Câu đối tả cây trúc trong phòng ngủ ông tổng thống
Đâu từ hồi 2008, có kẻ đồn là trong
phòng riêng Tổng thống Ngô Đình Diệm có treo câu đối khảm trai như vầy:
Lê Vĩnh Húy
未出土時先有節 Vị xuất
thổ thời tiên hữu tiết
到崚雲處也虚心 Đáo lăng
vân xứ dã hư tâm
Nghĩa
là: Chưa trồi khỏi đất thì đã có lóng (chữ “Tiết” ở đây vừa có nghĩa là lóng
tre lóng trúc, vừa là tiết tháo người quân tử); [Chừng lớn lên] cao tới tầng
mây rồi mà lòng vẫn rỗng không.
Câu
đối nầy độc đáo ở chỗ không có chữ “Trúc” nào, mà vẫn khiến người đọc nhận ra
rõ là tả trúc.
Tổng
thống Ngô Đình Diệm vốn tâm đắc hình tượng cây trúc. Từ lá cờ cho tới dấu triện,
mộc, thậm chí trên đồng tiền thời ông cũng có hình trúc. Có lẽ bởi đó người ta
đồn ra vậy chăng?
Đồn
thì đồn, có điều ai cũng cho đó là câu đối, trong khi thật ra nó là cặp Thừa đề
trong bài thơ “Vịnh trúc” của Từ Đình Quân đời Tống.
Ngộ
hơn nữa là một tiến sĩ Hán Nôm còn đi xa hơn, khẳng định luôn đây là câu đối của
“Diệp Công Siêu 葉公紹 (1904-1981), nhà ngoại giao, nhà văn, thư họa
gia”[1].
*
* *
Trước
khi vô bài thơ “Vịnh trúc”, xin thông cảm tật dài dòng, cho tôi nói qua về thể
Vịnh. Các thi nhân cả ta lẫn Tàu thời xưa đều có thói quen mượn cảnh tả tình,
nên Vịnh là thể loại được ưa chuộng. Loại này xuất hiện đâu từ thời Tiên Tần,
phát triển vào đời Hán, tới đời Đường thì định hình với nguyên tắc hẳn hoi: muốn
vịnh gì thì vịnh (vịnh cảnh, vịnh vật, vịnh người, vịnh sử…) tùy ý, nhưng không
được gọi thẳng tên thứ mình vịnh.
Thí
dụ:
VỊNH
CHÓ ĐỰC
Ấy
là giống thú sủa gâu gâu
Tuy
nhiên hổng phải là con trâu
Khi
nằm với vợ thì y… đứng
Suốt
đời không ăn một miếng trầu!
Bài
này chỉ cà rỡn, nhưng “độc” ở câu luận, gài chữ “nằm” thành ra nghĩa “ăn nằm”,
rồi từ đó dẫn tới tư thế nọ của con chó ở cuối câu; chừng kết bài thì té ra chửi
xỏ mấy kẻ hổng biết ăn trầu!
Kiểu
chỉ chó mắng mèo này, hồi Pháp thuộc ở ta rất thịnh hành, tiêu biểu là bài nầy
(cũng khuyết danh):
VỊNH
GHẺ NGỨA
Khốn
nạn mày ơi, tớ lạy mày!
Sao
mày lẩn quất mãi chi đây?
Trước
còn ăn ruỗng lần da mỏng,
Sau
lại dùi vô thớ thịt dày.
Sâu
trắng đục ngầm không kẻ biết,
Nước
vàng chảy mãi có ai hay.
Mấy
phen thuốc đắng mà chưa khỏi,
Sớm
liệu thì đâu đến nỗi này…
Tuyệt
không có chữ ghẻ nào, lại thần tình ở bốn chữ “sâu trắng nước vàng” gợi liên tưởng
tới thực dân đang đục khoét nước Nam.
Phan
Văn Trị cũng có bài vịnh sau đây, ý tứ bóng bảy, châm biếm nhẹ nhàng mà thấm
thía:
VỊNH
CON CUA
Trên
đời có mấy mặt đi ngang,
Ỷ
lớn chơn tay có một chàng.
Lõ
mắt không phân người phải quấy,
Giơ
càng chẳng lựa đứa ngay gian.
Đưa
mình theo nước hiềm không ruột,
Lột
vỏ già đời chẳng thấy gan.
Gặp
lúc tối trời thì kể chắc,
Nghe
hơi có động rút vô hang.
“Hiềm
không ruột”, “chẳng thấy gan” rõ là tả con cua, mà không chỉ mắng con cua.
Qua
đó thì biết: hễ vịnh chó thì chẳng những không được nhắc tới chữ “chó”, mà mấy
chữ “cẩu”, “khuyển” hoặc “cầy” cũng cấm. Tương tự, muốn vịnh… thủ tướng cũng được,
nhưng cấm dùng mấy chữ “Phúc, Chính, Đam” vân vân. Hễ phạm lỗi này coi như non
tay, nhớ nha!
*
* *
Trở
lại bài Vịnh trúc.
Trong
Toàn Đường Thi có hơn 6.300 bài thuộc loại Vịnh. Riêng vịnh trúc thì trải các đời
có cả thẩy 12 bài, trong số đó, bài của Từ Đình Quân được xếp hàng đầu.
Từ
Đình Quân 徐庭筠 (1095-1179), tự Quý Tiết 季節.
Lúc trẻ đi thi, gặp đề ra biểu ca tụng nhà Tống trung hưng. Quân ngứa máu làm
bài văn móc họng, nói là triều đình đời nay có gì mà ca tụng, nên bị đuổi khỏi
trường thi. Từ đó, Quân đấm đách làm quan, vô núi ở ẩn với cha là Từ Trung
Hành. Thơ ông để lại chỉ mỗi bài này.
《詠竹》 VỊNH TRÚC
不論台閣與山林 Bất luân đài các
dữ sơn lâm
愛爾豈惟千畝陰 Ái nhĩ khởi duy
thiên mẫu âm
未出土時先有節 Vị xuất thổ thời
tiên hữu tiết
便淩雲去也無心 Tiện lăng vân khứ
dã vô tâm
葛陂始與龍俱化 Cát Pha thủy dữ
long câu hóa
嶰穀聊同鳳一吟 Giải Cốc liêu đồng
phụng nhất ngâm
月朗風清良夜永 Nguyệt lãng
phong thanh lương dạ vĩnh
可憐王子獨知音 Khả lân vương tử
độc tri âm
Bài
nầy có nhiều điển tích ít gặp, tạm dịch nghĩa:
Cho
dù ở nơi lầu gác hay rừng núi; Riêng chỉ yêu bóng ngươi rợp mênh mông.
Chưa
nứt đất trồi lên đã sẵn tiết tháo (chính trực); Chừng ngọn quét tầng mây vẫn bọng
ruột (“vô tâm” vì trúc bọng ruột, lòng trống không; lòng trống không nên công bằng,
không thiên vị ai).
Từ
ngọn roi mà từng hóa thành rồng (Cát Pha là tên riêng của loại trúc Long Tu, có
thể dùng làm khí giới. Cặp roi giúp tướng Uất Trì Cung đời Tùy Đường thành
danh, cũng như con ngựa trúc trong “thanh mai trúc mã” của Lý Bạch chính làm từ
loại trúc này. Hóa thành rồng là tích trong “Thần tiên truyện” của Cát Hồng
[283-343] đời Tấn, kể chuyện Phí Trường Phòng theo Hồ Công tu tiên, khi Phòng
nhớ nhà muốn về thăm thì Hồ Công cho cây trúc, biểu cỡi lên đó. Cây trúc liền
hóa thành rồng xanh đưa Phí Trường Phong bay lướt ngàn dặm).
Khoét
ống tiêu mà gọi chim phụng (tích trong Hán thư, Huỳnh Đế dùng trúc ở Giải Cốc
phía bắc núi Côn Luân khoét thành ống tiêu, khi thổi lên thì có phụng hoàng tới
chầu hầu).
Khiến
cho bóng đêm luôn yên lành trăng trong gió mát; Tiếc là chỉ có vương tử nọ biết
tri âm (Vương tử tức Tiêu Tử Hãn, con của Tề Võ đế Tiêu Trách. Hãn tài gồm thao
lược, từng làm Thái thú Bành Thành, Thứ sử Duyện Châu, Hữu vệ Tướng quân. Về
sau, Tiêu Loan soán ngôi phải giết ngay Tiêu Tử Hãn. Tương truyền khi mẹ bệnh nặng,
Hãn chặt cành trúc chế làm đèn để thức canh chăm nom. Sáng ra cắm cành trúc đó
ngoài vườn thì nó đâm tược nẩy chồi sum suê, mẹ Hãn thấy vậy vui mừng mà lành bệnh)[2].
Toàn
bài không có chữ Trúc nào, nhưng câu nào cũng tả trúc. Lời lẽ đã thanh nhã,
hình tượng lại sinh động, tỏ ra được khí khái hào sảng, tình cảm dồi dào.
*
* *
Nhắc
lại, bài viết này chỉ là góp chút hiểu biết về xuất xứ “câu đối” nọ. Còn nó có
được treo trong phòng Tổng thống Ngô Đình Diệm hay không, thiệt tôi hổng biết.
_________
[1]
Hổng có ai tên “Diệp Công Siêu 葉公紹” như Ngô Đức Thọ mô tả hết. Ngộ hơn nữa là Thọ
lại đọc chữ Thiệu 紹 thành “Siêu”.
Tôi
cho là Thọ đã lộn “Diệp Công Siêu” đó với Diệp Thánh Đào 葉聖陶
(1894-1988), nhà thư pháp và nhà giáo dục của Trung cộng. Người này vốn tên là
Diệp Thiệu Quân 葉紹鈞, tự Bỉnh Thần 秉臣, quê ở Giang Tô,
là thầy giáo trung học. Năm 1914 bị mất dạy, nên bắt đầu viết văn. Chừng Trung
cộng nắm quyền thì Diệp Thiệu Quân được trọng dụng, làm tới chức Thứ trưởng
Giáo dục. Quân chuyên viết sách giáo khoa. Có thể nói hầu hết những người hiện
đã thành niên ở Hoa lục đều từng học sách giáo khoa do Quân soạn. Vì vậy khi nhắc
tên ông, họ đệm thêm chữ “Công” 公 để tỏ tôn kính, thành “Diệp công Thiệu Quân” 葉公紹鈞.
Phó
giáo sư Ngô Đức Thọ chính là ngắt ba chữ “Diệp công Thiệu” từ tôn hiệu đó ra,
nhưng lại đọc Thiệu thành “Siêu”. Đã vậy còn khoe mình có bức tranh trúc của Diệp
Công Siêu, báo hại tôi dò tìm muốn nổ con mắt cũng chớ ra.
Diệp
Thiệu Quân là nhà thư pháp có thể nói thuộc hàng đầu Hoa lục, nhưng cũng không
có bức vẽ trúc nào.
Nhân
tiện nói thêm, trước đó bên Tàu, trong nhà trường, môn Văn vẫn được gọi là môn
“Quốc ngữ” hoặc “Quốc văn”. Năm 1949, cách mạng thành công, Quân được Cộng đảng
giao soạn sách giáo khoa, bèn nảy ra sáng kiến hay quá, là ghép hai danh từ “Quốc
ngữ” và “Quốc văn” lại, đẻ ra tên mới cho môn Văn là “Ngữ văn”. Ai đó ở Việt
Nam có thù với môn “Ngữ văn” thì biết nên lôi ai ra chửi chó mắng mèo rồi ha!
[2]
Bài này chép trong Quyển 22, Tống thi Thập di 宋詩拾遺 do Trần Thế Long
陳世隆
đời Nguyên soạn.
Lê
Vĩnh Húy
304Đen
– llttm - sgtc

No comments:
Post a Comment