Cũng Con Đường
Wednesday, July 8, 2026
Đốm Lửa - Đoàn Trúc Quỳnh
Đốm Lửa
Anh bị viêm xoang từ nhỏ, nên rất sợ mùi bếp than tổ ong. Vào hiệu phở có bếp
than tổ ong, ngon mấy anh cũng bỏ ra liền. Dù nhà nghèo nhưng bố mẹ anh rất chiều
anh, đã dùng bếp ga thay bếp dầu đầu tiên ở phố. Đêm hàng xóm ủ bếp hơi bay
sang, bố anh gọi thợ xây bịt ngay cái cửa sổ... Tóm lại, mọi người bảo là anh bị
"dị ứng" hơi than tổ ong. Tới năm 17 tuổi, anh vẫn sợ mùi bếp than
như thế. Hơi các bon độc vậy, ai mà không sợ. Báo đã in có hai mẹ con mùa đông
để bếp than sưởi trong buồng kín, sáng ra chết cả đấy thôi. Ông bác sĩ cạnh nhà
anh còn tính rằng, thà đun ga đắt rồi mỗi bữa bớt đi một bát cơm, còn khoẻ hơn
ăn no mà phải hít hơi than độc hàng ngày. Anh rất tâm đắc với tư duy mới của
ông, nhưng không phải ai cũng nghe theo...
Bước vào lớp 12, anh hay mệt mỏi và nhức đầu do học căng, phải theo quá nhiều
cua luyện thi hết cấp và đại học, nên bố mẹ khuyên anh nên dạy sớm tập thể dục.
Anh nghe lời, dù mùa đông rất giá lạnh, vẫn quyết tâm để chuông đồng hồ đúng 5
giờ sáng đã bật dậy ngay. Cổng nhà anh ở sát ngã ba của con đường nhỏ trong
ngách phố, sáng sớm xe cộ chưa đi lại nên còn rất thoáng, là địa điểm lý tưởng
cho anh đứng tập, chạy đi chạy lại hít thở sâu không khí trong lành, khỏi phải
ra vườn hoa công viên mất nhiều thời gian... Nhưng oái oăm thay, ngay sớm đầu
tiên, khi anh mới vừa tập được một lượt, thì từ phía xa tít cuối ngách phố nhỏ,
bỗng xuất hiện một đốm lửa nhỏ bung bênh qua lại như ma trơi. Trời mùa đông còn
tối, anh không thể nhận ra gì khác ngoài đốm lửa đang di chuyển. Và bay trước đốm
lửa đó, theo chiều gió mùa đông bắc thổi, mùi bếp than tổ ong xộc ngay vào mũi
anh, làm anh vô cùng bực bội và khó chịu. Đốm lửa chao đảo đó tới gần, anh nhận
ra là cái cửa của bếp than tổ ong. Một cô gái xinh đẹp dịu hiền khoảng 16 tuổi,
gánh hàng rong ra chợ sớm. Nặng trĩu một bên là nồi nước dùng nóng sôi trên bếp,
một bên là thịt gà, bánh phở, bát đũa, hành mùi... Do không kịp đề phòng, anh bị
hắt hơi sổ mũi luôn, phải bỏ tập vào nhà...
Hôm sau đốm lửa vẫn xuất hiện đúng giờ như hôm trước. Như vậy không phải chỉ một
ngày mà sớm nào cô gái cũng phải đi bán phở rong kiếm sống, anh toàn dậy muộn
nên không biết. Anh kịp ngừng tập, bịt mũi quay đi, cố nín thở, chờ cho cô gái
gánh hàng ngoặt ra lối chợ xa dần, cho mùi bếp than tổ ong theo gió lạnh đầu
đông bay hết, nên không bị dị ứng... Buổi tối anh tò mò dò la hỏi bố mẹ, được
biết có cô gái ở tổ trên, mồ côi cha mẹ phải bỏ học từ lớp 7 bươn chải bán đủ
thứ hàng rong để kiếm tiền nuôi bà ngoại già và hai em nhỏ... Đêm ấy anh thao
thức mãi không ngủ được, cứ nghĩ thương hoàn cảnh của cô gái bán phở rong, và gần
sáng khi chợp mắt anh mơ thấy rất nhiều đốm lửa, những đốm lửa lung linh bay lượn
thật đẹp quanh gánh phở rong của cô gái, như những ngôi sao rơi...
Từ đó sáng nào cũng vậy, anh rất chăm chỉ dậy sớm, đúng giờ như thường lệ, mặc ấm
rồi ra giữa ngã ba đứng tập thể dục hàng tiếng đồng hồ. Khi đốm lửa bung bênh
như ngôi sao rơi xuất hiện cuối ngách phố nhỏ, biết cô gái nghèo gành hàng rong
đi bán sớm, anh vẫn tạm nghỉ tập, chủ động lảng xa ngã ba giây lát, tránh hít
phải mùi than, nhưng không còn bực mình, khó chịu như buổi đầu tiên... Lâu rồi
thành thói quen, gánh hàng của cô gái không làm ảnh hưởng gì tới ý chí luyện tập
của anh ở ngã ba trước nhà nữa... Và cô gái cũng không để ý gì tới anh, vì cô
đã có quá nhiều việc phải lo nghĩ cho ngoại và hai em, lúc nào cũng tất bật,
ngay cả bước ngoặt ở ngã ba nhịp chân cũng vội theo đầu đòn gánh trĩu nặng trên
vai...
Tới một buổi sớm, không hiểu cô gái ốm hay vì lý do gì khác, đốm lửa sao rơi đã
không xuất hiện. Anh không phải bịt mũi, nín thở, lảng xa ngã ba như mọi sớm.
Nhưng chính trong buổi sớm kỳ lạ đó, tự nhiên anh bỗng thấy nhớ mùi bếp than tổ
ong đến nôn nao. Anh không sao yên lòng tập tiếp được nữa, đôi chân bỗng đưa
anh đi mãi về cuối ngách phố, nơi cũng có một ngã ba, nơi cô gái rẽ vào cùng đốm
lửa.
Lá Chanh - Vĩnh Huyền
Lá Chanh
Anh chẳng thể là người hạnh phúc. Ai đó trong số những cô gái
từng yêu anh đã phán một câu khá là ác khẩu như thế. Kể cũng hàm hồ nhưng không
phải không có đôi phần của sự thực. Bởi anh là loại người "nghe mưa nơi
này lại nhớ mưa xa". Như lúc này chẳng hạn.
Nhiều năm trước, việc bôn ba về Huế sửa chữa phủ từ, ngôi nhà rường ba gian hai
chái mục nát, nơi hương khói gia tiên, là điều ngoài tầm tay của anh khi anh tiếp
nhận nó theo "nghị quyết" của hội đồng gia tộc. Dù tuổi đời chưa đủ để
chuyên tâm lo chuyện họ hàng cúng bái, lại công tác xa Huế, anh vẫn bị chọn
giao quản lý phủ từ vì mọi người tin rằng anh đủ khả năng tổ chức lại giềng mối
gia tộc vốn đã rã rời, từ đó vực dậy một "di sản" có nguy cơ đổ sụp bất
cứ lúc nào, nhất là trong những dịp "trời hành cơn lụt mỗi năm". Những
ngày về Huế, buổi trưa, buổi tối, nằm gác tay lên trán, ngó lên những rui kèo
chạm khắc công phu có tuổi thọ ngót trăm năm máng lủng lẳng cả tá lon bia rỗng,
đủ các nhãn mác nội ngoại, từ Huda đến Heneiken, để hứng nước dột, những giọt
nước len lỏi âm thầm qua lớp ngói liệt phủ rêu đến cả mặt trong, như một sáng
kiến thay thế cho những thau, chậu giăng giăng trên sàn nhà hay gây vấp té, mà
lòng anh nhói đau, bất lực. Thế mà bây giờ, đứng trước dãy khám thờ sơn son thếp
vàng, thắp nén nhang cáo lễ khánh thành phủ từ vừa được trùng tu, thật ra là
làm mới hoàn toàn trên nền cũ, chủ yếu nhờ tiền đóng góp của bà con lưu lạc ở
nước ngoài, anh lại buồn man mác, lại nhớ ngôi nhà rường cũ mốc đầy kỷ niệm, nhớ
âm thanh trầm bổng xót xa từ những giọt nước mưa rơi tong tỏng vào những lon
bia rỗng ngày đông giá... Người như thế thì chẳng thể hưởng hạnh phúc là đúng rồi...Anh
rời gian thờ, rời khỏi dòng suy ngẫm miên man bởi có tiếng nhiều người xao xác
từ cổng ngoài lan vào cổng trong.
Ra tới sân gạch, anh trông thấy một cảnh huyên náo bất ngờ. Các bậc trưởng lão
trong họ đang chỉ huy đám con cháu ngăn chặn một nhóm người đang cố tình xông
vào phủ từ. Một ông chú nói nhỏ vào tai anh: "Cháu nhớ bọn ni không? Con
Giang, con của mụ điếm vạn đò và hai thằng em đầu gấu của nó đó. Ngày ni là
ngày chi mà bọn hắn đòi vào phủ từ chứ?". Anh thầm kêu một tiếng nhỏ trong
cổ họng: "Giang!". Nếu ông chú không gọi tên thì chắc gì anh đã nhớ
ra, nhận ra? Trước mắt anh là một thiếu phụ có thứ nhan sắc làm vẩn đục ý tưởng
của đàn ông ngay từ phút đầu gặp gỡ, nếu không cho rằng đó là vẻ đẹp đánh thức
"bản lĩnh đàn ông". Một bé Giang mười lăm, mười sáu mảnh khảnh, tóc bốc
mùi bùn non chỉ còn trong ký ức của anh thôi. Anh đến gần đám đông, vờ như
không hiểu: "Bình tĩnh. Chuyện gì vậy?". Giang đang sấn sổ xỉa ngón
tay vào trán mấy chàng thanh niên lập hàng rào trước mặt bỗng nhận ra sự xuất
hiện của anh, cô vụt tươi tỉnh: "Cậu Hoàng đây rồi! Cậu coi, ai đời mấy đứa
em vô phủ từ thắp hương tỏ chút lòng thành láng giềng mà bị chặn lại như thể đi
ăn cướp không bằng!". Anh cười: "Tại phần đông bà con các nơi về,
không rõ hàng xóm cũ...Thôi, đã có lòng xin mời vào...". Ba chị em Giang
hiên ngang vượt qua cổng trong, tiến vào gian thờ. Quay lại phía chú bác, anh
em đang ngơ ngác bất bình, anh chắt lưỡi: "E hèm...Con cháu dâng hương tổ
tiên là chuyện thường tình, xóm giềng ngoại tộc mới có ý nghĩa...Vào cả
đi...". Một ông bác gằn giọng: "Nhưng bọn nó là...". Anh làm mặt
nghiêm: "Thế bác định đánh nhau với đầu gấu ngay trong ngày hôm nay
à?". Ông bác chịu nhịn, hậm hực cùng cả đám kéo vào bàn rượu bày sẵn ở nhà
ngang...
Anh chẳng thể là người hạnh phúc. Chén rượu Rémy Martin XO, hàng "xách
tay" từ Hoa Kỳ về, dành cho "chiếu trên", chiếu của bậc chú bác
chức sắc trong tộc, thơm lựng khi vừa bật nắp, vậy mà anh nhấm nháp vô hồn. Nói
chính xác là anh thả hồn về cái thời uống rượu trắng nấu bằng sắn củ, cái thời
mẹ con nhà bé Giang dựng chái tranh ghé tựa vào bức tường bao cao quá đầu người
phía sau phủ từ, sát mép nước sông Hương dập dềnh lười biếng...
Làm sao anh quên được mùa đông năm ấy. Từ Sài Gòn anh về phủ từ ăn tết, cũng có
thể ở lại lâu dài nếu tìm được việc làm. Tốt nghiệp đại học, thử việc mấy tháng
ở Sài Gòn, anh chợt nhận ra mình nhớ Huế da diết, phải về ngay thôi. Sau này,
anh trả giá đắt cho thứ tình hoài hương tím ngát ấy. Nhưng đó là chuyện khác.
Bây giờ, anh muốn nhớ cái đêm đầu tiên ngủ lại phủ từ sau hơn bốn năm đi xa. Mới
tám giờ tối mà cứ như đã nửa đêm. Vắng tanh vắng ngắt trong mưa dầm se lạnh. Bỗng
đâu tiếng khóc nỉ non trèo qua tường bao, vượt vườn rau dại, len vào tận giường
ngủ. Trùm chăn kín đầu, thứ chăn thô của lính xót xáy không thua ổ rơm, anh vẫn
cứ phải nghe tiếng khóc, bây giờ lại như thể vọng lên từ đáy sông...Anh chợt nhớ
có một gia đình sống nép sau tường bao mà anh hầu như chưa rõ mặt. Chuyện gì xảy
ra cho họ? Anh vùng dậy, chân mang "bốt", đầu che dù, tay cầm đèn
pin, lần mò ra cổng sau. Túp lều mẹ con nhà bé Giang trông càng thảm hại trong
đêm mưa lạnh. Ba đứa trẻ ngồi xúm quanh ngọn đèn dầu leo lét. Chỉ một mình
Giang khóc. Hai thằng em nín lặng ngồi co ro tựa lưng vào nhau thật khéo để chống
ngọn gió sông lạnh ngắt phả vào liên tục. Thấy người lạ, Giang nín khóc ngửng
lên. Đôi mắt nó gây ấn tượng với anh. Đen long lanh. Nửa ngây thơ nửa sõi đời.
Bắt gặp bát nhang đang toả khói trước di ảnh người đàn bà xấu số tựa vào tường
bao phong rêu, anh chợt hiểu. Ngồi xuống, anh thắp nén nhang. Giang hai bàn tay
xoắn lấy nhau, lí nhí: "Cảm ơn cậu...Cậu mới về?". "Ừ. Thím mất
bao lâu rồi?". "Dạ bữa ni là bốn mươi chín ngày...". Ngoài bát
nhang làm bằng cái chén ăn cơm, chẳng còn gì hơn. Anh ngập ngừng một giây, bảo:
"Đi, ta đi kiếm cái chi cúng thím...". Ba chị em nhìn anh chằm chằm.
Chúng không chờ đợi một đề nghị như thế giữa đêm mưa khóc mẹ. Chiếc Honda nổ lạch
phạch váng động những khu vườn Vỹ Dạ u tịch. Anh chở Giang chạy lên phía ga Huế.
Giờ ấy chỉ có thể tìm ra một cái gì ở đó. Bà chủ quán mừng ra mặt khi anh hỏi
mua nguyên con gà luộc. Nghe một tiếng ực rất khẽ, anh biết Giang vừa nuốt nước
miếng. Anh kéo ghế, nói dối: "Đói quá, ta ăn chút gì rồi hãy về cúng cũng
chưa muộn". Cô bé lí nhí: "Dạ cậu cứ dùng, em...". Anh phải mắng
Giang mới chịu ngồi vào bàn. Nhưng khi đã húp hớp cháo gà nóng ấm đầu tiên vào
miệng, nó không dừng được nữa. Sau đó hai người còn nhâm nhi càphê nữa. Ly
càphê sữa đầu tiên trong đời cô bé. Anh phì phèo thuốc lá, chân tình: "Mấy
tuổi rồi hè?". "Dạ mười lăm, mười sáu chi đó...". "Nè, thế
là lớn rồi, ngày xưa chừng ấy tuổi đã lấy chồng, phải biết chăm sóc bản thân
nghe chưa". "Dạ...". "Mai gội đầu đi, con gái chi mà tóc
toàn mùi bùn non không rứa hè!". Giang chỉ cười khúc khích...Thế rồi
"bốn mươi chín ngày" của người đàn bà xấu số, mà anh nghe đâu từng
làm nghề mại dâm dưới vạn đò, cũng đủ gà-xôi-chuối. Cúng xong đã nửa đêm, anh
cùng ba chị em Giang bày cỗ ra đánh chén. Giang nói: "Rứa là mạ em còn có
phước, chi cũng đủ...". Và nó kể anh nghe chuyện xảy ra bốn mươi chín ngày
trước.
Buổi sáng, ba đứa phát hiện mẹ đã chết từ lúc nào trong đêm. Chúng ôm nhau
khóc, không biết phải chôn cất thế nào khi trong túi mẹ chỉ còn mấy tờ bạc lẻ...
Nhưng rồi Giang cũng nghĩ ra được cách. Nó lệnh cho hai thằng em nín khóc, im lặng
như không chuyện gì xảy ra, đợi đêm tối trở lại. Chúng "mượn tạm" chiếc
xuồng câu neo gần đấy, chuyển mẹ sang sông, tấp vào bến chợ Đông Ba. Việc khó
nhất là qua mặt ban bảo vệ, bí mật đưa mẹ vào đặt trên sạp một hàng vải lớn nhất
trong chợ rồi rút êm. Sáng hôm sau, khu hàng vải xôn xao, sợ hãi phát hiện xác
chết. Ban quản lý chợ cùng tập thể hàng vải làm thủ tục khai báo rồi tổ chức việc
chôn cất cho người xấu số...Ba chị em Giang có mặt từ xa, lẫn trong đám người
hiếu kỳ, theo dõi mọi diễn biến, từ trong chợ Đông Ba đến nghĩa địa dưới chân
núi Ngự Bình. Khó nhất là không được khóc, cứ như người dưng nước lã. Đợi đến
khi mọi người tản về hết chúng mới dám chạy a lại, ôm mộ mẹ nồng mùi đất mới mà
khóc cho thoả...
Kể đến đấy ba chị em Giang thút thít khóc. Anh cũng lén lau nước mắt, quay về
phòng ngủ. Gần sáng mới chợp mắt. Chưa được bao lâu thì bị đánh thức bởi cảm giác
hơi lạnh xộc vào chăn. Nhưng ngay sau đó là một nguồn ấm nóng áp nhẹ vào người.
Trong trạng thái ngái ngủ, anh trở mình ủ lấy nguồn ấm mềm mại, ngai ngái mùi
lá chanh ẩm. Bàn tay anh tự nhiên chuồi vào góc sâu nhất ấm nhất. Một tiếng rên
khẽ thổi vào tai, anh giật mình tỉnh hẳn, hất tung tấm chăn, nhận ra bàn tay
còn ướt. Trước mắt anh, Giang nằm co quắp, nín lặng. Châm thuốc lá, rít một hơi
thật sâu, anh như nói với làn khói: "Về đi!". "Em không biết lấy
chi trả ơn cậu... Em gội đầu rồi...". "Biết rồi. Với lá chanh phải
không?". "Dạ...". "Thế là tốt... Về đi, trời hửng sáng rồi
đó!". "Dạ...". Qua khe cửa gỗ, anh nhìn theo bóng cô gái mảnh khảnh
đang đi giữa vườn rau dại, lẩn khuất trong sương trắng bốc lên từ mặt sông.
Trưa hôm đó, anh đi ra túp lều tìm Giang, bình dầu thơm gội đầu trong tay. Bất
ngờ chỉ còn bãi trống. Ba chị em Giang đã dọn đi...
Ba chị em Giang lễ xong, quay ra. Phải gần mười lăm năm sau họ mới có dịp đáp
trả một nén nhang. Giang đến gần anh: "Em mở quán bia dưới gốc đa đầu ngõ,
em mời cậu...". Anh mỉm cười không nói gì, đứng lên tiễn khách. Được mấy
bước, Giang đi chậm hẳn lại. Khi chỉ còn hai người, cô thì thầm: "Cậu hái
cho em mấy lá chanh, được không?". Anh ngờ vực câu trả lời của mình. Bây
giờ thì anh tin chắc anh chẳng thể là người hạnh phúc.
Bài Thơ Viết Lúc Nửa Đêm - Trần Dzạ Lữ
Bài Thơ Viết Lúc Nửa Đêm
Sẽ không còn tin
nhắn lúc nửa đêm
Sẽ không còn nghe điện thọai giữa trưa-trờ-trưa-trợt
Bởi vì đây là sự thật
Mình đã chia lìa nhau…
Anh không trách
gì em đâu
Khi qua sông
Qua sông theo tiếng gọi của tình yêu khác
Dù cánh đồng anh bát ngát
Nhưng thường kỳ hạn hán phải không em?
Sẽ không còn những
sáng những đêm
Mình uống chung ly cà phê cứt chồn nơi quán cóc
Sẽ không còn nụ hồng Đà Lạt
Nở giữa môi thơm lúc mình kiếm tìm nhau
Anh không trách
gì em đâu
Lẽ thường tình ai cũng ham giàu
Mà anh thì nghèo kiết xác
Thơ đâu nuôi nổi đời giữa cuộc bể dâu?
Sẽ không còn tin
nhắn lúc nửa đêm đâu
Ngủ ngon nha anh
Sẽ không còn nghe qua điện thọai giọng em
thánh thót lời yêu thương.
Sông có khúc người
có lúc
Đây là lúc anh buồn
như củi mục…
Sẽ không còn gì nữa
Khi mình chia lìa nhau
Nhưng có một thứ anh không bao giờ quên
Đó là nụ hôn đầu !
trần dzạ lữ
Chất Hóm Hỉnh Trong Ca Dao Tính Yêu Nam Bộ - Đoàn Thị Thu Vân
CHẤT HÓM HỈNH TRONG CA DAO TÌNH YÊU NAM BỘ
Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị và ngộ nghĩnh gây nên những
bất ngờ thú vị là chất hóm hỉnh thường thấy trong ca dao tình yêu Nam bộ. Đó
cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây.
Trước hết là chất hóm hỉnh không cố tình,
không dụng công, toát ra một cách tự nhiên qua những từ ngữ mộc mạc; không hề
trau chuốt chân thật đến độ người nghe phải bật cười. Một anh chàng quá đỗi si
tình đã trở thành ‘liều mạng’:
‘Dao
phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết thì chịu chết, buông nàng anh không buông‘
Một cô nàng thật thà cả tin đã giật mình ‘hú
vía’ vì kịp thời nhận ra ‘chân tướng’ đối tượng:
‘May
không chút nữa em lầm
Khoai lang khô xắt lát em tưởng cao ly sâm bên Tàu’
Có những nỗi niềm tương tư ấp ủ trong lòng,
nhưng cũng có khi người ta không ngại ngần thổ lộ trực tiếp với bạn tình:
‘Tôi
xa mình hổng chết cũng đau
Thuốc bạc trăm không mạnh, mặt nhìn nhau mạnh liền’
Họ là những người lao động chân chất, nên cũng
bày tỏ tình cảm với nhau bằng thứ khẩu ngữ thường ngày không chưng diện, màu
mè, tuy vậy, cái tình trong đó cũng mãnh liệt và sâu sắc.
Đây là lời tâm sự của một anh chàng đêm hôm
khuya khoắt lặn lội đi thăm người yêu:
‘Thương
em nên mới đi đêm
Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau
May đất mềm nên mới hổng đau
Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này’
Chàng thật thà chất phác, nhưng mà cũng có
chút ranh ma đấy chứ? Chất hóm hỉnh đã toát ra từ cái ‘thật thà tội nghiệp’.
Nhưng phần lớn vẫn là sự hóm hỉnh mang tính chất
đùa nghịch. Một chàng trai đã phóng đại nỗi nhớ người yêu của mình bằng cách so
sánh ví von trào lộng:
‘Vắng
cơm ba bữa còn no
Vắng em một bữa giở giò không lên’
Nỗi vấn vương tơ tưởng đi vào tận giấc ngủ khiến
chàng trở nên lú lẫn một cách buồn cười:
‘Phòng
loan trải chiếu rộng thình
Anh lăn qua đụng cái gối, tưởng bạn mình, em ơi!’
Nhưng cái độc đáo là ở đây nỗi niềm đó lại được
bộc lộ một cách hài hước:
‘Tôi
xa mình ông trời nắng tôi nói mưa
Canh ba tôi nói sáng, giữa trưa tôi nói chiều’
Có một chút phóng đại làm cho lời nói nghe hơi
khó tin! Nhưng hề gì. Chàng nói không phải cốt để đối tượng tin những điều đó
là sự thật mà chỉ cốt cho nàng thấu hiểu tấm tình si của mình. Nàng bật cười
cũng được, phê rằng ‘xạo’ cũng được, miễn sao hiểu rằng mình đã phải ngoa ngôn
lên đến thế để mong người ta rõ được lòng mình.
Lại có một chàng trai đang thời kỳ tiếp cận đối
tượng, muốn khen cô nàng xinh đẹp, dễ thương mà khó mở lời trực tiếp. Để tránh
đột ngột, sỗ sàng, chàng đã nghĩ ra một con đường vòng hiếm có:
‘Trời
xanh bông trắng nhụy huỳnh
Đội ơn bà ngoại đẻ má, má đẻ mình dễ thương’
Mục đích cuối cùng chỉ đơn giản là khen ‘mình
dễ thương’ mà chàng đã vòng qua năm non bảy núi. Bắt đầu từ thế giới tự nhiên –
trong thế giới tự nhiên lại bắt đầu từ ông trời – tạo hóa sinh ra những loại
cây, hoa đẹp đẽ – rồi mới bước qua thế giới của loài người – trong thế giới
loài người lại từ hiện tại ngược dòng lịch sử để bắt đầu từ tổ tiên ông bà, tới
thế hệ cha mẹ, rồi tới nhân vật chính – ‘mình’. Thật là nhiêu khê, vòng vo tam
quốc làm cho đối tượng hoàn toàn bất ngờ. Những lời ngộ nghĩnh kia dẫn dắt tới
sự hiếu kỳ háo hức muốn biết ‘chuyện gì đây’, cho đến khi cái kết cục thình
lình xuất hiện làm cho cô nàng không kịp chống đỡ… Nhưng mà nó thật êm ái, thật
có duyên biết bao, nên dù phải đỏ mặt, cô hẳn cũng vui lòng và không thể buông
lời trách móc anh chàng khéo nịnh!
Ngược lại, cũng có những lời tỏ tình khá táo bạo,
sỗ sàng, nhưng hình ảnh thì lại hết sức ngộ nghĩnh, dí dỏm:
‘Con
ếch ngồi dựa gốc bưng
Nó kêu cái ‘quệt’, biểu ưng cho rồi’
Những người nghe câu ‘xúi bẩy’ này không thể
không bật cười, còn đối tượng xúi bẩy cùng lắm cũng có thể tặng cho người xúi
có phần trơ tráo kia một cái nguýt dài.
Những câu ca dao hóm hỉnh không chỉ bật lên từ
tâm trạng đang vui, tràn đầy hy vọng, có khi ‘rầu thúi ruột’ mà họ vẫn đùa. Những
trắc trở trong tình yêu nhiều lúc được trào lộng hóa để ẩn giấu nỗi niềm của
người trong cuộc:
‘Thác
ba năm thịt đã thành bùn
Đầu thai con chim nhạn đậu nhánh tùng chờ em’
Quả là ‘khối tình thác xuống tuyền đài chưa
tan’, nên chàng lại quyết tâm chờ tiếp ở kiếp sau cho đến khi nào nên duyên nên
nợ. Kiên nhẫn đến thế là cùng!
Khi chàng trai cố gắng đến hết cách vẫn không
cưới được người mình yêu, không biết trút giận vào đâu, bèn đổ lỗi cho một nhân
vật tưởng tượng:
‘Quất
ông tơ cái trót
Ổng nhảy tót lên ngọn cây bần
Biểu ông se mối chỉ năm bảy lần, ổng hổng se’
Thái độ quyết liệt trong tình yêu lắm lúc được
thể hiện đầy ấn tượng. Anh chàng hay cô nàng trong câu ca dao dưới đây đã xem
cái chết nhẹ như lông hồng. Thà chết còn hơn là lẻ bạn!
‘Chẳng
thà lăn xuống giếng cái ‘chũm’
Chết ngủm rồi đời
Sống chi đây chịu chữ mồ côi
Loan xa phượng cách biết đứng ngồi với ai?’
Có chàng trai thì quyết tâm đem tuổi thanh
xuân gửi vào cửa Phật:
‘Nếu
mà không lấy đặng em
Anh về đóng cửa cài rèm đi tu’
Chàng vừa muốn tỏ lòng mình vừa muốn thử lòng
người yêu. Và cô nàng cũng tỏ ra quyết tâm không kém. Chàng đi đến đâu nàng
theo đến đó để thách thức cùng số phận:
‘Tu
đâu cho em tu cùng
May ra thành Phật thờ chung một chùa’
Bằng câu đùa dí dỏm của mình, cô nàng đã làm
nhẹ hẳn tầm nghiêm trọng của vấn đề trong tư tưởng anh chàng và cũng hóa giải
tâm tư lo âu, phiền muộn của chàng – ‘Có gì đáng bi quan đến thế? Cái chính là
em vẫn giữ vững lập trường’ – đồng thời cũng hàm thêm chút chế giễu – ‘Mà có chắc
là tu được không đấy?’.
Khi yêu, nhiều cô gái cũng mạnh dạn bày tỏ
tình cảm của mình không kém các chàng trai.
‘Phải
chi cắt ruột đừng đau
Để em cắt ruột em trao anh mang về’
Không tiếc cả thân thể, sinh mạng của mình,
nhưng cô gái chỉ… sợ đau, thật là một cái sợ đầy nữ tính rất đáng yêu. Hay khi
chàng trai muốn liều mình chứng tỏ tình yêu, nhưng cũng lại ‘nhát gan’ đến bật
cười:
‘Gá
duyên chẳng đặng hội này
Tôi chèo ghe ra sông cái, nước lớn đầy… tôi chèo vô’
Tinh nghịch, hóm hỉnh những lúc đùa vui và cả
những khi thất vọng, đó là vũ khí tinh thần của người lao động để chống chọi những
khắc nghiệt của hoàn cảnh. Những chàng trai, cô gái đất phương Nam đã lưu lại
trong lời ca câu hát cả tâm hồn yêu đời, ham sống, hồn nhiên của họ trên con đường
khai mở vùng đất mới của quê hương tiếp nối qua bao thế hệ – Đó là tinh thần
phóng khoáng, linh hoạt, dày dạn ứng biến của những con người ‘Ra đi gặp vịt
cũng lùa; Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu’…
TS. Đoàn Thị Thu Vân
(Tạp chí Tài Hoa Trẻ)
304Đen – llttm - OVV
"Tiên Học Lễ Hậu Học Văn" Từ Đâu Ra? - Lê Vĩnh Húy
“Tiên học lễ hậu học văn” từ
đâu ra?
Nói luôn, câu
Hán-Việt này không phải của Tàu, càng không dính dáng Khổng Khâu. Chủ trương của
Khâu là đề cao chữ Lễ, coi đó là một mỹ đức. Lễ đây là phép tắc lễ nghi, nó
giúp con người ta hành xử cho ra bộ dạng con người.
Lê Vĩnh
Húy
XUẤT XỨ
Khâu phát biểu: “[Người] không học Lễ
sẽ không có cửa lập thân”[1]. Quan niệm này chẳng những thời nay nghe khó lọt
tai, mà ngay thời Xuân Thu bên Tàu (771-476 trCn) cũng hổng mấy ai để ý. Ai đời
đang buổi liệt quốc phân tranh, kiếm tuốt cung giương; vậy mà lại có đứa chủ
trương trước lấy lễ nghi để đãi người, sau dùng lý lẽ để thuyết phục người.
Khâu không thức thời, bởi vậy phải ôm
mối hận bất đắc chí cả đời. Vậy cũng xong một kiếp, thôi kệ Khâu đi.
Nhưng bọn đời sau không kệ, lại lôi
chữ Lễ của Khâu ra để tân trang theo ý mình. Vậy là Nho giáo ra đời. Hải ngoại
chư quân tử lưu ý cho: Tư tưởng của Khổng khác Nho giáo, là cái đời sau thêm mắm
giặm muối; lại càng khác mớ “học thuyết” mà Trung quốc hiện rao giảng trong các
Học viện Khổng tử. Một đằng hoài bão giáo hóa nhân quần, còn một đằng mưu toan
nhồi sọ ngu dân.
Và toàn bộ những thứ đó lộn tùng phèo
như nồi cháo heo, mạnh ai thích gì thì thò đũa gắp nấy. Nhưng đó là chuyện
khác, không nằm trong bài này.
Xin trở lại chủ đề.
ĐỐM LỬA VỤT TÀN
Chủ trương trọng Lễ thật ra không phải
do Khổng Khâu khởi xướng, mà trước đó đã từng có người đề cập. Như Quản Di Ngô
sinh trước Khâu hai trăm năm. Ông này không chỉ đề xướng mà còn thực thi khi va
làm Tể tướng nước Tề. Đó là trước hết phải dạy con em biết lễ nghĩa liêm sỉ,
sau đó mới dạy văn tự và võ nghệ.
Nhưng trong đống kinh sách cổ của
Trung Hoa, tuyệt không có câu “Tiên học lễ hậu học văn”. Đây là một khẩu hiệu
“thuần Việt”. Gốc gác câu này là ở miền Nam Việt Nam, vào thời Đệ Nhất Cộng
Hòa.
Đó là sau khi Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng
Hòa chính thức nêu “Những nguyên tắc căn bản” của ngành giáo dục (Nhân bản, Dân
tộc, và Khai phóng) vào năm 1958. Có nhà giáo hoặc nhà báo nào đó đã đặt ra câu
“Tiên học lễ hậu học văn” làm khẩu hiệu. Không biết cụ thể ai đặt câu này,
nhưng có thể khẳng định nó xuất hiện trước nhất ở miền Nam, kể từ sau 1958[2].
Câu này nghe cũng hay hay, thường được
trưng trong khuôn viên các trường công lập, mãi tới cuối thời Đệ Nhị Cộng Hòa vẫn
còn. Nhưng sau 1975 thì toàn bộ bị đục bỏ, nhà trường ở miền Nam giai đoạn này
được trang trí bằng các khẩu hiệu “Trăm năm trồng người”, “Năm điều bác dạy”,
“Chủ tịch Hồ Chí Minh quang vinh muôn năm!”
Không biết cảm giác của các học sinh
miền Bắc hồi này thế nào, còn đối với tụi trẻ em miền Nam, đó là những khẩu hiệu
hơi lạ. Phải tung hô, không cần hiểu.
ĐUA NỞ TÈ LE
Phải đến sau thời kỳ gọi là “mở cửa”,
nhất là sau khi nhà nước Việt Nam được chính phủ Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận, con dân
toàn cõi Việt Nam mới trở lại xúng xính phú quý sinh lễ nghĩa. Thầy giáo bắt đầu
bỏ dép râu, tập đi dép sa-pô; các cô giáo – nhất là các cô giáo ngoài Bắc vô –
mới bỏ áo dài tay, quần vải ú đen thui để diện áo dài yểu điệu; học sinh miền
Nam cũng được ăn ké, mặc lại đồng phục, nam sinh mặc sơ-mi trắng quần xanh, nữ
sinh thì áo dài trắng.
Và ngộ chưa, trong trường lớp, giờ
đây khẩu hiệu “Tiên học lễ hậu học văn” bỗng được phục hồi, sánh vai cùng các
khẩu hiệu sấm vang trống dội khác trên khắp ba miền đất nước.
KẾT LUẬN
Thời đại ôn dịch mà bàn chuyện giữ
hay bỏ khẩu hiệu “Tiên học lễ hậu học văn” chỉ là trò của tụi xí mứng. Vả lại
đó chẳng qua chỉ là đề xuất của hiệu trưởng một đại học cà na, không phải chủ
trương của Bộ Giáo Dục, càng không phải đường lối của đảng.
Rặn ra hoặc lượm mót một khẩu hiệu là
chuyện dễ, còn bỏ nó lại thành chuyện khó. Bỏ khẩu hiệu này sẽ tạo tiền lệ để bọn
điêu dân hô hào bỏ thêm khẩu hiệu khác.
[1] Luận ngữ: Bất học Lễ, vô dĩ lập (不學禮, 無以立).
[2] Trước khi miền Bắc có câu khẩu hiệu
“Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm cấy người” (1959).
Lê Vĩnh Húy
Friday, July 3, 2026
Áo Má Tôi - Thuyên Huy
Áo Má Tôi
Từ quê lên trường tỉnh, năm đệ Thất, má ít
khi lên đón tôi về, ở ký túc xá nên bà không phải lo chuyện ăn chuyện ở, thứ
Bảy cùng mấy đứa bạn chung lớp, theo mấy anh lớn, cũng ở làng xã quê xa, chung
đường về nhà, đứa xuống trước chỗ này, đứa xuống sau chỗ kia, xế trưa chủ Nhật
má đưa tôi ra đón xe ngoài đường lộ, vậy thôi, cứ ngày này qua tháng kia.
*
Ngày bải trường, nghỉ hè cuối năm, năm đệ
Thất, má đón chuyến xe đò nhỏ đầu ngày, lên tỉnh từ sáng sớm, mặt trời Hạ rực
nắng lên nhà xóm chài bên này sông, má khiêm nhượng đứng nép mình ở gốc cây
phượng già bên kia đường, xế chỗ cổng trường một khoảng xa, chỗ ngày đầu bà đưa
tôi lên học. Chuông tan trường reo lên vang rân, chen đám đông nghẹt học trò,
túa ra như bầy ong vỡ tổ, tôi chạy nhanh ra tìm má, nắm tay bà cười thành
tiếng.
Tiếng đám học trò nhà ở tỉnh, cười giỡn,
xúm xích với gia đình, nào xe hơi, xe gắn máy, áo quần người nào người nấy
thẳng thốn lụa là, cách đó không xa. Bất chợt nhìn má, cũng cái áo bà ba sờn
tím bạc, cái quần đen ngã màu bùn che chưa trọn gót, cũng đôi dép Nhật cũ, bộ
đồ đã mặc khi đưa tôi lên tỉnh đầu năm học, tự dưng thấy có chút buồn nhè nhẹ,
đâu đó trong lòng khó tả, khác hẳn những năm còn nhỏ ở trường làng, tôi vô tư
không nghĩ gì. Xe đò tới, lên xe rồi, nhìn lại đám người phía sau, rồi nhìn má,
tôi thì thầm “má tôi”.
*
Nhà nghèo, ba mất sớm, từ hồi chưa lên năm,
bà con nội ngoại không thấy ai, chưa một lần nghe má nói tới hay nhắc đến. Còn
lại hai má con, vui mà sống ở căn nhà mái tôn vách đất, nằm cuối ấp chợ, bên lề
con đường đất đi xuống bờ nhánh sông nhỏ, không có bến đò, băng ngang qua cánh
đồng cỏ lớn, nơi dân làng thường thả cho trâu bò ăn cỏ.
Má làm công nhân cạo mủ cho cái sở cao su
lớn, cách nhà độ chừng ba bốn cây số, sáng sớm, trời còn mờ mờ sương đã đạp xe
đí, má đem gởi tôi bên nhà ông bà bác sáu Thịnh, bên cạnh, có sạp bán bánh bán
xôi trong chợ, nhà không có con, và thương tình cảnh mẹ góa con côi, thường hay
giúp đở má tôi nhiều thứ, trong nhiều thứ đó, có tiền, nhất là tiền cho tôi đi
về khi lên tỉnh học, số tiền đó má từ từ trả lại, hai ông bà ít khi đòi, ông bà
thương tôi lắm, từ sở cao su về trưa chưa kịp thì đã lo cho tôi ăn tôi uống
rồi.
Trừ thứ Bảy chủ Nhật, ngày đi làm má về nhà
lúc giữa trưa một chút, nên rảnh cả buổi chiều, má qua phụ ông bà bác sáu
chuyện nấu xôi hay làm bánh. Tôi đi học trường xã, má thức sớm hơn, cho tôi ăn,
khi thì xôi của ông bà bác sáu Thịnh cho, hay cơm nguội khoai lang, như những
năm qua, dẫn tôi qua bên bển chơi, chờ trống trường vào học, rồi đạp xe đi làm.
Tôi quen dần với chuyện này từ những năm đó.
*
Năm đệ Tứ, vào học không lâu, được thằng bạn
thân, con nhà giàu cùng lớp, giới thiệu tới làm phụ bưng chén, bưng tô cho
khách, vài tiếng đồng hồ mỗi chiều tan học về, tại tiệm cơm đông khách của
người dì bà con hắn ta. Làm như vậy, vài tháng sau, trước ngày nghỉ Tết năm đó,
buổi chiều tan học, có chút đỉnh tiền, tôi ra tiệm vải trong nhà lồng chợ tỉnh,
mua hai sấp vải màu, áo tím đậm màu trái cà, quần đen tuyền màu mực, để đem về
làm quà năm mới cho má.Trên đường đi bộ từ chợ về ký túc xá, cười vui như trúng
số, ước mơ một ngày có được của tôi đã thành sự thật.
Vậy đó, mấy mùa Tết năm sau, thấy má không
mặc áo mới, không dám nhưng có đôi ba lần, lần lựa rồi e dè, hỏi sao má chưa
may quần áo mới, má cười bảo chưa cần, khi nào may tôi sẽ biết ngay, má con tôi
ăn Tết, nói ăn Tết cho vui, chứ nhà nghèo, mưa dầm lầm lũi, vui buồn với đám
cây cao su tối mù, hết xuân rồi đông, có mâm cơm, nồi thịt kho mua trễ thêm hai
ba cái hột vịt, trái dưa hấu ông bà bác sáu Thịnh cho và gói thèo lèo cứt
chuột, cũng đủ để nhà có tiếng cười rồi, thương má, năm nào tôi cũng để dành
chút tiền, quà cho má mà không cần má cho lại, nhìn cái bao đỏ, lần nào cũng
vậy, thấy mắt má đỏ hoe mà thương má không biết nói sao cho vừa.
*
Hai
má con ngồi ăn bánh mì, với mấy lát thịt đồ hộp của Mỹ mà tôi mua từ chợ Cũ Hàm
Nghi Sài Gòn, với số tiền dành dụm từ những ngày làm ở quán cơm bà dì của anh
bạn học nhà giàu, hôm đi xem kết quả Tú Tài Một về, sau chái hiên nhà, bên cạnh
mâm cơm cúng ba, mâm cơm báo tin tôi thi đậu, buổi chiều còn nắng, má mừng khôn
xiết, giờ thì bà bảo tôi , bà chờ ngày này từ mấy năm rồi, ngày mai má sẽ may
quần áo mới, vừa nói vừa cười, chút vạt nắng tím hồng chiều còn sót lại, lùa
ngang phớt qua, trên đầu bà những sợi tóc thưa bạc màu sương khe khẻ đong đưa,
vui lây.
*
Hôm đưa tôi ra đường, chờ đón xe lên tỉnh
tựu trường đầu năm đệ Nhất, má mặc chiếc áo bà ba màu tím trái cà mới. Lên xe,
xe chạy một khoảng xa, nhìn lại, nhớ chiếc áo bà ba tím cũ bạc màu của má, tôi
rươm rướm khóc.
Thuyên
Huy
Viết lại
để tưởng là mình có mẹ
Thằng Người Có Đuôi - Thế Giang
Thằng Người Có Đuôi
–
Tên chị là gì?
– Thưa em tên Mợ
– Mơ gì? Mộng mơ hay quả mở
– Tùy, ai muốn hiểu thế nào thì hiểu…
– Quê quán ở đâu vậy?
– Em ở Thạch Thất, Hà Tây.
– Chị công tác ở cơ quan nào?
– Thưa, ở ty Văn Hóa Thông Tin Hà Sơn Bình.
– Chắc chưa vào đảng…?
– Vâng, em mới phấn đấu ở cương vị đoàn…
– Chị lập gia đình chưa?
– Em chưa lập, nhưng đối tượng thì có rồi!
– Các cụ nhà ta còn cả chứ?
– Vâng, thầy u em vẫn còn.
– Gia đình được mấy anh chị em nhỉ?
– Thưa, được tám cả thảy…
Một bản sơ yếu lý lịch? Một cuộc hỏi cung ngắn? Tôi thò đầu ra khỏi gầm ghế, hé
mắt nhìn về cuối toa xe lửa. Cửa vẫn còn mở có nghĩa là đội công an, thuế vụ
trên tàu chưa làm việc, nếu không họ đã đóng chặt hai đầu toa cho hành khách
không có đường đi lại hoặc tẩu tán hàng hóa.
–
Chị đi đâu mà hành lý cồng kềnh thế này?
Bỏ
mẹ rồi, đội kiểm tra cơ động đặc biệt! Tôi rụt đầu vào gầm ghế, cay đắng lo cho
số phận hai bịch thuốc lá sợi của mình. Hôm nay thứ sáu, nhưng 15 tây, 8 âm lịch:
ngày lành. Tử vi tôi tháng này không xung với tuổi, trong năm không có sao Địa
Không, Địa Kiếp ghé thăm để mà lãnh tai họa, trộm cắp.
Chuyến
tàu khởi hành chậm hai tiếng đồng hô như lệ thường. Nếu chả may nó chạy đúng giờ
thì người ta còn coi như báo trước một điềm gở… Khổ quá, tôi đã tham lam đóng hết
hàng, chỉ chừa lại số tiền vừa đủ ăn đường và nộp hụi chết cho cánh công an thuế
vụ thường trực trên tàu, đám đột xuất này mà sờ đến thì chỉ còn nước bỏ của chạy
lấy người.
Tàu
lắc lư chạy trong đêm. Hành khách ba miền của bao nhiêu âm ngữ đã đồng tiếng
ngáy. Ngay sát mặt tôi, dưới gầm ghế là hai bàn chân giao chỉ với ngón cái xòe
ra, dính đầy bùn đất của anh nông dân vừa lên vất hai bao sắn qua cửa sổ. Trên
ghế đối diện, thuộc về giai cấp khác, mấy ông cán bộ đi công tác với cặp táp,
điếu cày đang ép nhau ngồi. Thỉnh thoảng, những khi tàu lắc mạnh, các vị lại
xón cho giai cấp dưới cùng tí nước điếu. Hai con bé con tóc khét nằng, áo bà ba
đen, quần đùi, đang ôm lấy bao than củi ngủ, chả hay biết nước thánh cam lồ
chảy tong tỏng trên lưng mình. Trên đâu tất cả là mấy ông con trời bộ đội đang
nhịp nhàng kẽo kẹt thượng tọa trong võng. Chú lính treo gần tôi nhất đầu ngoẹo
ra khỏi võng ngủ, môi trề ra, nước dãi nhểu nhảo chảy xuống bụng chị có con mọn
đang tốc áo cho con bú ngáy khò khò trên ghế.
Trời
ơi, muốn ra được cũng thật khó, tôi gồng sức đẩy hai bàn chân chắn ngang mặt
mình mà không được. Sau mỗi cố gắng, anh nông dân lại cho tôi một cái đạp hoa cả
mắt. Đau vì bị đạp thì ít, mà ức vì bị đèn nén thì nhiều, tôi nghiệm thấy, quy
luật đấu tranh của xã hội cũng đúng cả dưới gầm ghế này. Nhưng thôi, tất cả đều
đã mệt, cần được ngủ để có sức chiến đấu cho lúc xuống tàu.
Tỏng
tỏng… róc rách… Tàu chạy vào khúc xuôi gió thì vẳng lên tiếng nước chảy, rồi âm
ấm ở đầu. Nghiến răng chịu cho cái chân ghế cứa vào cổ, tôi ngỏng đầu lên để
nhìn. Trời đất, suối nguồn thiên thai được bắ’t từ cái cần câu cong vút của thằng
bé đang nằm nghiêng trên ghế ngậm ti mẹ. Xung quanh không ai để ý.
Tôi
rút tay, vuốt vuốt tóc rồi đưa lên mũi ngửi. Cũng may, trẻ nhỏ nó chưa ăn mặn
nên tè ra không khai lắm, chứ như cái mùi thường trực bốc lên từ cầu tiêu đầu
toa thì bỏ mẹ. Hành khách đi xe lửa Thống Nhất chả bao giờ bị cảm mạo, trúng
gió cũng là nhờ cái mùi này chủng ngừa trước.
–
Chị có tranh thủ mang ít hàng để cải thiện không ?
–
…
Cái
giọng lấy cung kia lại quái ác nổi lên, tôi đã tỉnh ngủ, nghe rất gần, ngay
khoang bên cạnh. Khổ nổi không làm sao chui người ra đuợc để còn biết đường mà
chuồn. Thôi thì trăm sự đành cậy nhờ cây đèn bão tù mù này. Giá có ngọn gió nào
thổi tắt nó đi thì đỡ biết mấy.
Lúc
vừa nhảy lên tàu tôi đã chọn ngay cái toa toàn các khuôn mặt hao hao đói của
cán bộ, ngô nghê chất phác của nông dân này để trao thân. Tôi định mập mờ đánh
lận con đen giữa đám người lương thiện hòng trốn tránh các toán kiểm tra bất ngờ.
Tôi đã mừng rơn khi những “thành phần cơ bản”, chủ nhân của toa tàu giương cặp
mắt tò mò, đố kỵ, sợ bóng sợ gió nhìn mấy bà “ngụy” đi thăm nuôi chồng con cải
tạo ở miền Bắc về rồi từ chối không cho họ ngồi ké.
Tuy
đã đuợc thực tế phũ phàng của những trại tù, cuộc sống đầy tương lai của miền Bắc
XHCN nhuộm xanh lè cả mặt, nhưng mớ áo quần bằng vải tốt, đống guốc dép, đầu
tóc khác lạ, nhất là thói quen nhìn lại chỗ ngồi, phủi phủi vài cái rồi mới e
dè đặt mông xuống của mấy bà khiến cho hai miền không thể lại gần nhau được.
Tôi tiếc rẻ vận cổ nhìn tiễn theo mấy cái gót chân thon nhỏ, dính chút bùn
đi tìm bến đậu khác.
Nhưng
đời là một cuộc chiến đấu lớn, phải biết tiêu diệt những tình cảm phù phiếm
trong mình để đi tới đích. Than ôi, những hy sinh lẻ tẻ đó cũng không cứu được
hai bao hàng, đám con chiên hiền lành kia cũng không giúp tôi được chút gì, cái
mánh mung của tôi đã hại tôi, chuyến này thì tiền mất tật mang rồi. Không còn
cách nào hơn, tôi đành dọn mình, chuẩn bị đón tai họa sắp tới. Trong bóng tối,
dưới gầm ghế, bên cạnh hai bàn chân chỉ chực đạp vào mặt với mùi khai của nước
tiểu, tôi chợt nhớ đến bài hát của Trịnh Công Sơn “Nơi
đây tôi chờ… nơi kia anh chờ… ” để được ngồi trên “…chuyến xe qua ba miền…”. Phải
rồi, bên đây tôi nằm, bên kia em nằm, cũng chuyến xe qua ba miền. Cái bậc nghệ
sĩ họ thật giàu tưởng tượng và lãng mạn.
–
Rụt chân lại !
Tôi
hét to, cấu mạnh vào chân anh nông dân. Một cái đạp tương xứng với cái cấu tung
vào mặt tôi nhanh nhạy như phản xạ co giật của con ếch khi bị truyền điện. Anh
ta cằn nhằn trong miệng rồi tiếp tục ngáy.
–
Xê ra cho người ta đi… tiểu !
Không
dám cấu nữa, tôi chỉ biết, cũng cốt ý cho đám công an bên cạnh nghe thấy để hợp
pháp hóa việc bỏ đi của mình. May làm sao anh chàng nông dân trở mình đổi thế nằm,
hai hòn đá chắn cửa hang rụt lại, tôi vội nhoài người ra, đứng dậy leo trèo qua
đống thịt ngổn
ngang nằm kín lối đi để ra ngoài. Đứng trong cầu tiêu một lúc cho vừa đủ thời
gian tiểu tiện, tôi hé cửa nhìn ra. Toa tàu hoàn toàn yên tĩnh, chỉ có gió lùa ở
hai bên cửa sổ, tiếng bánh sắt nghiến xuống đường rầy.
Quái
lạ, công an biến đâu hết rồi ? Đánh bạo, tôi mò lại gần. Hai bên thành toa võng
giăng kín thành hàng, đưa đẩy. Hành khách trên ghế gật gù ngủ. Chả có bóng áo
vàng nào hết! Tôi nằm mơ chăng ? Rất có thể vì dân chạy hàng bọn tôi suốt ngày
đêm bị rình rập, phải đề phòng, trốn chạy nên riết rồi méo mó nghề nghiệp, nó
theo cả vào giấc ngủ. Cứ sống với cái nghề này có ngày vỡ tim mà chết. Tôi đứng
tựa lưng vào thành ghế, định thần lại. Chị có con mọn đã ngã choãi lên người
tay thiếu úy trẻ để ngủ, vú vê bày thõng thượt. Đứa con lọt vào kẽ nách mẹ, ngỏng
cổ mân mê cái đầu tí.
Chả
biết họ có chồng vợ gì không, nom chị ta vẫn còn trẻ, già độ hai ba năm về trước
có ai động đến tí của “trời cho” đó sẽ bị nhảy lên đùng đùng tru tréo chửi. Người
thứ tư trên ghế, một ông cụ già râu tóc lưa thưa, nghiêng người cho đủ chỗ ngồi,
tay bám với lên thành ghế, đầu cúi gục xuống gần ngực chị có con mọn gật gù ngủ.
Bao nhiêu mật ngọt lòng thòng rỉ từ miệng chú lính trên võng, cái đầu ông hứng
hết. Ba ông cán bộ tóc điểm muối tiêu, áo sơ mi trắng cọc tay, khư khư ôm cặp
táp trong lòng đang nhịp nhàng lắc lư trên ghế đối diện. Ngay trong giấc ngủ họ
cũng có cái vẻ “nhất trí” như khi làm việc.
Tàu
sắp đến ga Nha Trang, vùng đất bão lửa đối với dân buôn chuyến. Chỉ còn một
ngày đường nữa những sứ giả nguyên thủy của CNXH sẽ đổ bộ vào Saigon, thành phố
đang trên đường cải tạo để trở về với miền Bắc, với CNXH. Tôi cúi xuống nhìn
vào gầm ghế. Hai bao hàng vẫn ngủ yên trong đó. Cái bào thai đã đi được chín
tháng chín ngày. Cầu trời cho
nó được mẹ tròn con vuông. Khoang bên cạnh cũng toàn các khuôn mặt trong biên
chế, những lá bùa dán đè lên bản mặt “bất chính” của tôi. Đừng rẻ xuống ga lẻ dọc
đường, bỏ tôi côi cút một mình nhé, hỡi các bạn yêu dấu.
Tôi
sẽ chi viện cho miền Nam ruột thịt ít sợi thuốc lá vàng, do chính tay vợ con
các bạn trồng. Những ông ba tàu chợ lớn với kỹ nghệ làm giả tuyệt hảo, hơn hẳn
nền đại công nghiệp XHCN sẽ vấn thành những điếu thuốc CAPSTAN thẳng thớm, đẹp
đẽ trong hộp carton giấy bóng kính để các bạn trầm tư, đắn đo, quyết định
tốn kém, mang ngược về miền Bắc làm quà cho anh em bè bạn.
Một
cặp trai gái vẫn còn thức, họ ngồi nép vào nhau, thỉnh thoảng trao đổi những
cái nhìn. Gã trai với cây đàn ghi ta treo trên đầu, tóc dợn sóng, có dáng dấp của
một vĩ nhân tỉnh lẻ, ông chủ hiệu may, hiệu chụp ảnh, một bậc văn hóa lớn ở phố
huyện ( ?) không ; gã có vẻ là anh đội trưởng đội chiếu bóng huyện hơn là những
vị kinh doanh thẩm mỹ vì cái kính râm nội hóa cài khéo ở ngực, áo sơ mi trắng
loại vải không pha ny lông, quần kaki xanh mua phân phối, ở cổ tay thiếu cái đồng
hồ. Cô gái ngồi bên cạnh tuổi chừng đôi mươi, tóc dài, hoe màu nắng cháy. Khi
cô ngước mặt lên nhìn tôi thì trời đất ơi, một trang tuyệt sắc giai nhân. Đôi mắt
có đuôi, mở lớn hiêng hiếng xếch đang cười lăn tăn. Mũi cô thon nhỏ, thường tìm
thấy nơi tượng Đức Mẹ hoặc trong hình thiếu nữ e lệ in trên băng, đĩa vọng cổ.
Cặp môi cũng chúm chím cười như mắt, phơn phớt hồng, nổi trên miền da trắng. Những
đường nét, màu sắc đó được ướp trong vẻ hồn nhiên tươi tắn của cô gái mới mập mờ
linh cảm về nhan sắc của mình. Toa tàu như tỏa mát hương sen, tôi ngó vội xuống
quần áo của mình, lúng túng dấu mấy ngón tay dắt kín đất đen ở kẽ móng. Trong
phút chốc tôi quên bẵng hai bịch thuốc lá,
mũi tôi điếc với mùi khai, mắt tôi mù với thân thể nếu được phơi bày ra hết sẽ
diệt dục trai tráng của thiếu phụ có con mọn bên cạnh, tôi ngây người như đười
ươi giữ ống chiêm ngưỡng cô gái. Gã trai cảm thấy bị hao mòn mất mát bởi đống
tình si chảy nhão nhoẹt trước mắt mình bèn đưa tay kéo cái vạt áo hở của cô
gái, ra điều hoa đã có chủ. Gạt nhẹ tay gã ra, cô sửa lại thế ngồi rồi thẹn thò
liếc tôi. Gã trai húng hắng họ
Như
để chạy đua vũ trang với tôi, khẳng định với cô gái, gã xoay hẳn người lại, cặp
mắt nhừa nhựa la liếm lần trên gò má hồng, bò quanh miệng, rồi chui xuống cổ
cô. Cảm thấy gã sắp trườn vào lòng người đẹp đến nơi, tôi “e hèm” đánh tiếng,
quay mặt đi chỗ khác. Sự buồn giận vô cớ chợt xâm chiếm lòng tôi. Hương hoa thế
kia dãi gió dầm mưa làm chi trên chuyến tàu này. Vẻ đẹp mong manh bên cạnh sự lố
bịch. Vâng, người là hoa của đất, là bà chúa của thiên nhiên, bao nhiêu cuộc đời
mới dâng hiến một khuôn mặt đẹp, cũng chỉ đẹp trong tích tắc, một lần phát
hương rồi trơ mình ra cho cuộc sống chìa hàm răng vẫu thô lậu nghiền nát.
Chỉ sau lời tuyên bố ngắn ngủi của đồng chí chủ tịch xã kiêm chủ hôn, sau ba
năm sống không có ca nhạc, ti vi chiếu bóng đêm, người đẹp ngồi kia sẽ biến
thành cái máy đẻ, con đường đi đến thiếu phụ sau lưng tôi sao mà gần. Quần
xanh, áo trắng mới tinh khôi, tôi nổi
giận với cả sự ăn diện của cô gái. Ở xã hội này mỗi khi muốn chứng tỏ “Tôi đi
chơi “, “Tôi làm đẹp “, người ta không có chọn lựa nào khác ngoài màu trắng để
tách mình ra khỏi màu nâu lam lũ với đất, màu tím than đánh lẫn với dầu máy,
màu áo lính nhuộm xanh cả đất nước. Từ đồng chí Tổng Bí Thư trên diễn đàn đại hội
đảng, chú cai ngục hỏa lò Hà nội hai tay đút túi quần bước vào quán phở, cho đến
cặp trai gái đi dạo quanh hồ Hoàn Kiếm, ai ai cũng chỉ một màu áo trắng. Cái
màu trắng đẹp đẽ thanh khiết bị lạm dụng, bị cưỡng hiếp trở nên nhàm chán, làm
nhòe nhoẹt các khuôn mắt đời vốn đa dạng, biến nó thành một thứ đồng phục ngớ
ngẩn.
–
Mặt mũi không đến nỗi nào mà ăn mặc bẩn thỉu như mọi rợ…
Gã
trai thì thầm với cô gái. Cô ngước mắt nhìn tôi. Họ cùng cười với nhau.
–
Chị đã mệt chưa ? Cứ ngả lên người tôi mà nghỉ… ?
Gã
đề nghị, ngồi lấn vào cụ già đang ôm cái tay nải bên cạnh để nhường chỗ. Tôi ngờ
ngợ, dỏng tai chờ đợi.
–
Không. Cảm ơn anh em còn ngồi được.
Cái
giọng “lấy cung” khi nãy ? Tôi nhìn chăm chăm vào mặt họ. Cô gái ngượng ngùng
quay mặt đi chỗ khác. Gã trai nghĩ tôi là chướng ngại cản trở dịp may chờ đợi
đã lâu nên lừ mắt hằn hộc xua đuổi. Thấy địch thủ vẫn không nhụt chí, chả cần
bóng gió xa xôi, gã ném thẳng
vào mặt tôi câu chửi :
–
Chỉ có đồ vô văn hóa mới thò mõm vào việc người khác!
Thôi
đúng rồi, chả có Công An nào hết, tôi cũng không nằm mơ, cũng không có ma quỉ
gì quấy phá, anh bạn trẻ ngồi trước mặt chính là tác giả bản “hỏi cung” khi
nãy. Tôi sờ lên túi áo ngực. Trong cuốn chứng minh thư (cũ) của Công An cấp,
ngoài tên tuổi, địa chỉ, quê quán, đã can án lần nào chưa, còn những mục về cha
mẹ, vợ con, còn sống hay đã chết… Tôi nhớ đến những lúc mới làm quen, người ta
cũng hỏi và trả lời đầy đủ những điều cần thiết trong một bản sơ yếu lý lịch. Hỏi
như một thói quen, nhiều khi chả để làm gì và sau đó ai đi đường nấy. Thói quen
méo mó đó ngấm sang cả địa hạt yêu đương.
“Nơi
em về trời xanh không em… ” Bên này vĩ tuyến 17 không có một câu hỏi thơ mộng,
lãng mạn như vậy, còn các Vũ Hoàng Chương, Khái Hưng, Hàn Mặc Tử… đã bị đánh bật
rễ khỏi người đọc, gom lại trong cái nghĩa địa văn hóa cổ, le lói trong ký ức
người già. Các tay “yêu” lừng lẫy một thời vẫn còn đấy, nhưng đã biến thành
Xuân Diệu Xuân Xang Xuân… Tóc đỏ.
Người
ta đã tiêu thổ kháng chiến đến cả yêu đương. Nói đến “yêu” cũng phạm húy, phải
gọi là “tìm hiểu”, người yêu là “đối tượng tình cảm” (đối tượng đoàn, đối tượng
đảng, đối tượng của pháp luật ). Hôn nhân được xây hào đắp lũy thành “lập gia
đình”. Chữ “chàng” và “nàng” được cách mạng hóa thành những chữ “anh”, những chữ
“chị”, những “gã”, những “hắn” trong văn học hiện hành. Người ta lập pháp hóa cả
tình yêu, vớ vẩn có thể bị qui là “quan hệ bất chính”, “tác phong thiếu lành mạnh”.
Đa sầu đa cảm, yêu lăn yêu lóc cả trong nhạc lẫn ngoài đời như ông Phạm
Duy dám đi cải tạo không có ngay về.
Tình
yêu không được thi ca ấp ủ, dẫn dắt, hướng thượng, thè lè đi ngoài đường trong
những dịp quốc khánh, hội hè đông người để sờ mó, gỡ gạc lẫn nhau, “hủ hóa” với
nhau trong nhà kho công sở, hoặc nếu đúng đắn nghiêm chỉnh hơn thì đặt ra tiêu
chuẩn “3B” (Bôn sê vích,
buồng ở, bia cung cấp) để “tìm hiểu”. Vì vậy những lời yêu đương được mở đầu bằng
“Đồng chí công tác ở cơ quan nào ?…”
Tôi
cười rú lên giữa toa tàu. Gã trai giật mình rụt vội bàn tay có mắt về. Một vài
hành khách luống tuổi tỉnh giấc, khó chịu nhìn thằng điên đang sắp ngửa leo qua
đống người nằm giữa lối đi để ra ngoài. Ông bạn trẻ cay cú tiễn với theo…
–
Thật đúng là đồ quái dị!
*
Chuyến
tàu đó đã dừng lại ở VN . Hai năm sau, trên chuyến tàu ở xứ tị nạn, tôi lủi thủi
đi lại một mình giữa toa tàu trống vắng. Lác đác vài cặp mắt xanh sợ gió máy
đóng kín cửa sổ, khụt khịt mũi nhìn con người dị hợm cuồng cẳng. Không được
chen chúc, hằm hè chửi
bới nhau, không sợ cảnh sát bằng mấy con chó cảnh chạy lăng xăng bên cạnh mấy
bà già, buồn, tôi lẩn thẩn ước lượng số ghế trống rồi nao lòng nhớ về những anh
em bè bạn ở quê nhà. Xót xa với máu mủ mình chưa hết, tôi còn thương lấy cả cái
ngành hỏa xa của xứ người. Làm ăn như thế này thì lỗ chết. Tôi quên béng đi mất,
rằng tiền vé chém rất nặng, cuốc đường ngắn như thế này nếu gửi quà về VN thì
“chúng nó” lai rai quán cóc cả tháng trời. Tôi nhớ về bên nhà như một kẻ thiếu
nợ.
Con
thú hoang dã đã được thuần giống bằng trợ cấp thất nghiệp (cho mày đủ ăn để tự
giam mình trong chuồng, đừng có nhìn sang túi khác). Tôi đã “quên” chưa trả lời
gần chục cái thư, thư nào cũng giống nhau một điểm là ngắn (đỡ tiền tem). Chữ
nghĩa tiết kiệm rồi, lại còn bóng gió xa xôi, nhưng cái bóng gió xa xôi tài
tình đến độ lồ lộ hiện ra khuôn mặt dài ngoẳng vì đói vì chờ của ông bạn.
Trước khi đi, tôi đã dại dột bốc đồng “Tụi mày yên tâm đi, tao mà…” Cái “tao
mà…” ấy cho đến giờ này cũng chỉ tiến thêm được một bước thành “tao sẽ…” nhưng
tôi cũng không ân hận là đã cho họ ăn bánh thánh. Có vị bác sĩ nào đủ can đả
m nói với người bệnh đang hấp hối của mình “Xin thưa, tôi bất lực, tôi không có
thuốc…?”
Những
con tin của lương tâm ở bên nhà hiện đang sống bằng hy vọng. Tôi lừa họ chưa đủ,
họ còn phải tự lừa mình nữa thì mới sống nỗi. Méo mặt trả xong tiền tem, cầm bằng
mua xấp vé số, họ xoa tay yên tâm chờ đợi. Nhưng mấy chục cái đơn xin việc của
tôi mất hút không về, sổ vẫn chưa mở, lại tiếp tục “quên”.
Xuống
tàu phải mua ngay mấy tấm vé số! Tôi hạ quyết tâm cho lòng yên ổn (lại tự lừa
mình?) để còn nghĩ sang chuyện khác. Đúng lúc đó thì có tiếng “hèm” sau lưng. Lại
một cụ ông, cụ bà bản xứ với những câu hỏi đầy bác ái như cho kẹo trẻ con về cảnh
ngộ, sự hội nhập, phong cảnh quê hương? Tôi gắn vội nụ cười ba phải lên môi,
chuẩn bị sẳn mấy câu thuộc lòng để trả lời.
–
Xin lỗi, anh là người VN ?
Trời
ơi tiếng Việt! Tôi quay phắt lại ngó sững người bắt chuyện.
–
Xin lỗi ông tôi lầm lẫn…
Người
đàn ông tuổi trạc bốn mươi, mắt sáng, ăn mặc buông thả lúng túng xin lỗi bằng
tiếng bản xứ, vẻ mặt đầy thắc mắc. Tôi hiểu ngay sự thắc mắc đó. Người Việt gặp
gỡ tình cờ ở ngoài đường ít khi nhìn nhận nhau vì họ không nói được tiếng Việt.
–
Không, tôi là người Việt!
Tôi
vội vã xác quyết.
–
Anh đi từ miền Bắc?
Người
đàn ông vồ vập. Tôi cũng nhận ra ngay cái giọng Bắc toang toác của ông tạ
–
Dân tỉnh nào đấy?
–
Hà Nội đây!
–
Đây cũng Hà Nội!
Khỏi
cần nói về nỗi mừng. Chúng tôi xoắn xuýt ôm lấy nhau mà hỏi chuyện. Chuyện bên
nhà, chuyện đi đứng, chuyện ổn định đời sống bên này… Khi đã cạn những vấn đề
thời sự (miếng trầu của đầu câu chuyện) trong tiếng xe xé gió, chúng tôi ôn lại
những ngày tháng xa xưa của Hà Nội. Như hai anh lính trẻ đi giữa Saigon, cái phố
huyện hẻo lánh giáp vùng thượng du Bắc Bộ của họ là nhất thì Hà Nội đối với
chúng tôi là vô địch.
Bát
phở Quyền ở ngã tư Phú Nhuận (té ra anh cũng đã nếm) thịt thà hùng hậu, nước độc
đáo thật, nhưng độc đáo trên cái nền nhòe nhoẹt đánh lẫn với nước hủ tiếu ở
Saigon, không “ác ôn” bằng phở Thìn đối diện đền Ngọc Sơn ngoài Hà Nội.
–
Cậu thử tưởng tượng xem, về khuya đi ngược gió đông, cách cả trăm thước mà cái
thằng phù thủy ấy nó dở nắp thùng phở lên có sởn gai ốc không hả…? Trong túi
không có tiền thì bỏ mẹ!
Tôi
cảm thấy hơi phở nóng phả ra từ mặt anh nên gật gù.
–
Thế mới là phở chứ những chỗ cậu kể đi sắp ngã vào nồi cũng không hay, bát phở
bưng đến trước mặt, mở mắt ra mới biết thì còn gì là phở?
Sau
khi đi một vòng các hàng quà Hà Nội, anh dắt tôi đến quán cà phê. Cà phê Hà Nội
cũng lại nhất. Anh kể ra tên mấy cái quán ít ỏi của đất Thăng Long với từng
“gu” của nó. Quán “Moka” phố Bùi Thị Xuân có cô con gái đẹp như Kiều, nhưng
không át được mùi thôm của cà phê ông bố. Quán “Nhỉ” phố Hàng Cá đậm đà chút nước
mắ’m nhỉ (nên mới gọi là ông Nhỉ). Quán “Nhân” đầu Hàng Gai có hương vị huyền ảo
khó tả, người không biết, tưởng ông đánh thuốc phiện khách… Anh thừa nhận không
gì sánh nổi hạt cà phê Ban Mê Thuột, nhưng Saigon có vẻ chưa để ý đến nghệ thuật
pha trộn. Cà phê nó có nhiều loại. Vối cho vị chát, mít cho vị chua, và chè cho
vị đắng. Nếu nhiều chè một chút, tí vối, tí mít thì thành gu ” Moka”, hoặc đổi
lại thì thành Nhân thành Nhỉ… Rốt cục tròn trịa, óng ả, no đủ như hạt cà phê
Ban Mê Thuột chỉ cho được mùi thôm choáng ngợp khi mở nắp phin. Hết!
–
Nhưng hình như các ông Nhân, Nhỉ, Moka bây giờ pha hơi nhiều muồng muồng trong
đó thì phải…?
Tôi
rụt rè phát biểu. Anh xìu người, gãi đầu rồi cười. Dù sao cũng phải công nhận
anh là bậc thượng tọa trong cái đạo ăn uống này.
Hết
chuyện ẩm thực, chúng tôi xoay sang chuyện người đẹp. Trong địa hạt này anh
không dám cục bộ địa phương nữa vì biết tôi cũng đã chui qua cái xã hội lấy
chiêu bài “bình đẳng, giải phóng” để đẩy người phụ nữ xuống bùn, chui rúc trong
hầm mỏ, lẫn lộn ngoài chiến trường như nam giới. Bên cạnh đó là hệ thống tuyên
truyền đồ sộ, ăn ý như dàn nhạc giao hưởng luôn gõ trống thúc dục cho bắp thịt
nở nang của phái yếu trong bức tranh “ai nhanh tay cuốc bằng tay em…” trong nhịp
nhạc “niềm vui cô gái mở đường Trường Sơn” trong văn học.
Gái
Bắc Hà đã bị déformée biến dạng thành cái vai nở, thân hình trùng trục vì lao động
nặng.
–
Cứ nhìn thấy gái Saigon là tớ nghĩ đến chuyện ly dị…
Anh
đốt điếu thuốc, phả khói lên trần toa lim dim mắt cười. Tôi nói đến gái Cần
Thơ, Vĩnh Long, đất gạo trắng nước trong da thịt mơn mởn như xoài. Anh kể về mấy
chi. Huế nhu mì e ấp dưới mái tóc thề, ẩn dật kín đáo với làn da trắng xanh,
nhưng con mắt thì đi nhiều hơn chân, làm nhiều hơn tay, nói nhiều hơn miệng, quả
tim như núi lửa chỉ chực bất tử phun nham thạch.
–
Ờ lạ thật… Saigon là đất tứ xứ, nhưng bất cứ người ở đâu hễ nhập vào nó ba bốn
năm là thay da đổi thịt, biến thành dân Saigon. Đâu như Hà Nội mình, anh từ Hải
Phòng lên, sống cả hai chục năm, đẻ con ra vẫn lơ lớ giọng nước lợ, tính tình tềnh
toàng của dân thành phố cảng. Chị ở chiến khu về, sống đến mấy đời hộ khẩu vẫn
không tẩy được cái cách nhấm nước bọt đếm tiền. Sức cảm hóa, khả năng hội nhập ở
Saigon nó khác…
Tôi
lấy Huế để giải thích hiện tượng đó cho anh.
Nếu
chính anh có dời cư về đó ở, không phải hai chục năm mà bốn-sáu chục năm, cho đến
chết, chất Huế cũng không thắm vào anh được. Vùng đất nào đã được chọn làm kinh
đô trên một thế kỷ tự nó sẽ tạo nên bản sắc riêng biệt cho mình, hội nhập sẽ rất
khó…
Chúng
tôi cãi nhau như mổ bò (dấu hiệu đã thân thiện) về những vấn đề cả hai đều
không nắm vững, hoặc chả có gì đối nghịch nhau. Để đừng đập vào đầu nhau trong
lần gặp gỡ đầu, tôi lái câu chuyện trở về người đẹp Hà Nội. Thế là lại một màn
truy tìm các bóng dáng xưa. Để chứng tỏ mình cũng là tay cung kiếm một thời, những
con nhà nọ, em gái thằng kia… Câu chuyện trở nên gần gũi, tôi râm ran bồi hồi với
tên tuổi một vài người đẹp đã làm mình điêu đứng. Lần mò một lúc, anh dẫm trúng
phải cô em vợ tôi ở phố Hàng Ngang. Người đồng hành, đồng hương càng trở nên
thân thiết. Tôi như thấy cả Hà Nội đang thở nóng bên tai mình.
Thế Giang


