Sunday, May 5, 2024

Có Một Ngày Xưa - Nguyễn Minh Phúc

 CÓ MỘT NGÀY XƯA





















có một ngày xưa tôi nhớ em
mưa rơi trên những ngón tay mềm
nằm nghe gió thổi qua đời rộng
mà ngỡ bên trời vang tiếng chim
có một mùa xưa tôi lắng nghe
thu trôi lặng lẽ nắng thơm hè
tưởng dáng em về qua ngõ nhỏ
lòng ước ao thầm nghiêng lá che
có một trời xưa bao mộng mơ
theo em qua từng phố đợi chờ
hồn tôi xanh quá hay đời mộng
con bướm vàng bên hiên ngẩn ngơ
rồi một chiều nao em theo chồng
tôi buồn,mưa nắng bẽ bàng trông
con bướm không còn qua ngõ nhỏ
hoa nở mùa xưa chẳng kịp hồng
và có chiều nay tôi một mình
lặng nhìn mây trắng buồn lặng thinh
gửi gió cho mây ngàn hiu hắt
nghe nắng qua thềm phai dấu xinh…

Nguyễn Minh Phúc

 từ trang OVV

 

 

Cuốc Biết Bay - Tuấn Khanh

 

CUỐC BIẾT BAY





"Hãy để văn chương cứu rỗi cuộc đời này"- Mark Twain

Người ăn xin gầy như chim nói rằng nếu tôi cho y ít tiền, y sẽ kể một câu chuyện kỳ lạ mà đời y đã từng chứng kiến. Ngoài trời như muốn mưa. Oi bức. Vài con ruồi đậu trên miệng ly cứ lì lợm bám chặt dù đã bị huơ tay đuổi. Quán nước vắng ngắt vào buổi trưa. ”Chuyện gì ? ”, tôi hỏi. ”Chuyện Cuốc biết bay“, người ăn xin nói, mắt đau đáu nhìn tôi như e sợ tôi sẽ đổi ý. ”Chuyện cổ dân gian hả ?“, tôi hỏi, lơ đãng nhìn theo những gợn mây xám đang lốm đốm trên bầu trời. ”Không, chuyện của thời nay, anh nghe thử nhé ?“, gương mặt nhăn nheo của người ăn xin khẩn khoản...

...Cuốc sống ở xóm Tù, dáng người cao, da dẻ trắng xanh và có một vẻ đẹp lạ lùng. Cuốc đẹp như một thứ chất liệu quay quắt của tạo hoá còn sót lại trên cõi đời này vậy. Năm đó Cuốc khoảng hai mươi tuổi. Nói như vậy vì không biết chính xác Cuốc đã ra đời vào lúc nào, chỉ biết mẹ của Cuốc mang nó về và sống lặng lẽ trong cái xóm nhỏ tên Tù ấy trong khoảng bấy nhiêu năm. Ngoài những chuyện đó, chẳng ai biết thêm điều gì khác về nguồn gốc của mẹ con Cuốc.

Cuốc lớn lên trong xóm Tù. Cũng như mọi người, Cuốc không được đến trường, không được dạy dỗ để trưởng thành. Cuộc đời đê tiện hay thanh cao hiện ra mỗi ngày ở xóm Tù trở thành những bài học phân minh của Cuốc. Xóm Tù có cái tên như vậy là do con sông nhỏ phía trước mặt khu dân cư ấy hơn hai mươi năm trước tự nhiên bỗng ngừng chảy. Hai đầu sông - không hiểu do con người hay địa thế biến đổi - mà đến một hôm bổng ngăn dòng nước lại, quây thành một khoảng trũng tù đọng. Cỏ cây hai bên bờ úa vàng và khô kiệt. Vùng nước cũng trở nên xanh xao kỳ quái và lờ đờ, mệt mỏi nhưng lạ là chẳng bao giờ cạn. Vì chẳng còn một nguồn nước nào khác nên người trong xóm Tù vẫn cứ lấy nước ở đó để uống, để giặt giũ. Trẻ con thì quanh năm cứ ngụp lặn trong màu nước ma trơi ấy cùng với những xác người chết trôi vô danh đã thối rửa, cứt đái lén lút của cả xóm Tù và những phiêu sinh vật bí hiểm vẫn trồi lên mặt nước vào những đêm hè. Xóm Tù nhìn qua thì chỉ thấy độ vài chục nóc nhà nhưng nhân khẩu thì đông đúc vô chừng. ở đó chẳng ai thật sự quan tâm đến ai. Mọi người dật dờ như những cái bóng đuổi nhau đi tìm miếng cơm manh áo mỗi ngày. Họ chỉ tụ tập nhau lại mỗi khi được chia sẻ một món lợi nào đó hoặc được thoả mãn thú tính trước những trò chơi tập thể độc ác nào đó.

Cuốc lớn lên trong xóm, lẻ loi và hay ngồi trước bờ nước hàng giờ. Từ bé, Cuốc đã khác hẳn những đứa trẻ con khác trong xóm. Từ ngày mẹ Cuốc chết vì bị sét đánh, Cuốc cũng phải tự đi tìm miếng ăn từ lúc còn đi lẫm đẫm. Thế nhưng nó luôn dành thời gian để ngồi một mình trước bờ nước, vươn cổ lên trời như thể để tìm kiếm một điều gì. Bọn trẻ trong xóm Tù không ai chơi với Cuốc - cha mẹ chúng cấm ngặt điều đó. Người ta rì rầm vào tai nhau rằng Cuốc không phải là con người bình thường. Một lần Cuốc bị ngất xỉu do trúng mưa, một người đàn bà đã hô hoán khi nhìn thấy hai lòng bàn tay của Cuốc không hề có một dấu chỉ tay nào. Lòng hai bàn tay trắng bệch và phẳng như da đùi. Người ta nói số mạng của Cuốc không có. Nó có thể chết bất cứ lúc nào và kéo theo những ai gần gũi nó. Đời nó sẽ khốn nạn. Không ai chơi với Cuốc, thậm chí những đứa bằng tuổi nó còn khinh bỉ. Nhưng Cuốc thì hiền lắm. Nhiều lúc thấy Cuốc ngồi bên bờ nước, đám trẻ đi qua và thay nhau khạc vào mặt Cuốc, cười khanh khách theo lệnh của một đứa cầm đầu. Cuốc chỉ im lặng vuốt xuôi những đờm dãi vương vãi trên tóc, trên mặt.

Trong cả xóm Tù chỉ có Sửu là tốt với Cuốc. Sửu mười bảy tuổi, da ngăm bánh mật và đôi mắt đẹp. Vú của Sửu nảy nở đến mức như muốn xé bung làn vải áo duy nhất đã xơ cũ, làm điên dại hết thảy đám con trai mới lớn tại xóm Tù. Thế nhưng Sửu chỉ chơi với thằng Cuốc bị nguyền rủa. Nói là chơi chứ hai đứa ít nói chuyện với nhau lắm. Thỉnh thoảng thấy Cuốc bị đám trẻ ác ném đá vọt máu, Sửu chạy ra đuổi bọn chúng đi và hái lá đắp lên vết thương cho Cuốc. Những lần như vậy thằng Cuốc chỉ rên lên và ngước mắt nhìn Sửu với vẻ cảm ơn. Sửu gật đầu. Với hai đứa, như vậy là đủ. Lòng tốt được cưu mang bằng hành động chứ không bằng lời.

Người xóm Tù căm ghét Cuốc một phần vì Cuốc không hoà nhập được vào với cuộc sống mà họ đã định ra và cho là đúng đắn nhất trên trần thế. Xóm Tù căm ghét chim nhưng Cuốc yêu thương chim lạ lùng. Vô phước con chim nào bay lạc vào bẫy hay bị người xóm Tù bắt được thì đời nó còn khốn khổ hơn cả con người nữa. Cuốc ngồi bên bờ nước mỗi buổi chiều cũng là để nhìn đàn chim bay về tổ mỗi ngày, đếm nhẩm từng con với tâm trạng hồi hộp. Hôm nào thiếu một con, Cuốc cứ khắc khoải ngóng cho đến khi bầu trời đen kịt thì thôi. Có lần, một con chim sẻ nhỏ bị đám thanh niên đầu xóm bắt được. Già trẻ lớn bé tụ tập lại và xem con chim nhỏ bị treo lên và giật đứt từng sợi lông một. Con chim điếng người, kêu thét lên từng chập và yếu dần. Cứ mỗi lần như vậy đám đông cười rộ lên, vô tư. Bỗng Cuốc xuất hiện và kêu lên :“thả-chim-đi !“. Đám đông im bặt quay sang nhìn Cuốc. Người đàn ông có cái cằm vuông, cầm đầu trò chơi vui, nhe răng cười :“mày thương nó lắm à ?“. Nói xong, hắn nắm một chùm lông cánh giật mạnh. Con chim kêu rú lên, hộc máu ra mép. Đám đông lại vỗ tay, cười. Mặt Cuốc trắng bệch, gân xanh bộc trên da :“thả-chim-đi !“. Gã đàn ông dứ nắm lông chim tươm máu vào mặt Cuốc, nhe răng cười :“ mày cởi truồng cho mọi người coi chim của mày đi rồi tao thả nó !“. Gã vừa dứt lời, Cuốc tuột hết quần áo ra và đứng trân trân nhìn hắn, nói lạc giọng :“thả-chim-đi !“. Đám đông gào lên. Gã đàn ông nắm lấy đầu con chim sẻ bẻ ngược ra sau kêu đánh ”rắc“, rồi ném xác vào người Cuốc :“có giỏi thì làm nó sống lại đi !“. Đám đông lại gào lên còn lớn hơn lúc nãy, có giọng khản. Cuốc hai tay bế xác con chim, trần truồng như vậy mà chạy về, nước mắt màu xanh biếc cứ tràn ra hốc mắt Cuốc.

Cuốc và Sửu chôn không biết bao nhiêu là xác chim quanh bờ nước. Mỗi cái xác là một bằng chứng mới của cái chết câm lặng và không bình yên. Đàn chim mỗi buổi chiều bay qua xóm Tù như đã dặn nhau tránh xa nơi ấy nên dần dần bóng chim ngày càng thưa thớt. Cuốc cứ nhìn lên bầu trời cho đến mức mắt khô rạn. Sửu phải lấy nước miếng của mình dấp lên mắt Cuốc, vuốt cho mắt nhắm lại để đừng bị mù. Thế nhưng Sửu cũng không ngăn được điều khủng khiếp ấy. Ngày một bầy chim mới từ núi bay ngang qua bầu trời xóm Tù thì Cuốc không còn nhìn thấy được ánh mặt trời trên những chòm cây lá bạc. Tiếng chim kêu âm vang mặt nước khiến Cuốc choàng dậy, sờ soạng :“tôi-muốn-bay“. Sửu yên lặng nhìn Cuốc rồi nói :“Sửu cũng muốn bay“. Cả hai yên lặng, hít thở bầu không khí đã xuất hiện mùi chim, mùi những ngọn gió tự do đến từ phiá núi cao. Họ hít thở và tủi thân, nghẹn ngào. Bầy chim mới bay cao lắm, cao hơn cả những con chim trước. Đám người xóm Tù ném đá cũng không còn với tới được, bẫy cũng chẳng chăng bắt được gì. Đám đông chỉ còn nhìn theo bóng chim, hộc lên vì ghen tị.

Rồi một hôm Cuốc bỗng ngã lăn ra, người nóng hầm hập. Sửu phải mang Cuốc về cái chòi của nó và nấu cháo để đút cho Cuốc. Thân thể trần truồng không còn quần áo của Cuốc bao lâu nay đã không sạm theo nắng mưa thì thôi, lại còn trắng và xanh đến mức thấy cả những sợi gân máu li ti đan nhau dưới da. Sửu phải cởi quần áo của mình để mặc cho Cuốc, ôm lấy Cuốc mỗi khi Cuốc run rẩy vì cơn lạnh toả ra từ xương tủy. Những cơn lạnh giữa ban ngày kỳ lạ. Cuốc không thể ngồi bên bờ nước được nữa và cũng chẳng ai quan tâm, cho dù đó có thể là một chuyện vui.Cuốc nóng sốt đúng bảy ngày. Mê man và hay thì thào những lời rối rắm mà chưa ai trong xóm Tù từng được nghe. Cóc nhảy ra từ các bụi cỏ gai tím và xếp hàng nhìn Cuốc mỗi đêm với đôi mắt màu đỏ và yết hầu phập phồng. Ngày thứ tám, chung quanh vắng lặng. Cuốc hết bệnh nhưng ngủ li bì. Sau lưng Cuốc bỗng mọc ra đôi cánh chim. Thoạt đầu thì chỉ nhú lên, nhỏ như cái vẩy nhưng sau đôi cánh cứ lớn dần, lớn dần. Đến giữa đêm hôm sau, Cuốc đã có một đôi cánh như chim thật lớn, đủ sức đưa nó bay lên. Cuốc bừng tỉnh, ngồi dậy. Nó dúi đầu vào đôi vú căng và nóng của Sửu, kêu khẻ :“tôi-muốn- bay !“.

Sửu nắm tay, dắt Cuốc ra bờ nước. Những phiêu sinh vật hình mắt người trồi lên và trừng trừng nhìn Cuốc như đe doạ. Cuốc vỗ cánh. Mặt nước xao động. Gió hất ngược mái tóc dài của Sửu, để lộ đôi mắt long lanh, ngan ngát của đứa con gái mười bảy tuổi. Cuốc từ từ bay lên. Toàn thân Cuốc mát lạnh. Cuốc lướt qua hàng cây lá bạc và xuyên thẳng vào màu xanh của bầu trời mà nó vẫn thường mơ ước. Cuốc sung sướng. Nó thét lên một tiếng, vọng đến dãy núi bao quanh thế giới. Tiếng dội của nó đập vào từng cánh cửa nhà của xóm Tù. Những đứa trẻ mới sinh tại xóm Tù bắt đầu bật khóc - điều đầu tiên và kỳ lạ nhất xảy ra tại xóm Tù. Người ta mất ngủ. Họ đốt lửa lên và soi mặt nhau. Họ trợn mắt tự nhìn vào gương. Thế rồi tất cả vỡ oà như một giấc mơ. Người xóm Tù ùa ra khỏi nhà mình, mang theo gậy gộc và đá. Họ mang trong lòng và trên tay tất cả những thứ gì có thể làm thương tổn con người. Họ sùi bọt mép, giận dữ. Họ gào thét tìm Cuốc để giết. Tại sao Cuốc dám đánh thức họ ? Tại sao Cuốc dám bay trên đầu họ ? Tại sao...? Tại sao...? Khi người ta muốn gieo họa cho ai, hãm hại một ai thì mọi lý lẽ dù vô lý đến đâu dường như cũng có thể trở thành mặc khải.

Ngoài bờ nước chỉ có Sửu xõa tóc, trần truồng đứng nhìn lên trời. Trong ánh trăng nhờ nhạt của đêm, Sửu lấp lánh sáng như một pho tượng của sự nhẫn nhục. Đám đông ùa đến và xô ngã Sửu. Họ đập gậy vào người Sửu. Họ ném đá vào người Sửu. Thân thể căng tràn sự sống của Sửu bật máu, những đòn xương gãy kêu lên những tiếng khô khan dưới sức mạnh của đám đông không có lý trí dẫn dắt. Không tìm thấy Cuốc, đám đông chỉ còn trút cơn cuồng dại và sự sợ hãi của chính họ lên Sửu. Những người già giận dữ vì Sửu đã nuôi sống Cuốc. Người trẻ thì muốn chà đạp cái làm cho họ thèm khát và mơ tưởng. Trẻ con thì học tức thì những bài học từ người lớn. Sửu dãy dụa trong vũng máu.

Trong một tích tắc nào đó của tột cùng đau đớn, Sửu bỗng thấy mình tuột hết xương da và bay lên. Sửu kêu thét. Tiếng thét vọng vào núi và rừng, dội vào tai Cuốc và xóm Tù. Người xóm Tù lảo đảo. Họ ôm chặt hai tai để tiếng thét không làm nhức nhối. Cuốc giật mình, sực tỉnh. Nó nhớ đến Sửu, nhớ đến bầu vú căng và nóng của Sửu. ”Sửu-cũng-muốn-bay !“, Cuốc kêu lên. Nó bay trở lại chốn tù đọng bằng cả sức lực hư hao của mình. Cánh của Cuốc phật gió và lao thẳng vào nơi có mùi máu của Sửu, pha lẫn mùi tù đọng sặc sụa như tích tụ từ ngàn năm trước của những con người đang say hành động. Đám đông đã dãn ra thành một vòng tròn rộng. Sửu nằm ở giữa. Cuốc bay xuống đúng chỗ Sửu nằm. Nó sà xuống và ôm lấy tấm thân bết máu của Sửu. Nước mắt màu xanh biếc của Cuốc lại nhỏ xuống, làm vỡ những bong bóng máu đang sủi lên trên từng vết thương nhầy nhụa của Sửu.Cuốc cố nâng Sửu dậy. Nó đập cánh một cách tuyệt vọng để cố mang Sửu và chính nó lên trời. Cánh yếu, Cuốc té sấp xuống. Nó lại cố đập cánh một lần nữa. Gió và máu toé vào mặt người xóm Tù đang chết sửng nhìn. Ngay khi Cuốc lấy được đà, ôm Sửu bay là là trên mặt nước thì đám đông sực tỉnh. Họ lại gào thét. Đá, dao, gậy và lửa lao tới tấp về phiá Cuốc. Một ngọn đuốc dầu bắt vào lông cánh của Sửu, rừng rực cháy loang. Cục đá của một bà cụ sát bờ nước táng vào thái dương của Cuốc. Máu sựt ra và chảy ướt mặt Cuốc. Cuốc lảo đảo kêu lên :“ tôi-muốn-bay !“. Một thằng bé cầm cây gậy tre dài quất mạnh vào cổ Cuốc. Con chim người và người bạn gái của nó té xuống nước và chìm dần. Lửa bắt vào cánh của Cuốc vẫn tiếp tục cháy dưới nước, soi sáng lòng trũng. Một cảnh tượng lạ kỳ hiện ra. Người xóm Tù nín thở nhìn một thế giới khác ở dưới đáy nước. Những phiêu sinh vật hoá thành những con người xanh xao và đứng xếp hàng yên lặng nhìn ngọn lửa bốc cao dưới nước, thiêu cháy Cuốc và Sửu. Khuôn mặt của những người-phiêu-sinh-vật buồn và xanh xao. Lửa yếu dần. Bất chợt, một trong những người dưới đáy nước bổng ngẩng đầu lên nhìn về đám người xóm Tù trên bờ. Người xóm Tù kêu rú lên và bỏ chạy tán loạn về nhà. Trũng nước trở lại màu tối đen trong đêm. Trẻ con mới sinh của xóm Tù lại bật khóc sau những cánh cửa đóng kín, sợ hãi.

Vài năm sau, trũng nước ở xóm Tù cạn dần. Đáy nước trở thành bãi bùn lầy hôi hám. Người dân xóm Tù không ai bảo ai bỗng nhiên lẳng lặng khăn gói ra đi hết. Xóm Tù dần dần trở thành bãi hoang. Dây leo dại và cây cỏ trùm lên mọi thứ. Giờ có đi tìm lại xóm Tù chắc cũng không được nữa. Những con người của xóm Tù đã túa ra bốn phương và len lỏi vào những làng, những xóm bên ngoài. Người ta nói rằng Cuốc và Sửu đã hoá thành chim mặt người, mỗi năm chỉ xuất hiện một lần. Nếu ai nghe được tiếng kêu của đôi chim ấy thì cũng sẽ biết bay. Chuyện về Cuốc biết bay và Sửu hầu như chẳng còn ai biết. Nếu kể ra thì cũng bị coi là chuyện hoang đường...

Người ăn xin kết thúc câu chuyện, nhận tiền từ tay tôi và lầm lũi đi. Ngoài trời đã đầy mây xám. Dù trước đó tôi đã tự nhủ rằng chuyện chỉ nghe cho qua thời gian vậy thôi nhưng sao lòng tôi cứ nao nao. Bóng người ăn xin khuất dần sau dãy nhà thấp. Xương vai của y nhô cao, tựa như hai cánh chim đang mọc trong chiếc áo bạc màu. Tôi chợt thở dài. Có hay không, ước mơ bay cao của người này vẫn còn có thể nuôi sống được người khác...

 

Tuấn Khanh

 

 

 

Wednesday, May 1, 2024

Một Lần Thăm Nuôi - Nguyễn Cang

Hồi ức tháng Tư:

 














MỘT LẦN THĂM NUÔI


Gặp lại em nắng hạn mưa ngâu

Sau những ngày xa cách thật lâu

Nghẹn ngào nhìn nhau môi mím chặt

Cán bộ đầu bàn mắt liếc mau

 

Mười lăm phút gặp nhau ngắn ngủi

Nắm bàn tay hơi ấm chưa đầy

Ngoảnh mặt lại bồi hồi lưu luyến

Bước quay về chiều xuống nào hay

 

Sầu chia tay dâng cao chất ngất

Đường về xa chân vướng bụi mờ

Dốc lên khúc khủy ngang tầm mắt

Đau thương ơi nói mấy cũng thừa

 

Ngước mặt nhìn theo giây phút cuối

Thương cho người ngàn dặm chân mây

Còn ta biết bao giờ trở lại

Xót xa thân phận kẻ lưu đày

 

Đường rừng chiều không gian tím ngắt

Bước liêu xiêu vạt nắng tàn phai

Tháng năm tù mỏi mòn thân xác

Thoáng hương xưa tan tác hình hài

 

Mong ngày được thả ta nối  lại

Lời thề nguyền còn đọng trong tim

Mình bên nhau cho qua nạn kiếp

Xây tương lai hạnh phúc êm đềm!

 

Nguyễn Cang ( Apr. 25, 2024)


Ngày Ấy 1 Tháng 5 & Nắng Hạ Và Lữ Khách - Nguyễn Thị Châu

 NGÀY ẤY 1 THÁNG 5



 












Một ngày bom đạn thôi bay

Ngoài kia thân xác còn đầy tang thương

Kẻ cười, người khóc bên đường

Nồi da xáo thịt tình thương không còn

Đem thân gìn giữ nước non

Các anh nằm xuống ghi ơn suốt đời

Ra đi không nói một lời

Khăng sô,thiếu phụ,trẻ thời mất cha

Ngày nầy năm ấy đã xa

Mà sao vẫn nhớ như là hôm qua

Người ta vui vẻ hát ca

Tung hô chiến thắng, xót xa trong lòng

Sài Gòn ngày ấy đã xong

Thay tên, đổi chủ không còn như xưa

Những ngày đen tối gió mưa

Sài Gòn nhỏ lệ cho vừa lòng ai?

Những đêm thao thức canh dài

Nhớ câu nói mãi, không phai trong lòng

Sài Gòn hòn ngọc Viển Đông

Miền Nam tôi đó, ước mong bao người…!!!

 

1-5-2024

Nguyễn thị Châu

 

NẮNG HẠ VÀ LỮ KHÁCH

 

Chuyển mùa sang nắng Hạ

Lung linh cánh Phượng hồng

Bay phất phơ trước gió

Sao đời mãi long đong

 

Chiều nay cơn nắng Hạ

Còn xót sợi tơ vàng

Trên đầu cây, ngọn cỏ

Sao ta còn lang thang

 

Hoàng hôn chiều nắng Hạ

Nhuộm tím một góc trời

Mây bay, bay thong thả

Ta nhìn áng mây trôi

 

Cầu cho mưa rơi xuống

Tưới mát cánh đồng khô

Hồi sinh loài hoa dại

Cho cây trái cậy nhờ

 

Bấy lâu cơn nắng Hạ

Chờ ngọn gió trên cao

Mát lòng người lữ khách

Trở lại từ nơi nào????

 

1-5-2024

Nguyễn thị Châu

 

Không Tên - Nhóm Vười Thơ Mới Xướng Họa

 THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 145_VƯỜN THƠ MỚI

 Xướng:




















Không tên
 
Trúc xinh đứng đầu đình trước gió
Thời hoàng kim giữ khó thân ngay
Ngoại giao bẩy nợ cho vay
Chực chờ bắt chẹt một ngày không xa
 
Ngoài sức trả, xe nhà chúng lấy
Thế lực mềm, nhìn thấy mà đau
Chiến tranh lạnh vốn muôn màu
Khổ thân nhược tiểu, cơ cầu khúc nôi.
 
Đặt vào thế đã rồi, lệ thuộc
Như trâu kia bị cột mủi thôi
Lặng nghe một chiếc lá rơi
Trúc xinh kia hởi... Đến hồi... Đắng cay!


TQ

 

Họa 1:

 

Kiếp  đoạ  đày
 
Tên cướp nước như thằng phải gió
Dân chúng mình chịu khó tránh ngay
Cuộc đời có trả có vay
Rồi ra quân đó đến ngày chạy xa

 
Chàng cán ngố cái nhà cũng lấy
Bà con ta nhìn thấy mà đau
Mong cho sắc máu thay màu 
Thế gian bớt khổ, địa cầu an nôi


Đám lãnh đạo xong
 rồi Bắc thuộc
Đưa nước nhà trói cột mãi thôi
Giang san gấm vóc rụng
 rơi
Chừng nào mới đặng đến hồi thái lai ?!.
 
THT

Họa 2:

 

Sa cơ thất thế
 
Người 
thất thế như mành chắn  gió
Sa cơ rồi cũng khó đứng ngay
Đời người có trả có vay
Huống chi địa vị có ngày cũng  xa
 
Nghề 
yêu thích để rồi bị lấy
Bỏ 
ra đi sao thấy nhói  đau
Trên 
trời dưới đất sậm màu
Trước cơn giông bảo nguyện cầu nắng nôi.
 
Nghĩ 
số phận thôi rồi phụ thuộc
Tấm 
thân này dựa cột mà thôi
Hạn lâu rồi cũng mưa rơi
Qua cơn lận đận vãn hồi chua cay!
 
PTL

April 2024

Họa 3:

Thế sự
 
Lăn tăn sóng nước theo ngọn gió
Trong bùn sen mọc đứng thẳng ngay
Đời người vay trả trả vay
Làm sao biết trước được ngày đi xa
 
Thăng trầm thế sự thời chiếm lấy
Lẫn lộn vàng thau thấy đớn đau
Đổi thay thời cuộc biến đủ màu
Khai sinh đất tổ thuở còn nằm nôi
 
Đọa đày tư tưởng nên lệ thuộc
Thế sự thăng trầm dựa cột thôi
Nên thà như giọt mưa rơi
Bay qua song cửa quên hồi đắng cay  

HLO

Họa 4:

Giữ trọn tình quê

 
Ta đứng ngắm hoàng hôn lặng gió
Mái tranh nghèo khốn khó về ngay
Cuộc đời vay trả trả vay
Phải lo tính trước chọn ngày phòng xa
 
Bỏ công sức cửa nhà giữ lấy
Chớ ngại ngùng cảm thấy lòng đau
Thế gian cảnh sắc trăm màu
Thờ cha kính mẹ mượn cầu nối nôi
 
Thân lữ thứ gặp rồi quyến thuộc
Tình dồng hương trói cột chẳng thôi
Thu tàn chiếc lá rụng rơi
Thương người chốn cũ tới hồi mắt cay !
 

Nguyễn Cang
Apr. 17, 2024

Họa 5:

 

Cháy nhà

 

Mỗi năm đến mùa khô lộng gió,

Nạn cháy rừng thật khó dập ngay.

Căn nhà tiền nợ còn vay,

Bỗng dưng cháy rụi một ngày xót xa.

 

Đành phải chịu căn nhà lửa lấy,

Ai nhìn vào cũng thấy sầu đau.

Thiên tai giáng xuống nhiệm màu,

Lại thêm nhân họa gẫy cầu nước nôi.

 

Nơi đất khách đâu rồi thân thuộc,

Tình đồng hương như cột nhau rồi.

Bầu ơi thương bí rụng rơi,

Ra tay giúp đỡ những hồi chua cay.

 

Mỹ Ngọc.

Apr. 27, 2024.

 

 

 

 

 

 

 

 

Hồi Ức Tháng Tư: Tôi Về (phần iii) - Nguyễn Cang

 

Hồi ức tháng Tư : TÔI VỀ ( Phần III)




 

    Một hôm nhân lúc rãnh rỗi tôi đạp xe qua cầu Rạch Ông xuống chợ Dương bá Trạc, dưới Dạ Nam Cầu Chữ Y để thăm bạn cũ, bất ngờ có tiếng gọi đàng sau: Thầy! Thầy !

    Tôi quay lại thấy một em gái tuổi 15, 16 chạy lại níu xe tôi, tôi ngạc nhiên, em vội bảo: Em tên Trang là học trò cũ của thầy đây mà, thầy còn nhớ em không ? Tôi đáp: Không, thầy không còn nhớ vì đã gần 4 năm từ giã mái trường , đi cải tạo …

Em ngắt lời : Em biết thầy đi cải tạo với vài thầy khác nữa, hôm nay gặp lại thầy em mừng lắm. Em mời thầy lại chỗ nầy. Nói xong em tắp vào một tiệm phở trong chợ, kêu một tô phở đặc biệt mời tôi ăn .  Tôi đứng như trời trồng, kinh ngạc không dám tin vào mắt mình. Thời “bao cấp” khó khăn, nhiều gia đình không có cơm ăn áo mặc có ai dám bỏ ra một số tiền tặng không cho người khác dẫu đó là thầy cũ của mình? Hàng xóm láng giềng, bạn cũ còn không dám tiếp xúc với tôi, sao em lại can đảm mời tôi ăn phở?  Trong tim em ắt còn có tình người giữa cảnh đời ô trọc . Thấy tôi do dự em thúc giục: Thầy ăn đi thầy! Tôi ngồi xuống nuốt từng cọng phở mà nghe nghèn nghẹn trong họng, tôi nuốt không trôi, hai hàng nước mắt tuôn ra tự lúc nào tôi cũng không biết. Em bé VN ơi! Trái tim  em tuy nhỏ mà tấm lòng của em cao cả quá, làm sao tôi trả hết? Em sợ tôi mất tự nhiên nên bỏ qua cửa hàng bên cạnh. Viết tới đây mặc dù gần nửa thế kỷ trôi qua tôi vẫn không cầm được nước mắt. Độ 15 phút sau tôi ăn xong định đứng dậy trả tiền thì em cũng từ ngoài bước vào nói: Em trả tiền xong rồi thầy, còn đây là hai ổ bánh mì em gởi biếu con thầy, chúc thầy bình yên mạnh khỏe! Tôi nói cám em rồi bước ra khỏi tiệm.

   Lúc đó nhà tôi nghèo lắm, tôi cải tạo mới về, không có việc làm, vợ cũng không ai mướn sai vặt, tôi nghĩ suốt đời cũng không đền ơn đáp nghĩa được nên không xin địa chỉ cũng không hỏi rõ tên họ em để tìm kiếm về sau. Sau khi qua Mỹ, có điều kiện, muốn tìm em để nói lời cám ơn, tặng quà trả nghĩa nhưng hỡi ơi, vật đổi sao dời gần 40 năm làm sao tôi tìm cho được? Tôi nghe áy náy trong lòng mỗi khi nhắc tới nghĩa cử cao đẹp của em. Em bé ơi bây giờ em ở đâu? Cuộc đời em thế nào? Em có sung sướng hạnh phúc? Cầu mong em được như thế!

 

                II. TỪ GIÃ QUÊ HƯƠNG

 

    Chánh sách cải tạo của đảng và nhà nước CSVN đưa ra gây bất ngờ cho dân chúng miền Nam. Dạo đó người dân miền Nam chưa hiểu thế nào là cải tạo. Tưởng rằng đi học đâu đó vài tuần rồi về ai ngờ có người 17 năm cũng chưa về, mà thực chất là đi tù ! Chuyện trong tù cải tạo nhiều người đã nói rồi tôi không bàn nữa. Thành phần quân dân cán chánh chế độ cũ gánh chịu nhiều đau thương mất mát không sao kể xiết nhất là anh em bị đày ra Bắc. Có khi tù bị dân quân ném đá vì cho rằng tù là thành phần ác ôn, uống máu, hãm hiếp phụ nữ v.v. Lâu dần khi thấy và hiểu ra, dân chúng nhìn người tù cải tạo dưới góc độ khác, họ không còn thù hằn và ác cảm, trái lại họ thương người tù ốm o gầy còm vác cây, phá rừng, đắp đập,  cày ruộng… Thỉnh thoảng người tù lại tặng ( một cách lén lút) một vài viên thuốc trị bịnh ngặt nghèo cho dân. Một trường hợp đặc biệt bác sỹ cải tạo đi đỡ đẻ cho vợ cán bộ! Dân chúng thấy người tù sao hiền quá , dễ thương và tội nghiệp, họ không uống máu ai cũng chẳng chửi thề bậy bạ, họ rất lịch sự và hiểu biết. Từ từ cán bộ, vệ binh cũng bớt gay gắt, sắt máu với tù cải tạo…

        Đầu năm 1980 bỗng rộ lên tin đồn Mỹ sẽ bốc cải tạo sang định cư tại nước thứ ba, gia đình cải tạo bừng lên sức sống và hy vọng. Từ trong quán cà phê cho tới ngoài chợ người ta thầm thì úp mở về tin động trời nầy. Thực hư không ai biết, nhưng người ta vẫn hy vọng. Người tù cải tạo tự trút bỏ mặc cảm tội lỗi ( do bị gán ép),  hòa mình vào xã hội, được bà con thương mến, danh dự được phục hồi. Nhiều người giàu có đi tìm cải tạo để kết thân, kết hôn, hy vọng được đi Mỹ. Cải tạo không còn bị khinh khi ngược đãi. Gió đã đổi chiều! Khoảng năm 1987 nhà nước CSVN ra thông báo chánh thức cho phép những người cải tạo 3 năm trở lên được đăng ký đi Mỹ. Đầu năm 1990 chuyến bay đầu tiên cất cánh từ phi trường Tân Sơn Nhứt chở những người tù cải tạo sang định cư tại Huê Kỳ.

Tôi cũng ra đi theo chương trình HO năm 1992, bỏ lại quê hương yêu dấu, đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời tỵ nạn chánh trị, chấm dứt những ngày đen tối trên quê hương Việt Nam.

 

Nguyễn Cang ( Apr. 15, 2024)

 

 

 

 

Ngày Thần Tiên Em Bước Lên Ngôi - Luong Le Huy

 

NGÀY THẦN TIÊN EM BƯỚC LÊN NGÔI

 

Một buổi trưa hè nóng bức Sài Gòn của năm 1964 hay 65, tôi nằm mơ màng nửa thức nửa ngủ. Cạnh đầu là chiếc radio xách tay muôn thủa hiệu National, đang phát chương trình Phụ nữ do nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh phụ trách.

Lương Le Huy

 


Cuối chương trình luôn là một bản nhạc, trưa hôm đó bản nhạc được giới thiệu có một tựa đề hay và lạ, Tình Khúc Thứ Nhất, người hát có tên Từ Hà.

“Ngày thần tiên em bước lên ngôi

Đã nghe son vàng tả tơi…”

Giọng hát êm đềm, thủ thỉ. Nói hơn là hát, kiểu như “diseuse” Juliette Greco hát bài ‘Les Feuilles Mortes’. Từ ngày đó, tôi nghe vài chục ca sĩ hát bản nhạc “Tình khúc số dách” – biệt danh giới làm VHNT Sài Gòn gọi bản nhạc – nhưng không thích bằng khi nghe người ca sĩ bất đắc dĩ hát lần đầu đó.

Từ Hà không là ai khác hơn nhà thơ nhà văn Nguyễn Đình Toàn. Tôi biết cái tên Từ Hà đã lâu, qua những chương trình thoại kịch – kịch nói – trên Đài phát thanh Sài Gòn. Những vở kịch có lẽ do chính ông viết, không được in, nay bản thảo không còn. Một giọng đọc đàn ông mà ai nghe qua một lần sẽ không thể quên.

Tôi đã đọc cuốn truyện đầu tay của nhà văn Nguyễn Đình Toàn, cuốn ’Chị em Hải’, 1961. Trước đó Nguyễn Đình Toàn có tập thơ ’Mật đắng’, nhạc sĩ Vũ Thành An đã phổ nhạc một số bài thơ trong đó. Hay nhất có lẽ là bài ‘Khi em về’, tôi còn nhớ ít câu:

Quê mẹ đó ưu phiền nhiều quá lắm

Hàng cau già mo thương bẹ quắt queo

Anh nằm đếm những ngày rồi những tháng

Đi qua dần khi nước mắt buông theo

…

Em đừng khóc, đừng buồn, đừng nhìn nữa

Cứ cúi đầu rồi cứ thế ra đi

Trời sẽ tối, tiếc thương rồi sẽ hết

Và dấu giày mai sẽ lá sương che.

(Có lẽ Vũ Thành An là người duy nhất phổ nhạc thơ Nguyễn Đình Toàn, và rất hay. Riêng bài ‘Tình Khúc Thứ Nhất’ là Nguyễn Đình Toàn đặt lời sau khi Vũ Thành An viết nhạc).

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn viết khá nhiều tiểu thuyết, thường được đăng nhiều kỳ trên tạp chí Văn Học trước khi xuất bản. Tác phẩm Áo Mơ Phai được trao giải thưởng văn chương quốc gia năm 1973.

Nói đến nhà văn Nguyễn Đình Toàn, người ta cũng nhớ đến chương trình “Nhạc chủ đề”, chính thức do Vũ Thành An phụ trách, Nguyễn Đình Toàn viết và đọc lời giới thiệu khá tỉ mỉ về người nhạc sĩ được giới thiệu trong buổi phát thanh và trước mỗi bài nhạc được hát. Lời giới thiệu và cả giọng đọc làm nên sự thành công của “Nhạc chủ đề”. Cũng kể từ đó, hầu hết các cuốn băng nhạc được làm ra đều mang một chủ đề nào đó.

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn cũng viết nhạc, nhưng tôi không được thưởng thức, bản nhạc duy nhất của ông tôi được nghe là bài “Sài Gòn niềm nhớ không tên”, được chuyển lén ra hải ngoại khi tác giả còn ở trong nước.

Nhớ đến nhà văn Nguyễn Đình Toàn tôi luôn nhớ đến vóc dáng gầy gầy, áo sơ-mi trắng dài tay cài măng sét, mỗi buổi chiều ngồi một mình ở chiếc bàn nhỏ cạnh cửa sổ, với ly trà Lipton trong quán cà phê Brodard, đường Tự Do. Khác với La Pagode, vốn dành cho người lớn tuổi và văn nghệ sĩ hay Givral cho giới trung niên, Brodard dành cho giới trẻ, choai choai Sài Gòn. Tôi không biết tại sao ông lại chọn quán này. Vì tâm hồn ông trẻ hay không khí vui nhộn trẻ trung của Brodard cho ông nhớ lại thời trẻ của chính mình ở một thành phố khác, cách xa hàng ngàn cây số, Hà Nội?

Nỗi hoài vọng về Hà Nội, thành phố của tuổi trẻ huy hoàng đã mất, hiện nguyên hình trong “Áo mơ phai”, một trong những cuốn truyện cuối cùng của NĐT trước 1975. Hà Nội xưa đẹp, lại càng đẹp trong lòng những người con của nó đã phải dứt áo ra đi khi tuổi vừa chớm biết yêu. Tuổi trẻ luôn quay trở lại ám ảnh khi người ta nhận ra nó đã không bao giờ trở lại.

“… Lúc mắt chưa nhạt phai, lúc tóc chưa đổi thay, lúc môi chưa biết dối cho lời…” (‘Tình Khúc Thứ Nhất’, nhạc Vũ Thành An, lời Nguyễn Đình Toàn).

Lương Le Huy

304Đen – Llttm -sgtc