Thursday, July 19, 2018

Cảm Xúc Khi Đọc Bài Thơ "Mẹ Tôi Chiếc Xuồng Ba Lá Nhỏ" Của Thuyên Huy - Nguyễn Cang & Vu Lan Nhớ Mẹ - Triều Phong Đặng Đức Bích


CẢM XÚC
KHI ĐỌC BÀI THƠ "MẸ TÔI CHIẾC XUỒNG BA LÁ NHỎ" CỦA THUYÊN HUY





    Tác giả Thuyên Huy sáng tác nhiều bài thơ trữ tình về tình yêu quê hương đất nước và con người mà nổi bật nhất là những bài thơ nói về tuổi thơ, đọc nghe cảm động bùi ngùi vì những hình ảnh đó gần gũi với tuổi thơ của chúng ta. Xin trân trọng giới thiệu bài thơ trên cùng bạn đọc:

Mẹ Tôi Chiếc Xuồng Ba Lá Nhỏ
(Nhớ mẹ, chiếc xuồng và bến đò nghèo Long Chữ - Tây Ninh)

 
Chèo chiếc xuồng con ba lá nhỏ
Mẹ đưa con ra tận bến đò
Con lên tỉnh học mùa Sim nở
Bếp chiều mẹ từ đó buồn so

 
Những sáng lạnh đông thôi nhóm lửa
Nhớ con mẹ chỉ biết nhìn sông
Áo bạc vai màu bông súng úa
Xuồng con mẹ lủi thủi ngược giòng

 
Chiều tan trường học về nhà trọ
Nhớ mẹ nhớ khói bếp chiều buông
Nhà người tiếng ai cười đâu đó
Mở trang tập viết những chữ buồn

 
Rồi mẹ cũng già theo năm tháng
Đôi tay gầy guộc đếm tuổi đời
Chiếc xuồng cột lững bờ mương cạn
Đèn nghèo leo lét bóng chiều rơi

 
Một sáng mưa dầm thưa mái dột
Mẹ bỏ con đi bỏ mái chèo
Còn ai mà hẹn mai hẹn mốt
Nghẹn ngào xuồng ba lá khóc theo

 
Mùa này cũng mùa Sim tím nở
Đặt lên mộ mẹ những nụ đầu
Bên bếp hiên chiều con nhóm lửa
Mẹ về con kể chuyện ngày sau.

 
Thuyên Huy
(Một sáng mưa dầm ngang qua xóm quê Lake Boga 2017)

   

    Những bài thơ nói về người mẹ chúng ta có nhiều lắm vì mỗi người sinh ra đều có một người mẹ. Người mẹ hiện diện trong mỗi con người chúng ta, theo ta mãi mãi cùng năm tháng. Đọc những bài thơ, những hồi ức về mẹ khiến ta bùi ngùi xúc động nhớ mẹ vô cùng, nhất là khi mẹ đã mất.  Dù nơi góc bể chân trời dù đang ngược xuôi kiếm sống, ta đôi khi nhớ mẹ, bất chợt muốn dừng lại một phút để kéo lùi thời gian, quỳ gối bên mẹ nói lời xin lỗi : Mẹ ơi ! Con xin lỗi mẹ, con sai rồi ! Xin mẹ tha thứ cho con! Bài thơ "Mẹ tôi chiếc thuyền ba lá nhỏ " là một trong những bài trên.

Mở bài tác giả giới thiệu người mẹ quê đưa con đi học bằng chiếc thuyền ba lá nhỏ, một hình ảnh hiếm thấy nơi quê nghèo của một làng xả thuộc quận Gò Dầu tỉnh Tây Ninh nơi tác giả sống những ngày thơ ấu với người mẹ trẻ cô đơn. Mỗi người trong chúng ta đều có một bà mẹ vĩ đại trong lòng, hình tượng nầy vẫn tồn tại mãi cho dẫu mẹ có mất đi nhưng bóng dáng của mẹ vẫn khắc mãi trong tim. Người mẹ của tác giả(TH) đưa con lên tỉnh học bằng chiếc xuồng nhỏ bên dòng sông Vàm Cỏ Đông thật thi vị, cảm động  nhưng qua đó ta cũng hình dung được cảnh sống của người dân quê Việt Nam dẫu nghèo cùng cực cũng ráng nuôi con để sau nầy đở vất vả tấm thân không như mẹ bây giờ. Từ đó nơi quê nhà người mẹ sống quạnh hiu, khói lam chiều như mang theo hình ảnh của mẹ. Lời thơ bình dị mang âm hưởng ca dao như rót vào hồn thơ tác giả thêm bùi ngùi tha thiết:

 
Chèo chiếc xuồng con ba lá nhỏ
Mẹ đưa con ra tận bến đò
Con lên tỉnh học mùa Sim nở
Bếp chiều mẹ từ đó buồn so.

Hình ảnh bà mẹ quê Việt Nam có cuộc sống đơn sơ bên giàn giậu thưa mái tranh nghèo, nuôi một đàn con dại cũng được nhạc sĩ Phạm Duy miêu tả thật sinh động đầy màu sắc và ấn tượng :

 
Vườn rau, vườn rau xanh ngắt một mầu
Có đàn, có đàn gà con nương náu
Mẹ quê, mẹ quê vất vất vả trăm chiều
Nuôi đàn, nuôi một đàn con chắt chiu
Bà bà mẹ quê !
Gà gáy trên đầu ngọn tre
Bà bà mẹ quê !
Chợ sớm đi chưa thấy về
Chờ nụ cười con, và đồng quà ngon.
(Bà Mẹ Quê/Phạm Duy)

Bất chợt có những đêm về im vắng mỗi người trong chúng ta khi nhớ về mẹ, chắc không cầm được nước mắt. Ta nhớ mẹ, nhớ những khi mẹ đi chợ về, ra đứng ngóng ngoài ngõ đợi mẹ để được mẹ cho vài viên kẹo ngọt hoặc miếng bánh tráng mè, ôi sao thích quá :

"Bỗng dưng chợt nhớ quê nhà
Nhớ giàn mướp đắng nhớ quà mẹ mua
Ước gì bé lại như xưa
Để mong đi chợ mẹ mua chút quà".
(Nhớ/Phan Trần)

Đọc tiếp 4 câu đoạn II, ta ngậm ngùi xúc động khi nghe tác giả tả hình dáng cử chỉ mẹ sau khi đưa con đi học xa:

Những sáng lạnh đông thôi nhóm lửa
Nhớ con mẹ chỉ biết nhìn sông
Áo bạc vai màu bông súng úa
Xuồng con mẹ lủi thủi ngược giòng.

Tác giả biết mẹ không còn nhóm lửa khi đông về lạnh giá nữa. Ngày trước mỗi sáng mùa đông mẹ thường đốt lửa rơm cho con hơ ấm trước khi đến trường vì nhà nghèo không có áo ấm cho con mặc. Đốt lửa hơ ấm cũng là cách giải quyết hay, chứng tỏ mẹ thương con vô bờ bến ! Bây giờ con đi rồi mẹ không còn đốt lửa nữa. Những ai từng sống nơi quê nghèo Việt Nam mới thông cảm và hiểu được việc làm nầy của mẹ:

Những sáng lạnh đông thôi nhóm lửa
Nhớ con mẹ chỉ biết nhìn sông
Áo bạc vai màu bông súng úa
Xuồng con mẹ lủi thủi ngược giòng.




 Tác giả, như có thần giao cách cảm, thấy mẹ đang ra bến đò nhìn dòng sông mà nhớ tới con, lo cho con không biết bây giờ ra sao, con có bịnh hoạn gì không có yên tâm học hành không? Bao nhiêu nỗi lo trong lòng. Bóng dáng mẹ hiền nhạt nhòa trong chiếc áo bà ba bằng vải thô hoen màu bông súng úa, mẹ đang chèo thuyền trở về nhà khi nắng chiều vừa tắt. Mẹ đi trong cô đơn buồn lay lất trên dòng sông nước chảy ngược ! Tại sao lại đi ngược dòng, phép ẩn dụ được sử dụng tài tình, một dụng ý của tác giả cho ta thấy người mẹ gặp dòng nước ngược khó chèo mà còn ngụ ý mẹ đang gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, mẹ phải tranh đấu với nghịch cảnh đầy cam go vất vả. Trạng từ "lủi thủi" sử dụng rất đắc vị nói lên sự riêng lẻ một mình chống chọi với bão táp phong ba trong nỗi buồn mênh mang của người mẹ.

Thế mới biết lòng mẹ bao la biết chừng nào. Nghe mấy lời ca từ và nhạc điệu trong bài "Lòng mẹ" của nhạc sĩ Y Vân ta mới thấy hết tấm lòng của người mẹ Việt Nam:

Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào,
Tình Mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào,
Lời Mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào.
Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng Mẹ yêu.
Lòng Mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu.
Tình Mẹ yêu mến như làn gió đùa mặt hồ.
Lời ru man mác êm như sáo diều dật dờ.
Nắng mưa sớm chiều vui cùng tiếng hát trẻ thơ.

   
Đoạn III là tâm trạng của tác giả:

Chiều tan trường học về nhà trọ
Nhớ mẹ nhớ khói bếp chiều buông
Nhà người tiếng ai cười đâu đó
Mở trang tập viết những chữ buồn.

Đoạn nầy tả nỗi nhớ thương của tác giả đối với mẹ mình. Những buổi chiều khi đi học về nằm một mình trong phòng trọ, hồn nghe cô đơn quạnh vắng, nhớ mẹ vô cùng. Tác giả nhớ nhiều thứ lắm, trước hết là nhớ mẹ sau đó nhớ khói bếp sau hè bay tỏa trên mái nhà tranh chuẩn bị cho buổi cơm chiều. Trong lúc miên man nghĩ về mẹ bỗng có tiếng ai đó cười vang khiến lòng tác giả chùng xuống, buồn tê tái, tác giả TH muốn tìm quên lãng bằng cách viết vào trang vở những dòng kỷ niệm nhưng sao lời văn chứa toàn nỗi buồn vì " Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ"( Nguyễn Du).

Đoạn IV chứa nội dung tập trung cao nhất của bài thơ, với nhiều tình tiết diễn biến trạng thái tâm lý đem đến cho tác giả nhiều buồn đau khôn xiết :

 
Rồi mẹ cũng già theo năm tháng
Đôi tay gầy guộc đếm tuổi đời
Chiếc xuồng cột lững bờ mương cạn
Đèn nghèo leo lét bóng chiều rơi

 
Một sáng mưa dầm thưa mái dột
Mẹ bỏ con đi bỏ mái chèo
Còn ai mà hẹn mai hẹn mốt
Nghẹn ngào xuồng ba lá khóc theo.

Dòng đời cứ lặng lẽ trôi nhanh , mới đó mà mẹ đã già theo ngày tháng. Bàn tay mẹ trở nên gầy guộc, chai cứng theo tuổi đời. Sức khỏe mẹ đã suy giảm, cánh tay không còn mạnh để chèo thuyền nữa. Chiếc ghe buộc lững bên bờ mương cạn, mằm trơ ra đó, nó cũng già đi theo thời gian, cũng mệt mỏi không còn ra sông, giống như chủ nhân của nó vậy! Phép so sánh được sử dụng thật khéo léo làm nổi bật tuổi già và sự mệt mỏi của mẹ. Từ ngữ "cột lững" diễn tả tình trạng chiếc thuyền: cột lững là cột hờ, cột không chắc. Chủ ghe không còn dùng nữa nên để mặc cho nó ra sao thì ra.

Câu thơ: "Một sáng mưa dầm thưa mái dột", trời mưa báo hiệu một biến cố đột ngột sắp xảy ra đó là mẹ tác giả ra đi về nơi cõi vĩnh hằng. “Mẹ già như chuối chín cây/ Gió lay mẹ rụng, con rày mồ côi”(ca dao). Tác giả xúc động mạnh kêu lên : "Mẹ bỏ con bỏ cả mái chèo" ! Thế là hết, còn gì nữa đâu! Trời xanh tím ngắt một màu tang tóc! Từ đây không cón ai đưa đón con nữa, không còn nghe câu hỏi: ngày mai con có về thăm mẹ không? Chiếc xuồng ba lá cũng buồn theo, cũng rơi nước mắt cho cảnh biệt ly nầy! Tác giả đã nhân cách hóa chiếc thuyền như một người bạn biết thông cảm và chia sẻ nỗi đau của tác giả!

Đoạn kết:

Mùa này cũng mùa Sim tím nở
Đặt lên mộ mẹ những nụ đầu
Bên bếp hiên chiều con nhóm lửa
Mẹ về con kể chuyện ngày sau.

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhân một chuyến đi thăm phong cảnh ở xóm quê Lake Boga, Úc Châu năm 2017, tác giả nhìn cảnh mà nhớ mẹ nhớ quê nhà lúc nhỏ ở Việt Nam, chạnh lòng viết nên những vẩn thơ đầy cảm xúc. Nơi đây mùa nầy cũng là mùa sim tím nở, TH nhớ mẹ mất vào mùa hè khi hoa sim tím nở rộ, tác giả mang tro cốt sang tận Úc Châu chôn cất, rồi đốt nhan cúng mẹ, cắm lên mộ những nụ sim tím đầu mùa. Trở về nhà TH đốt lữa bên mái hiên để nhớ mẹ nhớ mái hiên nhà ngày xưa, lâm râm khấn vái: mẹ hãy về đây chứng giám lòng thành kính của con dâng lên mẹ. Đoạn thơ nầy TH không nói rõ hài cốt của mẹ chôn cất tại đâu để có thể đặt lên mộ mẹ những nụ sim tím đầu mùa. Ẩn ngữ trong thơ văn có thể là dụng ý của tác giả nhằm gây thắc mắc và chú ý nơi người đọc, là một nét đặc biệt trong nghệ thuật sáng tác thi ca. Tôi đưa ra hai giả thuyết: thứ nhất TH đem tro cốt của mẹ sang Úc Châu nơi tác giả đang sống. Giả thuyết thứ hai là TH đang đứng bên bờ hồ Lake Boga, đưa mắt nhìn ra xa thấy cạnh hồ là một cánh đồng cỏ có nhiều hoa sim tím đang mở rộ nên cảm tác bài thơ nầy. Tác giả tưởng tượng như đang đứng trước mộ phần của mẹ ở quê nhà nên nhẹ tay bứt mấy bông sim tím đặt lên mộ mẹ, sau đó nhóm lữa, đốt nhang cầu nguyện mẹ về để nghe tác giả kể chuyện tang thương dâu bể, cuối cùng vượt biên sang Úc thành công. Câu chót: "Mẹ về con kể chuyện ngày sau", câu nầy ý nói xin mẹ hãy về đây con nói cho mẹ nghe: bây giờ con không còn ở quê nghèo Việt Nam nữa ! Thời cuộc đã đưa đẩy con sang Úc Châu xây dựng cuộc đời mới, cháu con an cư lạc nghiệp sống đời ấm no hạnh phúc, không còn vất vả như ngày xưa nữa mẹ ơi! Rất tiếc mẹ không còn sống để hưởng phước với con cháu, Mẹ ơi!

    Mỗi người đều có quyền tự hào về người mẹ vĩ đại của mình. Dẫu mẹ là một người nhà quê hay mẹ là người thành thị, tất cả đều đáng kính trọng tôn vinh. Mẹ nhà quê cũng là mẹ, nuôi ta bằng dòng sữa mẹ, bằng con cá bó rau, vất vả ngoài đồng hay gánh gạo bán hàng rong quanh xóm chỉ để nuôi con, lo cho con có đươc cái ăn cái mặc, còn nếu mẹ bạn là người thành thị thì cũng thương con, lo cho con, cũng vất vả trăm đường. TH mô tả người mẹ bình thường ở nhà quê, tác giả không nói rõ những việc làm cực nhọc của mẹ mà chỉ phát họa vài nét bằng 4 câu thơ ở đoạn giữa đã nói lên sự vất vả cực nhọc của mẹ trong suốt năm tháng dài kiếm sống bên bờ sông với chiếc xuồng ba lá nhỏ khiến ta bùi ngùi cảm động thương cho bà mẹ cô đơn đi giữa cuộc đời mà cũng thương cho chính mình:

Rồi mẹ cũng già theo năm tháng
Đôi tay gầy guộc đếm tuổi đời
Chiếc xuồng cột lững bờ mương cạn
Đèn nghèo leo lét bóng chiều rơi.

Đoạn kết TH muốn nói với mẹ rằng nhờ công đức của mẹ mà con mới có được ngày hôm nay, tiếc rằng mẹ không còn sống để hưởng cái phúc nầy! Trong bài tác giả không đưa ra một lời nhắn nhủ nào cho độc giả hay cho thế hệ đi sau nhưng ta ngầm hiểu TH muốn gởi đi một thông điệp rõ ràng là hãy thương mẹ thật nhiều lo cho mẹ thật đầy đủ khi mẹ còn sống vì lỡ mai kia khi mẹ ra đi bất ngờ thì có muốn lo cho mẹ cũng không còn cơ hội nữa !

Đọc xong bài thơ tôi cảm thấy nhớ mẹ tôi vô cùng, tự dưng nghe mắt cay cay niềm thương nhớ mẹ. Mẹ ơi!!!
Cám ơn tác giả đã gợi cho tôi niềm cảm hứng để viết lên những lời chân thành nầy đối với mẹ Việt Nam.

 
Nguyễn Cang (13/7/2018)

*Xin giới thiệu quí thân hữu một thi hữu mới kết: Triều Phong Đặng Đức Bích, hiện cư ngụ tại Sạnjose, CA, tác giả quyển  sách Tuyển Tập Thơ Đường Bình Định ( nhiều tác giả) in tại Sanjose năm 2015.

Sau đây là bài Lễ Vu Lan nhớ mẹ của tác giả. 

Anh Bich cho biết sau khi đọc bài bình thơ TH, anh có cảm hứng làm bài thơ trên.
Nguyẻn Cang


 
VU LAN NHỚ MẸ     

Chiếc võng đong đưa Mẹ mắc giăng
Ngoài kia mùa hạ nắng khô cằn
Lòng già trĩu nặng thương con cháu    
Tóc bạc da mồi sớm héo nhăn
Dưỡng dục ơn sâu lòng khắc nhớ
Sinh thành nghĩa nặng dạ thân oằn
Bông hồng dâng Mẹ ngàn hoa thắm
Thương Mẹ biển, trời có thấu chăng ?

Triều Phong Đặng Đức Bích


 

Quang Trung Đại Đế (Xướng Họa) - Triều Phong Đặng Đức Bích, Trác Như, Nguyễn Cang & Hương Lệ Oanh VA



Bài xướng:


















QUANG TRUNG ĐẠI ĐẾ

Đệ nhất anh hùng giữa thế gian
Dẹp tan xâm lược cứu giang san
Đống Đa giặc Mãn thây chồng chất
Xoài Mút quân Xiêm xác ngổn ngang
Kim Cổ vĩ nhân so xứng bậc
Đông Tây danh tướng sánh cùng hàng
Quang Trung thế hệ tài năng trẻ
Tô điểm nhà Nam rạng vẻ vang

Triều Phong Đặng Đức Bích

Họa 1



VỊNH QUANG TRUNG HOÀNG ĐẾ

Anh hùng thao lược giữa nhân gian
Tài trí kinh luân lực bạt san
Đập nát mưu đồ thừa nước đục
Phá tan cuồng ngạo thói nghêng ngang
Cầu oan dầu đổ còn kinh hoảng
Dây nghiệt thà treo chẳng dám hàng
Gò Đống mồ chôn ghi vết sử
Thăng Long trống trận mãi rền vang

Trác Như


Họa 2


QUANG TRUNG ĐẠI ĐẾ


Đại đế Quang Trung diệt Hán gian
Đánh tan xăm lược giữ quan san
Đống Đa giặc Mãn bay hồn vía
Xoài Mút quâm Xiêm chạy bỏ ngang
Thần tốc hành quân gươm sát thát
Bất ngờ đột kích địch tan hàng
Ngàn năm kim cổ lưu danh sử
Đại đế Quang Trung tiếng mãi vang.


NGUYỄN CANG(13/7/18)

Họa 3


QUANG TRUNG ĐẠI ĐẾ


Quang Trung Đại Đế dẹp quân gian,
Áo vải cờ đào phải hạ san.
Trận Đống Đa quân Thanh khiếp đảm,
Giặc Xiêm Xoài Mút rút lui ngang,
Cổ nhân vĩ đại anh hùng trận,
Diệt lũ Hán gian buộc phải hàng.
Lịch sử ngàn năm soi sáng mãi,
Lưu danh hậu thế mãi còn vang.


HƯƠNG LỆ OANH VA (14/7/18)


 

 

Người Quên Kẻ Nhớ - vkp Phượng tím


NGƯỜI QUÊN KẺ NHỚ 

 


 











Anh không còn nhớ lối về
Nợ chưa trả hết trăng thề vội quên
Tình xưa em chữa đáp đền
Ngậm ngùi giọt mặn ướt mềm bờ môi
Nuốt vào dạ luống bồi hồi
Anh chìm cõi lảng bỏ đời quạnh hiu
Bỏ lầu thơ văn tiêu đìêu
Phượng Ngày Xưa úa vì nhiều phong ba
Bỏ hương cỏ dại quê nhà
Đạm Phương thanh khiết nõn nà nụ non
Bỏ Công Chúa Nhỏ mỏi mòn
Ngóng trông hoàng tử lầu son dặm ngàn
Bỏ Người Dưng bởi trái ngang
Bỏ cây Phượng Tím héo tàn xác xơ
Lặng nhìn hoa rụng thẫn thờ
Người quên kẻ nhớ... Đôi bờ... Đành sao!!!

 
Saigon 15/7/2018 
vkp phượng tím

 

 

Đứng Dậy Mà Đi: Đánh Mỹ Hay Diệt Cộng Cứu Quốc - Bảo Giang


Đứng dậy mà đi: Đánh Mỹ hay diệt cộng cứu quốc?
 
 

                                                                Tác giả C.B. hay Trần Lực? 

 

Bảo Giang (Danlambao) - Bạn thấy gì khi tập đoàn CSVN đánh gía sự hiểu biết của ngưòi Việt Nam như loạt bài viết này? Có phải người Việt Nam ở ngoài bắc thật sự ngu dốt, kém hiểu biết như thế hay không? Hay, họ đã quá chán chường và đau thương nên mặc xác chúng, muốn làm gì, muốn viết gì thây kệ? Hỏi xem, liệu sự im lặng trước lối tuyên truyền vô văn hóa, phản giáo dục này có thể giết chết chúng ta và con cháu chúng ta ở ngay trên quê hương này không? 

 Với tôi, khi đọc lại bản tin này của nhà cầm quyền CSVN, thay vì cười khảy, tôi cho là sự giữ im lặng của chúng ta chính là sự tiếp tay hữu hiệu nhất cho chế độ vô đạo này trong việc chúng tiêu diệt nhân cách và hạ phẩm giá con người. Bởi vì, bắt nguồn từ sự im lặng, bỉu môi, hay nhổ nước bọt vào những lời gian trá ấy, nhưng không có một phản ứng tích cực chung, chúng ta sẽ là những kẻ chuốc nhận lấy sự thất bại ê chề. Vì từ sự im lặng, từ nói cho qua chuyện, qua đề, chúng ta đều trở thành những người giúp chúng tạo ra sự gian trá và dìm chết xã hội trong gian trá. Và cái kết qủa cuối cùng là sự giả dối và gian trá ấy trở thành điểm, thành hướng đi cho chúng ta và con cháu chúng ta. Bạn không tin ư? 

 Có thể hôm nay bạn không tin, nhưng hãy nghe chính những cán bộ có tên tuổi, còn đôi chút lương tri, hoặc tỉnh ngộ sau chuỗi ngày dài sống trong cái xã hội tồi tệ ấy đã nhận định về đời sống của xã hội ấy như sau "Người cộng sản nói dối lem lẻm, nói dối lì lợm, nói dối không hề biết xấu hổ và không hề run sợ! Người dân muốn sống được thì phải nói dối theo. (Nguyễn Khải). Hoặc giả Trần Quốc Thuận, một phó chủ tịch Quốc hội CSVN cũng phải lên tiếng: “Chúng ta hiện sống trong một xã hội mà chúng ta phải nói dối với nhau để mà sống. Nói dối hằng ngày trở thành thói quen, rồi thói quen đó lặp lại nhiều lần thành đạo đức (XHCN) mà cái đạo đức đó là rất mất đạo đức”. 

Tiếc thay, đó chỉ là tiếng kêu giữa rừng hoang, không một ai dám lên tiếng nhắc nhở đến, hay truyền đạt vào trong cuộc sống hàng ngày mà sửa đổi, thay thế, ngoại trừ một số lượng nhỏ, khép kín trong tôn giáo. Kết quả, chế độ này vẫn luôn luôn thay nhau truyền đi những gian trá, không phải để mà sống, nhưng là ngự trị, chiếm đoạt. Phần người dân, muốn sống cũng phải theo đó, lừa gạt nhau mà sống cho qua ngày. Ngoài ra, không còn cách nào khác? Tại sao? 

 Tại vì nơi đó có Hồ Chí Minh. Nơi đó có cộng sản. Còn Hồ Chí Minh, còn cộng sản thì còn gian trá và còn ngập tội ác. Vì gian trá chính là lẽ sống của chúng. Theo đó, muốn cho xã hội có một ngày mai tốt đẹp hơn, điều duy nhất chúng ta cần phải làm là cùng nhau đứng dậy triệt hạ gian dối, hoặc truất phế, trừ khử nó ra khỏi xã hội, ngõ hầu đem lại cuộc sống trong lành, an bình cho ngày mai. Trường hợp, chúng ta không hành động, không lên tiếng thì chúng ta chính là những kẻ đang tiếp tay triệt hạ sự thật và triệt tiêu cuộc sống trong lành của những thế hệ con cháu chúng ta. 

 Ai cũng biết, không phải trong đời sống không có những gian dối. Tuy nhiên, những gian dối ấy, nếu có, hầu như chỉ nằm trong những toan tính vụng trộm. Nó không bao giờ có thể trở thành bài học, thế lực, mang tính phổ quát. Nay CS đem dối trá ra như một bài học thực dụng, rồi đem áp dụng vào tận cùng mọi góc sống, sinh hoạt của xã hội. Tệ hại hơn, HCM và tập đoàn CSVN còn đem những gỉa dối, gian trá vào vườn trẻ, vào học đường để biến những trẻ thơ thành công cụ của chúng. Kết qủa, tất cả thành thói quen. Quen mắt, quen tai, quen miệng, buộc mọi người không muốn tin cũng phải làm theo. 

Cuối cùng, đời sống thường nhật của người dân bị đổi chiều. Họ buộc phải nói dối để lừa gạt nhà nước, lừa gạt những người chung quanh, rồi lừa gạt mình và lừa gạt chính con cái mình mà sống. Từ đó, Sự thật không còn chỗ đứng trong xã hội chủ nghĩa CSVN. Tệ hơn, Nó phá hủy chính chân lý sống trong từng người và trong mỗi gia đình Việt Nam. 

 
1. Người gieo gió 

Hồ Chí Minh là ai? Y là người Tàu, là Lê Chiêu Thống hay là người yêu nước Việt? Cho đến nay có rất nhiều giả thuyết có cơ sở đã đặt dấu hỏi về cá nhân này. Tuy thế, người ta vẫn chưa có đủ những chứng cớ đích thực làm bằng chứng vật thể, để trả lời Hồ Chí Minh là Nguyễn Tất Thành hay là Hồ Hẹ. Tuy nhiên, với bản lý lịch chính thức của một học sinh chỉ mới vừa bước vào lớp sáu được vài tháng ở Huế đã bị đuổi khỏi trường, và một người đã tốt nghiệp trường đại học Hà Nam, rồi là giáo sư của trường trung học ở bên Trung hoa, chắc chắn có những khả năng hiểu biết hoàn toàn khác nhau. Theo đó: 

Thứ nhất: Nguyễn Tất Thành thật khó có thể trở thành một người viết rất nhiều bài viết, nghị luận, chủ trương với trên 117 cái bút danh như nhà nước CSVN công bố. Theo đó, đây có thể chỉ là những bài viết vô chủ, hoặc được một tập đoàn ngụy tạo ra và CSVN thu tóm lại, rồi khoác cho nó cái danh là của HCM trong mục đích tuyên truyền bá đạo mà thôi. 

Thứ hai: Chỉ cần một cuốn “Nhật Trung nhật ký” với chữ viết nguyên bản, thì người ta đã có thể xác định rằng đó không bao giờ là của Nguyễn Tất Thành. Lý do, khả năng của Thành từ lúc còn học lớp sáu ở Huế và những ngày tháng lênh đênh chưa cập bến đã không có bất cứ một chỉ dẫn nào cho thấy y có khả năng về thơ, phú. Nếu nói đến hoàn cảnh để thành thơ thì ai cũng biết, lúc phải xa nhà là lúc ruột bị xé ra. Khi phải xa quê hương là như cánh chim lạc gặp bão biển, tan đàn. Đó chính là thời gian để những tiếng thơ hay lời văn tạo thành con người hoặc kiên định ý hướng của đời mình. Tuy nhiên, Nguyễn Tất Thành không hề có lấy một dòng, một chữ nào cho gia đình, cho cha mẹ anh em. Và cũng chẳng một lời thơ nào cho nỗi niềm xa quê hương, lìa đất tổ. 

Rồi hai năm tù ở Hồng Kông, một thân viễn khách bị giam nơi nhà tù hải ngoại, nếu vì nghiệp nước thì đây là một phần cay đắng nhất. Bởi lẽ, ngày mau qua và tấm thân trong bốn bức tường giam sẽ là cùng cực cho người hoạt động. Tuy thế, Thành cũng không có lấy một bài văn, một tiếng thơ nào cho thân phận, cho đất nước trong hoàn cảnh thê lương này. Điều đó cho thấy rằng, Thành tuyệt đối khô cằn, không có khả năng về thơ văn. 

Kế đến, ai cũng biết hồn kẻ ra đi luôn lưu dấu lại nơi quê hương mình. Trong khi đó, tập thơ “Ngục Trung nhật ký” ngoài việc nó không có một chữ tiếng Việt nào, Nó cũng không hề có một tâm tình nào của tác giả với quê hương Việt Nam. Có đôi lần nó nhắc đến tên Việt Nam như qua đường, nó không có một hơi hám tình nước, tình nhà nào liên hệ đến Việt Nam. Có chăng chỉ chứa đựng tình quê hương và hoài bão của người và đất nước Trung Hoa mà thôi. Theo đó, chỉ có những kẻ ngu đần, thiếu học thức, bị nhồi sọ của CS mới tin rằng đó là “tài sản” văn hóa của Nguyễn Tất Thành, một người Việt Nam yêu nước, nhưng chỉ biết làm thơ yêu và ca tụng nước Tàu! 

Từ điểm căn bản rất đơn giản này cho thấy: Tác giả của nó vĩnh viễn không phải là người Việt Nam. Nếu nó là của Hồ Chí Minh thì chắc chắn hắn không phải là người gốc Việt Nam. 

Bằng chứng là những người như Tổng thống Ngô Đình Diệm, cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu... dẫu không phải là những nhà văn nhà thơ, nhưng trong lúc rong ruổi vì nghiệp nước, tâm tư của họ đã được ghi lại dù chỉ trong đôi ba bài ngắn gọn, đủ chứng minh cho nỗi lòng của người đi. Nhưng Nguyễn Tất Thành thì không. Tuyệt đối không. Ấy là chưa kể đến những vị trên đã không bao giờ làm nhơ đời mình trong việc làm đơn, van lạy bọn Pháp cho vào trường thuộc địa ngõ hầu mai sau phục vụ cho đại quan Pháp như Nguyễn Tất Thành! 

Kế đến, trong nỗi lòng của người đi thì đều mong muốn đem được tài trí của mình ra giúp nước, không ai có mộng ước trở về “chặt” đầu người dân để tạo nên quyền lực cho mình. Nguyễn Tất Thành dẫu có thâm thù triều đình Nguyễn vì bị đuổi học và bố bị cách miễn chức quan, có lẽ cũng không đi ra ngoài nguyên tắc này. Trong khi đó, HCM lại dính máu của ít nhất 172000 người Việt Nam làm ơn cho mình. Theo đó, tôi cho rằng những công việc sau 1933 có lẽ không thuộc về ông ta. Bởi lẽ, dầu có muốn, vận hạn của Thành như đã chấm dứt sau những ngày tù với bệnh lao phổi nặng ở Hồng Kông? Có đâu ông ta lại sống lại trong tàn độc với cái tên Hồ Quang nghiện thuốc lá, nghiện rượu, nghiện cả gái! 

Sự kiện là thế, nhưng thiếu tá Hồ Quang, người Hẹ, sau này lại được coi là Hố Chí Minh, được CSVN ca tụng, lại mở nghiệp ở nơi quê nhà Nghệ An bằng nghề đấu tố với hơn 172000 chủ gia đình bị giết hại. Sau đó bị Y cưỡng đoạt hết gia sản của họ. Hỏi xem, Y là người hay là ma khi giết người đồng hương để cướp của? Y là kẻ thương dân thương nước hay là một tội đồ thiên cổ trong việc bán nước, giết hại dân để cầu vinh hoa? Ai cũng biết, hận nhà thì có thể quên, nhục quốc thì phải rửa. Nhưng tại sao Y lại rửa trên cổ lương dân, rửa trên chính những người đã đóng góp tiền bạc cho Y sống và thành danh? Hỏi xem, Y là Lê Chiêu Thống, hay là Hồ Quang không thuộc giòng Việt tộc, nên người Việt Nam mới gặp những đoạn trường tắm máu trong gần một thế kỷ với những tàn bạo của Y như: 

 

a. Đấu tố 

Trước hết, cuộc đấu tố do Hồ Chí Minh mở ra, không phải chỉ là để cướp của, giết người Việt Nam, nhưng thực tế là nhắm tiêu diệt cho bằng hết sức mạnh của dân tộc qua các thành phần trung lưu, trí thức trong xã hội, nơi đã từng phát sinh ra những người lãnh đạo của đất nước này trong suốt tiến trình lịch sử trong hàng ngàn năm qua. Theo đó, mục đích của Hồ Quang là ra tay trước để tiêu diệt thành phần trí thức, phú nông có vị thế trong xã hội Việt Nam, có khả năng nhận thức và triệt tiêu Hồ, hơn là vì số tiền và tài sản mà chúng sẽ cướp, chiếm đoạt được. 

Bởi từ cuộc khủng bố bạo tàn này, tất cả mọi cấp quyền trong guồng máy lãnh đạo của Y cũng như ngoài xã hội, lúc nào cũng mang lòng sợ sệt và nghi ngờ lẫn nhau. Chúng có thể dành cho nhau những nhát dao thù hận theo sách lược triệt hạ người yêu nước của Hồ Chí Minh. Hơn thế, nhờ sự hiện diện của những Trần Canh, Vi quốc Thanh… và đoàn quân Tàu đứng sau lưng, Hồ Chí Minh đã khống chế được toàn bộ cấp lãnh đạo cũng như người dân ở trên đất bắc. Để rồi từ chỗ tựa này, Y dần xếp đặt nền móng cho tập đoàn Tàu ô sang chiếm ngự Việt Nam về sau. 

 
b. Mở chiến tranh 

Nay thì ai cũng rõ, từ cuộc đấu tố kinh hoàng 1953-1956 đã tạo ra nỗi lo sợ khủng khiếp bao trùm trên đất Bắc. Đổi lại, mùa đấu tố lại giúp Hồ Chí Minh cách khống chế người dân đất bắc và đẩy họ vào cuộc chiến vời miền Nam theo lệnh của Tàu. Hỏi xem, Trời đất nào, và người dân nào có thể thấu hiểu được nỗi lòng tang thuơng, ngập oán than kẻ đã tạo nên cảnh ly tan, chết chóc trên đất bắc. Và hỏi xem, có người nào muốn ở lại, làm thân kéo cày thay trâu bò trên những cánh đồng cạn với chúng sau mùa đấu tố? Kết qủa, dù không muốn, họ đành phải vác súng đạn vào nam. Bởi lẽ, dù có bị bom rơi, đạn xéo còn hơn ở lại với tủi nhục, đọa đày theo cái mã tấu của Hồ! 

Tuy thế, sau cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và từ khi Hoa Kỳ đem quân vào miền nam và ném bom miền bắc, cục diện có phần thay đổi. Trước hết, nó tạo cho Hồ cơ hội tuyên truyền mang nét chính nghĩa “đánh Mỹ cứu nước” để đẩy thanh niên vào cuộc chiến trong nam. Đây chính là nút thắt trong vấn để chính trị của Việt Nam vào hậu bán thế kỷ 20. Một mặt, CSVN tuyên truyền chống đế quốc Mỹ xâm lược. Mặt khác, ca tụng nước anh em xã hội chủ nghĩa Tàu cộng đem quân đội và vũ khí vào miền bắc để giúp xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Kết qủa, người dân nghèo đói trên đất bắc vội quên đi việc Tôn sỹ Nghị, Liễu Thăng... đem hàng vạn quân sang chiếm ngụ nước ta. Rồi theo Hồ vỗ tay hoan hô xã hội chủ nghĩa Trung cộng đem quân và khí giới vào giúp Việt Nam chống Mỹ cứu nước! 

Kết quả, sau những bài tuyên truyền mãnh liệt ngày đêm và kéo dài qua hai thế hệ. Người Việt Nam ở miền bắc đã bị chết chìm trong loại tuyên truyền bá đạo của chúng. Tệ hơn thế, qua những loạt tuyên truyền này, người dân đất bắc đã dần quên đi tội ác của Hồ Chí Minh đối với cuộc cải cách ruộng đất với hơn 172000 người bị Y giết. Và nhờ sự kiện nghèo đói, chiến tranh và tản lạc mà người dân đất băc đã dần tạo cho Y một chỗ đứng. Để từ đó, chẳng còn mấy ai cho rằng Hồ Chí Minh và Lê chiêu Thống tuy hai mà một. Và cũng từ đây, Tàu cộng mỗi ngày thêm nghênh ngang trên phần đất Việt. 

 
2. Rước Tàu nhập nội Việt Nam 

Trong những tội ác của Hồ Chí Minh tạo ra trên đất nước này, như phần a và b ở trên, xem ra, hậu qủa nặng nề và tai hại nhất cho Việt Nam lại chính là việc Hồ Chí Minh và tập đoàn CSVN của Y đã rước Tàu vào làm tổ, chiếm đất xây thành và ngự trị trên phần đất Việt Nam. Đến nay, hầu như không còn một phần đất nào trên giải giang sơn Việt Nam mà không có gót giầy của quan phù Trung cộng. Hỏi xem, tại sao người Việt Nam lại phải sống khốn khổ trong nghèo nàn cơ cực sau chiến tranh và phải làm đầy tớ cho Tàu cộng ngay trên quê hương của mình khi đất nước yên bình? 

a. Ngoài khơi và vùng biên giới 

Xa khơi là Hoàng Sa, Trường Sa, nơi mà chính Hồ Chí Minh lăng nhục là “ đất chim ỉa” đã bị Tàu lấn chiếm với sự trợ giúp của Lê Đức Anh từ 1974 và1978. Sau đó, những phần đất biên giới như Nam Quan Bản Giốc, Lão Sơn, Tục Lãm… thì nhờ có Đồng, Linh, Mười, Phiêu, Kiệt… mà khăn áo ra đi, làm phiên thuộc của Tàu. 

b. Phần nội địa 

Các vùng đầu nguồn theo quy hoạch 60 năm thuê bao của Tàu. Rồi Tân Rai với Bauxite… nay đến Formosa… rồi các chợ Tàu, khu định cư Tàu đều nằm trong vị thế hiểm yếu thuộc Tàu quản trị thì Việt Nam về đâu? Đã thế, hàng ngàn những công trình như đường xá, cầu cống, cơ sở điện lực đều nằm trong tay Tàu, hỏi xem Việt Nam còn lối nào để thoát? Xem ra trong tình thế này, chỉ một trận bảo nhỏ trước ngày của 2020 theo Hiệp định Thành Đô thì Việt Nam ta đã về Tàu? Khi ấy kêu gào Mỹ và Thế giới Tự Do đến cứu chăng? 

Đến đây, tôi xin hỏi bạn một câu. Nếu không có Hồ Chí Minh rước Tàu vào quê hương ta như Lê Chiêu Thống thì người Việt Nam có phải bị chia năm xẻ bảy, có phải chịu cảnh mất đất, mất đảo và bị kìm kẹp trong cuộc sống như kẻ nô lệ cho Tàu vào hôm nay không? 

Bạn đừng trả lời vội, hãy bình tĩnh nhìn lại những gì quanh ta với diển biến của nó từ mấy chục năm qua rồi hãy trả lời. Bởi lẽ, khi bạn nhìn thấy câu trả lời rành rẽ thì tự khắc bạn biết Hồ Chí Minh cũng gọi là Hồ Quang là ngưòi Tàu hay là Lê chiêu Thống! Từ đó, bạn biết chúng ta, những con dân Việt Nam muốn cứu nước phải hành động ra sao. 

 

3. Tập đoàn CSVN là ai đây, cứu quốc hay bán nước? 

Ở trên, nếu câu trả lời của bạn còn gặp những nghi ngờ, chưa quyết, chúng ta hãy tự hỏi lại cẩn thận một lần nữa, ta sẽ tìm ra câu trả lời chính xác. Hoặc giả, bạn có thể đọc lại lời tuyên bổ của những kẻ đã bỏ tiền ra nuôi nấng chúng từ thời còn chiến tranh, bạn cũng hiểu rõ vấn đề: 

Hongkong (Reuter): “China has admitted for the first time that it sent more than 300,000 Combat troops to Vietnam to fight against US forces and their South Vietnamese allies... Its also spent over $20 billion to support Hanoi’s regular North Vietnamese army and Viet cong guerrila units”. (China and the Vietnam Wars, 1950-1975 -  Qiang Zhai, Auburn University Montgomery.) 

Trong những tháng năm sau chiến tranh mọi người đã thấy tận mắt là: Chúng muốn đào, có đảo. Muốn đất có đất. Muốn xây dựng cơ quan hay hậu cần ở Việt Nam, tất cả đều được theo ý muốn. Cũng thế, chúng muốn bước qua biên giới, hàng nô lệ ở đây hò hét to mồm, thậm chí đánh đập bắt bớ người dân của mình khi họ chống lại việc mất chủ quyền đất nước, nhưng không một kẻ nào dám lên tiếng, dám nhìn đến đoàn Tàu ô lũ lượt qua ải. Qua không phải chỉ là vui chơi nhảy múa. Nhưng còn là nghênh ngang để được nhà nưoóc CSVN hầu hạ. 

Chuyện ấy vẫn chưa là lớn. Hãy xem cảnh chúng phải thay nhau đi chầu, đi học tập đường lối theo mẫu quốc theo từng đoàn, từng toán từ Trung ương đến địa phương thì biết chuyện gì xảy ra. Đã thế, mỗi khi muốn đi Mỹ, Âu châu, thậm chí sang Nhật thì không có một chuyến đi nào từ cấp bộ trưởng trở lên mà không phải vòng quanh sang Tàu để thỉnh ý chỉ. 

Tại sao lại thế? Đất nước này có tự chủ hay là nội bang? Bạn biết rồi còn hỏi làm gì? Hơn thế, bạn cũng biết, có khi nào bọn đầy tớ muốn ra khỏi nhà mà không có phép của chủ. Chủ dặn làm gì, nói gì, có đứa nào dám làm trái? Từ vị thế và tư cách này, mọi ngươì đều biết chúng có là tập đoàn lãnh đạo của một đất nước có Tự Chủ, hay chúng chỉ là bầy thái thú trong kiếp sống nô lệ. Tuy thế, đây lại không phải là chuyện mới xảy ra, nhưng là truyền đời từ Hồ Chí Minh. 

 
4. Hướng đi của dân tộc Việt Nam hôm nay và ngày mai 

Trong những ngày qua, có nhiều thông tin lan truyền trên mạng về sự kiện ở Phan Rí-Tuy Phong, Bình Thuận. Trong đó có thông tin cho rằng VC cho một số tay sai ác ôn trà trộn trong hàng ngũ đấu tranh. Chúng vờ che kín mặt để kích động cảnh đốt phá cơ quan, xe cộ, để sau đó đổ lỗi cho dân nổi dậy. Từ đây, chúng đến bắt hàng trăm người để đưa ra tòa án với mục đích trấn áp lòng dân. 

Nhìn lại địa bàn khu vực. Ai cũng biết, đây là khu vực gần như là chịu qúa nhiều ảnh hưởng của Tàu cộng. Từ đó, người dân Việt khó tránh được chữ thâm thù Tàu cộng, do ngư dân bị chúng đâm thủng thuyền, giết hại. Đã thế, nhà máy điện Vĩnh Tân do chúng xây dựng làm ô nhiễm nặng, gây bệnh tật cho dân trong vùng. Lại đến, 2 dự luật Đặc khu và ANM như đổ dầu vào lửa đã tạo nên cao trào đấu tranh. Dĩ nhiên, Sài Sòn không thể đứng yên. Người dân tự đứng lên vì nghiệp nước, nhưng tất cả đã bị bọn tay sai của giặc Tàu từ trung ương đến địa phương phá hoại và đối xử với đồng bào bằng một cách thô bỉ, vô đạo. 

Hỏi xem, những đau thương oán vọng này đi về đâu? Câu trả lời là, hôm nay bạn còn ý chí để xuống đường cứu dân cứu nước, chúng ta còn có cơ hội diệt trừ tội ác và cộng sản. Nhưng… chờ vài ba năm nữa, khi Hiệp định Thành Đô chính thức được áp dụng thì Việt Nam có lẽ không hơn Tây Tạng hôm nay. Khi ấy, xem ra bước chân ta có muốn đi càng thêm khó ngàn lần… 

Như thế, trước cảnh vong quốc này, xem ra cuộc chiến sống còn của dân tộc việt Nam với tập đoàn cộng sàn Tàu-Việt đã đến hồi phải giải quyết. Người Việt Nam sẽ không có một chọn lựa nào khác ngoài hai hướng đi sau: 

 
1. Tất cả cùng đứng dậy mà đi theo gương của cha ông ta để con cháu ta và đất nườc này sống còn. 

2. Hãy nhắm măt lại và đưa tay cho CSVN dẫn chúng ta vào quê Tàu-Hồ. 

 Thật vậy, câu trả lời của người Việt Nam hôm nay chính là đường đi cho con cháu chúng ta ngày mai. Ngoài ra không có một con đường khác. Nghĩa là, bạn đứng dậy để làm người nước Nam theo các bậc tiền nhân của ta để mảnh đất này đời đời là của giòng giống Việt Nam. Hay là uốn mình thành tên nô lệ của Tàu theo hướng đi của Hồ Quang và tập đoàn CSVN hướng dẫn. Bạn hãy trả lời đi. Trả lời và chính bạn sẽ nhìn thấy tương lai Việt Nam qua câu trả lời của chúng ta hôm nay. 

 
06.07.2018

 
Bảo Giang
304Đen – Llttm - DLB