Tuesday, January 15, 2019

Mày Lại Về Ăn Tết - Trần Văn Lương


Mày Lại Về "Ăn Tết"

Dạo:
Giang san đã bán cho Tàu,
Người về "ăn Tết" có đau tấc lòng?

(Mượn lời người còn kẹt lại VN nói với đứa bạn đã từng vượt biên và đã từng mang danh "tỵ nạn")

 


 
 
 
 
 
 
Tao mới biết mày luôn về "ăn Tết",
Nhưng mày hằng trốn biệt chẳng tìm tao,
Vì ngại tao túm áo hỏi tại sao
Mày không nghĩ đến đồng bào đất nước.

Hãy nhớ lại vài chục năm về trước,
Khi Việt nam vừa được Mỹ bang giao,
Mày đã quên lời thề thốt đêm nao,
Vội lén lút xé rào về "ăn Tết".

Tao bắt gặp, mày bèn thề sống chết,
Rằng về đây, cương quyết chỉ một lần,
Mục đích là để thăm viếng người thân,
Và cải táng mộ phần cho bố mẹ.

Nhìn mắt mày rưng lệ,
Tao phân vân rồi khe khẽ mủi lòng,
Thầm nghĩ ai chưa quên hẳn giống dòng,
Ắt còn có chút gì không đến nỗi.

Sau lần đó, mỗi thằng đi một lối,
Tưởng mày đà biết nghĩ tới quê cha,
Có ngờ đâu những lời nói thiết tha
Ngày xưa đó hóa ra là láo hết.

Tao đau lòng được biết,
Bấy lâu nay, hễ Tết đến Xuân về,
Mày hầu bao rủng rỉnh ghé "thăm quê",
Lo đàn đúm hả hê không biết mệt.

Tao nghe nói, có năm gần trước Tết,
Mày lên đồ lính trận thiệt oai phong,
Xuống Bolsa, hùng dũng giữa đám đông,
Hô chống Cộng, trông vô cùng lẫm liệt.

Nhưng sau đó, khi Sài Gòn đón Tết,
Bỗng có mày về lê lết ăn chơi,
Sáng la cà, chiều du hí khắp nơi,
Thỉnh thoảng lại giở trò chơi "từ thiện".

Đám bè bạn xưa theo mày vượt biển,
Đã lắm thằng giờ hiện ở nơi đây,
Cùng mày luôn họp thành lũ thành bầy,
Đêm trác táng, ngày no say "thoải mái".

Tao nhớ mãi, lần đầu mày trở lại,
Mày vẫn còn ái ngại một vài phân,
Nhưng ngày nay mày ắt đã quen dần
Nên mặt mũi càng câng câng vênh váo,

Khác hẳn lúc năm xưa mày đã bảo,
Chỉ về đây để báo hiếu mẹ cha,
Nhân tiện thăm bè bạn với thăm nhà,
Trước khi phải rời xa quê mãi mãi.

Mày xui xẻo giờ bị tao gặp phải,
Chẳng sượng sùng, còn lải nhải biện minh,
Nào đi xa nên nhớ quá quê mình,
Nào tiếng gọi gia đình không dám cãi!

Mày có biết khi xênh xang trở lại,
Mày vô tình đã làm hại quê hương,
Đã góp phần nuôi dưỡng bọn bất lương,
Đưa đất nước vào con đường hủy diệt.

Chuyện quá khứ mày đà quên hết tiệt,
Quên vợ con mày chết ở Biển Đông,
Quên những ngày trại tỵ nạn long đong
Khúm núm sợ phật lòng thằng gác Thái..

Tao chỉ hỏi lần này rồi mãi mãi
Quyết sẽ không gặp lại bản mặt mày,
Đứa chối từ thân phận để về đây
Đạp lên nỗi đắng cay toàn dân Việt.

Mày có thấy thường dân bị đánh giết,
Khách trên đường chỉ liếc mắt rồi thôi,
Vẫn thản nhiên, vẫn phớt tỉnh nói cười,
Nhân tính của người thời nay thế đó!

Mày có thấy bầy công an cán bộ
Bắt con dân yêu nước bỏ vô tù,
Bao nhà nông tài sản bị tịch thu
Chỉ còn biết ngậm căm thù, nuốt lệ?

Mày có thấy đám đầu xanh tuổi trẻ,
Trai rạc rài chẳng kể đến ngày mai,
Gái bán rao trinh tiết tận nước ngoài?
Đấy, hy vọng cùng tương lai nước Việt!

Mày có thấy năm nay về "ăn Tết",
Bắc đến Nam, nhốn nháo Chệt đầy đường,
Trong lòng mày có thoáng chút buồn thương
Cho vận mệnh của quê hương đất nước?

Hay mày vẫn còn vênh vang như trước,
Kệ quê nhà, miễn mày được vui chơi,
Được rượu chè cùng trai gái thảnh thơi,
Mặc nước mất vào tay người dị tộc ?

 ***

Thêm một lần Bắc thuộc,
Leo lét buồn ánh đuốc giữa đêm đen.

Trần Văn Lương

Cali, 1/2019

304Đen – Llttm - BCT

Anh Chắt - Quýt - Nguyễn Minh Kính


Anh Chắt-Quýt
 
 

 

    Thời đại ngày nay người ta đặt tên con cái rất hay, rất đẹp, con gái thì Trúc, Mai, Hồng, Lựu, Hoa…, con trai thì, Hùng, Dũng, Quang, Vinh, Sang, Trọng… chẳng hạn. Tên không những đẹp mà còn có ý nghĩa, để cầu mong sự thành đạt của đứa con mai sau. Các cụ ngày xưa mộc mạc chân quê và ít chữ nghĩa nên thấy cái gì thân thương, quen thuộc, gần gũi thì lấy nó đặt tên cho con mình. Có lẽ vì thế mới có cái tên Quýt, anh Chắt-Quýt.

Cha mẹ anh Chắt-Quýt thuộc thành phần bần nông. Cán bộ CCRĐ (cải-cách-ruộng-đất) về địa phương tìm hiểu để bắt rễ-xâu chuỗi, đào tạo cốt cán cho phong trào CCRĐ không những tại địa phương, mà sẽ được đi nơi khác làm cán bộ để phát động phong trào CCRĐ tiếp theo. Ông cán bộ CCRĐ có ghé vào nhà tôi như để làm công tác tìm hiểu quần chúng. Cha tôi đi vắng, tôi đi chơi với bạn bè ngoài đồng. Về nhà, nghe mẹ kể với cha tôi, ông cán bộ CCRĐ là cán bộ miền nam tập kết ra bắc được cử đi làm CCRĐ. Ông đội nón cối. Trời mưa, ông khoác tấm ni-lông màu cánh gián buộc choàng vào cổ, đi dép cao su, quần dài được xắn lên quá đầu gối, bắp thịt trên đầu gối của ông ấy to bằng quả bòng (quả bưởi). Ông ấy tự giới thiệu tên ông là Thận.

Cán bộ Thận mang ba-lô quần áo và đồ dùng sinh hoạt cá nhân vào nhà cha mẹ anh Chắt-Quýt để “ba cùng”: cùng ăn, cùng ở, cùng làm. Cha mẹ anh Chắt-Quýt có sáu người con. Cán bộ CCRĐ chọn ba người trưởng thành, nhanh nhẹn ra làm việc. Anh Chắt-Quýt lớn tuổi, được đào tạo kỹ càng, bài bản hơn hai người em. Hai người em của anh, một trai một gái, được chọn làm cán bộ đoàn thanh niên, hội phụ nữ, đội du kích địa phương. Trong CCRĐ, người em trai của anh được vào đội hành quyết bắn địa chủ. Anh Chắt-Quýt được chọn làm cán bộ nòng cốt đi phát động phong trào CCRĐ ở những địa phương khác. CCRĐ, nhà nước phát động toàn miền Bắc nhưng làm từng vùng, từng nơi, nơi này trước, nơi kia sau. Có lẽ do nhà nước thiếu cán bộ nên phải vừa làm vừa đào tạo.

Anh Chăt-Quýt được phái đi làm cán bộ CCRĐ ở vùng khác. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, có lẽ là rất vẻ vang, anh Chắt-Quýt về địa phương giữ chức chủ tịch xã. Sức còn trẻ, anh năng nổ hoạt động. Nhà anh được dùng làm trụ sở ủy ban xã. Có điều, nông thôn miền núi, nghèo, ít dân, nhà cửa xa nhau nên ủy ban chỉ làm việc buổi chiều vài ba tiếng đồng hồ, còn lại là công việc đồng áng.

Làm cán bộ xã thời đó không có lương, chỉ có chút tiền trợ cấp chi phí. Thỉnh thoảng anh phải lên huyện họp hành hay tập huấn về chuyên môn. Lên huyện phải đi bộ hơn nửa ngày đường, phải vài ba ngày mới về. Quần Âu, áo sơ mi vải nội của nhà máy dệt Nam Định, dép cao su từ vỏ xe ô-tô cắt ra, đầu đội mũ lá tơi, vai đeo xắc-cốt tài liệu giấy tờ, thêm cái bi-đông nhựa Trung-Quốc đựng nước chè xanh, trông anh Chắt-Quýt là một cán bộ địa phương mẫu mực, cần mẫn, trung kiên và uy tín.

Anh Chắt-Quýt làm chủ tịch rồi làm bí thư đảng ủy nhiều khóa, nhiều kỳ, rồi anh nghỉ việc. Nghỉ việc của anh cũng là lý do đơn giản, có lẽ vì tuổi tác và hơn nữa, để cho lớp trẻ lên thay theo chủ trương của trên là, “mang tính kế thừa”.

 

Đồng Chí Chắt-Quýt bị Kiểm Thảo

Nghe nói, người em trai của anh đi bộ đội, hy sinh ở chiến trường miền nam. Nhà nước có cho con cái của anh này một khoản tiền làm lộ phí vào các nghĩa trang liêt sĩ ở miền Nam tìm mộ anh này mà không thấy. Người em gái của anh Chắt-Quýt sau này lấy chồng rồi đi nơi khác. Vợ anh Chắt-Quýt qua đời vì tại nạn, các con anh lớn dần rồi tản mác đi làm ăn xa.

Thời phong kiến, hết làm quan thì về “trí sĩ”, “vui thú điền viên”. Ngày nay, hết làm cán bộ thì trở về sống với quần chúng nhân dân. Thôi làm cán bộ nhưng anh Chắt-Quýt là đảng viên của đảng Lao Động Việt Nam nghiêm túc, và phải sinh hoạt trong chi bộ của đảng, để không những làm gương mà còn là hạt nhân để thúc đẩy mọi phong trào quần chúng nhân dân xây dựng đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở, hậu phương vững chắc để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Anh Chắt-Quýt không giàu nhưng đời sống cũng không thiếu thốn lắm. Anh sống một mình, còn sức khỏe, có mảnh vườn thu chút ít hoa lợi quanh năm, lại có con cái đi làm xa góp mỗi đứa một chút. Nghèo mà nhàn.

Anh Chắt-Quýt sống một mình trong căn nhà nhỏ và làm bạn với cái đài (radio) để nghe tin tức. Báo chí dù nghèo nàn tin tức, ở nông thôn cũng chẳng có tờ báo nào mà đọc. Cái đài của anh vừa tiện lợi vừa sang. Cả làng chỉ được dăm ba nhà có đài.

Nông thôn không quen uống cà phê. Nhà anh có trồng vài hàng chè trong vườn nên anh nấu nước chè xanh uống mỗi ngày, uống quanh năm. Nước chè xanh rất tốt, có lợi cho sức khỏe, vừa mát vừa có chất caffeine. Uống nước che xanh cũng làm anh tỉnh táo, hưng phấn. Anh nghe tin tức thời sự nhiều rồi cũng chán. Lúc nào cũng nghe ta thắng, địch thua, vụ mùa nào cũng bội thu, nơi nào cũng thi đua, miền bắc thi đua tăng năng suất, miền nam thi đua diệt Mỹ.

Tuy vậy, nghe đài cũng lợi, để biết thông tin mà chuyện trò, hơn nữa miền núi hẻo lánh, cái đài phát ra tiếng oang oang hàng ngày trong nhà cũng vui, làm anh có ít nhiều hưng phấn, sảng khoái. Anh thích nhất là chương trình ca nhạc văn nghệ qua đài phát thanh. Trước đây dân miền núi thua thiệt đủ điều, mỗi năm may ra được vài lần có đoàn chiếu phim lưu động về phục vụ, mới thấy cái bóng đèn điện tròn tròn giống quả trứng vịt, mới được nghe vài tiếng hát nghèn nghẹt phát ra từ cái loa kêu rè rè. Cái đài ngày nay, âm thanh rất rõ ràng, nghe được cả tiếng hơi thở của xướng ngôn viên. Nay nhờ ơn đảng ơn nhà nước, một số ít người đã có đài, trong đó có anh.

Nước chè xanh đặc làm anh hưng phấn, lâng lâng, có thêm chút rượu trắng thỉnh thoảng anh mua về nữa, tâm hồn lúc đó không đến nỗi khô cằn. Đêm đêm cô quạnh, vắng vẻ, nằm nghe giọng hát các cô ca sĩ trong cái đài để đầu giường, lòng anh cũng thấy rộn ràng. Con người ai cũng thế; đến như anh Chí Phèo rồi cũng có những giờ phút tâm hồn nhảy múa, lãng mạn yêu đời, huống chi anh Chắt-Quýt lý luận chính trị dồi dào, thông minh, từng làm đến chức chủ tịch xã.

Bên cạnh vườn nhà anh Chắt-Quýt có một chị góa chồng. Chị này tên Chắt-Tèo. Tôi không hiểu tại sao tên chị lại là Chắt-Tèo. Chị này dáng người cao cao, cũng xinh xinh, con của một gia đình cũng có tiếng tăm chút ít ở một xã bên cạch. Trong CCRĐ, một anh thanh niên thành phần bần nông ở cạnh nhà anh Chắt-Quýt đeo đuổi chị, rồi thêm sức ép của tổ chức đoàn thể, nói theo từ thời đại là “sự thuyết phục vận động của đoàn thể”, nên chị phải lấy. Thời CCRĐ, thanh niên bần cố nông nhiều anh rất có giá. Thành phần giai cấp quyết định tương lai một đời người. Nhiều thanh niên bần cố nông đã lấy được con gái đep, nhà giàu. Dân gian có câu “mèo mù vớ cá rán”. Chồng chị Chắt-Tèo ở trong hoàn cảnh đó, mèo mù vớ cá rán. Chị Chắt-Tèo lấy chồng bần nông rồi sau này chị cũng được kết nạp đảng viên.

Chồng chị Chắt-Tèo mất sớm. Chị ở vậy, nuôi mấy đứa con khôn lớn rồi con thoát ly đi làm ăn xa. Chị ở một mình trong căn nhà tranh vắng vẻ. Những đêm mùa đông, cái lạnh sương giá miền núi trung du làm chị càng thêm lạnh lẽo. Sự lạnh lẽo của chị cũng giống sự cô đơn của anh Chắt-Quýt.

Nông thôn nghèo, làm gì có điện, nông thôn miền núi càng nghèo, có người cả đời chưa thấy bóng đèn điện nữa là khác. Miền núi, những đêm không trăng trời tối thui thui. Anh Chắt-Quýt có đài nghe tin tức, nghe ca nhạc, nghe các chương trình văn nghệ. Ban đêm, anh Chắt-Quýt rủ chị Chắt-Tèo qua nhà nghe đài. Nhà tối thui. Dầu hỏa cửa hàng bán phân phối nhỏ giọt, vì khan hiếm. Ngọn đèn dầu mờ mờ, leo lét nhỏ xíu như con đom đóm đực. Anh Chắt-Quýt nói, tui sống một chắt (một mình) cô đơn, bên nớ cũng sống một mình chắc cô đơn. Chị Chắt-Tèo liếc mắt, cười mỉm nói, cô đơn thì cô đơn, có mần răng mô. Anh Chắt-Quýt nói, răng lại không mần răng được, buồn chết đi. Anh Chắt-Quýt và chị Chắt-Tèo cười rúc rích.

Anh Chắt-Quýt thỉnh thoảng sang nhà chị Chắt-Tèo giúp chị sửa tấm phên, tấm vách. Chị Chắt-Tèo thỉnh thoảng cũng sang nhà anh Chắt-Quýt nhóm lửa, bếp núc, lúc thì để nấu nước chè xanh, lúc thì cơm cháo khi anh nhức đầu sổ mũi. Thế rồi người ta xầm xì, anh Chắt-Quýt và chị Chắt-Tèo có vấn đề. Tiếng lành đồn gần tiếng dữ đồn xa. Người ta nói, đồng chí Chắt-Quýt hủ hóa với nữ đồng chí Chắt-Tèo. Tổ chức chi bộ địa phương mời hai đồng chí ra họp, phê bình kiểm thảo, không phải kiểm thảo một vài lần mà kiểm thảo nhiều lần.

Khổ cho các đảng viên trong chi bộ, ban ngày lo cày cấy, công việc ruộng đồng, tay cày tay súng, lo máy bay Mỹ bắn phá khắp nơi, tối về ăn vội vài lưng cơm độn khoai sắn rồi lại lo đi họp kiểm thảo đồng chí Chắt-Quýt và nữ đồng chí Chắt-Tèo. Chi bộ phân tích: Hai thứ, tham ô và hủ hóa là hai thứ xấu nhất, các đảng viên không được phạm vào. Bác Hồ nói, đảng viên phải luôn luôn trong sạch, gương mẫu, là người phải biết lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, là đầy tớ nhân dân. Các đồng chí đã làm mất phẩm chất đạo đức cách mạng của người đảng viên.

Nghe dân làng nói, chi bộ kiểm thảo hai đồng chí này đến khổ, kiểm thảo liên miên. Không biết hai đồng chí có bị khai trừ đảng hay không. Dân làng, nhiều người thương hai đồng chí này lắm. Có người nói, hủ hóa với lại hủ hiếc, có những anh mần chức to hơn hủ hóa tưng bừng mà có ai mần đách chi được chi mô…

Hủ hóa với lại hủ hiếc!

Tôi đi xa lâu ngày về quê, nghe được chuyện này, kể lại cho vui.

 

Hồi ức Nguyễn Minh Kính

 

Ngày 08/ 01/ 2018

304Đen – Llttm - VV

 

Mùa Thu Sang Ta Về Thăm Lại Cõi Buồn - Nguyễn Chí Hiệp


Mùa thu sang ta về thăm lại cõi buồn

 















Mùa thu sang
lá rơi đầy lối qua sông
Con thuyền
ngày xưa đã rời bến
Người ơi,
giọt nước mắt trên môi thầm thương

Mùa thu hỡi, có giăng giăng mưa ngâu
Huế cũ hồn ta nhớ vương vấn biển sầu
Huế cũ ngày xưa nhìn em vui cười nói
Chung bước cùng nhau qua bến Vân Lâu

Bây giờ thì đã giữa mùa thu vắng
Áo tím xưa bây giờ không thấy dáng người
Buồn chợt rơi rơi về trong kỷ niệm
Nhớ em ta đã nhớ đến muôn đời

Người ơi mối tình đầu đã xa rời
Có hay chăng một người về lại Huế
Mang đầy trong tim những lời ước thệ
Được sống bên nhau hạnh phúc muôn đời

Mùa thu sang
đêm ngắm mãi những cung đường

Gió vẫn say
bên dòng sông quê hương

Gió thổi bay
bay những chiếc lá úa

Lữ khách buồn
nhớ mãi dáng người thương

Nguyễn Chí Hiệp
05.7.2013

Chúc Thư Của Giáo Sự Nguyễn Văn Phú - Nguyễn Văn Phú


Chúc thư của giáo sư Nguyễn văn Phú viế́t cho Con Cháu

Lời tựa: Giáo sư Nguyễn văn Phú dậy Toán học trường trung học nổi tiếng ở Saigòn là Chu Văn An. Ông cũng là Hiệu Trưởng của trường tư thục Trần Hưng Đạo ở Sàigon và đã dậy tư Toán nổi tiếng cho rất nhiều học sinh thời ’60 và ’70 và hầu như tất cả các giới trẻ thời đó ai cũng biết đến và kính mến. Tác giả định cư tại Montreal, Canada.

Thư này tuy là viết cho con cháu của Ông, nhưng theo chúng tôi cũng có thể gửi đến tất cả mọi thanh niên VN hiện nay đang ở hải ngoại để hiểu rõ về nguồn gốc của mình, lý do của người VN phải vượt biên tỵ nạn, và những vấn đề liên quan đến cuộc sống trong hiện tại cũng như tương lai.

***
 
 
 

Thư gởi các con

Mong các con đọc kỹ thư này, suy nghĩ đến nơi và cố gắng thực hành những lời dặn.

Các con thân yêu,

Nay, bố mẹ tuổi đã 80, thế cũng là khá thọ so với các thế hệ trước bố mẹ. Bố mẹ đã nhiều lần nói chuyện với các con về một số vấn đề, nhưng không phải lúc nào cũng có đủ các con cùng nghe. Hơn nữa, không chắc các con đã nhớ hết những lời nói của bố mẹ. Vì thế mới có lá thư này để tóm tắt những ý kiến chính mà bố mẹ muốn gửi đến các con. Còn các cháu thì chỉ nói mà ít đọc được tiếng Việt, nên các con hãy liệu cách truyền đạt lại ý của bố mẹ và giảng giải cho các cháu biết, chẳng những biết mà phải hiểu kỹ những điều bố mẹ viết ra đây ngày hôm nay.

 

Biết Ơn.

Các con ạ, trên đường tỵ nạn cộng sản, tìm tự do, chúng ta dã bỏ lại tất cả, tài sản, bàn thờ và mồ mả tổ tiên. Khi đến định cư nơi quê hương thứ hai này, chúng ta đã được chính quyền và dân chúng đón tiếp và giúp đỡ. Hiện nay, đời sống của chúng ta đã ổn định. Chúng ta phải biết ơn đất nước này và hãy tìm cách góp phần làm cho đất nước này tươi đẹp hơn, giàu mạnh hơn để đền đáp phần nào cái ơn đó.

 

Lý Do Tỵ Nạn

Các con cần giảng rõ cho các cháu biết lý do nào đã khiến cho gia đình chúng ta tới đây cùng với hàng vạn gia đình khác, đó là: chúng ta tỵ nạn Cộng sản, đi tìm Tự Do. Các cháu được sống trong xã hội dân chủ, tự do từ lúc sinh ra nên không thể tưởng tượng nổi tính dối trá và các thủ đoạn nham hiểm của Cộng sản. Các cháu khó có thể tin được tại sao con người đối với nhau mà lại tàn ác như vậy (có thể cho các cháu coi phim "Journey from the Fall-Vượt Sóng", do Trần Hàm đạo diễn, khởi chiếu 30-4-2005). Cộng sản hành động rất ác nhưng nói rất khéo và che đậy rất giỏi! Vì thế phải giải thích cho các cháu hiểu, không phải để hận thù mà là để biết sự thật. Có một câu mà nhiều người hay nhắc: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn những gì Cộng sản làm.”

 

Quê Cha Đất Tổ

Dù công việc bận rộn đến mấy, các con hãy dành thì giờ nghiền ngẫm những trang lịch sử và địa lý Việt Nam, để biết nguồn gốc dân tộc, sự hình thành đất nước, những bước thăng trầm, những nỗi vinh nhục, những khôn ngoan và lầm lỗi của ông cha ta. Và từ đó chúng ta rút ra những bài học. Có những trang lịch sử oai hùng, mà cũng có những trang lịch sử đẫm nước mắt. Có khi nước ta bị đô hộ khổ nhục cả ngàn năm, mà cũng nhiều khi dân ta anh dũng vùng lên phá xiềng xích, giành tự chủ. Lại cũng có khi người mình đi xâm chiếm tàn phá nhiều nước khác, thí dụ gần đây nhất là mười năm tàn phá Cao Miên, gây nên căm hờn của nước láng giềng và để lại cái nghiệp nặng mà các thế hệ sau sẽ còn phải gánh chịu!

 

Lịch Sử Gần Đây

Nuớc ta bị Pháp đô hộ từ cuối thế kỷ 19. Khoảng 1940, đại chiến thế giới bùng nổ. Ở nước ta, Nhật đảo chánh Pháp 9-3-45. Vua Bảo Đại tuyên bố hủy bỏ hiệp ước bảo hộ ký với Pháp, rồi giao cho Ông Trần Trọng Kim thành lập chính phủ đâu tiên của nước Việt Nam độc lập. Phe Trục gồm Đức, Ý, Nhật thua Đồng minh gồm Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô, Trung Hoa. Ngày 19-8-45, Việt Minh cướp chính quyền của chính phủ Trần Trọng Kim, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Nhưng không được bao lâu, Pháp tìm cách quay lại. Cuộc toàn quốc kháng chiến chống Pháp bắt đầu ngày 19 tháng 12, 1946. Khi phe Việt Minh lộ rõ bản chất Cộng sản, các đảng phái quốc gia trước nguy cơ bị họ tiêu diệt dần, đã trở về vùng quốc gia là nơi đã thiết lập một chính quyền khác với chính quyền vùng kháng chiến mà thực chất là cộng sản. Sau trận Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước: miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, miền Nam là Việt Nam Cộng Hòa. Miền Bắc công khai theo khối Cộng sản, tiến hành xâm lăng miền Nam bằng võ lực và che mắt thế giới bằng con bài Mặt Trận Giải Phóng Mìên Nam. Miền Nam được Hoa Kỳ và đồng minh của khối tự do ủng hộ đê ngăn sự bành trướng của Cộng sản. Khi quân xâm lăng mạnh thì Hoa Kỳ đổ quan vào miền Nam, bắt đâu vào 1960, và chiến tranh trở nên khốc liệt.

Năm 1972, sau khi Liên Xô và Trung Quốc trở thành đối nghịch thì tổng thống Nixon đến Trung Quốc ký Thỏa hiệp Thượng Hải. Hoa Kỳ không cần đến “tiền đồn chống Cộng” nữa nên bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa! (Soạn phẩm khi đồng minh tháo chạy của tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng cho biết những sự thật phũ phàng về sự bội ước và tháo chạy của Mỹ.) Theo Hiệp định Paris 1973: Hoa Kỳ rút quân khỏi miền nam Việt Nam, chỉ để lại một số cố vấn mà thôi, còn quân Bắc Việt vẫn ở lại! Cộng sản Bắc Việt tiếp tục xâm lăng miền Nam với nhiều viện trợ của cộng sản quốc tế. Việt Nam Cộng hoà dù tự vệ can trường đến mấy, mà không đủ vũ khí, xăng dầu... thì chắc chắn là kém thế. Ngày 30 tháng tư 1975, thủ đô Sài Gòn thất thủ. Cuộc di cư tỵ nạn cộng sản, tìm Tự Do bắt đầu.

Từ đây trở đi, chính các con biết khá nhiều chi tiết.

 

Suy Xét Thông Tin và Sử Liệu

Thời buổi này, thông tin rất nhiều, quá nhiều. Người ta viết về Việt Nam, về chiến tranh Việt Nam nhiều lắm, có cả phim ảnh nữa, nhưng trung thực thì chẳng được bao nhiêu. Có người viết trung thực nhưng chỉ nhìn được một khía cạnh của vấn đề, hệt như “những anh mù sờ voi”. Có người cố ý bẻ cong sự thật, nhằm đạt mục đích riêng của mình. Có người - kể cả nhà tu - còn bịa đặt thêm chuyện để vu khống người khác! Tệ nhất là khi kẻ cầm quyền hay tay sai của họ viết sử. Nhà văn Alex Haley đã viết ở dòng cuối tác phẩm "Roots" (Nguồn Cội): “Rốt cuộc, chính kẻ chiến thắng là kẻ viết sử.” Cho nên, bố mẹ ân cần dặn các con và nhất là các cháu rằng khi đọc tài liệu, sách vở và coi phim về Việt Nam thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, dù là của tác giả nào, kể cả Âu-Mỹ, cũng phải hết sức thận trọng và suy sét thông minh.

Theo bố mẹ thì cuộc chiến 1954-1975 ở nước ta là chiến tranh Nam Bắc, là nội chiến, là chiến tranh ủy nhiệm, là đối đầu giữa hai khối Cộng sản và Tự do; khí giới nước ngoài, máu dân Việt mình. Đối với người việt nam, đó là chiến tranh tự vệ. Còn cộng sản Bắc Việt thì tuyên truyền và giáo dục quần chúng rằng đó là chiến tranh chống Mỹ-Ngụy và thống nhất đất nước. Kẻ thắng kiêu ngạo và tàn ác, người thua uất hận trong tủi nhục. Mấu chốt của sự chia rẽ trầm trọng trong dân tộc ta nằm ở điểm ấy (kể ra thì dân tộc ta còn nhiều sự chia rẽ khác nữa). Chưa thay đổi được hai cách nghĩ đó thì chưa nói tới hòa hợp dân tộc được! Hàng triệu người đã chết, tuy đất nước được thống nhất mà lòng người đến nay vẫn còn chia rẽ.

 

Về Thăm Việt Nam

Có vài vị hỏi bố mẹ đã về thăm Việt Nam chưa. Câu trả lời là chưa, vì lý do sức khoẻ. Đã có rất nhiều người về Việt Nam, mỗi người một lý do, mỗi người một mục đích, mỗi người một cách nhìn! Về để chăm sóc cha già mẹ yếu, thăm nuôi người thân, về để sửa sang phần mộ tổ tiên, về để giảng dạy cho sinh viện, để nhìn lại quê hương, những điều ấy là chính đáng. Về để cứu trợ nạn dân của các thiên tai hay giúp đỡ đồng bào nghèo túng mà không vì danh vì lợi, cũng là việc tốt. Về để ăn chơi, để du lịch rẻ tiền, để cầu danh lợi, để xin vài tấm bằng khen, thì không nên.

Sau này, khi trong nước thay đổi thật sự, các con có thể đưa các cháu về thăm quê hương. Bố mẹ biết trước rằng các cháu sẽ không xúc động lắm đâu vì con người ta phải có kỷ niệm, phải có gắn bó thì mới xúc động được. Các con hãy cố hướng dẫn các cháu yêu đất nước, dân tộc và đồng bào Việt Nam, đừng để cho các cháu chỉ là những khách du lịch bình thường. Còn việc các con hay các cháu sẽ về làm ăn sinh sống tại Việt Nam thì bố mẹ nghĩ rằng điều đó khó xảy ra.

Hiện tình đất nước. Nếu có ai nói rằng Việt Nam nay đã tiến bộ (đa số người dân nay đã được ăn cơm thay vì ăn cơm trộn bo bo, có nhiều xe gắn máy và xe hơi thay cho xe đạp...; chẳng lẽ sau 30 năm im tiếng súng mà không có tiến bộ!) thì đó là một vài tiến bộ so với chính Việt Nam chứ nếu đem so sánh Việt Nam với các nước láng giềng thì đáng xấu hổ về nhiều mặt (như Cao Miên mà cũng còn có đảng đối lập). Muốn biết sự thật ở Việt Nam đằng sau những "binh đinh" cao ngất, những "ô-tô con" bóng loáng, những khách sạn năm sao, những sân "gôn" tân kỳ, thì phải theo rõi tin tức trong nước để thấy sự băng hoại trầm trọng về nhiều phương diện (nhất là về giáo dục), sự hiện diện của Tư bản đỏ, của quốc nạn tham nhũng, sự phung phí tài nguyên quốc gia, và phải đích thân đến thăm đồng bào nơi các vùng xa xôi nghèo khó. Chúng ta cần biết sự thật, không tô hồng mà cũng chẳng bôi đen!

Để tạm hiểu hiện trạng nước ta, các con tìm đọc bài nói của tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên viện trưởng Viện Nghiên Cứu Quản lý Trung ương Hà Nội. Ông ta thuyết trình các sự thật cho các cán bộ cao cấp nhất của cộng sản Việt nam nghe. Bài nói này gần đây mới được tiết lộ ra ngoài. Bài giới thiệu viết: "Mọi người phải chú ý tới những con số cho thấy sự thật phũ phàng về nền kinh tế Việt Nam. Ông Doanh cho thấy cả tình trạng yếu kém của nền kinh tế lẫn tính chất phi dân chủ của chế độ cộng sản ở Việt Nam. Từ đó ông dám nói thẳng cả cơ cấu chính trị cũng hỏng, phải thay đổi" (Ngô Nhân Dụng, nhật báo Người Việt, ngày 30-3-2005).

Ông Doanh kể lại rằng một chuyên viên tài chánh quốc tế đã đặt câu hỏi với ông như sau: "Chúng mày giỏi thế mà chúng mày nghèo lâu đến thế, là thế nào? Trí tuệ như thế này, truyền thống như thế này, sao mày ăn xin hoài thế? Chúng mày cứ đề ra mục tiêu là đến bao giờ chúng mày đừng đi ăn xin nữa, có được không?" Thật là mối nhục chung cho cả nước! Nước ta đâu có hèn kém, dân ta đâu có lười biếng. Do đâu mà khổ nhục đến thế? Do độc tài đảng trị !

 

Thái Độ Chính Trị

Không những đồng bào hải ngoại đòi bãi bỏ độc đảng, thiết lập đa nguyên đa đảng, mà ngay cả những đảng viên cùng những phần tử tiến bộ ở trong nước cũng đòi như vậy. Cần hiểu rằng: chống độc tài, độc đảng, chống tham nhũng, chống đường lối sai lầm của cộng sản, không phải là chống nước Việt Nam mà là mong cho nước Việt Nam khá hơn, tiến hơn.

Nếu ai có nghĩ rằng cộng sản ngày nay đã "đổi mới" một chút thì nên biết rằng do sự xụp đổ của cộng sản Đông Âu, do sự đấu tranh ở trong và ngoài nước, do áp lực quốc tế và do nguy cơ tan rã của đảng nên cộng sản Việt Nam bắt buộc phải đổi mới về kinh tế (mà không đổi mới về chính trị)! Tuy mình không làm chính trị nhưng mình phải có thái độ chính trị, mình phải tiếp tục ủng hộ các cuộc đấu tranh sao cho đất nước có dân chủ Tự Do thật sự.

Tổng bí thư của cộng sản Việt Nam đã nhận rằng cộng sản Việt Nam có "phạm nhiều sai lầm". Chúng ta hỏi: sai lầm sao không sửa, sao không công khai xin lỗi các quốc dân, sao không trả lại ruộng đất nhà cửa cho các tư nhân và các giáo hội, sao không bồi thường cho các nạn nhân của vụ cải cách ruộng đất, của vụ Nhân Văn Giai Phẩm, của các đợt cải tạo công thương nghiệp, sao không bồi thường và xin lỗi những người bị bắt đi tù "học tập cải tạo"? Sự thực thì ai ai cũng muốn xóa bỏ hận thù, nhưng cộng sản Việt Nam cần phải hành động cụ thể cho nhân dân trông thấy. Nói "xoá bỏ hận thù, khép lại quá khứ, nhìn về tương lai" xuông thôi thì ích gì? Nói "đại đoàn kết" mà lại do đảng lãnh đạo (điều 4 hiến pháp Cộng sản) thì ai mà tin được!

 

Chuyện trong gia đình

Bây giờ, nói chuyện trong nhà. Bố mẹ thuộc thế hệ trước, nuôi nấng các con theo quan niệm thời bố mẹ, cũng như ông bà nuôi nấng bố mẹ thời ông bà. Một vài lúc nào đó, các con có thể nghĩ rằng bố mẹ đã quá khắc khe với các con. Thời buổi ấy là như vậy. Mong các con quên đi những gì mà bố mẹ đã vô tình làm các con buồn lòng. Hãy nhớ rằng bố mẹ không đua đòi ăn chơi, không chi tiêu hoang phí, lúc nào cũng giữ đời sống mực thước, và bố mẹ đã cố gắng làm việc và dành dụm để các con được sống đầy đủ, được học hành cẩn thận, dưới mái ấm của gia đình.

Vì tài sản bố mẹ đã bị CS cướp hết rồi nên khi sang tới đất mới này, đời sống của chúng ta khá khó khăn. Bố mẹ đã nhận làm những công việc thật mệt nhọc. Các con đã chịu khó đi làm vất vả trong các dịp hè, và đã cố gắng học hành chăm chỉ, đến nay thì "đâu vào đấy" cả. Các con không bao giờ được tự mãn, nghĩ rằng mình tài, mình giỏi. Cái tài, cái giỏi nếu có chỉ là một phần thôi, còn các phần khác là nhờ các thuận duyên, nhờ âm đức của tổ tiên và của chính mình, từ các kiếp trước và kiếp này. Các con phải luôn luôn sống đạo đức để bồi đắp cho cái nghiệp lành của mình, hệt như người dùng xe hơi phải lo "sạc điện" cho cái bình ắc-quy vậy. Gieo nhân lành thì sẽ hái quả lành. Luật nhân quả là một luật của trời đất, không sai được !

Trong gia đình riêng của các con, bố mẹ khuyên: vợ chồng phải cư xử với nhau trong sự tương kính, phải nhường nhịn lẫn nhau. Không thể tránh được vài đụng chạm đâu, hãy khéo léo và bình tĩnh mà giải quyết mọi việc. Nóng giận là hỏng.

Còn đối với con phải thương yêu nhưng không được nuông chiều. Cần phải kiểm soát bạn bè của các cháu và phải liên lạc với cha mẹ của bạn bè các cháu để tìm hiểu cho chắc chắn: hư hỏng vì bạn bè trong xã hội này là một sự kiện rất phổ biến ! Tivi, game, chat... phải hạn chế, còn thể dục thể thao thì nên khuyến khích. Bản thân các con phải lo xếp thì giờ tập thể dục, sống một cuộc sống thăng bằng. Hãy rút kinh nghiệm của bố: lúc trẻ, bố miệt mài làm việc nhiều quá nên nay về già, bị cơ thể "hỏi tội," đau lên đau xuống hoài.

Trong đời sống hàng ngày, phải luôn tiết kiệm và bảo vệ môi trường sinh hoạt vì tài nguyên thế giới chỉ có hạn, chúng ta cần nghĩ đến thế hệ mai sau. Dùng thứ gì cũng không được phí phạm, kể từ tờ giấy lau tay! Thỉnh thoảng, hãy cho các cháu coi hình chụp hay phim ảnh những trẻ em đói rét và cho các cháu biết rằng trên trái đất này còn rất nhiều người cực khổ.

Khi anh chị em cư xử với nhau, phải nhớ kỹ mấy câu "anh em như thể tay chân", "chị ngã em nâng", "một giọt máu đào hơn ao nước lã", "một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ". Bí quyết áp dụng chữ "xả." Hãy bỏ qua hết mọi khuyết điểm của anh chị em mình. Các con mà chia rẽ thì bố mẹ sẽ đau khổ vô cùng.

Trong xã hội này, vì bận rộn quá, người ta chỉ đủ thời giờ lo cho gia đình riêng nên có khi lơ là với đại gia đình, dù thâm tâm không muốn như vậy. Các con hãy đề cao tình đoàn kết trong đại gia đình. Với các con gái và con dâu, bố mẹ nhắc: các con hãy giúp chồng giữ liên lạc tốt đẹp với anh chị em và họ hàng nội ngoại.

 

Tiếng Việt tại nước ngoài

Có vài điều đáng bàn. Các cháu là công dân nước này, với mọi bổn phận và quyền lợi của một công dân. Cuộc sống thực tế trong trường học cũng như ngoài xã hội bắt buộc các cháu phải nói Anh hay Pháp ngữ, và phải nói và viết thật giỏi, nếu không thì sẽ khó hoà đồng, bị lạc lõng và bị thua kém! Đi học, các cháu nói tiếng Anh hay tiếng Pháp (hay cả hai). Về nhà, các cháu thường nói với nhau bằng hai thứ tiếng ấy. Tuy các con thường bắt các cháu nói tiếng Việt trong gia đình, bố mẹ vẫn cảm thấy tiếng Việt các cháu hãy còn kém. Nói tiếng Việt đã yếu, viết tiếng Việt còn tệ hơn, vì các cháu có tập đọc và viết chữ Việt thường xuyên đâu! Một vài giờ tiếng Việt vào cuối tuần ở trung tâm Việt ngữ với các cô giáo rất tận tâm chưa đủ các cháu khá hơn. Chỉ riêng việc học cách xưng hô theo tiếng Việt đã là khó nhất thế giới rồi!

Đồng bào ta ở hải ngoại luôn luôn nhắc đến việc bảo tồn tiếng Việt. Bố mẹ cũng nghĩ như vậy. Nhưng xét cho cùng, một đứa trẻ không thể kể là hai đứa trẻ (Việt & Canada hay Việt & Mỹ) nhập lại làm một được! Nếu ép quá thì sức của chúng chịu không nổi. Còn thể thao, còn âm nhạc nữa chứ. Vậy ta phải khéo chọn đúng liều lượng, đừng biến đứa trẻ thành "cái máy học"! Các cháu sẽ phải vươn lên ở đất nước này. Các con cần phải chuẩn bị sao cho chúng sống thích hợp với môi trường và sống thoải mái tại đây.

 

Xã Hội Âu Mỹ

Xã hội này là một xã hội tiêu thụ quá mức. Các con không nên để mình bị lôi cuốn dễ dàng vào các trò tiếp thị khéo léo nhằm xúi giục chúng ta mua hàng thả dàn. Chúng ta dễ bị ảnh hưởng của quảng cáo, ngay cả trong khi chúng ta đang bị các nhà băng và các hãng bảo hiểm bao vây, chi phối. Các con cần "thiểu dục, tri túc" tức là "ít ham, biết đủ", chỉ mua thứ cần thiết, không có không được mà thôi! Nhà, xe cũng vậy: an toàn và đủ dùng cho sinh hoạt hàng ngày là được rồi. Tránh nợ nhiều. Thảnh thơi thì hơn! Bố mẹ không nói lý thuyết xuông đâu, xã hội bây giờ xuống dốc về đạo đức, về tâm linh, chỉ vì hướng ngoại nhiều quá, lo về vật chất nhiều quá, ích kỷ quá, chẳng tìm thấy hạnh phúc ở đâu cả! Bớt ích kỷ, hãy nghĩ đến đồng loại, phải biết chia sẻ với đồng loại.

Riêng Phần Bố Mẹ. Già thì bệnh, bệnh rồi sẽ . . . ra đi! Quy luật tự nhiên là vậy. Đến ngày ấy, các con hãy lo tổ chức tang lễ cho bố mẹ được trang nghiêm nhưng đơn giản. Nếu chôn cất mẹ ở một nghĩa trang thì sau này, khi phải đi làm ăn nơi khác, các con sẽ thắc mắc vì ở xa không trông nom được phần mộ. Bố mẹ chọn cách hỏa táng, thuận tiện hơn, mà khỏi phải chiếm đất, vì đất rất cần thiết cho các thế hệ sau. Có thể đem rải tro của bố mẹ lên núi hay xuống sông, xuống biển. Cát bụi trở về cát bụi, có gì đâu! Thay vì đãi đằng ăn uống, các con hãy dùng tiền bạc đóng góp vào việc có ích lợi chung. Đừng e thẹn thiên hạ chê cười; mọi người sẽ hiểu và tán thành. Có một chi tiết như thế này, nếu chẳng may, bố mẹ ngã bệnh và phải chịu một "đời sống thực vật," các con hãy can đảm chọn giải pháp rút ống trợ sinh; kéo dài làm chi, chỉ gây khổ cho mọi người!

 

Bàn thờ gia đình.

Trong hoàn cảnh ngày nay, khó lập bàn thờ ngay trong nhà. Nhớ đến tổ tiên, ông bà nội ngoại, cha mẹ, các con có thể bày nơi trang trọng nhất ở trong nhà để tỏ lòng tôn kính và để tự hứa không bao giờ tổn hại gia phong. Đến ngày giỗ, xếp một bàn nhỏ, bày một chén nước trong, vài bông hoa thơm, mấy trái cây tươi và một nén nhang (nhang điện cũng được) là đủ, vì lòng thành các con, các cháu mới là quý. Bố mẹ nói "các cháu" là có ý nhắc các con cần cho các cháu biết ý nghĩa ngày giỗ của dân tộc Việt Nam. Vào những ngày giỗ, các con hãy nghĩ thiện, làm lành nhiều hơn các ngày khác, hãy chia sẻ chút đỉnh cho người nghèo, hãy gom quần áo dư để dành cho các hội từ thiện. Nếu anh chị em nhân ngày giỗ mà về họp mặt một nơi thì thật là tốt vì tình thân gia đình sẽ nhờ đó mà tăng lên.

Mong các con đọc kỹ thư này, suy nghĩ đến nơi và cố gắng thực hành những lời dặn.

Hôn các con của bố mẹ!

Bố mẹ cám ơn các con đã luôn luôn tận tâm săn sóc bố mẹ từ bao nhiêu năm nay và đã lo toan đầy đủ để cho bố mẹ được thoải mái, vui hưởng tuổi già.

Hôn các con thật lâu!
Hôn các cháu thật lâu!

Bố mẹ!

 

Nguyễn Văn Phú

304Đen – Llttm - BCT

 

 

Friday, January 11, 2019

Bên Sông Người Bật Khóc - Thuyên Huy


Bên Sông Người Bật Khóc

Nhớ một bến đò bên này sông chợ Gò Dầu Hạ

 














Người về đứng bên sông bật khóc
Bến xưa không còn đó con đò
Con đò của những chiều tan học
Những chiều người tập tểnh làm thơ

 
Mưa cũng cơn mưa phùn phố cũ
Cơn mưa đầu hẹn thấp thỏm chờ
Áo khép nép che chùm phượng đỏ
Đường về chân bước ngẩn bước ngơ

 
Thu chớm sang mùa chưa tàn hạ
Buồn tan tác úa phượng sân trường
Phố sầu rưng rức thay màu lá
Bên nhà ai đó khói chiều vương

 
Từ buổi bỏ nhau đi biền biệt
Đục trong sông vẫn cứ hai mùa
Cổng khép trường tan buồn da diết
Ngỏ về thôi người đón kẻ đưa

 
Người đứng đó nắng chiều vội tắt
Bên kia sông chợ vắng lâu rồi
Le lói phố đêm trời tím ngắt
Đường đôi bờ vàng lá thu rơi

 
Thuyên Huy
Mt Macedon ngày rừng đầu thu 2017

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sang Đông - Nhóm Vườn Thơ Mới Xướng Họa


THƠ XƯỚNG HỌA / NHÓM VƯỜN THƠ MỚI

 
Chủ đề: Đông về





 









Bài xướng:

 
SANG ĐÔNG 


Cây cảnh im lìm giấc ngủ đông,
Virginia lạnh sắt se lòng.
Phiêu du lữ khách buồn muôn thuở,
Lặng lẽ quê người dạ nhớ mong.
Gió rít từng cơn đồi trống vắng, 

Mưa tuôn  mấy lượt kết cầu vồng 
Chơn tâm thánh thiện không hờn tủi,
Tri túc từ nay một cõi không.

 
HƯƠNG LỆ OANH VA

 
Bài họa 1:

 
CHẠNH LÒNG


Cuối thu trời lạnh chuyển sang đông,
Lá rụng cành trơ bỗng chạnh lòng.
Hiu hắt mưa tuôn vang tiếng động,
Buồn tênh gió thổi đứng chờ mong.
Dặt dìu xa thẳm thuyền rời bến,
Ẩn hiện nhấp nhô sóng cuốn vồng.
Trằn trọc thâu canh thao thức nhớ,
Bồn chồn tấc dạ cõi hư không! 

 
KO

 
Bài họa 2:

 
ĐÊM ĐÔNG KHÔNG NHÀ

Lạnh lẽo đêm trường ngọn gió đông
Thương người đói`rách tái tê lòng
Dăm ba lều rách che nằm tạm
Năm bảy cơn mưa chẳng đợi mong
Thấp thoáng núi đồi sương trắng xóa
Xa xa sóng biển nước xoay vồng
Đèn khuya mờ tỏ cây yên ngủ
Ngơ ngác bên trời cõi trống không!

NGUYỄN CANG

Bài họa 3:

 
CHỜ  MONG

 
Heo may selạnh nắng hanh đông
Đón lễ Giáng Sinh rộn rả lòng
Ngàn dặm nước non ai có nhớ?
Bốn phương quê mẹ bạn chờ mong
Thuyền thơ trăng sáng đôi bờ mộng
Huyền thoại mưa sa bảy sắc vồng
Tiếng nhạc từ tâm thôi réo rắt
Ngước nhìn Thánh Chúa nhẹ không không.

 
KIM TRÂN

 

Bài họa 4:

 
TIỄN THU

Thu gợi bao điều, rồi chuyển đông
Con tim se sắt ở trong lòng
Lá vàng rơi rụng vươn đầy lối
Gió lạnh sang mùa chẳng đợi mong
Có phải đông về thời tiết lạnh 
Hay là luyến tiếc chốn cầu vồng
Đêm nằm thao thức trong đêm vắng
Nhớ đến người xa, ai biết không ?

 
TRIỀU PHONG ĐẶNG ĐỨC BÍCH