Showing posts with label Tạp Ghi. Show all posts
Showing posts with label Tạp Ghi. Show all posts

Wednesday, July 22, 2026

Chữ Nghĩa Giết Người - Vũ Thế Thành

 

Chữ nghĩa Giết Người

Đầu đời Thanh, vào thế kỷ 17 có vụ án văn tự khét tiếng. Câu chuyện như sau:

Vũ Thế Thành

 


Trang Đình Long mua lại bản thảo lịch sử về  triều đại nhà Minh. Tác giả từng là quan dưới triều Minh. Khi Long mua bản thảo thì sách vẫn chưa hoàn thành, nên họ Trang thuê nhiều danh sĩ bổ túc thêm, cho đến vị vua cuối cùng nhà Minh. Khi hoàn thành thì Trang Đình Long mất. Gia đình tiếp tục cho khắc in và phát hành, như một chút lòng nhớ về triều đại Minh vừa tiêu vong.

Bộ Minh sử này viết từ cuối đời Minh, và bổ sung vào đầu đời Thanh nên “quen miệng”  sử dụng một số từ “tế nhị” như gọi người Mãn Châu là Kiến Di (rợ Kiến Châu), gọi tướng nhà Minh hàng Thanh là bọn phản nghịch. Viên quan huyện Ngô Chí Vinh bèn đem kẽ hở này tống tiền nhà họ Trang. Chuyện không thành, Ngô tố giác về kinh. Vụ án đến tai phụ chính Ngao Bái. Ông này hạ lệnh triệt hạ tận gốc để răn đe giới nho sĩ người Hán.

Hệ quả là gia đình họ Trang bị lăng trì, nhưng người liên quan đến viết bổ sung, hiệu đính, biên tập, thợ khắc chữ, người in ấn, phát hành,.. đều bị chém đầu. Tổng cộng hơn 70 người bị xử tử. Trong chương mở đầu của Lộc đỉnh ký, Kim Dung đã tái hiện lại thảm án văn tự này, gần khớp với lịch sử. Dĩ nhiên cũng có một chút hư cấu.

Còn ở ta có vụ án văn tự nào không? Có chứ. Đó là vụ án bắt nguồn từ bài thơ của Nguyễn Văn Thuyên, con trai đầu lòng của Nguyễn Văn Thành, là bậc khai quốc công thành thời Vua Gia Long.

Thuyên là nho sĩ, tính tình phóng khoáng, thích giao du với các danh sĩ. Thuyên nghe nói ở Thanh Hóa có hai sĩ phu nổi tiếng hay chữ, bèn làm bài thơ, nhờ  gửi cho hai danh sĩ này để kết giao. Bài thơ chưa tới tay người nhận thì đã lọt vào tay của kẻ hiềm thù với Nguyễn Văn Thành (khi đó đang là Tổng trấn Bắc thành). Thuyên bị bắt và bị xử chém. Nguyễn Văn Thành bị vua Gia Long đối xử lạnh nhạt, không cho vào chầu. Hiểu ý vua, Nguyễn Văn Thành tự vẫn.

Bài thơ của Thuyên viết gì lại vướng vào vụ án văn tự? Họa sát thân nằm ở hai câu thơ cuối:

 “Thử hồi nhược đắc sơn trung tế, Tá ngã kinh luân chuyển hóa ky”

(Lần này nếu gặp được tể tướng chốn núi rừng, sẽ giúp ta trổ tài kinh luân xoay chuyển cơ trời).

Chẳng ai lạ gì mấy ông thi sĩ đời xưa làm thơ là bốc mọi thứ lên trời, dời non lắp biển, xoay chuyển Trời đất là chuyện bình thường. Nhưng “quan xử án” đã suy diễn (chủ quan), đây là ý đồ mưu phản mới đòi xoay chuyển cơ Trời.

Số của bậc khai quốc công thần, Nguyễn Văn Thành phải chết trước vua. Bài thơ chỉ là nguyên nhân gần, còn nguyên nhân xa thì ai chịu đợc lịch sử cũng biết.

Đó là hai vụ án văn tự tạm gọi là tiêu biểu từ Tàu sang ta. Thế ở ta còn án văn tự nào nữa không? Còn nhiều lắm chứ.

Mà thôi không nói nữa. Chữ nghĩa nuôi người, cũng có thể giết người.

Vũ Thế Thành

304Đen – Llttm - sgtc

 

Wednesday, July 15, 2026

Một Chút Hương Vị Xưa - Vũ Thế Thành

 

Một chút hương vị xưa

Tôi vừa tìm được một nơi bán cà phê sữa đá có hương vị gần như cà phê Lá me ngày trước. Hơn nửa thế kỷ rồi, tôi mới được thưởng thức lại hương vị ấy. Thật không ngờ, giống đến hơn 90%.

Vũ Thế Thành

 


Cà phê Lá Me là quán vỉa hè, nằm ở góc đường Duy Tân và Nguyễn Văn Chiêm, cạnh sân quần vợt. Đường Duy Tân đã đổi tên thành Phạm Ngọc Thạch. Đường Nguyễn Văn Chiêm (Chim?), dài khoảng 100 mét, vẫn còn giữ tên. Chắc để tưởng nhớ danh thủ Chiêm, vô địch quần vợt thưở trước.

Quán vỉa hè này nằm ở vị trí lý tưởng để ngắm… gái. Quanh đó là các đại học: Dược Khoa, Nông Lâm Súc, Luật khoa, Kiến trúc, nhưng đáng kể là trường Văn khoa. Đó là chưa kể các em Trưng Vương cũng thường đi qua đường này, trên đường về học, hoặc ra hồ Con Rùa vơ vẩn.

Ngồi cà phê Lá Me mà ngắm mấy cô mà tha thướt áo dài, hay đạp xe mini thì… Con bà nó!  Hồn xiêu phách lạc. Hồi đó tôi thường trốn học giờ lý thuyết, vượt 3-4 cây số từ ĐHKH ra ngồi đồng ở cà phê Lá Me. Thật cũng không lãng phí một thời vừa “mộng với tay cao hơn Trời”, vừa lãng mạn.

Cà phê sữa đá ở đấy có hương vị tuyệt hảo, theo tôi, ngon nhất Sài Gòn lúc đấy. Tôi không biết chủ quán dùng cà phê loại gì, thêm thắt những gì, và pha chế thế nào. Chỉ biết là cà phê pha vợt. Sau này, cũng có nơi bán cà phê vợt ở con hẻm đường Võ Di Nguy (Phan Đình Phùng bây giờ), cách Cầu Kiệu khoảng 200 mét. Quán này nổi tiếng đã hơn hai mươi năm, nhưng hương vị cà phê chỉ cỡ 50% so với cà phê Lá Me.

Giá một ly cà phê sữa đá ở Lá Me khoảng 70 hay 80 đồng. Nếu vào cà phê Chiêu ở đường Cao Thắng, một ly cà phê phin, đèn mờ, nghe nhạc, khoảng 250 đồng. Lương của một chuẩn úy vừa tốt nghiệp khoảng 20.000 đồng (tôi nhớ mang máng như thế). Đi dạy kèm thì cà phê Lá me không phải là điều khó khăn, nhưng cà phê Chiêu chỉ là làm dáng với những bạn bè đi lính về phép

Quán cà phê có hương vị xưa tôi vừa tìm thấy nằm ở làng gốm Bàu Trúc, cách tp. Phan Rang khoảng hơn 10 cây số. Đây là làng nghề của dân tộc Chăm tồn tại cả gần 10 thế kỷ.

Khi tôi đến thăm làng gốm Bàu Trúc, một phụ nữ trạc U70 đang tạo hình một cái tô nhỏ từ khối đất sét đã trộn sẵn. Cách làm gốm ở đây có vài điểm khác biệt so với cách làm gốm ở Biên Hòa hay Bát Tràng mà ta thường thấy.

  • Không dùng bàn xoay để tạo hình (như cách làm thông thường), mà dùng tay để nặn, dùng dụng cụ như que, muỗng gỗ để đập, nặn và vuốt, nếu cần thì người thợ sẽ di chuyển quanh vật nặn. Những động tác tạo hình tuy trông đơn giản, nhưng cần đôi tay cực khéo, đẳng cấp nghệ nhân. Sau đó dùng vải cuộn để làm nhẵn.
  • Quan sát, tôi thấy màu sắc khác nhau đậm nhạt  tùy vùng trên cùng một sản phẩm do nhiệt độ nung không phân bố đều. Tôi hỏi, lò nung ở đâu. Không có. Thì ra nơi đây nung lộ thiên (không dùng lò). Nung lộ thiên nên nhiệt độ không cao, chắc chỉ khoảng 700 – 800 độ C, và phân bố nhiệt không đồng đều.

Sản phẩm là vật dụng đơn giản như tô chén dĩa vại, nồi. Đẳng cấp hơn thì là các tượng thần, bình hoa. Tất cả chỉ toàn là gốm mộc, không dùng men. Dấu vết làm nhẵn không đều trên bề mặt sản phẩm có thể quan sát được.

Nguyên liệu làm từ đất sét địa phương, trộn với cát mịn theo một bí quyết riêng. Các bí quyết trộn đất và tạo hình gốm của người Chăm chỉ truyền nghề cho phụ nữ trong nhà (có lẽ do người Chăm theo chế độ mẫu hệ). Còn đàn ông làm những chuyện nặng nhọc bên ngoài (khai thác đất sét, cát mịn, vận chuyển).

Một sản phẩm khá độc đáo được trưng bày ở khuôn viên Bàu Trúc, đó là Linga- Yoni. Văn hóa thờ ngẫu tượng Linga và Yoni được cho là phát xuất từ Ấn Độ giáo, truyền đến Phan Rang theo ngõ giao thương hàng hải.

Nếu với Ấn Độ, Linga- Yoni được xem là biểu tượng của sự kết hợp giữa nam và nữ. Đó là sự sáng tạo của vũ trụ, sự sinh thành và tái tạo muôn loài.

Sang tới đất Chăm, biểu tượng này được bản địa hóa, Linga -Yoni tượng trưng cho sự sinh sôi và phát triển, không chỉ với con người mà còn là mùa màng, sung túc. Văn hóa Chăm còn xem Linga -Yoni là biểu hiện của vương quyền và sự bảo hộ của thần linh. Vài tài liệu cho biết, một số tượng Linga (sinh thực khí Nam) còn được chạm mặt vua. Chạm khắc trên Linga thiệt sao? Nghe sởn da gà!

Một vài dân tộc thiểu số  ở cao nguyên Trung phần cũng tôn thờ biểu tượng Linga-Yoni. Không rõ đó là ảnh hưởng từ văn hóa Chăm hay chỉ là biểu tượng phồn thực vốn đã có trong tín ngưỡng bản địa của người Thượng.

Trở lại với hương vị cà phê sữa nơi Bàu Trúc. Gọi là quán cho sang chứ thật ra chỉ là một xe giải khát, nằm ké trong khuôn viên làng nghề, đậu sát cổng ra vào, phía sau là tượng Linga-Yoni bằng gốm.

Hương vị cà phê sữa đá nơi đây làm tôi bất ngờ. Bao nhiêu ký ức quay về. Không nén khỏi tò mò, tôi hỏi cô chủ quán pha chế cà phê thế nào. Cô vô tư nói hết bí quyết, ngoài cà phê còn trộn thêm thứ này, thứ nọ. Nói xong, cô cười cười – Chết rồi, cháu nói hết bí mật nghề nghiệp rồi. Khi viết những dòng chữ này, Tôi cũng đành giả vờ quên sạch “know-how” của cô chủ. Chỉ có thể tiết lộ, không phải cà phê pha vợt, mà là pha trong phin khá to rồi chiết ra xài dần.

Phan Rang là nơi tôi đã từ nghỉ đêm vài ba lần trên đường trở về từ Huế hay Đà Nẵng. Phan Rang hồi đó còn nghèo lắm, kiếm chỗ qua đêm cũng khó. Bây giờ Phan Rang là địa điểm du lịch vùng biển, nhưng du khách không nhiều. Phan Rang chưa bị du lịch dày vò, nên người dân nơi đây mộc mạc, chất phác như cô chủ quán.

Nghỉ chân ở Bàu Trúc, thưởng thức hương vị cà phê năm xưa, nhâm nhi chút ký ức, tưởng chừng như mới đâu đây, vừa gần vừa xa. Tôi thấy như mình như trẻ lại. Tôi mua thêm 1 ly cà phê đem lên xe, uống từng ngụm nhỏ, vừa quên đi đường về còn xa, vừa chìm trong hương vị thật gần. Thật đáng giá biết bao, chút hương vị dĩ vãng bỗng trỗi dậy ở tuổi xế chiều này.

Giá ly cà phê sữa đá ở Bàu Trúc, uống tại chỗ hay “take-away” cũng chỉ 15.000 đồng. Nếu quy sang giá trị so với cà phê Lá Me hồi đó thì chỉ 50 đồng (Lá me 70 đồng).

Quán cà phê Lá Me không có bảng hiệu — quán vỉa hè mà. Tôi cũng chẳng hiểu vì sao đám sinh viên ngày ấy lại gọi là cà phê Lá Me, dù quanh đó chẳng thấy cây me nào. Quán ở Bàu Trúc cũng vô danh. Ngay phía sau xe giải khát là một tượng Linga – Yoni bằng gốm. Thôi thì tôi tạm gọi là… cà phê Linga. Không biết gọi vậy có mạo phạm thần thánh không?

Vũ Thế Thành

sgtc

 

 

Wednesday, July 8, 2026

Chất Hóm Hỉnh Trong Ca Dao Tính Yêu Nam Bộ - Đoàn Thị Thu Vân

 

CHẤT HÓM HỈNH TRONG CA DAO TÌNH YÊU NAM BỘ





Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị và ngộ nghĩnh gây nên những bất ngờ thú vị là chất hóm hỉnh thường thấy trong ca dao tình yêu Nam bộ. Đó cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây.

Trước hết là chất hóm hỉnh không cố tình, không dụng công, toát ra một cách tự nhiên qua những từ ngữ mộc mạc; không hề trau chuốt chân thật đến độ người nghe phải bật cười. Một anh chàng quá đỗi si tình đã trở thành ‘liều mạng’:

‘Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết thì chịu chết, buông nàng anh không buông

Một cô nàng thật thà cả tin đã giật mình ‘hú vía’ vì kịp thời nhận ra ‘chân tướng’ đối tượng:

‘May không chút nữa em lầm
Khoai lang khô xắt lát em tưởng cao ly sâm bên Tàu’

Có những nỗi niềm tương tư ấp ủ trong lòng, nhưng cũng có khi người ta không ngại ngần thổ lộ trực tiếp với bạn tình:

‘Tôi xa mình hổng chết cũng đau
Thuốc bạc trăm không mạnh, mặt nhìn nhau mạnh liền’

Họ là những người lao động chân chất, nên cũng bày tỏ tình cảm với nhau bằng thứ khẩu ngữ thường ngày không chưng diện, màu mè, tuy vậy, cái tình trong đó cũng mãnh liệt và sâu sắc.

Đây là lời tâm sự của một anh chàng đêm hôm khuya khoắt lặn lội đi thăm người yêu:

‘Thương em nên mới đi đêm
Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau
May đất mềm nên mới hổng đau
Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này’

Chàng thật thà chất phác, nhưng mà cũng có chút ranh ma đấy chứ? Chất hóm hỉnh đã toát ra từ cái ‘thật thà tội nghiệp’.

Nhưng phần lớn vẫn là sự hóm hỉnh mang tính chất đùa nghịch. Một chàng trai đã phóng đại nỗi nhớ người yêu của mình bằng cách so sánh ví von trào lộng:

‘Vắng cơm ba bữa còn no
Vắng em một bữa giở giò không lên’

Nỗi vấn vương tơ tưởng đi vào tận giấc ngủ khiến chàng trở nên lú lẫn một cách buồn cười:

‘Phòng loan trải chiếu rộng thình
Anh lăn qua đụng cái gối, tưởng bạn mình, em ơi!’

Nhưng cái độc đáo là ở đây nỗi niềm đó lại được bộc lộ một cách hài hước:

‘Tôi xa mình ông trời nắng tôi nói mưa
Canh ba tôi nói sáng, giữa trưa tôi nói chiều’

Có một chút phóng đại làm cho lời nói nghe hơi khó tin! Nhưng hề gì. Chàng nói không phải cốt để đối tượng tin những điều đó là sự thật mà chỉ cốt cho nàng thấu hiểu tấm tình si của mình. Nàng bật cười cũng được, phê rằng ‘xạo’ cũng được, miễn sao hiểu rằng mình đã phải ngoa ngôn lên đến thế để mong người ta rõ được lòng mình.

Lại có một chàng trai đang thời kỳ tiếp cận đối tượng, muốn khen cô nàng xinh đẹp, dễ thương mà khó mở lời trực tiếp. Để tránh đột ngột, sỗ sàng, chàng đã nghĩ ra một con đường vòng hiếm có:

‘Trời xanh bông trắng nhụy huỳnh
Đội ơn bà ngoại đẻ má, má đẻ mình dễ thương’

Mục đích cuối cùng chỉ đơn giản là khen ‘mình dễ thương’ mà chàng đã vòng qua năm non bảy núi. Bắt đầu từ thế giới tự nhiên – trong thế giới tự nhiên lại bắt đầu từ ông trời – tạo hóa sinh ra những loại cây, hoa đẹp đẽ – rồi mới bước qua thế giới của loài người – trong thế giới loài người lại từ hiện tại ngược dòng lịch sử để bắt đầu từ tổ tiên ông bà, tới thế hệ cha mẹ, rồi tới nhân vật chính – ‘mình’. Thật là nhiêu khê, vòng vo tam quốc làm cho đối tượng hoàn toàn bất ngờ. Những lời ngộ nghĩnh kia dẫn dắt tới sự hiếu kỳ háo hức muốn biết ‘chuyện gì đây’, cho đến khi cái kết cục thình lình xuất hiện làm cho cô nàng không kịp chống đỡ… Nhưng mà nó thật êm ái, thật có duyên biết bao, nên dù phải đỏ mặt, cô hẳn cũng vui lòng và không thể buông lời trách móc anh chàng khéo nịnh!

Ngược lại, cũng có những lời tỏ tình khá táo bạo, sỗ sàng, nhưng hình ảnh thì lại hết sức ngộ nghĩnh, dí dỏm:

‘Con ếch ngồi dựa gốc bưng
Nó kêu cái ‘quệt’, biểu ưng cho rồi’

Những người nghe câu ‘xúi bẩy’ này không thể không bật cười, còn đối tượng xúi bẩy cùng lắm cũng có thể tặng cho người xúi có phần trơ tráo kia một cái nguýt dài.

Những câu ca dao hóm hỉnh không chỉ bật lên từ tâm trạng đang vui, tràn đầy hy vọng, có khi ‘rầu thúi ruột’ mà họ vẫn đùa. Những trắc trở trong tình yêu nhiều lúc được trào lộng hóa để ẩn giấu nỗi niềm của người trong cuộc:

‘Thác ba năm thịt đã thành bùn
Đầu thai con chim nhạn đậu nhánh tùng chờ em’

Quả là ‘khối tình thác xuống tuyền đài chưa tan’, nên chàng lại quyết tâm chờ tiếp ở kiếp sau cho đến khi nào nên duyên nên nợ. Kiên nhẫn đến thế là cùng!

Khi chàng trai cố gắng đến hết cách vẫn không cưới được người mình yêu, không biết trút giận vào đâu, bèn đổ lỗi cho một nhân vật tưởng tượng:

‘Quất ông tơ cái trót
Ổng nhảy tót lên ngọn cây bần
Biểu ông se mối chỉ năm bảy lần, ổng hổng se’

Thái độ quyết liệt trong tình yêu lắm lúc được thể hiện đầy ấn tượng. Anh chàng hay cô nàng trong câu ca dao dưới đây đã xem cái chết nhẹ như lông hồng. Thà chết còn hơn là lẻ bạn!

‘Chẳng thà lăn xuống giếng cái ‘chũm’
Chết ngủm rồi đời
Sống chi đây chịu chữ mồ côi
Loan xa phượng cách biết đứng ngồi với ai?’

Có chàng trai thì quyết tâm đem tuổi thanh xuân gửi vào cửa Phật:

‘Nếu mà không lấy đặng em
Anh về đóng cửa cài rèm đi tu’

Chàng vừa muốn tỏ lòng mình vừa muốn thử lòng người yêu. Và cô nàng cũng tỏ ra quyết tâm không kém. Chàng đi đến đâu nàng theo đến đó để thách thức cùng số phận:

Tu đâu cho em tu cùng
May ra thành Phật thờ chung một chùa’

Bằng câu đùa dí dỏm của mình, cô nàng đã làm nhẹ hẳn tầm nghiêm trọng của vấn đề trong tư tưởng anh chàng và cũng hóa giải tâm tư lo âu, phiền muộn của chàng – ‘Có gì đáng bi quan đến thế? Cái chính là em vẫn giữ vững lập trường’ – đồng thời cũng hàm thêm chút chế giễu – ‘Mà có chắc là tu được không đấy?’.

Khi yêu, nhiều cô gái cũng mạnh dạn bày tỏ tình cảm của mình không kém các chàng trai.

‘Phải chi cắt ruột đừng đau
Để em cắt ruột em trao anh mang về’

Không tiếc cả thân thể, sinh mạng của mình, nhưng cô gái chỉ… sợ đau, thật là một cái sợ đầy nữ tính rất đáng yêu. Hay khi chàng trai muốn liều mình chứng tỏ tình yêu, nhưng cũng lại ‘nhát gan’ đến bật cười:

‘Gá duyên chẳng đặng hội này
Tôi chèo ghe ra sông cái, nước lớn đầy… tôi chèo vô’

Tinh nghịch, hóm hỉnh những lúc đùa vui và cả những khi thất vọng, đó là vũ khí tinh thần của người lao động để chống chọi những khắc nghiệt của hoàn cảnh. Những chàng trai, cô gái đất phương Nam đã lưu lại trong lời ca câu hát cả tâm hồn yêu đời, ham sống, hồn nhiên của họ trên con đường khai mở vùng đất mới của quê hương tiếp nối qua bao thế hệ – Đó là tinh thần phóng khoáng, linh hoạt, dày dạn ứng biến của những con người ‘Ra đi gặp vịt cũng lùa; Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu’…

TS. Đoàn Thị Thu Vân

(Tạp chí Tài Hoa Trẻ)

304Đen – llttm - OVV

 

 

"Tiên Học Lễ Hậu Học Văn" Từ Đâu Ra? - Lê Vĩnh Húy

 

“Tiên học lễ hậu học văn” từ đâu ra?

Nói luôn, câu Hán-Việt này không phải của Tàu, càng không dính dáng Khổng Khâu. Chủ trương của Khâu là đề cao chữ Lễ, coi đó là một mỹ đức. Lễ đây là phép tắc lễ nghi, nó giúp con người ta hành xử cho ra bộ dạng con người.

Lê Vĩnh Húy



XUẤT XỨ

Khâu phát biểu: “[Người] không học Lễ sẽ không có cửa lập thân”[1]. Quan niệm này chẳng những thời nay nghe khó lọt tai, mà ngay thời Xuân Thu bên Tàu (771-476 trCn) cũng hổng mấy ai để ý. Ai đời đang buổi liệt quốc phân tranh, kiếm tuốt cung giương; vậy mà lại có đứa chủ trương trước lấy lễ nghi để đãi người, sau dùng lý lẽ để thuyết phục người.

Khâu không thức thời, bởi vậy phải ôm mối hận bất đắc chí cả đời. Vậy cũng xong một kiếp, thôi kệ Khâu đi.

Nhưng bọn đời sau không kệ, lại lôi chữ Lễ của Khâu ra để tân trang theo ý mình. Vậy là Nho giáo ra đời. Hải ngoại chư quân tử lưu ý cho: Tư tưởng của Khổng khác Nho giáo, là cái đời sau thêm mắm giặm muối; lại càng khác mớ “học thuyết” mà Trung quốc hiện rao giảng trong các Học viện Khổng tử. Một đằng hoài bão giáo hóa nhân quần, còn một đằng mưu toan nhồi sọ ngu dân.

Và toàn bộ những thứ đó lộn tùng phèo như nồi cháo heo, mạnh ai thích gì thì thò đũa gắp nấy. Nhưng đó là chuyện khác, không nằm trong bài này.

Xin trở lại chủ đề.

ĐỐM LỬA VỤT TÀN

Chủ trương trọng Lễ thật ra không phải do Khổng Khâu khởi xướng, mà trước đó đã từng có người đề cập. Như Quản Di Ngô sinh trước Khâu hai trăm năm. Ông này không chỉ đề xướng mà còn thực thi khi va làm Tể tướng nước Tề. Đó là trước hết phải dạy con em biết lễ nghĩa liêm sỉ, sau đó mới dạy văn tự và võ nghệ.

Nhưng trong đống kinh sách cổ của Trung Hoa, tuyệt không có câu “Tiên học lễ hậu học văn”. Đây là một khẩu hiệu “thuần Việt”. Gốc gác câu này là ở miền Nam Việt Nam, vào thời Đệ Nhất Cộng Hòa.

Đó là sau khi Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa chính thức nêu “Những nguyên tắc căn bản” của ngành giáo dục (Nhân bản, Dân tộc, và Khai phóng) vào năm 1958. Có nhà giáo hoặc nhà báo nào đó đã đặt ra câu “Tiên học lễ hậu học văn” làm khẩu hiệu. Không biết cụ thể ai đặt câu này, nhưng có thể khẳng định nó xuất hiện trước nhất ở miền Nam, kể từ sau 1958[2].

Câu này nghe cũng hay hay, thường được trưng trong khuôn viên các trường công lập, mãi tới cuối thời Đệ Nhị Cộng Hòa vẫn còn. Nhưng sau 1975 thì toàn bộ bị đục bỏ, nhà trường ở miền Nam giai đoạn này được trang trí bằng các khẩu hiệu “Trăm năm trồng người”, “Năm điều bác dạy”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh quang vinh muôn năm!”

Không biết cảm giác của các học sinh miền Bắc hồi này thế nào, còn đối với tụi trẻ em miền Nam, đó là những khẩu hiệu hơi lạ. Phải tung hô, không cần hiểu.

ĐUA NỞ TÈ LE

Phải đến sau thời kỳ gọi là “mở cửa”, nhất là sau khi nhà nước Việt Nam được chính phủ Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận, con dân toàn cõi Việt Nam mới trở lại xúng xính phú quý sinh lễ nghĩa. Thầy giáo bắt đầu bỏ dép râu, tập đi dép sa-pô; các cô giáo – nhất là các cô giáo ngoài Bắc vô – mới bỏ áo dài tay, quần vải ú đen thui để diện áo dài yểu điệu; học sinh miền Nam cũng được ăn ké, mặc lại đồng phục, nam sinh mặc sơ-mi trắng quần xanh, nữ sinh thì áo dài trắng.

Và ngộ chưa, trong trường lớp, giờ đây khẩu hiệu “Tiên học lễ hậu học văn” bỗng được phục hồi, sánh vai cùng các khẩu hiệu sấm vang trống dội khác trên khắp ba miền đất nước.

KẾT LUẬN

Thời đại ôn dịch mà bàn chuyện giữ hay bỏ khẩu hiệu “Tiên học lễ hậu học văn” chỉ là trò của tụi xí mứng. Vả lại đó chẳng qua chỉ là đề xuất của hiệu trưởng một đại học cà na, không phải chủ trương của Bộ Giáo Dục, càng không phải đường lối của đảng.

Rặn ra hoặc lượm mót một khẩu hiệu là chuyện dễ, còn bỏ nó lại thành chuyện khó. Bỏ khẩu hiệu này sẽ tạo tiền lệ để bọn điêu dân hô hào bỏ thêm khẩu hiệu khác.

[1] Luận ngữ: Bất học Lễ, vô dĩ lập (不學禮, 無以立).

[2] Trước khi miền Bắc có câu khẩu hiệu “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm cấy người” (1959).

Lê Vĩnh Húy

 

 

Friday, June 26, 2026

Còn Ai Nhớ Đường Võ Tánh Của Sài Gòn Ngày xưa - Nguyễn Gia Việt

 

Còn ai nhớ đường Võ Tánh của Sài Gòn xưa?

Sài Gòn có ngã sáu Phù Đổng vì giữa bùng binh có tượng Thánh Dóng cỡi ngựa cầm cây tre. Người Sài Gòn còn kêu là ngã sáu Sài Gòn hay ngã sáu Gia Long.

Nguyễn Gia Việt

 


Ngã Sáu Phù Đổng

Đây là ngã sáu tụ hội vua và danh tướng của nhà Nguyễn: Gia Long (Lý Tự Trọng), Võ Tánh (Nguyễn Trãi) ,Lê Văn Duyệt (CMT8) ,Ngô Tùng Châu (Lê Thị Riêng) và Phạm Hồng Thái ,Phan Văn Hùm (Nguyễn Thị Nghĩa).

Sử gia VNCH đặt tên đường rất ý nghĩa,có hai con đường của hai danh nhân người Gò Công gần như song song nhau ở trung tâm, đó là đường Ngô Tùng Châu (Lê Thị Riêng) và Võ Tánh (Nguyễn Trãi).

Ngã sáu Phù Đổng có tượng Phù Đổng Thiên Vương Thánh Dóng, được dựng vào năm 1966 thời Nguyễn Cao Kỳ nhưng cái đường Phù Đổng Thiên Vương thì lọt tuốt xuống bên hông Đại Học Y Khoa Sài Gòn mé quận 5 thể hiện sự vô duyên vô dùng, đoản hậu của ông Nguyễn Cao Kỳ.

Tướng Võ Tánh xưa là chủ quân của đạo quân “Khổng Tước nguyên võ” ở Gò Công, ông Ngô Tùng Châu làm Tham mưu (quân sư).

Ngô Tùng Châu sanh ở Bình Định nhưng 12 tuổi theo cha vào Gò Công sống ở xóm Thủ, lấy em gái của Võ Tánh là Võ Thị Lội tại Gò Tre ,tham gia cuộc khởi binh của Võ Tánh tại Gò Tre. Hai ông này mất cùng một ngày tại thành Qui Nhơn Bình Định, đó là năm năm 1801 với cuộc bao vây thành Qui Nhơn của Trần Quang Diệu 2 năm trời,quân Nguyễn không giải cứu được, cuối cùng Tây Sơn bức tướng Võ Tánh tự thiêu mà chết,  thì ông “quân sư” Ngô Tùng Châu cũng uống thuốc độc quyên sanh theo Võ Tánh.

Trong lịch sử nhà Nguyễn vai trò tướng Võ Tánh vô cùng quan trọng,đó là đại diện quyền lực Miền Nam ủng hộ chúa Nguyễn Ánh.Không có thế lực này vua Gia Long không thể trung hưng nhà Nguyễn.  Vua Gia Long truy tặng Võ Tánh là Dực vận công thần Thái úy Quốc công. Vua Minh Mạng truy phong ông là Hoài Quốc Công. Bảo Đại năm thứ 18 (1943), phong cho Võ Tánh là “Trác Vĩ Dực Bảo Trung Hưng Thượng Đẳng Thần”. Người đời sau ca ngợi tướng Võ Tánh là “Quận Trung tiết anh hùng”.

Sau 1975 đường Võ Tánh ở Nam Kỳ bị xóa sạch sẽ.Ngày nay chỉ còn Mỹ Tho là còn đường Võ Tánh.

Chừng khoảng 23h 30 đêm 26/11/1978, nghệ sĩ Thanh Nga bị sát hại trên xe hơi ngay trước cửa nhà mình trên đường Ngô Tùng Châu ở thành phố lúc này mang tên là HCM.

Đường Võ Tánh từ ngã sáu Gia Long chạy dọc trổ dài xuống đi ngang nhà thờ Huyện Sĩ

Ngôi nhà thờ này đã được ông Huyện Sĩ hiến đất và xuất 1/7 gia sản để xây dựng khoảng trên 30 ngàn đồng bạc. Nhà thờ được khởi công xây dựng năm 1902 đến năm 1905 thì nhà thờ được khánh thành. Dân gian gọi là nhà thờ Huyện Sĩ nhưng nó là nhà thờ Chợ Đũi và còn được gọi là nhà thờ Thánh Philípphê.

Đường Võ Tánh chạy xuống cặp mé thành Ô Ma. Cuốn “Đò dọc” của Bình-nguyên Lộc chép rằng:

“Nhà ông Nam Thành ở trong ngõ hẻm ba mươi căn đường Vỏ Tánh, ngang hông thành Ô Ma. Ông ở căn bìa hết và chuyên bán rương và va li da cho quân nhân Pháp”.

Khu đất thành Ô Ma là khu đất của đền Hiển Trung mà vua Gia Long thờ các bậc đại thần trung quân ái quốc tử trận vì sự nghiệp trung hưng nhà Nguyễn trong đó có tướng Võ Tánh.

Sử chép đền Hiển Trung thờ cả thảy 1015 vị mà bàn thờ chánh ở giữa thờ ba vị: Võ Tánh, Ngô Tùng Châu và Nguyễn Tấn Huyên.

Trong sự kiện Ngô Tùng Châu uống độc dược, Võ Tánh tự thiêu ở Qui Nhơn, quan Thống Binh Nguyễn Tấn Huyên ở ngoài cũng chạy vào nhảy vào lửa tự thiêu theo.

Có lẽ vì vậy con đường bên hông hành Ô Ma Rue Frère Louis được đặt tên là Võ Tánh

Pháp qua khu đất thành “Camp aux Mares” và rồi dân Nam Kỳ kêu thành “thành Ô Ma”

“Đàng Ô Ma hai đứa ta nói chuyện

Lúc giã từ còn quyến nhau hoài

Về nhà anh cậy mối mai

Mẹ cha em khó hỏi hoài không xong”

Sau 1954 thành Ô Ma trở thành Tổng Nha Cảnh Sát, rồi là Bộ Tư lệnh Cảnh Sát Quốc Gia VNCH và nay là “Bộ CA 2” đầy quyền lực.

Lịch sử Miền Nam đầy oai hùng mà nhắm con cháu trẻ trẻ chắc gì đã biết vì sau 1975 đường Võ Tánh bị xóa tên. Khi “uốn nắn” Miền Nam, xóa tên đường, sửa sách sử là một cách cai trị. Con cháu nó khỏi nhớ gì tới ông bà nó.

Hãy nhìn cách Việt Nam Cộng Hòa đặt tên đường sẽ thấy rõ là sự trung dung ghi nhận đó ,có đường Gia Long và có đường Nguyễn Huệ ,có Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu thì cũng có Võ Tánh, Lê Văn Duyệt,Võ Di Nguy,Trương Tấn Bửu.

Những đô thị của Miền Nam ta xưa đều có dính líu với những ông tướng, ông quan của phe chúa Nguyễn Ánh. Cái công khai ấp định làng, giữ gìn, trị an và phát triển thì có tên đường là đương nhiên. Con đường hàng ngày thân quen đã hằn ghi vào tâm trí bao thế hệ người Sài Gòn

“Đường chẳng riêng hai chúng mình

Nên khi vắng anh đường đã thay tên, còn chăng kỷ niệm

lạnh đầy theo tiếng bước ưu tư đi tìm”

Thôi kệ! tên đường thôi mà,xóa rồi đặt mấy hồ.

Nhưng các bạn trẻ Miền Nam hay dữ lắm,họ tìm cách tiếp cận sự thực lịch sử Miền Nam vì bản thân họ không muốn là tội đồ kiểu mả cha không khóc mà đi khóc đống gì đó

Chúng ta là trí thức thì nhìn sử, đọc sử cũng đòi hỏi một mức độ văn minh nhứt định đối với những nhân vật lịch sử. Những nhân vật lịch sử dù ghét hay thích,đều phải được đối xử ở mức độ lịch sự, có văn hóa, đó cũng là tôn trọng người khác và tôn trọng chính người viết.

Bình luận về nhân vật lịch sử phải thông đạt chánh trị nhân tình, công bằng, nhìn sự thực.

Và luôn biết đặt con người vào trong hoàn cảnh cá nhân cụ thể cùng với những mối tương tác nhân quả trùng trùng duyên khởi của các sự kiện chi phối bên ngoài, từ đó có được quan điểm phóng khoáng khoan dung, biết hòa giải với quá khứ trong tinh thần cởi mở để hướng đến hiện tại và tương lai, chứ không nên chỉ chuyên moi móc quá khứ với các kiểu thái độ cực đoan, phiến diện, căm thù, chỉ gây thêm mầm mống chia rẽ trong lòng dân tộc, và vì thế cũng không thể đạt được sự hòa giải đích thực trong hiện tại được.

Du Tử Lê có mấy câu thơ tả về Sài Gòn rất hay:

“…lạc nhau cuối phố sương quàng cổ cây

ngỡ hồn tu xứ mưa bay

tôi chiêng trống gọi mỗi ngày mỗi xa”

Đánh trống,đánh chiêng học lại lịch sử Sài Gòn.

Nguyễn Gia Việt

Nguồn:Facebook Nguyễn Gia Việt https://www.facebook.com/Conduongthienly.vi/posts/1612644722440288

 

 

 

Sunday, June 21, 2026

Người Tình Trong Nửa Hồn Thương Đau - Thụy Vi

 

Người tình trong “Nửa Hồn Thương Đau”

Vẫn theo lời kể của nhà văn Mai Thảo, đang từ một “tay chơi” một “star,” thần tượng của giới trẻ thời đó, Phạm Đình Chương đã lột xác thành kẻ khác. Ông thay đổi hoàn toàn. Từ sự không còn một chút để ý quần áo, ăn mặc, tới sự tắt ngấm nụ cười. Ông trở thành một người không chỉ kiệm lời, đôi khi còn bẳn gắt nữa.

Thụy Vi

Lời ngỏ“Tôi là người đàn bà sống để yêu thương và viết. Trong loạt bài Người Tình Trong Tình Khúc do tôi sưu tập và viết lại không với ý nghĩa là một công việc “thóc mách” mà viết với tâm cảm chia sẻ để chúng ta cùng chiêm nghiệm và chiêm ngưỡng những cuộc tình đẹp, mãi đẹp… dù phải chia lìa, hay vẫn có nhau bên đời này” (Thụy Vi)

Trước khi chúng ta trở về quá khứ để lần lại sự thật, người viết xin nhắc lại một chút về người nghệ sĩ tài hoa này.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh năm 1929 tại Bạch Mai, Hà Nội. Khi soạn nhạc ông lấy tên thật là Phạm Đình Chương. Đi hát có tên là Hoài Bắc. Quê nội ở Hà Nội còn quê ngoại ở Sơn Tây. Ông xuất thân trong một gia đình mang truyền thống âm nhạc, thân phụ là Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của cha ông, sinh được 2 người con trai tên Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm tức ca sĩ Hoài Trung, trong ban hợp ca Thăng Long như đã nói. Người vợ sau tức mẹ ruột Phạm Đình Chương sinh 3 người gồm trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương, và cô con gái út là Phạm Thị Băng Thanh, tức nữ ca sĩ Thái Thanh.

 


Khánh Ngọc là một ca sĩ thành danh trong làng nhạc từ những năm giữa thập niên 1950 đến đầu thập niên 1960, cô là một ca sĩ được nhiều người biết với tên gọi “ngọn núi lửa”, bởi cô có bộ ngực hấp dẫn và thường quyến rũ khán giả say đắm mỗi khi cô lên hát.

Ngoài ra cô còn là một diễn viên điện ảnh nổi tiếng trước cả Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Trang Thiên Kim, Kiều Chinh… Khán giả ngày hôm nay có thể không biết đến cô, nhưng trong ký ức những khán giả miền nam trước năm 1975… và nhất là những khán giả tuổi 60-70 thì Khánh Ngọc là một trong những ngôi sao thuộc thế hệ đầu tiên sáng chói trong làng điện ảnh Sài Gòn.

Từ nhỏ, lúc còn đi học cô rất thích ca nhạc, nên năm 12 tuổi đã theo học nhạc với nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và Minh Trang, lúc đó cặp nghệ sĩ này giữ phần ca nhạc ở Đài Phát Thanh Pháp Á và Quốc Gia. Cuộc đời nghệ thuật của cô bắt đầu từ đó. Bản nhạc đầu tiên cô trình diễn là bản “Tiếng Hát Lênh Đênh” của Từ Pháp, hát ở rạp Nam Việt, Sài gòn. Lúc đó trước khi trình chiếu phim luôn có những chương trình phụ diễn tân nhạc và Ca sĩ Khánh Ngọc đã hát hằng tuần ở các rạp Nam Việt, Nam Quang, Văn Cầm, Đại Nam và đi lưu diễn nhiều nơi khác.

Đến năm 13, 14 tuổi Ca sĩ Khánh Ngọc hát ở các Đài Phát Thanh và hát trong các chương trình đại nhạc hội ở Sài gòn, các tỉnh, Đà Lạt, và ra Miền Trung, Sau đó Ca sĩ Khánh Ngọc gia nhập Ban Gió Nam trong đó có Thái Thanh, Thái Hằng, Hoài Trung và Hoài Bắc, rồi ra Bắc thì có Trần Văn Trạch, Nhạc sĩ Võ Đức Thu và ban ca nhạc nhảy múa là Lưu Hồng, Lưu Bình. Vào năm 1955 có phái đoàn ngoại quốc đến Sài gòn để tìm các diễn viên cho phim “Ánh Sáng Miền Nam”. Đạo diễn phim này là người Phi Luật Tân cũng chọn nhiều diễn viên, nhưng qua một chương trình nhạc cảnh “Được Mùa” do Ban Hợp ca Thăng Long trình diễn tại rạp Việt Long, Đạo Diễn Phi Luật Tân “chấm” Cùng lúc là minh tinh của ba bộ phim đều thành công, Khánh Ngọc cũng được khán giả mến mộ nhiều nên cô đã ca hát mỗi tối ở các vũ trường lớn của Sài gòn, Chợ Lớn lúc bấy giờ. Khánh Ngọc là một vì sao sáng chói nhất của vòm trời ca nhạc điện ảnh Việt Nam.

Khánh Ngọc cũng chính là người vợ thương yêu của Phạm Đình Chương. Thời gian này nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã nghe phong phanh Khánh Ngọc ngoại tình nhưng vì tình yêu nên ông vẫn tin tưởng vợ và bỏ ngoài tai tất cả những nguồn tin “lá cải” ấy. Cho đến khi biết được sự thật không thể phủ nhận được. Vào những năm của thập kỷ 60, báo chí Sài Gòn xôn xao vụ ly dị của vợ chồng ca nhạc sĩ Phạm Đình Chương – Khánh Ngọc. Có thể nói rằng sự tan vỡ của gia đình tiếng tăm thời bấy giờ được dư luận quy cho môt cuộc tình vụng trộm giữa ca sĩ Khánh Ngọc và “tình địch” không ai chính là nhạc sĩ Phạm Duy!

Đó là một chia tay bất ngờ, không thể oan trái hơn, giữa ông và nữ ca sĩ Khánh Ngọc.

Thảm kịch với sức chấn động và, dư chấn dội lại dài lâu từ dư luận, thân, tâm, đã dập tắt mọi tiếng cười. Khóa chặt mọi nẻo đường dẫn tới tiếng hát.

“Thăng Long” bị chôn sống sau địa chấn.

Nhà văn Mai Thảo kể, rời bỏ đầu tiên khỏi “bản doanh” đại gia đình Thăng Long ở đường Bà Huyện Thanh Quan là Phạm Duy và Thái Hằng. Phần còn lại gồm cả “Bà mẹ Thăng Long” (thân mẫu nhạc sĩ Phạm Đình Chương), dọn về một ngôi nhà nhỏ ở đường Võ Tánh.

Đó là thời gian họ Phạm sống những ngày gần như cắt đứt mọi liên hệ xã hội. Ông chỉ tiếp xúc với một số bằng hữu thân thiết, giới hạn.

Vẫn theo lời kể của nhà văn Mai Thảo, đang từ một “tay chơi” một “star,” thần tượng của giới trẻ thời đó, Phạm Đình Chương đã lột xác thành kẻ khác.

Ông thay đổi hoàn toàn. Từ sự không còn một chút để ý quần áo, ăn mặc, tới sự tắt ngấm nụ cười. Ông trở thành một người không chỉ kiệm lời, đôi khi còn bẳn gắt nữa.

Mai Thảo, tác giả tiểu thuyết “Mười đêm ngà ngọc,” một truyện dài viết về gia đình Thăng Long, nói:

“Nhiều khi cả ngày Hoài Bắc không mở miệng… Nhưng số anh em thân, vẫn lui tới, không bảo nhau, chúng tôi tôn trọng sự im lặng của Hoài Bắc. Chúng tôi tìm mọi cách, nghĩ đủ mọi chuyện chỉ với mục đích sao cho bạn vui. Bạn có thể có lại nụ cười… ”

Trái với một vài bài viết cho rằng ngay sau đó, họ Phạm đã sáng tác một số ca khúc như “Nửa hồn thương đau” hay “Người đi qua đời tôi,” “Khi cuộc tình đã chết”… Như một phản ứng tức khắc với phần số.

Sự thực dư chấn của thảm kịch đã giảm thiểu mọi hoạt động của nhạc sĩ Phạm Đình Chương một thời gian khá dài. Nó như một dấu lặng (bất thường) trong âm nhạc!

Bản nhạc “Nửa hồn thương đau ” viết xong vào năm 1970, tại Đêm Mầu Hồng, đường Tự Do theo yêu cầu của anh Quốc Phong, giám đốc Liên Ảnh Công Ty, để dùng cho cuốn phim Chân Trời Tím do công ty này sản xuất.

Toàn bản nhạc do chính Phạm Đình Chương đặt lời. Chỉ duy nhất có hai câu cuối bài trích ở tác phẩm Lệ Đá Xanh, thơ Thanh Tâm Tuyền, nhạc Cung Tiến mà thôi.

Khi được hỏi tại sao chỉ còn hai câu chót mà “Nửa hồn thương đau” lại phải mượn nhạc Cung Tiến thì Phạm Đình Chương cho biết:

“Khi tôi nhận lời viết một nhạc phim cho phim “Chân trời tím,” Quốc Phong chi ngay tiền tác quyền. Trước sự điệu nghệ của bạn, tôi đã bắt tay vào việc sáng tác. Thời gian tôi dành cho ‘Nửa hồn thương đau’ không nhiều lắm. Nhưng khi tới phần “coda” tức là lúc phải đi ra, kết thúc ca khúc, tôi loay hoay không biết phải viết sao cho hợp với nội dung bản nhạc… Nghĩ thời hạn “nộp bài” còn xa, tôi cất nó đi. Bất đồ, một buổi tối Quốc Phong ghé lại ‘Đêm mầu hồng’ đòi nợ! Bảo, mọi chuyện đã sẵn sàng. Ê kíp quay đã ‘bấm máy’. Chỉ còn thiếu nhạc phim thôi. Quốc Phong gia hạn cho tôi, tối đa, hai ngày! Ông biết mà, tôi làm gì được với hai ngày phù du đó! May sao, khi ấy, trên nóc chiếc piano của tôi, lại có bài ‘Lệ đá xanh’ của Cung Tiến, phổ thơ Thanh Tâm Tuyền. Tôi thấy cái coda bài này có vẻ thích hợp với ‘Nửa hồn thương đau,’ thêm nữa, cả hai đều là bạn rất thân; thế là… ‘a lê hấp’, tôi dùng ngay cái ‘coda’ đó. Và, tôi có ghi rõ là tôi ‘mượn’ của Cung Tiến…”

Nhìn lại giai đoạn “hậu địa chấn” bi kịch vùi dập đời riêng của họ Phạm, kể từ cuối thập niên (19)50 tới 1967, những người theo dõi sáng tác của ông trong giai đoạn này, hầu như không tìm thấy một ca từ nào mang tính kết án, nguyền rủa hay, thù oán… Mà trái lại.

Ngay ca khúc “Nửa hồn thương đau” được dư luận nhắc tới, bàn tán nhiều nhất và, đề quyết rằng, họ Phạm viết ca khúc này nhằm gửi tới người bạn đời đã chia tay trong quá khứ của ông thì, “đỉnh điểm” của ca từ cũng chỉ là những câu hỏi ném ngược về quá khứ. Như một tỏ-tình-với-dĩ-vãng. Một nâng-niu-vết-sẹo-định-mệnh: “Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau / ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau / hay ta còn hẹn nhau kiếp nào? / Anh ở đâu? / Em ở đâu?” (Lời hoàn toàn của Phạm Đình Chương.)

Từ góc độ này, có người đã kết luận, nhạc sĩ Phạm Đình Chương không chỉ lớn lao ở tài năng, mà ông còn lớn lao ở phong cách đối mặt với thảm kịch và, ăn ở với người, với đời nữa. *

Ngay với ca khúc tựa đề “Người đi qua đời tôi” thì họ Phạm cũng đã chọn câu thơ như một câu hỏi, có thể làm nao lòng người nghe là: “Em đi qua đời anh / không nhớ gì sao em?”

Bà Khánh Ngọc giờ ra sao?

Sau khi ly hôn và giao đứa con trai khoảng 4 tuổi lại cho nhạc sĩ Phạm Đình Chương nuôi. Năm 1961 bà Khánh Ngọc qua Mỹ học về điện ảnh. Trong một cuộc phỏng vấn được đưa lên Youtube do bà Tuyết Mai thực hiện tại Florida vào năm 2007 (**), người viết thấy bà Khánh Ngọc còn đẹp, nhất là nhìn hấp dẫn lắm, ánh mắt rất đa tình, ác liệt, miệng rộng, hơi móm nhưng duyên dáng. Bà nhắc lại những giai đoạn ca hát như ở trên. Có lẽ bà Tuyết Mai nóng ruột tò mò muốn hỏi về những chuyện riêng của “ngày xưa” nhưng ý tứ không dám sỗ sàng. Riêng bà Khánh Ngọc lúc nào cũng cười, khi nhắc đến ban hợp ca Thăng Long, thái độ bà rất thản nhiên, bà cho biết, khi qua Mỹ bà gặp một du học sinh và hai người hiểu nhau rồi kết hôn. Hiện bà có 3 người con và đang sống hạnh phúc tại Losan. Bà vẫn thường xuyên đi đây đó ca hát trong những hội đoàn cộng đồng bè bạn và ao ước được về sống tại Việt Nam trong những ngày cuối đời.

Người viết chưa thấy tài liệu nào nói ông Phạm Đình Chương có gặp lại bà Khánh Ngọc lần nào không. Nhưng trong bài Tưởng mộ Phạm Đình Chương của Mai Thảo, và trong bài tưởng mộ Mai Thảo của bà Lê thị Huệ có nhắc đến bà Ý Liên, người vợ sau của nhạc sĩ Phạm Đình Chương và vẽ lại hình ảnh bà như sau: “Hai lần tôi gặp Liên trong hai đêm tối. Một lần ở nhà Phạm Đình Chương ở ngôi nhà vùng Norwalk, khi tôi ngó thấy Ý Liên lần đầu tiên tôi nói với Mai Thảo và Phạm Đình Chương, Liên là Liên tiểu thuyết. Liên im ắng nhìn tôi và ngồi yên trong vị trí tôi đặt định cho Liên. Đêm nay tôi gặp lại Liên hai ông kia không còn. Nhưng một người đàn ông khác, ông Đặng Trần Thức quay lưng lại mời Liên ngâm một bài thơ. Đêm sâu và giọng Liên nhung êm: “Trời cuối thu rồi em ở đâu. Nằm trong mồ lạnh chắc em sầu” Tình yêu Liên rút lòng ra rũ rượi như bóng ma da đêm. Đâu đó thấy hai chiếc bóng Phạm Đình Chương và Mai Thảo in trên tường nhà Trần Diệu Hằng đêm nay!…” (***)

Chúng ta hãy nghe lại bài hát này với giọng ca Thái Thanh, để khắc khoải, buồn cho một cuộc tình không trọn vẹn, như của tôi, như của bạn, như của những người chung quanh chúng ta…

Thụy Vi (Nguồn : aihuubienhoa )

Cảm ơn, và, xin phép được trích:

(*) Trang Du Tử Lê

 (**) Mời xem YouTube về bà Khánh Ngọc do Tuyết Mai thực hiện http://www.youtube.com/watch?v=nkLjrxrrRZ0

 (***) Trang Gió o

 (****) Nguyễn Việt

 

 

Monday, June 15, 2026

Đời Buồn Như "Bo lé ro" Của Nhạc Sĩ Trúc Phương - T.K Tổng hợp

 

Đời buồn như bolero của nhạc sĩ Trúc Phương

Chẳng quá lời khi gọi Trúc Phương là “Ông hoàng nhạc Bolero”. Với cả gần trăm ca khúc, hầu như bài hát nào của ông cũng có một sức sống bền bỉ mãi cho đến ngày hôm nay ở bất cứ nơi nào có người Việt sinh sống… Tài năng của ông thì ai cũng thấy, nhưng đời ông thì lại trải qua quá nhiều bất hạnh và đau thương, khốn khổ cho đến tận giờ phút cuối cùng.

T.K. tổng hợp

Tài hoa, mệnh bạc



Nhạc sĩ Trúc Phương tên thật là Nguyễn Thiện Lộc. Ông sanh năm 1939 tại xã Mỹ Hoà, quận Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh (Vĩnh Bình) ở vùng hạ lưu sông Cửu Long. Cha ông là một nhà giáo sống thầm lặng và nghiêm khắc. Nhưng tâm hồn của chàng trai Thiện Lộc thì rất lãng mạn, yêu thích văn nghệ nên đã tự học nhạc, và bắt đầu sáng tác những bài hát đầu tiên lúc vừa 15 tuổi. Xung quanh nhà ông có trồng rất nhiều tre trúc, nên từ nhỏ ông đã yêu mến những âm thanh kẽo kẹt của tiếng tre va chạm với nhau và sau này đã chọn tên là Trúc Phương để nhớ về thời thơ ấu của ông với những cây tre trúc.

Cuối thập niên 1950, ông sinh hoạt văn nghệ với các nghệ sĩ ở ty Thông Tin tỉnh Vĩnh Bình một thời gian ngắn, rồi lên Sài Gòn dạy nhạc và bắt đầu viết nhạc nhiều hơn. Bài hát “Chiều Làng Quê” được ông sáng tác vào thời gian này để nhớ về khung cảnh thanh bình ở làng xóm của ông, một bài khác cũng rất nổi tiếng với giai điệu trong sáng, vui tươi là “Tình Thắm Duyên Quê”.

Không tiền bạc và không một ai thân quen ở đô thành Sài Gòn, ban đầu Trúc Phương ở trọ trong nhà một gia đình giàu có bên Gia Định và dạy nhạc cho cô con gái của chủ nhà. Không bao lâu sau thì cô gái này yêu chàng nhạc sĩ nghèo tạm trú trong nhà. Biết được chuyện này, cha mẹ cô bèn đuổi Trúc Phương đi nơi khác. Sau chuyện tình ngang trái này, Trúc Phương càng tự học thêm về âm nhạc và càng sáng tác hăng hơn. Những bài hát sau này của ông nghiêng về chủ đề tình yêu với những nghịch cảnh chia lìa.

Trúc Phương sáng tác rất dễ dàng, nhưng với bản tính trầm lặng, bi quan và khép kín sau những cuộc tình dang dở, sáng tác của ông thường mang âm điệu u buồn, thê lương như phảng phất nỗi sầu của cổ nhạc miền Nam. Nổi tiếng nhất là “Nửa Đêm Ngoài Phố” với tiếng hát liêu trai Thanh Thúy. Sau đó là “Buồn Trong Kỷ Niệm” với những câu hát đớn đau, buốt nhói tim gan người nghe như “Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn. Đôi khi nhầm lẫn đánh mất ân tình cũ, có đau chỉ thế, tiếc thương chỉ thế. Khi hai mơ ước không chung lối về…” Có người cho là bài hát này ông đã viết ra sau khi bị thất tình một cô ca sĩ lừng danh thời đó.

Nhạc của Trúc Phương có một giai điệu rất đặc biệt của riêng ông, mà khó lầm lẫn với người khác được. Nó trầm buồn, ray rứt, ưu tư và buồn phiền vì những mối tình dang dở, trái ngang. Nên khi soạn hòa âm cho những bài hát của Trúc Phương, nhạc sĩ hòa âm phải sử dụng ít nhất là một trong vài loại nhạc khí cổ nhạc như đàn bầu, đàn tranh, hay đàn cò (hoặc violon) thì mới có thể diễn tả hết cái hay của dòng nhạc Trúc Phương và người nghe lại càng thấm thía với nỗi muộn phiền, nhức nhối tim gan của ông.

Tên tuổi và tài năng sáng chói, nổi bật, nhưng tình duyên của nhạc sĩ Trúc Phương thì vô cùng lận đận. Khoảng năm 1970, Trúc Phương được một thiếu nữ vô cùng xinh đẹp, cao sang đài các đem lòng yêu thương ông, do rung cảm từ tài năng và những tác phẩm tuyệt vời của ông. Cả hai đã nên duyên chồng vợ. Tuy sống trong cảnh nghèo nàn, đó là những năm tháng hạnh phúc nhất trong cuộc đời của Trúc Phương và ông sáng tác sung mãn hơn bao giờ hết với hàng chục bài hát ra đời mỗi năm. Nhưng niềm vui của đôi uyên ương này không kéo dài được lâu. Sau một thời gian chung sống với nhau, những tình cảm ban đầu trở nên phai lạt dần theo năm tháng và hai người đã lặng lẽ chia tay nhau. Câu hát ngày nào lại rơi đúng vào trường hợp này “khi hai mơ ước đã không cùng chung hướng về” và “đường vào tình yêu có trăm lần vui, nhưng có vạn lần buồn”? Nhạc sĩ Trúc Phương âm thầm đau khổ trong cô đơn và lại vùi đầu vào men rượu để sáng tác thêm nhiều bài hát trong nỗi đau thương cùng cực, pha chút chán chường cho nhân tình thế thái.

Bạn bè thường gặp ông ngồi yên lặng bên những ly rượu nơi một quán nhỏ ở đường Tô Hiến Thành, quận 10, gần nhà của ông. Có lẽ đó là một cách làm cho nhạc sĩ tạm quên đi những cay đắng của tình đời. Đó cũng chính là lúc bài hát “Thói Đời” được sáng tác với những câu như “Bạn quên ta, tình cũng quên ta, nên chung thân ta giận cuộc đời, soi bóng mình bằng gương vỡ nát, nghe xót xa ngùi lên tròng mắt”… và “Người yêu ta rồi cũng xa ta … “Cỏ ưu tư” buồn phiền lên xám môi …”. Thực ra phải nói là “cỏ tương tư” tức “tương tư thảo” là tên gọi văn hoa của thuốc lá. Những giọt rượu nồng của cõi “trần ai” này lại càng gợi thêm “niềm cay đắng” để cho nỗi ưu tư “in đậm đường trần”.

“Thói Đời” lại như là một lời tiên tri thật chính xác cho quãng đời còn lại của ông suốt gần 25 năm sau đó (1971-1995).

Sau năm 1975 thì sự nghiệp sáng tác nhạc của ông dừng lại, tất cả những ca khúc của ông đều bị cấm phổ biến và trình diễn. Ông vượt biên không thành nên mất căn nhà trên đường Nguyễn Văn Thoại. Không nghề nghiệp, không nhà, ông làm đủ mọi việc để sinh sống. Với hai bàn tay trắng, ông trở về quê cũ sống nhờ vả bạn bè, mỗi nơi một thời gian ngắn. Có người hỏi sao ông không về quê ở hẳn với thân nhân, Trúc Phương đã trả lời “Má của tôi thì già yếu đang ở dưới quê Cầu Ngang (Trà Vinh), nhưng bà nghèo quá, lại phải nuôi đám cháu nheo nhóc, không đủ ăn … nên tôi không thể về đó để làm khổ cho bà thêm nữa.”
Ở dưới tỉnh nhà Trà Vinh với bạn bè xưa cũ một thời gian, Trúc Phương lại tìm đường về Sài Gòn. Ban ngày ông làm thuê, làm mướn đủ mọi thứ nghề và lang thang khắp nơi. Bạn ông kể có một dạo bạn bè cho tá túc, ông sống trong một cái chuồng heo được sửa sang chút đỉnh, mà cũng chẳng được bao lâu…

Ông có tâm sự lại vài lời xót xa, nghẹn ngào, xúc động trên một đoạn video clip ngắn ngủi về đời sống của chính bản thân ông lúc đó như sau: “Sau cái biến cố cuộc đời, tôi sống cái kiểu rày đây mai đó, “bèo dạt hoa trôi”… Nếu mà nói đói thì cũng không đói ngày nào, nhưng mà no thì chẳng có ngày nào gọi là no… Tôi không có cái mái nhà, vợ con thì cũng tan nát rồi, tôi sống nhà bạn bè, nhưng mà khổ nỗi hoàn cảnh họ cũng bi đát, cũng khổ, chứ không ai đùm bọc ai được… đến nữa lúc đó thì vấn đề an ninh có khe khắt, lúc đó thì bạn bè tôi không ai dám “chứa” tôi trong nhà cả, vì tôi không có giấy tờ tùy thân, cũng chẳng có thứ gì trong người cả. Tôi nghĩ ra được một cách… là tìm nơi nào mà có khách vãng lai rồi mình chui vào đó ngủ với họ để tránh bị kiểm tra giấy tờ… Ban ngày thì lê la thành phố, đêm thì phải ra xa cảng thuê một chiếc chiếu, một chiếc chiếu lúc bấy giờ là một đồng… thế rồi ngủ cho tới sáng rồi xếp chiếc chiếu trả người ta… thế là mình lấy một đồng về… như là tiền thế chân… Một năm như vậy, tôi ngủ ở xa cảng hết 9 tháng… Mà nói anh thương… khổ lắm… Hôm nào mà có tiền để đi xe lam mà ra sớm khoảng chừng năm giờ có mặt ngoài đó thế rồi thuê được chiếc chiếu trải được cái chỗ lịch sự chút tương đối vệ sinh một tí mà hôm nào ra trễ thì họ chiếm hết rồi, những chỗ sạch vệ sinh họ chiếm hết rồi, tôi đành phải trải chiếu gần chỗ “thằng cha đi tiểu vỉa hè”, thế rồi cũng phải nằm thôi. Tôi sống có thể nói là những ngày bi đát… mà lẽ ra tôi nên buồn cho cái hoàn cảnh như thế nhưng tôi không bao giờ buồn… Tôi nghĩ mà thôi, còn sống cho tới bây giờ và đó cũng là một cái chất liệu để tôi viết bài sau này…

Và ông âm thầm từ giã cõi đời trong cảnh nghèo nàn, bi đát và cô đơn trong căn phòng trọ tồi tàn, nhỏ hẹp ở quận 11, Sài Gòn vào ngày 18 tháng 9 năm 1995, tài sản của ông có được lúc đó chỉ là một đôi dép…

Trúc Phương ghi lại biết bao cuộc tình lãng mạn ướt át nồng nàn. “Nửa đêm ngoài phố” lang thang, tình cờ làm quen một người con gái lạ, rồi để lòng vương vấn mãi: “Buồn vào hồn không tên, thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời. Ðường phố vắng đêm nao quen một người..” hoặc “Trở lại chuyện hai chúng mình. Khi em với anh…” làm quen, hẹn hò cùng nhau đi tới mòn lối, khiến nó trở thành “Con đường mang tên em”. Cũng có những lúc cô đơn, rút về nhốt mình nơi nhà trọ, nhưng Ðêm gác trọ chỉ nói lên nỗi buồn bâng quơ có vương chút phấn chấn nhờ thể điệu Tango, mà Trúc Phương ít khi dùng trong hầu hết các nhạc phẩm của mình. Rồi có lúc người yêu xưa tìm đến, cùng nhau ôn chuyện cũ, nhắc lại Chuyện ngày xưa, được ghi lại: “Hôm nào em đến thăm, mà quên mang tiếng cười, lặng yên không nói. Hai mươi tuổi đời qua mất rồi… Thôi em nhé, xin trả về niềm cô đơn trước, cho anh bước xuôi ngược, khi hai chúng mình, vòng tay trót buông xuôi, dù gặp nhau ta cúi mặt bước mà đi ”

Tiếng hát khói sương và nhạc sĩ Trúc Phương

Nhắc đến Tiếng Hát Liêu Trai, Tiếng ca U Hoài, Tiếng Hát Khói Sương Thanh Thúy phải nhắc đến Trúc Phương. Hình ảnh Thanh Thúy là nguồn cảm hứng cho ông sáng tác nhiều tuyệt phẩm mà giọng hát Thanh Thúy đã làm cho đi vào tâm khảm bao người: Chuyện Chúng Mình, Hai Lối Mộng, Ai Cho Tôi Tình Yêu, Chiều Cuối tuần, Buồn Trong Kỷ Niệm, Bóng Nhỏ Đường Chiều, Tàu Đêm Năm Cũ, …

Trúc Phương đã viết tặng riêng Thanh Thúy một số ca khúc: Hình bóng cũ, Lời ca ca nữ, Mắt em buồn, Tình yêu trong mắt một người, Mắt chân dung để lại.

Hãy nghe Thanh Thúy- người hát nhạc ông thành công nhất, nói về ông trong một số báo tưởng niệm ở hải ngoại sau khi ông mất:

“Anh và tôi không hẹn, nhưng đã gặp nhau trên con đường sống cho kiếp tằm. Anh trút tâm sự qua cung đàn, còn tôi qua tiếng hát. Trong khoảng thập niên 60, tên tuổi Anh và tôi như đã gắn liền với nhau: nhạc Trúc Phương, tiếng hát Thanh Thúy.

Như một định mệnh, tôi vào đời ca hát đúng vào thời điểm Anh say mê sáng tác, và tình cờ trở thành vị sứ giả đem tâm sự Anh đến mọi người, những người không nhiều thì ít cùng mang một tâm sự với Anh. Tâm sự về tuổi thơ mộng, về tình yêu dịu dàng của đôi lứa (dù trong bối cảnh đau thương của đất nước), về chuyện tình dở dang, về cuộc đời…

Đến khi nhạc phẩm “Nửa Đêm Ngoài Phố” ra đời, tên tuổi Anh đã vang dậy khắp nơi. Với thể điệu Rumba quen thuộc, diễn tả tâm trạng đau buồn của một người khi người yêu không đến nữa, “Nửa Đêm Ngoài Phố” đã ăn sâu vào lòng tất cả mọi người, từ những người lớn tuổi, cho đến lớp người trẻ lúc bấy giờ. Bất cứ buổi trình diễn nào, tôi cũng được yêu cầu trình bày “Nửa Đêm Ngoài Phố”, từ các sân khấu phòng trà, khiêu vũ trường cho đến Đại Nhạc Hội, từ các thôn làng nhỏ bé cho đến các tiền đồn hẻo lánh xa xôi. Ngoài ra, trong những chương trình phát thanh của đài Sài Gòn và đài tiếng nói Quân Đội, vào bất cứ chương trình nhạc nào cũng có bài này…

Cũng như “Nửa Đêm Ngoài Phố”, nhiều nhạc phẩm của Anh đã trở thành gần gũi với mọi người và đã giúp tôi leo cao hơn trên nấc thang sự nghiệp. Các bài này gồm có: Nửa Đêm Ngoài Phố, Buồn Trong Kỷ Niệm, Hai Lối Mộng, Chiều Cuối Tuần, Mưa Nửa Đêm, Tàu Đêm Năm Cũ, Hai Chuyến Tàu Đêm, Chuyện Chúng Mình, Đêm Tâm Sự, Hình Bóng Cũ, Đò Chiều, Chiều Làng Em…

Thế rồi, theo như Anh hơn một lần tâm sự, đường đời đã chia đôi chúng tôi ra hai ngã, hai hướng đi. Tôi đã giã từ sân khấu, giã từ lời ca tiếng nhạc, giã từ tất cả, theo chồng đi đến những phương trời xa. Còn Anh vào quân ngũ, và vẫn tiếp tục hăng say sáng tác, hầu hết những nhạc phẫm đều nói về đời người lính phong sương, xa nhà, xa thành phố, xa người em nhỏ hậu phương… (24 Giờ Phép, Bông Cỏ May, Kẻ Ở Miền Xa, Trên 4 Vùng Chiến Thuật…)

Vào thời điểm này, anh Duy Khánh, anh Chế Linh và Hoàng Oanh có lẽ là những ca sĩ đã hát nhạc của Anh rất nhiều.

Kiếp tằm chưa dứt, tôi đã trở lại với sân khấu, với ánh đèn màu. Trở lại với “Nửa Đêm Ngoài Phố”, với “Buồn Trong Kỹ Niệm …

Rồi lại thêm một lần cuộc đời lại chia đôi chúng tôi ra hai ngã: Anh kẹt lại quê nhà, tôi sống đời lưu vong. Tôi đã tìm đủ mọi cách để liên lạc hầu mong gởi về những gói quà biếu Anh. Sự liên lạc trong những năm đầu thật khó khăn, cho mãi tới sau này, qua một số bạn bè và qua Trần Quốc Bảo, tôi mới có thể liên lạc thường hơn với Anh. Tuy nhiên, tôi rất lo lắng về bịnh tình Anh do Trần Quốc Bảo kể lại. Nhìn những tấm ảnh Anh gởi qua đăng trên Thế Giới Nghệ Sĩ, trông Anh gầy gò, đau yếu, tôi đã không sao cầm được nước mắt. Tôi đã bàn với Trần Quốc Bảo thực hiện một cuốn băng với toàn nhạc của Anh, hầu có thể giúp Anh phần nào trên phương diện vật chất lẫn tinh thần. Chợt nghe tin Anh đau nặng… Chợt nghe tin Anh qua đời…”

304 – Llttm - sgtc