Showing posts with label Truyện ngắn. Show all posts
Showing posts with label Truyện ngắn. Show all posts

Sunday, September 13, 2026

Còn Một Nửa Chuyện Đời - Thuyên Huy

 

Còn Một Nửa Chuyện Đời

 


    Trước ngày bãi trường nghỉ hè vài hôm, thằng nhỏ đến tìm tôi ngoài cổng ký túc xá. Trời lấp xấp về chiều, bọn tôi tụm năm tụm ba dọc theo hành lang nhà ăn chờ cơm. Ve kêu rộn rã trên hàng cây Sao cao lớn quanh sân từ mấy ngày trước, nhất là vào những buổi chiều rạng nắng. Tiếng ve kêu buồn thật buồn, cái buồn khó nói. Con đường sỏi đỏ dốc lên ký túc xá, hai bên phượng nở rực một màu đỏ bầm, vài cánh hoa đầu mùa rụng ngỡ ngàng bên lề đâu đó.

*

    Tôi mở cánh cổng nhỏ bên hông cửa chính đi ra, thằng nhỏ trông có vẻ bảnh trai, đứng vịn chiếc xe “vê lô xô lết” đen chờ, tròn mắt nhìn tôi. Cả hai nhìn nhau là lạ vì tôi thật không quen biết nó và chắc rằng nó cũng chẵng quen biết tôi. Tôi đến gần bên, gật đầu chào làm quen:

- Em tìm anh Ngữ phải không? Anh là anh Ngữ đây.

    Nó gật đầu dạ thật nhỏ, chưa kịp nói gì thì tôi hỏi tiếp:

- Em tên gì, tìm anh có chuyện gì không?

- Dạ, em tên Phúc.

    Phúc vừa trả lời vừa nhìn tôi chờ đợi. Tôi mở cánh cổng rộng hơn một chút nữa, bảo Phúc dắt xe vào sân, tôi bỏ đi vô, chờ Phúc trước cửa phòng khách.      

     Đám hoa huệ trắng cắm trong cái bình bông màu xanh lục, đặt trên thành khung cửa sổ có vẻ héo từ mấy ngày qua, cô năm Vân, người quản lý ký túc xá, không buồn thay hoa mới, vì hai ba ngày nữa, ở đây không còn ai đâu mà ngắm mà nhìn.

    Cô sẽ ra vào một mình, lặng thinh như những mùa hè năm trước, hết rồi tiếng cô la cô hét đám học trò đệ thất đệ lục về chuyện xả rác và xài nước lung tung. Không còn ai để cô kể chuyện đời xưa, chuyện của những ngày cô còn son trẻ của bốn chục năm đi qua, sau giờ cơm ồn ào, khi bên kia sông mặt trời chầm chậm xuống.

*

    Tôi ngồi xuống kế bên Phúc, thằng nhỏ nhoẻn miệng cười, không nói gì, ôm khư khư gói giấy trong tay, tôi đoán không lầm, dù tôi chưa hỏi, Phúc giỏi lắm chắc đang học cở mấy thằng Biểu, thằng Long, đệ lục là cao lắm. Nó vẫn không chịu nói gì, tôi cũng hơi tức cười, thôi cứ hỏi nó trước cho xong việc. Tôi đứng dậy kéo cái ghế trống, ngồi xuống trước mặt Phúc:

- Phúc tìm anh có chuyện gì hay không?

    Vừa hỏi tôi vừa nghĩ tới mấy đứa từ xã ấp xa lên tỉnh học, đang ở trong ký túc xá, học trò của mấy cô Thu, cô Quyên, đệ thất đệ lục, hễ gặp rắc rối hay thiếu điểm trong kỳ thi lục cá nguyệt cuối năm, hớt hơ hớt hãi tìm tôi, nhờ nói mấy cô giùm một tiếng, vì bọn nó biết tôi chơi thân với mấy cô và nói gì mấy cô cũng nghe, nếu không thì bị ở lại lớp, ba má vừa buồn vừa la rầy, sợ tá hỏa.

    Cho nên hễ xong thi lục cá nguyệt cuối năm thì trong ký túc xá tôi là người bận rộn nhất, không phải vì mấy cái bài thi tú tài hóc búa mà bận rộn vì mấy cậu ấm nhà quê này.

    Phúc nhỏ nhẹ đáp lời:

- Dạ, má em là cô tư Hòa, bên chợ bảo tìm anh, mời anh qua nhà em chơi, má em muốn hỏi thăm anh chút chuyện, má cũng bảo đưa cho anh cái này. Phúc vừa nói vừa đưa gói giấy mà nó đã cầm trong tay từ lúc mới vào đây.

*

    Tôi nhận lấy gói giấy mà trong lòng hơi hồi hộp. Nghe Phúc nói thì nghe vậy, tôi chưa biết cô tư Hòa là ai, có liên hệ gì với mình. Vã lại từ nhỏ lớn lên, gần hơn mười tám năm rồi, đâu có nghe ba má tôi nhắc nhở gì tới cô tư này, ngay cả bà con hai bên nội ngoại cùng khách khứa cũng không thấy ai tên đó. Tôi vồn vã cám ơn, mở vội gói giấy ra xem, bên trong là hai hộp bánh ngọt hiệu LU nhập cảng của Pháp, thứ bánh này ngon và hơi mắc tiền, hình như phải mua từ Sài Gòn chớ chợ tỉnh ít khi có bán. Tôi vừa cám ơn Phúc vừa hỏi thêm:

- Làm sao má em, biết anh ở đây mà bảo em vô đây tìm.

- Em cũng không biết nữa.

    Tôi đứng dậy, Phúc đứng theo, tôi nhìn nó.

- Rồi anh sẽ qua nhà em chiều mai, vì ngày mốt bãi trường rồi, nói với má là anh cám ơn nhiều.

    Phúc dẫn xe “vê-lô” ra cổng, miệng cười vô tư, tôi quên hẳn hỏi thăm nó kết quả thi lên lớp cuối năm ra sao. Phúc đẩy cái cần phía trước cho xe nổ máy chầm chậm xuống dốc, đầu ngoãnh lại và vẫy vẫy tay chào. Tôi đứng nhìn theo, chờ bóng nó khuất hẵn khỏi dãy nhà ngoài đường. Khu nhà ăn bắt đầu có đèn và có tiếng chén đủa khua lao xao. Tiếng ve sầu thưa dần theo nắng chiều chợt tắt.

*

      Tôi xuống xe lôi máy ngay ngã ba cuối chợ, thả bộ dọc theo đường Nguyễn Duy Dương, băng ngang khu xóm có vẻ không lấy gì giàu có cho lắm. Theo chỗ mà thằng Phúc chỉ, tôi tìm đến nhà nó không gì khó.

    Mới bốn giờ chiều mà thiên hạ lớn nhỏ đứng chật ních trước rạp chiếu bóng, nói nói cười cười. Tiếng máy quay của cái xe nước mía bên hông rạp kéo dài mệt mỏi. Nắng từ miệt Cao Xá, Phước Ninh trải dài, nhạt dần xuống chợ tỉnh. Hàng ô môi dọc hai bên đường rộn ràng khua lá theo chiều gió từ hướng sông lên, trời mát rượi.

*

    Tôi vừa tới trước nhà, thằng Phúc đã đứng chờ ngay ngoài cái cổng cây lỏng lẻo. Phúc gật đầu chào rồi đi vào trước, tôi thật tình hồi hộp theo sau. Trong nhà rất đông người, ai nấy lạ ngắt, ngoại trừ thằng Phúc. Tôi bối rối phút đầu, cúi đầu chào tất cả rồi ngồi xuống cái ghế xa-lông bằng gỗ cẩm lai nâu xậm. kế bên cô tư. Đối diện là bà bác và một người cô trạc tuổi cô tư, tôi nghe trước đó, họ trong nhà gọi là bà ngoại và dì ba, số người còn lại, vài người đứng gần tường, vài người ngồi quanh cái bàn ăn dài kê cận bên cửa sổ ngó ra hông nhà láng giềng.

    Chừng bốn năm người hàng xóm, thập thò ngoài sân trước nhìn vô, tiếng xe lôi máy chở khách nặng nề trên đường từ Cao Xá xuống, không át nổi tiếng người xì xào trong nhà. Tôi còn chưng hửng chưa biết chuyện gì thì bà ngoại đã nắm lấy tay tôi, mắt bà đỏ hoe, hình như tôi thấy cô tư và dì ba cũng rưng rưng. Thằng Phúc đứng lặng thinh trong góc phòng. Bà ngoại nhìn thẳng vào tôi rồi buột miệng:

- Cha thằng Ngữ đây hả?

    Cô tư Hòa không hỏi tôi nhiều, chỉ nhìn, cười một mình. Anh chị của thằng Phúc thì thôi khỏi nói, họ thay phiên nhau hỏi tôi đủ thứ chuyện, chuyện của những ngày tôi còn nhỏ và chuyện của đời tôi bây giờ, họ gọi ba má tôi bằng tiếng cô cậu ba, thân thiết ngọt ngào chừng như là đã quen nhau từ lâu lắm. Phía ngoài sân trước, mấy người hàng xóm tụ quanh nhau, vừa nhìn vô trong vừa bàn qua tán lại.

*

    Tôi ở lại ăn cơm chiều với gia đình cô tư Hòa hôm đó, trong bữa ăn, cô tư cho biết lý do tại sao gia đình biết tôi và biết cả chỗ tôi đang ở mà sai Phúc đến tìm. Thì ra, ba má tôi từ Gò Dầu lên tỉnh thăm tôi, thỉnh thoảng có ghé qua nhà cô tư chơi. Mỗi lần như vậy, gia đình cô tư đều được ba má tôi kể chuyện về tôi, từ học hành tới tính nết. Ba má tôi cũng nói cái bộ bàn ghế sa lông bằng gỗ mun nâu đỏ, mà cô cho tôi hồi còn nhỏ, ngồi chơi hay ăn cơm cũng còn giữ nguyên đó.

    Cô tư nghe ba má tôi nói, cuối năm nay sau khi thi Tú tài Một, tôi sẽ xuống Sài Gòn học đệ Nhất, chớ không học ở tỉnh. Sợ là sẽ không có dịp gặp tôi thường trong năm tới, nhất là bãi trường sắp tới nơi, nên cô quyết định, sắp xếp cho cả nhà gặp tôi một lần cho bằng được. Ba má tôi không hề nói với tôi về sự quen biết của ông bà và gia đình cô tư Hòa từ đó đến giờ. Ăn cơm xong, trời cũng vừa tối, cô tư bảo thằng Phúc lấy xe “vê-lô” đưa về, không quên dặn tôi là nếu có rãnh thì qua chơi. Tôi cám ơn cô đã cho hai hộp bánh lần nữa. Cho đến lúc này cô tư hay ai đó trong nhà, không ai nói gì về sự liên hệ giữa họ với tôi ra sao, tôi cũng ngại, dù biết chắc có cái gì đó trong chuyện này nhưng, không hỏi.

*

    Phúc dắt xe”vê-lô” ra trước đứng chờ, đường lên đèn, đám người tụ trước sân nhà vẫn còn đó. Tôi chào mọi người ra về, hai anh em chạy đi một khoảng khá xa, họ vẫn còn đứng nhìn theo.

    Qua ngang phố Gia Long, vài ba tiếng đại bác vọng, lẻ loi đâu đó trên miệt trời biên giới. Phố tỉnh chập chững vào đêm.

 

Thuyên Huy

Viết mở đầu cho một chút thật của một chuyện đời có thật

 

 

 

 

 

Một Tượng - Nguyễn Khoa Đăng

 


Mọt Tượng





Sư cụ cho gọi chú tiểu Bửu vào, nói:

- Con tới đây làm công quả đã lâu, hạnh tu coi như đã có, nên thầy muốn nhờ con một chuyện.

Tiểu Bửu cung kính xá:

- Thưa thầy, con xin nghe.

- Con biết, chùa mình dọn từ Mai Sơn về đây đã nhiều năm mà vẫn chưa thỉnh được tượng Quán Thế Âm theo. Nay, tình thế tương đối yên ổn trở lại, thầy muốn con tới chùa cũ thỉnh về, có được chăng?

Tiểu Bửu bối rối:

- Dạ, được... nhưng...

- Nhưng sao?

- Không biết con có đủ sức vượt qua mọi khó khăn, hiểm trở.

Sư cụ điềm nhiên:

- Con cứ thơi thả mà đi, coi đó như đường tu hành, thong dong buớc, thế nào cũng tới.

Tiểu Bửu cúi mặt:

- Thưa thầy, con không ngại đường xa cách trở mà ngại lòng mình chưa đủ đạo hạnh để thỉnh tượng về đây.

Sư cụ cười khoan dung:

- Ðáng lẽ chuyện này là của thầy, nhưng thầy biết sức mình hết kham nổi thử thách ngoại cảnh, nên phải nhờ tới con, người mà thầy hết dạ tin tưởng.

Tiểu Bửu xúc động rơm rớm lệ:

- Thầy đã nói vậy, con xin tuân.

Rồi từ đó cho tới ngày lên đường về lại Mai Sơn tự, không đêm nào tiểu Bửu yên giấc. Chú cứ trằn trọc mơ tưởng về chuyến đi sắp tới. Tiểu Hạnh, bạn đồng tu, gọi đó là ‘‘sứ mạng cao cả của Tề Thiên đại thánh‘‘, và lộ vẻ ganh tị ra mặt. Tiểu Bửu phải an ủi: ‘‘Chú còn nhỏ, thầy đâu dám nhờ.‘‘ Tiểu Hạnh hờn dỗi: ‘‘Sao thầy không cho anh em mình đi chung cho có bạn?‘‘ Tiểu Bửu cười khẽ: ‘‘Phải có người ở lại chăm sóc thầy và lo chuyện chuông mõ chớ.‘‘ Dẫu hiểu, nhưng Tiểu Hạnh vẫn ấm ức trong bụng. Tiểu Bửu biết vậy, nên ít khi đem chuyện đi thỉnh tượng ra nói.

Tội nghiệp, Tiểu Hạnh là trẻ mồ côi, được thân nhân gởi vô chùa từ năm sáu tuổi. Không những Tiểu Bửu có bổn phận dạy học cho Tiểu Hạnh, mà còn chỉ vẽ nó cách quán xuyến chuyện chùa chiền như nấu cơm, giặt giũ, lau chùi hay gióng chuông và thắp nhang đèn cúng Phật mỗi thời kinh sớm chiều. Còn nhỏ, nên Tiểu Hạnh ham chơi hơn thích làm. Mỗi năm tới mùa dế, nó ra ruộng bắt vài con đem về nuôi trong hộp thiếc, giấu dưới ụ rơm ủ nấm. Khi bị Tiểu Bửu bắt gặp đang chơi đá dế, nó ngỏn ngoẻn cười nhận lỗi. Tiểu Bửu không la mắng hay ngăn cấm chi, chỉ ôn tồn giải thích. Một hôm, chú bắt gặp Tiểu Hạnh ngồi khóc lặng lẽ bên ao nước. Hỏi sao khóc, nó rấm rứt: ‘‘Em vừa thả mấy con dế ra ruộng.‘‘ Tiểu Bửu cảm động lây, đặt tay lên vai bạn: ‘‘Làm một việc thiện, lẽ ra phải cười, sao lại khóc?‘‘ Tiểu Hạnh ngước mặt cười mếu, lộ hàm răng sún. Nụ cười ấy, Tiểu Bửu suốt đời không bao giờ quên.

Thỉnh thoảng sư cụ lại vui miệng kể chuyện phong cảnh Mai Sơn cho hai chú tiểu nghe. Rừng núi ấy, như tên gọi, có nhiều mai dại. Không hoàn toàn giống như mai chưng vào dịp đầu năm, dã mai có cánh hoa thuôn dài, hơi úp, mau nở mà cũng chóng tàn. Hằng năm, tới độ mai mãn khai, sáng ra suối múc nước, thấy lưng núi đơm rực hoa vàng. Chiều hôm rịn sương, tưởng như có bầy hoàng hạc từ tây phương trở lại thăm chùa. Tiểu Bửu ghi đậm hình ảnh thơ mộng ấy vào tâm. Ðể đến hôm nay, chú cứ thẩn thơ mộng mị cảnh rừng mai trong chiều sương toả.

So với phần số Tiểu Hạnh, Tiểu Bửu may mắn hơn, vì còn mẹ và bảy anh chị em. Tháng chạp năm nào mẹ cũng tới thăm Tiểu Bửu. Quà cáp mẹ mang, toàn những thứ Tiểu Bửu hảo ăn như bánh hạnh nhân, bánh chuối hấp và thật nhiều bánh ít bột khoai mì. Chú biết, thật ra đó chỉ là cái vui tạm, sự có mặt của mẹ mới là niềm vui chính. Mẹ là cái gạch nối ấm áp cuối cùng giữa chú và thế tục bên ngoài. Mẹ nán lại chùa vài ngày, phụ làm công quả. Lâu rồi, mẹ không còn nhắc tới cha, người mà mẹ kể đã tập kết ra Bắc từ năm 1954. Cũng lâu rồi, Tiểu Bửu không còn hỏi mẹ lý do tại sao mang chú gởi cho chùa. Tiểu Bửu đã bắt đầu cảm thọ nhịp sống tu hành. Dù vậy, tới lúc mẹ con chia tay nơi bến đò, Tiểu Bửu không khỏi sa nước mắt. Chú chờ bóng con đò khuất dạng sau lùm cây và mặt nước im sóng mái chèo, mới quay lưng lầm lũi, mắt lệ ngắn dài. Thuở ấy chưa có mặt Tiểu Hạnh. Trong những buổi tiễn đưa về sau, có Tiểu Hạnh bên cạnh, Tiểu Bửu cố ngăn nước mắt. Rồi cũng tới lúc, chú không còn khóc khi từ giã mẹ nữa, chỉ buồn. Buồn trong những lần bóc bánh ra ăn. Rưng rưng tưởng lại tiếng chân mẹ quạnh quẽ trong sân chùa lót gạnh tàu. Và đậm đà biết mấy món canh bí mẹ nấu dâng Phật rằm tháng chạp.

Tiểu Bửu xoay lưng, hé mắt nhìn ra liếp cửa vằng vặc trăng soi. Ðêm nay cũng rằm. Tiểu Bửu khó ngủ, mơ vá quàng chuyện này chuyện nọ. Tự dưng chú cảm thấy nhiệm vụ sư cụ giao phó gian nan quá. Ðường từ đây lên Mai Sơn tự non mười cây số, nhưng phải đi bộ, vì không có lối sông. Ði về ít nhất hai ngày. Tiểu Bửu định ở lại chùa cũ một đêm một ngày để ngắm cảnh hoa cho mãn nhãn. Không biết, sau mấy năm chinh chiến, cảnh vật có còn như xưa? Có còn những cội mai hoá long ngủ quên lưng chừng núi? Có còn những hoàng hôn, bầy công núi bay về đậu trên chòm sứ trắng đợi nghe chuông? Có còn bóng trăng thuỷ ngân soi trong lu nước ngậm bông sứ mỗi đêm rằm? Tiểu Bửu rợn người tưởng ra bàn tay ai thon muốt đẩy giạt lớp hoa, vốc làn nước thơm rẩy lên tượng Phật. Ngón tay dịu nhiễu, mềm mại. Mặt nước run gợn sinh thú. Hương hoa chập chờn vọng tưởng. Tiểu Bửu giật mình nhận ra đó là bàn tay con gái.

Bên cạnh, Tiểu Hạnh nẩy người, ú ớ mê sảng.

° ° °

Tiểu Bửu sắp bầu nước lọc, hai củ khoai luộc, đòn bánh tét nhưn chuối, quyển kệ mỏng và cái xẻng con vào bọc vải. Tiểu Hạnh lăng xăng dặn dò:

- Chú đi, nhớ về sớm. Ðừng quên cái chăn bông!

- Lâu lắm là ba ngày.

- Chú đem theo bao nhiêu đó thức ăn, đủ không?

- Ðủ rồi. Nếu thiếu, dọc đường chú hái trái ăn thêm. Khát thì uống nước suối. Thầy bảo, có dòng suối bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, vắt ngang lưng núi.

Tiểu Hạnh hít hà:

- Chú sướng hơn em.

Tiểu Bửu cười mỉm:

- Tại Tiểu Hạnh không biết, chớ chú lo lắm, sợ mình không làm tròn bổn phận.

Tiểu Hạnh thắc mắc:

- Không hiểu sư cụ thỉnh bức tượng đó về làm gì? Sao không đặt làm tượng mới, lớn và đẹp hơn?

- Sao em biết tượng cũ nhỏ và xấu?

Tiểu Hạnh nhăn nhó giải thích:

- Xãu thì em không dám nói, nhưng chắc chắn là nhỏ và xưa cũ lắm rồi.

- Quí vì cũ xưa đó em. Bây giờ tượng là một món cổ ngoạn hiếm có.

Rồi Tiểu Bửu trầm ngâm cất giọng:

- Theo lời sư cụ, vài năm trước ngày chia đôi đất nước, lúc tình thế còn hỗn mang, một hôm có anh thanh niên ghé ngang Mai Sơn tự xin tá túc một khoảng thời gian. Anh ta là thợ mộc, biết đẽo khắc tượng gỗ. Sư cụ không nhờ, nhưng ngày nọ, anh vào rừng vác về một khúc gỗ huỳnh đàn. Thế là suốt buổi anh ta cày cục nâng niu đẽo thành tượng Phật. Trước đó anh ta còn kỹ lưỡng ngâm gỗ trong nước bông sứ. Hỏi để làm gì, thì anh bảo, có vậy gỗ mới dẻo dai bền vững với thời gian và lúc nào cũng thoảng hương hoa. Sau vài tuần, anh hoàn tất bức tượng. Sư cụ bảo rằng, chưa thấy tượng Phật nào có thần sắc từ bi nhân ái như thế. Tượng nhỏ thôi, chừng ba gang tay, vậy mà chỉ cần nhìn qua diện mạo, đã thấy cái tâm vô biên vô lượng hiện ra rành rành. Cho tới đêm nọ, chàng thanh niên xin phép sư cụ rời chùa, rồi không thấy trở lại như đã hứa. Khi chiến tranh tràn lan, sư cụ nhờ người chôn giấu bức tượng bên cội bông sứ sau chùa. Hôm tản lạc về đây, quên đem theo. Bây giờ tính lại đã gần mười năm, mau thật.

Tiểu Hạnh thở ra, hỏi:

- Không biết anh thanh niên ấy làm gì, quê ở đâu?

- Sư cụ không nói, chú cũng không hỏi. Mà biết, có ích chi?

Tiểu Hạnh đoán xa đoán gần:

- Chắc anh ấy làm chuyện đại sự, không muốn cho ai biết.

Tiểu Bửu cười nhẹ:

- Ờ, sư cụ còn kể thêm, theo lời anh ấy dặn, muốn cho tượng có thần sắc, phải ngâm gỗ trong nước in bóng trăng rằm ba đêm.

- Rủi nhằm bữa trời xấu, không trăng thì sao?

Tiểu Bửu nhăn mặt, nói như trách:

- Thì chờ mùa trăng sau, có vậy cũng hỏi.

Tiểu Hạnh cười lỏn lẻn:

- Em hỏi cắc cớ cho vui vậy mà.

- Người đó có căn tu mà chưa gặp duyên đó thôi.

Nét mặt Tiểu Hạnh đột ngột sa sầm:

- Còn em?

Tiểu Bửu đặt tay lên vai bạn:

- Nếu em không có căn tu, đã không lạc tới nơi này.

- Vậy mà chú cứ trách em là đứa có căn chơi chớ không phải căn tu.

Tiểu Bửu cười xoà:

- Ðôi lúc chú thấy em ham chơi, xao lãng chuyện tu tập, nên nói vậy chớ không có ý trách mắng.

Tiểu Hạnh thỏ thẻ:

- Mà em ham chơi thật. Nhiều khi ra chợ, thấy mấy đứa trạc tuổi chơi đánh đáo, bắn bi, đá dế, đá cầu, tạt lon, tạt hình, em ham quá. Chú Tiểu Bửu nè, rủi sau này em... em... bỏ chùa đi như anh thanh niên nọ, chú có buồn không?

Tiểu Bửu ngừng tay sắp, nhíu mày nhìn Tiểu Hạnh một chặp, không đáp, rồi thắt chặt bọc vải vào đầu đòn sóc, quẳng lên vai gánh thử. Có tiếng sư cụ ho khan từ buồng bên. Tiểu Bửu vội ngó ra sân, thấy bóng cây hoàng lan ngả về đông từ khi nào chẳng hay. Mải trò chuyện, hai chú tiểu suýt quên thắp nhang đèn cho tuần kinh tối.

° ° °

Tiểu Hạnh đưa Tiểu Bửu tới cuối lộ đất. Nơi đó, con đường rẽ thành hai nhánh, phải về hướng Mai Sơn, trái ra chợ làng. Lối phải ít người léo hánh, đường hẹp, cỏ lau mọc đầy hai bên, cao xấp xỉ Tiểu Hạnh.

Tiểu Bửu đặt đòn sóc xuống cỏ, nheo mắt ngó quanh:

- Trời nắng ghê.

Tiểu Hạnh bặm môi lặp lại lời nhắn cũ:

- Chú đi, nhớ về sớm.

Tiểu Bửu xoa tay lên chỏm đầu lởm chởm chân tóc của Tiểu Hạnh, cười nói:

- Về, chú sẽ cạo tóc cho em. Thôi, chú đi.

Hai mắt Tiểu Hạnh long lanh:

- Em có nhét vô bọc cho chú lọ dầu gió.

Tiểu Bửu xúc động:

- Em về đi!

Tiểu Hạnh lắc đầu nguầy nguậy:

- Không, chú đi khỏi, em mới về.

Tiểu Bửu quẩy đòn sóc lên vai, trước khi dợm bước, còn dặn dò:

- Nhớ tưới rau và lo chuyện nhang đèn hộ chú!

Tiểu Hạnh khum tay che nắng, dõi theo bóng Tiểu Bửu nhấp nhô thoăn thoắt giữa cánh đồng cỏ lau, lòng cô quạnh mênh mông.

Hôm nay, như mọi ngày mùa khô, nắng tràn rực rỡ. Ði được quãng ngắn, Tiểu Bửu lại dừng chân, lấy nước ra uống. Càng lên cao, cảnh sắc càng ngoạn mục. Cỏ bông lau xen với bông thẩu dại, rờn rợn cánh đỏ. Ðã thấy cây to vươn cành, rợp bóng mát. Lâu lâu lại nghe tiếng gà rừng thấp thỏm kêu lẻ. Mây trời nổi vân hoành tráng, tựa như bức tranh tàu. Giữa trưa, Tiểu Bửu xót dạ, dừng lại nghỉ chân bên gốc cây non. Ăn xong củ khoai luộc, hớp vài ngụm nước lọc, Tiểu Bửu khép mắt định thần toạ thiền. Không được lâu, đã bị tiếng chim gọi tỉnh. Tiểu Bửu dáo dác ngước mặt. Một con quạ núi dang cánh lượn vòng trên không, buông tiếng hốt hoảng như vừa đánh mất vật gì. Bóng chim quét chập chợn lên cánh đồng chan nắng. Câu chuyện nhà sư hoá thành con chim áo dà suốt đời sục sạo bay tìm trái tim tướng cướp chờn vờn hiện ra trí Tiểu Bửu. Chú rợn người kêu thầm, tại sao cứ mãi đi tìm, mà không phá chấp, buông xả thơi thái như hạnh của thiên nhiên?

Và cứ nghĩ ngợi luông tuồng như thế, tới chiều Tiểu Bửu đến chân thềm đá 49 bậc dẫn lên Mai Sơn tự. Không một bóng người. Nắng sẫm vàng, rắc hơi tàn lên rừng cây. Gió thầm thì tuôn qua rãnh lá. Tiểu Bửu ngẩng nhìn, thấy chòm rễ già bấu ngoằn ngoèo kẽ đá, trông như bầy tinh xà canh giữ cửa hang huyền thoại. Chú thở ra, hít vào từng hơi dài. Bầu trời nghiêng theo tầm nhìn, choáng váng nứt ra những đường mây. Có bầy hạc xám đang khoan thai nối đuôi bay về tổ, buông tiếng náo động một góc trời. Tiểu Bửu dò dẫm trèo lên từng nấc đá, bàng hoàng nhận ra tâm mình giao động theo mỗi bước chân.

Trong sân chùa, sứ trắng rộ nở, hương lan nhè nhẹ. Thềm gạch lở loét mấp mô. Chùa tróc mái, chỉ còn trơ lại những cột gỗ xiêu và chân vách cháy nám. Nơi này, như nhiều nơi khác, có lẽ đã được dùng tiêu thổ kháng chiến. Tiểu Bửu đặt đòn sóc xuống đống gạch đất vỡ vụn, mọp người chắp tay. Chú hình dung lại cảnh chùa trước cơn biến động. Ðiện thờ được xây theo hình bán liên, nhắc nhở tính bất toàn của con người. Cánh phải là nhà trai. Cánh trái là phòng toạ thiền. Sau chánh điện là hành lang dài và hẹp, kê tủ chứa kinh điển và vật thờ. Cách một lối ngắn trải gạch nung là nhà bếp, một góc được ngăn vách làm tư phòng cho Tiểu Bửu thuở bé và hai bạn đồng tu khác. Bên trái là buồng sư cụ. Bên phải là phòng tắm và nhà vệ sinh. Giờ đây, tất cả đều đổ nát. Tiểu Bửu rưng rưng hồi tưởng kỷ niệm, thẫn thờ dọn dẹp một góc chùa làm chỗ trú đêm. Từ mớ gạch vụn, một con cắc kè rối chân chạy ra, dừng lại ngấc đầu ngơ ngác giây lát, rồi lủi nhanh vào khe trống.

Tiểu Bửu trải chăn ra đất, ngả người, tay gối đầu, suy tư vu vơ. Gió mát hiu hiu. Nắng chiều xuyên mỏng cành lá, nhấp nháy từng đoá. Ngày đang chuyển mình vào đêm. Chưa bao giờ Tiểu Bửu cảm thấy lòng mình gần gũi cùng thiên nhiên như bây giờ. Ý tưởng mình là sinh vật tầm thường nhỏ nhoi trong cõi vũ trụ bao la vô bờ càng thêm sắc nét. Cùng lúc là những hoài nghi về thân phận. Tại sao lại có mặt mình tại đây mà không là nơi khác? Tại sao lại có những phân biệt giữa mình và tha nhân? Ngã của mình, ôi, nhỏ như hạt cát, bẩn như cục phân, mà cũng rộng như đất trời, tinh khiết như giọt sương sớm. Sau bao năm tu học, mình đã chuyển hoá được gì chưa, mình đã dứt bỏ được những ràng buộc của khổ đau và dục vọng chưa, hay lòng mình vẫn còn vướng mắc vào những móc xích mê chấp? Ðã có lần sư cụ dạy rằng: ‘‘Tu không phải để lánh đời, mà để nhìn đời bằng tâm tư tích cực hơn. Chuyển được tâm mình, tức là chuyển được cái tâm đời đầy u mê ám chướng.‘‘

Tiểu Bửu khép mắt lửng lơ, hai tay xoắn lại đặt trên bụng. Tiếng chim gọi chiều, tiếng lá cựa mình vào đêm hoà với tràng âm thanh không tên nghiến mòn lê thê trong lòng chú, làm thành điệu ru êm. Chú thiếp vào giấc ngủ rối.

Có tiếng chim ụt lạc giọng từng hồi. Tiểu Bửu tỉnh giấc, ngẩn ngơ giây lát. Trăng rưới nhàn nhạt lên nền chùa hoang phế. Hơi đêm dịu mát. Côn trùng rỉ rả không mỏi. Tiểu Bửu ngồi dậy, vươn vai, mở bầu nước, vốc ngụm nhỏ rửa mặt. Chú nhẫn nha bóc vỏ củ khoai lang luộc còn lại, vừa ăn vừa ngắm tàn bông sứ sau sân chùa. Trăng không sáng lắm, mà không hiểu sao mắt chú nhận rõ những đốm bông trắng muốt như ngậm chất phát quang. Lời dặn của sư cụ vang lên trí chú: ‘‘Thầy chôn tượng Phật bên gốc sứ sau chùa, có tảng đá núi làm dấu. Ðá hơi to, con phải đào đất, lấy cây nẩy mới xê dịch được.‘‘

Giờ đây, Tiểu Bửu đang đứng bên cội sứ già, cạnh tảng đá vừa được bẩy sang bên. Một hõm đất nông bày ra dưới luồng trăng nhợt nhạt. Tiểu Bửu quì gối, tay cầm xẻng con, thận trọng xắn đất. Khí trời thoáng mát mà lưng áo Tiểu Bửu rịn ướt mồ hôi. Tự dưng chú nghĩ tới thắc mắc ngây thơ của Tiểu Hạnh: ‘‘Không biết sư cụ đòi đem bức tượng đó về làm gì?‘‘ Phải rồi, chi vậy? Không phải tất cả hình tượng đều là vọng tưởng sao? Tại sao không ‘‘ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm‘‘, như kinh Kim Cang đã dạy? Tiểu Bửu còn đang lan man tự hỏi, chợt giật thốn người khi có cảm giác lưỡi xẻng chạm phải vật cứng. Chú nới tay, xới từng lớp mỏng. Mồ hôi chú lăn thành dòng xuống cổ áo. Tiểu Bửu tận dụng thị lực, soi chăm chăm vào hố đất con. Ðoán thấy đủ độ sâu, chú vất xẻng, dùng tay không cẩn thận bới quanh vật thể được bọc trong nhiều lớp vải, miệng lâm râm niệm Phật. Chú mọp người, khuân khối vải đặt bên miệng hố, chỗ sáng trăng. Tim chú đập liên hồi. Chú phủi sạch đất cát, run tay tháo vải. Nước mắt chú tuôn ràn rụa khi nhận ra pho tượng vẫn còn bóng ngời chất gỗ quí. Chú lẩy bẩy nâng pho tượng lên, toan áp má vào mặt tượng thì... trời ơi, chú thấy từ lòng tượng rỉ ra từng dòng trắng đục như sữa. Hai mắt Tiểu Bửu trợn ngược, miệng lắp bắp không tròn câu:

- Mô... mô... Phật, tượng ớ... mọt ăn.

Rồi chú buông tượng xuống đất, khóc nghẹn.

Ngô Nguyên Dũng
(Ðức, 19.5.1996)

 

Chiếc Ghế Đa Tình - Edogawarampo

 

Chiếc Ghế Đa Tình




 

Sau khi chồng bà đi làm, bà Yoshiko được hoàn toàn tự do. Bà vào thư phòng mà hai vợ chồng bà cùng chia nhau sử dụng, tiếp tục viết một truyện dài cho số đặc biệt mùa hè của tạp chí K.

Bà Yoshiko là một nữ sỹ nổi danh về bút pháp lả lướt. Chồng bà là một nhân viên cao cấp ở Bộ Ngoại giao, nhưng ông có vẻ lu mờ trước tên tuổi đang lên của bà vợ. Hàng ngày, bà nhận được cả chồng thư từ của độc giả bốn phương gửi tới.

Sáng hôm ấy, khi ngồi lại bàn giấy, công việc đầu tiên của bà là đọc mấy xấp thư mới gửi đến. Bà đọc hết tất cả các thư đó.

Bà đọc các thư ngắn trước và ghi chú nội dung. Sau cùng bà đọc các bức thư dài. Một đôi khi bà nhận được cả truyện ngắn mà người viết chịu khó gửi đến để nhờ bà đọc và phê bình. Những truyện ngắn đó thường viết dài dòng, luộm thuộm và gây buồn ngủ.

Hôm ấy, bà Yoshiko cũng nhận được một bản thảo. Nhưng đây là một bản thảo hết sức đặc biệt, không có nhan đề trên đầu.

Có lẽ là một bức thư thì đúng hơn.

“Thưa bà…”

Bà Yoshiko ngừng lại, ngẫm nghĩ. Có thể đây chỉ là một bức thư. Bà liếc nhanh mấy hàng phía dưới, nhưng càng đọc bà càng chăm chú thêm.

Tính hấp dẫn của bức thư khiến bà đọc một mạch.

“Thưa bà,

Tôi mong rằng bà sẽ bỏ qua cho sự đường đột của kẻ không quen biết như tôi mà lại gửi một bức thư quá dài cho bà. Nội dung bức thư của tôi sẽ làm bà xúc động mạnh và xúc động triền miên.

Trong thư, tôi thú nhận tất cả cảm nghĩ sâu kín của tôi và những việc tôi đã làm.

Trong mấy tháng qua, tôi đã trốn xa ánh sáng văn minh, sống lén lút như một con yêu tinh. Cả thế giới không một ai biết được các hành động của tôi. Nhưng gần đây có một sự thay đổi lớn lao xảy ra trong tâm hồn, tôi không thể giữ bí mật được. Tôi cần phải thú nhận.

Đọc đến đây, có lẽ bà phân vân không rõ tôi dẫn bà tới đâu. Tuy nhiên, tôi xin bà nên kiên nhẫn nghe lời thú tội của tôi.

Tôi bối rối không biết phải bắt đầu như thế nào. Vì việc tôi làm rất lạ lùng. Tôi thiếu lời lẽ để ghi lại. Theo tôi nghĩ không có lời lẽ nào của con người có thể diễn tả đúng mức các chi tiết những việc tôi đã làm. Dù vậy, tôi xin cố gắng kể lại theo thứ tự thời gian.

Trước hết, tôi xin nói rõ tôi là một người xấu xí không thể tưởng tượng được. Điều đó là một sự kiện quan trọng. Vì nếu bà thấy mặt tôi, bà sẽ ngất xỉu.

Nhưng bên trong cái mặt xấu xa ghê tởm đó, ác thay, tôi lại có một quả tim biết rung động tha thiết trước vẻ đẹp, một quả tim nóng bỏng đam mê.

Điểm thứ hai tôi là một người thợ tầm thường. Giá như sinh nhằm gia đình quý tộc, tôi có thể dựa vào thế lực, tiền tài để tìm sự an ủi cho cái mặt xấu xí của tôi. Và nếu như tôi là một nghệ sỹ có biệt tài thì tôi cũng có thể quên được nỗi xót xa mà hình hài khác thường đã đem lại cho tôi với vần thơ, điệu nhạn, tôi sẽ tìm được sự lãng quên… nhưng, tôi chỉ là một người thợ đóng bàn ghế, sở trường của tôi là đóng đủ loại ghế.

Nhờ đi sâu vào ngành này nên tôi cũng tạo được một cái tên trong làng. Những khách hàng thích loại ghế cầu kỳ đều đặt hàng ở hiệu tôi.

Từ một anh thợ mộc tầm thường, tôi trở thành một nhà vẽ kiểu và thực hiện đủ loại ghế. Tôi say mê trong công việc sáng tạo, hết kiểu này, tôi vẽ sang kiểu khác.

Và điều thích thú nhất của tôi là ngồi lên trên chiếc ghế vừa hoàn thành. Đó là một sự thoả mãn về nghề nghiệp. Với tư cách là kẻ sáng tạo, tôi có quyền ngồi trước trên các ghế của thân chủ, dù cho họ là bộ trưởng hay tổng thống.

Khi ngồi lên những chiếc ghế đặc biệt đó, tôi thường nghĩ ngợi, trí tưởng tượng của tôi được tự do phát triển… Tôi hình dung các nhân vật sẽ ngồi một cách thoải mái trên chiếc ghế của tôi. Họ là những kẻ quý phái, sống trong những lâu đài nguy nga lộng lẫy.

Tôi cũng hình dung chiếc ghế do tôi sáng tạo được đặt trong một phòng sang trọng, phía sau một bàn giấy to tướng bằng gỗ. Trên bàn có một lọ hoa, hương thơm bay thoang thoảng trong không khí.

Và nghĩ ngợi như vậy, tôi thấy như là chính tôi cũng lạc vào thế giới sang trọng đó, như chiếc ghế mà tôi chế ra. Tôi muốn sống trong không khí thượng lưu quyền quý đó.

Và một hôm, tôi được đặt đóng một chiếc ghế bành vĩ đại, loại đặc biệt cho một khách sạn ngoại quốc ở Yokohama.

Loại này chưa hề có ở Nhật. Lẽ ra thì phải đặt ở ngoại quốc. Nhưng khi nghe tên tuổi của tôi, chủ khách sạn đặt tôi đóng chiếc ghế đó.

Để lấy tiếng với khách hàng ngoại quốc, tôi đem hết tâm hồn một nghệ sỹ đặt vào việc thực hiện chiếc ghế vĩ đại đó. Tôi say mê làm việc, quên cả ăn, ngủ. Khi chiếc ghế hoàn thành tôi vui mừng hơn lúc nào hết. Vì đây có thể nói là một thành công lớn lao nhất của tôi.

Như thường lệ, tôi ngồi lên chiếc ghế trước nhất. Thật là đầy đủ tiện nghi! Thật là sang trọng! Thật là thoải mái!

Lò xo thật vừa vặn, không cứng cũng không mềm. Nệm bọc da êm dịu làm sao.

Tôi cảm tưởng chiếc ghế không những hứng lấy người ngồi mà nó còn mở rộng vòng tay đón nhận và ôm lấy người ngồi.

Tôi gnả người trên chiếc ghế để toàn thân lún sâu vào nệm, vuốt ve hai cánh tay của chiếc ghế, lòng lâng lâng thích thú.

Lúc bấy giờ tôi có một ý nghĩ hết sức kỳ quái. Tôi không muốn tách rời chiếc ghế vừa hoàn thành. Như một người mẹ mang nặng đẻ đau không đủ can đảm để cho người ta cướp đi hòn máu của mình, tôi cũng không chịu được cảnh chia cách giữa tôi và chiếc ghế.

Nhưng không thể không giao hàng cho thân chủ, tôi nảy ra một ý nghĩ kỳ quái là chính tôi phải đi theo chiếc ghế. Có lẽ, bà cho tôi là điên, mà tôi điên thật.

Tôi tháo chiếc ghế ra, xếp đặt bên trong để hai chân có chỗ để phía trước, hai tay có chỗ gác lên hai cánh tay của chiếc ghế. Lưng và đầu có thể tựa vào lưng ghế. Tôi cũng cẩn thận cho lỗ thông hơi để người ngồi bên trong không ngộp và nghe được tiếng động bên ngoài. Tôi còn cẩn thận xếp đặt vài chỗ trống nhỏ để trữ thức ăn và chai nước. Với lương thực tích trữ đó, kẻ nằm trong ghế có thể ở luôn trong đó hai ba ngày.

Sau khi hoàn thành kế hoạch, tôi chui vào trong chiếc ghế và có cảm tưởng là chính tôi đã chôn sống tôi trong nấm mồ đặc biệt này. Bên trong tối đen như một nấm mồ, và đối với những kẻ bên ngoài, tôi là một người đã biến vào cõi hư vô.

Không bao lâu, khách hàng đã đến lãnh chiếc. Anh thợ phụ của tôi không hề hay biết gì về ý định kỳ quái của tôi. Hắn thay mặt tôi giao hàng cho thân chủ.

Khi khiêng chiếc ghế lên xe, bốn người phu đã kêu lên:

– Trời đất quỷ thần ơi! Chiếc ghế nặng cỡ một tấn.

Khi nghe họ la như vậy, tôi tái người, sợ người ta biết là có người trốn trong ghế. Nhưng chiếc ghế tự nó rất nặng. Cho nên không ai thắc mắc.

Chiếc ghế đã được đưa tới khách sạn. Người ta để nó ở một phòng khách, ngay tầng dưới.

Như bà có thể đoán, tôi chờ đêm đến, khi tứ bề im vắng, tôi lẻn ra khỏi nấm mộ.

Có ai nghĩ có người xuất hiện trong một chiếc ghế! Cho nên tôi tha hồ đi lại, lục soát tất cả các phòng trong khách sạn. Hễ bị động, tôi chạy nhanh về nấm mồ của tôi. Vậy là an toàn.

Có lẽ bà đã nghe nói nhiều về loại ốc mượn hồn ở trên bãi bồi. Loại ốc này thích bò đi kiếm ăn mà mỗi khi nghe có tiếng chân người là chạy nhanh vào chiếc vỏ ốc. Tôi cũng là thứ ốc mượn hồn. Thay vì vỏ ốc, tôi có chiếc ghế. ý nghĩ tôi rất độc đáo nên không ai ngờ những hành động kỳ quái của tôi.

Nhờ vậy mà cuộc phiêu lưu của tôi hoàn toàn thành công. Đến ngày thứ ba, tôi gây xáo trộn trong khách sạn. Nhưng tình trạng đó tạo cho tôi nhiều thích thú. Không gì vui sướng bằng khi chui vào căn cứ an toàn vừa đúng lúc để nghe thiên hạ đuổi bắt xôn xao chung quanh. Tôi nghe người ta la trước mũi tôi “Nó chạy hướng này” và kẻ khác lại “Không, nó chạy hướng kia”.

Nhưng ngoài cái thú cút bắt đó tôi phải chịu một vài cực hình trong cái trò chơi ly kỳ và nguy hiểm này. Cực hình lớn nhất là lúc những người Âu Châu to lớn, nặng nề ngồi lên chiếc ghế, sức nặng của các ông này ép sát cái lò xo và trong trường hợp đó, họ ngồi trên mình tôi, chỉ cách có một lớp da.

Lưng ông ta nằm tròn trên ngực tôi và hai cánh tay ông ta đã đặt lên hai cánh tay tôi, khói thuốc xì gà của ông ta bay lọt vào căn cứ an toàn và xông vào lỗ mũi tôi. Tôi muốn hắt hơi nhưng ráng nhịn. Tôi sợ đến toát mồ hôi lạnh. Nếu không nhịn được tôi sẽ hắt xì lên, kể như cơ mưu bại lộ. Nhưng may làm sao, tôi vượt qua được cơn khó chịu.

Kể từ ngày đó, số người chiếu cố đến chiếc ghế vĩ đại đặt giữa phòng có hơi nhiều. Họ thay phiên nhau đến ngồi lên đùi tôi.

Dù vậy, không ai biết họ đã ngồi lên một người đang sống như họ.

Nhưng bà sẽ ngạc nhiên mà hỏi tại sao tôi chịu khó chui rúc trong cái “huyệt mả” tối tăm, nghẹt thở như thế. Có gì thích thú đâu!

Thật ra thì thích thú lắm, thưa bà. Tôi có cảm tưởng như một con vật sống trong một thế giới mới lạ, một thế giới mà dần dần tôi trở nên quen thuộc.

Tôi có thể đoán được những người ngồi trên mình tôi bằng cảm giác mà không cần trông thấy.

Những kẻ mập nằm sát vào người tôi. Còn những kẻ ốm thì nằm hêu hêu ở trên. Tôi có ý nghĩ là tôi đang ôm một bộ xương khô.

Tôi có thể phân biệt được người này với người khác một cách tài tình. Những đường nét trong họ khác xa nhau, cũng như chỉ tay hay gương mặt.

Thường đàn bà chia làm hai loại: Loại xoàng và loại đẹp.

Trong thế giới tối đen của tôi, vấn đề đẹp về gương mặt là vấn đề thứ yếu. Đối với một kẻ ở trong trường hợp đặc biệt như tôi, cái đẹp nằm trong…vóc dáng, tiếng nói và mùi thơm.

Cô gái đầu tiên ngồi lên mình tôi là một thiếu nữ Âu. Tôi nhận ra điều này nhờ nghe tiếng nói của nàng.

Lúc đó, thiếu nữ đang có điều vui trong lòng nên nàng ca hát. Giọng thánh thót của cô lan toả khắp gian phòng. Rồi tôi nghe nàng cười vang lên, tiếng cười thật là trong, đáng yêu làm sao. Tôi nghe nàng vỗ tay một cái thích thú rồi ngồi lên mình tôi.

Trong vòng ba mươi phút, nàng tiếp tục ca hát, cả người lẫn chân đều nhún nhảy theo nhịp hát.

Đây là một sự kiện mới đối với tôi vì từ trước đến giờ tôi luôn luôn xa lánh phái đẹp, lý do rất đơn giản là tôi rất xấu.

ấy thế mà bây giờ đây, một cô gái đẹp ngồi trọn vẹn lên mình tôi. Giữa tôi và nàng chỉ cách một làn da mỏng. Không hề hay biết có kẻ đang nghĩ ngợi về mình, thiếu nữa ca hát một cách vô tư.

Trước diễn biến mới đầy mê ly hấp dẫn đó, tôi quên mất ý nghĩ đầu tiên của tôi là lẻn vào khách sạn để ăn trộm.

Từ một kẻ cắp, tôi biến thành một kẻ si tình. Tôi hy vọng cuộc phiêu lưu của tôi sẽ kéo dài trong sự mê ly hấp dẫn như thế mãi mãi.

Và từ đó, chiếc ghế mà tôi ví là một nấm mồ trở thành một tổ ấm. Tôi đã tìm được tình yêu. Tuy là tình yêu đơn phương nhưng dù sao tôi cũng thấy đời tươi vui hơn trước.

Thoạt tiên tôi dự định lẻn vào phòng vơ vét những vật quý giá rồi trốn đi. Nhưng bây giờ thì tôi lại muốn ở lì lại đây.

Trong những chuyến dạ hành, tôi luôn luôn thận trọng bước thật nhẹ cố không gây ra tiếng động cỏn con nào. Nhờ sự thận trọng đó, tôi ở yên trong chiếc ghế cả mấy tháng mà không hề bị động ổ.

Những người ở khách sạn đa số là du khách. Họ đến ở một thời gian rồi đi. Chỉ có một số ít là ở dài hạn, lấy khách sạn làm nhà. Cho nên tôi không bao giờ có thể si mê một giai nhân một cách lâu dài. Cô gái đẹp người Âu mà tôi đã “chấm” cũng đã đi từ lâu.

Có khá nhiều giai nhân đến với tôi, và tôi được biết thêm chút ít về phái đẹp.

Dạo nọ có một vũ nữ đến Nhật, ngụ tại khách sạn của tôi. Mặc dù chỉ ngồi lên ghế tôi một lần nhưng nàng đã để lại cho tôi một cảm giác êm đềm mà từ trước đến nay tôi chưa từng biết. Khi nàng ngồi lên người tôi, tôi thấy ngây ngất lạ lùng. Dường như vũ nữ này có một ma lực đặc biệt đối với nam giới.

Nhưng cuộc phiêu lưu của tôi bước qua một giai đoạn mới một cách bất ngờ. Vì một lý do nào đó, ông chủ bắt buộc phải về xứ, bán cơ sở lại cho người Nhật.

Chủ mới có chính sách mới, đó là tăng thu giảm chi. Những trang trí mà ông cho là xa xỉ phẩm đều bị loại, cố nhiên cái ghế của tôi cũng liệt vào danh sách những món đem ra bán đấu giá. Khi nghe được tin này tôi hết sức thất vọng. Phản ứng đầu tiên của tôi là muốn trở về nếp sống bình thường như mọi người. Tôi đã đánh cắp được một số tiền khá lớn, và nếu sống như người thường, tôi có thể thong dong nhàn hạ. Tuy nhiên khi nhớ đến những cái thú kỳ lạ trong thời gian tự chôn sống trong chiếc ghế, tôi thấy không đủ can đảm từ bỏ cuộc phiêu lưu. Một ý nghĩ mới khiến tôi tiếp tục nếp sống kỳ quái. Trong thời gian ở khách sạn, tôi chỉ được gần gũi với những người đàn bà ngoại quốc. Tôi muốn có cơ hội được so sánh đàn bà Nhật với họ. Thấm thoát đã đến ngày đấu giá. Người mua chiếc ghế là một công chức cao cấp ở Đông Kinh. Nhà ông ta là cả một biệt thự nguy nga. Cuộc di chuyển dằn vặt tôi ghê gớm. Cơ thể tôi có nhiều dấu bầm nhưng tôi cắn răng chịu đựng. Tôi chịu đau với hy vọng sẽ được sống trong gia đình sang trọng của người Nhật. Khi đã về biệt thự, người ta đặt tôi trong thư phòng có lối kiến trúc tây phương. Điều khiến tôi sung sướng nhất là chủ nhân chiếc ghế là một thiếu phụ trẻ đẹp. Nàng rất thích ngồi trên mình tôi. Có thể nói là nàng ngồi cả ngày, trừ những lúc ăn và ngủ. Cho nên cả ngày tôi được ôm ấp tấm thân kiều diễm của nàng. Về sau tôi mới hiểu tại sao nàng chịu khó ngồi trên mình tôi. Thực ra thiếu phụ trẻ đẹp đó là một nữ sỹ và bà thích ngồi trên mình tôi để suy tư, đọc và viết.

Bà không thể hình dung được mối tình của tôi đối với thiếu phụ đó đâu. Nàng là người đàn bà Nhật đầu tiên mà tôi được may mắn gần gũi. Hơn nữa, nàng có một thân hình tuyệt đẹp. Nàng đúng là người đàn bà lý tưởng mà tôi tôn thờ. Nàng đúng là thần tượng của tôi.

Tình yêu đã đến với tôi và đến vời một mức độ thật cao. Tôi không thể xa nàng một phút.

Những lúc vắng mặt nàng tôi thấy nhớ nhung lạ thường. Lòng tôi trống trải không chịu được. Tôi chờ đợi từng phút từng giây để được gần nàng. Mối tình đó có thể so sánh với mối tình của chàng Rômeo và nàng Juliet.

Dần dần, tôi muốn biểu lộ mối tình của tôi đối với nàng. Nhưng biểu lộ bằng cách nào đây? Nếu tôi chường mặt ra thì có lẽ nàng sẽ ngất xỉu vì ngỡ là ác quỷ hiện hình. Hoặc là nàng sẽ kêu ầm lên và chồng nàng cùng bọn gia nhân sẽ xông vào vây bắt.

Không, tôi sẽ không bao giờ chường mặt ra. Tôi phải tìm cách khác. Và cách đó là cố gắng đem lại đầy đủ tiện nghi cho nàng khi nàng ngồi lên chiếc ghế. Tôi muốn làm thế nào đó để nàng thấy chiếc ghế là một người bạn chí thân, một người bạn không thể thiếu được, và như vậy là tôi thoả mãn lắm rồi.

Tôi luôn luôn cố gắng để làm cho nàng thoải mái mỗi khi nàng ngồi lên mình tôi. Khi nàng ngồi lâu và bắt đầu thấy mỏi thì tôi từ từ nhích đùi đi để nàng được dễ chịu hơn, ấm cúng hơn. Khi nàng chợp mắt thì tôi nhẹ nhàng lắc lư để ru nàng đi sâu vào cõi mộng.

Tôi có cảm tưởng là nàng cũng yêu chiếc ghế vì mỗi lần ngồi lên, nàng có cử chỉ sung sướng như một đứa bé được mẹ ôm trong lòng, hay một cô gái âm yếm với tình nhân.

Mối tình câm nín của tôi mỗi ngày một gia tăng và tôi dám chết một cách thoả mãn nếu chỉ được giai nhân nhoẻn cười với tôi một lần thôi.

Thưa bà, đọc đến đây có lẽ bà đã đoán được giai nhân đó là ai rồi! Nói gần nói xa, không qua nói thật, người đó chính là bà.!

Ngay từ lúc ông chủ mua chiếc ghế, vừa đưa vào thư phòng thì tôi đã bắt đầu biết được những sự đau khổ xem lẫn với sung sướng của kẻ dám đắm hồn trong biển tình.

Những lúc được gần bên bà là những lúc sung sướng nhất đời tôi. Nhưng càng sung sướng bao nhiêu, tôi càng xót xa, đau khổ bấy nhiêu, bởi vì tôi là một kẻ xấu xa ghê tởm.

Tôi chỉ xin lỗi bà một điều. Có thể nào bà cho phép tôi được gặp bà một lần chăng? Tôi sẽ không xin hỏi gì thêm. Có lẽ tôi là một kẻ hoàn toàn không sứng đáng cho bà gặp, nhưng tôi hy vọng bà sẽ rộng lượng ban cho tôi một ân huệ vì lòng nhân đạo.

Đêm qua, tôi đã lẻn ra khỏi biệt thự của bà để đem hết tâm tư viết lên những lưòi thú tội này. Bà biết chăng, trong khi bà đọc bức thư này, tôi đang lang thang bên vườn hoa bên ngoài, lòng thấp thỏm lo âu.

Nếu bà chấp nhận lời van nài của tôi, xin bà treo chiếc khăn tay của bà lên trên lọ hoa bên ngoài cửa sổ phòng bà. Khi đó tôi sẽ bước vào biệt thự với tư cách là một người khách nghèo hèn…”.

Bức thư kết thúc ở đó. Trước khi đọc hết bức thư, linh tính báo cho bà Yoshiko biết trước bà là nhân vật chính trong chuyện quái đản này. Mặt bà tái xanh không còn giọt máu.

Như một lò xo, bà đứng lên, chạy ra khỏi phòng. Bà tránh xa chiếc ghế mà trong mấy tháng qua, bà đã ngồi lên đó hàng giờ, ngồi một cách thoải mái.

Có lúc bà muốn ngừng lại giữa chừng, xé nát bức thư, nhưng bà lại đổi ý, cố gắng đọc hết câu chuyện. Khi đã đọc xong, bà thấy linh tính đã báo rất đúng chiếc ghế “ưng ý nhất” của bà có chứa một người thật chăng? Nếu đúng như vậy thì thật là một chuyện quái đản rùng rợn.

Và càng nghĩ bà càng nổi da gà, lạnh buốt xương sống, dường như có ai đó đổ nước lạnh vào lưng.

Bà nhìn sững lên trời như người lên đồng. Một lúc sau bà mới bình tĩnh để suy nghĩ.

Có nên xem xét chiếc ghế để tìm hiểu thực hư chăng? Bà tự thấy không đủ can đảm bước gần chiếc ghế ma quái đó.

– Thưa bà, có thư…

Bà Yoshiko giật nảy mình trước tiếng nói bất ngờ đó. Quay lại, bà nhận ta có người đang đứng trước cửa, tay cầm một phong thư.

Bà cầm lấy phong thư và kêu lên một tiếng hãi hùng.

Lại một bức thư của con người ghê ghớm ấy!

Tên của bà hiện rõ trên phong bì, cùng với nét chữ như cua bò quen thuộc.

Bà do dự một lúc thật lâu, phân vân không biết nên bóc thư ra không.

Sau cùng, cố thu hết can đảm, bà xé phong bì, bóc thư ra đọc.

Bức thư thứ hai rất ngắn:

“Xin bà bỏ qua cho sự đường đột của tôi khi gửi thêm cho bà một bức thư thứ hai. Tôi xin nói ngay cho bà an tâm. Tôi là một trong những người ái mộ văn tài của bà. Bản thảo mà tôi gửi đến bà dưới hình thức một bức thư, đó chỉ là một chuyện hoàn toàn tưởng tượng.

Tôi sáng tác câu chuyện quái đản này khi biết ông nhà mua chiếc ghế đó…

Đây là tác phẩm đầu tay của tôi, nếu được bà phê bình thì thật là vạn hạnh cho tôi.

Bà nhận xét nó thế nào? Nếu bà thấy nó lý thú phần nào thì đó là một phần thưởng lớn lao cho cố gắng viết văn của tôi.

Trong thư đầu, tôi không nêu tên truyện ngắn của tôi vì tôi muốn bà nghĩ đó là một bức thư.

Bây giờ tôi xin phép được đặt cho nó một nhan đề là” Chiếc ghế đa tình”, không biết bà có đồng ý hay không?”.

Trân trọng kính chào bà và chúc bà được vạn sự như ý!”.

Edogawarampo

 

 

Saturday, September 5, 2026

Đi Tết Thầy - Nguyễn Khoa Đăng

 

Đi Tết Thầy




Sáng ba mươi, đang vui với tám quân bài tam cúc mới được chia đỏ rực bộ ba "tướng sĩ tượng", thì bố tôi đưa cho gói quà tết bọc giấy điều:

- Lớn rồi, tết này con đi tết thầy một mình! chẳng có gì. Cặp bánh chưng với cân đường gọi là.

- Tôi gật đầu nhưng bụng rất run. Tôi vốn là đứa trẻ nhút nhát. Chưa dám đến nhà ai một mình. Kể chi nhà thầy giáo có tiếng nghiêm khắc như thầy tôi. Thành ra trên đường có bao nhiêu cái vui của ngày tết mà tôi chả thiết gì. Tranh gà, tranh lợn, tố nữ, đu xuân. Lại có chỗ trẻ con đá bóng. Chiếc bọng đái của con lợn tết phơi khô thổi hơi vào căng cứng, chân chạm đến nẩy câng câng. Tôi cũng chả thiết!

Tôi đi thật chậm nhưng rồi cũng đã đến cổng nhà thầy. Đã mấy lần giơ bàn tay nhỏ bé định đập nên đó nhưng cả mấy lần tôi đều rụt lại. Sợ quá. ước gì có ai đó ra mở cổng. Tôi sẽ dúi vào tay cái khối nặng nề này rồi ù té chạy đi. Nhưng chờ mãi chả thấy. Chỉ thấy còn cách là quay về. Rồi muốn ra sao thì ra!

Đường về, tôi đếm từng bước một. Đã đến quán nước bà Ngải, một bà lão sống mỗi một mình từ hồi nào. A! phải rồi! Tôi rẽ vào quán, đặt vội lên đôi bàn tay nhăn nheo run run của bà gói quà tết:

-Thầy u cháu....

-Bà lặng người đi. Cái miệng móm mấp máy:

- Đa tạ ông bà...

- Xong việc, tôi về đến nhà, mặc dù tự trấn an: "Thấy giáo thì thiếu gì quà tết" nhưng vẫn cứ thấy bứt rứt. Tâm trạng của người vừa phạm tội, vừa không. Bố tôi không nhận ra điều ấy nên đã reo lên khi thấy tôi về

- Thằng này giỏi! Tết thầy một mình!

Bố tôi càng khen, tôi lại càng nơm nớp chờ đợi...

Ngày mồng một, điều ấy không đến, may sao!

Ngày mồng hai, lạy trời, cũng thế. Nhưng...

Vừa mới sáng bảnh mắt, bà cụ Ngải đã xồng xộc bước vào nhà, miệng rối rít:

- Năm mới kính chúc ông bà làm ăn phát đạt bằng năm bằng mười năm ngoái...

Tôi chạy tọt vào buồng. Tim thắt lại. Bà ơi, bà đừng nói cái chuyện hôm trước bà nhé.

- Sau nữa xin cảm ơn ông bà có lòng nghĩ tới kẻ nghèo hèn như tôi. Cặp bánh ông bà cho, nó không phải bằng gạo, bằng thịt đâu, bằng vàng đấy ạ!

Tôi tái người, chỉ còn biết ngồi sụp xuống chờ ăn đòn. Quả không sai, bố tôi nghiêm mặt nhìn tôi sau lúc bà Ngải về:

- Vậy là thế nào?

Tôi nghĩ ngay được câu biến báo:

- Dạ, thầy con nhận rồi sai con tết lại bà...

- Thật không?

- Thật ạ!

- Được rồi, để tao xem lại!

Bố tôi rất ghét nói dối, xưa nay đã nói là ông làm, tôi chỉ còn biết cầu mong bố tôi quên việc đến gặp thầy. Mà rồi sau đó bố tôi quên thật. Có lẽ nhờ mải mê lau chùi những món đồ thờ. Bố tôi đã vừa làm vừa đọc lên những câu đối tiếu lâm làm cả nhà cùng cười. Tôi tạm yên dạ.

Ngoài sân bỗng vang lên tiếng chào. Tôi giật mình nhìn ra và tái mặt. Thầy tôi. Trời ơi, làm sao thầy lại đến nhà tôi vào giữa lúc này!

Tôi nhảy tọt vào buồng run còn hơn buổi sáng. Tôi nghe thầy nói:

- Có hộp mứt đến mừng tuổi ông bà. Cũng là cảm ơn ông bà đã cho bánh tết. Gớm, bánh gói khéo quá. Vừa chặt tay lại vừa đẹp.

Tôi không tin ở lỗ tai của mình, vội lẻn ra khỏi buồng, chạy thẳng một mạch tới quán bà Ngải. Trên mảnh gỗ lâu nay vẫn được làm bàn thờ tổ tiên của bà vẫn là cặp bánh chưng nhà tôi lại thêm hộp mứt giống hệt cái hộp thầy vừa mừng tuổi bố mẹ tôi. Chẳng để tôi kịp hỏi bà Ngải đã a lên:

- Cậu. Bữa cho quà, cậu bỏ quên lá thơ. Lão nhờ người đọc mới biết thơ thầy u cậu gửi cho ông giáo. Lão vội đưa tới ông giáo ngay, nhân dịp biếu ông giáo chục cam. Cảm ơn ông giáo dạy học trò biết nhớ đến người nghèo. Ông giáo nhận thơ lại còn cho mứt. Quý hoá quá!

Vậy là còn lá thư trong gói quà tết tôi nào biết. Nhưng tôi biết, thầy tôi đã đọc thư, đã rõ hết chuyện, đã đỡ đòn cho tôi. Nếu không, phải ăn đòn ngày tết thì giông cả năm. Có khi cả đời.

Nguyễn Khoa Đăng

Mùa Cuối - Lương Minh Giang

 Mùa Cuối...















- Lụa!

- Dạ! Thưa thầy cho gọi con.

- Con ngồi xuống đây… ta có chuyện dạy.

- Con xin nghe.

- Năm nay con đã đôi tám rồi nhỉ?… Có lẽ… à…

- Thưa… thầy có điều gì phiền muộn khó nói?

- À… chẳng là cái tiếng thị phi. Con đã lớn… nay ở trong chùa không tiện… ta cũng thật có lỗi với con… nhưng…

Lụa nước mắt lưng tròng nghẹn ngào:

- Thầy ơi! Thiên hạ nghĩ sao mặc họ chỉ xin thầy thương lấy con!

Sư thầy Đạo Liên lặng lẽ thở dài, trở bước. Bóng Lụa gục đổ theo ánh sáng ngọn đèn dầu.

Đêm ấy cả sư thầy và Lụa cùng không ngủ được. Qua tấm vách Lụa khẽ thở dài khi nghe tiếng thầy trở mình khó nhọc. Chưa tới ngũ tuần nhưng thầy dường như đã quá già. Ngoài trời bắt đầu gió lạnh mang theo cái hơi nồng nồng, ngai ngái. Cơn mưa đầu hạ ập xuống. Sấm chớp ì ùng. Đâu đó trong không gian man mát thoảng mùi hương rất khẽ.

Từ sáng sớm, Lụa đã chèo chiếc thuyền lá ra giữa đầm Chùa hái những bông Sen đầu tiên của Hạ. Hương Sen thơm nhẹ cứ vấn vít quấn vào tóc cô gái đương xuân. Sau đêm mưa cả đầm xanh lá, giờ lác đác vài bông hoa trắng… thật nhẹ, thật thanh khiết. Lụa biết ngay mà… “Sen đầu mùa dâng lên Tam Bảo í hẳn thầy sẽ vừa lòng”. Nghĩ vậy Lụa cười khẽ một mình rồi chèo thuyền vào bờ.

- Thưa thầy! Con đã dâng Bạch Liên lên Tam Bảo. Mời thầy lên khóa lễ!

- Đã có Sen rồi sao?… Đêm qua mưa, hẳn nào…

- Dạ… Con xin phép thầy, gạo, muối, củi, dầu trong chùa đã cạn.

- Ừ! Con đi chóng về chả thầy lại lo…

Những điều người đời nói đâu phải Lụa không hay. Cô biết cả. Nếu giờ đây cô ra đi, để giữ tiếng cho thầy cũng được thôi… nhưng biết đi đâu. Về đâu? Một đứa trẻ mồ côi. À không! Phải nói là bị bỏ rơi mới đúng. Chùa Vân Phan là mái ấm, là gia đình, và thầy Đạo Liên là người thân duy nhất của Lụa. Nhưng tránh sao khỏi điều tiếng thế gian…

Nhanh chóng tìm đủ những thứ cần thiết, Lụa rời khỏi phiên chợ làng uể oải. Cô muốn nhanh thoát khỏi những ánh mắt kim châm những thì thào rờn rợn… nhưng thói đời bia miệng ngàn năm…

Về đến cổng chùa, Lụa đứng lại kéo vạt áo lên lau khô nước mắt, hít một hơi thật sâu rồi mới đẩy cửa bước vào.

- Thưa thầy… chuyện tối hôm qua… xin thầy cho con ở lại đây… đến cuối mùa Sen con sẽ xin đi.

Chùa Vân Phan nhỏ và rêu phong. Cái tên Vân Phan tự đã có từ lâu lắm. Chỉ hay rằng chùa nằm ở rìa làng Vân Du. Nơi mà người ta thường gọi là ngôi làng cổ tích. Bởi chưng bốn mùa Xuân-Hạ-Thu-Đông, đều có một lớp sương khói vấn vít vương. Và những mảnh đời nơi đây dường như cũng mong manh, mơ hồ tựa khói. Muốn vào đến làng Vân Du thì phải ngang qua một con sông nhỏ. Trên bãi bồi ẩn hiện có một ông lão cổ lai hy cắm sào con đò nơi quãng sông phủ đầy sương khói, ngồi đợi khách sang sông. Lúc vãn khách, cụ đò thường gác chèo vào chùa trong đàm đạo cùng sư thầy. Thầy Đạo Liên kính cụ, bởi thầy biết cụ không chỉ là một ông lão chèo đò, mà còn là một kẻ sĩ thông tuệ mọi lẽ ở đời. Cũng chính nhờ cụ mà Lụa mới được sống tới ngày hôm nay.

Năm đó… chừng tiết hạ, Sen đã nở khắp. Cụ đò ngang sông đưa khách vào làng, thuyền tới giữa dòng chợt khói sóng tản ra, một chiếc nôi tĩnh lặng không dập dềnh theo con sóng lăn tăn mà cứ đứng im bất động trước mũi thuyền như chờ tay cụ vớt. Bên trong nôi là một hài nhi hồng hào nằm gọn giữa vuông lụa trắng có thêu điểm những đóa sen. Đứa bé gái chợt cất tiếng khóc khi được cụ nhấc ra khỏi chiếc nôi. Tiếng khóc của nó vang lên nhưng không lẫn vào khói sóng mà nó cứ vang mãi, vang mãi… Dường như cụ đò biết rõ Lụa là con cháu nhà nào! Nhưng mỗi lần cô gượng hỏi, cụ chỉ cười mà rằng: “Chuyện xưa như phù sa lắng dưới đáy sông, con khơi lại mà chi”.

Lụa cứ lớn dần và nỗi niềm vương vấn kia ngày càng nhỏ lại. Giờ đây cô như bông Sen đang tỏa hương, khi tuổi vừa đôi tám. Ở cạnh thầy Đạo Liên, Lụa được sống trong đạo pháp. Bởi vậy mà Lụa khác những cô gái cùng trang lứa trong làng. Không những Lụa đẹp, mà vẻ đẹp của cô còn toát lên một cái gì đó sáng lắm, trong lắm.

Cả làng Vân Du duy chỉ có đôi tay Lụa mới ướp được thứ trà Sen đặc biệt. Cứ mỗi mùa Sen, cả làng ướp trà mang bán. Trà đầm làng chỉ bán được cho những người mua buôn. Còn đầm Chùa thì thường có một ít khách quen từ tỉnh thành về thăm trà. Trà Vân Phan có vị thanh và hương man mát, thoang thoảng vấn vít trong khói hương nơi cảnh chùa tĩnh lặng, siêu thoát của loại trà mang hồn, mang đạo.

Trong những người tìm đến thăm trà có họa sĩ Phan là bạn của thầy Liên khi thầy còn bôn ba bể đời. Cậu Phan kém thầy chục tuổi, nhưng do trọng đức, trọng tài nhau mà kết thân bằng hữu cho tới nay.

Mùa năm nay, Sen như thơm hơn, ngọt hơn. Lụa đang chờ đợi, chờ một điều gì đó mà lòng mình cũng chẳng biết… Chừng nửa tuần trăng, Sen đã trắng nửa đầm, thầy trò Lụa nhanh tay bận rộn hơn. Sáng nay con chim nhỏ đậu trước cổng chùa hót “Khách”, Lụa ra đầm mà lòng cứ xốn xang. Hái chừng vài chục Sen, thấy trước cổng chùa khẽ lao xao tiếng người bạch thầy, Lụa vội bơi thuyền vào bờ. Như đã nhìn thấy dáng Lụa, người ấy bước nhanh ra phía bờ đầm:

- Tôi về rồi đây!

- Cậu Phan! Sao giờ cậu mới về?

- Tôi vẫn đúng hẹn, giờ đang giữa mùa Sen.

- Em… và thầy cứ mong cậu mãi. Cậu về đợt này, tốt rồi… em muốn thưa cùng đôi câu chuyện.

Trao cho Phan bó Sen còn ướt sương mai, Lụa đón lấy chiếc ô và cặp da. Hai người bước vào cửa thiền.

- Thầy biết không! Mỗi lần về đây, được sống giữa hương Sen, tôi dường như thấy được chính mình.

- Cậu ạ! Ông đò đã nói với tôi rằng: “Gió đồng rửa mặt tha hương, ta về quê chữa vết thương giang hồ”. Lúc này, khi tâm hồn cậu còn lành lặn thì hãy cứ về vui với hoa, cũng như tôi vui cùng kinh kệ.

- Thưa thầy! Đã bao lần về đây, trong lòng mang một tâm nguyện mà chưa thỏa. Lúc buổi tinh khôi, tôi gặp cô Lụa giữa đầm chùa đẹp quá! Tôi muốn xin phép thầy cho tôi họa lại bức tranh, may chăng nắm bắt được nét đẹp tạo hóa.

Trăng đêm mênh mang, trầm bổng. Giữa đầm chùa, Lụa sáng lung linh. Ánh bạc của trăng rằm đổ tràn lên tóc, lên bờ vai, lên khuôn ngực của thiếu nữ. Thứ ánh sáng ấy khiến các đường cong trên cơ thể Lụa mềm mại hơn, rõ nét hơn và cũng huyền ảo hơn, làm cho làn hơi thở sau nếp yếm đào bồi hồi hơn. Thứ ánh sáng ấy bao bọc Lụa, bủa vây Lụa, cả người cô rực sáng một vẻ đẹp hoàn mỹ, thánh thiện nhưng cũng vô cùng mong manh.

Đáng ra vẽ Lụa vào buổi sớm mai, nay gặp khoảnh khắc này, Phan vẽ thật nhanh. Cây cọ của anh lướt trên tấm toan. Phan muốn thu trọn vào trong thanh của mình: Sự huyền ảo của trăng, cái mênh mang của đêm, khói sương vấn vít, hương Sen ảo ảnh, nhưng đặc biệt hơn, cái Phan cần chính là đây, là cái yếu ớt, mong manh tựa một làn khói mỏng toát ra từ phong thái của Lụa.

Ánh mắt họ nhìn nhau. Sự giao cảm dễ làm con người ta hiểu nhau hơn.

- Lụa ơi! Tôi đã tìm thấy rồi.

- Cậu tìm thấy gì nào?

- Tôi tìm thấy em. Một làn khói giữa nơi bình yên đến ngọt ngào này.

- Em chỉ là sương khói mỏng manh thôi sao?

- Có, em còn một đóa Sen đẹp và vô cùng bí ẩn.

- Thôi, em xin cậu! Cậu đừng phân tích em bằng ánh mắt ấy nữa.

Họ là hai tâm hồn đang cùng nhau vẽ nên bức họa đồng điệu. Phan muốn được chạm vào để cảm thấy chúng nhưng… Anh đưa Lụa tấm áo cánh.

- Em mặc vào kẻo sương đêm.

- Cậu vẽ xong rồi sao?

Vừa cài khuy áo, Lụa cố nhoài người ra phía Phan để xem bức tranh. Nhưng anh đã nhanh tay phủ lên đó một vuông lụa trắng ngà.

Phan chèo thuyền nhẹ gần lại một khóm Sen cao chừng một thước. Lụa nhoai người lên giũ trong hoa ra những cánh trà nhỏ. Những cánh trà thơm ngát hương cứ óng ánh trên đôi bàn tay cô.

Và nhiều đêm như vậy họ ở bên nhau, giữa khói sương, trăng đêm, hương trà Sen và… Tình yêu.

Mùa này, thầy Đạo Liên như thư tâm hơn để chuyên kinh kệ bởi đã có Phan cùng Lụa quản hoa, quản trà. Nhưng chợt có những lúc, thấy họ bên nhau… Phải chăng thầy đã sai lầm? Đêm nào cũng vậy, tới giờ Sửu mà chưa thấy họ lai quy là thầy lại lên gác chuông gióng ba hồi gọi.

Lại một đêm rằm nữa nhưng đây là đêm cuối cùng… Phan hiểu rằng anh sẽ không còn được thấy Lụa lung linh sáng trong mắt, như lúc này đây. Nét vẽ cuối cùng cũng đã hoàn tất. Bức tranh bừng lên trong đêm u tịch. Một đóa Sen nhỏ nhoi, mong manh, lặng lẽ, rực sáng bạc buồn.

- Tôi đã vẽ hồn em…

- Cậu…

- Tôi yêu em nhưng tôi sợ tình yêu của tôi sẽ làm em tan vỡ như làn khói mỏng.

- Không! Xin cậu hãy mang em đi thật xa khỏi cái lớp dày đặc sương này, đi khỏi cái nơi mà em muốn xé rách, đạp vỡ để được thở này.

- Tôi sợ… khi ra khỏi làng Vân Du, em sẽ tan biến và giấc mộng cổ tích của tôi sẽ…

Thế rồi trăng trốn vào mây. Họ đã đến với nhau như sương đêm ủ nồng Sen nụ… Quá Sửu, từ phía chùa vẳng lại ba hồi chuông của Đạo Liên thầy, nhưng dường như khói quyện dày đặc đã cản tiếng gọi ấy vang xa…

Sáng sớm hôm sau, Phan xuôi đò rời làng. Lụa ở lại như Sen tàn cuối vụ. Mà cũng chỉ mươi tuần nữa Sen tàn thật và khi ấy Lụa sẽ phải ra đi. Những ngày này, thầy cố thu xếp cho Lụa hành trang thật chu đáo nhưng cô thì cứ như để lạc mất hồn. Thầy Đạo Liên thấy thần sắc Lụa bất an, xem mạch tượng thì hay cô đã mang thai…

- Lụa con! Thầy có ít trà ngon muốn con mang biếu cậu Phan thay thầy…

- Dạ… con xin đi.

Vài ba bữa sau Lụa dần dà đỡ bệnh, bèn sắm sửa lên tỉnh. Chẳng hiểu thầy gửi gì trong gói lá Sen bọc trà ấy mà Phan đã không gặp Lụa. Anh chỉ sai người làm trao cho cô bức tranh dạo ấy. Lụa trở về làng Vân Du như đang đi tìm giấc mộng xa xăm nào đó.

… Đủ chín tháng mười ngày, cũng vào một đêm rằm, thầy Đạo Liên chèo thuyền đưa Lụa ra giữa đầm Chùa. Dưới trăng, trong mây thầy đón ra một cành Sen trắng… trắng lung linh trong đêm.

Được hơn tuần, Phan về như đã hẹn cùng thầy. Nhưng cổng chùa khóa chặt. Chỉ có một đứa hài nhi đang o oe khóc bên bờ đầm. Phan bế đứa trẻ được bọc trong vuông lụa trắng có thêu những bông sen nhỏ, xuôi đò rời làng Vân Du.

… Cậu ơi! Sao chẳng bao giờ cậu kể về mợ cho con nghe?

- Thụy Miên… Con có hiểu là gì không?

- Thưa! Là tên của con.

- Phải… Mợ đã sinh con ra ở một nơi mà giờ đây khi nhớ về nó chỉ là một giấc Thụy Miên-giấc mộng miên man hư vô không bao giờ trở lại.

Năm nay, tiết Hạ không nóng gắt. Cả làng Vân Du lại nhộn nhịp vào vụ trà Sen. Hôm ấy, có cô khách trên tỉnh về cứ hỏi thăm cụ đò cho kỳ được về trà Vân Phan.

- Bạch thầy! Con là tiểu nữ của cậu Phan trên tỉnh, xin về thăm trà.

Thầy Đạo Liên ngước nhìn cô gái chợt bất thần gọi: Lụa… Từ trong chùa bước ra một ni cô, trên tay cầm gói trà Sen ướp hương và bức tranh hoa Sen kỳ lạ trao cho cô gái.

- Đây là trà hương đã mười tám năm nay ủ đợi. Xin tín nữ hãy mang về để cửa thiền tĩnh lặng!

Qua mấy mùa Sen, người con gái ấy có trở lại bến sông để xuôi dòng tới làng Vân Du thăm trà nhưng hỏi ngư dân cụ đò đâu thì không ai biết. Và cũng chẳng còn ai hay làng Vân Du ở quãng nào trên sông.

Lương Minh Giang

 

 

 

Monday, August 31, 2026

Cái Địa Chỉ Tình - Thuyên Huy

 

Cái Địa Chỉ Tình




 

     Chiều thứ bảy, trời và phố xá Sài Gòn vẫn vậy, cũng hai ba cơn mưa bất chợt, vội đến rồi vội đi, cũng người đuổi chân người, ngựa xe rộn rịp ngược xuôi, có quen có lạ trên vĩa hè rộng thênh thang hai bên đường, đường lên đường xuống.

    Anh ngồi đó, ngay cái bàn thấp của tiệm kem Mai Hương, ngã tư, ngó qua rạp chiếu bóng Casino quen, không thấy người chờ vào xem, vắng, đủ cho cô gái bán vé che miệng ngáp dài thoải mái, một cặp tình nhân còn rất trẻ nắm tay nhau, lắc lư theo nhịp chân đi, ngang qua, nhìn vào cười, anh cũng nhìn ra cười đáp lễ nhưng không biết cái cười của vui hay của buồn.

*

    Anh cứ ngồi đó, đọc cái địa chỉ trên tấm giấy nhỏ màu xanh lá mạ, rồi ngó ra đường chờ, đường vẫn đông người quần là áo lụa, muôn màu muôn sắc, không phải là chờ ai, mà dường như là chờ để bỏ đi. Tấm giấy cất trong bóp, từ tay của người con gái tiếp viên Air Viet Nam vừa quen đưa, có cái tên ngồ ngộ “Ly Cơ”, trên chuyến bay giữa trưa từ Đà Lạt về Sài Gòn, hôm anh về nhà nghỉ vài ngày phép.

    Chuyến bay vắng khách, anh không khỏe cho lắm vì mấy ngày bị cảm lạnh, chưa quen với mưa rừng gió núi của trời cao nguyên, anh được cô nàng săn sóc tận tình, đủ thứ, thuốc men nước uống, ngồi ghế trống bên cạnh, hai ba cô khác cũng rảnh rổi, đi qua đi lại, mớ hành khách lác đác ghế này ghế kia, không ai kêu ai gọi, liếc mắt cười che miệng, anh và cô hỏi thăm nhau vài chuyện, chuyện mình chuyện người rồi quen nhau, quen nhau không chờ không đợi.

*

    Máy bay đáp, Ly Cơ theo tiễn anh ra tới đường, ở đó cũng như anh, cô nàng trao tấm giấymàu xanh lá mạ nhỏ, hẹn gặp lại mà không hứa là bao giờ. Ngồi trên taxi, nhìn lại sau, chuyến xe của hảng hàng không đưa đón nhân viên, phi hành đoàn vừa tới chờ, anh ngẫn ngơ, hồn tưởng chừng như ở lại trên chuyến bay, chuyến bay không hẹn “người ơi gặp gỡ làm chi”.

*

   Cũng còn may, ngày phép không nhiều, muốn kịp về tỉnh nhà ngay hôm nay, tới bến xe, xuống taxi, chiếc xe đò chót chưa chạy, anh cười môt mình, đã có nhiều khách chờ, người đứng người ngồi, đồ đạc ngổn ngang, nghe anh lơ nói còn lâu, chừng hơn một tiếng nữa mới chạy, anh bỏ vào cái quán bán cơm cuối bến, ngồi nhìn ra đường, trời nắng hơn, ăn dĩa cơm xế trưa cho chắc bụng. Chiếc xe xích lô không khách, người chạy xe già, ngáp dài, chân đạp bước rời bước rã. Chiều Sài Gòn còn nắng.

*

    Về nhà, không vội không vàng, thấy ba má vẫn mạnh lành như trước, tuy tóc già đã có chút hoa râm, cũng chuyện này chuyện nọ, chuyện đời chuyện tình, cứ vậy mà cũng chưa đủ cho hai ngày nghĩ phép. Rồi anh trở xuống Sài gòn, hẹn ba má về lại lần sau. Ông bà cũng đưa anh ra đường chờ xe như những lần trước, gởi theo anh nụ cười tươi trọn vẹn, nụ cười từ ngày anh còn học trường tỉnh vẫn vậy cho tới bây giờ.

*

    Nắng dịu hơn, trời đứng gió, rạp chiếu bóng đông người trở lại, anh đứng dậy, quyết định bỏ đi, nhẩm đọc thầm địa chỉ trên tờ giấy, phải tới đó vì ngày mai sẽ trở ra chỗ làm, cho dù có được việc như mình thầm mong hay không.

    Đứng chờ đèn xanh đỏ qua đường, nghe có tiếng gọi mẹ dễ thương, anh quay lại sau, tay dắt con bé độ ba bốn tuổi, đứng khựng lại, người con gái ngẩn đầu lên, ngạc nhiên, tròn mắt, cả hai cùng gọi tên, bổng dưng trời Sài Gòn chợt mát. Ly Cơ chỉ về hướng bải giữ xe phía quốc hội, cho biết tính lấy xe chở con bé tới tìm anh, còn anh cũng chờ băng qua đường đón taxi tới nhà cô nàng.

*

    Hai người lớn nắm tay con bé đi hai bên, không ai nói gì hết mà cũng không biết phải nói gi đây, chỉ nhìn nhau cười, cái cười bắt đầu cho một câu chuyện, câu chuyện từ một cái địa chỉ, anh thì thầm, hy vọng không phải là một câu chuyện buồn. Chuông thánh lễ chiều nhà thờ Đức Bà vừa chầm chậm lên, đôi chim hoang bên nhau ríu rít, lăng tăng theo sau, nắng chiều buông nhè nhẹ hồng xuống cả một khoảng sân rộng. Sài Gòn vui lây.

Thuyên Huy

Để tặng một người tiếp viên hàng không Air VN có thật và một chuyện tình không có thật

Hai Mưa Nắng - Khuyết Danh

 

Hai Mưa Nắng




 

Người ta gọi ông Hai Tường với cái tên là Hai Mưa Nắng, không phải vì tánh tình ông dễ dàng thay đổi… sáng nắng chiều mưa mà do ông có biệt tài xem thiên văn để đoán thời tiết.
Mười bốn tuổi, mồ côi cha mẹ, Hai Tường rời làng quê Tân Trụ tha phương cầu thực tận đất Thủ Dầu Một, Bình Dương. Ở đây, Hai Tường vào làm công cho một lò gốm. Công việc của Hai Tường là nhào đất mang sản phẩm ra phơi hoặc đem vào lò nung. Công việc tuy có phần nặng nhọc nhưng Hai Tường không hề than van, vì có cơm ngày hai buổi đã là điều đáng mừng.
Lò gốm Thiên Sanh, nơi Hai Tường làm, ngoài lao động phổ thông còn có thợ đốt lò, thợ vẽ gốm và đặc biệt là cái nghề nhìn trời để đoán nắng mưa. Thời đó, đâu có đài khí tượng thủy sản thông báo nắng mưa cho người dân biết nên đối với một lò gốm thì ông thầy đoán nắng mưa luôn giữ một vai trò cực kỳ quan trọng. Vì thế, ông thầy chỉ suốt ngày uống trà, thỉnh thoảng chắp tay sau lưng ra sân ngước mặt nhìn trời rồi nói như phán truyền:
– Lát nữa sẽ có mưa, bảo mọi người mau đem đồ gốm vào!
Nếu không nghe lời ông thầy, khi mưa không kịp dọn những món đang phơi vào, kể như bao nhiêu công lao nhào nắn sẽ trở thành đất nhão. Ông thầy mưa nắng của lò gốm Thiên Sanh gốc người ở đảo Hải Nam bên Tàu. Ông thầy nói tiếng Việt khá rành nhưng giọng còn trọ trẹ. Thấy Hai Tường là một thiếu niên hiền lành và chịu khó, ông thầy có lòng thương. Một buổi chiều, cơm nước, tắm rửa xong xuôi, ông thầy nói với Hai Tường:
– Ta không vợ không con, nghề nghiệp rồi đây chắc sẽ thất truyền. Nếu con bằng lòng, ta sẽ truyền nghề cho.
Mừng còn hơn lượm được vàng bạc, Hai Tường lính quýnh quỳ xuống lạy ông Tàu già ba lạy, tôn làm sư phụ. Những lúc Hai Tường rỗi rảnh, ông Tàu già thường kéo anh ra gốc khế sau nhà để truyền nghề. Có lần ông nói:
-Nghề bói nắng mưa, ngoài con mắt nhìn trời còn phải biết tận dụng hết tất cả các giác quan. Lỗ tai phải nghe gió thổi, mũi hít mùi không khí, da nghe ấm lạnh. Tóm lại, phải biết hòa nhập tinh thần và thể chất vào thiên nhiên. Tự thân với thiên nhiên là một, vũ trụ với ta là một để hiểu sự biến đổi của đất trời.
Hai Tường ngồi nghe sư phụ giảng như vịt nghe sấm, ngơ ngác chẳng hiểu gì. Ông thầy không nói lý thuyết nữa mà chuyển qua thực hành. Ông chỉ cho Hai Tường nhìn mây cao, mây thấp, mây xuất hiện ở phương hướng nào. Thế nào là gió “rao rao” và gió “hiu hiu” lẫn gió “tạt mặt”. Mùi vị của không khí “khét”, “nồng”, “chua” hay “thơm”. Nhiệt độ qua da người mát lạnh, nóng hay nực, mỗi thứ cộng lại phân tích sẽ biết khi nào nắng, khi nào mưa; mưa bao lâu và nắng kéo dài nhiều hay ít.
Thoạt đầu ông thầy cho Hai Tường đoán thử, tất nhiên Hai Tường thường đoán sai. Ông chỉ cho Hai Tường chỗ nào sai, tận tâm như tình phụ tử. Một buổi tối, ông Tàu già nói với Hai Tường:
-Bây giờ con đã nắm vững bí quyết của nghề, lại là người có căn cơ nên về sau con sẽ vượt trội hơn ta, ta tin chắc như vậy!
Trong một lần thân mật, Hai Tường hỏi sư phụ tại sao lại bỏ quê hương qua Việt Nam sinh sống. Ông Tàu già trầm ngâm một lúc rồi nói:
-Ta tên thật là Triệu Bá Hoằng. Dòng họ ta nổi tiếng nhiều đời về nghề xem thiên văn. Năm bằng tuổi con, ta yêu con gái một chủ lò gốm và nàng cũng yêu ta, nhưng ông chủ lò gốm lại muốn gả nàng cho chàng trai họ Phù. Họ Phù cũng là một dòng họ nổi tiếng về tài bói mưa nắng của đảo Hải Nam. Cuối cùng, để cưới được con gái chủ lò, ta phải chấp nhận tranh tài cùng người con trai ấy.
Ngừng lại một chút, ông Tàu già thở dài, kể tiếp:
-Cuộc tranh tài ngoài chuyện tình yêu còn có một chuyện tối quan trọng khác đó là danh dự của hai dòng họ Phù và Triệu. Gần đến ngày tranh tài, ta phải chay tịnh cả tháng, tắm gội nước thơm, sưởi hương trầm. Đối với những người sống với nghề bói nắng, mưa thì việc đoán ngày giờ nào mưa là việc dễ dàng, mưa kéo dài trong bao lâu cũng là điều không khó. Nhưng để đoán lượng mưa nhiều hay ít thì quả là việc không dễ chút nào. Đúng ngày giờ tranh tài, sau khi nhìn trời, ngắm mây, ngửi gió… để đoán giờ sẽ mưa, ta và người thanh niên họ Phù phải vạch một vạch sơn vào trong lòng một cái tô kiểu rồi đem cái tô đó đặt giữa trời. Nếu lượng nước mưa ngập đến vạch sơn của người nào, thì người đó sẽ thắng. Ta vạch mức ở giữa thành tô, còn người thanh niên họ Phù vạch trên ta một đốt ngón tay, có nghĩa là lượng mưa sẽ nhiều hơn ta đoán.
Trời chuyển dông, mưa bắt đầu rớt hột. Cái tô kiểu đặt giữa trời nước càng lúc càng dâng lên. Đến chừng lượng nước mưa lên đến vạch sơn ở giữa thì trời dứt hột. Như vậy là ta thắng. Giữa lúc ta khấp khởi vui mừng thì đột nhiên gió đổi hướng, một cụm mây nhỏ từ phương Bắc bỗng nhiên bay tới với tốc độ không ngờ, cụm mây lớn dần ở nơi tranh tài và bắt đầu rớt hột. Một lúc sau, mưa tạnh hẳn, nước trong tô dâng lên đúng vạch sơn của chàng thanh niên họ Phù.
Vậy là ta đã thua! Ta đau đớn vì người mình yêu đã về tay người khác. Nhưng càng đau đớn nhất là danh dự dòng họ Triệu từ nay đã mất vì một đứa con bất tài như ta. Buồn rầu và xấu hổ, ta từ bỏ quê hương, từ bỏ đảo Hải Nam vượt biển qua đây, trôi nổi về sống ở đất Bình Dương này.
Ba ngày sau, từ lúc kể câu chuyện đời mình, trước khi mất, ông Tàu già nói với Hai Tường:
-Ta mong con hãy xem ta như người cha thứ hai. Ngoài họ Nguyễn, con còn có thêm họ Triệu. Nếu thương ta, vì ta, con hãy hứa!
Hai Tường nức nở gật đầu, khe khẽ kêu lên “tía ơi!”. Vậy là ông Tàu già qua đời. Lạ một điều là khi mất, một con mắt của ông nhắm và một con mắt mở trừng trừng. Người hiểu chuyện cho rằng, con mắt nhắm vì từ nay ông đã có người kế nghiệp, riêng một con mắt mở trừng trừng vì món nợ danh dự với giòng họ Phù, ông chưa có dịp trả xong.
Thắm thoát thời gian, Hai Mưa Nắng khá già. Ông trở về quê, sống ở xóm Xẻo Bần thuộc huyện Tân Trụ, truyền nghề bói nắng mưa cho con trai là Ba Đảm. Rồi Ba Đảm truyền cho con trai là Út Thân.
Khi Út Thân bắt đầu hành nghề bói nắng mưa thì nghề đó không còn được các lò gốm ưa chuộng nữa, không phải vì đài khí tượng thủy văn báo chính xác mà vì máy móc kỹ thuật hiện đại khiến các sản phẩm mộc của gốm không còn phải đem ra sân phơi, chỉ cần đem sấy là xong.
Thất nghiệp, Út Thân cháu nội của ông Hai Mưa Nắng trôi dạt về vùng Xóm Củi. Ngày ngày, vào mùa mưa, Út Thân ra đứng trên cầu Nhị Thiên Đường bắc ngang kinh Tàu Hủ nhìn trời cá độ nắng mưa. Nhờ vốn gia truyền, Út Thân đánh đâu thắng đó, túi tiền luôn luôn rủng rỉnh.
Biết thằng cháu nội đem nghề tổ truyền ra đánh bạc, ông Hai Mưa Nắng buồn lắm, ông nhắn Út Thân về khuyên răn:
– Cháu à! Nghề bói nắng mưa là nghề giúp đời làm ra vật dụng cần thiết cho cuộc sống, không thể đem nghề tổ truyền ra đánh đố với đỏ đen!
Thằng cháu nội nhe răng cười, bỏ đi không nói tiếng nào, nó tiếp tục ngửa mặt nhìn trời nơi cầu Nhị Thiên Đường để kiếm tiền.
Một hôm, Út Thân về gặp ông nội với khuôn mặt thất thần:
-Nhất định ông nội phải giúp con, ông nội à! Mấy tháng nay con thua liểng xiểng, cá đâu thua đó!
Ông Hai Mưa Nắng lắc đầu:
-Đáng đời! Ai biểu đem tổ nghiệp vào vòng cá độ?
Út Thân nhăn nhó:
-Mấy năm nay con không có đối thủ. Lần này gặp phải đối thủ quá dữ, nó từ bên Tàu sang đây!
Nghe nói từ bên Tàu, ông Hai Tường vội hỏi:
-Bên Tàu, mà ở tỉnh nào?
– Không phải tỉnh mà là đảo. Đảo Hải Nam!
Giật nẩy người, ông Hai Tường hấp tấp hỏi:
– Mầy biết thằng đó họ gì không?
Út Thân không trả lời, nói qua chuyện khác:
– Ông giúp con giấu mặt chỉ huy đi ông nội. Của cải, nhà cửa của con sau những ngày đoán mưa nắng, lớp cầm, lớp bán hết rồi!
Ông Hai Tường không quan tâm lời nó, nhắc lại:
-Tao hỏi mầy… thằng đó họ gì ?
Nhìn vẻ mặt khẩn trương của ông nội, Út Thân nói như phản xạ:
-Da, họ Phù… Phù Khắc Hồng!
Ông Hai Tường ngồi im lặng như pho tượng, lát sau nói nhỏ nhưng rành rọt:
-Được rồi! Mầy thách đấu lần nữa đi! Tao giấu mặt chỉ huy. Nhưng mầy phải hứa với tao là sẽ không bao giờ cá độ nắng mưa nữa, phải kiếm việc làm ăn chân chính như người ta.
Mừng quá, Út Thân đáp ngay:
– Cám ơn ông! Con hứa!
Đến ngày giờ cá độ, một cái tô được đem ra đặt ở sân một quán cà phê ở gần cầu Nhị Thiên Đường. Dân cá mưa ngồi gần như chật kín cả quán, hồi hộp theo dõi. Út Thân đưa mắt nhìn ông nội. Ông Hai kín đáo đưa sống bàn tay lên ngang bụng. Nhận được ám hiệu Út Thân bước ra sân lấy sơn đỏ vạch khoảng giữa cái tô. Tới lượt Phù Khắc Hồng, gã vênh váo nhìn trời rồi vạch cao hơn dấu sơn của Út Thân một ngón tay.
Trời vần vũ và đổ mưa, nước trong tô lên cao dần, sắp đến vạch sơn của Út Thân mà trời chưa có dấu hiệu gì sắp dứt mưa. Thua là cái chắc, Út Thân lo lắng liếc mắt nhìn ông nội nhưng ông Hai Tường vẫn thản nhiên như không.
Giữa lúc không khí đang căng thẳng thì bỗng dưng trời trở gió. Một luồng gió từ phương Nam thổi tới như cơn bão. Đám mây đen trên đầu bị thổi dạt qua phương Bắc, thoáng chốc mưa tạnh hẳn. Mực nước trong tô xấp xỉ mức vạch của Út Thân. Út Thân nhảy cuống lên như một thằng điên. Ông Hai Tường đứng dậy, không nói không rằng chụp cái nón nỉ lên mái tóc bạc phơ, rồi chậm rãi bước ra khỏi quán.
Ba ngày sau của lần đoán mưa kể trên, ông Hai Tường qua đời. Hai con mắt của ông cũng vẫn một con nhắm, một con mở. Người hiểu chuyện cho rằng con mắt nhắm vì mối thù xưa của thầy ông đã trả, còn con mắt mở vì thằng cháu nội đích tôn vẫn còn đem nghề nghiệp tổ vào cuộc đỏ đen.

Khuyết Danh