“DỄ THƯƠNG DỄ SỢ”, CÂU NÓI CỬA MIỆNG CỦA DÂN SÀI GÒN.
Nguyễn Thị Hậu
304Đen - Llttm
“DỄ THƯƠNG DỄ SỢ”, CÂU NÓI CỬA MIỆNG CỦA DÂN SÀI GÒN.
Nguyễn Thị Hậu
304Đen - Llttm
GỬI THỜI MƯỜI SÁU
Khi tôi về nơi đó có còn không
Có còn tuổi
tròn trăng em mười sáu?
Con đường cũ
nắng vương đầy vai áo
Khóm hoa vàng
ngơ ngẩn đợi chờ ai?
Tóc thơ ngây
đường rẽ thắt nơ cài
Thơm sách vở
học trò ơi nhớ quá!
Bên cửa lớp
có ai ngồi rất lạ
Chút mưa
chiều lóng ngóng rớt ngoài sân
Đứng nơi đây
hồi hộp biết bao lần
Nghe vương
vấn buộc chân chiều tan học
Góc trời xưa
một thời vang tiếng guốc
Gõ rộn ràng
nhịp đập trái tim đau
Phố trở mùa
nên lá phố xanh xao
Buồn nhốt kín
trong quán nghèo cửa khép
Đêm lấp ló
tủi thân hàng bông điệp
Tội cho trời
hốc hác gió mùa qua
Ánh đèn chao
nghiêng bóng trước hiên nhà
Treo trước
cổng mối tình non chết yểu
Khi tôi về
giấc mơ buồn lắc lẻo
Vầng trăng
thời mười sáu có còn không?
Trần Văn Nghĩa
CHIỀU
NAY CÓ MỘT LOÀI HOA VỠ…
Chỉ trong vòng chưa đến 40 năm, những bản tình
ca Việt đã có những thay đổi vun vút. Nay nhìn lại để thấy những gì mình đã
trải qua, đã cùng vui buồn đớn đau, và để tiếc nuối những gì không bao giờ còn
trở lại. Trong biết bao câu hát mênh mang trí tuệ, triết lý của tình yêu, của
cuộc đời, tôi chợt chỉ nhớ được một câu “Chiều nay có một loài hoa vỡ bên
trời”.
Nguyễn Văn Đạo
Khi chiến cuộc trong thập niên 60 – 70 lan
tràn, xã hội cũng biến đổi và biến động theo nhịp súng, dòng nhạc tình Việt Nam
cũng thay đổi. Nhịp sống xã hội ngày càng nhanh lên, vội vã lên, tình yêu cũng
cấp bách lên, không còn nhiều thời gian để mơ mộng, không còn “thuở làm thơ yêu
em” nữa. “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ”[1] của
Xuân Diệu ngày trước nay chỉ đáng là … đi dạo! Tình ca bây giờ được viết theo
thể “trực khởi”, vào đầu đã chốt ngay tình yêu của ANH và Em rồi. Nếu mới hôm
qua còn phải ví von
Anh về với em như chim liền cánh như cây liền
cành
(Anh Về Với Em – Trần Thiện Thanh)
Hay
Không bao giờ giữa mùa hè tuyết rơi
(Không Bao Giờ Ngăn Cách – Trần Thiện Thanh)
Thì nay là
Ngày nào anh yêu em
Anh đã quên trong cay đắng tuyệt vời
Và còn can đảm hơn
Xưa hôn em một lần
Rồi đau thương tràn lấp
(Mùa Đông Của Anh – Trần Thiện Thanh)
Tình yêu cũng phải tăng tốc lên, và thế là Y
Vân với “Lòng Mẹ” tha thiết và dịu dàng bao nhiêu, lại cuồng loạn lên với 60
Năm:
Em ơi có bao nhiêu
60 năm cuộc đời
(60 Năm – Y Vân)
Và đòi xóa cả ngăn cách về tuổi tác
Khi anh 20, em mới sinh ra đời
Ngày anh 40, em mới vừa 20
(20 40 – Y Vân)
Ngậm ngùi thay, số phận của Y Vân đã được định
với bài hát của ông, khi ông ra đi vào đúng năm thứ 60 của cuộc đời!
Đến giai đoạn này, tình yêu thậm chí chỉ trở
thành một nhu cầu chứ không còn chút gì lãng mạn nữa.
Tôi ở miền xa trời quen đất lạ
Nhiều đông lắm hạ
Nối tiếp đi qua
Thiếu bóng đàn bà
(Kẻ Ở Miền Xa – Trúc Phương 1968)
Từ giữa thập niên 60 trở đi, âm nhạc miền Nam
nở rộ và chia ra nhiều nhánh, trong đó có tình ca (muôn thuở), phản chiến ca
(như Ca Khúc Da Vàng – TCS), du ca, dân ca … với những anh tài nở rộ như trăm
hoa đua nở dưới sức nóng của chiến tranh, của thân phận nhược tiểu, của nỗi
buồn chia xa.
Những tình khúc trong đau đớn của Ngô Thụy
Miên, Lê Uyên Phương, Phạm Duy, Vũ Thành An … đã kêu lên những tiếng kêu của
tình yêu trong cơn hồng thủy lạc loài, trong vô nghĩa của cuộc chiến
Từ Ngô Thụy Miên với tình yêu thơ mộng ngày
đầu
Và em có mơ khi mùa thu tới
Hai chúng ta sẽ cùng chung lối
Em với anh mơ mùa thu ấy tình ta ngát hương
(Mùa Thu Cho Em – Ngô Thụy Miên 1969)
Sau đó đã trở thành tình yêu trong khắc khoải
và đòi hỏi của xác thịt
Cho tôi xin em như gối mộng
Cho tôi ôm em vào lòng
Xin cho một lần
Cho đêm mặn nồng
Yêu thương vợ chồng
(Niệm Khúc Cuối – Ngô Thụy Miên)
Cho đến chàng thi sĩ lãng đãng khói trời mênh
mông Trịnh Công Sơn, ngày nào còn không dám ngỏ lời với người em gái và chỉ
biết chờ đợi
Chiều nay còn mưa sao em không lại
Nhỡ mai trong cơn đau vùi
Làm sao có nhau, hằn lên nỗi đau
Bước chân em xin về mau
(Diễm Xưa – Trịnh Công Sơn)
Mà bây giờ cũng đã phải tăng tốc
Ta mang cho em một đóa quỳnh
Quỳnh thơm hay môi em thơm
Em mang cho ta một chút tình
Miệng cười khúc khích trên lưng
(Quỳnh Hương – Trịnh Công Sơn)
Rồi đến Lê Uyên Phương thì tình yêu trở nên quằn quại, đau đớn như một thú đau
thương, hay hơn nữa, như những loài thú yêu nhau khi phải chia xa. Dù vẫn bắt
đầu từ tình yêu lãng mạn của hiện sinh còn mang chút dấu ấn của điển tích
Dù gương xưa không được lau [2]
Soi lấy bóng mối duyên sầu
(Tình Khúc Cho Em – Lê Uyên Phương)
Nhưng đến
Hãy ngồi xuống đây như loài thú hoang yêu nhau
ngoài đồng
Dưới nắng ban mai phô thân trần truồng kiếp sống hoang sơ
(Hãy Ngồi Xuống Đây – Lê Uyên Phương)
Là cả một sự phản kháng phẫn nộ với xã hội.
Phạm Duy cũng từ những tình khúc cổ điển
Ngày đó có em đi nhẹ vào đời
Và đem theo trăng sao đến với lời thơ nuối
(Ngày Đó Chúng Mình – Phạm Duy)
Đến tình yêu man dại trong Phượng Yêu
Yêu người song chết được ngày mai
Yêu như loài ma quái
Đi theo ai cuối chân trời
Đi không ngơi kêu gào
Làm sao tránh được tình yêu
(Phượng Yêu – Phạm Duy)
Và rồi càng ma mị hơn nữa trong
Yêu tinh tình nữ đi tìm người yêu
Kêu vang lời hú trong chiều tịch liêu
Yêu tinh mặt trắng như vôi
Ôi sâu thẳm mắt em soi
Không gian ma quái của loài người
(Yêu Tinh Tình Nữ – Phạm Duy)
Rồi đến những nhạc sĩ trẻ như Tùng Giang với
những cảm xúc hiện sinh của một thanh niên trong cơn lũ của xã hội chiến tranh,
không còn thời gian để làm quen, để nhớ nhung hay để tỏ tình nữa
Phút đầu gặp em tinh tú quay cuồng
Lòng đang giá băng bỗng ngập tràn muôn tia nắng
Nghe bao xót xa vụt bay theo cánh chim ngàn
Dừng bước nơi này chỉ còn em với anh
(Biết Đến Thuở Nào – Tùng Giang)
Có thể nói, giai đoạn bùng nổ những ca khúc
hiện sinh này mang tính “Việt Nam hóa”, vì triết lý hiện sinh của thanh niên
Việt Nam thời kỳ đó thật ra mang tính chắp vá, giao thoa giữa triết lý hiện
sinh của thế giới và cuộc sống hiện sinh không biết/ không có ngày mai của tuổi
trẻ trong cuộc chiến. Không xa xôi, rối rắm trong chữ nghĩa như Sartre, như Camus,
mà là sống hết mình, yêu hết mình trong hôm nay, trong hiện tại, vì chắc gì còn
có ngày mai. Như Lê Uyên Phương, ngồi bên nhau, yêu nhau mà như lần cuối bên
nhau, vì ngày mai không còn nhìn thấy nhau nữa. Trong lúc đang ngồi bên nhau đã
cảm thấy sự chia phôi đang đến.
Giờ này còn nhìn nhau, nhìn đắm đuối như suối
bền
Nhìn suốt kiếp như chết mòn, nhìn hấp hối thương đau
Ngày mai ta không còn thấy nhau.
(Cho Lần Cuối – Lê Uyên Phương)
Vì biết sẽ có ngày nhìn thấy nhau
Mắt môi lạnh mất rồi .
Khóc thay người
(Yêu Nhau Trong Phận Người – Lê Uyên Phương)
Nhẹ nhàng hơn như Quốc Dũng
Buổi sáng hôm nay giờ triết lý thật buồn
Giờ anh đưa em đi tìm giây phút lạ thường
Mình có bao lâu rồi sẽ hết một ngày
Hãy cho nhau trọn niềm đắm say.
(Bên Nhau Ngày Vui – Quốc Dũng)
Hay thiết tha như Nguyễn Trung Cang
Thương nhau thật nhiều biết mấy tin yêu
Cho nhau trọn tình dẫu có điêu linh
Xa nhau trọn đời vẫn nhớ thương nhau
(Thương Nhau Ngày Mưa – Nguyễn Trung Cang)
Cũng đều nói lên ý muốn sống hết mình cho ngày
hôm nay, không màng tới ngày mai.
Lê Hựu Hà ban đầu có những sáng tác mang tính
trào lưu hiện sinh và hippy, như bài Tôi Muốn
Tôi muốn mọi người biết thương nhau
Không oán ghét không gây hận sầu
Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau
Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu…
Nhưng rồi cũng rất mau, chuyển thành u uất, bi
quan chán nản
Nước mắt ấy đã lau khô rồi
Đôi môi ấy đã quen tiếng cười
Cuộc tình lỡ đã phai nhạt rồi
Người tình cũ đã xa ta rồi
(Phiên Khúc Mùa Đông – Lê Hựu Hà-Nguyễn Trung Cang)
Cho đến khi Nguyễn Trung Cang phải thốt lên
Mặt trời đen, quá đen, đen như đời ta
Đời hằng mong thoát đi, đi khung trời xa
Cuộc đời như chó hoang lang thang về đêm.
Cuộc tình không mấy khi nghe câu dịu êm.
(Mặt Trời Đen – Nguyễn Trung Cang)
Thì có lẽ không còn gì nữa, không còn gì để
nói nữa!
Mà không còn gì để nói nữa thật, vì càng gần
đến ngày cuối của cuộc chiến, lòng người càng ly tán, xã hội rối bời. Người thì
chỉ cúi đầu nhìn vào cuộc sống hôm nay, không cần đến ngày mai. Người thì mơ
mộng hão huyền với một nền hòa bình trong mơ. Người thì đối diện với cái chết
từng ngày, từng giờ. Nhưng không ai ngờ rằng, tất cả đã chấm dứt đột ngột vào
một ngày tháng Tư. Sau đó, giống như một chiếc máy tính được bấm nút reset, tất
cả đều bị xóa sạch và trở về trạng thái trống rỗng. Toàn bộ kho tàng âm nhạc
của miền Nam nước Việt bị vất vào rổ “văn hóa đồi trụy”, mà ít năm sau được đổi
tên và mang một tên mới là “nhạc vàng”, tức loại nhạc vàng vọt ủy mị, nói theo
các nhà lãnh đạo của cuộc Đại Cách Mạng Văn Hóa Trung Hoa những năm 1960.
Dần dà sau đó bắt đầu có những dòng nhạc mới
xuất hiện tiếp nối từ bên bờ các đại dương. Nhưng với cái cảm quan thiên kiến
của tôi, hình như các nhạc sĩ, các nghệ sĩ khi phải rời khỏi quê hương để sống
kiếp lưu đày trên đất khách, đã không còn những cảm xúc, rung động như ngày
xưa. Có chăng, có lẽ chỉ có bài Riêng Một Góc Trời của Ngô Thụy Miên. Phải
chăng cú sốc khi bị bứng ra khỏi nơi chôn nhau cắt rốn đã khiến họ phải hứng
chịu một cú “reset” trong tâm tưởng.
Tôi lại chợt nhớ đến, trong bộ sưu tập tem của
tôi, bộ tem kỷ niệm “Ngày tỵ nạn thế giới” phát hành năm 1960, trên đó có hình
logo của tổ chức Unesco, bây giờ là UNHCR. Logo có hình một cây sồi bị nhổ bật
gốc rễ, chơ vơ không chạm đất. Ngày đó, đọc sách thấy nói logo có hình “cây mất
rễ”, nhưng nay nhìn lại, tôi thấy đúng ra là “cây mất đất”, vì cây và rễ vẫn
còn nguyên, nhưng đã bị bứng khỏi mặt đất, không còn nơi nương tựa nữa. Rễ sẽ
hút nhựa từ đâu??
Vậy nên, sự quan tâm của tôi với những biến
chuyển trong ca khúc về tình yêu cũng đã có cùng một điểm chấm dứt ở đó. Đừng
ai hỏi tôi về những dòng nhạc sau này, vì sau cú reset đó, cuộc đời đã chuyển
qua một hệ điều hành khác rồi. Và không ai so sánh sự việc dưới hai hệ quy
chiếu khác nhau.
Chỉ trong vòng chưa đến 40 năm, những bản tình
ca Việt đã có những thay đổi vun vút như vậy. Nay nhìn lại để thấy những gì
mình đã trải qua, đã cùng vui buồn đớn đau, và để tiếc nuối những gì không bao
giờ còn trở lại. Trong biết bao câu hát mênh mang trí tuệ, triết lý của tình
yêu, của cuộc đời, tôi chợt chỉ nhớ được một câu
Chiều nay có một loài hoa vỡ bên trời
(Nguyễn văn Đông – Có Một Chiều Xuân)
Có một loài hoa vỡ… Nghe thật lạ, nhưng thật
xúc động. Tác giả không phải thiếu vần, thiếu chữ mà cố tình dùng chữ “vỡ”. Tôi
cũng chẳng cố tìm hiểu xem tại sao hoa vỡ, vỡ như thế nào. Chỉ thấy, như có một
chút gì đã vỡ vụn trong tôi!!
Nguyễn Văn Đạo
304Đen – Llttm- sgct
[1] Mau với chứ, vội vàng lên với chứ
Em, em ơi, tình non đã già rồi – Xuân Diệu (Giục Giã)
[2] Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi – Tự Đức khóc Bằng Phi
(?)
DÒNG SÔNG
ÊM ĐỀM
Tôi là dân Bắc Kỳ 54 di cư vào miền Trung, đến một thành phố rất đẹp ven biển.
Ba tôi dạy học mãi ngoài Huế, nên tôi ở lại thành phố biển với Ông Nội và hai
bà cô để tiện bề học hành và hầu hạ Ông. Tôi coi Ông giống như Cha, nhưng đôi
khi cũng rất buồn, cô đơn và tủi thân. Bởi vì Ông già hơn Cha nhiều và khó gần
gũi. Những lúc như vậy, hầu như tôi chỉ có bé Uyên là người thân thích nhất.
Uyên là “cô bé lọ lem” nhà hàng xóm, nhỏ hơn tôi sáu, bảy
tuổi gì đó. Ba Uyên là quân nhân, luôn vắng nhà. Mẹ Uyên thương tôi như con bà
vậy. Tôi không biết tên bà chỉ biết ai cũng gọi bà là “Cô Ba Nam Kỳ”. Lúc rảnh
rỗi tôi hay lại nhà em chơi. Bé Uyên thường theo tôi đi nhà thờ. Đó là ngôi
thánh đường nhỏ xíu, gần một dòng sông, có những hàng cây keo cao ngất mọc bên
bờ, đầy gai và hoa trắng nõn, dày cơm, ngọt lịm. Chúng tôi hái hoa keo ăn chán
chê, rồi ngồi trên bờ cát nhìn xuống dòng sông nhỏ bé lững lờ trôi, ngắm bày
chim chiền chiện đuổi nhau trên đám cỏ lau kêu ríu rít, quên cả vô nhà thờ cầu
nguyện. Hai đứa chúng tôi sống bên nhau như hai trẻ mồ côi lạc loài. Tất cả
tình thương tôi đều dành cho Uyên, chiều chuộng em như chính em ruột của mình.
Uyên cũng cảm nhận được điều đó nên luôn mè nheo tôi.
– Anh Hai, mấy con chim đó tên là gì dzậy?
– Người ta gọi là chim chiền chiện.
– Ai đặt tên cho nó dzậy?
– Anh hổng biết.
– Chắc má nó đặt tên cho nó phải hông?
– Chắc Ba nó đặt đó, giống như Ba đặt tên cho em dzậy.
– Ừ há.
– Bắt nó cho em đi, anh Hai.
– Nó chạy nhanh lắm, làm sao anh bắt được.
– Cẳng anh dài hơn cẳng nó mà.
– Nhưng nó có cánh.
– Thôi em hổng chơi dzới anh nữa đâu, anh lớn như dzầy mà hổng
bắt được con chim nhỏ xíu đó.
– Để nó sống với ba má, bắt nó làm chi tội nghiệp, lỡ nó nhớ
ba, buồn rồi bịnh chết mất sao.
– Anh Hai ơi, em nhớ Ba quá hà, bữa nào Ba dzìa, em nói Ba dẫn
anh em mình đi ăn cơm gà xiu xiu nghe.
– Ừ phải đấy.
Tôi thấy mắt em đỏ hoe và quên mất chuyện đòi bắt chim
chiền chiện. Tôi ôm em thật chặt, và hôn lên tóc em. Tôi thương em và thương
tôi quá đỗi.
– Ngoan đi, anh còn một đồng đây, anh mua bánh rán cho em ăn
nghe?
– Hổng chịu đâu.
– Chè đậu dzán dzậy?
– Hổng chịu.
– Kẹo kéo nhá, quay số trúng, chịu hông?
Nghe quay số mắt em sáng lên nhưng phụng phịu:
– Em chỉ muốn ăn kẹo bột thôi.
– Kẹo bột là kẹo gì dzậy trời?
– Kẹo đường đen rắc bột trắng đó.
– Trời đất, kẹo đường cứt trâu đó hả?
Em mở to mắt tròn xoe như hai viên bi thủy tinh và gật
đầu lia lịa.
– Mở miệng ra coi, còn mấy cái răng mà đòi ăn kẹo bột. Em có
biết là ăn nhiều đường sẽ bị sún răng không? Con gái mà sún răng trông xấu lắm
mà còn bị bạn “lêu lêu” nữa đó.
– Thiệt hông? Anh xạo, em mét má cho coi.
– Sao hổng thiệt, em sờ dzô thì biết, coi chừng răng sún cắt
đứt tay đó nghen.
Con bé có vẻ sợ thiệt, rơm rớm nước mắt. Tôi phải ôm
Uyên dỗ dành. Có lẽ tôi thương em nhất trên đời. Em ở ngay bên tôi, an ủi tôi,
cần tôi che chở, dẫn dắt, tất cả mọi thứ khác đều quá xa vời.
– Em thấy anh Hai khóc nè!
– Đâu có, cát bay dzô mắt anh đó.
– Anh Hai xạo quá, rõ ràng em thấy tóc em ướt mà.
– Chắc con chim chiền chiện bay ngang nó tè trên đầu em, vì
em đòi bắt nó đó.
Em cười rũ rượi, và đấm trên ngực tôi liên hồi. Chúng
tôi quên hết muộn phiền. Muốn đến nhà thờ phải lội bộ ngang ga xe lửa rồi băng
qua nhiều đồi cát, tôi vừa đi vừa kể chuyện cho Uyên nghe, đó là những chuyện
tôi đọc được trong các trang báo thiếu nhi, hay những truyện nhi đồng như Bạch
Tuyết Và Bẩy Chú Lùn, Cô Bé Lọ Lem, Cô Bé Quàng Khăn Đỏ, Thằng Người Gỗ... Nhiều
khi vừa cõng em vừa kể chuyện, tới lúc cô bé đã ngủ gục trên vai tôi lúc nào
không biết. Mỗi lần đi ngang ga xe lửa, mùi cơm gà xiu xiu từ gánh hàng rong của
chú Ba lại làm bụng hai đứa tôi cồn cào, nước miếng thi nhau chảy ra như mưa
rào. Ôi những miếng thịt gà vàng ngậy, bóng lưỡng nằm trên đĩa cơm nấu bằng nước
gà luộc rồi chiên với mỡ gà. Lần nào đi ngang qua hàng cơm gà Uyên cũng dán mắt
vào đó, chân bước đi không nổi. Tôi chỉ có mỗi ước mơ nhỏ bé, một ngày nào đó sẽ
mua cho Uyên một dĩa cơm gà xiu xiu!
Có lần cô Ba mắc đi sanh em bé, Cô xin phép Nội cho tôi
qua ngủ trông nhà và Uyên cho Cô. Cô phải vào nhà hộ sanh sớm, kẻo tối có chuyện
gì đi không kịp. Tỉnh nhỏ làm gì có phương tiện chuyên chở như bây giờ, đêm hôm
chỉ có nước lội bộ thôi. Tôi dắt Uyên về Nội ăn cơm rồi hai đứa về nhà em ngủ.
Dạo đó, tôi đang học đệ lục (ngang lớp 7 bây giờ), kể cũng đã lớn rồi. Uyên còn
nhỏ lắm. Buổi tối em nhất định đòi tôi ngủ chung giường, Uyên nói:
– Em ngủ một mình sợ lắm, em vẫn ngủ chung với Má.
– Nhưng anh là con trai, em là con gái không ngủ chung được.
– Thế Ba với Má vẫn ngủ chung đó sao.
– Ba với Má thì khác, lớn lên em sẽ hiểu.
– Em thấy khác gì đâu, em hổng chịu đâu.
Giọng Nam Kỳ nhõng nhẽo, mếu máo, khiến tôi không thể
làm phật ý em được. Đợi khi em ngủ say, tôi gỡ tay ra, trải chiếu, ngủ trên thềm
nhà. Buổi sáng khi vừa mở mắt ra, đã thấy em nằm ngủ say sưa bên cạnh. Uyên
ngây thơ và vô tư như thiên thần. Từ ngày có em bé, Uyên không còn được Mẹ chăm
sóc như xưa, em quanh quẩn bên tôi nhiều hơn, buổi tối thường ăn cơm chung với
tôi và đòi chỉ em làm bài tập.
Năm cuối cùng trung học đệ nhất cấp, tôi chuẩn bị đi
Saigon học tiếp. Sẵn có tiền Nội cho, tôi dẫn Uyên đi ăn cơm gà xiu xiu, đó là
bữa ăn ngon nhất trên đời tôi và em được ăn. Dù sau này đi khắp năm châu bốn bể,
tôi cũng không thấy bữa ăn nào ngon như thế.
Lúc tôi lên đại học thì Uyên vừa vào trung học. Mỗi năm cứ vào dịp hè tôi lại
đáp xe lửa về thành phố biển thăm Nội và Uyên. Tôi hay dẫn em leo núi Nhạn hái
trái sim màu tím thẫm ngọt lịm hay trái dú dẻ màu vàng tươi, thơm ngát. Đó là
những ngày hè vui nhất trong đời. Uyên càng lớn càng xinh đẹp hơn, không còn là
cô bé lọ lem ngày nào. Chúng tôi vẫn leo lên mấy đồi cát đi về phía nhà thờ bên
dòng sông thời thơ ấu, nhưng em không còn bắt tôi cõng và cũng không còn đòi ăn
kẹo bột nữa.
Đôi khi chúng tôi ra ngồi ngoài bãi biển yên lặng nhìn
mông lung về phía chân trời, mắt dõi theo những chiếc thuyền lững lờ trôi về
nơi xa xăm. Sự tin yêu và thông cảm đã khiến chúng tôi hiểu lòng nhau mà không
cần phải nói thành lời. Chiến cuộc ngày càng khốc liệt hơn, đời tôi rồi cũng sẽ
như những chiếc thuyền vô định trên biển cả mênh mông kia.
Những năm “học đại” thật vất vả, tôi vừa phải lo kiếm sống vừa phải vùi đầu vào
đống sách vở cao ngất ngưởng, chẳng nên cơm cháo gì, được vài cái chứng chỉ vớ
vẩn, vứt ra đường không ai thèm lượm.
Rồi vụ bom đạn Tết Mậu Thân xảy ra, thời hạn hoãn dịch
vì học vấn không còn hiệu lực nữa. Tôi cầm Lệnh Gọi Nhập Ngũ mà lòng bâng
khuâng khôn tả. Những ngày tháng mơ mộng của tuổi cắp sách đến trường đã chấm dứt.
Cuộc đời tôi đi vào một ngõ rẽ, đầy chông gai, và tương lai thì rất mịt mờ. Tôi
đã 23 tuổi và có đúng một tháng để gói ghém tuổi học trò cất vào ngăn tủ khóa lại
kỹ càng trước khi bước vào quân ngũ.
Tôi trở lại nhà thăm Nội và từ giã Uyên. Em vừa xong
trung học đệ nhất cấp, chuẩn bị lên đệ tam (lớp 10). Uyên đã biết e lệ khi đi
bên tôi, con mắt to đen láy có dáng tôi trong đó. Con đường đi lên đồi cát dẫn
đến dòng sông tuổi nhỏ, chúng tôi đã đi qua biết bao nhiêu lần, nhưng lần này
thật mới, xa lạ, ngập ngừng, e thẹn. Nắng sớm mai trải dài trên những đồi cát,
chỗ sáng chỗ mờ, tạo thành những đợt sóng cát vô tận, như những đợt sóng ngầm
trong lòng hai đứa. Chúng tôi ngồi bên nhau, bên bờ sông dưới hàng keo rậm rạp,
nhìn cặp kỳ nhông đầy màu sắc rượt đuổi nhau trên bãi cát.
– Anh Hai kỳ ghê hà, sao nhìn em hoài dzậy?
– Anh muốn mang bé đi mãi mãi trong tim anh, dù có phiêu bạt
tận chân trời góc biển nào đi nữa.
– Thôi hổng chịu đâu, anh Hai ở lại đây dzới em.
– Hổng được đâu, người ta nhốt anh trong tù thì sao?
– Em sẽ biến thành con muỗi, chui vô thăm anh mỗi ngày, chịu
hông?
– Hổng chịu, muỗi chích đau lắm.
– Em thương anh hổng chích anh đâu mờ.
– Ý trời! Mấy con muỗi cái chích đau dữ lắm đó.
– Thôi làm con kiến dzậy, hổng được, con bươm bướm chịu
hông?
– Chịu, người ta đưa anh lên rừng thì sao bướm bay cho nổi?
– Em sẽ hóa thành con chim bay theo anh.
– Người ta thảy anh xuống biển thì sao?
– Em sẽ hóa thành con cá lội theo anh. Thôi em hổng chơi dzới
anh nữa đâu, tối ngày đòi đi này nọ, hổng chịu ở đây dzới em.
Em thật ngây thơ, chuyện đời đâu phải cứ muốn là được.
Tôi cũng như chiếc lá lênh đênh trên dòng sông dưới kia, trôi hoài trôi mãi, cố
vẫy vùng cũng không thoát khỏi số phận, cho đến ngày chịu nằm yên ngoài biển
khơi. Rồi cũng đến lúc tôi phải ra đi. Bước lên con tàu, nhìn Uyên ở lại sân
ga, trong bộ quần jean áo trắng tôi mới cho em, hai vạt áo chemise cột chéo vào
nhau, trẻ trung hết sức, đang sụt sùi lau mắt. Tiếng còi tàu thét lên, tim tôi
như vỡ ra từng mảnh, con tàu từ từ lăn bánh.
Em ở lại ôm ấp mối tình ngây thơ, còn tôi ra đi mang
theo hình bóng em trên con đường vô định.
Những năm tháng miệt mài với chiến trận, tôi theo đoàn
quân mũ nâu, lội khắp các tỉnh miền Trung rồi lên cao nguyên Kontum, Pleiku,
Ban Mê Thuột, Phú Bổn, Phú Túc, Đức lập, Dakto, Ben Het, Quốc lộ 14, nhiều lắm
kể sao cho hết. Tôi đi đến đâu cũng mang theo bé Uyên trong tim. Em như thiên
thần hộ mệnh, giúp tôi vượt qua bao gian nan, nguy hiểm, cho đến ngày Ban Mê
Thuột thất thủ, tôi trở thành tù binh.
Những năm tháng tù đầy hình ảnh em luôn ở bên cạnh tôi,
có lúc là con muỗi, đậu ngoan ngoãn trên cánh tay tôi, có lúc là con chim hót
líu lo trên cành cây giúp tôi quên đi những bó cây rừng nặng nề trên vai. Có
lúc tôi thẫn thờ thấy em là con bướm đang chập chờn trước mặt, cười cợt, khiến
lòng tôi quên đi bao nhiêu phiền não lo âu. Vâng, em đã giữ đúng lời hứa theo
tôi từng bước chân lưu lạc tù đầy. Tôi gọi tên em khe khẽ trong cơn sốt rét rừng
lạnh run người, rồi nóng bỏng. Tôi thấy em mặc áo trắng toát, đuôi áo xòe ra tận
chân trời. Tôi cầm tay em đi bên dòng sông tuổi nhỏ, những con kỳ nhông sặc sỡ
bu đến bên em, rồi tất cả bay lên khỏi từng mây trong bầu trời nắng chan hòa,
có những đàn chim chiền chiện nâng áo em như thể đang trong ngày cưới, ở một
vùng trời thênh thang, xa hẳn cõi trần thế khổ đau.
Rồi tôi cũng được thả ra khỏi trại tù. Qua bao khó khăn,
trở ngại tìm đường trở lại quê nhà, tôi đau đớn thấy thành phố đã xa lạ, tan
tác. Chú Ba với gánh cơm gà xiu xiu đã phiêu bạt nơi nào. Nội tôi đã qua đời,
cô tôi đã có chồng vẫn còn trong trại tù nào đó tận đâu ngoài Bắc. Căn nhà Uyên
ở nay đã thuộc về người khác. Em ở đâu, gia đình tôi lưu lạc phương nào tôi chẳng
biết. Đúng là cảnh nước mất nhà tan. Thành phố nay đã thay đổi, chẳng nhìn thấy
một nụ cười, phố xá xơ xác điêu tàn.
Tôi tìm về dòng sông tuổi nhỏ, nơi tôi và em đã từng đến
để sưởi ấm tâm hồn. Những con chim chiền chiện vẫn còn đó, những hàng cây keo
cao ngất vẫn còn đây, những con kỳ nhông vẫn vô tư đuổi nhau trên bãi cát. Tôi
tự hỏi đã có bao nhiêu thế hệ chiền chiện bay ở đây? Bao nhiêu lần lá keo thay
đổi, nhưng dòng sông thời thơ ấu vẫn còn y nguyên, như tấm lòng của tôi đối với
Uyên. Nước vẫn lững lờ trôi êm đềm, mang theo cả tuổi thơ của hai đứa tôi đi mất.
Tôi muốn khóc, cho em, cho tôi, cho tất cả những người Việt Nam điêu linh, khốn
khổ vì chiến tranh, vì hận thù. Nước mắt tôi đã cạn khô từ những ngày trong lao
tù tủi nhục. Linh hồn tôi đã bay khỏi địa ngục trần gian, để lại một thân xác
còm cõi, bơ vơ, rã rời.
Sau hai lần vượt biên thất bại, cuối cùng tôi cũng đến
được Pulau Bidong trên con tàu bé tí teo, cùng với mấy chục con ma đói rách rưới,
hôi hám, bẩn thỉu, không còn đủ sức lết ra khỏi thuyền.
Có những đêm không ngủ được, nhớ Uyên, nhớ Nội, nhớ gia
đình Ba Mẹ, bạn bè, chiến hữu đã từng cùng tôi vào sanh ra tử, tôi lần lên đồi
tôn giáo, cầu nguyện. Nhìn xuống đám nhà thuyền nhân dưới kia, những cái được gọi
là nhà đó chỉ là mấy nhánh cây rừng làm cột, lợp tôn mỏng, thùng giấy hoặc lá dừa.
Hàng chục ngàn con tim đang thổn thức trong đó, có những người cố dỗ giấc ngủ
như tôi, có những người đang khóc thầm vì mất vợ, mất chồng, mất con, mất cha mẹ,
anh em. Có những người đang tự trách mình vì đã bỏ rơi bạn bè, chiến hữu trong
lúc thập tử nhất sinh. Họ đang cố gắng quên đi những tủi nhục một đời, tù đày, ức
hiếp, hăm dọa, đánh đập, chiếm đoạt tài sản, rồi bị săn đuổi như một loài thú
hoang, còn chịu nạn hải tặc, cưỡng hiếp... Ngoài biển mênh mông kia, biết bao
nhiêu oan hồn còn vất vưởng vì nỗi oan khiên chưa được giải, chưa biết tỏ cùng
ai, không thể mang xuống tuyền đài. Biết đâu có Uyên trong đó.
Tim tôi quặn đau, nghẹt thở. Tôi cầu xin Trời Phật dù
thế nào cũng dẫn em qua cầu khổ đau, tôi khấn nguyện ơn trên hãy mở tay cứu
giúp các linh hồn còn vất vưởng ngoài biển khơi được về cõi vĩnh hằng. Tôi miên
man nghĩ từng giả thiết về em, đã chết trên đường vượt biên ư? Không, không thể
được, em là Thiên Thần có Chư Thiên phò hộ, không thể chết được. Cũng có thể em
còn ở Việt Nam hay đã đến một trong những trại tỵ nạn nào đó, hoặc biết đâu, đã
đến được bến bờ tự do. Tôi an ủi mình, có thể lắm chứ, em là Thiên Thần mà! Tôi
bị dày vò với bao nhiêu giả thuyết, tôi điên rồi.
Cơn điên cứ miên man như thế trong nhiều giấc mơ, theo
tôi vượt qua biển Đông, về tận quê nhà nơi thành phố biển, leo qua những đồi
cát bên dòng sông tuổi nhỏ. Tôi thấy Uyên và tôi đang đùa giỡn bên nhau, rượt
đuổi mấy con kỳ nhông, hay công kênh em trên vai để hái hoa keo hoặc vờ làm bẫy
để bắt mấy con chim chiền chiện cho em. Tôi nghe tiếng em cười, tiếng em nhõng
nhẽo đòi ăn kẹo bột. Tôi còn nước mắt để khóc không? Nhưng nghe nghèn nghẹn
trong tim rồi rơi vào giấc ngủ mê. Tôi thấy em đang chơi vơi giữa đại dương,
hai tay dơ lên giữa những cơn sóng phủ đầu. Tiếng kêu cứu của em bị át bởi tiếng
gầm gừ của đại dương; “Anh Hai, cứu em, cứu em, cứu em…” Tôi giật mình tỉnh dậy,
mồ hôi vã ra như tắm, đầu hâm hấp nóng. Trời đã khuya, tôi đọc kinh và thầm cầu
nguyện cho em. Bầu trời trong vắt đầy sao, có lẽ em đã là một vì sao lấp lánh
trên kia. Tôi lặng lẽ trở về căn chòi lá mà lòng đầy nghi vấn. Em đang ở đâu?
Còn sống hay đã chết?
Đầu thập niên 80, tôi đặt chân lên đất Mỹ, làm lại cuộc
đời từ con số không. Kể như vẫn còn may mắn. Đời tôi luôn luôn gặp may mắn, tôi
tin như vậy, cho nên tôi vẫn để ý tìm Uyên khắp nơi. Đi dự họp mặt của các hội
đoàn đồng hương, cựu quân nhân, các hội cựu học sinh, sinh viên.
***
Nhiều năm qua đi. Tôi đi học trở lại, ra trường rồi đi làm. Một hôm, theo người
bạn cùng sở bay về California tham dự buổi họp mặt của một Hội Đồng Hương, tôi
đã gặp lại Uyên! Chúng tôi ôm nhau giữa đám đông khóc mùi mẫn, khóc thoải mái,
khóc tự nhiên, khóc thật to cho mọi người cùng khóc. Trong đám đông đồng hương
này có biết bao nhiêu người cũng đã từng khóc như chúng tôi. Khóc để trôi đi
bao điều còn giữ kỹ trong lòng, không nói ra được. Khóc để nói với mọi người rằng
chúng tôi đã tìm thấy báu vật đánh mất bao nhiêu năm trời. Khóc đã đời, chúng
tôi buông nhau ra. Nhìn mặt Uyên son phấn tèm lem như thời bé bỏng nghịch đất
cát, tôi bật cười. Em hỏi sao tôi cười. Tôi nói tôi đã tìm lại được tuổi thơ của
chúng ta, tôi vui lắm. Em muốn kể tôi nghe những gian truân, gia đình tan nát,
đổ vỡ, chết chóc, nhưng tôi không muốn nghe. Tôi tìm thấy em là đủ rồi, những
cái khác hãy quên đi, quên đi, quên đi…
Minh Đạo Nguyễn Thạch Hãn