Friday, October 19, 2018

Đọc Bài Thơ Chiếc Nhẫn Cưới Của Jasmina Nguyễn - Nguyễn Cang


ĐỌC BÀI THƠ CHIẾC NHẪN CƯỚI CỦA JASMINA NGUYỄN
 
 
CHIẾC NHẪN CƯỚI

 
Chiếc nhẫn tròn tròn, bé xinh xinh,
Quanh ngón tay thon, trọn cuộc tình.
Như chiếc lồng son gài chặt cửa,
Như chiếc gông đời chợt đóng đinh.
Xoay xoay chiếc nhẫn quanh ngón tay,
Vòng ngược vòng xuôi mãi loay hoay.
Quay quay mỗi sáng trưa chiều tối,
Xoay tít, xoay quanh ngón tay gầy.
Khúc ngoặt của đời đã bước vào,
Bước ngắn, bước dài, bước đảo chao.
Chiếc nhẫn bé xinh – một vòng tròn:
Định mệnh một đời, bỗng lao xao!

Jasmina Nguyên

     Bài thơ "Chiếc nhẫn cưới" của Jasmina tôi đọc đã lâu, nay đọc lại vẫn còn cảm xúc. Bài thơ hay không phải do lời thơ chải chuốt bóng bẫy mà do cảm xúc dâng trào bất chợt khi tiếp xúc với người con gái bất hạnh ở giai đoạn cuối của cuộc đời, để tác giả ghi lại một cách trung thực quanh chiếc nhẫn cưới bằng một bút pháp đầy thuyết phục. Lê Hữu Nghĩa chọn bài thơ nầy để họa tôi nghĩ LHN cũng đã thấy đựơc nét đặc biệt ẩn chứa trong  thơ. Tôi không còn cảm hứng để họa bài thơ trong hoàn cảnh nhất định nầy mà chỉ cảm nhận được ý của thơ để ghi lại những cảm xúc và nhận xét riêng của mình. Bài thơ đưa ra một đề tài tương đối mới mà cách diễn tả cũng mới, không theo khuôn sáo cũ thường thấy, trái lại có khuynh hướng sáng tạo. Thường thì người ta sáng tác một bài thơ để bày tỏ nỗi lòng, dùng từ ngữ trau chuốt đề thi vị hoá hay cường điệu hoá để bài thơ mang tính lãng mạn gây cảm xúc nơi người đọc. Ở đây tác giả không làm như vậy mà đi xa hơn một chút bằng cách diễn tả tứ thơ bằng những từ ngữ thi ca một cách sống động, chọn lọc, chặt chẽ, mạnh mẽ, tưởng như lãng mạn mà không lãng mạn vì ý thơ lẫn tứ thơ rất thật, rất gần với chúng ta trong cuộc sống hằng ngày, nó cũng không thi vị hóa hay cường điệu hóa nhưng chân thành tha thiết. Mở đầu tác giả giới thiệu chiếc nhẫn mới cưới thật xinh tràn đầy niềm vui và hy vong. Câu thơ nghe mượt mà, êm dịu, xúc tích: "Quanh ngón tay thon, trọn cuộc tình". Nhưng tiếp theo, thực tế tình yêu không đẹp như nàng tưởng,trái lại nó phủ phàng cay đắng, vì chiếc nhẫn chỉ là "chiếc gông đời chợt đóng đinh" ! Cụm từ "chiếc gông đời" diễn tả hết sức đầy đủ ý nghĩa cuộc hôn nhân bất hạnh. Câu thơ nầy mang âm huởng của bài ca dao khi đề cập tới người con gái tới tuổi trưởng thành đi lấy chồng để rồi mang "cái gông đời" vào cổ, với tâm trạng vừa hài hước vừa bi ai, không phản kháng, chấp nhận "có còn hơn không" !

"Gái có chồng như gông đeo cổ
Gái không chồng như phản gỗ long đinh
Phản gỗ long đinh anh còn chữa được
Gái không chồng chạy ngược chạy xuôi
Không chồng khổ lắm chị em ơi!"

    Tứ thơ dồi dào mà cô đọng trong "chiếc nhẫn" nhưng nó ràng buộc nghiệt ngã cuộc đời tác giả. Từ ngữ khéo sử dụng đã lột tả hết nỗi đau cũng như sự bế tắc cuộc đời của một người vợ, người mẹ trong một cuộc hôn nhân đầy trắc ẩn mà sự lựa chọn giờ đây chỉ còn là một định mệnh không cách nào xoay chuyển hay làm khác được. Thử phân tích 4 câu thơ ở đoạn giữa mà tôi cho rằng đó là trọng tâm của bài thơ :

Xoay xoay chiếc nhẫn quanh ngón tay,
Vòng ngược vòng xuôi mãi loay hoay.
Quay quay mỗi sáng trưa chiều tối,
Xoay tít, xoay quanh ngón tay gầy.

Tâm trạng người con gái biến đổi đột ngột, nàng hoang mang lo sợ như vừa nhận ra mình đã nhầm lẫn khi chấp nhận cuộc hôn nhân nầy. Bây giờ phải làm sao? Bỏ đi? Không được ! Nàng mân mê chiếc nhẫn cưới không phải để trân quý cái hạnh phúc đang có, trái lại nàng muốn tháo bỏ nó đi nhưng than ôi nàng không làm được, nàng không đủ can đảm để làm việc nầy, lễ giáo VN không cho phép nàng thực hiện. Nàng cảm thấy khó chịu, ngột ngạt, cứ xoay qua xoay lại chiếc nhẫn từ sáng tới chiều tối, xoay tít ngón tay gầy thật tội nghiệp! Điệp ngữ: "xoay tít", "xoay quanh", nhấn mạnh sự lo lắng muốn thoát ra khỏi bế tắc, là những động từ chỉ hành động cụ thể có tính cách tích cực.

Động từ ghép "loay hoay" sử dụng rất thich hợp, khéo léo, chỉ một động tác được thực hiện một cách chật vật, khó khăn, mất nhiều thời giờ, đôi khi trở thành vô ích. Ví dụ : tôi đã loay hoay cả buổi sáng mà cũng chưa sửa xong chiếc xe. Trong bài, chỉ sự lúng túng, bối rối và sự bế tắc của nhân vật. Tĩnh từ "gầy" được sử dụng thật đắc vị cho ta thấy cuộc đời nàng trải qua nhiều đau khổ đắng cay nên thân xác gầy còm gầy cả ngón tay. Cũng từ đây cuộc đời nàng bước sang khúc ngoặt mới... Chính cái bất lực nầy đã khiến tác giả ray rức, ngột ngạt, đẩy bi thương đến cùng cực, đau đớn đến tận cùng, nói không ra lời !

Phép ẩn dụ được sử dụng một cách khéo léo, triệt để. Cụm từ "chiếc lồng son" (trong câu : Như chiếc lồng son gài chặt cửa) nghĩa đen chỉ chiếc lồng nhốt chim, nhưng phép ẩn dụ được sử dụng để chỉ lầu son gác tía, cuộc sống đầy đủ về vật chất nhưng thiếu thốn về tinh thần. Lầu cao cửa rộng lại là nơi giam giữ cuộc đời bất hạnh của một người con gái! Trong câu "Chiếc nhẫn bé xình, một vòng tròn", thì cụm từ "một vòng tròn" nghĩa đen là vòng tròn hình học có bán kính nhưng ở đây không phải nghĩa đó mà để chỉ dòng đời nghiệt ngã như một vòng tròn không có điểm khởi đầu cũng không có điểm kết thúc ! chính cái vòng nghiệt ngã nầy đã buộc chặt cuộc sống bất hạnh của người con gái đáng thương ! 

Về phương diện nghệ thuật, ngoài ưu điểm kể trên, theo thiễn ý của tôi thì tác giả đã sơ suất phạm  một lỗi nhỏ mà những người "chơi thơ" sành điệu khó bỏ qua, đó là 5 câu chót tác giả sử dụng một loạt 5 vần bằng cuối câu ! lẽ ra phải có một vần trắc để bài thơ trước khi kết thúc phải có một bước đi lên bởi một vần trắc sau đó mới chìm xuống bằng một vần bằng, như vậy nó mới giữ được cảm xúc lâu dài nơi người đọc:

"Xoay tít, xoay quanh ngón tay gầy.
Khúc ngoặt của đời đã bước vào,
Bước ngắn, bước dài, bước đảo chao.
Chiếc nhẫn bé xinh – một vòng tròn:
Định mệnh một đời, bỗng lao xao!"

    Tôi thử đặt vần trắc như vầy, chỉ cần thay một chữ thôi : 
Chiếc nhẫn bé xinh – một vòng (tròn)[XOÁY, NHỎ]
Thay chữ "tròn" bằng chữ "Xoáy" hay "nhỏ" ( để lấy vần trắc) !

Đây không phải là một bài bình thơ đúng sách giáo khoa mà chỉ là ghi lại một vài cảm xúc cũng như nhận xét vắn tắt về bài thơ mà thôi, hơn nữa cũng để đáp lại nhã ý của LHN mời tôi họa bài thơ trên.
Nguyễn Cang (10/10/18)

Ghi chú: Khi bài viết xong tôi chuyển đến tác giả, đọc giải trí thì nhận được sự giải thích về xuất xứ bài thơ như sau : Bài thơ được sáng tác cách nay gần 30 năm, dựa vào câu chuyện tình cay nghiệt có thật của một người bạn quen mà tác giả có được nguồn cảm hứng và xúc động để sáng tác bài thơ nầy.

Về luật bằng trắc thì lúc đầu tác giả đi đúng luật với bản gốc là : "Chiếc nhẫn bé xinh vòng tròn nhỏ"( đúng vần trắc ở cuối câu)nhưng sau đó chứng kiến cái kết thúc hôn nhân của người bạn gái bằng cái chết, tác giả "phá luật", chuyển trắc thành bằng cho hợp với cảm xúc và tình tiết câu chuyện( xin trích lời giải thích của tác giả: "Chính vì vậy chiếc nhẫn cưới với tôi không còn là một vòng tròn nhỏ hoặc bất cứ vòng tròn gì. Nó chỉ là một vòng tròn không có điểm khởi đầu hoặc kết thúc, cho dù có chết đi vẫn chưa phải là hết. Vậy thôi! Thế nên tôi đổi lại lời thơ trong câu đó, chấp nhận sai luật". Tác giả hứa : "Nếu một ngày nào thấy cần đổi, như cuộc đời thay đổi, tôi sẽ đưa câu thơ đó trở về nguyên thủy".
Xin cám ơn tác giả Jasmina,

NC

 

Câu Chuyện Chữ Nhẫn Và Tâm - BaoThạch & HLO VA


CÂU CHUYỆN CHỮ "NHẪN VÀ TÂM

 


Chuyện kể rằng: Có cặp vợ chồng người Nhật nọ mua căn nhà cổ, anh chồng thấy khung cửa từ phòng khách sang phòng ăn không hợp với ý mình nên mới tháo ra để sửa lại, khi tháo khung cửa rời khỏi vách còn sót lại cái nẹp, anh nhìn vào đó thấy có con thạch sùng bị nẹp dính liền vào vách nhưng vẫn còn sống . Anh chàng rất ngạc nhiên và vốn có tánh tò mò nên để vậy ngồi nghiền ngẫm  Thạch sùng đâu có thể không ăn mà sống lâu như vậy ? căn nhà này đã xây gần cả trăm năm . Ngồi nhâm nhi ly trà và nghĩ mãi không ra giải đáp ... bỗng nhiên anh nghe có tiếng gọi tạch tạch và ... kia một chú thạch sùng đang tha mồi chạy tới mớm cho bạn mình . À ra là như vậy, thì ra là vậy ... thì ra là vậy anh chàng nhảy cững lên vui mừng còn hơn trúng số độc đắc . Ôi tình nghĩa, ôi lòng kiên nhẫn, ôi chữ tâm .
Sau khi giải thoát cho con thạch sùng, ngày hôm sau anh điện thoại cho chủ cũ của căn nhà và hỏi về chiếc cửa, mới biết là đã bị hư và được sửa lại trên mười năm rồi . Ôi trên mười năm nuôi bạn ! ... Loài vật nào có thiếu tình huống chi con người ...
 
"Mười năm mớm mật mồi đơm
Mười năm gian khổ tình thơm ngát tình"
 
 

NHẪN VÀ TÂM
 
Phá cửa nguời ơi, phá cửa mau
Tìm sau gỗ mục khối tình sâu
Mười năm mớm mật ôi gian khổ
Một phút trời thương hoá nhiệm mầu
Nhẫn nọ liền tâm xây tháp báu
Tâm kia kề nhẫn luớt đau sầu
Thương đời quý trọng câu tình nghĩa
Góp truyện thành thơ nối nhịp cầu
 
 BAO THẠCH

Bài họa của Hương Lệ Oanh:

 
TÂM

 
Nhân duyên phá cửa sớm dời mau,
Cái nẹp chèn thân cũng chẳng sâu.
Nuôi bạn mười năm không quản ngại,
Mong cầu bạn sống phép muôn mầu.
Tâm lành nhẫn nại mau bồi đắp,
Khổ nạn lâm nguy lướt khỏi cầu.
Tình nghĩa từ muôn loài vạn vật,


Thơ văn chép lại những mong cầu.

HLO VA

 

 

Cơn Giận - Thạch Lam


Cơn Giận
 
 

Một buổi tối mùa đông, chúng tôi ngồi trước lò sưởi, trong một căn buồng ấm áp. Tự nhiên trong câu chuyện, một người nói đến những cơn giận tự nhiên đến tràn ngập cả tâm hồn ta và có khi gây nên nhiều cái kết quả không hay. Rồi mỗi người đều bày tỏ ý kiến riêng của mình.

Anh Thanh, từ nãy đến giờ vẫn lặng yên có vẻ trầm ngâm, cất tiếng nói:

- Sự giận dữ có thể sai khiến ta làm những việc nhỏ nhen không ai ngờ. Tôi biết hơn ai hết, vì chính tôi đã trải qua sự đó. Tôi sẽ kể các anh nghe một câu chuyện mà cái kỷ niệm còn in sâu trong trí nhớ tôi.

- Xe khổ thế này mà anh lại còn đòi cao giá.

- Xe thế mà thầy chê thì còn thế nào nữa!

Anh xe bướng bỉnh cũng không chịu kém. Tôi nói câu gì là anh ta đối lại liền. Sau cùng, giận quá, tôi dẫm mạnh chân xuống sàn xe, gắt:

- Thôi, câm họng đi, đừng lải nhải nữa.

Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá. Nhưng lúc bấy giờ tôi chỉ thấy tức người xe ấy đến cực điểm, vì hắn dám cãi lại tôi mà không sợ.

Xe đi khỏi nhà máy nước thì gặp một người đội xếp tây đi xe đạp lại, theo sau một người đội xếp ta. Tôi nhận thấy anh xe kéo tôi có ý luống cuống và sợ hãi. Có lẽ vì thế mà người cảnh sát để ý, đi giáp vào cái xe kéo để xem dấu hiệu.

- Ê! Đứng lại!

Người kéo xe dừng chân... Anh ta quay lại tôi hớt hải van xin:

- Lạy thầy... thầy nói giúp con... thầy làm ơn...

Dưới ánh đèn tôi thấy mặt anh xe tái mét. Những vết răn in sâu xuống trên mặt già nua hốc hác, chân tay người khốn nạn ấy run bật lên và tôi thấy cái rung động chuyển cả vào chiếc thân xe.

Người cảnh sát tây đến, nói bằng tiếng ta hơi sõi:

- Mày chết nhé! Mày sẽ bị phạt!

Người phu xe ấp úng nói thì ông ta khoát tay bảo im, rồi quay lại tôi hỏi, lần này bằng tiếng Pháp.

- Người này kéo ông từ trong phố ra hay ông đi khứ hồi?

Tôi liếc mắt nhìn anh kéo xe. Trong bóng tối của vành nón qua ngang mặt, tôi thấy hai mắt anh ta long lanh nhìn tôi, như khẩn cầu van xin yên lặng. Tôi biết lời nói của tôi sẽ làm anh ta bị bắt hay không.

Những khi nói chuyện với các phu xe khác, tôi được biết rằng nếu người khách nói là đi khứ hồi từ ngoại ô, thì người xe không việc gì. Nhưng lúc ấy, lời van xin của anh xe kia không làm cho tôi động lòng, mà lại làm cho tôi ghét anh thêm. Tôi trả lời người đội xếp:

- Tôi đi từ phố hàng Bún.

- Vậy phiền ông xuống xe.

Rồi anh ta nhìn anh phu xe, cười một cách tinh quái:

- Allez! Đi về bót!

Khi anh phu xe run sợ và hai người cảnh sát đã khuất đầu phố, tôi mới quay đi thong thả trên bờ hè. Cơn giận của tôi đã hết rồi. Sự hối hận dần thấm thía vào lòng tôi, tôi thấy một cái chán nản bực tức rung động trong người.

Tôi rùng mình nghĩ đến số phận của anh xe khốn nạn. Ba đồng bạc phạt! Anh ta phải vay cái xe để nộp phạt; nhưng ba đồng bạc nợ ấy, bao giờ anh ta trả xong, sau những ngày nhịn đói, bị cai xe hành hạ, đánh đập vì thù hằn?

Tôi càng nghĩ đến bao nhiêu lại càng khinh bỉ tôi bấy nhiêu. Qua ô Yên Phụ, nhìn thấy những thợ thuyền tấp nập làm việc dưới ánh đèn trong những căn nhà lá lụp xụp, tôi rảo bước đi mau, hình như trông thấy tôi họ sẽ biết cái hành vi khốn nạn và nhỏ nhen đáng bỉ của tôi ban nãy.

Những ngày hôm sau thực là những ngày khổ cho tôi. Lòng hối hận không để tôi yên. Hình như có một cái gì nặng nề đè nén trên ngực làm cho tôi khó thở, và lúc nào hình ảnh anh phu xe cũng hiển hiện ra trước mắt.

Tôi nhất định đem tiền đến cho người xe kia để chuộc tội lỗi của mình. Đến phố hàng Bột hỏi dò những người chung quanh xưởng xe, tôi biết được anh xe bị phạt đêm hôm ấy là tên Dư, và ở trong một dãy nhà quá ngã tư Khâm Thiên.

Lần ấy là lần đầu tôi bước vào một chỗ nghèo nàn, khổ sở như thế. Các anh thử tưởng tượng một dãy nhà lụp xụp và thấp lè tè, xiêu vẹo trên bờ một cái đầm mà nước đen và hôi hám tràn cả vào đến thềm nhà. Trong cái hang tối tăm bẩn thỉu ấy, sống một đời khốn nạn những người gầy gò, rách rưới như những người trong một cơn mê.

Người phu xe Dư ở trong ấy. Một bà cụ già gầy giơ xương ngồi cắn chấy ở vệ hè chỉ cho tôi một cái cửa thấp bé ở đầu nhà. Tôi cúi mình bước vào, chỉ thấy tối như bưng lấy mắt và thấy hơi ẩm lạnh thấm vào tận trong mình. Có tiếng người đàn bà khẽ hỏi:

- Bẩm thầy muốn gì?

Khi mắt đã quen tối, tôi nhận thấy người đàn bà vừa hỏi, một bà già ở mép một chiếc giường tre mục nát kê ở sát tường. Sau lưng bà này, một người đàn bà nữa ngồi ôm trong lòng một vật gì hơi động đậy. Cả hai cùng ngước mắt lên nhìn tôi một cách ngạc nhiên và đầu họ chạm vào mái nhà thấp, đầy những mảng giẻ rách nát vắt trên xà.

- Bác Dư có nhà không?

- Bẩm, chú nó đi về quê vắng từ hôm nọ.

Một vẻ sợ hãi thoáng qua trên mặt đủ tỏ cho tôi biết họ không nói thật, tôi giảng giải:

- Không, cụ cứ nói thật cho tôi biết. Tôi đến để giúp bác ta chứ không có ý gì khác.

Bà cụ nhìn tôi nghĩ ngợi một lát rồi nói:

- Thế thầy đã biết việc chú nó bị bắt xe hôm nọ?

Tôi gật đầu ra hiệu cho bà cụ cứ nói:

- Hôm ấy cai nó phải đem tiền lên nộp phạt để chuộc xe về. Chú nó đã xin khất với cai để rồi trả dần số tiền đó. Nhưng nó nhất định không nghe, bắt phải trả một nửa ngay. Khốn nạn, thì lấy đâu ra mà trả. Thế là bị nó lột quần áo đánh một trận thừa sống thiếu chết thầy ạ. Khi về đây lê đi không đuợc nữa. Thế mà nó còn bắt mai phải trả ngay.

Người đàn bà ngồi trong cất tiếng ốm yếu nói theo:

- Nó còn bảo hễ không trả nó sẽ bắt lấy thẻ.

- Thế bây giờ bác ta đâu?

Bà cụ trả lời:

- Đi ngay từ hôm ấy, mà không biết đi đâu. Đã ba hôm nay chúng tôi dò mà không thấy. Chắc là sợ cai không dám về nữa, dù có về mà không có tiền cũng chết với nó. Thật cũng là cái vạ, nghe đâu chú nó nói hôm ấy tại người khách đi xe không biết nói với người đội xếp thế nào mới bị bắt, chứ không cũng chẳng việc gì.

Tôi yên lặng, trong lòng náo nức.

Bà cụ chép miệng, chỉ người đàn bà ngồi sau:

- Tội cho vợ con chú đây, ốm đã mấy ngày hôm nay không có thuốc. Đứa cháu không biết có qua khỏi được không?

Tôi đứng lại gần xem. Trên cánh tay người mẹ, chỉ còn là một dúm thịt con đã nhăn nheo: đứa bé há hốc miệng thở ra, măt xám nhợt. Người mẹ thỉnh thỏang lấy cái lông gà dúng vào chén mật ong để bên cạnh, phết lên lưỡi của đứa bé.

- Cháu nó sài đã hơn một tháng nay. Hôm nọ đã đỡ. Mấy hôm nay vì không có tiền mua thuốc lại tăng. Ông lang bảo cháu khó qua khỏi được.

Người mẹ nói xong nấc lên một tiếng rồi nức nở khóc. Bà cụ già lê nhích lại gần, cúi xuống khe khẽ kéo lại những cái tã rách như xơ mướp.Cái cảnh đau thương ấy làm tôi rơm rướm nước mắt. Một cảm giác nghẹn ngào đưa lên chẹn lấy cổ. Tôi lấy tờ giấy bạc năm đồng đưa cho người mẹ, rồi vội vàng bước ra cửa, để mặc hai người nhìn theo ngờ vực.

Qua ngưỡng cửa, tôi va phải một người đàn ông ốm yếu tay cắp một cái áo quan con bằng gỗ mới. Đến bên đường, tôi nghe thấy trong căn nhà lụp xụp đưa ra tiếng khóc của hai người đàn bà. Đứa bé con đã chết.

Anh Thanh lặng yên một lát như nghĩ ngợi, rồi nói tiếp:

- Cái kỷ niệm buồn rầu ấy cứ theo đuổi tôi mãi mãi đến bây giờ, rõ rệt như các việc mới xảy ra hôm qua. Sự đó nhắc cho tôi nhớ rằng người ta có thể tàn ác một cách dễ dàng. Và mỗi lần tôi nghĩ đến anh phu xe ngoại ô kia, lại thấy đau đớn trong lòng, như có một vết thương chưa khỏi.

 

Thạch Lam

 

 

Chuyện Làng Văn Nghệ: Tù Không Án Bằng Một Cuộc KhángChiến Chống Pháp - Xuân Đài


Chuyện làng văn nghệ: Tù Không Án Bằng Một Cuộc Kháng Chiến Chống Pháp
 
 

Thống nhất đất nước ít lâu, tôi và Tuân Nguyễn vào Sài Gòn làm việc. Sau hơn 9 năm lao lý và gần 3 năm thất nghiệp làm những công việc không tên ở Hà Nội: dọn vệ sinh nhà ga, đánh vec-ni, dạy tiếng Pháp cho các em sinh viên con nhà nghèo. Chuyện dạy tiếng Pháp không suôn sẻ là do cơ chế lúc bấy giờ, tôi sẽ kể sau.
Ở Sài Gòn, may mắn Tuân Nguyễn gặp được học sinh cũ của mình thời anh dạy cấp 3 ở Đông Triều vào cuối thập niên 50 của thế kỷ trước. Sau hơn 15 năm các em học sinh miền Nam, bây giờ đã lớn tuổi, nhiều em đang giữ những chức vụ chủ chốt ở các ngành trong thành phố. Gặp lại thầy, biết những thăng trầm thầy đã trải qua, các em đều thương cảm. Chính nhờ các em mà Tuân được Sở Giáo dục Thành phố bổ nhiệm về dạy Văn ở một trường cấp 3 quận Bình Thạnh. Lúc đó tôi làm phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam, bộ phận ở Sài Gòn, hầu như chiều nào cũng ghé về Thanh Đa, nơi vợ chồng Tuân cư ngụ để trò chuyện. Tuân kể cho tôi nghe chuyện dạy học, nghề mà anh đã đứt đoạn từ lâu sau khi anh chuyển về Đài Tiếng nói Việt Nam công tác… Và từ nơi đây, Tuân Nguyễn vướng phải vòng lao lý. Chuyện dạy học kể ít, tôi chỉ nhớ Tuân rất khen học trò Sài Gòn ngoan, thật thà và rất nghe lời thầy. Không hiểu vì sao nhiều em biết khá rõ số phận bất hạnh của Tuân Nguyễn nên ba mẹ các em hay gửi quà biếu Tuân. Là người tự trọng, Tuân thường từ chối. Tuân nói với tôi nhiều lúc từ chối không được vì các em năn nỉ trong nước mắt… Chuyện tôi muốn nghe nhất là chuyện những ngày Tuân ở tù. Trong bút ký “Người bạn lính”, Phùng Quán đã viết rất hay, đưa được nhiều chi tiết Tuân đã kể. Tôi kể thêm nữa phỏng có ích gì, liệu có “vượt” được tiểu thuyết gia Phùng Quán không, chắc là không.

***
Tôi gặp Tuân Nguyễn ở nhà Phùng Quán, đúng hơn là nhà vợ Phùng Quán ở phố Hàng Cân – Hà Nội cuối năm 1960, Phùng Quán chỉ vào Tuân giới thiệu: Đây là Tuân Nguyễn, công tác bên Đài Phát thanh rồi lại chỉ vào tôi… Phùng Quán chưa kịp mở miệng, tôi vỗ vai Tuân: còn nhớ mình không? Tuân Nguyễn: quên thế nào được, cậu là thằng Xuân Đài, người Hà Tĩnh… Phùng Quán sửng sốt, thế ra các cậu quen nhau từ lâu à? Tôi cười: mình và Tuân cũng như mình với Quán: anh em bạn cũ lưu tồn, củ khoai chia bốn… Ba chúng tôi phá lên cười.
Vào một ngày cuối hạ đầu thập niên 50, thế kỷ XX, đơn vị của Tuân gồm những người lính bị thương, bệnh tật… gọi là đoàn 54 từ chiến trường Trị – Thiên – Huế kéo về đóng quân ở quê tôi, vùng quê đói nghèo nhất nhì tỉnh Hà Tĩnh. Nhà tôi chật chội nên chỉ có hai anh sĩ quan ở. Tuân Nguyễn và một vài chiến sĩ nữa ở nhà dì ruột và chú tôi (quê tôi không gọi bằng dượng). Thời Pháp thuộc, chú tôi là một ông đốc học. Thời kháng chiến chống Pháp, quê tôi là vùng tự do, chú tôi chuyển sang dạy học một trường cấp 2, dạy Văn. Nhà tôi cách nhà chú hơn cây số, đều nằm dọc sông Ngàn Phố, lâu lâu, tôi ghé lên nhà chú chơi, thường là gặp Tuân Nguyễn ngồi trò chuyện với ông giáo phố huyện. Hai người nói tiếng Việt thì ít mà nói tiếng Pháp thì nhiều. Tôi dốt tiếng Pháp nhưng hiểu lỏm bỏm nhưng nghe những từ như Victor Hugo, Balzac, Dostoievsky… Tôi hiểu hai người đang nói về các nhà văn nổi tiếng thế giới. Những lúc đó tôi thường ngồi trò chuyện với dì tôi và những đứa em. Thường chỉ một lúc sau, chú tôi gọi tôi đến ngồi cùng bàn để nói chuyện với hai người. Tôi nhớ lần đầu tiên chú giới thiệu về Tuân Nguyễn rất ngắn gọn: anh Tuân người Huế, trước lúc đi bộ đội, ở trung đoàn 101, anh đã đậu tú tài đôi, rồi quay sang giới thiệu về tôi cũng rất ngắn gọn: đây là Xuân Đài, cháu gọi nhà tôi bằng dì ruột, mẹ chết sớm nên cuộc sống trần ai lắm, được cái chăm chỉ học hành và rất thích văn học. Anh Tuân và Đài nói chuyện với nhau, chắc là chia sẻ được những đam mê văn chương.
Sau đó, mỗi lần ghé nhà chú, Tuân Nguyễn thường trò chuyện với tôi về văn học Việt Nam hiện đại, thời đó văn học kháng chiến chưa có nhiều tác phẩm, quanh đi quẩn lại là những ký sự mặt trận như Trận Phố Ràng của Trần Đăng, những bút ký, nhật ký của Nam Cao, tiểu thuyết Con trâu của Nguyễn Văn Bổng, trận Ưu Điềm và Thanh Hương của Nguyễn Khắc Thứ. Cho đến hôm nay, đã hơn nửa thế kỷ, tôi vẫn còn nhớ đôi mắt sáng sau cặp kính cận và cái miệng cười rất tươi của Tuân khi nói về hai truyện ngắn, một của Kim Lân, truyện Làng, một của Nam Cao, truyện Đôi mắt. Thời đó hai chuyện này in đâu trên Việt Bắc, tôi chưa được đọc. Tiểu thuyết hay, truyện ngắn hay, dù người kể có tài đến đâu cũng không lột tả hết các hay của truyện, nhất là hay trong văn, nhưng Tuân Nguyễn đã làm được điều ấy với tôi. Sau này ở Hà Nội tôi mới có dịp đọc hai truyện ngắn này. Tôi mới nhận ra trí nhớ của Tuân Nguyễn thật tuyệt vời. Kể lại truyện của tác giả khác, anh rất nhạy cảm khi nắm được cái thần của cốt truyện. Có lần tôi hỏi Tuân về tiểu thuyết của một tác giả Việt Nam đương đại khá nổi tiếng, Tuân cười: cốt truyện thì hay, chi tiết phong phú nhưng viết khô quá, không có văn, viết văn trước hết là phải có văn.
Trở lại chuyện Tuân Nguyễn đóng quân ở làng tôi. May mắn cho Tuân, nhà chú tôi rất nhiều sách, bên cạnh tiểu thuyết của Tự lực Văn đoàn, thơ của các nhà thơ mới, có rất nhiều tiểu thuyết bằng tiếng Pháp của các tác giả nổi tiếng. Tôi biết anh mê cụ Dos từ thời đó. Trước mặt Tuân, tôi là một đứa nhà quê, lần đầu tiên được nghe anh giảng giải về số phận các nhân vật trong các tác phẩm cận đại, cổ điển của văn học Phương Tây.
Những người ở đơn vị an dưỡng, sau một thời gian khỏe mạnh đều trở về đơn vị chiến đấu, họ phần lớn là lính của Trung đoàn 95 và 101. Một hôm Tuân Nguyễn xuống nhà tìm tôi, anh cho biết sắp ra trận. Trước lúc lên đường, anh đọc cho tôi nghe bài thơ anh viết về làng tôi. Bài thơ là tình quân dân sâu đậm, cho đến bây giờ tôi chỉ còn nhớ được hai câu: Hương Sơn ơi, thương quá, tôi đi. Không biết còn có ngày trở lại? Và cho đến khi nhắm mắt, Tuân vẫn không có dịp trở lại quê tôi. Những người già trong làng thường nhắc đến anh, thương mến, quý trọng… mỗi lần tôi về quê. Tuân ơi, bạn có biết điều này?
* * *
Biền biệt 9 năm 7 tháng, từ một vùng rừng núi heo hút nào đó, Tuân mới trở về Hà Hội.
Đó là cuối năm 1973. Tan tầm buổi chiều, tôi dắt xe đạp ra cổng cơ quan, nghe tiếng gọi từ bên kia đường vọng sang: “Đài ơi”. Tôi nhận ra Tuân ngay. Tôi không dám vồ vập với Tuân vì nhiều người trong cơ quan biết Tuân, kể ra như thế cũng hèn, nhưng biết làm sao được khi thế sự nhiễu nhương. Tôi đèo Tuân ra một quán cơm đầu ghế (bây giờ gọi là cơm bụi) để vừa ăn, vừa trò chuyện. Dù biết Tuân không uống rượu, tôi vẫn gọi hai chén “cuốc lùi” đầy nhóc. Tuân cho tôi biết, đã được tha 4 ngày, cách đây 2 ngày về đến Hà Nội, xuống ga Hàng Cỏ ngồi ngơ ngác một lúc ở phố Sinh Từ, nói chuyện với mấy em gái điếm. Chỉ một lúc sau các em đều nhận ra mình là thằng tù vừa được thả, họ tinh quái thật, cũng nhờ sự từng trải của họ mà mình được ăn bún chả, uống nước trà đặc không mất tiền. Một em còn mua cho mình gói thuốc lá, như cậu biết đấy mình không hút thuốc nên từ chối. Cô ấy vỗ vào đùi mình bảo: đã là thằng tù mà còn khách khí như con nhà lành, hay anh là dân thuốc lào? Cô ấy nói vọng vào với bà chủ quán: cho hai gói Tiên Lãng. Mình lắc đầu.
- “Không lá, không lào, thanh niên như anh bây giờ là của hiếm. Tối nay anh về đâu, có bà con ở Hà Nội không? Nghe giọng anh, em biết anh là người miền Trung. Hay tối nay anh về tá túc tạm với chúng em”. Cậu nhớ là chúng em nhé, chứ không phải em đâu. Tuân nhấn mạnh – chúng em có vòm dưới gầm cầu gần chợ Bắc Qua. Các cô ấy là người của đường phố, ngôn ngữ đường phố, bỡn cợt, đùa đùa thật thật, mình vẫn nhận ra cái thật của một tấm lòng.
- Hôm đó không về tá túc cùng các cô gái điếm, cậu về đâu?
- Tớ lếch thếch về nhà Tạ Vũ. Hai vợ chồng Tạ Vũ mừng lắm, vợ Tạ Vũ đi mua nửa con vịt quay, chắc là cô ấy phải đi vay tiền lối xóm, chứ liếc qua gia cảnh, mình biết Tạ Vũ vẫn nghèo như ngày xưa – đột nhiên Tuân Nguyễn hỏi tôi – Sao Hà Hội bây giờ lắm gái điếm vậy?
- Ngày cậu đi, Mỹ mới bắt đầu ném bom xuống Quảng Ninh, Thanh Hóa và Quảng Bình. Mỹ cũng chỉ là mới đánh thăm dò. Những năm sau thì chiến tranh phá hoại quyết liệt lắm, nhà máy, công trường, cầu cống, nhà cửa… tan hoang, kéo theo văn hóa xuống cấp. Chuyện đĩ điếm là điều nhức nhối của nhân dân, nhất là của trí thức. Nhưng mà thôi, việc đó bàn sau. Cậu đã lên Phùng Quán chưa? – Tớ còn ngại. Vì thương Phùng Quán, giữ gìn cho Phùng Quán nên mình chưa lên. Ngay cả với cậu nữa, tính đi tính lại, vì cậu đang làm phóng viên cho báo Đảng nên mình phải cân nhắc, không khéo mình lại là nguyên nhân cho nỗi bất hạnh kéo dài cho các cậu.
Tôi cười: Làm gì nghiêm trọng thế. Mọi người đối với Tuân vẫn như xưa, yêu thương và kính trọng một tài năng và một nhân cách đáng làm gương cho nhiều người. Cậu nên lên Quán ngay cho nó mừng, nó vẫn ở trên bà mẹ nuôi.
- Phùng Quán bây giờ làm gì?
Tôi cho Tuân Nguyễn biết Quán được về làm việc ở Bộ Văn hóa, một anh nhân viên nhì nhằng gì đó, Phùng Quán khoe, vừa được hưởng lương cán sự 1, năm mươi đồng lương chính. Phùng Quán vẫn viết văn chui và câu cá trộm như ngày xưa… “Y vẫn uống rượu chịu chứ?” ( lâu lắm tôi mới gặp lại chữ y mà Tuân thường dùng). Chân dung Phùng Quán vẫn không thoát ra 6 chữ “cá trộm, rượu chịu, văn chui”?
Chia tay tôi muốn biếu Tuân một ít tiền gọi là nhưng chưa tìm được cách đưa cho bạn vì tôi biết Tuân là người lịch sự chứ không quen cách sống bỗ bã như chúng tôi, ngày Phùng Quán sinh đứa con gái đầu lòng, mỗi tháng Tuân biếu Quán năm đồng đều bỏ tiền vào bì thư rồi mới dúi vào túi áo Phùng Quán nói rất nhanh và chuyển sang chuyện khác ngay, nên tôi giả vờ đi vào gian bếp quán ăn rút cái bì thư của cơ quan vẫn dùng để viết thư trả lời bạn đọc để vào đó mười lam đồng dúi vào túi áo trên của Tuân và nói dối: Đây là bài thơ tôi tặng cậu về đến nhà hẵng đọc. Lúc chia tay tôi hỏi Tuân về đâu. Tuân bảo: Bây giờ mình giống thằng Ga-vơ-rốt của cụ Hugo: ai hỏi ở đâu đến, trả lời: Ngoài đường. Ai hỏi bây giờ đi đâu, trả lời: Ra đường.
Tôi bùi ngùi nắm chặt tay Tuân, muốn khóc mà không còn nước mắt. Cay đắng ngập lòng.
***
Chúng tôi rất mừng là Tuân Nguyễn có chỗ tá túc ở ngõ Kiến Thiết, phố Khâm Thiên. Người cho Tuân ở nhờ với mình trong một chỗ che chắn tạm là anh Giang, công nhân, sống độc thân. Anh Giang chăm sóc Tuân Nguyễn chu đáo như chăm sóc một người bạn thân, như một người anh ruột, dù anh Giang quen Tuân là một sự tình cờ do nhà thơ Trần Hồng Thắng giới thiệu ở một quán cơm bình dân. Bạn bè Tuân, chạy xuôi chạy ngược kiếm việc cho Tuân làm. Họa sĩ Chu Hoành rủ Tuân đi làm nghề móc cống, việc mà Chu Hoạch vẫn làm. Bạn bè ái ngại cho sức khỏe của Tuân nên can ngăn. Bây giờ tôi chỉ còn nhớ người bạn thời sinh viên với Tuân bố trí cho Tuân một chỗ dạy tiếng Pháp. Học viên có vài em là sinh viên của 3 trường đại học. Mới dạy được vài ngày, công an, cán bộ tiểu khu (đơn vị hành chính ngang với Phường bây giờ) đến dẹp với lý do Nhà nứơc không cho phép dạy tư nhất lại là dạy tiếng Pháp, tiếng của bọn… thực dân. Tuân Nguyễn lại lang thang lếch thếch sống nhờ vào lòng ưu ái của bạn bè. Số người này khá đông. Số phận dun dủi, hay là sự sắp đặt của trời phật, Tuân Nguyễn gặp Phương Thúy, cô giáo dạy nhạc, con nhà văn Hoài Chân (cụ Hoài Chân em ruột cụ Hoài Thanh) Phương Thúy và Tuân Nguyễn lấy nhau không có đám cưới chỉ có một bài thơ đường, thất ngôn bát cú, Tuân làm thật xúc động, ngậm ngùi. Ít lâu sau nhờ bố mẹ, anh chị em trong gia đình, chút ít vốn liếng Phương Thúy dành dụm được, với ít nhiều “viện trợ không hoàn lại” của bè bạn, Thúy Tuân sang được một gian phòng nhỏ ở trong ngõ cụt đường Trần Hưng Đạo (xin các bạn đọc bài của Phùng Quán viết về Tuân sẽ hiểu về gian phòng này).
Phùng Quán gặp tôi báo tin mừng Tuân đã được nhà thơ Lương Vĩnh kéo đi phụ việc đánh véc-ni với anh. Mấy hôm sau gặp lại Tuân, Tuân cho biết nghề này cũng nhẹ nhàng và cũng kiếm đủ ăn nhưng hơi độc hại vì suốt ngày tiếp xúc với sơn, xăng, dầu hỏa… Tuân cho biết dạo này anh bị ho. Nói rồi Tuân ôm ngực ho khụ khụ. Bạn bè muốn để Tuân đi khám bệnh, khổ nổi, Tuân không phải là cán bộ, có hộ khẩu nhân dân nhưng chưa xin được y bạ, chẳng biết khám ở đâu là đúng tuyến. Chúng tôi, quen biết nhiều bác sĩ, không may, chẳng có ai là chuyên khoa lao. Tôi dặn Tuân Nguyễn hai hôm nữa đến gặp tôi, tôi sẽ có cách để Tuân Nguyễn được chiếu phổi. Đúng hẹn, Tuân đến. Ngày hôm sau, tôi lên gặp y sĩ ở phòng y tế cơ quan, khai bị ho cả tuần nay. Tôi ho liên tục cho y sĩ nghe. Lâu lâu đi qua, đi lại trước phòng y tế húng hắng ho. Tôi là dân thuốc lào nên “diễn kịch” ho không có gì khó. Sáng hôm sau, tôi nói với bà y sĩ cho tôi giấy đi chiếu phổi. Bà hỏi rất kỹ về quá trình phát bệnh của tôi. Nhờ có đọc sách y nên tôi biết ho lao là ho khan vào buổi chiều, không có đờm, cứ thế tôi “ba hoa” với y sĩ… Tôi đến gặp Tuân Nguyễn đưa y bạ của tôi kèm theo giấy giới thiệu, cười cười bảo với Tuân: ngực của cậu, giấy tờ mang tên tớ, cứ vậy mà chiếu phổi. Suy nghĩ một lúc, Tuân ngập ngừng, gian dối thế này nguy hiểm lắm, nhất là hệ lụy cho cậu. Tôi nói cứng, cậu đừng ngại vì y bạ không có ảnh, tuổi cậu tuổi tớ lại xấp xỉ nhau, chúng ta lại nói giọng miền Trung cả, tốt nhất là cậu hết sức bình tĩnh khi người ta hỏi về bệnh tình. Cầu trời phù hộ cho chúng ta, không bị lộ. Nếu lộ, tội vạ đâu tớ chịu. Đi tù là cùng chứ gì. Cậu ngồi tù được, chẳng lẽ tớ đây lại không! Tuân Nguyễn có vẻ xuôi tai, tôi đưa anh ra phố Quan Thánh là trạm chiếu phổi của y tế khu Ba Đình (thời bấy giờ khu tương đương với quận). Tôi ngồi tựa lưng vào gốc cây, đọc sách và chờ Tuân, chữ nghĩa không vào đầu tôi. Nói cứng với Tuân, thực ra tôi cũng rất run, sự thể xảy ra thế nào khó lường trước được. Đây là lần đầu tiên vì sức khỏe của bạn mà tôi làm điều dối trá… Hơn một tiếng đồng hồ sau, Tuân cầm kết quả ra (thời đó bệnh nhân không được giao phim chiếu phổi, mà chỉ giao kết quả viết trên giấy) mừng quá vì tất cả đều có chữ ras (bình thường). Tuân lên tàu điện về nhà, tôi trở về cơ quan làm việc.
Tôi nhờ một nghệ sĩ ở đoàn kịch trung ương xin cho 2 tấm vé mời xem kịch của Liên Xô đến biếu bà y sĩ, thay lời cảm ơn và đưa y bạ cho bà coi. Bà vui vẻ nhận giấy mời xem kịch. Xem xong y bạ, bà phán một câu: tôi đã nói mà, anh ho vì hút thuốc quá nhiều, lộn xộn cả thuốc lá lẫn thuốc lào, chứ ho lao ho liếc gì đâu.
Tôi nhớ trước lúc chia tay Tuân, tôi cẩn thận dặn không được nói chuyện chiếu phổi hôm nay với bất cứ ai, kể cả Phương Thúy…
Bà y sĩ, nay là bác sĩ đã nghỉ hưu, bà Khanh. Xin bà tha lỗi cho tôi về điều gian dối bất đắc dĩ này, nếu như bà có dịp đọc những dòng này.
***
Vào một ngày đầu thu năm Giáp Thìn (1964), Tuân Nguyễn cho bạn bè biết bị ai đó mở ngăn kéo bàn viết, khóa rất kỹ, lấy mất quyển nhật ký và một khâu vàng. Khâu vàng là gia tài lớn nhất của Tuân. Tuân bảo nhật ký mình ghi cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp, những chuyện riêng tư và một số nhận định của mình về thời cuộc của đất nước. Phùng Quán an ủi Tuân là thằng lưu manh nào đó, mục đích là lấy chỉ vàng, tiện thể tò mò cầm quyển nhật ký về đọc chơi. Đọc xong nó quẳng vào sọt rác thế là hết chuyện…
Tuân Nguyễn ngồi tư lự trước lời an ủi của Phùng Quán. Chúng tôi đều biết, Phùng Quán nói vậy là để trấn an Tuân thôi, thực lòng chúng tôi còn nghĩ theo một hướng khác, bất lợi cho sinh mạng chính trị của Tuân, nhưng không ai nỡ nói ra… Đầu tháng 11 năm ấy, Tuân gửi cho tôi một lá thư qua đường bưu điện dặn tôi đừng đọc bài thơ “Khóc thầy” của Tuân mới làm, và dặn tôi đọc xong thư này thì đốt đi không nên lưu giữ làm gì. Tôi đã làm theo nguyện vọng của Tuân. Cho đến bây giờ đã hơn 40 năm, tôi còn nhớ vài đoạn trong bài thơ ấy:
Một tiếng nói chúng tôi chờ đã mất
Tiếng nói của lương tâm
Đau đớn này đau đớn nào hơn
Chân lý không muốn nằm dưới đất

Chúng tôi sống bây giờ
Mỗi khuôn mặt đều có phần bí ẩn
Mỗi trái tim đều có phần im lặng
Mỗi niềm tin đều mất chút ngây thơ

Thầy bỗng nối như cánh buồm hi vọng
Như cầu vồng nối với chân trời xa
Tiếng của thầy là của người cộng sản
Chân lý rồi sẽ thắng mọi phong ba

Chúng tôi biết chưa phải là đã hết
Trên đau thương sẽ có triệu lời ca
Không thể có nhiều chim câu bị giết
Chân lý cuộc đời mãi mãi thuộc chúng ta

Chẳng khác gì thần Tăng Tan chuyện cũ
Nước rất gần mà cháy bỏng khô môi
Chúng tôi muốn sớm giã từ quá khứ
Nhưng tương lai thành mờ nhạt mất rồi.

Chúng con đi sau linh kiệu của thầy
Nhưng không phải đưa thầy ra nghĩa địa

Tôi lục lại trí nhớ già cỗi của mình chỉ nhớ được chừng đó, thực ra bài thơ này của Tuân Nguyễn còn mấy đoạn nữa.
Kẻ nào đã lấy cắp quyển nhật ký của Tuân, tên lưu manh chuyên nghiệp hay một kẻ nào đó vẫn nhận là bạn của Tuân? Không hiểu tại sao nhiều anh em hướng mũi dùi nghi vấn kẻ lấy cắp nhật ký là người đồng nghiệp, đồng hương với Tuân là Trần Nguyên Vấn. Tôi và Phùng Quán hiểu Vấn, anh là người có tư cách, thương Tuân thật lòng không bao giờ làm chuyện đó. Nhưng “hai cái mồm thơ không cãi lại cuộc đời”. Sau này chúng tôi nhiều lần hỏi Tuân việc mất nhật ký cậu có nghi cho ai không? Tuân liền gạt đi: việc đã lâu rồi, một mất mười ngờ, theo mình cho nó qua đi, nhiều đứa nói đến tai mình là nghi cho Vấn, mình không bao giờ tin Vấn làm chuyện đó, anh em bạn bè không hiểu Vấn bằng mình hiểu đâu. Tất cả những gì Vấn đã làm cho mình trong những ngày mình ở trong tù và sau khi ra tù đều xuất phát từ trái tim nhân ái…
Trần Nguyên Vấn rất đau khổ trước sự độc mồm của thiên hạ, thanh minh với ai, thanh minh để làm gì, ai tin. Dù vậy chúng tôi và cả Vấn nữa vẫn muốn biết sự thật. Người cho chúng tôi biết sự thật là hai nhà văn Phạm Tường Hạnh và Mai Văn Tạo (hai anh đều là đảng viên) cùng làm việc ở phòng văn nghệ Đài Phát thanh TNVN thời bấy giờ, người nộp quyển nhật ký của Tuân cho chi bộ phòng văn nghệ, sau đó phòng văn nghệ chuyển lên cho lãnh đạo… là Phan Trắc Hiệu.
Chúng tôi rất ngạc nhiên về sự thật trần trụi này. Nhưng cũng nghĩ, chắc lúc đó, Phan Trắc Hiệu đang sống rất bê bối, nhiều tai tiếng, chắc anh ta muốn lập công để tự cứu lấy mình, chứ cũng không lường hết hậu quả khốn khổ cho đời Tuân. Có người cho là cách nghĩ của chúng tôi về Hiệu quá nhân ái, không, chúng tôi là những người cầm bút trung thực, suy nghĩ trung thực… Hiệu có tự cứu được mình đâu, ít lâu sau anh vẫn bị “mời” ra khỏi Đảng vì cách sống tha hóa của mình.
Biết được việc này, lòng chúng tôi nhẹ đi, thư thái, vì giải tỏa được một “nghi án”. Và Trần Nguyên Vấn chắc cũng có tâm trạng như chúng tôi, đúng không anh?
Tuân Nguyễn đã qua đời hơn ba chục năm nhưng giọng nói nhỏ nhẹ của Tuân, nụ cười ưu ái với bạn bè và câu thơ anh làm sau khi ra tù “Cuộc đời vui quá không buồn được” luôn luôn ám ảnh tôi.
Trong giấc ngủ chập chờn, Tuân Nguyễn thỉnh thoảng về trò chuyện với tôi. Những lần như thế tôi cứ nghĩ, Tuân Nguyễn chưa bao giờ rời bỏ bạn bè.
Sáng nào tôi cũng thắp hương cho Tuân Nguyễn, Phùng Quán, Phùng Cung… những người bạn một thời lận đận. Cầu xin các anh phù hộ cho những người thân trong gia đình và bè bạn khỏe mạnh, ngày càng có cuộc sống tốt đẹp hơn…
Cứ ngẫm nghĩ, Tuân Nguyễn đi tù không án 9 năm 7 tháng bằng một cuộc kháng chiến chín năm mà anh tham gia với tư cách là anh bộ đội cụ Hồ không chỉ chiến đấu trong nước mà anh còn là tình nguyện quân chiến đấu ở Lào, lòng tôi buồn man mác.
Tại sao những người yêu nước lại phải vào tù một cách vô lối?

 

Xuân Đài


304Đen – Llttm - VV

Monday, October 15, 2018

Em Nhắc Làm Chi - Sơn Chà & Biết Tính Sao - Vhp Hải Vân


Em Nhắc Làm Chi 

 
 














Em nhắc làm chi đuổi bắt mây.
Làm sao bắt được? Hãy buông tay.
Để anh góp gió muôn phương lại,
Thổi sạch cho em nỗi đắng cay.

*
Em nhắc làm chi câu chuyện buồn,
Êm đềm Bến Ngự, ánh chiều buông.
Trăng lên soi bóng vờn trong nước,
Say đắm nhìn nhau, tim đập dồn.

*
Em nhắc làm chi một chuyến bay,
Tình yêu chớm nở, ngát hương say.
Éo le định mệnh: trò oan nghiệt,
Làm khổ lòng nhau, em có hay?

*
Em nhắc làm chi chợ Đông Ba,
Đêm khuya sương lạnh buốt làn da.
Cầm tay muốn nói, anh ngại nói,
Lỡ chuyến đò ngang, ta mất ta.

*
Em nhắc làm chi chuyện trăm năm,
Tim anh như cắt, dạ như dần.
Bến cũ ngày xưa, đò tách bến,
Quay ngược thời gian có được chăng?

*
Em nhắc làm chi chuyện dở dang,
Lòng anh tê tái, lệ tuôn tràn.
Dĩ vãng dần trôi theo dĩ vãng,
Lắng xuống lòng anh tiếng thở than.

*
Em nhắc làm chi chuyện khổ đau,
Cho hồn vương vấn mối tình đầu.
Cố quên em nhé, không quên được,
Kết lại không thành, em tính sao?

*
Em nhắc làm chi kỷ niệm xưa,
Thương em, thương lắm nói sao vừa.
Dạ không muốn nhắc, lòng thèm nhắc,
Nhắc suốt năm canh chẳng thấy thừa.

 

Sơn Chà

(9-21-2011)

 
Biết Tính Sao




 














"Cố quên em nhé, không quên được,
Kết lại không thành, em tính sao?" (1)

*
Tính làm sao! Em hỏi Trời cao,
Trời vốn vô thanh muôn vạn kiếp.
Bẽ bàng lẩn thẩn em tìm Đất,
Đất sâu thăm thẳm cũng làm thinh.
Hỏi Người, Người bảo: Ta nào biết.
Ta vốn vô năng với chữ Tình.
Quanh em tất cả đều quay mặt!
Biết hỏi ai đây lại hỏi mình.
Vẫn ủ trong tim sầu héo hắt,
Bụi tình Bến Ngự mắt còn cay,
Chuyến xe định mệnh còn quay quắt,
Gió lạnh sông Hương vẫn đọa đày!
Lạc nẽo đi vào thơ với mộng,
Thầm gởi đến ai một nỗi lòng.
Đó đây cách trở nào bao dặm?
Biết đến bao giờ thỏa nhớ mong!


Vhp.Hải Vân
(Sept. 24/2011)

 
Chú thích:
(1) Thơ Sơn Chà