Tuesday, November 3, 2015

Vườn Xưa Nắng Chẽ Đôi - Thuyên Huy


Vườn Xưa Nắng Chẽ Đôi

 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Góc vườn xưa nắng chẽ đôi
Nửa buông sầu lịm nửa khơi giọt buồn

Người về tìm chút dư hương
Của đêm đếm tiếng mưa tuôn chờ tình

Bên nhau trời đất lặng thinh
Cỏ cây xích lại gọi mình với ta

Ngữa tay chờ phút mặn mà
Thả ưu phiền đọng bay xa khỏi đời

Giờ chỉ còn thoáng ngậm ngùi
Đường xưa lối cũ ừ thôi cũng đành

Mái nhà ai phủ rêu xanh
Bóng nghiêng nghiêng đổ rụng cành hoa xưa

Ngậm ngùi rớt giọt sầu đưa
Nhớ nhung gom nhặt cho vừa tiếc thương

Khép trang đời lỡ biết buồn
Một mai về tận cuối nguồn chờ nhau

 
Thuyên Huy

 

 

Tình Cha - Trần Thị Nhật Hưng


Tình Cha

 

Viết riêng tặng ba, Cụ “Chí Thành“ Trần Văn Kính với lòng tri ân vô vàn của con”




Có phải bất công lắm không khi hằng năm vào dịp Vu Lan, trên thế gian này không biết bao nhiêu văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ múa bút tán tụng tình Mẹ: Huyền thoại mẹ, Phật giáo tôn vinh giá trị những bà mẹ, lạm bàn về mẹ, tản mạn về mẹ v.v… và v.v… bên cạnh đó, dường như mọi người đã vô tình bỏ quên một thứ tình cũng nồng nàn không kém, đôi khi còn thắm thiết hơn, đó là tình cha. Vâng, tôi có một người cha như thế.

Cho đến giây phút này, khi cầm bút viết về cha, tình cảm trong tôi bỗng dạt dào sống dậy. Tôi nhớ về công lao dưỡng dục sinh thành vô bờ bến của song thân. Giữa khi đã có nhiều người viết về mẹ, tôi dành những trang giấy sau đây viết về cha tôi, để mọi người thấy rằng tình cha cũng đậm đà, sâu nặng không kém.

Mãi khi tôi vừa lớn, có đủ trí khôn, tôi luôn thắc mắc tìm hiểu nguồn cội, mới biết cha tôi từ Bắc vào Nam với hai bàn tay trắng. Vì còn nghèo, ông đành để vợ và các con ở tạm miền Trung tại nhà người dì, em họ của mẹ tôi; còn ông tha phương cầu thực, một mình lăn lộn khắp miền Nam từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau, trải biết bao gian lao khổ cực tìm kế sinh nhai, nuôi thân, lo cho vợ con. Nhờ siêng năng cần cù chịu khó cùng ý chí mãnh liệt và cũng nhờ Trời Phật đoái hoài, chẳng bao lâu, ba tôi trở thành một thương gia giàu có, rồi quay về miền Trung chọn chỗ định cư.

Để đánh dấu thành quả của mình, cùng để nhắn nhủ con cháu, ba tôi đã đặt tên cho cửa hiệu của ông “Chí Thành” (hàm ý có chí sẽ thành công) như một định đề làm gương cho con cháu.

Từ đó, tôi được lớn lên trong kinh tế gia đình vững vàng, sung túc. Tôi không hề biết thiếu thốn là gì nữa. Thế nhưng, cuộc đời vô thường, không ai biết trước được số phận. Từ chỗ “không biết thiếu thốn là gì”, đùng một cái, tôi bỗng nghèo xác xơ, nghèo đến nỗi quả bắp luộc rẻ tiền đối với tôi trở thành hàng xa xỉ phẩm, cao lương mỹ vị, nhiều năm trời, có muốn ăn, tôi chỉ được liếc thấy, ngửi qua mà không bao giờ rờ tới.

Có rơi vào cảnh nghèo túng, sa cơ lỡ vận, mới dễ nhận chân lòng dạ con người “nước loạn mới biết tôi trung. Gia bần mới tri hiếu tử”, thiên hạ hay nói thế và tôi dựa theo ý câu này để thấy rõ tình của ba tôi.

Số là, tôi về làm dâu nhà cụ Phan, tôi không ngờ nhà cụ nghèo thế. Ngày đầu tiên trong đời, cụ đưa tiền tôi đi chợ, tôi mua 10 quả trứng gà, một bắp cải, vài trái cà chua. Mua một lúc cho vài ngày. Mâm cơm cho 3 người độc món luộc. Chỉ một nồi nước sôi tôi cho ra ba món: Một dĩa rau. Nước luộc giằm cà chua. 2 trứng luộc giằm nước mắm. Bữa cơm như thế thật đơn sơ, tiện lợi, có gì cầu kỳ đâu, vậy mà bố chồng tôi đã kêu tôi lại bảo:

Lương nhà con ăn thế này… sang quá! Không đủ trang trải đâu.

Tôi nghe, tôi hiểu và biết phải làm gì. Sẵn học ban B, toán là chính, tôi áp dụng ngay vào đời sống, đem lương của chồng tôi cộng trừ nhân chia, cuối cùng cho ra một đáp số: “Điểm tâm buổi sáng: Cơm nguội, mỗi người một chén (thay vì một tô bún bò kèm ổ bánh mì khi tôi còn ở nhà bố mẹ). Hai bữa ăn chính: Chủ lực rau: Rau muống, rau cải, rau lang, mồng tơi, rau đay, đọt bí v.v… Còn những loại rau như: Bắp cải, súp-lơ, cà rốt, cà chua, xu hào… thuộc hàng xa xỉ phẩm, không được ngó tới”. Chất đạm chỉ là những con tép, cá lòng tong kho mặn; thỉnh thoảng được vài gram thịt cũng phải cõng cả ký lô củ đậu vào đó. Còn “ chả lụa” theo “ rề sếp” bố chồng tôi dạy, không làm từ thịt nạt thăn mà là từ những cục xương sống lưng, loại xương chỉ dùng để nấu súp, cứng như đá, tôi lấy sức “18 bẻ gãy sừng trâu“ băm nhuyễn nhừ rồi viên tròn bằng ngón chân cái đem kho mặn, ăn khá ngon. Bố chồng tôi bảo ăn xương mới bổ xương!
 
 

 


Với tôi, nghèo không phải là cái tội. Cũng không ngại gì đời khinh. Nghèo mà sạch, rách mà thơm vẫn hơn giàu sang bằng tiền bất chính, mưu toan trộm cắp cướp đoạt tài sản của người khác. Nói tóm lại phải là tiền từ mồ hôi nước mắt làm ra. Khi chưa có khả năng, cơ hội thì cứ vui với cảnh nghèo. Chỉ vậy thôi. Tôi còn trẻ mà. Còn một quãng đời dài đang chờ đợi ở phía trước. Chịu khó phấn đấu, hợp sức cùng chồng lo gì tương lai không chào đón. Sự kham khổ bây giờ chỉ là giai đoạn “sông có khúc, người có lúc” mà thôi, tôi không bao giờ về nhà than thở với bố mẹ. Và tôi chịu đựng được nhờ ba tôi luyện từ khi anh chị em tôi còn bé. Không phải lúc nào ba tôi cũng cho ăn cao lương mỹ vị dù ba tôi là người “có tâm hồn ăn uống”. Thỉnh thoảng trong bữa cơm thường nhật, trên bàn ăn vỏn vẹn chỉ độc đĩa rau muống luộc chấm tương, xì dầu hay nước mắm. Chị em tôi nhao nhao phản đối. Ba tôi nói: “Cuộc đời không phải lúc nào cũng suông sẻ. Khi sung sướng phải biết lúc khổ cực để vô thường đến, đủ sức lực, nghị lực chịu đựng”.

Lời ba tôi nói quả không sai. Sau này, biến cố 75 làm chao đảo cuộc sống miền Nam, nhà chồng tôi vốn nghèo càng nghèo hơn, tôi trường kỳ rau muống luộc suốt nhiều năm trời, tôi vẫn vững vàng sống khỏe, sống dai và lành mạnh cho đến bây giờ.

Ở nhà chồng, ngày hai bữa “vỗ bụng rau bình bịch”, tôi vẫn vui trong nếp sống thanh đạm “bần nhưng lạc”. Tôi không kêu ca than van, nhưng thân thể tôi, độ chừng hơn nửa năm sau, từ 50 ký mập tròn, tôi trở thành mình dây, liễu yếu đào tơ còn 43 ký thôi đã tố giác với cha mẹ tôi, con ông bà thiếu dinh dưỡng. Từ đó, tôi được quan tâm đặc biệt. Nhưng những bữa cơm được mời về nhà, hay những bát canh, con cá, miếng thịt tiếp tế chỉ giữ ký lô tôi dừng lại không tụt xuống nữa, chứ không bù đắp phần thất thoát trong tôi.

Vài năm sau, vì việc học của tôi và công việc của chồng, chúng tôi đổi vô Sài Gòn. Mặc dù lương chồng tôi có tăng theo thời giá, vẫn không thấm vào đâu so với vật giá quá đắt đỏ của thủ đô. Cho nên, những phí tổn sách vở, học hành, tàu xe, tiêu vặt… tôi đành cầu cứu ba má tôi. Không chỉ một khoản tiền lớn bỏ nhà băng lấy lời để lo cho tôi, tôi còn quấy quả ba má tôi hãy “bưng” cái nhà theo tiêu chuẩn của từng người con “gởi” vô Sài Gòn cho tôi. Ba má tôi, thay vì… bưng, tức là bán căn nhà đó rồi gởi tiền cho tôi mua cái khác theo lời đề nghị của tôi, ông bà lại gởi một khoản tiền khác để mua một căn nhà khác.

Căn nhà nhỏ với một khoản tiền đủ sống, tôi ung dung từng bước vào đời. Phần chồng tôi, chàng cũng phấn đấu vươn lên, vừa đi làm vừa lấy “cua” học thêm. Con đường trước mắt thênh thang mở rộng. Chân trời phương xa, vừng hồng đang rực sáng như chào đón bước chân chúng tôi. Tôi vô tư hồn nhiên yêu đời. Ngây thơ như cô công chúa nhỏ tung tăng vào rừng hái hoa bắt bướm. Không hề nghĩ xung quanh có thú rừng rình rập, hay dưới chân mình đầy cạm bẫy chông gai. Tôi ngu ngơ không hề nghĩ trận cuồng phong có thể bất ngờ ập đến. Không, không nghĩ gì hết. Trước mắt tôi chỉ toàn là màu hồng, màu xanh, đầy hy vọng…

Thế rồi ở cuối chân mây, bầu trời bất ngờ đổi màu xám xịt. Mây đen vần vũ. Tôi vẫn chưa nhìn ra, cứ mải miết say sưa với niềm vui hiện tại, không chuẩn bị một chỗ ẩn núp. Để rồi phải te tua tơi tả bởi một trận cuồng phong. Trận bão của cuộc đời! Trận bão đó quét sạch mọi ước mơ, bao hy vọng, niềm tin yêu trong cuộc sống của tôi. Lúc bấy giờ tôi mới nhận chân ra cuộc đời tự nó vốn vô thường. Con đường trước mặt không luôn luôn bằng phẳng. Đường càng dài thì càng nhiều hố thẳm chông gai. Bấy giờ tôi mới nhớ lời ba tôi, thầm cám ơn ba đã luyện chị em tôi từ thuở bé. Có sung sướng phải biết lúc khổ cực. Ngoài những lúc học hành, ba không hề cho chị em gái chúng tôi ngồi không. Rảnh, chúng tôi phải ra vườn nhặt cỏ, tưới cây, phụ bếp hay thêu thùa may vá. Nhờ vậy biến cố 75, giai đoạn đen tối khó khăn nhất cho bao người miền Nam, làm đảo lộn mọi cuộc sống, dù ngất ngư, tôi vẫn gượng dậy giương to mắt trực diện đối đầu với đời.

Số tiền trong băng vốn cũng như lời mất sạch. Chồng đi tù không còn lương. Bố chồng tôi cả đời không kiếm một xu. Thành phần “vợ ngụy” như tôi không còn cơ ngóc đầu lên nổi. Đã vậy, bà con họ hàng con cháu bố chồng tôi ngoài Bắc lũ lượt vào thăm… Ôi, giữa lúc mọi tai ương đổ ập lên đầu con bé con hơn 20 tuổi, giữa lúc tôi chới với ngộp thở của thác lũ cuộc đời, tôi đang quờ quạng mò mẫm để tìm một lối thoát, thì bất ngờ ba tôi xuất hiện như một cứu tinh lặn lội từ miền Trung vào Sài Gòn thăm con. Ba như cái phao cho tôi chụp lấy. Nhưng nhìn tóc ba bạc phơ, mặt mày phờ phạc hốc hác vì tàu xe vất vả, tôi lại chạnh lòng xót xa và trong tôi dâng lên tình yêu kính cha tràn ngập biết nói sao cho hết.

Cha vào thăm tôi, mục đích thăm dò đời sống của tôi vài ba hôm rồi đi. Trước khi ra về, ba gặp riêng tôi, trao cho tôi một món tiền lớn, ân cần dặn:

Bố chồng con cả đời không làm ra tiền, nay cụ già rồi, cụ muốn ăn gì con cố gắng phụng dưỡng cụ tử tế. Còn đối với người nghèo khó, con cứ giúp. Riêng con, đừng tiêu hoang là được.

Tôi hỏi:

Con dùng tiền này thăm nuôi tiếp tế chồng con có được không?

– Điều đó hiển nhiên, con không phải hỏi.

Lời cha dặn, tôi tạc dạ ghi lòng, mặc dù tự thân, tôi tiết kiệm tối đa, tôi không thuộc loại “thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt, còn hơn buồn le lói suốt năm canh”, tôi chấp nhận “le lói suốt năm canh” để kéo dài khoản tiền tiêu khỏi làm phiền cha vất vả, thay vì “nhậu” một bữa cho đã đời, tôi chỉ trường kỳ rau muống luộc. Sáng rau muống luộc, chiều luộc rau muống. Riêng cụ bố chồng thì có thêm đĩa nhộng xào, vừa rẻ vừa bổ và cụ cũng ưa thích. Tôi sợ sâu nên không dám ăn nhộng. Tiết kiệm đến vậy, nhưng món tiền lớn ba cho vẫn không thấm vào đâu so với thời buổi gạo châu củi quế, mà chi tiêu lại gấp 10 lần hơn so với cuộc sống trước 75. Nào việc thăm nuôi, ăn tiêu cho hai bố con, và khoản chẳng đặng đừng cụ Phan hỏi để chu cấp tàu xe, quà cáp, ăn uống cho bà con, họ hàng con cháu cụ từ Bắc vào thăm… Những bữa thịt nai đường Hồng Thập Tự, những hôm thịt quay chợ Tân Định theo yêu cầu của bố chồng tôi đãi khách, món tiền chóng vánh hết nhanh.

Mặc dù ba tôi có dặn, khi nào hết tiền, nhớ thông báo ba tìm cách gởi tiếp. Nhưng xin để học, tôi không ngại miệng, vì học tức là làm việc, còn xin để ăn, tôi quyết không mở lời. Một cách tinh ý và tế nhị, ba tôi nhận ra điều đó. Không chuyển tiền qua bưu điện hay ngân hàng được và cũng không tin cậy ai để chuyển được, ba tôi lại vài ba bận vào Sài Gòn thăm tôi, để chỉ trao tận tay tôi một số tiền lớn, rồi về.

Tôi thương cha vất vả kiếm tiền, vất vả tàu xe, không muốn phiền lụy cha nữa, tôi mon men ra chợ trời kiếm sống. Tôi trải một tấm ny-lông ở vỉa hè trong con hẻm nhỏ chợ Bàn Cờ bán ly, tách, chén, dĩa… Trước là bán đồ gia dụng của nhà rồi từ đó “nghề dạy nghề” tôi biết thu mua để bán kiếm lời. Chỉ vài đồng kiếm được trong ngày cho tiền chợ cũng giúp tôi vui, vì đó là đồng tiền mồ hôi nước mắt lần đầu tiên trong đời tôi kiếm được. Thế nhưng, lại chữ “nhưng” trớ trêu, cuộc đời tưởng như tìm thấy một chút ánh sáng dù chỉ là ánh sáng le lói cuối đường hầm, một lần nữa tắt ngúm bởi trận cuồng phong ập tới…

Từng toán thanh niên băng đỏ được lệnh tung ra làm sạch đường phố, càn quét hết tất cả những gian hàng lê lết vỉa hè. Một cuộc rượt bắt trông thực ngoạn mục. Còn tôi, ly bát chén dĩa nặng nề cồng kềnh thì chạy làm sao? Thế là, tôi bị hốt về phường cùng hàng hóa bị tịch thu với tội danh bán chợ trời mặc dù rõ ràng tôi ngồi buôn dưới đất! Ôi, chợ trời cũng là chợ đời, gặp thời buổi nhiễu nhương, tôi ngộp thở trong không khí lạ hoắc đầy gian trá… Cuối cùng, một lần nữa, tôi mất hết cả vốn lẫn lời, chỉ “thu” được một món “lợi” duy nhất nhớ đời là nhận chân rõ về cuộc sống.

Cụ Phan bắt đầu vay nợ để trang trải những chi tiêu càng lúc càng tăng nhất là về quà cáp, tàu xe, ăn tiêu… cho con cháu cụ.

Tôi buồn vì cô đơn, vì cuộc sống mịt mù, không lối thoát. Để khuây khỏa, và cũng đã nhiều năm rồi, dễ chừng gần sáu năm, từ khi rời miền Trung, tôi chưa một lần trở lại. Tôi xin phép cụ Phan về thăm cha mẹ, gia đình…

Có đáp chuyến xe đò ọp ẹp, thời đó chỉ có xe vậy thôi, với giá vé chợ đen cắt cổ, nếu không muốn tờ mờ sáng xếp hàng mua vé chính thức (chưa chắc đã có), tôi bùi ngùi nhớ lại ngày nào mới chuyển vào Sài Gòn tôi tha thướt trong chiếc áo dài tươi mát bước lên máy bay, mà giờ đây trở về trong bộ dáng “bụi đời” bước xuống tận cùng của cuộc sống. Rồi xót xa, tôi nghĩ đến ba tôi. Ba tôi cũng ngồi trên chỗ này đây với đầy mùi hôi nồng nặc của người, của khói xăng lẫn với phân gà vịt… Cũng với con đường đầy ổ gà, bụi bặm này đây, chiếc xe như muốn nứt tung bởi sức chứa quá tải của người với hàng hóa. Ngồi co ro ngủ gà ngủ gật suốt đoạn đường dài một ngày một đêm, tôi cảm thương cha tôi ở tuổi già xế bóng. Tôi chưa làm được gì để đáp đền công ơn sinh thành dưỡng dục, còn quấy quả cha cả lúc tôi đã có gia đình. Vì tôi, cha đã phải thay tôi “gánh vác cả giang sơn nhà chồng” mà đúng ra trách nhiệm là của tôi như lời cha từng căn dặn trước cũng như sau ngày cưới của tôi: “Con gái về nhà chồng, có bổn phận gánh vác giang sơn nhà chồng. Đừng khuân của của người ta đem về cho bố mẹ, để họ chửi bố mẹ, tức là báo hiếu cho bố mẹ đó”. Lời giáo huấn vẫn văng vẳng bên tai, tôi biết phải làm sao bây giờ khi trên vai tôi không có cái đòn gánh?!

Về đến quê nhà sau bao năm xa cách, lòng tôi như mở hội, như cánh hoa khô héo lâu ngày gặp cơn mưa mát. Tôi reo lên khi gặp người thân. Tôi xiết tay cha. Ôm choàng lấy mẹ. Quấn quít với chị cùng em. Bạn bè lối xóm thuở ấu thơ, nghe tôi về cũng chạy đến thăm. Chúng ríu rít nói cười mời tôi về nhà bày biện nấu nướng. Có đứa giỏi “mánh mung” kiếm được tiền mời tôi ăn tiệm nữa.

Nhưng rồi niềm vui hội ngộ cũng qua mau. Cuộc sống trở lại bình thường. Tôi hay ở nhà quây quần với gia đình hơn là theo bạn bè rủ rê ăn uống. Với lại tôi không có tiền. Ăn mãi của bạn cũng kỳ…

Thế rồi một ngày, tôi đang đứng ngó mong ra ngoài, bâng khuâng nhìn vạt nắng lung linh ngoài khung cửa sổ. Những tia nắng vàng óng ánh xuyên qua kẽ lá lấp lánh như những tia lăng tinh trông thật đẹp mắt. Bầy chim sẻ từng cặp rượt đuổi nhau, tíu tít chuyền từ cành này sang cành khác trên cây si trồng trước nhà rồi bay vút vào khoảng không gian vô tận. Tôi ước gì tôi cũng là cánh chim để bay mãi, bay mãi về một phương trời nào đó, tôi cũng không biết được để xa lánh cuộc đời hiện tại, nơi đó tôi được tự do, tôi được sống đời tôi muốn sống. Có bước chân đi nhẹ đến bên tôi. Tôi quay lại, thì ra ba tôi. Ba không nói gì, chỉ nắm tay tôi vạch 5 ngón tay tôi xòe ra, rồi đặt vào đó một cọc tiền. Tôi ngạc nhiên hỏi:

Tiền gì vậy, ba?

Tôi cứ ngỡ ba đưa tiền để sai tôi mua vật dụng gì đó cho gia đình. Nhưng không, tôi trố mắt khi nghe ba nói:

Ba cho con để đi chơi với chúng bạn!

Nói xong, ba bỏ đi, để tôi ngơ ngẩn nhìn theo, không kịp nói được lời nào, dù chỉ là hai chữ “cám ơn” ngắn ngủi.

Tôi nhìn lại cọc tiền, bất giác mủi lòng, không muốn khóc mà nước mắt cứ từng giọt trào ra. Những giọt nước mắt ân tình trong như pha lê nhẹ nhàng rơi xuống cọc tiền nhưng lại thấm sâu vào hồn tôi, len vào từng ngõ ngách. Tôi nghẹn ngào cảm động vừa thương cha vừa thương mình. Biết nói sao bây giờ, tôi chỉ biết in thật sâu vào tim óc hình ảnh, cử chỉ đáng yêu của cha và nguyện một ngày nào đó có cơ hội tôi sẽ đáp đền tình cha.

Tôi thăm gia đình, ở chơi một tháng rồi trở về lại Sài Gòn. Trước ngày tôi lên đường, ba tôi hỏi:

Trong đó con còn tiền không?

Đã hết sạch, còn nợ nần chồng chất, nhưng lòng tự trọng cùng niềm yêu kính cha, không muốn cha lo lắng, tôi đáp:

Dạ còn, ba ạ.

– Nếu còn, thì ba cho thêm chút ít.

Nói như thế, nhưng ba tôi vẫn cho nhiều. Ít, nhiều rồi cũng thế thôi. Với thời gian và cuộc sống này vẫn chỉ là những chuỗi ngày mờ mịt…

Về tới Sài Gòn, nhà vẫn luôn có khách. Món tiền ba cho lại chóng vánh tiêu hao. Đồ đạc trong nhà cũng không còn gì để bán. Cùng tất biến. Biến tất thông. Thông tất thái. Tôi nghĩ như vậy rồi nhen nhúm trong đầu tôi hai chữ “vượt biên” mặc dù ba tôi luôn căn dặn “Cuộc sống có thế nào, đã có ba. Con không được vượt biên. Nguy hiểm lắm”. Nhưng tôi đã cãi lời cha, bằng mọi cách, một mình, tôi tìm đường ra đi với hai bàn tay …đen! Đen, được tôi định nghĩa chẳng những trắng tay còn mang theo hai món nợ: Món nợ ân tình của cha tôi, và món nợ bố chồng tôi vay chưa trả. May mắn cho tôi, tôi vượt biên chỉ một lần là trót lọt.

Bây giờ thì tôi đang định cư tại Thụy Sĩ. Một đất nước hiền hòa, êm đềm, “nhỏ mà ngon”, nhờ ơn Trời Phật tôi hưởng ké phúc lộc của đất nước này. Chỉ hơi buồn vắng vẻ làm tôi hay nhớ quê hương nhất là nhớ ân tình của ba tôi.

Ba tôi vậy đó. Rất hiền lành, nhân từ, sâu sắc. Tình cảm trong ông không thể hiện bằng lời. Ông vốn ít nói, nhưng khi nói rất thâm thúy, khiến tôi thường suy gẫm và coi như… danh ngôn: “Trong cuộc sống của ba, ai đối xử với ba thế nào, ba biết. Ai lấy của của ba, ba cũng biết. Nhưng ba không nói, ba chỉ cười thôi. Ba cười vì ba thấy ba có phúc. Mình có phúc mới có của cho người ta lấy. Vô phúc mới đi lấy của của người ta. Vậy các con chọn đi. Làm người bị mất của hay là người lấy của”. Câu nói này làm tôi nhớ đến lời thuyết giảng của Thầy Thiện Huệ: “Thà làm người đẩy xe, còn hơn ngồi xe lăn cho người ta đẩy”. Hoặc một lần, do tuổi tác cao, với tư cách đại diện hội cao niên, ba tôi được nhà nước cộng sản mời tham dự cuộc họp tham khảo ý kiến dân, ba phát biểu làm người nghe phải ngẩn tò te: “Tôi nhận thấy nhà nước ta cái gì cũng giỏi, nói rất hay, hứa rất hay và làm gì cũng rất hay. Chỉ có điều, tôi thật đáng tiếc, nhà nước lại DẤU dân. Tôi vào Nam, cả đời vất vả mới tạo nên tài sản, còn nhà nước mới thoáng chốc mà ai cũng có nhà cao cửa rộng, giàu có, thế sao không chỉ cho dân làm giàu với mà lại…dấu dân!”

Bây giờ ba tôi đã 96 tuổi. Da dẻ ba vẫn hồng hào tươi nhuận. Thời gian dường như luôn giữ ba ở mức tuổi 80. Hằng năm, tôi vẫn về thăm cha, lòng thật vui khi thấy cha khỏe mạnh vui cảnh điền viên tẩn mẩn như một vị sư thư thái nhẹ nhàng cầm chổi quét sân chùa, quét những chiếc lá khô túm vào một góc. Tẩn mẩn sửa lại hàng giậu của giàn mồng tơi, tỉa những chậu cây cảnh, rải thóc gạo nuôi chim… Có hôm, buổi sáng tôi còn ngủ nướng, ông đánh thức tôi dậy, bưng cho tôi một tô phở ăn liền có đầy đủ thịt bò, rau, giá… do chính ông nấu. Có lần cách đây 2 năm, khi ba tôi 94 tuổi, cũng buổi sáng khi tôi còn ngủ nướng, ông cũng đánh thức tôi dậy để sai tôi mua ít gia vị cho ông làm món gà hầm. Chao ôi, tôi không ngờ, từng tuổi đó, ba tôi có thể đun nước sôi, cắt tiết gà, lặt lông… rồi tẩn mẩn bày biện nấu món này món kia để đãi con gái. Tôi vừa mừng vừa cảm động. Mừng vì thấy cha còn minh mẫn. Cảm động vì tôi vẫn được cha cưng. Cha còn khoe với tôi tập hồi ký viết dở dang, nét chữ ngoằn ngoèo xiêu vẹo kể về cuộc đời gian truân của ông với hai bàn tay trắng lưu lạc từ Bắc vào Nam. Tôi cười, nói với cha: “Ba cố viết cho xong đi, đưa bản thảo cho con, con sẽ gởi đăng ở báo Viên Giác. Tuổi già động não cũng tốt. Vận động tay chân một chút cho thư giãn gân cốt cũng tốt. Nhưng với con, nếu ba nghỉ ngơi đừng làm gì hết vẫn tốt hơn”.

Trong phố, ba tôi được tiếng hào sảng, hay thương người, đóng góp rất nhiều trong công tác từ thiện. Ở tuổi 90, ông còn về Bắc đích thân trông coi xây cất từ đường gia tộc, tậu nghĩa trang cho dòng họ, tu bổ đình làng, miếu đền… Suốt đời của cha, ông luôn là người thích gánh vác với tinh thần trách nhiệm cao.

Còn tôi, tôi luôn nhớ ơn cha. Khắc cốt ghi tâm những tình cảm sâu đậm cha dành cho tôi. Và tôi cũng vui đã thực hiện tất cả nguyện vọng trong đời của cha coi như đền đáp phần nào công ơn sinh thành dưỡng dục và nhất là cha đã đến với tôi trong những tháng ngày tôi gian khổ cùng cực nhất.

Mỗi lần về Việt Nam, trước khi trở lại Thụy Sĩ, bắt chước cha ngày nào, tôi thường xiết tay cha, xòe 5 ngón tay cha ra và trang trọng đặt vào đó một phong bì như ngày nào cha đã đặt vào tay tôi để thấy niềm vui xôn xao ánh lên trong mắt cha không hẳn vì phong bì mà vì có một người con hiểu và giống mình.

 
Vu Lan 2010.

Trần Thị Nhật Hưng
Người chuyển bài - vhp Hạ Vũ
 

_

 

 

Sunday, November 1, 2015

Mẹ Một Đời Bên Nhánh Sông - Thuyên Huy


Mẹ Một Đời Bên Nhánh Sông

Để nhớ người mẹ nghèo bên nhánh sông Vàm làng Long Thuận

 


 
 
 
 
 
 
 
 
Lầm lũi tháng ngày bên nhánh sông
Buồn theo từng con sóng ngược dòng

Mẹ đếm tuổi đời trong đơn lẻ
Chăn mòn chiếu lạnh những mùa đông

 
Ôm mái chèo lơi đội nắng chiều

Xuồng nghèo bông súng úa buồn theo

Nhà trơ vách trống mùa nước lớn
Dầu cạn tối  đèn gió hắt hiu

 

Đêm nghe tiếng sóng vỗ xô bờ
Lạnh lùng như tượng đá chơ vơ

Mẹ ôm con khóc giòng lệ muộn
Sông lặng lẽ chờ tiếng ầu ơ

 

Mẹ chậm dắt tay con đến trường
Đê dài thơ thẩn sáng mù sương

Bên sông trâm bầu mùa hoa nở
Mẹ cười nhìn đâu đó cuối đường

 

Ngày tiếp nối ngày bên nhánh sông
Chôn kín tình riêng một nổi lòng

Nón nghiêng rách hứng chiều nắng tím
Mẹ che con ngủ giữa chợ đông

 

Rồi con lớn dần con bỏ đi
Đi xa lâu lắm chưa lần về

Dặm trường định mạng đời lăn lóc
Mẹ vẫn xuồng chèo nhánh sông quê

 
Thuyên Huy

 

 

 

 

Chờ Anh Cùng Đến - Phượng Tím & Nếu Có Em Về - Sự Cà Lí Lơn


CHỜ ANH CÙNG ĐẾN  

 


 
 
 
 
 
 
 

Cảm tác nhân đọc bài Nếu Em Có Về của Sự Cà Lí Lơn


Sao anh khéo bịa chuyện đời
Halloween lễ hội cho vui thôi mà

Cali Texas đâu xa?
Chuyến bay ngắn ngủn, mình đà gặp nhau

Em chừ trước vẫn như sau
Chúng mình còn nợ làm sao chầu trời?

Trời có gọi... cũng xin thôi
Chờ anh cùng đến có đôi thiên đàng...

 1/11/2015

Phượng tím

 NẾU EM CÓ VỀ  

 Halloween nếu em về
Xin em báo mộng số đề được không
Cho đời anh chút màu hồng
Chớ sao đen thủi như mông da màu
Đánh đầu thì xổ ra sau
Bao lô toàn lỗ kiếm đâu tiền lời
Lời bàn ngọt lắm em ơi 
Nghe theo ôm thử bán trời mà chung
Nợ đòi nẫu dí tứ tung
Trốn chui trốn nhủi lên rừng đốt than
Tưởng đâu mạt vận cùng đàng
Ai ngờ trúng mánh đãi vàng  giàu to
"Cây" nhiều sức mấy mà lo
Mua tàu vượt biển tự do đi tìm
Tài hay đâu có bằng hên
Một lèo tới đảo lênh đênh ba ngày
Gặp thằng bạn "mẽo" Ramsay 
Ở tù Yên Bái giờ đây "thanh trừng" (*)
Què giò nhưng vẫn còn xung
Tiếng Việt nó nói gọn bưng bắc kỳ...
Chuyện đời ngang trái lắm khi
Anh vừa tới Mỹ em đi chầu trời
Âm dương cách biệt hai nơi
Lâu rồi không biết "nợ đời" ra răng

 Sự Cà Lí Lơn
 (TX. 29-10-2015)
 (*) thanh lọc.

 

Cô Áo Lụa Hồng - Thạch Lam


Cô Áo Lụa Hồng
 

 
   
    Hiệp đi thong thả trong phố, mũ đội lệch, miệng ngậm thuốc lá. Chàng vừa đi vừa nhìn đám người qua lại tấp nập dưới bóng nắng ấm của sáng mùa thu. Thỉnh thoảng, Hiệp đứng dừng lại trước một cửa hiệu bán đồ trang sức, anh ta sung sướng ngắm nghía những cái mũ phớt mềm mại, những dây lưng đẹp đẽ và những cà vát lụa nhiều màu rực rỡ. Tuy không có tiền để mua những thứ đó, nhưng trông ngắm không cũng đủ cho Hiệp hưởng mấy cái vui thú của những cuộc đi chơi phiếm.

Nhất là những cuộc đi chơi của Hiệp lại còn có một mục đích khác nữa. Cứ mỗi buổi sáng chủ nhật, anh ta thắng bộ, nói là đi chơi mát, nhưng chính thực ra chỉ cố để trông ngắm các thiếu nữ Hà thành. Sự kinh nghiệm đã bảo cho chàng biết rằng chủ nhật là cái buổi ở trong phố có lắm các tiểu thư nhất. Giờ các cô đi sắm sửa quần áo và phấn sáp, nước hoa, một công việc mà Hiệp cho là hợp với tính cách người thiếu nữ hơn cả. Chính cái sung sướng của Hiệp là được trông thấy một cô thiếu nữ xinh xắn đứng chọn các hàng mẫu để may áo kiểu mới, hay là chọn các thứ phấn và nước hoa đựng trong những cái hộp đẹp đẽ.

Có khi chàng đứng lặng hàng giờ, hay suốt cả buổi sáng trước một cửa hiệu bán tơ lụa để nhìn các cô thiếu nữ mua hàng. Chàng nhìn những mái tóc đen nhánh che lấp vành tai hồng hồng và xinh xắn, những sợ tóc mai lơ thơ trên má phơn phớt, những tấm thân mềm mại hay những tà áo màu tha thướt. Nếu có một cô nào tươi đẹp đi ra là Hiệp đi theo liền...Đi theo xa xa thôi, mà đi theo một cách kín đáo, không cho thiếu nữ biết. Có khi cứ như thế đi hết phố nọ sang phố kia, rồi đến khi thiếu nữ vào nhà, Hiệp ta còn đứng tẩn ngẩn ở ngoài hè... Nhưng rồi anh ta cũng thấy cái vô vị của sự đứng như thế không có lợi gì. Vì thiếu nữ có biết anh ta theo đâu, mà dầu có biết nữa, chắc cô ta cũng không để ý.

Nhiều lần, theo sau một c
ô
thiếu nữ xinh xắn một thôi đường cũng khá mỏi chân, Hiệp chỉ muốn tiến lên tìm cách làm quen hay nói chuyện với thiếu nữ. Nhưng cái tính rụt rè làm cho Hiệp, khi sắp sửa nói, lại ngượng nghịu, tự thấy câu mình sắp nói không có ý nghĩa gì hết. Thành thử, dưới đôi con mắt ngạc nhiên của thiếu nữ, Hiệp lúng túng rồi lại lùi xuống giữ cái địa vị đi theo như cũ.

Đã nhiều lần Hiệp tự tức mình về cái tính rụt rè ấy. Chàng thấy những anh bạn tự nhiên gợi chuyện với một thiếu nữ chưa từng quen biết ở ngoài phố một cách rất dễ dàng: chàng lẩm bẩm tự cho mình là hèn, nhát, và nhất định lần sau thì sẽ can đảm và mạnh bạo hơn nữa.

Nghĩ như vậy, Hiệp thổi sáo ở giữa phố để lấy cái vẻ dung dị, không cần gì ai, mà chàng thấy các anh em bạn vẫn có, rồi rảo bước đi mạnh về phía bờ hồ. Chợt chàng đứng dừng ngay lại: một thiếu nữ rẽ đầu xuống phố hàng Gai ra, vừa gặp Hiệp đưa mắt lên nhìn. Một luồng điện như truyền khắp từ đầu đến chân, Hiệp không nhìn thấy gì nữa, chỉ thấy đôi mắt đen nhánh của thiếu nữ và cái màu hồng của tấm áo. Thật chưa bao giờ Hiệp thấy một cô thiếu nữ xinh đẹp như thế! Anh ta cứ bàng hoàng đứng ngẩn người ra như phỗng, quên mất cả cái lễ phép tránh sang một bên để nhường lối cho thiếu nữ đi. Đến khi cô kia đưa cặp mắt ngạc nhiên nhìn anh ta lần nữa, mỉm cười như có ý chế nhạo rồi quay đi, Hiệp mới hoàn hồn, bước theo sau thiếu nữ.

Tấm áo lụa hồng phấp phới bay theo chiều gió, thiếu nữ có một cái dáng điệu mềm mại, khiến Hiệp lấy làm sung sướng rằng đã được gặp một người đẹp. Chàng nhất đinh lần này không để lỡ mất dịp tốt, vừa theo vừa nghĩ kế làm quen với thiếu nữ.

Có lẽ thiếu nữ cũng biết anh ta theo, nên thỉnh thỏang nàng quay lại nhìn Hiệp mỉm cười. Qua phố hàng Ngang, hàng Đường, chợ Đồng Xuân... thiếu nữ rẽ qua hàng Lược, rồi đứng dừng lại trên hè, ngơ ngác nhìn hai dãy phố như người tìm số nhà.

Cố thu hết can đảm trong người, Hiệp bước rảo đến trước mặt thiếu nữ. Chàng ngả mũ chào rất lễ phép:
- Thưa cô... thưa cô...
Thiếu nữ ngẩng lên nhìn Hiệp, lặng yên đứng đợi.
- Thưa cô... thưa cô...
Tự nhiên cái can đảm của Hiệp đi đâu mất ca, Hiệp thấy bối rối, mặt nóng bừng, quên mất không nói câu gì nữa...

Thấy cái vẻ lúng túng của Hiệp, thiếu nữ như có ý thương hại. Đột ngột nàng hỏi :
- Anh Tân đấy à?

Hiệp đứng ngây người ra một lát. Nhưng một ý nghĩ thoáng qua trong óc Hiệp, một cách có thể thoát khỏi cái thời khắc ngượng nghịu, Hiệp liền liều trả lời :

- Vâng... chính tôi...
Thiếu nữ bỗng có vẻ vồn vã, ân cần, bước lại gần Hiệp, nói :

- Chết chửa! Thế mà tôi không nhận ra đấy. Trông bây giờ anh khác hẳn trước kia, nhớn hơn nhiều...

Rồi nàng chúm chím đôi môi đỏ :
- Mà từ độ ấy đến bây giờ, làm gì anh chẳng nhớn...thưa anh, hai cụ nhà ta vẫn được mạnh giỏi đấy chứ?

Đã chót thì phải chét, Hiệp ngập ngừng trả lời:
- Vâng cám ơn cô, thầy mẹ tôi vẫn được bình thường...

Hiệp hơi lo, chỉ sợ cô ta biết là nhầm không phải, thì thật là bẽn. Nhưng thiếu nữ như không để ý đến cái vẻ lúng túng của Hiệp, cứ điềm nhiên nói tiếp :

- Từ độ anh thôi học trở về, bà tôi vẫn có ý nhớ, thường nhắc đến anh luôn và cứ mong anh ra chơi. Chắc anh ở nhà quê cũng bận lắm đấy nhỉ?

Lần này Hiệp không còn lo nữa. Anh đoán già rằng chắc cậu Tân nào đó trước có ở trọ học nhà cô này, rồi về quê nghỉ, mà nghỉ cũng lâu nên bây giờ cô ta mới nhận nhầm được. Chàng vững dạ, mỉm một nụ cười rất xinh rồi nói :

- Vâng, khi ở nhà quê tôi cũng bận công việc lắm, chẳng đi đến đâu được. Nhớ bà và nhớ... cô quá, lắm lúc muốn ra hỏi thăm nhưng không sao mà rứt ra được...
Thiếu nữ đưa đôi mắt đen lánh nhìn Hiệp rồi thân mật trách :

- Anh thật tệ quá! Lên Hà Nội mà cũng không đến thăm em. Anh không nhớ đến em sao? Hay anh quên em rồi?

Thiếu nữ cúi xuống mỉm cười. Hiệp cảm động trong lòng, âu yếm và lấy giọng dịu dàng :
- Không, tôi không quên em...à, quên cô đâu... không bao giờ tôi quên được...
Chàng cảm động thật, cảm động vì đôi mắt trong của thiếu nữ, đôi mắt tình tứ ngây thơ. Càng trông Hiệp càng thấy thiếu nữ đẹp, nhất là cái miệng xinh xắn, có duyên, chúm chím như tinh nghịch.

Hai người vừa đi vừa nói chuyện. Câu chuyện mỗi lúc thêm thân mật, như hai người bạn cũ gặp nhau. Hiệp đóng vai anh Tân nào đó thật là hoàn toàn, trả lời một cách kín đáo... Có khi Hiệp cũng ngập ngừng về một câu nói, nhưng thiếu nữ hình như vui mừng gặp người cũ, không để ý đến gì cả.

Đến lúc chia tay, anh ta đã biết rõ thiếu nữ là Lan, lưu học sinh trường nữ sư phạm. Anh ta lại biết cả số nhà ở hàng Lược và lại được cô hẹn đến chủ nhật sau đến cửa trường học đón cô đi chơi.

Lúc trở về, Hiệp thấy bước chân nhẹ nhàng như người bay. Anh sung sướng tự khen mình đã bỏ được cái tính rụt rè và cảm ơn thầm cái anh Tân nào đó đã cho anh cái dịp làm quen với một thiếu nữ xinh đẹp như thế.

Nhưng Hiệp vẫn có một điều lo: chàng chỉ sợ Lan biết chàng không phải là Tân thì thật rầy rà, chàng lo sợ nghĩ đến lúc Lan mời đến nhà chơi, tuy trong những lúc nói chuyện, Hiệp không thấy Lan đả động gì đến việc ấy cả.

Tuy vậy, Hiệp cũng nhất định nói thật cho Lan biết, một phần vì chàng biết trước không giấu được mãi, một phần vì chàng chắc rằng Lan đối với chàng cũng sẽ tha thứ cho cái sự giả dối bất đắc dĩ ấy.

Hôm ấy gặp Lan, Hiệp cảm động, hồi hộp, cầm tay Lan rồi lưỡng lự nói:
- Em Lan, anh có câu chuyện muốn nói với em...

Lan nhìn Hiệp, chớp mắt nhanh, như nghĩ ngợi một chút, rồi mỉm cười cũng nói:
- Anh Tân, em cũng có câu chuyên muốn nói với anh...

- Chuyện gì, em cứ nói đi.
- Không, anh nói trước.
Hiệp lại ngập ngừng:
- Câu chuyện của anh... em tha thứ cho nhé. Hôm ấy, anh đã nói dối em, vì anh...không phải là Tân!
Lan cười ròn vui vẻ, đáp:
- Em cũng không phải là Lan!
Thấy Hiệp mở to đôi mắt, ra dáng không hiểu, nàng tiếp thêm:
- Em không phải là Lan của anh Tân, mà của anh cơ! Nghĩa là... em biết anh không phải là Tân.
- Em biết?
- Vâng.
Hiệp ngơ ngác; chàng hỏi :
- Thế là làm sao? Anh không hiểu.
Lan lấy tay che miệng, giảng :
- Có gì đâu. Hôm ấy em thấy anh cứ lúng túng mãi, nên em mới giả vờ hỏi thế cho anh đỡ ngượng, chứ có anh Tân, anh Tiếc nào đâu. Hiệp chợt hiểu, vui vẻ cười.

Một lát, Hiệp sung sướng hỏi :
- Thế em biết anh? Em yêu anh?
- Lan đưa đôi mắt đen láy, ngây thơ nhìn Hiệp :
- Không, em chỉ biết anh theo em, chứ không quen biết anh bao giờ, nhưng em thấy anh cứ ấp úng mãi không nói được câu gì, em thương hại.
Thạch Lam