Saturday, August 1, 2015

Nắng Vẫn Ấm Nồng - vkp Phượng ngày xưa & Sao Em Vội Bỏ Đi - Nguyễn Cang


Nắng Vội Bỏ Người Đi --  Thuyên Huy

 

Nửa chiều nắng vội bỏ đi

Cơn mưa ngày cũ tìm về lối quen

Dài tay lùa sợi tóc mềm

Lả lơi nhẹ giọt hứng đêm tạ tình

Cuối đường phố chợt buồn tênh

Hoa ngoài song cửa thôi đành gọi mưa

Đò qua sông vắng người chờ

Chuyến xe thổ mộ khách thưa thớt sầu

Chơ vơ trời đất gọi nhau

Quỳ hôn cát bụi niềm đau tạ từ

Dáng ai gầy tuổi tương tư

Nhà bên ru khúc thương hờ một mai

Nắng đi bỏ nhớ lại đây.

 

Thuyên Huy

 

 NẮNG VẪN ẤM NỒNG
 

 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Cảm tác nhân đọc bài Nắng Vội Bỏ Người Đi  của Thuyên Huy

 

Nắng đi rồi nắng lại về

Đợi người ở chốn sơn khê mịt mùng

Chân trời rực rỡ vòng cung

Chói chang ngũ sắc không trung tuyệt vời

Trắng vàng đỏ tím xanh trời

Chiều dần buông xuống lả lơi gọi đò

Sang sông lòng vẫn đắn đo

Tim côi rỉ máu, ai dò tình em?

Môi thơm một thuở ngọt mềm

Gió hôn, trăng ngắm, sương thêm gợi sầu

Tương tư nhớ mối tình đầu

Bỏ quên bến cũ, qua cầu... tại ai?

Bao giờ cho hết đắng cay?

 

 Vkp Phượng ngày xưa

 

 SAO EM VỘI BỎ ĐI

Cảm đề bài thơ "Nắng vội bỏ người đi" của Thuyên Huy.
 

 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Ráng chiều,nắng vộị bỏ đi

Cơn mưa ngày cũ còn ghi nỗi lòng

Em đi hiu hắt trời đông

Dài tay tôi níu bóng hồng thướt tha

Gió bay tóc xõa mượt mà

Gục đầu gậm nhấm thiết tha tình đầu 

Vẳng nghe có tiếng kinh cầu

Hoa đào trước ngõ gọi nhau tìm về

Bến đò im vắng ngủ mê

Dòng sông nước chảy tứ bề mênh mông

Người đi tan nát tình nồng

 
Tôi ôm giọt đắng chờ mong em về

Tâm tư réo gọi lời thề

Quỳ hôn ảo ảnh, chân lê bước dài
Trần gian để lụy cho ai
Trăm năm biết có một ngày gần nhau?

Xa xa trời đất một màu

Bóng em ẩn hiện dạt dào tương tư

Mưa chiều dứt hột bao chừ?

Sao tôi còn đợi, dật dờ đơn côi

Nhạc buồn ai hát chơi vơi

Nắng đưa nỗi nhớ cho tôi... ngậm ngùi!!!

  

Nguyễn Cang

 

 

 

Sau Tiếng Chuông Chùa - Đổ Trường



Sau tiếng chuông chùa

 

 

Buổi ra mắt tập Thơ Người Việt ở Đức do nhà xuất bản Vipen Berlin tổ chức, diễn ra khá dài vào một chiều mùa hè 2014. Có lẽ, đã cảm thấy đói và mệt, nên giữa chừng Nguyễn Đăng Ga rủ vợ chồng nhà thơ Trần Mạnh Hảo, Người Buôn Gió, Quốc Cường, nhà điêu khắc Thành Nghĩa-An Giang, nhà văn Võ Thị Hảo và tôi về quán của anh ở Alexanderplatz ngồi lai rai. Coi đây là bữa nhậu chia tay, để ngày mai nhà thơ Trần Mạnh Hảo sang Paris và trở về Việt Nam. Ăn uống trò chuyện đang rôm rả, tôi đành đứng dậy cáo lỗi vì đã quá nửa đêm và con đường 200 km về nhà còn khá xa... 

 Xe chạy một đoạn, chẳng hiểu sao Navi chỉ đường lại giở chứng tậm tịt, tôi buộc đi theo trí nhớ. Một lúc, trí nhớ cũng tậm tịt nốt. Lòng vòng khá lâu, xe lạc đúng vào cổng chùa Linh Thứu. Tôi phải dừng lại, để hỏi đường ra Autobahn Leipzig. Đường phố vắng và trong chùa tĩnh lặng. Tôi men theo hè phố, tìm một quán đêm để hỏi. Bất chợt tôi ngoái lại, dường như có bóng một ni cô thấp thoáng đang đi về hướng cổng chùa. Tôi quay lại, rảo bước. Đến cổng, thấy ni cô dừng lại, có lẽ chờ tôi. Tôi đang lúng túng, tìm cách xưng hô, chợt thấy ni cô hơi sững người, nhưng giọng lại chùng xuống: Cậu Trường, đội lò mổ Leipzig phải không? Tôi giật thót cả người, nhìn thẳng, nhưng vẫn còn mơ hồ. Một giây im lặng. Đến khi chiếc răng khểnh của ni cô lộ ra, sau nụ cười thoáng buồn, tôi mới chợt vuột ra: Chị Tuyên! Sao chị lại ở đây?
 Tôi quen chị đã gần ba mươi năm trước, trong những lần chị dẫn các anh chị cựu diễn viên, ca sỹ ở cùng đội bóng đèn đến chỗ chúng tôi xin tiết canh lòng lợn. Sau ngày nước Đức thống nhất, người Việt vùng phía đông ly tán, số còn lại thường sống co cụm vào từng khu. Lúc này, chị trở thành hàng xóm của tôi. Cho đến ngày con trai chị vừa đón từ Việt Nam sang, bị chính những người đồng hương bắn chết ở gần Berlin, chị buồn và lặng lẽ bỏ đi. Có người đoán, chị đã về Việt Nam, kẻ lại nói, chị theo cô, theo cậu đang hầu đồng, hầu bóng ở Dresden…

 Vậy là sau mười chín năm, tôi bất ngờ gặp lại chị. Chị đã thay đổi quá nhiều. Sự thay đổi ấy, nằm ngoài sức tưởng tượng của tôi. Nhưng có lẽ, chỉ có tình cảm của chị với tôi không hề đổi thay. Chị vẫn thân mật xưng chị và gọi tôi bằng cậu, như mấy chục năm trước. Chị bảo, làm lễ cho một gia đình hàng xóm ở Dresden hơi bị muộn, nhưng chị vẫn phải đi tàu đêm lên Berlin, để sáng nay kịp đi theo lễ cùng thày. Cuộc gặp gỡ tuy ngắn ngủi và chị đã thuộc về cõi vô thường, nhưng tôi vẫn cảm thấy còn có một chút gì đó ưu tư trong đôi mắt chị. Khi tôi, bước lên xe, chị còn dặn: Lúc nào rảnh qua Dresden, chị còn nhiều điều muốn nói với cậu.

 Cuối tuần vừa rồi, chở mấy cô con gái đi thi đấu bóng bàn ở gần Dresden, tôi tạt vào thăm chị. Những biến cố, thăng trầm cuộc đời chị có chuyện tôi đã biết và có những chuyện đến nay tôi mới được nghe kể từ chính chị. Quả thật, những nỗi đau ấy của chị chợt làm tôi nhớ đến chị Hà Giang, trong truyện ký Nghỉ Hè Ở Mallorca của nhà văn Phạm Tín An Ninh. Nhưng có lẽ từ những quyết định đầu đời sai lầm, dẫn đến số phận của chị còn đắng cay, nghiệt ngã hơn rất nhiều…

 
Chị sinh ra và lớn lên ở ngõ chợ Khâm Thiên Hà Nội. Những ngày cuối năm 1972 bom Mỹ đã cướp đi toàn bộ gia đình của chị. Chị còn sống, bởi cái đêm định mệnh ấy, chị đang ở nơi sơ tán. Tháng 4 năm 1973 trên đầu cuốn bốn khăn tang, dù đang là học sinh phổ thông năm cuối, chị vẫn xung phong vào bộ đội. Sau mấy tháng huấn luyện, chị hành quân vào chiến trường Quảng Đà...

 Chiến tranh kết thúc, đơn vị chị được lệnh tiếp quản một số kho hàng và doanh trại, khu gia binh của quân đội Việt Nam Cộng Hòa thuộc khu vực Nam Trung Bộ. Thời gian sau, những doanh trại đã bị bom đạn cày nát này, được quây lại gọi là lán trại dành cho (tù) cải tạo, chủ yếu các sĩ quan cấp úy của quân đội VNCH. Chị vẫn ở lại làm thủ kho, cách đó không xa.
 
Khu nhà kho này được xây khá kiên cố, lưng tựa vào vách núi. Hai bên là hai dãy nhà mái trần, ngăn thành nhiều phòng. Hình như trước đây là nơi ở và phòng làm việc của một đơn vị quân nhu, tiếp vụ thuộc quân đội VNCH. Trước mặt có khoảnh sân khá rộng, bao quanh bởi những khóm hoa sim, đang thì nở rộ. Và tất cả được ẩn mình dưới những tán lá rừng xanh ngát, nếu từ xa hoặc trên cao nhìn xuống. Ở đây, chỉ có chị là nữ và mấy cảnh vệ đều ở tuổi hai mươi. Họ cũng là học sinh trước khi vào bộ đội như chị, nên cuộc sống rất hồn nhiên vui vẻ. Và có lẽ, tình yêu và khát vọng đang hồi sinh trong họ chăng? Nên ai cũng chuẩn bị lại sách vở, dành nhiều thời gian cho việc ôn luyện để năm tới xuất ngũ, thi vào đại học.
 
Lúc này, (tù) cải tạo vẫn còn thuộc sự quản lý của bộ đội. Nên chị vẫn thường qua lại đề nghị trưởng trại cử vài, ba người sang giúp sửa lại kho, hoặc bốc dở hàng hóa, khi cần. Và chị đã quen Chu Bá Trạc cải tạo viên, nguyên sĩ quan bộ binh, từng là thầy giáo dạy toán bậc trung học, trong một lần như vậy. Ngay lần đầu gặp, biết các cải tạo viên đều là thầy giáo, bác sĩ trí thức, chị và mấy cảnh vệ đã nghĩ ngay đến việc nhờ họ giảng dạy, hướng dẫn những môn khoa học tự nhiên.
 
Là khu hoàn toàn biệt lập, do vậy bọn chị rất dễ dàng vẽ ra rất nhiều công việc ma, để đón nhóm của thày Chu Bá Trạc vào kho, mỗi tuần vài, ba lần. Được học trò nể trọng, đưa đón ra vào lán trại, cũng như chăm sóc nghỉ ngơi, ăn uống, nên các thày rất nhiệt tình chỉ dạy. Từ đó, tình thầy trò ngày càng trở nên gắn bó, đồng cảm. Và sau mấy tháng như vậy, dường như tình cảm của chị dành cho Chu Bá Trạc không còn dừng lại ở mức thầy trò, anh em nữa…
 
Trời chớm sang đông, trên triền đồi và lối mòn dẫn ra con suối trước mặt đã trải vàng một màu hoa dã quỳ. Mùa này, dòng suối cũng đã cạn dần con nước. Đứng trên bờ đôi khi nhìn thấy những cá con, cá mẹ bị mắc trong hốc đá, cắm đầu vào những cành lá ối mục mà nước không thể cuốn đi. Tuy mùa đông, nhưng về trưa, nắng ngoài kia vẫn kéo cái nóng dần lên. Sau giờ học, nấu nướng ăn uống xong, trời đã chếch bóng, chị và mấy cảnh vệ tay dao, tay súng cùng nhóm (tù) cải tạo Chu Bá Trạc ra rừng tre nhỏ ở bên kia con suối. Công việc chặt tre, đốn gỗ về làm giàn bầu, giàn bí để “ngụy trang“ cho việc dạy và học của họ lại được bắt đầu...
 
Chị kéo Trạc vòng ra sau, đi lên phía triền đồi. Nơi có sắc vàng của hoa và của nắng như đang tan chảy vào nhau. Một loáng thôi, bóng của họ đã chìm trong cái vàng óng hòa tan ấy của trời đất. Họ lặng đứng bên nhau. Dường như có một khoảng cách rất mong manh trong lòng mỗi người. Gió… và từng cơn gió rít lên, làm chị hơi lạnh, nhưng không phải cái lạnh buốt da, cắt thịt như gió bấc nơi quê nhà. Bất chợt, Trạc xoay người nắm lấy bàn tay chị. Như viên than hồng nhóm lửa, chị hơi co người lại, có luồng khí nóng chạy dọc cơ thể... và cháy bùng lên. Ôm chặt lấy Trạc, chị ngả người, làm cả hai đổ vật xuống...
 
Ngay sau tết âm lịch 1976, một nửa trại đột xuất bị chuyển đi, trong đó có Chu Bá Trạc. Chị hỏi trưởng trại, hắn bảo đi Daklak, nhưng địa chỉ cụ thể thì không rõ. Không biết, đây là câu trả lời thật hay đểu của hắn. Nhưng làm cho chị vô cùng buồn bã và cả mấy cảnh vệ gác kho cũng bỏ học cả tuần. Đã từng đi qua chiến tranh và những ngày tháng khốc liệt, nhưng chưa khi nào chị cảm thấy hẫng, buồn chán như lúc này.
 
Quân khu đã có văn bản chính thức, đồng ý cho những quân nhân như chị được phép thi đại học. Mọi người phấn khởi làm hồ sơ giấy tờ. Với chị dường như mất cảm giác, chỉ thấy nôn nao, chao đảo trong người. Thuấn cảnh vệ, người Sơn Tây, luôn gần gũi chăm sóc chị từ ngày cùng nhau nhập ngũ, đi lấy hồ sơ về. Thấy chị đang nằm bẹp, hắn bắt phải lên bệnh xá ngay. Đi được nửa đường, chị bảo hắn quay xe về, thay thường phục, bắt xe đò vào thành phố. Hắn ngơ ngác, chị bảo, rồi ông khắc biết. Chị đã có một linh cảm chẳng lành.
 
Thành phố lúc này vắng vẻ, tiêu điều nhưng đã có một số phòng mạch tư nhân mở cửa trở lại. Chị và Thuấn đến vào cuối giờ chiều, phòng đợi vắng người. Chị được mời vào khám ngay. Và tinh thần chị bị sụp đổ hoàn toàn, khi bác sĩ cho biết, chị đã có thai và thai nhi đã lớn. Phòng khám không thể nạo bỏ, như theo yêu cầu của chị. Nếu chị muốn, phòng khám chỉ có thể giới thiệu đến bệnh viện. Họ sẽ làm, nhưng có thể nguy hiểm đến tính mạng, hoặc có thể chị sẽ trở thành người vô sinh. Điều quan trọng, chị phải có giấy giới thiệu của cơ quan, đoàn thể và chữ ký đồng ý của chồng.
 
Rời phòng khám, đầu chị quay cuồng, bước chân dường như vô định. Chị đã biết sợ, chiếc vòng kim cô muôn thuở kia, sẽ siết chặt cuộc đời chị trong cái luẩn quẩn của sự hủ hóa suy đồi đạo đức, dẫn đến mang thai với một kẻ bên kia chiến tuyến, một cựu sĩ quan, một cải tạo viên. Gặp kẻ ngồi trên độc mồm, ác miệng gán cho cái tội theo địch, phản động chứ chẳng chơi. Đó là một điều không thể tưởng đối với một Đảng viên trẻ như chị. Tương lai của chị đang bước vào ngõ cụt. Có lẽ, đây là cái án tử hình không chỉ đối với chị mà cho cả cải tạo viên Chu Bá Trạc, tuy không bằng dao, bằng súng.
 
Thuấn lặng lẽ theo chị đến con phố cuối cùng. Trước mặt đã là biển và thành phố đã lên đèn. Biển cạn, ngoài kia xác mấy con tầu đắm chưa kịp cẩu đi, trồi lên, sóng vỗ, bọt tung lên trắng xóa. Bãi cát vắng người, dường như chỉ thấy rặt một màu áo của lực lượng tuần tra, kiểm soát.
 Chị không khóc, nhưng hai con mắt đã đỏ hoe, nhìn về nơi có ngọn hải đăng đang cháy lên. Khi Thuấn khoác nhẹ tay lên vai, lúc đó chị mới gục đầu vào vai Thuấn bật khóc. Vỗ vỗ vào vai chị, Thuấn an ủi:
-Tuyên hãy thật bình tĩnh, rồi chúng ta sẽ tìm ra cách giải quyết thôi.
 Im lặng. Không biết nước mắt của chị hay cả nước mắt của mình đã chảy thấm vai áo, nhưng Thuấn vẫn để yên như vậy. Trăng lên cao. Gió thổi từng cơn. Lạnh và đói, Thuấn đỡ chị đứng dậy đi tìm mua đồ ăn. Giờ này, không còn xe về lại đơn vị, buộc chị và Thuấn phải tìm đến nhà khách quân khu.
 Hôm sau, trên đường về Thuấn đột nhiên bảo, nếu như Thuyên đồng ý, ngay trong tuần này, chúng ta lên trung đoàn trình báo sự quan hệ và xin giấy giới thiệu đăng ký kết hôn làm đám cưới. Đây là cách duy nhất để hợp thức hóa việc này.
 Tuy đã biết, từ lâu Thuấn đã có tình cảm với mình, nhưng do rụt rè chưa dám nói ra, nhưng với quyết định bao dung này của Thuấn làm chị bất ngờ và xúc động. Thật ra, từ ngày cả gia đình bị bom Mỹ, chị chẳng có ai là người thân để chăm sóc, giãi bày tâm sự, ngoài Thuấn ra. Tuy nhiên, với chị tình cảm dành cho Thuấn cho đến nay, chỉ là tình bạn thân thiết đặc biệt, chứ không hoặc chưa thể nói là tình yêu. Nhưng trong hoàn cảnh vô phương cứu chữa này, chị không thể không cảm ơn và làm theo sự sắp đặt của Thuấn.
 Chị cũng không ngờ đám cưới chạy của mình và Thuấn diễn ra tưng bừng, nói như ngôn ngữ thời nay, sao nó lại “hoành tráng“ đến thế. Hội trường đơn vị chật ních người, đầy đủ ban bệ và các bác tai to mặt nhớn. Bởi, đây là đám cưới đầu tiên sau ngày thống nhất, của hai chiến sĩ trực tiếp chiến đấu nơi chiến trường, trong cùng đơn vị. Nó được nâng lên thành hình ảnh điển hình, mang ý nghĩa chính trị to lớn, không chỉ riêng của một đơn vị...
 Không hiểu nguồn tin bị rò rỉ từ đâu, ngay sau đám cưới rất nhiều tiếng thì thầm to nhỏ với những nụ cười ruồi, rồi chỉ chõ vào cái bụng của chị ngày càng phổng lên. Đã đến tai, nhưng các đồng chí ngồi trên cố nuốt, vờ như không biết, nên vẫn bình yên lắm. Rất may, mấy tháng sau Thuấn đỗ vào khoa hóa thực phẩm trường đại học Bách Khoa Hà Nội, chị tuy không đủ điểm, nhưng được gọi vào trường trung cấp tài chính. Khi chị và Thuấn lên làm quyết định chuyển ngành và sinh hoạt Đảng, các đồng chí thủ trưởng và quân lực nhìn với ánh mắt lạ lắm và giải quyết rất nhanh. Cầm giấy tờ, bước chân ra khỏi phòng, chị vẫn còn nghe thấy tiếng thở phào, nhẹ như vừa cắt bỏ được miếng thịt thừa trên cơ thể của các đồng chí thủ trưởng, quân lực vậy...
“Người ăn ốc kẻ đổ vỏ mà lại đổ vỏ cho thứ ngụy quân ngụy quyền, thế mới đau chứ!“ Cái tin được rỉ tai nhau, truyền đi ở cái làng quê yên bình đậm lễ giáo này, đã làm sóng gió nổi lên đùng đùng trong gia đình, khi chị và Thuấn còn chưa về đến nhà. Thế này, có khác gì bôi tro trát trấu vào mặt gia đình, dòng họ. Mẹ Thuấn cứ ra vào lẩm bẩm như vậy.
 Gặp chị, mẹ Thuấn đã có chút nguôi giận, có lẽ cảm thông hoàn cảnh và chị là người hiền lành lễ nghĩa. Nhưng bà vẫn buộc chị sau khi sinh, cho hoặc gửi ai đó nuôi một thời gian, sự việc nguôi ngoai, sẽ đón cháu về, vì Thuấn là con trưởng cũng là trưởng họ thay bố đã mất.
Chị bảo, khi con được mấy tháng, phải gửi vợ chồng bác hàng xóm cũ là bác sĩ nuôi, không hẳn vì sức ép của gia đình Thuấn. Bởi trong thời gian chị đi bộ đội, căn hộ tập thể của bố mẹ đã bị cơ quan cho một gia đình khác vào ở, khi trở về, chị không thể đòi lại được. Do vậy, chị và Thuấn đều phải ở tập thể sinh viên của trường, cuối tuần mọi người về nhà hoặc đi vắng, vợ chồng mới được ở với nhau. Vừa nhập học, chị sinh, nhưng hệ hô hấp có vấn đề, nên cháu hay ốm đau dặt dẹo. Mấy tháng sau chị lại mang thai. Việc phải bỏ học là điều khó tránh khỏi, nếu chị không được sự giúp đỡ của vợ chồng bác hàng xóm. Và nếu như họ không phải là bác sĩ và đưa cháu về phương nam nắng ấm ngay sau đó, thì có lẽ cháu không thể qua nổi những cơn bạo bệnh. Nói là như vậy, nhưng lúc nào chị cũng day dứt và ân hận, nhất là từ ngày cháu bị ung thư ruột. Không biết hậu quả này, có phải từ việc chị uống thuốc tây ngoài chợ giời cho đến thuốc lá của mấy bà dân tộc để cho sẩy thai, hồi chị chửa cháu hay do nhiễm hóa chất từ nơi chiến trường? Mấy năm gần đây, cứ bòn góp đủ tiền là chị lại về Sài Gòn, dù bệnh đã ở giai đoạn cuối, nhưng với nó, chị vẫn chỉ là người xa lạ…
 Tôi cắt ngang lời chị, có lẽ, lúc đó chị liên lạc với gia đình Chu Bá Trạc gửi cháu bé cho họ, tốt và hợp đạo lý hơn. Chị bảo, Trạc đã có vợ con từ trước 1975, nên chị không muốn tìm đến. Năm 1987 trước ngày chị sang Đức, vào thăm, nó vẫn nhất định không chịu gặp chị. Dù gia đình bố mẹ nuôi rất khá giả và thương cháu, nhưng chị vẫn tìm đến địa chỉ cũ của gia đình Chu Bá Trạc ở Biên Hòa, để nói cho anh ấy biết, nếu có thể, anh ấy qua lại chăm sóc cháu. Nhưng anh và cả gia đình đã bị đắm tàu chết trên đường vượt biển năm 1980, sau khi ra tù, do người hàng xóm kể lại.
 Tôi buột miệng hỏi, ngày đó biết Trạc đã có vợ con và hai người ở trong hoàn cảnh vô vọng như vậy, sao anh chị vẫn…? Chị cười buồn, không thể lý giải ở cái tuổi hai mươi ấy. Chỉ biết rằng, Trạc là người đầu đời của chị. Rồi giọng chị dường như có một chút phấn chấn hơn: Đời chị có Trạc để yêu và có Thuấn để trọng, như thế là đủ phải không em? Và bây giờ chị trở về cõi vô thường, tôi đùa như vậy, rồi hỏi chị xuống tóc từ khi nào? Hai chục năm nay rồi, chị tu tại gia, nhưng thường xuyên về chùa và theo các thày đi làm lễ.
 Trưa. Chị nấu cơm chay khá ngon. Trong bữa ăn, hai chị em cứ rù rì trò chuyện. Chị bảo, nghiệp chướng của chị còn nặng lắm, nhưng không biết đó có phải của riêng chị hoặc của Trạc, của Thuấn hay của chung tất cả những người lính đã lao vào chém giết trong cuộc chiến vừa qua …
 Học xong, chị về làm việc cho xưởng in bộ văn hóa. Thuấn về làm việc ở một nhà máy thuộc bộ công nghiệp thực phẩm. Mấy năm sau, bầu lên vật xuống, vợ chồng chị cùng thằng con nhỏ cũng nhận được căn phòng tập thể hơn chục thước vuông. Cuộc sống thời bao cấp quá khó khăn, chẳng riêng chị mà cái nghèo, cái nhục nó đến với tất cả mọi người.
 Không thể chịu được sự cùng quẫn ấy, năm 1987 để con lại cho chồng, người nữ lính chiến năm xưa lại khoác ba lô cùng với các văn nhân, nghệ sĩ, trí thức lên đường làm thuê, cuốc mướn nơi xứ người. Bức tường Berlin sụp đổ, từ trong nước dòng giống con Lạc cháu Hồng lại tìm đường ra đi. Thằng con chị vừa bước sang tuổi mười bảy, bỏ học đòi sang với mẹ. Sang được thời gian, chị bất lực không thể quản lý, bảo ban nó. Và vào đúng mùa hè 1995 nó bị những người cùng chung một dòng máu bắn chết, trong một ngôi nhà ở gần Berlin. Nghe nói, nó theo bọn bảo kê đi thu tiền chỗ bán thuốc lá lậu, bị băng đảng khác phục thù bắn chết. Chẳng biết đúng sai thế nào, nhưng hôm đi viếng, thấy trên cổ nó phải khâu rất nhiều mũi. Nhìn nó nằm đó, tôi cảm thấy lòng mình vô cùng trống rỗng. Chị không còn khóc được nữa, người cứng đơ, hai bà hàng xóm phải kè kè hai bên…
 Tôi hỏi chị về Thuấn. Chị bảo, biết tin con chết, Thuấn cũng bị chao đảo mất mấy năm. Muốn giải phóng cho Thuấn, nên năm 1998 chị về nước làm đơn ly dị. Lúc đầu Thuấn không chịu, nhưng mọi người nói mãi, hắn miễn cưởng đồng ý. Mấy năm sau bị áp lực của gia đình, Thuấn mới lấy vợ. Nhưng đẻ được hai đứa con, đứa nào cũng bị dị tật cả. Chị nghĩ, nhiều lúc thật có lỗi với Thuấn, không giữ được đứa con cho hắn. Bây giờ Thuấn đang là tổng giám đốc một công ty lớn lắm, giàu sang phú quí rồi. Tiền bệnh viện thuốc thang cho con gái chị, mấy năm nay đều do Thuấn trả, thông qua chồng cháu đấy. Có lần, chị bảo, đừng làm như vậy nữa, Thuấn khổ vì mẹ con chị nhiều rồi. Nhưng hắn nói, hắn làm vậy không hẳn chỉ vì chị, mà vì cả Chu Bá Trạc. Nếu không có Trạc dạy dỗ thì hắn không thể đỗ đại học và không được như bây giờ...
 Chiều muộn, câu chuyện của chị đã đi vào đoạn kết. Tôi đứng dậy từ biệt chị cho kịp giờ đón mấy cô con gái nơi thi đấu bóng bàn.
 Tiễn tôi ra xe, chị nhắc lại câu, hãy tin vào luật nhân quả. Thế hệ chị đã gây ra và lao vào cuộc chiến, nghiệp chướng còn nặng lắm, kiếp này không thể trả hết đâu em ạ...
Leipzig 29-1-2015
Đổ Trường
304Đen – Llttm

Ghi chú: người viết bài khá hay, có những đoạn mà nội dung của nó, có thể có nhiều người không đồng ý, 304Đen xin để tùy người đọc nhận xét và phán đoán.
 

Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện - Nguyễn Văn Tuấn


Vừa đi đường vừa kể chuyện..


Xin khấu đầu trước anh linh của Trần tiên sinh cho tôi mượn tựa đề nổi tiếng "vừa đi đường, vừa kể chuyện" của ngài để chia sẻ vài chuyện vui vui trên những nẻo đường quê hương. Tôi mới có một chuyến đi công tác rất thú vị và khó quên. Trong chuyến đi đó, tôi có dịp trải nghiệm nhiều việc mà nghĩ đi nghĩ lại hơi tức cười … (Xin nói trước là tôi đi đến đâu viết đến đó, chứ chẳng có thứ tự gì cả).

 

Chào mừng đến Hà Nội!

Cứ xem hình này như là cách vừa đi đường vừa ... chụp hình. Hình này tôi chụp trong toilet ở nhà ga Nội Bài (nội địa) trong chuyến bay từ Sài Gòn ra đây. Các bạn chú ý cái máy làm khô tay ngả màu vàng. Nhìn kĩ hơn sẽ thấy rất dơ bẩn từ dưới lên trên thành máy. Tường thì loang lỗ, toàn cảnh trông rất nhếch nhác, chẳng ra thể thống của một phi trường thế kỉ 21 chút nào. Khi thấy tôi chụp hình cái máy khô tay, một anh chàng Tây mỉm cười nhìn tôi rồi nhún vai nói: Welcome to Hanoi (chào mừng đến Hà Nội). Tôi định thêm câu "The capital of Vietnam", nhưng nghĩ lại thì thấy không nên nói thế.

 

Máy làm khô tay ở Phi trường Nội Bài (Hà Nội)

Hôm nay, tôi có cơ duyên đi chung với vài VIP trong chuyến bay. Ngồi kế bên tôi là ông L, bên kia là một ông xách cập táp có cái tag "VIP" màu cam, mà tôi đoán là ông tổng thanh tra Chính phủ. Ngồi hàng ghế giữa là bà cựu phó chủ tịch Nước, và kế bên bà là một ông mặt mũi bặm trợn như đang suy nghĩ gì ghê gớm lắm, và nhìn qua báo ông đọc và nghe cách nói, tôi đoán ông là cấp tướng. Ui chao, ngồi cạnh sếp lớn cũng khổ tâm lắm, vì mấy người đến chào sếp hoài, họ khúm núm, họ thì thầm, rồi cười lớn, làm tôi rất khổ sở mà đành phải chịu thôi. Có điều sếp rất thân mật và nói chuyện rất Nam bộ, nên chuyến đi cũng hay hay.

Đến nơi, người ta chận khách lại để sếp ra trước. Rồi có ngay phụ tá dẫn sếp đi đường riêng thẳng ra xe Camry màu đen bóng, bỏ lại tôi và hành khách khác bơ vơ lo xếp hàng chờ hành lí.

Ánh sáng văn minh?

Sáng nay thức dậy sớm để lang thang khu chung quanh khách sạn ở Vịnh Hạ Long, tìm báo đọc tin tức. Gặp một chị đội nón lá, hai tay ôm chồng báo, nhìn có vẻ khắc khổ, tôi hỏi có báo Tuổi Trẻ không?. Chị ấy đưa ánh mắt nhìn xa xôi về hướng biển, rồi nói như độc thoại: "Ôi giời ơi, ánh sáng văn minh chưa về đến đây, bác ơi"

Vịnh Hạ Long đang hứng chịu một cơn bão.

Suốt từ hôm qua đến nay, trời cứ âm u, xám xịt, còn mưa thì liên tục nhưng không nặng hạt. Đường phố ướt nhẹp, chẳng đi đâu xa được. Chỉ quanh quẩn trong khu khách sạn.

Khách sạn mang tiếng là 5 sao, nhưng tôi đoán là 5 sao của VN thôi, chứ khó có thể so sánh với 5 sao cỡ Sheraton, Intercon, Caravelle, hay Nikko được. Từ đại sảnh, nhà hàng, đến những chi tiết nhỏ như rèm sáo, thậm chí cách bày trí bàn ghế đều chưa đạt chuẩn. Có vài chỗ trông nhếch nhác. Rèm sáo gì mà giống như ở nhà, cái thì nhếch lên, cái thì xệ xuống (xem hình) trông chả ra làm sao cả. Thuở đời nay người ta lấy mấy bao cát chèn cửa chính khách sạn (vì gió biển mạnh quá). Còn nhìn từ ngoài thì thấy mấy thùng nước được để cạnh cửa kiếng, giống như cái nhà kho!

 


Khách sạn 5 sao ở Vịnh Hạ Long

Có rất nhiều khách Tàu ở đây. Sáng ra, chỉ cần đến nhà hàng và đứng từ xa quan sát sẽ thấy một quang cảnh hỗn độn, nhếch nhác, giống như tranh giành nhau miếng ăn. Chẳng có một cái gì có vẻ thứ tự, và tuyệt đối thiếu cái thanh lịch của khách hàng của khách sạn 5 sao. Dạo qua một vòng, tôi đành ra ngoài ăn sáng cho thoải mái.

Du lịch VN, đặc biệt là miền Bắc, còn phải làm nhiều hơn nữa thì mới thu hút khách high quality. Nếu không làm tốt thì VN chỉ là thị trường du lịch cho khách Tàu ô mà thôi.

Chữ kí của bộ trưởng GTVT

Đoạn đường Vịnh Hạ Long – Hà Nội chỉ khoảng 150 km (hay 180 km?) nhưng đường xá chưa được tốt mấy nên có trạm dừng chân cho khách. Hình dưới đây là "Trạm Dừng Nghỉ Quốc Tế Loại I", nằm đâu giữa Quảng Ninh và Bắc Ninh. Điều làm tôi chú ý và thấy vui vui là phía dưới cái biển đó có câu "Bộ trưởng Bộ GTVT đã ký". Tôi ngạc nhiên về cái uy danh của trạm dừng chân này. Đã quốc tế rồi, mà còn loại I nữa thì oách thật. Đã loại I mà còn thêm chữ kí của bộ trưởng, thì còn gì hơn.

 
 


Tôi tưởng tượng cái "job" của bộ trưởng – bất cứ bộ trưởng nào – chắc phải bận rộn lắm. Họ phải dành thì giờ lo nghĩ chuyện chiến lược phát triển lâu dài. Họ phải tiếp khách trong và ngoài nước. Họ phải lo cái ghế của mình. Họ phải hội ý với thành viên Chính phủ. Họ phải lo điều hành công việc ở Bộ. Vân vân. Ấy thế mà ở đây, tại Việt Nam này, Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải lại đi quan tâm đến việc kí tên vào một trạm dừng chân cho khách. Nghĩ đến đó làm tôi cảm động về sự quan tâm của ngài bộ trưởng.

Trạm nghỉ chân coi vậy chứ tương đối nhỏ. Nếu các bạn đã từng ghé qua trạm nghỉ chân của các hãng xe Mai Linh hay Phương Trang ở miền Tây, thì "trạm dừng chân quốc tế loại I" này chỉ bằng 1/5 mà thôi. Nhưng lớn nhỏ không quan trọng, mà quan trọng hơn là chất lượng phục vụ.

Tôi phải nói thẳng là giá cả ở đây rất phải chăng, nhân viên rất nhiệt tình, nhưng chất lượng phục vụ chưa được ổn mấy, mà nó có cái gì đó còn rơi rớt lại từ thời bao cấp. Tôi đến hàng phở kêu một tô phở, thì giật bắn người khi anh chàng phở hỏi tôi "Phiếu ăn đâu" ? Ui trời ơi, thời này mà còn phiếu tem gì nữa, tôi tự hỏi. Nhưng tôi cũng bình tĩnh hỏi anh ấy phiếu ăn là cái gì, thì anh giải thích là phải đến đằng kia, gặp cô ấy, mua cái phiếu ăn, rồi anh ấy mới "xuất phần ăn". Kinh thật, chỉ một tô phở mà cũng khá nhiêu khê. Nhưng "luật giang hồ" ở đây là thế, nên mình cũng phải tuân theo thôi.

Ăn xong, đi một vòng chẳng thấy có gì hay ho hay đáng chú ý. Có hàng bán bánh mì loại "hot dog" nhưng không có mù tạt. Có rất nhiều hàng hoá Tàu ở đây. Tôi cầm trái mận lên thấy đẹp đẹp, hỏi cô bán hàng "Đồ Trung Quốc hả cháu", thì cô ta nói "Vâng ạ". Tôi đành phải trả nó về cho gian hàng.

Ở VN muốn biết chất lượng nhà hàng ra sao thì cần phải xem cái cầu tiêu, chứ bề ngoài thì chỉ là hoa lá cành thôi. Do đó, tôi cũng mon men ra cái cầu tiêu của trạm dừng chân, thì … hỡi ơi.

Từ xa đã bốc mùi hôi thối, nước nôi tùm lum trên sàn, và dây nước chạy loạn xạ cả. Nhưng ấn tượng nhất là cái cầu tiêu có lẽ thuộc thời thế kỉ 19 (xem hình 2).

Tôi ngạc nhiên là một "trạm dừng chân quốc tế loại I" với chữ kí ghi nhận của Bộ trưởng Bộ GTVT mà lại có cái cầu tiêu loại này! Bôi bác quá.

 


Cầu tiêu ở "Trạm dừng chân quốc tế loại I"

Để công bằng, tôi không bao giờ so sánh phục vụ và chất lượng phục vụ ở đây với mấy nước tư bản, mà chỉ so sánh với trạm dừng chân ở miền Tây thôi.

Theo tôi thấy, từ tổ chức phục vụ, quang cảnh, đến chất lượng phục vụ ở "trạm dừng chân quốc tế loại I" này thua cả trăm năm ánh sáng so với hai trạm dừng chân trên đường Sài Gòn - miền Tây.

Phải có đi xa như thế này mới thấy những hào nhoáng ở thành phố chỉ là bề mặt, chứ bề trong thì vẫn còn nhiều điều phải cải tiến lắm, và sợ nhất là cái "air" (phong cách), cái di sản của thời bao cấp nó vẫn còn tồn tại đó đây ở miền Bắc.

Nghĩ đến đó chợt thấy lạnh cả người và thấy thương đồng hương mình ở đây, nhưng cũng thấy mình may mắn vì còn có miền Nam ["đi sau về trước"] để gọi là quê nhà.

Ý kiến anh tài xế taxi

Tôi thích trò chuyện và nghe ý kiến của giới tài xế taxi. Những ý kiến, những trăn trở của họ có thể ví như là một nhiệt kế thời sự. Hôm qua, đón chiếc taxi hiệu TN ở trung tâm Hà Nội về khách sạn, và có dịp nghe những ý kiến của anh tài xế trẻ làm mình có nhiều … tâm tư.

Bước lên xe, nghe giọng Nam kì của tôi, anh ta hỏi một cách dè dặt: bác từ trong Nam ra? Tôi gật đầu, và vui vẻ thêm rằng đáng lí ra người trong ấy nói giọng Bắc, nhưng chắc do đột biến nên giọng nói cứ phai dần từ Hà Lội, chuyển hoá sang trọ trẹ ở Quảng Bình, Huế, nẫu ở Đà Nẵng, Bình Định, Nha Trang, và dịu dần cho tuốt đến Cà Mau thì mất luôn âm hưởng Bắc kì. Anh ta cười lớn, thấy tôi có vẻ vui tính, nên nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, làm cho chuyến đi xa trở nên ngắn lại.

Anh ta hỏi tôi nghĩ gì về Hà Nội?. Được hỏi bất ngờ làm tôi suy nghĩ một phút. Tôi nói cảm nhận cá nhân của tôi là (1) Hà Nội hơi chật hẹp, không gian có vẻ ngột ngạt; (2) bất tiện ban đêm vì sau 10 giờ tối thì hàng quán ăn uống đóng cửa; (3) khó tìm chỗ nghe nhạc sống, thậm chí khó tìm giải trí bình dân "hát cho nhau nghe" theo kiểu Sài thành; (4) người dân có vẻ thiếu tính thân thiện, nhìn khách một cách dò xét, và khi họ đội nón cối xanh nữa thì trông rất lạ, nhưng trong thực tế họ lại thân thiện; (5) mấy cô Hà thành hình như có xu hướng mang giầy cao gót với độ cao cao hơn và dốc hơn mấy cô Sài thành, và như thế là nguy hiểm vì khi té là dễ bị gãy xương ...

Tôi nói chưa hết những cảm nhận của tôi thì anh ta chen vào nói một mạch như vừa giải thích, vừa giải toả những bức bối nội tâm. Anh nói không chỉ Hà Nội mà những nơi khác ngoài Bắc cũng rất chật hẹp và ngột ngạt, và đó chính là lí do nhiều người ngoài Bắc bỏ quê vào Nam lập nghiệp, rồi khi định cư trong Nam thì họ không về Bắc mà gọi Nam là quê hương luôn.

Anh ta chỉ ra một sự thật: "Bác có thấy dân Nam ra ngoài này và gọi nơi này quê hương không?"

Bằng một giọng nói Bắc kì trầm bổng, bỏ dấu đâu ra đó, và cách lập luận chặt chẽ, tôi chợt nghĩ đến hay là anh chàng này là sinh viên tốt nghiệp đại học mà không có việc làm nên làm nghề lái taxi.

Nghĩ thế tôi nhìn anh tài xế cho kĩ hơn. Thấy anh ta còn trẻ, chưa đầy 30, người có vẻ ốm yếu nhưng làn da nâu có lẽ do ngồi taxi tối ngày, mắt sáng, ăn mặc đàng hoàng.

Tôi đón xe một cách ngẫu nhiên, chứ không qua ai đó gọi đến, nên tôi nghĩ khả năng cao anh ta không phải là "DLV". Tôi cảm thấy yên tâm rằng đây là dân thật, chứ không đóng kịch.

Rồi anh ta nói tiếp điểm thứ hai. Anh nói rằng thật ra, Hà Nội cũng có những điểm ăn tối đấy, và họ cũng mở đến 3 giờ sáng, nhưng phải là dân địa phương mới biết. Anh ta thêm rằng nhưng những quán như thế thường không có "đèn sáng" như khu Nguyễn Trãi ở Sài Gòn. Còn nghe nhạc thì anh ấy nói cũng có chỗ luôn, nhưng phải nhờ người sành điệu mới biết.

Anh ta cho biết dân Hà thành không có dịch vụ kiểu "hát cho nhau nghe" như trong Sài Gòn. Rồi anh ta khuyên tôi không nên đến mấy chỗ nghe nhạc ban đêm, vì … chẳng có gì hay.

Đến điểm thứ 4, anh ta phản đối tôi. Anh nói rằng người dân ngoài này có thói sống 2 mặt. Ngoài mặt họ thân thiện với bác, đằng sau họ không ưa bác đâu. Này, cháu là dân Hà Tây, Bắc kì 100% nhé, mà cháu cũng cảm thấy không thích cái thói đó.

Bác lịch sự quá, cháu làm nghề này và nghe dân Nam ra đây chửi chúng cháu là quân ăn cướp, chặt chém các bác ấy, nhưng cháu cũng phải công nhận các bác ấy nói có phần đúng đấy.

Tôi phải vận dụng kĩ năng ngoại giao và nói với anh ấy rằng ở Hà Nội, cũng như ở Sài Gòn, có người thế này thế kia, tôi thì không nghĩ đồng hương ngoài này là "quân ăn cướp", vì nếu nói ăn cướp thì trong Sài Gòn mới đúng là ăn cướp và còn nguy hiểm nữa.

Anh ta không chịu và phản biện: không, ăn cướp trong ấy là manh động và qui mô nhỏ, còn ăn cướp ngoài này là qui mô lớn và êm ái, bác à. Lần đầu tiên tôi nghe khái niệm "ăn cướp êm ái"!

Như để minh hoạ, anh ta đưa tay chỉ về hướng thành phố do một đại gia tỉ phú USD xây, anh ta nói: "Đấy, đó là ăn cướp đấy bác!". À, thì ra, anh chàng này nói ăn cướp theo cái nghĩa rộng hơn. Anh ta nói ngày xưa đất ở đây chỉ là đồng ruộng thôi, rồi cái tay đại gia này vào, dùng uy thế hay quyền thế để xua đuổi người dân, rồi xây dựng lên một thành phố trong thành phố và giàu thêm, còn người dân và mồ mả bao đời ở đây thì bị dạt ra ngoài thành phố.

Anh ta nói một mạch, rồi hỏi tôi: "Bác có biết vụ cướp đất ở Hưng Yên không?" Tôi chạy một cái scan trong não và chưa nghĩ ra vụ nào, nên lắc đầu. Anh ta nói rằng ở Hưng Yên có một đại gia là anh của đại gia anh ta vừa nói đến đó mua đất giá rẻ mạt, sau đó một đại gia khác đến mua đất giá đắt hơn chút, và thế là người dân biết mình bị lừa, nhưng biết thì đất đã mất rồi và họ trở thành "dân oan".

Anh ta nói say sưa, như anh ta chính là nạn nhân hay là một dân oan vậy.

Tôi thấy anh ta có vẻ biết nhiều chuyện, nên hỏi anh ta nghĩ gì về chuyện Biển Đông. Anh ta có những phát biểu chứng tỏ rõ ràng anh ta đọc báo lề dân hơi nhiều. Anh ta nói rằng VN chúng ta sẽ có nguy cơ cao bị Bắc thuộc lần nữa. Rồi anh ta tỏ vẻ tiếc nuối thời xa xưa. Anh nói tư tưởng của cụ Hồ là đúng đấy, nhưng các bác sau này chẳng ai làm theo cụ Hồ nên đất nước ra nông nỗi này. Đột nhiên, anh ta nói như so sánh rằng cái chính quyền VNCH ấy nó phản dân hại nước chạy theo Mĩ nên cũng chả ra gì.

Tôi tò mò hỏi anh ấy là anh đi đến nhận định cái chính quyền phản dân hại nước và tay sai đó từ đâu, thì anh ta cười nói: dạ, cháu chỉ đọc sách báo thôi ạ. À, câu này giải thích tại sao em ấy là fan của tư tưởng cụ Hồ.

Cuộc trò chuyện càng lúc càng hào hứng, nhưng rồi cũng đến lúc chia tay. Xe trờ đến khách sạn, cuộc trò chuyện phải tạm chấm dứt. Tôi đưa tiền cho anh ấy và dặn làm chẵn, coi như một cách tặng thêm cho anh ta hai chục ngàn để nuôi vợ con (hay bồ bịch).

Anh ta thối tiền đàng hoàng, và thấy tôi kín đáo đếm tiền, anh ta nói đùa: bác cẩn thận coi chừng bọn Hà Nội ăn cướp tiền đó nhé. Tôi cười lớn, vỗ vai anh ta, rồi nói lời tạm biệt, chúc anh ta nhiều may mắn trong một cái nghề khác thích hợp hơn với trí thông minh và tính hóm hỉnh của anh.

"Mình về thành phố đây rồi …."

Tôi cảm thấy mình là người may mắn, vì có cơ hội đi đây đó để đối chiếu so sánh. Trước là mua vui cùng các bạn, sau là ghi chép những kỉ niệm, có thể xem như là những chuyến đi trong đời. Kì này, xin chia sẻ vài cảm nhận về phong cách phục vụ và làm việc giữa miền Nam và Bắc.

Đầu tuần, tôi đáp chuyến bay từ Sài Gòn (SGN) ra Hà Nội (HN) và có vài kỉ niệm đã kể lại cho các bạn nghe. Nhưng có một trải nghiệm tôi chưa nói: đó là … bán hành khách. Phía đối tác của tôi là một cơ quan cấp Bộ. Vì là cấp cao, nên họ không có người ra đón tôi ở sân bay (và tôi cũng không cần vì mình có thể tự đi taxi về khách sạn). Họ cử một người tài xế của một hãng taxi ra đón tôi, và theo email thì người tài xế sẽ cầm tấm biển có tên tôi ở phi trường. Tôi hăm hở gặp anh chàng tài xế, nhưng hỡi ơi, khi ra khỏi khu vực hành lí tôi chẳng tìm thấy anh ta ở đâu cả. Đi tới đi lui cũng độ 10 phút mà chẳng thấy anh ta. Định gọi điện thoại cho đối tác trong HN thì lại không có số điện thoại. Trong khi tôi định gọi taxi riêng về HN cho chắc ăn, thì thấy một anh tài xế xuất hiện dáng dấp hơi "nghi nghi" vì thấy anh ta đang cầm tấm biển tên mà tôi không rõ tên ai vì anh ta chẳng buồn tình giơ lên. Tôi dạo ngang qua và liếc tấm biển thì thấy tên mình, nên quay lại vỗ vai anh ta và tự giới thiệu tôi là người anh đang tìm.

Tay bắt mặt mừng. Nhưng vấn đề lại xảy ra. Xe chưa tới. Đứng chờ trong cái nắng hừng hực ngoài phi trường cả chục phút mà xe vẫn chưa tới, nên tôi đề nghị anh ấy là mình vào trong cho đỡ một chút trong khi chờ xe tới. Anh ấy cứ nói "Xe sắp đến, bác à". Hoá ra, cái câu "sắp đến" có nghĩa là thêm … 10 phút. Lên xe, anh tài xế kia lái vòng vòng một hồi, làm tôi nghi ngờ nên hỏi: mình đi đâu vậy em, hình như đây không phải là đường đi Hà Nội. Anh chàng tài xế nhìn tôi thân thiện, rồi giải thích rằng hôm nay không phải là ngày trực của anh ta, nhưng vì một đồng nghiệp khác vắng mặt nên anh ta phải phụ trách. Nói xong thì xe cũng đến một bãi đậu xe gồm nhiều taxi khác. Anh ta nói với tôi là chuyển hành lí sang xe kia để về Hà Nội. Đến lúc đó thì tôi mới nghiệm ra là mình đã được bán cho một hãng xe khác.

Đúng là "Welcome to Hanoi"! Lần đầu tiên trong đời tôi mới có trải nghiệm được "bán". Kể ra cũng hay ra phết! Cuộc mua bán xảy ra rất nhanh, và món hàng được bán không có tiếng nói ở đây.

Trên đường từ Vịnh Hạ Long về Hà Nội tôi lại trải nghiệm thế nào là chuyến xe địa ngục. Chiếc xe bus 16 chỗ của hãng Hyundai (bên Úc, giới sửa xe Việt Nam gọi xe Hyundai là "Ăn Hại", nên ít ai mua). Trên xe đầy ấp người và hành lí. NGoài ra, còn có một đống đồ chuyên dụng trong hội nghị. Chỉ cần bước lên xe là choáng ngộp vì cái không gian quá hẹp và ngột ngạt. Nhưng tôi tự trấn an mình là chuyến đi chỉ có 3-4 giờ đồng hồ thôi, nên chịu khó một chút thì cũng chẳng sao. Nhưng xe chạy một lúc, tôi thấy hình như tài xế không mở máy lạnh, nên mồ hôi ra như tắm. Tôi hỏi anh tài xế có mở máy lạnh chưa, thì anh ta nói mở rồi à. Nhìn sang thì thấy đúng là có dấu hiệu mở máy lạnh. Lúc đó bà con trên xe ai cũng cảm thấy nóng bức, nên phàn nàn liên tục. Anh tài xế cứ trơ ra, chẳng thèm trả lời hành khách.

Tôi dù sao cũng thường lái xe ở nước ngoài, nên nhìn qua là biết rằng máy lạnh đã hết ga, hay đã hư hỏng, nên có phàn nàn cũng như không. Thôi thì mình chịu chấp nhận một chuyến đi trong tình trạng địa ngục vài tiếng đồng hồ xem sao. Vả lại, ở đây là đất Bắc, là Quảng Ninh, nơi nổi tiếng là hung dữ, mình nên giữ thân trước cái đã, chứ phàn nàn thì anh ta nổi nóng tông vào vách đá kia thì chắc mình sẽ bỏ mạng ở đây. Nghĩ thế nên tôi âm thầm chịu đựng, và thầm nghĩ chắc là chuyến đi lần đầu mà cũng là lần cuối.

Chợt lan man nhớ đến câu hát "Tình đầu hay tình cuối / khi một ngày một người đã ra đi / tình đầu hay tình sau / khi cơn đau không biết đến bao lâu".

Cơn đau đến bao lâu thì chưa biết, nhưng là câu hỏi hay. Kể ra, phía đối tác đối xử với chúng tôi có phần "đặc biệt". Đặc biệt ngay từ phi trường về đến Quảng Ninh, và từ Quảng Ninh đi Hà Nội.

Hôm qua, đáp chuyến bay từ Hà Nội về SGN cũng trải qua một vài kinh nghiệm hay hay. Ngay từ lúc xếp hàng lên máy bay (boarding) tôi đã thấy rất nhiều người Tàu và quan chức. May phước là tôi có thẻ ưu tiên của SkyTeam (mà Vietnam Airlines là thành viên của SkyTeam nên tôi được ké … ưu tiên). Nhưng tôi lầm to. Khi ra xếp hàng tôi mới phát hiện khách rất đông, hai hàng dài thượt. Hàng dành cho khách ưu tiên Skyteam cũng dài y chang như hàng kia. Thôi thì mình cũng phải xếp hàng như mọi người. Hoá ra, VNA chẳng có ưu tiên cho ai cả. Quả đúng như vậy, khi tôi đến gần chỗ cô xét vé, thì thấy cô ấy cũng có chận khách không có thẻ Skyteam nhưng không có hiệu quả vì khách không chịu chuyển sang hàng kia, nên cô ta cũng … đầu hàng. Nghĩ ra cũng tức cười về phong cách tổ chức của VNA.

Khi lên máy bay thì hỡi ơi, sự cố lại xảy ra. Cái ghế bị hư hỏng, không chịu đứng thẳng, nên nó làm phiền người khách phía sau. Tôi rất ái ngại cho khách, mà không làm cách gì giúp cho người khách đau khổ kia. Tôi gọi em tiếp viên lại thì em ấy cũng bó tay. Tôi lại tự an ủi là chỉ có vài mươi phút nên thôi thì ráng chịu đựng. Ngoài ra, tất cả khoang khách đó, hình như mấy nút entertainment đều hư nên ai cũng phàn nàn, và mấy nàng VNA cũng … bó tay. Dĩ nhiên, mình cũng chẳng kì vọng gì được từ họ, nên đành phải chấp nhận thực tế.

Nhưng cũng có điều an ủi. Chiều qua khi đáp xuống Sài Gòn thì thấy như mình vừa … thoát nạn. Mới đáp xuống thì có đồng nghiệp từ đại học ra đón (và dĩ nhiên đó là tấm lòng của đối tác trong này, chứ tôi thừa khả năng "giang hồ" đi xe taxi riêng). Lên xe, em ấy đưa tôi một tờ giấy, trong đó nói rõ chương trình làm việc hàng giờ và từng ngày. Tôi sẽ làm gì, ở đâu, gặp ai, số điện thoại là gì, mấy giờ tôi ra sân bay, v.v. tất cả đều đầy đủ và đâu ra đó. Tôi thiết nghĩ đó là một phong cách làm việc chuyên nghiệp mà các nơi có cơ hội làm việc với đối tác nước ngoài nên học. Nhưng nói gì thì nói, tôi thấy vẫn còn một khoảng cách về phục vụ và phong cách làm việc chuyên nghiệp giữa hai miền Nam và Bắc, và chắc phải vài chục năm nữa thì khoảng cách đó mới ngắn lại được.

Tối qua, về đến đây thì rủ lại những anh "bạn già" đi lai rai, kể chuyện những ngày đã qua, và nghe các ca sĩ "hát cho nhau nghe" làm vơi hết những ưu phiền trong những ngày vừa qua. Trên đường lấy taxi từ quán về khách sạn, gặp anh chàng tài xế taxi gốc Đồng Tháp mê nhạc sến, anh ta mở bài "Mình về thành phố đây rồi / chốn ăn, chốn vui lạ mặt người. Cho bỏ gian lao ngần này phép rong chơi, rủ phong sương đầy áo mà lòng nghe ước muốn lên cao." Tôi nhìn anh tài xế một lần nữa để xem anh này đang đọc được mình, hay chỉ là ngẫu nhiên. Dù là ngẫu nhiên thì bài ca cũng lột tả được tâm trạng của mình, rồi tôi chợt nghiệm ra tại sao nhạc sến có sức thu hút cao như thế, và cảm thấy đây chính là "home country" của mình.

Nguyễn Văn Tuấn

304Đen - Llttm