Chuyện Không Đề Giữa Tháng Ba Cuối Tháng Tư
Viết cho đám bạn cũ, khi đọc chuyện có thể thấy có mình là
người trong đó không chừng.
Một
Đêm tháng Ba, người nối tiếp người, xe nối
tiếp xe, lầm lũi, lẳng lặng đi, dài không khác gì một con rắn khổng lồ, giữa
trời đêm hun hút của núi rừng cao nguyên buốt lạnh. Quá giữa khuya, liên tỉnh
lộ 7, anh bớt ga, chậm chiếc xe Jeep, chất đầy ba lô, quân trang quân dụng lại,
vừa qua đèo Chu Sê.
Bên lề đường, ở một khúc người thưa, đứt
đoạn, dưới bóng trăng đêm lờ mờ, vằng vặt, thằng con trai nhỏ, chừng sáu bảy
tuổi, tóc hớt cua, quần sà lỏn đen, áo thun rách mất một bên tay, quảy trên vai
khúc cây khô, treo đầu trước đôi dép xanh dương đậm cũ, đầu sau cái túi ni lông
đựng gì đó nằng nặng, lầm lũi một mình ngó xuống đường, đôi chân trần, khẳng
khiu gầy, bước từng bước chậm theo dòng người đi trước.
Nó cứ lầm lũi đi, không ngó lại, thấy
thương, anh lái xe chậm theo sau một khoảng, người gồng gánh, níu kéo nhau qua
ngang, cũng như nó, không ai màng cứ nhìn ra đường, phía trước. Cứ như vậy một
lúc, lái xe nhanh lên khúc trên chừng trăm thước, chắc chắn là nó chỉ đi một
mình, nhưng tại sao chỉ có một mình, anh ngừng xe tấp vào cùng bên lề, sát vào
mé mương bìa rừng, ngồi chờ. Đoàn xe chở đầy người, đầy đồ đạc vẫn cố tỉnh ngủ
đi qua.
Trăng vẫn màu trăng như từ đầu hôm, anh dắt
thằng nhỏ tới ngồi bên anh ngay đầu chiếc xe Jeep, nó khư khư ôm khúc cây khô,
đôi dép và cái túi ni lông, nhìn kỹ, trong đó có hai ba nửa cũ khoai mì, khoai
lang nguội, khô khốc. Anh hỏi tên, nó lắc đầu, rồi òa lên khóc sướt mướt, anh
không cầm được nước mắt.
Cha mẹ nó chết vì bị loạt đạn pháo Bắc quân
bắn theo tại ngã ba Mỹ Thạnh, chổ ngả rẽ vào liên tỉnh lộ 7, đoàn người di tản
từ Pleiku xuống, hoảng loạn, túa chạy, mạnh ai nấy lo thân, thằng nhỏ cũng chạy
theo, lạc giữa rừng người, người tiếp tục tụ tập lại đi, nó cũng đi, đi hoài,
không biết đường trở lại. Cha mẹ nó nằm lại đó.
Chở thằng nhỏ theo, hết ngày rồi đêm, theo
đoàn người, cuối cùng, cũng như cả hàng trăm chiếc xe khác, xe nhà binh, xe tư
nhân, xe gắn máy đủ lại, xe của anh không còn xăng, máy không còn nổ, bỏ xe,
anh vừa dắt vừa cõng thằng nhỏ, đã ho từng cơn từ lâu, một lớn một nhỏ cứ vậy
mà tiếp tục nhập vào rừng người đi.
Qua Phú Túc, tan hoang, gần tới cầu Cà Lúi,
trong bóng đêm, lại cũng một đêm trăng vằng vặt, trong số hàng trăm xác người
chết nằm dọc hai bên đường, một đoạn dài, không biết vì đạn pháo hay đạn súng
của Bắc quân, có lẽ nằm đó cũng đã mấy ngày, xác một người lớn ôm thằng con
trai nhỏ, chừng sáu bảy tuổi trên ngực, tóc hớt cua, tay còn ôm đôi dép màu
xanh dương đậm cũ, nằm chết, có mùi hôi, một nửa trên lề đường một nửa dưới bờ
ruộng khô cằn màu bùn pha máu đỏ.
Hai
Anh đẩy chiếc xe xích lô, mướn của ai
đó, vào dưới gốc cây lớn nghỉ mệt, chiếc xe mà nhờ nó anh còn có được chút miếng
ăn, chút nước uống đủ sống hơn mấy tháng nay, từ những ngày được thả ra sau mấy
năm tù, kể từ ngày miền Nam thua cuộc, anh kéo cái nón vải cũ rách vài lỗ,
không lớn lắm, còn che được nhúm tóc lưa thưa sạm nắng xuống, mồ hôi xuống
theo, ngồi trong lòng xe nhìn vào bên chợ, vắng người đi, nắng sắp ngã màu về chiều, người con gái
bán hoa, ngay ngõ đường ra đầu chợ, anh đã thấy nhiều lần khi chở khách đến
đây, tay lật tới lật lui hết bó này tới bó kia, hoa còn màu nhưng không thấy
người mua, ngồi nhìn trời, thở dài mệt mỏi, anh cũng như cô cũng thở dài mệt mỏi,
đường về đêm nay không biết đường của ai dài hơn ai, chắc cũng não nuột ngõ sâu
hun hút.
Hôm nay, cũng buổi
tàn chợ chiều, có chút tiền dư, chắc cũng đủ trả hơn là mua vào buổi sáng, anh
nghĩ vậy, trên đường về trả xe, nghỉ sớm vì cảm thấy không khỏe, ghé ngang qua
mua bó hoa, hoa nào cũng được, sáng mai, nghỉ một buổi, vào nghĩa trang thăm mộ
thằng bạn thân, thằng lính, không cha không mẹ, giờ thứ hai mươi lăm năm đó, nhất
định chết chứ không chịu bó tay, ngày giỗ của nó.
Chưa biết và ngại
cũng chưa hỏi giá, anh nhìn qua nhìn lại, người con gái bán hoa, khá đẹp, nhưng
nét mặt thoáng chút u buồn, tóc dài đen huyền như màu mắt, áo bà ba xanh thiên
thanh, cũ nhưng còn nét người xưa, người của ngày thành phố chưa mất tên, chừng
trên hai mươi, thấy anh chần chừ, lên tiếng hỏi, anh thật tình nói, cô nhoẻn miệng
cười, lựa cho anh bó hoa còn tươi nhất trong số những bó khác, héo rũ chờ bỏ
quên đâu đó, không nhận tiền trả, anh ngồi xuống, cám ơn, chợ thưa người, hai
người hỏi nhau qua lại, vài ba anh bộ đội gầy guộc, khệ nệ rau củ trên tay,
ngang qua nhìn đăm đăm.
Cô, con gái duy nhất
của một người sĩ quan Sư Đoàn 5 Bộ Binh, chết trận, mẹ bỏ đi không thấy về, học
tới lớp 12, bỏ lại với ngoại mấy năm nay, bị đuổi ra khỏi nhà ở cư xá Bắc Hải,
hai bà cháu dắt díu nhau về sống với bà dì tu tại gia dưới miệt Cây Da Xà, Phú
Lâm, cô bỏ học, vào đời, tập buôn tập bán, nuôi bà nuôi thân. Câu chuyện có vậy,
rồi họ quen nhau, anh phụ dẹp hàng, đạp xe đưa người con gái về nhà, đèn đêm
chán chường vàng vỏ, đường xa nhưng trên đường trở về, anh thấy con đường bỗng
dưng vui.
Những ngày sau đó,
đi về, chiếc xích lô của anh, lúc nào cũng thấy có một người khách, người con
gái và những bó hoa tươi đủ màu rực rỡ ra chợ sớm và không về muộn như trước và
cũng từ đó, hoa đua nhau không còn ủ dột như xưa.
Thuyên Huy
Tháng Tư nhớ- viết lại chuyện cũ
No comments:
Post a Comment