Monday, November 12, 2018

Bình Bài Thơ Hoàng Hạc Lâu Của Thôi Diệu Với Bản Dịch Của Hương Lệ Oanh - Nguyễn Cang


BÌNH BÀI THƠ HOÀNG HẠC LÂU CỦA THÔI HIỆU VỚI BẢN DỊCH CỦA HƯƠNG LỆ OANH

  


Hoàng Hạc Lâu là bài thơ nổi tiếng của Thôi Hiệu (崔顥), ông là một nhà thơ danh tiếng thời nhà Đường. Tương truyền rằng, Lý Bạch (cũng là một nhà thơ nổi tiếng cùng thời với Thôi Hiệu) khi đến Hoàng Hạc Lâu định làm thơ cảm tác, đã thấy thơ Thôi Hiệu đề trên vách, đọc xong, vứt bút, ngửa mặt than rằng:

Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu.

Dịch nghĩa:

    Trước mắt thấy cảnh không tả được

    Vì Thôi Hiệu đã đề thơ trên đầu.

[Chú thích: "Theo giáo sư Wei Shang đại học Colombia thì Lý Bạch bị ám ảnh bởi bài thơ tuyệt tác của Thôi Hiệu làm ở lầu Hoàng Hạc mà đành im lặng mặc dù không nói ra nhưng trong lòng không phục, Lý Bạch không thể bình tâm trước sự kiện nầy nên ông đã gián tiếp ngấm ngầm tạo ra một cuộc đối thoại với Thôi Hiệu bằng cách sáng tác những bài thơ tương tự đề cập đến Lầu Hoàng Hạc với ý và cách dùng luật tương tự Hoàng Hạc Lâu như: Anh Vũ Châu, Hoàng Hạc Lâu Tống Mạnh Hạo Nhiên Chi Quảng Lăng, Đăng Kim Phụng Hoàng Đài"].

Sau đây là nguyên tác bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu:

    Chữ Hán:      Hán Việt

    鶴樓         Hoàng Hạc Lâu

 
昔人已乘鶴去  Tích nhân [1] dĩ thừa hoàng hạc khứ
此地空餘鶴樓  Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu
鶴一去不復返  Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
白雲千載空悠悠  Bạch vân thiên tải không du du
晴川歷歷漢陽樹  Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
芳草萋萋鸚鵡洲  Phương thảo thê thê Anh Vũ[2] châu
日暮關何處是  Nhật mộ hương quan hà xứ thị
煙波江上使人愁. Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

    (崔顥/ 704-754)         (Thôi Hiệu)

 Dịch nghĩa:      

     Lầu Hoàng Hạc

    Ngày xưa, người tiên đã cưỡi hạc vàng bay đi mất rồi,

    Nơi đây, còn trơ lầu Hoàng Hạc trống vắng.

    Hạc vàng một khi bay đi thì không trở lại nữa,

    Mây trắng ngàn năm vẫn dằng dặc trên không.

    Mặt sông lúc trời tạnh, phản chiếu vẻ sáng của cây cối vùng

    Hán Dương,

    (Cũng thấy) cỏ thơm trên bãi Anh Vũ tốt tươi mơn mởn.                                                                

    Chiều  tối, nhìn mãi mà chẳng thấy quê nhà nơi đâu?

    Chỉ có khói tỏa trên sông khiến buồn lòng người!

Chú thích từ ngữ:

Hoàng Hạc Lâu:(鶴樓) là tên một ngôi lầu danh tiếng ở Trung Quốc, tọa lạc tại quận Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc trên núi đá nổi cao của dòng sông Trường Giang. Lầu nầy là một trong những kiến trúc nổi tiếng của Trung Quốc . Trong thời kỳ chính biến loạn binh, Hoàng Hạc Lâu bị hủy hoại tất cả 12 lần . Truyền thuyết cho rằng tiên ông Phí Văn Vi thường cỡi hạc vàng ngao du nơi đây . Một hôm tiên ông cỡi hạc bay ngang qua Vũ Hán rồi dừng lại trên Đồi Rắn để ngắm cảnh, một bên là Trường Giang bên kia là Ngũ Hồ . Sau nầy từ nơi ấy người ta xây lên một ngọn tháp đặt tên là Hoàng Hạc Lâu . Đây là một thắng cảnh tuyệt đẹp, bao la hùng vĩ, thơ mộng . Lầu được bao phủ bởi một lớp sương mù mờ ảo làm tăng thêm vẻ đẹp và sự hấp dẫn, các tao nhân mặc khách thuờng viếng nơi nầy để đề thơ, ngắm cảnh trong đó có Thôi Hiệu và Đỗ Phủ .

Tích nhân (昔人): Theo Lục Du trong Nhập Thục ký, quyển 5 thì Phí Văn Vi thành tiên, thường cưỡi hạc về nghỉ ở Hoàng Hạc lâu.

Du du: dài dằng dặc , mãi mãi.

Lịch lịch (歷歷): vẻ sáng đẹp rực rỡ.

Hán Dương: là một quận của Vũ Hán, thủ phủ tỉnh Hồ Bắc. Hán Dương nằm về phía tây nam của Vũ Hán, đông giáp Trường Giang, nhìn sang Vũ Xương, có 2 cầu Trường Giang, Vũ Hán nối liền nhau. Phía bắc giáp Hán Giang và Hán Khẩu . Tại quận nầy có các hồ nước: Nguyệt Hồ, Liên Hoa Hồ và các núi Quy Sơn, Phượng Hoàng.

Anh vũ (鸚鵡): Khu bãi bến khúc sông thuộc Vũ Xương tỉnh Hồ Bắc. Chữ khứ : bấy lâu nay, theo wikipedia, ta vẫn hay đọc với thanh Trắc (dấu sắc). Có nhiều người đã cho là một bài thơ luật Đường 'phá thể', hoặc 'lạc vận'...Lại có nhiều người cố dịch ra quốc ngữ (abc) bằng cách dùng thinh trắc ở câu Phá (câu thứ nhất).

Chữ khứ : thời của Thôi Hiệu, hay vùng miền của ông có khi đọc ra là"khâu" hoặc "khu". Trong Hán Việt Từ điển - Thiều Chửu (trang 76) cũng cho biết như thế:

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khu/khâu

Thử địa không dư hoàng hạc lâu.

Bản dịch của Hương Lệ Oanh:

   LẦU HOÀNG HẠC


    Người xưa cưỡi hạc bay khuất bóng,
    Hoàng Hạc lầu trơ ở chốn nầy.
    Biền biệt hạc vàng không trở lại,
    Ngàn năm mây trắng hững hờ bay.
    Hán Dương sông tạnh trông cây rõ,
    Anh Vũ cỏ hương tốt mọc dầy.
    Chiều xuống quê nhà đâu chẳng thấy!
    Khói vương trên sóng gợi sầu tây.
    (Hương Lệ Oanh)

Tiểu sử tác giả Thôi Hiệu (704-754): người Biện Châu, tỉnh Hà Nam, là một hiện tượng lạ trong thơ Đường, đậu tiến sĩ niên hiệu Khai Nguyên (725, đời Đường Huyền Tông) làm tới chức Tư huân viên ngoại lang . Thơ Thôi Hiệu phóng túng, tao nhã, mà gợi cảm sâu xa. Ông sáng tác không nhiều, còn lại hơn 40 bài. Hai bài nổi tiếng của ông là khúc nhạc phủ Trường ca hành và bài thơ Hoàng Hạc Lâu đã đưa ông đến đỉnh vinh quang sáng chói của nghệ thuật thơ Đường mà tên tuổi ông cũng được lưu danh thiên cổ .

Phân tích và những lời bình :

Bài thơ Hoàng Hạc Lâu viết theo thể thất ngôn bát cú, thể hiện tâm trạng u hoài, nỗi lòng thầm kín của tác giả về nhân tình thế thái về sự được mất trước thời thế tác giả đang sống . Thôi Hiệu sống từ thời Khai Nguyên Đường Huyền Tông, đất nước thanh bình thạnh trị, kinh tế phát triển, cuộc sống người dân được ấm no, nhưng đến khi Đường Minh Hoàng lên kế vị thì đất nước Trung Hoa đi vào thời kỳ suy thoái, dân tình khổ sở lầm than . Triều đình là giai cấp thống trị, vua quan lo ăn chơi xa hoa trụy lạc, trong triều thì rối ren lục đục, bên ngoài thì mặc cho dân tình đói khổ. Chính những hình ảnh nầy đã gây xúc động mạnh mẽ trong lòng tác giả, tạo cảm hứng nguồn thơ khiến tác già viết lên lời thơ đầy truyền cảm Hoàng Hạc Lâu !

Lời thơ thật trầm buồn, chậm rãi như tiếc nuối cho một cái gì đã mất. Âm vang trải dài trên từng câu từng chữ vừa tha thiết êm đềm vừa ngậm ngùi luyến tiếc, như đang cứa miết vào tim người đọc vậy.

Câu đầu mở ra một viễn cảnh êm đềm, nhàn nhã trong lòng người du khách, thể hiện sự trống vắng, hụt hẫng trong tâm hồn (Người xưa  cưỡi hạc bay khuất bóng). Nguồn cảm hứng khơi lên từ huyền thoại về một tiên ông cỡi hạc vàng dạo chơi, ngắm cảnh, khiến tác giả xúc động khi đến thăm nơi nầy. Hình ảnh nầy xưa kia tựơng trưng cho một đất nước thanh bình, dân tình ấm no hạnh phúc. Kiến trúc công phu độc đáo của lầu khiến ta nhớ tới một thời vàng son chói lọi của một dân tộc từng hiện hữu nơi đây. Nhưng nay bất ngờ (câu thứ hai) một hình ảnh khác tương phản với hình ảnh trên đó là cảnh tiêu điều hoang vắng. Lời thơ trầm lắng khiến lòng ta chùng xuống nghe lạc lõng chơi vơi. Lầu đứng trơ trụi giữa khung trời vắng lặng lạ thường, nghe thương cảm biết chừng nào ! Ngày xưa rực rỡ bao nhiêu thí nay hoang tàn đổ nát bấy nhiêu. Biện pháp tu từ so sánh có tính cách đối lập, đối lập giữa cũ và mới, đối lập rực rỡ /điêu tàn, lộng lẫy/trơ trụi, được/mất v.v. được tác giả sử dụng một cách cách triệt để  phát huy tối đa tác dụng của nó khiến cho người đọc thêm bùi ngùi xót xa lẫn luyến tiếc:

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu.

(Thôi Hiệu)

Người xưa cưỡi hạc bay khuất bóng,
Hoàng Hạc lầu trơ ở chốn nầy.

(HLO)

Tiên ông, ngày ấy cưỡi hạc vàng đậu lại trên lầu cao, bây giờ thì hạc vàng bay xa khuất bóng về phía chân trời , để lại lầu trơ một cảnh điêu tàn . Từ "trơ" trong bản dịch thay thế cho từ: trống vắng, trống không, trơ trụi của bản gốc ( "không" dư hoàng hạc lâu)  là tĩnh từ diễn tả trạng thái, tính chất của lầu hoàng  được sử dụng thật hay, đặc sắc . Chính hình ảnh lầu "trơ" ( bản dịch) đã gây thêm cảm xúc dạt dào trong lòng người đọc bằng những ý tưởng được diễn tả rất xác thực, cô đọng, khẳng định sự nuối tiếc và chua xót khôn nguôi:

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.

(Thôi Hiệu)

Biền biệt hạc vàng không trở lại,
Ngàn năm mây trắng hững hờ bay.

(HLO)

Câu thơ "Biền biệt hạc vàng không trở lại" như một lời khẳng định. Sự không trở lại của hạc vàng ngụ ý thời vàng son một khi đã tàn lụi tan biến thì không sao phục hưng lại được. Thôi Hiệu thương tiếc triều đại Đường Huyền Tông, một thời thái bình thạnh trị nay không còn nữa, ông tiếc nuối vì hiện tại nó trở nên tiêu điều hoang phế đến não lòng! Trong khi đó trên trời, mây trắng vẫn lững lờ trôi, trôi mãi ngàn năm, bất chấp tình huống xảy ra bên lầu Hoàng Hạc, về nơi phương trời vô định . Hình ảnh mây bay vô tình nầy tạo nên sự tương phản với nỗi đau trong lòng tác giả khiến lòng ông như bị chùng xuống, nặng trĩu đau thương . Hai câu thơ nầy nóí lên lòng hoài niệm thương tiếc cho những cái đã qua, đã mất, càng nghĩ càng xót xa đau lòng ! Bằng vài nét chấm phá, Thôi Hiệụ đã khéo léo đưa ta về chốn xưa bằng những nỗi niềm luyến tiếc cứ chồng chất làm nặng trĩu trái tim, chứa đầy u uất thầm kín về thế thái nhân tình về tang thương đất nước . Động từ "phản" () (tr li; bt phc phn: không tr li) nhấn mạnh sự mất mát, luyên tiếc, xót xa của thi nhân.

    Ta lại thấy một biện pháp tu từ về điệp ngữ . Thơ Đường rất kỵ việc lập đi lập lại một từ hay môt ngữ trong 3 câu liên tiếp. Ở đây Thôi Hiệu đã "phá cách" bằng cách lập lại ba lần điệp ngữ  với dụng ý sâu xa, cân nhắc cẩn thận chứ không phải vô tình . Hạc vàng trở lại trong tâm hồn người đọc, làm rộn lên niềm khắc khoải ưu tư, sau đó hoàng hạc bay đi mất khiến ta ngỡ ngàng, hụt hẫng, tiếc nuối khôn nguôi .

Chỉ trong 3 câu thơ ở phần đầu mà điệp từ "Hoàng Hạc" xuất hiện 3 lần cùng lúc với mây trắng bay lơ lững trên trời tạo thành một cảnh sắc hài hòa làm tăng thêm vẻ đẹp của lầu hoàng hạc cũng tô điểm thêm nét đẹp mỹ lệ cho bài thơ.  Riêng điệp từ "khứ" được lập lại hai lần trong câu 1 và 3, để nhấn mạnh ý "một đi không trở lại" rất hay, tuyệt vời! Đặc biệt câu thứ 3 "Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản" tác giả xử dụng liên tiếp 6 thanh trắc, mạnh tay "phá cách" luật thơ Đường truyền thống làm cho lời thơ như bị nghẹn lại, phản ảnh cảm giác nghẹn ngào, ngẩn ngơ, tức tưởi, nuối tiếc . Đúng theo luật thì chữ thứ 4 "khứ" phải thanh bằng, nhưng tác giả lại dùng trắc. Không những phá cách ở câu 3 mà tác giả còn mạnh dạn phá luật ngay từ câu đầu khiến độc giả ngỡ ngàng, choáng váng, nhưng khi đọc kỹ lại thấy hay ! (Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ). Toàn bài thơ là luật bằng vần bằng mà chữ "khứ" lại vần trắc và chữ "hạc" cũng trắc; chữ thứ tư "thừa" theo lẽ trắc lại bằng! Tác giả còn dùng cách hòa thanh phối trí giữa các vần điệu và âm thanh tạo nên nhiều cảm xúc mạnh mẽ cho người đọc

Hai câu luận :

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.

(Thôi Hiệu)

Hán Dương sông tạnh trông cây rõ,
Anh Vũ cỏ hương tốt mọc dầy.

(HLO)

Hán Dương, Anh Vũ là hai địa điểm của Lầu Hoàng Hạc, đó là những thắng cảnh rất đẹp, hoang sơ giữa khung trời lồng lộng mây bay sớm chiều. Xa xa lúc trời quang mây tạnh, phản chiếu vẻ sáng của cây cối vùng Hán Dương . Gần hơn là cỏ thơm mơn mởn ở bãi Anh Vũ đang khoe màu sắc xanh tươi .

Cảnh vắng lặng đìu hiu khiến lòng người thêm buồn, nhớ, sầu, thương . Hai câu thơ vừa tả cảnh vừa ngụ tình thật khéo léo, đặc sắc, thi vị ! Cảnh xa cảnh  gần được lồng vào tình cảm vừa mông lung vừa trầm lắng . Những cặp từ láy: lịch lịch, thê thê là những nét vẽ tinh tế, khắc họa rõ nét hồn thơ thật sinh động, cảnh đẹp thiên nhiên hòa quyện với lòng người tạo thành một tổng thể hoàn hảo .

Hai câu kết của bài thơ  mới thật là xuất sắc, cô đọng trong một chữ "sầu" . Câu thơ có nhịp điệu chậm dần, trầm lắng thich hợp với tình buồn, nhịp thơ thay đổi đột ngột từ 4/3 truyền thống trở thành 2/2/1/2 trong bản gốc và cũng đúng cho bản dịch, khiến nỗi buồn như khắc sâu vào tim, kéo dài vô tận !  Màu sắc của thơ Đường được sáng tỏa trong 2 câu kết nầy . Trước cảnh trời chiều vắng lặng, nhìn về quê cũ bất chợt trong lòng tác giả dâng lên mãnh liệt nỗi buồn nhớ nhà khôn xiết . Nỗi nhớ nhà cuồn cuộn như sóng Tràng Giang dâng lên bát ngát che khuất cả quê nhà, không biết phương nao mà tìm . Xin trích 4 câu thơ nói lên tâm sự nầy của nhà thơ Huy Cận để chúng ta cảm thông nỗi buồn của người xưa:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.

Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

(Tràng Giang / Huy Cận)

Ta còn bắt gặp trong lòng tác giả rộn lên niềm thương nỗi nhớ như có tiếng sóng trong lòng . Tiếng sóng ở đây là tiếng thổn thức của nhịp đập con tim, muốn tuôn tràn . Tiếng sóng nầy có khác tiếng sóng lòng của nhà thơ Thâm Tâm trong bài Tống Biệt Hành hay không, xin trích ra đây để độc giả so sánh:

Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong!

Đọc hết 2 câu kết của bài Hoàng Hạc Lâu, ta thấy lòng chùng xuống xuống rồi dãn ra như trút hết niềm tâm sự nhưng lại  cứa vào tim ta làm hằn lên nỗi nhớ quê hương, nhớ nhà:

Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

(Thôi Hiệu)

Chiều xuống quê nhà đâu chẳng thấy!
Khói vương trên sóng gợi sầu tây.

(HLO)

     Bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu đã ghi một dấu ấn tuyệt đẹp, góp phần nâng cao nghệ thuật sáng tác thơ Đường lên một tầm vóc  mới cao hơn có tính cách đột phá sáng tạo trong cách dùng từ ngữ  kể cả "phá cách" trong thơ cổ điển Đường thi. Bài thơ  gieo vào lòng người mộ điệu thơ văn nhất là thơ Đường những cảm xúc rất thật làm trăn trở biết bao con tim khi đọc bài thơ bất hủ nầy.

Nhận xét về phép đối gây nhiều thắc mắc và tranh luận:

Trong thơ Đường luật khó nhất là phép đối. Các thi nhân Việt Nam thuộc lớp tiền bối đã sử dụng phép đối rất tài tình, điêu luyện, già dặn như Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyến v.v.

Thử xem Thôi Hiệu đã "đối" như thế nào qua bài thơ Hoàng Hạc Lâu?

Xét cặp thực (3&4):
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.

Xét vế thứ hai của mỗi câu:

"bất phục phản" (không trở lại) không đối chỉnh với "không du du"

(vẫn bay bay, hững hờ trôi)

Cặp luận (5&6):
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.

Hai câu nầy thoạt nhìn, đối rất chỉnh nhưng xem kỹ thì "Tình xuyên" đối không chỉnh với "Phương thảo" về thanh (Tình" thanh bằng, nếu trắc như "Tỉnh" thì đúng luật,"Tỉnh xuyên" đối rất chỉnh với "Phương thảo". Suy cho cùng thì đây không phải là một lỗi đáng kể vì tác giả đã áp dụng "luật tùy chọn": nhất, tam, ngũ bất luận!

Những nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã phân tách và gọi hiện tượng trên là "song hành đối và không đối". Nhà thơ trong lúc cảm hứng đã phá luật, múa bút một mạch cho ý thơ tuôn tràn lai láng một cách tự nhiên mà tạo ra cái gọi là "tự đối tự phi đối", làm cho bài thơ tự nó có một sự lôi cuốn hấp dẫn lạ lùng.

Dịch thơ :

Đôi điều về dịch thuật:

Bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu được "thiên hạ" dịch ra quốc âm không biết bao nhiêu lần . Vì là một bài thơ hay, mặc dù phát xuất từ Trung Quốc, nhưng tình cảm trong thơ lại gần gũi với người Việt Nam nên được người Việt ưa chuộng. Cho tới nay không biết có bao nhiêu người đã dịch bài thơ nầy ? Cả trăm, cả ngàn hay chục ngàn...chưa có thống kê cụ thể . Tại sao có nhiều người dịch như vậy ? Câu trả lời là vì thơ hay, vì người dịch trước còn thiếu sót chỗ nào đó mà kẻ đi sau muốn lấp đầy chỗ trống đó cho tròn nghĩa nên cũng muốn dịch thử xem sao . Càng muốn lấp đầy thì lỗ trống càng trống thêm ở chỗ khác, cứ thế mà tiếp tục mãi chưa biết bao giờ mới dứt, nhờ vậy mà chúng ta mới có dịp thưởng thức những bản dịch khác nhau, đem lại nguồn cảm hứng vô biên cho người đọc lẫn người dịch .

Liên hệ giữa thơ và nhạc:

Trong thơ phải có nhạc thì thơ mới hay, ngược lại trong nhạc cũng phải có hơi thơ thì bản nhạc mới có hồn: khi ca lên nghe réo rắc du dương hoặc sầu vương man mác khiến người nghe cảm động. 

Bài Hoàng Hạc Lâu còn được các nhạc sĩ Việt Nam đón nhận rất nhiệt tình bằng cách phổ nhạc bài thơ hoặc sáng tác hẳn một bài khác dựa vào ý chính của bài Hoàng Hạc Lâu. Nhạc sĩ Thanh Trang phổ nhạc bài thơ dịch của Tản Đà, nhạc sĩ Cung Tiến phổ nhạc bài thơ dịch của Vũ Hoàng Chương qua tiếng hát của Hương Lan, Quỳnh Giao; nhạc sĩ Mai Đức Vinh phổ nhạc bài thơ dịch của Hải Đà. Bản nhạc Màu Hoa Bí sáng tác của Võ Đông Điền dựa vào ý bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu được nhiều ca sĩ nổi tiếng trình bày: Như Quỳnh, Hương Lan, Thanh Tuyền, gây nhiều xúc động, nhận được nhiều lời khen là một trong những bài hay nhất.

Xét bản dịch của thi hữu Hương Lệ Oanh, tôi có vài ghi nhận sau đây : Tác giả trong những lần sinh hoạt xướng họa thơ Đường trong nhóm "Vườn Thơ Hương Xưa" đã "trình làng" cho nhóm bài dịch nầy, lúc đó có vài người phê bình là bài thơ phạm luật, sai vần . Cá nhân tôi cho rằng ông tổ Thôi Hiệu sai luật có sao đâu? miễn bài thơ đạt được ý chính ( mặc dù thơ Đường đòi hỏi luật lệ nghiêm nhặt) và đọc lên nghe truyền cảm . Trong tinh thần đó tôi  đưa bản dịch vào bài bình . Bản dịch thật nhẹ nhàng trầm bổng theo cung bậc và nhạc điệu bản gốc, đặc biệt dịch sát nghĩa và sát cả những chỗ sai niêm luật bằng trắc, thử đọc lại hai câu đề:

    Người xưa cưỡi hạc bay khuất bóng,
    Hoàng Hạc lầu trơ ở chốn nầy.

Bài phỏng dịch Hoàng Hạc Lâu của Hương Lệ Oanh,  thật truyền cảm, tác giả bắt chước sư tổ Thôi Hiệu, phá cách ngay câu đầu, cố ý làm sai luật để gây chú ý nơi người đọc ! Mời các bạn thưởng thức :

(Bản dịch của Hương Lệ Oanh, được ghi lại trong phần đầu của bài bình ở trên)

Toàn bài thơ là luật bằng vần bằng mà tác giả đi vần trắc ở cuối câu 1 (câu 1 niêm với câu 8), đồng thời sử dụng chữ thứ 6 "khuất" cũng vần trắc mà theo lẽ phải bằng . Chữ "khuất" nghĩa rất hay,    tĩnh từ chỉ sự không trông thấy nữa vì bị che lấp hay mất dạng vì bị vướng ngăn sau một vật gì. Từ "khuất" kết hợp với động từ "bay" tạo thành động từ ghép chính phụ, trong đó từ tố "khuất" bổ nghĩa cho "bay". Những từ nầy kết hợp với một số từ khác làm thành cụm từ " Cưỡi hạc bay khuất bóng "  chỉ sự bay mất của chim hoàng hạc mà cũng chỉ sự sụp đổ của một triều đại . Một màu vàng chớp lên trên trời rồi vụt tắt, cánh chim hoàng hạc bay đi không bao giờ trở lại, nó đã vĩnh viễn ra đi rồi... còn chăng là ảo ảnh trong tâm tưởng của kiếp nhân sinh mà thôi!

Những ưu điềm khác về mặt nghệ thuật dùng chữ đã được trình bày trong phần phân tích ở trên .

Về tứ thơ thì HLO đã trình bày rất súc tích, cô đọng bởi không khí mang mang trong cảnh sương mờ bao phủ khắp lầu Hoàng Hạc làm tăng thêm tình cảm ray rức bơ vơ của thân phận con người giữa một không gian của buổi trời chiều tắt nắng làm mờ cả lối về, không biết quê nhà nơi đâu ! Cảnh và tình nầy được HLO trình bày một cách nhẹ nhàng cô đọng bằng những vần thơ gợi cảm khiến lâng lâng lòng người nhất là 2 câu kết của bài thơ:

Chiều xuống quê nhà đâu chẳng thấy!
 Khói vương trên sóng gợi sầu tây.

 

Dịch thơ / Nguyễn Cang

 
LẦU HOÀNG HẠC

 
Người tiên cưỡi hạc bay đi mất
Hoàng Hạc còn trơ ở chốn nầy
Vàng hạc một đi không trở lại
Ngàn năm mây trắng lững lờ bay
Hán Dương trời tạnh cây lồng bóng
Anh Vũ cỏ non mọc ngập đầy
Chiều xuống nhìn quê nào có thấy
Chỉ còn khói tỏa khiến buồn lây .

 
Nguyễn Cang (2/10/18)

 

 

 

 

 

   

           

 

   

 

Hà Nội - Song Thao


Hà Nội
 
 

Tôi xa Hà Nội năm tôi 16 ngơ ngác như một con ngỗng đực. Hà Nội mà tôi mang theo khi rời xa chỉ là những thứ vụn vặt cùng mằng.

Năm đó tôi đang học lớp Đệ Tứ trường Dũng Lạc, ngay bên hông nhà thờ chánh tòa mà dân Hà Nội ngày đó gọi là nhà thờ Lớn. Hà Nội của tôi nằm trên con đường từ nhà ở bên hông chợ Hôm tới trường và vùng phụ cận. Dọc đường tới trường có đường tàu điện mà chúng tôi thỉnh thoảng quá giang không mất tiền. Không phải đây là loại tàu thí mà vì chúng tôi gian! Tàu có vài toa, mỗi toa có người bán vé đi dọc trong toa. Người này cầm một tấm bảng lớn hơn tập vở trên đó có cái thanh giữ những tập vé dày cộm. Vé nhỏ bằng hai đốt ngón tay có nhiều màu trông rất vui mắt, mỗi màu là một chặng đường. Khi mua vé, người bán sẽ xé vé đưa cho người mua, cùi vé vẫn dính vào thanh ngang. Thường thì ba mẹ tôi vẫn cho tiền mua vé tàu đi học mỗi ngày nhưng ngày đó chúng tôi đã biết quý đồng tiền nên chẳng dại gì mà đưa tiền cho người bán vé. Chúng tôi đi tàu quịt bằng cách tử tế nhất là xin những chiếc vé còn giá trị cho đoạn đường kế tiếp của những hành khách xuống tàu hoặc, bặm trợn hơn, nhảy tàu đang chạy, hay truyền từ toa tàu này qua toa khác để tránh ông soát vé. Tiền đó chúng tôi làm văn hóa bằng cách đưa cho cô hàng sách để nhận một tập giấy 32 trang, khổ sách in, truyện kiếm hiệp như Long Hình Quái Khách hoặc Hỏa Thiêu Hồng Liên Tự hoặc truyện trinh thám của Phạm Cao Củng hay truyện đường rừng của Lê Văn Trương được in cóc nhẩy vài ngày một tập, mỗi tập chỉ đúng có 32 trang. Đọc vèo một cái là xong, mong chờ từng ngày để đọc tiếp. Ngày nào cũng phải tạt qua tiệm sách, chăm chú đọc tấm bảng đen viết bằng phấn trắng thông báo truyện mới ra ngày hôm đó. Tôi khá Việt văn chắc là nhờ những tập giấy 32 trang này. Đọc xong, đóng thành tập bằng cách dùng chỉ khâu lại. Tập sách này giúp chúng tôi làm thương mại bằng cách cho bạn bè thuê. Bạn bè cùng lớp toàn những thứ đứng hàng thứ ba sau quỷ và ma nên việc buôn bán này luôn bị trục trặc gây nên những cuộc cãi vã chửi bới và có khi trầm trọng hơn phải vận dụng tới chân tay. Nhiều khi chúng tôi xa rời văn chương để dùng tiền mon men tới những tấm truyện bằng hình tarzan hoặc zorro, chữ thì ít, hình thì nhiều nhưng có thể dùng làm đơn vị tiền tệ trong những trận đánh quay, đánh khăng hoặc bắn bi, đánh đáo.

Nơi chúng tôi bắn bi, đánh đáo, đánh quay, đánh khăng là sân trường hoặc vỉa hè trước nhà. Ngày đó vỉa hè không được lát gạch, chỉ toàn đất nên rất tiện cho việc chơi đùa của chúng tôi. Hiện tôi còn một anh bạn bắn bi đánh đáo ngày đó sống tại Montreal này. Nhà anh ở trước cửa nhà tôi trên đường Phùng Khắc Khoan nhỏ hẹp nối liền phố Hòa Mã với đường Trần Xuân Soạn. Mỗi lần gặp nhau, anh luôn hồi tưởng lại những trận thư hùng ngày đó và còn tức tối khi nhắc lại là tôi bắn bi rất mả, ăn hết bi của anh. May mà bây giờ anh không còn quý những viên bi như ngày xưa, nếu không thì chắc đã có một trận cãi vã ra gì giữa hai ông già mà còn vương vấn chuyện xưa khi còn… ngỗng đực!

Ngã tư Trần Xuân Soạn và phố Huế có một rạp xi nê nhỏ chuyên chiếu những phim giải trí cho nhi đồng. Phim kiếm hiệp Trung Hoa mà các hảo hán đằng vân giá vũ, áo quần bay phần phật, tay giữ chuôi kiếm, nhưng anh quay phim chĩa máy quay hơi thấp nên khán giả thấy cả bức tường nơi họ đứng vững vàng khi đang bay. Phim Tarzan hú vang trời vang đất đu rễ cây rừng giải cứu cô Jane thoát khỏi nanh vuốt của con khỉ đực. Tôi phải thú nhận là ngày đó đã ngây người ngắm cô Jane trong y phục rừng rú sơ sài chỉ có chút lá cây. Phim Zorro bịt mặt phi ngựa rầm rập kịp tới chỗ cứu người đẹp lúc kết phim làm chúng tôi vỗ tay vang rạp một cách thích thú. Trong một bài viết, tôi đã thú thật là quên tên rạp hát nho nhỏ này. Một độc giả từ bên Arizona phôn qua nhắc tôi đó là rạp Hà Nội. Chuyện quanh về khu phố Huế ở Hà Nội xưa, chúng tôi mới biết là hai đứa ở chung trên một con đường nhưng hai phía khác nhau ngăn cách bởi phố Huế, phía bên nhà tôi là Trần Xuân Soạn, phía bên kia phố Huế con đường đổi tên thành phố Huyền Trân Công Chúa. Lan man đấu láo, những nơi chốn thân quen xưa cũ như rạp xi nê Đại Nam, tiệm kem Cẩm Bình, nhà sách của bà Hồ Dzếnh được nhắc tới với muôn vàn kỷ niệm xưa. Song song với đường Trần Xuân Soạn, cắt ngang phố Huế là phố Hàm Long, nơi có ngôi nhà thờ mà trường tiểu học Trần văn Thưởng của tôi nằm trong khuôn viên.

Một nơi mà chúng tôi hay đạp xe tới là Bờ Đê và Rặng Ổi. Bờ đê Yên Phụ để đá bóng trên những bãi cát, Rặng Ổi để leo trèo hái trộm ổi. Bãi cỏ trước Viện Bảo Tàng, sau Nhà Hát Lớn, để tụ tập đấu láo. Bờ Hồ để câu cá, ăn bánh mì ba tê của những người bán dạo, thăm quán kem Mụ Béo và mua phát xa húng lìu của ông tàu già ngồi trong tháp Hòa Phong bên hồ Gươm. .

Hà Nội ngày đó chứa tuổi thơ của tôi. Khi rời Hà Nội tôi quả không có một chút phiền não nào. Tuổi thơ là thứ để sau này nhớ về chứ không phải thứ lưu luyến khi đó. Rời Hà Nội, tôi háo hức trước viễn ảnh được tới một phương trời mới, bồi hồi khi lần đầu tiên được leo lên máy bay. Phi trường Gia Lâm (hay Bạch Mai?) bữa đó là nơi tôi đặt chân tới đầu tiên. Những chiếc máy bay Dakota cánh quạt nằm phủ phục như những thớt voi đã thuần hóa. Khi anh lính Pháp, với giọng ngọng nghịu đọc những cái tên Việt Nam làm chúng tôi cười thoải mái, đã đỏ mặt giơ tay đếm đầu người cho lên máy bay mà chẳng cần tên tuổi. Ngày 26 tháng 7 năm 1954, sáu ngày sau ngày ký Hiệp Định Genève, là ngày tôi xa Hà Nội.

Ngày Hà Nội được chôn sống, tôi không còn có mặt để tiễn đưa thành phố thân yêu vào tay Cộng sản. Đó là ngày 10 tháng 10 năm 1954, tính tới nay đúng 60 năm. Một người Hà Nội, cỡ tuổi tôi, cũng ngụ tại phố Hàm Long trong khu phố cũ của tôi, ông Lê Phú Khải, đã hồi tưởng lại. “Đêm 9-10-1954 cả thành phố thiết quân luật. Đường phố như chết, không một bóng người, không có tiếng rao đêm quen thuộc. Nhưng hầu như tất cả Hà Nội đều thức trắng đêm đó, hồi hộp chờ đến sáng…Nhà tôi ở đầu phố Hàm Long, gần ngã năm Phan Châu Trinh, Hàn Thuyên, Lò Đúc, Lê Văn Hưu… Mấy chị em tôi hay dán mắt nhìn qua khe cửa, trong ánh sáng vàng đục của những ngọn đèn đường, tôi nhìn thấy những tên lính Pháp cao lớn mang súng đi tuần. Gần sáng, lính Pháp chốt lại ở đầu phố nhìn ra ngã năm. Khi trời chưa sáng hẳn, từng tốp bộ đội vai đeo súng từ từ tiến đến chỗ lính Pháp đứng. Những tên lính Pháp cao lớn đứng bên những anh bộ đội bé nhỏ, chỉ cao đến ngang vai lính Pháp. Họ nói với nhau những điều gì đó, bàn giao cái gì đó… rồi lính Pháp từ từ rút lên phía Nhà Hát Lớn thành phố theo đường Phan Châu Trinh. Khi lính Pháp rút rồi, chỉ còn bộ đội ta thì các cánh cửa hai bên phố đều bật tung, dân chúng ùa ra đường với cờ đỏ sao vàng trong tay reo mừng, hoan hô bộ đội”.

Mười một năm trước, năm 2003, tôi trở về Hà Nội sau gần nửa thế kỷ xa cách và thấy một Hà Nội khác. Khác ngay từ căn nhà cũ mà nửa thế kỷ trước tôi đã rời xa. Tòa nhà hai tầng, sáu phòng trước đây có hai gia đình: gia đình bác tôi và gia đình tôi. Nay đã được chia ra cho tám “hộ” trú ngụ. Mỗi gia đình một phòng, còn hai gia đình chiếm cái garage để xe và nhà kho nằm phía trên garage. Hành lang, cầu thang là nơi công cộng, cha chung không ai khóc, nên dơ dáy như một bãi rác. Tôi cố mường tượng lại những ngày sống trong tòa nhà này nhưng thực tại đã phá hỏng hồi ức của tôi.

Nhưng cái tôi tiếc nhất là vỉa hè trước nhà, thiên đàng của lũ nhỏ chúng tôi hồi đó. Con phố Phùng Khắc Khoan yên tĩnh ngày trước, nay đã biến thành một khu phố chuyên bán vải. Vải từ trong nhà tràn ra vỉa hè. Người người chen lấn ồn ào như một cái chợ. Chợ đứt đuôi chứ còn “như” nỗi gì. Dân Hà Nội gọi đó là khu chợ vải. Tôi len lỏi trên vỉa hè, va bên này vấp bên kia những bàn vải nặng mùi hóa chất mà cái bụng sôi sùng sục. Họ đã ăn cắp vỉa hè của tôi. Tôi tiếc cái thay đổi ở vỉa hè hơn là cái vỡ vụn trong nhà. Bởi vì ngày đó tôi ở ngoài vỉa hè nhiều hơn ở trong nhà. Cái ồn ào chợ búa trên vỉa hè làm tôi tức muốn khóc. Tưởng là chỉ có mình tôi thương tiếc vỉa hè nhưng ông nhà văn Nguyễn Quang Lập cũng chung tâm sự với tôi. Trong bài “Thương Nhớ Vỉa Hè” ông đã ca cẩm: “Thương nhớ gì lại đi thương nhớ vỉa hè, có mà dở hơi. Nhưng mà thương nhớ thật, nhiều khi tay chống cằm nhìn qua cửa sổ thấy vỉa hè nhốn nháo ngày nay bỗng nhớ thương da diết vỉa hè ngày xưa. Ở góc phố nào cũng có tụi con nít chạy loăng quăng đá bóng, nhảy dây. Mấy thiếu phụ vắng chồng, dắt con nhỏ tha thẩn đứng hết góc này sang góc nọ, gió thổi tóc bay váy lộng, vào mùa lá rụng cảnh ấy đẹp lịm người. Bây giờ thì không còn nữa, một khi hàng hóa túa ra thì vỉa hè teo lại nhường chỗ cho mưu sinh, ô tô chiếm hết lòng đường thì xe đạp xe máy nhảy lên hết vỉa hè. Mỗi đường phố chỉ còn vài khúc thảnh thơi, còn thì mất sạch. Mai mốt có lẽ không còn cái vỉa hè nào cho đúng nghĩa vỉa hè Hà Nội”.
 
 
 

Tôi còn mất nhiều thứ khi trở về lại Hà Nội. Mất rạp xi nê Hà Nội nay thành một cửa hàng bán áo cưới. Mất ngôi chợ Hôm nay trùng tu lại diêm dúa như một cô gái về già. Mất bờ đất cắm cần câu quanh hồ Gươm nay đã gạch đá phẳng lì. Mất ông Tàu già bán phát xa húng lìu nóng bỏng ngồi trong cái tháp cổ bên hồ Hoàn Kiếm. Mất những toa tàu điện chạy dọc phố Huế lên tới Bờ Hồ ngày nhỏ ăn gian vé. Nhưng cái mất nhiều nhất là mất con người Hà Nội.

Người Hà Nội ngày nhỏ của tôi đi đâu mất tiêu hết? Người Tràng An thời tôi còn nhỏ đã được khắc nét trong hai câu thơ: Chẳng thơm cũng thể hoa nhài / Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An. Dân thủ đô Hà Nội từ ngày còn cái tên Thăng Long là những con người lịch lãm với lối nói rất…Tràng An yểu điệu lượt là. Những thêm thắt vào câu nói với “dạ vâng, dạ thưa” nhẹ nhàng; những rào đón trước khi nói ra ý nghĩ của mình với “nói vô phép” “nói khí không phải”; những lời cám ơn suýt soa “quý hóa quá”. Ngày nhỏ tôi đã sống trong những lời nói điệu đàng đó khiến nhiều lúc, như một thứ tinh nghịch, muốn phá vỡ những âm thanh mà nhiều khi nghe như giả dối, khách sáo, thiếu chân tình. Bây giờ, về lại phố xưa, tôi hối hận vì ngày nhỏ đã không trân trọng lời ăn tiếng nói của dân Hà Nội ngày đó. Chợ vải trên vỉa hè xôn xao những âm thanh lạ lẫm. Tiếng Hà Nội bây giờ nghe ngang ngang với những âm thanh như chọc vào lỗ tai người nghe. Đó là một sự pha trộn những phát âm không thể là tiếng Hà Nội. Muốn nghe lại tiếng Hà Nội nguyên thủy, người ta phải tới…Sài Gòn! Như ông Ngô Triệu Phong đã từng. Ông kể lại: “Cuối năm 1978, tôi vào Sài Gòn, được gặp một số người Bắc lớn tuổi di cư năm 1954. Họ vẫn giữ chất giọng và cách nói rất Hà Nội cho dù họ sinh hoạt với cộng đồng người phía Nam một thời gian khá dài.Thực ra cũng chưa có văn bản nào xác nhận tiếng Hà Nội là chuẩn mực. Có lẽ người ta mặc định đó là tiếng của thủ đô? Nhưng điều tôi muốn bàn ở đây là lời ăn tiếng nói của người Hà Nội nói riêng, tiếng Việt nói chung, đã thay đổi nhiều. Việc này hiển nhiên vì ngôn ngữ có đời sống của nó. Nhưng thay đổi theo hướng biến dạng và méo mó thì không thể chấp nhận”.

Ý nghĩ của ông Ngô Triệu Phong có thể lý giải một phần việc mai một của tiếng Hà Nội ngay giữa lòng Hà Nội: người Hà Nội đã bỏ Hà Nội! Ngoài cả trăm ngàn người Hà Nội di cư, người Hà nội còn bị xua đuổi bởi những người tiếp quản thủ đô. Những kẻ chiến thắng đã tràn vào Hà Nội. Họ là những người từ nhiều địa phương khác nhau, mang vào Hà Nội nhiều phương ngữ khác nhau. Tất cả trộn lại thành một thứ tiếng hổ lốn định hình cho tiếng Hà Nội hiện nay.

Tôi có một anh bạn ở Montreal. Cha mẹ, anh em di cư vào Nam hết, riêng mình anh ở lại với bà nội để giữ nhà. Họ tưởng là hai năm sau, theo hiệp định Genève, đất nước sẽ thống nhất, gia đình sẽ đoàn tụ lại. Vài năm sau khi Cộng sản xâm lăng miền Nam, anh được gia đình bảo lãnh qua Montreal. Nói chuyện với anh, không ai nghĩ anh là người ở lại Hà Nội sau ngày di cư. Anh vẫn nói tiếng Hà Nội rất chuẩn, không một chút méo mó. Hỏi chuyện, anh cho biết, sau ngày tiếp quản, thành phần chủ chốt của những người cầm quyền mới là những người từ ngoài vào Hà Nội. Ngay trong nhà trường, các giáo viên cũng là những người từ những địa phương khác được phái về Hà Nội. Họ không nói tiếng Hà Nội. Cả một thế hệ người trẻ theo họ, bắt chước tiếng nói của họ. Những thế hệ sau, ảnh hưởng của việc thay đổi tiếng nói càng trầm trọng hơn. Xã hội phải theo thời, đó là định luật xã hội. Ít người cưỡng lại được. Anh là một trong số những người ít ỏi đó. Vì anh có cái may mắn là gia đình ở trong Nam chu cấp thừa mứa tiền bạc, vật dụng cho bà cháu anh qua ngả Pháp. Anh không phải lệ thuộc vào xã hội.
 
 

Biến dạng theo tiếng nói, người Hà Nội ngày nay biến dạng cả trong cách cư xử. Hết rồi phong cách của người Tràng An: lịch lãm, hào hoa phong nhã, ngôn ngữ trong sáng. Một ông Tiến sĩ ở thủ đô đã nhận xét: “Người Hà Nội bây giờ tiết kiệm với nhau cả những cái gật đầu, cả những nụ cười và thay vào đó là lối nói xô bồ, tục tĩu huỵch toẹt, thiếu văn hóa, kiểu ăn nói “lệch chuẩn”, nhất là ở giới trẻ. Họ quên hẳn những chữ “cám ơn” hay “xin lỗi”.

Ông Lê Phú Khải, người Hà Nội xưa không di cư, ở lại với Hà Nội, kể về trường hợp nhà thơ Hoàng Hưng. Nhà thơ ba đời là người Hà Nội. Sau 1975, vào sinh sống tại miền Nam. Nay về hưu muốn quay trở lại Hà Nội. Ông Khải viết: “Bây giờ mười người Hà Nội thì có đến tám người từ các nơi khác đến “ngụ cư”! Họ làm quan, làm thợ, làm dân thường. Họ mang lối sống “hỗn tạp” (từ dùng của nhà thơ Hoàng Hưng) đến đất ngàn năm văn vật! Chính vợ nhà thơ Hoàng Hưng kể với vợ chồng tôi rằng, hai vợ chồng bà đi chợ mua một ngàn đồng lá chè tươi, được người bán vốc cho một nắm. Thấy một ngàn mà cũng được một vốc, nhà thơ Hoàng Hưng khen: “ Được nhiều đấy nhỉ !”. Bất ngờ cô bán hàng chửi : “ Mua có một ngàn mà còn nói cái đéo gì, cút mẹ nó đi cho người ta bán hàng!”. Ít lâu sau tôi được biết vợ chồng nhà thơ Hoàng Hưng đã bán căn hộ ở bán đảo Linh Đàm để quay về Sài Gòn. Chấm dứt “ước mơ” cuối đời quay về cố đô sau nhiều năm lưu lạc (!)”.

Mới đây, tôi đọc được một bài viết của một người Hà Nội, nay đã vượt biển qua sống bên Mỹ, nhớ lại cái Tết đầu tiên khi Hà Nội bị sa vào tay Cộng sản: “Âm thầm, tôi dạo bước bên bờ Hồ Gươm, tối 30 Tết. Tháp Rùa, Cầu Thê Húc nhạt nhòa, ảm đạm, đền Ngọc Sơn vắng lặng. Chỉ có Nhà Thủy Tạ, đêm nay có ca nhạc, lần cuối cùng của nghệ sĩ Hà Nội. Ðoàn Chuẩn nhớ thương hát “Gửi người em gái miền Nam,” để rồi bị đấu tố là tư sản, rạp xinê Ðại Ðồng phố Hàng Cót bị “tịch thu.” Hoàng Giác ca bài “Bóng ngày qua,” thành “tề ngụy,” hiệu đàn nhỏ phố Cầu Gỗ phải dẹp, vào tổ đan mũ nan, làn mây, sống “tiêu cực” hết đời trong đói nghèo, khốn khổ. Danh ca Minh Ðỗ, Ngọc Bảo, nhạc sĩ Tạ Tấn, sau này làm gì, sống ra sao, “phân tán,” chẳng ai còn gặp nhau, sợ thành “phản động tụ tập.”

Những tao nhân mặc khách Hà thành đó vẫn không xa được Hà Nội, dù là một Hà Nội vong thân.

10/2014

 

Song Thao

304Đen - Llttm