Tuesday, July 16, 2019

Thơ Nguyễn Trãi, Những Bài Chữ Hán Hay Nhất - Hương Lệ Oanh


THƠ NGUYỄN TRÃI, NHỮNG BÀI CHỮ HÁN HAY NHẤT

 Hương Lệ Oanh

 
 

         Nguyễn Trãi 阮廌 (1380-1442) hiệu Ức Trai là một nhà thơ nổi tiếng cũng là một nhà chính trị. Thơ Nguyễn Trãi có phong thái của một bậc anh hùng có chí khí bản chất thoát vòng danh lợi. Những bài thơ chữ Hán của ông điêu luyện về ngôn ngữ và thể hiện tinh thần Nho giáo.

“Thính vũ” là một bài thơ chữ Hán đầy tình cảm bộc lộ tâm tư của tác giả bắt đầu là cảnh trời mưa, trong gian phòng u tối tịch mịch, thi nhân là khách trọ đã thức thâu đêm một mình trong căn phòng vắng vẻ u tối nghe tiếng mưa rơi tâm trạng bồn chồn, như chưa thực hiện một hoài bão lớn, một trách nhiệm nam nhi nợ nước thù nhà, tiếng trúc khua tiếng chuông chùa hoà âm điệu làm cho nỗi buồn càng chất ngất thức thâu đêm, ngoài trời mưa rỉ rả lúc to lúc nhỏ, ngâm thơ vẫn không sao ngủ được đến sớm mai. Dưới đây là bài thơ chữ Hán hay nhất của Nguyễn Trãi.

Nguyên tác chữ Hán: 


 








.

阮廌

 

Phiên âm:

 
Thính vũ

 
Tịch mịch u trai lý
Chung tiêu thính vũ thanh
Tiêu tao kinh khách chẩm
Điểm trích sổ tàn canh
Cách trúc xao song mật
Hòa chung nhập mộng thanh
Ngâm dư hồn bất mị
Đoạn tục đáo thiên minh.
 

Nguyễn Trãi

Dịch nghĩa:

Nghe mưa

 
Vắng vẻ trong phòng tối tăm,
Suốt đêm nghe tiếng trời mưa.
Tiếng não nùng làm kinh động gối khách,
Giọt thánh thót suốt mấy canh tàn.
Cách bụi trúc tiếng khua nhặt vào cửa sổ,
Lẫn tiếng chuông vẳng vào giấc mơ nhẹ nhàng.
Ngâm rồi vẫn không ngủ được,
Nghe đứt nối cho đến trời bình minh.

 
Dịch thơ:

Diễn dịch bài NGHE MƯA HLO bắt chước tiền bối phá cách câu một làm lạ câu thơ thêm chút cá tính, diễn dịch theo thể thất ngôn bát cú luật bằng vần bằng nói lên tâm trạng thi nhân vào một đêm mưa trong thư phòng tối tịch mịch, tiếng mưa rơi khi to lúc nhỏ làm lay động tâm tư khách, tiếng trúc khua ngoài song cửa vẳng tiếng chuông ngân hoà điệu thơ vào mộng ngâm vịnh mà vẫn không sao ngủ được tác giả nhân cách hoá tiếng gió thổi khóm trúc xào xạc tiếng chuông ngân làm cho tâm hồn thanh tao tĩnh lặng thao thức cả đêm ngoài trời cứ mưa dai dẳng đứt nối cho đến sớm mai.

 
HLO 

NGHE MƯA 

 
Thư phòng vắng vẻ càng u-tịch,
Thao thức nghe mưa tí tách ngoài.
Phơn phớt gió lùa lay gối khách, 
Mưa rơi rả rích suốt đêm dài.
Mở lòng tiếng trúc khua cùng gió, 
Hoà nhịp chuông ngân giấc mộng lay.
Ngâm vịnh vẫn không sao ngủ được,
Tiếng mưa thưa nhặt đến ban mai.

 
huongleoanh virginia 

Cùng diễn dịch, với Trần Quốc Bảo 

Kính mời quí Thân hữu đọc : - NGHE MƯA - Trần Quốc Bảo dich thơ Nguyễn Trãi.

 
NGHE MƯA  

Thính Vũ 

 

 

 

    

    

    

    

    

    

    

    

 

  。抑 

 
Thính Vũ

Tịch mịch u trai lý,
Chung tiêu thính vũ thanh.
Tiêu tao kinh khách chẩm,
Điểm trích sổ tàn canh.
Cách trúc xao song mật,
Hòa chung nhập mộng thanh.
Ngâm dư hồn bất mị,
Đoạn tục đáo thiên minh ! 

Nguyễn Trãi - Ức Trai (1)

 
Bản dịch của Trần Quốc Bảo:

 
NGHE MƯA  

Không khí phòng văn rất tịnh êm
Tiếng mưa tí tách rải ngoài thềm
Gió lùa xào xạc, ngay bên gối
Giọt rớt nhặt khoan, suốt cả đêm,
Song trúc rạt rào, nghe nặng hạt
Chuông chùa trầm vọng, mộng êm đềm
Trầm tư thao thức hoài, không ngủ
Rả rich, tới khi trời sáng thêm.

 
Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia
Địa chỉ điện thư của Tác Giả:
quocbao_30@yahoo.com 

(1) Nguyễn Trãi  阮廌 (1380-1442) ,  hiệu là Ức Trai 抑齋, là con ông Bảng nhãn Nguyễn Phi Khanh,  ông đỗ Tiến sĩ năm1400 . Thuở ấy nước Nam bị Tầu đô hộ, Ông Phi Khanh bị quân nhà Minh bắt đem về Kim Lăng giết.  Nguyễn Trãi  đi theo cha khóc lóc,  đến cửa Nam Quan, ông Phi Khanh bảo con rằng: “Con hãy trở về mà lo trả thù cho cha, rửa nhục cho Nước, chứ đi theo cha khóc lóc thì ích gì!” .  Ông bèn trở lại, Từ đó, ngày đêm lo việc phục thù.  Kịp khi Bình Định Vương Lê Lợi khởi nghĩa ở đất Lam Sơn, lúc về đánh quân Minh ở Lỗi Giang, thì  ông Nguyễn Trãi, vào yết kiến, dâng bài “Kế Sách Bình Ngô”. Vua xem, lấy làm hay, dùng ông  làm Tham mưu. Sau 10 năm kháng Minh, được toàn thắng. Lê Lợi lên ngôi tức là vua Lê Thái Tổ, trị vì được 6 năm thì băng hà.  

       Ông Nguyễn Trãi, sau khi làm trọn lời cha dặn, liền từ quan, lui về trí sĩ tại Lệ Chi Viên. Kế vì vua Lê Lợi, là Lê Thái Tông (1423-1442), khi nối ngôi, hoàng tử mới 11 tuổi (1434), lớn lên kém đức vua cha, ham mê sắc dục. Tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442) Thái Tông ngự hành đến Lệ Chi Viên thăm cựu thần Nguyễn Trãi, thấy nàng hầu của ông, là Thị Lộ có nhan sắc, bèn bắt theo hầu. Đi đến huyện Gia Bình thì vua bị đột tử. Triều đình đổ tội giết vua cho Nguyễn Thị Lộ. Bắt ông Nguyễn Trãi làm tội và tru di cả 3 họ. 

       Nguyễn Trãi ngoài tài kinh bang tế thế, ông còn là một nhà văn hoá lớn, có công đóng góp quí báu vào sự phát triển của văn học và tư tưởng Việt Nam. Bình Ngô Đại Cáo và Ức Trai Thi Tập (105 bài thơ chữ Hán) là những tác phẩm bất hủ của Nguyễn Trãi còn lưu truyền hậu thế.

.

 

Con Cá Bị Chết Đuối - Vũ Trọng Khải


Con Cá Bị Chết Đuối

" Viết cho Nguyễn Văn Tòan, Houston, Texas.
Khi nhớ Bạn tôi cùng dân Cao Nguyên ra đi trong cuộc
“ Bỏ Phiếu Bằng Chân năm 1975 ”.
Ngày Ban Mê Thuật thất thủ !!!"
 
 

 

Một con cá bị chết đuối !!!
Nghe hơi lạ ?
Vâng, xin thưa, chết đuối là chết ở trong nước khi người hay vật bị rơi xuống vùng nước sâu mà không biết bơi, chả ai lại đi nói “ CÁ BỊ CHẾT ĐUỐI” bao giờ !!
Vì “ NƯỚC ” là môi trường sống của “ CÁ” …
Chả thế mà ngạn ngũ của Dân Tộc ta, khi ám chỉ kẻ gặp vận may thường nói :
“ NHƯ CÁ GẶP NƯỚC, NHƯ RỒNG GẶP MÂY”
Xin Quý Vị vui lòng đọc tiếp đề người viết được trình bầy rõ ràng hơn.
<!>

VÀO TRUYỆN :


Không biết tự bao giờ, tôi cảm thấy thích thú với câu truyện sau đây, cũng không biết tác gỉa là ai, tôi đọc được ở đâu hay do ai kể cho nghe, cũng không còn nhớ nữa , nhưng thiết nghĩ nội dung câu truyện mới đáng để ta chú ý.
Xin được lên tiếng cảm ơn tác gỉa đã dựng được câu truyện này.

Truyện kể :
“ Có một người chuyên thuần hóa rồi nuôi dậy thú hoang, thú dữ…biết hành động, làm trò vui khi nghe tiếng người sai khiến, để bán cho các gánh xiệc. Ông ta rất nổi tiếng trong giới làm xiệc, phải nói, ộng ta là một bậc thầy trong việc nuôi, dậy thú làm xiệc.
Đã nổi tiếng và giầu có nhờ tay nghề, nhưng ông ta có vẻ như chưa hài lòng với những thành công nuôi dậy thú vật của ông ta.

Ông ta nghĩ đến cách :

“ phải làm thế nào để đưa một con cá lên sống trên cạn và phải đi được như động vật hai chân

Ông ta bắt đầu thực hiện bằng cách “mỗi ngày ông đổ bùn vào hồ nước nuôi cá.”
Hồ nước bị đặc dần dần theo ngày tháng, con cá ông nuôi cũng mỗi ngày dần dần bị đẩy lên sống trong vũng bùn lõang, lúc nào đầu cá cũng ngẩng cao trên mặt bùn để thở.
Mỗi lần cho cá ăn, ông ta thường tìm cách làm cho cá phải cất mình cao khỏi mặt bùn, ngóc đầu lên đớp mồi như những lần ông cho mèo hay chó ăn, chúng cũng phải chồm lên vồ mồi.
Bùn càng ngày càng khô dần, con cá ông nuôi cũng đã quen dần với môi trường sống thay đổi chậm chạp.

Không biết thời gian nuôi và dậy con cá này mất bao năm tháng ?

Nhưng nay ông đã thành công.
Con cá ông nuôi từ bùn loãng, sệt, qua đặc, rồi sau cùng bùn đã trở nên khô cứng, cũng qua cách tập luyện kiên nhẫn của ông, đến nay, cá đã nghe được những tiếng gọi của ông, làm theo những gì ông chỉ dậy, và kỳ công hơn cả là con cá ấy đã đi được trên hai cánh đuôi như lòai động vật hai chân.
Ông có thể dẫn con cá của ông đi chơi như người ta dẫn chó, mèo đi rạo mát mỗi chiều.
Rồi có một buổi chiều, như nhiều buổi chiều ông vẫn dẫn cá đi chơi, ai thấy cũng nhòm ngó, chầm trồ thích thú vì quá lạ.
Không lạ sao được ! Cá sống trên cạn, lại biết đi nữa !

Lạ quá đi chứ !!!

Bất chợt, trời đổ cơn mưa !!!

Cũng như những người khác, đang giắt chó, mèo, ông phải chạy tìm nơi trú mưa, mải nhìn trời xem cơn mưa bao giờ tạnh, ông cũng quên cả chăm sóc con cá của mình.
Đến khi trời ngớt mưa, định bước chân đi, ông nhìn lại, thấy con cá của ông không còn cột ở đầu dây ông vẫn dẫn nó đi chơi !!!
Ông vỗi chạy trở lại khu vườn ông vừa dẫn cá đi rong, xem nó lạc đâu mất….
Ông đi lại đọan đưòng ông và cá chạy trú mưa ……


Chợt một hình ảnh làm ông choáng váng, muốn ngã vật ra đất, khi ông nhìn thấy con cá ông nuôi dậy trong bao năm tháng, nay đã CHẾT, Nó CHẾT thật rồi,. nó nằm trương bụng trong một vũng nước chỉ sâu hơn chiều cao của nó.( Vì cá đã biết đi, nên gọi là chiều cao thay vì chiều dài)

Con cá đã CHẾT ĐUỐI trong vũng nước sau cơn mưa !!!

Cuối câu truyện không thấy nói gì về người nuôi dậy thú này nữa.

Chẳng lẽ “ CÁ CHẾT LÀ HẾT TRUYỆN ?”.
Không, truyện không hết ở đó dù cá đã chết đuối !

Cá đã chết , chết trong chính môi trường sống nguyên thủy của nó,

chỉ vì nó: KHÔNG CÒN BƠI ĐƯỢC NỮA ! NÓ KHÔNG CÒN THÍCH HỢP VỚI CHÍNH MỘI TRƯỜNG SỐNG CỦA NÓ…… CÁ CHẾT ĐUỐI !!!


LUẬN TRUYỆN :


So sánh câu truyện “ cá biết đi ” hay “ cá chết đuối ” vào cuộc sống hiện nay của CSVN người ta thấy có nhiều tương đồng khá lý thú !

Ngày nào, mấy chú cộng sản từ Bắc vào Nam,
Ngày nào mấy chú cộng sản từ núi rừng về thành phố,
Ngày nào ? thời đó ! mấy chú cộng sản luôn mấp máy trên môi “ ĐẠP ĐỔNG ĐÀI ”.


Dân miền Nam, ngây thơ quá, thắc mắc hoài, sao mấy chú cộng sản cứ đòi phải “ĐẠP ” cái “ ĐỔNG ĐÀI ”… miền Nam làm gì có cái “ ĐỔNG ĐÀI” nào do “ Mỹ Ngụy ” dựng lên đâu ?
Chỉ có một bức tượng “ THƯƠNG TIẾC ” là quý nhất của dân miền Nam thì mấy chú cũng đạp đổ rồi còn gì nữa !!!
Nhưng cũng chẳng bao lâu, người dân mền Nam, hiền lành, chất phác nhưng dư thông minh để hiểu các chú cộng sản này nói gì và muốn gì !!!
- Những chiếc xe đạp cũ dân miền Nam đã gác xó bếp, nay được lau chùi hay sơn lại mới toanh!
- Những chiếc đồng hồ cũ được đánh bóng lại sáng choang !
- Những chiếc radio transitor, chạy được cả bằng pin lẫn điện cũng được lau chùi y như mới !

Một lô các lọai chợ này được thành hình tại SaiGon và những tỉnh thành miền Nam, sau những ngày các chú cộng sản đổi tiền, đánh tư sản…. dân miền Nam trắng hai tay, còn lại cái khố che thân là may rồi !
Nơi ấy, nơi những cái chợ bất đắc dĩ thành hình, Nam Bắc gặp nhau !
Nơi ấy, Quốc Cộng gặp nhau !
thay tiếng sung bằng những trận cười vang dội !
Nhiều nụ cười ra nước mắt chung quanh cái “ĐẠP ĐỔNG ĐÀI ”,
( thế ra các chú cộng sản đã biết đến “ 3 D ” từ những ngày tháng đó ! )
Nó cười vang, nó cười ra nước mắt vì kẻ bán người mua cùng chung một Dân Tộc, cùng chung một ngôn ngữ mà chẳng hiểu được nhau !!!
Nhiều trận cười vang chung quanh “ CÁI ĐỔNG BA TAY , HAI CỬA SỔ ” …trước những khuôn mặt ngây ngô của núi rừng.
Nhưng rồi cuối cùng, Bắc Nam cũng hiểu nhau….
Rồi từ đó các chú được dân miền Nam tặng hai chữ “ CÁN NGỐ ”
Đó là những ngày sống xa núi rừng của các chú cán ngố, như cá tập sống trong môi trường từ nước lỏng đến bùn khô cứng…. để tập làm người !!!

Truyện ấy xưa rồi !!! Nói làm chi nữa !!!
Nó hết NGỐ rồi , Nó vượt xa người luôn rồi !!!
Chuyện ngày nay khác xưa nhiều lắm !!!
Các chú cán ngố ngày nay quên béng ba chữ “ ĐẠP ĐỔNG ĐÀI ” !!!
Ngày nay, bụng các chú phệ xuống, cổ có nọng vài ba ngấn, mặt phẹt ra …đạp xe đạp sao nổi, Peugeot, Durat các chú cho vào sọt rác, thay vào đó con của các chú chơi những chiếc “ xe khủng ” trị giá bạc triêu đô la Mỹ !!!
Những chiếc “ xe khủng ”này được các chú lôi lên từ những mảnh ruộng, mảnh vườn hay cả trong khu nghĩa trang khi các chú lấy quyền “ thu lại đất đai ” của Dân !!!
Đổng thì các chú chê Seiko các chú cũng chả thèm longines, rolex… chả thấy chú nào nói đến cái gì là “ ba tay, hai cửa sổ ” nữa …
Đài ! thì ôi thôi, bây giờ được thay bằng Apple vàng, nạm kim cương, trị giá “ vài chục vé xanh ” các chú mới chịu rờ tay !....

Các chú như con cá biết đi trong cậu truyện kể trên đấy !
Các chú là những con vật trong gánh xiệc của tụi Ba Tàu đấy !
Nhưng các chú còn thua con vật trong gánh xiệc vì các chú không biết nghe tiếng người !!!


- Ngày xưa khi các chú từ Bắc vào Nam, các chú từ rừng núi xuống đồng bằng, mặt các chú ngây ngô, ngờ ngệch trước TIẾNG NÓI của NGƯỜI.
- Ngày nay MẶT CÁC CHÚ CỨ LẠNH NHƯ TIỀN trước TIẾNG KHÓC CỦA NGƯỜI.


Tiếng khóc vang lên trong lòng Dân Tộc các Chú, nhưng các chú không nghe thấy hay vì không hiểu tiếng người hay các chú còn phải khom lưng làm con vật trong gánh xiệc của bọn giặc phương Bắc !
Thầy nào dậy các chú khi ra ngòai tuyên bố Biển Đông của Quốc Tổ gọi là Biển Nam Trung Hoa ?
Thầy nào dậy cho các chú “ cắt đất” dâng biển cho ngọai bang ?
Thầy nào dậy cho các chú cướp đất của dân để làm nhà to cửa rộng ?
Thầy nào dậy cho các chú biết bỏ ĐẠP đi “ XE KHỦNG ” ?
Thầy nào dậy cho các chú bước chân ngênh ngang đạp trên mặt, trên lưng đồng bào ?
Thầy nào dậy cho các chú biết bỏ ĐỔNG chơi APPLE ?
Thầy nào dậy cho các chú………………………………………….?


CHẲNG CÓ THẦY NÀO DẬY CÁC CHÚ NHƯ THẾ CẢ !!!
CHÍNH LÒNG THAM VÔ ĐÁY TRONG CÁC CHÚ DẬY CÁC CHÚ ĐÓ THÔI.


Như ngày nào, “ CON CÁ BIẾT ĐI ” chết đuối trong chính môi trường sống nguyên thủy của nó là “ NƯỚC ” ….

Thì cũng có một ngày, các chú sẽ “ CHẾT TRONG LÒNG DÂN TỘC ”
Là nơi đã sinh ra và nuôi dưỡng các chú lớn lên….

- Các chú sẽ chết vì tội : PHẢN BỘI QUỐC TỔ.
- Các chú sẽ chết vì tội : BUÔN DÂN BÁN NƯỚC.
- Các Chú có quá nhiều tội, MÀ TỘI NẶNG NHẤT LÀ :
“ TỘI CÁC CHÚ KHÔNG BIẾT NGHE TIẾNG NGƯỜI !!! ”

Thời VÀNG SON của các chú, một đời làm con vật trong gánh xiệc của bọn GIẶC PHƯƠNG BẮC như hôm nay….Sẽ biến mất trong một ngày không xa.


Vũ Trọng Khải

304Đen – Llttm- YD

Từ Cái Lon Đến Cái Lu - Huy Phương


Từ cái lon đến cái lu
 
 

 
Cả nước đang cười ầm lên vì chuyện cái lu của Tiến Sĩ Phan Thị Hồng Xuân vì bà đưa ra ý kiến, mỗi nhà dân ở Sài Gòn nên có một cái lu chứa nước để chống ngập mỗi khi có trời mưa. (Hình minh họa: Q.D./Người Việt)

Cuộc đời quá khổ và quá buồn, nên đôi khi chúng ta cần một vài phút “thư giãn,” để giãn ra cái gì đang căng và thư thả lại cái gì đang gấp. Muốn được như vậy cứ mở vào những trang báo Việt Nam là đủ. “Tuổi già hạt lệ như sương,” khóc thì khó có nước mắt, nhưng cười thì hỉ hả, miễn là giữ lại hàm răng giả thật chặt. “Cười ra nước mắt!” Ai than là tuổi già khô nước mắt để khóc, nhưng lúc cười nước mắt lại tuôn, vậy cười hay khóc cũng giống nghĩa như nhau.
Tôi nghĩ chưa lúc nào đất nước Việt Nam lại có những đầu óc siêu phàm như hôm nay, đúng như thành ngữ người ta đã hoang tưởng dùng nó để tự ca tụng mình là “đỉnh cao trí tuệ!” Không những đã được mang danh trí thức mà còn đầy những thứ khoa bảng. Việt Nam hiện nay có hơn 24,000 tiến sĩ và mỗi năm có chỉ tiêu đào tạo thêm khoảng 350 tiến sĩ, thống kê ra thì cứ hơn một ngày thì đất nước có thêm một tiến sĩ? Trong hơn 72,000 giảng viên đại học Việt Nam, số thạc sĩ là 43,000, tiến sĩ là 16,500. Tin hay không tin là quyền của mỗi người.

Cứ xét trình độ một nhân vật cầm quyền tiêu biểu ngớ ngẩn như Nguyễn Xuân Phúc với trình độ cử nhân kinh tế, ngoại ngữ Anh văn B, Nga văn B, thì người ta cũng đã thất vọng rồi! Nhìn xuống, thấy toàn là những thứ tiến sĩ, phó giáo sư nhưng mỗi lần mở miệng thấy trình độ không hơn gì một đứa trẻ tiểu học trước đây. Bởi vậy một em tốt nghiệp Tú Tài II thời xưa, cho biết em hiện nay, em đang sống dư dả với nghề viết “luận án” cho các tiến sĩ ngày nay.

Những giới chức như đại biểu nhân dân, giám đốc, khoa trưởng khi đã kiếm được chỗ ngồi yên ấm, thì tốt hơn là nên “ngậm miệng ăn tiền” cho qua buổi, đàng này như sợ người ta quên, hay không biết tới mình, nên đã cố gắng kiếm cơ hội để phát biểu đôi câu “để đời,” không phải lưu danh muôn thuở mà tiếc thay lại “lưu xú vạn niên!”

Gần đây, cái thứ “anh hoa” này lại có phong trào “phát tiết” ra từ phe phụ nữ, mà sao thời nay đàn bà lắm miệng nhiều đến thế? Hãy nghe một giáo sư-tiến sĩ là Vũ Thị Nhung, chủ tịch Hội Phụ Sản TP.HCM, khuyến khích các bậc cha mẹ: “Để giúp đời sống tình dục của con cái mình trong tương lai, cha mẹ hãy thể hiện cách làm tình với nhau trước mặt bọn trẻ.”

Có lẽ vì đang ám ảnh cái ấy và chuyện ấy, khi hãng Coca-Cola Việt Nam quảng cáo sản phẩm của mình bằng slogan “Mở lon Việt Nam” thì bà khác là cục trưởng Cục Văn Hóa Cơ Sở thuộc Bộ Văn Hóa-Thể Thao và Du Lịch, la toáng lên rằng: “Từ ‘lon’ đứng một mình, không gắn với từ Coca-Cola hay bia, có thể được hiểu theo rất nhiều nghĩa; nếu bị thêm dấu, thêm mũ trong các quảng cáo ngoài trời sẽ rất phản cảm!”

Cục trưởng Cục Văn Hóa Cơ Sở cũng nói rõ: “Việc gắn chữ ‘lon’ như cách của Coca-Cola mà không có danh từ, trạng từ ở phía sau như ‘ở Việt Nam,’ ‘tại Việt Nam’… là phản cảm, thiếu thẩm mỹ… Hãy giả sử nếu người ta thêm dấu, thêm mũ vào cho từ đó… Từ ‘lon Việt Nam’ có rất nhiều vấn đề!”

Hãng nước ngọt này bị phạt tiền và bảng quảng cáo phải hạ xuống, bỗng chốc mà cái tên Ninh Thị Thu Hương nổi lên như cồn. Quần chúng một mặt buồn cười cái ngớ ngẩn, có quyền lực đang áp đặt một biện pháp lên một dòng chữ quảng cáo bình thường không có gì phải lo sợ vì sự xỏ xiên, xuyên tạc của nó. Chỉ sợ rồi đây, những đầu óc ngu và… ngoan (cố) thế này sẽ đi vào chỗ tăng trưởng quyền lực và cấm đoán thêm cách dùng chữ nghĩa, bằng lối tư duy sợ… bỏ dấu nữa. Sẽ không còn ai dám nói đến cái thứ mà Việt Nam chưa sản xuất nỗi là con “bu-lon,” Hồng Kông nằm bên hông “Cho Lon,” và một loạt sinh hoạt “mung lon,” “gan lon,” “len lon,” “rua lon” của các ông lính…

Nỗi lo sợ của bà Cục Trưởng Ninh Thị Thu Hương là sợ thói quen “chụp mũ” của thiên hạ, trong đó có cả chính quyền. Thiên hạ thì thích “chụp mũ,” “đội ô” lên những chữ không có mũ, chính quyền công an thì thích chụp mũ lên những cá nhân không có mũ, bằng những cái mũ “âm mưu lật đổ chính quyền,” “làm gián điệp ngoại quốc,” “tổ chức Việt Tân…” được kèm theo với vài chục năm tù tội.

Dư luận chưa hết bàn tán chuyện cái lon, thì tiếp đến là chuyện cái lu.

Chúng ta đã biết, đối với người dân thành phố Sài Gòn thì chuyện ngập lụt mỗi khi trời mưa là chuyện vô phương cứu chữa, bao nhiêu kế hoạch, công trình đề ra rồi cũng không đi đến đâu, dân nghe chính quyền nói nhiều mà không thấy tình trạng thay đổi. Nhà nước biện bạch: thứ nhất là thiếu tiền, thứ hai là nhân lực, thứ ba là thời gian, với khối lượng như thế không thể làm trong thời gian ngắn được.

Câu chuyện cái lu bắt đầu từ chiều 12 Tháng Tư, 2019, tại phiên họp của Hội Đồng Nhân Dân TP.HCM, đại biểu Phó Giáo Sư-Tiến Sĩ Phan Thị Hồng Xuân, kiêm một lố chức tước, chủ tịch Hội Hữu Nghị Việt Nam-Đông Nam Á, phó chủ tịch kiêm tổng thư ký Hội Dân Tộc Học-Nhân Học TP.HCM, giảng viên tại Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn TP.HCM, đã đưa ra ý kiến, mỗi nhà dân ở Sài Gòn nên có một cái lu chứa nước để chống ngập mỗi khi có trời mưa.

Cả nước đang cười ầm lên vì chuyện cái lu của Tiến Sĩ Hồng Xuân, thì bà phân bua với báo chí: “Đây là giải pháp tôi rất tâm huyết, nghiên cứu kỹ lưỡng nên mới đề xuất. Đây là ứng dụng từ giá trị văn hóa bản địa (?).” Bà cũng nói chuyện này bên Nhật, bên Phi người ta đã làm và không thấy bị ngập. Bà cũng chê người dân “không đủ trình độ,” nghĩa là còn ngu, để hiểu giải pháp “trí tuệ” dùng lu chống ngập của bà!

Người dân phản bác rằng, dù có hàng triệu cái lu cũng không thể chống được úng ngập khi nền xây dựng đô thị thấp, khi có nước sông dâng cao không thể chảy thoát  ra ngoài được. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật, nhất là kỹ thuật thoát nước và chống ngập úng không theo kịp với tốc độ phát triển đô thị. Hệ thống thoát nước cũ, nhỏ dẫn đến không đáp ứng được nhu cầu, trong khi người dân vẫn đốn rừng, lấn chiếm, san lấp ao hồ, xả rác ra kênh rạch, làm tắc nghẽn hệ thống thoát nước. Và nước mưa chảy xuống mỗi nhà đã có lu đựng, nước mưa chảy ngoài đường, trên sông hồ, ngoài đồng ruộng, lu đâu đủ mà hứng và nước ấy chảy đi đâu?

Có người đùa cho rằng họ hàng nhà bà phó tiến sĩ, chắc quê quán ở Lái Thiêu, đang có nghề sản xuất lu đựng nước! Báo Sài Gòn Giải Phóng còn bênh vực tối đa phát minh của bà, so sánh bà với nhà khoa học thông thái là Galileo Galilei, vào thế kỷ thứ XVI, đã tìm ra những định lý về khoa học, nhưng vào thời điểm đó, quan điểm của ông không được chấp nhận và bị quản thúc tại gia cho đến chết.

Giải pháp lấy lu chống ngập của Phan Thị Hồng Xuân không khác gì suy nghĩ phát xuất từ đầu óc ngây ngô của một học sinh lớp Ba trường làng. Nhưng bà này hiện nay là cấp cao của nhiều hội hè và lại là giáo sư Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn ở Sài Gòn, làm tôi đâm ra nghi ngờ, phải chăng đây một trong những giáo sư, tiến sĩ, đặc trưng của loại khoa bảng “học giả-bằng mua?” và tiến thân nhờ đảng?

Sau chuyện cười “cái lon,” tiếp đến “cái lu,” rồi ra nay mai, sẽ là cái gì nữa đây, xin vui lòng cho biết tiếp, thưa quý bà? 

Huy Phương
Người chuyển bài – HHM -USA

 

 

Cuối Năm Ở Đồng Bằng - Phan Thái Yên


CUỐI NĂM Ở ĐỒNG BẰNG

Châu thổ mang mang trời nước sát

Hồn chùng hiu hắt nỗi không tên. (Tô Thùy Yên)
 
 
 

 

Đoàn tàu lầm lủi rời chợ Phước Xuyên, chạy về phía Tuyên Nhơn, rồi âm thầm thả trôi vào điểm kích. Trời đêm cuối tháng chạp yên tĩnh đến rợn người. Bóng cây hai bên bờ rạp chúi vào dòng kinh làm thành vệt đen mờ chập chờn trước mặt.

Đoàn tàu như bị nuốt trửng vào cuống họng đang hả lớn của một con rắn khổng lồ. Quấn mình trong chiếc mùng nhà binh, tôi nằm lăn trở trên nóc phòng lái của chiếc giang đĩnh vì muỗi Đồng Tháp cứ mãi vo ve bên tai. Tiếng nước vỗ nhè nhẹ vào thành tàu nghe như tiếng vọng từ một đêm biển lặng xa vời. Lời kinh giảng từ loa phóng thanh của ngôi chùa Phật Giáo Hòa Hảo từ phía chợ theo gió đêm lãng đãng vọng về. Điệu hò phương Nam chở lời kinh sâu lắng vào lòng người nghe. Ngôi chùa nằm bên bờ kinh tắc nối liền Phước Xuyên với Mỹ An, mỗi lần tàu chạy ngang bóng người ni cô chống xuồng hái sen, áo nâu sồng thấp thoáng cuối hàng điên điển bông vàng sao thanh thoát quá…

Cành sen lá trĩu sương trong

Áo ni xám hạt trời nong buồn về

Tay nào nghiêng nón thơ che

Tay nào lần chuỗi bồ đề xanh xao… (Phạm Thiên Thư)

Bóng ngôi nhà cuối cùng của khu dân cư lờ mờ hiện ra trong bóng đêm. Tôi chồm người vói lấy cái ống nói liên hợp gọi dặn ba chiếc tàu đi sau quan sát cẩn thận. Cách đây không lâu du kích về đào hầm sát theo bờ kinh ngay trước ngôi nhà, bắn vào tàu tuần làm bị thương hết mấy người lính. Ngôi nhà hiện nay gần như không có ai ở. Bà mẹ thỉnh thoảng về quét dọn cho đỡ hoang vắng. Đứa con gái đã lấy chồng lính Giang Đoàn. Tháng trước Phát thuyên chuyển về tàu biển nên con Mười cũng khăn gói lên Sài Gòn ở với gia đình bên chồng.

Tiếng khè khè từ ống liên hợp chợt đứt quãng bởi giọng Huế nhỏ nhẹ đang gọi tên nhà binh của tôi. Người trưởng đồn Địa Phương Quân mới về nhậm chức muốn được gặp tôi. Giọng Huế hiền như con gái của người Sĩ Quan Thủ Đức mới ra trường đã gây cho tôi không ít tò mò.

Trong màu lục nhạt huyền ảo của chiếc ống dòm hồng ngoại tuyến, dãy rào phòng ngự quanh đồn dựng bằng cây tràm và bốn vọng gác thấp lè tè trông quá mỏng manh. Tôi gọi máy cho những tàu đi sau tấp vào bờ đối diện của đồn lính. Người lính gác lúi húi rọi đèn bấm tìm cái neo phụ kéo chiếc tàu tấp vào bến nhỏ dựng bằng mấy tấm vỉ sắt công binh trước cổng đồn.

Ông Chuẩn úy trưởng đồn đứng nghiêm chào. Mấy tháng Thủ Đức đã tập cho người sĩ quan mới ra trường có cái chào đúng cung cách nhưng dáng dấp thư sinh vẫn còn rõ nét trên khuôn mặt thanh tú. Câu chuyện nổ giòn khi tôi biết được Tấn là người Phú Cam. Tấn cười ngạc nhiên.

– Nghe Trung úy nói chuyện cứ tưởng là người Nam chớ đâu có biết là dân Bến Ngự.

Hai người ngồi nói chuyện Huế đến quá nửa đêm. Quán cà phê nhỏ gần cầu Bến Ngự dưới chân con dốc đi về Từ Đàm vẫn còn. Quán cà phê mái tranh tôi vẫn thường ngồi chờ o tôn nữ đi học về. Ngôi nhà trên đỉnh dốc với hàng chè tàu kín cổng cao tường.

– Chị Lựu có chồng rồi, đám cưới năm ngoái. Hai vợ chồng cùng dạy ở Kiểu Mẫu.

Sân đồn vắng lặng. Bóng đèn dầu từ dãy nhà gia binh cuối đồn hắt ra mấy vệt sáng mờ ảo. Tiếng khóc dạ đề thoát theo, nhỏ nhoi, đứt quãng. Tôi vỗ vai người sĩ quan trẻ lúc đứng dậy bước xuống tàu.

– Thôi, vào ngủ đi! Mai dậy sớm đi chợ uống cà phê.

Tiếng xuồng máy vội vã cho kịp phiên chợ sớm đánh thức dòng kinh đang ngái ngủ. Người lính gác ca chót ngáp dài lom khom chui xuống khoang tàu sửa soạn giấc ngủ bù. Một đêm đi kích bình yên đã qua. Trong ánh sáng đầu ngày còn lẩn quất hơi sương, khu rừng tràm trở nên xa xôi và hiền hòa hơn. Tấn từ trong đồn đi ra, nước da trắng xanh như con gái. Tôi cười chào:

– Ráng tắm nước phèn nhiều vào cho đen, chớ không ban đêm đi tới đâu là làm bia tới đó, nghe chưa cha nội!

Đoàn tàu ngóc đầu phóng nhanh về Phước Xuyên. Tôi dẫn Tấn vào quán cà phê trước nhà lồng chợ. Thắp điếu thuốc đầu ngày, nhấm nháp ly cà phê đen đậm, tôi nói đùa.

– Cậu thấy chưa, đâu có thua gì cà phê Lạc Sơn.

Chợ cuối năm đông đúc và màu sắc hơn ngày thường rất nhiều. Xuồng máy đuôi tôm đậu san sát dưới bến. Con gái mặc áo ni lông màu vàng, màu đọt chuối, đầu quấn khăn rằn hớn hở đi chợ Tết. Hai dãy phố chợ đối diện nhau, phía trước là hàng quán phía sau là nhà ở. Khu nhà lồng giữa chợ lèo tèo mấy quán cà phê, quán ăn, và vài tiệm vải tiệm may. Nơi nhóm chợ phiên là khoảng sân xi măng rộng trước nhà lồng chợ nối dài xuống tận bến đò. Tấn e dè nhìn những lồng chuột, lồng rắn và mấy con trăn dài thân to gần bằng cổ chân.

– Lính bẫy chuột về nấu nướng mời ăn nhưng em ớn quá không dám.

– Chờ bữa nào có bạn rượu sai con gái khìa thịt chuột với nước dừa nước cam vàng trộn chút mắt đưa mày liếc làm mồi nhậu thì lúc đó quên cả ớn luôn.

Tấn nhìn về phía ngôi nhà thờ bên kia bờ kinh, tiếc rẻ.

– Nhà thờ đẹp như rứa mà bỏ hoang uổng quá.

Tôi nghĩ tới nhà thờ Phú Cam và những bậc cấp dẫn lên khoảng sân rộng trước nhà thờ. Từ trên cao nhìn xuống, mấy chiếc cầu trắng bắc qua sông Bến Ngự chảy ôm quanh chân đồi đẹp như tranh vẽ. Tan lễ chiều con gái xóm đạo đi dọc theo bờ sông về nhà, áo dài huệ trắng phất phơ trong gió. Tôi nghĩ tới Tần Hương, tóc ngắn, cổ cao, nước da thắm màu nắng. Không một chút xíu Huế mô hết mà đẹp thì thôi thê. Chiếc váy ngắn màu xanh nước biển và chân-sáo-tần-hương làm nắng nhấp nhô.

Chúa chỉ tới vùng đất này mỗi năm một lần vào ngày lễ Giáng Sinh. Cha ở Cao Lãnh đi tắc-ráng vào đem theo tượng Chúa. Bàn thờ máng cỏ dựng lên sơ sài nhưng những ngọn nến hiếm hoi đã đủ làm sáng lòng con chiên nghèo khó trong vùng đất bất an này. Con chiên đa số từ Khu Mười. Họ là giáo dân di cư từ vùng quê nghèo đất cày lên sỏi đá Quảng Bình mà nền Đệ Nhất Cọng Hòa đã đưa vào đây lập nghiệp. Tiếng máy đuôi tôm nổ rộn rịp giữa đêm vui như tiếng cười hiếm hoi. Sáng sớm hôm sau Cha mang tượng Chúa xuống tắc-ráng chạy về Cao Lãnh. Ngôi giáo đường bơ vơ hoang phế nằm chịu đựng thêm mùa nước chờ đêm Thánh sang năm. Cao Lãnh. Chữ nghĩa người xưa giờ sao nghe quá đắng cay. Ông quan Tổng Đốc lãnh mệnh Chúa phái vào sâu trong đất Nam Kỳ giữa vùng nước thấp mênh mông tràm đước để mở mang bờ cõi. Mơ ước lớn lao của người xưa đã thể hiện qua những địa danh đẹp như Mỹ An, Mỹ Phước, Phước Xuyên… Có lẽ giữa cảnh trời nước mênh mông, nhớ người còn ở lại đất Thần Kinh, ông quan trẻ trong giây phút lãng mạng đã lấy tên vợ Vĩnh Tế mà gọi dòng kinh mới. Và lạ chưa, có một buổi chiều gió Tịnh Biên rợp vàng trí nhớ, rượu uống ngà ngà say, đứng bên dòng Vĩnh Tế dõi mắt về phương xa nhớ thương ngày cuối biển. Dòng nước cưu mang nỗi lòng Thất Sơn, Hồng Ngự chảy qua vùng đất Giang Thành qua miệt Hà Tiên rồi đổ vào biển lớn. Đứng đó bên bờ kinh nhỏ mà nghe lòng mình xôn xao tiếng sóng.

 

Người lính dưới tàu lên tìm tôi nói có Thiếu úy Chiến đang chờ. Đi ngang qua tiệm may bên hông nhà lồng chợ, cô thợ may cuống quít nụ cười tươi, con mắt nhìn theo dài có đuôi. Chiến trong bộ bà ba đen và cái nón bê rê Người Nhái cố hữu trao ống nói liên hợp cho tôi. Liên lạc với phòng hành quân giang đoàn xong tôi bảo các thuyền trưởng cho tàu chạy về bến và nhờ Chiến cho Tấn quá giang về đồn.

Đứng trên mũi tàu giữa dòng kinh, Chiến khum tay bỡn cợt nói vọng vào bờ.

– Ông coi chừng thằng nhỏ! Để con Bé Lâm nó bẻ như bẻ cổ mấy con trăn là coi như dẹp tiệm luôn.

Bé Lâm là cô thợ may ở nhà lồng chợ. Cách đây vài tháng, một lần Chiến và tôi vào tiệm la cà tìm chuyện nói cho qua thì giờ. Đang tán phét thì một vật gì đó trong bao cát cột kín để trên nền xi măng cựa quậy làm tôi giật mình nhảy lui. Cô thợ may khoan thai mở bao cát lôi ra một con trăn dài khoảng gần hai mét, hai tay bóp chặt ở phần đầu và cổ, bẻ thật mạnh. Cô ta dồn con trăn vào lại bao cát nhìn tôi.

– Trung úy đừng lo, nó còn sống nhưng hết cựa quậy gì được nữa rồi.

Tôi hoàn hồn giở giọng đểu:

– Ở đó mà đừng lo. Nhìn cô bẻ cổ con trăn tôi lại càng lo thêm.

Cô thợ may đỏ mặt cười bẽn lẽn. Trên đường về Giang Đoàn, Chiến nói với tôi.

– Người ở chợ nói con Bé Lâm có chồng đi làm ăn xa nhưng gần hai năm nay tôi chưa bao giờ thấy mặt. Ở đây lý do dễ nói nhất là chồng bỏ, chồng đi lính, đi làm ăn xa… Ông nên để ý, biết đâu thằng chồng nó theo du kích làm giao liên ở đâu đó

Bé Lâm có khuôn mặt duyên dáng và biết nói chuyện nên sau những lần uống cà phê tôi thường ghé lại tiệm may tán tỉnh bâng quơ. Một lần Bé Lâm hẹn mời về nhà ăn cơm. Ngôi nhà chỉ cách chợ khoảng nửa cây số. Tôi dè dặt nhìn cái mương nước ở hông nhà. Dân thường chống xuồng theo những mương nước vào sâu trong đồng để thăm lúa, đặt lờ, bẫy chuột. Du kích giao liên cũng thường dùng những tuyến nước này để chuyển quân, chuyển vũ khí, hoặc về thăm nhà. Ngoái nhìn bóng mấy chiếc giang đĩnh ẩn hiện sau lùm cây điên điển phía cuối xóm, tôi yên tâm đi về phía sau nhà nhìn quanh. Xóm nhà vắng lặng. Cánh đồng bao la không một bóng người. Tiếng kinh sấm giảng từ ngôi chùa Phật giáo Hòa Hảo nghe rõ mồm một trong buổi trưa nắng.

Gian nhà sau khuất kín, nền đất mát lạnh lổ đổ vài vệt nắng nhỏ xuyên qua từ cánh cửa sổ bằng phên đã sập xuống. Cặp gối sắp ngay ngắn trên tấm phản dày nâu bóng màu gỗ quý. Tấm phản vừa dùng làm giường vừa là nóc của cái hầm tránh đạn, bao cát dựng quanh chắc chắn. Bếp vừa nhen, ngọn lửa nhảy múa náo nức. Người đàn bà nằm dễ dãi trên tấm phản, mắt nhắm đợi chờ sau chiếc khăn rằn sổ tung lệch lạc. Vùng bóng tối giữa thân thể man khai lồng lộng. Thân xác hừng hực cơn sốt vụng trộm. Nồi cơm nồng mùi khê cháy khi tôi bỏ đi ra trước hiên nhà. Lấy cái gáo dừa múc nước mưa trong lu, tôi uống từng hơi dài như người đang chết khát. Chậu cúc vàng trước sân nhà không kịp chờ tết nở rộ. Tôi rưới miếng nước mưa còn sót trong cái gáo dừa lên mấy nụ bông.

Con đường làng nằm im mệt nhoài dưới nắng trưa. Tôi nghĩ tới những người đàn ông đã bỏ đi xa. Cũng như tôi, bỏ đi xa. Hoặc đã không về kịp cho những cơn cần thiết. Tôi nghĩ tới những người đàn bà ở Đồng Tháp Mười, cô gái chợ Phước Xuyên, Khu Năm, Khu Bảy. Những người đàn bà không có đàn ông ở nhà, sống dọc theo dòng kinh Đồng Tiến, Mỹ An. Cuộc sống can qua nhưng ước mơ và thân xác vẫn có đó rất thực. Khẩn thiết và không che đậy. Những cô gái mơ lấy chồng Sài Gòn để được đi xa khỏi vùng đất tai ương với từng mùa nước buồn tù túng, từng đêm lẻ loi trên chiếc chòi cao bên hàng đáy. Giấc mơ đơn giản. Mơ được uống nước máy, coi cải lương truyền hình, chân đi dép. Những người đàn bà trong vùng đất giao tranh đã sống và chịu đựng với trái tim thật bền bỉ và đơn giản. Những điều tôi chứng kiến và hiểu ra đã trở thành nỗi buồn theo đuổi hoài trong trí.

Một buổi trưa ở mặt trận Mỹ An, vùng kinh Bà Bèo. Lính của một tiểu đoàn bộ binh thay phiên nhau về nghỉ ở tuyến sau. Vợ lính đi xuồng từng đoàn vào thăm chồng và để lấy tiền lương tháng đem về. Tôi chú ý tới một cặp vợ chồng còn rất trẻ. Người vợ tình tứ đút cơm cho chồng ăn. Sau đó hai người ôm ấp nhau, làm tình dưới tấm poncho trùm kín. Người chồng cầm súng ôm vợ từ giã, về lại mặt trận phía trước. Khoảng nửa giờ sau người chồng tử trận, xác kéo ra lúc người vợ đang dọn dẹp hành trang chưa kịp về. Người đàn bà trẻ ôm xác chồng còn hâm hấp cơn sốt hân hoan, khuôn mặt điên cứng mắt ráo hoảnh vô hồn. Tôi chưa hề thấy một cảnh sống nào tang thương đến thế.

Lần đi kích đêm ở Khu Bảy. Lính gác báo cáo thấy có bóng người di chuyển. Súng trên tàu bắn như mưa vào mục tiêu nghi ngờ. Lúc đổ bộ lên, xác người du kích nằm vắt bên bờ mương ngang hông một nhà dân, cây súng AK còn trong tay. Lục soát ngôi nhà, không ai nhận là có bà con quen thuộc gì với người lính Cọng Sản nằm chết ngoài sân. Nhìn khuôn mặt người đàn bà trẻ đứng khuất trong góc nhà tôi nghĩ đến người vợ lính bên bờ kinh trưa ở Mỹ An. Tôi ra hiệu cho toán lính của mình xuống tàu rồi quay lại nói nhỏ với người đàn bà.

– Chị lấy mền ra phủ xác lại để ngày mai Xã tới đem đi chôn.

Xin lỗi người đàn bà ở Đồng Tháp Mười. Điều tôi chỉ có thể làm được là để cho chị vài phút riêng tư với xác người mà chỉ phút chốc trước đây đã hòa chung với chị cơn rung cảm hiếm hoi. Trên đường xuống tàu tôi nghe văng vẳng tiếng nấc nghẹn ngào của người đàn bà.

Đoàn tàu để máy nhỏ chạy về lại căn cứ. Đêm thật sâu. Trăng thượng tuần xa xôi soi chút ánh vàng mơ hồ lên dòng nước đen hun hút trước mặt. Ngọn đèn dầu treo trên nóc hàng đáy mờ mờ soi bóng con Bé Út đang ngồi chờ kéo đáy trông thật cô đơn. Một bầy anh chị bảy tám người, đứa chết trong bưng, đứa đi lính sư đoàn đổi ra Trung đã mấy năm chưa về, đứa lấy chồng xa, để lại cô em út ở nhà hẩm hiu với người cha lúc tỉnh khi say.

Ông già ngồi móm mém hớp từng hơi rượu đế, nhìn dòng kinh nước đục nói chuyện hồi nẳm, thời Bình Xuyên Hòa Hảo.

– Út, chiên cá linh cho anh Hai mầy uống rượu đi con.

Người đàn bà trẻ im lìm như bóng. Chiếc khăn rằn quấn che gần kín khuôn mặt làm đôi mắt nhìn thật sâu và xa xôi. Bé Út xõa tóc múc nước lóng phèn trong lu ra rửa mặt, không quen với những lời khen tặng của đàn ông, nàng mỉm cười ngượng ngùng. Bé Út ngồi nói chuyện mùa nước đi buôn ở Cao Lãnh. Cô quấn lại chiếc khăn rằn, đôi mắt nhìn trở về với chiều sâu của nó. Tôi tiếc không nhìn được cặp môi dày mọng cười mỉm chi lúc tôi hỏi xin học cách kéo đáy, một đêm nào đó.

– Ông già biết, ổng rầy chết.

Tôi lên nhà trên ngồi lơ đãng nghe chuyện Bình Xuyên Hòa Hảo, mắt nhìn cái chòi chênh vênh bên hàng đáy. Nóc chòi cao vượt khỏi lùm cây điên điển rực bông vàng phía trên dòng nước. Cái chòi chênh vênh trên triền đêm xõa tóc. Đôi môi dày háo hức. Tiếng cá linh quẩy động lòng đáy làm người đàn bà tiếc rẻ cơn ham muốn. Ngọn đèn dầu trên nóc hàng đáy dạn dĩ soi bóng xuân thì lên cặp vú nhọn lểnh đong đưa.

Chiếc giang đĩnh chở lính đi chợ bớt máy lại để cập bến. Trước mũi tàu lố nhố bốn năm ông sĩ quan Giang Đoàn. Tôi chào ông Phó Thành.

– Bộ ông Phó tính họp bộ chỉ huy Giang Đoàn ở quán cà phê hay sao đây.

– Đâu có, Tết nhứt tới nơi, tao dẫn thằng Thiện thằng Mẫn đi làm rể cho phải phép.

Mẫn cao lều khều trong bộ đồ Thủy Quân Lục Chiến bỏ ngoài quần. Khẩu rouleau nòng dài lủng lẳng bên hông.

 

– Ông Phó dẫn thằng Thiện đi mua than. Tao thì chàng ràng vậy thôi chứ xơ múi gì đâu.

Bầy con gái ở chợ hiếm hoi đếm được trên đầu ngón tay. Mẹ mất, hai chị em Hạnh sống hẩm hiu với nhau. Đứa em trai tật nguyền đang học Trung học ở ngoài Khu Hai, chỉ về nhà những ngày cuối tuần. Thiện và con Hạnh những ngày này rất khắng khít với nhau. Mẫn ngoài những ngày đi tuần thường hay la cà ở tiệm Thành Phát, nhà hai chị em con Dung. Anh chàng tham lam tính chuyện hoa thơm đánh cả cụm nên mãi vẫn lơ lửng chưa ngắt được bông nào. Chiến tuy hay bông đùa với con Nam, con Bé Ba nhưng vùng hoạt động chính của hắn đổ dài từ Khu Bảy ra tới Khu Ba, Chi Khu Đồng Tiến. Chiến vẫn thường ba hoa.

– Cứ theo chiến thuật trực thăng vận là ăn chắc. Bốc xong là nhảy. Dại gì phải ra ngoài chợ tranh giành cho tốn sức lao động.

Tôi chậm chân lại ghé vào tiệm may của Bé Lâm.

– Tối này Trung úy có ra coi hát không. Đoàn hát ở Cai Lậy về hát Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài. Ban văn nghệ Xã diễn ca nhạc trước rồi mới tới diễn tuồng.

– Hèn nào con nhỏ Huệ vừa bưng cà phê trong căng-tin Giang Đoàn vừa ca sáu câu vọng cổ. Ờ nếu không đi công tác thì ghé coi.

Bé Lâm lửng lơ nhìn cái ghế bố nhà binh ở góc tiệm.

– Coi hát xong tui ở lại để cúng tiệm, gần Giao Thừa mới về nhà. Trung Úy nếu không thích coi hát thì ra đây nghỉ.

Tôi nháy mắt cười bước vội ra khỏi tiệm cho kịp với nhóm sĩ quan bạn đang đi về phía quán cà phê ở cuối nhà lồng chợ.

Trụ sở Xã nhộn nhịp người đang dựng rạp cho đêm văn nghệ đón Giao Thừa. Ông Trưởng Cuộc Cảnh Sát kiêm Trưởng Ban Văn Nghệ Xã đang hò hét chỉ trỏ mấy cậu Nhân Dân Tự Vệ treo cái màn nhung đỏ cũ mèm lên phía trước sân khấu dựng bằng thùng phi lót ván ép. Phía trong trụ sở, Tài thuyền trưởng đang đệm đờn cho con Huệ dợt lại mấy câu vọng cổ. Tiếng đàn trống, tiếng ca, pha lẫn với tiếng người cười nói xôn xao… Bờ sông xa mờ nhạt khói hoàng hôn. Con nước lớn lục bình trôi rời rạc. Chiều đã xuống mặt trường giang bát ngát. Mà bóng người xưa còn lẩn quất giữa sông dài…

Ông Trưởng Ban Văn Nghệ ra chào chúng tôi. Nụ cười dễ dãi, cái đầu hói bóng lưỡng.

– Mấy ông nghe con nhỏ Huệ ca ngon lành không! Tối nay nó là Tân Bạch Huệ hát sáu câu Tuyệt Tình Ca.

Ông Phó nhìn Mẫn châm chọc:

– Còn cô Dung thì ca bản gì vậy.

Ông bầu văn nghệ trịnh trọng lấy trong túi áo ra tờ chương trình viết tay.

– Con Dung…à Tân Mỹ Dung sẽ ca bản Chuyện tình Lan và Điệp.

Tôi đứng lên xạo với Mẫn.

– Thôi tao đi về Giang Đoàn ngủ lấy sức tối coi văn nghệ. Mầy vô trỏng dợt với ca sĩ Tân Mỹ Dung đi chớ. Đừng để bể dĩa mất mặt lắm đó nghe!

Ông Phó tay cầm cây cơ bi da.

– Lấy tàu mà về, tới trưa nói tụi nó ra đón tôi về.

Tôi từ chối. Từ chợ về Giang Đoàn chỉ hơn một cây số. Tôi vẫn thường một mình đi dọc theo bờ kinh. Chân bước, lòng bâng quơ nhớ về những điều rất cũ. Một khuôn mặt, một góc phố đâu đó trong đời. Và như thế, hình như buồn phiền đã bay đi ít nhiều theo con gió châu thổ mênh mang trời nước.

Hạnh ngồi phía sau quầy hàng bánh kẹo chào vọng ra. Tôi bước len lỏi qua khu chợ phiên đi về phía bến sông. Con gái đi chợ Tết xong bơi xuồng về nhà. Trên xuồng ngổn ngang hàng vải và những nhánh mai nhánh cúc bằng nhựa vàng sặc sỡ. Từ trên cầu nhìn xuống lòng ngã tư kinh, hàng mấy chục chiếc xuồng bơi tỏa ra bốn hướng trông như những chiếc lá tre trong vũng nước mưa đọng thời tuổi nhỏ.

Nắng cuối năm ở đồng bằng nhàn nhạt ngây ngây, phảng phất cơn gió nhẹ có vừa đủ thênh thang để cánh đồng đước bao la cũng xao xác nghiêng mình. Gần hai năm ở vùng nước thấp làm tên lính thú thực sự. Và còn bao lâu nữa. Cho tôi. Cho bạn bè. Cho những người trong cuộc chiến tranh này.

Ngôi giáo đường trước mặt vẫn im lìm kiên nhẫn soi bóng xuống dòng kinh chờ mùa nước rút, điêu tàn tượng Chúa Hài Đồng bơ vơ đêm thánh. Bóng chiếc thập tự trên nóc tháp chuông lung linh đáy nước, gãy đổ lời nguyện không thành. Lời kinh man mác điệu hò châu thổ từ ngôi chùa bên bờ kinh Mỹ An vẫn quyện trong gió sớm, trong hương nồng buổi trưa những điều nhân ái. Những người đàn bà ở Đồng Tháp Mười vẫn sống với trái tim đơn giản thiết tha.

Cuộc chiến tranh vẫn còn tiếp diễn. Và tôi chợt thèm một giấc ngủ.

 

Phan Thái Yên.

304Đen – Llttm - DSC