Wednesday, July 8, 2026

Cũng Con Đường - Nguyễn Đạm Luân

 Cũng Con Đường




Đốm Lửa - Đoàn Trúc Quỳnh

 

Đốm Lửa





Anh bị viêm xoang từ nhỏ, nên rất sợ mùi bếp than tổ ong. Vào hiệu phở có bếp than tổ ong, ngon mấy anh cũng bỏ ra liền. Dù nhà nghèo nhưng bố mẹ anh rất chiều anh, đã dùng bếp ga thay bếp dầu đầu tiên ở phố. Đêm hàng xóm ủ bếp hơi bay sang, bố anh gọi thợ xây bịt ngay cái cửa sổ... Tóm lại, mọi người bảo là anh bị "dị ứng" hơi than tổ ong. Tới năm 17 tuổi, anh vẫn sợ mùi bếp than như thế. Hơi các bon độc vậy, ai mà không sợ. Báo đã in có hai mẹ con mùa đông để bếp than sưởi trong buồng kín, sáng ra chết cả đấy thôi. Ông bác sĩ cạnh nhà anh còn tính rằng, thà đun ga đắt rồi mỗi bữa bớt đi một bát cơm, còn khoẻ hơn ăn no mà phải hít hơi than độc hàng ngày. Anh rất tâm đắc với tư duy mới của ông, nhưng không phải ai cũng nghe theo...

Bước vào lớp 12, anh hay mệt mỏi và nhức đầu do học căng, phải theo quá nhiều cua luyện thi hết cấp và đại học, nên bố mẹ khuyên anh nên dạy sớm tập thể dục. Anh nghe lời, dù mùa đông rất giá lạnh, vẫn quyết tâm để chuông đồng hồ đúng 5 giờ sáng đã bật dậy ngay. Cổng nhà anh ở sát ngã ba của con đường nhỏ trong ngách phố, sáng sớm xe cộ chưa đi lại nên còn rất thoáng, là địa điểm lý tưởng cho anh đứng tập, chạy đi chạy lại hít thở sâu không khí trong lành, khỏi phải ra vườn hoa công viên mất nhiều thời gian... Nhưng oái oăm thay, ngay sớm đầu tiên, khi anh mới vừa tập được một lượt, thì từ phía xa tít cuối ngách phố nhỏ, bỗng xuất hiện một đốm lửa nhỏ bung bênh qua lại như ma trơi. Trời mùa đông còn tối, anh không thể nhận ra gì khác ngoài đốm lửa đang di chuyển. Và bay trước đốm lửa đó, theo chiều gió mùa đông bắc thổi, mùi bếp than tổ ong xộc ngay vào mũi anh, làm anh vô cùng bực bội và khó chịu. Đốm lửa chao đảo đó tới gần, anh nhận ra là cái cửa của bếp than tổ ong. Một cô gái xinh đẹp dịu hiền khoảng 16 tuổi, gánh hàng rong ra chợ sớm. Nặng trĩu một bên là nồi nước dùng nóng sôi trên bếp, một bên là thịt gà, bánh phở, bát đũa, hành mùi... Do không kịp đề phòng, anh bị hắt hơi sổ mũi luôn, phải bỏ tập vào nhà...

Hôm sau đốm lửa vẫn xuất hiện đúng giờ như hôm trước. Như vậy không phải chỉ một ngày mà sớm nào cô gái cũng phải đi bán phở rong kiếm sống, anh toàn dậy muộn nên không biết. Anh kịp ngừng tập, bịt mũi quay đi, cố nín thở, chờ cho cô gái gánh hàng ngoặt ra lối chợ xa dần, cho mùi bếp than tổ ong theo gió lạnh đầu đông bay hết, nên không bị dị ứng... Buổi tối anh tò mò dò la hỏi bố mẹ, được biết có cô gái ở tổ trên, mồ côi cha mẹ phải bỏ học từ lớp 7 bươn chải bán đủ thứ hàng rong để kiếm tiền nuôi bà ngoại già và hai em nhỏ... Đêm ấy anh thao thức mãi không ngủ được, cứ nghĩ thương hoàn cảnh của cô gái bán phở rong, và gần sáng khi chợp mắt anh mơ thấy rất nhiều đốm lửa, những đốm lửa lung linh bay lượn thật đẹp quanh gánh phở rong của cô gái, như những ngôi sao rơi...

Từ đó sáng nào cũng vậy, anh rất chăm chỉ dậy sớm, đúng giờ như thường lệ, mặc ấm rồi ra giữa ngã ba đứng tập thể dục hàng tiếng đồng hồ. Khi đốm lửa bung bênh như ngôi sao rơi xuất hiện cuối ngách phố nhỏ, biết cô gái nghèo gành hàng rong đi bán sớm, anh vẫn tạm nghỉ tập, chủ động lảng xa ngã ba giây lát, tránh hít phải mùi than, nhưng không còn bực mình, khó chịu như buổi đầu tiên... Lâu rồi thành thói quen, gánh hàng của cô gái không làm ảnh hưởng gì tới ý chí luyện tập của anh ở ngã ba trước nhà nữa... Và cô gái cũng không để ý gì tới anh, vì cô đã có quá nhiều việc phải lo nghĩ cho ngoại và hai em, lúc nào cũng tất bật, ngay cả bước ngoặt ở ngã ba nhịp chân cũng vội theo đầu đòn gánh trĩu nặng trên vai...

Tới một buổi sớm, không hiểu cô gái ốm hay vì lý do gì khác, đốm lửa sao rơi đã không xuất hiện. Anh không phải bịt mũi, nín thở, lảng xa ngã ba như mọi sớm. Nhưng chính trong buổi sớm kỳ lạ đó, tự nhiên anh bỗng thấy nhớ mùi bếp than tổ ong đến nôn nao. Anh không sao yên lòng tập tiếp được nữa, đôi chân bỗng đưa anh đi mãi về cuối ngách phố, nơi cũng có một ngã ba, nơi cô gái rẽ vào cùng đốm lửa.

Đoàn Trúc Quỳnh

 

Lá Chanh - Vĩnh Huyền

 

Lá Chanh




Anh chẳng thể là người hạnh phúc. Ai đó trong số những cô gái từng yêu anh đã phán một câu khá là ác khẩu như thế. Kể cũng hàm hồ nhưng không phải không có đôi phần của sự thực. Bởi anh là loại người "nghe mưa nơi này lại nhớ mưa xa". Như lúc này chẳng hạn.

Nhiều năm trước, việc bôn ba về Huế sửa chữa phủ từ, ngôi nhà rường ba gian hai chái mục nát, nơi hương khói gia tiên, là điều ngoài tầm tay của anh khi anh tiếp nhận nó theo "nghị quyết" của hội đồng gia tộc. Dù tuổi đời chưa đủ để chuyên tâm lo chuyện họ hàng cúng bái, lại công tác xa Huế, anh vẫn bị chọn giao quản lý phủ từ vì mọi người tin rằng anh đủ khả năng tổ chức lại giềng mối gia tộc vốn đã rã rời, từ đó vực dậy một "di sản" có nguy cơ đổ sụp bất cứ lúc nào, nhất là trong những dịp "trời hành cơn lụt mỗi năm". Những ngày về Huế, buổi trưa, buổi tối, nằm gác tay lên trán, ngó lên những rui kèo chạm khắc công phu có tuổi thọ ngót trăm năm máng lủng lẳng cả tá lon bia rỗng, đủ các nhãn mác nội ngoại, từ Huda đến Heneiken, để hứng nước dột, những giọt nước len lỏi âm thầm qua lớp ngói liệt phủ rêu đến cả mặt trong, như một sáng kiến thay thế cho những thau, chậu giăng giăng trên sàn nhà hay gây vấp té, mà lòng anh nhói đau, bất lực. Thế mà bây giờ, đứng trước dãy khám thờ sơn son thếp vàng, thắp nén nhang cáo lễ khánh thành phủ từ vừa được trùng tu, thật ra là làm mới hoàn toàn trên nền cũ, chủ yếu nhờ tiền đóng góp của bà con lưu lạc ở nước ngoài, anh lại buồn man mác, lại nhớ ngôi nhà rường cũ mốc đầy kỷ niệm, nhớ âm thanh trầm bổng xót xa từ những giọt nước mưa rơi tong tỏng vào những lon bia rỗng ngày đông giá... Người như thế thì chẳng thể hưởng hạnh phúc là đúng rồi...Anh rời gian thờ, rời khỏi dòng suy ngẫm miên man bởi có tiếng nhiều người xao xác từ cổng ngoài lan vào cổng trong.

Ra tới sân gạch, anh trông thấy một cảnh huyên náo bất ngờ. Các bậc trưởng lão trong họ đang chỉ huy đám con cháu ngăn chặn một nhóm người đang cố tình xông vào phủ từ. Một ông chú nói nhỏ vào tai anh: "Cháu nhớ bọn ni không? Con Giang, con của mụ điếm vạn đò và hai thằng em đầu gấu của nó đó. Ngày ni là ngày chi mà bọn hắn đòi vào phủ từ chứ?". Anh thầm kêu một tiếng nhỏ trong cổ họng: "Giang!". Nếu ông chú không gọi tên thì chắc gì anh đã nhớ ra, nhận ra? Trước mắt anh là một thiếu phụ có thứ nhan sắc làm vẩn đục ý tưởng của đàn ông ngay từ phút đầu gặp gỡ, nếu không cho rằng đó là vẻ đẹp đánh thức "bản lĩnh đàn ông". Một bé Giang mười lăm, mười sáu mảnh khảnh, tóc bốc mùi bùn non chỉ còn trong ký ức của anh thôi. Anh đến gần đám đông, vờ như không hiểu: "Bình tĩnh. Chuyện gì vậy?". Giang đang sấn sổ xỉa ngón tay vào trán mấy chàng thanh niên lập hàng rào trước mặt bỗng nhận ra sự xuất hiện của anh, cô vụt tươi tỉnh: "Cậu Hoàng đây rồi! Cậu coi, ai đời mấy đứa em vô phủ từ thắp hương tỏ chút lòng thành láng giềng mà bị chặn lại như thể đi ăn cướp không bằng!". Anh cười: "Tại phần đông bà con các nơi về, không rõ hàng xóm cũ...Thôi, đã có lòng xin mời vào...". Ba chị em Giang hiên ngang vượt qua cổng trong, tiến vào gian thờ. Quay lại phía chú bác, anh em đang ngơ ngác bất bình, anh chắt lưỡi: "E hèm...Con cháu dâng hương tổ tiên là chuyện thường tình, xóm giềng ngoại tộc mới có ý nghĩa...Vào cả đi...". Một ông bác gằn giọng: "Nhưng bọn nó là...". Anh làm mặt nghiêm: "Thế bác định đánh nhau với đầu gấu ngay trong ngày hôm nay à?". Ông bác chịu nhịn, hậm hực cùng cả đám kéo vào bàn rượu bày sẵn ở nhà ngang...

Anh chẳng thể là người hạnh phúc. Chén rượu Rémy Martin XO, hàng "xách tay" từ Hoa Kỳ về, dành cho "chiếu trên", chiếu của bậc chú bác chức sắc trong tộc, thơm lựng khi vừa bật nắp, vậy mà anh nhấm nháp vô hồn. Nói chính xác là anh thả hồn về cái thời uống rượu trắng nấu bằng sắn củ, cái thời mẹ con nhà bé Giang dựng chái tranh ghé tựa vào bức tường bao cao quá đầu người phía sau phủ từ, sát mép nước sông Hương dập dềnh lười biếng...

Làm sao anh quên được mùa đông năm ấy. Từ Sài Gòn anh về phủ từ ăn tết, cũng có thể ở lại lâu dài nếu tìm được việc làm. Tốt nghiệp đại học, thử việc mấy tháng ở Sài Gòn, anh chợt nhận ra mình nhớ Huế da diết, phải về ngay thôi. Sau này, anh trả giá đắt cho thứ tình hoài hương tím ngát ấy. Nhưng đó là chuyện khác. Bây giờ, anh muốn nhớ cái đêm đầu tiên ngủ lại phủ từ sau hơn bốn năm đi xa. Mới tám giờ tối mà cứ như đã nửa đêm. Vắng tanh vắng ngắt trong mưa dầm se lạnh. Bỗng đâu tiếng khóc nỉ non trèo qua tường bao, vượt vườn rau dại, len vào tận giường ngủ. Trùm chăn kín đầu, thứ chăn thô của lính xót xáy không thua ổ rơm, anh vẫn cứ phải nghe tiếng khóc, bây giờ lại như thể vọng lên từ đáy sông...Anh chợt nhớ có một gia đình sống nép sau tường bao mà anh hầu như chưa rõ mặt. Chuyện gì xảy ra cho họ? Anh vùng dậy, chân mang "bốt", đầu che dù, tay cầm đèn pin, lần mò ra cổng sau. Túp lều mẹ con nhà bé Giang trông càng thảm hại trong đêm mưa lạnh. Ba đứa trẻ ngồi xúm quanh ngọn đèn dầu leo lét. Chỉ một mình Giang khóc. Hai thằng em nín lặng ngồi co ro tựa lưng vào nhau thật khéo để chống ngọn gió sông lạnh ngắt phả vào liên tục. Thấy người lạ, Giang nín khóc ngửng lên. Đôi mắt nó gây ấn tượng với anh. Đen long lanh. Nửa ngây thơ nửa sõi đời. Bắt gặp bát nhang đang toả khói trước di ảnh người đàn bà xấu số tựa vào tường bao phong rêu, anh chợt hiểu. Ngồi xuống, anh thắp nén nhang. Giang hai bàn tay xoắn lấy nhau, lí nhí: "Cảm ơn cậu...Cậu mới về?". "Ừ. Thím mất bao lâu rồi?". "Dạ bữa ni là bốn mươi chín ngày...". Ngoài bát nhang làm bằng cái chén ăn cơm, chẳng còn gì hơn. Anh ngập ngừng một giây, bảo: "Đi, ta đi kiếm cái chi cúng thím...". Ba chị em nhìn anh chằm chằm. Chúng không chờ đợi một đề nghị như thế giữa đêm mưa khóc mẹ. Chiếc Honda nổ lạch phạch váng động những khu vườn Vỹ Dạ u tịch. Anh chở Giang chạy lên phía ga Huế. Giờ ấy chỉ có thể tìm ra một cái gì ở đó. Bà chủ quán mừng ra mặt khi anh hỏi mua nguyên con gà luộc. Nghe một tiếng ực rất khẽ, anh biết Giang vừa nuốt nước miếng. Anh kéo ghế, nói dối: "Đói quá, ta ăn chút gì rồi hãy về cúng cũng chưa muộn". Cô bé lí nhí: "Dạ cậu cứ dùng, em...". Anh phải mắng Giang mới chịu ngồi vào bàn. Nhưng khi đã húp hớp cháo gà nóng ấm đầu tiên vào miệng, nó không dừng được nữa. Sau đó hai người còn nhâm nhi càphê nữa. Ly càphê sữa đầu tiên trong đời cô bé. Anh phì phèo thuốc lá, chân tình: "Mấy tuổi rồi hè?". "Dạ mười lăm, mười sáu chi đó...". "Nè, thế là lớn rồi, ngày xưa chừng ấy tuổi đã lấy chồng, phải biết chăm sóc bản thân nghe chưa". "Dạ...". "Mai gội đầu đi, con gái chi mà tóc toàn mùi bùn non không rứa hè!". Giang chỉ cười khúc khích...Thế rồi "bốn mươi chín ngày" của người đàn bà xấu số, mà anh nghe đâu từng làm nghề mại dâm dưới vạn đò, cũng đủ gà-xôi-chuối. Cúng xong đã nửa đêm, anh cùng ba chị em Giang bày cỗ ra đánh chén. Giang nói: "Rứa là mạ em còn có phước, chi cũng đủ...". Và nó kể anh nghe chuyện xảy ra bốn mươi chín ngày trước.

Buổi sáng, ba đứa phát hiện mẹ đã chết từ lúc nào trong đêm. Chúng ôm nhau khóc, không biết phải chôn cất thế nào khi trong túi mẹ chỉ còn mấy tờ bạc lẻ... Nhưng rồi Giang cũng nghĩ ra được cách. Nó lệnh cho hai thằng em nín khóc, im lặng như không chuyện gì xảy ra, đợi đêm tối trở lại. Chúng "mượn tạm" chiếc xuồng câu neo gần đấy, chuyển mẹ sang sông, tấp vào bến chợ Đông Ba. Việc khó nhất là qua mặt ban bảo vệ, bí mật đưa mẹ vào đặt trên sạp một hàng vải lớn nhất trong chợ rồi rút êm. Sáng hôm sau, khu hàng vải xôn xao, sợ hãi phát hiện xác chết. Ban quản lý chợ cùng tập thể hàng vải làm thủ tục khai báo rồi tổ chức việc chôn cất cho người xấu số...Ba chị em Giang có mặt từ xa, lẫn trong đám người hiếu kỳ, theo dõi mọi diễn biến, từ trong chợ Đông Ba đến nghĩa địa dưới chân núi Ngự Bình. Khó nhất là không được khóc, cứ như người dưng nước lã. Đợi đến khi mọi người tản về hết chúng mới dám chạy a lại, ôm mộ mẹ nồng mùi đất mới mà khóc cho thoả...

Kể đến đấy ba chị em Giang thút thít khóc. Anh cũng lén lau nước mắt, quay về phòng ngủ. Gần sáng mới chợp mắt. Chưa được bao lâu thì bị đánh thức bởi cảm giác hơi lạnh xộc vào chăn. Nhưng ngay sau đó là một nguồn ấm nóng áp nhẹ vào người. Trong trạng thái ngái ngủ, anh trở mình ủ lấy nguồn ấm mềm mại, ngai ngái mùi lá chanh ẩm. Bàn tay anh tự nhiên chuồi vào góc sâu nhất ấm nhất. Một tiếng rên khẽ thổi vào tai, anh giật mình tỉnh hẳn, hất tung tấm chăn, nhận ra bàn tay còn ướt. Trước mắt anh, Giang nằm co quắp, nín lặng. Châm thuốc lá, rít một hơi thật sâu, anh như nói với làn khói: "Về đi!". "Em không biết lấy chi trả ơn cậu... Em gội đầu rồi...". "Biết rồi. Với lá chanh phải không?". "Dạ...". "Thế là tốt... Về đi, trời hửng sáng rồi đó!". "Dạ...". Qua khe cửa gỗ, anh nhìn theo bóng cô gái mảnh khảnh đang đi giữa vườn rau dại, lẩn khuất trong sương trắng bốc lên từ mặt sông. Trưa hôm đó, anh đi ra túp lều tìm Giang, bình dầu thơm gội đầu trong tay. Bất ngờ chỉ còn bãi trống. Ba chị em Giang đã dọn đi...

Ba chị em Giang lễ xong, quay ra. Phải gần mười lăm năm sau họ mới có dịp đáp trả một nén nhang. Giang đến gần anh: "Em mở quán bia dưới gốc đa đầu ngõ, em mời cậu...". Anh mỉm cười không nói gì, đứng lên tiễn khách. Được mấy bước, Giang đi chậm hẳn lại. Khi chỉ còn hai người, cô thì thầm: "Cậu hái cho em mấy lá chanh, được không?". Anh ngờ vực câu trả lời của mình. Bây giờ thì anh tin chắc anh chẳng thể là người hạnh phúc.

Vĩnh Quyền

 

 

 

Bài Thơ Viết Lúc Nửa Đêm - Trần Dzạ Lữ

 Bài Thơ Viết Lúc Nửa Đêm














Sẽ không còn tin nhắn lúc nửa đêm
Sẽ không còn nghe điện thọai giữa trưa-trờ-trưa-trợt
Bởi vì đây là sự thật
Mình đã chia lìa nhau…

Anh không trách gì em đâu
Khi qua sông
Qua sông theo tiếng gọi của tình yêu khác
Dù cánh đồng anh bát ngát
Nhưng thường kỳ hạn hán phải không em?

Sẽ không còn những sáng những đêm
Mình uống chung ly cà phê cứt chồn nơi quán cóc
Sẽ không còn nụ hồng Đà Lạt
Nở giữa môi thơm lúc mình kiếm tìm nhau

Anh không trách gì em đâu
Lẽ thường tình ai cũng ham giàu
Mà anh thì nghèo kiết xác
Thơ đâu nuôi nổi đời giữa cuộc bể dâu?

Sẽ không còn tin nhắn lúc nửa đêm đâu
Ngủ ngon nha anh
Sẽ không còn nghe qua điện thọai giọng em
thánh thót lời yêu thương.

Sông có khúc người có lúc
Đây là lúc anh buồn
như củi mục…

Sẽ không còn gì nữa
Khi mình chia lìa nhau
Nhưng có một thứ anh không bao giờ quên
Đó là nụ hôn đầu !

trần dzạ lữ

 

Chất Hóm Hỉnh Trong Ca Dao Tính Yêu Nam Bộ - Đoàn Thị Thu Vân

 

CHẤT HÓM HỈNH TRONG CA DAO TÌNH YÊU NAM BỘ





Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị và ngộ nghĩnh gây nên những bất ngờ thú vị là chất hóm hỉnh thường thấy trong ca dao tình yêu Nam bộ. Đó cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây.

Trước hết là chất hóm hỉnh không cố tình, không dụng công, toát ra một cách tự nhiên qua những từ ngữ mộc mạc; không hề trau chuốt chân thật đến độ người nghe phải bật cười. Một anh chàng quá đỗi si tình đã trở thành ‘liều mạng’:

‘Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết thì chịu chết, buông nàng anh không buông

Một cô nàng thật thà cả tin đã giật mình ‘hú vía’ vì kịp thời nhận ra ‘chân tướng’ đối tượng:

‘May không chút nữa em lầm
Khoai lang khô xắt lát em tưởng cao ly sâm bên Tàu’

Có những nỗi niềm tương tư ấp ủ trong lòng, nhưng cũng có khi người ta không ngại ngần thổ lộ trực tiếp với bạn tình:

‘Tôi xa mình hổng chết cũng đau
Thuốc bạc trăm không mạnh, mặt nhìn nhau mạnh liền’

Họ là những người lao động chân chất, nên cũng bày tỏ tình cảm với nhau bằng thứ khẩu ngữ thường ngày không chưng diện, màu mè, tuy vậy, cái tình trong đó cũng mãnh liệt và sâu sắc.

Đây là lời tâm sự của một anh chàng đêm hôm khuya khoắt lặn lội đi thăm người yêu:

‘Thương em nên mới đi đêm
Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau
May đất mềm nên mới hổng đau
Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này’

Chàng thật thà chất phác, nhưng mà cũng có chút ranh ma đấy chứ? Chất hóm hỉnh đã toát ra từ cái ‘thật thà tội nghiệp’.

Nhưng phần lớn vẫn là sự hóm hỉnh mang tính chất đùa nghịch. Một chàng trai đã phóng đại nỗi nhớ người yêu của mình bằng cách so sánh ví von trào lộng:

‘Vắng cơm ba bữa còn no
Vắng em một bữa giở giò không lên’

Nỗi vấn vương tơ tưởng đi vào tận giấc ngủ khiến chàng trở nên lú lẫn một cách buồn cười:

‘Phòng loan trải chiếu rộng thình
Anh lăn qua đụng cái gối, tưởng bạn mình, em ơi!’

Nhưng cái độc đáo là ở đây nỗi niềm đó lại được bộc lộ một cách hài hước:

‘Tôi xa mình ông trời nắng tôi nói mưa
Canh ba tôi nói sáng, giữa trưa tôi nói chiều’

Có một chút phóng đại làm cho lời nói nghe hơi khó tin! Nhưng hề gì. Chàng nói không phải cốt để đối tượng tin những điều đó là sự thật mà chỉ cốt cho nàng thấu hiểu tấm tình si của mình. Nàng bật cười cũng được, phê rằng ‘xạo’ cũng được, miễn sao hiểu rằng mình đã phải ngoa ngôn lên đến thế để mong người ta rõ được lòng mình.

Lại có một chàng trai đang thời kỳ tiếp cận đối tượng, muốn khen cô nàng xinh đẹp, dễ thương mà khó mở lời trực tiếp. Để tránh đột ngột, sỗ sàng, chàng đã nghĩ ra một con đường vòng hiếm có:

‘Trời xanh bông trắng nhụy huỳnh
Đội ơn bà ngoại đẻ má, má đẻ mình dễ thương’

Mục đích cuối cùng chỉ đơn giản là khen ‘mình dễ thương’ mà chàng đã vòng qua năm non bảy núi. Bắt đầu từ thế giới tự nhiên – trong thế giới tự nhiên lại bắt đầu từ ông trời – tạo hóa sinh ra những loại cây, hoa đẹp đẽ – rồi mới bước qua thế giới của loài người – trong thế giới loài người lại từ hiện tại ngược dòng lịch sử để bắt đầu từ tổ tiên ông bà, tới thế hệ cha mẹ, rồi tới nhân vật chính – ‘mình’. Thật là nhiêu khê, vòng vo tam quốc làm cho đối tượng hoàn toàn bất ngờ. Những lời ngộ nghĩnh kia dẫn dắt tới sự hiếu kỳ háo hức muốn biết ‘chuyện gì đây’, cho đến khi cái kết cục thình lình xuất hiện làm cho cô nàng không kịp chống đỡ… Nhưng mà nó thật êm ái, thật có duyên biết bao, nên dù phải đỏ mặt, cô hẳn cũng vui lòng và không thể buông lời trách móc anh chàng khéo nịnh!

Ngược lại, cũng có những lời tỏ tình khá táo bạo, sỗ sàng, nhưng hình ảnh thì lại hết sức ngộ nghĩnh, dí dỏm:

‘Con ếch ngồi dựa gốc bưng
Nó kêu cái ‘quệt’, biểu ưng cho rồi’

Những người nghe câu ‘xúi bẩy’ này không thể không bật cười, còn đối tượng xúi bẩy cùng lắm cũng có thể tặng cho người xúi có phần trơ tráo kia một cái nguýt dài.

Những câu ca dao hóm hỉnh không chỉ bật lên từ tâm trạng đang vui, tràn đầy hy vọng, có khi ‘rầu thúi ruột’ mà họ vẫn đùa. Những trắc trở trong tình yêu nhiều lúc được trào lộng hóa để ẩn giấu nỗi niềm của người trong cuộc:

‘Thác ba năm thịt đã thành bùn
Đầu thai con chim nhạn đậu nhánh tùng chờ em’

Quả là ‘khối tình thác xuống tuyền đài chưa tan’, nên chàng lại quyết tâm chờ tiếp ở kiếp sau cho đến khi nào nên duyên nên nợ. Kiên nhẫn đến thế là cùng!

Khi chàng trai cố gắng đến hết cách vẫn không cưới được người mình yêu, không biết trút giận vào đâu, bèn đổ lỗi cho một nhân vật tưởng tượng:

‘Quất ông tơ cái trót
Ổng nhảy tót lên ngọn cây bần
Biểu ông se mối chỉ năm bảy lần, ổng hổng se’

Thái độ quyết liệt trong tình yêu lắm lúc được thể hiện đầy ấn tượng. Anh chàng hay cô nàng trong câu ca dao dưới đây đã xem cái chết nhẹ như lông hồng. Thà chết còn hơn là lẻ bạn!

‘Chẳng thà lăn xuống giếng cái ‘chũm’
Chết ngủm rồi đời
Sống chi đây chịu chữ mồ côi
Loan xa phượng cách biết đứng ngồi với ai?’

Có chàng trai thì quyết tâm đem tuổi thanh xuân gửi vào cửa Phật:

‘Nếu mà không lấy đặng em
Anh về đóng cửa cài rèm đi tu’

Chàng vừa muốn tỏ lòng mình vừa muốn thử lòng người yêu. Và cô nàng cũng tỏ ra quyết tâm không kém. Chàng đi đến đâu nàng theo đến đó để thách thức cùng số phận:

Tu đâu cho em tu cùng
May ra thành Phật thờ chung một chùa’

Bằng câu đùa dí dỏm của mình, cô nàng đã làm nhẹ hẳn tầm nghiêm trọng của vấn đề trong tư tưởng anh chàng và cũng hóa giải tâm tư lo âu, phiền muộn của chàng – ‘Có gì đáng bi quan đến thế? Cái chính là em vẫn giữ vững lập trường’ – đồng thời cũng hàm thêm chút chế giễu – ‘Mà có chắc là tu được không đấy?’.

Khi yêu, nhiều cô gái cũng mạnh dạn bày tỏ tình cảm của mình không kém các chàng trai.

‘Phải chi cắt ruột đừng đau
Để em cắt ruột em trao anh mang về’

Không tiếc cả thân thể, sinh mạng của mình, nhưng cô gái chỉ… sợ đau, thật là một cái sợ đầy nữ tính rất đáng yêu. Hay khi chàng trai muốn liều mình chứng tỏ tình yêu, nhưng cũng lại ‘nhát gan’ đến bật cười:

‘Gá duyên chẳng đặng hội này
Tôi chèo ghe ra sông cái, nước lớn đầy… tôi chèo vô’

Tinh nghịch, hóm hỉnh những lúc đùa vui và cả những khi thất vọng, đó là vũ khí tinh thần của người lao động để chống chọi những khắc nghiệt của hoàn cảnh. Những chàng trai, cô gái đất phương Nam đã lưu lại trong lời ca câu hát cả tâm hồn yêu đời, ham sống, hồn nhiên của họ trên con đường khai mở vùng đất mới của quê hương tiếp nối qua bao thế hệ – Đó là tinh thần phóng khoáng, linh hoạt, dày dạn ứng biến của những con người ‘Ra đi gặp vịt cũng lùa; Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu’…

TS. Đoàn Thị Thu Vân

(Tạp chí Tài Hoa Trẻ)

304Đen – llttm - OVV

 

 

"Tiên Học Lễ Hậu Học Văn" Từ Đâu Ra? - Lê Vĩnh Húy

 

“Tiên học lễ hậu học văn” từ đâu ra?

Nói luôn, câu Hán-Việt này không phải của Tàu, càng không dính dáng Khổng Khâu. Chủ trương của Khâu là đề cao chữ Lễ, coi đó là một mỹ đức. Lễ đây là phép tắc lễ nghi, nó giúp con người ta hành xử cho ra bộ dạng con người.

Lê Vĩnh Húy



XUẤT XỨ

Khâu phát biểu: “[Người] không học Lễ sẽ không có cửa lập thân”[1]. Quan niệm này chẳng những thời nay nghe khó lọt tai, mà ngay thời Xuân Thu bên Tàu (771-476 trCn) cũng hổng mấy ai để ý. Ai đời đang buổi liệt quốc phân tranh, kiếm tuốt cung giương; vậy mà lại có đứa chủ trương trước lấy lễ nghi để đãi người, sau dùng lý lẽ để thuyết phục người.

Khâu không thức thời, bởi vậy phải ôm mối hận bất đắc chí cả đời. Vậy cũng xong một kiếp, thôi kệ Khâu đi.

Nhưng bọn đời sau không kệ, lại lôi chữ Lễ của Khâu ra để tân trang theo ý mình. Vậy là Nho giáo ra đời. Hải ngoại chư quân tử lưu ý cho: Tư tưởng của Khổng khác Nho giáo, là cái đời sau thêm mắm giặm muối; lại càng khác mớ “học thuyết” mà Trung quốc hiện rao giảng trong các Học viện Khổng tử. Một đằng hoài bão giáo hóa nhân quần, còn một đằng mưu toan nhồi sọ ngu dân.

Và toàn bộ những thứ đó lộn tùng phèo như nồi cháo heo, mạnh ai thích gì thì thò đũa gắp nấy. Nhưng đó là chuyện khác, không nằm trong bài này.

Xin trở lại chủ đề.

ĐỐM LỬA VỤT TÀN

Chủ trương trọng Lễ thật ra không phải do Khổng Khâu khởi xướng, mà trước đó đã từng có người đề cập. Như Quản Di Ngô sinh trước Khâu hai trăm năm. Ông này không chỉ đề xướng mà còn thực thi khi va làm Tể tướng nước Tề. Đó là trước hết phải dạy con em biết lễ nghĩa liêm sỉ, sau đó mới dạy văn tự và võ nghệ.

Nhưng trong đống kinh sách cổ của Trung Hoa, tuyệt không có câu “Tiên học lễ hậu học văn”. Đây là một khẩu hiệu “thuần Việt”. Gốc gác câu này là ở miền Nam Việt Nam, vào thời Đệ Nhất Cộng Hòa.

Đó là sau khi Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa chính thức nêu “Những nguyên tắc căn bản” của ngành giáo dục (Nhân bản, Dân tộc, và Khai phóng) vào năm 1958. Có nhà giáo hoặc nhà báo nào đó đã đặt ra câu “Tiên học lễ hậu học văn” làm khẩu hiệu. Không biết cụ thể ai đặt câu này, nhưng có thể khẳng định nó xuất hiện trước nhất ở miền Nam, kể từ sau 1958[2].

Câu này nghe cũng hay hay, thường được trưng trong khuôn viên các trường công lập, mãi tới cuối thời Đệ Nhị Cộng Hòa vẫn còn. Nhưng sau 1975 thì toàn bộ bị đục bỏ, nhà trường ở miền Nam giai đoạn này được trang trí bằng các khẩu hiệu “Trăm năm trồng người”, “Năm điều bác dạy”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh quang vinh muôn năm!”

Không biết cảm giác của các học sinh miền Bắc hồi này thế nào, còn đối với tụi trẻ em miền Nam, đó là những khẩu hiệu hơi lạ. Phải tung hô, không cần hiểu.

ĐUA NỞ TÈ LE

Phải đến sau thời kỳ gọi là “mở cửa”, nhất là sau khi nhà nước Việt Nam được chính phủ Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận, con dân toàn cõi Việt Nam mới trở lại xúng xính phú quý sinh lễ nghĩa. Thầy giáo bắt đầu bỏ dép râu, tập đi dép sa-pô; các cô giáo – nhất là các cô giáo ngoài Bắc vô – mới bỏ áo dài tay, quần vải ú đen thui để diện áo dài yểu điệu; học sinh miền Nam cũng được ăn ké, mặc lại đồng phục, nam sinh mặc sơ-mi trắng quần xanh, nữ sinh thì áo dài trắng.

Và ngộ chưa, trong trường lớp, giờ đây khẩu hiệu “Tiên học lễ hậu học văn” bỗng được phục hồi, sánh vai cùng các khẩu hiệu sấm vang trống dội khác trên khắp ba miền đất nước.

KẾT LUẬN

Thời đại ôn dịch mà bàn chuyện giữ hay bỏ khẩu hiệu “Tiên học lễ hậu học văn” chỉ là trò của tụi xí mứng. Vả lại đó chẳng qua chỉ là đề xuất của hiệu trưởng một đại học cà na, không phải chủ trương của Bộ Giáo Dục, càng không phải đường lối của đảng.

Rặn ra hoặc lượm mót một khẩu hiệu là chuyện dễ, còn bỏ nó lại thành chuyện khó. Bỏ khẩu hiệu này sẽ tạo tiền lệ để bọn điêu dân hô hào bỏ thêm khẩu hiệu khác.

[1] Luận ngữ: Bất học Lễ, vô dĩ lập (不學禮, 無以立).

[2] Trước khi miền Bắc có câu khẩu hiệu “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm cấy người” (1959).

Lê Vĩnh Húy

 

 

Friday, July 3, 2026

Gặp Lại Tình Cờ - Thuyên Huy

 Gặp Lại Tình Cờ




Áo Má Tôi - Thuyên Huy

 

Áo Má Tôi




    Từ quê lên trường tỉnh, năm đệ Thất, má ít khi lên đón tôi về, ở ký túc xá nên bà không phải lo chuyện ăn chuyện ở, thứ Bảy cùng mấy đứa bạn chung lớp, theo mấy anh lớn, cũng ở làng xã quê xa, chung đường về nhà, đứa xuống trước chỗ này, đứa xuống sau chỗ kia, xế trưa chủ Nhật má đưa tôi ra đón xe ngoài đường lộ, vậy thôi, cứ ngày này qua tháng kia.

*

    Ngày bải trường, nghỉ hè cuối năm, năm đệ Thất, má đón chuyến xe đò nhỏ đầu ngày, lên tỉnh từ sáng sớm, mặt trời Hạ rực nắng lên nhà xóm chài bên này sông, má khiêm nhượng đứng nép mình ở gốc cây phượng già bên kia đường, xế chỗ cổng trường một khoảng xa, chỗ ngày đầu bà đưa tôi lên học. Chuông tan trường reo lên vang rân, chen đám đông nghẹt học trò, túa ra như bầy ong vỡ tổ, tôi chạy nhanh ra tìm má, nắm tay bà cười thành tiếng.

    Tiếng đám học trò nhà ở tỉnh, cười giỡn, xúm xích với gia đình, nào xe hơi, xe gắn máy, áo quần người nào người nấy thẳng thốn lụa là, cách đó không xa. Bất chợt nhìn má, cũng cái áo bà ba sờn tím bạc, cái quần đen ngã màu bùn che chưa trọn gót, cũng đôi dép Nhật cũ, bộ đồ đã mặc khi đưa tôi lên tỉnh đầu năm học, tự dưng thấy có chút buồn nhè nhẹ, đâu đó trong lòng khó tả, khác hẳn những năm còn nhỏ ở trường làng, tôi vô tư không nghĩ gì. Xe đò tới, lên xe rồi, nhìn lại đám người phía sau, rồi nhìn má, tôi thì thầm “má tôi”.

*

    Nhà nghèo, ba mất sớm, từ hồi chưa lên năm, bà con nội ngoại không thấy ai, chưa một lần nghe má nói tới hay nhắc đến. Còn lại hai má con, vui mà sống ở căn nhà mái tôn vách đất, nằm cuối ấp chợ, bên lề con đường đất đi xuống bờ nhánh sông nhỏ, không có bến đò, băng ngang qua cánh đồng cỏ lớn, nơi dân làng thường thả cho trâu bò ăn cỏ.




    Má làm công nhân cạo mủ cho cái sở cao su lớn, cách nhà độ chừng ba bốn cây số, sáng sớm, trời còn mờ mờ sương đã đạp xe đí, má đem gởi tôi bên nhà ông bà bác sáu Thịnh, bên cạnh, có sạp bán bánh bán xôi trong chợ, nhà không có con, và thương tình cảnh mẹ góa con côi, thường hay giúp đở má tôi nhiều thứ, trong nhiều thứ đó, có tiền, nhất là tiền cho tôi đi về khi lên tỉnh học, số tiền đó má từ từ trả lại, hai ông bà ít khi đòi, ông bà thương tôi lắm, từ sở cao su về trưa chưa kịp thì đã lo cho tôi ăn tôi uống rồi.

    Trừ thứ Bảy chủ Nhật, ngày đi làm má về nhà lúc giữa trưa một chút, nên rảnh cả buổi chiều, má qua phụ ông bà bác sáu chuyện nấu xôi hay làm bánh. Tôi đi học trường xã, má thức sớm hơn, cho tôi ăn, khi thì xôi của ông bà bác sáu Thịnh cho, hay cơm nguội khoai lang, như những năm qua, dẫn tôi qua bên bển chơi, chờ trống trường vào học, rồi đạp xe đi làm. Tôi quen dần với chuyện này từ những năm đó.

*

   Năm đệ Tứ, vào học không lâu, được thằng bạn thân, con nhà giàu cùng lớp, giới thiệu tới làm phụ bưng chén, bưng tô cho khách, vài tiếng đồng hồ mỗi chiều tan học về, tại tiệm cơm đông khách của người dì bà con hắn ta. Làm như vậy, vài tháng sau, trước ngày nghỉ Tết năm đó, buổi chiều tan học, có chút đỉnh tiền, tôi ra tiệm vải trong nhà lồng chợ tỉnh, mua hai sấp vải màu, áo tím đậm màu trái cà, quần đen tuyền màu mực, để đem về làm quà năm mới cho má.Trên đường đi bộ từ chợ về ký túc xá, cười vui như trúng số, ước mơ một ngày có được của tôi đã thành sự thật.




    Vậy đó, mấy mùa Tết năm sau, thấy má không mặc áo mới, không dám nhưng có đôi ba lần, lần lựa rồi e dè, hỏi sao má chưa may quần áo mới, má cười bảo chưa cần, khi nào may tôi sẽ biết ngay, má con tôi ăn Tết, nói ăn Tết cho vui, chứ nhà nghèo, mưa dầm lầm lũi, vui buồn với đám cây cao su tối mù, hết xuân rồi đông, có mâm cơm, nồi thịt kho mua trễ thêm hai ba cái hột vịt, trái dưa hấu ông bà bác sáu Thịnh cho và gói thèo lèo cứt chuột, cũng đủ để nhà có tiếng cười rồi, thương má, năm nào tôi cũng để dành chút tiền, quà cho má mà không cần má cho lại, nhìn cái bao đỏ, lần nào cũng vậy, thấy mắt má đỏ hoe mà thương má không biết nói sao cho vừa.

 *

     Hai má con ngồi ăn bánh mì, với mấy lát thịt đồ hộp của Mỹ mà tôi mua từ chợ Cũ Hàm Nghi Sài Gòn, với số tiền dành dụm từ những ngày làm ở quán cơm bà dì của anh bạn học nhà giàu, hôm đi xem kết quả Tú Tài Một về, sau chái hiên nhà, bên cạnh mâm cơm cúng ba, mâm cơm báo tin tôi thi đậu, buổi chiều còn nắng, má mừng khôn xiết, giờ thì bà bảo tôi , bà chờ ngày này từ mấy năm rồi, ngày mai má sẽ may quần áo mới, vừa nói vừa cười, chút vạt nắng tím hồng chiều còn sót lại, lùa ngang phớt qua, trên đầu bà những sợi tóc thưa bạc màu sương khe khẻ đong đưa, vui lây.




*

     Hôm đưa tôi ra đường, chờ đón xe lên tỉnh tựu trường đầu năm đệ Nhất, má mặc chiếc áo bà ba màu tím trái cà mới. Lên xe, xe chạy một khoảng xa, nhìn lại, nhớ chiếc áo bà ba tím cũ bạc màu của má, tôi rươm rướm khóc.

Thuyên Huy

Viết lại để tưởng là mình có mẹ

 

 

Thằng Người Có Đuôi - Thế Giang

 

Thằng Người Có Đuôi




– Tên chị là gì?
– Thưa em tên Mợ
– Mơ gì? Mộng mơ hay quả mở
– Tùy, ai muốn hiểu thế nào thì hiểu…
– Quê quán ở đâu vậy?
– Em ở Thạch Thất, Hà Tây.
– Chị công tác ở cơ quan nào?
– Thưa, ở ty Văn Hóa Thông Tin Hà Sơn Bình.
– Chắc chưa vào đảng…?
– Vâng, em mới phấn đấu ở cương vị đoàn…
– Chị lập gia đình chưa?
– Em chưa lập, nhưng đối tượng thì có rồi!
– Các cụ nhà ta còn cả chứ?
– Vâng, thầy u em vẫn còn.
– Gia đình được mấy anh chị em nhỉ?
– Thưa, được tám cả thảy…
Một bản sơ yếu lý lịch? Một cuộc hỏi cung ngắn? Tôi thò đầu ra khỏi gầm ghế, hé mắt nhìn về cuối toa xe lửa. Cửa vẫn còn mở có nghĩa là đội công an, thuế vụ trên tàu chưa làm việc, nếu không họ đã đóng chặt hai đầu toa cho hành khách không có đường đi lại hoặc tẩu tán hàng hóa.

– Chị đi đâu mà hành lý cồng kềnh thế này?

Bỏ mẹ rồi, đội kiểm tra cơ động đặc biệt! Tôi rụt đầu vào gầm ghế, cay đắng lo cho số phận hai bịch thuốc lá sợi của mình. Hôm nay thứ sáu, nhưng 15 tây, 8 âm lịch: ngày lành. Tử vi tôi tháng này không xung với tuổi, trong năm không có sao Địa Không, Địa Kiếp ghé thăm để mà lãnh tai họa, trộm cắp.

Chuyến tàu khởi hành chậm hai tiếng đồng hô như lệ thường. Nếu chả may nó chạy đúng giờ thì người ta còn coi như báo trước một điềm gở… Khổ quá, tôi đã tham lam đóng hết hàng, chỉ chừa lại số tiền vừa đủ ăn đường và nộp hụi chết cho cánh công an thuế vụ thường trực trên tàu, đám đột xuất này mà sờ đến thì chỉ còn nước bỏ của chạy lấy người.

Tàu lắc lư chạy trong đêm. Hành khách ba miền của bao nhiêu âm ngữ đã đồng tiếng ngáy. Ngay sát mặt tôi, dưới gầm ghế là hai bàn chân giao chỉ với ngón cái xòe ra, dính đầy bùn đất của anh nông dân vừa lên vất hai bao sắn qua cửa sổ. Trên ghế đối diện, thuộc về giai cấp khác, mấy ông cán bộ đi công tác với cặp táp, điếu cày đang ép nhau ngồi. Thỉnh thoảng, những khi tàu lắc mạnh, các vị lại xón cho giai cấp dưới cùng tí nước điếu. Hai con bé con tóc khét nằng, áo bà ba đen, quần đùi, đang ôm lấy bao than củi ngủ, chả hay biết nước thánh cam lồ chảy tong tỏng trên lưng mình. Trên đâu tất cả là mấy ông con trời bộ đội đang nhịp nhàng kẽo kẹt thượng tọa trong võng. Chú lính treo gần tôi nhất đầu ngoẹo ra khỏi võng ngủ, môi trề ra, nước dãi nhểu nhảo chảy xuống bụng chị có con mọn đang tốc áo cho con bú ngáy khò khò trên ghế.

Trời ơi, muốn ra được cũng thật khó, tôi gồng sức đẩy hai bàn chân chắn ngang mặt mình mà không được. Sau mỗi cố gắng, anh nông dân lại cho tôi một cái đạp hoa cả mắt. Đau vì bị đạp thì ít, mà ức vì bị đèn nén thì nhiều, tôi nghiệm thấy, quy luật đấu tranh của xã hội cũng đúng cả dưới gầm ghế này. Nhưng thôi, tất cả đều đã mệt, cần được ngủ để có sức chiến đấu cho lúc xuống tàu.

Tỏng tỏng… róc rách… Tàu chạy vào khúc xuôi gió thì vẳng lên tiếng nước chảy, rồi âm ấm ở đầu. Nghiến răng chịu cho cái chân ghế cứa vào cổ, tôi ngỏng đầu lên để nhìn. Trời đất, suối nguồn thiên thai được bắ’t từ cái cần câu cong vút của thằng bé đang nằm nghiêng trên ghế ngậm ti mẹ. Xung quanh không ai để ý.

Tôi rút tay, vuốt vuốt tóc rồi đưa lên mũi ngửi. Cũng may, trẻ nhỏ nó chưa ăn mặn nên tè ra không khai lắm, chứ như cái mùi thường trực bốc lên từ cầu tiêu đầu toa thì bỏ mẹ. Hành khách đi xe lửa Thống Nhất chả bao giờ bị cảm mạo, trúng gió cũng là nhờ cái mùi này chủng ngừa trước.

– Chị có tranh thủ mang ít hàng để cải thiện không ?

– …

Cái giọng lấy cung kia lại quái ác nổi lên, tôi đã tỉnh ngủ, nghe rất gần, ngay khoang bên cạnh. Khổ nổi không làm sao chui người ra đuợc để còn biết đường mà chuồn. Thôi thì trăm sự đành cậy nhờ cây đèn bão tù mù này. Giá có ngọn gió nào thổi tắt nó đi thì đỡ biết mấy.

Lúc vừa nhảy lên tàu tôi đã chọn ngay cái toa toàn các khuôn mặt hao hao đói của cán bộ, ngô nghê chất phác của nông dân này để trao thân. Tôi định mập mờ đánh lận con đen giữa đám người lương thiện hòng trốn tránh các toán kiểm tra bất ngờ. Tôi đã mừng rơn khi những “thành phần cơ bản”, chủ nhân của toa tàu giương cặp mắt tò mò, đố kỵ, sợ bóng sợ gió nhìn mấy bà “ngụy” đi thăm nuôi chồng con cải tạo ở miền Bắc về rồi từ chối không cho họ ngồi ké.

Tuy đã đuợc thực tế phũ phàng của những trại tù, cuộc sống đầy tương lai của miền Bắc XHCN nhuộm xanh lè cả mặt, nhưng mớ áo quần bằng vải tốt, đống guốc dép, đầu tóc khác lạ, nhất là thói quen nhìn lại chỗ ngồi, phủi phủi vài cái rồi mới e dè đặt mông xuống của mấy bà khiến cho hai miền không thể lại gần nhau được. Tôi tiếc rẻ vận cổ nhìn tiễn theo mấy cái gót chân thon nhỏ, dính chút bùn đi tìm bến đậu khác.

Nhưng đời là một cuộc chiến đấu lớn, phải biết tiêu diệt những tình cảm phù phiếm trong mình để đi tới đích. Than ôi, những hy sinh lẻ tẻ đó cũng không cứu được hai bao hàng, đám con chiên hiền lành kia cũng không giúp tôi được chút gì, cái mánh mung của tôi đã hại tôi, chuyến này thì tiền mất tật mang rồi. Không còn cách nào hơn, tôi đành dọn mình, chuẩn bị đón tai họa sắp tới. Trong bóng tối, dưới gầm ghế, bên cạnh hai bàn chân chỉ chực đạp vào mặt với mùi khai của nước tiểu, tôi chợt nhớ đến bài hát của Trịnh Công Sơn “Nơi
đây tôi chờ… nơi kia anh chờ… ” để được ngồi trên “…chuyến xe qua ba miền…”. Phải rồi, bên đây tôi nằm, bên kia em nằm, cũng chuyến xe qua ba miền. Cái bậc nghệ sĩ họ thật giàu tưởng tượng và lãng mạn.

– Rụt chân lại !

Tôi hét to, cấu mạnh vào chân anh nông dân. Một cái đạp tương xứng với cái cấu tung vào mặt tôi nhanh nhạy như phản xạ co giật của con ếch khi bị truyền điện. Anh ta cằn nhằn trong miệng rồi tiếp tục ngáy.

– Xê ra cho người ta đi… tiểu !

Không dám cấu nữa, tôi chỉ biết, cũng cốt ý cho đám công an bên cạnh nghe thấy để hợp pháp hóa việc bỏ đi của mình. May làm sao anh chàng nông dân trở mình đổi thế nằm, hai hòn đá chắn cửa hang rụt lại, tôi vội nhoài người ra, đứng dậy leo trèo qua đống thịt ngổn
ngang nằm kín lối đi để ra ngoài. Đứng trong cầu tiêu một lúc cho vừa đủ thời gian tiểu tiện, tôi hé cửa nhìn ra. Toa tàu hoàn toàn yên tĩnh, chỉ có gió lùa ở hai bên cửa sổ, tiếng bánh sắt nghiến xuống đường rầy.

Quái lạ, công an biến đâu hết rồi ? Đánh bạo, tôi mò lại gần. Hai bên thành toa võng giăng kín thành hàng, đưa đẩy. Hành khách trên ghế gật gù ngủ. Chả có bóng áo vàng nào hết! Tôi nằm mơ chăng ? Rất có thể vì dân chạy hàng bọn tôi suốt ngày đêm bị rình rập, phải đề phòng, trốn chạy nên riết rồi méo mó nghề nghiệp, nó theo cả vào giấc ngủ. Cứ sống với cái nghề này có ngày vỡ tim mà chết. Tôi đứng tựa lưng vào thành ghế, định thần lại. Chị có con mọn đã ngã choãi lên người tay thiếu úy trẻ để ngủ, vú vê bày thõng thượt. Đứa con lọt vào kẽ nách mẹ, ngỏng cổ mân mê cái đầu tí.

Chả biết họ có chồng vợ gì không, nom chị ta vẫn còn trẻ, già độ hai ba năm về trước có ai động đến tí của “trời cho” đó sẽ bị nhảy lên đùng đùng tru tréo chửi. Người thứ tư trên ghế, một ông cụ già râu tóc lưa thưa, nghiêng người cho đủ chỗ ngồi, tay bám với lên thành ghế, đầu cúi gục xuống gần ngực chị có con mọn gật gù ngủ. Bao nhiêu mật ngọt lòng thòng rỉ từ miệng chú lính trên võng, cái đầu ông hứng hết. Ba ông cán bộ tóc điểm muối tiêu, áo sơ mi trắng cọc tay, khư khư ôm cặp táp trong lòng đang nhịp nhàng lắc lư trên ghế đối diện. Ngay trong giấc ngủ họ cũng có cái vẻ “nhất trí” như khi làm việc.

Tàu sắp đến ga Nha Trang, vùng đất bão lửa đối với dân buôn chuyến. Chỉ còn một ngày đường nữa những sứ giả nguyên thủy của CNXH sẽ đổ bộ vào Saigon, thành phố đang trên đường cải tạo để trở về với miền Bắc, với CNXH. Tôi cúi xuống nhìn vào gầm ghế. Hai bao hàng vẫn ngủ yên trong đó. Cái bào thai đã đi được chín tháng chín ngày. Cầu trời cho
nó được mẹ tròn con vuông. Khoang bên cạnh cũng toàn các khuôn mặt trong biên chế, những lá bùa dán đè lên bản mặt “bất chính” của tôi. Đừng rẻ xuống ga lẻ dọc đường, bỏ tôi côi cút một mình nhé, hỡi các bạn yêu dấu.

Tôi sẽ chi viện cho miền Nam ruột thịt ít sợi thuốc lá vàng, do chính tay vợ con các bạn trồng. Những ông ba tàu chợ lớn với kỹ nghệ làm giả tuyệt hảo, hơn hẳn nền đại công nghiệp XHCN sẽ vấn thành những điếu thuốc CAPSTAN thẳng thớm, đẹp đẽ trong hộp carton giấy bóng kính để các bạn trầm tư, đắn đo, quyết định tốn kém, mang ngược về miền Bắc làm quà cho anh em bè bạn.

Một cặp trai gái vẫn còn thức, họ ngồi nép vào nhau, thỉnh thoảng trao đổi những cái nhìn. Gã trai với cây đàn ghi ta treo trên đầu, tóc dợn sóng, có dáng dấp của một vĩ nhân tỉnh lẻ, ông chủ hiệu may, hiệu chụp ảnh, một bậc văn hóa lớn ở phố huyện ( ?) không ; gã có vẻ là anh đội trưởng đội chiếu bóng huyện hơn là những vị kinh doanh thẩm mỹ vì cái kính râm nội hóa cài khéo ở ngực, áo sơ mi trắng loại vải không pha ny lông, quần kaki xanh mua phân phối, ở cổ tay thiếu cái đồng hồ. Cô gái ngồi bên cạnh tuổi chừng đôi mươi, tóc dài, hoe màu nắng cháy. Khi cô ngước mặt lên nhìn tôi thì trời đất ơi, một trang tuyệt sắc giai nhân. Đôi mắt có đuôi, mở lớn hiêng hiếng xếch đang cười lăn tăn. Mũi cô thon nhỏ, thường tìm thấy nơi tượng Đức Mẹ hoặc trong hình thiếu nữ e lệ in trên băng, đĩa vọng cổ. Cặp môi cũng chúm chím cười như mắt, phơn phớt hồng, nổi trên miền da trắng. Những đường nét, màu sắc đó được ướp trong vẻ hồn nhiên tươi tắn của cô gái mới mập mờ linh cảm về nhan sắc của mình. Toa tàu như tỏa mát hương sen, tôi ngó vội xuống quần áo của mình, lúng túng dấu mấy ngón tay dắt kín đất đen ở kẽ móng. Trong phút chốc tôi quên bẵng hai bịch thuốc lá,
mũi tôi điếc với mùi khai, mắt tôi mù với thân thể nếu được phơi bày ra hết sẽ diệt dục trai tráng của thiếu phụ có con mọn bên cạnh, tôi ngây người như đười ươi giữ ống chiêm ngưỡng cô gái. Gã trai cảm thấy bị hao mòn mất mát bởi đống tình si chảy nhão nhoẹt trước mắt mình bèn đưa tay kéo cái vạt áo hở của cô gái, ra điều hoa đã có chủ. Gạt nhẹ tay gã ra, cô sửa lại thế ngồi rồi thẹn thò liếc tôi. Gã trai húng hắng họ

Như để chạy đua vũ trang với tôi, khẳng định với cô gái, gã xoay hẳn người lại, cặp mắt nhừa nhựa la liếm lần trên gò má hồng, bò quanh miệng, rồi chui xuống cổ cô. Cảm thấy gã sắp trườn vào lòng người đẹp đến nơi, tôi “e hèm” đánh tiếng, quay mặt đi chỗ khác. Sự buồn giận vô cớ chợt xâm chiếm lòng tôi. Hương hoa thế kia dãi gió dầm mưa làm chi trên chuyến tàu này. Vẻ đẹp mong manh bên cạnh sự lố bịch. Vâng, người là hoa của đất, là bà chúa của thiên nhiên, bao nhiêu cuộc đời mới dâng hiến một khuôn mặt đẹp, cũng chỉ đẹp trong tích tắc, một lần phát hương rồi trơ mình ra cho cuộc sống chìa hàm răng vẫu thô lậu nghiền nát.
Chỉ sau lời tuyên bố ngắn ngủi của đồng chí chủ tịch xã kiêm chủ hôn, sau ba năm sống không có ca nhạc, ti vi chiếu bóng đêm, người đẹp ngồi kia sẽ biến thành cái máy đẻ, con đường đi đến thiếu phụ sau lưng tôi sao mà gần. Quần xanh, áo trắng mới tinh khôi, tôi nổi
giận với cả sự ăn diện của cô gái. Ở xã hội này mỗi khi muốn chứng tỏ “Tôi đi chơi “, “Tôi làm đẹp “, người ta không có chọn lựa nào khác ngoài màu trắng để tách mình ra khỏi màu nâu lam lũ với đất, màu tím than đánh lẫn với dầu máy, màu áo lính nhuộm xanh cả đất nước. Từ đồng chí Tổng Bí Thư trên diễn đàn đại hội đảng, chú cai ngục hỏa lò Hà nội hai tay đút túi quần bước vào quán phở, cho đến cặp trai gái đi dạo quanh hồ Hoàn Kiếm, ai ai cũng chỉ một màu áo trắng. Cái màu trắng đẹp đẽ thanh khiết bị lạm dụng, bị cưỡng hiếp trở nên nhàm chán, làm nhòe nhoẹt các khuôn mắt đời vốn đa dạng, biến nó thành một thứ đồng phục ngớ ngẩn.

– Mặt mũi không đến nỗi nào mà ăn mặc bẩn thỉu như mọi rợ…

Gã trai thì thầm với cô gái. Cô ngước mắt nhìn tôi. Họ cùng cười với nhau.

– Chị đã mệt chưa ? Cứ ngả lên người tôi mà nghỉ… ?

Gã đề nghị, ngồi lấn vào cụ già đang ôm cái tay nải bên cạnh để nhường chỗ. Tôi ngờ ngợ, dỏng tai chờ đợi.

– Không. Cảm ơn anh em còn ngồi được.

Cái giọng “lấy cung” khi nãy ? Tôi nhìn chăm chăm vào mặt họ. Cô gái ngượng ngùng quay mặt đi chỗ khác. Gã trai nghĩ tôi là chướng ngại cản trở dịp may chờ đợi đã lâu nên lừ mắt hằn hộc xua đuổi. Thấy địch thủ vẫn không nhụt chí, chả cần bóng gió xa xôi, gã ném thẳng
vào mặt tôi câu chửi :

– Chỉ có đồ vô văn hóa mới thò mõm vào việc người khác!

Thôi đúng rồi, chả có Công An nào hết, tôi cũng không nằm mơ, cũng không có ma quỉ gì quấy phá, anh bạn trẻ ngồi trước mặt chính là tác giả bản “hỏi cung” khi nãy. Tôi sờ lên túi áo ngực. Trong cuốn chứng minh thư (cũ) của Công An cấp, ngoài tên tuổi, địa chỉ, quê quán, đã can án lần nào chưa, còn những mục về cha mẹ, vợ con, còn sống hay đã chết… Tôi nhớ đến những lúc mới làm quen, người ta cũng hỏi và trả lời đầy đủ những điều cần thiết trong một bản sơ yếu lý lịch. Hỏi như một thói quen, nhiều khi chả để làm gì và sau đó ai đi đường nấy. Thói quen méo mó đó ngấm sang cả địa hạt yêu đương.

“Nơi em về trời xanh không em… ” Bên này vĩ tuyến 17 không có một câu hỏi thơ mộng, lãng mạn như vậy, còn các Vũ Hoàng Chương, Khái Hưng, Hàn Mặc Tử… đã bị đánh bật rễ khỏi người đọc, gom lại trong cái nghĩa địa văn hóa cổ, le lói trong ký ức người già. Các tay “yêu” lừng lẫy một thời vẫn còn đấy, nhưng đã biến thành Xuân Diệu Xuân Xang Xuân… Tóc đỏ.

Người ta đã tiêu thổ kháng chiến đến cả yêu đương. Nói đến “yêu” cũng phạm húy, phải gọi là “tìm hiểu”, người yêu là “đối tượng tình cảm” (đối tượng đoàn, đối tượng đảng, đối tượng của pháp luật ). Hôn nhân được xây hào đắp lũy thành “lập gia đình”. Chữ “chàng” và “nàng” được cách mạng hóa thành những chữ “anh”, những chữ “chị”, những “gã”, những “hắn” trong văn học hiện hành. Người ta lập pháp hóa cả tình yêu, vớ vẩn có thể bị qui là “quan hệ bất chính”, “tác phong thiếu lành mạnh”. Đa sầu đa cảm, yêu lăn yêu lóc cả trong nhạc lẫn ngoài đời như ông Phạm Duy dám đi cải tạo không có ngay về.

Tình yêu không được thi ca ấp ủ, dẫn dắt, hướng thượng, thè lè đi ngoài đường trong những dịp quốc khánh, hội hè đông người để sờ mó, gỡ gạc lẫn nhau, “hủ hóa” với nhau trong nhà kho công sở, hoặc nếu đúng đắn nghiêm chỉnh hơn thì đặt ra tiêu chuẩn “3B” (Bôn sê vích,
buồng ở, bia cung cấp) để “tìm hiểu”. Vì vậy những lời yêu đương được mở đầu bằng “Đồng chí công tác ở cơ quan nào ?…”

Tôi cười rú lên giữa toa tàu. Gã trai giật mình rụt vội bàn tay có mắt về. Một vài hành khách luống tuổi tỉnh giấc, khó chịu nhìn thằng điên đang sắp ngửa leo qua đống người nằm giữa lối đi để ra ngoài. Ông bạn trẻ cay cú tiễn với theo…

– Thật đúng là đồ quái dị!

*

Chuyến tàu đó đã dừng lại ở VN . Hai năm sau, trên chuyến tàu ở xứ tị nạn, tôi lủi thủi đi lại một mình giữa toa tàu trống vắng. Lác đác vài cặp mắt xanh sợ gió máy đóng kín cửa sổ, khụt khịt mũi nhìn con người dị hợm cuồng cẳng. Không được chen chúc, hằm hè chửi
bới nhau, không sợ cảnh sát bằng mấy con chó cảnh chạy lăng xăng bên cạnh mấy bà già, buồn, tôi lẩn thẩn ước lượng số ghế trống rồi nao lòng nhớ về những anh em bè bạn ở quê nhà. Xót xa với máu mủ mình chưa hết, tôi còn thương lấy cả cái ngành hỏa xa của xứ người. Làm ăn như thế này thì lỗ chết. Tôi quên béng đi mất, rằng tiền vé chém rất nặng, cuốc đường ngắn như thế này nếu gửi quà về VN thì “chúng nó” lai rai quán cóc cả tháng trời. Tôi nhớ về bên nhà như một kẻ thiếu nợ.

Con thú hoang dã đã được thuần giống bằng trợ cấp thất nghiệp (cho mày đủ ăn để tự giam mình trong chuồng, đừng có nhìn sang túi khác). Tôi đã “quên” chưa trả lời gần chục cái thư, thư nào cũng giống nhau một điểm là ngắn (đỡ tiền tem). Chữ nghĩa tiết kiệm rồi, lại còn bóng gió xa xôi, nhưng cái bóng gió xa xôi tài tình đến độ lồ lộ hiện ra khuôn mặt dài ngoẳng vì đói vì chờ của ông bạn. Trước khi đi, tôi đã dại dột bốc đồng “Tụi mày yên tâm đi, tao mà…” Cái “tao mà…” ấy cho đến giờ này cũng chỉ tiến thêm được một bước thành “tao sẽ…” nhưng tôi cũng không ân hận là đã cho họ ăn bánh thánh. Có vị bác sĩ nào đủ can đả
m nói với người bệnh đang hấp hối của mình “Xin thưa, tôi bất lực, tôi không có thuốc…?”

Những con tin của lương tâm ở bên nhà hiện đang sống bằng hy vọng. Tôi lừa họ chưa đủ, họ còn phải tự lừa mình nữa thì mới sống nỗi. Méo mặt trả xong tiền tem, cầm bằng mua xấp vé số, họ xoa tay yên tâm chờ đợi. Nhưng mấy chục cái đơn xin việc của tôi mất hút không về, sổ vẫn chưa mở, lại tiếp tục “quên”.

Xuống tàu phải mua ngay mấy tấm vé số! Tôi hạ quyết tâm cho lòng yên ổn (lại tự lừa mình?) để còn nghĩ sang chuyện khác. Đúng lúc đó thì có tiếng “hèm” sau lưng. Lại một cụ ông, cụ bà bản xứ với những câu hỏi đầy bác ái như cho kẹo trẻ con về cảnh ngộ, sự hội nhập, phong cảnh quê hương? Tôi gắn vội nụ cười ba phải lên môi, chuẩn bị sẳn mấy câu thuộc lòng để trả lời.

– Xin lỗi, anh là người VN ?

Trời ơi tiếng Việt! Tôi quay phắt lại ngó sững người bắt chuyện.

– Xin lỗi ông tôi lầm lẫn…

Người đàn ông tuổi trạc bốn mươi, mắt sáng, ăn mặc buông thả lúng túng xin lỗi bằng tiếng bản xứ, vẻ mặt đầy thắc mắc. Tôi hiểu ngay sự thắc mắc đó. Người Việt gặp gỡ tình cờ ở ngoài đường ít khi nhìn nhận nhau vì họ không nói được tiếng Việt.

– Không, tôi là người Việt!

Tôi vội vã xác quyết.

– Anh đi từ miền Bắc?

Người đàn ông vồ vập. Tôi cũng nhận ra ngay cái giọng Bắc toang toác của ông tạ

– Dân tỉnh nào đấy?

– Hà Nội đây!

– Đây cũng Hà Nội!

Khỏi cần nói về nỗi mừng. Chúng tôi xoắn xuýt ôm lấy nhau mà hỏi chuyện. Chuyện bên nhà, chuyện đi đứng, chuyện ổn định đời sống bên này… Khi đã cạn những vấn đề thời sự (miếng trầu của đầu câu chuyện) trong tiếng xe xé gió, chúng tôi ôn lại những ngày tháng xa xưa của Hà Nội. Như hai anh lính trẻ đi giữa Saigon, cái phố huyện hẻo lánh giáp vùng thượng du Bắc Bộ của họ là nhất thì Hà Nội đối với chúng tôi là vô địch.

Bát phở Quyền ở ngã tư Phú Nhuận (té ra anh cũng đã nếm) thịt thà hùng hậu, nước độc đáo thật, nhưng độc đáo trên cái nền nhòe nhoẹt đánh lẫn với nước hủ tiếu ở Saigon, không “ác ôn” bằng phở Thìn đối diện đền Ngọc Sơn ngoài Hà Nội.

– Cậu thử tưởng tượng xem, về khuya đi ngược gió đông, cách cả trăm thước mà cái thằng phù thủy ấy nó dở nắp thùng phở lên có sởn gai ốc không hả…? Trong túi không có tiền thì bỏ mẹ!

Tôi cảm thấy hơi phở nóng phả ra từ mặt anh nên gật gù.

– Thế mới là phở chứ những chỗ cậu kể đi sắp ngã vào nồi cũng không hay, bát phở bưng đến trước mặt, mở mắt ra mới biết thì còn gì là phở?

Sau khi đi một vòng các hàng quà Hà Nội, anh dắt tôi đến quán cà phê. Cà phê Hà Nội cũng lại nhất. Anh kể ra tên mấy cái quán ít ỏi của đất Thăng Long với từng “gu” của nó. Quán “Moka” phố Bùi Thị Xuân có cô con gái đẹp như Kiều, nhưng không át được mùi thôm của cà phê ông bố. Quán “Nhỉ” phố Hàng Cá đậm đà chút nước mắ’m nhỉ (nên mới gọi là ông Nhỉ). Quán “Nhân” đầu Hàng Gai có hương vị huyền ảo khó tả, người không biết, tưởng ông đánh thuốc phiện khách… Anh thừa nhận không gì sánh nổi hạt cà phê Ban Mê Thuột, nhưng Saigon có vẻ chưa để ý đến nghệ thuật pha trộn. Cà phê nó có nhiều loại. Vối cho vị chát, mít cho vị chua, và chè cho vị đắng. Nếu nhiều chè một chút, tí vối, tí mít thì thành gu ” Moka”, hoặc đổi lại thì thành Nhân thành Nhỉ… Rốt cục tròn trịa, óng ả, no đủ như hạt cà phê Ban Mê Thuột chỉ cho được mùi thôm choáng ngợp khi mở nắp phin. Hết!

– Nhưng hình như các ông Nhân, Nhỉ, Moka bây giờ pha hơi nhiều muồng muồng trong đó thì phải…?

Tôi rụt rè phát biểu. Anh xìu người, gãi đầu rồi cười. Dù sao cũng phải công nhận anh là bậc thượng tọa trong cái đạo ăn uống này.

Hết chuyện ẩm thực, chúng tôi xoay sang chuyện người đẹp. Trong địa hạt này anh không dám cục bộ địa phương nữa vì biết tôi cũng đã chui qua cái xã hội lấy chiêu bài “bình đẳng, giải phóng” để đẩy người phụ nữ xuống bùn, chui rúc trong hầm mỏ, lẫn lộn ngoài chiến trường như nam giới. Bên cạnh đó là hệ thống tuyên truyền đồ sộ, ăn ý như dàn nhạc giao hưởng luôn gõ trống thúc dục cho bắp thịt nở nang của phái yếu trong bức tranh “ai nhanh tay cuốc bằng tay em…” trong nhịp nhạc “niềm vui cô gái mở đường Trường Sơn” trong văn học.

Gái Bắc Hà đã bị déformée biến dạng thành cái vai nở, thân hình trùng trục vì lao động nặng.

– Cứ nhìn thấy gái Saigon là tớ nghĩ đến chuyện ly dị…

Anh đốt điếu thuốc, phả khói lên trần toa lim dim mắt cười. Tôi nói đến gái Cần Thơ, Vĩnh Long, đất gạo trắng nước trong da thịt mơn mởn như xoài. Anh kể về mấy chi. Huế nhu mì e ấp dưới mái tóc thề, ẩn dật kín đáo với làn da trắng xanh, nhưng con mắt thì đi nhiều hơn chân, làm nhiều hơn tay, nói nhiều hơn miệng, quả tim như núi lửa chỉ chực bất tử phun nham thạch.

– Ờ lạ thật… Saigon là đất tứ xứ, nhưng bất cứ người ở đâu hễ nhập vào nó ba bốn năm là thay da đổi thịt, biến thành dân Saigon. Đâu như Hà Nội mình, anh từ Hải Phòng lên, sống cả hai chục năm, đẻ con ra vẫn lơ lớ giọng nước lợ, tính tình tềnh toàng của dân thành phố cảng. Chị ở chiến khu về, sống đến mấy đời hộ khẩu vẫn không tẩy được cái cách nhấm nước bọt đếm tiền. Sức cảm hóa, khả năng hội nhập ở Saigon nó khác…

Tôi lấy Huế để giải thích hiện tượng đó cho anh.

Nếu chính anh có dời cư về đó ở, không phải hai chục năm mà bốn-sáu chục năm, cho đến chết, chất Huế cũng không thắm vào anh được. Vùng đất nào đã được chọn làm kinh đô trên một thế kỷ tự nó sẽ tạo nên bản sắc riêng biệt cho mình, hội nhập sẽ rất khó…

Chúng tôi cãi nhau như mổ bò (dấu hiệu đã thân thiện) về những vấn đề cả hai đều không nắm vững, hoặc chả có gì đối nghịch nhau. Để đừng đập vào đầu nhau trong lần gặp gỡ đầu, tôi lái câu chuyện trở về người đẹp Hà Nội. Thế là lại một màn truy tìm các bóng dáng xưa. Để chứng tỏ mình cũng là tay cung kiếm một thời, những con nhà nọ, em gái thằng kia… Câu chuyện trở nên gần gũi, tôi râm ran bồi hồi với tên tuổi một vài người đẹp đã làm mình điêu đứng. Lần mò một lúc, anh dẫm trúng phải cô em vợ tôi ở phố Hàng Ngang. Người đồng hành, đồng hương càng trở nên thân thiết. Tôi như thấy cả Hà Nội đang thở nóng bên tai mình.

Thế Giang