Saturday, September 5, 2026

Hát Bài Tình Ca Lần Cuối - Nguyễn Đạm Luân

 Hát Bài Tình Ca Lần Cuối




Xa Rồi Dấu Chân Sáo Nhỏ -

 Xa rồi dấu chân sáo nhỏ

 















Theo chồng em sang sông
Anh về qua đại học
Tìm đâu ra bóng hồng
Hoa tường vi nở rộ
Lòng buồn như lập đông

Dấu chân con sáo nhỏ
Đã mất trên đường rồi
Anh quẩn quanh tìm hoài
Cửa lồng son đã khép
Tình xưa còn hay không

Giảng đường im lặng lẽ
Tường vôi lạnh vô hồn
Đâu mái tóc nghiêng nghiêng
Má đồng tiền xinh xắn
Còn hay cười không em

Đời trôi vào khoảng trống
Tình rơi vào hư không
Đôi tay vàng nhung nhớ
Bóng người trong cơn mơ
Tình sâu anh chẳng ngờ

Xa rồi bông hoa nhỏ
Xa rồi dấu chân xưa
Anh rời ngôi trường cũ
Mười năm mà chưa đủ
Trăm năm anh sẽ quên

HTC

Hoàng Tước Ve Sầu - Vũ Thế Thành

 

Hoàng tước ve sầu

Tối qua nằm nhà xem phim Tàu. Nghe một viên quan lớn than với phe phái, “Ai là hoàng tước, ai là ve sầu”. Tôi chợt nhớ câu chuyện “Hoàng tước ve sầu” đọc hồi nhỏ. Nhớ đại khái thế này:

Vũ Thế Thành

 


Ve sầu đang cất tiếng kêu rền cả mùa hè, không ngờ phía sau có con bọ ngựa đang rình rập ăn thịt mình. Bọ ngựa mải mê rình mồi lại không ngờ trên cành cây gần đó có con chim hoàng tước hiền lành đang lăm le sà xuống dùng mỏ kẹp bọ ngựa. Rồi đến lượt hoàng tước cũng không ngờ từ xa, một người thợ săn đang giương cung.

Tôi đoán, ve sầu trong chuyện hẳn là ve sầu đực, vì chỉ ve .sầu đực mới cất tiếng kêu vang rền như vậy. Nó kêu không phải vì buồn, mà đang gọi người tình. Tiếng ve rền vang cả mùa hè, hóa ra cũng chỉ là một thứ tiếng gọi yêu đương.

Con bọ ngựa chắc là con cái. Bọ ngựa cái rất hung hãn, thịt luôn bọ ngựa đực, huống chi loại côn trùng khác.

Chim hoàng tước, chẳng biết đực hay cái, rất “yểu điệu”, vậy mà lại chuyên phá đám chuyện tình của ve và bữa ăn của bọ ngựa.

Người thợ săn? Có lẽ nghĩ bụng: tối nay chắc có món chim quay.

Tôi không biết “tiểu thư” hoàng tước là chim loại gì? Ở Việt Nam có hoàng tước không? Tôi cũng không biết điển tích “hoàng tước ve sầu” bắt nguồn từ đâu bên Tàu. Múa rìu như vậy đủ rồi.

Ngẫm lại chuyện ve sầu, bọ ngựa và hoàng tước mới thấy đời cũng vậy. Ai cũng tưởng mình là hoàng tước, đứng trên cao nhìn xuống, nhưng có khi mình chỉ là bọ ngựa trong con mắt người khác. Hoàng tước nghĩ mình là nữ đế chăng?

Một chuỗi ham muốn, săn đuổi, rồi bị săn đuổi. Ve sầu chết vì tình, bọ ngựa chết vì ăn, hoàng tước chết vì tham. Còn người thợ săn với món chim quay, liệu có phải là người cuối cùng trong chuỗi.

Thôi thì, quan nhất thời, dân vạn đại. Nâng ly, “Tiêu khiển một vài chung lếu láo.

Vũ Thế Thành

304Đen – llttm - sgtc

 

 

Nổi Đau ...Một Mình - Phương Khanh Phạm

 nỗi đau… một mình…

 













thế là xa
là không còn gần nữa
cơn đau này nhức buốt lắm, em ơi !

mênh mông quá
khoảng trống còn ở lại
đâu ánh nhìn, đâu dáng nhỏ loanh quanh ?

những buổi sáng
những buổi chiều quạnh quẽ
những đêm về lặng lẽ một mình ta

nhớ em
ta nhớ em, em ạ

ngày vui mới hôm nào… đã thành cũ rồi sao ?
ta ngồi đây gậm nhấm nỗi hư hao
và canh cánh những lao đao sắp tới

nhưng ta hứa với em,
hãy để cho ta nợ em một lời hứa…

vì con,
nhờ em,
ta sẽ mạnh dạn đứng lên
như hai ta bao lần tưởng gục ngã đã vươn lên

ý chí đó
thì sa chước nào cám dỗ !

ta cầu bằng an cho em
nơi nước Trời vui hưởng Thánh Nhan Cha
hãy cầu bằng an cho ta, cho con cùng cháu
cõi thế trần, sống như vẫn có em

viết với nỗi lòng của Bõ

Phương Khanh Phạm
Nguồn : FB PK PHam

Đi Tết Thầy - Nguyễn Khoa Đăng

 

Đi Tết Thầy




Sáng ba mươi, đang vui với tám quân bài tam cúc mới được chia đỏ rực bộ ba "tướng sĩ tượng", thì bố tôi đưa cho gói quà tết bọc giấy điều:

- Lớn rồi, tết này con đi tết thầy một mình! chẳng có gì. Cặp bánh chưng với cân đường gọi là.

- Tôi gật đầu nhưng bụng rất run. Tôi vốn là đứa trẻ nhút nhát. Chưa dám đến nhà ai một mình. Kể chi nhà thầy giáo có tiếng nghiêm khắc như thầy tôi. Thành ra trên đường có bao nhiêu cái vui của ngày tết mà tôi chả thiết gì. Tranh gà, tranh lợn, tố nữ, đu xuân. Lại có chỗ trẻ con đá bóng. Chiếc bọng đái của con lợn tết phơi khô thổi hơi vào căng cứng, chân chạm đến nẩy câng câng. Tôi cũng chả thiết!

Tôi đi thật chậm nhưng rồi cũng đã đến cổng nhà thầy. Đã mấy lần giơ bàn tay nhỏ bé định đập nên đó nhưng cả mấy lần tôi đều rụt lại. Sợ quá. ước gì có ai đó ra mở cổng. Tôi sẽ dúi vào tay cái khối nặng nề này rồi ù té chạy đi. Nhưng chờ mãi chả thấy. Chỉ thấy còn cách là quay về. Rồi muốn ra sao thì ra!

Đường về, tôi đếm từng bước một. Đã đến quán nước bà Ngải, một bà lão sống mỗi một mình từ hồi nào. A! phải rồi! Tôi rẽ vào quán, đặt vội lên đôi bàn tay nhăn nheo run run của bà gói quà tết:

-Thầy u cháu....

-Bà lặng người đi. Cái miệng móm mấp máy:

- Đa tạ ông bà...

- Xong việc, tôi về đến nhà, mặc dù tự trấn an: "Thấy giáo thì thiếu gì quà tết" nhưng vẫn cứ thấy bứt rứt. Tâm trạng của người vừa phạm tội, vừa không. Bố tôi không nhận ra điều ấy nên đã reo lên khi thấy tôi về

- Thằng này giỏi! Tết thầy một mình!

Bố tôi càng khen, tôi lại càng nơm nớp chờ đợi...

Ngày mồng một, điều ấy không đến, may sao!

Ngày mồng hai, lạy trời, cũng thế. Nhưng...

Vừa mới sáng bảnh mắt, bà cụ Ngải đã xồng xộc bước vào nhà, miệng rối rít:

- Năm mới kính chúc ông bà làm ăn phát đạt bằng năm bằng mười năm ngoái...

Tôi chạy tọt vào buồng. Tim thắt lại. Bà ơi, bà đừng nói cái chuyện hôm trước bà nhé.

- Sau nữa xin cảm ơn ông bà có lòng nghĩ tới kẻ nghèo hèn như tôi. Cặp bánh ông bà cho, nó không phải bằng gạo, bằng thịt đâu, bằng vàng đấy ạ!

Tôi tái người, chỉ còn biết ngồi sụp xuống chờ ăn đòn. Quả không sai, bố tôi nghiêm mặt nhìn tôi sau lúc bà Ngải về:

- Vậy là thế nào?

Tôi nghĩ ngay được câu biến báo:

- Dạ, thầy con nhận rồi sai con tết lại bà...

- Thật không?

- Thật ạ!

- Được rồi, để tao xem lại!

Bố tôi rất ghét nói dối, xưa nay đã nói là ông làm, tôi chỉ còn biết cầu mong bố tôi quên việc đến gặp thầy. Mà rồi sau đó bố tôi quên thật. Có lẽ nhờ mải mê lau chùi những món đồ thờ. Bố tôi đã vừa làm vừa đọc lên những câu đối tiếu lâm làm cả nhà cùng cười. Tôi tạm yên dạ.

Ngoài sân bỗng vang lên tiếng chào. Tôi giật mình nhìn ra và tái mặt. Thầy tôi. Trời ơi, làm sao thầy lại đến nhà tôi vào giữa lúc này!

Tôi nhảy tọt vào buồng run còn hơn buổi sáng. Tôi nghe thầy nói:

- Có hộp mứt đến mừng tuổi ông bà. Cũng là cảm ơn ông bà đã cho bánh tết. Gớm, bánh gói khéo quá. Vừa chặt tay lại vừa đẹp.

Tôi không tin ở lỗ tai của mình, vội lẻn ra khỏi buồng, chạy thẳng một mạch tới quán bà Ngải. Trên mảnh gỗ lâu nay vẫn được làm bàn thờ tổ tiên của bà vẫn là cặp bánh chưng nhà tôi lại thêm hộp mứt giống hệt cái hộp thầy vừa mừng tuổi bố mẹ tôi. Chẳng để tôi kịp hỏi bà Ngải đã a lên:

- Cậu. Bữa cho quà, cậu bỏ quên lá thơ. Lão nhờ người đọc mới biết thơ thầy u cậu gửi cho ông giáo. Lão vội đưa tới ông giáo ngay, nhân dịp biếu ông giáo chục cam. Cảm ơn ông giáo dạy học trò biết nhớ đến người nghèo. Ông giáo nhận thơ lại còn cho mứt. Quý hoá quá!

Vậy là còn lá thư trong gói quà tết tôi nào biết. Nhưng tôi biết, thầy tôi đã đọc thư, đã rõ hết chuyện, đã đỡ đòn cho tôi. Nếu không, phải ăn đòn ngày tết thì giông cả năm. Có khi cả đời.

Nguyễn Khoa Đăng

Sinh Nhật Tự Trào - Vườn Thơ Mới Xướng Họa

 THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 195_VƯỜN THƠ MỚI

 


 

 















Xướng:

 

Sinh nhựt tự trào

Bảy mươi đời gọi cổ lai hy.
Mặn nhạt chua cay chẳng thiếu gì.
Sóng biển lặng yên mòn mắt đợi,
Đường trần đèo dốc mỏi chân đi.
An bần lạc đạo thôi đành vậy,
Ngoạn thủy du sơn đặng mấy khi.
Nắn nót cung đàn vui tuổi hạc,
Tri âm trao gửi mấy vần thi.

Minh Tâm

 

Họa 1:

 

Tự tình

Tuổi hạc vừa qua thất thập hy
Gần xa bạn hửu ước mong gì
Trà mai rượu tối cùng nhau hội
Vũ khúc đàn ca mỗi cặp đi
Biển mặn muôn đời vươn sóng vỗ
Rừng xanh mấy thủa đứng yên khi
Nương làn gió nhẹ tìm tri kỷ
Bốn biển tương tình lược nét thi.


Tâm Quã

Họa 2:

 

Thế Sự 

 

Thắm thoát tuổi đời quá cổ hy 

Vinh hoa phú quý chẳng lo gì 

Ngọt bùi thế sự không lường được 

Mặn đắng thăng trầm phải bước đi 

Xứ lạ quê người đành chấp nhận 

Rũi may định mệnh đến đôi khi 

Cuộc đời chọn lựa nào ai biết 

Hiện tại an nhàn xướng họa thi 

 

Hương Lệ Oanh VA 

Aug, 12. 2026

 

Họa 3:

 

Yên bình

Trung Quốc rạng ngời Đại đế Hy
Cơm no áo ấm chẳng lo gì
Thanh bình dân chúng hằng chờ đợi
Đói khổ mọi người vội tiễn đi
Vận chuyển cơ trời giờ được vậy
Đổi thay vận nước có đôi khi
Bước chân rón rén vào tuổi hạc
Thơ thẩn lôm côm nẽo vườn thi
THT

 

Đại đế Hy: Khang Hy đại đế, tên thật Ái Tân Giác La Huyền Diệp  愛新覺羅玄燁. Sinh năm 1654 và mất năm 1722.

Ông là vị hoàng đế thứ 3 của nhà Thanh và trị vì trong 61 năm (1661–1722). 
Trong thời gian trị vì, ông dùng niên hiệu Khang Hy
康熙

Ông được đánh giá là một trong những vị hoàng đế vĩ đại nhất lịch sử Trung Quốc và được xưng tụng là Khang Hy Đại đế 康熙大帝

 

Họa 4:

Thanh thản

Đỗ Phũ “Khúc giang” luận cổ hy
Nhắc về nợ rượu quản làm gì
Thời gian trầm bổng làm mù quáng

Cuộc sống gian truân vững gót đi
Thanh thản giúp đời luôn giữ đạo
Hiểu lầm suy thoái tránh ngàn khi
Chu du sơn thủy cùng năm tháng
Thi tửu cầm kỳ với họa thi

PTL

cổ hy
古稀: xưa nay ít có. Ý nói ít có người bảy chục tuổi.
Đỗ Phủ 
杜甫 trong bài Khúc Giang kỳ 2 曲江

其二  có câu:

Tửu trái tầm thường hành xứ hữu,

酒債尋常行處有,
Nhân sanh thất thập cổ lai hy
人生七十古來稀

Nghĩa là :

Nợ rượu là chuyện tầm thường nơi nào chẳng có, 

Từ xưa đến nay người đời ít ai sống được bảy mươi tuổi

Họa 5:

Vong quốc Tự Trào

Nay thời chớ nói Cổ Lai Hy
Thọ tới trăm năm chẳng hiếm gí !
Mặc kệ ai sầu đau ngóng đợi
Vô tình họ hảnh diện bước đi.
Thế gian suy kiệt thôi đành vãy
Nghĩa khí hùng anh được mấy khi !
Vong quốc làm sao vui tuổi hạc
Tri âm ngào nghẹn mấy vần thi !

 

Hàn Thiên Lương

 

Họa 6:

 

Tuổi già an nhiên

Tuổi vãng sương pha hóa cổ hy,
Đời người mộng ảo tiếc làm gì.
Mây ngàn gió cuốn mờ con mắt,
Dốc thẳm đèo cao mỏi gối đi.
Lòng đạo an nhiên vui cảnh vậy,
Duyên thơ thưởng ngoạn đặng muôn khi.
Ngâm nga thơ phú quên ngày tháng,

Tri kỷ đợi người để họa thi.
AI

 

 

 

 

 

 

Mùa Cuối - Lương Minh Giang

 Mùa Cuối...















- Lụa!

- Dạ! Thưa thầy cho gọi con.

- Con ngồi xuống đây… ta có chuyện dạy.

- Con xin nghe.

- Năm nay con đã đôi tám rồi nhỉ?… Có lẽ… à…

- Thưa… thầy có điều gì phiền muộn khó nói?

- À… chẳng là cái tiếng thị phi. Con đã lớn… nay ở trong chùa không tiện… ta cũng thật có lỗi với con… nhưng…

Lụa nước mắt lưng tròng nghẹn ngào:

- Thầy ơi! Thiên hạ nghĩ sao mặc họ chỉ xin thầy thương lấy con!

Sư thầy Đạo Liên lặng lẽ thở dài, trở bước. Bóng Lụa gục đổ theo ánh sáng ngọn đèn dầu.

Đêm ấy cả sư thầy và Lụa cùng không ngủ được. Qua tấm vách Lụa khẽ thở dài khi nghe tiếng thầy trở mình khó nhọc. Chưa tới ngũ tuần nhưng thầy dường như đã quá già. Ngoài trời bắt đầu gió lạnh mang theo cái hơi nồng nồng, ngai ngái. Cơn mưa đầu hạ ập xuống. Sấm chớp ì ùng. Đâu đó trong không gian man mát thoảng mùi hương rất khẽ.

Từ sáng sớm, Lụa đã chèo chiếc thuyền lá ra giữa đầm Chùa hái những bông Sen đầu tiên của Hạ. Hương Sen thơm nhẹ cứ vấn vít quấn vào tóc cô gái đương xuân. Sau đêm mưa cả đầm xanh lá, giờ lác đác vài bông hoa trắng… thật nhẹ, thật thanh khiết. Lụa biết ngay mà… “Sen đầu mùa dâng lên Tam Bảo í hẳn thầy sẽ vừa lòng”. Nghĩ vậy Lụa cười khẽ một mình rồi chèo thuyền vào bờ.

- Thưa thầy! Con đã dâng Bạch Liên lên Tam Bảo. Mời thầy lên khóa lễ!

- Đã có Sen rồi sao?… Đêm qua mưa, hẳn nào…

- Dạ… Con xin phép thầy, gạo, muối, củi, dầu trong chùa đã cạn.

- Ừ! Con đi chóng về chả thầy lại lo…

Những điều người đời nói đâu phải Lụa không hay. Cô biết cả. Nếu giờ đây cô ra đi, để giữ tiếng cho thầy cũng được thôi… nhưng biết đi đâu. Về đâu? Một đứa trẻ mồ côi. À không! Phải nói là bị bỏ rơi mới đúng. Chùa Vân Phan là mái ấm, là gia đình, và thầy Đạo Liên là người thân duy nhất của Lụa. Nhưng tránh sao khỏi điều tiếng thế gian…

Nhanh chóng tìm đủ những thứ cần thiết, Lụa rời khỏi phiên chợ làng uể oải. Cô muốn nhanh thoát khỏi những ánh mắt kim châm những thì thào rờn rợn… nhưng thói đời bia miệng ngàn năm…

Về đến cổng chùa, Lụa đứng lại kéo vạt áo lên lau khô nước mắt, hít một hơi thật sâu rồi mới đẩy cửa bước vào.

- Thưa thầy… chuyện tối hôm qua… xin thầy cho con ở lại đây… đến cuối mùa Sen con sẽ xin đi.

Chùa Vân Phan nhỏ và rêu phong. Cái tên Vân Phan tự đã có từ lâu lắm. Chỉ hay rằng chùa nằm ở rìa làng Vân Du. Nơi mà người ta thường gọi là ngôi làng cổ tích. Bởi chưng bốn mùa Xuân-Hạ-Thu-Đông, đều có một lớp sương khói vấn vít vương. Và những mảnh đời nơi đây dường như cũng mong manh, mơ hồ tựa khói. Muốn vào đến làng Vân Du thì phải ngang qua một con sông nhỏ. Trên bãi bồi ẩn hiện có một ông lão cổ lai hy cắm sào con đò nơi quãng sông phủ đầy sương khói, ngồi đợi khách sang sông. Lúc vãn khách, cụ đò thường gác chèo vào chùa trong đàm đạo cùng sư thầy. Thầy Đạo Liên kính cụ, bởi thầy biết cụ không chỉ là một ông lão chèo đò, mà còn là một kẻ sĩ thông tuệ mọi lẽ ở đời. Cũng chính nhờ cụ mà Lụa mới được sống tới ngày hôm nay.

Năm đó… chừng tiết hạ, Sen đã nở khắp. Cụ đò ngang sông đưa khách vào làng, thuyền tới giữa dòng chợt khói sóng tản ra, một chiếc nôi tĩnh lặng không dập dềnh theo con sóng lăn tăn mà cứ đứng im bất động trước mũi thuyền như chờ tay cụ vớt. Bên trong nôi là một hài nhi hồng hào nằm gọn giữa vuông lụa trắng có thêu điểm những đóa sen. Đứa bé gái chợt cất tiếng khóc khi được cụ nhấc ra khỏi chiếc nôi. Tiếng khóc của nó vang lên nhưng không lẫn vào khói sóng mà nó cứ vang mãi, vang mãi… Dường như cụ đò biết rõ Lụa là con cháu nhà nào! Nhưng mỗi lần cô gượng hỏi, cụ chỉ cười mà rằng: “Chuyện xưa như phù sa lắng dưới đáy sông, con khơi lại mà chi”.

Lụa cứ lớn dần và nỗi niềm vương vấn kia ngày càng nhỏ lại. Giờ đây cô như bông Sen đang tỏa hương, khi tuổi vừa đôi tám. Ở cạnh thầy Đạo Liên, Lụa được sống trong đạo pháp. Bởi vậy mà Lụa khác những cô gái cùng trang lứa trong làng. Không những Lụa đẹp, mà vẻ đẹp của cô còn toát lên một cái gì đó sáng lắm, trong lắm.

Cả làng Vân Du duy chỉ có đôi tay Lụa mới ướp được thứ trà Sen đặc biệt. Cứ mỗi mùa Sen, cả làng ướp trà mang bán. Trà đầm làng chỉ bán được cho những người mua buôn. Còn đầm Chùa thì thường có một ít khách quen từ tỉnh thành về thăm trà. Trà Vân Phan có vị thanh và hương man mát, thoang thoảng vấn vít trong khói hương nơi cảnh chùa tĩnh lặng, siêu thoát của loại trà mang hồn, mang đạo.

Trong những người tìm đến thăm trà có họa sĩ Phan là bạn của thầy Liên khi thầy còn bôn ba bể đời. Cậu Phan kém thầy chục tuổi, nhưng do trọng đức, trọng tài nhau mà kết thân bằng hữu cho tới nay.

Mùa năm nay, Sen như thơm hơn, ngọt hơn. Lụa đang chờ đợi, chờ một điều gì đó mà lòng mình cũng chẳng biết… Chừng nửa tuần trăng, Sen đã trắng nửa đầm, thầy trò Lụa nhanh tay bận rộn hơn. Sáng nay con chim nhỏ đậu trước cổng chùa hót “Khách”, Lụa ra đầm mà lòng cứ xốn xang. Hái chừng vài chục Sen, thấy trước cổng chùa khẽ lao xao tiếng người bạch thầy, Lụa vội bơi thuyền vào bờ. Như đã nhìn thấy dáng Lụa, người ấy bước nhanh ra phía bờ đầm:

- Tôi về rồi đây!

- Cậu Phan! Sao giờ cậu mới về?

- Tôi vẫn đúng hẹn, giờ đang giữa mùa Sen.

- Em… và thầy cứ mong cậu mãi. Cậu về đợt này, tốt rồi… em muốn thưa cùng đôi câu chuyện.

Trao cho Phan bó Sen còn ướt sương mai, Lụa đón lấy chiếc ô và cặp da. Hai người bước vào cửa thiền.

- Thầy biết không! Mỗi lần về đây, được sống giữa hương Sen, tôi dường như thấy được chính mình.

- Cậu ạ! Ông đò đã nói với tôi rằng: “Gió đồng rửa mặt tha hương, ta về quê chữa vết thương giang hồ”. Lúc này, khi tâm hồn cậu còn lành lặn thì hãy cứ về vui với hoa, cũng như tôi vui cùng kinh kệ.

- Thưa thầy! Đã bao lần về đây, trong lòng mang một tâm nguyện mà chưa thỏa. Lúc buổi tinh khôi, tôi gặp cô Lụa giữa đầm chùa đẹp quá! Tôi muốn xin phép thầy cho tôi họa lại bức tranh, may chăng nắm bắt được nét đẹp tạo hóa.

Trăng đêm mênh mang, trầm bổng. Giữa đầm chùa, Lụa sáng lung linh. Ánh bạc của trăng rằm đổ tràn lên tóc, lên bờ vai, lên khuôn ngực của thiếu nữ. Thứ ánh sáng ấy khiến các đường cong trên cơ thể Lụa mềm mại hơn, rõ nét hơn và cũng huyền ảo hơn, làm cho làn hơi thở sau nếp yếm đào bồi hồi hơn. Thứ ánh sáng ấy bao bọc Lụa, bủa vây Lụa, cả người cô rực sáng một vẻ đẹp hoàn mỹ, thánh thiện nhưng cũng vô cùng mong manh.

Đáng ra vẽ Lụa vào buổi sớm mai, nay gặp khoảnh khắc này, Phan vẽ thật nhanh. Cây cọ của anh lướt trên tấm toan. Phan muốn thu trọn vào trong thanh của mình: Sự huyền ảo của trăng, cái mênh mang của đêm, khói sương vấn vít, hương Sen ảo ảnh, nhưng đặc biệt hơn, cái Phan cần chính là đây, là cái yếu ớt, mong manh tựa một làn khói mỏng toát ra từ phong thái của Lụa.

Ánh mắt họ nhìn nhau. Sự giao cảm dễ làm con người ta hiểu nhau hơn.

- Lụa ơi! Tôi đã tìm thấy rồi.

- Cậu tìm thấy gì nào?

- Tôi tìm thấy em. Một làn khói giữa nơi bình yên đến ngọt ngào này.

- Em chỉ là sương khói mỏng manh thôi sao?

- Có, em còn một đóa Sen đẹp và vô cùng bí ẩn.

- Thôi, em xin cậu! Cậu đừng phân tích em bằng ánh mắt ấy nữa.

Họ là hai tâm hồn đang cùng nhau vẽ nên bức họa đồng điệu. Phan muốn được chạm vào để cảm thấy chúng nhưng… Anh đưa Lụa tấm áo cánh.

- Em mặc vào kẻo sương đêm.

- Cậu vẽ xong rồi sao?

Vừa cài khuy áo, Lụa cố nhoài người ra phía Phan để xem bức tranh. Nhưng anh đã nhanh tay phủ lên đó một vuông lụa trắng ngà.

Phan chèo thuyền nhẹ gần lại một khóm Sen cao chừng một thước. Lụa nhoai người lên giũ trong hoa ra những cánh trà nhỏ. Những cánh trà thơm ngát hương cứ óng ánh trên đôi bàn tay cô.

Và nhiều đêm như vậy họ ở bên nhau, giữa khói sương, trăng đêm, hương trà Sen và… Tình yêu.

Mùa này, thầy Đạo Liên như thư tâm hơn để chuyên kinh kệ bởi đã có Phan cùng Lụa quản hoa, quản trà. Nhưng chợt có những lúc, thấy họ bên nhau… Phải chăng thầy đã sai lầm? Đêm nào cũng vậy, tới giờ Sửu mà chưa thấy họ lai quy là thầy lại lên gác chuông gióng ba hồi gọi.

Lại một đêm rằm nữa nhưng đây là đêm cuối cùng… Phan hiểu rằng anh sẽ không còn được thấy Lụa lung linh sáng trong mắt, như lúc này đây. Nét vẽ cuối cùng cũng đã hoàn tất. Bức tranh bừng lên trong đêm u tịch. Một đóa Sen nhỏ nhoi, mong manh, lặng lẽ, rực sáng bạc buồn.

- Tôi đã vẽ hồn em…

- Cậu…

- Tôi yêu em nhưng tôi sợ tình yêu của tôi sẽ làm em tan vỡ như làn khói mỏng.

- Không! Xin cậu hãy mang em đi thật xa khỏi cái lớp dày đặc sương này, đi khỏi cái nơi mà em muốn xé rách, đạp vỡ để được thở này.

- Tôi sợ… khi ra khỏi làng Vân Du, em sẽ tan biến và giấc mộng cổ tích của tôi sẽ…

Thế rồi trăng trốn vào mây. Họ đã đến với nhau như sương đêm ủ nồng Sen nụ… Quá Sửu, từ phía chùa vẳng lại ba hồi chuông của Đạo Liên thầy, nhưng dường như khói quyện dày đặc đã cản tiếng gọi ấy vang xa…

Sáng sớm hôm sau, Phan xuôi đò rời làng. Lụa ở lại như Sen tàn cuối vụ. Mà cũng chỉ mươi tuần nữa Sen tàn thật và khi ấy Lụa sẽ phải ra đi. Những ngày này, thầy cố thu xếp cho Lụa hành trang thật chu đáo nhưng cô thì cứ như để lạc mất hồn. Thầy Đạo Liên thấy thần sắc Lụa bất an, xem mạch tượng thì hay cô đã mang thai…

- Lụa con! Thầy có ít trà ngon muốn con mang biếu cậu Phan thay thầy…

- Dạ… con xin đi.

Vài ba bữa sau Lụa dần dà đỡ bệnh, bèn sắm sửa lên tỉnh. Chẳng hiểu thầy gửi gì trong gói lá Sen bọc trà ấy mà Phan đã không gặp Lụa. Anh chỉ sai người làm trao cho cô bức tranh dạo ấy. Lụa trở về làng Vân Du như đang đi tìm giấc mộng xa xăm nào đó.

… Đủ chín tháng mười ngày, cũng vào một đêm rằm, thầy Đạo Liên chèo thuyền đưa Lụa ra giữa đầm Chùa. Dưới trăng, trong mây thầy đón ra một cành Sen trắng… trắng lung linh trong đêm.

Được hơn tuần, Phan về như đã hẹn cùng thầy. Nhưng cổng chùa khóa chặt. Chỉ có một đứa hài nhi đang o oe khóc bên bờ đầm. Phan bế đứa trẻ được bọc trong vuông lụa trắng có thêu những bông sen nhỏ, xuôi đò rời làng Vân Du.

… Cậu ơi! Sao chẳng bao giờ cậu kể về mợ cho con nghe?

- Thụy Miên… Con có hiểu là gì không?

- Thưa! Là tên của con.

- Phải… Mợ đã sinh con ra ở một nơi mà giờ đây khi nhớ về nó chỉ là một giấc Thụy Miên-giấc mộng miên man hư vô không bao giờ trở lại.

Năm nay, tiết Hạ không nóng gắt. Cả làng Vân Du lại nhộn nhịp vào vụ trà Sen. Hôm ấy, có cô khách trên tỉnh về cứ hỏi thăm cụ đò cho kỳ được về trà Vân Phan.

- Bạch thầy! Con là tiểu nữ của cậu Phan trên tỉnh, xin về thăm trà.

Thầy Đạo Liên ngước nhìn cô gái chợt bất thần gọi: Lụa… Từ trong chùa bước ra một ni cô, trên tay cầm gói trà Sen ướp hương và bức tranh hoa Sen kỳ lạ trao cho cô gái.

- Đây là trà hương đã mười tám năm nay ủ đợi. Xin tín nữ hãy mang về để cửa thiền tĩnh lặng!

Qua mấy mùa Sen, người con gái ấy có trở lại bến sông để xuôi dòng tới làng Vân Du thăm trà nhưng hỏi ngư dân cụ đò đâu thì không ai biết. Và cũng chẳng còn ai hay làng Vân Du ở quãng nào trên sông.

Lương Minh Giang

 

 

 

Monday, August 31, 2026

Cái Địa Chỉ Tình - Thuyên Huy

 

Cái Địa Chỉ Tình




 

     Chiều thứ bảy, trời và phố xá Sài Gòn vẫn vậy, cũng hai ba cơn mưa bất chợt, vội đến rồi vội đi, cũng người đuổi chân người, ngựa xe rộn rịp ngược xuôi, có quen có lạ trên vĩa hè rộng thênh thang hai bên đường, đường lên đường xuống.

    Anh ngồi đó, ngay cái bàn thấp của tiệm kem Mai Hương, ngã tư, ngó qua rạp chiếu bóng Casino quen, không thấy người chờ vào xem, vắng, đủ cho cô gái bán vé che miệng ngáp dài thoải mái, một cặp tình nhân còn rất trẻ nắm tay nhau, lắc lư theo nhịp chân đi, ngang qua, nhìn vào cười, anh cũng nhìn ra cười đáp lễ nhưng không biết cái cười của vui hay của buồn.

*

    Anh cứ ngồi đó, đọc cái địa chỉ trên tấm giấy nhỏ màu xanh lá mạ, rồi ngó ra đường chờ, đường vẫn đông người quần là áo lụa, muôn màu muôn sắc, không phải là chờ ai, mà dường như là chờ để bỏ đi. Tấm giấy cất trong bóp, từ tay của người con gái tiếp viên Air Viet Nam vừa quen đưa, có cái tên ngồ ngộ “Ly Cơ”, trên chuyến bay giữa trưa từ Đà Lạt về Sài Gòn, hôm anh về nhà nghỉ vài ngày phép.

    Chuyến bay vắng khách, anh không khỏe cho lắm vì mấy ngày bị cảm lạnh, chưa quen với mưa rừng gió núi của trời cao nguyên, anh được cô nàng săn sóc tận tình, đủ thứ, thuốc men nước uống, ngồi ghế trống bên cạnh, hai ba cô khác cũng rảnh rổi, đi qua đi lại, mớ hành khách lác đác ghế này ghế kia, không ai kêu ai gọi, liếc mắt cười che miệng, anh và cô hỏi thăm nhau vài chuyện, chuyện mình chuyện người rồi quen nhau, quen nhau không chờ không đợi.

*

    Máy bay đáp, Ly Cơ theo tiễn anh ra tới đường, ở đó cũng như anh, cô nàng trao tấm giấymàu xanh lá mạ nhỏ, hẹn gặp lại mà không hứa là bao giờ. Ngồi trên taxi, nhìn lại sau, chuyến xe của hảng hàng không đưa đón nhân viên, phi hành đoàn vừa tới chờ, anh ngẫn ngơ, hồn tưởng chừng như ở lại trên chuyến bay, chuyến bay không hẹn “người ơi gặp gỡ làm chi”.

*

   Cũng còn may, ngày phép không nhiều, muốn kịp về tỉnh nhà ngay hôm nay, tới bến xe, xuống taxi, chiếc xe đò chót chưa chạy, anh cười môt mình, đã có nhiều khách chờ, người đứng người ngồi, đồ đạc ngổn ngang, nghe anh lơ nói còn lâu, chừng hơn một tiếng nữa mới chạy, anh bỏ vào cái quán bán cơm cuối bến, ngồi nhìn ra đường, trời nắng hơn, ăn dĩa cơm xế trưa cho chắc bụng. Chiếc xe xích lô không khách, người chạy xe già, ngáp dài, chân đạp bước rời bước rã. Chiều Sài Gòn còn nắng.

*

    Về nhà, không vội không vàng, thấy ba má vẫn mạnh lành như trước, tuy tóc già đã có chút hoa râm, cũng chuyện này chuyện nọ, chuyện đời chuyện tình, cứ vậy mà cũng chưa đủ cho hai ngày nghĩ phép. Rồi anh trở xuống Sài gòn, hẹn ba má về lại lần sau. Ông bà cũng đưa anh ra đường chờ xe như những lần trước, gởi theo anh nụ cười tươi trọn vẹn, nụ cười từ ngày anh còn học trường tỉnh vẫn vậy cho tới bây giờ.

*

    Nắng dịu hơn, trời đứng gió, rạp chiếu bóng đông người trở lại, anh đứng dậy, quyết định bỏ đi, nhẩm đọc thầm địa chỉ trên tờ giấy, phải tới đó vì ngày mai sẽ trở ra chỗ làm, cho dù có được việc như mình thầm mong hay không.

    Đứng chờ đèn xanh đỏ qua đường, nghe có tiếng gọi mẹ dễ thương, anh quay lại sau, tay dắt con bé độ ba bốn tuổi, đứng khựng lại, người con gái ngẩn đầu lên, ngạc nhiên, tròn mắt, cả hai cùng gọi tên, bổng dưng trời Sài Gòn chợt mát. Ly Cơ chỉ về hướng bải giữ xe phía quốc hội, cho biết tính lấy xe chở con bé tới tìm anh, còn anh cũng chờ băng qua đường đón taxi tới nhà cô nàng.

*

    Hai người lớn nắm tay con bé đi hai bên, không ai nói gì hết mà cũng không biết phải nói gi đây, chỉ nhìn nhau cười, cái cười bắt đầu cho một câu chuyện, câu chuyện từ một cái địa chỉ, anh thì thầm, hy vọng không phải là một câu chuyện buồn. Chuông thánh lễ chiều nhà thờ Đức Bà vừa chầm chậm lên, đôi chim hoang bên nhau ríu rít, lăng tăng theo sau, nắng chiều buông nhè nhẹ hồng xuống cả một khoảng sân rộng. Sài Gòn vui lây.

Thuyên Huy

Để tặng một người tiếp viên hàng không Air VN có thật và một chuyện tình không có thật

Ngày Em Làm Ni Cô - tvu

 Ngày Em Làm Ni Cô

 


 














ngày em thề xuống tóc
khoác áo làm ni cô
con chim nào bật khóc
trên đỉnh tháp chuông chùa

em quỳ trên chánh điện
dáng từ, tâm Quan Âm
anh náu thân thiền viện
mong nhận chút ơn thầm

lòng đại dương bát ngát
em yêu hết muôn loài
anh nhỏ nhoi hạt cát
chỉ yêu một người thôi

em niệm hương quán tưởng
cầu nguyện muôn sanh linh
anh dâng hoa chiêm ngưỡng
khấn vái một chút tình

em hành thâm Bát nhã
thấy năm uẩn đều không
anh tâm còn chấp ngã
tụng kinh thấy bóng hồng…

em chuông vàng, khánh ngọc
một đời trọn hạnh ni
anh hồn gai tâm góc
sa đọa ngục A tỳ

ngày em thề xuống tóc
nhập tự làm ni cô
anh đêm ngày trằn trọc
tín đồ, ôi, tội đồ…

tvu (12/02/03)

Hai Mưa Nắng - Khuyết Danh

 

Hai Mưa Nắng




 

Người ta gọi ông Hai Tường với cái tên là Hai Mưa Nắng, không phải vì tánh tình ông dễ dàng thay đổi… sáng nắng chiều mưa mà do ông có biệt tài xem thiên văn để đoán thời tiết.
Mười bốn tuổi, mồ côi cha mẹ, Hai Tường rời làng quê Tân Trụ tha phương cầu thực tận đất Thủ Dầu Một, Bình Dương. Ở đây, Hai Tường vào làm công cho một lò gốm. Công việc của Hai Tường là nhào đất mang sản phẩm ra phơi hoặc đem vào lò nung. Công việc tuy có phần nặng nhọc nhưng Hai Tường không hề than van, vì có cơm ngày hai buổi đã là điều đáng mừng.
Lò gốm Thiên Sanh, nơi Hai Tường làm, ngoài lao động phổ thông còn có thợ đốt lò, thợ vẽ gốm và đặc biệt là cái nghề nhìn trời để đoán nắng mưa. Thời đó, đâu có đài khí tượng thủy sản thông báo nắng mưa cho người dân biết nên đối với một lò gốm thì ông thầy đoán nắng mưa luôn giữ một vai trò cực kỳ quan trọng. Vì thế, ông thầy chỉ suốt ngày uống trà, thỉnh thoảng chắp tay sau lưng ra sân ngước mặt nhìn trời rồi nói như phán truyền:
– Lát nữa sẽ có mưa, bảo mọi người mau đem đồ gốm vào!
Nếu không nghe lời ông thầy, khi mưa không kịp dọn những món đang phơi vào, kể như bao nhiêu công lao nhào nắn sẽ trở thành đất nhão. Ông thầy mưa nắng của lò gốm Thiên Sanh gốc người ở đảo Hải Nam bên Tàu. Ông thầy nói tiếng Việt khá rành nhưng giọng còn trọ trẹ. Thấy Hai Tường là một thiếu niên hiền lành và chịu khó, ông thầy có lòng thương. Một buổi chiều, cơm nước, tắm rửa xong xuôi, ông thầy nói với Hai Tường:
– Ta không vợ không con, nghề nghiệp rồi đây chắc sẽ thất truyền. Nếu con bằng lòng, ta sẽ truyền nghề cho.
Mừng còn hơn lượm được vàng bạc, Hai Tường lính quýnh quỳ xuống lạy ông Tàu già ba lạy, tôn làm sư phụ. Những lúc Hai Tường rỗi rảnh, ông Tàu già thường kéo anh ra gốc khế sau nhà để truyền nghề. Có lần ông nói:
-Nghề bói nắng mưa, ngoài con mắt nhìn trời còn phải biết tận dụng hết tất cả các giác quan. Lỗ tai phải nghe gió thổi, mũi hít mùi không khí, da nghe ấm lạnh. Tóm lại, phải biết hòa nhập tinh thần và thể chất vào thiên nhiên. Tự thân với thiên nhiên là một, vũ trụ với ta là một để hiểu sự biến đổi của đất trời.
Hai Tường ngồi nghe sư phụ giảng như vịt nghe sấm, ngơ ngác chẳng hiểu gì. Ông thầy không nói lý thuyết nữa mà chuyển qua thực hành. Ông chỉ cho Hai Tường nhìn mây cao, mây thấp, mây xuất hiện ở phương hướng nào. Thế nào là gió “rao rao” và gió “hiu hiu” lẫn gió “tạt mặt”. Mùi vị của không khí “khét”, “nồng”, “chua” hay “thơm”. Nhiệt độ qua da người mát lạnh, nóng hay nực, mỗi thứ cộng lại phân tích sẽ biết khi nào nắng, khi nào mưa; mưa bao lâu và nắng kéo dài nhiều hay ít.
Thoạt đầu ông thầy cho Hai Tường đoán thử, tất nhiên Hai Tường thường đoán sai. Ông chỉ cho Hai Tường chỗ nào sai, tận tâm như tình phụ tử. Một buổi tối, ông Tàu già nói với Hai Tường:
-Bây giờ con đã nắm vững bí quyết của nghề, lại là người có căn cơ nên về sau con sẽ vượt trội hơn ta, ta tin chắc như vậy!
Trong một lần thân mật, Hai Tường hỏi sư phụ tại sao lại bỏ quê hương qua Việt Nam sinh sống. Ông Tàu già trầm ngâm một lúc rồi nói:
-Ta tên thật là Triệu Bá Hoằng. Dòng họ ta nổi tiếng nhiều đời về nghề xem thiên văn. Năm bằng tuổi con, ta yêu con gái một chủ lò gốm và nàng cũng yêu ta, nhưng ông chủ lò gốm lại muốn gả nàng cho chàng trai họ Phù. Họ Phù cũng là một dòng họ nổi tiếng về tài bói mưa nắng của đảo Hải Nam. Cuối cùng, để cưới được con gái chủ lò, ta phải chấp nhận tranh tài cùng người con trai ấy.
Ngừng lại một chút, ông Tàu già thở dài, kể tiếp:
-Cuộc tranh tài ngoài chuyện tình yêu còn có một chuyện tối quan trọng khác đó là danh dự của hai dòng họ Phù và Triệu. Gần đến ngày tranh tài, ta phải chay tịnh cả tháng, tắm gội nước thơm, sưởi hương trầm. Đối với những người sống với nghề bói nắng, mưa thì việc đoán ngày giờ nào mưa là việc dễ dàng, mưa kéo dài trong bao lâu cũng là điều không khó. Nhưng để đoán lượng mưa nhiều hay ít thì quả là việc không dễ chút nào. Đúng ngày giờ tranh tài, sau khi nhìn trời, ngắm mây, ngửi gió… để đoán giờ sẽ mưa, ta và người thanh niên họ Phù phải vạch một vạch sơn vào trong lòng một cái tô kiểu rồi đem cái tô đó đặt giữa trời. Nếu lượng nước mưa ngập đến vạch sơn của người nào, thì người đó sẽ thắng. Ta vạch mức ở giữa thành tô, còn người thanh niên họ Phù vạch trên ta một đốt ngón tay, có nghĩa là lượng mưa sẽ nhiều hơn ta đoán.
Trời chuyển dông, mưa bắt đầu rớt hột. Cái tô kiểu đặt giữa trời nước càng lúc càng dâng lên. Đến chừng lượng nước mưa lên đến vạch sơn ở giữa thì trời dứt hột. Như vậy là ta thắng. Giữa lúc ta khấp khởi vui mừng thì đột nhiên gió đổi hướng, một cụm mây nhỏ từ phương Bắc bỗng nhiên bay tới với tốc độ không ngờ, cụm mây lớn dần ở nơi tranh tài và bắt đầu rớt hột. Một lúc sau, mưa tạnh hẳn, nước trong tô dâng lên đúng vạch sơn của chàng thanh niên họ Phù.
Vậy là ta đã thua! Ta đau đớn vì người mình yêu đã về tay người khác. Nhưng càng đau đớn nhất là danh dự dòng họ Triệu từ nay đã mất vì một đứa con bất tài như ta. Buồn rầu và xấu hổ, ta từ bỏ quê hương, từ bỏ đảo Hải Nam vượt biển qua đây, trôi nổi về sống ở đất Bình Dương này.
Ba ngày sau, từ lúc kể câu chuyện đời mình, trước khi mất, ông Tàu già nói với Hai Tường:
-Ta mong con hãy xem ta như người cha thứ hai. Ngoài họ Nguyễn, con còn có thêm họ Triệu. Nếu thương ta, vì ta, con hãy hứa!
Hai Tường nức nở gật đầu, khe khẽ kêu lên “tía ơi!”. Vậy là ông Tàu già qua đời. Lạ một điều là khi mất, một con mắt của ông nhắm và một con mắt mở trừng trừng. Người hiểu chuyện cho rằng, con mắt nhắm vì từ nay ông đã có người kế nghiệp, riêng một con mắt mở trừng trừng vì món nợ danh dự với giòng họ Phù, ông chưa có dịp trả xong.
Thắm thoát thời gian, Hai Mưa Nắng khá già. Ông trở về quê, sống ở xóm Xẻo Bần thuộc huyện Tân Trụ, truyền nghề bói nắng mưa cho con trai là Ba Đảm. Rồi Ba Đảm truyền cho con trai là Út Thân.
Khi Út Thân bắt đầu hành nghề bói nắng mưa thì nghề đó không còn được các lò gốm ưa chuộng nữa, không phải vì đài khí tượng thủy văn báo chính xác mà vì máy móc kỹ thuật hiện đại khiến các sản phẩm mộc của gốm không còn phải đem ra sân phơi, chỉ cần đem sấy là xong.
Thất nghiệp, Út Thân cháu nội của ông Hai Mưa Nắng trôi dạt về vùng Xóm Củi. Ngày ngày, vào mùa mưa, Út Thân ra đứng trên cầu Nhị Thiên Đường bắc ngang kinh Tàu Hủ nhìn trời cá độ nắng mưa. Nhờ vốn gia truyền, Út Thân đánh đâu thắng đó, túi tiền luôn luôn rủng rỉnh.
Biết thằng cháu nội đem nghề tổ truyền ra đánh bạc, ông Hai Mưa Nắng buồn lắm, ông nhắn Út Thân về khuyên răn:
– Cháu à! Nghề bói nắng mưa là nghề giúp đời làm ra vật dụng cần thiết cho cuộc sống, không thể đem nghề tổ truyền ra đánh đố với đỏ đen!
Thằng cháu nội nhe răng cười, bỏ đi không nói tiếng nào, nó tiếp tục ngửa mặt nhìn trời nơi cầu Nhị Thiên Đường để kiếm tiền.
Một hôm, Út Thân về gặp ông nội với khuôn mặt thất thần:
-Nhất định ông nội phải giúp con, ông nội à! Mấy tháng nay con thua liểng xiểng, cá đâu thua đó!
Ông Hai Mưa Nắng lắc đầu:
-Đáng đời! Ai biểu đem tổ nghiệp vào vòng cá độ?
Út Thân nhăn nhó:
-Mấy năm nay con không có đối thủ. Lần này gặp phải đối thủ quá dữ, nó từ bên Tàu sang đây!
Nghe nói từ bên Tàu, ông Hai Tường vội hỏi:
-Bên Tàu, mà ở tỉnh nào?
– Không phải tỉnh mà là đảo. Đảo Hải Nam!
Giật nẩy người, ông Hai Tường hấp tấp hỏi:
– Mầy biết thằng đó họ gì không?
Út Thân không trả lời, nói qua chuyện khác:
– Ông giúp con giấu mặt chỉ huy đi ông nội. Của cải, nhà cửa của con sau những ngày đoán mưa nắng, lớp cầm, lớp bán hết rồi!
Ông Hai Tường không quan tâm lời nó, nhắc lại:
-Tao hỏi mầy… thằng đó họ gì ?
Nhìn vẻ mặt khẩn trương của ông nội, Út Thân nói như phản xạ:
-Da, họ Phù… Phù Khắc Hồng!
Ông Hai Tường ngồi im lặng như pho tượng, lát sau nói nhỏ nhưng rành rọt:
-Được rồi! Mầy thách đấu lần nữa đi! Tao giấu mặt chỉ huy. Nhưng mầy phải hứa với tao là sẽ không bao giờ cá độ nắng mưa nữa, phải kiếm việc làm ăn chân chính như người ta.
Mừng quá, Út Thân đáp ngay:
– Cám ơn ông! Con hứa!
Đến ngày giờ cá độ, một cái tô được đem ra đặt ở sân một quán cà phê ở gần cầu Nhị Thiên Đường. Dân cá mưa ngồi gần như chật kín cả quán, hồi hộp theo dõi. Út Thân đưa mắt nhìn ông nội. Ông Hai kín đáo đưa sống bàn tay lên ngang bụng. Nhận được ám hiệu Út Thân bước ra sân lấy sơn đỏ vạch khoảng giữa cái tô. Tới lượt Phù Khắc Hồng, gã vênh váo nhìn trời rồi vạch cao hơn dấu sơn của Út Thân một ngón tay.
Trời vần vũ và đổ mưa, nước trong tô lên cao dần, sắp đến vạch sơn của Út Thân mà trời chưa có dấu hiệu gì sắp dứt mưa. Thua là cái chắc, Út Thân lo lắng liếc mắt nhìn ông nội nhưng ông Hai Tường vẫn thản nhiên như không.
Giữa lúc không khí đang căng thẳng thì bỗng dưng trời trở gió. Một luồng gió từ phương Nam thổi tới như cơn bão. Đám mây đen trên đầu bị thổi dạt qua phương Bắc, thoáng chốc mưa tạnh hẳn. Mực nước trong tô xấp xỉ mức vạch của Út Thân. Út Thân nhảy cuống lên như một thằng điên. Ông Hai Tường đứng dậy, không nói không rằng chụp cái nón nỉ lên mái tóc bạc phơ, rồi chậm rãi bước ra khỏi quán.
Ba ngày sau của lần đoán mưa kể trên, ông Hai Tường qua đời. Hai con mắt của ông cũng vẫn một con nhắm, một con mở. Người hiểu chuyện cho rằng con mắt nhắm vì mối thù xưa của thầy ông đã trả, còn con mắt mở vì thằng cháu nội đích tôn vẫn còn đem nghề nghiệp tổ vào cuộc đỏ đen.

Khuyết Danh

 

 

 

Lời Tạ Từ - Mắt Sen

Lời Tạ Từ

 














………………
Anh vẫn biết
Đời anh giông tố
Chạm vào em
Bỗng thấy xa vời
Em dịu êm
Như làn sương buổi sáng
Đậu cành mai
Đợi gió đông về
Một giọt sương
Mỏng manh…Trắc ẩn
Như nước hồ thu
Soi rõ một đời
Trái tim anh
Khô cằn, sỏi đá
Một trời yêu
Tình có đáp đền
Anh nhắm mắt
… Thả rơi…
Lời tạ từ trong suốt
Chỉ để em nhìn
Xuyên thấu thời gian.

Mắt Sen

 


Hai Đứa Trẻ - Yến Khương

 


Hai đứa trẻ

 

Nhà tôi sát vách nhà chị, chung khoảng sân và một vườn hoa nhỏ. Tôi thích hoa còn chị thì không. Chị bảo: “Con trai thích hoa thì yếu đuối, đa cảm và lụy tình”. Tôi bĩu môi: “Chị là thầy bói chắc?”. Chị cười: “Chị lớn hơn nhóc. Chị biết”.
Chị hai mốt, hơn tôi 7 tuổi, kém bố tôi một giáp. Mẹ chị là người tâm thần. Suốt ngày ra vườn tước lá chuối khô mang vào chăng đầy bờ liếp. Bà sẽ gào lên nếu bị ai gỡ đi dù là một mảnh. Chị kệ. Không ai nỡ. Bà nói chỉ để nói. Người tâm thần như mẹ chị không còn ý thức để phân biệt sự thân tình chứ đừng nói gì đến những lời cửa miệng.
Mẹ chị mang thai chị được hai tháng mới biết bố chị là người đã có vợ. Chuyện vỡ lở, bà ngoại chị hái lá bàng sắc nước, ép mẹ chị uống để sổ thai. Bà hắt đi. Bà bị cả họ từ mặt, đuổi khỏi nhà. Mẹ chị chấp nhận như chấp nhận sai lầm… Sức mạnh của tình yêu? Chắc thế, đã khiến bà tin tưởng, chịu đựng và đương đầu với tất cả những bi kịch diễn ra trong cuộc đời mình.
Đêm mẹ chị ra đi, bố chị lén trốn vợ mang cho bà ít tiền. Bà không nhận mà còn rủ bố chị đến một nơi khác sinh sống. Ông chối quầy quậy: “Tha lỗi cho tôi. Tôi còn vợ con”. Mẹ chị chỉ là người bị ru ngủ bởi tính tham lam, dục tính trăng hoa của ông. Bà hận. Tình yêu là thế. Khi đỉnh cao của ái tình đã bị cắt đứt bởi sự bội bạc, con người ta không còn sự khoan dung hay tha thứ, chỉ còn lòng hận thù tột đỉnh. Bà mỉa mai sự hèn nhát của bố chị bằng một hơi cười ngất, gằn rít nơi yết hầu. Mẹ chị điên loạn ngay từ lúc ra đi.
Chị nhờ tôi đóng giường. Tôi ngạc nhiên. Với người khác không nói làm gì, nhưng với chị, đúng là tôi ngạc nhiên thật. Nhà chỉ có hai mẹ con. Mẹ chị bệnh tật, đêm ngủ thường hay trở dậy ra vườn tước lá chuối, rú lên những tiếng man dại. Chị phải canh chằm chặp như một đứa trẻ. Thậm chí nhiều đêm chị mệt, lo bà ra vườn nên phải dùng dây buộc chân bà vào chân mình ngủ. Nhưng thói quen khi bị kìm kẹp, cấm đoán sẽ khiến con người ta đến với những hành vi phẫn uất. Đang say sưa chị bị mẹ dùng dây siết cổ, giãy giụa như một con mèo bị nhúi cổ xuống nước vôi. Chị đạp dấp mẹ vào bờ vách, ho sù sụ. Mẹ chị lại rú lên như một con thú cùng đường.
Nhà bên, bố tôi giật mình vội đáo qua, dấp dầu hỏa lên lòng bàn tay xoa cổ cho chị. Hình ảnh đó vô tình khơi gợi trong mẹ chị nỗi căm phẫn năm xưa. Bà lại thét lên, lao thẳng vào bố tôi mà cắn xé, cào cấu, chửi rủa: “Đồ hèn nhát. Cút đi. Thằng lừa đảo…”. Bố tôi ngượng tím mặt. Không phải lời chửi mắng đầy ẩn ức đó của mẹ chị mà vì ánh mắt của chị, ánh mắt cần sự che chở, thậm chí là yêu thương. Sự ngượng nghịu nơi chị làm lộ rõ điều đó.
– Chị định cho bác ngủ một mình ư? – Tôi hỏi.
– Ừ. Chị cũng không muốn thế. Chị lấy chồng. Chồng chị định sẽ ở rể. Ông ấy vừa bỏ vợ. Gần nhà, làm luôn cho tiện.
Chị nói như không, tránh nhìn tôi để khỏi đối diện với những cái nhìn lục vấn sôi trong mắt của một đứa trẻ đang ghen.
Tôi dừng tay cưa. Tim đập thùm thụp. Nói một câu chưa bao giờ tôi nói với một khách hàng:
– Đi nơi khác. Tôi không đóng giường cưới. Kỳ công lắm.
– Người ta không thể túm gấu áo nhau rong chơi suốt ngày mãi được. Như thế sẽ bị đánh đòn. Người khác chị sẽ làm cho em hiểu điều đó.
Trước đây, mỗi lúc chị nói thế tôi thường khoặm mặt bỏ đi. Chị giữ lại, nựng tôi bằng một cái hôn rất nhẹ lên tóc. Tôi thích thú nhận món quà mà tâm niệm tôi không khi nào chán. Thân với chị từ khi nào tôi không nhớ chỉ biết rằng ngoài chị ra tôi không thích chơi với ai. Chị chiều tôi bằng chính những gì tôi sinh ra không có được từ một người mẹ. Nhưng tôi không muốn chị xem tôi là nhóc con. Sự gần gũi, yêu thương đã khiến tôi nhận ra một điều, tâm hồn tôi thuộc về chị với tất cả những suy nghĩ tốt đẹp.
Hành động của chị và bố tôi hằng đêm đã bóp nghẹt những suy nghĩ tốt đẹp của tôi dành cho chị. Còn bố, tôi chỉ thấy coi thường. Tôi miệt thị hai người bằng những cái nhìn hằn học. Chị bối rối. Bố lảng tránh. Tôi muốn bỏ đi, nhưng không thể. Lòng tham có chị bên cạnh giữ chân tôi. Hình ảnh bố tôi và chị ám ảnh tôi trong từng chiều cạnh suy nghĩ. Nó dẫn tôi rơi vào những biến thái tâm lý khủng khiếp trong mỗi giấc mơ.
Tôi mơ tôi lớn nhanh. Có thể như vậy tôi mới được đáp ứng một cách tôn trọng những tình cảm tôi dành cho chị. Bố ngấm ngầm theo dõi tôi. Không nói, chỉ bằng hành động và những cái nhìn. Ông như con mọt gỗ, ngấm ngầm và rất giỏi bắt hơi.
Mỗi lần chị rủ tôi ra chõng tre vào những đêm trăng tròn tán gẫu, chị vẫn thường hỏi tôi: “Lớn lên nhóc sẽ làm gì?”. Tôi chắc chắn: “Tôi làm thợ mộc nhưng sẽ cho chị cả một cung điện”. Chị cười: “Định ảo tưởng như Tần Thủy Hoàng hả nhóc. Hoang đường”. Tôi bật dậy: “Có nghĩa là một thằng nhóc thì không làm được Hoàng đế? Chị chờ xem”.
Chị cố nhịn cười: “Thôi được, thôi được… tôi chờ…”. Bố tôi bắt tôi theo nghề mộc như ông để hạn chế sự gần gũi của tôi và chị. Ông hợp thức hóa lý do để ở bên chị suốt ngày trong khi tôi làm không hết việc. Khi thì sửa khóa tủ, lúc lắp lại cái bản lề gácmăngiê… Vặt vãnh, đơn điệu nhưng những việc ấy đã lấy hết quỹ thời gian trong ngày của bố một cách hiệu quả. Chả thấy ông than thở gì. Thậm chí ông vui.
Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén. Bố yêu được chị. Tôi biết. Buồn. Chán nản. Thất vọng. Chỉ cần không đủ tỉnh táo, tôi có thể điên loạn, phá phách tất cả. Thâm tâm của một kẻ bị ruồng bỏ cho tôi bản năng không biết sợ sệt. Nhưng không. Mình mẹ chị điên loạn xé lá chuối là đủ rồi. Tôi sợ. Điều tôi cần là tỉnh táo để lấy lại tất cả. Tôi có quyền. Tôi nghĩ vậy.
Hết ngày rồi đến đêm. Chị hay gọi bố tôi lúc nửa đêm bằng cách gõ nhẹ vào bờ vách. Bố lại tháo màn trở dậy. Tôi khẽ cựa. Ông ngần ngừ. “Ngủ đi, tao sang sửa lại cái mộng giường cho mẹ con bà ấy một tí rồi về ngay”. Ông vớ búa trong hộp đồ, ở trần sang với chị.
Tôi nghển cổ:
– Bố nên mang theo khoan chốt luôn cho chắc.
Bố tôi lúng túng. Hình như ông hiểu ngụ ý của tôi.
– Thôi. Đêm hôm, khoan khoáy gì. Chốt đinh cũng chắc chán – Nói rồi ông bước vội đi như để không phải nghe thêm những lời xấc xược từ tôi.
Tôi biết những lúc như thế mẹ chị lại lên cơn điên, ra vườn tước lá chuối. Bố tôi thay chỗ của bà để làm việc của đàn ông. Tiếng ót ét, ọt ẹt của cái giường modec từ những năm 1980 khoáy vào tai tôi theo một cấp độ đáng khinh bỉ. Toàn thân tôi nóng ran, mồ hôi đầm đìa như xông cảm. Tiếng mẹ chị cười ré cuối vườn. Tiếng thở trong đêm của ba con người ở hai hoàn cảnh khác nhau bị tiếng búa ngụy trang của bố đập vào thành giường lúc ái ân với chị hình như cũng làm mạch đêm trở nên gấp gáp.
Nhà chị có ma. Chị khẳng định thế. Từ ngày yêu bố tôi, không dưng nhà chị xuất hiện một con ma nữ. Hằng đêm sau khi bố tôi rời khỏi cơ thể chị về lại nhà, con ma nữ ấy vẫn hiện lên dựng giường chị, làm chị hồn bay phách lạc. Duy chỉ mẹ chị là không. Thậm chí bà còn nói chuyện với con ma ấy. Chẳng hiểu ma nữ nói gì mà mẹ chị sáng sớm đã bỏ đi, tìm đúng lá bàng mang về sắc nước đè cổ chị ra ép uống. Chị đạp bà ra, đổ bát nước đi, kinh hãi.
Sau khi nghe chị kể, thấy bố tôi đốt nhang cắm lên bàn thờ mẹ, nét mặt lo âu.
Bố tôi thưa dần sang với chị. Tiếng gõ bờ phên mời gọi cũng không dồn dập nữa. Tôi không còn phải mất ngủ hằng đêm. Ý định trừng trị hay nói đúng hơn là trả thù chị đã được thế giới tâm linh mà đại diện là hồn ma mẹ tôi làm thay. Linh hồn bà cũng giúp tôi tỉnh ngộ ham muốn cùng chị và không xem thường thế giới những người đã khuất…
Nhưng không phải thế mà bố tôi không sang. Chị không cần. Bây giờ mỗi đêm chị đi ngủ đều buộc vào bốn chân giường bốn ống nước tiểu. Thứ ấy sẽ cản trở việc xuất hồn quấy nhiễu của mẹ tôi. Tôi không phản đối. Chị cũng là con người. Con người cần nhất sự bình yên. Tinh thần chị ổn định trở lại. Tôi nhận ra nỗi mừng trên khuôn mặt chị. Chị bảo:
– Hôm nào cho chị ra mộ mẹ nhóc nhé.
Tôi hiểu ý chị nhưng gạt đi:
– Ích gì. Mẹ tôi chẳng bao giờ thanh thản được.
Mặt chị tái xạm, gượng gạo quay đi.
Mẹ chị ôm cột hiên rú lên cười, chõ sang tôi một câu:
– Đồ hèn.
Bố tôi dừng tay đục, nhấc đít đi vào nhà, ném sang mẹ chị một tiếng:
– Đồ điên.
Mẹ chị cười ngất, nhảy chân sáo như một đứa trẻ ra vườn xé lá chuối xoèn xoẹt.
Quan hệ giữa chị và bố tôi được thời gian thì chị bất ngờ quyết định đi lấy chồng. Chị muốn có tiền chữa bệnh cho mẹ mà một người như bố tôi không thể đáp ứng được. Chị lựa chọn người đàn ông giàu có vì không muốn cái nghèo truyền kiếp đeo đẳng, nó làm cho đời thế hệ tiếp theo của chị chỉ bần cùng khốn khổ như mẹ chị. Chị yêu bố tôi. Nhưng một người khác bố sẽ lo phần còn lại cuộc đời chị.
Đám cưới chị linh đình. Nhà trai bao tất. Chú rể là một ông già giàu có tỉnh bên. Dân làng nhìn vào cụ bĩu môi: “Đồ mù dở. Gái trinh chết hết rồi hay sao mà cưới đĩ về làm vợ. Loại ấy có nằm với cụ, đít cũng quay ra cửa sổ thôi. Người đâu mà…”. Nhìn vào chị, lũ đàn bà nhếch mép: “Chuột sa chĩnh gạo. Mèo mù vớ cá rán. Ai ngờ một phương dành cho đĩ lại là mỏ vàng”. Chị điềm nhiên, coi như không có chuyện gì.
Chị mời làng ăn cỗ ba ngày ba đêm. Tiền mừng, chị không thèm nhận. “Các bác, các anh, các chị đến vui với đứa được làng xem là thối thây như em là phúc cho em lắm rồi. Nào đâu dám nhận thêm tiền mừng nữa”. Chẳng ai nói được câu nào, đành ngậm tức ra mương mà nôn thốc nôn tháo, chửi đổng chị sau lưng. Chỉ có bố tôi là không chửi chị. Ông không chửi được.
Ông uống thấu ba ngày vui của chị. Ông say. Nằm vật trên tấm gỗ xẻ mộc để ngoài sân, không ăn một miếng, chẳng nói nửa lời. Ông mềm như một tàu mùng nhúng lửa. Tôi kệ. Con người ta có quyền hưởng thụ thì đau khổ có quyền xâm hại. Dù không hài lòng nhưng buộc phải chấp nhận nó. Tôi là một thằng nhóc nhưng cũng đã phải nếm trải điều đó khi yêu chị. Tôi hiểu bố.
Cưới xong được ba tháng chị về, định rước mẹ đi. Chồng chị cũng thôi ý định về ở rể. Bụng chị giờ lùm lùm như úp rổ sau lần vải áo. Mẹ chị từ chối, chạy ra vườn vừa xé lá chuối vừa cười man rợ. Chị qua nhà thăm bố con tôi, tặng tôi một đôi giày, tặng bố một lời khoe:
– Bốn tháng rồi. Siêu âm bác sĩ bảo con trai – Chị nói, hai tay đặt lên bụng mắt nhìn xuôi, ương ương nước.
Bố tôi dừng lại. Chén nước trên tay ông sánh nước ra khỏi miệng chén vì run. Ông lần đốt ngón tay. Chị quay sang tôi.
– Lớn quá rồi nhỉ, lấy vợ đi thôi chứ?
Tôi cởi bút chì khỏi kẽ tai, phóng vào hộp đồ nghề.
– Còn ai mà lấy.
Chị cúi gằm. Bố mím chặt môi…
Ở chơi được tuần, chị nhận được điện chồng đột tử. Chị ghé dặn bố tôi gì đó rồi đi luôn. Bố tôi nhìn theo, gật đầu.
Mẹ mất vào đúng ngày chị sinh. Phần hậu sự của mẹ chị bố tôi lo tất. Đơn giản. Nghĩa tử là nghĩa tận. Chỉ thương cho cụ là có đứa con gái duy nhất đến phút lâm chung cũng không được gặp. Thôi thì, đời người sống nay thác mai không biết đâu mà định. Sơ suất này, một người như cụ chắc cũng dễ bỏ qua.
Giỗ đầu bà cụ, chị về, mang theo cả đứa bé. Đầy năm của nó là tròn giỗ của bà.
Mộ mẹ chị nằm ngay cạnh mộ mẹ tôi. Một sự ngẫu nhiên bởi những người đào huyệt. Chẳng sao, hàng xóm, láng giềng với nhau cả. Quan niệm này nọ thật là vớ vẩn.
Bố tôi đi phát cây xung quanh mộ. Tôi trải chiếu cho thầy cúng bày lễ. Chị đặt thằng cu nằm tạm xuống chiếu để lên nhang. Nó khóc inh ỏi. Bố ẵm thằng nhóc lên, nhìn chăm chăm rồi áp nhẹ mặt nó lên má. Được lát, nó im. Bố đặt nó lại chỗ cũ, nhận hương từ tay chị đi thắp cho những mộ bên cạnh. Đến mộ mẹ tôi, bố hơi lưỡng lự nhưng rồi cũng cắm được ba cây nhang. Đột nhiên ông quỳ gối, chắp tay khấn lạy.
Thầy cúng bắt đầu vào lễ. Thằng cu con chị lại khóc. Chị đang quỳ, cúi đầu theo phán chỉ của thầy nên không đành rời chỗ. Nhưng nghĩ thế nào chị quay sang nói với tôi:
– Em nó quấy quá. Điệu này phải nhờ anh Tâm (tên tôi) đóng cho một cái xe cút kít mới được. Đồng ý không Tâm?
Tôi chưa biết trả lời sao thì bố đã lên tiếng:
– Phải đấy. Đóng cho cu cậu một cái xe cút kít, cho cu cậu đẩy, nhanh biết đi nữa. Như Tâm trước đây ấy, con nhỉ.
Bố nhìn tôi, ánh mắt lộ nét phấn khởi lạ thường.
Thầy cúng kẹp hai đồng tiền chinh vào nhau, gõ nhẹ vào lòng đĩa giơ lên ngang trán. Ông buông tay. Tiếng đồng tiền chinh rơi trên đĩa xoay vòng lách cách rồi cả hai đều úp sấp. Tất cả im lặng. Thầy cúng lắc đầu. Chỉ có thằng nhóc con chị nằm trên chiếu đột nhiên nhấc đầu nhìn tôi cười ….

Yến Khương

Dịch giả: Đỗ Thành