Gió Về Kể ChuyệnThu
Monday, September 28, 2026
Thu Phai Theo Người - Thuyên Huy
Thu Phai Theo Người
Mùa Thu, bây giờ những ngày cuối Thu,
lâu lắm rồi mới về lại đây, hơn mấy năm, nơi anh bỏ đi, từ mùa thi cuối măm. Phố
vẫn là phố xưa, đường dọc ngang vẫn những con đường cũ. Chiều nay cũng như buổi
chiều ngày đó, đón chuyến xe đò sớm, ngày người theo về thăm cho biết quê anh,
một làng quê nghèo lần đầu, và cũng không ngờ lại là lần cuối, chưa và không lần
gặp lại.
*
Nắng thoi thóp tàn,
cái nắng của hoàng hôn, vàng úa như màu của lá Thu trải ngập đường, rơi rớt bên
kia sông về ngang phố chợ, để đêm mau xuống. Cây hoa dại đơn lẻ, một mình cố sống,
khó nhọc, mọc len lên từ khe nứt vô tình của phiến đá lớn rong rêu, nằm trơ trọi
sau cái ghế cây bạc màu, hoang phế duy nhất mà anh với người đã ngồi, nhìn xuống
cuối con đường dốc, thì thầm thương nhau, ở góc công viên nghèo nàn, ngày đó chắc
giờ tuổi đã già và gầy guộc hơn nhưng vẫn còn hoa, cũng là cái hoa đơn lẻ, duy
nhất.
*
Ở một thành phố
khác, cũng hôm nay, người bỏ anh về nhà chồng, một bác sĩ quân y, vị bác sĩ mà
có lần anh đã gặp, với chiếc xe jeep đục màu bụi rừng đất đỏ, buổi chiều cuối
trời giao mùa Xuân Hạ, ở xế ngã ba, hôm anh tới đón người, sớm hơn giờ hẹn trước
cổng trường, khi chuông tan trường chưa dứt hồi cuối.
Anh hơi ngỡ ngàng,
đứng khựng nép sau gốc cây Phượng già nhìn, thấy người cười tươi, nói qua nói lại
gì đó, anh nhíu mày tự nhủ, chắc người quen vậy thôi. Trên đường về bên nhau ra
phố chợ, anh bất chợt ít nói hơn thường và không hỏi gì chuyện thấy trước đó,
người thì nói cười như những hẹn lần cũ từ lúc mới quen nhau cho tới bây giờ.
*
Người, cô con gái
dân tỉnh thành, nhà ở xế ngã ba chợ Cũ, gia đình có tiệm thuốc Tây ngoài phố
Gia Long, khá giàu. Anh, con nhà quê ở
làng xa, cách tỉnh thành hơn bốn năm chục cây số, nhà không nghèo, cũng đủ ăn đủ
mặc, nhờ cái sạp bán rau cải mà má anh lo, ba thì mất sớm rất sớm, ở chợ xã.
Người và anh học
cùng lớp, tình cờ quen nhau năm đệ Nhị, khi cùng ở trong nhóm làm báo cuối năm,
nhóm do cô Thảo, dạy Vạn vật sắp xếp, anh có tài lẻ lặt vặt, văn thơ văn nghệ
mà bạn bè đều biết, được cô ưu ái, nên người cũng thầm để ý tới. Gặp nhau nhiều
lần, anh thêm ăn nói vui nhộn, cuốn hút người nghe nên cả nhóm, kể cả người
càng quý càng mến, rồi thì anh cảm thấy mình biết thương, biết nhớ mỗi khi chia
tay ra về, với cô Thảo, để ý những lần hai đứa trộm nhìn nhau thì cô biết họ có
gì rồi, cái có gì của tuổi mới biết yêu.
*
Vậy đó, gần gũi, hỏi
nhau, nói cho nhau nghe chuyện trường, chuyện lớp học, chuyện hàng cây Trứng
Cá, dọc bên hông phòng Thí nghiệm và chuyện đời, hai người thương nhau không chờ
không đợi, sáng chờ nhau đến trường chiều bên nhau đường về, cười mà không nói
thêm gì nữa, tình yêu đến cứ đến như lẻ trời đất có tự ngàn năm.
*
Cả hai đậu mùa thi
Tú tài Một, cũng bên nhau như từ đó, chưa “thề non hẹn biển” nhưng ngọt
ngào, tha thiết “bên anh bên em”. Mùa thi năm cuối, nắng hạ hồng tươi tô
rực ngàn cánh phượng đỏ, xong nợ sách đèn, trường học vào hè, đường phố tỉnh rộn
rã tiếng ve sầu gọi bạn, vắng tênh những tà áo trắng thả gió bay, tan trường
vào lớp.
*
Trở lại tỉnh, bạn bè
cùng lớp, không còn mấy ai, người đậu cũng như anh, khăn gói xuống Sài Gòn, làm
quen với giảng đường ghế đá, tiếp tục đời chưa trọn, người không thành, từ giã
bút nghiên vào lính, đi và đi biền biệt. Căn phố lầu ở chợ Cũ không thấy bóng
dáng ngày xưa ra vào, khung cửa sổ màu xanh đóng kín, ngỡ ngàng, anh đứng bên
này đường nhìn qua, chờ mà hy vọng.
Chờ cũng đủ lâu,
anh bỏ đi, ngang qua cô con gái đang chờ mua gì đó trước cửa tiệm tạp hóa, chắc
cũng biết chút chuyện gì, nhìn anh, chậm
giọng buồn cho biết, người đã xuống Sài Gòn từ lâu lắm rồi.
*
Từ trên dốc nhìn xuống con sông, con sông vẫn
vô tình, thản nhiên nước lớn nước ròng, bên bồi bên lỡ, cây cầu Quan cũng đó,
ba nhịp bạc màu vôi như những ngày tháng cũ, đèn đường lên héo hắt, mù mờ từ
lâu, đêm chầm chậm xuống. Chim đâu đó gọi nhau đi ăn đêm từng đôi từng cặp, người
thưa thớt qua cầu xuống chợ, chợ đêm chắc cũng như chim.
Giờ này công viên
không ai màn tới, anh ngồi đó buồn cho mình, nhặt mớ lá vàng khô, gom lại thành
nấm mộ nhỏ, chôn mùa Thu của mối tình đầu, bên cạnh phiến đá rong rêu, có cây
hoa dại già nua, lẻ loi, mùa Thu chết. Ngày mai, một lần nữa anh bỏ đi và có lẽ
lần này đi không trở lại.
Thuyên Huy
Viết cho một người, nếu có đọc được sẽ biết người trong chuyện
là ai.
Điệu Hát Ru - tôn nữ thu dung
Bài hát ru
Ngủ đi…nắng khuất bên đồi
Ngủ đi…cho mộng bùi ngùi bay xa
Ngủ đi…cùng bóng trăng tà
Ngủ đi…trong tiếng yên hà nghiêng rơi
Ngủ đi…gió tạt chân trời
Ngủ đi…cỏ hát những lời yêu thương
Ngủ đi em…giấc ngủ hờn
Buông tay cho gió về hôn mặt người
Ngủ đi em…giấc ngủ vùi
Ngủ đi em…tiếng khóc cười vô ngôn
Ngủ đi em…giấc ngủ buồn
Ngủ đi em…giấc nghìn trùng…không anh .
tôn nữ thu dung
Điều Ao Ước Cũ - Cao Xuân Lý
Điều Ao Ước Cũ
Thằng Dương đang đi thì đứng khựng lại, lõ mắt nhìn một thanh niên từ trên xe tắc-
xi bước xuống. Nhưng nó nhận ra anh Toản ngay . Như vậy anh Toản lại mới ở Mỹ về!
Nó thấy hình như anh ấy mới về đây, bây giờ lại về nữa . Nó nhớ hồi đó nó hỏi,
khi nào anh lại về thăm, thì anh nói sang năm. Như vậy là anh đã đi được mt năm
rồi sao . Nó nghi hoặc không biết như thế nào, thậm chí nó vừa nghĩ là mình
nhìn nhầm người . Ðã thế thì nó phải theo đến nhà bà Sáu xem có phải đúng là
anh Toản về thật không. Tự nhiên nó nhớ đến mấy cái kẹo sô- cô- la mà anh Toản
cho nó năm ngoái . Kẹo thì nó ăn không thiếu gì, nhưng sô- cô- la thì nó mới ăn
lần đầu thôi . Nó thích lắm, nhưng đâu có nữa mà ăn. Nó ước cũng được ở Mỹ như
anh Toản, để cả ngày chỉ ăn sô- cô- la thôi . Ăn cho thật đã thì mới hết thèm
được. Người nào cũng gọi là sô- cô- la nhưng chính anh Toản không gọi như thế
đâu, anh gọi bằng cái tên gì nghe lạ lắm nhưng nó chưa bắt chước được, tên ấy
chắc là tiếng Mỹ đấy! Anh Toản chắc giỏi tiếng Mỹ lắm, vì thỉnh thoảng nó lại
thấy anh chêm vào mt hai tiếng khiến ai cũng phục, mà người phục anh Toản nhất
là nó. Có lẽ biết được những gì nó nghĩ trong đầu, nên khi anh Toản thấy nó đứng
nhìn nhìn thì bốc cho nó mấy cái sô- cô- la . Chợt thằng Dương nuốt nước dãi
đang ứ ra đầy mồn nó.
Vừa đi vừa nghĩ về anh Toản nên nó đến nhà bà Sáu lúc nào không hay .
Bà Sáu đang ở trong nhà đi ra, thấy thằng Dương thập thò trước nhà, hỏi nó:
- Nhìn gì thế cái thằng ranh con này ?
Bị người lớn mắng nhiều nên nó không để ý đến giọng hằn học của bà Sáu, nó hỏi:
- Anh Toản mới về hả bác?
Bà Sáu chợt nhớ ra, mỗi khi thằng Toản về là trẻ con thường đứng chầu trước cửa,
lõ mắt ra nhìn. Lúc đầu, Toản mang nhiều tiền và cả quà nữa, nên bà nghĩ, cho mỗi
đứa vài cái kẹo để nó đi cho rảnh nợ, chẳng ngờ càng cho, chúng càng kéo đến.
Rút kinh nghiệm ấy, bây giờ bà không còn đem kẹo ra cho lũ trẻ con nữa . Hơn nữa,
Toản bây giờ cũng chẳng có gì, cả tiền lẫn quà đều ít, thậm chí có khi không
mang gì về, vì cứ về xoành xoạch thì xoay đủ tiền vé máy bay đã khó, nên dù có
muốn cho bà cũng không đào đâu ra . Bà Sáu nhìn thằng Dương đang đứng ở cửa,
nói như đuổi:
- Ừ, nhưng nó không có gì đâu . Mày về đi mẹ mày mới gọi đấy!
Thằng Dương tưởng mẹ nó gọi thật, cắm đầu chạy về.
Về đến nhà, thằng Dương thấy mẹ nó đang nhặt mớ rau ở đầu nhà. Nó len lén bước
vào trong nhà mà không dám hỏi mẹ. Nó hơi ngạc nhiên không thấy mẹ nó nói năng
gì. Mọi khi mà để mẹ nó phải gọi rát cổ bỏng họng mới về là thế nào bà cũng chửi
mấy câu . Hôm nay nó thấy mẹ nó hiền quá, không chửi mà cũng chả nói gì. Thằng
Dương muốn chạy đi chơi nữa nhưng lại không dám, sợ mẹ nó thấy rồi bà nhớ ra việc
đã gọi mà không thấy nó, nên nó đành ngồi ở chái nhà phía sau cầm mảnh sành vẽ
nguệch ngoạc trên mặt đất chẳng ra hình thù gì cả. Chợt nó lại nghĩ đến anh Toản.
Anh Toản chắc chỉ lớn hơn nó mười tuổi thôi mà anh ấy giỏi quá, mt mình đi sang
tận Mỹ rồi lại về, đi như đi chợ! Còn nó thì cứ ở mãi trong cái xó xỉnh này, chả
biết đâu là đâu . Nó lại ao ước được như anh Toản. Nhưng ao ước là ao ước suông
vậy thôi, chứ nó biết chả khi nào nó sang được bên ấy!
Ðang buồn vì không có gì ăn, cũng chẳng có gì chơi, thì thằng Long huýt sáo gọi
nó ở ngoài cổng. Nó quên cả mẹ nó đang ngồi cạnh đấy chạy ù ra ngoài cổng với
thằng Long. Cũng may, mẹ nó biết nhưng cũng không nói gì.
Vừa ra đến nơi thì thằng Dương thấy thằng Long đi với mt thằng nữa, mà thằng
Dương chưa biết thằng này . Nó hơi ngạc nhiên, khựng lại, trố mắt nhìn thằng bạn
mới của nó. Thằng Long cũng biết là thằng Dương ngạc nhiên, nên chỉ thằng bạn mới,
nói:
- Thằng này mới ở Mỹ về đấy!
Tự nhiên thằng Dương đâm lúng túng. Nó quan sát thằng bạn mới kỹ hơn. Rồi nó nhận
ra ngay cái vẻ Mỹ trên con người thằng bạn mới . Vừa lúc đó thì thằng kia đưa
tay bắt tay nó:
- "Hello!"
Ðến bây giờ thì thằng Dương thật sự lúng túng, nó không biết nói thế nào . Nó
có cảm tưởng thằng này là người ngoại quốc thật sự vì nó đâu có nói tiếng Việt.
Nghĩ thế nên thằng Dương không trả lời thằng bạn mới, mà quay lại thằng Long, hỏi:
- Nó nói cái gì thế?
- Nó chào mày đấy
Thằng Dương nhìn thằng bạn mới, hỏi:
- Tên mày là gì?
- Ổi . Thằng Dương suýt cười thành tiếng. Nó không ngờ thằng này mới ở Mỹ về mà
lại có cái tên gần gũi với nó như thế. Nó cứ tưởng mt thằng từ Mỹ về thì phải
có cái tên cao sang lắm, ai ngờ lại là 'i, mt thứ mà thằng Dương rất hay ăn.
Thằng Ổi thấy thằng Dương cười nhưng nó không biết chuyện gì. Nó cũng hơi tiếc
là đã không có dịp khoe cái tên nghe rất "Mỹ" của nó là David, vì trước
khi về, bố mẹ nó đã dặn là không được nói tiếng Mỹ, dùng tên Mỹ khi ở Việt Nam,
vì không ai hiểu . Nhưng thằng Dương thì lại thắc mắc về cái tên 'i của nó, nên
hỏi:
- Trường mày học ở bên đó có mấy thằng Mỹ học chung với mày không?
Ổi được dịp vênh mặt:
- Có chứ, toàn là Mỹ hết, chỉ có tao và hai thằng nữa là không phải Mỹ thôi:
Thằng Dương hỏi mt câu ngớ ngẩn:
- Thế mày biết nói tiếng Mỹ không?
Thằng Ổi nói với vẻ hãnh diện:
- Biết chứ, tao nói tiếng Mỹ cũng như tụi nó.
- Mày nói mt tiếng tao nghe thử.
- Mày muốn tao nói cái gì?
- Như, "tên tao là Ổi".
Thằng Ổi trổ tài nói tiếng Mỹ cho thằng Dương nghe, nghe xong nó không biết thằng
'i nói thật hay nói xạo, vì trong câu nó nói không nghe được tiếng nào là 'i hết,
nhưng vì là bạn mới nên nó không dám truy đến cùng. Hơn nữa, nó ở bên Mỹ về chẳng
lẽ nó lại không biết nói tiếng Mỹ!
Thằng Long đứng nghe hai thằng nói chuyện về cái thứ tiếng Mỹ khó nói, khó hiểu,
mà từ khi đi với thằng Ổi đến giờ nó phải nghe không biết bao nhiêu bận, vì gặp
toàn những thằng tò mò như thằng Dương, mỗi thằng đều bắt thằng 'i nói mt câu,
nhiều thằng còn bắt thằng 'i chửi thề bằng tiếng Mỹ nữa, nhưng những câu như thế
không biết thằng 'i không biết, hay không dám nói, mà chỉ thấy nó cười cười rồi
lảng sang chuyện khác.
Vì nghe hoài như thế nên thằng Long sốt rut, nói với thằng Dương:
- Mày muốn học tiếng Mỹ thì mai mốt xin tiền mẹ mày mà đi học. Bây giờ tao với
thằng 'i đến rủ mày đi chơi, thằng này nó nhiều tiền "đô" lắm, mình
có thể đi sở thú, ăn kem, đậu đỏ bánh lọt, "hầm bà lằng"..., đi hay
không thì bảo!
- Ngu gì không đi, nhưng chờ tao mt chút đã, tao về qua nhà xin phép mẹ tao rồi
tao đi ngay .
Thằng Dương chưa kịp nói hết câu thì thằng Long kéo thằng Dương đi luôn, vừa đi
vừa sỉ vả thằng Dương:
- Mày ngu vừa thôi, xin, rồi mẹ mày không cho đi thì mày làm sao ?. Cứ đi, lúc
về rồi tính!
Bị kéo đi nên thằng Dương đành đi theo, nhưng trong lòng nó không yên. Giá mà
thằng Long chìu ý nó, nó chỉ cần đảo qua nhà mt tí, nói con đi chơi với bạn con
ở Mỹ mới về, thì nó tin thế nào mẹ nó cũng cho đi . Ði như thế thì mới vui mt
trăm phần trăm. Ðằng này, vừa chơi vừa áy náy!
Nhưng rồi, những hấp dẫn của việc đi sở thú, những ly kem, đậu đỏ bánh lọt, và
nhiều thứ khác nữa khiến thằng Dương không kháng cự nổi .
Thằng Dương vừa đi theo vừa để ý quan sát thằng 'i, thằng bạn mới của nó, có
cái tên mà mỗi khi nhắc đến nó chỉ liên tưởng đến thứ trái cây mà nó rất là mê,
vừa giòn, vừa ngọt, vừa thơm. Sau này, khi thằng 'i đã về Mỹ rồi chắc nó sẽ
không bao giờ quên được thằng này mỗi khi cầm trái ổi trong tay .
Ði chơi với thằng 'i, thằng Dương mới thấy là chỉ đi chơi với Việt kiều là sướng
nhất. Sướng ở chỗ tha hồ ăn. Ăn thả dàn! Từ hồi nào đến giờ, mỗi khi đi chơi với
lũ bạn trong xóm, ít khi nào nó được ăn uống thả cửa như vậy . Giỏi lắm là mỗi
thằng ly đậu đỏ bánh lọt, đĩa thịt bò khô là đã sang lắm rồi . Ðó là những khi
trong bọn nó có thằng nào trúng mánh thì mới được như vậy . Không thì mỗi thằng
được mt ly nước mía nhạt thếch đã là may . Cũng có khi cả bọn chả có thằng nào
có xu teng nào ở trong túi . Thành ra đi với cái bụng đói, rồi về với cái bụng
rỗng. Muốn no, chỉ việc ra vòi nước ních đầy mt bụng, khi nào óc ách thì thôi .
Từ khi được đi chơi với thằng 'i, thằng Dương chỉ ao ước được ở Mỹ. Ao ước thì
ao ước suông vậy thôi, vì bây giờ có còn ai vượt biên nữa đâu, mà nghe nói cũng
chả có nước nào nhận nữa . Thành ra, thích thì ao ước nhưng biết là không bao
giờ được cả.
Từ hôm được thằng Ổi, từ Mỹ về bao tụi nó đi chơi, thằng Dương cứ chờ đợi thằng
Ổi rủ tụi nó đi chơi nữa, nhưng thằng 'i còn phải về quê thăm bên ni bên ngoại
của nó, rồi lại còn phải theo gia đình ra tít tận Nha Trang, Ðà Lạt, rồi ra cả
Huế và Hà Ni nữa . Trong có mấy ngày mà gia đình thằng Ổi đi tùm lum hết. Trong
khi đó thằng Dương ở trong cái xóm Tân Việt, Bảy Hiền, hết năm này sang năm
khác, nó chán ơi là chán, nhưng đâu có biết làm thế nào . Hằng ngày nó nhìn thấy
máy bay ở phi trường Tân Sơn Nhất bay lên đáp xuống không biết bao nhiêu bận,
nhưng nó thì vẫn ở lì mt chỗ.
Nhiều lúc nhìn lên máy bay, bay ngang qua khu nhà thằng Dương, nó ao ước được
chui vào mt khoảng trống nào đó trên cái máy bay, để đi đây đi đó. Cái ao ước ấy
mãnh liệt nhất là ngày thằng Long cho nó biết ngày giờ máy bay chở thằng Ổi trở
về Mỹ. Ngày ấy, thỉnh thoảng thằng Dương lại nhìn lên bầu trời mỗi khi nó thấy
có máy bay bay ngang khu nhà nó. Và máy bay nào nó cũng nghĩ là trên ấy đang có
thằng 'i, mt thằng bạn nó mới gặp đây thôi, nhưng đã gây cho nó những ấn tượng
thật đậm nét.
° ° °
Vài năm sau, thằng Dương vẫn còn ở cái xóm Tân Việt, Bảy Hiền.
Cuc đời của nó vẫn thế. Có khác chăng là nó đã bắt đầu để ý đến những đứa con
gái cùng xóm, hay cùng lớp. Nó bắt đầu biết yêu!
Khốn thay, những cô gái đẹp ở trong xóm nó không có bao nhiêu . Quanh đi quẩn lại
vẫn là các cô: Nhàn, Luyến, Mùi, Lệ. Trong mấy cô đó, Lệ là đẹp nhất, thì hình
như nhóm bạn nó thằng nào cũng mê . Nhiều lúc nó mơ hồ cảm nhận được những rắc
rối xẩy ra, nếu mt thằng trong bọn chiếm được trái tim Lệ.
Nhưng hình như Lệ cao sang quá đối với bọn thằng Dương, nên thằng nào cũng chỉ
ao ước thầm vậy thôi, chứ không thằng nào làm quen được với Lệ.
Trong nhóm bạn thằng Dương, có lẽ, thằng Dương mê con Lệ hơn cả. Thỉnh thoảng
nó lại đạp xe qua nhà Lệ rồi nhìn vào . Cả hàng chục lần như thế may ra mới có
mt lần nó được nhìn thấy Lệ thấp thoáng đâu đó trong nhà. Chỉ thế thôi mà khi về
nó vui hẳn lên. Tự nhiên muốn huýt gió, muốn hát lên mt bản nhạc nào đó. Khốn
thay, với giọng vịt đực, dù trong nhà nó không ai chê dở, nhưng không bao giờ
nó dám cất tiếng hát giữa đám bạn bè. Vì hơn ai hết, nó biết chắc, nếu thằng
Long nghe được giọng hát của nó, thế nào cũng cười nhạo! Nụ cười thằng đó coi vậy
mà đểu lắm, mặc dù nó cũng khá tốt với bạn bè!
° ° °
Từ khi biết yêu và suốt ngày mơ mng về chuyện trai gái, thằng
Dương và đám bạn của nó đã quên hẳn chuyện anh Toản và thằng 'i giàu có ở nước
Mỹ xa xôi, thì cũng là lúc, thật tình cờ, cả thằng 'i và anh Toản trở về.
Thằng Dương vẫn còn nhớ đến chuyện thằng Ổi dẫn bọn nó đi sở thú, rồi còn đãi đằng
đủ thứ, nên khi thấy thằng 'i về thì cũng mừng. Phen này, nó đoán, thế nào thằng
'i cũng lại đãi tụi nó nữa . Lần đãi này chắc phải sang hơn lần trước nhiều .
Những trò chơi bình dân như đi sở thú, hay những món ăn rẻ tiền như đậu đỏ bánh
lọt, chắc là không có trong mục giải trí của tụi nó nữa . Thằng Dương nghĩ thế
vì trước nhất là tụi nó đã lớn rồi, không còn ham đi sở thú nữa . Kế đến là
nghe nói, ở bên Mỹ thằng 'i đã đi làm, nghĩa là có rất nhiều tiền để đãi đằng bạn
bè, chứ không phải như lần trước, tiền đãi bọn nó là tiền nó xin được của mẹ
nó. Ni nghĩ như vậy thôi thằng Dương cũng vẽ ra được những trò chơi náo nhiệt
tưng bừng, hợp với tuổi trẻ đang yêu đời và yêu người của bọn nó.
Rồi quả những điều thằng Dương dự đoán cũng không quá sai . Thằng 'i vẫn đãi bạn
bè mt bữa thật thịnh soạn ở nhà hàng loại sang trọng, mà bình thường tụi nó
không bao giờ nghĩ đến việc vào những nhà hàng sang như thế. Nhưng cũng chỉ có
thế thôi, chứ không dẫn tụi nó đi đến những nơi như thằng Dương đã tưởng tượng.
Riêng có mt điều, thằng Dương cũng không tưởng tượng ra, là anh Toản về kỳ này
còn với mục đích hỏi vợ. Và người mà anh Toản sẽ hỏi cưới là con Lệ, người con
gái mà thằng Dương thường ấp ủ trong giấc mơ .
Còn thằng Ổi, thì hình như cũng đang ngấp nghé mt cô nào đó, trong cái đám con
gái xinh xắn mà bọn thằng Dương hằng mơ ước.
Vì thế, những ngày thằng Ổi và anh Toản về xóm Tân Việt kỳ này là mt đại họa
cho thằng Dương. Nó biết là nó thua ngay khi phải đấu kiếm với một địch thủ mà
trên tay nó không có lấy một con dao cùn!
Thằng Dương lại ao ước những điều thật cũ.
Một Chút Em- Đào Hiếu
Một Chút Em
Một chút nắng hoàng hôn còn sót lại
Đưa Anh đi tìm đôi mắt Em cưới
Một chút gió từ mùa Thu thổi tới
Gọi Anh về cùng mái tóc Em bay
Có gì vui trong góc phố chiều nay
Mà Anh cứ đi hoài không biết mỏi
Anh đã biết mặc dù không ai nói :
Có một chút Em trong lồng lộng đất trời
Đào Hiếu
Cú Sốc Giáo Dục Miền Nam Qua Góc Nhìn Của Giảng Viên Miền bắc - Hồ Văn Minh
CÚ SỐC GIÁO DỤC MIỀN NAM QUA GÓC NHÌN
CỦA GIẢNG VIÊN MIỀN BẮC…
Hồ Văn Minh
Nhân ngày 30/4 báo chí thỉnh
thoảng có những bài ghi lại những cảm nhận của những người từ miền ngoài vào
'tiếp quản' Sài Gòn lúc đó (1975).
Bài này (đăng ngày 30/4/2018)
do Vietnamnet chạy cái tít hơi giật gân, nhưng nội dung thì rất đáng đọc vì viết
về cảm nhận về nền giáo dục thời trước 1975 của một người trong cuộc.
Ts Nguyễn Kim Hồng là cựu hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm
TPHCM (trước đây là một phân khoa của Viện Đại học Sài Gòn thời VNCH).
Ông kể rằng khi được phân công vào 'tiếp quản' nơi đây, ông
đã bị sốc.
Cú sốc đầu tiên là ông 'không ngờ Sài Gòn lớn và đẹp đến như
vậy.'
Vào phân khoa sư phạm, ông ngạc nhiên khi thấy cơ sở vật chất
của phân khoa tốt hơn hẳn ngoài Hà Nội.
Thời đó mà đã có các camera truyền hình ảnh trực tiếp. Về giảng
viên, ông nhận xét rằng:
“Trong lĩnh vực khoa học xã hội, theo tôi những giảng viên
trước 1975 ở miền Nam được đào tạo tốt hơn."
Nhưng ông còn sốc hơn khi tiếp xúc với sinh viên miền Nam.
Ông nói:
"Sinh viên Sài Gòn rất lễ phép. Đa phần sinh viên Sài
Gòn thời điểm đó đều xưng con với tôi, mặc dù tôi chỉ hơn họ 3-4 tuổi thôi.
Việc khoanh tay để chào khách, chào thầy, cô ở miền Bắc được
coi là hiếm nhưng ở Sài Gòn lại như một điều tất nhiên.
Tôi cảm giác nhà trường và các gia đình Nam Bộ chú ý nhiều
hơn đến việc dạy lễ cho con em mình.
Tôi cho rằng trước năm 1975, họ đã được dạy về những giá trị
cá nhân của con người nên không bao giờ để chuyện này xen vào công việc, vào đời
sống chính trị. Đó là những điểm văn hóa rất khác với người miền Bắc.”
Nhà văn Vương Trí Nhàn cũng có những nhận xét về nền văn học,
giáo dục miền Nam và người Nam giống giống như vậy. Ông còn cho biết rằng nhiều
người miền Bắc khi vào miền Nam đều nghĩ vậy nhưng chẳng ai viết ra. Nhưng Ts
Nguyễn Kim Hồng và Nhà văn Vương Trí Nhàn thì viết ra, và họ đóng góp vào một
cái nhìn công tâm hơn về nền giáo dục thời xưa. Nhà văn viết:
"Nhìn rộng ra thấy không chỉ kinh tế tốt hơn mà giáo dục
miền Nam lúc đó cũng hơn; không chỉ đường xá tốt, mà tư cách cá nhân của con
người trong đó nói chung cũng trưởng thành hơn con người miền Bắc, trình độ hiểu
biết và tuân thủ luật pháp tốt, giữa người với người có mối quan hệ tử tế,
thanh thiếu niên lúc đó ham học và biết học hơn.”
Ngày nay, một số bạn trẻ cứ thắc mắc hỏi tại sao những người
có tuổi thường hay nhắc về nền giáo dục thời xưa, thì hai vị này đã giúp cho họ
có câu trả lời. Hồi đó, triết lý giáo dục được tóm lược trong 3 chữ: nhân bản,
dân tộc, và khai phóng.
* Nhân bản có nghĩa là lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của
con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ
không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá
nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác. Với triết lí nhân bản, mọi người có giá
trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.
* Dân tộc có nghĩa là đề cập đến việc tôn trọng giá trị truyền
thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc
gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống
tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ
biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền
văn hóa khác.
* Khai phóng có nghĩa là cởi mở và cấp tiến, không phải đóng
cửa và bảo thủ. Sẵn sàng tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị
văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho
xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.
Thời gian gần đây nhiều học giả than phiền rằng Việt Nam chưa
có một triết lý giáo dục.
Theo tôi, cứ lấy triết lý Nhân bản - Dân tộc - Khai phóng làm
nền tảng cho nền giáo dục là thực tế nhứt, chẳng cần phải đi tìm đâu xa xôi.
Friday, September 25, 2026
Hồn Trinh Nữ - Không Tên
Hồn Trinh Nữ
…Hồn trinh còn ở trần gian/ Nhập vào bướm trắng mà sang bên này.
Thuở ấy, nhà nọ từng có hai kiếp đàn bà, cả hai kiếp đến lượt mình, đều chôn
chân thờ chồng đi lính.
Hai người đàn ông lần lượt ra đi, nhưng người về thì chỉ một. Người chiến binh
dũng cảm ấy về làng trong tiếng tiền hô hậu ủng, xênh xang trong mũ áo vua ban
và làm vẻ vang cho dòng họ. Nhưng khi đón chồng, người đàn bà thứ hai khóc thầm:
“Cân đai, mũ áo, bổng lộc vua ban… tất cả đều đẹp nhưng mái đầu ta và ông ấy tự
lúc nào đã ngả sang màu sương!…”
Vậy nên, kiếp đàn bà thứ ba vừa lọt lòng và nhoe nhoe khóc, thì cả bà, cả bố và
mẹ cô bé chắp tay: “Lạy Phật! Lại thêm một cái tội nữa. Nhưng lần này, chúng ta
sẽ không gả nó cho bất kỳ một người lính nào đâu nhé. Hai đời, chúng ta đã đợi
chờ đến bạc tóc, thế còn chưa đủ sao?”.
Cô bé lớn lên mơn mởn như nụ hồng. Từ nhỏ đến lớn cả nhà không cho cô được nói
chuyện với bất cứ một người lính nào để cô giữ lời nguyền thuở trước.
Một buổi sáng, xa xa vẳng tới tiếng trống ngũ liên. Cô gái bước ra vườn, đến
bên bờ giậu đẫm sương. Chàng trai nhà bên đang gấp gáp khăn gói lên đường. Vốn
là đôi trẻ vẫn cũng nhau chơi trò “đố lá”, họ cùng nhìn nhau rồi cùng cúi mặt,
lớp lông măng ngăm ngăm trên mép chàng trai khẽ rung. Tiếng trống thúc dồn.
Chàng trai đánh bạo:
- Thế… có chờ… không?
- Sao không hỏi xem bông tầm xuân có nở trước khi mặt trời lên không? - Cô gái
cắn môi, nước mắt lăn tròn trên má.
Và thế là mặt chàng trai đỏ đến tận chân tóc. Lâng lâng như vừa được chắp cánh,
chàng bấm bụng: “Ta có thể ra đi, dù “da ngựa bọc thây”.
Cô gái trở vào, mắt ngấn nước và thẫn thờ như người ốm, trong tiếng trống ngũ
liên xa xa thúc dồn. Vậy là cả nhà biết. Họ trách lẫn nhau, rồi hai người đàn
bà ôm nhau khóc. Bà cô gái thắp ba nén hương khấn người chồng quá cố: “Ông ơi!
Có lẽ cháu ông đúng, bởi tôi nghiệm rằng, nếu bây giờ ông sống dậy, lại ra trận,
thì tôi vẫn chờ ông. Ôi! Cái kiếp đàn bà!…”. Mẹ cô gái nức nở: “Chỉ tại mẹ
thôi, chính mẹ đã truyền cho con dòng máu “đợi chờ”! Con làm sao khác được!”.
Ông bố cố gạt đi: “Thì cũng phải có một đứa con gái nào đó chờ thằng bé ấy chứ,
cũng như ngày xưa, trong căn nhà này bà chờ tôi vậy! Bây giờ, chỉ còn biết mong
sao thằng bé ấy trở về!”.
Nhưng thằng bé không sớm trở về. Chàng tân binh hăng hái giết giặc trong vài trận
rồi ngôi sao chiếu mệnh mỉm cười với chàng ta, đấng quân vương vốn giỏi chọn
người, vừa nhìn thấy chàng trai đã nhận ra ngay rằng đây là một tên lính hầu
trung thành vô hạn. Thế là, ngài cho rút chàng trai về, ngày đêm cận kề bên
ngài, một bước cũng không được rời xa. Khi còn giặc giã, vua cần chàng đưa vồng
ngực vạm vỡ ra che làn đạn giặc, còn khi hết giặc, vua càng cần chàng hơn, để
giữ gìn quyền uy tối hậu. Chàng là lưỡi kiếm “trừng phạt” tuyệt hảo, sẵn sàng
giáng xuống đầu bất kỳ ai, theo lệnh đấng quân vương.
Đã mười bảy năm rồi, cô gái chờ người lính ấy. Từ một thiếu nữ như nụ hoa chớm
hé, nàng đã trở thành một cô gái quá lứa nhỡ thì. Bà nàng, rồi cha mẹ nàng theo
nhau lần lượt trở về cõi Phật. Trước khi nhắm mắt, họ đều gọi con gái đến bên
giường dặn dò: “Mai ngày nếu sinh con gái…”. Cô gái lặng lẽ khóc khi bà và bố mẹ
mất, lặng lẽ khóc khi người yêu của chúng bạn trở về hay tử trận và cuối cùng,
lặng lẽ để tang người yêu năm xưa, vì đã mười mấy năm rồi, chàng biệt vô âm
tín.
Thế rồi một buổi chiều có tiếng vó ngựa ghé sát bên thềm.
Bước xuống từ yên ngựa là một người đàn ông phong trần và nhìn mọi vật từ trên
xuống qua ánh mắt lạnh lẽo như thép. Ngang lưng anh ta thắt chiếc đai vàng vua
ban. Đó là phần thưởng sau khi anh ta lập được công đâm vào lưng người bạn cũ.
Người bạn này đã cả gan ngăn vua khi ngài hạ lệnh chém một danh tướng. Ông này
chỉ vì mắt kém mà trót dâng vua một quả táo bị sâu ăn. Sau bữa tiệc ngập máu ấy,
vua đã cất nhắc anh ta và cho phép anh ta về thăm nhà sau mười mấy năm xa cách.
Mười mấy năm qua, người lính đó vẫn không quên người yêu xưa. Giữa cuộc đời bụi
bậm, giữa triều đình đầy mưu kế sâu độc, cô trinh nữ nhà lành cắn môi cố nuốt
giọt nước mắt chia ly vẫn không mờ nhạt mà thật lạ kỳ, lại càng như vầng trăng
xa thẳm gọi anh về.
Người con gái lỡ thì bước tới vài bước rồi sững lại. Nàng hoang mang tự hỏi,
không biết đó có phải là chàng trai hàng xóm năm xưa rụt rè mãi mới dám hỏi:
“Thế… có chờ… không?”. Nhưng khi người đàn ông ấy gọi tên nàng bằng giọng nói
thân thuộc, nàng khóc, tiếng khóc nghe như ngàn mảnh thủy tinh rơi, vì nàng phải
chờ đợi quá lâu, và người nàng chờ nay đã biến thành người đàn ông có cái nhìn
lạnh lẽo như thép.
Làng xóm đua nhau chúc mừng nàng. Các ông làm nghề “gõ đầu trẻ” đem mối tình
chung thủy của hai người rao giảng trong các lớp học. Thế là từ đấy có thêm nhiều
cậu bé chỉ mơ về chiến trận. Mơ về một mai mình được hầu cận đấng quân vương. Còn
những cô bé thì chỉ ao ước sao mai này lớn, được chờ người yêu đến khi lỡ thì!
Không chậm trễ gì, người ta làm lễ cưới cho đôi tình nhân chung thủy. Vua ban
áo tím cho nàng trinh nữ lỡ thì và đám cưới trọng thể hết chỗ nói. Hoàng hôn xuống,
cạnh chén rượu bên mâm cỗ, quan khách tròn xoe mắt nghe chú rể kể chuyện. Mười
mấy năm hầu cận vua, anh ta đã quen tính kín miệng. Và chỉ bốc lên khi rượu đã
ngà ngà. Nhưng anh không biết nói chuyện gì khác, ngoài chuyện chém giết. Anh kể
về những bữa tiệc đầy sơn hào hải vị ngập máu trong thời bình và say sưa mô tả
các kiểu chết của nhiều người khác nhau dưới tay kiếm của anh. Cuối cùng, vì
sao vua đã ban cho anh ta chiếc đai vàng.
Người trinh nữ nghe chuyện của chồng mới cưới và nàng đứng không vững nữa. Lảo
đảo, nàng lùi dần về buồng. Nép mình trên giường trong bóng tối, nàng như ngửi
thấy mùi tanh lợm của máu, và trên mặt nàng như có làn môi lạnh toát của những
oan hồn lướt qua. Nàng vùng dậy, run lật bật, vội vàng châm lửa lên tất cả các
ngọn đèn dầu lạc mà nàng tìm được trong buồng. Ánh đèn chập chờn đỏ quạch càng
làm nàng thêm sợ hãi.
Vừa lúc đó, có tiếng kẹt cửa. Thân hình to lớn của người chồng mới cưới chếnh
choáng tiến vào. Theo thói quen, anh ta vẫn mang theo thanh kiếm. Nàng nhìn
lên, và thấy anh không vào một mình. Theo liền sau anh là một người đàn bà
trong veo, tóc xoã - chỉ có bộ tóc là còn màu sắc - mặc quần áo đại tang, đang
cầm một tấm áo đẫm máu giơ lên và cất giọng đều đều một cách kỳ lạ, lặp đi lặp
lại như không bao giờ dứt:
-Hãy trả chồng cho ta! Kẻ giết bạn kia, trước khi mi bước vào giường cưới! Hãy
trả cha cho năm đứa con thơ dại của ta! Hãy trả…
Vậy mà chồng nàng không nghe thấy gì cả, anh dựng thanh kiếm vào vách, rồi xáp
tới đặt tay lên ngực nàng. Ngay lúc đó, nàng nhìn thấy máu từ tấm áo trong tay
người đàn bà xoã tóc rỏ xuống hai bàn tay người chồng mới cưới. Nàng ôm mặt rú
lên kinh hãi:
- Ôi kìa, máu! Máu nhiều quá! Máu đỏ cả hai bàn tay!
Chồng nàng giật mình nhìn lại. Anh vẫn không thấy gì cả, ngoài những vết sẹo
ngang dọc nơi bàn tay mình. Anh dỗ dành:
- Ồ! Can đảm lên, cô em ủy mị! Chẳng qua là vì em quá hồi hộp đó thôi! Đã bao
ngày ta chờ phút giây này. Nào, hãy vui lên.
Anh nói vậy, nhưng miệng không cười và mắt vẫn lạnh như thép, cũng như từ ngày
về đến giờ, chưa một ai nhìn thấy anh cười. Người trinh nữ bỏ hai bàn tay che mặt.
Nàng không nhìn thấy người đàn bà tóc xoã nữa, nhưng trên khuôn mặt đang gần xuống
mặt nàng, nàng chỉ thấy khóe miệng mím chặt và cái nhìn lạnh lẽo như cái nhìn của
Thần Chết. Lại sợ hãi cuống quít, nàng van vỉ:
-Hãy mỉm cười đi anh! Em van đấy! Hãy cười lên để em thấy anh của ngày xưa. Bao
năm chờ đợi, em đâu muốn anh buồn…
Người chồng cố hết sức để mỉm cười. Đã lâu lắm rồi anh không làm cử chỉ đó nên
bây giờ anh không biết bắt đầu một nụ cười như thế nào. Khó nhọc lắm, anh mới
nhớ ra rằng, khi cười người ta phải để lộ ít nhất là một hàm răng. Anh nhếch
môi, để lộ hẳn hai hàm răng chắc khỏe.
Nhưng anh quên rằng, khi người ta cười, chính đôi mắt cười trước, cái miệng cười
sau, thậm chí chỉ cười bằng mắt cũng đủ. Mà đôi mắt muốn cười, trước hết tâm hồn
phải cười đã, cho nên cố gắng để mỉm cười, trông anh lại thêm vẻ dữ dằn đe dọa
của một con sói. Ngay lập tức, vợ anh co rúm lại và quay mặt vào trong, thổn thức
cố kìm tiếng khóc.
Người chồng buồn bã soi trong tấm gương cười, ngắm kỹ mình, rồi tuyệt vọng:
- Thôi, thế là hết, cả một đời chờ đợi! Em chối từ ta, em ghê tởm ta ư?
Anh rũ xuống thành giường, rồi gầm lên như một con thú bị thương:
- Tại sao em chờ ta cả đời, để rồi chối từ ta? Tại sao em bắt ta phải cười! Còn
đâu nữa chàng trai với lớp lông măng trên mép ngày xưa! Ta đã trở thành “người
đàn ông không cười” của triều đình, từ khi bàn tay này nhúng vào máu bạn bè,
bên những bàn tiệc đầy sơn hào hải vị. Đấng quân vương sai ta giết hết những kẻ
bất tuân thượng mệnh bằng các chiếc đũa. Trong mọi chiếc đũa nạm vàng nơi bàn
tiệc đều có một lưỡi dao tinh tế giấu ở trong…
Anh nức nở, đôi vai rung lên dữ dội:
- Ôi! Bạn ta! Người bạn đã cùng ta tựa vào lưng nhau tìm hơi ấm chống đỡ cơn
gió lạnh chiến hào. Thôi, thế là hết và đây là đêm tân hôn vĩnh biệt, phần thưởng
cuối cùng cho người lính quá nửa đời phụng sự đấng quân vương.
Tiếng nức nở dữ dội của người chồng mới cưới rung chuyển cả căn phòng. Rồi xách
kiếm trên tay, anh bỏ đi biệt xứ. Có người nói rằng anh đã đến tìm vua, định bắt
vua phải đền tội đã biến anh thành người đàn ông không biết cười. Nhưng vua đã
kịp giết chết anh trước, bằng chính một trong những chiếc đũa nạm vàng nơi bàn
tiệc. Cũng có người bảo rằng anh lại lao vào những cuộc chém giết mới không ghê
tay cho quên ngày tháng.
Chỉ còn lại nơi quê nhà người trinh nữ lỡ thì. Nàng sống âm thầm như cái bóng,
mà không một lần nghĩ đến chuyện tự giải thoát bằng cái chết. Nhưng cái tật hễ
có tiếng chân hay tiếng động mạnh là đưa tay lên ôm mặt thì nàng không sao bỏ
được.
Một hôm, người xã trưởng được mời đến để làm giấy chứng tử cho nàng. Nàng chết
mà hai tay che mặt, người khâm liệm nắn thế nào cũng không bỏ ra.
Vài ngày sau, trên mộ nàng rùm roà mọc một loài cây thấp lòa xòa mang hình tròn
tim tím buồn man mác. Mỗi khi có chân bước qua hay va chạm mạnh, những chiếc lá
lăn tăn lại giật mình khép lại, xuôi xuống như bàn tay ai che mặt.
Những loài hoa cỏ mọc đầy chung quanh lấy làm lạ lùng lắm về chuyện đó. Một
hôm, chúng chặn chàng Gió lại:
- Này, anh Gió! Ở đây, không có ai già như anh và trẻ như anh. Vậy anh hãy nói
cho chúng tôi biết vì sao loài cây mới đến kia, tầm thường đến vậy, lòa xòa bên
vệ cỏ, khách bộ hành dễ dàng giẫm lên, có gì đặc biệt đâu mà phải gìn giữ, hơi
một tí lại lấy tay che mặt, điệu đà làm vậy?
Từng trải như chàng Gió mà cũng không trả lời được. Thế là một đêm thanh tĩnh,
dịu dàng, muôn hoa cỏ đang mơ màng trong giấc ngủ êm đềm, chàng Gió lướt tới
bên loài cây tầm thường ấy, khẽ hỏi:
- Này cô em bé bỏng! Sao em hay che mặt thế? Ở đây có ai chọc ghẹo em sao? Em
hay e thẹn lắm à? Nếu không, tại sao người ta lại gọi em là cây trinh nữ?
Đắn đo một chút, rồi loài cây ấy nhẹ nhàng đáp:
- Không phải thế đâu, mặc dù chết đi, em vẫn là trinh nữ. Em che mặt vì sợ. Ngày
nay người ta càng tranh giành nhau dữ hơn, những bàn tiệc ngập máu vẫn còn nhiều.
Vậy nên, mỗi va chạm, mỗi bước chân tạt qua đều làm em giật thót mình. Em sợ
người ta sẽ gửi đến cho em đôi bàn tay đầy máu và khuôn mặt người yêu xưa chẳng
biết cười.
Cây trinh nữ chợt co mình lại vì vừa nghe tiếng chân qua. Đó là bước chân sóng
đôi của một đôi trai gái đang đi trong sương mù. Trước khi cẩn thận khép những
mắt lá lại, cây trinh nữ cầu khẩn: “Ôi! Lạy Phật! Cầu cho đây không phải là bước
chân của những người phải tiễn nhau về nơi ấy…”.
(Khuyết Danh)
Tự Tình - Vườn Thơ Mới Xướng Họa
THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 196_VƯỜN THƠ MỚI
Xướng:
Tự
tình
Gió nhẹ se lòng khách lãng du
Cung hằng nguyệt quế phủ mây mù
Từ khi Thạch Hản ngăn dòng chảy
Lối rẽ Trường Sơn rợp lá thu
Nửa cuộc buồn đau rời cố quận
Cả đời đượm nhớ mãi lời ru
Tề Thiên cũng có nơi sinh nở
Há dễ quên Thầy chẳng nhớ U.
Tâm
Quã
Họa
1:
Mơ
Màng
Tâm thần một thuở bị ngao du
Giấc ngủ lim dim tựa mắt mù
Thấp thỏm trong mơ theo nước chảy
Lâng lâng với gió nhẹ đêm thu
Ngọt bùi ngày tháng nơi quê mẹ
Thánh thót bên thềm vọng tiếng ru
Ai óan âm thanh như nức nở
Chợt
đầu chạm cột trán sưng u
THT
Họa 2:
Ngao
du
Tâm hồn thanh thản bước ngao du
Lạc lỏng sương khuya trắng mịt mù
Nổi bật sắc màu nhìn sặc sỡ
Bâng khuâng lữ khách lạc rừng thu
Lâng lâng tiềm thức còn lưu luyến
Trầm bổng âm thanh tiếng Mẹ ru
Hồi tưởng cội nguồn thời cố quốc
Trưa hè trốn nắng rặng mù u
Hương
Lệ Oanh VA
Họa
3:
Luân chuyển
Cuối hè nghĩ đến chuyện chu du
Sáng sớm sương rơi phủ mịt mù
Vàm cỏ lững lờ theo ngọn gió
Núi Bà sừng sững cả ngàn thu
Bốn mùa luân chuyển theo ngày
tháng
Xa cách quê nhà nhớ tiếng ru
Văng vẳng xa đưa bài Dạ cổ
Tâm tư khắc khoải tưởng lời U
PTL
Dạ
cổ: dạ cổ hòai lang 夜鼓懷郎
(đêm nghe tiếng trống, nhớ chồng) của ông Sáu Lầu sáng tác năm 1919 tại Bạc
liêu.
Họa
4:
Tâm
Sự
Nay thời buồn lắm kiếp lãng du
Quanh đây trời đất phủ mây mù.
Thương về đất nước hồng hoa phượng
Nhớ đến quê nhà vàng lá thu.
Đẹp lắm vườn nhà hoa rợp nở
Thương hoài tiếng võng mẹ luôn ru.
Dù xa bìên biệt ta tâm nguyện:
Luôn nhớ ơn Thầy thương mãi U!
Hàn
Thiên Lương
Họa
5:
Một
thoáng ưu tư
Ngắm xem thiên hạ, trí phiêu du
Vạn quốc đảo điên, loạn rối mù.
Giành đất tiến binh mùi thế chiến,
Tranh vương đoạt bá kiểu Xuân Thu.
Tai nghe thảm thiết trời bom nổ,
Lòng ước êm đềm tiếng mẹ ru.
Soi cổ luận kim buồn thế sự,
Bao giờ quả đất hết âm u ?
Minh
Tâm
Họa
6:
Tha
hương
Tha hương lữ khách mộng ưu du
Mấy độ xa quê phủ bóng mù
Cố quốc nghìn trùng lòng khắc khoải
Tha phương vạn nẻo lệ sầu thu
Quê xưa cách trở tình hoài vọng
Đất khách lưu vong nhớ tiếng ru
Dẫu bước phong trần thân viễn xứ
Xa xôi vạn nẻo nhớ lời U
AI
Saturday, September 19, 2026
Mùa Thu Sang Ta Về Thăm Lại Cõi Buồn - Nguyễn Chí Hiệp
Mùa thu sang ta về thăm lại cõi buồn
Mùa thu sang
lá rơi đầy lối qua sông
Con thuyền
ngày xưa đã rời bến
Người ơi,
giọt nước mắt trên môi thầm thương
Mùa thu hỡi, có
giăng giăng mưa ngâu
Huế cũ hồn ta nhớ vương vấn biển sầu
Huế cũ ngày xưa nhìn em vui cười nói
Chung bước cùng nhau qua bến Vân Lâu
Bây giờ thì đã giữa
mùa thu vắng
Áo tím xưa bây giờ không thấy dáng người
Buồn chợt rơi rơi về trong kỷ niệm
Nhớ em ta đã nhớ đến muôn đời
Người ơi mối tình
đầu đã xa rời
Có hay chăng một người về lại Huế
Mang đầy trong tim những lời ước thệ
Được sống bên nhau hạnh phúc muôn đời
Mùa thu sang
đêm ngắm mãi những cung đường
Gió vẫn say
bên dòng sông quê hương
Gió thổi bay
bay những chiếc lá úa
Lữ khách buồn
nhớ mãi dáng người thương
Nguyễn Chí Hiệp
05.7.2013
Khi Miền Tây Không Còn Nói Tiếng Nói Miền Tây - Lisa Luong
Khi miền Tây không
còn nói tiếng miền Tây?
“Nước dùng ở đây, ạ.” “Chào buổi sáng, ạ!”
Tôi giật mình. Trước đây, tôi đã từng nghe
cách nói này ở Sài Gòn và đã thấy ngạc nhiên. Nhưng lần này, nghe câu ấy thốt
ra từ một cô tiếp viên ở một khách sạn tại vùng đất từng được mệnh danh là “Tây
Đô”, tôi không còn ngạc nhiên nữa. Tôi sốc.
Sốc, bởi trước mặt tôi là một cô gái trẻ, tuổi
chỉ đáng con cháu mình, giọng nói rặt miền Tây, âm điệu miền Tây, dáng vẻ cũng
rất miền Tây. Vậy mà cuối câu lại nó nhẹ nhàng buông một tiếng: “ạ”.
Trời đất ơi! Giữa miền Tây sông nước mà nghe một
tiếng “ạ” sao thấy lạ lẫm đến vậy.
Không phải chữ “ạ” có gì sai. Nó là một từ rất
đẹp trong tiếng Việt, biểu thị sự lễ phép, kính trọng, và từ lâu đã là một phần
tự nhiên trong cách nói của người miền Bắc.
Cái làm tôi chạnh lòng không nằm ở bản thân chữ
“ạ”, mà ở chỗ nó xuất hiện trong một không gian ngôn ngữ vốn có những cách biểu
đạt lễ phép rất riêng. Người miền Tây ngày trước đâu cần chữ “ạ” mới lễ phép.
“Dạ, con chào cô.”
“Dạ, chú mới tới hả?”
“Dạ, bác ăn cơm chưa?” Chỉ một tiếng “dạ”
thôi, nghe đã thấy cả bầu trời miền Nam trong đó. Có sự kính trọng nhưng không
kiểu cách; có lễ phép mà vẫn gần gũi. Nó mềm, nó thiệt thà, nó có cái tình của
một vùng đất. Vậy mà bây giờ, tiếng nói miền Tây đang thay đổi nhanh đến mức
đôi khi người đi xa lâu ngày trở về phải giật mình.
Miền Tây vẫn là miền Tây. Sông vẫn chảy, ghe
xuồng vẫn còn, những hàng dừa vẫn nghiêng xuống mé nước. Người miền Tây vẫn hào
sảng, vẫn hiếu khách, vẫn cái giọng ngân nga nghe một câu là nhận ra quê xứ.
Nhưng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, một cái gì đó đang mất dần....
Có người gọi đó là sự giao thoa ngôn ngữ. Có
người phách lối nói đó là “chuẩn”. Có người nói đó là kết quả tự nhiên của truyền
hình, Internet, mạng xã hội và sự đi lại giữa các vùng miền. Tất cả đều đúng.
Nhưng tôi vẫn muốn dùng một chữ cũ, hơi nặng: “Lai căng.”
Bởi giao thoa là khi mình tiếp nhận cái hay của
người khác mà vẫn biết mình là ai. Còn khi những từ ngữ vốn tự nhiên trên đầu
môi của ba má, ông bà mình bị thay thế chỉ vì người ta tưởng một cách nói khác
nghe “chuẩn” hơn, “văn minh” hơn hay “sang” hơn, thì đó không còn đơn thuần là
giao thoa nữa.
Ngày trước ở miền Nam, người ta nói “gà
chiên”.
Bây giờ không ít nơi ghi “gà rán”.
Người miền Nam nói “vỏ xe”.> Bây giờ nghe
“lốp xe” ngày càng thường xuyên.
Người miền Tây nói “quẹo trái”, “quẹo phải”.
Bây giờ có người nói “rẽ trái”, “rẽ phải”.
Cái vòng tròn giữa ngã tư mà xe cộ chạy vòng
quanh, bao nhiêu thế hệ miền Nam gọi là “bùng binh”. Một chữ nghe vui tai, sanh
động, gần như có thể hình dung được cảnh xe cộ chạy vòng vòng trong đó.
Bây giờ nó thành “vòng xuyến”.
Anh tài xế chở tôi về Cần Thơ hôm ấy nói rất tự
nhiên:
“Chút nữa mình rẽ sang đường này, qua vòng xuyến
kia.....”
Anh nói bằng giọng miền Tây đặc sệt. Tôi ngồi
phía sau mà cứ thấy có gì đó không ổn. Không phải “rẽ” sai.
Không phải “vòng xuyến” sai. Chẳng có chữ nào
sai cả.
Nhưng “quẹo” đâu rồi? “Bùng binh” đâu rồi? Những
chữ ấy có tội tình gì mà phải biến mất?...
Rồi có lần tôi nghe một người miền Tây đã
ngoài 60 tuổi nhắc đến thân phụ mình bằng chữ “bố”.
Tôi thật sự sững người. Bởi trong ký ức của
tôi, 2 tiếng “ba”, “má” gần như là hai tiếng căn cước của người miền Nam. “Ba
tui...” “Má tui...” Chỉ cần nghe vậy là quê nhà hiện ra. Trong hai chữ ấy có
căn bếp, có cái võng, có hàng ba, có mâm cơm chiều, có tiếng người lớn gọi con
cháu vào ăn cơm. Có cả một đời sống nằm trong hai tiếng tưởng chừng rất bình
thường ấy. Ngôn ngữ không chỉ là công cụ để truyền đạt thông tin. Ngôn ngữ là
ký ức. Một chữ có thể mang theo cả một vùng đất.
“Má” không hoàn toàn giống “mẹ”.
“Ba” không hoàn toàn giống “bố”.
“Quẹo” không hoàn toàn giống “rẽ”.
“Bùng binh” không hoàn toàn giống “vòng xuyến”.
Về nghĩa, người ta có thể mở từ điển và bảo
chúng tương đương. Nhưng ngôn ngữ của con người đâu chỉ có nghĩa từ điển. Mỗi
chữ còn có âm thanh, ký ức, địa phương, gia đình, tuổi thơ và lịch sử.
Một người nói “má” và một người nói “mẹ” đều
đang nói về người sanh ra mình. Nhưng tiếng gọi bật lên khi đau đớn, hoảng sợ
hay nhớ thương thường không phải là một lựa chọn trong từ điển. Nó đến từ nơi
sâu hơn thế.
Nó đến từ tuổi thơ. Và vì vậy, điều đáng lo
không phải là người miền Tây biết thêm những chữ như “ạ”, “rán”, “lốp”, “rẽ”,
“vòng xuyến” hay “bố”. Biết thêm một cách nói chưa bao giờ là điều xấu. Một người
càng biết nhiều cách sử dụng tiếng Việt càng giàu có về ngôn ngữ. Điều đáng lo
là họ biết thêm cái mới nhưng lại bỏ cái cũ. Đáng lo hơn nữa là khi họ bỏ cái
cũ vì nghĩ cái cũ là quê mùa.
Nếu một cô gái Cần Thơ nói “dạ” mà cảm thấy
mình kém sang hơn khi nói “ạ”, đó mới là chuyện đáng buồn. Lai căng. Nếu một đứa
con nít miền Tây lớn lên biết “rẽ” nhưng không biết “quẹo”, biết “vòng xuyến”
nhưng chưa từng nghe “bùng binh”, biết “bố mẹ” nhưng thấy “ba má” là quê mùa,
thì chúng ta đã mất một thứ lớn hơn vài chữ địa phương. Lai căng.
Chúng ta mất một phần ký ức văn hóa. Tất
nhiên, ngôn ngữ luôn thay đổi. Đừng lên lớp tôi! Không ai có thể dựng một hàng
rào quanh miền Tây rồi ra lệnh rằng từ hôm nay người miền Tây chỉ được dùng những
chữ mà ông bà họ từng dùng. Làm như vậy vừa vô lý vừa trái với bản chất của
ngôn ngữ.
Con người đi lại nhiều hơn. Người Bắc vào Nam.
Người Nam ra Bắc. Người miền Trung sống ở Sài Gòn. Người Cần Thơ học ở Hà Nội.
Trẻ con xem cùng những chương trình, những video, những bộ phim trên cùng một
chiếc điện thoại. Tiếng nói tất nhiên sẽ hòa vào nhau. Điều đó không hẳn là xấu.
Cái đáng suy nghĩ là trong sự hòa trộn ấy, tại
sao có những cách nói địa phương cứ lặng lẽ rút lui?Có phải vì truyền hình và
sách báo lâu nay vô tình tạo cho người ta cảm giác rằng chỉ có một kiểu tiếng
Việt mới là “chuẩn”? Có phải vì nhà trường sửa những chữ địa phương của học
sinh quá mạnh tay? Có phải vì những người làm dịch vụ được huấn luyện theo những
mẫu câu chung đến mức một cô gái miền Tây phải nói “Chào buổi sáng, ạ” thay vì
một câu chào tự nhiên của chính quê mình? Hay đơn giản hơn, có phải chúng ta đã
bắt đầu xấu hổ về tiếng nói của ba má và ông bà mình? Nếu là điều cuối cùng,
thì đó mới thật sự đáng buồn.
Tôi không phản đối tiếng Bắc.Tôi cũng không
nghĩ tiếng Bắc hay hơn tiếng Nam, hay tiếng miền Tây hay hơn tiếng miền Trung.
Mỗi vùng đất Việt Nam đều đã góp vào tiếng Việt những âm thanh và từ ngữ tuyệt
đẹp. Chính sự phong phú đó mới làm nên một tiếng Việt sống động. Tôi chỉ phản đối
một thứ: tâm lý tự ti với tiếng nói của chính quê hương mình.
Học cách nói của người khác để hiểu nhau hơn
là điều tốt. Nhưng bắt chước người khác vì tưởng rằng nói giống họ thì mình
“sang” hơn là một chuyện khác.
Không có gì sang trọng trong việc đánh mất
mình.
Một người Hà Nội cứ việc nói “bố”, “mẹ”, “rẽ”,
“rán”, “lốp xe”. Đó là tiếng nói tự nhiên của họ. Họ không cần đổi.
Một người Huế cứ giữ “mạ”. Một người Quảng cứ
giữ giọng Quảng. Và người miền Tây cũng chẳng có lý do gì phải ngượng khi nói:
“Ba má.” “Dạ.” “Quẹo.” “Bùng binh.” “Gà chiên.” “Vỏ xe.” “Nước lèo.”
Đó không phải là những phiên bản “sai” của tiếng
Việt.
Đó là tiếng Việt. Một thứ tiếng
Việt đã được phù sa, ruộng đồng, kinh rạch, ghe xuồng và bao thế hệ cư dân
phương Nam nhào nặn nên.
Người ta thường nghĩ di sản phải là đình chùa,
nhà cổ, áo quần, món ăn, câu hát. Không!!! Một chữ cũng là di sản. Có những di
sản không cần bảo tàng để cất giữ. Chúng sống trên đầu môi của con người. Và
cũng chính vì thế, chúng có thể chết đi rất âm thầm.
Một ngôi nhà cổ bị đập, người ta nhìn thấy. Một
con rạch bị lấp, người ta nhìn thấy. Nhưng một chữ biến mất thì chẳng ai nghe
tiếng động. Một thế hệ thôi không nói nữa, thế hệ sau sẽ không biết nó từng tồn
tại.
Rồi một ngày nào đó, một đứa trẻ miền Tây sẽ
phải mở từ điển để hỏi: “Bùng binh là gì vậy?” Và có lẽ đến lúc ấy chúng ta mới
nhận ra rằng mình đã đánh mất một thứ mà tiền bạc không thể mua lại được. Cho
nên tôi không mong người miền Tây khép cửa với những cách nói khác. Tôi chỉ
mong họ đừng quên tiếng nói của mình.
Cứ học thêm. Cứ đi xa. Cứ giao lưu. Cứ biết “rẽ”
là gì, “vòng xuyến” là gì, “lốp xe” là gì. Nhưng khi về đến miền Tây, nếu có thể,
hãy cứ: “Quẹo phải nghen anh.” “Qua cái bùng binh đó rồi chạy thẳng.” “Dạ, con
biết rồi.” Và khi trở về nhà, hãy cứ gọi: “Ba ơi!” “Má ơi!” Bởi giữ một tiếng nói không phải là chống lại
sự thay đổi. Đó là nhớ mình từ đâu mà tới. Và một vùng đất còn giữ được tiếng
nói của mình là một vùng đất còn giữ được ký ức.
Miền Tây có thể thay đổi. Nhưng xin đừng để một
ngày nào đó, giữa chính miền Tây, chúng ta phải đi tìm lại tiếng miền Tây.
Đây là bài thơ do AI nó sáng tác,
sau khi tôi kể cho nó nghe câu chuyện. Đọc cũng được
Con gục đầu chua xót đắng cay
Nghe tiếng quê hương sụt sùi mỗi ngày
Cái thuở “nói nào ngay” chân chất
Giờ lạc lòng giữa phố thị lung lay.
Đâu rồi tiếng “dạ” thưa ngọt lịm?
Tiếng “bằng nay”, “mần ruộng”, “xuồng bơi”
Sông sấu lội, câu hò ai tím nghẹn
Nay nhạt nhòa theo bọt nước trôi xuôi.
Thương con cá chốt, bông bần rụng
Thương cả từ “mầy”, “bây” thuở ấu thơ
Mai mốt này ai còn nhớ nữa
Tiếng miền Tây gói lại một giấc mơ
Con gục đầu chua xót đắng cay...
Thank you
Lisa Luong










