KHI THẦY CHÙA PHÁ GIỚI
Vương Cường
sanh năm 1967, quê ở Thành Đô (Tứ Xuyên). Năm 1989, tốt nghiệp Đại học Khoa học
Công nghệ và Điện tử Tứ Xuyên, về làm Trưởng phòng Văn hóa hạt Thanh Dương,
thành phố Thành Đô. Đi làm được vài tháng thì quy y, được Thanh Định thượng
sư[1] ban pháp danh Trí Quốc. Năm 1994, Trí Quốc thọ Cụ túc giới tại chùa Bích
Sơn núi Ngũ Đài. Năm 2006, đạt quả vị Pháp sư, hiệu là Tố Toàn, về trụ trì chùa
La Hán[2] ở thành phố Thập Phương, tỉnh Tứ Xuyên
Lê Vĩnh
Húy
(Sự tích tấm
y Bá nạp của Tố Toàn pháp sư)
Ánh mắt thất thần của Tố Toàn lúc quay về chùa
buổi trưa 12-5-2008.
Hình do bà Quế Phùng Xuân, Giám đốc Nhà bảo sanh thành phố Thập Phương chụp.
Ngộ ở chỗ chớ ai từng nghe vị pháp sư nầy giảng
kinh nói pháp. Và nếu không xảy ra trận động đất kinh hoàng hôm 12 tháng 5 năm
2008, hẳn cũng không mấy người biết tới ông.
1. CỬA THIỀN TANH MÁU ĐẺ
Bữa đó, lúc 14 giờ 28 phút, Pháp sư Tố Toàn
đang trên đường lên Thành Đô dự họp thì mặt đất bỗng rung lắc dữ dội, rồi xốc đảo
như chảo rau xào.
Đó là Tứ Xuyên đại địa chấn, trận động đất 8 độ
Richter, làm chết hơn năm vạn người (Hình 2).
Nhà sư lật đật trở đầu xe, dọc đường không
quên ghé siêu thị mua mì gói, nước suối chất sẵn, để cứu tế nạn dân.
Về tới chùa thì nơi đây đã thành một trường hỗn
loạn hoang tàn (Hình 3). May là chùa La Hán cất bằng gỗ nên chưa tới nỗi nào.
Lúc nầy, khoảng sân khoáng đãng quanh chùa đã thành chốn lánh nạn của hàng ngàn
người.
Đang dồn dập đủ thứ lo toan, thì Nhà bảo sanh
Thập Phương, do phải tản cư phòng hờ sập lầu, lại xin gởi hơn 20 sản phụ với 18
thai phụ. Giữa thiên tai thảm khốc, đề nghị kỳ quái đó khi thốt ra lại thành
yêu cầu khẩn thiết. Ông trụ trì gật đầu cái rụp, khỏi suy nghĩ oong-đơ.
Trong chùa trên dưới hơn bốn chục tăng nhơn, gần
hai mươi cư sĩ, đều tròn mắt nhìn nhau. Một đứa lên tiếng can gián là chuyện
sanh đẻ máu me, e làm ô uế Phật môn. Tố Toàn buông gọn một câu: “Thấy chết làm
lơ sao đặng, tới nước nầy còn kiêng cữ khỉ gì!”
Vậy là ai nấy lôi giường tháo cửa, tha từng
màn trướng để dựng chòi che rạp cho đám đàn bà đẻ (Hình 4).
Đêm đó trời nổi giông lớn, giựt tuôn mái ngói
La Hán tự. Gác chuông với hầu hết trai phòng đều dột nát. Tượng Bồ-tát được dịp
tắm mưa mát mẻ, vì toàn bộ vải dầu bạt nhựa phải dành che mấy kẻ bầu bì (Hình
5).
Có cư sĩ níu áo trụ trì la làng: “Thầy ơi! Sao
nỡ bỏ phế Bồ-tát chịu mưa ướt rã mục làm vậy?” Thì ông thầy đáp: “Lúc nầy mạng
người quan trọng hơn tượng Bồ-tát”.
Hơn hai giờ khuya, có xe ba gác ở đâu chở tới
một bà bầu trở dạ. Bác sĩ khám thì là thai ngược đầu, phải sanh mổ. Xót đứa nhỏ
chào đời giữa thiên tai, Tố Toàn không đành để nó vừa góp mặt thế gian đã hứng
mưa giông, mới biểu dời sản phụ vô hậu liêu.
Mấy thầy chùa xúm nhau kéo sạp tọa thiền kê
thành giường đẻ, dựng sào phơi cà-sa làm giá truyền nước biển. Động đất nên cúp
điện, bác sĩ phải rọi đèn pin mổ đẻ (Hình 6).
Bẩy rưỡi sáng, tiếng trẻ sơ sanh cất lên oe oe
dưới mái chùa. Pháp sư Tố Toàn chấp tay trước ngực, môi nở nụ cười.
Từ đó, hễ ai lâm bồn đều được đưa vô hậu viện
sanh con. Vài bữa cứng cáp mới trở ra chòi rạp ngoài sân.
2. GIẾT GÀ BẦM THỊT TRONG CHÙA
Con cua lột cần được tẩm bổ đặng có sữa nuôi
con, mà nhà chùa toàn món chay, lấy đâu đủ chất cho cua mẹ?
Tố Toàn trầm ngâm cả buổi, cuối cùng ra thông
cáo: “Trong khuôn viên La Hán tự, chỉ sản phụ được phép ăn mặn lấy sức sau khi
sanh con. Ngoài ra hết thẩy nạn dân không được tự ý sát sanh, cờ bạc hoặc nối
dây kéo điện”.
Lại đặt ra “Ba khoản vô điều kiện” làm môn quy
cho đệ tử:
1. Tiếp nhận vô điều kiện tất cả nạn dân thiên
tai tìm tới, bao gồm mọi thai phụ;
2. Cung cấp vô điều kiện cho các y bác sĩ mọi
vật dụng có thể sử dụng trong chùa;
3. Cung cấp vô điều kiện thức ăn, chỗ ở cho nạn
dân, bao gồm mọi thai phụ.
Nhà chùa quây cót che thêm gian bếp riêng ở
góc sân. Khói bếp chốn thiền môn bỗng dậy mùi gà hầm thịt hấp. Đám thầy chùa chịu
không nổi, ói mửa lộn ruột gan, nhiều đứa bỏ chạy ra ngoài.
Ông trụ trì lững thững vô chánh điện, sụp lạy
Thế Tôn: Lúc nầy xin tạm gác mọi giới luật, đợi khi bá tánh tai qua nạn khỏi, cả
chùa sẽ sám hối chịu phạt sau.
Tổng cộng ba tháng sau động đất (12 tháng Năm
tới 7 tháng Tám), có 108 đứa nhỏ cất tiếng khóc chào đời dưới mái chùa La Hán.
Suốt ba tháng liền, tụi thầy chùa tất bật nấu
nước gánh rau, săn sóc người bị nạn (Hình 7), chẳng ai rảnh tụng kinh niệm Phật.
3. THẦY CHÙA CŨNG QUẠU
Không chỉ săn sóc 1.400 nạn dân nương náu sân
chùa, La Hán tự còn cứu tế ngoài làng nước. Mấy tăng nhơn trẻ khỏe theo thầy trụ
trì rảo khắp xứ, quyên góp gạo nước mùng mền thuốc men. Cơn thiên tai dịch bịnh
hoành hành, bá tánh phải tự đùm bọc nhau, cấm ỷ y trông chờ chính quyền nhơn
dân.
Đã vậy, bữa nọ thầy trò chở nguyên xe chòi dã
chiến đi phát cho mấy kẻ không nhà, còn bị công an xã chận xét. Toàn hàng quyên
góp, lại vừa động đất tan tành, lấy đâu ra hóa đơn. Người ta hạch hỏi đủ điều,
thậm chí còn nghi đám nầy giả thầy chùa đi buôn lậu. Lời qua tiếng lại từ trưa
tới chiều, Tố Toàn đổ quạu, bỏ lên mắng vốn chủ tịch thành phố.
Chừng anh trưởng công an nọ bị lột chức, nhà
sư lại lên ủy ban làm trận làm thượng, đòi phục chức anh kia. “Người ta còn trẻ
nên dễ nóng máu. Phần tui tu hổng tới, chưa dứt được sân. Muốn trị tội thì trị
tui trước đã”.
Lần khác, đang giữa đường phát gạo muối thì đụng
đám cự cãi. Tay phó chủ tịch huyện quát một phó thường dân: “Mấy người mới chết
vài đứa con đã muốn làm loạn hả?”
Nhà sư nghe qua bốc hỏa, nhào vô cự ké: “Rủi mấy
đứa chết kia là con ruột anh thì sao?”
Anh nọ cứng họng im re, ông thầy chùa lại chấp
tay xuống nước: “Lỗi tại tui mỏ hỗn, gây nên khẩu nghiệp”.
Mới hay trong buổi tai họa kinh hồn, tới tỳ-kheo
cũng đách tịnh được tâm!
4. TRĂM LẺ TÁM NHÓC LA HÁN VÀ TẤM Y BÁ NẠP
Chùa La Hán tất nhiên có bộ tượng Thập bát La
Hán (Hình 8 ). Trăm lẻ tám đứa nhỏ chào đời trong cảnh đau thương tận cùng tuyệt
vọng, vậy mà đều mạnh giỏi, người ta đồn nhờ được La Hán phù hộ. Đó là trăm lẻ
tám hột châu trên chuỗi Bồ-đề, mầm sống trong cõi chết, được kêu “Trăm lẻ tám
nhóc La Hán”.
Ba năm sau (2011), dịp sanh nhựt chung tụi
nhóc, trăm lẻ tám gia đình họp bàn: Mỗi nhà cắt một miếng vải từ áo mừng thôi
nôi của con mình, may ráp lại thành y Bá nạp dâng Pháp sư Tố Toàn đặng tỏ lòng
biết ơn (Hình 9).
Phật giáo Trung Hoa trước giờ chỉ có hai y Bá
nạp thiệt thọ: Một của Hòa thượng Tế Điên[3], đã mục nát mất tiêu. Hai là tấm y
nầy của Pháp sư Tố Toàn, mỗi miếng vải ráp trên đó tượng trưng một sanh mạng được
cửa Phật độ trì.
Tố Toàn nhận y nhưng hổng dám khoác, chỉ cất
trong rương.
Có điều tiếng tăm Bá nạp quá lớn, chính quyền
nghe được đòi phải giao ra, “để nhà nước giúp bảo tồn báu vật văn hóa”.
Kiểu chơi cha đó làm dân chúng bất bình, nặng
nhẹ đủ điều. Tố Toàn phải can: “Chỗ đáng quý là ở lòng thành của các gia đình,
đâu phải ở y kia. Giao lại nhà nước bảo quản cũng hay mà!”
Rốt cuộc bị rủa quá cỡ, người ta phải rút lại
hảo tâm giữ dùm y báu.
Hiện nay tấm y nầy được lộng kiếng chưng ở
gian tiếp khách chùa La Hán, thành biểu tượng Từ bi tâm (Hình 10).
Ngoài ra, trước chùa còn đặt tấm bia khắc họ
tên Trăm lẻ tám nhóc La Hán. Cả tụi đều được Tố Toàn đặt tên, trai lót chữ Chấn,
gái lót chữ Trinh (Hình 11).
Mười sáu năm qua, cứ tới 12 tháng Năm, hàng
trăm đứa nhóc lại tụ về thăm Sư Ông bá đạo (Hình 12).
5. PHÁP SƯ TÀNG HÌNH
Sau động đất, mấy tòa báo tranh nhau cử ký giả
phỏng vấn tới tấp. Tố Toàn đang ăn, mới cúi lượm mấy hột cơm trên bàn đút vô miệng
gọn lỏn: “Phỏng vấn kẻ xuất gia là làm khó người ta đó!”
Hồi tròn năm Tứ Xuyên đại địa chấn, người ta
làm rùm beng, phong danh hiệu Anh hùng Dân tộc cho Thích Tố Toàn. Ông trụ trì
hay tin, lên thẳng Ủy ban Tôn giáo, một hai đòi rút tên ra.
Cấp trên giải thích biểu dương làm vậy không
chỉ vì ông Pháp sư, mà còn vì lợi ích địa phương. Bá tánh hâm mộ sẽ tới thăm
chùa La Hán, giúp thúc đẩy du lịch thành phố Thập Phương.
Té ra là trò dương danh để cầu lợi!
Tố Toàn nói thẳng: Nếu không được rút tên khỏi
bảng phong thần phong thánh kia, ông thà hoàn tục!
Nhiều tổ chức từ thiện muốn hợp tác, giúp kêu
gọi đàn-na tín thí góp tiền sửa chùa hư hại nặng sau động đất, Tố Toàn đều từ
chối. Mất ba năm trời, chùa La Hán mới lần hồi sửa sang xong, phục hồi được
nguyên trạng (Hình 13); hết thẩy kinh phí đều do chùa tự lo.
Năm 2021, vụ Trăm lẻ tám nhóc La Hán lên màn bạc
(Hình 14). Tố Toàn được mời đóng một vai, nhưng khán giả coi phim chớ thấy ông
đâu.
Bởi Pháp sư đặt ra hai điều kiện:
1. Không được nhắc tên tuổi ông.
2. Chỉ để ông xuất hiện thoáng qua, làm vai phụ
vô danh.
* * *
Đáng mặt thầy chùa như Tố Toàn, thế gian e chẳng
mấy người.
Còn Trăm lẻ tám nhóc La Hán đều học giỏi. Mười
sáu năm qua, hổng hiểu sao chẳng hẹn mà nên, tụi nó vẫn thường kiếm cớ đặng đi
học đường vòng, để qua ngang cửa chùa ngó vô một lát, hầu kiếm bóng dáng Sư
Ông.
Rồi hai năm tới, chuỗi Bồ-đề chùa La Hán sẽ
lên đại học, bay đi tứ tán…
Mà ngộ, ở thành phố Thập Phương nầy, từ hồi động
đất tới nay, hễ thấy thầy chùa, ai nấy đều cung kính cúi đầu chấp tay mà xá.
_________
[1] Thanh Định thượng sư (1903-1999): Tục danh
Trịnh Toàn Sơn, quê ở Chiết Giang. Tốt nghiệp khoa triết Đại học Quảng Châu, lại
thi tiếp vô Học viện Quân sự Huỳnh Phố. Sau được bổ làm giảng viên Học viện Bộ
binh Trung ương Nam Kinh. Hồi kháng chiến chống Nhựt làm Tiểu đoàn trưởng rồi Lữ
đoàn trưởng, lên tới Thiếu tướng, là Chủ nhiệm Huấn luyện Tân binh của Học viện
Quân sự Trung ương Trùng Khánh. Đang đánh giặc tưng bừng thì năm 1941, được Trừng
Nhứt pháp sư điểm hóa, ông liệng bỏ chiến bào khoác cà-sa. Từ năm 1943, làm trụ
trì chùa Chiêu Giác cho đến viên tịch.
[2] Chùa La Hán: Lâm Tế Nghĩa Huyền (?-866), Tổ
sư dòng thiền Lâm Tế, khi xưa xuất gia ở chùa nầy, nên thành Tổ đình dòng Lâm Tế.
Chùa xây cất năm 709 đời Đường, bị phá hủy năm 1368 đời Nguyên, trùng tu năm
1371 đời Minh, tới năm 1644 lại bị chiến tranh tàn phá. Qua đời Thanh mới cất lại
trên nền cũ. Bên Tàu có nhiều chùa La Hán rải rác khắp nơi, đều thuộc Lâm Tế
tông, với đặc trưng có tượng mười tám hoặc năm trăm La Hán.
Xứ mình ở Sóc Trăng cũng có chùa La Hán. Ngoài
Bắc, ở Sơn Tây có chùa Tây Phương chắc phải thuộc dòng Lâm Tế, vì cũng bày tượng
La Hán.
[3] Tế Điên (1148-1209): Tục danh Lý Tu Duyên,
người huyện Đài Châu tỉnh Chiết Giang. Văn tài xuất chúng, mộ Phật từ nhỏ, bị
ép cưới vợ phải trốn đi, tới chùa Linh Ẩn ở Hàng Châu cạo đầu quy y, được Hòa
thượng Tuệ Viễn ban pháp danh Đạo Tế. Sư tinh thông kinh kệ nhưng tánh ưa rượu
thịt, nói năng cà rỡn ngông cuồng, chúng kêu là Tế Điên. Tế Điên khoác cà-sa cũ
nát vá hơn trăm miếng vân du khắp chốn, tới đâu cũng hốt thuốc trị bịnh cứu
dân. Bá tánh ngưỡng vọng, cho là Hàng Long la-hán giáng trần, tôn làm Phật sống
Tế công.
Lê Vĩnh Húy
304Đen – LLTTM - sgtc

No comments:
Post a Comment