Monday, September 21, 2020

Sách Vở Ích Gì - Phan Ni Tấn

Sách Vỡ Ích Gì





 

Trước 1975 ở Ban Mê Thuột có khá nhiều tiệm sách.

Thập niên 1960, ông Cao Trí là chủ nhân tiệm sách Cao Trí khai trương đầu tiên tại thị trấn miền cao Buồn Muôn Thuở. Tiệm sách này nằm trên đường Nguyễn Thái Học, cạnh nhà thầu rau cải của bà cụ Thất (ngoại tôi) và tiệm may Thừa Thiên.

Ông Cao Trí tên thật là Y Tí, em song sinh với ông anh là Y Lý. Hai ông là người Thượng nhưng thuộc giới có học thức. Hồi trào Tây, gia đình họ Y và ông bà Thừa Thiên là hàng xóm thân thiết với gia đình bên ngoại tôi. Ông bà Y Tí có một cô gái rượu tên Hoa, hiền lành, ít nói. Hàng ngày đi học về, cô thường coi sóc tiệm sách. Ngược lại, ông bà Y Lý đông con hơn. Hai người con trai lớn tên Y Sự và Y Huỳnh là bạn học với tôi thời tiểu học.

Thế sự thăng trầm, vạn vật đổi thay, kẻ ở người đi, ông Y Lý và Y Tí (vợ là Ngân) cũng không còn. Họ mất đã lâu, chỉ còn dì Sen, vợ ông Y Lý hiện nay đã ngoài 90, vẫn sống vói con cháu ở Ban Mê Thuột. Tánh tình dì Sen hòa nhã, đôn hậu. Dì gốc Huế như bên ngoại tôi, rất thân với má tôi.

Kế đến là tiệm sách Văn Hoa của anh Nguyễn Văn Linh, nằm phía đầu đường Quang Trung, gần rạp ciné Tường Hiệp. Anh Linh lúc đó là huynh trưởng Phật tử chùa Khải Đoan nên sách báo của anh nghiêng về giáo dục, học đường, học làm người và hướng Phật. Chị Huệ, vợ anh Linh là trưởng nữ của ông bà tiệm may Thừa Thiên, củng là chị ruột của Đỗ Văn Cư, bạn học với tôi thời thơ ấu, hiện sống tại Hòa Lan.

Hiện nay gia đình anh chị Linh Huệ định cư ở San Jose, Bắc California, Hoa Kỳ. Năm 1986, sau buổi ra mắt sách của tôi tại thành phố này, anh Linh đưa vợ chồng tôi về thăm gia đình anh chị. Trong phòng khách, anh Linh cho tôi coi bản thảo tập nhạc Phật Giáo của nhạc sĩ Hằng Vang. Tập nhạc chép tay rất công phu và trang trọng.

Thập niên 50-60, Hằng Vang, nhạc sĩ của Phật Giáo được biết đến tài năng qua những bài hát mang đậm tư tưởng nhà Phật, như Về Thăm Chùa Huế, Em Mong Mùa Sen Nở, Tim Nở Mặt Trời… Đặc biệt, ca khúc Ánh Đạo Vàng thường cất lên trong những ngày Phật Thích Ca thành đạo, đã trở nên quen thuộc:

Từ ngàn xưa phương thành Ca Tì La Vệ. Tất Đạt Đa, Thái tử con vua Tịnh Phạn. Thời niên thiếu sống trong nhung lụa êm ấm. Thương chúng sanh lạc loài trong kiếp luân hồi. Rồi một hôm bên thành Ca Tì La Vệ. Tất Đạt Đa quyết chí xuất gia tầm đạo…

Năm 2001, má tôi về thăm nhà, lúc trở lại Gia Nã Đại, nhạc sĩ Hằng Vang có gởi tặng tôi môt dĩa VCD nhạc của anh.

Hiện nay nhạc sĩ Hằng Vang có khoảng 500 ca khúc. Tuy đã gần tuổi 80 anh vẫn miệt mài sáng tác, vẫn trường chay và vẫn an nhiên tự tại vui sống với con đàn cháu đống trên cao nguyên miền Thượng du Ban Mê Thuột.

Ngoài tiệm sách Văn Hoa, còn có tiệm sách Khải Minh cũng nằm trên đường Quang Trung, cạnh Ty Cảnh Sát và tiệm thuốc tây Quang Trung. Anh Lý Minh, chủ nhân tiệm sách Khải Minh là người Việt gốc Hoa, dáng người cao ráo, tánh tình hòa nhã, rất yêu sách. Sách của anh trưng bày trong các tủ kính rất bắt mắt. Ngoài một số tác phẩm của các tác giả miền Nam, hầu hết là sách dịch và triết học.

Cuối thập niên 1960, sách dịch rất thịnh hành, được giới yêu sách ưa chuộng. Trí thức thì chuộng triết học hiện sinh và mỹ học nặng về lý luận của Gabriel Marcel, Jean Paul Sartre, Albert Camus, Nietzsche… hoặc truyện dịch của Ernest Hemingway, André Gide, Erich Maria Remarque, Mario Puzo… Bình dân thì đọc tiểu thuyết trinh thám (Bàn Tay Máu, Z 28), truyện đường rừng (Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu, Chiếc Nỏ Cánh Dâu), truyện kiếm hiệp của Kim Dung, Cổ Long, Hàn Giang Nhạn hoặc truyện tình cảm, tâm lý xã hội của Quỳnh Giao, Bà Tùng Long…

Nhà sách Lục Hòa của anh Hoàng Văn Hiếu nằm trên đường Lý Thường Kiệt, cạnh hãng bán vé máy bay Air Việt Nam. Ngoài các lọai sách về thơ, văn, nhạc kịch v.v…, nhà sách Lục Hòa, phần lớn chuyên bán kinh sách Phật Giáo và các loại sách mang tinh thần nhà Phật. Được biết Lục Hòa là sáu phương pháp thể hiện nhân cách sống của con người có đạo đức, mang lại sự hòa thuận yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ và chia sẻ cho nhau từ vật chất tới tinh thần trong mọi công việc hàng ngày của cuộc sống.

Chủ nhân tiệm sách Lục Hòa, anh Hoàng Văn Hiếu từng là huynh trưởng cấp Dũng Gia Đình Phật Tử Daklak. Anh em văn nghệ sĩ địa phương rất quý mến và nể trọng anh. Thỉnh thoảng cuối tuần các bạn văn như Đoàn Văn Khánh, Nguyễn Minh Nữu, Nguyễn Quyết Thắng, Nguyễn Thành Công và tôi hay lai rai vài xị với chủ nhân Lục Hòa trên gác sách. Anh Hoàng Văn Hiếu, pháp danh Chúc Tịch, sinh năm 1932 tại Hà Nội, mất năm 2018 tại Ban Mê Thuột. Hưởng thọ 87 tuổi.

Cũng xin nói thêm: Hiện nay nhà thơ Đoàn Văn Khánh là cây bút chủ lực của tạp chí Quán Văn (tiền thân là tạp chí Ý Thức) do nhà văn Nguyên Minh sáng lập tại Sài Gòn, quy tụ nhiều cây bút tên tuổi trong và ngoài nước. Cón nhà văn Nguyễn Minh Nữu, nhạc sĩ Nguyễn Quyết Thắng và tôi hiện sống ở nước ngoài. Riêng bạn Nguyễn Thành Công, Trung Sĩ Nhất Trung Tâm Truyền Tin Diện Địa đã mất tích trên đường rút quân khỏi Tiểu Khu Quảng Đức vào trưa ngày 25 tháng 3 năm 1975 dưới sức tấn công ào ạt của quân Bắc Việt.

Tiệm sách Tiên Dung của ông Nguyễn Đình Dũng (giáo sư trường Trung học Ban Mê Thuột) nằm trên đường Hùng Vương. Hiện giáo sư Nguyễn Đình Dũng cư ngụ tai Bắc California, Hoa Kỳ.

Thêm một tiệm sách gần rạp hát Thăng Long ở cột đèn ba ngọn tôi không nhớ tên.

Tiệm sách Thanh Trúc của vợ chồng thầy Lê Thanh Nhàn (hiệu trưởng trường Bán Công) ở đường Lý Thường Kiệt, gần nhà cô giáo Trang. Củng nằm trên đường Lý Thường Kiệt, gần ngã tư Ama Trang Long, cách nhà hàng Mỹ Cảnh vài căn phố có tiệm sách Văn, ngoài các loại sách văn học, chủ nhân tiệm sách còn cho thuê chuyện chưởng, tiểu thuyết, trinh thám…

Nhà sách Tinh Hoa ở đường Phan Bội Châu, đói diện Đức Thọ Đường, nằm giữa đường Tôn Thất Thuyết và Lê Văn Duyệt chuyên bán dụng cụ học sinh và sách giáo khoa.

Sau này có một tiệm sách nữa, nhỏ nhắn hơn, khiêm tốn hơn, nằm trên đường Bà Triệu, gần trường Trung Học BMT ngó qua. Đó là tiệm sách Hoa Văn của cô giáo Thưởng, em của cô Suối Kiết, cô Hồng Phượng và là chị của Thanh Tài. Cô giáo Thưởng cũng là giáo sư trường Trung Học BMT. Tôi có tới nhà cũng là tiệm sách Hoa Văn một lần theo sự níu kéo của cô giáo Hảo, bạn thân của cô Thưởng, được nữ chủ nhân đãi café. Biết tôi “sanh dưới gốc cây cà phê” nên cô Thưởng trịnh trọng pha cho tôi một ly cà phê sữa đá đặc quẹo, thơm nức nở. Bữa đó chúng tôi vừa thưởng thức cà phê vừa hàn huyên, văn nghệ bỏ túi.

Sau buổi gặp gỡ không hẹn ấy đến nay, gần 50 năm chúng tôi không còn có dịp gặp lại nhau lần nào. Cả ba anh em chúng tôi theo định mệnh đã chia ra ba nẻo đường đời. Có người hóa thành câu thiên cổ. Người thì bỏ núi giạt xuống Sài Gòn. Riêng tôi, như câu hát trôi lênh đênh ngoài thiên lý, quên cả đường về quê nhà.

Trong cái ngổn ngang quá khứ đời người, tôi không còn nhớ buổi cà phê văn nghệ bỏ túi đó, ngoài chủ đề về quê hương, đất nước và thân phận con người, có ai hát những bản tình ca trong cái ngày đã xa xưa ấy không, nhưng hương vị cà phê của cô giáo Thưởng vẫn còn đọng lại trong tôi thiên thu nồng nàn.

Ngoài các nhà sách kể trên, cũng cần nói thêm về mặt báo chí. Trước 1975, ở Sài Gòn mỗi ngày có khoảng 50 tờ nhật báo được xuất bản. Báo chí Sài Gòn thời đó rất đa dạng và phức tạp. Từ những tờ báo cơ quan ngôn luận của chính quyền cho tới những tờ đối lập với chính quyền cũng như những tờ chuyên về kinh doanh thương mại…đều không ngừng cạnh tranh nhau. Mặc dù hoạt động trong thời kỳ chiến tranh cũng như bị áp lực của chính quyền, nhưng báo chí miền Nam vẫn có tiếng nói tự do của báo chí.

Ngoài ngành xuất bản sách báo, nghề làm báo, viết báo cho nhật báo là một nghề nhọc nhằn, đòi hỏi tin tức cấp thời, nhanh chóng và chính xác. Nhật báo thường phát hành vào buổi chiều nên nhân viên tòa soạn phải làm việc cật lực từ lúc nửa khuya tới mờ sáng. Khi báo ra, các đai lý phát hành nhanh chóng rải báo khắp đất Sài Gòn và vận chuyển đi các tỉnh để ngày hôm sau kịp thời đáp ứng nhu cầu người đọc.

Riêng tại thị trấn Ban Mê Thuột, thời sách báo thịnh hành, ngay góc đường Quang Trung – Y Jut có thể nói là một góc “văn học” nhộn nhịp nhất phố. Ở đó trên vỉa hè giữa người qua kẻ lại có một xe bán báo tên Tia Sáng rất đắt khách. Mỗi sáng sớm, xe báo Tia Sáng đã bày bán đầy đủ các tờ tuần báo, nhật báo còn thơm mùi mực in, mùi giấy từ Sài Gòn lên, như Trắng Đen, Sóng Thần, Tiếng Chuông, Ngôn Luận, Thần Chung, Sài Gòn Mới, Điện Ảnh, Kịch Ảnh, Phụ Nữ Diễn Đàn, Văn Nghệ Tiền Phong…

Biến cố 30-4-1975, toàn bộ hệ thống báo chí miền Nam đồng loạt ngưng hoạt động. Những cơ sở in ấn với tiếng máy in rầm rập suốt ngày đêm trên đất Sài Gòn cũng im hơi lặng tiếng. Sách báo miền Nam đều bị tịch thu, chất đống và đốt sạch. Nền văn hóa miền Nam Việt Nam hoàn toàn sụp đổ theo chế độ Cộng Hòa.

oOo

Sau khi kết thúc cuộc chiến tranh kéo dài suốt 30 năm giữa hai miền Nam Bắc, lịch sử nước Việt đã sang trang. Trên trang sử đó, chế độ cũ của VNCH bị thay bằng chế độ mới của CSVN, con đen cũng theo mệnh nước mà đổi đời. Từ đó, ngôn ngữ miền Nam được thay bằng ngôn ngữ mới, một thứ ngôn ngữ lạ tai, có phần kỳ dị và trái khuấy. Nhất là những ngày tháng gần đây – theo “ý chỉ” của bọn thiên triều – nước Việt ta lại xuất hiện một loại ngôn ngữ cực kỳ ngọng nghịu và vô cùng quái đản nhằm hủy diệt tiếng Việt trong sáng của dân tộc Việt Nam. Đã vậy, chúng còn âm mưu sửa đổi truyện Kiều bằng thứ ngôn ngữ vô cùng quái đản kia, in thành sách để đưa vào giáo dục học đường.

Tôi đứng bên ngoài đất nước nhìn vế quê hương mà thương cho vận nước nổi trôi. Trong cơn đau, tôi chợt nghe đâu đó tiếng than van, ai oán của cụ Tam nguyên Yên Đổ ngày nào: “Sách vở ích gì cho buổi ấy”.

Đất nước người ta đem lại văn hiến cho đời; còn đất nước mình mang lại cho dân toàn những lời ai oán.

 

Phan Ni Tấn

304Đen – llttm -tvvn

  

Một Thời Cuối Mặt - Ngọc Hà

 

Một Thời Cúi Mặt

 





22-4-1975 CHI KHU PHƯỚC NINH

Trong hầm trú ẩn, nằm trên chiếc ghế bố nhà binh tôi đang đọc lại cuốn “Nghĩ trong một xã hội tan rã” thì Sĩ bước vào, nói trỏng:

-Đường Tây ninh  - Saigon bị cắt rồi!

Đoạn hắn ngồi phịch xuống chiếc giường gần đó với tiếng thở dài chán nản, tôi buông sách, bật dậy hỏi:

-Ai nói thế? Sĩ uể oải trả lời:

-Chẳng ai cả. Hồi sáng sớm, tớ dù về nhà, mới đến Trà Võ, từ xa đã thấy một số

xe chạy ngược lại, tớ nghe mấy tràng AK nổ dòn, họ la lớn: -Trở lại đi, chết đầy đằng kia kìa! Ghê quá, tớ phóng về Long Hoa hỏi thăm. Được biết, VC đóng 3 chốt từ Trà Võ đến Suối Sâu,không cho một xe nào qua. Biết như vầy, tuần trước tớ đi là ổn rồi. Hắn có vẻ bực bội. Như chợt nhớ ra điều gì, tôi vội lấy nón sắt bên đầu nằm, ra văn phòng lấy xe còn nghe tiếng Sĩ nói với theo gì đó…

Chạy khoảng một cây số, hai bên đường là rừng cao su, lạnh tanh, tôi nhấn thêm ga , bất ngờ gặp Thụy ngược chiều, tôi đưa tay chỉ về hướng thị xã, hắn quay xe đi song song,Thụy vồn vả:

 -Ta lên nhà ngươi đây. Tôi thoáng ngạc nhiên:

 -Có chuyện gì không? Hắn cười:

 -Mình kiếm gì lai rai cho quên mớ đời.

-Bộ mi mới lãnh lương hả ?

-Còn phải hỏi, 22 rồi mà!

-À! Lính hành chánh tài chánh có khác .

 

Hai đứa tôi như mặt trời mặt trăng. Một đứa trầm, chậm rãi, đứa kia sống động xông xáo. Thế mà thật chí thân. Nhiều lúc giận nhau có thể đấm vào mặt được, nhưng rồi cũng xí xoá vì cả hai đều mê làm văn nghệ. Hắn, Dạ Sầu Vĩnh Thuỵ trong Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Đội. Trời khéo cho hắn có mã đẹp trai và sớm kênh đời .

Quán Dịch Thuỷ sáng nay vắng khách. Cô chủ ngồi buồn nhìn xuống dòng sông, nước lửng lờ trôi. Chúng tôi bước vào, cô tươi hẳn nét mặt, nhoẻng miệng cười, nói:

      -Ồ! Lâu nay mấy anh biệt tích đâu nhỉ? Thuỵ tươm tướp đáp:

-Tiền lính tính liền em ơi! Ba mươi ngày chỉ có một, muốn gặp em thường lắm chứ. Hồng vừa tiến lại chúng tôi, vừa tiếp:

      -Thôi đi! Em sợ mấy ông nhà văn khéo nói lắm!

Tôi nhìn Thuỵ ngầm hỏi, hắn hiểu ý, gọi bia. Trong lòng không vui, uống từng ngụm, tôi nghe đắng ngắt, im lặng một chút, Thuỵ giục:

§  100% đi! Nhà ngươi say với ta một bữa coi. Biết ngày mai còn được như v không? Tôi lan man nghĩ ngợi:

-Ừ! Ta cũng lo quá! Bây giờ miền Trung đã bỏ ngõ, không khéo thì tất cả… rơi vào tay cộng sản, nhà ngươi có thấy sự tính toán sai lầm của cấp lãnh đạo không?

      Thuỵ nốc cạn ly, hừng chí:

-Qua đài phát thanh và báo chí, ta tức quá. Tại sao dễ dàng buông súng, chạy như vịt vậy? Theo ta, nếu cố thủ vùng 3 + 4 thì VC cũng khó nuốt.

      -Ta e chẳng kịp nữa! Thuỵ như ngơ ngác hỏi:

 

      -Nhà ngươi nói sao?

Có gì lạ đâu, cứ nhận xét tình hình toàn bộ, sẽ tiên đoán được tương lai…Ta chán quá rồi, mình đang sống trong một xã hội bệnh hoạn, mưng mủ, nhiều tướng

lãnh bất tài lại tham nhũng cùng những chính khách xôi thịt,quan liêu, chỉ đánh giặc mồm trên ghế salon, trong phòng trà, tổ chức buôn lậu tiếp tế cho địch, giàu trên xương máu đồng bào. Hơn nữa, Mỹ có thực sự giúp chúng ta không hay coi miền nam như con chốt thí trên bàn cờ quốc tế? Chiến trường trung đông đang lên cao điểm, Mỹ có thể đổi VN để lấy Trung Đông vì ở đây là mạch máu của họ. Vả lại nền kinh tế Mỹ đã kiệt quệ bởi chiến tranh VN làm phong trào phản chiến ở Mỹ bùng phát dữ dội. Do đó, Mẽo áp lực T.T Thiệu ngồi vào bàn Hiệp Định Paris. Người không hiểu sẽ cho ông Thiệu ngu, nhưng thực tế thật là đau lòng …

Thuỵ ngà ngà say như một gã thấm đòn gian lận. Tôi chua chát :

Mỹ là kẻ phản bội! Ai bảo trí khôn con người không có lúc bị nhiễm độc? Nguy hiểm cho cả một dân tộc và nhiều thế hệ…Vụ Watergate đã làm họ chới với, chưa bao giờ chính trường Mỹ gặp cơn bão thế này… Thuỵ chợt vỗ vai tôi: Tình trạng khốn nạn nếu nó đến…

      -Không! Tao không thể làm tên nô lệ. Tao chấp nhận cái chết, một khi cuộc sống chẳng còn ý nghĩa…

 

      24-4-1975

 

               Sáng tinh sương, vùng thượng biên đẹp tuyệt vời. Tôi và thiếu uý Tân thuộc TTHQ ra quán café trước Chi Khu, Tân cho hay Tiểu Đoàn 350 đã bỏ Bến Sõi, về bố trí làng Cao Xá sát nách mình rồi  vì áp lực địch quá mạnh. Như vậy, vòng đai an ninh  ở đây bị thắt lại, địch chỉ cách ta 2km, bên kia sông Vàm Cỏ Đông.

 

      Làng Cao Xá, một thời được sáng danh, nhờ dân di cư đoàn kết mà 2 trung đội

Nghĩa Quân đánh bật một Tiểu Đoàn VC. Trời lành lạnh thơm mùi gió núi nhưng tôi tưởng chừng mồ hôi tươm khắp mình. Trên đường,người người gồng gánh, bồng bế, hối hả tản cư, họ nói không kịp thở:

-Có nhiều tàu…của mấy ông đội nón cối, dép râu, mấy ổng bảo chúng tôi đừng đi…Hòa bình tới nơi rồi!…

BBC & VOA bình luận Đông Dương sắp rơi vào tay CS. Ai ai cũng xôn xao bàn tán, mặt mày biến sắc mất hồn, chỉ những chủ xe hàng hí hửng được dịp hốt bạc. Lên giá bao nhiêu người ta cũng thuê, miển di chuyển tài sản của họ khỏi vùng lửa đạn. Họ

nghĩ cùng lắm là mất Tây Ninh, Saigon khó sụp đổ. Họ đâu biết gần 2000 cô nhi đã đến đất Mỹ. Ý đồ gì đây của lầu năm góc? Tên sen đầm quốc tế, có lẽ đang thực hiện lời khuyên của ARAFAT, CT phong trào GP Palestin:

      -MUỐN THẮNG CS PHẢI THUA CHÚNG!

Tôi đứng trước cổng Chi Khu nhìn bốn phương trời. Đường về thị xã người đi như trẩy hội. Nét mặt nào cũng bơ phờ sợ hãi. Thị xã nằm trong tầm pháo của “người anh em phía bên kia” . Mỗi ngày điểm tâm, trưa, chiều dăm mươi quả để đồng bào té khói chơi. Những trạm kiểm soát buôn lậu biến dạng.Tha hồ nhu yếu phẩm tiếp tế cho VC dồn dập . Tiền làm cho con người mù quáng, bất chấp hậu quả dù có mất nước…

      25-4-1975

 

               Nghe radio loan báo về tình hình miền Trung,di tản và di tản…cấp chỉ huy chạy trước…làng nước theo sau, hỗn loạn, chết vì pháo VC, thịt, xác văng tứ tung, chết đói, khát, tạo thành bức tranh rùn rợn nhất trong lịch sử dân tộc.  Miên quốc đang trả thù tàn bạo hơn thời Đức Quốc Xã. Rồi đây miền Nam sẽ lãnh bản án chung thân hoặc tử hình do VC trả thù??? Tôi không mường tượng nổi cảnh hãi hùng đó…

 

      25-4-1975

 

               Tổng thống Hương đọc diễn văn trước lưỡng viện Quốc Hội. Giọng ông run run chất chứa đầy uất ức, khác nào lời di chúc của một người đang hấp hối, lìa đời.

Ông cho biết súng đạn còn có thể chiến đấu 2 năm, lương thực 3 năm. Trước đó trong một cuộc họp báo, tướng Dương văn Minh khẩn khoản yêu cầu:

      -Để kịp thời cứu nguy đất nước, xin thầy hy sinh một lần cuối cùng giao quyền tổng thống cho tôi, tôi sẽ lãnh sứ mạng thương thuyết với người anh em phía bên kia. Thời gian đó, làn sóng radio không gọi  VC hay CS  mà dùng những từ thân mật “người anh em phía bên kia” ?!

 

      T.T Hương từ chối và khẳng khái nhất định: KHÔNG ĐẦU HÀNG CS SẴN SÀNG CHẾT THEO QUE HƯƠNG!

 

      28-4-1975

 

               Những giờ phút nghiêm trọng của lịch sử nóng bỏng…mặc dù T.T Hương sức đã cùng lực kiệt, nhưng ông cố chiến đấu mãnh liệt  với chính mình về vấn đề: Nên bàn giao quyền TT cho DVM hay không? Tiếng nói không của ông, Saigon biến thành biển máu ?! Cuối cùng, lúc 17:15pm, ông ngậm ngùi bàn giao cho DVM mưu tìm một giải pháp hữu hiệu thương nghị với CS. Cựu CT/TNV Huyền làm phó Tổng Thống. Đêm.

VP/ Tổng trấn Saigon – Gia Định đọc thông báo 14/75 lệnh giới nghiêm 24/24, phi trường TSN bị 3 chiếc A37 dội bom. Đường SG – Biên Hòa bị VC khống chế …

Dân tư bản mại bản, thượng lưu trí thức, quân nhân cao cấp ùn ùn kéo đến TSN, bến Bạch Đằng xô đẩy, đạp nhau leo lên phi cơ, tàu ra ngoại quốc. Biết bao nhiêu xác nổi lềnh bềnh trên sông Saigon khi bước chân giặc quỉ đỏ chưa tới …

29-4-1975

           VC pháo từng chập vào căn cứ Trảng Lớn Tây Ninh, nơi TTYT Tiếp Vận Tiểu Khu và hậu cứ Trung Đoàn 49/SĐ 25 bộ binh, hướng tây bắc cách thị xã 5km. Một bồn xăng cháy lửa cao ngùn ngụt. Khoảng 3 giờ chiều, một chiếc F5 bị hỏa tiển Sam

đuổi kịp bốc cháy đâm nhào xuống khu rừng Dương Minh Châu. Tôi tê tái nhìn ánh nắng chiều run rẩy … Bất ngờ gặp Hoàng từ Huê’ về, hắn kể thao thao:

      -Thỉnh thoảng tao đi xe và chạy bộ trối chết. Tao vừa tái sinh mày ạ! Cửa Hội An, Đà Nẳng, Qui Nhơn, Nha Trang, Vũng Tàu, Saigon đã diễn ra những bi kịch trốn chạy chưa từng có…nhiều người bị đạp rơi từ trên phi cơ xuống như khúc củi mục, kẻ đeo dưới lườn trực thăng như đóng phim, chen lấn nhau xuống tàu, rớt xuống biển, trước khi chìm lỉm kêu , khóc , la , thét vang cả một góc trời …bỏ lại hết, rồi cũng bỏ mạng…

 

      30-4-1975

 

               Rạng đông. Tôi đứng trên hầm trú ẩn. Một cột khói phía thị xã từ chiều hôm qua vẫn còn ngạo nghễ cao thêm giống con quái vật khổng lồ điên cuồng vùng vẫy . Trên đỉnh núi Bà Đen cũng thế. Khói ngùn ngụt đùn mây đen cả một góc trời.

Các đơn vị hỗn hợp báo về, đài Viễn Thông ở đó đã di tản mấy ngày qua. Họ phá huỷ toàn bộ hệ thống máy móc và đài ra-đa vì chịu không nổi chiến thuật tấn công đánh lấn phối hợp đặc công của VC. Gần 20 chiếc trực thăng tiếp vận chiến đấu sợ hãi né tránh hỏa tiễn Sam phóng ra từ sườn núi…

      Nắng hè trở nên gay gắt.  Gọi rừng chất chứa não nùng. Nỗi chết không rời quanh tôi. Tuổi trẻ bất lực, tôi muốn đấm vào ngực mình và thèm một chút yên bình trong đời. Bạn bè lần lượt đi về hư vô , còn ta lâm chiến chắt chiu. Bỗng trung uý Minh tìm tôi nói nhỏ:

 

      -Chuẩn bị di tản ! Nhanh lên!...Tôi bang hoàng hỏi:

 

      -Về đâu? Hắn có vẻ nghiêm trọng :

 

      -Chưa  biết! Phải sẵn sàng chờ lệnh.

Tôi định hỏi thêm, nhưng hắn đã vội đi. Tôi xếp đồ, tự hỏi: Khiêm Hanh bị bao vây. CSBV cô lập Gò Dầu . Bến Cầu mất. Đồn Mỏ Công bị tràn ngập. VC bên kia sông Bến Sỏi. Suối Đá , Trường Lưu đang dằn co .Xung quanh như thế. Di tản đi mô ??? Chịu chết thôi! Đầu óc lan man rối bời suy tính, tôi nhét vội quân trang vào ba lô rồi ra ngoài nghe ngóng. Phòng TTHQ trực máy khẩn trương. Thỉnh thoảng Tiểu Khu gọi, bảo chờ lệnh…

      Đại úy Sơn trưởng ban 2, quân phục gọn ghẽ trong văn phòng, đứng cạnh chiếc radio nhỏ vang tiếng hát thật lạc lỏng. Dường như không ai chăm chú nghe, nét mặt dàu dàu mệt mỏi … Đột nhiên, tiếng radio kêu rè rè …Anh lấy làm lạ tưởng hư, định chỉnh nó, thì một giọng nói bệnh hoạn phát ra, kêu gọi toàn bộ Quân, Cán, Chính Miền Nam bàn giao chính quyền trong vòng trật tự … Tôi và anh Sơn đánh thót người, nhưng chưa tin là sự thật. Đến khi Dương văn Minh lập lại lần thứ ba, anh em mới nhìn nhau nghẹn ngào. Tôi cảm thấy mình đang rơi xuống vực thẳm. Lần đầu tiên tôi buông tiếng chửi thề trước mặt nhiều người, kêu lên như người vừa bị trúng đạn:

 

      -Đầu hàng vô điều kiện! Khốn nạn! DVM là tên phản quốc! Tham sinh uý tử!

Lịch sử VN không chấp nhận một tên tướng đê hèn như thế!!! Anh em bứt tóc, đập bàn văng tục…

               -Đồ khốn ! Lê Chiêu Thống tái sinh…

Chỉ có anh Sơn là người biến sắc hơn cả, lớn tiếng hỏi : – Có ai đi không hãy theo tôi!…

               -Đi đâu ???

Anh không đáp, tuy nhiên nhìn ánh mắt rực lửa của anh cũng đủ hiểu ý . Mọi người im lặng phân vân…rồi vứt ba lô, thay đồ dân sự …Một trái bom hạch tâm nổ trong đầu khi tôi thấy thiếu tá Thà CKT ngoan ngoản lo bàn giao, sợ sệt đủ thứ, còn Đ/U Sơn đã âm thầm mất dạng…

               Chợt có tiếng  anh Đ/U Trưởng Chi ANQĐ phòng bên cạnh, đọc lập đi lập lại vang vang hai câu thơ của tôi :

 

               THÔI RỒI TRỜI ĐÃ NGỦ MÊ

 

            ĐỂ BẦY QUỶ DỮ XUỐNG ĐÈ QUÊ HƯƠNG!...

15:00PM . Đám du kích MTGPMN cầm cờ “cách mạng” kéo ra đường đứng trước Chi Khu cách 100m. Chúng đeo băng đỏ …

Nỗi uất hận dâng trào, tôi cúi mặt lầm lũi đi …Một con én làm sao dệt nổi mùa xuân ?…

Ngọc Hà

304Đen - Llttm

 

 

Áo Hoa Phơi - Hoàng Trúc Ly

 Áo hoa phơi


















Long lanh từng giọt trắng da trời
Bàn tay rất trắng áo hoa phơi
Mỗi lần nắng trắng em phơi áo
Vô tình phơi nắng cả hồn tôi.

Đời còn kẹp tóc tuổi trăng tròn
Miệng còn ngọt sữa lúa đang non
Mềm môi em thở hương lùa nhạc
Ngày sẽ dài như một nụ hôn.

Đường vào quên lãng cõi người ta
Vừng trán tôi nhăn trước tuổi già
Áo nắng hoa phơi ngoài thiên hạ
Ngày sẽ mờ như mộng chảy qua.

Đâu bàn tay sữa đọng da trời
Người yêu áo mỏng nắng thu phơi
Van em một nụ hôn thơm nhạc
Từ tay lên môi còn xa xôi.

Đường xa như từ tay lên môi
Xa hơn chân mây hơn mặt trời
Áo hoa thấp thoáng người thiên hạ
Ngày sẽ đêm đen lửa tắt rồi.

Hoàng Trúc Ly


Ca Nhạc Sài Gòn Trước 30/04/75

 

Ca Nhạc Sài Gòn Trước 30/4/1975

 

CA SĨ SAIGON – XUẤT HIỆN TỪ ĐÂU?

Nói đến ca sĩ từ đâu đến hay nôm na từ đâu mà thành danh. Tôi chợt nhớ đến Chế Linh đầu tiên, nhớ ngay cái ngày một thanh niên gốc Chàm khúm núm đến gặp Tùng Lâm ở hậu trường rạp Olympic, một sân khấu đại nhạc hội do quái kiệt Tùng Lâm tổ chức song song với Duy Ngọc ở bên rạp Hưng Đạo vào mỗi sáng Chủ Nhật.

 

Tôi nhớ buổi sáng Chủ Nhật hôm đó khi anh chàng da ngâm đen tóc quăn, ăn mặc nguyên bộ đồ jean. Đến Tùng Lâm cũng không hiểu tại sao anh ta, một người lạ mặt vào được tận bên trong hậu trường. Còn đang ngạc nhiên thì anh chàng người Chàm đã tới gặp ngay Tùng Lâm xin cho được hát vào những lúc ca sĩ còn chạy show chưa kịp đến.

Tùng Lâm quyết liệt từ chối, dù lúc đó phải đóng màn chờ ca sĩ cũng không dám cho anh chàng người Chàm này lên hát, một phần do anh ta là người dân tộc thiểu số và cũng chưa từng nghe anh ta hát bao giờ.

Nhưng kế tiếp những tuần sau, anh chàng người Chàm lì lợm vẫn đều đặn xuất hiện xin Tùng Lâm cho được hát, và rồi Tùng Lâm cũng đành chào thua sự lì lợm quá mức này, đành chấp nhận cho anh ta hát một bài để thử, với lời dặn chỉ hát một bài và không có tiền “cát sê”

Tôi chứng kiến các buổi anh chàng người Chàm đến và cả buổi đầu tiên được Tùng Lâm cho lên hát một nhạc phẩm của Duy Khánh, với tên được giới thiệu là Chế Linh. (nghệ danh này sau mới rõ nó có hai nghĩa, nghĩa thứ thứ nhất là họ Chế để khẳng định là ”con cháu” của Chế Mân, Chế Bồng Nga. Nghĩa thứ hai có nghĩa là “lính chê” bởi người thiểu số được miễn hoãn quân dịch).

Không rõ Chế Linh có được học hát hay có thiên bẫm hát theo đĩa hay băng nhạc mà nhiều nam nữ mầm non ca sĩ thường hát nhái đến thuộc lòng, đến khi bài hát chấm dứt thì hàng loạt tiếng vỗ tay nổi lên tán thưởng kèm theo những tiếng gào “bis, bis” nổi lên ầm ỉ nơi hàng ghế khán giả.

Nhưng nhìn những người ái mộ vỗ tay gào thét kia lại chính là đồng hương của Chế Linh, do chính Chế Linh bỏ tiền ra mua vé cho họ vào xem và chờ đợi cái ngày hôm đó, để chỉ làm một động tác vỗ tay hoan hô và gào lên những tiếng bis, bis.

Do không được ai lăng xê, không được ai kèm cặp, Chế Linh thường hát nhái theo giọng ca Duy Khánh và cả những bài hát tủ của Duy Khánh từng thành đạt. Và nhờ những đồng hương hàng tuần đến vỗ tay, sau này Chế Linh được Tùng Lâm nhận làm “đệ tử” trong lò đào tạo ca sĩ của mình (?).

 

Từ lúc đó Chế Linh mới được uốn nắn rèn giũa lại chính giọng ca của mình.

Khi nói đến những lò “đào tạo ca sĩ” thường là những nơi có môi trường “lăng xê”, như nhạc sĩ Nguyễn Đức có hai chương trình trên Đài Truyền Hình số 9 là Ban Thiếu Nhi Sao Băng và chương trình Nguyễn Đức, cùng hai chương trình trên Đài phát thanh là Ban Việt Nhi, ban ABC. Còn quái kiệt Tùng Lâm có Đại nhạc Hội, và chương trình Tạp Lục trên truyền hình. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông với đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương của TC/CTCT mà Song Ngọc đứng đầu tàu.

Đây là những lò nhạc giới thiệu nhiều ca sĩ nhất trong thời gian đó. Như lò Nguyễn Đức có một lô ca sĩ họ Phương gồm Phương Hồng Loan, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, Phương Hồng Ngọc (Cẩm Hồng) hay trước đó là Hoàng Oanh có cả nghệ sĩ hài như Thanh Hoài, Trần Tỷ.

Lò Tùng Tâm giới thiệu Trang Thanh Lan, Trang Mỹ Dung, Trang Kim Yến rồi Chế Linh, Giang Tử. Lớp nhạc Bảo Thu có Thanh Mai, Thanh Tâm sau này Kim Loan; Hoàng Thi Thơ có Sơn Ca, Bùi Thiện, Họa Mi v.v…

Trở lại với Chế Linh, tuy quái kiệt Tùng Lâm có môi trường “lăng xê” nhưng về chuyên môn dạy thanh âm cho ca sĩ lại “mù tịt”; qua đó đã liên kết với nhạc sĩ Bảo Thu và Duy Khánh đào tạo hay lăng xê Chế Linh trở thành một danh ca như từng đào tạo lăng xê ra những Trang Thanh Lan, Trang Mỹ Dung, Trang Kim Yến… Vì từ lò Bảo Thu (còn là ảo thuật gia Nguyễn Khuyến) cùng Duy Khánh (khi đó ở chung cư Trần Hưng Đạo) đã cho “ra lò” nhiều ca nhạc sĩ như Quốc Dũng, Thanh Mai, Thanh Tâm, Kim Loan…

 

 

Việc liên kết giữa Tùng Lâm – Bảo Thu – Duy Khánh làm cho nhiều lò đào tạo ca sĩ bấy giờ lên cơn sốt, bởi ở đây có đủ môi trường để các tài năng trẻ thi thố tài năng, Tùng Lâm có sân khấu đại nhạc hội, Bảo Thu có chương trình truyền hình; dạy thanh âm và cung cách biểu diễn. Chế Linh nhờ vào “lò” Tùng Lâm mà thành danh cho đến ngày nay.

Tuy nhiên ngoài những lò “đào tạo ca sĩ” nói trên cũng có những ca sĩ thành danh từ những phòng trà khiêu vũ trường, trong phong trào văn nghệ học đường, đại hội nhạc trẻ, những đoàn văn nghệ do chính quyền thành lập. Như Vi Vân, Julie Quang, Carol Kim, Đức Huy, Ngọc Bích, Thúy Hà Tú (Khánh Hà – Anh Tú), Thanh Tuyền, hài có Khả Năng, Thanh Việt, Phi Thoàn, Xuân Phát…

 

Elvis Phương nổi danh từ l1972 thời gian vào lúc do Thanh Thúy đang khai thác phòng trà Queen Bee cùng với ông Tuất (sau thời kỳ Khánh Ly), nhưng Elvis Phương đã tạo cho mình một chỗ đứng lúc còn là học sinh cùng với ban nhạc trẻ học đường. Sau đó Elvis Phương đi hát cho nhiều phòng trà nhưng do không ai dìu dắt lăng xê đến nơi đến chốn nên vẫn chỉ là cái bóng của những đàn anh àn chị.

Khi Thanh Thúy khai thác Queen Bee, có nhạc sĩ Ngọc Chánh làm trưởng ban nhạc Shotguns cùng Cao Phi Long, Hoàng Liêm, Đan Hà; và hội nhập vào làng sản xuât băng nhạc 1972. Elvis Phương mới được biết đến từ đó (1969). Tuy vậy Ngọc Chánh không cho mình đã tạo ra tên tuổi Elvis Phương, anh chỉ có công “lăng xê” còn giọng hát của Elvis Phương là do thiên phú hay từ môi trường văn nghệ học đường mà thành công.

Các lò đào tạo ca sĩ ngoài những môi trường để dễ dàng “lăng xê” gà nhà, nhưng muốn lăng xê một ca sĩ còn phải qua nhiều cửa ải khác, như tìm một nhạc phẩm thích hợp với giọng ca để ca sĩ chọn làm bài hát tủ như người ta thường ví đo ni đóng giày.

Bài hát tủ như khi nghe Phương Dung hát chỉ có bài Nổi Buồn Gác Trọ là nổi bật, nghe Túy Hồng biết đang hát nhạc của Lam Phương (cũng là chồng của Túy Hồng), nghe Thanh Thúy lúc nào cũng có bản Ngăn Cách của Y Vân, Thanh Lan với các ca khúc Bài không tên cuối cùng của Vũ Thành An hay Tình khúc… của Từ Công Phụng, Lệ Thu với Nữa hồn thương đau của Phạm Đình Chương, Thái Thanh thì chỉ có Dòng Sông Xanh nhạc Việt hóa của Phạm Duy, Khánh Ly ngoài những nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn, thường tìm cho mình con đường mới là hát nhạc tiền chiến của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Văn Cao. Phương Hồng Quế với Phố Đêm, Những chuyện tình không suy tư của Tâm Anh v.v…

Sau khi ca sĩ có những bài hát tủ, các lò còn phải nhờ báo chí viết bài ca tụng tán dương, bỏ tiền cho các tạp chí lên ảnh bìa hay nhờ báo chí cho đứng tên một mục thường xuyên nào đó như phụ trách trang nhi đồng, giải đáp tâm tình, trả lời thư tín, nhưng các ông bầu đào tạo thường trao đổi ca sĩ cho nhau giữa các show truyền hình truyền thanh, vì ít tốn kém và hiệu quả, tạo đến tai nghe mắt nhìn cho khán thính giả một cách thực tế, được chú ý hơn.

 

Một Phương Hồng Quế có thời gian chiếm lĩnh trọn vẹn trên truyền hình, từ show này đến show khác, được phong tặng ”Tivi Chi Bảo“, giữ trang Vườn Hồng, Họa Mi trên báo Tin Điển, Chuông Mai, Trắng Đen, Đồng Nai, Hòa Bình cùng Phương Hồng Hạnh.

Nhưng ai có biết Nguyễn Đức đã bỏ ra bao nhiêu tiền để Phương Hồng Quế, Phương Hồng Hạnh dược như thế ? Chị em Thanh Thúy, Thanh Mỹ giữ mục Trả Lời Thư Tín trên báo Tiếng Dân, sau này cô em út là Thanh Châu trên báo Trắng Đen v.v..

Tất cả chỉ là cái tên trên báo, vì đã có người làm giúp viết giúp và lãnh tiền giúp, đó là những ngón nghề lăng xê ca sĩ từ các lò ”đào tạo ca sĩ“.

Đa số các lò nhạc chỉ thích lăng xê ”nữ ca sĩ ” hơn nam vì có nhiều lý do, nhưng lý do dễ hiểu nhất đa số… các ông thầy đều có máu dê.

Có một giai thoại, người ta đồn một nhạc sĩ gốc mật vụ đệ tử Trần Kim Tuyến thời Ngô Đình Diệm, rất thích các nữ nghệ sĩ, muốn cô nào từ ca sĩ đến kịch sĩ là nhờ bọn đàn em mời về cơ quan hứa hẹn dành cho họ nhiều ưu đãi trong nghề nghiệp với điều kiện cho ông ta được ”thưởng thức“, sau đó giữ bí mật chuyện giữa ông ta với nàng.

Chuyện bí mật đó là gì ? Trước đó tức trước khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, có lần ông nhạc sĩ mật vụ còn cao hứng đòi lấy một nữ kịch sĩ làm vợ, khiến cô nàng sợ quá vọt trốn ra nước ngoài sống mấy năm mới dám về Sài Gòn hoạt động kịch nghệ trở lại (cũng nhờ ra nước ngoài mà sau này được trọng vọng thành người thân Cộng ).

Không phải người nữ nghệ sĩ này không khoái ông sĩ quan mật vụ, mà không khoái khi nghe ông bầu show là quái kiệt Trần Văn Trạch của “Đại Nhạc Hội Một Cây” nói đến tính bất lực của ông ta. Vậy mà sau này có những con thiêu thân “ca sĩ mầm non” đang bán phở hủ tíu, chấp nhận cho ông ta được “thưởng thức” để có môi trường trở thành nữ danh ca ..

TOÀN CẢNH TÂN NHẠC MIỀN NAM

Bước vào những năm 63 – 70 của thập kỷ trước, phong trào Kich Động Nhac và Nhạc Trẻ bắt đầu xâm nhập mạnh, các ca khúc lãng mạn hay lá cải gần như chìm lắng nhường cho nhạc ngoại quốc được Việt hóa, lý do Bộ Thông Tin & Tâm Lý Chiến bấy giờ ra lệnh các nhạc phẩm VN phải có lời mang tính ca tụng người lính hay tính chiến đấu.

Những nhạc phẩm sặc mùi chiến tranh tâm lý chiến như Lính Dù Lên Điểm, Người Ở Lại Charlie, Đám Cưới Nhà Binh, Hoa Biển, Anh Không Chết Đâu Em, Câu Chuyện Chiếc Cầu Đã Gãy, Kỷ Vật Cho Em, Mùa Thu Chết v.v.. ra đời.

Loại kích động nhạc, nhạc VN tâm lý chiến có Trần Trịnh viết cho Mai Lệ Huyền lúc đó đang còn sống chung (sau Mai Lệ Huyền lấy một đạo diễn trên đài truyền hình số 9 rồi mới vượt biên), hát cặp với Hùng Cường thuộc loại ăn khách.

Nhật Trường – Trần Thiện Thanh viết cho chính anh cùng với Thanh Lan. Còn Khánh Ly, Lệ Thu chỉ nỉ non hát những bài của Phạm Duy như Mùa Thu Chết, Kỷ Vật Cho Em, Giọt Mưa Trên Lá… Các nhạc sĩ khác không có nhạc phẩm mới chỉ cho ca sĩ nhai đi nhai lại các bài hát cũ.

 

Vì vậy nhạc Pop Rock – Việt hóa ăn khách do không nằm trong lệnh của bộ thông tin & tâm lý chiến. Những ca khúc trữ tình như Hởi Người Tình La-ra nhạc phim Dr.Zivago, Roméo Juliette, Giàn Thiên Lý Đã xa, Khi Xưa Ta Bé, Lịch Sử Một Chuyện Tình… được ra đời. Trước đó xuất hiện cùng những ca sĩ ban nhạc Black Caps, Les Vampires, Rockin Stars, The 46, Fanatiques, Spotlights, và phong trào Viet Hóa như Phượng Hoàng, Mây Trắng (Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang, Trung Hành, Elvis Phương), CBC (Bích Liên), Crazy Dog (Những đứa con của cặp nghệ sĩ Việt Hùng – Ngọc Nuôi với Ngọc Bích đầu đàn)

Ba Con Mèo (có Vi Vân, Julie và Mỹ Hòa), Tú Hà Thúy ( Anh Tú, Khánh Hà, Thuy’ Anh) và những ”thủ lãnh” phong trào lúc đó là Nhac Trẻ: Trường Kỳ, Tùng Giang, Đức Huy, Kỳ Phát, Nam Lộc.

Nên phải nói rằng nền ca nhạc ở Sài Gòn từ những năm 60 đến 75 mới thực sự có nhiều điều để nói, vì trước đó thời TT Ngô Đình Diệm cấm mở khiêu vũ trường, nên sinh hoạt tân nhạc còn trong phạm vi thu hẹp chỉ có Đài phát thanh, Phòng trà và Đại Nhạc Hội. Trong thời gian này có Ban Thăng Long với Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Thanh, Thái Hằng, nhạc hài hước có Trần Văn Trạch, song ca Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết hay Thúy Nga với tiếng đàn phong cầm (sau thành vợ Hoàng Thi Thơ ), Duy Trác, Bạch Yến, Thanh Thúy, Minh Hiếu, Phương Dung, Ánh Tuyết, Cao Thái…

Do thiếu hụt ca sĩ, các tay tổ chức Đai Nhạc Hội thường đưa vào các tiết mục múa của Lưu Bình, Lưu Hồng, Trịnh Toàn, kịch nói chưa phát hiện ra Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, La Thoại Tân, Vân Hùng… chỉ có những nghệ sĩ gần đứng tuổi như Phùng Há, Bảy Nam, Năm Châu, Ba Vân, Bảy Nhiêu, Hoàng Mai, Anh Lân, Kim Lan, Kim Cúc, Túy Hoa, Xuân Dung hay cua-rơ Phượng Hoàng Lê Thành Cát (một kịch sĩ nghiệp dư) chiếm lĩnh sân khấu cùng kịch sĩ đất Bắc như Lê Văn, Vũ Huân, Vũ Huyến…

Thời gian 1965 – 1975 giới thưởng thức tân nhạc bắt đầu chia khán giả cho từng loại ca sĩ :

– SVHS thì thích những giọng hát của Thanh Lan, Khánh Ly, Lệ Thu, Xuân Sơn, Anh Khoa, Jo Marcel, Sĩ Phú, Paolo Tuan, Elvis Phương bởi khi hát có chọn lọc nhạc phẩm mang tính nghệ thuật cao cấp.

– Đại đa số quần chúng lại thích nghe Thanh Thúy, Minh Hiếu, Phương Dung, Thanh Tuyền, Túy Hồng, Nhật Trường, Thái Châu hát những nhạc phẩm bậc trung nẳm giữa nghệ thuật và thị hiếu.

Còn lại các ca sĩ như Chế Linh, Duy Khánh, Hùng Cường, Mai Lệ Huyền, Phương Hồng Quế, Sơn Ca, Giang Tử, Trang Thanh Lan, Thanh Hùng, Trang Mỹ Dung, Thiên Trang hát các bài được soạn theo kiểu tiểu thuyết lá cải như Chuyện tình Lan và Điệp, Nhẫn cỏ cho em, Đồi thông hai mộ, Rước tình về với quê hương … được giới bình dân ưa thích. (gọi là “nhạc sến”)

 

Cho nên giới sản xuất băng nhạc bấy giờ rất kén ca sĩ hát cho nhãn băng nhạc, nếu nhãn băng nhạc nào có những Lệ Thu, Khánh Ly, Elvis Phương, Thanh Lan v.v… thì sẽ không có những Chế Linh, Giao Linh, Trang Mỹ Dung, Giang Tử, Duy Khánh v.v…

Khán thính giả đã phân chia hạng bậc ca sĩ nhạc phẩm để thưởng thức. Ông bầu Ngọc Chánh liền cho ra nhiều nhãn hiệu băng mong chiếm trọn thị trường, vì làm băng nhạc phải nhạy bén với lớp người thưởng ngoạn do đã phân chia ra từng lớp :

– Shotguns dành cho lớp người có trình độ thưởng thức cao.

– Nhãn băng Thanh Thúy dành cho mọi tầng lớp khán thính giả.

– Nhãn băng Hồn Nước có Chế Linh, Duy Khánh, Trang Mỹ Dung, Phương Hồng Quế v.v…

– Phục vụ thành phần cao niên hoài cổ có băng nhạc Tơ Vàng của Văn Phụng Châu Hà, quy tụ những ca sĩ di cư từ đất Bắc như Duy Trác, Châu Hà, Kim Tước, Thái Thanh, Sĩ Phú qua những nhạc phẩm tiền chiến của Văn Cao, Đoàn Chuẩn, Từ Linh, Dương Thiệu Tước, Nghiêm Phú Phi, Phạm Duy, Phạm Đình Chương… vừa có nhạc tiền chiến vừa có nhạc hiện đại của những nhạc sĩ tên tuổi.

 

– Tầng lớp SVHS có nhãn bang hiệu Shotguns, Khánh Ly, Jo Marcel để nghe nhạc phẩm Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Y Vân, Phạm Thế Mỹ, Nguyễn Ánh 9.

– Giới bình dân có rất nhiều nhãn hiệu băng như Hoàng Thi Thơ, Họa Mi, Hồn Nước, Chế Linh, Âm Thanh, Trường Sơn, Nguồn Sống qua nhạc phẩm Châu Kỳ, Mạnh Phát, Anh Việt Thu, Đỗ Lễ, Trầm Tử Thiêng, Vinh Sử, Tú Nhi, Hàn Châu, Song Ngọc, Duy Khánh, Thanh Sơn, Y Vũ, Trần Trịnh, Tâm Anh, Đynh Trầm Ca…

– Nhạc trẻ có nhóm Trường Kỳ, Tùng Giang, Kỳ Phát đều có nhãn băng nhạc riêng, riêng kiosque của chị em Thúy Nga (không phải vợ Hoàng Thi Thơ) lúc đó chỉ chuyên sang nhạc đĩa nhac Ngoai Quốc nước ngoài mang nhãn Selection hay Anna / Hon Hoang .

Thế giới ca nhạc Saigon đã phân chia thứ bậc theo sự thưởng ngoạn, ca sĩ cũng được phân chia ngôi thứ rõ ràng, đó là đặc tính của tân nhạc miền Nam ngày trước… tháng 04 /1975.

CẶP TRỊNH CÔNG SƠN

& KHÁNH LY

Từ ngày tôi viết báo và làm báo đến ngày Sài Gòn “đứt phim” nhiều lần tôi viết về Trịnh Công Sơn, dù đến bây giờ giữa tôi và họ Trịnh chưa một lần tiếp xúc, có lẽ vì Trịnh Công Sơn quá cao ngạo thường nghĩ mình là cái “rún” của nền âm nhạc Việt Nam từ trước và sau 1975, đồng thời họ Trịnh còn phân biệt địa phương chỉ thích giao tiếp với người gốc Huế hay gốc Bắc di cư 1954 sau này 1975, còn người làm báo miền Nam (ngày xưa có hai phe báo Nam báo Bắc, có cả 2 nghiệp đoàn ký giả Nam Bắc khác nhau), họ Trịnh tỏ ra không mặn mà để giao tế hay tiếp xúc.

Tôi nhớ vào khoảng năm 1964-65 phong trào Sinh Viên Học Sinh xuống đường đang bộc phát mạnh từng ngày. Ngày nào SVHS cũng xuống đường đòi xé Hiến chương Vũng Tàu của tướng Nguyễn Khánh, rồi một Quách Thị Trang nữ sinh trường Bồ Đề (Cầu Muối) ngã xuống do lạc đạn tại bồn binh chợ Bến Thành trong một đêm đầy biến động với lựu đạn cay và cả tiếng súng thị oai của cảnh sát bót Lê Văn Ken, và từ đó nổi lên phong trào hát du ca, toàn ca khúc phản chiến.

Cũng từ đó quán cà phê Văn được hình thành trên một bãi đất gò rộng lớn, bãi đất này từ thời Pháp từng được dùng làm khám lớn còn gọi bót Catinar bên hông pháp đình Sài Gòn. Bãi đất được chính quyền Nguyễn Khánh mà mị ve vuốt cấp cho SVHS làm trụ sở Tổng Hội Sinh Viên do Lê Hữu Bôi, Nguyễn Trọng Nho đang lãnh đạo phong trào SVHS xuống đường, để đổi lấy sự yên tĩnh cho thủ đô.

Quán cà phê Văn nằm sau trường Đại Học Văn Khoa, lúc đó do nhóm sinh viên đang theo học tại đây dựng lên và đặt thành tên gọi, được đông đảo anh chị em SVHS ủng hộ hàng đêm cả ngàn người đứng ngồi trên bãi cỏ, mở đầu nghe phong trào hát du ca của cặp Trịnh Công Sơn – Khánh Ly qua những Ca khúc Da Vàng.

Trịnh Công Sơn và Khánh Ly mới từ Đà Lạt vào Sài Gòn. Phong cách biểu diễn của Khánh Ly lúc đó rất bụi, chân đất, miệng phì phà điếu thuốc Salem và hát những bài do Trịnh Công Sơn sáng tác và đệm đàn. Bấy giờ người ta đã đặt cho Khánh Ly cái tên “ca sĩ cần sa”, “tiếng hát ma túy” v.v… vì giới SVHS thời đó, nhất là giới nữ chưa thấy một ai dám cầm điếu thuốc hút phì phèo nơi công cộng như thế, xem như một cuộc cách mạng trong giới trẻ.

 

Trước thời gian này họ Trịnh tuy đã có nhiều sáng tác nhưng chưa được ai biết đến như bài Ướt mi, Lời Buồn Thánh, Xin mặt trời ngủ yên (liên hoàn khúc) chưa hội nhập được vào giới ca sĩ phòng trà. Nên biết rằng, ca sĩ thời đó thường hát các nhạc phẩm của những nhạc sĩ đã thành danh như Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Dương Thiệu Tước, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Mạnh Phát, Châu Kỳ, Văn Phụng, Lê Dinh, Anh Bằng, Y Vân, Lan Đài…  những nhạc phẩm mang tính đại chúng, còn nhạc và tên tuổi của họ Trịnh hãy còn quá xa lạ với mọi người; các ca sĩ không dám hát sợ rằng khán thính giả sẽ tẩy chay khi hát những nhạc phẩm của người không tên tuổi.

Lúc đó Khánh Ly cũng như Trịnh Công Sơn đều chưa có chỗ đứng trong sinh hoạt tân nhạc, khán thính giả chỉ biết đến những ca sĩ như Thái Thanh, Hà Thanh, Mai Hương, Châu Hà, Duy Trác, Ngọc Cẩm, Nguyễn Hữu Thiết, Hoài Trung, Hoài Bắc hoặc trẻ trung như Thanh Thúy, Minh Hiếu, Phương Dung v.v…

Khi được giới SVHS chào đón trên bãi đất Văn, bấy giờ Trịnh Công Sơn – Khánh Ly mới được mọi người để ý, bởi lời nhạc và cung cách biểu diễn của cả hai đang cách tân truyền thống cũ; nhưng tiếp đó cặp Vũ Thành An – Thanh Lan rồi Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên tuy đi sau nhưng lại nổi đình nổi đám cũng từ phong trào hát du ca này. Các nhạc sĩ sau soạn nhạc cũng dành cho giới trẻ cho tầng lớp người mới có kiến thức. Lời nhạc không rên siết bởi tiếng bom đạn mà rất du dương tình tứ đến lãng mạn gieo đến tâm hồn người nghe ngọn gió mới.

Sau đó quán cà phê Văn đâm ra “hắt hủi” cặp Trịnh Công Sơn – Khánh Ly, vì tính theo tần suất ái mộ, giới SVHS bắt đầu thích nghe “Những bài không tên”, “Bây giờ tháng mấy”, “Áo lụa Hà Đông” hơn “Gia tài của mẹ”, “Ca khúc da vàng” v.v…

 

Các nhạc sĩ trẻ Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên đã khai phá nguồn gió mới cho quán Văn, ngược với dòng nhạc và phong cách sáng tác nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn chống chiến tranh. Lúc này giới trẻ SVHS cảm thấy dòng nhạc của các nhạc sĩ trên có lời ca rất lãng mạn trữ tình luôn qua tiếng hát của Thanh Lan. Chính vì vậy Thanh Lan có nhiều lợi thế hơn Khánh Ly vì được giới SVHS ủng hộ đông đảo hơn, một phần do Thanh Lan là sinh viên Văn Khoa và cà phê Văn như sân nhà. Sau đó còn có cặp ca nhạc sĩ Lê Uyên và Phương v…v…

Trịnh Công Sơn – Khánh Ly bắt buộc phải chuyển thể theo trào lưu, không hát nhạc phản chiến, cả hai muốn lấy lại tư thế “người của mọi người” nên chuyển đề tài qua tình ca như dòng nhạc của Vũ Thành An, Từ Công Phụng hay Ngô Thụy Miên; và Diễm Xưa lại được Khánh Ly thể hiện xem như ca khúc lãng mạn của Trịnh Công Sơn nhằm đối kháng với “Những bài không tên”, “Bây giờ tháng mấy”, “Áo lụa Hà Đông”, sau Diễm Xưa tiếp tục với Lời Buồn Thánh, Mưa hồng, Biển nhớ, Tình xa, Một ngày như mọi ngày…

Nói như vậy cho thấy Trịnh Công Sơn đi trước về sau qua những bản nhạc tình.

 

Cuối cùng tôi gặp Trịnh Công Sơn vào trưa ngày 30/4/75 tại Đài phát thanh Sài Gòn. Trưa hôm ấy có lẽ Trịnh Công Sơn muốn đến kêu gọi giới văn nghệ sĩ (vì vẫn coi mình là cái “rún” của nền âm nhạc miền Nam ?) bình tĩnh và ủng hộ chính quyền quân quản, còn tôi đến để lấy tin làm báo, vì tờ báo tôi được uỷ quyền còn ra đến số báo đề ngày 2/5/75. Và đúng như bài của Trịnh Cung viết về Trịnh Công Sơn, trưa đó họ Trịnh chẳng nói được lời nào sau micro, còn Tôn Thất Lập có nói gì với họ Trịnh không thì tôi “bó tay” do lúc này ở phòng thu người chật như nêm, ai cũng muốn chen vào muốn “có tiếng nói” làm “ông kẹ ba mươi tháng tư” kể cả tên mặt rô ở chợ Cầu Muối cũng có mặt muốn kêu gọi bạn hàng chợ Cầu Ông Lãnh, chợ Cầu Muối hợp tác với ban quân quản.

Sau ngày 30/4 ai cũng thấy rõ chiến tuyến của họ Trịnh và Khánh Ly. Quả thật Trịnh Công Sơn phản chiến vì thân cộng, còn Khánh Ly lại thuộc thành phần chống cộng. Có người hỏi tại sao Khánh Ly lại ra đi không cùng họ Trịnh ở lại để hưởng phước lộc trong xã hội chủ nghĩa, khi cả hai từng có công trạng gián tiếp xúi giục mọi người phản chiến, thanh niên trốn quân dịch; vì cả hai như cặp bài trùng ?

Khi hỏi cũng đã có câu trả lời, vì khi phong trào du ca không còn tồn tại, chỉ còn nhóm “Hát cho đồng bào tôi nghe” của Nguyễn Đức Quang, Miên Đức Thắng, Tôn Thất Lập “hát chui” ở đâu đó. Còn Trịnh Công Sơn và Khánh Ly đã tách ra thành hai, bởi cả hai đâu phải đôi “thanh mai trúc mã”, một người bị chứng bất lực còn một người đang tràn trề sinh lực của lứa tuổi thèm yêu.

 

Trước đó Khánh Ly đã ấy một đại úy biệt kích to con lực lưỡng làm chồng, còn là một bảo kê cho phòng trà khiêu vũ trường của vợ trên đường Nguyễn Huệ (Queen Bee) sau chuyển qua đường Tự Do (Khánh Ly). Do vậy Khánh Ly phải xa họ Trịnh để đến đất nước của Nữ thần tự do, còn nếu ở lại với lý lịch lấy chồng sĩ quan ngụy quân sẽ bị trù dập “ngóc đầu lên không nổi”.

Tuy vậy khi qua Mỹ, Khánh Ly không còn nhớ đến người chồng biệt kích còn đang học tập cải tạo ở quê hương, liền lấy ngay một ký giả từ Sài Gòn cũng vừa di tản để cả hai tiếp tục hô hào chống cộng.

Còn Trịnh Công Sơn, khoảng thời gian mười năm sau ngày Sài Gòn “đứt phim”, họ Trịnh lại bắt đầu nổi tiếng (?), còn tại sao nổi tiếng khi Trịnh Công Sơn chỉ có những bản nhạc “nhạt như nước ốc” sáng tác cổ động cho phong trào thanh niên xung phong hay học đường theo huấn thị của ông Sáu Dân, việc này mọi người đã biết tôi không nói thêm nữa.

 

Sự trở lại với nền âm nhạc sau nhiều năm vắng bóng để Xuân Hồng, Trần Long Ẩn… làm mưa làm gió, nên mọi người còn nhớ Trịnh Công Sơn và báo chí lại đưa tên tuổi họ Trịnh lên chín tầng mây. Và mặc dù bị chứng bất lực nhưng cũng có vài con thiêu thân chịu sa ngã để được “dựa hơi”, mong “hơi hám” của họ Trịnh sẽ cho mình chút hư danh, như cô ca sĩ HN vừa loé lên đã tắt lịm, bởi nhạc cũ họ Trịnh thì chưa được hát còn nhạc mới lại nhạt nhẻo chỉ dành cho thiếu nhi hay hát vào mỗi lúc hô “khẩu hiệu”mà thôi.

Biết rằng nhạc không còn hồn, không còn sôi nổi cuốn hút người nghe như thời trước 1975, Trịnh Công Sơn mở quán cà phê trên đường Phạm Ngọc Thạch tức đường Duy Tân cũ, rồi bắt đầu vẽ hươu vẽ nai rồi nhờ mấy tên ký giả cà phê “lăng-xê” nét vẽ không thua gì những Phạm Cung, Trịnh Cung… có người đòi mua cả vài ngàn đô ?!. Vậy là hết cuộc đời âm nhạc để rồi chết vì nghiện rượu, mà tác phẩm để lại được mọi người còn nhớ đến toàn nhạc phẩm của những ngày trước 30/4.

 

Nguyễn Việt

304Đen – Llttm - tvvn