Saturday, September 5, 2026

Hát Bài Tình Ca Lần Cuối - Nguyễn Đạm Luân

 Hát Bài Tình Ca Lần Cuối




Xa Rồi Dấu Chân Sáo Nhỏ -

 Xa rồi dấu chân sáo nhỏ

 















Theo chồng em sang sông
Anh về qua đại học
Tìm đâu ra bóng hồng
Hoa tường vi nở rộ
Lòng buồn như lập đông

Dấu chân con sáo nhỏ
Đã mất trên đường rồi
Anh quẩn quanh tìm hoài
Cửa lồng son đã khép
Tình xưa còn hay không

Giảng đường im lặng lẽ
Tường vôi lạnh vô hồn
Đâu mái tóc nghiêng nghiêng
Má đồng tiền xinh xắn
Còn hay cười không em

Đời trôi vào khoảng trống
Tình rơi vào hư không
Đôi tay vàng nhung nhớ
Bóng người trong cơn mơ
Tình sâu anh chẳng ngờ

Xa rồi bông hoa nhỏ
Xa rồi dấu chân xưa
Anh rời ngôi trường cũ
Mười năm mà chưa đủ
Trăm năm anh sẽ quên

HTC

Hoàng Tước Ve Sầu - Vũ Thế Thành

 

Hoàng tước ve sầu

Tối qua nằm nhà xem phim Tàu. Nghe một viên quan lớn than với phe phái, “Ai là hoàng tước, ai là ve sầu”. Tôi chợt nhớ câu chuyện “Hoàng tước ve sầu” đọc hồi nhỏ. Nhớ đại khái thế này:

Vũ Thế Thành

 


Ve sầu đang cất tiếng kêu rền cả mùa hè, không ngờ phía sau có con bọ ngựa đang rình rập ăn thịt mình. Bọ ngựa mải mê rình mồi lại không ngờ trên cành cây gần đó có con chim hoàng tước hiền lành đang lăm le sà xuống dùng mỏ kẹp bọ ngựa. Rồi đến lượt hoàng tước cũng không ngờ từ xa, một người thợ săn đang giương cung.

Tôi đoán, ve sầu trong chuyện hẳn là ve sầu đực, vì chỉ ve .sầu đực mới cất tiếng kêu vang rền như vậy. Nó kêu không phải vì buồn, mà đang gọi người tình. Tiếng ve rền vang cả mùa hè, hóa ra cũng chỉ là một thứ tiếng gọi yêu đương.

Con bọ ngựa chắc là con cái. Bọ ngựa cái rất hung hãn, thịt luôn bọ ngựa đực, huống chi loại côn trùng khác.

Chim hoàng tước, chẳng biết đực hay cái, rất “yểu điệu”, vậy mà lại chuyên phá đám chuyện tình của ve và bữa ăn của bọ ngựa.

Người thợ săn? Có lẽ nghĩ bụng: tối nay chắc có món chim quay.

Tôi không biết “tiểu thư” hoàng tước là chim loại gì? Ở Việt Nam có hoàng tước không? Tôi cũng không biết điển tích “hoàng tước ve sầu” bắt nguồn từ đâu bên Tàu. Múa rìu như vậy đủ rồi.

Ngẫm lại chuyện ve sầu, bọ ngựa và hoàng tước mới thấy đời cũng vậy. Ai cũng tưởng mình là hoàng tước, đứng trên cao nhìn xuống, nhưng có khi mình chỉ là bọ ngựa trong con mắt người khác. Hoàng tước nghĩ mình là nữ đế chăng?

Một chuỗi ham muốn, săn đuổi, rồi bị săn đuổi. Ve sầu chết vì tình, bọ ngựa chết vì ăn, hoàng tước chết vì tham. Còn người thợ săn với món chim quay, liệu có phải là người cuối cùng trong chuỗi.

Thôi thì, quan nhất thời, dân vạn đại. Nâng ly, “Tiêu khiển một vài chung lếu láo.

Vũ Thế Thành

304Đen – llttm - sgtc

 

 

Nổi Đau ...Một Mình - Phương Khanh Phạm

 nỗi đau… một mình…

 













thế là xa
là không còn gần nữa
cơn đau này nhức buốt lắm, em ơi !

mênh mông quá
khoảng trống còn ở lại
đâu ánh nhìn, đâu dáng nhỏ loanh quanh ?

những buổi sáng
những buổi chiều quạnh quẽ
những đêm về lặng lẽ một mình ta

nhớ em
ta nhớ em, em ạ

ngày vui mới hôm nào… đã thành cũ rồi sao ?
ta ngồi đây gậm nhấm nỗi hư hao
và canh cánh những lao đao sắp tới

nhưng ta hứa với em,
hãy để cho ta nợ em một lời hứa…

vì con,
nhờ em,
ta sẽ mạnh dạn đứng lên
như hai ta bao lần tưởng gục ngã đã vươn lên

ý chí đó
thì sa chước nào cám dỗ !

ta cầu bằng an cho em
nơi nước Trời vui hưởng Thánh Nhan Cha
hãy cầu bằng an cho ta, cho con cùng cháu
cõi thế trần, sống như vẫn có em

viết với nỗi lòng của Bõ

Phương Khanh Phạm
Nguồn : FB PK PHam

Đi Tết Thầy - Nguyễn Khoa Đăng

 

Đi Tết Thầy




Sáng ba mươi, đang vui với tám quân bài tam cúc mới được chia đỏ rực bộ ba "tướng sĩ tượng", thì bố tôi đưa cho gói quà tết bọc giấy điều:

- Lớn rồi, tết này con đi tết thầy một mình! chẳng có gì. Cặp bánh chưng với cân đường gọi là.

- Tôi gật đầu nhưng bụng rất run. Tôi vốn là đứa trẻ nhút nhát. Chưa dám đến nhà ai một mình. Kể chi nhà thầy giáo có tiếng nghiêm khắc như thầy tôi. Thành ra trên đường có bao nhiêu cái vui của ngày tết mà tôi chả thiết gì. Tranh gà, tranh lợn, tố nữ, đu xuân. Lại có chỗ trẻ con đá bóng. Chiếc bọng đái của con lợn tết phơi khô thổi hơi vào căng cứng, chân chạm đến nẩy câng câng. Tôi cũng chả thiết!

Tôi đi thật chậm nhưng rồi cũng đã đến cổng nhà thầy. Đã mấy lần giơ bàn tay nhỏ bé định đập nên đó nhưng cả mấy lần tôi đều rụt lại. Sợ quá. ước gì có ai đó ra mở cổng. Tôi sẽ dúi vào tay cái khối nặng nề này rồi ù té chạy đi. Nhưng chờ mãi chả thấy. Chỉ thấy còn cách là quay về. Rồi muốn ra sao thì ra!

Đường về, tôi đếm từng bước một. Đã đến quán nước bà Ngải, một bà lão sống mỗi một mình từ hồi nào. A! phải rồi! Tôi rẽ vào quán, đặt vội lên đôi bàn tay nhăn nheo run run của bà gói quà tết:

-Thầy u cháu....

-Bà lặng người đi. Cái miệng móm mấp máy:

- Đa tạ ông bà...

- Xong việc, tôi về đến nhà, mặc dù tự trấn an: "Thấy giáo thì thiếu gì quà tết" nhưng vẫn cứ thấy bứt rứt. Tâm trạng của người vừa phạm tội, vừa không. Bố tôi không nhận ra điều ấy nên đã reo lên khi thấy tôi về

- Thằng này giỏi! Tết thầy một mình!

Bố tôi càng khen, tôi lại càng nơm nớp chờ đợi...

Ngày mồng một, điều ấy không đến, may sao!

Ngày mồng hai, lạy trời, cũng thế. Nhưng...

Vừa mới sáng bảnh mắt, bà cụ Ngải đã xồng xộc bước vào nhà, miệng rối rít:

- Năm mới kính chúc ông bà làm ăn phát đạt bằng năm bằng mười năm ngoái...

Tôi chạy tọt vào buồng. Tim thắt lại. Bà ơi, bà đừng nói cái chuyện hôm trước bà nhé.

- Sau nữa xin cảm ơn ông bà có lòng nghĩ tới kẻ nghèo hèn như tôi. Cặp bánh ông bà cho, nó không phải bằng gạo, bằng thịt đâu, bằng vàng đấy ạ!

Tôi tái người, chỉ còn biết ngồi sụp xuống chờ ăn đòn. Quả không sai, bố tôi nghiêm mặt nhìn tôi sau lúc bà Ngải về:

- Vậy là thế nào?

Tôi nghĩ ngay được câu biến báo:

- Dạ, thầy con nhận rồi sai con tết lại bà...

- Thật không?

- Thật ạ!

- Được rồi, để tao xem lại!

Bố tôi rất ghét nói dối, xưa nay đã nói là ông làm, tôi chỉ còn biết cầu mong bố tôi quên việc đến gặp thầy. Mà rồi sau đó bố tôi quên thật. Có lẽ nhờ mải mê lau chùi những món đồ thờ. Bố tôi đã vừa làm vừa đọc lên những câu đối tiếu lâm làm cả nhà cùng cười. Tôi tạm yên dạ.

Ngoài sân bỗng vang lên tiếng chào. Tôi giật mình nhìn ra và tái mặt. Thầy tôi. Trời ơi, làm sao thầy lại đến nhà tôi vào giữa lúc này!

Tôi nhảy tọt vào buồng run còn hơn buổi sáng. Tôi nghe thầy nói:

- Có hộp mứt đến mừng tuổi ông bà. Cũng là cảm ơn ông bà đã cho bánh tết. Gớm, bánh gói khéo quá. Vừa chặt tay lại vừa đẹp.

Tôi không tin ở lỗ tai của mình, vội lẻn ra khỏi buồng, chạy thẳng một mạch tới quán bà Ngải. Trên mảnh gỗ lâu nay vẫn được làm bàn thờ tổ tiên của bà vẫn là cặp bánh chưng nhà tôi lại thêm hộp mứt giống hệt cái hộp thầy vừa mừng tuổi bố mẹ tôi. Chẳng để tôi kịp hỏi bà Ngải đã a lên:

- Cậu. Bữa cho quà, cậu bỏ quên lá thơ. Lão nhờ người đọc mới biết thơ thầy u cậu gửi cho ông giáo. Lão vội đưa tới ông giáo ngay, nhân dịp biếu ông giáo chục cam. Cảm ơn ông giáo dạy học trò biết nhớ đến người nghèo. Ông giáo nhận thơ lại còn cho mứt. Quý hoá quá!

Vậy là còn lá thư trong gói quà tết tôi nào biết. Nhưng tôi biết, thầy tôi đã đọc thư, đã rõ hết chuyện, đã đỡ đòn cho tôi. Nếu không, phải ăn đòn ngày tết thì giông cả năm. Có khi cả đời.

Nguyễn Khoa Đăng

Sinh Nhật Tự Trào - Vườn Thơ Mới Xướng Họa

 THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 195_VƯỜN THƠ MỚI

 


 

 















Xướng:

 

Sinh nhựt tự trào

Bảy mươi đời gọi cổ lai hy.
Mặn nhạt chua cay chẳng thiếu gì.
Sóng biển lặng yên mòn mắt đợi,
Đường trần đèo dốc mỏi chân đi.
An bần lạc đạo thôi đành vậy,
Ngoạn thủy du sơn đặng mấy khi.
Nắn nót cung đàn vui tuổi hạc,
Tri âm trao gửi mấy vần thi.

Minh Tâm

 

Họa 1:

 

Tự tình

Tuổi hạc vừa qua thất thập hy
Gần xa bạn hửu ước mong gì
Trà mai rượu tối cùng nhau hội
Vũ khúc đàn ca mỗi cặp đi
Biển mặn muôn đời vươn sóng vỗ
Rừng xanh mấy thủa đứng yên khi
Nương làn gió nhẹ tìm tri kỷ
Bốn biển tương tình lược nét thi.


Tâm Quã

Họa 2:

 

Thế Sự 

 

Thắm thoát tuổi đời quá cổ hy 

Vinh hoa phú quý chẳng lo gì 

Ngọt bùi thế sự không lường được 

Mặn đắng thăng trầm phải bước đi 

Xứ lạ quê người đành chấp nhận 

Rũi may định mệnh đến đôi khi 

Cuộc đời chọn lựa nào ai biết 

Hiện tại an nhàn xướng họa thi 

 

Hương Lệ Oanh VA 

Aug, 12. 2026

 

Họa 3:

 

Yên bình

Trung Quốc rạng ngời Đại đế Hy
Cơm no áo ấm chẳng lo gì
Thanh bình dân chúng hằng chờ đợi
Đói khổ mọi người vội tiễn đi
Vận chuyển cơ trời giờ được vậy
Đổi thay vận nước có đôi khi
Bước chân rón rén vào tuổi hạc
Thơ thẩn lôm côm nẽo vườn thi
THT

 

Đại đế Hy: Khang Hy đại đế, tên thật Ái Tân Giác La Huyền Diệp  愛新覺羅玄燁. Sinh năm 1654 và mất năm 1722.

Ông là vị hoàng đế thứ 3 của nhà Thanh và trị vì trong 61 năm (1661–1722). 
Trong thời gian trị vì, ông dùng niên hiệu Khang Hy
康熙

Ông được đánh giá là một trong những vị hoàng đế vĩ đại nhất lịch sử Trung Quốc và được xưng tụng là Khang Hy Đại đế 康熙大帝

 

Họa 4:

Thanh thản

Đỗ Phũ “Khúc giang” luận cổ hy
Nhắc về nợ rượu quản làm gì
Thời gian trầm bổng làm mù quáng

Cuộc sống gian truân vững gót đi
Thanh thản giúp đời luôn giữ đạo
Hiểu lầm suy thoái tránh ngàn khi
Chu du sơn thủy cùng năm tháng
Thi tửu cầm kỳ với họa thi

PTL

cổ hy
古稀: xưa nay ít có. Ý nói ít có người bảy chục tuổi.
Đỗ Phủ 
杜甫 trong bài Khúc Giang kỳ 2 曲江

其二  có câu:

Tửu trái tầm thường hành xứ hữu,

酒債尋常行處有,
Nhân sanh thất thập cổ lai hy
人生七十古來稀

Nghĩa là :

Nợ rượu là chuyện tầm thường nơi nào chẳng có, 

Từ xưa đến nay người đời ít ai sống được bảy mươi tuổi

Họa 5:

Vong quốc Tự Trào

Nay thời chớ nói Cổ Lai Hy
Thọ tới trăm năm chẳng hiếm gí !
Mặc kệ ai sầu đau ngóng đợi
Vô tình họ hảnh diện bước đi.
Thế gian suy kiệt thôi đành vãy
Nghĩa khí hùng anh được mấy khi !
Vong quốc làm sao vui tuổi hạc
Tri âm ngào nghẹn mấy vần thi !

 

Hàn Thiên Lương

 

Họa 6:

 

Tuổi già an nhiên

Tuổi vãng sương pha hóa cổ hy,
Đời người mộng ảo tiếc làm gì.
Mây ngàn gió cuốn mờ con mắt,
Dốc thẳm đèo cao mỏi gối đi.
Lòng đạo an nhiên vui cảnh vậy,
Duyên thơ thưởng ngoạn đặng muôn khi.
Ngâm nga thơ phú quên ngày tháng,

Tri kỷ đợi người để họa thi.
AI

 

 

 

 

 

 

Mùa Cuối - Lương Minh Giang

 Mùa Cuối...















- Lụa!

- Dạ! Thưa thầy cho gọi con.

- Con ngồi xuống đây… ta có chuyện dạy.

- Con xin nghe.

- Năm nay con đã đôi tám rồi nhỉ?… Có lẽ… à…

- Thưa… thầy có điều gì phiền muộn khó nói?

- À… chẳng là cái tiếng thị phi. Con đã lớn… nay ở trong chùa không tiện… ta cũng thật có lỗi với con… nhưng…

Lụa nước mắt lưng tròng nghẹn ngào:

- Thầy ơi! Thiên hạ nghĩ sao mặc họ chỉ xin thầy thương lấy con!

Sư thầy Đạo Liên lặng lẽ thở dài, trở bước. Bóng Lụa gục đổ theo ánh sáng ngọn đèn dầu.

Đêm ấy cả sư thầy và Lụa cùng không ngủ được. Qua tấm vách Lụa khẽ thở dài khi nghe tiếng thầy trở mình khó nhọc. Chưa tới ngũ tuần nhưng thầy dường như đã quá già. Ngoài trời bắt đầu gió lạnh mang theo cái hơi nồng nồng, ngai ngái. Cơn mưa đầu hạ ập xuống. Sấm chớp ì ùng. Đâu đó trong không gian man mát thoảng mùi hương rất khẽ.

Từ sáng sớm, Lụa đã chèo chiếc thuyền lá ra giữa đầm Chùa hái những bông Sen đầu tiên của Hạ. Hương Sen thơm nhẹ cứ vấn vít quấn vào tóc cô gái đương xuân. Sau đêm mưa cả đầm xanh lá, giờ lác đác vài bông hoa trắng… thật nhẹ, thật thanh khiết. Lụa biết ngay mà… “Sen đầu mùa dâng lên Tam Bảo í hẳn thầy sẽ vừa lòng”. Nghĩ vậy Lụa cười khẽ một mình rồi chèo thuyền vào bờ.

- Thưa thầy! Con đã dâng Bạch Liên lên Tam Bảo. Mời thầy lên khóa lễ!

- Đã có Sen rồi sao?… Đêm qua mưa, hẳn nào…

- Dạ… Con xin phép thầy, gạo, muối, củi, dầu trong chùa đã cạn.

- Ừ! Con đi chóng về chả thầy lại lo…

Những điều người đời nói đâu phải Lụa không hay. Cô biết cả. Nếu giờ đây cô ra đi, để giữ tiếng cho thầy cũng được thôi… nhưng biết đi đâu. Về đâu? Một đứa trẻ mồ côi. À không! Phải nói là bị bỏ rơi mới đúng. Chùa Vân Phan là mái ấm, là gia đình, và thầy Đạo Liên là người thân duy nhất của Lụa. Nhưng tránh sao khỏi điều tiếng thế gian…

Nhanh chóng tìm đủ những thứ cần thiết, Lụa rời khỏi phiên chợ làng uể oải. Cô muốn nhanh thoát khỏi những ánh mắt kim châm những thì thào rờn rợn… nhưng thói đời bia miệng ngàn năm…

Về đến cổng chùa, Lụa đứng lại kéo vạt áo lên lau khô nước mắt, hít một hơi thật sâu rồi mới đẩy cửa bước vào.

- Thưa thầy… chuyện tối hôm qua… xin thầy cho con ở lại đây… đến cuối mùa Sen con sẽ xin đi.

Chùa Vân Phan nhỏ và rêu phong. Cái tên Vân Phan tự đã có từ lâu lắm. Chỉ hay rằng chùa nằm ở rìa làng Vân Du. Nơi mà người ta thường gọi là ngôi làng cổ tích. Bởi chưng bốn mùa Xuân-Hạ-Thu-Đông, đều có một lớp sương khói vấn vít vương. Và những mảnh đời nơi đây dường như cũng mong manh, mơ hồ tựa khói. Muốn vào đến làng Vân Du thì phải ngang qua một con sông nhỏ. Trên bãi bồi ẩn hiện có một ông lão cổ lai hy cắm sào con đò nơi quãng sông phủ đầy sương khói, ngồi đợi khách sang sông. Lúc vãn khách, cụ đò thường gác chèo vào chùa trong đàm đạo cùng sư thầy. Thầy Đạo Liên kính cụ, bởi thầy biết cụ không chỉ là một ông lão chèo đò, mà còn là một kẻ sĩ thông tuệ mọi lẽ ở đời. Cũng chính nhờ cụ mà Lụa mới được sống tới ngày hôm nay.

Năm đó… chừng tiết hạ, Sen đã nở khắp. Cụ đò ngang sông đưa khách vào làng, thuyền tới giữa dòng chợt khói sóng tản ra, một chiếc nôi tĩnh lặng không dập dềnh theo con sóng lăn tăn mà cứ đứng im bất động trước mũi thuyền như chờ tay cụ vớt. Bên trong nôi là một hài nhi hồng hào nằm gọn giữa vuông lụa trắng có thêu điểm những đóa sen. Đứa bé gái chợt cất tiếng khóc khi được cụ nhấc ra khỏi chiếc nôi. Tiếng khóc của nó vang lên nhưng không lẫn vào khói sóng mà nó cứ vang mãi, vang mãi… Dường như cụ đò biết rõ Lụa là con cháu nhà nào! Nhưng mỗi lần cô gượng hỏi, cụ chỉ cười mà rằng: “Chuyện xưa như phù sa lắng dưới đáy sông, con khơi lại mà chi”.

Lụa cứ lớn dần và nỗi niềm vương vấn kia ngày càng nhỏ lại. Giờ đây cô như bông Sen đang tỏa hương, khi tuổi vừa đôi tám. Ở cạnh thầy Đạo Liên, Lụa được sống trong đạo pháp. Bởi vậy mà Lụa khác những cô gái cùng trang lứa trong làng. Không những Lụa đẹp, mà vẻ đẹp của cô còn toát lên một cái gì đó sáng lắm, trong lắm.

Cả làng Vân Du duy chỉ có đôi tay Lụa mới ướp được thứ trà Sen đặc biệt. Cứ mỗi mùa Sen, cả làng ướp trà mang bán. Trà đầm làng chỉ bán được cho những người mua buôn. Còn đầm Chùa thì thường có một ít khách quen từ tỉnh thành về thăm trà. Trà Vân Phan có vị thanh và hương man mát, thoang thoảng vấn vít trong khói hương nơi cảnh chùa tĩnh lặng, siêu thoát của loại trà mang hồn, mang đạo.

Trong những người tìm đến thăm trà có họa sĩ Phan là bạn của thầy Liên khi thầy còn bôn ba bể đời. Cậu Phan kém thầy chục tuổi, nhưng do trọng đức, trọng tài nhau mà kết thân bằng hữu cho tới nay.

Mùa năm nay, Sen như thơm hơn, ngọt hơn. Lụa đang chờ đợi, chờ một điều gì đó mà lòng mình cũng chẳng biết… Chừng nửa tuần trăng, Sen đã trắng nửa đầm, thầy trò Lụa nhanh tay bận rộn hơn. Sáng nay con chim nhỏ đậu trước cổng chùa hót “Khách”, Lụa ra đầm mà lòng cứ xốn xang. Hái chừng vài chục Sen, thấy trước cổng chùa khẽ lao xao tiếng người bạch thầy, Lụa vội bơi thuyền vào bờ. Như đã nhìn thấy dáng Lụa, người ấy bước nhanh ra phía bờ đầm:

- Tôi về rồi đây!

- Cậu Phan! Sao giờ cậu mới về?

- Tôi vẫn đúng hẹn, giờ đang giữa mùa Sen.

- Em… và thầy cứ mong cậu mãi. Cậu về đợt này, tốt rồi… em muốn thưa cùng đôi câu chuyện.

Trao cho Phan bó Sen còn ướt sương mai, Lụa đón lấy chiếc ô và cặp da. Hai người bước vào cửa thiền.

- Thầy biết không! Mỗi lần về đây, được sống giữa hương Sen, tôi dường như thấy được chính mình.

- Cậu ạ! Ông đò đã nói với tôi rằng: “Gió đồng rửa mặt tha hương, ta về quê chữa vết thương giang hồ”. Lúc này, khi tâm hồn cậu còn lành lặn thì hãy cứ về vui với hoa, cũng như tôi vui cùng kinh kệ.

- Thưa thầy! Đã bao lần về đây, trong lòng mang một tâm nguyện mà chưa thỏa. Lúc buổi tinh khôi, tôi gặp cô Lụa giữa đầm chùa đẹp quá! Tôi muốn xin phép thầy cho tôi họa lại bức tranh, may chăng nắm bắt được nét đẹp tạo hóa.

Trăng đêm mênh mang, trầm bổng. Giữa đầm chùa, Lụa sáng lung linh. Ánh bạc của trăng rằm đổ tràn lên tóc, lên bờ vai, lên khuôn ngực của thiếu nữ. Thứ ánh sáng ấy khiến các đường cong trên cơ thể Lụa mềm mại hơn, rõ nét hơn và cũng huyền ảo hơn, làm cho làn hơi thở sau nếp yếm đào bồi hồi hơn. Thứ ánh sáng ấy bao bọc Lụa, bủa vây Lụa, cả người cô rực sáng một vẻ đẹp hoàn mỹ, thánh thiện nhưng cũng vô cùng mong manh.

Đáng ra vẽ Lụa vào buổi sớm mai, nay gặp khoảnh khắc này, Phan vẽ thật nhanh. Cây cọ của anh lướt trên tấm toan. Phan muốn thu trọn vào trong thanh của mình: Sự huyền ảo của trăng, cái mênh mang của đêm, khói sương vấn vít, hương Sen ảo ảnh, nhưng đặc biệt hơn, cái Phan cần chính là đây, là cái yếu ớt, mong manh tựa một làn khói mỏng toát ra từ phong thái của Lụa.

Ánh mắt họ nhìn nhau. Sự giao cảm dễ làm con người ta hiểu nhau hơn.

- Lụa ơi! Tôi đã tìm thấy rồi.

- Cậu tìm thấy gì nào?

- Tôi tìm thấy em. Một làn khói giữa nơi bình yên đến ngọt ngào này.

- Em chỉ là sương khói mỏng manh thôi sao?

- Có, em còn một đóa Sen đẹp và vô cùng bí ẩn.

- Thôi, em xin cậu! Cậu đừng phân tích em bằng ánh mắt ấy nữa.

Họ là hai tâm hồn đang cùng nhau vẽ nên bức họa đồng điệu. Phan muốn được chạm vào để cảm thấy chúng nhưng… Anh đưa Lụa tấm áo cánh.

- Em mặc vào kẻo sương đêm.

- Cậu vẽ xong rồi sao?

Vừa cài khuy áo, Lụa cố nhoài người ra phía Phan để xem bức tranh. Nhưng anh đã nhanh tay phủ lên đó một vuông lụa trắng ngà.

Phan chèo thuyền nhẹ gần lại một khóm Sen cao chừng một thước. Lụa nhoai người lên giũ trong hoa ra những cánh trà nhỏ. Những cánh trà thơm ngát hương cứ óng ánh trên đôi bàn tay cô.

Và nhiều đêm như vậy họ ở bên nhau, giữa khói sương, trăng đêm, hương trà Sen và… Tình yêu.

Mùa này, thầy Đạo Liên như thư tâm hơn để chuyên kinh kệ bởi đã có Phan cùng Lụa quản hoa, quản trà. Nhưng chợt có những lúc, thấy họ bên nhau… Phải chăng thầy đã sai lầm? Đêm nào cũng vậy, tới giờ Sửu mà chưa thấy họ lai quy là thầy lại lên gác chuông gióng ba hồi gọi.

Lại một đêm rằm nữa nhưng đây là đêm cuối cùng… Phan hiểu rằng anh sẽ không còn được thấy Lụa lung linh sáng trong mắt, như lúc này đây. Nét vẽ cuối cùng cũng đã hoàn tất. Bức tranh bừng lên trong đêm u tịch. Một đóa Sen nhỏ nhoi, mong manh, lặng lẽ, rực sáng bạc buồn.

- Tôi đã vẽ hồn em…

- Cậu…

- Tôi yêu em nhưng tôi sợ tình yêu của tôi sẽ làm em tan vỡ như làn khói mỏng.

- Không! Xin cậu hãy mang em đi thật xa khỏi cái lớp dày đặc sương này, đi khỏi cái nơi mà em muốn xé rách, đạp vỡ để được thở này.

- Tôi sợ… khi ra khỏi làng Vân Du, em sẽ tan biến và giấc mộng cổ tích của tôi sẽ…

Thế rồi trăng trốn vào mây. Họ đã đến với nhau như sương đêm ủ nồng Sen nụ… Quá Sửu, từ phía chùa vẳng lại ba hồi chuông của Đạo Liên thầy, nhưng dường như khói quyện dày đặc đã cản tiếng gọi ấy vang xa…

Sáng sớm hôm sau, Phan xuôi đò rời làng. Lụa ở lại như Sen tàn cuối vụ. Mà cũng chỉ mươi tuần nữa Sen tàn thật và khi ấy Lụa sẽ phải ra đi. Những ngày này, thầy cố thu xếp cho Lụa hành trang thật chu đáo nhưng cô thì cứ như để lạc mất hồn. Thầy Đạo Liên thấy thần sắc Lụa bất an, xem mạch tượng thì hay cô đã mang thai…

- Lụa con! Thầy có ít trà ngon muốn con mang biếu cậu Phan thay thầy…

- Dạ… con xin đi.

Vài ba bữa sau Lụa dần dà đỡ bệnh, bèn sắm sửa lên tỉnh. Chẳng hiểu thầy gửi gì trong gói lá Sen bọc trà ấy mà Phan đã không gặp Lụa. Anh chỉ sai người làm trao cho cô bức tranh dạo ấy. Lụa trở về làng Vân Du như đang đi tìm giấc mộng xa xăm nào đó.

… Đủ chín tháng mười ngày, cũng vào một đêm rằm, thầy Đạo Liên chèo thuyền đưa Lụa ra giữa đầm Chùa. Dưới trăng, trong mây thầy đón ra một cành Sen trắng… trắng lung linh trong đêm.

Được hơn tuần, Phan về như đã hẹn cùng thầy. Nhưng cổng chùa khóa chặt. Chỉ có một đứa hài nhi đang o oe khóc bên bờ đầm. Phan bế đứa trẻ được bọc trong vuông lụa trắng có thêu những bông sen nhỏ, xuôi đò rời làng Vân Du.

… Cậu ơi! Sao chẳng bao giờ cậu kể về mợ cho con nghe?

- Thụy Miên… Con có hiểu là gì không?

- Thưa! Là tên của con.

- Phải… Mợ đã sinh con ra ở một nơi mà giờ đây khi nhớ về nó chỉ là một giấc Thụy Miên-giấc mộng miên man hư vô không bao giờ trở lại.

Năm nay, tiết Hạ không nóng gắt. Cả làng Vân Du lại nhộn nhịp vào vụ trà Sen. Hôm ấy, có cô khách trên tỉnh về cứ hỏi thăm cụ đò cho kỳ được về trà Vân Phan.

- Bạch thầy! Con là tiểu nữ của cậu Phan trên tỉnh, xin về thăm trà.

Thầy Đạo Liên ngước nhìn cô gái chợt bất thần gọi: Lụa… Từ trong chùa bước ra một ni cô, trên tay cầm gói trà Sen ướp hương và bức tranh hoa Sen kỳ lạ trao cho cô gái.

- Đây là trà hương đã mười tám năm nay ủ đợi. Xin tín nữ hãy mang về để cửa thiền tĩnh lặng!

Qua mấy mùa Sen, người con gái ấy có trở lại bến sông để xuôi dòng tới làng Vân Du thăm trà nhưng hỏi ngư dân cụ đò đâu thì không ai biết. Và cũng chẳng còn ai hay làng Vân Du ở quãng nào trên sông.

Lương Minh Giang