Thursday, April 30, 2026

Nếu Tôi Được Làm Lại Từ Đầu - Thuyên Huy

 Nếu Tôi Được Làm Lại Từ Đầu

Tặng cho người bạn muốn được làm lại từ đầu

 












Nếu tôi đươc làm lại từ đầu

Trở về làng cũ đi cắm câu

Chờ ễnh ương đêm buồn gọi bạn

Ngắm trăng tàn chìm đáy sông sâu

 

Trở về nhặt trầu úa sau vườn

Nhìn đàn cá nhỏ lượn dưới mương

Ngồi bên bờ dừa soi bóng nắng

Chờ người lần đầu mới biết thương

 

Trở về bên mẹ nhóm bếp chiều

Chờ rau muống luộc cá kho tiêu

Nhà ai khói tỏa như sương sớm

Ngoài vàm vẳng tiếng bìm bịp kêu

 

Trở về tìm tóc bạc ngoại già

Những chiều mùa sang gió thoáng qua

Bạc như những cánh bông bưởi trắng

Đong đưa rụng ngập trước sân nhà

 

Trở về hái sen đỏ trong đầm

Tặng em mơ ước chuyện trăm năm

Bước thẹn bước thùng qua cầu gỗ

Em cười chừng nào lại ghé thăm

 

Trở về nghe tiếng võng sau hè

Lùa đàn trâu gặm cỏ đường đê

Hái bông mướp vàng cài lên tóc

Tóc em thơm mượt ngát hương quê

 

Thuyên Huy

Từ nơi xa nhớ nhà 2022

 

 

 

 

Chiếc Dương Cầm - Trần Vũ

 

Chiếc dương cầm

Ngày đầu tiên đạp xe xuống Củ Chi, nhận một chỗ giáo viên cấp một, Hòa đã chú ý đến chiếc dương cầm kê lây lất trong một góc tối của gian lớp học quạnh quẽ. Giữa bốn bức tường gạch xây không sơn phết, chiếc dương cầm nằm trơ trẽn, trần trụi và im lìm như một quý vật đang hấp hối.

Trần Vũ

 


Lớp gỗ đánh bên ngoài hãy còn bóng, mảnh khăn nhung phủ phím đàn vẫn còn mịn. Cả chiếc ghế ngồi hình chữ nhật, có bốn chân cong cũng còn gần bên. Cây đàn chưa mất đi dáng dấp sang trọng, lẫn vẻ kiêu sa của chính nó. Hòa đứng yên trong gian phòng vắng. Anh nhìn cây đàn chìm trong bóng mờ của bức tường khuất nắng. Trên nền đất không tráng xi măng, xông lên một mùi ẩm. Cả mùi gỗ tươi của mớ bàn ghế đóng tạm bợ, vội vàng cho niên học sắp khai giảng, vất ngổn ngang bên chiếc dương cầm. Dưới lớp bụi lấm tấm, cây đàn giữ lại trọn vẹn hình ảnh của cả một thời đại vừa đi qua. Hòa vẫn không rời mắt cái nắp đàn khép hờ, phô bày hàng phím trắng nõn, thẳng đều tinh xảo dưới sắc màu đỏ gụ của giải khăn nhung dịu, cũng chỉ che đậy hờ. Hòa đến gần cây đàn như bị kích thích của tò mò ham muốn chạm tay vào món vật quý giá ấy. Tấm biển chạm nổi nhỏ, khắc tên hiệu của nhà sản xuất – chiếu sáng ngời màu đồng lúc Hòa mở nâng nắp đàn. Làm sao một món hàng rất tư sản, rất trưởng giả xa hoa như chiếc dương cầm này lại hiện diện nơi đây, trong một ngôi trường giải phóng, thiếu thốn trăm bề của vùng Củ Chi “thành đồng đất thép này”? Hòa không rõ lắm, chỉ nghe từ đáy lòng mình những phím âm thanh xôn xao của một thời hoa mộng vừa vọng lên. Từ chiếc dương cầm toát ra sức lôi cuốn mạnh mẽ khác thường mà Hòa không sao tự chủ nổi. Năm ngón tay anh mơn trớn, ve vuốt trên mặt đàn, chỉ dám lướt hờ trên những phím nhạt. Lúc những đầu ngón tay hơi cong lại, sắp gõ xuống một nốt nhạc, nhấn xuống một hợp âm, Hòa chợt rụt tay về. Gian lớp học vắng người vẫn yên lặng như tờ. Một vài đọt lá rụng rơi bên ngoài. Vạt nắng nhỏ luồn vào khe cửa. Nền đất ẩm, trần vôi tơi tả… và chiếc dương cầm ở đó, giữ nguyên tiếng lòng của nó hãy còn ẩn núp, chưa thức giấc.

– Buổi chiều đạp xe trở về thành phố, Hòa bằng lòng với chính mình. Anh đã để yên cho chiếc dương cầm im ngủ trong gian lớp học. Không nên đánh thức một thời đại đã chết, đã câm tiếng. Trong những khí cụ của âm nhạc, dương cầm là vị hoàng tử không có chỗ đứng trong dân gian, không lẫn với giai cấp bần nông. Nó tự cách biệt bằng địa vị quý tộc, bằng những âm hưởng của giây đàn không hòa điệu với loại nhạc thép đấu tranh. Cao sang chừng đó, vọng tộc ngần ấy, vậy mà hồi trưa nó đã chịu nằm hẩm hiu trong một xó góc gần như bị bỏ bê, hoang phế. Hòa không thấy buồn bã, chỉ một nỗi buồn vu vơ bâng quơ, lãng đãng theo cùng cơn gió ngoại ô thổi hững hờ từng chập dai dẳng. Hai năm ở trường trung học sư phạm, để bây giờ ra nhận một chỗ giáo viên tiểu học, với Hòa thôi thế cũng xong. Một chỗ đứng để qua ngày, như cây đàn đã tìm ra cho mình một xó lớp an phận.

*Những ngày khai giảng đầu tiên, Hòa tiến hành chức năng mới của người giáo viên dưới mái trường Xã hội Chủ nghĩa hoàn toàn trong thiếu thốn đủ mọi vật liệu học đường. Phấn màu chưa có, phấn trắng không đủ. Tấm bảng đen duy nhất loang lở, lồi lõm vì thớ gỗ bị dột mưa. Học trò hơn bốn mươi đứa, đủ mọi lứa tuổi. Từ những đứa nhỏ chưa biết đọc kêu khóc trong lớp, đến những đứa già đầu nhìn Hòa cười nham nhở. Trong thâm tâm Hòa không mấy tha thiết với thiên chức của mình. Mà hình như tất cả những đồng nghiệp ở đây của anh cũng chẳng ai quan tâm đến chức năng của một thầy giáo. Họ chỉ tha thiết hết lòng vào những ngày cuối tháng, chia nhau khẩu phần tiêu chuẩn thịt cá, tranh nhau ỏm tỏi trước đôi mắt của lũ học trò ngơ ngác. Đã hết thật cái thời tiên học lễ, hậu học văn. Không phải vì những câu châm ngôn mà cổ nhân di lại cho hậu thế như phú quý sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc không còn đúng nữa. Tất cả vẫn đúng, chỉ có đám hậu sinh bây giờ là khả ố. Hòa thường đi rảo trong hành lang, trước những tiết học với ý tưởng mình là một tên khả ố. Anh chỉ tìm thấy chút bình an mỗi khi ghé mắt nhìn vào trong gian nhà dùng làm kho chứa đồ phế thải, nơi có chiếc dương cầm trầm ngâm suy lặng. Hòa an tâm nhìn cây đàn mặc dù bị xem như món hàng phế thải vẫn còn nguyên vẹn dáng dấp hình hài và đức tính quý phái, uy nghi. Một đôi lần họp hiệu đoàn, có người đưa ý kiến hồ đồ và bỡn cợt là đem cây đàn bửa làm củi đốt. Nhưng dù chuyên chính vô sản và có tính triệt để cách mạng đến đâu, ban giám hiệu nhà trường vẫn nhận ra đây là một vật quý. Người ta không trọng dụng nó vì không biết cách sử dụng. Nên cây đàn vẫn được để yên, nằm riêng rẽ một góc trong căn phòng chứa đồ không dùng đến. Hòa là người ngó ngàng và chăm sóc cây đàn trong âm thầm lặng lẽ. Đối với anh, nó là biểu tượng của sự sống sót của cả một triều đại phú túc vừa bị vùi dập. Chỉ một mình anh hiểu nó và chỉ một mình nó hiểu anh. Hòa thường hay đến mân mê lau chùi chiếc dương cầm mỗi khi rảnh rỗi. Nhưng không lần nào anh có đủ can đảm gõ xuống một nốt nhạc. Cây đàn đã câm tiếng như từ lâu Hòa biết im lặng trong cuộc sống.

Phải chờ đến một buổi chiều, như rất nhiều buổi chiều Hòa cùng với bạn đồng nghiệp ngủ đêm tại trường để soạn giáo án cho một tiết học sớm, tránh cái cảnh đạp xe hàng nhiều mươi cây số để hộc tốc đến trường với đôi chân rã rời, đôi mắt lạc thần vì đuối sức. Hòa trở ra từ phòng giáo viên với tâm trạng buồn bảng lảng. Dáng điệu của Tuyền ngúng nguẩy từ chối lúc anh rủ nàng đi dạo dưới làng. Ánh mắt Tuyền thờ ơ với đuôi tóc đỏng đảnh tinh nghịch:

– Hòa đi dạo đi, nghe nói có quán nếp cẩm mới mở đắt khách lắm. Tuyền bị trễ giáo án mấy hôm nay, phải soạn ngắn lại cho tuần sau. Chắc không đi với Hòa được, thôi để lần sau. Đừng giận Tuyền nghe Hòa.

Nắng buổi chiều phơi trên lối đi đỏ gay. Đất thép thành đồng, nên nắng cũng là nắng lửa, Hòa dừng chân nơi tàu lá chuối xanh rờn trồng ven hàng rào ở khu lớp học. Hòa biết anh chọn về dạy ở Củ Chi cũng vì Tuyền. Chọn? Có nghĩa là không nộp đơn xin thôi, mà chấp nhận đi xa theo yêu cầu. Về Củ Chi với Tuyền, không xa thành phố lắm, Hòa hy vọng một cuộc tình trong xây dựng. Hai năm chung trường trung học sư phạm, Hòa đeo đuổi mái tóc lưng chừng vai, sóng mũi thanh và hai vai nhỏ nhẫn nại của Tuyền.

Nhiều lần đi chơi chung. Một đôi lần chia nhau dĩa bánh cuốn. Một đôi lần Hòa chở Tuyền ở yên sau, đạp lên Thủ Đức, đạp xuống Lái Thiêu. Và cũng có đôi lần sợ ngã, Tuyền ôm lấy thắt lưng Hòa. Rồi dừng ở đó, không có cái nắm tay trai gái. Dầu sao Hòa vẫn hy vọng Tuyền sẽ chấp nhận mối tình của mình, như Tuyền đã chấp nhận về dạy ở vùng Củ Chi đơn sơ, mộc mạc này. Lúc rời hàng tàu lá chuối, để đầu trần đi về căn phòng chứa đồ phế thải, Hòa nghe nóng bỏng ở trán. Từng phiến nắng lửa rơi xuống người Hòa, Vỡ tan thành trăm nghìn tia lửa nhỏ. Tuyền có cố tình khi bảo anh ra quán một mình? Chỉ có những tên thất tình mới đi uống rượu một mình. Hòa ngao ngán nhận ra giữa anh và Tuyền chỉ chung một lối đi đất đỏ dẫn đến phòng giáo viên.

Chiếc dương cầm hiện ra sau cánh cửa mở, với tất cả sự lạ lùng và quyến rũ của lần đầu Hòa bước chân vô căn phòng này. Nhưng lần này, Hòa trông thấy nhiều hơn ở cây đàn một vẻ chờ đợi đầy chung thủy. Chiếc dương cầm kê sát vách tường toát ra sự mời gọi tha thiết của người tố nữ, e ấp, thẹn thùa. Hòa ngồi xuống trước cây đàn như một bắt buộc không cưỡng lại. Anh chậm rãi nâng nắp đàn, khám phá những phím trắng ngà phơi bày thôi gìn giữ. Âm thanh của phím đàn vọng lên đầu tiên như một tiếng kêu bất ngờ, thảng thốt. Ở những nốt nhạc tiếp là sự chất ngất của yêu thương. Đến khi Hòa đặt luôn cả hai bàn tay của mình xuống phím đàn, thì chuỗi âm thanh trầm ngắn, từng chập lảnh lót, thánh thót ngân lên vang ngời ngời, biến thành những hợp âm của cả một nỗi si mê. Hòa không còn kiểm soát được hai tay mình, không còn ngửi thấy mùi đất ẩm, cùng mùi gỗ mục mốc meo ở đà nhà. Mười ngón tay trước mặt anh là mười ngón tay của đứa trẻ theo học dương cầm cách đây lâu lắm. Gian phòng dùng làm nhà kho chợt biến thành căn phòng học nhạc ở tầng trệt dẫy lầu đường Gia Long, phía trong sân tập võ nhu đạo. Trong những âm giai bay bổng, Hòa nghe cả tiếng thầm thì của người sư huynh già phụ trách lớp nhạc. Anh trông thấy cả vừng me la đà trước hiên trường Quốc gia Âm nhạc. Buổi trình tấu đầu tiên, những phím đàn rơi rụng xuống lớp thính giả im phắc. Mớ hình ảnh đầy mầu sắc, lên xuống âm vang theo từng cung bậc của phím đàn chợt tan biến, ngưng bặt. Hòa nhấc tay lên trong sự run rẩy của toàn thân đẫm mồ hôi. Đôi mắt của đứa trẻ soi mói, chiếu thẳng vào lưng Hòa. Anh đọc được trong ánh mắt ngây dại đó, có cái gì nửa ghen tức, nửa thán phục. Tia mắt của đứa trẻ lạ kỳ, chăm bẳm. Trước khi Hòa kịp lên tiếng, đứa bé gái chạy vụt ra khỏi lớp. Hòa không nhận ra đứa trẻ trong số những khuôn mặt thoáng nhanh qua đầu anh. Có lẽ nó học ở một lớp nào đó. Hòa vẫn ngồi bất động trước phím đàn khi cánh cửa bật mở tung và bóng Tuyền lật đật.

– Trời ơi! Ban đầu Tuyền cứ ngỡ là có cả một bầy họa mi cùng cất tiếng hót. Không ngờ là Hòa. Học đàn bao giờ mà mãi mới chịu trổ tài!

– Tuyền có thấy một đứa học sinh vừa chạy ra khỏi đây?

– Không. Đứa nào? Ở đây có cả trăm. Đàn nữa đi Hòa! Trời ơi, Tuyền mê nhạc. Hòa đàn được bản Sonate không?

Từ khi có chiếc đàn dương cầm chen vào giữa, quan hệ tình cảm của Hòa với Tuyền ngày một thêm gần gũi, mật thiết hơn. Những buổi tối thay vì đạp xe về thành phố, Tuyền ở lại trường thường hơn. Nàng cũng gắn bó với cây đàn như Hòa. Từ chiếc dương cầm nẩy sinh niềm thông cảm và quyến luyến giữa hai người, Hòa phải công nhận Tuyền mê âm nhạc và sành sỏi biết thưởng thức ít nhiều. Một đôi lần sau giấc cơm tối, Hòa ở lại dạo những tấu khúc của Mozart và Bach. Tiếng đàn vọng lên giữa đêm trầm bổng, như một khúc sáo trời. Đôi khi vài người bạn đồng nghiệp trẻ vây quanh Hòa, đề nghị chơi nhạc mới. Tuyền và hai cô bạn gái hợp ca bản Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây. Những lúc đó, Hòa để ý thấy tiếng đàn mình dị hợm và thô kệch, trơ trẽn. Mãi mãi, dương cầm không bao giờ là nhạc khí được tạo ra để đệm những bài ca Cách mạng. Tiếng đàn chỉ trở lại truyền cảm, rung động mỗi khi họ đóng cửa lén chơi nhạc vàng. Một đoạn Hoài Cảm, một khúc Ngậm Ngùi, mà sau khi những bạn đồng nghiệp về ngủ, Tuyền thường ngồi nán lại dựa đầu trên vai Hòa hát nho nhỏ những bài tình khúc xưa. Những buổi tối của họ luôn kèm tiếng dương cầm réo rắt.

Có một chuyện mà Hòa dấu người yêu, là ánh mắt của đứa bé vẫn rình rập soi mói sau lưng anh, mỗi khi Hòa đánh dương cầm. Tia mắt của đứa trẻ ngột ngạt kỳ lạ, gần như đố kỵ và ghen tức với Hòa. Bao nhiêu lần bắt gặp ánh mắt đầy tức giận đó, Hòa chỉ kịp đứng lên chạy ra hành lang để thấy đôi mắt nhỏ tan biến vào trong những lùm cây um tùm sau trường. Một bận duy nhất vào buổi trưa, Hòa vào phòng dương cầm với mảnh nùi giẻ và ít verni xin được với dụng ý chùi lại cây đàn đã cũ. Đang dở tay lau chùi, anh chợt nối gai ốc đây mình và ngưng lên bắt gặp đứa trẻ đang nhìn mình đăm đăm. Đứa bé đứng ở cửa gian lớp, không sợ hãi, không chạy trốn. Tia nhìn giận giữ chiếu thẳng vào mặt Hòa. Ánh mắt oán hận giữ rịt lấy bàn tay Hòa còn đặt trên thùng đàn. Đôi mắt của đứa bé gái khoảng chín hay mười tuổi chỉ dịu bớt, giảm hẳn ngọn lửa đang phừng phừng khi anh lấy tay ra khỏi thùng đàn. Hòa ngạc nhiên lắm. Anh ngạc nhiên vì thái độ bất thường của đứa học trò và ngạc nhiên cả chính mình đã đứng yên trong góc phòng, chịu hứng cái nhìn của đứa nhỏ cho đến khi nó bỏ đi. Sau này tò mò thăm hỏi, anh được biết tên đứa bé là Phụng, học lớp nhất A. Gia đình Phụng sống trong căn nhà lợp tôn xiêu vẹo, nằm gần đường lộ, phía sau ngôi biệt thự ba tầng của trụ sở phường.

Việc tụ họp đàn địch, hát xướng nhạc vàng của Hòa chẳng bao lâu đến tai ban giám hiệu. Người hiệu phó cho gọi Hòa vào văn phòng. Sau khi lớn tiếng giảng giải về… chức năng mới của người giáo viên dưới mái trường mới xã hội chủ nghĩa, về tinh thần đạo đức cách mạng tư tưởng văn hóa, người hiệu phó già mất mười năm vượt Trường Sơn nhìn Hòa thông cảm:

– Các cậu còn trẻ, mê nhạc mê đàn địch thì cũng dễ hiểu thôi! Mình ngày xưa chả mê Hoàng Cầm ấy à?! Nhưng quan trọng là phải biết phân biệt sai trái, đấu tranh tư tưởng ngay thì mới có tiến bộ! Mình đề nghị thế này: Thay vì các cậu tụ tập đàn hát buổi tối, mình lập hẳn một tổ văn nghệ và một lớp nhạc sơ cấp cho toàn trường và học trò cùng sinh hoạt. Cậu thấy mình dự kiến phương án có tốt không? Nhất trí đi nhé!

Hòa lẳng lặng gật đầu, không thắc mắc vấn đề phụ cấp bồi dưỡng cho những giờ dạy nhạc phụ trội ngoài thời khóa biểu. Với anh, được tự do đánh dương cầm là… tốt thôi.

*

Lớp nhạc sơ cấp khai giảng đầu tiên với hai mươi em tình nguyện, trong số có Phụng. Trước khi học đàn, học ca, môn học trước nhất bao giờ cũng là nhạc lý. Hòa bắt đầu với những khóa Sol, khóa Fa. Tập cho lũ trẻ đánh nhịp hai, nhịp ba và nhịp bốn. Ánh mắt của Phụng đã dịu đi rất nhiều từ khi Hoa cầm tay nó, nâng lên hạ xuống chỉ tay cách đánh nhịp. Phụng tỏ ra có năng khiếu đặc biệt. Nó thuộc nhạc lý rất nhanh và mau chóng quen với mặt phím dương cầm. Sự tiến bộ vượt bậc của Phụng trong lúc những đứa khác còn quờ quạng với những nốt Do Ré Mi làm Hòa có cảm tưởng Phụng đã quen với cây đàn trước đó. Trong hai con mắt to mở rộng đầy thèm khát học hỏi của Phụng, lâu lâu vẫn nẩy lên những tia máu đỏ ối, đục ngầu dữ tợn mỗi khi trông thấy những đứa trẻ khác sờ mó, đụng chạm vào cây đàn. Cặp mắt của Phụng, ngoài những phút tập đàn cho chính bản thân như chỉ được mụ nặn để rình rập, soi mói canh chừng tất cả mọi thứ tiến đến gần cây đàn. Mà Phụng cũng có lý của nó, khi chiếc dương cầm – từ ngày căn phòng chứa đồ dư mở cửa đón nhận mọi người – càng thêm tàn tạ xơ xác. Lũ nhỏ đến lớp nhạc để chơi đùa nhiều hơn để học. Chúng nạy phá nắp đàn, lấy dao khắc gạch và vạch vòng tròn để phóng phi tiêu. Hòa hết sức la mắng, khuyên răn, nhưng chỉ cần anh rời khỏi gian lớp năm phút để lên văn phòng nộp sổ lương thực, chiếc dương cầm đủ tả tơi. Tệ hơn nữa là tổ văn nghệ trường mỗi khi tập dượt, có những kẻ vô ý thức gạt tàn thuốc đầy lên phím đàn và bỏ cả vỏ chai bia vào trong thùng đàn. Những lúc vắng mặt rồi trở về chứng kiến cảnh tượng bê hề như thế, Hòa đau nhói trong lòng. Lại ra sức lau chùi, lượm lặt vỏ chai, tàn thuốc trước đôi mắt đỏ hoe của Phụng. Nhưng công sức của Hòa, của Tuyền và của cả Phụng không đủ giữ cho cây đàn khỏi ngày thêm bệ rạc, điêu tàn. Hòa thấy rõ ràng mình không cứu nổi chiếc dương cầm. Như không thể cứu giúp, vớt vát cái thời đại phú túc đã qua đi.

– Một buổi sáng đến trường cho giờ phụ đạo nhạc lý. Hòa chán chường nhận thấy chiếc ghế dài hình chữ nhật, có khoảng mặt ngồi bọc da đặt trước cây dương cầm đã bị mất cắp. Có tay nào đã nâng nhẹ chiếc ghế quý. Miếng vải nhung che phủ phím đàn rơi thõng dưới đất, cáu bẩn. Đôi mắt Phụng trong tiết học hôm đó mới tóe lửa dễ sợ. Suốt buổi học nhạc lý, nó lầm lỳ nhìn trừng trừng vào những đứa trẻ chung quanh, như thể đám trẻ này là thủ phạm trong vụ ăn cắp. Lúc Hòa cho gọi từng hai đứa một lên tập đàn, đến phiên Phụng và thằng con trai, đứa nhãi ranh vô phúc đánh đổ bình mực tím cất trong túi áo đậy không kỹ. Mực tím thấm ướt chiếc áo cộc tay của thằng con trai và thấm ướt cả mặt phím đàn. Diễn biến xảy ra nhanh đến độ Hòa không kịp ngăn chận. Phụng chụp lấy cây bút chì gác trên nắp đàn chọc vào mắt đứa con trai. Thằng nhỏ ngã lăn quay trên nền đất vãi mực tím, dẫy đành đạch và la khóc inh ỏi. Cái bợp tại bay đi quá mau, quá bất ngờ đến nỗi Hòa không kịp nhận ra là mình vừa tát trái Phụng. Tiếng khóc nức nở của Phụng hòa vào tiếng la thét của thằng nhỏ. Căn lớp học bồn chồn. Phím đàn vấy mực. Hai chiếc ghế đẩu ngã chỏng chơ trên mặt đất và chiếc dương cầm thu mình trong góc.

Sau đó Phụng bị đưa lên văn phòng giám hiệu. May mắn là đứa con trai không bị đui chột, chỉ rách một chút mí mắt. Buổi chiều mẹ Phụng đến trường để nghe những lời cảnh cáo con gái và ký vào tờ giấy cam kết giáo dục lại con. Bóng hai mẹ con đã ra khỏi cổng trường, biến mất ngoài đường mà Hòa vẫn còn cảm thấy bàn tay run rẩy gầy đét của người mẹ đang ký giấy trong lòng mình. Những ngày dạy học ở Củ Chi, mối tình của anh và Tuyền tiến triển dần trong chiều hướng khích lệ xây dựng. Tuyền bằng lòng làm lễ cưới khi hè đến. Những tối ngồi ở hàng hiên tâm sự, nàng tâm tình thổ lộ với Hòa những ao ước ham muốn vụn vặt mai sau. Tuyền không hiểu trong Hòa đang ăn sâu một vết thương. Mà chính Hòa cũng không rõ căn nguyên của vết thương trong lòng anh. Đến từ bạt tại quá mạnh hôm nào không kềm chế được đã đánh Phụng? Hay từ hình ảnh của chiếc dương cầm tàn tạ, thoi thóp chết từ từ? Hòa úp mặt vào mái tóc người yêu, nhưng cảm nhận rõ ràng là những vòng ôm xoắn xít của Tuyền không đủ khép kín miệng vết thương vô hình trong tim anh.

*

Vết thương trong lòng Hòa bật máu sau hai tuần Phụng không đến trường. Từ sau hôm bị đánh, Phụng bỏ hẳn giờ nhạc lý, chỉ đến lớp học rời rạc rồi nghỉ luôn. Sáng thứ hai của tuần lễ thứ ba, Hòa bỏ ăn trưa đạp xe xuống làng. Ngôi biệt thự sừng sững ba tầng gạch ngói tây, ngả chiếc bóng đồ sộ đè lên căn nhà vách ván lợp tôn – nếu có thể gọi đó là căn nhà của mẹ con Phụng. Con đường lộ của vùng đất thép, thành đồng nắng chói chang. Và vì là đất thép nên không thể trồng trọt cày cấy bao nhiêu. Những người dân Củ Chi đã đào bao nhiêu hầm hố để chống Mỹ. Chắc tay cuốc, nên lỏng tay cày. Những ruộng lúa èo uột, trây xát hai ven đường. Căn nhà sơ sài đến mức độ bần cùng nhất. Bốn cây cột chống một mảng tôn, dăm tấm ván che bên hông và những thùng các tông đập dẹp để làm nệm. Người mẹ hôm nọ lúi húi sau chái bếp, ngẩng lên nhìn Hòa.

– Thưa bác, cháu là giáo viên ở trường đến kiếm em Phụng.

Vẫn là một đôi mắt của Phụng, nhưng nhiều nếp nhăn và già héo hơn trả lời Hòa. Người mẹ cho biết Phụng đã theo cha ra chợ bán củi. Bà xin phép cho Phụng không phải trở lại trường nữa. Họ sắp đi kinh tế mới. Hòa bỡ ngỡ với tiếng “Thầy” người mẹ dùng để chỉ anh. Đã từ lâu Hòa quen với lối xưng hô anh giáo, chú giáo, cậu giáo của những bậc phụ huynh quanh vùng. Những người dân mà trên ba phần tư gia đình liệt sĩ cách mạng. Con em họ không học cũng lên lớp, không cần nể trọng thầy cô. Tiếng “Thầy” từ cặp môi người mẹ run run bám lấy Hòa khi anh trở ra đường lộ về trường. Chiếc bóng vĩ đại của ngôi nhà lầu, nơi đặt trụ sở phường, in đậm choáng ngợp sau lưng anh.

Hòa không còn gặp lại Phụng lần nào nữa. Gia đình của những con người khốn khổ này dời đi mất biệt vào trong nỗi bất hạnh không biên giới của quê hương. Chiếc dương cầm tàn tạ dần theo cùng với năm học. Những đêm trằn trọc, Hòa hình dung lại rõ mồn một đôi mắt của Phụng. Anh bắt gặp lại lần lượt tất cả những ánh mắt soi mói, canh chừng. Những tia nhìn tức giận, khinh bỉ mà Phụng đã ném vào mọi người đụng tới chiếc dương cầm. Ở đầu đốm lửa của những điếu thuốc hút liên miên vào những đêm trắng, Hòa mơ hồ mường tượng ra sợi giây liên lạc giữa Phụng và cây đàn. Giữa ngôi nhà lầu ba tầng dùng làm trụ sở phường và cái hình thể dị hợm được gọi là căn nhà phía sau. Phụng, cây đàn, ngôi nhà, trụ sở phường. Bấy nhiêu hình ảnh ám ảnh Hòa. Anh tự tìm lấy cho mình một giải đáp về ánh mắt kinh khủng của Phụng. Tự đoán mơ hồ rằng cây đàn trong trường hiện thời đã là của Phụng. Đã thuộc về gia đình Phụng, cho đến khi họ bị đuổi ra khỏi nhà và bị tịch thâu tài sản. Ngôi nhà lầu biệt thự, tiền bạc của cải phường đã chiếm hết. Chỉ còn chiếc dương cầm không biết dùng làm gì phường hiến tặng cho trường. Và Phụng đã đi theo canh chừng cây đàn, món vật quý giá đã trở thành sở hữu chung. Lối suy luận này giải thích hợp lý phần nào những hiện tượng xảy ra ở Phụng. Nó hãy còn quá nhỏ ngày cây đàn bị tiếp thâu để sành sỏi nhiều về âm nhạc. Song Phụng đã cố gắng phát triển vượt bậc năng khiếu học tập của nó về dương cầm, để chứng tỏ chỉ có mình nó – nữ chủ nhân của chiếc dương cầm – là xứng đáng được đánh trên những phím đàn đó. Hòa chỉ ray rứt hối hận cho bạt tại đã đánh Phụng trong lần quá nóng giận. Anh làm sao hiểu được những căm thù trong lòng đứa bé gái chín tuổi, khi nhìn thấy món đồ chơi quý giá nhất của nó bị phá hư hỏng, vấy mực lem luốc?

Buổi sáng cuối cùng của niên học đã mãn. Hòa buộc những túi sắc của mình và Tuyền lên hai bên sau xe đạp. Trong lúc chờ đợi Tuyền đi chào tất cả những chị em đồng nghiệp bạn gái, Hòa trở vào thăm lớp nhạc lần cuối. Chiếc dương cầm mang hình thù một con quái vật, nằm tênh hênh xiêu đổ giữa nhà. Cái nắp đàn đã long bản lề, không đóng được nữa, phơi bày toang hoác những phím đàn vàng ố cáu bẩn. Hơn quá nửa phím bị mẻ, lốm đốm màu mực tím. Nửa số phím còn lại, long lay gập gềnh như hàm răng người già. Tấm biển nhỏ chạm trổ tên hiệu của nhà sản xuất đã biến mất. Giải khăn nhung cũng đã mất tích. Thùng đàn in lỗ chỗ những mũi đâm nhọn của phi tiêu. Dăm hình vẽ khắc bằng compas và chi chít những hàng chữ có ký tên. Hòa ngồi xuống chiếc ghế đẩu đang lây lất trước miệng đàn. Phải bay lớp bụi bặm cùng tro tàn thuốc đóng mờ trên phím. Không gian của căn phòng yên lặng lắm. Vẫn là cái không gian thênh vắng của một năm trước đây Hòa đến nhận chỗ giáo viên cấp một, tình cờ chú ý đến chiếc dương cầm. Những đọt lá rụng rơi bên ngoài. Vạt nắng nhỏ luồn qua khe cửa. Nền đất ẩm. Trần vôi tơi tả… Hòa nhấn tay xuống phím đàn. Những thanh âm vừa vọt lên thật kỳ quặc. Trong một giây Hòa ngượng ngừng tưởng mình nhấn sai hợp âm Do thứ. Anh cúi nhìn những đầu ngón tay đang ở đúng vị trí của các nốt thăng giảm, quy chuẩn cho hợp âm Do thứ. Anh thử lại lần nữa. Lần này thì Hòa biết rõ thứ âm thanh vừa phát lên, không còn là những âm thanh của đàn dương cầm.

Trần Vũ

 

 

Leo Cây Cắt Cụm Phong Lan - Nguyên Đổ

 

Leo Cây Cắt Cụm Phong Lan




Đã hai năm nay, muà hè nào tôi cũng lên đây, trồng luá khô trên đồi caọ Đến trưa, mọi người tiến về gốc cây cổ thụ để ăn trưa và nghỉ ngơị Mùa hè nào hoa phong lan trên đỉnh cây cao chót vót cũng mời mọc châm chọc tôị Lấy được đám hoa này thì thật tuyệt. Tôi từng đưa mắt nhìn, dùng ánh mắt leo lên từng khúc cây, tưởng tượng mình như con vượn chuyền từ chỗ này sang chỗ khác, tiến dần lên chỗ hoa phong lan trổ bông.

Hoa phong lan có nhiều loại, nhưng loại hoa phong lan trên đỉnh cây cổ thụ mọc chỗ giáp đồi cao và thung lũng này mới hấp dẫn làm sao! Hoa màu tím trổ từng chùm dài như những nét mực tím vẽ đơn sơn trong tập vở . Cụm phong lan đó năm nào cũng tím cả, nhất là mùa hè này, khi tôi rời hẳn bậc trung học, sắp sửa dấn thân vào một khoảng trời vô định chưa biết sống chết thế nào. Có lần tôi dẫn Thủy Tiên, người bạn gái cùng lớp, lên đây chơi, kể cho nàng nghe những ước mơ của tuổi học trò, của chàng nghệ sĩ yêu hoa Thủy Tiên nheo mắt cười, nói nhỏ, "Anh yêu hoa phong lan hay hoa thuỷ tiên hơn?" Tôi bỡ ngỡ trước lời nói bóng gió táo bạo của người bạn gái cùng lớp có mái tóc huyền và cặp mắt đen tròn hiền dịụ

Tôi yêu nhiều loại hoa lắm. Có lẽ hấp thụ từ bản tính yêu hoa và làm vườn của Bố Mẹ tôị Bố tôi đi đâu thấy hoa nào đẹp thì cũng cố xin giống về trồng. Còn Mẹ tôi thìchăm bón hằng ngày sau những giờ nhọc mệt ở đồng áng.
Bố tôi trồng một gốc mai vàng to ngay trước nhà, bên cạnh hòn non bộ Mẹ tôi chăm sóc kỹ lắm để năm nào gần tới Tết cả bố mẹ tôi đều bỏ công gia giảm tưới nước để hoa nở trúng ngày mồng một Tết. Năm nào cũng vậy, hoa nở thật đẹp vào chính ngày Tết.
Bố tôi kể chuyện lúc Bố tôi chơi hoa thủy tiên ở ngoài Bắc khi còn tuổi thanh niên cũng công phu lắm. Khi vào Nam, bố tôi không mang theo hoa thủy tiên theo được. Nhiều khi
kể về chuyện miền Bắc, mắt bố tôi thoáng u buồn như người để quên một mối tình thơ ở ngoài ấỵ
Tôi yêu hoa thủy tiên như yêu chuyện cổ tích, chỉ thấy trong mơ thôi, chứ chưa được nhìn hoa thủy tiên tận mắt, trừ những bức hình bố tôi chỉ cho xem. Nhưng trong lời
nói bố tôi kể, hoa thuỷ tiên là một bầu trời kỷ niệm lúc người chưa gặp mẹ tôị
Mẹ tôi yêu hoa thược dược, hoa hồng, mẫu đơn, thiên lý và hoa lài -- những loại hoa sắc màu đẹp đẽ và hương hoa ngào ngạt hay có công dụng thực tế. Mùa hè nào hoa thiên
lý cũng nở. Hoa vừa đẹp, vừa thơm thoang thoảng, lại thật ngon lúc nấu canh.
Tôi yêu phượng vĩ đỏ rực sân trường, yêu những hàng dâm bụt, bụi quỳ vàng mọc quanh vườn, nhưng cái đam mê vui thú nhất tôi dành cho hoa phong lan. Trên hòn non bộ của
Bố tôi, tôi đã gắn cả gần trăm loại phong lan. Có loại nở mùa Xuân như hoàng lan, loại nở muà Hạ như thanh lan, mùa Thu như bạch lan, mùa Đông như trúc lan... Nỗi đam mê phong lan tôi cũng chuyền sang cả cho em trai tôi nữạ Lúc bố mẹ tôi nói sẽ gởi tôi đi vượt biên chuyến này, em tôi hỏi tôi, "Anh có muốn em lên đồi nhìn hoa phong lan giùm anh không?" Thằng nhỏ thiệt!

Tôi quyết định rồị Tôi phải leo lên thăm cụm hoa phong lan của tôi ít nhất một lần, cầm lấy cánh hoa, đem lên môi hôn, đưa lên mũi ngửi và nói lời tạm biệt như nói với Thủy Tiên những điều mà tôi không dám nóị
Buổi trưa chủ nhật, tôi gọi Ngọc Anh, em trai tôi, đi lên đồi. Lưng đeo ba lô và một con dao nhỏ. Tôi không muốn đem đinh và buá vì đã có người đóng đinh vào thân cây từ lâu rồị -Dinh to và đã cũ. Có lẽ để leo cây, để nhìn để ngắm, để hái. Tôi nhất định leo lên tới cụm hoa, để nhìn một lần, cầm hoa một lần, đưa lên môi lên miệng...
Em tôi đứng dưới gốc. Tôi bám chặt vào cây, bấu từng cây đinh để leo lên. Leo lên được nửa chừng tôi thấy ớn lạnh. Cành cây chao nghiêng ra phiá sườn thung lũng,
lại khiến khoảng cách giữa tôi và đất lại càng xa hơn. Không may mà ngã xuống thì tan xương nát thịt. Bóng Ngọc Anh lùn nhỏ như người tí hon. Cây cao hơn tôi tưởng tượng. Nhìn hoa trên này lại càng đẹp, càng đậm nét. Gió thổi từng cơn ào àọ Cành cây đu đưạ
Lên tới khúc này thì đinh đóng vào thân cây không còn nữa. Khoảng cách tới cụm phong lan hãy còn dàị Chắc người leo trước tôi không ngờ là cây cao quá không mang đủ đinh, hoặc cúi xuống thung lũng thấy đất xa vời vợi nên quay trở lạị Tôi cũng chùn chí, nhưng cánh hoa tím thật đẹp như mời mọc. Chỉ lần này thôi, không còn lần nào nữạ Tuần sau tôi đi rồi, đi một nơi xa xôi, không còn được nhìn hoa phong lan trên cành cao chót vót.
Tôi bám sát vào cây, gắng sức ôm thân vào leo lên từng tí một. Hoa lan tím cả một khoảng trờị Tôi leo tới gần mới biết có cả trăm nhánh hoa lan nở rộ -Dẹp sao mà đẹp! Một tay ôm thân cây, một tay nâng niu những chùm hoa tím. Tôi tiả ra vài chục nhánh bỏ vào ba lộ Quà cho bố mẹ em tôi trước khi tôi đi xạ Quà cho Thuỷ Tiên của tuổi học trò mơ mộng, của những câu nói vô tình táo bạọ
Rồi tôi sẽ ra đị Rồi tôi sẽ có những xót xa, u buồn, tiếc nuối như bố tôi đã bỏ lại trên quê nội của tôi những kỷ niệm đầu đờị
Hôm tôi mang bụi phong lan đã gắn trên cành gỗ mục tới nhà Thủy Tiên thì bao nhiêu người trầm trồ khen ngợi, "Cậu kiếm được cụm hoa lan ở đâu đẹp thế nàỷ" Tôi chỉ cười nói nhỏ, "Ở bầu trời mộng mơ trên đỉnh gió hú" Thủy Tiên cười hạnh phúc vì chỉ có nàng mới biết đỉnh gió hú của tôi ở đâụ Tôi tặng Thủy Tiên cụm phong lan mà không dám nói rõ rằng tôi sẽ ra đị Đỉnh gió hú của tôi bây giờ là cụm phong lan gắn trên lan can, trước cửa sổ phòng nàng.

Rồi đời tôi sẽ lang thang! Cụm hoa phong lan tim tím có được hơi sương giọt nước theo gió bay về để nở đẹp cho nàng?

Nguyên Đỗ

Sunday, April 26, 2026

Tháng Tư Đường Phố Lạ - Thuyên Huy

 Tháng Tư Đường Phố Lạ

 
















Tháng Tư đường phố lạ

Người ngồi đó lặng thinh

Quê hương giờ xa quá

Hơn nửa đời chênh vênh

 

Người xa người từ đó

Một sáng tháng Tư buồn

Xót xa đường phượng úa

Ngẹn ngào biệt cố hương

 

Nhớ người nhớ da diết

Quặn thắt một nổi đau

Người vẫy tay tống biệt

Người lệ đẩm mắt sâu

 

Người có vui ở đó

Hay cũng tháng Tư buồn

Lời thương muộn xin ngỏ

Người nơi này lệ tuôn

 

Tháng Tư thêm lần nữa

Người vẫn cứ xa người

Còn đâu ngày tháng cũ

Phố lạ cũng ngậm ngùi

 

Thuyên Huy

 

Tội Tình - Thuyên Huy

 

Tội Tình

Viết cho chị, hơn phân nửa đời người ở đợ nơi quê xưa, đã không còn trên đời này

 

    Vào Đệ Thất, anh lên tỉnh trọ học, nhà nghèo, ở tận một xã xa dưới quê, ba mẹ làm ruộng mướn, không quen biết ai, cũng may, hôm xuống dưới quận tính chuyện trả tiền trả lúa cho chủ, gặp một ông bác cũng tới trả nợ, người bên xã trong, hỏi han hoàn cảnh nhau, bác có người cháu bà con, đang học lớp Đệ Tứ trên đó, bác chỉ chỗ anh này ở, nhờ vậy, mừng quá, mừng đến nổi ba anh cứ run run cầm tay bác cám ơn không biết bao nhiêu lần. Trước ngày khai trường mấy ngày, hai cha con đón xe đò thật sớm lên tỉnh, chỗ ông bác chỉ cũng dễ tìm, ngay mặt đường lộ, đi bộ tới trường trung học chừng hơn hai ba trăm thước.




*

    Nhà trọ, chỗ anh ở, một căn nhà lợp tôn, tường ván còn tốt, khang trang, nằm cách lề bởi cái mương dài chạy dọc theo đường, có khoảng sân đất cát trắng, phía sau là khu vườn cây vú sữa, bao quanh cái nhà ngói lớn, mái âm dương, bề thế của bà Bảy Hiền, tuổi già, sống một mình, tu tại gia, cất cho đám học trò quê xa lên ở trọ nhiều năm rồi, không lấy tiền, hết lớp này tới lớp kia. Trong nhà, có bốn người, người nào cũng học trên nhiều lớp, có anh sắp thi Tú Tài Một năm này, anh là thằng nhỏ nhỏ nhất, nhà có điện hẳn hoi, sáng hơn cây đèn dầu leo lét dưới nhà quê , thấy thương anh một mình, tội nghiệp, mấy anh lớn an ủi, vỗ về chút chút vậy thôi, chứ không biết làm gì hơn, họ cũng nghèo, cơm bữa chao bữa tương, dưa leo dưa chuột, chia nhau miếng khô miếng tép, ba mẹ anh cũng lên thăm, đón về năm ba lần, chắt chiu mang lên mớ cá mớ tôm kho quẹt, anh em chia nhau, rồi dần dà quen, thứ bảy chủ nhật, anh theo mấy anh lớn, đón xe về nhà, may mà cả đám đều cùng một đường dưới đó, chỉ khác là người xuống trước xuống sau nên anh không còn lo còn sợ nữa.

    Chị ba Thắm, người ở cho bà Bảy Hiền, chắc cũng hai mươi, dễ thương, vui tính, chị hiền lắm, ăn nói nhỏ nhẹ, mỗi sáng đi chợ, ngang qua sân nhà, thấy anh đứng loanh quanh chờ tới trường, đều tới hỏi đủ chuyện, từ chuyện nhớ nhà, chuyện đi học tới chuyện ăn uống, một hai ân cần dặn, nếu cần gì thì vào nhà trong kêu chị, chị giúp cho, cứ hai ba bữa, chiều chờ mấy anh em đi học về, chị mang ra cho thêm mấy cái hột vịt, hủ chao hủ tương, cải chua dưa muối, đôi khi cái bánh, miếng kẹo. Riết rồi thân, rồi mến, thấy anh nhỏ, trọ học xa nhà tội nghiệp, chị giặt cả quần áo cho luôn, chiều chiều anh vào nhà trong, hai chị em ngồi bên nhau, cười đùa luôn miệng, cứ vậy mà về nghỉ hè bải trường, xa chị, nhiều lần nhớ anh khóc.

    Mấy anh lớn ở nhà trọ, những năm sau lần lượt bỏ đi thì hai ba anh khác đến, căn nhà vẫn vậy, anh lên lớp, anh lớn hơn nhưng chị Thắm cứ lo cho  y hệt như ngày mới lên tỉnh học, anh thương chị không ít, cũng phải vì thiếu tình thương người chị. Cuối năm Đệ Tứ, nghe lời ba mẹ, anh chuyển về dưới trường trung học quận mới mở hơn một năm nay, gần nhà, đi về cũng tiện, ông bà đở lo tiền nong gạo thóc.

*

    Hôm từ giã chị Thắm, cũng là ngày cuối năm học, vào Hè, bải trường, buổi sáng hai chị em dắt nhau ra chợ tỉnh, chị đãi anh ăn một bữa hủ tiếu tôm thịt, ly chè sâm bổ lượng đầy ém, dặn nhớ ráng học, “khi nào rảnh lên thăm chị nếu còn nhớ”. Buổi trưa, chị ra đứng bên đường, chờ xe đưa anh đi, cho anh gói quà, bộ đồng phục nam sinh, quần xanh dương áo trắng, chị may vài tháng trước, định để dành tặng anh năm tới, anh cầm mà rươm rướm nước mắt, xe tới, anh lên xe nhìn xuống, đứng dưới ngó lên vẫy tay, chị che mặt khóc.

    Mấy năm sau, cảnh nhà ngày thêm chật vật, ba anh già yếu, mẹ anh cũng không khá hơn, sức người mòi mỏn chuyện cày sâu cuốc bẩm, đi học thì thôi, về nhà anh cũng dầm mưa dãi nắng, theo ông ra ruộng ra sông, cắm câu giăng lưới, bất kể ngày nghỉ ngày hè, nhiều lần muốn lên tỉnh, hẹn lần hẹn lựa nhưng vẫn chưa được dù cho có muốn lắm, anh nhớ nhưng chưa lần nào trở lại tỉnh từ dạo đó.

*

   Từ căn cứ Đồng Tâm, sau khi xuống thăm người bạn Hải quân về, trời còn sớm, nắng rưng rức nóng, từ mấy cánh đồng trơ xác rạ xa cuối làng đứng gió, tới ngã ba Trung Lương, chỗ sạp quán, người bán người buôn đủ loại trái cây dọc hai bên, thì xe đò xe hàng nối đuôi, kẹt cứng ngay ngả đường vào Mỹ Tho, mấy chị, mấy bà bán hàng từ phía đầu trên chạy xuống, hớt hơ hớt hãi la lớn “xe đụng chết người”, cả khu nhốn nháo chỉ chỏ nói qua nói lại, chật cứng trên đường, tấp xe vào đậu phía sau, người tài xế ngồi yên, lấy thuốc ra hút, anh bỏ xuống, len vào đám đông tới phía trước, chỗ xảy ra tai nạn.




    Một chị bán hàng xem ra rành chuyện, cho biết, người bị xe đụng là chị có sạp bán mận, bán chôm chôm gần bên sạp mình, chưa có chồng, lúc vội chạy theo chiếc xe đò lớn về Mỹ Tho, đưa túi đụng mấy ký mận cho người khách ngồi trên xe chờ, bên kia lề, lấy tiền, xong lẹ băng qua đường lại, không nhìn trước nhìn sau, chiếc xe đò nhỏ cũng về hướng Mỹ Tho, chạy giành đám đông khách đứng chờ phía trên xa, phóng vụt vượt qua bên hông, thắng không kịp, đụng chị ngã sấp xuống, máu me tùm lum, may nhờ có mấy người lính chạy  Honda về dưới tỉnh, gọi xe cứu thương giùm, đang chờ họ lên, bạn hàng không biết làm gì, đứng chung quanh nhìn, than trời trách đất, không dám động đậy.

   Tới nơi, chiếc xe đò loại nhỏ đậu chắn ngang giữa đường, anh chen đám đông bu quanh, đi lên xem thử, anh chết trân, nghẹn ngào, ngồi quỵ xuống “trời ơi, chị Thắm, chị Thắm ơi”, trên vũng máu đọng tím bầm, chưa khô, chị nằm cong queo, mắt nhắm nghiền, thân người không động đậy, xe cứu thương, xe cảnh sát từ Mỹ Tho lên tới, nhận ra anh, họ vội vàng chào, anh nói với họ gì đó, họ gật đầu đứng chờ, hai người y tá khiêng chị lên xe, anh lên theo. Hụ còi lớn, xe cứu thương vụt chạy đi, anh ngồi bên cạnh, cầm tay chị, nước mắt lăn dài trên má.

*

    Chừng hơn hai năm, sau ngày anh về dưới trường quận, bà Bảy Hiền mất, người cháu bà con trên Đà Lạt về lo đám tang, họ đem hỏa thiêu rồi mang tro cốt vào gởi trong cái chùa cổ xưa ngoài xa ngoại ô tỉnh, họ bàn và chị Thắm, phận người ăn người ở, không muốn cũng phải chịu, họ bán căn nhà ngói và cái nhà tôn ngoài đường mà bà cho đám học trò ở trọ. Chị rời tỉnh về lại quê cũ, gần Long Định, cũng như chị đám học trò tản mác, lo thân đi ở đâu đó. Với chị, hôm bỏ tỉnh đi, đã không còn nghĩ tới chuyện gặp lại anh như lời chị dặn “lên thăm chị nếu còn nhớ” trong buổi sáng ngày đó đưa anh đi bên lề đường.

    Về Long Định, với số tiền dành dụm từ những năm ở với bà Bảy Hiền, nghe lời người dì họ, cũng già lắm rồi, chị sang lại cái sạp nhỏ bán trái cây trên ngã ba Trung Lương, mới đầu chưa quen nhưng dần dà khá hơn, khách qua đường, khách đi xe lên xuống tới mua cũng khá đông, chị vui mà quên chuyện cũ, chuyện vui buồn của kiếp đời ở đợ. Người bán hàng chung quanh, kế bên đều thương đều mến vì chị ăn nói nhỏ nhẹ, nhường khách nhường phần, tiếp tay sạp hàng kế bên, túi nhẹ túi nặng, ngay cả mấy anh tài xế, lơ xe đò đều ngắm nghía, chọc ghẹo luôn miệng, chị cười trừ, dù chị không còn trẻ nữa.

    Từ đó, chị kiếm đươc đồng vô đồng ra, nhà hai dì cháu giờ có thêm cái bàn cái ghế, cái chén cái nồi, người quen trong ấp, bạn hàng ngoài Trung Lương, tỏ ý gợi chuyện muốn làm mai cho người quen, con cháu nhưng chị vui vẻ từ chối, cứ bảo là để thủng thẳng rồi tính. Ngày qua tháng lại, chị vẫn bương chải một mình, ngày hai buổi đi về Long Định, không buồn không tiếc gì hết nhưng không ai biết là chị cũng đã có một lần thương, trong những ngày còn ở với bà Bảy Hiền, chỉ một lần thương mà không trọn vì thân phận “con ở đợ”.

*

    Chắc cũng hơn tám chín năm, không gặp lại từ ngày anh về học trường quận nhưng vẫn còn nhớ rõ như in gương mặt của chị Thắm, giờ ngồi nhìn không khác nhiều hơn trước, hôm theo xe cứu thương chở chị về bênh viện Mỹ Tho, anh ở bên cạnh, đi qua đi lại, phụ mấy chị y tá lấy ống chích cây kim, giữ kéo dây chuyền nước biển, chị vẫn nằm bất động, máu đọng bên khóe miệng đã đặc khô cứng màu bầm, miệng thầm gọi “chị ơi, chị ơi”, ở lại đó cho tới giờ đổi ca trực đêm, giữa khuya, chị y tá sau cùng, quen biết anh, kéo lại tấm vải đắp trên mình chị Thắm, xếp mấy thứ lặt vặt trên cái bàn kê ở đầu giường bệnh, ra ngoài đứng chờ, anh đi tới, cúi xuống gần nhìn mặt chị thì thầm “chị ơi chị ơi”, mắt chị vẫn nhắm nghiền, rồi bước ra theo, chị y tá nhẹ tay khép cửa, gật đầu chào, lặng thinh bỏ đi, anh nấn ná ở lại đôi phút, hành lang bệnh viện vắng tanh, không bóng người, rồi cũng bỏ đi, dưới ánh đèn vàng mù mờ trong phòng bệnh, giọt từng giọt vẫn đếm từng cái một rớt xuống trong cái chai nước biển treo ngay đầu giường.

*

     Sáng sớm, mặt trời chưa hé, sương mù mờ, chập chờn cả đêm không ngủ, cứ nhớ ray nhớ rứt những năm đầu học trường tỉnh, nhớ căn nhà tôn trên cái sân cát rộng sát bên đường lộ, nhớ nụ cười nhớ lời dặn dò của chị, nhớ quay quắt, nhất là lời chị nhắc “lên thăm chị nếu còn nhớ”, nhớ mà muốn khóc, anh lái xe chạy một mạch tới bệnh viện, người cảnh sát gát đêm trên đường về, mệt mỏi nhưng cũng dừng lại, đứng bên lề, vẫy tay chào, anh hững hờ cười chào lại.

    Bỏ xe đậu đại đâu đó trong sân dãy phòng bệnh, đi vội đi vàng về hướng cuối hành lang chỗ chị Thắm chưa được nửa đường, anh giựt thót người, hớt hãi, một nhóm nhiều chị y tá đứng trước cửa phòng mặt mài buồn xo, nhìn vào, nói qua nói lại gì đó, anh chạy nhanh tới, chị y tá quen anh, người rời phòng bệnh cuối cùng đêm qua cũng vừa bước ra, nhìn anh rồi nhìn vào trong, anh nhìn theo, trên giường tấm khăn trắng phủ toàn thân người chị Thắm, không chừa đầu như hôm qua, chai nước biển cũng đã gở xuống, đèn trong phòng mù mờ như cái mù mờ như vậy từ chiều qua, chị chờ anh quay ra, thở dài “chị đã mất chừng nửa giờ trước đây”.




*

   Anh đẩy cửa vào, mấy chị y tá tránh qua một bên, họ nói nhau gì đó rồi lẳng lặng bỏ đi, một mình người chị quen anh, ở lại bên ngoài, kiên nhẩn chờ như đã chờ anh để khép cửa hồi khuya đêm qua, anh cúi xuống, tay run run kéo tấm vải phủ xuống khỏi đầu, mặt chị đã đổi màu, nhưng vẫn là gương mặt đó, gương mặt của những buổi chiều, hai chị em ngồi nói chuyện với nhau, trước mái hiên căn nhà ngói mái âm dương  bà bác Bảy Hiền của hơn tám năm trước, đầm đìa nước mắt.

    Lảo đảo quỵ người xuống, đưa tay vuốt mặt chị trước khi kéo tấm vải lên khỏi đầu, trời bắt đầu có chút nắng sáng, bên ngoài trước phòng, mấy chị y tá hồi nảy trở lại, có đẩy thêm chiếc băng ca, anh thẩn thờ nói nhỏ “vĩnh biệt chị của tôi”, rồi ôm đầu nức nở khóc.

 

Thuyên Huy

Cũng là những ngày đầu đông 2020

 

   

 

Phố Hạ Em Về - Nguyễn Đạm Luân

 Phố Hạ Em Về

 













Em về dưới phố Hạ. Đường phượng một trời hồng

Tôi là người khách lạ. Ngập ngừng giữa chợ đông

 

Áo hờ đôi tà lụa. Em nghiêng nón tóc lơi

Lối quen này một thuở. Hoa nắng Hạ theo người

 

Tôi cũng về dưới phố. Chiều chợ vẫn còn người

Quen em nơi cuối ngõ. Rộn ràng đường phượng vui

 

Giữ chút tình sơ ngộ. Nắng Hạ ngã bóng chiều

Chào em tôi bỏ phố. Phố Hạ hiu quạnh hiu

 

Chưa biết ngày trở lại. Ruỗi dong quán bên đường

Hơn nửa đời vẫn vậy. Thương chỉ để mà thương

 

Nguyễn Đạm Luân

Họ Là Con Gái - Lê Xuân Khoa

Họ Là Con Gái




Nó nắm chặt tay nhỏ bạn, cố gắng nở nụ cười thật tươi để chen lấn qua một đống người. Quán cà phê sinh viên tối thứ bảy có khác – đông đúc, ồn ào. Tất cả mọi thứ đều mờ mịt trong khói thuốc lá, chìm nghỉm giữa một mớ âm thanh hỗn tạp. Nó đưa mắt nhìn khắp căn phòng không thể kiếm đâu ra một khoảng trống đẻ có thể tìm ra một chỗ ngồi. Nhỏ bạn kéo tay nó và hất mắt về phía ban công:

- A! Tao thấy có người quen ngoài kia đấy!

Nó nhướng mắt. Chịu - chẳng thể nhận ra ai ngoài mấy cánh tay đang giơ lên cao vẫy vẫy. Thôi thì đành “bay” vào vậy, kiếm được chỗ ngồi là tốt rồi. Nó nhủ thầm và lại xông xáo bước theo chân nhỏ bạn vượt qua một dãy bàn chật ních…

Cầm chiếc thìa trong tay, nó lơ đãng khuấy đều. Phải nói rằng nước quất mặn ở đay là món nó thích nhất. Chỉ cần nói đến  cài vị ngọt ngọt, chua chua, mặn mặn lại chơi chát một chút lá đã phát thèm. Nó vẫn thường hay gọi đúa đây là “ly nứơc cuộ đời…”

- Đây là Thảo học cùng lớp với tớ.

Nó giật mình dáo dác quay sang xung quanh rồi tự cười thầm trong bụng. Đúng là “Có tật giật mình”, mà cái Hằng cũng thật buồn cười, không dưng lạ đá vào chân nó cứ như đây là giờ học toán không bằng. Cái màn giới thiệu cũ rích này quan trọng hoá làm gì cho mệt. Cũng may là nó chưa đứng lên và cúi đầu lễ phép “Thưa thầy! Thầy hỏi gì ạ?”.

* * *

Nó bực bội cố xoay chàng lính thủy quay mặt lại với cô thôn nữ. Đôi chút chít này liên tục gây cho nó sự phiền nhiễu. Chúng không bao giờ tuân thủ theo sự sắp đặt của nó cả, lúc nào cũng quay lộn xộn chẳng có thứ tự gì hết.

- Thảo này, có lẽ tao yêu mất rồi.

- Yêu cái gì cơ? – Nó ngạc nhiên quay lại hỏi. Bạn của nó đang tư lự chống tay ngang cằm.

- Mày làm sao mà hiểu được tình yêu cơ chứ. Suốt ngày lọ mọ với một đống đồ chơi. Tao sợ mày cũng trống rỗng như cô thôn nữ của mày lắm.

Nó nhún vai ra dáng bất cần. Yêu với chả đương. Khi người ta 18 tuổi như nó, nguời ta sống bằng những hoài bão, ước mơ chứ không bằng tình yêu kiểu bọ xít.

- Mà mày thấy Minh thế nào?

“Thế nào ư?”. Nó lẩm bẩm trong miệng. Từ sau lần gặp nhau trong quán sinh viên, tụi nó có đi chơi ba bốn lần với nhau. Đấy là anh chàng biết hạ giọng thì thầm bản tình ca bất hủ “Still loving you” hay biết cách rút khăn mùi xoa khi nó xơi xong ba que liền một lúc.

- Đôi lúc mắt Minh gặp mắt tao. Nó cứ thế nào ấy Thảo ạ. Tao thấy người mình cứ run bắn lên.

- Thế à? – Nó hờ hững hỏi lại - Chỉ có nhìn mà đã được gọi là tình yêu ư? Vậy giải thích sao đây khi thỉnh thoảng mắt nó và Minh cũng gặp nhau? Vớ vẩn thật. Nếu vậy thì nó đã có nhiều mối tình rồi. Bất cứ lúc nào nó chẳng có thể nhìn sâu vào mắt một thằng cha nào đấy.

- Mày cứ nghĩ cái gì thế? Nói chuyện với mày chán chết y như người mất hồn - Hằng đứng lên giận dỗi bỏ về. Nó cũng chẳng thèm đuổi theo làm gì. Đúng là đồ trẻ con.

* * *

“Một …hai…ba”.

Lại là nó đang kiên nhẫn đếm từng chú kiến đang chăm chỉ chạy đi chạy lại trên bờ tường. Sống trong những ngày này quả là khó chịu. Ngày nào cũng như ngày nào lặp lại như nhau, trùng khít lên nhau trong cái vòng luẩn quẩn: Học – ăn - ngủ. Nó đứng lên bĩu môi, vứt que tăm xuống đường giao thông của lũ kiến và quay vào nhà. Bạn nó đã đến từ lúc nào. Hằng tựa lưng vào tường nhìn nó – cái nhìn đầy thất vọng.

- Tao không hiểu nổi mày Thảo ạ!

Nó nhếch miệng lẩm bẩm “Việc ấy cũng không cần thiết lắm”.

- Mày lẩn thẩn như một bà cụ non nhưng lại tha về nhà một đống chơi của trẻ lên ba để làm bạn. Mày luôn bay bổng trong mớ hoài vọng rắc rối. Mày hãy cứ sống thật với chính mình đi. Hãy yêu – hãy tin – hãy thất vọng và hãy đau khổ, rồi mày sẽ biết thế nào là hạnh phúc.

Nó ơ hờ gật đầu. Cũng có thể là Hằng nói đúng. Nó luôn chế nhạo tình kiểu bọ xít của bạn bè nhưng nó lại thèm sự quan tâm  đến từng cái hắt hơi của Minh đối với Hằng. Nó ghét cái õng ẹo, làm duyên, làm dáng của các cô gái nhưng nó lại muốn có cái nhìn đầy khích lệ, thương yêu của các chành trai. Nó cười vào sự theo đuổi lẵng nhẵng của cái đuôi nhưng lại run sợ khi phải đạp xe một mình trên đường phố. Phải đối diện với chính mình, với cái cô đơn đang dày vò. Nó là thế đấy. Luôn ra vẻ đang ngẩng cao đầu đầy kiêu hãng nhưng thật ra lại đang bồn chồn mong ngóng một nửa còn lại của chính mình. Cũng có thể là một cái gì đầy mâu thuẫn nhưng tất cả đều không có gì đáng lo ngại lắm, bởi vì nó là con gái. Và con gái thì được quyền kiêu hãnh chứ gì?

Có lẽ ngày mai hoặc ngày kia trên đường phố bạn sẽ gặp một cô gái đang hùng hồn tuyên bố giữa đám bạn bè “Tôi khôn thèm yêu” hay “Tôi không thèm lấy chồng”, hoặc những câu đại loại như thế thì bạn hãy cứ tin chắc rằng đấy chính là những người đang chờ đợi tình yêu nhất.

Mà biết đâu người đấy chính là nó, là tôi hoặc là bạn?

Lê xuân hòa 

Như Ngàn Cơn Gió Nổi Trôi - Vũ Thế Thành

 

Như ngàn cơn gió nổi trôi…

Thỉnh thoảng tôi cũng viết nhăng cuội tùy bút, còn làm thơ thì tuyệt đối không. Không làm thơ được thì dịch thơ. Dịch thơ có cái sướng là, chỉ cần diễn nghĩa, khỏi cần vần điệu. Ý nghĩa thực sự của thơ lại nằm sâu dưới nhiều lớp chữ nghĩa, tưởng hiểu mà có khi không hiểu. Chính sự mông lung này lại là cái cớ để… biện minh – Đó là “ẩn ý” tác giả!

Vũ Thế Thành

 

Bài thơ tôi liều mạng dịch thử có tựa là “Do not stand by my grave and weep” (Đừng khóc bên mộ tôi). Tôi không rõ tác giả bài thơ là ai. Có nguồn nói là của bà Mary Frye. Nguồn khác lại nói của ông Clare Harner. Cuối cùng tôi cũng chẳng biết là của ông hay của của bà, dù cả hai đều đều là người Mỹ.

Tôi yêu ý tưởng của bài thơ này: sự sống không kết thúc nơi nấm mồ, mà hóa thân vào thiên nhiên, là mây, là gió, là nắng, là giọt mưa,… Bài thơ xuất hiện trước Thế chiến II, và sau này James E. Parker Jr đưa bài thơ này vào hồi ký “Last Man Out” của ông xuất bản năm 1996.

J. Parker là phi công Mỹ, người chỉ huy chiếc trực thăng cuối cùng rời khỏi Sài Gòn trong những giờ phút kết thúc của chiến tranh Việt Nam năm 1975. Trong hồi ký xuất bản khoảng 20 năm sau đó, Parker đã kể lại, những trải nghiệm trực tiếp trong chiến dịch di tản hỗn loạn mang tên Operation Frequent Wind – Ông cũng tiết lộ những sự kiện ít ai để ý như thiếu nhiên liệu, quá tải, áp lực thời gian. Nhưng ám ảnh nhất với tác giả, đó là người lên được trực thăng, người phải ở lại. Không sao đáp ứng được hết.

Nếu muốn hiểu chi tiết cuộc di tản, mà các bạn trẻ trong nước chế giễu là bọn “ba que đu càng”, kịch tính thế nào, thì nên tìm đọc “Last Man Out”. Chỉ có điều tác giả, J. Parker viết ra, không phải để chế giễu những người “đu càng”, mà với một gánh nặng tâm lý – ông rời đi khi vẫn còn nhiều người bị bỏ lại.

Hơn hai mươi năm sau, Parker đã nhìn lại cuộc chiến, không chỉ với góc nhìn của một phi công, mà ở tầm vĩ mô hơn khi nhiều tài liệu đã được giải mật. Tác giả mang theo tâm trạng ray rứt – Mặc cảm đã bỏ rơi đồng minh, và cụ thể là hình ảnh khi chiếc trực thăng cuối cùng rời đi mà quá nhiều người bị bỏ lại. Đâu là nghĩa vụ, là trách nhiệm, và đạo đức?

Mặc dù tôi không thấy dấu vết của chiến tranh, của đau buồn trong bài thơ “Do not stand by my grave and weep”, nhưng có lẽ vì tâm trạng mặc cảm này mà James E. Parker Jr đã đưa bài thơ vào hồi ký “Last Man Out” của ông. – Chết không có nghĩa là kết thúc với nấm mồ. Chính vì vậy nó tạo cảm giác an ủi, nhất là trong bối cảnh mất mát của chiến tranh Việt Nam.

Bài thơ “Do not stand by my grave and weep” như sau:

I am not there. I do not sleep.

I am a thousand winds that blow

I am the diamond’s glint on snow

I am the sunlight on ripened grain

I am the gentle autumn’s rain

When you awake in the morning’s hush

I am the swift uplifting rush

Of quiet birds in circle flight

Do not stand by my grave and cry:

I am not there. I did not die.

———

Tạm dịch (Vtt):

Xin đừng khóc bên mộ anh

Anh không nằm trong đó, không yên nghỉ nơi đó.

Anh như ngàn cơn gió nổi trôi,

như ánh ngọc lấp lánh trên tuyết,

như ánh nắng trên đồng lúa chín,

như những giọt mưa thu nhẹ nhàng rơi

Rồi một sáng mai tĩnh lặng, em tỉnh giấc

Sẽ thấy anh là cánh chim vút bay

Lặng lẽ lượn quanh bầu trời

Đừng khóc bên mộ anh

Anh không ở đấy, anh chưa hề khuất bóng.

—–

Bây giờ đang là những ngày cuối tháng Tư, tôi cũng muốn viết điều gì đó, nhưng không sao viết được. Tháng Tư năm ngoái, 50 năm cũng không sao viết nổi. Tuổi đời càng cao, ký ức càng chật kín thêm những chuyện năm xưa – Nói sao cho hết? Đành dịch bài thơ này để trang trải nỗi lòng – Sự sống không kết thúc nơi nấm mồ.

Sau cùng, tôi phải xin lỗi tác giả bài thơ, vì bản dịch có thể có nhiều phần không đúng với ý tác giả. Xin lượng thứ (Vtt)

Vũ Thế Thành

304Đen – llttm - sgtc

 

Tuesday, April 21, 2026

Nhớ Sài Gòn Nhớ Em - Thuyên Huy

 Nhờ Sài Gòn Nhớ Em




Dạ Mộ Khúc - Thuyên Huy

 

Dạ Mộ Khúc

Để nhớ HTN - người lẻ loi mang theo những gì muốn nói nhưng chưa nói được xuống lòng mộ lạnh.




 

    Giữa tháng giêng, cuối hạ, buổi sáng, trời vẫn nắng như những ngày đầu mùa, vài ba cơn gió bắc gay gắt nóng hậm hực tụ nhau về rồi lửng thửng bỏ đi không chào không hỏi, chủ nhật, nghĩa trang vắng tanh, không bao nhiêu người thăm, dọc theo mấy hàng mộ bia, cùng kích thước vuông, lớn cở hai gang tay, cùng loại đá, đặt nằm thẳng, cách đều nhau, trên cái đồng cỏ xanh trải đầy xác hoa phượng tím, sâu hút phía trong cùng, lác đác đôi ba người đứng ngồi ở cuối đường. Ngồi đó lâu rồi, trước mộ, nói là mộ nhưng ở đây, mộ là những khoảnh đất xanh cỏ, bằng phẳng, tro cốt chôn bên dưới, chính giữa phía trên, người ta đặt một cái bình đựng hoa bằng sứ đen, mộ nào cũng như mộ nào, chỉ khác nhau ở chỗ là hàng chữ khắc trên bia và loại hoa cắm trong bình, Đạm chưa nói được trọn những gì mình muốn nói, hơn năm năm gặp lại nơi xứ người, cùng cảnh đời lẻ loi, vui buồn có nhau, vậy mà cuối cùng, ngày anh Huỳnh mất, Đạm đã không tiễn anh lần đi sau cùng, không như lần tiễn nhau tại một góc quán cà phê, ở chợ Nancy, đêm chờ khuya ra biển, hẹn ngày gặp lại, tay vuốt nhẹ mộ bia, khắc vỏn vẹn tên người và ngày sinh ngày chết, chợt dưng Đạm nức nghẹn, thì thầm, rấm rứt khóc “vậy mà em đã thất hẹn với anh rồi”.

    Tuần trước, trưa thứ sáu, khi đến phụ anh điền một số giấy tờ, để tái xin trợ cấp tiền thuê nhà hàng tuần, nộp cho văn phòng “Nhà Cửa” của chính phủ tiểu bang, anh cho biết bệnh tình, từ tim tới phổi, từ đầu gối tới bàn chân, vốn đều trải qua hơn một lần giải phẩu, xem ra tệ hơn, mấy ngày nay anh trông rã rời, mệt mỏi và không đi đứng lâu được, cũng như thường ngày, hai anh em ngồi nhìn ra trời bên kia sông, nói qua hỏi lại chuyện chợ búa chuyện tin tức thường ngày, anh cười mà buồn rười rượi “không biết còn chịu được bao lâu nữa”, ra về, Đạm hẹn ngày mai, thứ bảy, đến cắt đám cỏ đã lên cao ở sân trước, rộng chừng đủ cho hai chiếc xe hơi đậu, lần này anh ngồi dựa vào tường nhìn theo, không còn đủ sức đứng lên ra tới cửa như mọi khi, đám bồ câu hoang chờ ăn thường ngày, không đủ kiên nhẩn, bỏ bay đi từ lâu vì cũng đã nhiều ngày, anh không rải gạo khô dư cho bọn chúng. Mây bất chợt kéo về xám xịch và chùng xuống thấp bên kia sông, trời có chút gió mát muộn, chắc sắp mưa, xe ra khỏi ngã tư đường, nhìn từ kính chiếu hậu, cửa nhà anh Huỳnh không thấy mở.

    Đi loanh quanh tìm mua vài thứ lặt vặt, nhìn người qua kẻ lại ở khu thương mại gần nhà cho đở buồn, về đến nhà, nhận điện thoại của vợ chồng người bạn quen thân từ trên Wollongong kêu xuống, nhắn một hai lên gấp, giúp giùm ai đó một số giấy tờ để sáng thứ hai họ kịp ra tòa, tìm chuyến bay qua mạng điện tử, Đạm đi chuyến bay Jetstar sáng sớm thứ bảy vì vé hạ giá chuyến trễ trong ngày không còn nữa. Tối lại, Đạm gọi điện thoại cho anh Huỳnh biết không tới được ngày mai như đã hẹn, vì phải lên Sydney vài ngày, khi về lại sẽ cho anh hay và không quên nhắc anh nhớ uống đủ thuốc như thường lệ. Không như mấy lần trước, vì có một vài trục trặc, chờ xong xuôi.

    Đạm ở lại Wollongong thêm mấy ngày, trưa hôm về tới nhà, vội gọi điện thoại cho anh Huỳnh ngay mấy lần mà không được, nên gọi cho cô Hiền, người đã sống gá nghĩa vợ chồng với anh một hai năm qua, cô có nhà riêng trên miệt Bắc Richmond, nhưng anh Huỳnh thường ở nhà mình, đi đi về về một tuần hai ba ngày, một căn vi la nhỏ đầu dãy trong khu nhà của chính phủ cấp cho người già cả ở, Đạm gặp chị đôi ba lần, chuyện anh chị như thế nào, anh Huỳnh chưa lần nào nói tới, biết thì biết vậy thôi, Đạm cũng chưa lần hỏi, Đạm buột miệng, chết nghẹn “trời ơi” khi chị cho biết anh chết rạng sáng chủ nhật, trên đường từ nhà chị tới bệnh viện, bỏ điện thoại xuống bàn, Đạm ngồi bất động, nhìn ra bên kia sông, theo nhau chút mây xám đong đưa hửng hờ xuống thấp rồi thật thấp, không khóc nhưng nước mắt cứ tuôn dài trên mặt.

*

     Hôm cùng thiếu tá Huỳnh, quận trưởng, đi qua bàn vài chuyện với bên quận Bình Lâm về, ngồi ăn trưa ở một quán cơm trong chợ quận Lạc Tánh, không mấy người qua người lại, chợ vắng tanh, lâu lâu mới thấy vài anh lính nghĩa quân, thượng có kinh có, súng khoát hờ trên vai, nhìn lên nhìn xuống, thả bộ tán gẫu về hướng chi khu, chim rừng đậu từng đám trên nóc gọi nhau ồn ào cả chợ, trời nắng và nắng nóng, cũng như thường lệ, từ ngày đổi về quận Tánh Linh, Bình Tuy, làm việc với thiếu tá Huỳnh sau tết, đầu năm 1974, cho tới giờ, ông ít khi nào hỏi han gì về chuyện hành chánh văn phòng, trừ khi cần có chữ ký của ông cho công văn nào đó, ký tên mà miệng lúc nào cũng bảo Đạm “mọi thứ ông phó cứ tự quyết định, không cần phải chờ tôi”, ông vui tánh và ít nói, bình dân, giúp người nên trong quận chẳng ai phiền hà than vản, lính tráng thì coi như con cháu anh em, lầm lỗi gì nặng lắm ông mới rầy rà chút đỉnh rồi thôi, không nhắc tới, trước đây không biết sao, an ninh trong cả quận giờ tạm gọi là khả quan, quân du kích thỉnh thoảng phối họp với quân chính quy Bắc việt đánh phá nhiều lần, nhất là sau mùa hè đỏ lửa nhưng chưa chiếm giữ được gì, lính quận, có chết có bị thương nhưng chưa đến nổi tản cư, hồi cư như mấy tỉnh cao nguyên, ăn xong, trên đường chở Đạm qua văn phòng quận, ông cười cười, nửa đùa nửa thật “tình hình này cả nước, xem ra cũng găng lắm chứ không dễ như mình tưởng đâu, thôi ông phó về Sài Gòn nghỉ phép vài ngày đi cho đở buồn”.




    Đạm nhận chuông, đứng chờ ngoài cổng rào, thấy người lạ, cô con gái chừng khoảng mười chín hai mươi, khá đẹp, bước ra cửa nhìn rồi quay nói gì đó với ai trong nhà, ở một góc vườn trước, xác phượng rụng ngập đỏ bầm một khoảng sân, Sài Gòn bây giờ là những ngày cuối hè, cũng còn nghe tiếng ve nấn ná và rã mệt đâu đó, trời sắp giữa trưa, không nhiều nắng, cô gái chậm bước ra cổng gật đầu chào mời vào. Vào nhà, Đạm giới thiệu mình và trao lại lá thư của ông gởi cho gia đình, cầm lấy thư, bà thiếu tá Huỳnh hối hả gọi vào trong “ Nhã Quyên, Nhã Tuyền ơi, ra đây con chào anh Đạm nè, ông phó quận của ba ngoài Tánh Linh về đó”, bẽn lẽn ngồi xuống bên cạnh, bà thiếu tá nhìn hai cô con gái, cô lớn, Nhã Quyên, là cô ra mở cổng hồi nãy, tựu trường năm nay vào năm thứ nhất dược, cô nhỏ, Nhã Tuyền, lên đệ nhị ở Gia Long, bà hỏi Đạm đủ thứ chuyện, cười nói luôn miệng, từ ba mẹ dưới Mỹ Tho tới chuyện ngoài Tánh Linh, đầu câu cứ “một ông phó hai ông phó”, Đạm chỉ biết cười trừ, bỡ ngỡ lúc đầu, trước lạ sau quen, quen thân quen thiết hồi nào không ai biết, anh anh em em rộn ràng trong nhà vườn trước sân, sau đó, suốt hai ba ngày còn lại ở Sài Gòn, chiều nào Đạm cũng đến ăn cơm chiều với ba mẹ con bà thiếu tá Huỳnh như đã hứa. Buổi sáng, hôm trở lên Tánh Linh, hai chị em đưa Đạm ra tận bến xe, nhắc lần sau có về, nhớ đến nhà, ở lâu hơn lần này, xe rời bến, khuất cuối đường, nhìn lại sau, chợt dưng Đạm thấy lòng mình như có chút gì nhung nhung nhớ nhớ.

    Tình hình chiến trận xem ra có vẻ sôi động hơn trước, Bắc quân xe người, ùn ùn, rầm rập vượt đường mòn “HCM”, tràn qua tam biên, bủa vây kìm hảm cao nguyên, các tỉnh dọc biển còn có chút dễ thở hơn nhưng không biết được bao lâu. Buổi chiều, tại văn phòng quận, sau buổi họp nghe mấy anh trong ủy ban Phượng hoàng quận báo cáo tình hình “ta địch” xong, Đạm qua chi khu ăn cơm tối với thiếu tá Huỳnh, bây giờ là những ngày vào đông, trời lành lạnh mang theo hơi gió biển, đêm xuống mau hơn mọi khi, ngồi bên nhau, một lần nữa, thiếu tá Huỳnh cười cười, nhắc lại câu hỏi mà ông đã hỏi hôm Đạm từ Sài Gòn trở ra “ông phó thấy con Nhã Quyên thế nào, cũng được hả”, không đợi Đạm trả lời, ông gục gặt đầu tiếp “hy vọng mình còn làm việc chung ở đây lâu hơn, nếu không có gì trở ngại, có ngày nào đó mình cùng về Sài Gòn một chuyến, chắc là vui lắm”, hiểu ý ông, thêm một lần Đạm chợt nhớ Sài Gòn, Đạm không nói gì thêm ngoài tiếng “dạ” rất nhẹ.

    Có tiếng súng nổ liên hồi phía cuối hàng rào phòng thủ chi khu, tiếng chân người dồn dập chạy tới chạy lui ngoài cổng, anh lính cận vệ quen, tay cầm súng, mặt đăm đăm đẩy cửa vào cho biết chi khu bị tấn công rồi đứng yên chờ lệnh, thiếu tá Huỳnh đứng dậy, anh lính đưa khẩu súng M16 cho Đạm, ba người bước nhanh ra ngoài, rồi mất dạng giữa tốp lính địa phương quân, nghĩa quân chừng mười mấy người súng ống chờ tự nãy giờ, có tiếng đạn pháo kích của quân Bắc việt rớt đâu đó phía bên phố chợ,  súng nổ nhiều và nghe gần hơn, lửa cháy lập lòe trong màn đêm tối đen và đen thăm thẳm.

     Cuối tháng ba, những ngày giữa tháng tư năm 1975, vùng Một, rồi vùng Hai, các tỉnh cao nguyên, tới Phú Yên, Qui Nhơn Khánh Hòa, xuống Ninh Thuận lần lượt bỏ trống vào tay quân Bắc việt, Bình Tuy cũng không khá hơn, đường quốc lộ Một về Sài Gòn bị cắt đứt, người hàng hàng lớp lớp chạy giặc tràn xuống ngả Hàm Tân ra biển xuôi Nam. Theo dòng người, bằng đường bộ thiếu tá Huỳnh, Đạm cùng một số sĩ quan trẻ của chi khu, bỏ Tánh Linh đi, xuống tới Hàm Tân giữa khuya đêm trước ngày có lệnh buông súng đầu hàng từ Sài Gòn, bờ biển Hàm Tân người đông như kiến, ghe tàu đánh cá đèn tối mù mờ cả một vùng, chiếc nào chiếc nấy đầy ắp, lính tráng dân thường, trẻ già lớn bé, chòng chành sóng vỗ chen nhau bỏ bờ ra khơi, người còn lại trên đường gọi nhau nhắn nhau ơi ới, át cả tiếng súng tiếng đạn đại bác từng chập dọa nạt đuổi theo, cứ vậy lẳng lặng nhấp nhô trên sóng biển âm u.

    Quá giữa khuya, trời bổng dưng nổi gió, gió gào gió thét, mây đen một màu ma quái, mưa bất chợt trút xuống như thác, bão nổi lên gầm gừ, che kín người và nước, người nhìn người, hớt hãi lo sợ, đoàn tàu nối nhau cố bám sát dọc theo bờ, vì chở quá đông, nhiều chiếc đã lật ngang, lật úp, mất hút giữa những con sóng cao hơn nhà, chiếc có thiếu tá Huỳnh và Đạm, không may đã cùng chung số phận trong đám tàu đó, tàu họ chìm, người chìm theo, người còn lại từ các chiếc tàu khác muốn cứu cũng không làm sao mà cứu, biển cứ lồng lộng đen ngòm, nhìn lại, thở dài, đoàn ghe tàu cứ đi, trời vẫn mưa, bão vẫn vậy cho tới rạng sáng. Đạm nằm bất tỉnh trên tấm ván nắp đậy hầm chứa cá nhấp nhô ẩn hiện, được một chiếc ghe nhỏ, hư hết một máy, chở ít người, lẻ loi phía sau cứu, có phần muộn nhưng cuối cùng cũng tấp vào được bờ Long Hải, Phước Tuy, rạng sáng ngày 30 tháng 4, đành thôi, ngồi thừ người trên bải cát, nhìn ra biển nước mênh mông, nước mắt mặn pha chút nước biển trên môi, tim đau nhói, Đạm rươm rướm khóc “thiếu tá ơi thiếu tá”.

*

    Đem mớ bánh ba-tê-sô giao cho tiệm cà phê quen ngay góc đường như mỗi sáng xong, đẩy cái xe đạp cũ, người dì họ cho mượn làm chân, có mà chạy đi chạy lại kiếm sống chờ thời, xuống lề đường, sau ngày ở tù về, ở Mỹ Tho bị làng xã hạch hỏi dòm ngó quá, nên bỏ lên Sài Gòn tìm chốn dung thân, mặc dù phải rày đây mai đó, lang thang bến xe bến tàu, may gặp lại chị Trang, có sạp bán vải trên đường Lê Lợi trước đây, vốn quen nhau vì là khách hàng thường xuyên trong những ngày còn đi học, giờ chị mở tiệm làm bánh ngọt Tây tại nhà, ở cuối hẽm ngã tư Cao Thắng - Phan Thanh Giản, nhận làm người đi giao bánh cho mấy tiệm cà phê còn mở cửa, nên tạm yên thân, có chút đồng ra đồng vô, bữa cơm bữa bánh mì, cũng cảm thấy hạnh phúc lắm rồi, đội cái nón kết xám bạc màu lên, định đạp đi thì chiếc xích lô trờ tới bỏ khách xuống chặn ngang, Đạm cầm ghi đông chờ, người đạp xe xích lô giở nón khỏi mặt nhìn lên nhỏ nhẹ “cám ơn”, Đạm buông xe đạp ngã xuống đường, cùng lúc cả hai, há hốc buột miệng “thiếu tá, ông phó”, Đạm nắm tay thiếu tá Huỳnh, hai người ngồi đại xuống bờ lề xi măng, nghèn nghẹn.

    Đêm tàu chìm, thiếu tá Huỳnh được một chiếc tàu khác, chở không đông người lắm, lính nhiều hơn dân, cứu lên, nhưng không may, chiếc này máy bị hư sau đó, thả lềnh bềnh ngược chiều gió bão cuốn trôi tấp vào bờ Phước Tỉnh chiều 30 tháng 4, ngồi thở dốc trên đám cát phủ màu rong úa, nhìn ra xa chập chùng biển dữ, thiếu tá Huỳnh thì thầm “ông phó ơi ông phó”, nhờ nhà này miếng cơm nhà kia miếng cháo, mấy ngày sau, thiếu tá Huỳnh quá giang đám xe hàng từ miền trung vào về đến Sài Gòn, căn nhà vẫn còn, cả nhà ôm nhau, đóng cửa kín lại khóc ròng, khóc mà sợ người bên hàng xóm nghe.

    Trước ngày có lệnh gọi công chức quân nhân VNCH trình diện, tập trung đi tù, tình hình phường khóm vẫn còn nhập nhằng mới cũ, nên chưa đến nổi cùng đường, bà thiếu tá thay chồng, chạy về Long An, gặp người bạn cũ, cùng dạy ở trường tiểu học Mộc Hóa trước khi bà nghỉ dạy, có chồng cũng là sĩ quan làm việc dưới tiểu khu Sa Đéc, hỏi thăm liệu còn đường nào ra đi không, lên xuống vài lần, cả gia đình thiếu tá Huỳnh quyết định theo vợ chồng người bạn cô giáo đi chuyến tàu của người em bà con của bà này ở Trà Vinh.

    Ngày đi, chạng vạng chiều, từng nhóm nhỏ được mấy người tổ chức đón từ một số nhà tạm trốn quanh chợ Trà Vinh, đưa xuống tàu trót lọt, trong đó có nhóm bà thiếu tá Huỳnh, hai cô con gái và bà bạn cô giáo, xui xẻo đi sau cùng, chiếc xe lam chở nhóm thiếu tá Huỳnh, người chồng cô giáo bạn và ba người thanh niên khác, bị đám công an đi đâu đó về ngang chận xét hỏi, rồi đem về nhà tù tỉnh nhốt vì tội vượt biên, dưới bải biển, đêm xuống tối mịt, chờ cũng đã lâu, sợ bị bể, nên tàu lớn đành phải ra khơi, có người khóc có người than, có người lâm râm cầu nguyện, trời vẫn đen một màu đen rùng rợn. Hơn một ngày đêm ròng rã trên biển nước mênh mông, sườn phía hông tàu sau bị nứt, dây kéo máy bơm cũng bị đứt, máy nóng quá không chạy được nữa, tàu quay vòng loanh quanh, nhấp nhô hụp lặn, nước bắt đầu vô ngập các hầm khoan dưới, người lôi kéo nhau lên sàn, la hét, tàu bể ra, gần một trăm, ai nấy gào khóc, bám víu cái gì cứ bám để mà sống nhưng không ai biết sẽ kéo dài bao lâu giữa biển cả mênh mông, sóng phủ sóng chập chùng, từng người một xa nhau dần và trời lặng thinh, đâu đó chút mây tan, rớt xuống vài ba vạt ánh trăng thiểu nảo, cũng may, một số người chừng mười mấy, còn bập bềnh trên nước được chiếc tàu chở hàng lớn Nhật, trên đường từ Tân Gia Ba về ngang, cứu lên đưa về tạm trú ở Okinawa.




    Sau gần ba tháng tù, nhờ có mớ giấy tờ giả, hai người, chồng cô giáo và thiếu tá Huỳnh được thả, về Sài Gòn thì căn nhà của ông đã bị tịch thu làm trụ sở ủy ban nhân dân phường, vợ con chưa biết đi đứng ra sao, không thể về quê cũ vì ở đó ai cũng biết ông, đầu đường xó chợ vài ngày, ông đành tìm tới nhà trung sĩ Thưởng ở bên Rạch Cát, người tài xế theo ông từ ngày còn ở tiểu đoàn, trung sĩ Thưởng cũng cùng đi với ông bỏ Tánh Linh, nhưng lạc mất nhau không biết khi nào, vợ chồng trung sĩ Thưởng mừng rơi nước mắt, một “ông thầy hai ông thầy”, vợ chồng nhờ “ăn chia ăn chịu” gì đó với đám phường khóm trong việc buôn bán chợ trời, trung sĩ Thưởng chạy chọt cho thiếu tá Huỳnh tạm có tên trong sổ hộ khẩu, cơm nước tuy không nhiều nhưng họ lo mọi thứ, không lâu, ông quyết định đi đạp xich lô, dù cho vợ chồng trung sĩ Thưởng cản ngăn ngày này qua ngày nọ.

    Thiếu tá Huỳnh, ngưng ở đó, lấy khăn lau chút mồ hôi của nắng Sài Gòn vừa lên, nhìn mông lung, dường như muốn nói thêm nhưng lại thôi, ông nhìn Đạm chờ, cũng như ông, anh kể lại chuyện đêm chìm tàu và những ngày “ăn bờ ngủ bụi” sau ngày ở tù về, bổng dưng nhớ lại, Đạm chợt buột miệng hỏi “còn bà và hai cô”, thiếu tá Huỳnh bóp chặt hai bàn tay, nghiến môi “còn đâu nữa mà hỏi, chết giữa biển rồi”, hai người bật khóc, đám bộ đội mặt mày trắng bạch thiếu nắng, ngồi trên chiếc xe jeep cũ của cảnh sát VNCH chạy ngang qua, quay đầu lại nhìn, nói với nhau gì đó.

    Những ngày sau đó, cứ hai ba hôm, chiều chiều, Đạm đạp xe đạp qua thăm thiếu tá Huỳnh bên Rạch Cát, gặp lại Đạm trung sĩ Thưởng mừng mà muốn khóc, nhắc hoài chuyện cũ, qua anh, Đạm mới biết là bà thiếu tá và Nhã Quyên, Nhã Tuyền đã chết ngoài biển đêm vượt biên, tin do người bạn cô giáo, viết thư cho chồng là người sĩ quan bị bắt và nhốt cùng khám ở Trà Vinh biết, bà là một trong mười mấy người được tàu hàng vớt đưa về Nhật. Đêm cuối tháng ba, gần sáu bảy tháng sau, Đạm đưa thiếu tá Huỳnh cùng gia đình anh trung sĩ Thưởng vượt biên, ngồi bên ông lần sau cùng, giọt cà phê cuối cùng không ai cạn, bỏ lửng, tiễn nhau hy vọng có ngày gặp lại đâu đó nếu trời còn thương.

*

      Đạm không ngăn được nước mắt khi gặp lại thiếu tá Huỳnh ở chùa, hôm theo anh bạn tới đó ăn cơm chay cho biết, sau lễ cầu siêu, không hỏi Đạm cũng đã biết lý do, không ai ngờ được, mừng không biết là bao nhiêu, chuyện trước chuyện sau rưng rưng, cũng như lần hai người ngồi bên lề đường Phan Thanh Giản năm xưa, hỏi nhau nói nhau không hết, ông hiện sống một mình và ở cũng gần đây. Đạm đưa ông về, nhà ông ở là một căn vi la nhỏ trong dãy nhà chính phủ cất dành cho người già, ông ở thui thủi một mình, sống nhờ vào tiền trợ cấp, trong nhà trống trơn, chỉ có cái giường ngủ, cái tủ gỗ cũ nứt nẻ vài chỗ, cái bàn viết nhỏ kê bên cửa sổ ngó ra đường, ba bốn cái ghế ngồi, không cái nào giống cái nào, cũng rách bương không thua bộ sa lông bằng vải đen bạc màu, dán băng keo đầu này đầu kia, chằng chịt, ngồi lõm xuống tận đáy và cái tủ lạnh nhỏ, đứng khiêm nhượng trong nhà bếp, trên đầu tủ, là bàn thờ nhỏ, tấm hình bà và hai cô con gái đen trắng để sau lưng cái ly làm lư hương, bên cạnh là bình bông đen, ít khi thấy hoa tươi, vậy đó, ông lặng lẽ ra vào, theo tháng ngày quanh quẩn, nhưng chưa thấy ông buồn và than phiền gì cả, thiếu tá Huỳnh, xuất thân từ sĩ quan thời Pháp, tiếng Pháp khỏi nói nhưng không nói được tiếng Anh nhiều, nhưng vẫn hỏi thăm hỏi lom được ông già Bill nhà bên cạnh bằng “ngôn ngữ tay chân” sáng nắng trong chiều mưa xám. Bạn bè, cựu sĩ quan có, bác sĩ dược sĩ có, công chức cũ có cũng đến thăm đôi ba lần, nhưng ai nấy còn lo phần mình, không thường trở lại, năm khi mười họa mới tạt ngang.

    Tháng ngày sau đó, cũng đơn độc như ông, hể tới cuối tuần, thứ bảy chủ nhật là Đạm tới nhà ông, so tuổi tác thì thiếu tá Huỳnh lớn như cha nhưng quen rồi, Đạm cứ gọi là anh, khi thì mang theo mớ đồ ăn mua ở chợ mình, khi thì đem bánh ngọt của ai đó ở chỗ làm cho đến, hai người chia nhau ăn chút cho vui, thỉnh thoảng cũng ra chợ ăn phở này phở kia, với chút tiền còn dư lại trong tuần, cứ như vậy anh em an ủi nhau, chia sẻ buồn vui ngọt bùi của đời người nơi xứ lạ, ngày thường, khi cần đi ngân hàng, bệnh viện hay văn phòng chính phủ về chuyện gì đó, ông gọi một tiếng, Đạm tạm bỏ sở làm, vài tiếng đồng hồ đến đưa ông đi làm ngay. Ông hút thuốc nhiều, Đạm không dám cản, còn gì khác hơn đâu, một hôm ông bị nghẽn tim, ngã quỵ trong nhà, xe cứu thương hụ còi chở ông vào bệnh viện, suốt mười ngày trong đó, chiều nào Đạm cũng vô thăm ở tới khuya, bệnh khỏi về lại nhà, ông bỏ thuốc, chưa xong lại phải trở vào vì cứ khó thở hoài, giờ sang qua tới phổi, cuối cùng, tim phổi được giải phẩu hai ba lần, thuốc uống cả chục thứ đủ loại mỗi ngày, trời còn thương, những lần tái khám sau đó, bác sĩ cho biết bệnh không còn đáng ngại nữa, ông xem ra khỏe và tươi tắn hơn trước.

    Chừng nửa năm sau, không biết ở đâu và làm thế nào, ông quen với cô Hiền, góa chồng, người gá nghĩa vợ chồng với ông, cô có người con trai lớn, đã lập gia đình ở riêng, cô còn đi làm ở một công ty bán sỉ quần áo, không giàu nhưng tạm dư giả, Đạm mừng cho ông, ít ra cũng còn chút gì vui mà sống, ông không ở với cô mà vẫn ở nhà mình, đi về hai ba ngày trong tuần. Chuyện ông với cô, Đạm chưa bao giờ nhắc tới, coi như biết rồi, chỉ có một lần, trưa chủ nhật, trời mưa lớn, bây giờ là những ngày lập đông, gió lạnh thật lạnh, loay hoay nấu mì ăn, Đạm vô ý hỏi sao ông không về ở trên đó với cô Hiền cho khỏe, ông cười lắc đầu “dù sao trên đó cũng là nhà của người ta, nhà mình dù nghèo nhưng là của mình”.

*

    Trời chớm thu, khắp nghĩa trang, đường ngoài đường trong cây trở mình rụng lá, sáng chủ nhật, vắng người, đâu đó đôi ba con bướm lẻ bạn, ngập ngừng vờn quanh mấy chiếc lá rụng sớm, lả tả bay theo chiều gió hắt hiu, man mác lạnh, ngồi chờ người phụ trách việc chăm sóc mộ phần như đã có hẹn từ tuần trước, sau khi có sự đồng ý của ông giám đốc, Đạm đặt tấm hình chụp gia đình thiếu tá Huỳnh, tấm hình tìm ra được từ trong xấp hồ sơ bệnh tình của ông mà anh còn giữ, trên tấm mộ bia, giữa khoảnh cỏ, chết lặng. Phần giữa mộ được đào lên, trống một khoảng, cầm cái hủ đựng tro cốt thiếu tá Huỳnh lên đưa cho Đạm, người làm của nghĩa trang đứng thụt lùi lại phía sau chờ, Đạm xếp tấm hình bỏ vào, mân mê một hồi lâu rồi đặt xuống, người làm của nghĩa trang từ nãy giờ lẳng lặng chờ, giờ cũng lẳng lặng lấp đất lại, không nói tiếng nào, mặt buồn xo.

    Một chút nắng rực lên phía trên đồi, trời hâm hấp giữa trưa, người thăm mộ bắt đầu đông dần, có tiếng ai đó đọc kinh lâm râm và tiếng ai đó khóc nho nhỏ ở mấy hàng mộ gần bên, cắm bó hoa chi chít nhỏ vàng, không biết tên, mua từ sạp bán hoa ngoài cổng vào bình, nước mắt chảy dài xuống mặt, Đạm nghèn nghẹn khóc theo “thôi em về, hẹn anh lần tới, em nói cho anh nghe nhiều hơn, chuyện em chưa kịp nói về cái tên Nhã Quyên”.

Thuyên Huy

Mượn chút phần đời của một người có thật, tình tiết, bối cảnh và những gì còn lại của chuyện được viết bằng tưởng tượng