Thursday, November 2, 2017

Đồng Bọn Sáu Đứa - vkp Công chúa nhỏ


ĐỒNG BỌN SÁU ĐỨA

           

 

Đồng bọn nữ: Đứng: 1-Hằng 2- Hòa 3- Huệ.  Ngồi:2- Phi 4- Phụng

Khách mời: Đứng: 4- Ngu Uyên       Ngồi: 1- Ngân Triều 3- Dung

                                                            ***

Ngoài nhóm “Đồng Bọn Tứ Quý PH3” thời trung học gồm có tui và ba đứa bạn tên bắt đầu bằng chữ H, tui còn có thêm một nhóm “Đồng Bọn Tam Võ DP2” gồm Ông Lính Già xa quê hương và nhà văn thơ nữ luôn thả hồn bay bổng trên đỉnh Hải Vân Võ Hồng Phi.  Nói chung là có tất cả sáu đồng bọn kể cả tui.

Trong “đồng bọn sáu đứa”, Hòa bự con nhất nhóm PH3 nhưng hiền khô so với Phụng tui thân hình nhỏ xíu nhưng dữ như bà chằng... Hòa có trang blog “Hoài Niệm Tây Ninh” để bạn bè viết, đọc và nhớ... Có một lần, vì đăng nhầm một bài của một con ếch trên một blog bạn, con ếch nhảy dựng lên, Hòa chỉ phân trần và xin lỗi... nhưng tui thì không nhịn được  nên đã té ra thơ, như sau:

   

ẾCH NGỒI ĐÁY GIẾNG

 

Tui có được vài bài thơ đăng báo

Được hội thơ văn tặng giải “Dư Hơi”

Tự thấy mình như rốn giữa bầu trời

Nên không cho ai đăng trên blog rác !

*

Một ngày nọ ông già gàn phê phán

“ Em đã xấp được bao nhiêu chữ rồi?

Tiếng Việt mình phong phú lắm em ơi

Công em khó để nhiều người tán tụng

*

Có chi vội đâu mà em nhảy dựng?

Mặt mày nhăn nhó trông thật khó coi

Thơ em như đống phân lúc nhúc dòi

Vi trùng lây lan, nên đem cất kỷ.”

*

Giật mình thức giấc, qua cơn mộng mị

Nhìn lại chồng thơ, nức nở nghen ngào

Lâu nay cứ tưởng mình là ngôi sao

Giờ mới biết cảnh ếch ngồi đáy giếng!!!

 

Nhắc đến chuyện Té Ra Thơ làm tui nhớ nhỏ Hằng có biệt danh là Ánh Trăng Vàng, lần đầu tiên nó giới thiệu tui với Ông Lính Già như vầy nè: “Con P té cũng ra thơ...” (Xin thương tình dừng đổi dấu chữ té nhe đồng bọn) khiến cho ông đồng bọn họ Võ của tui trố mắt nhìn nó trách:  “Mấy bà già cả hết rồi mà nói chuyện với nhau cứ Mầy Mầy Tau Tau, Con nầy Con nọ... nghe kỳ cục quá!”

 
 
 

                              Ngoài miệng thì nói năng có vẻ nặng chịt như xe Thiết giáp chạy trên đường nhựa nhưng tui biết trong thâm tâm Ông Lính Già rất là “thấu cảm” với tình bạn keo sơn gắn bó thắm thiết của đồng bọn tui. Ông còn có tính khôi hài đặc biệt khiến cho nhiều bạn bè cười rồi nhớ mãi không quên. Một lần họp lớp có chị em nhà họ Tô tham dự, khi bàn ăn được dọn ra, ông  vừa nhìn chị lớn họ Tô vừa nói “Tui chọn cái Tô Lớn à nghen!”

Chưa hết, Ông lính già còn nói về bà xả thật là dí dỏm khi ông đưa hình bà lên trang facebook:

-       Hân hạnh được biết "Phu nhân TT" Đẹp quá... khéo chọn dữ a...

-       VKP ơi, không phải là Phu nhân của TT, mà là Chánh Phủ, "xếp của TT" đó. Quý bà, bà nào cũng là CP cả, tụi tôi chỉ là phó thường dân thôi, bảo sao chúng tôi nghe vậy.

-       Ông   PTD ơi, tui cũng từng làm "Chánh Phủ" chớ bộ... Trong chế độ Dân Chủ Tự Do, sơ sẩy chút xíu là"chánh phủ" bị lật đổ cái rụp.

-       Ác cái là các ông PTD lại cấu kết cùng "Đồng Bọn"để lật đổ "chánh phủ"... Cho nên, cách tốt nhất là "Đừng nghe những gì mà PTD nói mà hãy nhìn kỹ những gì mà PTD làm".... Hì Hì...

-       Dể gì lật đổ CP được. CP nào cũng có "vây con, cánh cháu" ủng hộ hết. Lật đổ mà không thành thì chỉ có .. "ra chuồng heo mà nằm chèo queo" thôi. H.ỏ.n.g. dám đâu. Ha, ha...

 

Trở lại cái “tô lớn đẹp” như “ánh trăng vàng”, nó không những tỏa sáng về tính cách nghĩa nhân mà còn là cuốn tự điển sống để tui có thể tìm hiểu mọi việc nhất là về bạn bè thời trung học.  Ví dụ khi tui không nhớ rõ một người bạn vừa có tin vui hoặc buồn, tui hỏi nó thì sẽ hình dung ra ngay người bạn thuở  thiếu thời.  Còn nữa, Tô Lớn rất nghiêm khắc trong nghề gõ đầu trẻ nhưng cũng không thiếu thông cảm về sự đam mê chơi đùa trong tuổi thơ. Cho nên, có một lần nó đã lặng lẽ rơi nước mắt khi nhìn thấy đám học trò nhỏ đang lui cui tìm mấy con dế trong các bụi bông mà trước đó chính nó đã quăng các hộp dế ra ngoài cửa lớp.  Nó cũng sẵn sàng quên mình vì chồng con và bạn bè...

           

Đồng bọn cuối cùng trong nhóm Tứ quý PH3 là Huệ.  Con nhỏ nầy là thổ công của đất Tây Ninh, cây trái rừng nào nó cũng biết, địa danh nào nó cũng hay. Bài nó đăng trên HNTN, nhiều người đọc rất thích thú để nhớ về cái thuở xa xưa.  Tui xin trích một đoạn văn của Huệ:

 

“Nhớ thuở Nam Bắc Triều, giặc giã liên miên, nàng chinh phu thương nhớ chồng chỉ biết than thở, thủ thỉ:

“Nhớ anh em cũng muốn vô. 

Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam giang.” (Ca dao)

 

Truông nhà Hồ đó với nàng chinh phu nó trắc trở diệu vơi, đầy cam bẫy gai chông nhưng mà TN thương yêu của tôi, đất rừng rậm sơn khê có rất nhiều truông: truông Bình Linh, truông Mít; vùng Bến Cầu có đến 4 truông: Say, Chẹt, Sơn, Bến Lái... Những truông nầy đất đai màu mỡ, cây rừng xanh tốt mang đến  những đặc sản  làm ấm bụng người nghèo cần cù lao động.

Nhìn về phía Tây là núi Bà Đen sừng sũng, các suối Vàng, suối Đá, suối Năm trăm mang dòng nước mát ngọt ngào tưới tiêu cho các cánh đồng lúa.  Suối Ngô, suối Tha La, suối Bà Chiêm... làm cho các vùng Cầu Khởi, Vên Vên, Trà Võ thành vùng phát triển cây cao su bạt ngàn... Với những đặc điểm như thế, Tây Ninh là nơi nhiều trái cây rừng phát triển...”

 

Đồng bọn chót trong nhóm Tam Võ DP2 là Võ Hồng Phi, cái tên nghe như con trai, đã từng bị gọi đi Quân dịch dưới thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, được tui tôn làm sư phụ vì đã hướng dẫn cho tui nhiều chuyện bổ ích lắm nhất là trong lãnh vực thơ văn.  Nhưng có lúc tui cũng phải bổ ngữa về sự khuyên bảo của Phi: “Hãy viết văn mần thơ đi vì nếu thương ai thì cho họ sống hạnh phúc còn nếu ghét ai thì làm sát thủ, giết quách đi là xong!” như cuộc đối thoại với tui qua phone sau:

                       

CHUYỆN CƯỜI XUYÊN LỤC ĐỊA. 

-       Reng … Reng   Reng…

-       Sư phụ hả?

-       Ừ, ta tức muốn ói máu đây!

-       Sao vậy?

-       Mi còn nhớ cái tên “áo liền quần”, bạn của ông anh pilot của ta không? Ta mới vừa gặp hắn trong buổi họp “gia đình giặc lái khóa…” nè.

-       Có gì mà tức, bộ hắn đòi nối lại tình xưa hả?

-       Được vậy thì đâu có tức, đàng nầy hắn nói hắn hỏng biết ta là ai.

-       Chắc tại “sư tử hà đông” ngồi kế bên chứ gì?

-       Chứ còn gì nữa!

-       Sao sư phụ hỏng kê khai những món quà như sợi dây chuyền, máy sấy tóc… mà ngày xưa hắn đã tặng sp . Còn nữa, một lần về phép, hắn “ngồi đồng” ở nhà sp sao không nhắc cho hắn nhớ, đặng cho sư tử hà đông nghiền hắn tan xác luôn.

-       Hình phạt đó còn nhẹ lắm.  Phải cho hắn chết mà vẫn chung tình với ta.

-       Vậy thì cho chết lúc trẻ, hồi còn ở VN đi, chứ bây giờ ở Mỹ, hắn là “bạc tình lang” rồi thì làm sao mà ra tay sát thủ để được “một công hai việc”.

-       Hãy cho ta thời gian để tìm hình phạt thích đáng cho hắn trong “TÓC MAI” nghen.

-       SP quả đúng là “sát thủ hạng nặng” !

 

            Chuyện xảy ra lâu rồi mà giờ nầy tui mới thố lộ, ACE đừng bắt tội tui nói xấu sư phụ rồi phạt tiền tui thì tội nghiệp tui lắm à nhen (Mới đây có một bác sĩ bị phạt 5.000.000 đồng VN vì tội dám nói “xấu nhưng đúng” lãnh đạo, là bà Bộ trưởng Y Tế.)

 

Đồng bọn của tui ơi:

Chừng nào tui TÉ vô hòm

Nhớ đem Laptop... sớm hôm gõ về!

Hi Hi Ha Ha 😀😀

 

Saigon 25/10/2017

Vkp công chúa nhỏ

 

 

Quên Lãng - Nguyên Thạch


Quên lãng
 
View Hide Thumbnail

 
 
 
 
 
 
 
Dạo tháng hai
Em vừa tròn mười chín
Tôi chiến trường trót phận kẻ thương binh
Những lá thư xanh ấp ủ trang tình
Còn bỡ ngỡ thời sinh viên đại học.

Tháng Tư đến
Dòng đời theo cơn lốc
Bão giao mùa tang tóc dậy thương đau
Tuổi trẻ niềm tin tha thiết dạt dào
Bỗng nhập cuộc chung niềm đau đất nước.

Tôi trở lại Tây nguyên miền sơn cước
Đường mù sương đẫm ướt nửa tấm thân
Kẻ một chân lê nẻo bước phong trần
Cánh tay phải cũng trọn dâng cho Tổ Quốc.

Từ dạo ấy nỗi niềm đau chất ngất
Cao nguyên buồn lất phất giọt thu rơi
Kiếp lang thang lạnh buốt giữa đất trời
Thầm giã biệt tình ơi em nào biết.

Mai nhớ về... xin em đừng luyến tiếc
Kẻ phế tàn, đời ngả nghiệt thương đau
Hạnh phúc nào?
Hay thầm tủi bên nhau?
Tiễn quá khứ
Nhói đau lời vĩnh biệt.

Cũng từ dạo ấy, tôi làm người thua thiệt
Kẽo kịt buồn như chiếc võng đong đưa
Chiều tàn hoang, dấu binh lửa tàn chưa?
Đời hiện nét những lọc lừa căm hận.

Nay còn gì đâu để tôi dấn thân vào thế trận
Một mối hận thù
Một mối thương đau!
Quê hương lầm than, nay tôi chỉ còn lại con tim nguyên vẹn thét gào
Nhân thế đã ném tôi vào quên lãng!

Phận tật nguyền đâu được làm người di tản
Trôi lững lờ dạ hôm đói sáng lo
Đêm lạnh về
Một tay ấp ủ một chân co
Còn đâu nữa những hẹn hò cuộc sống.

Chiều tha hương lần về đôi mắt ngóng
Người yêu xưa biệt dạng bóng phương nao?
Chiều hoàng hôn ngã bóng vẫy tay chào
Cô đơn nạn gỗ
Niềm đau... thôi từ giã.

Mây cuối thu
Giọt buồn lên phiến đá
Gió thu ơi nghiêng ngã bóng Quê Hương
Nửa tấm thân, biền biệt chốn sa trường
Nửa còn lại, bụi vương mờ lối mộng.

Nguyên Thạch

304Đen – Llttm - DLB

Cuộc Độ Bộ Trong Lòng Địch - Nguyễn Đăng Hòa



CuỘC ĐỔ BỘ Trong Lòng ÐỊch

 
 


Kể từ sau cuộc đổ bộ bằng trực thăng của Tiểu đoàn 1 Quái Điểu vào ngày 11/7/72, tại quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, chưa một ai viết lại cuộc đổ bộ ấy, và tôi nghĩ nếu tôi không viết để nói lên cuộc chiến đấu ác liệt, oai hùng này thì ai có thể viết thay tôi ?

Vì như tôi đã trình bày trong tập Hồi ký CƠN LỐC DÀI, hơn 1OO ông phóng viên thế giới, không một ông nhà báo nào dám “thi thố tài năng” đi theo chúng tôi cả. Cũng như 2 nữ phóng viên chiến trường Việt Nam là Kiều Mỹ Duyên và Lam Thiên Hương một thời ngang dọc đã lắc đầu khi tôi mời 2 cô đi “du ngoạn”. Nỗi danh thì cũng muốn, nhưng nghĩ đến mạng sống như “chỉ mành treo chuông” 2 cô vừa cười vừa nói: “Thôi, tui chẳng ham đâu”.

Như có một thôi thúc, ray rứt nào đó buộc tôi phải viết để nói lên sự thật oai hùng của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến nói riêng và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nói chung, đã tạo được trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Xin cho phép tôi được làm một nhân chứng lịch sử để tô đậm thêm Quân sử hào hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Phá Tam Giang vào một sáng mù sương 11/7/72

Dù đang là mùa hè nhưng trời Huế vẫn còn sương mù, một làn khói mỏng giăng đầy, bao phủ cả một vùng Vân Trình rộng lớn. Trên cánh đồng vừa mới gặt, mùi rạ thơm thoang thoảng, nếu có thêm vài cô thôn nữ xinh xắn của mẹ Việt Nam nữa là ta đã có một hình ảnh đồng quê thanh bình của bao năm cũ. .. Gia đình Quái Điểu hơn 700 tay súng đã sẵn sàng tại bãi bốc chờ lên trực thăng đi vào đất địch. Những chàng Kinh Kha thời đại đang ưu tư về cuộc đời và đang chờ đón một tương lai không mấy rạng rỡ.

Đúng 7 giờ sáng, chiếc trực thăng UH-1B của chỉ huy đáp xuống cạnh nhà thờ 2 chuông Điền Môn, bốc tôi và cố vấn Mỹ bay thẳng ra biển Đông. Để tránh phòng không địch, trực thăng đã phải bay trên biển và ở cao độ vừa tầm cho chúng tôi quan sát thành phố Quảng Trị và quận lỳ Triệu Phong, nơi Tiểu đoàn 1 Quái Điểu sẽ phải đổ bộ để tái chiếm.

Quận Triệu Phong nằm về phía Đông Bắc cổ thành Quảng Trị khoảng 2 cây số, là quê hương của tên đồ tể Lê Duẩn, môn đệ kế vị già Hồ đã về chầu Diêm Vương. Vì vậy không dễ gì địch để chúng tôi tái chiếm lại Triệu Phong.

Những túi lửa B.52 chiều ngang 1 cây số và chiều dài 3 cây số được lóe lên từng chập, và khi các chùm bom chạm đất thì lửa bốc cháy cùng những tiếng nổ phụ rền vang một góc trời … Tại đây địch cũng sẵn sàng nghêng đón chúng tôi. Đơn vị bạn gần nhất vẫn còn ở tuyến sau Mỹ Chánh mịt mù. Chúng tôi sẽ phải nhảy trên đầu địch, đánh thọc sâu vào lòng địch, bóp ngay yết hầu chúng, buộc chúng phải nhả Cổ thành Quảng Trị mà chúng đã chiếm giữ hơn 3 tháng qua. Sư đoàn Dù đã gặp phải muôn vàn khó khăn và thiệt hại nặng nề khi tái chiếm Quảng Tri.

Có lẽ thượng cấp quên đi cửa ngõ Triệu Phong, nơi mà Việt cộng phải giữ với bất cứ giá nào, để bảo vệ huyết lộ dẫn ra Cửa Việt bằng đường bộ và đường thủy dọc theo sông Thạch Hãn. Nhờ huyết lộ này mà chúng có thể tiếp tế cũng như tải thương và thay quân rất dễ dàng.

 

Đúng 12 giờ 5 phút ngày 11/7/72, ngày mà suốt đời tôi không bao giờ quên được. Trước khi lên máy bay, Tướng Trưởng và Tướng Lân đến bắt tay và chúc chúng tôi thành công. Lời nói của Tướng Lân, Tư lệnh Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến như một luồng điện chạy dài theo xương sống tôi:

§  Danh dự này, tôi giao cho anh và Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến.

Riêng Đại tá Bảo, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 147 nhìn chúng tôi như một người cha nhìn những đứa con thân yêu đang đứng bên bờ vực thẳm. Ông rơi nước mắt nói với tôi lời giã biệt:

§  Mày cố gắng giữ gìn anh em, khuyên họ nên đọc kinh cầu nguyện theo đạo giáo của họ!

Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến với biệt danh Quái Điểu được trực thăng bốc từ nhà thờ 2 chuông Điền Môn bay ra Triệu Phong, bất thần đổ trên đầu địch, giữa những đám ruộng trước quận lỵ. Tuy bãi đáp đã được B.52 “dọn cỏ” suốt 2 tiếng đồng hồ, với 33 phi vụ đã cày nát từ Đông Hà đến Quảng Trị, mà gia đình Quái Điểu vẫn được con cháu Bác và Đảng dàn chào long trọng. Súng phòng không 23 và 37 của địch bắn lên như pháo bông.

Đại đội 4 Tiểu đoàn 1 do Đại úy Trịnh Văn Thềm chỉ huy, lãnh nhiệm vụ đổ bộ trước. Hai chiếc trực thăng khổng lồ CH.54 chạm đất một cách bất ngờ nên thoát được phòng không địch. Có 32 chiếc trực thăng đổ quân, gồm 17 chiếc CH-53 (loại Chinook Mỹ dùng để cứu con tin tại Iran) chở được 60 người và CH-46 loại Chinook chở được 20 người. Chiếc tôi đi bị lãnh 4 viên phòng không, tưởng chừng như rớt. Vừa rời khỏi trực thăng, tôi đã được chào mừng bằng một trái 57 ly không giật, vì chung quanh tôi là một rừng antenne truyền tin. Tôi bị thương ở đùi phải, máu ướt đẫm. Viên Trung úy Hải quân Mỹ bị lòi ruột ra ngoài trông thật khiếp, nhưng vẫn còn sống. Đau đớn cho Tiểu đoàn chúng tôi là 1 chiếc trực thăng bị rớt và nổ tung sau đó 2 phút lại chở nguyên Trung đội Quân y, 60 người chỉ sống sót 12 trong đó có Bác sĩ Hoàn. Ông đã lao được ra ngoài cửa cấp cứu, nhưng phải 2 ngày sau mới bò về được Bộ chỉ huy Tiểu đoàn với thân hình cháy phỏng nặng. Chúng tôi không lấy được xác những người bị chết vì chiếc máy bay này thuộc Bộ chỉ huy Tiểu đoàn và đã mang theo 47 trái mìn chống chiến xa và tất cả đã tan tành theo chiếc máy baỵ. Đáng lẽ tôi đã gởi xác theo chuyến đó rồi, nhưng tới phút chót cố vấn Mỹ lại rủ tôi đi trên chiếc CH-46 để khi xuống bãi thoát ra thật nhanh, tránh được phòng không địch.
 
 

Ngay phút đầu, sau khi hoàn tất cuộc đổ quân, chúng tôi đã bị thiệt hại hơn 200 người vừa chết vừa bị thương. Người cố vấn Mỹ còn cho tôi biết trong số 32 máy bay trực thăng, có 29 chiếc trúng đạn và 2 chiếc rớt, một nổ tại chỗ và một rớt ngoài biển. Cuộc đổ bộ này đã được báo chí xem như cuộc đổ bộ Inchon tại Đại Hàn năm xưa. Tướng Lân được triệu về dinh Độc Lập để thuyết trình về cuộc đổ quân cho Hội đồng An ninh Quốc Gia. Mọi người hồi hộp theo dõi bước chân của bầy Quái Điểu gan lì.

Cánh đồng Triệu Phong đã trở thành bãi chiến trường khốc liệt. Xe tăng Việt cộng phối hợp với bộ binh của chúng bắt đầu rời vị trí phòng thủ để rượt đánh chúng tôi, và những chiếc trực thăng vũ trang “Cobra” của phe ta đã táo bạo săn đuổi chúng như những con diều hâu hung dữ. Riêng Tiểu đoàn 1 Quái Điểu lúc bấy giờ tan tác như bầy gà lạc mẹ, mạnh ai nấy đánh, dùng chiến thuật cá nhân phối hợp từng tổ nhỏ cố bám lấy bờ sông Vĩnh Định là chi nhánh của sông Thạch Hãn để làm điểm tựa, giữ lấy mạng sống mong manh. Hai con sông này đã nuôi dưỡng quận lỵ Triệu Phong, làm cho nó trở nên trù phú và sầm uất nhất tỉnh Quảng Trị, giờ đây đang ôm ấp che chở cho những toán Quái Điểu lạc bầỵ

Nhờ vào súng M.72 chống chiến xa ta đã bắn hạ được một số tăng địch, có những chiếc bốc cháy cách xa ta chỉ 50 thước, làm cho anh em an tâm hơn và tin tưởng vào loại vũ khí cá nhân hiện đại và tối tân này, mỗi Đại đội chỉ được trang bị 12 trái thôi. Những hố bom trở thành vị trí chiến đấu lý tưởng cho binh sĩ mình. Họ đứng thẳng, tỳ súng vào miệng hố nhắm vào từng đợt sóng biển người của bọn Việt cộng khát máu mà bắn.

Đại đội 1 của Đại úy Bùi Bồn đã dùng con sông Vĩnh Định như một chỗ tựa tốt để chống trả từng đợt xung phong của địch cũng như yểm trợ cho các Đại đội 2, 3 và chỉ huy còn đang phơi mình trên bãi đáp. Kết quả sơ khởi Đại đội 1 đã tịch thu 10 cây súng 37 ly phòng không của địch đã đặt hàng ngang tại bìa làng.

Trời đã vào đêm, bóng tối đồng lõa với tội ác của địch qua những đợt “cắn lén” nhưng cũng là người bạn chân tình che chở cho chúng tôi, hạn chế tầm quan sát của địch nên chúng chỉ dùng pháo đe dọa vu vơ. Đến 10 giờ Tiểu đoàn mới nắm được tay nhau, lập thành một phòng tuyến tạm thời. Chỉ còn Đại đội 4 của Đại úy Thềm bị cô lập phải tự phòng thủ bảo vệ riêng, nhưng xét về mặt chiến thuật thì rất có lợi cho Tiểu đoàn. Một cái chốt khổng lồ làm tiền đồn cho đơn vị tại Chợ Sãi, dùng Pháo binh và Hải pháo ngăn chận sự di chuyển của địch từ Cổ thành Quảng Trị qua quận Triệu Phong, cũng như quan sát được thủy lộ dẫn ra Cửa Việt. Chiếm và giữ được Triệu Phong thì sớm muộn gì tỉnh Quảng Trị cũng sẽ trở về vùng đất Tự do.

Thường thường đánh nhau với những đơn vị chính quy tuy chém giết thả giàn “mạnh được yếu thua” nhưng thích hợp với người quân tử. Một cuộc chiến tranh quy ước, có lúc đánh lúc nghỉ, ăn uống, tiếp tế, tải thương, thay đổi lối đánh cho phù hợp trận liệt, rồi trở lại đánh tiếp. Nhưng với bọn Việt cộng, các cấp chỉ huy của chúng có được đào tạo ở một quân trường nào đâu! Đã vậy đầu óc lại bị Bác Đảng nhồi nhét hận thù đầy ắp nên chúng hăng say chém giết … từ chú du kích nhỏ bé không biết gì gặp lúc đàn anh chết nhiều quá, cũng nhảy ra thay thế chỉ huỵ Vì vậy Việt cộng chỉ biết dùng một chiến thuật rừng với lối đánh lén, cắn lén!

Triệu Phong lúc bấy giờ là vùng địch kiểm soát nên họ có nhiều lợi thế hơn ta. Chúng rình rập, tấn công không ngơi nghỉ cốt làm cho quân ta mệt, tinh thần căng thẳng, quân số tiêu hao dần mòn. Nếu không có tinh thần cao và khả năng điêu luyện sẽ bị chúng đốn ngã dễ dàng. Tiểu đoàn 1 Quái Điểu đang đi trên đoạn đường chông gai ấy. Đến 11 giờ đêm quân ta tạm ngưng chém giết, mọi người lục ba-lô lấy cơm sấy ra nhơi. Ngồi trong hố cá nhân, chẳng cần cấp chỉ huy ra lệnh hay kiểm soát đôn đốc, ai nấy cũng đề cao cảnh giác và sẵn sàng lâm chiến vì đã quá quen thuộc với những đòn đen tối hạ cấp của lũ chuột Việt cộng.

Đêm khuya yên tĩnh, bỗng có tiếng la hét vang dội từ phía Chợ Sãi, nơi Đại đội 4 của Đại úy Thềm phòng thủ riêng. Một đoàn xe tăng địch với đèn pha sáng trưng, dàn hàng ngang cùng bộ binh chạy theo bên hông xe vừa bắn vừa hô xung phong. Tôi đã chuẩn bị trước các yếu tố tác xạ tiên liệu Pháo binh và Hải pháo, 42 khẩu pháo 105 ly nhả đạn cùng lúc và liên tục cộng với hàng ngàn trái hải pháo loại 500 cân Anh khổng lồ, khi nổ chụp lúc chạm nổ, trút lên đầu địch.

Vặn tần số truyền tin nội bộ của Đại đội 4 tôi theo dõi trận đánh, nghe các Trung đội trưởng liên lạc với Đại đội trưởng lòng tôi yên tâm được phần nào và cảm phục sự gan lì của họ. Trên máy PCR. 25 vang lên giọng nói bình tĩnh của Thiếu uý Tánh khi anh liên lạc với Đại úy Thềm:

§  Thần Phong hãy yên tâm, chiếc tăng đầu còn cách chúng tôi 100 thước, tôi đã ra lệnh từng tổ 3 người sẵn sàng M.72 nghênh chiến … Hiện giờ chiếc gần nhất chỉ còn khoảng 50 thước, chờ kết quả, sẽ có một số “cua rang muối” (chiến xa địch) để tặng Thần Phong và Hương Giang (danh hiệu của tôi).

Thiếu úy Tánh nói tiếp trong sự hồi hộp của tôi:

§  Tôi bắn thử một viên M.72 chống chiến xa, kết quả tuyệt vời, chính tôi cũng không ngờ đạn vừa ra khỏi nòng là một tiếng nổ long trời, con cua trước mặt tôi đã nổ tung và bùng cháy.

Tất cả các Trung đội đều an tâm và phấn khởi, từng tổ tam tam chế đã dùng M.72 cải tiến để đưa đoàn cua của Bác vào chảo rang. Đại đội trưởng đã gọi máy về Tiểu đoàn tặng tôi có đến hàng chục con cua. Riêng Hạ sĩ Ích, Tiểu đội phó dùng M.79 phóng lựu, một mình anh đã rang 3 con cua ngon lành.

Song song với Đại đội 1 và 4, sự chiến đấu gan dạ của Đại đội 2 của Đại úy Duật và Đại đội 3 do Trung úy Vàng Huy Liễu chỉ huy đã tạo sức mạnh vô song cho gia đình Quái Điểu. Sư đoàn 312 của Việt cộng với quân số gấp 10 lần hơn đã không nuốt được Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến kiên cường.

Qua hai ngày song đấu, địch đã được tăng viện nhưng không vì thế mà áp đảo được quân ta. Cấp chỉ huy Việt cộng đã đánh giá sai lầm về Tiểu đoàn 1 Quái Điểu, và cho đấy là một miếng mồi ngon chúng chỉ cần nhe nanh là đã nuốt chửng được ngay. Việt cộng đâu ngờ gặp phải một miếng mồi lửa, tạo nên bởi sự đoàn kết sắt đá, gắn bó keo sơn cùng sự chiến đấu bền bỉ gan dạ của anh em binh sĩ ta. Và chúng cũng không lường được lòng yêu nước tràn đầy của những người lính Việt Nam Cộng Hòa trước sự tồn vong của đất nước. Tiểu đoàn 1 Quái Điểu đã tổ chức được vị trí phòng thủ kiên cố bằng máu xương và sức mạnh tinh thần của mình cộng với sự yểm trợ hùng hậu mà chưa bao giờ Quân lực Hoa Kỳ xử dụng trên chiến trường Việt Nam.

Tôi đang liên lạc trên hệ thống Không lực để nhờ họ đánh phá căn cứ Ái Tử, (nơi mà địch đang đặt Bộ chỉ huy và căn cứ hỏa lực để yểm trợ cho chiến trường Quảng Trị) bằng những trận rải thảm B.52 tạo nên những biển lửa khổng lồ đốt cháy tham vọng điên cuồng của bọn Cộng sản cướp nước bạo tàn, thì Trung sĩ Ngữ cận vệ trung tín nhất của tôi chạy vào báo:

§  Trình Thiếu tá, Trung úy Kỳ thuộc Đại đội Viễn thám vừa bắt được 2 nữ du kích Việt cộng, tịch thu 2 khẩu súng “các-bin” tại nhà mình đang đóng quân!

Thì ra căn hầm cư trú của 2 “cô bé” du kích chỉ cách hầm đóng quân của tôi và cố vấn Mỹ độ 10 thước, trong vòng 24 giờ qua các cô muốn giết chúng tôi lúc nào chẳng được. Vì thế tôi đến gặp 2 cô và được biết họ cũng như hầu hết thanh thiếu niên Quảng Trị bị kẹt lại sau khi quân ta rút về tuyến Mỹ Chánh đã bị Việt cộng đoàn ngũ hóa và trang bị thành tổ “dân quân chiến đấu”. Hai cô còn cho biết họ là nữ sinh trường trung học Nguyễn Hoàng và có người anh cả là Đại tá làm việc tại Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòạ Tôi liền cởi trói, bảo lãnh 2 cô và gia đình họ rồi hứa sẽ đưa ra vùng tự do sau cuộc đổ bộ này. Từ đó 2 cô là những người phục vụ đắc lực cho đơn vị tôi về tình hình du kích tại địa phương. Nhờ vậy mà chúng tôi đã thanh lọc và bắt giữ cũng như tịch thu rất nhiều tài liệu và vũ khí. Thế mới hay, trong cuộc chiến, yếu tố “tranh thủ nhân tâm” cũng quan trọng không kém, và còn tiết kiệm được xương máu anh em.

Sau 15 ngày chiến đấu quên ăn quên ngủ, Tiểu đoàn 2 Trâu Điên đã giao tiếp được với Tiểu đoàn chúng tôi nhưng cách nhau bằng con sông Vĩnh Đinh. Vì không dùng được trực thăng nên tôi phải nhờ đơn vị bạn này tải thương bằng những bè chuối buộc dây kéo qua sông !

Sau đó Tiểu đoàn 1 Quái Điểu được đưa về Huế, chúng tôi như những người về từ cõi chết, râu tóc rậm rạp như người rừng, mắt sâu như vực thẳm, tiều tụy như những bệnh nhân lâu ngày. Chúng tôi những người lính Thủy Quân Lục Chiến đã dành phần đời trai trẻ của mình cho những chuyến đi dài không mệt mỏi: từ tuyến đầu của con sông Thạch Hãn, được chọn làm giới tuyến ngăn địch cho đến vùng đầm lầy sông Ông Đốc, chặng đường cuối của quê hương hoặc lặn lội vùng biên giới Miên Lào với núi rừng trùng điệp… với một mục đích duy nhất là bảo vệ quê hương thân yêu khỏi lọt vào tay quân Cộng sản khát máu, bạo tàn.

Nguyễn Ðăng Hòa

Trích trong mục lục Quân Sử QLVNCH

304Đen – Llttm - OVV

 

 

Người Lính Già Sống Kiếp Tha Hương - vkp Phượng ngày xưa


NGƯỜI LÍNH GIÀ SỐNG KIẾP THA HƯƠNG

                                        
(Viết thay cho bạn hiền để tặng Người dưng cùng họ và Người dưng khác họ)



        

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Xưa anh từng xông pha ngoài trận tuyến
Súng dạn quân thù san sát bên tai
Ngẩng cao đầu coi thường chuyện rủi may
Trần gian địa ngục đọa đày thân xác...

*
Anh đâu hiểu ruột gan em quặn thắt
Khi biết anh bịnh hoạn ở xứ người
Thân anh đau một lòng em đau mười
Kiếp tha hương chỉ mình anh chuốc hận!

*
Em vẫn biết Trời an bày số phận
Nhưng vẫn mong gánh nỗi khổ thay anh
Hằng đêm nguyện cầu muôn vạn tốt lành
Đến với anh để chờ ngày gặp lại...

*
Xin ơn trên xóa mọi điều oan trái
Người với người đừng nghiệt ngã đắng cay
Để cho anh còn có được ngày mai
Dù hy vọng kéo dài trong ảo ảnh!
*Với em... Anh mãi là niềm kiêu hảnh!!!

    
Saigon 1/11/2017
Vkp phượng ngày xưa

Nhượng Tống: Anh Ngã, Mình Sa Giữa Lưới Ngờ - Viên Linh


Nhượng Tống: Anh ngã, mình sa giữa lưới ngờ!



Vũ trụ tan trong mắt lệ mờ!
Lao đao ngồi tựa gốc cây xưa,
Như trong mây khói, như trong mộng,
Anh ngã, mình sa giữa lưới ngờ!


Nhượng Tống

Xuân Biệt, Hà Nội Tân Văn, 26.3.1940.


-”1949, Nhượng Tống đã bị ám sát tại phố Chợ Hôm, Hà Nội. Quốc gia mất đi một chiến sĩ cách mạng chân chính, một văn thi sĩ lỗi lạc tài ba.”
(Hoàng Văn Ðào (1957) Từ Yên Bái đến các ngục thất Hỏa Lò, Côn Nôn, Guyan Sống Mới, Sài Gòn.

-”Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân là sáng lập viên của Việt Nam Quốc Dân Ðảng,... bị thanh toán bằng một viên đạn súng Colt ở Chợ Hôm, Hà Nội năm 1949.”
(Phan Lạc Phúc (1968) Chiêu niệm Nhượng Tống, Tiền Tuyến, Sài Gòn.)

-”Ông là một nhà văn tài hoa, lãng mạn và rất sở trường về dịch thuật... Ông dịch rất tài tình.”
(Vũ Ngọc Phan (1940) Nhà Văn Hiện Ðại, V, trang 1193)


     Lịch sử văn học Việt Nam luôn luôn chồng chéo với các biến động của lịch sử dân tộc. Nhà văn nhà thơ một thời cũng là những sĩ phu, hay đúng ra, từ suốt ngàn năm thuộc Tàu và non trăm năm thuộc Pháp, lúc nào ta cũng có những cây bút hào kiệt, những nhà thơ chính khí; mặc dầu bên dòng sông cuồn cuộn của nhân sinh, giới cầm bút cũng thiếu gì những eo xèo của thế sự, những tầm tầm của ái ố tróc phọc? Từ Ðông Kinh Nghĩa Thục tới trước Thế Chiến Thứ Hai, giữa ảnh hưởng của thuyết Tam Dân và các phong trào Bài Thực, bên cạnh các chủ nghĩa lãng mạn, tả thực, Thơ Việt vẫn rực sáng với những Chiêu Hồn Nước của Phạm Tất Ðắc, Hai Chữ Nước Nhà của Trần Tuấn Khải, Thề Non Nước của Tản Ðà hay Cảm Ðề Lịch Sử của Nhượng Tống:




Ba xứ non sông một giải liền,
Máu đào xương trắng điểm tô nên.
Cơ trời dù đổi trò tang hải,
Mặt đất chưa tàn nghiệp tổ tiên.
Có nước có dân đừng rẻ rúng;
Muốn còn muốn sống phải đua chen.
Giựt mình nhớ chuyện nghìn năm cũ;
Chiêm , Lạp xưa kia vốn chẳng hèn. 


(Khóc Nguyễn Thái Học)

Nhục mấy trùng cao, ách mấy trùng.
Thương đời không lẽ đứng mà trông.
Quyết quăng nghiên bút xoay gươm súng,
Ðâu chịu râu mày thẹn núi sông.
Người dẫu chết đi, lòng vẫn sống,
Việc dù hỏng nữa, tội là công.
Nhớ anh nhớ lúc khi lâm biệt;
Cười khóc canh khuya chén rượu nồng.

(Nhượng Tống)



Thi sĩ Nhượng Tống tên thật là Hoàng Phạm Trân (1897-1949), sinh tại làng Phú Khê, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Ðịnh, xuất thân từ một gia đình Nho giáo, tinh thông Hán học, là dịch giả nổi tiếng các tác phẩm văn học Trung Quốc: Tây Sương Ký (1942), Ly Tao (1943), Thơ Ðỗ Phủ (1944), Nam Hoa Kinh, Ðạo Ðức Kinh, Hồng Lâu Mộng, Sử Ký Tư Mã Thiên (1945)... Ông viết cho nhiều báo: Khai Hóa (1921) và các báo tranh đấu trong thời gian 1929-1930 như: Nam Thành, Hà Nội Tân Văn, Thực Nghiệp Dân Báo...

Năm 1925 cùng nhà giáo Phạm Tuấn Tài thành lập Nam Ðồng Thư Xã dịch nhiều sách của Lương Khải Siêu, Tôn Văn, (Hồn Cách Mạng, Tam Dân chủ nghĩa), hai năm sau, ngày 25 tháng 12, 1927, cùng sinh viên Sư Phạm Nguyễn Thái Học (1907-1930), Phó Ðức Chính (1907-1930), Ðoàn Trần Nghiệp (tức Ký Con) (1908-1930)... thành lập Việt Nam Quốc Dân Ðảng. Chương trình hoạt động là công khai ủng hộ thợ thuyền trong các cuộc biểu tình và tổ chức các lớp dạy Quốc ngữ, liên kết với giới tư sản, sinh viên học sinh, và cả nông dân trong vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã; chẳng bao lâu thanh thế lên như sóng triều, nên bị thực dân Pháp và tay sai chú trọng diệt trừ.

Năm 1929, Nhượng Tống vào Huế gặp cụ Phan Bội Châu, khi trở ra Hà Nội bị thực dân Pháp bắt, đày đi Côn Ðảo 6 năm. Ra tù, bị quản thúc tại quê nhà, ông làm nghề thăm bệnh, bốc thuốc và người ta lại thấy tên ông xuất hiện trên làng văn làng báo. Năm 1940, ông xuất bản tiểu thuyết Lan Hữu, Nguyễn Thái Học (Hồi Ký 1945). Từ năm 1947, Nhượng Tống trở lại chính trường tại Hà Nội, nhưng sau đó vào năm 1949 lại sống lặng lẽ với cửa hàng thuốc Bắc. Sinh thời ông được xem là một thi sĩ tài hoa, một dịch giả có tài, (trong Lục Tài Tử của nền văn hóa Trung Quốc, ông đã dịch hết 5), mà thi sĩ Lưu Trọng Lư đã viết, “Lời tựa của Lý Trác Ngô có lẽ không nên có, cả lời phê Thánh Thán có lẽ cũng thừa... Duy có lời dịch của Nhượng Tống thực là nên có... (Ðọc Mái Tây).”

Tháng 11, 1949, tin Nhượng Tống bị ám sát chết khiến dư luận rúng động.

Nhà văn Nguyễn Thạch Kiên, một đảng viên Quốc Dân Ðảng, từng là tổng bí thư QDÐ Nam Cali, viết thuật lại như sau trong cuốn “Về những kỷ niệm quê hương:

“Nhượng Tống vẫn sống bằng nghề thầy lang và có cửa hiệu thuốc Bắc tại số 128 phố Chợ Hôm, Hà Nội. Ngày định mệnh xảy ra khi khoảng 8 giờ sáng, Nhượng Tống vừa chơi tổ tôm về, đã định đi nghỉ thì có một đứa trẻ đến xin đi thăm bệnh cho người bố. Ông cùng đứa trẻ đi bộ chỉ mới cách nhà hơn 300 thước thì có một người cỡi xe đạp lại gần, bắn qua gáy chết. Cũng Nguyễn Thạch Kiên viết thì các đảng viên QDÐ sẽ bị tử hình nếu cộng tác với Pháp, hay tay sai của Pháp, mà Nhượng Tống lại đã cộng tác với Tổng trấn Bắc Hà là ông Nghiêm Xuân Thiện, và do đó đã bị khai trừ khỏi đảng trong một phiên họp tại nhà ông Ngô Thúc Ðịch, bí thư trưởng, có mặt các đảng viên trong Thị Bộ Hà Nội. Từ đó, nội bộ Quốc Dân Ðảng trở nên mâu thuẫn, phân cực. Vẫn theo Nguyễn Thạch Kiên, mộ nhà thơ Nhượng Tống ở phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, vì ông là con nuôi một nhà họ Bùi ở phủ này.” (Nguyễn Tà Cúc (1996), Nhượng Tống, Khởi Hành số 1.)

Riêng tác giả Hoàng Văn Ðào, người gia nhập Quốc Dân Ðảng từ năm 1927, sáng lập chi bộ Thanh Hóa từ đó, và là tác giả cuốn “VNQDÐ - Lịch sử Ðấu tranh Cận đại,” thì thủ phạm hạ sát nhà thơ Nhượng Tống tên là Nguyễn Văn Kính, một tay sai của kẻ thù. Kính cùng Bùi Tiến Mai, Ðội Dương, Thị Nhu, Thị Uyển, tay sai của Pháp và cộng sản, được gài vào đảng để phá hoại. Kính lấy bí mật trong đảng cho mật thám Pháp, Mai đánh cắp danh sách các cấp lãnh đạo, Ðội Dương dắt mật thám vè bao vây làng Võng La khi các đảng viên cao cấp QDÐ đang họp, Thị Nhu, Thị Uyển theo dõi bá cáo tông tích của đảng trưởng Nguyễn Thái Học. Kính đã đền tội khi Ký Con, trưởng ban đặc vụ đã cho thi hành lệnh tổng bộ, bắn y chết tại Sở Thú Hà Nội.

Hơn 60 năm đã trôi qua, vụ ám sát tác giả bài thơ “Cảm Ðề Lịch Sử” vẫn còn là nghi án. Lịch sử ta có rất nhiều vụ ám sát thủ tiêu tương tự. Lạ thay đất nước đã gọi là hòa bình mà công lý thì chưa thấy làm sáng tỏ một vụ nào. Và cũng lạ thay, trong bài “Xuân Biệt,” Nhượng Tống đã làm một câu thơ tả người bị bắn ngã, (chỉ bằng mũi tên ẩn dụ của ái tình) mà giống như tình trạng cái chết của chính ông: “Anh ngã, mình sa giữa lưới ngờ!”

Viên Linh

Tổng hợp từ:

Hoàng Văn Ðào (1957): Từ Yên Bái đến các ngục thất Hỏa Lò, Côn Nôn, Guyan;

Phạm Thanh (1959): Thi Nhân Việt Nam Hiện Ðại;

Trần Tuấn Kiệt (1967): Thi Ca Việt Nam Hiện Ðại. Từ Ðiển Văn Học Việt Nam, Bộ Mới, 2000.

Tà Cúc (1996): Ai giết Nhượng Tống?