Monday, June 15, 2026

Về Phố Cũ Tìm Nhau - Thuyên Huy

 Về Phố Cũ Tìm Nhau




Hoa Trà Đắng - Tuyết Tiểu Thiền

 

Hoa Trà Đắng





Anh và cô là một đôi trúng tình yêu sét đánh. Ngay giây phút nhìn thấy nhau, anh đã coi cô là nữ thần của đời mình. Vẻ thanh tú và kiều diễm cùng hòa quyện trong người con gái ấy, anh nghĩ mình do ngẫu nhiên mà có phúc gặp được cô. Anh không quên nổi. Rồi thư từ qua lại, cây cầu tình yêu đã nối 2 phương trời. Hàng năm, trước tiết thanh minh, cô đều gửi từ đất Hàng Châu quê mình tới anh loại trà Minh Tiền. Hương thơm thoang thoảng của loại trà này khiến anh không thể nào không nhớ. Không ví nổi trà thơm như thế nào, chỉ có thể tưởng tượng hương trà như hương thơm thiếu nữ, khiến anh say mê không dứt nổi, khiến cô say mê không ngại ngần. Hai người trẻ vì tình yêu say mê, dù ở 2 miền xa lắc mà gìn giữ tình yêu qua 5 năm trời. Năm 23 tuổi, anh tới Hàng Châu cầu hôn. Anh không ngờ là cô gái thản nhiên cự tuyệt. Cô nói không muốn đi xa nhà. Anh khẩn khoản đề nghị sẽ về nhà cô ở rể, chỉ cần cô bằng lòng. Cô gái vẫn kiên quyết chối từ. Anh không hiểu ra sao, anh không tưởng tượng nổi chuyện tình từng hẹn thề cạn biển nát đá không phai lại thoáng qua như mây trôi vậy.

Một mình lủi thủi quay về, cõi lòng lạnh lẽo. Rất nhanh chóng, anh cưới vợ, sinh con, sống những ngày bình thường như vô số vợ chồng khác. Chỉ trong giấc mộng, đôi khi thấp thoáng bóng hình người con gái Hàng Châu kiều diễm xa vời. Mùa xuân thứ hai sau khi anh lập gia đình, anh lại nhận được trà Minh Tiền trước tiết Thanh minh. Vẫn hương thơm thanh khiết và quyến rũ như cũ, chỉ tình yêu là không như cũ mà thôi. Vợ hỏi anh, ai gửi thế? Anh đáp, một người bạn cũ, cô ấy biết anh thích uống trà Minh Tiền. Cứ vậy liền bảy năm. Anh âm thầm nâng giấc tâm tình người cũ, nhưng vẫn không rõ vì sao, đã cự tuyệt tình anh mà vẫn gửi trà để quyến rũ anh. Năm thứ tám, anh đi tìm câu giải đáp. Anh gặp lại, chỉ là nấm mộ. Em gái cô kể, năm ấy, khi anh tới cầu hôn, cô đã biết mình mắc chứng ung thư. Cô vẫn gượng thản nhiên nét mặt gặp anh, từ chối tình anh. Anh đi rồi, cô gục xuống tuyệt vọng, cô không muốn hủy hoại cuộc đời phía trước của anh, cô đành chọn sống những ngày cuối đời trong cô đơn tịch mịch. Cô hiểu rằng anh sẽ không thể quên được nên cô gửi gắm cho người em gái, hàng năm trước tiết thanh minh lại gửi trà Minh Tiền cho anh. Khi uống trà anh sẽ nhớ tới cô. Cô biết rằng, năm tháng trôi đi, người đàn ông trong anh trưởng thành lên, anh sẽ đủ nghị lực kìm nén sự bồng bột tuổi trẻ, anh sẽ rèn được bản lĩnh thản nhiên trong mọi vui buồn. Người em gái chỉ cho anh thấy những bao gói chưa gửi đi, trên đó còn ghi nét chữ của người chị, anh đếm được ba gói. Người em gái nói, chị cô dặn rằng sau mười năm thì không cần gửi trà cho anh nữa, bởi vì anh đã có hạnh phúc và hình bóng người con gái Hàng Châu đã nhạt nhòa rồi. Anh nhớ lại từng nét mặt, từng nụ cười của cô thuở ban đầu, nhớ tới những lá thư nhạt nhoè nước mắt có ghi những lời tỏ tình ngây ngô mà bền chặt. Cớ sao lại vỡ tan như mây trôi nước chảy thế này? hương trà còn thoang thoảng mà người thì tuyệt xa dấu hình. Trên máy bay, anh đề nghị cô tiếp viên mang cho anh một ca nước sôi, anh pha trà Minh Tiền của người con gái anh yêu, những lá trà tung tăng trong trong tách mãi mới chịu từ từ chìm xuống. Như là nước mắt tận đáy lòng anh vậy, một cơn sóng lui, một cơn sóng lại tới. Anh nhấp ngụm trà đầu tiên, vị chát sít mà lại đăng đắng, tựa như hoài niệm trong anh.. Ngụm trà thứ hai, chan chát pha ngòn ngọt, như ngày đầu yêu nhau tinh khôi. Ngụm trà thứ ba, không còn cảm giác ngạc nhiên, nhè nhẹ như gió xuân lay động. Anh hiểu ra, những kỷ niệm của anh về cô như ngụm trà thứ ba này, nếu anh sống không ra gì, sẽ uổng phí cả tấm lòng cô lo lắng. Chợt anh nhìn thấy trong đám trà một bông hoa nhỏ xíu, nó nhỏ mà xinh xắn biết bao, đã được phơi khô qua sương gió. Anh cho bông hoa vào miệng, nhấm nhấm, một chút đăng đắng lan tỏa. Bông hoa trà đắng nhỏ xíu này chính là cô chăng? Chọn chính lúc này để cùng anh tương ngộ, bông trà đắng khiến anh hiểu rõ nỗi khổ tâm của cô. Anh nhìn ra cửa sổ máy bay, như các hành khách khác, nhưng không phải để ngắm nhìn mây trôi từng cụm, mà là để cho những dòng nước mắt dạt dào mặc sức tuôn rơi.

Tuyết Tiểu Thiền

Hư Ảo Trăng - Nguyên Sa

Hư Ảo Trăng

 













Hư ảo nào như hư ảo trăng
Em đàn cung nguyệt hát cung vân
Ta về đôi lúc đêm đang tới
Tìm thấy trong thơ khúc nguyệt cầm
Hư ảo nào như hư ảo mây
Em cười trong nắng áo trong tay
Thơ trong tà áo em trong gió
Ta nhớ mơ hồ mây trắng bay

Hư ảo nào như hư ảo ai
Sương mờ giăng lối lá bay bay
Em như huyền hoặc đời như mộng
Ta lac đường vào chốn liêu trai

Hư ảo nào như hư ảo em
Tiếng cười khô đọng những thân quen
Đời xưa ta nhớ mây chiều gió
Còn lúc bây giờ ta nhớ em

Nguyên Sa

 

 

Quà Vặt Tuổi Thơ - Trang Nguyên

 

QUÀ VẶT TUỔI THƠ

Trang Nguyên

Nhớ nhất là món bánh mì thịt ba rọi giá 5 đồng một ổ. Sau bao nhiêu năm cuộc sống có thêm nhiều món ngon vật lạ, lại hỏi mấy thứ quà vặt cỏn con ngày ấy còn ngon không. Ai cũng bảo, ngon quá đi chớ. Nó ngon từ trong nỗi nhớ!






Phá lấu, món ăn của người Hoa du nhập vào Sài Gòn, trở thành món quà vặt ngon miệng cho buổi xế (Nguồn: Manhhaiflickr)

Lâu ngày đám bạn chúng tôi cùng gặp nhau nói chuyện trên trời dưới đất thuở còn nghèo khó. Nhưng lạ chẳng ai than thở những nỗi khó khăn kinh tế thời cuộc mà lại nhớ nhiều đến mấy món ăn quà vặt từ ngày xa xưa. Mỗi người một nỗi nhớ từ cái bánh tráng khoai mì tròn như lòng bàn tay con nít chấm muối ớt cho đến cuốn bò bía bằng ngón tay cái người lớn chấm tương ớt cay xè.

Nhớ đầu xóm tôi có xe bánh mì buổi sáng. Một trong những món ăn sáng rẻ tiền cho người lao động. Ổ bánh mì thịt giá 5 đồng đủ mua được hai ba củ khoai mì chấm muối đậu phộng trộn dừa nạo hay một gói xôi bắp thơm mùi hành phi phết thêm đậu xanh nấu tơi tán nhuyễn. Xe bánh mì đó của nhà thằng bạn cùng học chung trường tiểu học với tôi, cho nên mỗi lần ra ngõ mua ổ bánh mì trét mỡ hành kèm hai miếng dưa leo thái mỏng chan nước tương, là chị thằng bạn nhét thêm vài ba miếng thịt ba rọi thái sợi to như đầu đũa. Một ổ bánh mì thịt cũng như ai, gói trên miếng giấy báo cắt nhỏ, ăn xong vo miếng giấy lau sơ cái miệng dính đầy dầu mỡ.

Nghĩ lại ngày nay có mấy ai dám ăn ba rọi như ngày xưa chỉ có một lớp thịt mỏng chừng móng tay chạy ngang trên miếng mỡ trắng dày có lớp da nhuộm màu cam đỏ. Những miếng thịt mỡ nhỏ mằn mặn ngon lạ lùng ăn kèm với thứ mỡ hành thơm nức mũi khi nhai trúng miếng tóp mỡ vàng rụm giòn giòn. Đôi khi má tôi cho thêm chút tiền thì ghé mông xuống ghế xẹp (ghế đóng đơn giản bằng ba miếng gỗ thấp gần sát mặt đất để ngồi ở mấy gánh hàng rong) ăn tô mì nước bình dân của bà già Tàu xóm trên gánh xuống đường hẻm nhà tôi ngồi bán điểm tâm buổi sáng. Nhưng đó là chuyện hiếm, đối với tôi ổ bánh mì thịt mỡ gần như là trọn năm trọn tháng. Xe bánh trước nhà thằng bạn không chỉ bán bánh mì thịt còn có món xíu mại, cá mòi, có khi má nó làm thêm món patê hay xúc xích. Nhưng với 5 đồng bạc xu hình bông mai, thử hỏi mua được thêm thứ gì vào cái thời củi quế gạo châu của đầu thập niên 1970?

 


Cận cảnh một quầy bánh mì ở Sài Gòn 1970 (Ảnh: Dick Hughey)

Nói đến xúc xích, cái thứ mà tôi thích nhất. Nó không phải là quà vặt ăn chơi hay dành cho mấy ông nhậu ba xị đế mà là thứ sắt sợi để nhét vào bánh mì thịt nguội. Hình như ổ bánh mì thịt nguội có thêm xúc xích làm tăng cái mùi vị cho bánh mì thịt thêm ngon. Ổ bánh mì lúc này sang trọng hơn có trét mayonnaise (làm từ lòng đỏ trứng gà chứ không phải loại bơ Pháp), kế đến là lớp mỏng patê, thêm vài ba lát thịt nguội, chả lụa, dưa leo, vắt lên trên vài sợi hành trần xanh xanh trắng trắng, cọng ngò rí thơm lừng, vài ba lát ớt đỏ tươi, thế là ổ bánh mì trở nên ngon tuyệt. Ổ bánh mì hoàn hảo thoát thai từ món quà vặt ăn sáng có thể ăn trưa ăn chiều ăn cho no như một loại thức ăn đường phố chính hiệu.

Đến lúc này, đám bạn lại xôn xao vào món bánh mì không chỉ có nhân thịt mà bây giờ nhân bánh có hàng chục loại khác nhau phải có thực đơn rõ ràng. Từ quá khứ qua hiện tại chỉ một thoáng thôi. Bánh mì được vinh danh là một trong những món ăn đường phố ngon và rẻ tiền nhất. Chẳng thế mà mấy ông tây bà đầm đến Sài Gòn (mà đâu chỉ có ở Sài Gòn cả nước Việt Nam, ai cũng đều khen “number one”). Có lẽ vì thế mà “bánh mì” được ghi tên vào cuốn từ điển Oxford (ngày 24/3/2011) cũng như “phở”, “nước mắm” đã nằm chình ình trong cuốn từ điển Larousse từ lâu.

Mấy thằng bạn bảo ngon một phần là nhờ bánh mì sốp, nóng giòn, không to và đặc ruột như bánh mì baguettes, không nhỏ như bánh mì con cóc một dạo ngày xưa ở Sài Gòn, các lò làm bánh tung ra sản phẩm mới bên cạnh chiếc ổ bánh mì truyền thống dài chừng gần ba tấc trước đây. Rồi đến ổ bánh mì “lỡ”, bánh mì “lớn” cỡ gang tay hay to gần gấp đôi bánh mì truyền thống thường bán ở các bến xe bến phà. Nhưng kiểu nào thì kiểu, ổ bánh mì cầm phải gọn tay, vỏ giòn, ruột mềm chứ không quá rỗng ruột để nhét nhưn vào cho vừa căng no ổ bánh. Mấy thằng bạn về Sài Gòn chơi chẳng nghe ai chê bánh mì mà cứ khen ngon quá là ngon!

 

Bánh mì, món ăn phổ biến ngoài đường phố Sài Gòn, do C. Mydans chụp năm 1950

Nảy giờ tôi nhắc hơi nhiều đến hai chữ bánh mì nhưng thật sự đó là món ngon khỏi phải chê. Một món ngon quà vặt khác không thể bỏ qua khi nhắc đến ai ai cũng biết. Bò bía. Ngoài những ông Tàu bán bò bía trên chiếc xe con đẩy tay đi dạo khắp phố phường, còn một chỗ tập trung chuyên bán bò bía ngày xưa, đó là Công trường Hồ con rùa. Ở chỗ này có rất nhiều xe bò bía của người Sài Gòn. Công thức bò bía của người Tàu và người Việt gần giống nhau. Bò bía người Tàu thường không chấm tương riêng mà lại quệt chung vào bánh tráng. Có lần tôi cùng ba tôi ghé thăm người bà con ở cầu Cây Gõ tuốt trong xóm lò Lu. Thấy ông già Tàu bán bò bía làm mấy cuốn bó bía mà tôi thèm nhớ đến giờ. Ông lấy miếng bánh tráng cắt một phần tư không có nhúng sơ nước cho mềm mà lại dùng que nẹp tre nhỏ quệt tương đen, tương ớt trên miếng bánh tráng, bóc tay thả vào nhúm đầu phộng rang giã vụn, rồi đặt vài vài ba lá húng quế, củ sắn hấp nóng, vài ba lát lạp xưởng, nhúm tôm khô nhỏ chấy giòn, cuộn lại một cuốn nhỏ bằng ngón tay cái. Mua mấy cuốn thì cuộn mấy cuốn, cuốn bò bía không phải nguội mà còn nóng hôi hổi đọng trên đầu lưỡi, ăn thật đã thèm. Người Việt mình thường làm nước chấm riêng trộn nhiều hành hương phi vàng và đậu phộng rang giã nhuyễn.

Ông bạn lớn tuổi cùng nghề dạy học với tụi tôi ngồi nghe gật gù góp thêm ý kiến, bò bía tàu hay ta đều ngon, lại còn có món gỏi đu đủ khô bò bán dọc theo đường Hồng Thập Tự trước Công viên Tao Đàn. Gỏi đu đủ ngon nhờ gan bò khô nhưng ông không khoái lắm, thích hợp cho mấy bà mấy cô và các em gái nhỏ. Với ông, khi nghe tôi nhắc đến đậu phộng rang giã nhuyễn trong món bò bía thì ông đố tôi có biết món ăn quà vặt bằng đậu phộng ngoài rang húng lìu (kiểu miền Bắc) rang nước tương, rang muối, đậu phộng nấu nguyên vỏ, kẹo đâu phộng còn món gì nữa không. Bọn tôi đành tắc tị.

Ông kể hồi còn nhỏ quê ông ở Đức Hoà chuyên trồng đậu phộng, loại đậu hạt nhỏ bằng ngón tay út chứ ngày nay ai cũng thích mua đậu phộng hạt to. Người nhà quê luộc đậu chín tách hột đem phơi khô, hạt đậu teo lại nhỏ xíu bằng hạt đậu đen, ăn giòn giòn béo béo, càng ăn càng ghiền. Đó là món quà vặt mê thích của trẻ con ở miền quê ông. Nhưng trong thời gian dạy học ở Sài Gòn ông mới phát hiện ra một chỗ bán đậu phộng như thế ở một quán rượu bình dân khiến ông ngày nào cũng tới đó nhâm nhi vài ba xị nếp cùng bạn bè đồng nghiệp. Ông nhớ quán rượu cây Lý trong con hẻm nhỏ trên đường Nguyên Kim. Sở dĩ có tên cây lý không phải rượu đến ngâm trái lý thơm lừng mà là trước quán nhậu bình dân ngồi ghế đẩu ngoài hiên có cây lý già toả bóng. Rượu nấu bằng gạo lức, màu nâu sữa, uống say đầm không hỗn. Vài ba xị lâng lâng đi về chứ không như tiệm rượu Vĩnh Tồn Tâm ở khu chợ cũ Sài Gòn có loại rượu ngon nhưng cực mạnh, uống vào vài ba xị là cho chó ăn chè.

 


Bò bía, món ăn vặt của người Triều Châu, giói học sinh sinh viên đều thích (Nguồn: Manhhaiflickr)

Ông kể đậu phộng bán đong bằng chung, chẳng có thứ nào khác ngoài một món đậu phộng. Hôm nào gặp bạn nhậu khó tính, đòi thêm phá lấu, phải chạy ra đường Nguyễn Tri Phương, ghé ông Tàu bán phá lấu bên hông chợ mua mấy que. Phá lấu mấy ông Tàu làm thơm ngon hết sảy, chấm thêm miếng tương ớt nhậu hay ăn kèm bánh mì rất bắt mồi. Có một lần ông đến mua, thấy mấy đứa nhỏ đường phố giở trò “đá cá lăn dưa”. Một thằng nhóc lại mua mấy que thì vừa lúc thằng nhỏ khác lại gây chuyện đánh lộn. Ông Tàu thấy vậy can ngăn, hai thằng né qua né lại một hồi thì thằng mua cầm mớ phá lấu bỏ chạy, thằng kia rượt theo chạy mất. Ông Tàu chỉ còn há miệng ngó theo.

Quà vặt Sài Gòn nhiều vô số, tuỳ theo điều kiện cuộc sống mỗi người mỗi giới mỗi độ tuổi lại có sở thích khác nhau. Học sinh thì lại thích gỏi đu đủ khô bò, chè đậu xanh đậu đỏ bán bên chùa Xá Lợi vì có trường Gia Long đối diện. Người thích ăn đêm lại nhớ nhung tô mì gõ hay tô bò viên nóng hổi vừa thổi vừa ăn giữa cơn mưa mùa hè bất chợt. Có người lại thích bánh cam, bánh tầm hay khơi khơi giữa đêm mà nghe tiếng rao “ai chí mà phủ” lại thèm tàu hủ đường nước cốt dừa bán chén. Cũng như ông bạn tôi ngồi nghe kể chuyện quà vặt Sài Gòn lại chợt nhớ đến mấy xị rượu cây lý năm xưa chẳng ăn nhằm gì thứ quá vặt rẻ tiền mớ đậu phộng luộc phơi khô ăn chơi lạ miệng chỉ hợp khẩu vị cho việc đưa cay.

Nhưng tất cả đều là nỗi nhớ chan đầy kỷ niệm một thời còn khó khăn, còn thiếu thốn, còn chưa làm ra tiền ở tuổi học trò như chúng tôi hồi ấy. Cái gì cũng ngon, kể cả tiếng rao ngân dài của cụ bà người Bắc bán huyết heo luộc mỡ hành ăn cùng giá trụng rau thơm nước mắm cay chua ngọt. “Ai huyết heo… không?”. Nghe mà thèm lắm!

TN

Nguồn: https://baotreonline.com/van-hoc/viet-nam-ngay-cu/qua-vat-tuoi-tho.baotre

Đời Buồn Như "Bo lé ro" Của Nhạc Sĩ Trúc Phương - T.K Tổng hợp

 

Đời buồn như bolero của nhạc sĩ Trúc Phương

Chẳng quá lời khi gọi Trúc Phương là “Ông hoàng nhạc Bolero”. Với cả gần trăm ca khúc, hầu như bài hát nào của ông cũng có một sức sống bền bỉ mãi cho đến ngày hôm nay ở bất cứ nơi nào có người Việt sinh sống… Tài năng của ông thì ai cũng thấy, nhưng đời ông thì lại trải qua quá nhiều bất hạnh và đau thương, khốn khổ cho đến tận giờ phút cuối cùng.

T.K. tổng hợp

Tài hoa, mệnh bạc



Nhạc sĩ Trúc Phương tên thật là Nguyễn Thiện Lộc. Ông sanh năm 1939 tại xã Mỹ Hoà, quận Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh (Vĩnh Bình) ở vùng hạ lưu sông Cửu Long. Cha ông là một nhà giáo sống thầm lặng và nghiêm khắc. Nhưng tâm hồn của chàng trai Thiện Lộc thì rất lãng mạn, yêu thích văn nghệ nên đã tự học nhạc, và bắt đầu sáng tác những bài hát đầu tiên lúc vừa 15 tuổi. Xung quanh nhà ông có trồng rất nhiều tre trúc, nên từ nhỏ ông đã yêu mến những âm thanh kẽo kẹt của tiếng tre va chạm với nhau và sau này đã chọn tên là Trúc Phương để nhớ về thời thơ ấu của ông với những cây tre trúc.

Cuối thập niên 1950, ông sinh hoạt văn nghệ với các nghệ sĩ ở ty Thông Tin tỉnh Vĩnh Bình một thời gian ngắn, rồi lên Sài Gòn dạy nhạc và bắt đầu viết nhạc nhiều hơn. Bài hát “Chiều Làng Quê” được ông sáng tác vào thời gian này để nhớ về khung cảnh thanh bình ở làng xóm của ông, một bài khác cũng rất nổi tiếng với giai điệu trong sáng, vui tươi là “Tình Thắm Duyên Quê”.

Không tiền bạc và không một ai thân quen ở đô thành Sài Gòn, ban đầu Trúc Phương ở trọ trong nhà một gia đình giàu có bên Gia Định và dạy nhạc cho cô con gái của chủ nhà. Không bao lâu sau thì cô gái này yêu chàng nhạc sĩ nghèo tạm trú trong nhà. Biết được chuyện này, cha mẹ cô bèn đuổi Trúc Phương đi nơi khác. Sau chuyện tình ngang trái này, Trúc Phương càng tự học thêm về âm nhạc và càng sáng tác hăng hơn. Những bài hát sau này của ông nghiêng về chủ đề tình yêu với những nghịch cảnh chia lìa.

Trúc Phương sáng tác rất dễ dàng, nhưng với bản tính trầm lặng, bi quan và khép kín sau những cuộc tình dang dở, sáng tác của ông thường mang âm điệu u buồn, thê lương như phảng phất nỗi sầu của cổ nhạc miền Nam. Nổi tiếng nhất là “Nửa Đêm Ngoài Phố” với tiếng hát liêu trai Thanh Thúy. Sau đó là “Buồn Trong Kỷ Niệm” với những câu hát đớn đau, buốt nhói tim gan người nghe như “Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn. Đôi khi nhầm lẫn đánh mất ân tình cũ, có đau chỉ thế, tiếc thương chỉ thế. Khi hai mơ ước không chung lối về…” Có người cho là bài hát này ông đã viết ra sau khi bị thất tình một cô ca sĩ lừng danh thời đó.

Nhạc của Trúc Phương có một giai điệu rất đặc biệt của riêng ông, mà khó lầm lẫn với người khác được. Nó trầm buồn, ray rứt, ưu tư và buồn phiền vì những mối tình dang dở, trái ngang. Nên khi soạn hòa âm cho những bài hát của Trúc Phương, nhạc sĩ hòa âm phải sử dụng ít nhất là một trong vài loại nhạc khí cổ nhạc như đàn bầu, đàn tranh, hay đàn cò (hoặc violon) thì mới có thể diễn tả hết cái hay của dòng nhạc Trúc Phương và người nghe lại càng thấm thía với nỗi muộn phiền, nhức nhối tim gan của ông.

Tên tuổi và tài năng sáng chói, nổi bật, nhưng tình duyên của nhạc sĩ Trúc Phương thì vô cùng lận đận. Khoảng năm 1970, Trúc Phương được một thiếu nữ vô cùng xinh đẹp, cao sang đài các đem lòng yêu thương ông, do rung cảm từ tài năng và những tác phẩm tuyệt vời của ông. Cả hai đã nên duyên chồng vợ. Tuy sống trong cảnh nghèo nàn, đó là những năm tháng hạnh phúc nhất trong cuộc đời của Trúc Phương và ông sáng tác sung mãn hơn bao giờ hết với hàng chục bài hát ra đời mỗi năm. Nhưng niềm vui của đôi uyên ương này không kéo dài được lâu. Sau một thời gian chung sống với nhau, những tình cảm ban đầu trở nên phai lạt dần theo năm tháng và hai người đã lặng lẽ chia tay nhau. Câu hát ngày nào lại rơi đúng vào trường hợp này “khi hai mơ ước đã không cùng chung hướng về” và “đường vào tình yêu có trăm lần vui, nhưng có vạn lần buồn”? Nhạc sĩ Trúc Phương âm thầm đau khổ trong cô đơn và lại vùi đầu vào men rượu để sáng tác thêm nhiều bài hát trong nỗi đau thương cùng cực, pha chút chán chường cho nhân tình thế thái.

Bạn bè thường gặp ông ngồi yên lặng bên những ly rượu nơi một quán nhỏ ở đường Tô Hiến Thành, quận 10, gần nhà của ông. Có lẽ đó là một cách làm cho nhạc sĩ tạm quên đi những cay đắng của tình đời. Đó cũng chính là lúc bài hát “Thói Đời” được sáng tác với những câu như “Bạn quên ta, tình cũng quên ta, nên chung thân ta giận cuộc đời, soi bóng mình bằng gương vỡ nát, nghe xót xa ngùi lên tròng mắt”… và “Người yêu ta rồi cũng xa ta … “Cỏ ưu tư” buồn phiền lên xám môi …”. Thực ra phải nói là “cỏ tương tư” tức “tương tư thảo” là tên gọi văn hoa của thuốc lá. Những giọt rượu nồng của cõi “trần ai” này lại càng gợi thêm “niềm cay đắng” để cho nỗi ưu tư “in đậm đường trần”.

“Thói Đời” lại như là một lời tiên tri thật chính xác cho quãng đời còn lại của ông suốt gần 25 năm sau đó (1971-1995).

Sau năm 1975 thì sự nghiệp sáng tác nhạc của ông dừng lại, tất cả những ca khúc của ông đều bị cấm phổ biến và trình diễn. Ông vượt biên không thành nên mất căn nhà trên đường Nguyễn Văn Thoại. Không nghề nghiệp, không nhà, ông làm đủ mọi việc để sinh sống. Với hai bàn tay trắng, ông trở về quê cũ sống nhờ vả bạn bè, mỗi nơi một thời gian ngắn. Có người hỏi sao ông không về quê ở hẳn với thân nhân, Trúc Phương đã trả lời “Má của tôi thì già yếu đang ở dưới quê Cầu Ngang (Trà Vinh), nhưng bà nghèo quá, lại phải nuôi đám cháu nheo nhóc, không đủ ăn … nên tôi không thể về đó để làm khổ cho bà thêm nữa.”
Ở dưới tỉnh nhà Trà Vinh với bạn bè xưa cũ một thời gian, Trúc Phương lại tìm đường về Sài Gòn. Ban ngày ông làm thuê, làm mướn đủ mọi thứ nghề và lang thang khắp nơi. Bạn ông kể có một dạo bạn bè cho tá túc, ông sống trong một cái chuồng heo được sửa sang chút đỉnh, mà cũng chẳng được bao lâu…

Ông có tâm sự lại vài lời xót xa, nghẹn ngào, xúc động trên một đoạn video clip ngắn ngủi về đời sống của chính bản thân ông lúc đó như sau: “Sau cái biến cố cuộc đời, tôi sống cái kiểu rày đây mai đó, “bèo dạt hoa trôi”… Nếu mà nói đói thì cũng không đói ngày nào, nhưng mà no thì chẳng có ngày nào gọi là no… Tôi không có cái mái nhà, vợ con thì cũng tan nát rồi, tôi sống nhà bạn bè, nhưng mà khổ nỗi hoàn cảnh họ cũng bi đát, cũng khổ, chứ không ai đùm bọc ai được… đến nữa lúc đó thì vấn đề an ninh có khe khắt, lúc đó thì bạn bè tôi không ai dám “chứa” tôi trong nhà cả, vì tôi không có giấy tờ tùy thân, cũng chẳng có thứ gì trong người cả. Tôi nghĩ ra được một cách… là tìm nơi nào mà có khách vãng lai rồi mình chui vào đó ngủ với họ để tránh bị kiểm tra giấy tờ… Ban ngày thì lê la thành phố, đêm thì phải ra xa cảng thuê một chiếc chiếu, một chiếc chiếu lúc bấy giờ là một đồng… thế rồi ngủ cho tới sáng rồi xếp chiếc chiếu trả người ta… thế là mình lấy một đồng về… như là tiền thế chân… Một năm như vậy, tôi ngủ ở xa cảng hết 9 tháng… Mà nói anh thương… khổ lắm… Hôm nào mà có tiền để đi xe lam mà ra sớm khoảng chừng năm giờ có mặt ngoài đó thế rồi thuê được chiếc chiếu trải được cái chỗ lịch sự chút tương đối vệ sinh một tí mà hôm nào ra trễ thì họ chiếm hết rồi, những chỗ sạch vệ sinh họ chiếm hết rồi, tôi đành phải trải chiếu gần chỗ “thằng cha đi tiểu vỉa hè”, thế rồi cũng phải nằm thôi. Tôi sống có thể nói là những ngày bi đát… mà lẽ ra tôi nên buồn cho cái hoàn cảnh như thế nhưng tôi không bao giờ buồn… Tôi nghĩ mà thôi, còn sống cho tới bây giờ và đó cũng là một cái chất liệu để tôi viết bài sau này…

Và ông âm thầm từ giã cõi đời trong cảnh nghèo nàn, bi đát và cô đơn trong căn phòng trọ tồi tàn, nhỏ hẹp ở quận 11, Sài Gòn vào ngày 18 tháng 9 năm 1995, tài sản của ông có được lúc đó chỉ là một đôi dép…

Trúc Phương ghi lại biết bao cuộc tình lãng mạn ướt át nồng nàn. “Nửa đêm ngoài phố” lang thang, tình cờ làm quen một người con gái lạ, rồi để lòng vương vấn mãi: “Buồn vào hồn không tên, thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời. Ðường phố vắng đêm nao quen một người..” hoặc “Trở lại chuyện hai chúng mình. Khi em với anh…” làm quen, hẹn hò cùng nhau đi tới mòn lối, khiến nó trở thành “Con đường mang tên em”. Cũng có những lúc cô đơn, rút về nhốt mình nơi nhà trọ, nhưng Ðêm gác trọ chỉ nói lên nỗi buồn bâng quơ có vương chút phấn chấn nhờ thể điệu Tango, mà Trúc Phương ít khi dùng trong hầu hết các nhạc phẩm của mình. Rồi có lúc người yêu xưa tìm đến, cùng nhau ôn chuyện cũ, nhắc lại Chuyện ngày xưa, được ghi lại: “Hôm nào em đến thăm, mà quên mang tiếng cười, lặng yên không nói. Hai mươi tuổi đời qua mất rồi… Thôi em nhé, xin trả về niềm cô đơn trước, cho anh bước xuôi ngược, khi hai chúng mình, vòng tay trót buông xuôi, dù gặp nhau ta cúi mặt bước mà đi ”

Tiếng hát khói sương và nhạc sĩ Trúc Phương

Nhắc đến Tiếng Hát Liêu Trai, Tiếng ca U Hoài, Tiếng Hát Khói Sương Thanh Thúy phải nhắc đến Trúc Phương. Hình ảnh Thanh Thúy là nguồn cảm hứng cho ông sáng tác nhiều tuyệt phẩm mà giọng hát Thanh Thúy đã làm cho đi vào tâm khảm bao người: Chuyện Chúng Mình, Hai Lối Mộng, Ai Cho Tôi Tình Yêu, Chiều Cuối tuần, Buồn Trong Kỷ Niệm, Bóng Nhỏ Đường Chiều, Tàu Đêm Năm Cũ, …

Trúc Phương đã viết tặng riêng Thanh Thúy một số ca khúc: Hình bóng cũ, Lời ca ca nữ, Mắt em buồn, Tình yêu trong mắt một người, Mắt chân dung để lại.

Hãy nghe Thanh Thúy- người hát nhạc ông thành công nhất, nói về ông trong một số báo tưởng niệm ở hải ngoại sau khi ông mất:

“Anh và tôi không hẹn, nhưng đã gặp nhau trên con đường sống cho kiếp tằm. Anh trút tâm sự qua cung đàn, còn tôi qua tiếng hát. Trong khoảng thập niên 60, tên tuổi Anh và tôi như đã gắn liền với nhau: nhạc Trúc Phương, tiếng hát Thanh Thúy.

Như một định mệnh, tôi vào đời ca hát đúng vào thời điểm Anh say mê sáng tác, và tình cờ trở thành vị sứ giả đem tâm sự Anh đến mọi người, những người không nhiều thì ít cùng mang một tâm sự với Anh. Tâm sự về tuổi thơ mộng, về tình yêu dịu dàng của đôi lứa (dù trong bối cảnh đau thương của đất nước), về chuyện tình dở dang, về cuộc đời…

Đến khi nhạc phẩm “Nửa Đêm Ngoài Phố” ra đời, tên tuổi Anh đã vang dậy khắp nơi. Với thể điệu Rumba quen thuộc, diễn tả tâm trạng đau buồn của một người khi người yêu không đến nữa, “Nửa Đêm Ngoài Phố” đã ăn sâu vào lòng tất cả mọi người, từ những người lớn tuổi, cho đến lớp người trẻ lúc bấy giờ. Bất cứ buổi trình diễn nào, tôi cũng được yêu cầu trình bày “Nửa Đêm Ngoài Phố”, từ các sân khấu phòng trà, khiêu vũ trường cho đến Đại Nhạc Hội, từ các thôn làng nhỏ bé cho đến các tiền đồn hẻo lánh xa xôi. Ngoài ra, trong những chương trình phát thanh của đài Sài Gòn và đài tiếng nói Quân Đội, vào bất cứ chương trình nhạc nào cũng có bài này…

Cũng như “Nửa Đêm Ngoài Phố”, nhiều nhạc phẩm của Anh đã trở thành gần gũi với mọi người và đã giúp tôi leo cao hơn trên nấc thang sự nghiệp. Các bài này gồm có: Nửa Đêm Ngoài Phố, Buồn Trong Kỷ Niệm, Hai Lối Mộng, Chiều Cuối Tuần, Mưa Nửa Đêm, Tàu Đêm Năm Cũ, Hai Chuyến Tàu Đêm, Chuyện Chúng Mình, Đêm Tâm Sự, Hình Bóng Cũ, Đò Chiều, Chiều Làng Em…

Thế rồi, theo như Anh hơn một lần tâm sự, đường đời đã chia đôi chúng tôi ra hai ngã, hai hướng đi. Tôi đã giã từ sân khấu, giã từ lời ca tiếng nhạc, giã từ tất cả, theo chồng đi đến những phương trời xa. Còn Anh vào quân ngũ, và vẫn tiếp tục hăng say sáng tác, hầu hết những nhạc phẫm đều nói về đời người lính phong sương, xa nhà, xa thành phố, xa người em nhỏ hậu phương… (24 Giờ Phép, Bông Cỏ May, Kẻ Ở Miền Xa, Trên 4 Vùng Chiến Thuật…)

Vào thời điểm này, anh Duy Khánh, anh Chế Linh và Hoàng Oanh có lẽ là những ca sĩ đã hát nhạc của Anh rất nhiều.

Kiếp tằm chưa dứt, tôi đã trở lại với sân khấu, với ánh đèn màu. Trở lại với “Nửa Đêm Ngoài Phố”, với “Buồn Trong Kỹ Niệm …

Rồi lại thêm một lần cuộc đời lại chia đôi chúng tôi ra hai ngã: Anh kẹt lại quê nhà, tôi sống đời lưu vong. Tôi đã tìm đủ mọi cách để liên lạc hầu mong gởi về những gói quà biếu Anh. Sự liên lạc trong những năm đầu thật khó khăn, cho mãi tới sau này, qua một số bạn bè và qua Trần Quốc Bảo, tôi mới có thể liên lạc thường hơn với Anh. Tuy nhiên, tôi rất lo lắng về bịnh tình Anh do Trần Quốc Bảo kể lại. Nhìn những tấm ảnh Anh gởi qua đăng trên Thế Giới Nghệ Sĩ, trông Anh gầy gò, đau yếu, tôi đã không sao cầm được nước mắt. Tôi đã bàn với Trần Quốc Bảo thực hiện một cuốn băng với toàn nhạc của Anh, hầu có thể giúp Anh phần nào trên phương diện vật chất lẫn tinh thần. Chợt nghe tin Anh đau nặng… Chợt nghe tin Anh qua đời…”

304 – Llttm - sgtc


Monday, June 8, 2026

Món Quà Buồn Trước Mộ - Thuyên Huy

 

 Món Quà Buồn Trước Mộ




    Anh ngồi đó, giữa trời, nắng cuối hạ chang chang đổ, cái nghĩa địa cuối làng khô cằn, nứt nẻ. Mấy cây Sao già cao trụi lá, cành nhánh khẳng khiu, vẫn còn cố đứng dưới trời nhưng chẳng cho người một chút gì gọi là bóng mát. Con quạ đen, tự lúc nào, đậu trên đầu ngọn một cây cao nhất nhìn xuống anh, kêu từng tiếng kêu kéo dài, rời rã, buồn nảo nuột. Anh lặng thinh ngồi giữa hai nấm mộ, khói nhang quyện lờ mờ màu khói bếp chiều quê, anh cố dằn không khóc, vì hôm nay là một ngày vui mà ba má, đã mong đã chờ, cơm vắt cơm nấm cho anh từ những ngày còn sống.

*

    Ba mất sớm vì một tai nạn ngoài đồng, lúc anh còn quá nhỏ, nghe má nói lại khi anh vừa vào lớp năm trường làng, ba cuốc đất bùn, đấp chận nước ở khúc cuối gò thấp trũng, ông cuốc nhầm trúng ngay ổ rắn độc, bị cắn, bắp chuối ra máu nhiều quá, ba cổi áo cột chặt, ráng đạp xe về, bà con trong xóm, người đở người ôm, phụ má, nhờ xe lôi máy chú tám quen nhà  bên, chở ba ra trạm y tế xã, nhưng không kịp cứu, má đem ba chôn ở nghĩa địa làng, khu đất nằm chơ vơ ven bờ ruộng, ngó ra cái truông nứa chằng chịt. Không biết gì hơn, má ở vậy, một thân một mình nghèo xơ nghèo xác, lầm lũi chắt chiu, làm công lựa thóc lựa gạo cho một nhà máy xay lúa trong xã. Nhà tranh, vách đất, cột ngã cột xiêu, mái lành mái rách, má con cứ vậy chấp vá mà sống mà vui với phận người trời đã định.

*

    Rồi ngày cũng qua ngày anh lớn lên, với hơi ấm áo bà ba sờn vai bạc màu bùn của má, tay dắt tay mang má dẫn anh tới trường tiểu học xã, rồi trường trung học quận, từ đó cũng cơm chiều cá kho khô, rau mồng tơi luộc, nhưng má vui không biết làm sao mà nói, không nói ra nhưng chắc má mơ sẽ có một ngày, cây đèn dầu cũng vui lây, được ngồi bên anh lâu hơn hơn trước, nhắc lại niềm mơ ước mà ba má ấp ủ trong lòng, ngày nào đó sẽ nhìn được anh “công thành danh toại”.

*

    Vậy đó, má lại theo ba, bỏ anh ở lại, vừa qua ngày đưa ông Táo về trời, ngấp nghé tới Tết, năm anh học đệ Nhị, chuẩn bị mùa thi, chưa kịp nghe tiếng trống đình, chưa kịp nhìn gốc Mai già, sát hàng rào nhà chú tám xe lôi máy, trổ nụ đầu xuân, má mất vì cơn bạo bệnh, phổi đã nám nhiều cộng thêm sức người cứ lao tâm lao lực, sáng đội nắng chiều dầm mưa, cũng chú tám, cũng mấy người hàng xóm tốt bụng, cũng như ngày đó với ba, họ đưa má ra bệnh viện quận rồi bệnh viện tỉnh nhưng cũnh đành theo số mạng, ngồi bên giường bệnh, dưới ánh đèn vàng vỏ, lạnh lùng ma quái, anh khóc như mưa, khóc mà không nói được tiếng nào. Bà con đưa má về chôn bên cạnh ba, trong cái nghĩa địa làng nghèo vẫn nghèo như từ đó tới giờ.

*

     Từ đó, anh ở lại một mình, thui thủi một mình với cây đèn dầu khi mờ khi tỏ, với cái bàn thờ ba má giữa nhà, có những đêm ngồi học bài, buồn khóc rấm rứt, nói chuyện mình, chuyện bây giờ với ba má cũng tạm nguôi ngoai, may mà biết nấu cơm nấu nước nên không lo chuyện ăn chuyện uống, vợ chú tám nhà bên thấy thương nên thường thường chạy qua, đem cho tô cá kho, tô thịt ram mặn, chợ làng rồi cũng biết anh, khi lặng lẻ ra chợ, tay xách tay cầm bó rau bó cải, mấy trái dưa leo, cà chua ửng chín, nhờ số tiền làm công ở tiệm bán đồ xây cất, gạch ngói dưới chợ quận, ngày thứ bảy, chủ nhật, mà bác chủ thương tình mướn.

*

   Chong đèn thức trắng, với lời hứa trước bàn thờ ba má, sẽ không làm ba má dưới mộ sâu thất vọng, như ba má muốn khi còn sống. Ngày thi, nhờ bác chủ quản nhà thờ Cao Đài xã giới thiệu, xuống Sài Gòn ở nhờ tại nhà người em bà con, cũng cùng họ đạo, cách trường thi cũng không mấy xa, có xe buýt ngừng xế trước nhà nên đở lo, anh không quên qua bên nhờ chú thiếm tám dòm ngó giùm nhà mình, dù nhà không có cái gì đáng giá.




    Anh đậu Tú Tài Một, chú thiếm tám xe lôi máy, qua phụ dọn bữa cơm, vừa chung vui vừa cúng ba má anh bữa cơm báo tin, thấy anh rấm rức khóc, thiếm tám cũng ngậm ngùi khóc theo.  Và cũng từ hôm đó, cô bác bán hàng trên chợ xã đều nhớ tên anh, cũng không quên cho anh thêm cọng hành bó rau, trái cà trái dưa, chẳng những tiền bớt đồng một đồng hai mà còn hỏi “đủ chưa con đủ chưa anh, đủ chưa em”.

*

     Con quạ trên ngọn cây không còn ở đó, tiếng mất tiếng còn, tạ từ bay đi, chắc phải lâu lắm mới gặp lại, cơn gió nhẹ bất chợt về ngang từ phía truông nứa, lùa bó nhang thơm, nấn níu chút lửa muộn rực sáng, sửa lại cho ngay ngắn, anh lấy tờ giấy chứng chỉ Tú Tài Một, còn thơm mùi con dấu Nha Khảo thí đỏ, cẩn thận để trước đầu hai nấm mộ, chỗ anh ngồi, chấp tay xá rưng rưng thì thầm “ba má ơi, con thi đậu rồi”. Giờ thì anh mới bật khóc lớn thành tiếng giữa cái nắng cuối hạ chang chang đổ.

Thuyên Huy

Viết cho những người giống như anh trong chuyện dù là chuyện tưởng tượng

Không Tựa Đề - Phạm Thiên Thư

Không Tựa Đề

 















Ngày xưa anh đón em
Nơi gác chuông chùa nọ

Con chim nào qua đó
Còn để dấu chân in

Anh một mình gọi nhỏ
Chim ơi biết đâu tìm
Mười năm anh qua đó
Còn vẫn dấu chân chim

Anh một mình gọi nhỏ
Em ơi biết đâu tìm
Ngày xưa anh đón em
Trên gác chuông chùa nọ

Bây giờ anh qua đó
Còn thấy chữ trong chuông

Anh khoác áo nâu sồng
Em chân trời biền biệt
Tên ai còn tha thiết
Trong tiếng chuông chiều đưa

Ngày xưa em qua đây
Cho tình anh chớm nở
Như chân chim muôn thuở
In mãi bực thềm rêu

Cõi người có bao nhiêu
Mà tình sầu vô lượng
Còn chi trong giả tướng
Hay một vết chim bay.

Phạm Thiên Thư

  

Tiệm Sách Nhỏ Trong Nỗi Nhớ Lớn - Vũ Hùng Khanh

 

TIỆM SÁCH NHỎ TRONG NỖI NHỚ LỚN…




 

Tôi nhớ những ngày ấy, mẹ tôi dẫn tôi đi học vào mỗi dịp tựu trường. Trường tôi – Cũng là trường của anh TAK và chị Nương – là Aurore, Rạng Đông nằm trên đường Phan Đình Phùng thì đối diện nó, là tiệm sách Thanh Bình…

Chi tiết đập mạnh nhất vào ký ức của tôi, nơi tiệm sách nhỏ này, là dãy tủ kính bày hàng hóa thấp ngang bụng người lớn, nhưng lại cao ngang tầm mắt một đứa bé mới 6-7 tuổi như tôi, thành thử không nhìn ngắm được gì nhiều. Vẫn biết là trong dãy tủ nằm ngoan ấy cũng chỉ là bút, thước, com-pa, kéo, hồ… – Còn sách và tập vở cùng bao sách, bao vở thì xếp thành nhiều chồng sát tường, sau lưng ông bà chủ tiệm.

Dãy tủ kính với khung gỗ đó nằm giữa người mua và người bán, chúng có chừa ra một lối đi giữa chính mình và bức tường quét vôi xanh – Lối đi ấy chỉ đủ để ông bà chủ tiệm len người vào mà tiếp khách mua hàng. Mà luôn đứng, chứ không thể ngồi vì sách vở, như đã nói, xếp cao tới trần và ken đặc sau lưng họ.

Mẹ tôi kể, ông bà chủ người gốc Hải Phòng, trước 1954 – Lúc ấy tôi chỉ đủ lớn để hiểu, đó là một cột mốc lịch sử rất quan trọng nào đó mà người ta phải đi tàu bay hay tàu bò vào đây – từng có một tiệm sách cũng mang tên Thanh Bình ngoài đó. Khi phải chuyển cư theo Hiệp định Genève, ông bà vào đây, dừng chân trên con đường Phan Đình Phùng, lại gom vốn mà mở tiệm Thanh Bình thứ hai. Nó có từ rất lâu, thậm chí như lời mẹ tôi, còn trước cả khi trường Aurore mở cửa.

Ông chủ tiệm trông hom hem và quàu quạu bao nhiêu, bà chủ trông tươi cười bấy nhiêu. Ông chủ trông có vẻ lè phè kinh niên bao nhiêu trong bộ pyjama màu xanh dương nhạt dường như luôn mặc suốt ngày; bà chủ, tươm tất và tháo vát. Tôi nhớ, chỉ khi nào có mỗi mình bà đứng bán hàng, tôi mới dám hỏi bà: “Bác ơi, bác cho con mượn quyển sách kia ạ… Con chỉ đứng đây thôi!”. Chưa một lần bà từ chối, và chưa một lần nào bà cau mặt. Nhưng nếu có ông chủ đứng đó, dù đi cạnh mình là bố hay mẹ tôi, tôi vẫn câm như hến.

Kỷ niệm về dãy hộp bút chì màu 12 hay 24 cây nhãn Soleil (Mặt Trời) nằm trong tủ kính tiệm Thanh Bình còn theo tôi đến bây giờ. Nó cũng giống như kỷ niệm về những hộp màu nước Aquarelle có 10 màu với những ô hình tròn chia thành 2 bên – Khi nào vẽ, cứ cầm cây cọ nhúng nước sẵn bệt lên từng ô, rồi quệt màu ấy lên phần mặt bên trong của nắp hộp, muốn trộn bao nhiêu màu tùy ý. Cũng là kỷ niệm của từng cây thước double-décimètre có 2 đầu là 2 loại đơn vị đo; từng cây équerre vẫn bị lấy ra làm thước đo độ dài, thay cho thước đo thật khi nó bị mất vì lý do gì đó không nhớ. Không thể quên từng cây rapporteur hình bán nguyệt để đo độ góc mà mình cứ lóng ngóng mãi không biết dùng. Từng quyển vở 50 rồi 100 trang kẻ ca-rô, nhãn hiệu Cyclo máy, lực sĩ Olympic cầm đuốc hay hình Con nai vàng chỉ có ba chân.

Nhưng tiệm Thanh Bình, mãi sau này khi tôi lớn, tất cả gia đình ấy đã ra nước ngoài, tôi mới có dịp nghe bố tôi kể về họ cho mẹ tôi nghe trong một chiều nghe lỏm. Gia đình ấy có người con thứ hai tên là Quang Bình, tuổi Mậu Tý 1948, trong tất cả 7 người con – Ắt hẳn chữ “Bình” trong tên tiệm là tên anh. Người trai ấy học khoa Vĩ cầm trường Quốc gia Âm nhạc, năm 18 tuổi đã sáng tác được nhạc phẩm đầu đời và được đón nhận ngay. Người trai ấy từng quen một người con gái xinh, có ông thân sinh là một tài tử điện ảnh nổi tiếng, cả nhà từng tản cư ở cùng một làng với bác Phạm Duy hồi những năm 1940 – 1950.

Rồi người con trai tên Bình đó trở thành nhạc sĩ rất nổi tiếng, cả đời mình chỉ viết có 70 bài nhưng người ta ít nhất phải thuộc ít nhất của anh 30 – 40 bài. Từ tiệm sách nhỏ trên đường Phan Đình Phùng, anh được nhận vào sân bay, làm nhân viên điều tiết không lưu. Nhưng anh vẫn song song sáng tác.

Năm 1974, anh ghi âm chương trình chỉ gồm toàn các nhạc phẩm của mình và phát hành băng cassette. Những giọng hát hàng đầu như Lệ Thu, Khánh Ly, Tuấn Ngọc, Thái Thanh, Duy Trác, Duy Quang, Thanh Lan… đều hát bài của anh – Dù anh trẻ hơn một số những tên tuổi đó.

Khi gia đình anh ra đi, người yêu anh cũng ra đi, tiệm sách ngày xưa đóng cửa, chỉ còn mình anh ngồi thầm trên ban-công nhà mình, cô liêu nhìn xuống phố để ngẫm về những ngày phải sống một mình. Rồi 1979, tới phiên anh lưu lạc, dừng chân nơi một trại tỵ nạn tại Malaysia, trước khi sang Canada.

Người con gái họ Đoàn năm xưa vẫn chờ anh và bay từ Mỹ sang Montréal để gặp lại. Họ không rời nhau nữa, cùng nhau quay về San Diego, rồi cùng sang Orange County trước khi anh lại đi làm cho một công ty điện toán Mỹ. Rồi họ lấy nhau và làm nốt cái đám cưới bị tháng 4/1975 làm dang dở. Họ dừng chân nơi tổ ấm của mình tại Seattle, thành phố hàng năm có những ngày mưa nhiều gấp đôi số ngày nắng.

Chắc hẳn người nhạc sĩ họ Ngô ấy đã từng phải lấy từng cây bút, từng tờ giấy có dòng kẻ nhạc hoặc phải nắn nót kẻ từng khuôn nhạc của chính mình bằng từng cây thước nhựa mềm trong tủ kính bày hàng của bố anh. Anh đã đi rất xa về tăm tiếng và cả về địa lý, rồi lại trở thành thật gần với người vợ mà anh rất yêu, chị Thanh Vân con của ông Đoàn Châu Mậu.

Con trai ông chủ tiệm Thanh Bình có bút danh đầu đời là Đông Quân, về sau, là Ngô Thụy Miên.

Vũ Hùng Khanh

Nguồn: https://www.facebook.com/baovietluan

304Đen – Llttm -dsc

Mùa Hoa Cà Phê - Sầu Đông

 

Mùa hoa Cà Phê






Bốn thanh niên từ trên xe díp (jeep) nhảy xuống, ồn ào ùa vào quán cà phê trên con đường Hoàng Diệu. Đó là những sĩ quan trẻ đã ra khỏi quân trường Thủ Đức từ một vài năm nay. Họ đều trú đóng tại những đơn vị nằm quanh thành phố cao nguyên đất đỏ này. Tuổi đời của họ chênh nhau vài năm. Lực, gốc trung sĩ bộ binh, được đặc cách cho đi học chuẩn úy, về một đơn vị lực lượng đặc biệt; Cần, xuất thân thày giáo, đóng ở tiểu khu; Tín, kỹ sư công chánh, tiểu đoàn công binh kiến tạo; và Thắng, dân trường luật, làm việc trong văn phòng tùy viên của ông tướng vùng.

Thắng quen biết nhiều với chủ quán. Chủ quán còn trẻ, nghe nói có họ với hắn, có thằng em cùng đơn vị với Lực, lên thành phố này vừa làm lính cậu, vừa mở quán cà phê kiếm ăn khi chiến tranh bắt đầu lan đến vùng này cùng với sự hiện diện của quân đội đồng minh Mỹ. Quán có tí chất văn nghệ là nơi họp mặt của đám sĩ quan trẻ xa nhà. Khách tới quán ít lộn xộn như những quán cà phê hay những quán nhậu khác. Những chiều thứ bảy cuối tuần, nhất là vào những ngày cuối tháng hai, khi đám sĩ quan trẻ lần lượt hết phép từ những nơi khác trở lại vùng này, quán thường có nhạc sống do mấy em gái hậu phương – bạn của lũ em, cháu trong nhà – lên giúp vui.

Thắng hất hàm về phiá chủ quán:

– Chà, chiều nay đông dữ. Có nhạc sống có khác.

Hắn quay lại mấy tên bạn, giọng đùa dỡn:

– ‘Quan’ đưa mấy thằng đệ tử này đến nghe tiếng hát liêu trai của em bé ‘vườn-cà-phê-nhà-ai’, lỡ mai này có thằng nào trúng đạn VC chúng nó đỡ ân hận.

Lực chửi toáng lên:

– Mẹ mày, quan cách gì mày, thấy gái là tối mắt lại, ông đã ở lính nhiều năm, đạn nó tránh ông; còn mày, mày liệu cái thần hồn, cái mồm ăn mắm ăn muối của mày đạn nó dễ tìm đến lắm.

Nói vậy chớ Lực vẫn nể thằng bạn trời đánh này. Nó vừa có cái mã cao ráo, trắng trẻo của dân trí thức, lại vừa có cái lì lợm của mấy gã giang hồ. Hồi ở quân trường, thỉnh thoảng nó chui rào trốn về Sàigòn một tối với đào. Vào trường, bị quân cảnh đưa đi nhốt, nó vẫn tỉnh bơ. Và cái lần khiến Lực phải ngán nó là khi thằng Lộc sứt kềnh càng, chuyên nạt mấy thằng thư sinh giường bên cạnh, khệnh khạng đòi khện nó thì nó đã bình tĩnh thủ thế:

– Mày mà đụng vào ông thì cả lò nhà mày cũng không thoát!

Nó rút con dao găm dấu sẵn ở đầu giường và xấn tới thằng Lộc. Anh em phải can gián một chặp mới xong. Nó và thằng Lộc đều bị phạt trọng cấm, nhưng sau này hai thằng làm hoà với nhau. Thằng Lộc không biết nó nổi tiếng là thằng du côn ở trường luật, anh em nhà nó hơn mười đứa, và ông già nó làm bên an ninh quân đội. Mãn khoá, thằng Lộc tình nguyện đi biệt động quân. Trong buổi tiệc ra trường, thằng Lộc cụng ly với thằng Thắng, vừa cười, vừa nói: “ Mấy thằng trí thức cô hồn như thằng này, thằng nào cũng kiếm được chỗ trú thân ngon lành’’. Thằng Thắng cười hô hố:’’ Con ơi là con! Chúng mày đánh đấm được thua là nhờ bố mày cả đấy. Không có bố, bọn Cộng nó muốn nướng các con lúc nào cũng được’’. Nó về quân đoàn hai.

Tín ghé tai Cần:

– Tối hôm qua, nó dắt về phòng tao hai con nhóc mới ở Qui Nhơn lên. Bác sĩ Quế ở đường Sư Vạn Hạnh cho chích pénécilline chưa dứt bịnh mà nó dám quất một lúc cả hai. Tụi nó mà biết nó đổ bịnh cho tụi nó thì tụi nó đào mả cha nó lên. Nó o được một trong mấy em đến hát chiều nay. Em bé này khá xinh, là học trò trường nữ. Tao có gặp em bé một lần ở hội quán Phượng Hoàng. Cần buột miệng: “ Tội nghiệp!’’. Tín bảo: “ Lính mà em!’’.

* * * * *

Trên sàn gỗ đóng bằng ván những mảnh thùng đạn pháo binh, dưới ánh đèn vừa đủ sáng khuôn mặt, cô bé học trò trường nữ hất nhẹ mái tóc xoã ra sau. Mặt bầu, má đỏ, môi hồng mọng, và cặp mi cong vút. Phiá dưới, trong ánh sáng mù mù tối, là những khuôn mặt quen thuộc của đám lính trẻ xa nhà. Cô hát bản ‘ Tàu đêm năm cũ’ giọng mềm, dịu, và trong, không làm nhão người như giọng ca Thanh Thúy, nhưng những chỗ luyến láy chùng xuống đủ để làm bọn trẻ nao người. Thỉnh thoảng cô lại liếc về phiá bàn bốn nguời. Tín thấy ánh mắt cô bé lướt qua rất nhanh, nhưng tia nhìn vụng dại như muốn dừng lại trước khuôn mặt rất tỉnh của Thắng.

Tín ghé vào tai Cần: “ Thế là em chết một cửa rồi!’’

Thắng quay qua Tín và Cần:

– Hai thằng này ở gần đây, chút nữa chúng mày đi bộ về trước. Tao lấy xe díp đưa em về nhà bà thím của em phiá trên chợ.

Nó vỗ vai Lực:

– Còn mày, con nhà võ thứ thiệt, nhờ mày đi hộ tống em với tao. Ngoan, tao bảo em giới thiệu bạn của em cho mày. Em có con bạn xinh đáo để. Hai thằng kia, một thằng là giáo làng cù lần, quân đội bắt nó vào lính là lầm lẫn lớn. Tao cho nó về trước. Tao mà làm tổng trưởng quốc phòng, tao đuổi cổ nó ra khỏi quân đội, cho nó biệt phái về trường làng. Còn thằng phải gió kia cho nó về sớm để ngày mai lên hầu bà tướng. Hồi chiều nó mới nói với tao là bà tướng nhắn nó lên vẽ cho bà cái sơ đồ nhà khách, chẳng biết bà ấy có sai nó giặt đồ lót cho con gái của bả không?

Thắng cười hềnh hệch. Cười xong, hắn lại nghiêm nét mặt như cũ.

Bốn tên sĩ quan trẻ mỗi đứa mỗi tính mỗi nết, nhưng cùng một đại đội hồi ở Thủ Đức, lại thường gặp lại nhau trên thành phố cao nguyên này, họ thành bạn thân của nhau. Cả ba gã kia đều phải nhận Thắng là một gã sắc sảo. Nó cười, nó đùa, lúc vui, lúc nham nhở, nhưng không ai giận nó. Nó kết thân rất nhanh, và cũng làm hoà rất nhanh với mọi người. Có lần Tín có việc phải lên trên Quân đoàn, thấy nó từ văn phòng tùy viên lững thững đi ra chẳng khác một công chức cao cấp của bộ giao thông vận tải của Tín, lúc Tín chưa vào lính; lần khác cũng có việc phải lên quân đoàn, Tín thấy Thắng đang lao nhanh ra chiếc xe díp như một con báo.

Cô bé hát xong bản nhạc. Tiếng vỗ tay rào rào. Có tiếng huýt sáo. Thắng vẫn tỉnh queo. Hắn gật gật đầu kêu em bé xuống. Cô bé cùng một cô bạn khác e lệ bước xuống. Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn bên vách, Tín thấy hai cô bé chập chờn như đang cười.

Rất tự nhiên, Thắng ôm vai cô bé vừa hát xong, giới thiệu với các bạn:

– Hương, “em’’ tao, còn Điệp là em họ của chủ quán.

Hắn giới thiệu tiếp:

– Mấy tên này các em đều biết cả rồi.

– Chào các anh, em mới chỉ biết anh Lực và anh Cần, còn anh gì đây em chưa được biết.

Cô bé chúm chím cười.

Cần tiếp lời:

– Anh Tín đóng ngay bên kia đường mà em không biết sao? Kỹ sư cầu cống đấy.

Tín bắt đầu mở máy:

– Anh ghiền cà phê quán này rồi. Hôm nay nhìn mắt em thấy đen óng như màu cà phê Arabica, và áo em trắng như màu hoa cà phê trên đồn điền Catekca. Anh mê rồi đấy.

Hương và Điệp chúi vào nhau cười khúc khích.

Thắng đấm nhẹ vào người Tín:

– “Em’’ tao, mày đừng tán nhảm. Muốn biết cà phê ra sao, hôm nào tao chở mày lên đồn điền nhà em cho mày biết. Chỉ sợ mày chưa lên tới đó đã vãi đái ra quần. Ở đây chỉ có thằng Lực dám lên mà thôi.

Điệp nhìn Lực cười mím chi. Cái nhìn rất lạ.

Tín ngơ ngác:

– Chi mà ớn dữ vậy?

– Mới tháng vừa rồi có thằng trung úy pháo binh, lạng quạng vào một vườn cà phê dưới miệt đó, bị VC dắt đi rồi.

Thắng đẩy nhẹ Cần và Tín:

– Thôi nhé, chúng mày ở gần đây, chúng mày thả bộ về trước. Tao với thằng Lực đưa Hương và Điệp về. Còn cái màn thằng Tín tán nhảm em tao, tao sẽ cho mày một dịp thấy tận mắt hương, hoa, trái cà phê. Mày biết đếch gì về cà phê mà Arabica với Catekca.

Hắn vừa cười vừa dìu Hương ra phiá cửa quán:

– Để anh đưa ‘hoa-cà-phê’ của anh về nhà.

Cô bé, tay vén vạt áo trước, nghiêng người đi nép vào bên Tín. Bốn người lần lượt lên chiếc díp. Hương và Điệp ngồi phiá sau. Buổi chiều cuối tháng hai ở thành phố cao nguyên này sương mù đã giăng đầy. Ngoài đường một vài chiếc quân xa lướt ngang, và phiá cuối đường có dáng người co ro, vội vã. Tín đề máy, gài số, lao xe về phiá chợ.

* * * * *

Vừa thấy mặt Thắng, Tín đã chửi:

– Cha mày, đi đâu mà mấy tuần nay không thấy mặt mày.

– Tao kẹt công tác khẩn, đi không kịp báo ai cả. Vào thay quần áo cho đàng hoàng rồi lên xe đi với tao. Tao mới gặp ông tiểu đoàn trưởng của mày chiều hôm qua trên quân đoàn. Mày được miễn trực ngày hôm nay, chắc mày đã biết rồi.

– Xếp mới báo cho tao biết hồi sáng nay. Mày làm cái thá gì mà nói một tiếng ông ấy nghe vậy.

Thắng chọc quê Tín:

– Tao vẽ cái nhà vệ sinh cho bà tướng.

– Thằng khốn.

Hai gã phá ra cười.

Thắng:

– Hôm nay tao cho mày biết thế nào là hoa cà phê.

– Uả, lên đồn điền?

– Nghe nói lên đồn điền mà đã sợ vãi đái ra quần sao? VC chúng nó không thèm bắt những thằng gà chết như mày.

Hắn tiếp, giọng nghiêm trở lại:

– Đùa mày một tí thôi. Vòng ngoài đồn điền mấy lúc này có cả trung đoàn nằm bọc, và ngoài xa nữa là những đồn biệt động quân biên phòng, yên chí lớn đi. Vả lại đang xuân, tụi nó chưa kịp chuyển quân vào. Mấy năm nay, chưa hề có chuyện gì nghiêm trọng xảy ra cho đồn điền này cả. Em Hương của tao vẫn đi đi, về về, bình thường.

Khi xe chạy ngang tiểu khu, nó nói với Tín:

– Lúc này chắc thằng Cần đang đi hành quân phiá ngoài Thanh An để tao và mày lên đó cho an toàn hơn nữa.

– Sao mày biết?

– Tới đó rồi hay, đừng có thắc mắc.

Chiếc xe díp chạy ào ào về hướng Thanh An cuốn theo một lớp bụi đỏ mờ mịt.

Tín bảo:

– Núi đồi hùng vĩ chập chùng, trời xanh lồng lộng thế này mà đừng có chiến tranh thì tao sẽ lên vùng này lập nghiệp, tao dân đồng bằng nhưng tao không thích những gì thẳng đuỗn, bằng phẳng.

– Nếu vậy, tao gả ‘hoa-cà-phê’ của tao cho mày. Nhưng dân đồng bằng mà tâm hồn lại lớn như núi rừng, thì xin lỗi mày, tao ngờ quá.

Tín đổi hướng:

– Mày chưa táy máy gì con người ta chứ?

Không nghe tiếng Thắng trả lời. Chỉ có tiếng gầm rú của chiếc xe lao nhanh về phiá trước.

Thắng như đã thuộc lòng đồn điền. Chiếc xe chạy qua những đồi trà, và những đồi cà phê bạt ngàn, chạy băng tới trước sân căn nhà ngói nằm trên một quả đồi. Tín thấy tỉnh cả người. Nhìn trước mặt, chìm trong những nhánh lá cà phê xanh đậm, mượt mà là những chùm hoa trắng muốt, những trái cà phê mọng đỏ. Ngây ngất trước mùi thơm của cà phê đang rang đâu đây, nhưng Tín cũng còn chút cảm giác ớn lạnh khi thoáng thấy những ánh nhìn vội của những người công nhân hái trà. Sương sớm dần tan, và những tia nhìn của những người hái trà vẫn như lẩn khuất sau những giải lụa mỏng. Tín chỉ yên lòng trở lại khi nhớ tới lời Thắng: “ Có cả trung đoàn nằm ở vành đai bên ngoài’’.

Chủ đồn điền là pá (bố) của Hương. Ông ta đã ra đến sân.

Thắng cất tiếng chào:

– Chào bác. Hai bác và các em vẫn mạnh giỏi? Đã lâu lắm cháu mới lại có dịp lên trên này thăm hai bác và các em. Mấy tháng nay cháu bận đi công tác xa. Lúc này ở đây êm nhiều rồi phải không bác? Sau Mậu Thân chắc mấy chả bớt quậy rồi.

– Dạ phải, mấy lúc này êm hơn trước đôi phần, tôi dân nhà vườn, tôi chẳng để ý tới việc binh. Tôi chỉ biết làm vườn nuôi gia đình mà thôi.

Ông ta nhìn qua phiá Tín.

Thắng vội giới thiệu:

– Thiếu úy Tín là sĩ quan công binh, bạn thân của cháu. Anh ấy là kỹ sư công chánh bị động viên.

Thắng vui vẻ:

– Lính này là lính cậu đó bác, dám chưa biết bắn súng, chớ uống cà phê thì tinh lắm. Anh bạn cháu nghe nói hoa cà phê rất đẹp, cứ nằng nặc đòi xem cho bằng được. Hôm nay anh ta được miễn trực, cháu đưa lên đây, vừa là dịp thăm gia đình làm quen, vừa cho anh ấy biết mặt mũi đồn điền.

Thắng vừa nói vừa liếc thật nhanh vào phiá nhà trong.

Cùng lúc, Tín thấy một phụ nữ trung niên và Hương từ phiá trong cửa bước ra.

Tín và Thắng cùng gật đầu chào.

Ông pá của Hương:

– Má mày và con Hương vào trong nhà pha mấy tách cà phê mời hai trung úy.

Ông day qua Thắng và Tín:

– Cà phê nhà vườn là cà phê cứt chồn, mới rang hồi hôm, có bỏ tí rượu rom (rhum) và bơ Bretel cho dậy mùi.

Tín:

– Cà phê cháu uống ở Quán Nhớ dưới thị xã đã ngon lắm, nhưng chắc chắn không sao bằng cà phê cứt chồn của bác được.

Tín nghe loáng thoáng có tiếng cười rúc rích phiá trong. Lúc sau, một chú bé khoảng mười hai, mười ba từ trong nhà chạy ra chào, rồi ghé tai Tín nói nhỏ:

-Má em bảo là trong hai ông trung úy thăm vườn bữa nay không biết có tin được ông nào không?

Tín bật cười, ghé tai thằng bé:

– Anh là người đáng tin cậy nhất trên thế giới này.

Thằng bé nguýt mỏ thật dài, thoắt một cái đã biến vào phiá trong.

Tín vừa nhắp một ngụm cà phê vừa xuýt xoa:

– Cà phê thơm và ngon quá. Cháu đã thử cà phê nhiều nơi, nhưng chưa đâu bằng. Ngay cả cà phê Jean Martin ở Sàigòn cũng không bằng được. Hết chiến tranh, chắc cháu phải xin về vùng này.

Ông bố của Hương:

– Ông Jean Martin dưới Sàigòn cũng lấy cà phê ở đây, nhưng ông ấy còn pha phách thêm một hai loại khác để lấy màu và độ sánh. Cà phê cứt chồn ở đây là loại thượng hảo hạng, chỉ dành đãi khách quí mà thôi. Những trái cà phê chín tới, mà ở đây là loại Arabica, loại cho hương vị thơm và đậm đà chất cà phê hơn tất cả các loại cà phê; chồn ăn phần thịt, hột tống ra ngoài. Loại này, sau khi sao tẩm, không có thứ hạt cà phê nào sánh bằng. Lát nữa, khi nào các trung úy về, tôi bảo em nó gói tặng vài kí.

Tín thấy ông bố của Hương hình như muốn nói chuyện riêng với Thắng.

Ông gọi với vào nhà trong:

– Khi nào trung úy Tín dùng xong cà phê, con đưa trung úy ra ngoài thăm vườn. Từ thị xã lên đây chỉ mười mấy cây số, nhưng đi lại không phải lúc nào cũng dễ dàng, chưa kể mấy ông nhà binh mỗi lần đi đâu đều phải có phép.

* * * * *

Hương đưa Tín ra khỏi nhà. Từ trên đồi nhìn xuống là những luống trà xanh um. Phiá bên trái đồi trà là một dãy đồi cà phê. Hai người lững thững bước xoải xuống đồi. Tín để ý thấy viền mi của Hương hơi sưng nhưng mắt nhìn vẫn thật trong, và làn da con gái đương thì vẫn mịn màng. Dưới phố, Tín quen một vài cô gái, con của những gia đình quân nhân và công chức ở gần cư xá công binh của Tín, nhưng lạ là tới đâu Tín cũng chỉ thấy nhớ cô bé này. Nếu đừng có Thắng!

Tín nói với Hương:

– Trong này êm chứ em?

Hương:

– Anh đi theo anh Thắng thì chẳng có gì phải sợ cả.

Tín ngờ ngợ:

– Nghe nói mấy tháng trước có sĩ quan trên quân đoàn vào vùng này bị mất tích!

– Em cũng có biết chuyện ấy, nhưng mới hôm qua tiểu khu đã hành quân quanh vùng. Tuần trước, anh Cần và đại đội của anh ấy có đi ngang đây.

Thắng nhìn xuống sườn đồi thoai thoải, theo Hương đi xuôi xuống triền dưới. Khi tinh thần đã ổn định hẳn, Tín thoáng nhận ra mùi hoa lài cùng mùi hoa bưởi.

Tín hỏi:

– Hình như quanh đây có cả hoa lài, và cam hay bưởi. Quê anh miệt Biên Hoà, mũi của anh thính lắm.

Hương:

– Mùi hoa cà phê đó anh. Đi xa nhà một chút, khi mùi cà phê đã tan hết anh nghe như mùi hoa lài lẫn với mùi hoa bưởi, đó chính là mùi hoa cà phê. Anh Thắng vẫn bảo là anh ấy yêu mùi hoa cà phê hơn mọi thứ trên đời. Anh ấy bảo là chỉ có hoa cà phê mới có được mùi hương thơm đặc biệt như vậy và em là hoa cà phê của anh ấy.

Nói tới đây, mắt của Hương như dại đi.

Bỗng nhiên, Tín thấy nhói trong tim. Thằng ma gà này nó làm thịt con bé này dễ dàng quá! Tín muốn ôm lấy Hương, nói với Hương là chính anh mới yêu Hương, khi những lần trong cái quán cà phê ở đường Hoàng Diệu nhìn và nghe Hương hát, và nhất là ngay lúc này khi nghe Hương nói về hoa cà phê, khi nhìn những chùm hoa trắng muốt, khoẻ khoắn lấn lên trên những trái cà phê mọng đỏ, dưới những tàn lá xanh đậm, mượt mà. Anh nhìn vào mắt Huơng, muốn lặp lại câu nói đã có lần anh nói trước đây:’’ Mắt em trong và đen như màu cà phê và tâm hồn em trong trắng quá!’’ nhưng anh không sao thốt ra lời. Anh lặng lẽ nhìn lên khoảng trời trong xanh của một ngày nắng đẹp hiếm hoi. Anh đi bên Hương mà lòng anh bao nhiêu thắc mắc cứ dồn cứng lại. Anh nhớ lại chuyến phi cơ quân sự đưa anh lên thành phố cao nguyên vào một chiều sương mù choàng kín thành phố. Và chỉ vài ngày sau là trận Mậu Thân. Anh không thuộc đơn vị tác chiến, và tuy chiến trận xảy ra tận bên ngoài thành phố, phiá ngọn đồi Thần Phong, anh cũng đã nghe nhịp tim thình thịch khi tiếng súng nổ rền phiá xa. Cái vẻ an bình bề ngoài của ngày hôm trước, hôm sau đã thay vào bằng mùi khí tử khí nồng nặc của hàng trăm xác lính Bắc Việt và Thượng Cộng chất thành đống bên bià rừng, trước khi công binh tưới xăng hoả thiêu. Vậy mà Thắng nó vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy ra, và những lần nó biệt phái từ Vùng I trở về, anh lại thấy nó dắt về phòng anh lần thì một đứa, lần thì hai đứa – những con điếm trẻ măng từ Sàigòn, hoặc từ Qui Nhơn, Đà Nẵng đổ lên. Đôi lần, anh hỏi nó về Hương. Nó chỉ vắn tắt: “ Đàn bà, con gái cả mà!’’.

Khi hai người quay trở lại căn nhà trên đồi, anh nghe loáng thoáng từ xa có tiếng gắt của ông pá của Hương, và tiếng đối đáp cũng không kém quyết liệt của Thắng. Nhưng chỉ một thoáng là hết.

Trên đường về từ đồn điền, chiếc xe chồm giật qua những ổ gà. Thỉnh thoảng mộ t vài chiếc xe tải của sư đoàn không kỵ 25 của quân đội Mỹ chạy ngang. Một vài gã lính Mỹ dơ tay lên vẫy. Thắng vẫn thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra giữa Thắng và ông già của Hương. Tín còn nhớ khi Hương trao gói cà phê cho Thắng, mắt Hương đỏ hoe như sắp khóc. Hương nhìn theo nửa trìu mến, nửa trách móc, và trên nét mặt của pá của Hương nét bực dọc chưa mất hẳn. Bà má của Hương có vẻ buồn.

Thắng đưa Tín về lại cư xá sĩ quan của Tín. Thắng bước theo Tín vào phòng. Hắn bảo:

– Ngày mai tao rời khỏi vùng này rồi. Nhờ mày báo lại cho thằng Cần dùm tao. Có lẽ phải lâu lắm tao mới trở lại vùng này; tình hình này không êm đâu. Chắc mày chưa biết tin này: thằng Lực mới bị thương nặng cách đây mấy ngày; nó bị cưa một chân. Sáng nay tao không muốn nói với mày sợ mày mất vui.

Tín:

– Còn Hương và gia đình của em?

– Tao có hứa hẹn gì đâu.

– Mày yêu Hương chứ?

– Hỏi làm gì?

– Cho biết.

– Không phải chuyện của mày. Nếu mày yêu được, tao nhường “em tao’’ cho mày.

– Mày không có tình cảm.

– Không có tình cảm mà tao lại thân với mấy thằng mày. Tao không muốn dài giòng. Những thằng như mày rồi ra chỉ quanh quẩn nơi một xó nhà, với một con vợ và một bầy con như con gà trống làm dáng với đàn gà mái, gà con. Tao khác. Tao có việc của tao. Bây giờ chưa phải là lúc vợ con đùm đề. Tao không tính định cư ở vùng này. Đời còn nhiều chuyện lớn phải làm. “Em tao’’ là em tao ở cái thành phố này thôi nghe mày.

Tín thấy mắt mình tối xầm. Chẳng trách gì mà nó lâu lâu lại mượn phòng của mình để dắt gái về. Nó chưa đưa Hương đến lần nào, nhưng biết đâu nó đã chẳng đưa nàng đến một nơi chốn nào khác?! Nó có lần bảo Tín:’’ Tao mượn phòng của mày vì tao không muốn đưa gái lên trên Cù Hanh. Tao là sĩ quan. Tao không phải là ma cô. Tao không dắt gái cho xếp.

* * * * *

Trong đám đông người nhốn nháo trước phòng vé của Hàng Không Việt Nam, Tín và Cần thoáng thấy bóng dáng một người đàn ông tầm thước, vai rộng, lưỡng quyền cao và cặp mắt sáng đặc biệt từ trong chen ra. Tín nhận ngay ra pá của Hương.

Tín gọi lớn:

– Bác ơi! Bác ơi!!…

Người đàn ông dáo dác một lúc rồi cũng nhận ra Tín và Cần. Ông ta bước nhanh ra khỏi cái phòng vé chật chội.

-Mới lấy được vé đi Sàigòn cho cả nhà. Hai cậu cũng về Sàigòn bằng đường hàng không dân sự sao?

Cần:

– Cháu đưa bà vợ ông tiểu khu phó về chuyến bay chiều nay, còn gia đình bác chừng nào đi?

– Chúng tôi đi vào ngày mốt. Gia đình tôi lên ở tạm trên nhà thím các cháu mấy ngày nay.

– Lúc này mua vé đã khó khăn nhiều rồi.

– Tôi nhờ mấy ông bên tỉnh giúp, tốn kém thêm đôi chút, nhưng đi được sớm là mừng rồi.

Ông quay qua Tín và Cần:

– Các cậu đóng ở đây có dễ đến ba, bốn năm rồi. Sau Mậu Thân đã êm được đôi ba, năm, mà nay thì bắt đầu lộn xộn nhiều. Ông thân tôi chạy giặc nhiều lần, từ Hán Khẩu xuống Quảng Châu, qua Hải Phòng, rồi từ Hải Phòng vào Đà Nẵng, đã nhiều lần nói với chúng tôi: “ Hễ nơi nào giặc giã, chiến tranh thì liệu mà tránh cho xa’’; tôi đã lánh đến vùng khỉ ho, cò gáy này mà vẫn không thoát. Cụ tôi biết nhiều kinh nghiệm về Cộng Sản. Cụ bảo là không thể nào sống được.

– Năm ngoái cháu đi chung với anh Thắng lên trên bác tình hình còn êm lắm.

– Mỹ rút quân ra, rút cả yểm trợ, khó cho mình nhiều.

Cần:

– Cháu phải về lại tiểu khu bây giờ. Thôi, anh Tín ở lại nói chuyện với bác, chiều nay nếu thu xếp được, cháu sẽ lại thăm gia đình bác. Nhà thím của Hương cháu biết rồi.

Tín mời:

– Cháu ở gần đây, cách vài bước thôi. Ngày kia bác mới đi, mời bác lại chỗ cháu uống ly nước, nói chuyện, rồi cháu sẽ đưa bác về nhà. Mấy lúc này cháu không quá bận. Có mấy ông chuẩn úy mới lên, giao việc cho họ được cả. Bác có cần gì, cháu phụ với bác một tay. Hồi nãy vội quá, quên chưa hỏi thăm bác về bác gái và các em.

– Nhà tôi vẫn bình thường, thằng út thì chưa biết gì, nhưng con Hương cả năm nay cứ như người bệnh giả. Tôi buồn đủ chuyện mà chẳng biết phải giải quyết cách nào. Lối nào cũng kẹt cứng.

Tín đoán ngay là pá của Hương muốn giãi bày tâm sự. Anh nắm tay ông già, vừa đi vừa kéo về phiá khu cư xá sĩ quan nằm cuối đường bên kia.

Vào đến phòng, anh kéo chiếc ghế dựa làm bằng gỗ thông- loại gỗ nắp thùng đạn pháo- đc nhất trong phòng, mời ông già ngồi, châm trà, lấy bánh, và lôi chiếc ghế đẩu ở đầu chiếc ghế bố lại gần.

Vừa ngồi xuống, ông pá của Hương hỏi liền:

– Cậu chơi thân với cậu Thắng, cậu có biết cậu Thắng bây giờ ở đâu không?

– Lên đây mới thân thôi bác. Chúng cháu cùng mt đại đội lúc ở Thủ Đức. Thắng làm trên quân đoàn, trong văn phòng tùy viên cho một ông tướng, nhưng anh ấy đã đổi đi vùng khác. Từ hôm lên đồn điền nhà bác về cháu không có liên lạc gì của anh ấy nữa.

– Vậy là cậu không biết gì thật sao?

-Thưa bác, không.

– Tôi lúc đầu cũng không biết, nhưng tôi có đứa em con ông dượng mở tiệm ăn trên đường Hoàng Diệu, trước làm cho một cơ quan của Mỹ ở Đà Nẵng. Mấy năm nay nó mở tiệm trên này, nhưng tôi biết là nó vẫn còn làm cho cơ quan ấy. Lính Mỹ vào ăn ở tiệm của nó đông lắm. Cậu Thắng là người của an ninh quân đội, nhưng cậu ấy cũng là người của một cơ quan dân sự khác. Tôi đâu ngờ cậu ấy và thằng em họ tôi lại muốn gài chết tôi trên đồn điền. Ông thân tôi đã có kinh nghiệm về Cộng Sản. Tôi dân làm ăn buôn bán, tôi đâu có khờ để vướng vào những việc nguy hiểm, vậy mà có lần cậu ấy đưa hình chụp tôi ngồi chung với cậu ấy, thằng em tôi, và một người Mỹ mà sau này cậu ấy cho biết là đại diện khu vực của an ninh Mỹ. Tôi một cổ, hai tròng. Cậu ấy cam đoan là sẽ bảo vệ tôi tới cùng. Nhưng mà tôi biết tôi chỉ là quân cờ thí mà thôi. Tôi đã dứt khoát gạt phắt đi, nhưng con Hương nhà tôi nó khờ dại quá. Mấy lúc sau này, phiá bên kia cũng có người đêm tối lần vào, và tôi cũng đã tránh né mọi chuyện. Đúng là chạy trời không khỏi nắng.

– Mấy lúc sau này cháu vẫn hay ra quán cà phê gần đây nhưng để ý không thấy Hương những chiều thứ bảy cuối tuần. Cháu tưởng là Hương bận học thi. Bác về Sàigòn rồi khi nào êm, bác có lên lại không?

– Biết chừng nào êm. Tôi lo sợ quá cậu ạ. Một đời tôi, vo tròn bóp bẹp cũng đã hai lần. Lần này vo gì nổi nữa. Thằng em tôi dẹp tiệm, mà không về lại Đà Nẵng. Nó đưa gia đình vào Sàigòn. Lần này chắc không êm thật rồi…

Chuyện một lúc, ông pá của Hương đòi về. Tín cũng muốn đưa ông về ngay và mong sẽ gặp mặt Hương nói với Hương đôi điều.

Tới nhà bà thím của Hương anh sững người khi nhìn thấy Hương. Anh nhận không ra. Mới mấy tháng trước Hương còn tất cả cái ngây thơ, tươi mát. Da mặt Hương lúc này xanh mét, như người vừa qua một cơn đau.

Anh chào mọi người trong nhà bà thím, và trước khi ra xe về, anh quyết định thật nhanh. Anh xin phép pá, má của Hương, và kêu Hương ra ngoài.

Anh nói như người hụt hơi:

– Đây là địa chỉ của ba mẹ anh ở Sàigòn, nếu Hương cần gì Hương cứ lại nhà. Chiều nay, anh sẽ gọi về nhà báo cho nhà biết. Ba mẹ anh rất quí những bạn của anh, nhất là với những người mà anh đã dặn nhà trước. Em đừng ngại gì cả. Khi nào về lại Sàigòn, gặp lại em và gia đình, và nếu em đã suy nghĩ kỹ, em cho anh biết. Anh muốn xin cưới em.

Anh chỉ nghe thấy một câu hỏi rất nhỏ, như bị nghẽn trong họng của Hương: ’’ Anh không có tin tức gì của anh Thắng hay sao?!’’.

Anh không sao trả lời câu hỏi này được. Anh chỉ còn thấy mắt nàng ướt nhoà, hoen trên hai quầng tím, và còn kịp nhận thấy một đường gân xanh lẩn dưới xương quai xanh trên bờ vai gầy của nàng, khi nàng vội vã trở vào trong nhà.

Sầu Ðông