Saturday, February 29, 2020

Trận Đánh Phi Trường Phụng Dực ..... - Phạm Huấn


Trận đánh Phi Trường Phụng Dực, Ban Mê Thuột và những Khúc Bi Tráng cuối đời chiến binh




4 giờ sáng ngày 10/03/1975.

Sau những trận mưa pháo suốt 2 tiếng đồng hồ, Cộng quân với chiến xa và biển người tiến chiếm Ban Mê Thuột. Và với một lực lượng đông gấp 10 lần, địch đã làm chủ tình hình ngay từ phút đầu.

Sự chống trả mãnh liệt của những đơn vị phòng thủ thị xã cùng với sự yểm trợ hữu hiệu gan dạ của các phi công anh hùng đã chặn bớt được sức tiến của quân thù.

Nhưng ngày hôm sau khi Cộng Sản Bắc Việt tung thêm Sư Đoàn Tổng Trừ Bị 316 mới từ miền Bắc vào, và một phần Sư Đoàn 968 từ Pleiku kéo xuống, thì lực lượng hai bên ,giữa ta và địch, trở nên quá ư chênh lệch cả về quân số, chiến xa cùng vũ khí hạng nặng các loại!12 giờ trưa ngày 10/03/1975, Tiểu Khu Ban Mê Thuột mất!

8 giờ sáng hôm sau. 11/03/1975

10 chiến xa T.54 của CSBV bắn trực xạ vào Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Vị Tư Lệnh Chiến Trường chấp nhận rủi ro nguy hiểm yêu cầu Không Quân đánh bom thẳng vào những xe tăng địch. Những phản lực cơ A.37 lao xuống. 3 chiếc T.54 bốc cháy, nhưng rồi 2 trái bom khác rơi trúng hầm chỉ huy và truyền tin của Đại Tá Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 23 BB. Cắt đứt liên lạc với Tư Lệnh Chiến Trường và Tỉnh Trưởng Ban Mê Thuột từ lúc đó.

8 giờ sáng ngày 11/03/1975

Giờ phút của định mệnh, và cũng là khởi đầu ngày thứ hai, trong trận đánh quyết định giữa hai miền Nam Bắc 1975. Chiến trường Ban Mê Thuột coi như kết thúc với sự tràn ngập của Bắc quân!

Nhưng tại mặt trận phi trường Phụng Dực, cách Ban Mê Thuột khoảng 8 km về phía Đông, một Trung Đoàn của Sư Đoàn 23 BB, Trung Đoàn 53 BB vẫn tiếp tục chiến đấu thêm một tuần lễ nữa. Chiến đấu dũng mãnh, dai dẳng, phi thường… cho đến những người lính cuối cùng và những viên đạn cuối cùng được bắn đi!

Đó là một huyền thoại trong cuộc chiến đấu chống Cộng thần thánh nhất của Quân Dân miền Nam Việt Nam. Đó cũng là biểu tượng tinh thần gang thép, sắt đá của người chiến sĩ QLVNCH.

Trận thử sức dò dẫm của hai Trung Đoàn CSBV và Trung Đoàn 53 BB đầu tiên xảy ra lúc 14 giờ trưa ngày 10/03/1975 với kết quả địch bỏ lại chiến trường trên 200 xác chết!

Nhưng chưa đầy một ngày sau, 5 giờ sáng ngày 11/03 khi những chiến xa T.54 của CSBV nghiền nát những đường phố Ban Mê Thuột tiến thẳng vào Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh cũng là lúc địch quân rửa hận cho “đồng bọn” chúng tại mặt trận phi trường Phụng Dực.

Sư Đoàn 316 Tổng Trừ Bị của Cộng Sản Bắc Việt, lần đầu tiên được tung vào chiến trường Cao Nguyên và miền Nam Việt Nam. Từ “xa lộ đất” Hồ Chí Minh, Sư Đoàn này bất chấp mọi thiệt hại di chuyển ngày đêm không nghỉ để tới trận địa đêm 10/03/1975 và ngay sáng hôm sau dốc toàn lực lượng tấn công Sư Đoàn 23 Bộ Binh!

45 phút khởi đầu là những cơn mưa pháo phủ chụp lên đầu những người lính VNCH, chiến sĩ ta “chìm ngập” trong giao thông hào. Sau đó Bắc quân với những tên lính trẻ xuất trận lần đầu hung hăng hò hét xung phong…

Từng lớp, từng lớp người đỗ rạp nhưng chúng vẫn hô, vẫn tiến điên cuồng.

Trận thư hùng thứ hai ngày 11/03 này kéo dài 2 giờ 40 phút. Gần 200 người anh hùng của chiến trường miền núi vĩnh viễn buông súng gửi thân xác của Họ ở lại với vùng Cao Nguyên Việt Nam!

Nhưng những người còn lại, vẫn tiếp tục chiến đấu. Chiến đấu không yểm trợ, không tiếp tế, không tải thương, không tắm gội, 24/24 giờ ngoài chiến hào phòng thủ!

Quá 1/2 lực lượng bị thiệt hại, từ khi ở mặt trận Quảng Đức rút về. Trung Đoàn 53 Bộ Binh hiện còn hơn 1 Tiểu Đoàn với khoảng 500 “tay súng”, và Họ đã chiến đấu một cách đơn độc sang ngày thứ ba,12/03. Ngày thứ tư, 13/3. Ngày thứ năm, 14/3. Ngày thứ sáu, 15/3, ngày thứ bảy, 16/3. Và hôm nay, ngày thứ tám … 17/03/1975!!

Thật anh hùng! Thật vĩ đại! Thật phi thường! Không còn từ ngữ nào khác hơn để ca ngợi, vinh danh Họ, Và đó cũng là một huyền thoại bi tráng nhất của chiến tranh Việt Nam, trong trận đánh sau cùng trên chiến trường Cao Nguyên!



Bay trên đầu của những người anh hùng của phi trường Phụng Dực, trưa ngày 12/03/1975, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh chiến trường Cao Nguyên đã nói chuyện với hai người quân nhân “lớn” nhất và “nhỏ” nhất của Trung Đoàn 53 Bộ Binh.

Người anh hùng Võ Ân, Trung Tá Trung Đoàn Trưởng.

– Buồn ngủ quá… “Mặt Trời”ơi ! (Mặt Trời là danh hiệu truyền tin cũa Tướng Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II hôm nay )
– “Chú mày”… chịu nổi không? Tinh thần anh em ra sao?
– Bị… “sứt mẻ” kha khá ngày hôm qua, nhưng chưa sao. “Mặt Trời” yên tâm!
– “Chú mày” muốn gì… đặc biệt không?
– Dạ không, nhưng sao “Mặt Trời” không bay trực thăng hôm nay?
– Tại “qua” muốn “ở chơi” với “chú mày” và những anh em khác lâu lâu một chút. Mà tại sao “chú mày” hỏi như vậy?
– Tại vì tôi muốn mời “Mặt Trời” đáp xuống coi “kho vũ khí Việt Cộng” ở phòng danh dự phi cảng… cho anh em lên tinh thần!
Tướng Phú cười:
– Ý kiến hay đấy! Thôi để lần sau vậy!

Người anh hùng Nguyễn Văn Bảy, Binh Nhì xạ thủ súng cối 81ly.

– Em tên gì?
– Dạ… binh nhì Nguyễn Văn Bảy, 18 tuổi!
– Em thấy Việt Cộng chết nhiều không?
– Nhiều, nhiều lắm Thiếu Tướng!
– Em muốn xin Thiếu Tướng gì nào?
– Xin thuốc hút và… lựu đạn.
– Gì nữa?
– Thôi!
– Thiếu Tướng thăng cấp cho em lên Binh Nhất! chịu không?
Một giọng cười khúc khích trong máy.
– “ Ông thầy!”… Ông Tướng tặng tôi cái “cánh gà” chiên bơ!
– Không được… “tao” phản đối!!

Cái “cánh gà”, chữ V, đó là hình dáng của chiếc lon Binh Nhất. “Ông Thầy” là tiếng gọi thân mật vị Trung Tá Trung Đoàn Trưởng mà người “binh nhất vừa được tân thăng” Nguyễn Văn Bảy gọi người chỉ huy của mình.

Mẫu đối thoại trên cho thấy tình chiến hữu anh em của những người lính Trung Đoàn 53 BB. Đó cũng là một cách để chứng minh, tại sao trong những ngày cuối cùng, họ vẫn sống chết cùng nhau, chia nhau từng viên đạn , từng dúm gạo sấy, từng hớp nước, từng hơi thuốc…

Theo thời gian, bảy ngày đêm chiến đấu dài hơn 7 năm tại mặt trận phi trường Phụng Dực. Đã 3 ngày kể từ khi lệnh triệt thoái Cao Nguyên được ban hành, Trung Đoàn 53 không còn nhận được bất cứ một tiếp tế, liên lạc nào với Quân Đoàn. Họ đã phải sử dụng súng đạn tịch thu được của quân thù trong trận đánh đầu tiên để bắn lại chúng!!

Nhưng hôm nay, 17/03/1975, sẽ là ngày… dài nhất trong cuộc đời lính chiến của Họ!
7 giờ 40 sáng, khi rừng núi Cao Nguyên vẫn còn ngủ yên với những tầng sương mù phủ kín. Thì hàng trăm hàng ngàn đạn pháo của Bắc quân dội vào những chiến hào của Trung Đoàn 53 BB. Cỏ cây rạp xuống, những cột đất đỏ tung cao. Trận địa pháo kéo dài 1 tiếng đồng hồ. Tiếp theo sau là tiếng loa kêu gọi đầu hàng, tiếng hò reo như sóng vỡ của biển người. Và rồi tiếng gầm rú của hàng đoàn chiến xa T.54 trên khắp ngả tiến vào cày nát phi đạo phi trường Phụng Dực, Ban Mê Thuột!

Hôm nay là ngày đầu của cuộc rút quân của Quân Đoàn II. Sư Đoàn 316 CSBV quyết “khai tử” Trung Đoàn 53 Bộ Binh/ QLVNCH. Quyết nhổ đi “cái gai” cuối cùng của Mặt Trận Ban Mê Thuột, của Chiến Trưởng Cao Nguyên để mở đường tiến về Duyên Hải!

8 giờ 30 sáng, Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH, vị Tướng lớn nhất của Quân Đội, gọi yêu cầu được tường trình đặc biệt về Mặt Trận Phi Trường Phụng Dực, và… số phận các Chiến Sĩ Trung Đoàn 53 Bộ Binh.

Đây cũng là một vinh dự, một hãnh diện cuối cùng dành cho những”Dũng Sĩ” tại mặt trận này! Nhưng Đại Tướng Viên chỉ được báo cáo, qua nguồn tin không chính xác, của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Hành Quân ở Phước An: Trung Đoàn 53 Bộ Binh đang bị đánh rất nặng, Bắc đã quân tràn ngập vị phòng thủ của Họ!

Đạn hết, lương thực hết. Không còn cấp chỉ huy, không còn được yểm trợ, không còn máy móc để liên lạc, để… kêu cứu. Những chiến sĩ Trung Đoàn 53 Bộ Binh gục ngã từng người, từng tổ, từng Tiểu Đội trong những chiến hào cho đến người cuối cùng!

11 giờ 30 sáng 17/03 Tiếng súng im bặt. Bắc quân cắm ngọn cờ đỏ trên đài kiểm soát không lưu của phi trường Phụng Dực và thu dọn chiến trường.

Không có tù binh, không có cả những người lính bị thương. Những Dũng Sĩ của Trung Đoàn 53 Bộ Binh không còn chiến đấu nữa. Họ đã tan ra, đã nát ra… từng mảnh vụn và trộn lẫn vào đất đỏ của miền Cao Nguyên hùng vĩ!

Ngày 17/03/1975, Trung Đoàn 53 Bộ Binh/ QLVNCH bị Bắc quân xóa tên. Đó cũng là một ngày bi tráng và đau buồn! Lần đầu tiên trong 21 năm chiến đấu chống Cộng và giữ Nước, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II triệt thoái khỏi Cao Nguyên!!

Nhưng không! đó vẫn chưa phải là những giòng chữ cuối cùng viết về các Dũng Sĩ Trung Đoàn 53 Bộ Binh! Bởi vì, vẫn còn những anh hùng của QLVNCH mang phù hiệu cũa Trung Đoàn 53, Sư Đoàn 23 BB trên vai áo!

Hai ngày sau, khi Bắc quân tràn ngập phi trường Phụng Dực, Ban Mê Thuột, một nhóm quân nhân của đơn vị này đả “về” được Phước An và tiếp tục chiến đấu tại mặt trận Quốc Lộ 21. Một tuần lễ sau nữa, ngày 24/03/1975, ba “người anh hùng” khác, sau 7 ngày 7 đêm vượt cả trăm cây số đường rừng núi “sống với cỏ cây, thiên nhiên”, từ Ban Mê Thuột đã lên tới buôn Thượng Dam Rong, Đà Lạt! Họ là những quân nhân bất tử của Trung Đoàn 53 Bộ Binh! Họ thật vĩ đại và thật phi thường!!

Và đó là một trong những huyền thoại của chiến tranh Việt Nam, trong những trận quyết tử Nam-Bắc sau cùng 1975!

Trở lại những ngọn đồi vô danh

11 giờ sáng ngày 31/03/1975 tại Bộ Tư Lệnh Hành Quân Mặt Trận Bình Định vị Tư Lệnh Sư Đoàn 22 BB nhận được lệnh “điều động” Sư Đoàn về phòng thủ Quy Nhơn.

11 giờ 30 phút trên hệ thống truyền tin chỉ huy giữa Sư Đoàn với Trung Đoàn, và sau đó Trung Đoàn – Tiểu Đoàn, các Trung Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn Trưởng đều nghẹn ngào khi nghe lệnh này. Cả 3 Trung Đoàn 41, 42, 47 lúc đó đều đang giao tranh với địch. Trung Đoàn 41 và 42 BB tại các mặt trận trên Quốc Lộ 19 cách Quy Nhơn 30 cây số, và Trung Đoàn 47 ở phía Bắc Bình Định.

Có những người quân nhân nhà nghề đã chiến đấu trong các Đại Đơn Vị này suốt 2 thập niên ngay từ khi Sư Đoàn mới thành lập. Đã trải qua bao nhiêu thăng trầm biến đổi, nếm đủ vinh quang, bi hùng trong suốt 20 năm trận mạc dòng dã. “Những người lính già của chiến trường”, tưởng không bao giờ bị gục ngã. Nhưng với cái lệnh rút khỏi vùng hành quân hôm nay, họ biết ngay đây là giai đoạn chót cuối đời binh nghiệp!!!

Sư Đoàn đã từng bị đánh tan tành và tưởng đã bị xóa tên trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Họ đã rút lui, đã tan hàng, đã từng mở đường máu suốt mấy chục cây số đường rửng núi để về “điểm tập trung”.
Nhưng họ không sờn lòng nản chí, họ vẫn vững tinh thần tin ngày hồi sinh của Sư Đoàn!

Một cuộc rút quân khác nữa mà họ không bao giờ quên. Đó là cuộc chuyển quân thần tốc của một Trung Đoàn, TĐ 42 BB, từ Tây Nguyên trở về Bình Định tái chiếm Đèo Nhông. Đây cũng là một chiến thắng huyền thoại nhất của Trung Đoàn 42 trong năm 1974. Trung Đoàn 42 Bộ Binh đang hành quân tại vùng Pleime, Tây Nam Pleiku, trong một buổi chiều được lệnh giải tỏa áp lực của địch tại Mặt Trận Bình Định. Cuộc chuyển quân tưởng rằng phải thực hiện trong vòng hai hay ba ngày. Nhưng ngay đêm hôm ấy toàn bộ Trung Đoàn đã về tới Bắc Phù Cát, và từ đó không nghỉ, như một bàn đạp đánh thẳng vào hậu phương địch, khiến Bắc quân trở tay không kịp, những trận kịch chiến đẫm máu dòng dã suốt hai ngày sau đó. Trung Đoàn 42 đã tiêu diệt gần trọn một Trung đoàn CSBV của Sư Đoàn 3 Sao Vàng dựng nên “Chiến Thắng Đèo Nhông”.

Trước khi mặt trận Ban Mê Thuột bùng nổ, một lần nữa Trung Đoàn 42 BB lại biến 2 ngọn đồi vô danh vùng Tây Nam quận Hoài Nhơn, Bình Định thành những “di tích” của chiến sử nói lên tinh thần chiến đấu chống Cộng phi thường của người chiến sĩ QLVNCH.

Hai ngọn đồi vô danh đó là những ngọn đồi chiến lược, được mang số trên bản đồ hành quân 82 và 147 nằm trên huyết lộ vận chuyển của cộng quân, trên trục Quảng Ngãi – Bình Định. Cũng tại hai cao điểm chiến lược này, bọn nhà báo bất lương ngoại quốc, sau gần 20 năm xuyên tạc chiến tranh Việt Nam đã phải ngả nón kính phục về tinh thần dũng cảm của QLVNCH. Một phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ cũng được gởi tới đó để quan sát chiến trường, khi về nước đã lên tiếng bênh vực, ủng hộ Việt Nam . Nhưng… mọi chuyện đã quá muộn!

22 giờ đêm Tướng Phạm Văn Phú. Tư Lệnh cuối cùng của Quân Đoàn II và chiến trường Cao Nguyên bay trên đầu những cánh quân của Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Với phương tiện có thể có và hải pháo yểm trợ của Hải Quân vùng II, ông hy vọng sẽ cứu được 50% lực lượng của Sư Đoàn. Tuy nhiên, điều mong ước của Ông không bao giờ đến!

Giờ phút này, trước đó và sau đó suốt 22 tiếng đồng hồ, các trung Đoàn 41, 42, 47 trên chặng đường rút quân và cũng là một trận tuyến dài hơn 30 cây số, từng đơn vị bị phục kích, bị đánh tan tác, bị chặt đứt ra từng khúc nhỏ.

Đây là cuộc trả thù man rợ nhất, tàn ác nhất trong trận chiến sau cùng của chiến tranh Việt Nam. Trên 30 cây số đường máu, chiến đấu không yểm trợ, không tiếp tế, không tản thương vì “hậu phương” rã ngũ, bỏ súng!

Trước mắt là địch, sau lưng cũng là địch!

Đối thủ tuy vẫn là Sư Đoàn 3 Sao Vàng và những Tiểu Đoàn Đặc Công Cộng Sản Bắc Việt. Nhưng Bắc quân ở thế thượng phong. Có pháo nặng, chiến xa yểm trợ và một “hậu phương lớn nổi dậy”. Những người Cộng Sản đã không cần biết đến quy luật của chiến tranh. Chúng thẳng tay tàn sát kẻ thù mà trước đây đã từng gây cho chúng những tổn thất lớn lao, những thất bại đau đớn.

Trên 30 cây số đường máu các chiến sĩ Sư Đoàn 22 Bộ Binh đã chiến đấu trong tình trạng tuyệt vọng nhưng dũng cảm anh hùng. Họ đã bắn đến viên đạn cuối cùng rồi gục xuống, Đả có những hành động hào hùng, phi thường, bi tráng xảy ra ở đây ngay trên chiến trận này!

Một cấp chỉ huy Trung Đoàn 47 đã quỳ xuống, ôm lấy người lính bị thương rồi bật khóc. Người lính hấp hối, thoi thóp nhưng ngón tay vẫn để trên cò súng. Ông đau đớn, Ông đứng dậy bỏ đi. Nhưng rồi lặng lẽ quay trở lại ông rút súng kết liễu đời đứa em thân yêu và thật bình tĩnh để súng lên màng tang tự bắn vào đầu mình!

Có một “người Anh Lớn” khác sau khi tiễn các chiến hữu của mình lên tàu hết, rồi lững thững quay trở lại. trời bừng sáng nhưng anh đã không chọn hướng đi về phía ánh mặt trời. Anh trở lại con đường cũ, trở lại phía có những “Ngọn Đồi Vô Danh”. Nơi đó Anh sẽ gặp Dũng Sĩ Mai Hồng Bướm, người Binh Nhất Trung Đội Trưởng Anh Hùng của Sư Đoàn 22 BB – người Trung Đội Trưởng thứ… sáu của Trung Đội đã chỉ huy đơn vị đánh bật kẻ thù khỏi đỉnh Du Tự, Hoài Ân trước khi gục ngã. Và gặp lại rất nhiều những anh hùng vô danh khác của Sư Đoàn, những Người đã lấy máu mình tô thắm cho màu cờ Đơn Vị, trong những năm tháng sau cùng!!!

Ngày thứ 7 của cuộc rút quân và sau hai tuần lễ Cộng Sản Bắc Viết tấn chiếm Ban Mê Thuột. 2/3 Chủ Lực quân của Quân Đoàn II tan tành. Đó là Sư Đoàn 23 BB và 7 Liên Đoàn Biệt Động Quân, những Đơn Vị này đã bị thiệt hại từ 60~70% quân số.

Lực Lượng Pháo Binh nặng 175ly, 155ly, các Thiết Đoàn Chiến Xa coi như “bất khiển dụng” 90%. Gánh nặng đè xuống cho các đơn vị còn lại: Sư Đoàn 22 BB và Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù. Lữ Đoàn 3 Dù được tăng phái phòng thủ tuyến đèo M’Drak, mặt trận Khánh Dương.

Niềm hy vọng cuối cùng và cũng là đại đơn vị duy nhất còn lại của Quân Khu II – Sư Đoàn 22 Bộ Binh – được trải dài, bao vùng cả 3 mặt trận. Các trung Đoàn 41, 42 và 47 trấn giữ Quốc Lộ 19 và mặt trận Bình Định. Hàng ngày “đối diện” với Sư Đoàn 3 Sao Vàng cùng các đơn vị trọng pháo, chiến xa của CSBV. 2/3 quân số Trung Đoàn BB và Bộ Chỉ huy TĐ tăng cường cho mặt trận Khánh Dương. Tư Lệnh Phó SĐ Bộ Tham Mưu Nhẹ được lệnh tới “cố vấn” đánh chốt tại Phú Yên, và bảo vệ Đèo Cả trên Quốc Lộ 1 giữa đường Phú Yên Nha Trang.

Sư Đoàn 22 BB được xem như một biểu tượng, một uy dũng, một kỳ diệu cho tinh thần chiến đấu tuyệt vời, thần thánh cùa QLVNCH. Sư Đoàn với danh hiệu” Tam Hắc Sơn, Bạch Nhị Hà, Trấn Sơn – Bình Hải” này đã từng đại bại, tan hàng tưởng như bị Bắc quân xóa tên từ nhiều năm trước. Nhưng rồi vẫn oai hùng trở lại phong độ, chiến đấu dũng mãnh cho tới ngày cuối cùng.

Trận đánh lớn đầu tiên của chiến tranh Việt Nam xảy ra tại Cao Nguyên năm 1961. Gần một Trung Đoàn BB bị thiệt hại Vị Tư Lệnh Sư Đoàn 22 BB trong thời gian này là Trung tá Nguyễn Bảo Trị.
Hồi đó vùng trách nhiệm của Sư Đoàn còn kéo dài theo biên giới trên Quốc Lộ 14: Từ Dakto, Banhet qua Dak Sut, Dak Pek và lên tới Dakrơtah . Sau trận này tôi đã có dịp lên sống trên một ngọn đồi gần Toumorong 40 ngày để nghiên cứu viết về mặt trận B3 của địch và… để chia sẻ những đau đớn tủi nhục của một đoàn quân bại trận!!

Một lần nữa , tháng 4/1972, Sư Đoàn tan hàng tại Tân Cảnh (Dakto, Komtum). Tư Lệnh Sư Đoàn, Bộ Tham Mưu, Trung Đoàn Trưởng 42 mất tích. Hai Trung Đoàn 42 và 47 “về” được Pleiku 50 người. Trung Đoàn 47 khoảng 300. Tại mặt trận Bắc Bình Định, sau những trận bị tấn kích tại Bồng Sơn và khi địch chiếm Tam Quan, Hoài Ân, Hoài Nhơn rồi, Trung Đoàn 40 “chạy” được tới Phú Bài, Quy Nhơn gần 100 người!

Thời gian này, Sư Đoàn 22 Bộ Binh xuống còn 1 Trung Đoàn và cần được bổ xung thêm quân số!

Nhưng rồi như một phép nhiệm màu, với chính sách “tam cùng”: cùng ăn, cùng ngủ, cùng sống chết có nhau. Sư Đoàn đã hồi sinh mau lẹ. Đúng 4 tháng sau, Sư Đoàn 22 BB đã chiếm lại tất cả những phần đất mà chính mình đã để mất vào tay giặc, vùng Bắc Bình Định.

Những trận đánh ròng rã suốt mấy tháng trời tại Bắc Bình Định, Trung Đoàn 21 CSBV của Sư Đoàn 3 Sao Vàng bị khai tử hoàn toàn. Một Trung Đoàn Chủ Lực khác của địch, trung Đoàn 141 ngoài Quảng Ngãi được chuyển vào thay thế.

Một thời gian sau các chiến sĩ Sư Đoàn 22 Bộ Binh một lần nữa trở lại Tây Nguyên. Đây cũng là dịp để người anh hùng “Trấn Sơn Bình Hải” này trả được cái hận cũ: Hận “tan hàng” tháng 4/1972.

Trung Đoàn 40 lên Bắc Komtum cùng với các chiến sĩ Biệt Động Quân, đương đầu với Sư Đoàn F10 CSBV. Trung Đoàn 42 tăng cường trấn giữ mặt trận Tây Nam Pleiku, với sự hiện diện thường trực của Sư Đoàn 320 CSBV.

Và “cái hận cũ” đã được trả. Những lực lượng của SĐ 22 BB đã chận đứng, phá vỡ được cuộc hành quân quan trọng của Sư Đoàn 320 CSBV trong ý đồ tấn chiếm căn cứ Pleime, và sau đó mở trục tiếp vận từ căn cứ này tới Quốc Lộ 19. Trong một cuộc phản phục kích tuyệt vời gần Pleime, Trung Đoàn 42 BB đã tiêu diệt gọn gần 2 Tiểu Đoàn thuộc Trung Đoàn 64 VC. Trung Đoàn 40, Sư Đoàn 22 BB hôm nay gặp lại đối thủ cũ: Sư Đoàn F10 CSBV tại mặt trận Bắc Komtum khi trước. Âu đó cũng là… định mệnh!!!

Đoàn quân Mũ Đỏ

20 giờ 20 ngày 29/03/1975. Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II nhận được báo cáo từ mặt trận Khánh Dương. Quốc Lộ 21: Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù đang bị tấn công nặng.

Lực lượng Mũ Đỏ bây giờ là linh hồn của Mặt trận Khánh Dương Quân Khu II. Tuyến Dù vỡ, Nha Trang không bị đánh cũng vào tay giặc. Và Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn sẽ lại di tản lần thứ hai!
Đà Nẵng mất,Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II, vừa đau buồn, vừa lóe lên một tia hy vọng. Chiều mai 30/03/1975 hay chậm lắm là hai ngày nữa. Mặt trận Khánh Dương, Nha trang sẽ được tăng cường bởi Đoàn Quân Mũ Xanh Thủy Quân Lục Chiến.

Tướng phú dùng máy STS liên lạc với Trung Tá Lê Văn Phát, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù, hiện đang là Tư Lệnh Mặt Trận Khánh Dương. Ông ra lệnh, Ông yêu cầu anh em Dù ráng chống đỡ đêm nay. Ngày mai sẽ có 2 Tiểu Đoàn Biệt Động Quân, và sau đó một Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến từ Đà Nẵng về cùng lên chiến đấu tại Mặt Trận này!

Vị Tư Lệnh Chiến Trường, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 3 Dù, ra lệnh cho các đơn vị lập phòng tuyến thép, không lùi!

Nhưng đêm nay. Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù sau những thiệt hại tại Quân Đoàn I, và hơn 1 tuần lễ tại Mặt Trận Khánh Dương, quân số chỉ còn hơn 1000… Không chiến xa, không Pháo Binh nặng làm sao họ đương đầu được với 3 Sư Đoàn chủ lực quân CSBV F10, 320, 316 đông hơn gấp 10 lần, và với những Trung Đoàn Pháo, Trung Đoàn Chiến Xa T-54 đã tiến sát cận kề?

Tuyến đầu tiên của Lữ Đoàn 3, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù bị CQ vây kín 4 mặt, bị đánh trộn chấu, biển người.

Tiểu Đoàn 5 ND là Đơn Vị tôi có khá nhiều kỷ niệm. Tôi đã ôm dù nhảy tập, nhảy hành quân theo họ nhiều lần. Tôi có “những người anh em” từ cấp Binh Nhì đến Tiểu Đoàn Trưởng ngay từ cuối thập niên 1950. Như NQT, Ngô Lê Tĩnh, Hà Huyền Chi, Nguyễn Chí Hiếu, Bùi Quyền và nhiều nữa.

Nhưng hai người mà tôi nhớ nhất, đó là một “chú em nhỏ” Binh Nhì 17 tuổi, đã bắn hạ Chiến Xa Bắc Việt tại An Lộc trong Mùa Hè đỏ Lửa 1972. Chú em này sau trở thành con đỡ đầu của cụ Trần Văn Hương, Phó Tổng Thống VNCH. Và “người phóng viên già” Nguyễn Đạt Thịnh, Đã quyết định in hình người anh hùng Mũ Đỏ trẻ tuổi này lên trang bìa một tờ báo quân đội thay vì in hình Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Tướng Vanuxem “xuống“ An Lộc ngày 7/7/1972!!

Một người nữa là Bùi Quyền. Anh là một Tiểu Đoàn Trưởng có tư cách, một anh hùng, người Tham Mưu Trưởng tài ba của Lữ Đoàn và… nghèo nhất nước. Anh biết chia sẻ những nguy hiểm, và những thiếu thốn với những anh em binh sĩ. Khi anh làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 ND, vợ của ông Tiểu Đoàn Trưởng, của các sĩ quan cũng như những bà vợ của anh em binh sĩ đều sống trong những dãy nhà tôn của trại gia binh, và chia nhau đồng đều quyền lợi của Đơn Vị.

Đó cũng là người niên trưởng “hắc búa” nhất, thần tượng của nhà văn Phan Nhật Nam ngoài chiến trường, cũng như khi còn học ở trường Võ Bị Đà Lạt!

Hơn một tuần lễ Lữ Đoàn 3 ND tới trấn đóng đèo M’Drak, chúng tôi mới gặp nhau một lần. Đêm nay Bùi Quyền và những người anh em khác của tôi đang “ngập chìm” giữa vòng vây địch. Đường Nha Trang – Khánh Dương 20 phút bay! Tôi muốn được đến gần họ ngay bây giờ. Dù chỉ để nghe tiếng họ kêu vang và để biết rằng Họ vẫn còn đang chiến đấu!

19 năm trước khi còn “tuổi trẻ hân hoan đợi gói trong cờ”, tôi được đào tạo thành một quân nhân nhà nghề. Tôi được gởi đi học lớp Đại Đội Trưởng tại một trường bộ binh Hoa Kỳ. học đánh nhau theo kiểu Mỹ!

Có lần trong phần kết thúc của một bài học về tác chiến, người sĩ quan huấn luyện viên nói một câu, tôi còn nhớ mang máng rằng:

“Khi tôi còn nhỏ, Mẹ tôi thường nói: con muốn điều gì, hãy nhắm mắt lại và mơ ước. Lúc mở mắt ra, Mẹ cho con tất cả những gì con muốn. Lớn lên khi chỉ huy ngoài mặt trận, lúc bị vây hãm tràn ngập: tôi nhắm mắt lại và tin rằng khi mở mắt ra tôi sẽ thấy… một đám mây hình nấm!”

“ Đám mây hình nấm” là hình dáng cột khói tạo nên bởi trái bom B-52 thả xuống, là “bức tường mây” của mấy chục khẩu pháo cùng bắn hiệu lực vào mục tiêu.

Đó là đánh nhau “theo kiểu Mỹ”! người Mỹ đã huấn luyện tôi, huấn luyện những cấp chỉ huy của Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù đánh nhau như vậy, đúng 20 năm nay đã quen và không sai chạy. Nhưng bây giờ, người Mỹ phản bội, bỏ chạy. Và chúng tôi không B-52, không đại bác, không chiến xa. Và trước một quân thù hung bạo với một rừng xe tăng, đại pháo, với biển người lớp lớp hàng hàng!!!

Nhìn về phía Khánh Dương, tôi thấy mịt mù xa tắp. Tự nhiên tôi nhắm mắt lại. Tôi theo đạo Công Giáo, nhưng đã hơn 10 năm rồi chưa một lần bước vào nhà thờ. Và đêm nay, tôi đã nguyện cầu. Tôi cầu xin cho những người anh em tôi qua được một đêm. Ngày mai… quân tăng viện sẽ đến!!!

Phạm Huấn


 

 

Tuesday, February 25, 2020

Mùa Thu Trả Lại Người - Thuyên Huy


Mùa Thu Trả Lại Người

Nhớ một người tên K của những ngày ở trọ nơi xóm đạo Tây Ninh

 
 












Tôi góp mùa thu trả lại người
Những mùa thu muộn nắng chia dôi
Phố người ngõ trúc vàng màu lá
Nhà tôi đường phượng úa lâu rồi

 
Cũng lá màu xưa áo thu vàng
Lối về vẫn bầy sáo đi hoang
Giáo đường thiếu khúc kinh cầu muộn
Chiều xót xa đưa giọt nắng tàn

 
Từ đó phố người quên lên đèn
Nhà tôi đường phượng đã đổi tên
Ngỏ hẹp xanh xao làm khách lạ
Cửa khép một đời thu lãng quên

 
Người đi đâu biết cây cỏ sầu
Mùa thu vẫn những thoáng mưa mau
Góc vườn xưa đốt thư tình cũ
Chôn mộng ban đầu dưới mộ sâu

 
Thuyên Huy
St Albans một chiều mưa đến muộn 2018

Người Tàn Tật Và Thằng Nhỏ Bến Phà Mỹ Thuận - Thuyên Huy



Người Tàn Tật Và Thằng Nhỏ Bến Phà Mỹ Thuận

Tình tiết tưởng tượng, địa danh thật nhưng có thể không chính xác, tự dựng bối cảnh, viết để nhớ em tôi
 
 
 

    Chủ nhật tuần nào cũng vậy, hơn ba bốn tháng rồi, về làm việc ở Vĩnh Long, vẫn chưa “quen nước quen cái”, đi ra đi vô một mình một thân, căn nhà trong cư xá do tỉnh cấp lúc nào cũng “cửa đóng then gài”, vắng tưởng chừng như đôi khi tiếng nghe được tiếng muỗi lạc bầy trong ngày kêu, đám đàn anh “chức sắc” ai nấy đều có gia đình nên cũng không mấy khi gặp mà “trà dư tửu hậu”, thành phố thì chẳng có gì gọi là vui, ăn cơm tiệm dưới chợ ngày lại ngày qua riết rồi cũng chán, nên thử bỏ lên ngã ba đi Sa Đéc, ăn cơm bến phà Mỹ Thuận,  lên phà xuống phà như những lần theo xe đò ghé ngang Sài Gòn quê thăm nhà, thay đổi không khí chút đỉnh xem sao, mới đầu thấy có cái gì đó vui vui nhưng rồi thành thói quen lúc nào không biết.

    Băng qua bên này đường, đầu ngã ba, lấp lửng trưa, trời có phần nắng sớm, gió từ sông thổi lên lùa theo hơi nước râm râm mát rượi, trước khi vào cái quán cơm quen đầu dãy hàng tiệm bán đủ thức ăn, tôi thường thả bộ xuống tới tận bờ sông bên này bến phà, đứng chờ chuyến phà từ bên Cái Bè qua, nhìn xe nhìn người, la hét gọi nhau đầu trên xóm dưới, lòng thấy vui lây theo cái rộn rã, nhộn nhịp của chợ búa, nhất là ngang qua chỗ cái sạp nhỏ, dựng bằng mấy tấm ván lỡ và một rưỡi mái tôn che nắng cũ sét, khiêm nhượng dựa sát bên cạnh cái tiệm bán túi xách, nón khăn đủ loại đủ màu, có người đàn ông tàn phế, cụt mất một nửa chân trái, một nửa cánh tay trái từ cùi chõ xuống, khuôn mặt nám khô màu máu bầm một bên má phải, đội cái nón vải cũ rách vài chỗ che mắt và thằng bé trai độ ba bốn tuổi, thằng bé mặt mày sáng sủa, dễ thương, cười cười, ngồi bên cạnh anh ta, chắc là ba mình, bán chừng chục bịch bánh phồng tôm Sa Giang, bịch kẹo chuối, kẹo dừa, năm ba xấp bánh tráng dẽo, vậy thôi, hai cha con ngồi lặng thinh, nhìn ra đường chờ khách lên phà xuống phà, thỉnh thoảng thằng nhỏ quay qua anh nói gì đó, cứ nhìn thằng nhỏ là thấy thương thương làm sao, cho nên lần nào cũng như lần nấy, lên đây, cho dù nắng hay mưa, tôi vẫn phải đi xuống bờ bến phà, đứng ở một góc không xa, nhìn cho được nó, trên đường về cười một mình, không biết tại sao.

    Gần tới chỗ cái sạp, đứng khựng lại, người vẫn nối tiếp người đông nghẹt, cái sạp trống trơn, không thấy hai cha con thằng nhỏ, tôi ngó quanh ngó quất kiếm, đứng tần ngần trước đó một hồi lâu, người thưa thớt dần, bạn hàng cũng tạm không rao không chào gì nữa, lùi lại cửa tiệm bán túi xách hỏi bà chủ đứng nhìn mông lung ra đường, bà cho biết hai cha con không tới bán hai tuần nay, nghe như anh bị bệnh gì đó. Nghe qua, lòng bỗng dưng không yên, bụng cũng buồn theo không thấy đói, lo cho thằng nhỏ, nếu chỉ có hai cha con thôi thì thằng nhỏ ai lo, tôi gợi chuyện làm quen nhân thấy tiệm vắng khách, bà chị vui vẻ không gì phiền hà cho biết thêm về hoàn cảnh hai cha con, không nhìn tôi mà nhìn xa xa, thoáng chút buồn thấy đâu đó trong mắt.

    *

    Nhà tôi tạm có dư ăn dư mặc chút xíu, nhờ vào việc hùn hạp xe đò chạy đường Trãng Bàng - Sài Gòn với người bạn cũ, có chút thâm tình, đùm bọc nhau từ thời lang thang trên Xa Cam Hớn Quản, rồi sông nước Cai Lậy Trà ôn, trong những ngày ba tôi và chú còn trẻ. Căn nhà không lớn, chỉ có ba người ra vào, người ta xung quanh thì anh em đông, người này người kia, còn nhà tôi thì chỉ có mình tôi, đôi khi thấy vắng vẻ cũng buồn. Qua tết năm tôi lên lớp nhất tiểu học, ba tôi đi thăm hai vợ chồng cô ba Sen, bà con bạn dì gì đó của ông trên Thạnh Phước, Gò Dầu về, dẫn theo thằng nhỏ, tên Trà, quần áo sạch sẽ, mặt mày ngơ ngơ nhưng trông cũng sáng láng, có nốt ruồi son nhưng không đỏ lắm sát cánh mũi trái, dễ cảm tình, nhỏ hơn tôi chừng ba bốn tuổi.

    Ở trên chợ xã Thạnh Phước, không thấy cha mẹ của thằng Trà , nó sống lui cui với bà ngoại từ năm hai ba tuổi, nhà nghèo ở một góc xéo cuối làng, bà sinh sống bằng nghề đan rỗ đan thúng mướn cho người quen dưới chợ, không may bà bị bệnh nặng, bà con lân cận làng xã cố sức chạy chửa nhưng không làm sao hơn, bà qua đời, thương và tội tình cho thằng nhỏ, dù nhà có con đông nhưng vợ chồng cô ba Sen đứng ra nhận nó đem về nuôi gần hơn năm nay, nó dễ dạy, nên cả nhà ai cũng thương cũng mến. Trước ngày đưa ông Táo năm đó, sẳn dịp lên Gò Dầu làm một số giấy tờ, ba tôi ghé vào thăm gia đình cô ba Sen, nhắc cây mai chưng tết mà họ hứa cho, nghe tình cảnh thằng Trà, ông quyết định nhận nó làm con nuôi, Tết xong lên đón. Từ ngày đó, nhà có thêm người, mẹ tôi bận rộn hơn nhưng mà vui và cũng từ đó tôi có đứa em tên Trà, mới đầu thì sợ sệt, ngập ngừng, lạ nhà lạ chỗ nhưng rồi cũng quen, nó lòng vòng bên tôi “anh hai anh hai”, ba xin nó vào học lớp năm trường tiểu học Trãng Bàng, hai anh em đi về có nhau suốt năm sau đó, Trà cũng chịu khó học, chăm chú nghe tôi chỉ bài, chữ một chữ hai, ba mẹ tôi thì thôi, ông bà lo cho nó từng li từng tí, không nói gì ông bà, tôi thương nó không biết bao nhiêu.

    Ngoài chuyện học hành, thì ôi thôi còn bao nhiêu chuyện đánh đáo bắn bi, chọi gồng chọi trỗng, tạt lon, đá cá đá dế, cứ vậy mà anh em quấn quít bên nhau theo bốn mùa thu đông xuân hạ, mưa mù nắng chói.  Có lần ba tôi theo xe đò từ Sài Gòn về, mua cho Trà, một con gà con nhỏ xíu, nhỏ như trái chanh bên hông nhà, màu vàng nhạt thấy thương, hai anh em thả nó đi chập chửng trong nhà, ngồi lê ngồi lếch theo sau, cười khoái chí theo tiếng kêu chíp chíp, Trà cưng con gà tới mức, mẹ tôi cũng phải đành chịu, đi ngủ cũng ôm con gà để nằm kế bên, con gà thì ham đi hơn là ở yên một chỗ, thấy Trà làm bộ giận mà tức cười, hể thấy con gà kêu lên, Trà kéo tay tôi cho bằng được, không cần biết tôi đang làm gì, hết mẹ hết anh  “nó đói bụng, nó đói bụng”.

    Rồi một ngày nọ, chiều đi học về, con gà nằm yên, gục đầu, không chạy lửng thửng ở ngạch cửa như mọi bữa, nó bỏ cặp, ngồi bệch xuống ôm con gà lên rờ đầu rờ lưng, miệng lầm thầm “anh hai anh hai”, hai anh em nhìn nhau bỗng dưng khóc sướt mướt, từ đó về sau cứ nhắc tới Trà là tôi không quên được chuyện này. Lên trung học, ở trọ nhà người quen, xa nhà nhớ ba mẹ nhiều không bằng nhớ Trà, đêm ngồi học bài mà cứ nghĩ tới nó, chắc là giờ này nó buồn lắm, ngày lại ngày qua cứ mong cho tới sáng thứ bảy cuối tuần, để kịp theo mấy người anh lớp trên, đón xe về Trãng Bàng thôi, tới nhà anh em gặp lại mừng muốn khóc, rồi thì về ăn tết, về nghĩ hè, mặc sức vui chơi thỏa chí, hết chỗ này tới chỗ kia, nguyên cả khu chợ quận, cứ như vây hết năm này qua năm khác.

*

    Qua năm đệ ngũ, Trà cũng bắt đầu lên lớp ba, nó học giỏi, hiền hậu, ít khi cãi vã, cho nên cô thầy ai cũng mến, nhất là đám bạn chung lớp, đứa nào cũng giành chơi với nó cho được, cả nhà tôi vui lây. Tình hình xóm làng bỗng dưng có phần lộn xộn, không yên hẳn như trước, có tiếng súng nổ lai rai, rải rác xa gần, xe đò lên xuống giờ giấc bất thường vì có quân du kích gì đó thỉnh thoảng ra đắp mô chận đường tại các khoảng đồng vắng, như chỗ khoảng nhà thờ họ Bình Nguyên chẳng hạn, cho nên hai ba tháng tôi mới về nhà một lần.

    Hôm tôi về thăm nhà giữa năm đệ ngũ, tôi chưng hửng, không thấy Trà chạy ra đón như những lần trước, thì ra Trà không còn ở với gia đình tôi nữa từ hơn hơn nửa tháng nay rồi, bữa cơm chiều đó, không những tôi buồn mà ba mẹ tôi cũng buồn không ít, ăn không muốn vô, ngồi nhìn quanh đâu đâu cũng nhớ nó, nhớ mà thương muốn khóc. Theo lời mẹ tôi, có hai vợ chồng còn trẻ, độ chừng trên hai mươi mấy, ăn nói thật thà, đi cùng với chị tư, con của bà cô Sen từ Thạnh Phước xuống nhà, vợ chồng này đem theo tờ giấy xác nhận của xã, chứng nhận là người ở đó trước đây và thằng Trà là con ruột của họ, chị tư cũng đưa thêm cái thư của dượng ba Sen. Hai vợ chồng xin nhận lại thằng Trà và tuy không muốn nhưng cũng không làm gì khác hơn được, ba mẹ tôi đau lòng giao lại con. Trà còn nhỏ quá, chưa biết ất giáp gì nên ai bảo sao nghe vậy, mẹ tôi sửa soạn một túi xách quần áo nặng và nhiều thứ khác mà Trà thường chơi ở nhà cùng một số tiền, gọi là phụ cho nó ăn bánh ăn kẹo, chiều đưa ba mẹ ruột thằng Trà ra bến xe, ba tôi đứng lặng thinh, mẹ thì ôm thằng nhỏ bùi ngùi khóc, mẹ ruột nó cũng sướt mướt khóc theo, xe chạy khuất lâu rồi ba nẹ vẫn còn đứng nhìn theo, ba tôi giờ này mới rưng rưng nước mắt. Thằng Trà đi rồi ba mẹ tôi buồn hết mấy ngày trời, không màng chuyện ăn uống “cơm canh lạnh tanh”, cho tới hôm tôi về, gia đình tôi xa thằng Trà từ ngày đó.

*

     Bận việc bầu cử, cứ đi hết xã này qua xã kia cả ngày nên mấy tuần sau mới rãnh rỗi. Chủ nhật tôi lên bến phà sớm, bạn hàng buôn bán, người đi đường đông nghẹt, chen chúc nhau như mỗi buổi sáng thường lệ, xe đò xe hàng nối đuôi chờ lượt xuống phà qua bên Cái Bè, còi xe inh ỏi, ồn ào, kéo lôi hành khách, từ bên này góc ngã ba đường, thấy cha con thằng nhỏ đã có ở cái sạp quen rồi. Len đám người dắt díu nhau, tay xách tay mang, nắng lên rực một trời, tôi đi nhanh xuống bờ, tới gần cái sạp, để nhìn rõ mặt hơn, chưa kịp hỏi mua gì, bà chị chủ tiệm bán nón túi đứng trước đã lên tiếng “đây nè, hôm bị bệnh, không thấy tới bán, có chú này nè, đến hỏi hăm đó”, tôi cười, thằng nhỏ ngó lên anh cũng ngước lên, cũng cái nón che đầu như trước, gật đầu chào, tôi giựt thót người, lặng đi chốc lát, khi nhìn thấy nốt ruồi son sát cánh mũi trái. Lựa hai ba bịch bánh phồng tôm, kiếm chuyện ngồi xuống bên hai cha con, hỏi qua hỏi lại chuyện này chuyện kia với anh và thằng nhỏ, một khoảng thời gian vừa đủ để nhìn chắc cái nốt ruồi son đó, biết anh đang ở ấp Mỹ Thuận, xã Tân Hội, Vĩnh Long, thằng nhỏ không nói nhiều, nhìn qua nhìn lại nhưng cũng biết một hai “dạ chú, thưa chú, cám ơn cám ơn”. Từ giã hai cha con, cám ơn bà chị chủ tiệm, tôi bỏ lên cái quán cơm quen ngay ngã ba ngồi nhìn xuống, chợt nhớ ra là quên hỏi tên anh, dĩa cơm để đó, không động đậy gì lâu rồi, tôi cứ nhớ cái nốt ruồi son, lẫm bẫm “thằng Trà đây sao”.

    Căn nhà tranh lụp sụp, mái miếng chắp miếng ngang, nằm gần cuối con đường đất mòn nhỏ, ngoằn ngoèo tính từ trên đường lộ hơi xa nhưng nhờ ông trưởng ấp Mỹ Thuận chở bằng xe Honda vô, nên tìm không khó lắm, tôi đi vào nhà, ông trưởng ấp bỏ trở ra ngoài cái quán nước nhỏ đầu ngõ chờ như đã hẹn.

    Trời sắp chiều, nắng vẫn còn sáng rực, ngồi xuống bên cạnh hai cha con trên cái giường tre, chiếc chiếu màu xanh dương bạc rách hai ba chỗ, nhà trống trước trống sau, không có gì khác ngoài cái giường tôi đang ngồi, cái tủ xiêu vẹo bằng cây không cửa đựng mớ quần áo lộn xộn, cái bàn chân thấp chân cao ở giữa và vài ba ghế ngồi, mớ chén bát, mấy cái nồi, để chẳng có lớp lang trên cái kệ kê bốn cục gạch bể hết phân nửa, để sau tủ, tất cả chỉ có vậy thôi, ở trước sân nhà bên kia, đám con nít chạy nhảy hò hét vang rân, thằng nhỏ ngó ra, không màng nhập cuộc. Tôi được ông trưởng ấp cho biết tên anh nhưng tôi muốn chính mình nghe anh nói, anh ngồi im một chút, tôi cũng lặng thinh chờ, không cầm được nước mắt, tôi bật khóc khi anh nói tên mình, tôi ôm lấy Trà và thằng nhỏ, hơn mười năm rồi, thấy hai người lớn khóc, thằng nhỏ cũng khóc theo.

    Rời Trãng Bàng ngày đó, về Thạnh Phước không lâu thì hai vợ chồng dắt con xuống Cần Đước, Long An, quê bên chồng, làm ruộng mướn cho một người quen do ai đó từ trên Thạnh Phước giới thiệu. Nhà nghèo cứ nghèo, Trà không còn đi học nữa, theo hai ba đứa nhỏ khác chăn trâu cho ngươi chủ ruộng, ngoài đồng, có lúc không còn chuyện gì để chơi để nói với nhau, mỗi thằng mỗi chỗ, Trà ngồi dưới gốc đám cây bình bác thường ngày, bên bờ con rạch nhỏ, lớn cái mương chút xíu, nhìn về hướng trời xa xa, chờ nắng tắt, lùa trâu về, buồn nhớ Trãng Bàng, buồn da diết. Cuối năm sau đó, qua tết, mùa gặt xong, một sớm mưa dầm, Trà và hai thằng bạn chăn trâu khác theo một người đàn ông lạ, đã thấy một vài lần đi qua xóm ấp, ngồi tàu đò dưới bến tàu chợ Long An đi Mộc Hóa.

*

    Sau ngày từ trung tâm chiêu hồi Vĩnh Long ra, thấy tình cảnh, tứ cố vô thân tội nghiệp, một bác nhân viên làm ở đó, giúp Trà tìm được chỗ ở tạm, ở nhà máy xay lúa, khúc gần bờ sông ngã ba Long Hồ của người quen, nhà ở đường Nguyễn Thái Học, ông chủ, bác Cần cũng là người tốt bụng, không những cho Trà có chỗ ở tại cái căn nhà thiếc nhỏ, gần nhà kho, trước chất bao cũ rách, giờ bỏ trống, bên hông nhà máy xay lúa, mà còn cho làm công nhân, cột bao, chất hàng và đôi ba chuyện lặt vặt khác. Trong đám mấy người làm ở đây, ai nấy đều vui tính, tử tế, có một cô gái duy nhất tên Hiền, trạc tuổi Trà, làm việc siêng năng cho nên ông thương lắm, cô không đẹp, dáng dấp nhà quê nhưng ăn nói nhỏ nhẹ, chậm rãi còn độc thân, ở đậu chung với hai ba chị em bán hàng ngoài bến xe chợ, trên ngã ba, xế nhà thờ chánh tòa, mấy anh khác đều có gia đình, mấy ngày đầu, vì Trà cũng độc thân, hai người tỏ ra e dè, chào hỏi phải phép vậy thôi nhưng rồi dần dần mấy anh bắt đầu chọc phá, cắp đôi cắp cặp, vậy mà mấy tháng sau, hai người phải lòng thương nhau.

    Bác Cần đứng ra làm một lễ cưới nhỏ, đơn giản cho Trà, Hiền, không có ai là khách, chỉ nhiêu đó mấy anh làm trong nhà máy xay lúa, bác nhân viên ở trung tâm chiêu hồi và vợ chồng bác, vậy đủ vui rồi. Hiền mồ côi cha mẹ rất sớm, được một người dì bà con xa nuôi, quê ở tận Cẫm Sơn, Cai Lậy, cho đến năm mười sáu mười bảy, thấy dì cực khổ quá, mặc dù Hiền cũng bương chải, cấy thuê gặt mướn, có hai ba cô gái bạn quen, rũ nhau đi Vĩnh Long tìm việc mong đở khổ hơn, Hiền theo họ từ đó, ba bốn tháng về thăm dì, tết năm nào cũng về lo cho mộ của cha mẹ, chôn không xa nhà người dì,  bà dì không đến được mà mừng cho cháu gái, cưới xong, bác Cần, gọi là cho mướn, nhưng chưa hề đòi tiền, miếng đất nhỏ đủ cất căn nhà tranh trên con đường đất nhỏ cuối ấp Mỹ Thuận. Hơn một năm sau, Hiền sinh con trai, thằng Hậu kháu khỉnh, dễ nuôi, Trà vui hết sức, nhà từ đó có tiếng cười và bà con chung quanh xóm nghèo có thêm chuyện mà chạy qua chạy lại, bồng bế chân tay, bà thương cô mến.

    Tháng Chạp, ngày đưa ông Táo năm thằng Hậu một tuổi, hai vợ chồng ẳm con về trên Cẫm Sơn thăm bà dì, cũng như những năm trước, về làm cỏ, làm đất mộ cha mẹ trước Tết. Ở chơi tới qua Tết vài ngày, trên đường về lại Vĩnh Long,  chiếc xe đò cũ kỹ chở khách từ Mộc Hòa về Cai Lậy, trên đó có vợ chồng Trà và thằng Hậu, bị trúng mìn ngay chỗ vừa qua ngã ba Cẫm Sơn, nỗ tung, cháy rụi, hàng chục người vừa bị thương vừa chết, xe GMC của lính từ trên quận, phối hợp cùng tàu hải quân đưa số người bị thương xuống bệnh viện Vĩnh Long. Hai vợ chồng bị thương khá nặng, thằng Hậu còn sống, bác Cần nhà máy xay lúa vào nhận thằng nhỏ đem về lo, chờ vợ chồng bình phục, nhưng không may, Hiền mất vài ngày sau, Trà bị cưa chân tay và trở thành tàn phế, cũng bác Cần, đem Hiền về chôn ở Long Hồ. Gần một tháng sau, rời bệnh viện, Trà ẳm con về lại căn nhà tranh ở Mỹ Thuận, chịu ơn bác Cần nhiều quá rồi, Trà từ chối lời bác bảo cứ ở làm lòng vòng chuyện lặt vặt trong nhà máy, thân tàn như vầy gây phiền hơn là tạo vui và với cây nạng gỗ hai cha con vui vẻ, dắt díu nhau mà sống bằng nghề bán kẹo bán bánh, sáng đi chiều về bên bến phà Mỹ Thuận từ đó.

*

    Sắp xếp mọi chuyên đâu đó, xin phép ông Phó tỉnh đàn anh nghỉ vài ngày để đưa hai cha con Trà về Trãng Bàng. Trước ngày đi tôi chở Trà tới nhà máy xay lúa để Trà từ giã mấy anh làm chung ở đó, thấy anh em bịn rịn, tay đỡ tay chống cái nạng, hôn hít thằng nhỏ Hậu mà xúc động khôn xiết, rồi trở qua nhà bác Cần, để cám ơn những gì bác đã lo, đã dành cho vợ chồng Trà, bác có gặp tôi một vài lần khi có việc gì đó ở văn phòng, biết mặt, chào nhau xa xa nhưng chưa nói chuyện gì, thấy tôi đi với cha con Trà vào nhà, hai vợ chồng chưng hửng, không ngờ, nhắc lại chuyện cũ, rồi hai anh em cám ơn những gì hai bác đã giúp, ra về hai bác theo tới cổng, một hai cứ từ chối không nhận mấy tiếng cám ơn, bắt tay bác lần nữa chào, trước khi lên xe, hai bác nói cùng một lượt, nhắc “khi nào rãnh mời ghé qua nhà ăn cơm chiều”, tôi gật đầu hứa, đở thằng nhỏ Hậu lên, nó quay lại vói lên ôm cổ bác gái “bà nội bà nội”, nghe mà rươm rướm nước mắt.

*

    Về Trãng Bàng, gặp lại Trà, ba mẹ tôi mừng quá đổi, mẹ tôi mừng mà khóc cả ngày, cứ “tội con tôi quá” từ nhà trước xuống nhà sau, còn thằng Hậu thì thôi, lặng xăng thơ ngây chạy qua chạy lại quanh nhà, miệng “dạ ông dạ bà”, hàng xóm chung quanh cũng thấy vui lây. Ba mẹ tôi có nhờ cô dượng ba Sen và mấy bác trên xã, dò la tin tức của cha mẹ ruột Trà khá lâu nhưng “biệt vô âm tính”.

    Tết năm sau về thăm nhà, thằng Hậu vào lớp năm trường quận, cái trường mà mười mấy năm trước Trà, ba nó cũng đã từng ngồi trong lớp học đó và hai anh em vẫn còn nhắc lại chuyện con gà không chịu ăn của một buổi chiều xa xưa, cười ngặt nghẻo.

Thuyên Huy   

Ừ Về Nhặt Lá Mơ - Thuyên Huy


Ừ Về Nhặt Lá Mơ

 


 
 
 
 
 
 
 
 
Để nhớ Thu Hồng

 
Ừ thôi về nhặt lá mơ
Của thu ngày cũ cũng bờ sông xưa
Vàng phai mấy nhánh cúc thưa
Lẻ loi bóng nhạn giữa mưa gọi người
Xếp tay lá ủ hương đời
Chút tình lệ muộn ngậm ngùi tiễn nhau
Khóc ư thu vẫn thu sầu
Người ngồi yên đó buồn dâu bể buồn
Sông xưa dòng cứ xa nguồn
Về đâu sao để nửa hồn thương đau
Tìm đâu những lá mơ đầu

 
Thuyên Huy
Toowoomba, chiều đầu thu trong sân trường University of Southern Queensland 2018

 

Đường Lò Đúc - Phạm Công Luận


Đường Lò Đúc
 
 
 


Đối với nhiều người, quê hương chỉ là một con đường, một khu phố hay khu cư xá nơi mình ở từ nhỏ đến khi trưởng thành.

Chúng tôi lớn lên ở một góc bé xíu của thành phố, nhưng nó lại là Phú Nhuận, một vùng đô thị may mắn vì nối liền trung tâm thành phố Sài Gòn với sân bay lớn Tân Sơn Nhứt. Nhờ vậy, nó có được những cái cầu lớn và những con đường lớn, khiến cho bao tao nhân mặc khách phải qua lại. Con đường lớn nổi bật, phồn thịnh nhất ở Phú Nhuận từ xưa là đường Võ Di Nguy (Phan Đình Phùng bây giờ). Ở đó, từng đặt Nhà Làng của xã Phú Nhuận, từng có hai rạp hát, từng đặt chợ Xã Tài sầm uất nay vẫn còn. Khi chúng tôi lớn lên, trên đường không còn nhà thuốc Ông Tiên lừng danh và hẻm Đội Có đã biến thành đường Cô Giang. Ít ai biết khu nhà quanh hẻm này là nơi duy nhất ở miền Nam có tiệm hát cô đầu, một kiểu ăn chơi du nhập từ xứ Bắc. Cũng không mấy ai biết thời hưng thịnh của rạp Cẩm Vân, nay là một trường học, từng rộn ràng những buổi diễn hát bội, hát cải lương và chiếu bóng.

Đoạn đường Võ Di Nguy từ cầu Kiệu đến ngả tư Phú Nhuận có một ngả ba giáp đường Nguyễn Minh Chiếu, một con đường cổ. Thời Pháp thuộc, nó là đường Martin Pellier và bây giờ là Nguyễn Trọng Tuyển. Nó không phồn thịnh như đường Võ Di Nguy, nhỏ hẹp và thậm chí có đoạn không có lề đường, nhưng đông vui. Trăm năm trước, quanh đó toàn là lò đúc gạch ngói, nên người già trong xóm tôi gọi đoạn đường ngắn từ ngả ba xuống ngả tư giáp với đường Trương Tấn Bửu (Trần Huy Liệu) là đường Lò Đúc.

Nửa thế kỷ trước, từ khi lên bảy tuổi, mỗi sáng tôi từ nhà đi dọc theo một con hẻm để đến trường tiểu học. Con hẻm dẫn đến đường Trần Khắc Chân, đi tiếp đến chợ Lò Đúc. Trong tuổi nhỏ của tôi, đó là đường đến trường ngắn nhất, an toàn nhất nhưng không hề dễ chịu. Đường đất, mùa mưa đầy những vũng nước. Đoạn ngang chợ luôn sực nức mùi mắm đồng tỏa ra từ các sạp mắm, mùi cải chua, mùi nhang thắp ngày rằm, mùi bánh cay trên chảo dầu… và đi ngang ngôi nhà ven đường có một gia đình chỉ toàn những người lùn. Đám học trò con nít chen chân cùng những bà bận áo bà ba xách giỏ đi chợ, các chị bận áo dài đến trường trung học Hoài An… khi dưới chân là sình bùn chèm nhẹp.

Trước khi đến chợ, không lần nào tôi không nhìn vào nhà nghệ sĩ Hoàng Giang, một kép độc tuồng cải lương có giọng nói rổn rảng. Ông cao lớn như lính Mỹ, to xương nhưng gầy, mắt to thô lố. Mỗi sáng sớm, ông cởi trần ngồi đọc báo trước nhà. Thỉnh thoảng vợ ông là nghệ sĩ Kim Giác, mập mạp và thấp bé, đi ra đi vào. Về nhà, tôi kể chuyện thường hay gặp kép Hoàng Giang. Bà chị nói ngay là không ưa ông đó, toàn đóng vai dữ lại hay la lớn khi diễn. Ông anh tôi bênh là như vậy mới hay, diễn vai ác mà bị ghét là thành công. Tôi có quen Sơn “mặt ngựa”, con của ông bà. Sơn to xương như cha nhưng không cao, mặt dài giống cha lại có cằm đưa ra nên có hỗn danh như vậy. Sơn sang xóm tôi đá banh, rất xông xáo trên sân nhưng đội của nó toàn thua. Thỉnh thoảng Sơn dắt theo thằng em trai nhỏ nhắn nhưng đẹp trai hơn nó. Sau này, cả nhà ông Hoàng Giang dọn đi nơi khác và tôi không còn thấy Sơn nữa..

Ra khỏi ngôi chợ chật chội là gặp đường Lò Đúc đi thẳng ra ngả ba Võ Di Nguy với nhiều tiệm quán của những người Tàu. Tiệm cơm gà Phúc Ký, tiệm thuốc bắc Ích Thọ Đường, tiệm thuốc bắc Vĩnh An Đường. Những lần dượng Út đến trường đón dì Út của tôi dạy trong trường Võ Tánh, dượng cho tôi quá giang về. Nếu may mắn, tôi sẽ được cùng dì dượng ăn cơm gà Phúc Ký hoặc ăn mì Tàu tiệm Quảng Huê Viên ở đầu đường. Khi có tí tiền còm, tôi sẽ đến một tiệm thuốc bắc để mua cà na, táo Tàu hay trần bì để ăn vặt. Có lần mẹ bệnh, tôi vào tiệm thuốc Vĩnh An Đường mua cho bà gói xí muội khô để nhấm nháp đỡ đắng miệng. Khi nghe tôi kể lý do là mua cho mẹ dùng, ông chủ cho thêm vài cục nữa. Má tôi đi khoe câu chuyện đó vói hàng xóm.

Cô bạn lớp trưởng lớp Năm của tôi có tên Quang Nguyệt Mai, con của chủ tiệm Huê Xương gần tiệm Ích Thọ Đường, môi đỏ và má luôn hồng như em bé trong tranh Tàu. Có lần Nguyệt Mai xin cô giáo tha cho khi tôi bị phạt vì tội đọc sách trong lớp. Đến giờ tôi vẫn không nhớ tiệm Huê Xương nhà Mai bán những thứ gì mà nhìn vào luôn sáng choang. Có thể đó là một tiệm vàng.

Từ ngả ba đi vào phía bên trái có cái hẻm rất nhỏ, là lối tắt đến trường của tôi. Đầu hẻm có cái sân xi măng mà một người Tầu bán các món chè như lục tào xá, sâm bửu lượng, chè hột sen,.... Tiệm Tân Dân gần nhà thuốc Ích Thọ Đường cho mướn sách lâu đời, với những cuốn sách cũ kỹ đến nát, giấy vàng khè. Người phụ nữ đứng cho mướn sách có nước da trắng xanh, luôn cười thân thiện. Kế đó là tiệm nhỏ góc đường bán bánh mì, hột gà ốp la buổi sáng tỏa ra mùi trứng và mùi tỏi chiên sực nức.

Cuối đoạn đường Lò Đúc, nhìn qua ngả tư Trương Tấn Bửu là trường Chánh Tâm, ngôi trường do cộng đồng người Hoa ở Phú Nhuận chung tiền xây cất. Những ngày cuối tuần, vài anh trong xóm tôi ra đứng ngoài cổng nhìn vào sân trường xem học sinh lớn trong trường chơi bóng rổ. Hồi đó đã có câu chuyện kể rằng: Con trai trường Việt có thân hình chữ I, còn con trai trường Tây và trường Hoa có thân hình chữ V. Vì sao? Vì trường Tây và trường Hoa cho học sinh chơi thể thao nhiều nên học sinh khỏe mạnh, giỏi thể thao và thân hình cao ráo, eo nhỏ và vai ngực nở như chữ V. Họ chơi thể thao xong, lau mặt bằng những cái khăn lông trắng muốt và ra ăn mì ở tiệm Xẩm Ba gần đó. Có lần tôi thấy họ cười mỉm, có anh đỏ mặt khi đi ngang cái tiệm hớt tóc nhỏ treo hình mấy cô Mỹ hở da thịt.

Đối diện tiệm mì Xẩm Ba là cái chuồng ngựa, nay đã thành một dưỡng đường chấn thương chỉnh hình. Nhà tôi đâu lưng chuồng ngựa đó. Hồi còn nhỏ, muốn nhìn bầy ngựa chỉ có nước leo lên cây táo rồi chuyền lên mái nhà nhìn qua. Tôi thấy trong cái chuồng lớn, có những đầu ngựa nâu lấp ló bên trong. Có vài con được thả trong cái sân rộng. Chúng là giống ngựa châu Á, hiền lành và nhỏ nhắn. Tôi tự hỏi mấy con ngựa phải làm gì mà sáng nào cũng thấy vài người đi xe đạp dắt ra, họ lái một tay, một tay cầm dây dẫn ngựa chạy theo, chiều lại về. Chúng tham gia mấy cuộc đua trên trường đua Phú Thọ, hay đi kéo xe chở đồ lê-ghim ở cái chợ ngoại thành nào đó? Một buổi chiều, tôi mạnh dạn bước hẳn vào cái sân rộng cạnh chuồng ngựa. Trong sân có cây gòn to phía bên phải từ đường nhìn vào. Cây gòn dáng thẳng băng, thân cây màu xanh chứ không phải nâu, có rất nhiều trái hình thoi trĩu xuống. Kế bên chuồng ngựa có một cái miếu được kể là của cô gái tự tử, rất thiêng. Nghe nói khi xây bệnh viện, người ta phải cúng miếu trước khi giở ra.

Khi đứa em ở xa về chơi, chúng tôi tản bộ trên con đường Lò Đúc cũ nay đã chật chội hơn trước kia, rồi dừng chân ăn chén Chí Mà Phũ của ông già ven đường. Những hàng quán người Hoa giờ biến mất gần hết trừ tiệm mì đầu ngả ba. Năm 1978, họ lần lượt ra nước ngoài trong đó có gia đình cô bạn Nguyệt Mai xinh tươi vui vẻ của tôi. Đứa em kể vanh vách từng cái tên cũ của những hàng quán đã đóng cửa từ rất lâu. Nhắc lại chúng, tôi như thấy lại thời thơ ấu mực dính đầy tay cũng đã quá xa của mình.

Có ai đã nói những người hoài cổ luôn nghĩ rằng: “Cái gì xưa cũ mới là vàng ròng!”. Phải chăng do vậy mà con đường cũ, những mái nhà thấp, hàng quán sơ sài và bình dân lại khiến anh em tôi nhớ nhiều, như nhớ đoạn đường Lò Đúc ngày xưa, dù nó vẫn còn đây, nhưng như là một con đường khác trên một khu phố khác và ở một thành phố khác.

Phạm Công Luận

304Đen – Llttm – MT68