa dưới mái hiên căn nhà lầu của người con trai chú Hỏa cạnh bên có kiến trúc na ná ngôi nhà lớn. Chú Năm nói giọng nhát gừng cố tình làm cho lũ con nít chúng tôi khiếp đảm. “Một âm thanh kỳ dị của cơn gió vừa lướt qua chỗ chú đứng, mùi nước hoa còn thoảng trong cơn mưa sụt sùi, rồi bóng người con gái thướt tha trong chiếc xườn xám trắng, tóc ngắn tới cổ rủ xuống che toàn bộ khuôn mặt, đi tới cửa chính của toà nhà, mở cửa bước vào trong. Kỳ lạ một điều là nước mưa không làm ướt cô gái. Một lúc sau, đèn trên tầng lầu của một ô cửa sổ vụt sáng. Tiếng kéo bàn kéo ghế nghe như rên xiết trên sàn nhà, tiếng kêu la than khóc vọng ra từ ô cửa sáng”. Chú Năm trầm ngâm, nhìn đám nhỏ chúng tôi rồi trợn mắt hỏi: “Chẳng lẽ là ma?”.
Bọn con nít chúng tôi đồng thanh “xì” lên một tiếng. Thằng Tèo nói chắc nịch: “Ma quỷ chỉ hiện hình sau mười hai giờ khuya thôi, í vậy chú Năm lại còn ngửi được mùi nước hoa thơm lừng nữa chứ. Không tin tí nào!”. Tôi chen vào: “Thằng Tèo nói đúng, chứ không thì chương trình lúc 0 giờ của La Thoại Tân và Thẩm Thuý Hằng trên truyền hình đâu có kịch bản Ác quỷ hiện hình khi trăng lên. Tin không tin, đi xem mới biết. Chú hứa rồi đó nghe, hôm nào rảnh, chở cả đám ra nhà chú Hỏa, xem ma đó nha. Không thôi, chú Năm thành con ma nhà họ Hứa đó”.

Chuyện phim “Con ma nhà họ Hứa” của hãng phim Dạ Lý Hương với các tài tử Bạch Tuyết, Thanh Tú, Dũng Thanh Lâm kèm theo cây hài Thanh Việt, Tùng Lâm, tôi nghe trên radio quảng cáo rùm beng sắp sửa chiếu rạp từ mấy hôm trước. Câu chuyện dựa theo giai thoại “Oan hồn Thị Hứa” từ nguồn gốc con gái chú Hỏa bị phong cùi. Do vậy khi nghe chuyện con ma nhà họ Hứa của chú Năm thì chẳng thấy sợ gì hết. Không sợ, ấy vậy mà nó lại ám ảnh tôi mất mấy đêm liền khi gió tốc mở toang cửa sổ. Bên ngoài cửa sổ trên tầng gác nhà tôi, ngó sang nghĩa địa Chà Và thấy lồng lộng những ngôi mộ nằm im dưới ánh trăng tà. Ðất thánh Chà từ lâu không còn đám ma nào chôn ở đây nữa, có chăng một đám ma nghèo, vợ của ông già người Việt trông coi đất thánh, mồ còn mới. Hàng xóm nói bả chết vì bệnh phong cùi. Nghe mà tội nghiệp! Sao chuyện bệnh phong cùi này trùng với chuyện ma của chú Năm quá vậy

Tôi nhớ chú Năm kể, chú Hỏa gốc người Quảng Châu di cư sang Sài Gòn ngay sau khi Pháp chiếm Sài Gòn. Lúc mới đến đất lạ quê người còn nghèo lắm, phải kiếm sống bằng cái gánh ve chai. Ông rảo bước khắp phố phường mua đồ đồng nát. Một lần mua được mớ tĩn nước mắm trong góc bếp nhà nọ, trong đó có một tĩn hàn kín nắp sành. Khi về mở ra thì ôi thánh Quan Công ơi, một tĩn vàng sáng chói. Nhờ có của trời cho làm vốn, chú Hỏa chuyển nghề mở các tiệm cầm đồ. Thời buổi bấy giờ, ở Sài Gòn nghề cầm đồ làm ăn phát đạt lắm. Người Pháp mở sở thuốc phiện, cho người Tàu kinh doanh hàng trăm tiệm hút khắp Sài Gòn Chợ Lớn để thu tiền thuế và làm cho dân chúng mê mệt “nàng tiên nâu” với mục đích làm cho sức tàn lực kiệt, làm cho đại đa số quần chúng mất đi ý chí đấu tranh chống lại chính quyền. Dân nghiện xì ke (thuốc phiện), con bạc cháy túi, cầm cố đồ đạc trong nhà rất nhiều. Cầm rồi không bao giờ chuộc, nên chú Hỏa bán ra lại càng giàu thêm. Sau nghề cầm đồ, có vốn liếng lớn trong tay, chú Hỏa chuyển sang nghề xây cất nhà cho thuê. Chú Hỏa cho xây một căn nhà to lớn trên đường A-Sặc – Lô-rai (Alsace-Lorraine – Phó Ðức Chính ngày nay), tầng dưới làm văn phòng công ty, tầng trên làm nơi ở cho gia đình, trên tường cánh cửa chính khắc nổi mấy chữ “SIHBH” (Société Immobilière Hui Bon Hoa).

Chuyện chú Hỏa, sau này tôi nghe nhiều người khác kể lại, không riêng gì chú Năm. Mỗi người mỗi phách nhưng tựu trung nói lên ý chí làm việc siêng năng để trở thành giàu có. Cách nay mấy năm tôi tình cờ đọc được bài viết “Chuyện thật về Hui Bon Hoa và ngôi nhà chú Hỏa” bằng tiếng Anh do nhà báo Chen Bichiun liên lạc với người cháu cố (đời thứ 4) của chú Hỏa, sống ở Paris. Ông Fernand Hui Bon Hoa cung cấp hình ảnh và nhiều chi tiết khá thú vị về các câu chuyện cũng như dòng họ. Một chi tiết cần chú ý ngay khi chú Hỏa đến Sài Gòn không phải làm nghề mua bán ve chai mà là làm công cho công ty cầm đồ Antonio Ogliastro. Ông chủ đề nghị chú Hỏa nhập tịch Pháp để cùng quản lý công ty. Làm ăn có tiền, chú Hỏa mới bước sang lãnh vực mua đất cất nhà cho thuê. Chú Hỏa chỉ có ba người con trai và dòng họ Hui Bon Hoa không có người nào mang bệnh phong cùi. Duy chỉ có một người con trai có đứa con gái bệnh tâm thần và chết tại nhà.

Ngay cả tôi cũng từng lầm tưởng chú Hỏa là người từng đóng góp tiền bạc xây dựng bệnh viện, trường học, nhà cô nhi ở Sài Gòn Chợ Lớn ngày xưa mà các báo  Nam Kỳ Lục Tỉnh hay Phụ nữ Tân Văn nêu tên ân nhân trên báo. Tên Hui Bon Hoa này là tên dòng họ đồng thời là tên công ty sau khi ba người con trai của chú Hỏa là Thắng Phiên, Thắng Chánh, Thắng Hưng đến Sài Gòn giúp cha việc xây cất mua bán, cho thuê nhà cửa và mở công ty trong thời gian chú Hỏa cùng vợ trở về Quảng Châu an hưởng tuổi già và qua đời vào năm 1901 để lại sự nghiệp tại Sài Gòn cho các con tiếp bước. Như Vậy Công ty Hui Bon Hoa (Hiện nay dùng làm Bảo tàng Mỹ thuật thành phố) do đời thứ 2 xây dựng vào năm 1929, và sau đó là ba ngôi nhà của ba người con chung quanh công ty. Cũng như hồi năm 1937, có báo viết thương gia Hui Bon Hoa hiến tặng mảnh đất rộng gần 2 héc ta trên đường Arras (nay Cống Quỳnh) để xây Bảo sanh viện Ðông Dương đến năm 1946 đổi thành Maternité George Béchamps, người dân thường gọi Nhà bảo sanh Chú Hỏa (nay là Bảo sanh Từ Dũ). Vào thời gian này, đời thứ 3 của dòng họ Hui Bon Hoa bắt đầu tiếp tục sự nghiệp của gia đình cho đến trước 1975 rời Việt Nam, hầu hết sang Pháp.

Cháu cố Fernand Hui Bon Hoa từng về Sài Gòn thăm lại mồ mả cha ông chôn cất tại khu nghĩa trang gia tộc (Bình Trưng, Thủ Ðức). Và những anh em chú bác của Fernand vào năm 2007 về Sài Gòn tình cờ mua được tấm hoành ngoài chợ đồ cổ mang về Paris. Tấm hoành khắc hoạ bài thơ của ông chú Thắng Hưng nói về gia tộc Hui Bon Hoa làm ăn ở Sài Gòn trải qua trăm năm.

Một chi tiết thú vị khác là vào năm 2011, nhân chuyến du lịch sang Paris, một người Mỹ gốc Việt liên lạc được với Fernand Hui Bon Hoa, có ghé tặng cho ông một Kỷ niệm chương ghi nhớ công lao của dòng họ Hui Bon Hoa. Số là hồi sống ở Sài Gòn, người này gia cảnh rất nghèo, mẹ bệnh thập tử nhất sinh, may mà đến bệnh viện chú Hỏa được bác sĩ tận tình chữa trị. Nay ghi ơn sâu, truy tìm dòng dõi họ Hui Bon Hoa chỉ để gặp mặt nói lời tri ân tận đáy lòng.

Trang Nguyên

Nguồn: Thời Đại Mới

304đen – Llttm - sgtc

 

 

Friday, April 10, 2026

Câu Đối Cây Trúc ... Lê Vĩnh Húy

 

Câu đối tả cây trúc trong phòng ngủ ông tổng thống

Đâu từ hồi 2008, có kẻ đồn là trong phòng riêng Tổng thống Ngô Đình Diệm có treo câu đối khảm trai như vầy:

Lê Vĩnh Húy

未出土時先有節 Vị xuất thổ thời tiên hữu tiết

到崚雲處也虚心 Đáo lăng vân xứ dã hư tâm

 


Nghĩa là: Chưa trồi khỏi đất thì đã có lóng (chữ “Tiết” ở đây vừa có nghĩa là lóng tre lóng trúc, vừa là tiết tháo người quân tử); [Chừng lớn lên] cao tới tầng mây rồi mà lòng vẫn rỗng không.

Câu đối nầy độc đáo ở chỗ không có chữ “Trúc” nào, mà vẫn khiến người đọc nhận ra rõ là tả trúc.

Tổng thống Ngô Đình Diệm vốn tâm đắc hình tượng cây trúc. Từ lá cờ cho tới dấu triện, mộc, thậm chí trên đồng tiền thời ông cũng có hình trúc. Có lẽ bởi đó người ta đồn ra vậy chăng?

Đồn thì đồn, có điều ai cũng cho đó là câu đối, trong khi thật ra nó là cặp Thừa đề trong bài thơ “Vịnh trúc” của Từ Đình Quân đời Tống.

Ngộ hơn nữa là một tiến sĩ Hán Nôm còn đi xa hơn, khẳng định luôn đây là câu đối của “Diệp Công Siêu 葉公紹 (1904-1981), nhà ngoại giao, nhà văn, thư họa gia”[1].

* * *

Trước khi vô bài thơ “Vịnh trúc”, xin thông cảm tật dài dòng, cho tôi nói qua về thể Vịnh. Các thi nhân cả ta lẫn Tàu thời xưa đều có thói quen mượn cảnh tả tình, nên Vịnh là thể loại được ưa chuộng. Loại này xuất hiện đâu từ thời Tiên Tần, phát triển vào đời Hán, tới đời Đường thì định hình với nguyên tắc hẳn hoi: muốn vịnh gì thì vịnh (vịnh cảnh, vịnh vật, vịnh người, vịnh sử…) tùy ý, nhưng không được gọi thẳng tên thứ mình vịnh.

Thí dụ:

VỊNH CHÓ ĐỰC

Ấy là giống thú sủa gâu gâu

Tuy nhiên hổng phải là con trâu

Khi nằm với vợ thì y… đứng

Suốt đời không ăn một miếng trầu!

Bài này chỉ cà rỡn, nhưng “độc” ở câu luận, gài chữ “nằm” thành ra nghĩa “ăn nằm”, rồi từ đó dẫn tới tư thế nọ của con chó ở cuối câu; chừng kết bài thì té ra chửi xỏ mấy kẻ hổng biết ăn trầu!

Kiểu chỉ chó mắng mèo này, hồi Pháp thuộc ở ta rất thịnh hành, tiêu biểu là bài nầy (cũng khuyết danh):

VỊNH GHẺ NGỨA

Khốn nạn mày ơi, tớ lạy mày!

Sao mày lẩn quất mãi chi đây?

Trước còn ăn ruỗng lần da mỏng,

Sau lại dùi vô thớ thịt dày.

Sâu trắng đục ngầm không kẻ biết,

Nước vàng chảy mãi có ai hay.

Mấy phen thuốc đắng mà chưa khỏi,

Sớm liệu thì đâu đến nỗi này…

Tuyệt không có chữ ghẻ nào, lại thần tình ở bốn chữ “sâu trắng nước vàng” gợi liên tưởng tới thực dân đang đục khoét nước Nam.

Phan Văn Trị cũng có bài vịnh sau đây, ý tứ bóng bảy, châm biếm nhẹ nhàng mà thấm thía:

VỊNH CON CUA

Trên đời có mấy mặt đi ngang,

Ỷ lớn chơn tay có một chàng.

Lõ mắt không phân người phải quấy,

Giơ càng chẳng lựa đứa ngay gian.

Đưa mình theo nước hiềm không ruột,

Lột vỏ già đời chẳng thấy gan.

Gặp lúc tối trời thì kể chắc,

Nghe hơi có động rút vô hang.

“Hiềm không ruột”, “chẳng thấy gan” rõ là tả con cua, mà không chỉ mắng con cua.

Qua đó thì biết: hễ vịnh chó thì chẳng những không được nhắc tới chữ “chó”, mà mấy chữ “cẩu”, “khuyển” hoặc “cầy” cũng cấm. Tương tự, muốn vịnh… thủ tướng cũng được, nhưng cấm dùng mấy chữ “Phúc, Chính, Đam” vân vân. Hễ phạm lỗi này coi như non tay, nhớ nha!

* * *

Trở lại bài Vịnh trúc.

Trong Toàn Đường Thi có hơn 6.300 bài thuộc loại Vịnh. Riêng vịnh trúc thì trải các đời có cả thẩy 12 bài, trong số đó, bài của Từ Đình Quân được xếp hàng đầu.

Từ Đình Quân 徐庭筠 (1095-1179), tự Quý Tiết 季節. Lúc trẻ đi thi, gặp đề ra biểu ca tụng nhà Tống trung hưng. Quân ngứa máu làm bài văn móc họng, nói là triều đình đời nay có gì mà ca tụng, nên bị đuổi khỏi trường thi. Từ đó, Quân đấm đách làm quan, vô núi ở ẩn với cha là Từ Trung Hành. Thơ ông để lại chỉ mỗi bài này.

《詠竹》 VỊNH TRÚC

不論台閣與山林 Bất luân đài các dữ sơn lâm

愛爾豈惟千畝陰 Ái nhĩ khởi duy thiên mẫu âm

未出土時先有節 Vị xuất thổ thời tiên hữu tiết

便淩雲去也無心 Tiện lăng vân khứ dã vô tâm

葛陂始與龍俱化 Cát Pha thủy dữ long câu hóa

嶰穀聊同鳳一吟 Giải Cốc liêu đồng phụng nhất ngâm

月朗風清良夜永 Nguyệt lãng phong thanh lương dạ vĩnh

可憐王子獨知音 Khả lân vương tử độc tri âm

Bài nầy có nhiều điển tích ít gặp, tạm dịch nghĩa:

Cho dù ở nơi lầu gác hay rừng núi; Riêng chỉ yêu bóng ngươi rợp mênh mông.

Chưa nứt đất trồi lên đã sẵn tiết tháo (chính trực); Chừng ngọn quét tầng mây vẫn bọng ruột (“vô tâm” vì trúc bọng ruột, lòng trống không; lòng trống không nên công bằng, không thiên vị ai).

Từ ngọn roi mà từng hóa thành rồng (Cát Pha là tên riêng của loại trúc Long Tu, có thể dùng làm khí giới. Cặp roi giúp tướng Uất Trì Cung đời Tùy Đường thành danh, cũng như con ngựa trúc trong “thanh mai trúc mã” của Lý Bạch chính làm từ loại trúc này. Hóa thành rồng là tích trong “Thần tiên truyện” của Cát Hồng [283-343] đời Tấn, kể chuyện Phí Trường Phòng theo Hồ Công tu tiên, khi Phòng nhớ nhà muốn về thăm thì Hồ Công cho cây trúc, biểu cỡi lên đó. Cây trúc liền hóa thành rồng xanh đưa Phí Trường Phong bay lướt ngàn dặm).

Khoét ống tiêu mà gọi chim phụng (tích trong Hán thư, Huỳnh Đế dùng trúc ở Giải Cốc phía bắc núi Côn Luân khoét thành ống tiêu, khi thổi lên thì có phụng hoàng tới chầu hầu).

Khiến cho bóng đêm luôn yên lành trăng trong gió mát; Tiếc là chỉ có vương tử nọ biết tri âm (Vương tử tức Tiêu Tử Hãn, con của Tề Võ đế Tiêu Trách. Hãn tài gồm thao lược, từng làm Thái thú Bành Thành, Thứ sử Duyện Châu, Hữu vệ Tướng quân. Về sau, Tiêu Loan soán ngôi phải giết ngay Tiêu Tử Hãn. Tương truyền khi mẹ bệnh nặng, Hãn chặt cành trúc chế làm đèn để thức canh chăm nom. Sáng ra cắm cành trúc đó ngoài vườn thì nó đâm tược nẩy chồi sum suê, mẹ Hãn thấy vậy vui mừng mà lành bệnh)[2].

Toàn bài không có chữ Trúc nào, nhưng câu nào cũng tả trúc. Lời lẽ đã thanh nhã, hình tượng lại sinh động, tỏ ra được khí khái hào sảng, tình cảm dồi dào.

* * *

Nhắc lại, bài viết này chỉ là góp chút hiểu biết về xuất xứ “câu đối” nọ. Còn nó có được treo trong phòng Tổng thống Ngô Đình Diệm hay không, thiệt tôi hổng biết.

_________

[1] Hổng có ai tên “Diệp Công Siêu 葉公紹” như Ngô Đức Thọ mô tả hết. Ngộ hơn nữa là Thọ lại đọc chữ Thiệu thành “Siêu”.

Tôi cho là Thọ đã lộn “Diệp Công Siêu” đó với Diệp Thánh Đào 葉聖陶 (1894-1988), nhà thư pháp và nhà giáo dục của Trung cộng. Người này vốn tên là Diệp Thiệu Quân 葉紹鈞, tự Bỉnh Thần 秉臣, quê ở Giang Tô, là thầy giáo trung học. Năm 1914 bị mất dạy, nên bắt đầu viết văn. Chừng Trung cộng nắm quyền thì Diệp Thiệu Quân được trọng dụng, làm tới chức Thứ trưởng Giáo dục. Quân chuyên viết sách giáo khoa. Có thể nói hầu hết những người hiện đã thành niên ở Hoa lục đều từng học sách giáo khoa do Quân soạn. Vì vậy khi nhắc tên ông, họ đệm thêm chữ “Công” để tỏ tôn kính, thành “Diệp công Thiệu Quân” 葉公紹鈞.

Phó giáo sư Ngô Đức Thọ chính là ngắt ba chữ “Diệp công Thiệu” từ tôn hiệu đó ra, nhưng lại đọc Thiệu thành “Siêu”. Đã vậy còn khoe mình có bức tranh trúc của Diệp Công Siêu, báo hại tôi dò tìm muốn nổ con mắt cũng chớ ra.

Diệp Thiệu Quân là nhà thư pháp có thể nói thuộc hàng đầu Hoa lục, nhưng cũng không có bức vẽ trúc nào.

Nhân tiện nói thêm, trước đó bên Tàu, trong nhà trường, môn Văn vẫn được gọi là môn “Quốc ngữ” hoặc “Quốc văn”. Năm 1949, cách mạng thành công, Quân được Cộng đảng giao soạn sách giáo khoa, bèn nảy ra sáng kiến hay quá, là ghép hai danh từ “Quốc ngữ” và “Quốc văn” lại, đẻ ra tên mới cho môn Văn là “Ngữ văn”. Ai đó ở Việt Nam có thù với môn “Ngữ văn” thì biết nên lôi ai ra chửi chó mắng mèo rồi ha!

[2] Bài này chép trong Quyển 22, Tống thi Thập di 宋詩拾遺 do Trần Thế Long 陳世隆 đời Nguyên soạn.

Lê Vĩnh Húy

304Đen – llttm - sgtc

 

 

Thursday, October 30, 2025

Ném Đá Nghìn Năm - Lê Vĩnh Húy

 

Ném đá nghìn năm

Người Tàu có món bánh bằng bột mì chiên dầu, hình dạng như hai cây xúc xích dính liền nhau, ăn bùi và giòn tan. Món này ngoài Bắc gọi “quẩy”, còn trong Nam kêu “dầu-chá-quẩy”.

Lê Vĩnh Húy

 

Dầu-chá-quẩy là phiên âm tiếng Quảng Đông của “Du tạc quỷ” 油炸鬼, nghĩa là con quỷ bị chiên dầu. Món bánh này không biết xuất hiện tự khi nào, nhưng nó được gắn sự tích bi thảm, tượng trưng cho vợ chồng Tần Cối bị hình phạt bỏ vạc dầu: ăn dầu-chá-quẩy là nhai xương vợ chồng kẻ gian phi, là yêu nước!

Trong dân gian lại lan truyền đủ thứ đơm đặt truyền kỳ, thậm chí qua tới đời Thanh, có tên thầy chùa còn dựng chuyện, nói là có con heo nọ là kiếp đầu thai chịu tội thứ 7 của gian thần Tần Cối. Thiệt là tình! Coi bộ tụi vô lương hợp tác cường quyền, điên đảo thị phi đời nào cũng có!

Không chỉ dùng bột chiên, heo nọc làm biểu tượng suông, người ta còn tạo dựng cả hình tượng cụ thể. Năm thứ 9 niên hiệu Chánh Đức đời Minh Vũ tôn (1513), viên Đô chỉ huy phủ Hàng Châu là Lý Long đã cho đúc tượng đồng năm hình nhân bán lõa quỳ trước mộ Nhạc Phi ở Tây Hồ. Năm tượng đó là Vương Tuấn, Vạn Sĩ, Trương Tuấn, Tần Cối cùng với vợ y Dương thị. Năm người này bị Hán sử quy tội ám hại toàn gia Nhạc Phi – vị danh tướng kiêm chiến thần của Trung Hoa.




Họ Lý kia quả làm được việc hay: Từ đó, đền thờ Nhạc Phi các nơi, từ Hàng Châu tới Giang Tây, Hà Nam, Giang Tô, Hồ Bắc… đều bắt chước dựng tội nhơn thiên cổ y theo. Toàn đại lục tính ra có tới 208 tượng Tần Cối trong tư thế mình trần quỳ gối, hai tay bị xích ra sau. Đặc biệt ở lăng Thái Hạo thuộc huyện Hoài Dương tỉnh Hà Nam, tới mùng 5 Tết, người ta lại tổ chức ngày hội lớn “đả Tần Cối”. Các tượng đồng trải hơn 500 năm nay bị đánh, bị vỗ không ngừng, tới nỗi đều bóng lưỡng. Dương thị, vợ Tần Cối, dù là phụ nữ cũng bị phanh trần thân trên hệt như “đồng đảng”, pho tượng bà ở lăng Thái Hạo có điểm độc đáo là đôi bầu ngực bị sờ soạng tới bóng lưỡng.

* * *

Tội trạng Hán gian bán nước, cũng như tội danh giết hại Nhạc Phi của Tần Cối, tới nay vẫn chưa có bằng chứng cụ thể; trong khi cái chết của Nhạc Phi là hệ quả tất yếu, do chính ông ta tự rước lấy.

Nhà Bắc Tống hủ bại, đang khi bộ tộc Nữ Chân quật khởi ở phương Bắc, giành lại lãnh thổ từ Cao Ly, tiêu diệt nước Liêu, lập nên Kim quốc, thì vua tôi Tống vẫn an nhàn hưởng lạc, xây dựng văn minh đạo đức lễ nghĩa. Tống Huy tôn đắm chìm trong sáng tác, trở thành họa sĩ tài danh lừng lẫy cổ kim. Tới chừng Kim quốc hưng binh chinh phạt thì ông vua tài tử sợ hãi tới mức nhường ngôi cho con là Khâm tôn.

Niên hiệu Tĩnh Khang 1127, hùng binh Đại Kim xâm nhập Biện Kinh, bắt hết vua cha vua con cùng số đông tôn thất đem đi. Sự biến “Tĩnh Khang” trở thành nỗi nhục lớn nhất của Trung Hoa suốt hơn 5.000 năm lập quốc.

Nam Tống chỉ còn lại nửa mảnh giang sơn, để đối phó tình thế đó, triều đình Tống Anh tôn chia làm hai phe, chủ chiến và chủ hòa. Phe chủ chiến do Nguyên soái Nhạc Phi cầm đầu, phe chủ hòa thì Tể tướng Tần Cối làm thủ lĩnh. Nhạc Phi tự cho mình hùng tài thao lược, được thiên hạ suy tôn là bậc trung quân ái quốc, ông chết bởi bốn chữ “trung quân ái quốc” đó. “Trung quân” của Phi là trung với hai vua trước, quyết đánh ra Bắc rước hai vua về. Ông không chịu hiểu, là nếu cha với anh của Anh tôn về, đương kim hoàng đế sẽ mất ngôi. Đã vậy còn tính mang quân vào sâu đất địch, mà địch đây là Đại Kim, vốn dân du mục thiện chiến. Làm vậy khác gì dắt dê vô miệng sói? Thu phục giang san đâu chưa thấy, nhưng chắc chắn đại quân phải mai một, rồi sinh linh đồ thán, mất nửa nước còn lại như chơi.

Những người viết sử hay khoa trương tinh thần yêu nước, nên hết lời ca ngợi hào khí vạn trượng kia, và đả kích phái chủ hòa. Ít người nhìn nhận công lao Tần Cối: Nhờ có ông ra sức chống chèo, nửa mảnh giang san còn lại của Đại Tống mới kéo dài thêm được trăm năm, cho tới khi đội quân hùng mạnh nhứt thế giới của Mông Cổ, nổi lên tiêu diệt cả Kim lẫn Tống.

* * *

Nhưng không phải thiên hạ ai nấy đều nhắm mắt tin theo sử sách do bọn cầm quyền tự ý phao vu, giải láo tùy thích. Năm 2011, Viện bảo tàng khu Giang Ninh thành phố Nam Kinh (quê Tần Cối), đã cho khánh thành bức tượng Tần Cối ngồi trên ghế, với đầy đủ phẩm phục áo mão triều đình, tay trái cầm cuộn giấy – hẳn đó là “Thư trần tình” nhiều người vẫn nhắc. Trước đó nữa, năm 2005, tại một điểm trưng bày ở Thượng Hải, nhà điêu khắc Kim Phong cho ra mắt tượng hai vợ chồng Tần Cối thong dong đứng thẳng. Nhưng những cố gắng giúp đỡ cho hình tượng Tần Cối chịu tội này, lại khiến quần chúng nhơn dân phẫn nộ. Tại vì người ta luôn cần có tội đồ, để nguyền rủa ngàn năm cho sướng miệng!

“Ném đá Tần Cối” là nhu cầu thiết thực của số đông man rợ, nó chính là cái van mà nhà cầm quyền dành để nhân dân trút xả bất mãn.

Lạy Tần tể tướng! Lạy Dương phu nhân! Chừng nào tượng đồng hai người giũ bỏ hết xích xiềng, đứng thẳng lưng bước ra khỏi miếu Nhạc vương, thì trung hồn kia của Nhạc Phi mới yên dạ, và dân tộc Trung Hoa mới mong sánh vai cùng các cường quốc năm châu.

* * *

Cho tới nay, về tội phản quốc của Tần Cối, giới sử học vẫn tranh cãi không hồi kết. Vì có nhiều bằng chứng cho thấy Cối chỉ là kẻ chịu tội thay cho Tống Cao tôn. Nhứt là câu nói của ông vua nầy khi hay tin Tần Cối không qua nổi bạo bịnh, đã trút hơi cuối cùng: “Từ nay, trẫm đã không còn chịu nỗi lo bị nhét dao dưới đế giày”.

Và ít ai biết, dòng dõi Tần Cối vẫn sản sinh trung liệt. Tiêu biểu là Tần Cự, cháu ba đời của Tần tể tướng. Tống sử chép: Cự đảm nhiệm chức Thông phán Kỳ châu (nay thuộc Hồ Bắc). Năm 1221, quân Kim tiến đánh, bao vây Kỳ Châu. Tần Cự quyết chiến không hàng. Chừng thành bị chiếm, Cự vẫn đứng đầu tàn quân, xông ra giết giặc. Cuối cùng nhìn quanh chỉ còn lại một mình, Cự mới lui về nhà, châm lửa tự phần. Cùng lúc đó, hai con của Cự cũng chiến tử sa trường, thành ra cả nhà đều tuẫn quốc…

Lê Vĩnh Húy

304Đen – Llttm - sgtc

 

Sunday, June 22, 2025

Quàn Hớt Tóc - Nguyễn Đức Tùng & Hớt Tóc Vĩa Hè - Vũ Thế Thành

 

QUÁN HỚT TÓC

Quán hớt tóc là nơi bọn thanh niên trong làng tụ tập tán dóc, bàn chuyện chiến tranh hòa bình, các nhân vật Xuân thu Chiến quốc, chuyện cô nào sắp lấy chồng, phim cao bồi Viễn Tây, mùa khoai mùa lúa, chuyện đi quân dịch, vui buồn thi cử.

Nguyễn Đức Tùng




Khi tôi còn bé, mỗi tháng phải trình diện quán ấy một lần, lệnh của ba tôi. Ông rất ghét bọn con trai để tóc dài, mà chẳng cứ gì ông, người lớn, thầy cô giáo của tôi, đều thế. Tôi lò dò bước vào quán, vách đất trộn phân trâu quét vôi trắng mái tranh có dàn mướp bò qua, nhìn quanh tìm chỗ ngồi, dỏng tai nghe chuyện khách, dân cày cấy, học sinh, viên chức.

 Người thợ cắt tóc ngoài ba mươi tuổi, sau những năm giang hồ trở lại chốn quê, đem theo nhiều câu chuyện xứ người, hay do anh bịa ra. Anh có tài kể chuyện, thích đọc báo, có cây đàn guitar hay mandolin treo cửa. Mà thợ hớt tóc nào chẳng biết chơi guitar tưng tưng vài nốt khi ế khách hay ngoài trời thu vàng rụng lá? Anh hay hát Tàu đêm năm cũ của Trúc Phương: Tàu xa dần rồi, thôi tiếc thương chi khi biết người ra đi vì đời, Trở gót bâng khuâng, tôi hỏi lòng đêm nay buồn không. Chiếc dao cạo sắc của anh, kêu xoèn xoẹt trên sợi da nâu như thắt lưng mòn vẹt, khăn quàng cổ xếp nếp, cái tông đơ còn già hơn tuổi tôi, cái ngoáy tai bằng đồng nhỏ xíu, sáng loáng, hấp dẫn tôi. Tôi lớn dần lên với cái quán ấy, già đi cùng với người thợ hớt tóc, được sống cùng với họ những tháng năm hạnh phúc của một xứ sở nghèo nhưng tươi tắn. Cái quán hớt tóc ấy, nằm gần kề quốc lộ Một, phía dưới đường xe lửa bỏ không mọc cỏ lau trắng, sau đập nước, bạn còn nhớ không? Cái quán nằm giữa tiệm tạp hóa và quán bún lòng thả, phía trước có cây dứa dại sau lưng là bụi tre la ngà cú rúc chiều chạng vạng. Nhìn vói qua sông, bên kia đường quốc lộ, bao giờ tôi cũng ngồi đó, ngắm tờ nhật trình dán vách đất, đọc mọi thứ, tin tức đảo chánh Tổng thống Ngô Đình Diệm làm tôi giựt mình, lát sau mới nhớ ra đã bốn năm.

Thời nhỏ bạn hoàn toàn lệ thuộc vào người lớn, mà họ thì có quan niệm đơn giản về trẻ con, đã cắt thì cắt ngắn, làm cho mặt mũi sạch sẽ, cắt tóc càng ngắn càng đỡ tốn tiền cắt lại, và bọn chúng không phải cạo râu rửa mặt nên thợ làm nhanh, loáng đã xong, không kiểu cọ gì ráo trọi. Nhưng khi tôi lên mười một tuổi, vừa thi đỗ vào trung học, tôi không còn thích để mặc người lớn lãnh đạo nữa, sau một mùa hè chịu mái tóc carré, nghĩa là rất ngắn, trên chỏm cũng ngắn, kiểu lính, quyết để tóc dài, thời ấy mái phía trước dài, tóc mai kéo xuống gần cằm, hợp với áo sơ mi cổ cò, học sinh đi học lén bỏ áo ngoài quần vì cho áo vào quần thì quê lắm, mặc quần tây không có thắt lưng. Thời ấy bắt đầu có mũ lưỡi trai baseball kiểu Mỹ, kéo thật sát mái đầu để tóc phía dưới bay lòa xòa, có đứa ba trợn còn xoay ngược cái mũ, vậy thì tôi chuẩn bị cắt một mái tóc như vậy, kiểu tango, sau khi đã nuôi được tóc khá nhiều đến nỗi mẹ tôi chú ý và kéo tôi lại, dúi năm đồng vào tay, bắt đi hớt ngay tắp lự. Người thợ hớt tóc, sau khi mài dao lên sợi dây da xoành xoạch làm cho lưỡi mỏng như lá lúa, nếu bạn từng đọc truyện ngắn Lưỡi dao cạo của Nabokov kể chuyện hai kẻ thù cũ gặp nhau ở Bá Linh, bạn sẽ hình dung ra tiếng động ấy.

Những người đến quán thường gọi lớn lên kiểu tóc theo cách riêng của họ, cắt carré tức là cắt ngắn như binh nhì, kiểu Dũng Thanh Lâm tức là tóc chải phồng lên, mái hất ra sau, kiểu tango như các vũ sư Nam Mỹ lả lướt. Quán hớt tóc nằm trên đường đi học nên khi tan trường tôi thường ghé lại nghỉ chân, những người khác cũng bày cờ tướng, cờ domino ăn thua trong quán. Người thợ hớt tóc mặt đầy tàn nhang, dáng cao ráo, để tóc đúng mốt, đôi khi nhìn nghiêng đẹp như Hùng Cường hay Alain Delon. Anh thỉnh thoảng gọi từ quán lòng thả thứ cháo huyết heo, hay lòng xào nghệ, anh bảo những thức ấy giúp cho những sợi tóc vụn hít vào phổi mỗi ngày bị tiêu tán đi, không nằm lâu trong người. Quán nghèo, nên chỉ có một bộ tông đơ, một cái kéo, cái gì cũng một, bộ ráy tai gồm có một cái nhíp, một que để gắp ráy tai, bông gòn, sợi chỉ dài tôi không biết để làm gì. Anh bảo rằng đúng ra anh cần phải có ba bộ tông đơ khác nhau, một dùng cho tóc cứng rễ tre, một dùng tóc mềm như con gái, một nhỏ hơn dành cho trẻ con. Anh vừa làm việc, vừa trò chuyện với khách, huýt sáo hay hát ư ử một điệu nhạc. Về sau khi tôi lớn hơn nữa, anh dùng kéo để cắt nhiều hơn dùng tông đơ, bảo cắt kéo thì tóc đẹp. Khi cắt xong anh còn dùng bột phấn talc thơm thơm xoa mặt, tôi rất thích. Khi bọn con nít ngồi lên ghế, anh kéo một cái đòn ra để gác chân. Tôi dặn đi dặn lại kiểu tóc mà tôi muốn. Kiểu tango, tóc dày lên, bồng bềnh như diễn viên điện ảnh. Anh gật đầu ra dấu đã hiểu. Mọi thứ diễn ra êm đẹp. Người thợ quàng khăn lên cổ bạn, một chiếc khăn màu cháo lòng, cũ rích nhưng khá sạch, đẫm mùi nước hoa và mùi brillantine bạn hít thơm lừng, lim dim nhắm mắt, lắng nghe tiếng tông đơ loạch xoạch. Khi xong việc, nhìn vào gương, bạn thất kinh sững sờ. Cái gì kỳ vậy? Im lặng. Tôi nhìn đi nhìn lại, hai sợi tóc mai tôi nuôi cả tháng nay biến mất. Trời ơi, làm thế nào? Người thợ lúng túng xin lỗi, nhưng quá trễ. Bạn ra về sau khi tức giận đứng chờ lấy lại tiền thối, lấy hết can đảm nói với người thợ về nỗi khổ đau của bạn. Nghẹn họng. Bạn thề sẽ không trở lại.

Nhưng rồi bạn trở lại. Vì tuổi trẻ chóng quên. Chẳng cần học bài học tha thứ bạn cũng quên béng. Vả lại tóc bạn ngày ấy ra nhanh lắm, mướt như cỏ dại. Bạn thích nghe tiếng mài dao, rờn rợn, lạnh, kích thích. Bạn thích nghe tiếng tông đơ rào rào. Nếu hôm ấy không quá bận, người thợ còn chiêu đãi bạn một chầu ngoáy tai. Cái ngoáy tai nhỏ xíu bằng đồng vàng, có lẽ là thứ kim loại sáng nhất mà bạn được nhìn thấy ở làng quê, cảm giác đưa vào tai bạn nhột nhột mới đầu đau nhói, nhưng nó hết ngay, chuyển sang cảm giác kích thích rồi buông lỏng, dịu dàng, êm ái như một lời an ủi, hay lời xin lỗi. Thời bé, chẳng có ai xin lỗi bạn cả. Khi người lớn làm sai, họ chỉ cười. Nhưng cái ấy không hề gì, vì trong khi ngồi chờ đến lượt mình bạn có thú vui riêng. Quán hớt tóc có chồng sách báo để ở một góc cho khách giải trí, nhật trình Hòa bình, Độc lập, Công luận, với tiểu thuyết feuilletons của Kim Dung, Nam Kim Thạch, Mai Thảo, Nhã Ca, Duyên Anh, những tờ tạp chí Phổ thông, Thời nay, Tập san thứ tư, đã mòn gáy. Bạn say mê những trận hải chiến được mô tả trong tập Đa hiệu của Võ bị Đà lạt, lá thư Paris của Minh Đức Hoài Trinh, lá thư của Hoàng Xuân Hãn, bạn thích Mình ơi của Nguyễn Vỹ dù gặp con gái đỏ mặt. Những sách báo ấy nuôi dưỡng tâm hồn bạn, làm cho sự chờ đợi ngắn lại, trong khi ngoài trời mưa lâm thâm. Vì vậy mà nỗi bực mình đối với sự độc tài ỷ y của người thợ cắt tóc kia chẳng thấm vào đâu. Cứ thế ngày này qua tháng khác bạn lớn lên dưới lưỡi dao cạo của hắn ta, chiếc tông đơ ngày càng mòn, hòn đá mài dao xanh đã dẹt lại, chỉ có cái ngoáy tai khi nào cũng sáng chói một cách muộn phiền.

Thời bây giờ có lẽ không còn những người thợ hớt tóc như vậy nữa. Thời bây giờ, ở các thành phố lớn như Sài Gòn, Huế, Hà Nội, London, New York, Hán thành, những nơi tôi có đôi lần bước vào quán hớt tóc, tôi thấy họ mau lẹ hơn, sạch hơn, cử chỉ lịch sự hơn, nhưng không khí làm việc lặng lẽ. Tôi nhớ người thợ hớt tóc năm xưa của tôi nói chuyện không ngớt miệng, đôi khi khạc nhổ vào góc nhà, thỉnh thoảng hò hét, kể những chuyện nơi xó bếp hay thiên hạ đại loạn, làm cho bạn vui lên trong một ngày u ám, hay làm bạn hốt hoảng vì một tin mới cóng từ thủ đô, hay làm bạn thề rằng sẽ không bao giờ trở lại. Nếu không gặp được một người thợ hớt tóc như thế trong đời, trong một cái quán thân mật, thì công cuộc hớt tóc của bạn chưa phải là thứ đáng ao ước lắm. Sau khi kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình, người Việt thôi giết nhau trên chiến trường, họ trở về làng cũ nhưng sống buồn hơn, nhạt nhẽo hơn, e dè hơn, khi báo chí đúng nghĩa đã chết, hay trở nên nghiêm nghị một cách chán chường, hay chán chường một cách nghiêm nghị, khách đi hớt tóc chẳng còn chuyện gì vui ngoài chuyện bóng đá.

Thôi thì cũng tạm an ủi.

Rồi đến một ngày, bạn để ý cái khăn quàng màu cháo lòng đã ngả sang màu xám đặc quánh, như màu cuộc chiến tranh lan rộng, cái dây da để mài dao ngày một cũ, rách, người tới quán ngày một thưa, vì những thanh niên bỏ làng ra đi ngày càng nhiều, lớp đi quân dịch, bọn trốn lính, kẻ nhảy núi. Thời ấy những quán hớt tóc chỉ dành cho đàn ông, phụ nữ tự cắt lấy ở nhà, người sang hơn thì tới thẩm mỹ viện, mọc khắp nơi, với những cái máy sấy tóc đội đầu như phi công để uốn phi dê. Quán hớt tóc là của đàn ông, từ bé để chỏm đến già đi guốc mộc lẹp kẹp. Bây giờ cũng vậy, trên thế giới nơi nào cũng vậy, nhưng những quán barbers hình như ngày một ít đi. Tôi vẫn yêu thích chúng, vì có không khí riêng, người thợ chuyên nghiệp cố vấn về các kiểu tóc của nam giới, cắt làm sao để đội mũ lên đầu không vướng, cắt ngắn hay dài tùy khuôn mặt, cái đầu, tùy công việc và sở thích. Những câu chuyện trong các quán ấy cũng có phong vị riêng của bọn lang thang, tôi thích làm quen với những người thợ hớt tóc như vậy, cũng như người thợ sửa xe của tôi, cũng như người thợ nướng bánh mì của tôi, người đầu bếp của tôi. Trong quán ấy tôi còn được đọc Túp lều của chú Tom, Thiếu lâm trường hận, Kỳ nữ gò Ôn khâu của Đinh Hùng, Chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện của Nhất Hạnh. Chúng ta cầu nguyện hoài, cả dân tộc này cầu nguyện, những người dân miền Nam miền Bắc có con đi lính, suốt ngày cầu nguyện, nơi công khai nơi lén lút, nhưng có người mẹ nào mà không nhớ con, có cái chết nào không đau xót, cầu nguyện hoài mà thanh niên vẫn lũ lượt vào lính, quan tài vẫn lần lượt đóng đinh gởi về. Trong cái quán bốn bề vách đất, gió thổi lồng lộng, nép vào vệ đường dưới tiếng kẽo kẹt của bụi tre la ngà đêm mưa có ma, có một đứa con trai ngày càng lớn ngày càng biết lo âu buồn bã.

Càng lo buồn tôi càng đọc, việc đọc sách làm tôi bớt buồn, bớt tuyệt vọng, dưới những đám mây mùa thu ẩm thấp, mặt đất như khói, một hôm ngồi chờ trong quán tôi nghe được giọng nói. Giọng nói ấy kể tôi nghe về nỗi cô đơn, sự mất mát của chiến tranh, về hòa bình yêu dấu, về những thế giới khác, sự nhầm lẫn của các lý tưởng bạo động. Tôi hình dung những thế giới rộng lớn hơn trong sách báo, tiểu thuyết, tôi tìm thấy những người anh hùng hiệp lữ của riêng mình. Có những ngôi nhà làm nên từ mùa xuân có những cái quán làm nên từ mùa thu, và trong đời bạn người nào cũng có cái quán để dừng chân, để ngả đầu ra sau mặt ghế, để nhắm mắt lại, để duỗi chân ra. Ở đó có một tấm gương để bạn nhìn vào thấy khuôn mặt mình, tơ hồng măng non mơn mởn hay lấm lem dầu mỡ. Trong những ngày chiến tranh lan rộng ấy, vẫn có những khoảnh khắc cảm động, trên bức vách quét vôi trắng chiếu rọi một ánh sáng lạ lùng qua khe, vàng vọt lấm tấm bụi. Con trai hay chạy nhảy, nên khi có dịp ngồi im, bao giờ tôi cũng ngủ gật, và khi tỉnh dậy đôi khi tôi nhìn thấy một điều gì kỳ lạ, một phát hiện bất ngờ. Một lần tôi mở mắt, nhìn qua cửa thấy một người từ xa đi lại trên đường quốc lộ, chiếc nón ngửng cao, bày khuôn mặt diễm lệ, buồn rầu, đi thong thả trên đường về phía chúng tôi. Tôi nhìn thật lâu mới biết rằng không phải tôi nhìn qua cửa sổ mà nhìn vào tấm gương, như thể không phải một người đang đi ngược đường về phía mình mà cô đi ngược chiều thời gian, để trở lại với cái quán cũ, đi loáng thoáng dưới hàng dây leo vàng hoa mướp. Hai hôm sau, quán đóng cửa, người thợ không trở lại, anh bị gọi nhập ngũ, những câu hát ngày xưa của anh về đời lính nay vận vào người, rồi đây anh sẽ hát chúng trên những nẻo đường lạ, khi chiều tàn.

Một lần đạp xe ngang quán cửa đã đóng im ỉm, không có người thay. Tôi đứng lại thật lâu bên kia đường nhìn cái quán, tôi đứng gần thửa ruộng không người gặt, đứng dưới đám ráng mây chiều đỏ quạch, nghĩ đến một sân ga đổ nát nơi đó có người lính mang ba lô vừa đi vừa hát: trời đêm dần tàn tôi đến sân ga đưa tiễn người trai lính về ngàn, nghĩ đến những trang sách cũ mà tôi đã đọc, những trận hải chiến, những anh hùng kỳ nữ, nhưng không kịp nghĩ đến mái tóc của mình ngày càng dài ra, tóc mai, râu mép bắt đầu lún phún, chúng mọc lên như nỗi buồn không ngay hàng thẳng lối. Lòng thương nhớ ấy là sự không hài lòng, là hiện tại không bền vững, là tiếng gọi của thế giới bị tổn thương, ký ức bị xâm phạm, là nỗi ao ước sâu xa như hạt giống trong đất, chờ mọc trở lại. Tôi cần tìm một người thợ hớt tóc khác, nhưng không có người nào có thể thay thế được cho người thợ làng quê ấy nữa, vừa cắt tóc vừa hát vừa nhổ nước bọt vừa kể chuyện râm ran, cái quán ấy, bóng người đi vào gương ấy khi tôi còn bé, tóc tai hãy còn là thứ công việc vui vẻ khi ấy bạn tha hồ cắt trụi hay để dài, nuôi tóc mai, ép hay để phồng lên, vắt ngược tóc ra sau hay chải cho dợn sóng, ngồi nghe anh kể chuyện thiên hạ đại loạn nhưng không phải chuyện của mình, bây giờ.

Nguyễn Đức Tùng

Nguồn: http://vanviet.info/van/qun-hot-tc/

HỚT TÓC VỈA HÈ

Hôm qua đi hớt tóc ở tiệm quen, không thấy anh thợ dùng tông đơ bóp tay như trước. Mọi lần anh vẫn dùng cả hai. Tông đơ máy dùng để hớt tóc dài, tông đơ bóp tay dùng để rà lại những chỗ cần tỉ mỉ. Tôi hỏi vì sao – Giờ chẳng ai xài tông đơ cũ ​n​ữa chú, xài máy luôn cho tiện và nhanh. Tôi hớt ở tiệm này đã 10 năm, từ giá 25.000, rồi 30, 35…và bây giờ 40.000 đồng.

Vũ Thế Thành

 

Trước đó tôi hớt tóc ở tiệm quanh khu Phú Nhuận. Tôi đi ngang, tạt vào. Khi đó buổi trưa, ông hớt tóc đang ăn cơm trưa, vội bỏ ngang để hành nghề. Tôi xua tay, anh ăn xong đi rồi cắt, tôi không gấp. Ông thợ có lẽ hơn tuổi vài tuổi, ông chỉ dùng tông đơ bóp tay. Tôi hỏi, sao không dùng tông đơ máy. Ông đáp, tôi dùng không quen. Động tác của ông tỉ mỉ, chăm chút, nhưng dường như không được khéo tay lắm. Tôi không quan tâm nhiều đến chuyện tóc đẹp, cái bản mặt mình đã thế, thì tóc đẹp hay xấu cũng vậy, cắt ngắn để cho khỏi vướng víu khó chịu. Vừa hớt tóc, chúng tôi vừa chuyện vãn. Ông là lính chế độ Sài Gòn, di chuyển đủ nơi. Sau 75, làm đủ nghề để mưu sinh: đạp xích lô, sửa xe, vá xe còn bây giờ là hớt tóc. Con cái đi làm cả rồi, mỗi đứa mỗi nơi. Vợ chồng thằng út ở chung nhưng cũng đi làm cả ngày. Tôi hỏi, quán có đông khách không? – Không, ông à. Tụi trẻ không thích. Ban nãy thấy ông vào tôi vui lắm. Giá 20.000 đồng. Tôi đến tiệm ông vài lần. Lần sau cùng đi ngang định tạt vào hớt tóc, nhưng cửa tiệm đóng. Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra, trong lòng thấy lỡ cỡ như vừa mất thứ gì.

Tôi chưa bao giờ đi hớt tóc thanh nữ. Thật ra chỉ có 1 lần duy nhất. Tôi vào tiệm hớt tóc bình dân, bày biện loàng xoàng. Quán chỉ có 1 thợ, chính là cô thợ hớt tóc đó. Lỡ vào rồi, bước ra hơi kỳ kỳ… Đành miễn cưỡng cúi đầu trước phụ nữ, đế cắt tóc và cạo…râu. Cũng thấy ngượng! Cô hớt có vẻ nhanh nhẹn, khéo tay, nhưng lần sau tôi đi ngang tiệm, liếc ngang  và đi ngang luôn.

Hồi nhỏ tôi thường hớt tóc vỉa hè, một cái gương to treo ở cây có bóng mát, hay vách tường nào đó, với đồ nghề để trong thùng gỗ nhỏ, buộc vào yên sau xe đạp. Chỉ cần thế là có thể hành nghề hớt tóc cả ngày. Sau này tôi ít thấy hớt tóc lưu động hay vỉa hè. Cách nay hơn 20 năm, đi Nha Trang công tác, buổi trưa lửng thửng ra khỏi khách sạn định làm ly café cho tỉnh táo trước khi đi gặp đối tác. Chợt thấy “tiệm” hớt tóc ven đường, tạt vào luôn dù tóc chưa dài. Tên tài xế đi cùng, cũng đi kiêm café, bắt gặp cảnh đó, nên chụp luôn.

Mới đây tôi đi café ở đ. Ngô Thời Nhiệm (có lẽ thế), thấy bên kia đường có “tiệm” hớt tóc vỉa hè, sát gốc gây, thế là băng qua đường vào luôn. Có lẽ là năm 2020, khi có cảnh báo đeo khẩu trang để phòng lây nhiễm. Người bạn đi cùng nhanh tay chụp luôn.

Tôi thích những gì cũ kỹ của một thời. Có lẽ vì thế mà cái đầu tôi cũ kỹ, lạc hậu, không bắt kịp thời đại.

Vũ Thế Thành

304Đen – Llttm -sgtc

 

Tuesday, April 22, 2025

Sài Gòn Thất Thủ Ký 18: Kẻ Thắng Nhập Thành - Komori Yoshihsa & Khôi Nguyên

 

SÀI GÒN THẤT THỦ: KỲ 18: KẺ THẮNG NHẬP THÀNH

 

CSBV vào Saigon 30/4/1975

Ngày 30/4/1975 là một ngày mà tôi không thể nào quên được. Bởi vì đó là ngày Sài Gòn thất thủ và được cho là dấu ấn kết thúc cuộc chiến VN. Hơn nữa, bản thân tôi vào ngày hôm đó cũng có mặt ở thủ đô Sài Gòn của miền Nam VN hay nói cách khác là tôi đã chính mắt mục kích sự kiện mang tính cách lịch sử này nên tôi không thể nào quên được.

Hàng năm, mỗi khi đến ngày 30/4 thì trong đầu tôi lại nhớ đến tình cảnh “ngày này năm xưa” và cứ mỗi lần như vậy tôi lại có sự thay đổi suy nghĩ với câu hỏi “có thực sự đó là ngày chấm dứt cuộc chiến VN?”

Trong lịch sử đầy biến động của thế kỷ 20, cuộc chiến tranh VN đúng là một sự kiện quan trọng mang tầm ảnh hưởng đến cục diện thế giới. Trải qua bao năm tháng cho đến nay, cuộc chiến VN với màn chung kết là sự kiện Sài Gòn Thất Thủ đã mang ý nghĩa như thế nào?

Đầu tiên có lẽ phải đặt tiền đề về sự minh ám của lịch sử.

Việc ghi chép và bình giải về một cuộc chiến đương nhiên sẽ mang nội dung khác biệt tùy theo người thực hiện. Nghĩa là sẽ tồn tại hai ngòi bút mang lập trường tương phản giữa người chiến thắng và kẻ bại chiến nên tạo thành những điểm sáng và những điểm tối mà ta gọi là sự minh ám của lịch sử. Thông thường, kẻ chiến thắng tạo nên những thiên hùng ca, còn trái lại người chiến bại viết thành một bi kịch uất nghẹn. Nhưng cho dù là người truyền đạt hoặc kẻ đọc lại lịch sử đi chăng nữa thì sau khi trải qua một thời gian dài, tất sẽ có khuynh hướng đưa cảm quan nghiêng về một phía.

Hơn nữa, nếu cho rằng kẻ thắng là phe thiện còn người thua là phe ác thì chắc chắn khuynh hướng nghiêng một về phía càng trở nên cực đoan hơn. Trong khi sự thật của lịch sử nếu không được suy xét tìm hiểu sẽ dễ dàng bị vất bỏ và bị lãng quên. Vấn đề ghi chép và bình giải cuộc chiến VN cho hậu thế cũng giống như vậy, sau một thời gian trôi qua, sự bóp méo lịch sử của cuộc chiến này càng được đơn thuần hóa và trải rộng nên ít người ngoại quốc nhìn thấy được sự thật.

Trường hợp giới truyền thông Nhật Bản cũng có cái nhìn thiên kiến về cuộc chiến VN ngay từ lúc ban đầu. Bỏi vì, họ thông tin theo chiều hướng cảm tính bị ảnh hưởng từ các luận điệu tuyên truyền chính trị đầy hư cấu, ngụy tạo của phe CSBV. Và cho dù sự thật đôi khi được đưa ra nhưng với cảm quan chính trị đầy cố chấp, giới truyền thông Nhật không bao giờ chấp nhận những gì trái ngược với nội dung thông tin của họ về cuộc chiến VN. Trải qua năm tháng, những sự thật đầu uẩn khúc bên trong của cuộc chiến VN lại đương nhiên được chấp nhận một cách vô tình, thờ ơ hoặc vì đã quá mệt mỏi trong các cuộc tranh luận. Điều này quả thật nguy hiểm và bất công đối với   những trang chính sử của cuộc chiến VN. Vì vậy, cũng do vấn đề thời gian, nếu ta không suy gẫm và soi sáng các điểm minh ám trong lịch sử, cuộc chiến VN sẽ mãi mãi không bao giờ được nhìn ra ý nghĩa chân thật của nó.

 


Biểu tình phản chiến trước 1975 tại Nhật

Qua tiền đề minh ám lịch sử, tôi mạo muội tự ý tiếp tục tìm hiểu và lược qua các điểm chính yếu của cuộc chiến VN từ lúc mở màn cho đến khi kết thúc để giới thiệu đến dư luận Nhật Bản vốn có rất ít người hiểu rõ chân tướng. Và đây cũng là lý do tôi thực hiện loạt bài ký sự Sài Gòn Thất Thủ.

Vào ngày định mệnh, từ sáng sớm bầu trời thành phố Sài Gòn bị bao bọc  bởi những đám mây đen u ám với những cơn mưa nhẹ. Từ máy radio, người dân nghe rõ giọng nói nặng nề của vị tổng thống cuối cùng là ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng: “Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, Tổng Thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi quân lực Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, từ trung ương đến địa phương trao lại cho chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam”.

 

TT Dương Văn Minh thu thanh lời tuyên bố đầu hàng tại Đài Phát thanh Sài Gòn, 30-4-1975

Đó là thời điểm quá Ngọ ngày 30/4/1975, tôi đã gửi ngay bức điện tín tốc báo sự kiện quan trọng này gửi về tòa soạn báo Mainichi ở thủ đô Tokyo.

Thế nhưng, dù nội dung bản văn đầu hàng được ông Dương Văn Minh tuyên đọc, nhưng phía CSBV vẫn  không tiếp nhận và tiếp tục công kích các đơn vị phòng thủ của quân lực VNCH. Rồi chỉ khoảng chừng hai tiếng sau, quân lính CSBV với đoàn xe tăng đã tràn vào đến tận Dinh Độc Lập  bắt ông Minh đi đến đài phát thanh để đọc bản văn đầu hàng do họ biên soạn. Tại đây khi giọng nói của ông Dương Văn Minh cất lên, coi như lần đầu tiên miền Nam VN tức nước VNCH chính thức tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trước dư luận thế giới. Thế nhưng, khi nghe Tổng Thống Dương Văn Minh  tuyên đọc những lời đầu tiên, tôi đã phán đoán rằng thế lực chiến đấu của quân đội VNCH đã thực sự bị tan rã nên tôi vội vã chạy ra ngoài đường phố.

 

Ngoại ô Saigon , 30/4/1975

Lúc đó từ phía đông thành phố Sài G có hàng ngàn quân nhân VNCH  cùng với xe tăng thiết giáp và xe jeep xuất hiện trong quang cảnh đổ xô nhau chạy loạn khắp nơi và trong đó có nhiều người tuy bị thương nhưng cũng cố gắng bỏ chạy. Trải qua những giây phút mà tôi có cảm tưởng như thời gian ngưng đọng lại, thì quân đội Bắc Việt bắt đầu tràn vào thành phố từ bốn phương tám hướng. Giờ đây nghĩ lại, lúc đó tôi thật liều lĩnh vì cho dù trên danh nghĩa cuộc chiến đã chấm dứt, nhưng tại nhiều nơi vẫn còn những cuộc chạm súng đẩm máu và thực tế là tiếng súng chưa im hẳn. Chính vì vậy, cho dù có nhận thức rằng bao nỗi nguy hiểm đang rình rập quanh mình, nhưng với sự suy nghĩ là không thể nào bỏ qua được giây phút lịch sử chứng kiến cảnh chấm dứt cuộc chiến VN nên tôi đã quên đi tất cả mọi thứ.

 


Bộ đội CSBV vào Saigon, 30/4/1975

Lần đầu tiên, tôi đã nhìn thấy tận mắt quân đội Bắc Việt  với khoảng hai mươi mấy người ngồi trên chiếc xe vận tải của Liên Xô trong quân phục màu cỏ xanh, đầu đội nón cối trên tay nắm chặt súng và nghiêm chỉnh trong tư thế sẵn sàng đối ứng với các tình huống bất ngờ xảy ra. Trên khuôn mặt vừa có vẻ ngơ ngác vừa đăm đăm nhìn cảnh vật chung quanh là màu da rám nắng của những binh sĩ Bắc Việt. Trông họ đều là những người có cử động nhanh nhẹn và dường như đã trải qua nhiều trận đánh trên chiến trường. Rõ ràng đây là những đạo quân tinh nhuệ và thiện chiến của phía Bắc Việt .

Sau đó, tôi cũng chứng kiến cảnh quân Bắc Việt chiếm cứ Dinh Độc Lập. Từ những toán quân ngồi trên vài chiếc xe vận tải có ngụy trang lá cây, họ đã dừng lại trước Dinh Độc Lập và nhóm quân lính này nhanh nhẹn nhảy xuống xe tiến vào sân cỏ mà không hề gây ra âm thanh ồn ào nào. Kế tiếp, họ chia thành nhiều nhánh quân trên tay cầm loại súng AK 47 hoặc đeo các loại súng ngắn bên hông lần lượt tiến vào trong. Lúc đó, một người có lẽ là sĩ quan cầm đầu ra hiệu lệnh lớn tiếng rồi không quá một phút sau, tôi nhìn thấy các quân nhân VNCH xuất hiện với cờ trắng trong tay. Khi ấy, viên sĩ quan của phía Bắc Việt cũng chĩa mũi súng về hướng những người ra dấu đầu hàng.

Vì tôi đứng ở vị trí khá gần người sĩ quan này nên khi đưa ống kính chụp hình để chụp lại quang cảnh thì tôi cũng bắt gặp những tia nhìn sắc bén của các binh sĩ Bắc Việt, nhưng chỉ một chốc sau họ tỏ thái độ không thèm để ý đến sự hiện diện của tôi. Ngay khi đó trên nóc Dinh Độc Lập, lá cờ vàng ba sọc đỏ của VNCH cũng bị thay bằng cờ của phe chiến thắng, đánh dấu màn chung kết của cuộc tranh VN. Tuy đó chỉ là giây phút ngắn ngủi nhưng tôi lại cảm thấy nhiều cảm xúc dâng tràn khi lá quốc kỳ VNCH bị hạ xuống một cách phũ phàng…

 


30/4/1975

Từ buổi trưa cho đến tối 30/4/1975 đã có hơn 100.000 quân Bắc Việt tiến vào Sài Gòn. Tất cả đều là bộ đội thuộc lực lượng chính quy của quân đội Bắc Việt, tức quốc gia VNDCCH. Trong kế hoạch tấn công Sài Gòn mà phía Bắc Việt gọi là chiến dịch HCM do tướng Văn Tiến Dũng chỉ huy đã dùng quân số lên đến 15 sư đoàn để đánh chiếm thủ đô miền Nam VN. Trong khi phía quân đội VNCH chỉ có chưa đầy 5 sư đoàn bảo vệ thủ đô nên trong một thời gian ngắn họ bị vỡ trận.

Đối với tôi, việc quân đội cộng sản Bắc Việt tràn vào Sài Gòn với một lực lượng hùng hậu và còn được trang bị vũ khí đủ loại, đã cho thấy mức độ quy mô và áp đảo hẳn lực lượng quân VNCH như chiến xa T-54, loại pháo cực đại 130 ly, loại xe tăng lội nước PT-76 có tính cơ động đa năng của Liên Xô, cùng với đủ loại xe tải và vũ khí khác ghi hàng chữ tàu do Trung cộng sản xuất như hỏa tiễn, đại pháo. Qua đó chỉ có thể kết luận rằng quân Bắc Việt đã được trang bị ở cấp đại chiến lực cùng với nhiều loại vũ khí cận đại.

 


Chiến xa CSBV vào Saigon 30/4/1975

Tóm lại, những gì diễn ra trước mắt tôi quả thật đã hoàn toàn trái ngược với cái gọi là “cuộc kháng chiến thần thánh của người dân Nam Bộ dưới ngọn cờ MTGPMN đã đánh tan chính quyền Sài Gòn và đế quốc Mỹ xâm lược” mà phía Hà Nội đã tuyên truyền và được đa số dư luận thế giới tin theo.

©Komori Yoshihisa & Khôi Nguyên @ HVR

 

Saturday, April 6, 2024

KHÔNG PHÁT TRIỂN NỔI, CỨ ĐỔ LỖI TẠI ĐỜI - Chu Hồng Quý

 

KHÔNG PHÁT TRIỂN NỔI, CỨ ĐỔ LỖI TẠI ĐỜI




 

Vẫn còn nhiều người cho rằng, Cuba cùng quẫn là do lệnh cấm vận của Hoa Kỳ. Đọc lại bài cũ, nhìn Việt Nam để thấy Cuba

Do cấm vận, hay “múa vụng chê đất lệch?”

Chúng ta không có tàu vũ trụ con thoi, không sản xuất được iPhone, không chế tạo được người máy thông minh, không làm nổi cái đinh vít… là do bị cấm vận.

Đất nước hoang tàn, rừng vàng trơ trụi, biển bạc đục sóng vì nhiễm độc và tàu lạ quẫy nhiễu, khai thác được lít dầu thô nào thì bị kẻ gian bán trộm ngay trong vùng Thềm lục địa, hầu hết các doanh nghiệp, tập đoàn làm ăn hiệu quả đều đã được bán cho các ông chủ người Thái, người Tàu… Nhưng nhiều kẻ mua nhà ở Hoa Kỳ, có hộ chiếu Dubai, đảo Síp (Cyprus)… cũng do bị nhiều năm cấm vận.

Tỷ lệ đóng góp vào ngân sách của mỗi người dân thuộc nhóm cao nhất thế giới, nhưng nợ công vẫn cao và an sinh xã hội chẳng có gì đáng kể. Kẻ yếu thế thì phải cậy nhờ cộng đồng đùm bọc, lá lành đùm lá rách. Người già, trẻ em bị chính phủ bỏ rơi, phải tự lực cánh sinh, “trẻ cậy cha, già cậy con” là do đất nước ta còn nghèo vì bị cấm vận.

Từ 1945, lần lượt lớp lớp người Việt phải bỏ xứ ra đi, dẫu phải đặt cược mạng sống cho cá mập, cướp biển, chết ngạt trong thùng container hay bị bọn phát-xít Nga ở Saint-Peterburg giết hại dã man cũng vì bị cấm vận nhiều năm.

Mọi cơ sự là bởi vì cấm vận. Phải chi, nếu không bị cấm vận, lời anh Quảng Nổ đã thành sự thật.

Nhưng vì sao bị cấm vận thì người ta lờ đi?

Cấm vận là một hành xử văn minh nhất để thúc đẩy loài người cùng tiến bộ. Đó là sự dìu dắt, không phải trả thù.

Nếu có mâu thuẫn căng thẳng với đối thủ, các nhà cầm quyền độc tài tiến hành tấn công quân sự và đe dọa hạt nhân. Còn ở các quốc gia dân chủ, khi đối thủ vi phạm thỏa thuận song phương, đa phương, khi đối thủ bất chấp luật pháp quốc tế, thì họ áp dụng các biện pháp cấm vận từ nhẹ tới nặng. Tức là “nghỉ chơi”, là tẩy chay không mua bán gì với kẻ giang hồ vô pháp nữa.

Muốn có xe bọc thép, vòi rồng để đàn áp chúng dân biểu tình đòi quyền lợi dân sinh thì hãy nhập khẩu từ các xứ độc tài. Các quốc gia văn minh coi trọng dân chủ tự do họ sẽ áp dụng các biện pháp cấm vận, không cung cấp vũ khí cho anh về tra tấn vợ con và gây sự với hàng xóm. Họ sẽ nghỉ chơi, không mua bán gì với anh khi anh hành hạ vợ con.

Đừng nói vợ tao, tao có quyền đánh, con tao đẻ ra tao có quyền đập. Vợ con anh là con người, các giá trị văn minh không cho phép anh hành xử như thế, luật pháp không cho phép anh chà đạp nhân phẩm người khác như thế. Chưa kể, chúng dân là cha mẹ sinh anh ra, chúng dân là dưỡng mẫu nuôi anh lớn và đang nuôi anh hàng ngày, nuôi anh mãi mãi. Chúng dân không phải là vợ con đang chịu ơn huệ gì nơi anh.

Một tên giang hồ vừa coi thường phép nước, lệ làng, vừa trộm cắp, cướp giật, ra đường chém người, về nhà đánh vợ đập con, dân làng không mua không bán với kẻ giang hồ đó là quyền của họ. Giờ vợ con anh khổ, cớ sao lại đổ lỗi do dân làng không mua bán với mình?

Kêu gào chửi bới Mỹ cấm vận Cuba, Việt Nam, sao Việt và Cu không cấm vận lại Mỹ đi?

Nó bẩn tệ, nó xấu xa thế, nó không chơi với mình thì mình cũng nghỉ chơi với nó đi. Mình cũng có quyền cơ mà. Đó là công bằng, là sòng phẳng và cả bình đẳng nữa. Như thế mới là độc lập.

Một khi còn phải bí mật lặn lội đường rừng sang Moscow để nhận chỉ thị về kế hoạch cải cách ruộng đất, thúc đẩy đấu tranh giai cấp, chuẩn bị sẵn cho việc vi phạm hiệp định Genève ngay cả khi dự thảo hiệp định chưa được đàm phán; Một khi kẻ thù mang tàu chiến vào vùng biển chủ quyền mà mình chỉ dám rón rén quan ngại chớ không nỡ chỉ mặt đặt tên; Một khi họ nghỉ chơi với mình mà mình không dám cấm vận lại họ. Lúc đó, chớ nói là độc lập.

Muốn không bị cấm vận, tẩy chay, hãy tuân thủ luật pháp quốc tế.

Muốn cho loài người khỏi xua đuổi thì anh phải học cách ứng xử văn minh của loài người.

Muốn hòa nhập thế giới văn minh, anh phải hành xử chuẩn mực theo các giá trị tiến bộ của nhân loại.

Chỉ cần hai người với nhau cũng phải có những quy ước, thỏa thuận. Thử hỏi, nếu không có luật pháp quốc tế, nếu nhà cầm quyền xứ nào cũng ngang nhiên chà đạp lên luật pháp quốc tế và coi thường các giá trị phổ quát của nhân loại thì thế giới sẽ ra sao?

Người Thanh Nghệ Tĩnh có câu “Làm đ* không đắt đổ cho mồ mả không thiêng”.

Tổ tiên nào phù hộ cho những kẻ vô luân?

Mồ mả nào phù hộ cho những con đ* không chịu sắm giẻ lau?

Chu Hồng Quý – 21 tháng 3, 2024

 

(*) tựa do SGN đặt

Nguồn: https://saigonnhonews.com/thoi-su/van-de-hom-nay/khong-phat-trien-noi-cu-do-loi-tai-doi/#google_vignette