Thương
Chưa Kịp Đã Vội Đi
Chuyện
viết mượn một chút thật, còn lại chỉ là hư cấu
Kontum, một tỉnh nhỏ và lẻ loi của rừng núi
cao nguyên, nằm cách Pleiku, thủ phủ vùng hai chiến thuật không hơn bốn mươi
cây số. Phía bắc Kontum, hai quận Dakto, Daksuk, nằm sâu cạnh ranh giới Quảng
Ngải đã bị chiếm, từ những ngày mùa hè đỏ lửa. Ngồi trên trực thăng người ta có
thể thấy rõ ràng bóng dáng bộ đội Bắc quân đi qua đi lại quanh vùng, nhất là
sau ngày có hiệp định Ba Lê. Tỉnh lỵ không có bao nhiêu con đường, thành phố
chạy quanh chạy quẩn cũng chỉ là mấy dãy phố bao quanh cái chợ tỉnh luôn vắng
người từ xế trưa.
*
Từ đỉnh núi Kompa bốn mùa mù sương nhìn
xuống, Kontum như cái lòng dĩa tròn đơn độc. Sông Dakla, con sông chảy ngược
giòng, đổ về núi thay vì ra biển, uốn mình chia đôi thành phố, hai bờ cát trắng
phau, khác Pleiku mịt mùng bụi đỏ, lặng lờ, dưới cái cầu nửa sắt nửa xi măng
dẫn vào tỉnh lỵ, từ hướng Pleiku lên. Bên này cầu, ngôi nhà gỗ mung hai tầng
lầu, dân ở đây thường gọi là Biệt Điện vì đó là nơi dùng làm nhà nghỉ mát cho
Tổng Thống , mỗi khi lên cao nguyên, lúc còn sống và còn quyền, là nơi giờ trở thành
cư xá cho dăm ba công chức cao cấp, độc thân trong Nam ra tỉnh ở.
*
Sau lưng là góc công viên nhỏ, cỏ xanh dầy
đặc và hoa leo đủ loại vây quanh cái bia đá ghi ơn chiến sĩ màu xám bám đầy
rêu. Cuối phố, qua trường trung học tỉnh, chạy vòng theo dưới đồi, đường về xã
Phương Quý, hai bên mấy dãy rừng cà phê hun hút. Lính trận trên phố thường
nhiều hơn dân trừ những giờ tan trường có chút màu trắng áo dài. Kontum không
có bao nhiêu ngày nắng trọn, trời cứ khói sương mờ mờ lành lạnh quanh năm.
*
Chợ có độc nhất một rạp chiếu bóng Diệp
Kính, ít khi mở cửa trễ về đêm. Quán cà phê với cái tên ngồ ngộ “Forget Me Not”,
do hai chị em, người từ Đà Lạt lên làm chủ, trên đường Ngô Quyền hình như lúc
nào cũng thấy đông khách. Lác đác một vài thiếu nữ Thượng, nặng nề mang gùi bán
hoa Lan rừng, đi lên đi xuống trong buổi chợ sớm.
*
Mới đó cũng đã gần hai tháng, kể từ ngày Lâm
lên làm việc ở Kontum. Chỗ làm việc nằm trên một con đường dốc, lặng im ẩn mình
sau hàng cây thông xanh thẳng tấp bao quanh, lẻ loi, xa phố chính hai ba cây
số. Bạn bè ở đây không có mấy ai, vài anh Trưởng ty hoặc Phó quận độc thân từ
miền Nam ra, không còn thêm ai nữa. Chiều chiều tụ năm tụ ba, không tập tành
đánh quần vợt thì bài bạc cho qua ngày tháng. Đêm ở đây xuống rất nhanh, chưa
thấy hết giờ làm việc thì phố xá đã lên đèn, trời mù sương lạnh, ít khi thấy
người lang thang ngoài đường ngoại trừ những chiếc xe cảnh sát tuần tiễu mờ mờ
lên xuống, không có tiếng súng lưa thưa nổ xa xa đâu đó như những ngày ở Tây
Ninh nhưng vẫn thấy ánh sáng hỏa châu bập bùng tận một phía bên trời.
*
Căn nhà nhỏ được một người nhân viên tốt
bụng cho Lâm ở, nằm cạnh bờ sông Dakla, cách hàng rào khu gia cư của thương phế
binh khoảng mươi thước. Lâm thường thả bộ một mình, dọc theo bờ cát trắng phau
khi con nước xuống, nhìn mặt trời đỏ bầm chầm chậm lặn phía sau rừng cuối xã
Phương Hòa. Thỉnh thoảng Lâm theo anh Nông, thư ký kiêm thông dịch viên tiếng
Thượng, lớn hơn vài tuổi, gốc người Ra-đê, có Tú tài một, được tuyển vào làm
việc cho tỉnh từ năm ngoái, lên buôn Thượng chơi, ngồi sàn nhà rong, tập uống
rượu Cần, ngọt lần đầu nhưng say nằm liệt lúc nào thì có trời mới biết.
*
Theo anh, Lâm cũng quen dăm ba cô gái. Mấy
người bà con của anh Nông sống trong buôn, đi săn trong rừng sâu, hái cho Lâm
vài cụm hoa Lan rừng đẹp lạ lùng, treo trên tường, quên cả tưới nước, cụm hoa
vẫn tươi một màu vàng rực rỡ. Lâm đã thấy lòng mình se thắt, ngậm ngùi nhiều
đêm, khi nhìn cụm hoa Lan vô tội vô tình phơi màu, ẩn trên tường vôi trắng. Cái
màu áo mà Trân mặc trong ngày gặp Lâm, tại quán sinh tố Hằng Phương, một chiều
đầy nắng ở Tây Ninh, ngày mà lòng Lâm thà “về yêu hoa cúc, không mến lá sân
trường”. Hình như Lâm đã sống quá dài trong ray rứt, trong lạnh lùng. Kỷ
niệm của một đời yêu nhau chừng như tan tác buông xuôi theo năm dài tháng đợi.
Lâm hờ hững sống đời con tằm, cứ lặng lẽ nhả tơ trong ổ kén quạnh hiu xanh lá.
*
Trời ở đây giờ đã cuối mùa thu, dăm ba cành
lá thông khô, khẳng khiu gãy vụn, nằm trơ trọi bên những con đường trên dốc
quanh phố trong những sáng mù sương, buồn da diết. Cuối thu lập đông, mới giao
mùa mà Kontum lạnh buốt. Đường phố lạ hẳn lên, áo len đủ màu đủ sắc, từ ngõ hẹp
đầu chợ đến khắp sân trường. Ly cà phê nóng chợt trở thành một cái gì không thể
thiếu mỗi sáng, trước khi đến sở làm, dù có muộn màng, ngồi bên này nhìn con
sông Dakla, sương phủ mịt mù như khói tỏa, mới hiểu lòng ai buồn sương khói mờ
nhân ảnh, Lâm lẻ loi ở Kontum những ngày tháng đó.
*
Thứ bảy chủ nhật cuối tuần, thỉnh thoảng,
đôi ba lần, Lâm theo mấy người bạn bên tòa Hành Chánh xuống Pleiku, cái thành
phố buổi chiều quanh năm mùa đông. Tỉnh lỵ Pleiku lớn hơn và nhộn nhịp hơn
Kontum vì là bản doanh của Quân Đoàn 2 và Vùng 2 chiến thuật. Phố xá không khác
nhau cho lắm, cũng những con đường đồi dốc ngoằn ngoèo, cũng dăm ba hàng cây
thông thẳng tấp. Phi trường Cù Hanh về chiều, nếu không có chuyến bay đêm nào
đó, buồn như một nghĩa trang chiều ba mươi tết.
*
Đâu đâu cũng là bụi đỏ, bụi đỏ nhuộm công
viên, phố chợ trong ngày hanh nắng, bụi đỏ in dấu chân người trong ngày mưa lầy
lội. Bọn họ lang thang hết đường Hoàng Diệu, khu tắm hơi đấm bóp rồi qua Phượng
Hoàng nhìn thiên hạ nhảy đầm trong tiếng nhạc bập bùng. Đêm ghé quán Vông Vang,
uống cà phê Ban Mê Thuộc nghe nhạc tình buồn, khóc đời cô lữ trước khi trở lại
khách sạn Thanh Lịch, quăng người xuống giường, đêm ngủ quên, sáng ngày dậy
muộn.
*
Rảnh
rỗi hơn, trên đường về lại Kontum, vòng qua Biển Hồ, quay xuống quận Lệ Trung,
xem thằng bạn tên Nhựt ngồi tán gái sơn cước, bằng tiếng đồng bào Thượng, học
tới học lui vẫn còn ngọng nghệu thấy mà thương. Vào điạ phận Kontum, cố nhấn ga
cho xe chạy nhanh khỏi ngọn đồi trọc Chupao, nơi lính Dù VNCH quần thảo với Bắc
quân, cày nát từng gốc cây ngọn cỏ vài năm trước, nếu thấy nắng chiều tắt sớm
phía sau lưng, mà thường thường nắng chiều hay tắt sớm.
*
Không đầy một tuần lễ, sau ngày mất Ban Mê
Thuộc, thành phố Kontum bắt đầu di tản, tỉnh lỵ hỗn loạn như một gánh hát rã
hàng không tiền trả tiền mướn rạp. Công chức quân nhân, nhỏ lớn mặc ai, không
còn thấy gì là lệnh lạc. Các buôn làng Thượng im lìm thu mình trong màn sương dưới
núi. Sáng thứ bảy, lái xe lên chỗ làm, anh Nông, thư ký đã đứng chờ Lâm ngay
cổng ra vào, người lính nghĩa quân, thường gát trong cái chòi canh không thấy
bóng. Anh Nông lo lắng nhìn:
-
Thưa ông, không còn ai trong đó đâu, họ đi hết rồi
Lâm
ngỡ ngàng chưa kịp đáp, anh tiếp theo với vẻ mặt buồn vời vợi:
-
Tôi nghĩ chắc ông cũng lo về Sài Gòn đi, họ đã về Pleiku từ chiều hôm qua, ngay
sau khi đóng cửa.
-
Rồi còn anh thì sao? Lâm đắn đo hỏi:
Anh
lắc đầu cười gượng:
-
Tôi là người ở đây, thì đi đâu bây giờ!
Anh
lên xe Honda nổ máy, chậm ra đường, quay đầu nói vọng lại:
-
Cám ơn ông, chúc ông bình an, mau gặp lại gia đình.
Lâm
đứng nhìn theo bóng anh mất hút, ngược hướng đoàn người bỏ đi từ phía xã Phương
Qúy, buồn muốn khóc.
Trở lại nhà, quơ vội mấy thứ cần, quăng đại
lên xe, Lâm lái qua Biệt Điện, đón đám bạn công chức, chen lấn lớp người lớp xe,
hấp tấp qua cầu, thản nhiên, con sông hiền Dakla vẫn lặng lờ chảy ngược lên
rừng, chưa kịp thương anh đã vội bỏ Kontum mà đi, một sáng giữa tháng Ba nghiệt
ngả.
Thuyên
Huy
Viết
lại từ một câu chuyện cũ

No comments:
Post a Comment