Lá Chanh
Anh chẳng thể là người hạnh phúc. Ai đó trong số những cô gái
từng yêu anh đã phán một câu khá là ác khẩu như thế. Kể cũng hàm hồ nhưng không
phải không có đôi phần của sự thực. Bởi anh là loại người "nghe mưa nơi
này lại nhớ mưa xa". Như lúc này chẳng hạn.
Nhiều năm trước, việc bôn ba về Huế sửa chữa phủ từ, ngôi nhà rường ba gian hai
chái mục nát, nơi hương khói gia tiên, là điều ngoài tầm tay của anh khi anh tiếp
nhận nó theo "nghị quyết" của hội đồng gia tộc. Dù tuổi đời chưa đủ để
chuyên tâm lo chuyện họ hàng cúng bái, lại công tác xa Huế, anh vẫn bị chọn
giao quản lý phủ từ vì mọi người tin rằng anh đủ khả năng tổ chức lại giềng mối
gia tộc vốn đã rã rời, từ đó vực dậy một "di sản" có nguy cơ đổ sụp bất
cứ lúc nào, nhất là trong những dịp "trời hành cơn lụt mỗi năm". Những
ngày về Huế, buổi trưa, buổi tối, nằm gác tay lên trán, ngó lên những rui kèo
chạm khắc công phu có tuổi thọ ngót trăm năm máng lủng lẳng cả tá lon bia rỗng,
đủ các nhãn mác nội ngoại, từ Huda đến Heneiken, để hứng nước dột, những giọt
nước len lỏi âm thầm qua lớp ngói liệt phủ rêu đến cả mặt trong, như một sáng
kiến thay thế cho những thau, chậu giăng giăng trên sàn nhà hay gây vấp té, mà
lòng anh nhói đau, bất lực. Thế mà bây giờ, đứng trước dãy khám thờ sơn son thếp
vàng, thắp nén nhang cáo lễ khánh thành phủ từ vừa được trùng tu, thật ra là
làm mới hoàn toàn trên nền cũ, chủ yếu nhờ tiền đóng góp của bà con lưu lạc ở
nước ngoài, anh lại buồn man mác, lại nhớ ngôi nhà rường cũ mốc đầy kỷ niệm, nhớ
âm thanh trầm bổng xót xa từ những giọt nước mưa rơi tong tỏng vào những lon
bia rỗng ngày đông giá... Người như thế thì chẳng thể hưởng hạnh phúc là đúng rồi...Anh
rời gian thờ, rời khỏi dòng suy ngẫm miên man bởi có tiếng nhiều người xao xác
từ cổng ngoài lan vào cổng trong.
Ra tới sân gạch, anh trông thấy một cảnh huyên náo bất ngờ. Các bậc trưởng lão
trong họ đang chỉ huy đám con cháu ngăn chặn một nhóm người đang cố tình xông
vào phủ từ. Một ông chú nói nhỏ vào tai anh: "Cháu nhớ bọn ni không? Con
Giang, con của mụ điếm vạn đò và hai thằng em đầu gấu của nó đó. Ngày ni là
ngày chi mà bọn hắn đòi vào phủ từ chứ?". Anh thầm kêu một tiếng nhỏ trong
cổ họng: "Giang!". Nếu ông chú không gọi tên thì chắc gì anh đã nhớ
ra, nhận ra? Trước mắt anh là một thiếu phụ có thứ nhan sắc làm vẩn đục ý tưởng
của đàn ông ngay từ phút đầu gặp gỡ, nếu không cho rằng đó là vẻ đẹp đánh thức
"bản lĩnh đàn ông". Một bé Giang mười lăm, mười sáu mảnh khảnh, tóc bốc
mùi bùn non chỉ còn trong ký ức của anh thôi. Anh đến gần đám đông, vờ như
không hiểu: "Bình tĩnh. Chuyện gì vậy?". Giang đang sấn sổ xỉa ngón
tay vào trán mấy chàng thanh niên lập hàng rào trước mặt bỗng nhận ra sự xuất
hiện của anh, cô vụt tươi tỉnh: "Cậu Hoàng đây rồi! Cậu coi, ai đời mấy đứa
em vô phủ từ thắp hương tỏ chút lòng thành láng giềng mà bị chặn lại như thể đi
ăn cướp không bằng!". Anh cười: "Tại phần đông bà con các nơi về,
không rõ hàng xóm cũ...Thôi, đã có lòng xin mời vào...". Ba chị em Giang
hiên ngang vượt qua cổng trong, tiến vào gian thờ. Quay lại phía chú bác, anh
em đang ngơ ngác bất bình, anh chắt lưỡi: "E hèm...Con cháu dâng hương tổ
tiên là chuyện thường tình, xóm giềng ngoại tộc mới có ý nghĩa...Vào cả
đi...". Một ông bác gằn giọng: "Nhưng bọn nó là...". Anh làm mặt
nghiêm: "Thế bác định đánh nhau với đầu gấu ngay trong ngày hôm nay
à?". Ông bác chịu nhịn, hậm hực cùng cả đám kéo vào bàn rượu bày sẵn ở nhà
ngang...
Anh chẳng thể là người hạnh phúc. Chén rượu Rémy Martin XO, hàng "xách
tay" từ Hoa Kỳ về, dành cho "chiếu trên", chiếu của bậc chú bác
chức sắc trong tộc, thơm lựng khi vừa bật nắp, vậy mà anh nhấm nháp vô hồn. Nói
chính xác là anh thả hồn về cái thời uống rượu trắng nấu bằng sắn củ, cái thời
mẹ con nhà bé Giang dựng chái tranh ghé tựa vào bức tường bao cao quá đầu người
phía sau phủ từ, sát mép nước sông Hương dập dềnh lười biếng...
Làm sao anh quên được mùa đông năm ấy. Từ Sài Gòn anh về phủ từ ăn tết, cũng có
thể ở lại lâu dài nếu tìm được việc làm. Tốt nghiệp đại học, thử việc mấy tháng
ở Sài Gòn, anh chợt nhận ra mình nhớ Huế da diết, phải về ngay thôi. Sau này,
anh trả giá đắt cho thứ tình hoài hương tím ngát ấy. Nhưng đó là chuyện khác.
Bây giờ, anh muốn nhớ cái đêm đầu tiên ngủ lại phủ từ sau hơn bốn năm đi xa. Mới
tám giờ tối mà cứ như đã nửa đêm. Vắng tanh vắng ngắt trong mưa dầm se lạnh. Bỗng
đâu tiếng khóc nỉ non trèo qua tường bao, vượt vườn rau dại, len vào tận giường
ngủ. Trùm chăn kín đầu, thứ chăn thô của lính xót xáy không thua ổ rơm, anh vẫn
cứ phải nghe tiếng khóc, bây giờ lại như thể vọng lên từ đáy sông...Anh chợt nhớ
có một gia đình sống nép sau tường bao mà anh hầu như chưa rõ mặt. Chuyện gì xảy
ra cho họ? Anh vùng dậy, chân mang "bốt", đầu che dù, tay cầm đèn
pin, lần mò ra cổng sau. Túp lều mẹ con nhà bé Giang trông càng thảm hại trong
đêm mưa lạnh. Ba đứa trẻ ngồi xúm quanh ngọn đèn dầu leo lét. Chỉ một mình
Giang khóc. Hai thằng em nín lặng ngồi co ro tựa lưng vào nhau thật khéo để chống
ngọn gió sông lạnh ngắt phả vào liên tục. Thấy người lạ, Giang nín khóc ngửng
lên. Đôi mắt nó gây ấn tượng với anh. Đen long lanh. Nửa ngây thơ nửa sõi đời.
Bắt gặp bát nhang đang toả khói trước di ảnh người đàn bà xấu số tựa vào tường
bao phong rêu, anh chợt hiểu. Ngồi xuống, anh thắp nén nhang. Giang hai bàn tay
xoắn lấy nhau, lí nhí: "Cảm ơn cậu...Cậu mới về?". "Ừ. Thím mất
bao lâu rồi?". "Dạ bữa ni là bốn mươi chín ngày...". Ngoài bát
nhang làm bằng cái chén ăn cơm, chẳng còn gì hơn. Anh ngập ngừng một giây, bảo:
"Đi, ta đi kiếm cái chi cúng thím...". Ba chị em nhìn anh chằm chằm.
Chúng không chờ đợi một đề nghị như thế giữa đêm mưa khóc mẹ. Chiếc Honda nổ lạch
phạch váng động những khu vườn Vỹ Dạ u tịch. Anh chở Giang chạy lên phía ga Huế.
Giờ ấy chỉ có thể tìm ra một cái gì ở đó. Bà chủ quán mừng ra mặt khi anh hỏi
mua nguyên con gà luộc. Nghe một tiếng ực rất khẽ, anh biết Giang vừa nuốt nước
miếng. Anh kéo ghế, nói dối: "Đói quá, ta ăn chút gì rồi hãy về cúng cũng
chưa muộn". Cô bé lí nhí: "Dạ cậu cứ dùng, em...". Anh phải mắng
Giang mới chịu ngồi vào bàn. Nhưng khi đã húp hớp cháo gà nóng ấm đầu tiên vào
miệng, nó không dừng được nữa. Sau đó hai người còn nhâm nhi càphê nữa. Ly
càphê sữa đầu tiên trong đời cô bé. Anh phì phèo thuốc lá, chân tình: "Mấy
tuổi rồi hè?". "Dạ mười lăm, mười sáu chi đó...". "Nè, thế
là lớn rồi, ngày xưa chừng ấy tuổi đã lấy chồng, phải biết chăm sóc bản thân
nghe chưa". "Dạ...". "Mai gội đầu đi, con gái chi mà tóc
toàn mùi bùn non không rứa hè!". Giang chỉ cười khúc khích...Thế rồi
"bốn mươi chín ngày" của người đàn bà xấu số, mà anh nghe đâu từng
làm nghề mại dâm dưới vạn đò, cũng đủ gà-xôi-chuối. Cúng xong đã nửa đêm, anh
cùng ba chị em Giang bày cỗ ra đánh chén. Giang nói: "Rứa là mạ em còn có
phước, chi cũng đủ...". Và nó kể anh nghe chuyện xảy ra bốn mươi chín ngày
trước.
Buổi sáng, ba đứa phát hiện mẹ đã chết từ lúc nào trong đêm. Chúng ôm nhau
khóc, không biết phải chôn cất thế nào khi trong túi mẹ chỉ còn mấy tờ bạc lẻ...
Nhưng rồi Giang cũng nghĩ ra được cách. Nó lệnh cho hai thằng em nín khóc, im lặng
như không chuyện gì xảy ra, đợi đêm tối trở lại. Chúng "mượn tạm" chiếc
xuồng câu neo gần đấy, chuyển mẹ sang sông, tấp vào bến chợ Đông Ba. Việc khó
nhất là qua mặt ban bảo vệ, bí mật đưa mẹ vào đặt trên sạp một hàng vải lớn nhất
trong chợ rồi rút êm. Sáng hôm sau, khu hàng vải xôn xao, sợ hãi phát hiện xác
chết. Ban quản lý chợ cùng tập thể hàng vải làm thủ tục khai báo rồi tổ chức việc
chôn cất cho người xấu số...Ba chị em Giang có mặt từ xa, lẫn trong đám người
hiếu kỳ, theo dõi mọi diễn biến, từ trong chợ Đông Ba đến nghĩa địa dưới chân
núi Ngự Bình. Khó nhất là không được khóc, cứ như người dưng nước lã. Đợi đến
khi mọi người tản về hết chúng mới dám chạy a lại, ôm mộ mẹ nồng mùi đất mới mà
khóc cho thoả...
Kể đến đấy ba chị em Giang thút thít khóc. Anh cũng lén lau nước mắt, quay về
phòng ngủ. Gần sáng mới chợp mắt. Chưa được bao lâu thì bị đánh thức bởi cảm giác
hơi lạnh xộc vào chăn. Nhưng ngay sau đó là một nguồn ấm nóng áp nhẹ vào người.
Trong trạng thái ngái ngủ, anh trở mình ủ lấy nguồn ấm mềm mại, ngai ngái mùi
lá chanh ẩm. Bàn tay anh tự nhiên chuồi vào góc sâu nhất ấm nhất. Một tiếng rên
khẽ thổi vào tai, anh giật mình tỉnh hẳn, hất tung tấm chăn, nhận ra bàn tay
còn ướt. Trước mắt anh, Giang nằm co quắp, nín lặng. Châm thuốc lá, rít một hơi
thật sâu, anh như nói với làn khói: "Về đi!". "Em không biết lấy
chi trả ơn cậu... Em gội đầu rồi...". "Biết rồi. Với lá chanh phải
không?". "Dạ...". "Thế là tốt... Về đi, trời hửng sáng rồi
đó!". "Dạ...". Qua khe cửa gỗ, anh nhìn theo bóng cô gái mảnh khảnh
đang đi giữa vườn rau dại, lẩn khuất trong sương trắng bốc lên từ mặt sông.
Trưa hôm đó, anh đi ra túp lều tìm Giang, bình dầu thơm gội đầu trong tay. Bất
ngờ chỉ còn bãi trống. Ba chị em Giang đã dọn đi...
Ba chị em Giang lễ xong, quay ra. Phải gần mười lăm năm sau họ mới có dịp đáp
trả một nén nhang. Giang đến gần anh: "Em mở quán bia dưới gốc đa đầu ngõ,
em mời cậu...". Anh mỉm cười không nói gì, đứng lên tiễn khách. Được mấy
bước, Giang đi chậm hẳn lại. Khi chỉ còn hai người, cô thì thầm: "Cậu hái
cho em mấy lá chanh, được không?". Anh ngờ vực câu trả lời của mình. Bây
giờ thì anh tin chắc anh chẳng thể là người hạnh phúc.
No comments:
Post a Comment