Sunday, July 2, 2023

Dễ Thương Dễ Sợ, Câu Nói Cửa Miệng Của Dân Sài Gòn - Nguyễn Thị Hậu

 

             “DỄ THƯƠNG DỄ SỢ”, CÂU NÓI CỬA MIỆNG CỦA DÂN SÀI GÒN.




 Không hay ca ngợi bằng những tính từ như đẹp, sang trọng, quý phái… mà người Sài Gòn hay khen ai đó (thường là phụ nữ), một việc làm nào đó là “dễ thương”. Dễ thương, là thấy có cảm tình, quý mến, dễ chịu qua dung nhan, cư xử, hành vi, ngôn ngữ. Phụ nữ ở tuổi nào tầng lớp nào cũng có thể là người “dễ thương”. Thường nghe mấy bạn trai trò chuyện “nhỏ đó dễ thương” khi nói về cô bạn hàng xóm hay cùng lớp, mấy ông hay nói “chị đó, cô đó dễ thương” khi nói về đồng nghiệp, bạn bè… Phụ nữ thượng lưu cũng muốn được khen dễ thương, vì ngoài sự sang trọng còn là sự duyên dáng, ý nhị.

 Nhưng đừng tưởng khen người ta “dễ thương” là có thể “thương dễ”, tán tỉnh sàm sỡ, coi vậy chớ “thương không dễ” đâu nha. Ngược với “dễ thương” là “dễ ghét” hay “thấy ghét” nhưng có khi không phải là “ghét” thiệt!

 Nếu “dễ thương” là… dễ thương thiệt thì “dễ sợ” không hẳn là “sợ”, nhất là khi được các cô gái nói ra với ngữ điệu kéo dài chữ “dễ” và nhấn vào âm “s” của chữ “sợ” thì không có gì… dễ thương bằng. “Dễ sợ” là ngạc nhiên, trầm trồ, khi lại là chê trách, khi là câu trả lời vô thưởng vô phạt khi nghe câu chuyện nào đó. “Dễ sợ” là sự bày tỏ thái độ trước sự việc, hiện tượng, câu chuyện chứ ít dùng với người như một tính từ.

 Vậy nhưng người Sài Gòn lại hay nói ghép thành “dễ thương dễ sợ”! Đó là dễ thương lắm á, đến nỗi không chỉ bày tỏ sự cảm mến mà còn thán phục, ngưỡng mộ. Mà cũng chỉ thấy những nàng trẻ trung duyên dáng được “đánh giá” là dễ thương dễ sợ, chớ có chồng con rồi, nếu được ai khen câu này – nhất là mấy ông chồng – thì chắc là phần “dễ sợ” nhiều hơn.

 Lần đầu nghe thấy hai từ “dễ thương”, “dễ sợ” tôi đã kết ngay. Có lẽ ít có từ nào thể hiện sự hồn hậu của người Sài Gòn phổ biến như thế: là nhẹ nhàng khen ngợi và không nặng nề chê bai… Tuy có phần “cảm tính” nhưng lịch sự, thật lòng, không “khẳng quyết” nên người được khen là “dễ thương” không bối rối hay ngượng ngùng, người hay hành vi “dễ sợ” cũng không buồn, đôi khi còn vui vui vì nhận ra sự “tán thưởng” ngầm trong đó. Ai không đồng tình cũng không cần phản bác, dễ thương hay dễ sợ chỉ hơn bình thường chút thôi, đôi khi là trong một khoảnh khắc một ngữ cảnh nhất định, đâu cần phải tranh cãi. Người Sài Gòn, người miền Tây vẫn cởi mở như thế và từ đó luôn nhận thấy xung quanh có nhiều điều “dễ thương dễ sợ”.

 Như nhiều người đã biết, ngôn ngữ là một trong những thành tố văn hóa quan trọng nhất vì nó là biểu hiện trực quan của thái độ, cảm xúc con người, đời sống xã hội và sắc thái văn hóa địa phương. Cùng với ngữ điệu, ngôn ngữ thể hiện sự phong phú và tinh tế của tình cảm, những mối quan hệ của con người và phần nào cả lịch sử một cộng đồng, nhất là ở những đô thị lớn.

 Ngày mới vô Sài Gòn, khi ra chợ tôi rất ngạc nhiên khi nghe cách chào hỏi: cậu, dì, con, cháu… những xưng hô thân tộc bên mẹ chiếm ưu thế ở chợ – một xã hội thu nhỏ. Lối xưng hô này nay chỉ còn trong vài chợ nhỏ lâu đời, nơi mà người bán người mua đều quen thuộc nhau đến vài mươi năm, thậm chí còn là bà con lối xóm. Cùng với “cậu dì con cháu” là “mua giúp, mua giùm”. “Tiền trao cháo múc” vẫn coi là vui vẻ giúp nhau, quan hệ người mua người bán là dịch vụ đấy nhưng thân thiện và tình nghĩa. Không mua bán được thì “lần sau nhớ ghé mua giúp nghen” như một câu chào dễ thương.

 Nhà tôi trong một hẻm nhỏ ở vùng Phú Nhuận gần sân bay Tân Sơn Nhứt, xung quanh toàn biệt thự và lối xóm là những gia đình công chức, phu nhân của tướng tá quan chức và các cô chiêu cậu ấm. Người Nam có người Bắc di cư 1954 cũng có, kín cổng cao tường ít khi gặp mặt nhưng khi nhìn thấy nhau luôn chào hỏi niềm nở. Người bán hàng rong mỗi ngày qua đây cũng thành người quen của xóm, bữa nào có thiếu dư chút đỉnh tiền bạc không sao. Đặc biệt cách trả giá của mấy dì mấy cô rất nhẹ nhàng, không chê bai hàng hóa xấu đẹp hay miệt thị người bán đắt rẻ, được giá thì mua không thì thôi… Cứ lựa hàng tính tiền, bữa nào giá cả lên xuống thì nói trước, còn cho thêm nắm hành trái ớt… Việc chi tiêu tốn kém hơn dường như làm cả người bán cũng thấy xót xa chớ không chỉ người mua, ấy là hồi những ngày khó khăn thập niên 70, 80 của thế kỷ trước.

 Hồi đó ra đường vẫy chiếc xích lô, bác tài không đi được thì xin lỗi mà khách cũng cám ơn. Cám ơn là câu cửa miệng của cả người bán người mua. Gặp người lạ muốn hỏi thăm thì xin lỗi trước, được việc xong là cám ơn liền… Một nụ cười đáp trả như nói “không có chi” mang lại sự vui lòng cho cả hai bên. Cám ơn xin lỗi từ mọi giọng nói Bắc Trung Nam, từ khu biệt thự sang trọng tới xóm nhà lá, từ trường học đến công sở…

 Cho tới giờ, dù mất đi nhiều ngôn ngữ thịnh hành hồi cuối thế kỷ trước nhưng cũng may nhiều người Sài Gòn còn giữ được thói quen “cám ơn” và “xin lỗi” – mừng nhất là thói quen này ở con nít và người trẻ. Đi ngoài đường nhắc nhau gạt chân chống, tắt đèn xinhan, cuốn sợi dây cột đồ… rồi chạy tuốt, người được nhắc vẫn nói với theo câu “cám ơn” dù mặt mũi ai cũng bịt kín mít chẳng biết xưng hô thế nào cho đúng.

 Hồi đó ở Sài Gòn có đám đánh lộn chửi nhau không? Có chớ! Trong hẻm, trong chợ, ở quán nhậu… Bình thường xưng hô ông tui, lúc “cao trào” thì chửi thề và “mày, tao” với nhau, khi gọi “mày tao” với người lớn tuổi hơn là hỗn hào nhất rồi. Giận mấy thì giận cũng chỉ ngang hàng “bình đẳng”, không trèo leo đòi làm “ông bà cha mẹ” ai. Chắc vậy nên oánh nhau chửi lộn xong thì cũng… thôi, không để bụng thù dai.

 Hồi đó ở Sài Gòn nghe giọng Sài Gòn, giọng miền Tây nhiều, giọng Bắc giọng Trung cũng không ít, nhưng tất cả đều mang âm sắc nhẹ nhàng, âm lượng vừa đủ, lịch sự. Ngữ điệu cũng vậy, dễ nghe, dường như ai đến thành phố này giọng nói cũng “lai” một chút để có thể tiếp xúc với nhau một cách thân thiện dễ dàng. Những giọng nói như vậy tiếc là Sài Gòn nay ngày càng ít đi. Khi xem những bộ phim về Sài Gòn “hồi đó” thấy ngôn ngữ trong phim như của một nơi xa lạ, hổng phải Sài Gòn như bây giờ…

 Ngôn ngữ bây giờ phong phú và “đáo để” hơn trước, nhiều tính từ trực diện mạnh bạo, tiếng lóng, sự ám chỉ, liên tưởng cũng nhiều, âm sắc cao hơn, tốc độ nhanh hơn và âm lượng thì hiếm nơi nào chỉ vừa đủ nghe… Người đi xa mà nghe TV hay đọc “báo mạng” thì khó hiểu, thậm chí khó chịu. Thật ra đây cũng là một quy luật của văn hóa: Cộng đồng dân cư thế nào thì ngôn ngữ như thế: sự phong phú, phức tạp, biến đổi dân cư quá nhanh, tâm thức và vị thế của các nhóm dân cư cũng thể hiện bằng và qua ngôn ngữ.

 Có cảm giác như ngôn ngữ Sài Gòn không chỉ thay đổi theo cộng đồng dân cư thành phố mà còn thay đổi do tốc độ cuộc sống: thời thong thả tản bộ, thời của những chiếc xe đạp mini, xe Solex hay xe máy Honda đã thay thế bằng xe máy phân khối lớn và xe hơi, âm thanh máy quay đĩa và dàn Akai đã thay thế bằng âm thanh của Video và loa thùng karaoke “kẹo kéo”… Những tiếng nói “dễ thương” cứ bị khuất chìm dười những thanh âm “dễ sợ” của một thành phố ngày càng xô bồ nhộn nhạo…

 Vẫn biết cuộc đời dâu bể mà sao cứ nhớ thương hoài về Sài Gòn “dễ thương dễ sợ” ngày xưa…

Nguyễn Thị Hậu

304Đen - Llttm

 

Gũi Thới Mười Sáu - Trần Văn Nghĩa

 GỬI THỜI MƯỜI SÁU
















Khi tôi về nơi đó có còn không
Có còn tuổi tròn trăng em mười sáu?
Con đường cũ nắng vương đầy vai áo
Khóm hoa vàng ngơ ngẩn đợi chờ ai?
Tóc thơ ngây đường rẽ thắt nơ cài
Thơm sách vở học trò ơi nhớ quá!
Bên cửa lớp có ai ngồi rất lạ
Chút mưa chiều lóng ngóng rớt ngoài sân
Đứng nơi đây hồi hộp biết bao lần
Nghe vương vấn buộc chân chiều tan học
Góc trời xưa một thời vang tiếng guốc
Gõ rộn ràng nhịp đập trái tim đau
Phố trở mùa nên lá phố xanh xao
Buồn nhốt kín trong quán nghèo cửa khép
Đêm lấp ló tủi thân hàng bông điệp
Tội cho trời hốc hác gió mùa qua
Ánh đèn chao nghiêng bóng trước hiên nhà
Treo trước cổng mối tình non chết yểu
Khi tôi về giấc mơ buồn lắc lẻo
Vầng trăng thời mười sáu có còn không?

Trần Văn Nghĩa

 

Chiều Nay Có Một Loài Hoa Vỡ - Nguyễn Văn Đạo

 

CHIỀU NAY CÓ MỘT LOÀI HOA VỠ…




 

Chỉ trong vòng chưa đến 40 năm, những bản tình ca Việt đã có những thay đổi vun vút. Nay nhìn lại để thấy những gì mình đã trải qua, đã cùng vui buồn đớn đau, và để tiếc nuối những gì không bao giờ còn trở lại. Trong biết bao câu hát mênh mang trí tuệ, triết lý của tình yêu, của cuộc đời, tôi chợt chỉ nhớ được một câu “Chiều nay có một loài hoa vỡ  bên trời”.

Nguyễn Văn Đạo

 

Khi chiến cuộc trong thập niên 60 – 70 lan tràn, xã hội cũng biến đổi và biến động theo nhịp súng, dòng nhạc tình Việt Nam cũng thay đổi. Nhịp sống xã hội ngày càng nhanh lên, vội vã lên, tình yêu cũng cấp bách lên, không còn nhiều thời gian để mơ mộng, không còn “thuở làm thơ yêu em” nữa. “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ”[1] của Xuân Diệu ngày trước nay chỉ đáng là … đi dạo! Tình ca bây giờ được viết theo thể “trực khởi”, vào đầu đã chốt ngay tình yêu của ANH và Em rồi. Nếu mới hôm qua còn phải ví von

Anh về với em như chim liền cánh như cây liền cành
(Anh Về Với Em – Trần Thiện Thanh)

Hay

Không bao giờ giữa mùa hè tuyết rơi
(Không Bao Giờ Ngăn Cách – Trần Thiện Thanh)

Thì nay là

Ngày nào anh yêu em
Anh đã quên trong cay đắng tuyệt vời
Và còn can đảm hơn
Xưa hôn em một lần
Rồi đau thương tràn lấp
(Mùa Đông Của Anh – Trần Thiện Thanh)

Tình yêu cũng phải tăng tốc lên, và thế là Y Vân với “Lòng Mẹ” tha thiết và dịu dàng bao nhiêu, lại cuồng loạn lên với 60 Năm:

Em ơi có bao nhiêu
60 năm cuộc đời
(60 Năm – Y Vân)

Và đòi xóa cả ngăn cách về tuổi tác

Khi anh 20, em mới sinh ra đời
Ngày anh 40, em mới vừa 20
(20 40 – Y Vân)

Ngậm ngùi thay, số phận của Y Vân đã được định với bài hát của ông, khi ông ra đi vào đúng năm thứ 60 của cuộc đời!

Đến giai đoạn này, tình yêu thậm chí chỉ trở thành một nhu cầu chứ không còn chút gì lãng mạn nữa.

Tôi ở miền xa trời quen đất lạ
Nhiều đông lắm hạ
Nối tiếp đi qua
Thiếu bóng đàn bà
(Kẻ Ở Miền Xa – Trúc Phương 1968)

Từ giữa thập niên 60 trở đi, âm nhạc miền Nam nở rộ và chia ra nhiều nhánh, trong đó có tình ca (muôn thuở), phản chiến ca (như Ca Khúc Da Vàng – TCS), du ca, dân ca … với những anh tài nở rộ như trăm hoa đua nở dưới sức nóng của chiến tranh, của thân phận nhược tiểu, của nỗi buồn chia xa.

Những tình khúc trong đau đớn của Ngô Thụy Miên, Lê Uyên Phương, Phạm Duy, Vũ Thành An … đã kêu lên những tiếng kêu của tình yêu trong cơn hồng thủy lạc loài, trong vô nghĩa của cuộc chiến

Từ Ngô Thụy Miên với tình yêu thơ mộng ngày đầu

Và em có mơ khi mùa thu tới
Hai chúng ta sẽ cùng chung lối
Em với anh mơ mùa thu ấy tình ta ngát hương
(Mùa Thu Cho Em – Ngô Thụy Miên 1969)

Sau đó đã trở thành tình yêu trong khắc khoải và đòi hỏi của xác thịt

Cho tôi xin em như gối mộng
Cho tôi ôm em vào lòng
Xin cho một lần
Cho đêm mặn nồng
Yêu thương vợ chồng
(Niệm Khúc Cuối – Ngô Thụy Miên)

Cho đến chàng thi sĩ lãng đãng khói trời mênh mông Trịnh Công Sơn, ngày nào còn không dám ngỏ lời với người em gái và chỉ biết chờ đợi

Chiều nay còn mưa sao em không lại
Nhỡ mai trong cơn đau vùi
Làm sao có nhau, hằn lên nỗi đau
Bước chân em xin về mau

(Diễm Xưa – Trịnh Công Sơn)

Mà bây giờ cũng đã phải tăng tốc

Ta mang cho em một đóa quỳnh
Quỳnh thơm hay môi em thơm
Em mang cho ta một chút tình
Miệng cười khúc khích trên lưng
(Quỳnh Hương – Trịnh Công Sơn)

Rồi đến Lê Uyên Phương thì tình yêu trở nên quằn quại, đau đớn như một thú đau thương, hay hơn nữa, như những loài thú yêu nhau khi phải chia xa. Dù vẫn bắt đầu từ tình yêu lãng mạn của hiện sinh còn mang chút dấu ấn của điển tích

Dù gương xưa không được lau [2]
Soi lấy bóng mối duyên sầu
(Tình Khúc Cho Em – Lê Uyên Phương)

Nhưng đến

Hãy ngồi xuống đây như loài thú hoang yêu nhau ngoài đồng
Dưới nắng ban mai phô thân trần truồng kiếp sống hoang sơ
(Hãy Ngồi Xuống Đây – Lê Uyên Phương)

Là cả một sự phản kháng phẫn nộ với xã hội.

Phạm Duy cũng từ những tình khúc cổ điển

Ngày đó có em đi nhẹ vào đời
Và đem theo trăng sao đến với lời thơ nuối
(Ngày Đó Chúng Mình – Phạm Duy)

Đến tình yêu man dại trong Phượng Yêu

Yêu người song chết được ngày mai
Yêu như loài ma quái
Đi theo ai cuối chân trời
Đi không ngơi kêu gào
Làm sao tránh được tình yêu
(Phượng Yêu – Phạm Duy)

Và rồi càng ma mị hơn nữa trong

Yêu tinh tình nữ đi tìm người yêu
Kêu vang lời hú trong chiều tịch liêu
Yêu tinh mặt trắng như vôi
Ôi sâu thẳm mắt em soi
Không gian ma quái của loài người
(Yêu Tinh Tình Nữ – Phạm Duy)

Rồi đến những nhạc sĩ trẻ như Tùng Giang với những cảm xúc hiện sinh của một thanh niên trong cơn lũ của xã hội chiến tranh, không còn thời gian để làm quen, để nhớ nhung hay để tỏ tình nữa

Phút đầu gặp em tinh tú quay cuồng
Lòng đang giá băng bỗng ngập tràn muôn tia nắng
Nghe bao xót xa vụt bay theo cánh chim ngàn
Dừng bước nơi này chỉ còn em với anh
(Biết Đến Thuở Nào – Tùng Giang)

Có thể nói, giai đoạn bùng nổ những ca khúc hiện sinh này mang tính “Việt Nam hóa”, vì triết lý hiện sinh của thanh niên Việt Nam thời kỳ đó thật ra mang tính chắp vá, giao thoa giữa triết lý hiện sinh của thế giới và cuộc sống hiện sinh không biết/ không có ngày mai của tuổi trẻ trong cuộc chiến. Không xa xôi, rối rắm trong chữ nghĩa như Sartre, như Camus, mà là sống hết mình, yêu hết mình trong hôm nay, trong hiện tại, vì chắc gì còn có ngày mai. Như Lê Uyên Phương, ngồi bên nhau, yêu nhau mà như lần cuối bên nhau, vì ngày mai không còn nhìn thấy nhau nữa. Trong lúc đang ngồi bên nhau đã cảm thấy sự chia phôi đang đến.

Giờ này còn nhìn nhau, nhìn đắm đuối như suối bền
Nhìn suốt kiếp như chết mòn, nhìn hấp hối thương đau
Ngày mai ta không còn thấy nhau.

 (Cho Lần Cuối – Lê Uyên Phương)

Vì biết sẽ có ngày nhìn thấy nhau
Mắt môi lạnh mất rồi .
Khóc thay người

(Yêu Nhau Trong Phận Người – Lê Uyên Phương)

Nhẹ nhàng hơn như Quốc Dũng

Buổi sáng hôm nay giờ triết lý thật buồn
Giờ anh đưa em đi tìm giây phút lạ thường
Mình có bao lâu rồi sẽ hết một ngày
Hãy cho nhau trọn niềm đắm say.

(Bên Nhau Ngày Vui – Quốc Dũng)

Hay thiết tha như Nguyễn Trung Cang

Thương nhau thật nhiều biết mấy tin yêu
Cho nhau trọn tình dẫu có điêu linh
Xa nhau trọn đời vẫn nhớ thương nhau
(Thương Nhau Ngày Mưa – Nguyễn Trung Cang)

Cũng đều nói lên ý muốn sống hết mình cho ngày hôm nay, không màng tới ngày mai.

Lê Hựu Hà ban đầu có những sáng tác mang tính trào lưu hiện sinh và hippy, như bài Tôi Muốn

Tôi muốn mọi người biết thương nhau
Không oán ghét không gây hận sầu
Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau
Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu…

Nhưng rồi cũng rất mau, chuyển thành u uất, bi quan chán nản

Nước mắt ấy đã lau khô rồi
Đôi môi ấy đã quen tiếng cười
Cuộc tình lỡ đã phai nhạt rồi
Người tình cũ đã xa ta rồi
(Phiên Khúc Mùa Đông – Lê Hựu Hà-Nguyễn Trung Cang)

Cho đến khi Nguyễn Trung Cang phải thốt lên

Mặt trời đen, quá đen, đen như đời ta
Đời hằng mong thoát đi, đi khung trời xa
Cuộc đời như chó hoang lang thang về đêm.
Cuộc tình không mấy khi nghe câu dịu êm.

(Mặt Trời Đen – Nguyễn Trung Cang)

Thì có lẽ không còn gì nữa, không còn gì để nói nữa!

Mà không còn gì để nói nữa thật, vì càng gần đến ngày cuối của cuộc chiến, lòng người càng ly tán, xã hội rối bời. Người thì chỉ cúi đầu nhìn vào cuộc sống hôm nay, không cần đến ngày mai. Người thì mơ mộng hão huyền với một nền hòa bình trong mơ. Người thì đối diện với cái chết từng ngày, từng giờ. Nhưng không ai ngờ rằng, tất cả đã chấm dứt đột ngột vào một ngày tháng Tư. Sau đó, giống như một chiếc máy tính được bấm nút reset, tất cả đều bị xóa sạch và trở về trạng thái trống rỗng. Toàn bộ kho tàng âm nhạc của miền Nam nước Việt bị vất vào rổ “văn hóa đồi trụy”, mà ít năm sau được đổi tên và mang một tên mới là “nhạc vàng”, tức loại nhạc vàng vọt ủy mị, nói theo các nhà lãnh đạo của cuộc Đại Cách Mạng Văn Hóa Trung Hoa những năm 1960.

Dần dà sau đó bắt đầu có những dòng nhạc mới xuất hiện tiếp nối từ bên bờ các đại dương. Nhưng với cái cảm quan thiên kiến của tôi, hình như các nhạc sĩ, các nghệ sĩ khi phải rời khỏi quê hương để sống kiếp lưu đày trên đất khách, đã không còn những cảm xúc, rung động như ngày xưa. Có chăng, có lẽ chỉ có bài Riêng Một Góc Trời của Ngô Thụy Miên. Phải chăng cú sốc khi bị bứng ra khỏi nơi chôn nhau cắt rốn đã khiến họ phải hứng chịu một cú “reset” trong tâm tưởng.

Tôi lại chợt nhớ đến, trong bộ sưu tập tem của tôi, bộ tem kỷ niệm “Ngày tỵ nạn thế giới” phát hành năm 1960, trên đó có hình logo của tổ chức Unesco, bây giờ là UNHCR. Logo có hình một cây sồi bị nhổ bật gốc rễ, chơ vơ không chạm đất. Ngày đó, đọc sách thấy nói logo có hình “cây mất rễ”, nhưng nay nhìn lại, tôi thấy đúng ra là “cây mất đất”, vì cây và rễ vẫn còn nguyên, nhưng đã bị bứng khỏi mặt đất, không còn nơi nương tựa nữa. Rễ sẽ hút nhựa từ đâu??

Vậy nên, sự quan tâm của tôi với những biến chuyển trong ca khúc về tình yêu cũng đã có cùng một điểm chấm dứt ở đó. Đừng ai hỏi tôi về những dòng nhạc sau này, vì sau cú reset đó, cuộc đời đã chuyển qua một hệ điều hành khác rồi. Và không ai so sánh sự việc dưới hai hệ quy chiếu khác nhau.

Chỉ trong vòng chưa đến 40 năm, những bản tình ca Việt đã có những thay đổi vun vút như vậy. Nay nhìn lại để thấy những gì mình đã trải qua, đã cùng vui buồn đớn đau, và để tiếc nuối những gì không bao giờ còn trở lại. Trong biết bao câu hát mênh mang trí tuệ, triết lý của tình yêu, của cuộc đời, tôi chợt chỉ nhớ được một câu

Chiều nay có một loài hoa vỡ bên trời
(Nguyễn văn Đông – Có Một Chiều Xuân)

Có một loài hoa vỡ… Nghe thật lạ, nhưng thật xúc động. Tác giả không phải thiếu vần, thiếu chữ mà cố tình dùng chữ “vỡ”. Tôi cũng chẳng cố tìm hiểu xem tại sao hoa vỡ, vỡ như thế nào. Chỉ thấy, như có một chút gì đã vỡ vụn trong tôi!!

Nguyễn Văn Đạo

304Đen – Llttm- sgct

[1] Mau với chứ, vội vàng lên với chứ
Em, em ơi, tình non đã già rồi – Xuân Diệu (Giục Giã)

[2] Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi – Tự Đức khóc Bằng Phi (?)

 

 

Dòng Sông Êm Đềm - Minh Đạo Nguyễn Thạch Hãn

 

DÒNG SÔNG ÊM ĐỀM




 


Tôi là dân Bắc Kỳ 54 di cư vào miền Trung, đến một thành phố rất đẹp ven biển. Ba tôi dạy học mãi ngoài Huế, nên tôi ở lại thành phố biển với Ông Nội và hai bà cô để tiện bề học hành và hầu hạ Ông. Tôi coi Ông giống như Cha, nhưng đôi khi cũng rất buồn, cô đơn và tủi thân. Bởi vì Ông già hơn Cha nhiều và khó gần gũi. Những lúc như vậy, hầu như tôi chỉ có bé Uyên là người thân thích nhất.
    Uyên là “cô bé lọ lem” nhà hàng xóm, nhỏ hơn tôi sáu, bảy tuổi gì đó. Ba Uyên là quân nhân, luôn vắng nhà. Mẹ Uyên thương tôi như con bà vậy. Tôi không biết tên bà chỉ biết ai cũng gọi bà là “Cô Ba Nam Kỳ”. Lúc rảnh rỗi tôi hay lại nhà em chơi. Bé Uyên thường theo tôi đi nhà thờ. Đó là ngôi thánh đường nhỏ xíu, gần một dòng sông, có những hàng cây keo cao ngất mọc bên bờ, đầy gai và hoa trắng nõn, dày cơm, ngọt lịm. Chúng tôi hái hoa keo ăn chán chê, rồi ngồi trên bờ cát nhìn xuống dòng sông nhỏ bé lững lờ trôi, ngắm bày chim chiền chiện đuổi nhau trên đám cỏ lau kêu ríu rít, quên cả vô nhà thờ cầu nguyện. Hai đứa chúng tôi sống bên nhau như hai trẻ mồ côi lạc loài. Tất cả tình thương tôi đều dành cho Uyên, chiều chuộng em như chính em ruột của mình. Uyên cũng cảm nhận được điều đó nên luôn mè nheo tôi.
    – Anh Hai, mấy con chim đó tên là gì dzậy?
    – Người ta gọi là chim chiền chiện.
    – Ai đặt tên cho nó dzậy?
    – Anh hổng biết.
    – Chắc má nó đặt tên cho nó phải hông?
    – Chắc Ba nó đặt đó, giống như Ba đặt tên cho em dzậy.
    – Ừ há.
    – Bắt nó cho em đi, anh Hai.
    – Nó chạy nhanh lắm, làm sao anh bắt được.
    – Cẳng anh dài hơn cẳng nó mà.
    – Nhưng nó có cánh.
    – Thôi em hổng chơi dzới anh nữa đâu, anh lớn như dzầy mà hổng bắt được con chim nhỏ xíu đó.
    – Để nó sống với ba má, bắt nó làm chi tội nghiệp, lỡ nó nhớ ba, buồn rồi bịnh chết mất sao.
    – Anh Hai ơi, em nhớ Ba quá hà, bữa nào Ba dzìa, em nói Ba dẫn anh em mình đi ăn cơm gà xiu xiu nghe.
    – Ừ phải đấy.
    Tôi thấy mắt em đỏ hoe và quên mất chuyện đòi bắt chim chiền chiện. Tôi ôm em thật chặt, và hôn lên tóc em. Tôi thương em và thương tôi quá đỗi.
    – Ngoan đi, anh còn một đồng đây, anh mua bánh rán cho em ăn nghe?
    – Hổng chịu đâu.
    – Chè đậu dzán dzậy?
    – Hổng chịu.
    – Kẹo kéo nhá, quay số trúng, chịu hông?
    Nghe quay số mắt em sáng lên nhưng phụng phịu:
    – Em chỉ muốn ăn kẹo bột thôi.
    – Kẹo bột là kẹo gì dzậy trời?
    – Kẹo đường đen rắc bột trắng đó.
    – Trời đất, kẹo đường cứt trâu đó hả?
    Em mở to mắt tròn xoe như hai viên bi thủy tinh và gật đầu lia lịa.
    – Mở miệng ra coi, còn mấy cái răng mà đòi ăn kẹo bột. Em có biết là ăn nhiều đường sẽ bị sún răng không? Con gái mà sún răng trông xấu lắm mà còn bị bạn “lêu lêu” nữa đó.
    – Thiệt hông? Anh xạo, em mét má cho coi.
    – Sao hổng thiệt, em sờ dzô thì biết, coi chừng răng sún cắt đứt tay đó nghen.
    Con bé có vẻ sợ thiệt, rơm rớm nước mắt. Tôi phải ôm Uyên dỗ dành. Có lẽ tôi thương em nhất trên đời. Em ở ngay bên tôi, an ủi tôi, cần tôi che chở, dẫn dắt, tất cả mọi thứ khác đều quá xa vời.
    – Em thấy anh Hai khóc nè!
    – Đâu có, cát bay dzô mắt anh đó.
    – Anh Hai xạo quá, rõ ràng em thấy tóc em ướt mà.
    – Chắc con chim chiền chiện bay ngang nó tè trên đầu em, vì em đòi bắt nó đó.
    Em cười rũ rượi, và đấm trên ngực tôi liên hồi. Chúng tôi quên hết muộn phiền. Muốn đến nhà thờ phải lội bộ ngang ga xe lửa rồi băng qua nhiều đồi cát, tôi vừa đi vừa kể chuyện cho Uyên nghe, đó là những chuyện tôi đọc được trong các trang báo thiếu nhi, hay những truyện nhi đồng như Bạch Tuyết Và Bẩy Chú Lùn, Cô Bé Lọ Lem, Cô Bé Quàng Khăn Đỏ, Thằng Người Gỗ... Nhiều khi vừa cõng em vừa kể chuyện, tới lúc cô bé đã ngủ gục trên vai tôi lúc nào không biết. Mỗi lần đi ngang ga xe lửa, mùi cơm gà xiu xiu từ gánh hàng rong của chú Ba lại làm bụng hai đứa tôi cồn cào, nước miếng thi nhau chảy ra như mưa rào. Ôi những miếng thịt gà vàng ngậy, bóng lưỡng nằm trên đĩa cơm nấu bằng nước gà luộc rồi chiên với mỡ gà. Lần nào đi ngang qua hàng cơm gà Uyên cũng dán mắt vào đó, chân bước đi không nổi. Tôi chỉ có mỗi ước mơ nhỏ bé, một ngày nào đó sẽ mua cho Uyên một dĩa cơm gà xiu xiu!
    Có lần cô Ba mắc đi sanh em bé, Cô xin phép Nội cho tôi qua ngủ trông nhà và Uyên cho Cô. Cô phải vào nhà hộ sanh sớm, kẻo tối có chuyện gì đi không kịp. Tỉnh nhỏ làm gì có phương tiện chuyên chở như bây giờ, đêm hôm chỉ có nước lội bộ thôi. Tôi dắt Uyên về Nội ăn cơm rồi hai đứa về nhà em ngủ. Dạo đó, tôi đang học đệ lục (ngang lớp 7 bây giờ), kể cũng đã lớn rồi. Uyên còn nhỏ lắm. Buổi tối em nhất định đòi tôi ngủ chung giường, Uyên nói:
    – Em ngủ một mình sợ lắm, em vẫn ngủ chung với Má.
    – Nhưng anh là con trai, em là con gái không ngủ chung được.
    – Thế Ba với Má vẫn ngủ chung đó sao.
    – Ba với Má thì khác, lớn lên em sẽ hiểu.
    – Em thấy khác gì đâu, em hổng chịu đâu.
    Giọng Nam Kỳ nhõng nhẽo, mếu máo, khiến tôi không thể làm phật ý em được. Đợi khi em ngủ say, tôi gỡ tay ra, trải chiếu, ngủ trên thềm nhà. Buổi sáng khi vừa mở mắt ra, đã thấy em nằm ngủ say sưa bên cạnh. Uyên ngây thơ và vô tư như thiên thần. Từ ngày có em bé, Uyên không còn được Mẹ chăm sóc như xưa, em quanh quẩn bên tôi nhiều hơn, buổi tối thường ăn cơm chung với tôi và đòi chỉ em làm bài tập.
    Năm cuối cùng trung học đệ nhất cấp, tôi chuẩn bị đi Saigon học tiếp. Sẵn có tiền Nội cho, tôi dẫn Uyên đi ăn cơm gà xiu xiu, đó là bữa ăn ngon nhất trên đời tôi và em được ăn. Dù sau này đi khắp năm châu bốn bể, tôi cũng không thấy bữa ăn nào ngon như thế.
Lúc tôi lên đại học thì Uyên vừa vào trung học. Mỗi năm cứ vào dịp hè tôi lại đáp xe lửa về thành phố biển thăm Nội và Uyên. Tôi hay dẫn em leo núi Nhạn hái trái sim màu tím thẫm ngọt lịm hay trái dú dẻ màu vàng tươi, thơm ngát. Đó là những ngày hè vui nhất trong đời. Uyên càng lớn càng xinh đẹp hơn, không còn là cô bé lọ lem ngày nào. Chúng tôi vẫn leo lên mấy đồi cát đi về phía nhà thờ bên dòng sông thời thơ ấu, nhưng em không còn bắt tôi cõng và cũng không còn đòi ăn kẹo bột nữa.
    Đôi khi chúng tôi ra ngồi ngoài bãi biển yên lặng nhìn mông lung về phía chân trời, mắt dõi theo những chiếc thuyền lững lờ trôi về nơi xa xăm. Sự tin yêu và thông cảm đã khiến chúng tôi hiểu lòng nhau mà không cần phải nói thành lời. Chiến cuộc ngày càng khốc liệt hơn, đời tôi rồi cũng sẽ như những chiếc thuyền vô định trên biển cả mênh mông kia.
Những năm “học đại” thật vất vả, tôi vừa phải lo kiếm sống vừa phải vùi đầu vào đống sách vở cao ngất ngưởng, chẳng nên cơm cháo gì, được vài cái chứng chỉ vớ vẩn, vứt ra đường không ai thèm lượm.
    Rồi vụ bom đạn Tết Mậu Thân xảy ra, thời hạn hoãn dịch vì học vấn không còn hiệu lực nữa. Tôi cầm Lệnh Gọi Nhập Ngũ mà lòng bâng khuâng khôn tả. Những ngày tháng mơ mộng của tuổi cắp sách đến trường đã chấm dứt. Cuộc đời tôi đi vào một ngõ rẽ, đầy chông gai, và tương lai thì rất mịt mờ. Tôi đã 23 tuổi và có đúng một tháng để gói ghém tuổi học trò cất vào ngăn tủ khóa lại kỹ càng trước khi bước vào quân ngũ.
    Tôi trở lại nhà thăm Nội và từ giã Uyên. Em vừa xong trung học đệ nhất cấp, chuẩn bị lên đệ tam (lớp 10). Uyên đã biết e lệ khi đi bên tôi, con mắt to đen láy có dáng tôi trong đó. Con đường đi lên đồi cát dẫn đến dòng sông tuổi nhỏ, chúng tôi đã đi qua biết bao nhiêu lần, nhưng lần này thật mới, xa lạ, ngập ngừng, e thẹn. Nắng sớm mai trải dài trên những đồi cát, chỗ sáng chỗ mờ, tạo thành những đợt sóng cát vô tận, như những đợt sóng ngầm trong lòng hai đứa. Chúng tôi ngồi bên nhau, bên bờ sông dưới hàng keo rậm rạp, nhìn cặp kỳ nhông đầy màu sắc rượt đuổi nhau trên bãi cát.


    – Anh Hai kỳ ghê hà, sao nhìn em hoài dzậy?
    – Anh muốn mang bé đi mãi mãi trong tim anh, dù có phiêu bạt tận chân trời góc biển nào đi nữa.
    – Thôi hổng chịu đâu, anh Hai ở lại đây dzới em.
    – Hổng được đâu, người ta nhốt anh trong tù thì sao?
    – Em sẽ biến thành con muỗi, chui vô thăm anh mỗi ngày, chịu hông?
    – Hổng chịu, muỗi chích đau lắm.
    – Em thương anh hổng chích anh đâu mờ.
    – Ý trời! Mấy con muỗi cái chích đau dữ lắm đó.
    – Thôi làm con kiến dzậy, hổng được, con bươm bướm chịu hông?
    – Chịu, người ta đưa anh lên rừng thì sao bướm bay cho nổi?
    – Em sẽ hóa thành con chim bay theo anh.
    – Người ta thảy anh xuống biển thì sao?
    – Em sẽ hóa thành con cá lội theo anh. Thôi em hổng chơi dzới anh nữa đâu, tối ngày đòi đi này nọ, hổng chịu ở đây dzới em.
    Em thật ngây thơ, chuyện đời đâu phải cứ muốn là được. Tôi cũng như chiếc lá lênh đênh trên dòng sông dưới kia, trôi hoài trôi mãi, cố vẫy vùng cũng không thoát khỏi số phận, cho đến ngày chịu nằm yên ngoài biển khơi. Rồi cũng đến lúc tôi phải ra đi. Bước lên con tàu, nhìn Uyên ở lại sân ga, trong bộ quần jean áo trắng tôi mới cho em, hai vạt áo chemise cột chéo vào nhau, trẻ trung hết sức, đang sụt sùi lau mắt. Tiếng còi tàu thét lên, tim tôi như vỡ ra từng mảnh, con tàu từ từ lăn bánh.
    Em ở lại ôm ấp mối tình ngây thơ, còn tôi ra đi mang theo hình bóng em trên con đường vô định.
    Những năm tháng miệt mài với chiến trận, tôi theo đoàn quân mũ nâu, lội khắp các tỉnh miền Trung rồi lên cao nguyên Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột, Phú Bổn, Phú Túc, Đức lập, Dakto, Ben Het, Quốc lộ 14, nhiều lắm kể sao cho hết. Tôi đi đến đâu cũng mang theo bé Uyên trong tim. Em như thiên thần hộ mệnh, giúp tôi vượt qua bao gian nan, nguy hiểm, cho đến ngày Ban Mê Thuột thất thủ, tôi trở thành tù binh.
    Những năm tháng tù đầy hình ảnh em luôn ở bên cạnh tôi, có lúc là con muỗi, đậu ngoan ngoãn trên cánh tay tôi, có lúc là con chim hót líu lo trên cành cây giúp tôi quên đi những bó cây rừng nặng nề trên vai. Có lúc tôi thẫn thờ thấy em là con bướm đang chập chờn trước mặt, cười cợt, khiến lòng tôi quên đi bao nhiêu phiền não lo âu. Vâng, em đã giữ đúng lời hứa theo tôi từng bước chân lưu lạc tù đầy. Tôi gọi tên em khe khẽ trong cơn sốt rét rừng lạnh run người, rồi nóng bỏng. Tôi thấy em mặc áo trắng toát, đuôi áo xòe ra tận chân trời. Tôi cầm tay em đi bên dòng sông tuổi nhỏ, những con kỳ nhông sặc sỡ bu đến bên em, rồi tất cả bay lên khỏi từng mây trong bầu trời nắng chan hòa, có những đàn chim chiền chiện nâng áo em như thể đang trong ngày cưới, ở một vùng trời thênh thang, xa hẳn cõi trần thế khổ đau.
    Rồi tôi cũng được thả ra khỏi trại tù. Qua bao khó khăn, trở ngại tìm đường trở lại quê nhà, tôi đau đớn thấy thành phố đã xa lạ, tan tác. Chú Ba với gánh cơm gà xiu xiu đã phiêu bạt nơi nào. Nội tôi đã qua đời, cô tôi đã có chồng vẫn còn trong trại tù nào đó tận đâu ngoài Bắc. Căn nhà Uyên ở nay đã thuộc về người khác. Em ở đâu, gia đình tôi lưu lạc phương nào tôi chẳng biết. Đúng là cảnh nước mất nhà tan. Thành phố nay đã thay đổi, chẳng nhìn thấy một nụ cười, phố xá xơ xác điêu tàn.
    Tôi tìm về dòng sông tuổi nhỏ, nơi tôi và em đã từng đến để sưởi ấm tâm hồn. Những con chim chiền chiện vẫn còn đó, những hàng cây keo cao ngất vẫn còn đây, những con kỳ nhông vẫn vô tư đuổi nhau trên bãi cát. Tôi tự hỏi đã có bao nhiêu thế hệ chiền chiện bay ở đây? Bao nhiêu lần lá keo thay đổi, nhưng dòng sông thời thơ ấu vẫn còn y nguyên, như tấm lòng của tôi đối với Uyên. Nước vẫn lững lờ trôi êm đềm, mang theo cả tuổi thơ của hai đứa tôi đi mất. Tôi muốn khóc, cho em, cho tôi, cho tất cả những người Việt Nam điêu linh, khốn khổ vì chiến tranh, vì hận thù. Nước mắt tôi đã cạn khô từ những ngày trong lao tù tủi nhục. Linh hồn tôi đã bay khỏi địa ngục trần gian, để lại một thân xác còm cõi, bơ vơ, rã rời.
    Sau hai lần vượt biên thất bại, cuối cùng tôi cũng đến được Pulau Bidong trên con tàu bé tí teo, cùng với mấy chục con ma đói rách rưới, hôi hám, bẩn thỉu, không còn đủ sức lết ra khỏi thuyền.
    Có những đêm không ngủ được, nhớ Uyên, nhớ Nội, nhớ gia đình Ba Mẹ, bạn bè, chiến hữu đã từng cùng tôi vào sanh ra tử, tôi lần lên đồi tôn giáo, cầu nguyện. Nhìn xuống đám nhà thuyền nhân dưới kia, những cái được gọi là nhà đó chỉ là mấy nhánh cây rừng làm cột, lợp tôn mỏng, thùng giấy hoặc lá dừa. Hàng chục ngàn con tim đang thổn thức trong đó, có những người cố dỗ giấc ngủ như tôi, có những người đang khóc thầm vì mất vợ, mất chồng, mất con, mất cha mẹ, anh em. Có những người đang tự trách mình vì đã bỏ rơi bạn bè, chiến hữu trong lúc thập tử nhất sinh. Họ đang cố gắng quên đi những tủi nhục một đời, tù đày, ức hiếp, hăm dọa, đánh đập, chiếm đoạt tài sản, rồi bị săn đuổi như một loài thú hoang, còn chịu nạn hải tặc, cưỡng hiếp... Ngoài biển mênh mông kia, biết bao nhiêu oan hồn còn vất vưởng vì nỗi oan khiên chưa được giải, chưa biết tỏ cùng ai, không thể mang xuống tuyền đài. Biết đâu có Uyên trong đó.
    Tim tôi quặn đau, nghẹt thở. Tôi cầu xin Trời Phật dù thế nào cũng dẫn em qua cầu khổ đau, tôi khấn nguyện ơn trên hãy mở tay cứu giúp các linh hồn còn vất vưởng ngoài biển khơi được về cõi vĩnh hằng. Tôi miên man nghĩ từng giả thiết về em, đã chết trên đường vượt biên ư? Không, không thể được, em là Thiên Thần có Chư Thiên phò hộ, không thể chết được. Cũng có thể em còn ở Việt Nam hay đã đến một trong những trại tỵ nạn nào đó, hoặc biết đâu, đã đến được bến bờ tự do. Tôi an ủi mình, có thể lắm chứ, em là Thiên Thần mà! Tôi bị dày vò với bao nhiêu giả thuyết, tôi điên rồi.
    Cơn điên cứ miên man như thế trong nhiều giấc mơ, theo tôi vượt qua biển Đông, về tận quê nhà nơi thành phố biển, leo qua những đồi cát bên dòng sông tuổi nhỏ. Tôi thấy Uyên và tôi đang đùa giỡn bên nhau, rượt đuổi mấy con kỳ nhông, hay công kênh em trên vai để hái hoa keo hoặc vờ làm bẫy để bắt mấy con chim chiền chiện cho em. Tôi nghe tiếng em cười, tiếng em nhõng nhẽo đòi ăn kẹo bột. Tôi còn nước mắt để khóc không? Nhưng nghe nghèn nghẹn trong tim rồi rơi vào giấc ngủ mê. Tôi thấy em đang chơi vơi giữa đại dương, hai tay dơ lên giữa những cơn sóng phủ đầu. Tiếng kêu cứu của em bị át bởi tiếng gầm gừ của đại dương; “Anh Hai, cứu em, cứu em, cứu em…” Tôi giật mình tỉnh dậy, mồ hôi vã ra như tắm, đầu hâm hấp nóng. Trời đã khuya, tôi đọc kinh và thầm cầu nguyện cho em. Bầu trời trong vắt đầy sao, có lẽ em đã là một vì sao lấp lánh trên kia. Tôi lặng lẽ trở về căn chòi lá mà lòng đầy nghi vấn. Em đang ở đâu? Còn sống hay đã chết?
    Đầu thập niên 80, tôi đặt chân lên đất Mỹ, làm lại cuộc đời từ con số không. Kể như vẫn còn may mắn. Đời tôi luôn luôn gặp may mắn, tôi tin như vậy, cho nên tôi vẫn để ý tìm Uyên khắp nơi. Đi dự họp mặt của các hội đoàn đồng hương, cựu quân nhân, các hội cựu học sinh, sinh viên.

 

***


Nhiều năm qua đi. Tôi đi học trở lại, ra trường rồi đi làm. Một hôm, theo người bạn cùng sở bay về California tham dự buổi họp mặt của một Hội Đồng Hương, tôi đã gặp lại Uyên! Chúng tôi ôm nhau giữa đám đông khóc mùi mẫn, khóc thoải mái, khóc tự nhiên, khóc thật to cho mọi người cùng khóc. Trong đám đông đồng hương này có biết bao nhiêu người cũng đã từng khóc như chúng tôi. Khóc để trôi đi bao điều còn giữ kỹ trong lòng, không nói ra được. Khóc để nói với mọi người rằng chúng tôi đã tìm thấy báu vật đánh mất bao nhiêu năm trời. Khóc đã đời, chúng tôi buông nhau ra. Nhìn mặt Uyên son phấn tèm lem như thời bé bỏng nghịch đất cát, tôi bật cười. Em hỏi sao tôi cười. Tôi nói tôi đã tìm lại được tuổi thơ của chúng ta, tôi vui lắm. Em muốn kể tôi nghe những gian truân, gia đình tan nát, đổ vỡ, chết chóc, nhưng tôi không muốn nghe. Tôi tìm thấy em là đủ rồi, những cái khác hãy quên đi, quên đi, quên đi…

Minh Đạo Nguyễn Thạch Hãn