Sunday, December 11, 2016

Uwe Sieman - Netto Và Chiến Tranh Việt Nam - Bs Hoàng Thị Mỹ Lâm


Uwe Siemon-Netto và Chiến Tranh Việt Nam

 

    Cuốn sách nguyên bản dày 306 trang với tựa đề “Duc, der Deutsche – Mein Vietnam. Warum die Falschen siegten “, đã từng được các dịch giả Lý Văn Quý & Nguyễn Hiền dịch lại với tựa đề “Vinh Quang của sự Phi Lý – Tình yêu của một phóng viên cho dân tộc Việt Nam bị bỏ rơi“, do chính tác giả Uwe Siemon-Netto trong dịp đến Berlin nói chuyện với Cộng Đồng Tỵ Nạn Việt Nam ký tặng đề ngày 23.03.2014, được trân trọng để riêng trong tủ sách quý gia đình từ bấy lâu nay. Mỗi lần lấy sách ra đọc lại tôi vẫn cảm thấy xúc động trước sự đồng cảm, sự trân trọng quý mến dân tộc Việt Nam bị tổn thương và phản bội trong dư luận quốc tế.

Tuy bản dịch tiếng Việt rất công phu nhưng nguyên bản mới diễn tả được sự điêu luyện sắc sảo trong lời văn ngôn từ và kỹ năng của người viết. Thoạt nhìn hình bìa thì ai cũng tưởng đó chỉ là là một cuốn sách viết về một đề tài chiến tranh khô khan, nhưng khi đọc người ta mới cảm nhận được sự thật kinh hoàng của chiến tranh Việt Nam dưới cái nhìn của một Phóng Viên Chiến Trường có lương tâm nghề nghiệp và sự ấm áp tình người của một người từng đồng hành đồng khổ với người Việt miền Nam trong trận chiến đó.

Ông Siemon-Netto là người Đức, sanh ngày 25.10.1936 và có một thời thơ ấu hồn nhiên ở Leipzig. Thân mẫu của ông là một Ca Sĩ Hợp Xướng sau này sống ở Frankfurt. Ông khởi nghiệp làm Phóng Viên Hải Ngoại ở Luân Đôn cho hãng truyền thông Đức Axel-Springer. Tại đây ông gặp người bạn đời Gillian vào năm 1962, một cô gái người Anh vừa đẹp tính lại vừa đẹp người. Hai người đã làm đám cưới vào cuối năm đó khi ông vừa 26 tuổi . Ngay sau đám cưới ông được hãng thuyên chuyển sang New York làm Phóng viên chuyên về phóng sự chính trị tại Liên Hiệp Quốc. Ba năm sau, đầu năm 1965 ,ông đặt chân lần đầu đến Saigon với nhiệm vụ Phóng Viên chiến trường cho Axel Springer và tiếp tục đây đến cuối năm 1969.

Cuốn sách”Duc, der Deutsche “là một hồi ký, là những mảng ký ức sống động được chép lại năm 2014 khi ông đã trở thành một Nhà Thần Học Tin Lành. Cũng nên nhắc lại là sau khi bỏ nghiệp nhà báo, ông Siemon-Netto đã theo học về Thần Học và chuyển sang làm nghề Chăm Sóc Tâm Linh cho các Cựu Chiến Binh đã tham chiến Việt Nam tại Hoa Kỳ. Năm 1992 ông trình Luận Án Tiến Sĩ về Thần Học và Xã Hội Tôn Giáo tại Đại Học Boston.

Xuyên suốt cuốn sách có một câu tuyên bố của Đại Tướng Cộng Sản Việt Nam Võ Nguyên Giáp được Siemon-Netto nhắc đi nhắc lại nhiều lần là: “kẻ thù ( nghĩa là kẻ Phương Tây ).. không có khả năng về tâm lý và chính trị để chịu đưng một cuộc chiến tranh trường kỳ “, và đó cũng là cái cốt lõi và phương châm của Cộng Sản Việt Nam để liên tục khiêu chiến và duy trì cuộc chiến kinh hoàng với mục đích tối hậu là áp đật chế độ Cộng Sản lên toàn cõi Việt Nam.

Siemon-Netto đã chỉ trích nặng lời với gíới chính trị Phương Tây là đã bỏ qua lời khuyên của Sir Robert G.K. Thompson, một chuyên viên người Anh về Chiến Tranh Du Kích đã rời Việt Nam vào năm 1965 vì Cơ Quan Tư Vấn của ông bị đóng cửa. Theo chiến thuật của Sir Thompson thì chính việc loại bỏ những tên Cộng Sản Nằm Vùng quan trọng hơn là việc diệt trừ những tên Cộng Sản Du Kích trong rừng sâu. Phương thức “Clear and hold “là làm sạch mầm móng Cộng Sản nằm vùng (clear) thì dân chúng địa phương tại đó sẽ đứng về phe chính phủ (hold ).Một hệ thống Cảnh Sát và Tình Báo hữu hiệu là yếu tố quyết định cho sự thành công của chiến thuật này. Trong chương 3 Siemon-Netto nêu lên sự thành công của một Ấp Chiến lược năm 1965 của Đại Úy Ngữ ở làng Long Khốt, cách Saigon 137km về hướng tây gần biên giới Căm Bốt, hình thành đúng theo chiến thuật Thompson với lực lượng Nhân Dân Tự Vệ bén nhạy và ông đã tỏ lòng hết sức kính phục vị Đại Úy Việt Nam này.

Sự bỏ qua chiến lược này đã đưa đến những cái chết thảm thương của những người quốc gia chân chính sinh sống nơi xa xôi. Trong chương 5 Siemon Netto ghi lại một hình ảnh kinh hoàng của một gia đình Xã Trưởng gồm 14 người bị du kích Việt Cộng hành hình ở vùng Tây Nguyên xa xôi trước mắt dân làng như môt hăm dọa cho ai không theo Cộng : họ từ từ giết cháu nhỏ nhất trước rồi tới các cháu lớn, kế đó là vợ rồi ông Xã trưởng ; sự kinh hoàng không ngừng ở đó mà Việt Cộng đã hành hình vị Xã Trưởng bằng cách cắt lưỡi rồi cắt bộ phận sinh dục nhét vào miệng trước khi treo cổ ; các người con trai của ông ta chỉ bị cắt bộ phân sinh dục trước khi bị treo cổ. Người vợ và cô con gái thì bị xẻ vú trước khi treo cổ. Sự dã man này được thực hiện như người ta thi hành một bản án thường nhật.

Trong một chương khác Siemon Netto nhắc lại ánh mắt căm thù sắt máu của những bộ đội Bắc việt đối với bà Monika Schwinn, một nữ Y Tá người Tây Đức bị bắt khi đang phục vụ tai Việt nam trong chương trình nhân đạo của Malteser , trên đường dẫn độ ra Bắc trên con đường mòn Hồ Chí Minh. Là một nhà Thần Học ông biết lòng căm thù và thú tính giết ngừơi không phải tự trời sanh ra. Sự căm thù cũng như thú tính giết người này phải được gieo vào tim vào óc những binh sĩ trẻ Bắc việt với một khuôn phép giáo dục đặc biệt mà chỉ có dưới chủ nghĩa độc tài toàn trị.

Trong chương 8 ông nhắc lại bài báo “Đồng cỏ nhuộm đỏ“ của mình đăng trên Die Welt ngày 13.12.1965 mô tả hiện trường sau một cuộc giao tranh ác liệt giữa Quân Đội Bắc Việt và Quân Đội Hoa Kỳ. Hàng trăm xác chết Việt Cộng phơi thây máu nhuộm đỏ cả bãi cỏ voi cao cả mét. Quân nhân Hoa Kỳ tử trận hay bị thương đã được di tản bằng máy bay trực thăng. Khi khám nghiệm hiện vật trong túi áo quần và ba-lô các tử thi Bộ Đội người ta mới phát giác được nhiều tử thi chỉ mới 15 tuổi. Trong ba lô chứa những bộ quần áo sạch xếp ngay ngắn hình như từ bàn tay của những người mẹ từ Vinh, Hải Phòng hay Hà Nội ; có một số ba-lô dấu những tờ truyền đơn kêu gọi hồi chánh của Miền Nam. Sau khi kiểm soát người ta thấy có đến một phần tư các binh sĩ trẻ em mang tờ truyền đơn này trong người để chuẩn bị cơ hội đầu hàng ; nhưng cơ hội lớn của các em không dễ tìm ,vì chỉ cần một động thái khả nghi là các em sẽ bị đồng đội bắn ngay vào lưng.

Ngược lại Siemon –Netto cho người đọc thấy hình ảnh của những anh chàng GIs. Họ là những thanh niên còn quá trẻ để được phép uống bia rượu, nhưng đủ già dặn để đi quân dịch đem mạng sống giao cho rừng thẳm xa xôi. Phần lớn họ chỉ vừa đúng 18 tuổi và phải làm nhiệm vụ công dân. Những thanh niên này ngoài chút kiến thức căn bản về vũ khí chiến thuật, họ không được chuẩn bị tâm lý để đối phó với những sự tàn độc của quỷ dữ. Trong một cuộc hành quân chung ở An Khê ông đã chứng kiến một cái chết của một thanh niên Hoa Kỳ 17 tuổi, viên đạn Kalaschnikow kẹt trong lá phổi của anh ta, anh ta nằm trong cơn hấp hối như một đứa trẻ thơ , anh ta gọi mẹ rồi kêu trời. Đó là một trong nhiều cái chết của những người lính trẻ mà Siemon-Netto đã chứng kiến. Trước khi chết họ thường gọi mẹ và kêu trời và phần lớn là theo thứ tự đó.

Sự tàn ác sâu độc của Việt Cộng còn được kể lại trong trận đánh tái chiếm Huế sau tết Mậu Thân. Khi những tay súng Việt Cộng nấp sau các cửa sổ phía bên bờ bắc sông Hương nã súng liên tục vào đoàn quân trong đó có Siemon-Netto đi theo, một binh sĩ Hoa Kỳ đã ném được một quả lựu đạn lọt qua một trong những cửa sổ ấy. Lựu đạn nổ. Tất cả trở thành im lặng. Đoàn quân reo vui vì nghĩ là đã đã hủy được mục tiêu. Nhưng cánh cửa chính bỗng bật mở, một người đàn bà trẻ bước ra, tay giơ lên xác một đứa trẻ đẫm máu. Anh chàng quăng lựu đạn hồi nãy chợt lên cơn khủng hoảng:”Trời ơi, tôi đã làm gì ? tôi đã giết một đứa trẻ. Trời hãy cứu tôi, trời ơi, trời ơi.. “anh ta quay cuồng, trong khi lính Bắc Việt từ những cửa sổ khác tiếp tục nã đạn vào phía chúng tôi. Ngừơi Trung Đội Trưởng phải dùng sức đè anh lính xuống và sau đó cho anh rút ra khỏi vòng chiến. Người binh sĩ này đã bị hủy hoại linh hồn và có thể bị tổn thương tâm linh vĩnh viễn.

Trong cuộc chiến tranh tàn nhẫn đó Siemon –Netto đã phân tích sự độc ác một cách khách quan là: trong khi Bắc Việt xem việc giết người là một một nhiệm vụ thi hành một chỉ đạo một quyết định tối hậu của nhà cầm quyền, kẻ giết người được ân thưởng tuyên dương công trạng. Còn người Mỹ xem chuyện giết người, điển hình là vụ Mỹ Lai, là một vi phạm pháp luật phải được nghiêm minh xét xử trước tòa án. Nhiều nhà báo quốc tế đã vô tình hoặc cố ý bỏ qua sự khác biệt về căn bản đạo đức này, khiến cho nhiều binh sĩ Hoa Kỳ khi giải ngũ về nước bị công dân Hoa Kỳ sỉ vả và bị làm tổn thương tinh thần trong suốt cuộc đời.

Siemon-Netto cũng phân tích tại sao chế độ Dân Chủ không đủ sức chịu đựng áp lực tâm lý và chính trị để chống lại cuộc chiến Partisan như Võ Nguyên Giáp đã tuyên bố. Nguyên do là chỉ vì nền Dân Chủ khác với Độc Tài ở điểm Hệ thống Dân Chủ lệ thuộc vào Cử Tri. Nhưng ai là kẻ đem tin tức đến Cử Tri. Chính là giới truyền thông. Và khi giới truyền thông loan truyền là sự kiên trì trong cuộc chiến tranh vũ khí không xứng đáng để kéo dài vì người được bảo vệ không đáng được bảo vệ. Như vậy là cuộc chiến phải chấm dứt, nếu cần thì thua thiệt cũng phải chấp nhận. Thế là Giáp thắng cuộc !.

Siemon-Netto lên án cực liệt giới truyền thông thuộc lớp trẻ, dưới ảnh hưởng của phong trào Hiện Sinh thập kỷ 1960, đã bóp méo hình ảnh chiến tranh Việt Nam đúng theo sự mong đợi như lời tuyên bố của Giáp:“ Chiến tranh Việt Nam sẽ được đưa tới tận phòng khách từng nhà mỗi gia đình Mỹ “. Giáp khẳng định : “giới truyền thông Mỹ sẽ là một yếu tố quyết định trong sự thắng thế của Bắc Việt”. Điển hình là cảnh một đoàn quay phim ba người của một đài truyền hình Hoa Kỳ đứng bên cạnh một ngôi mộ tập thể ở Huế. Ngôi mộ này vừa mới được phát hiện sau trận đánh Mậu Thân. Tìm ra do những ngón tay còn sơn móng đỏ giơ ra khỏi mặt đất của những người đàn bà đã bị chôn sống khi đang cố bươi cào ra khỏi hố đất. Đoàn quay phim đứng hờ hững bên cạnh mộ và không có ý quay phim. Có người hỏi tại sao, thì họ trả lời: “Chúng tôi không đến đây để quay phim tuyên truyền chống Cộng Sản !!“.

Nhắc về Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, Siemon-Netto trách đám nhà báo đồng nghiệp chỉ luôn đi theo hành quân với quân đội Hoa Kỳ hoặc quân đội Đồng Minh và gửi những hình của các Quân nhân này ra quốc tế, mà quên hẳn đi hàng quân tinh nhuệ đã bảo vệ quê hương họ cho tới những giờ phút cuối cùng trước khi mất Saigon ngày 30.4.1975. Ông ca ngợi những gương anh hùng quân đội : Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Phạm Văn Phú.. là những nhân vật mà ông đã từng gặp trên đường nghiệp vụ và giờ đây họ đã đi vào lịch sử.

Siemon-Netto yêu thương từ đứa trẻ bụi đời trên đường phố, đến thân phận những người đàn bà trong chiến tranh…Trong cuốn sách còn chứa đựng rất nhiều, về con người văn hóa lịch sử Việt Nam , về cái chết của vợ chồng Bác Sĩ người Đức Krainik và hai đồng nghiệp của họ: Alois Alteköster, Raimund Discher trong vụ tàn sát Mậu Thân Huế.

Trong vài hàng giới thiệu này tôi không thể chuyển tải tất cả chi tiết trung thực và đứng đắn trong cuốn sách của Siemon-Netto, người mang sứ mạng cao cả của Nhà Báo và của nhà Thần Học để trải lòng viết ra cuốn sách có giá trị lịch sử này. Tôi thiết nghĩ và cầu mong cuốn sách này sẽ là cuốn sách kinh điển để lại cho thế hệ mai sau một cái nhìn trung thực và có lương tâm về cuộc chiến Việt Nam. Các bậc phụ huynh của những thế hệ sanh sau cuộc chiến hãy khuyến khích con cháu tìm đọc cuốn sách này để hiểu chính xác về chiến tranh Việt Nam. Cuốn sách được chính tay tác giả viết bằng hai thứ tiếng: tiếng Đức như đã nêu từ đầu: “Duc, der Deutsche – Mein Vietnam. Warum die Falschen siegten “ và tiếng Anh đã được xuất bản lần thứ hai là: “Triumph of the Absurd”

Mong lắm thay!!!

BS Hoàng Thị Mỹ Lâm

Berlin, 27.11.2016

 

 

Wednesday, December 7, 2016

Ngày Xuân Đọc Thơ Nguyễn Du: Quỳnh Hải Nguyên Tiêu - Nguyễn Cang


NGÀY XUÂN ĐỌC THƠ NGUYỄN DU:"QUỲNH HẢI NGUYÊN TIÊU"



 
 
瓊海元宵
元夜空庭月滿天
依依不改舊嬋娟
一天春興誰家落
萬里瓊州此夜圓
鴻嶺無家兄弟散
白頭多恨歲時遷
窮途憐汝遙相見
海角天涯三十年。


  (
阮攸)

 
Phiên âm Hán Việt:

 
Quỳnh Hải nguyên tiêu

 
Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên,
Y y bất cải cựu thuyền quyên.
Nhất thiên xuân hứng, thuỳ gia lạc,
Vạn lý Quỳnh Châu thử dạ viên.
Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán,
Bạch đầu đa hận tuế thì thiên.
Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến,
Hải giác thiên nhai tam thập niên.


 
(Nguyễn Du)

    
    Nguyễn Du (阮攸, 1765-1820) sinh ra trong một danh gia vọng tộc, phú quý bậc nhất cuối đời Vua Lê chúa Trịnh. Dinh cơ nhà họ Nguyễn thật đồ sộ, người ăn kẻ ở, ngựa xe, võng lọng vào ra suốt ngày. Cuộc sống sum hợp tưởng bền lâu nào ngờ tai ương biến cố đổ ập xuống khiến gia đình họ Nguyễn tan nát. Việc riêng trong gia đình cộng với vận nước điêu linh đã xô đẩy đời ông vào cảnh phong ba bão táp khiến ông phải lang bạt giang hồ rày đây mai đó trong cảnh nghèo khổ một thời gian dài, ông gọi là "Mười năm gió bụi" (1786-1796). Năm lên mười thì cha ông, Tể Tướng Nguyễn Nghiễm mất,ba năm sau mẹ ông là thứ thất cũng lìa đời. Mồ côi cha lẫn mẹ năm mưòi ba tuổi. Lúc nầy ông buộc lòng phải ra đi sống nương nhờ nhà người anh cả cùng cha khác mẹ là Quận Công Nguyễn Khản, lớn hơn ông 30 tuổi. Được mấy năm thì trong nước có loạn, chúa Trịnh Sâm âm mưu định bỏ trưởng lâp thứ làm sinh ra loạn kiêu binh khiến triều đình bất ổn, dân sinh ta thán. Quân Tam Phủ ỷ có công trong việc giúp người con trưởng là Trịnh Khải giành lại được ngôi chúa (1782)nên đâm ra lộng hành quấy phá, giết hại công thần, cướp của nhà dân, gây biết bao đau khổ. Lúc bấy giờ dinh cơ họ Nguyễn ở phố Bích Câu cũng bị đốt sạch, bản thân Nguyễn Khản cũng phải bỏ chạy về Sơn Tây lánh nạn, còn Nguyễn Du thì về nguyên quán ỏ Hà Tỉnh...

 
Bài thơ được sáng tác trong trường hợp nào?

 
Bài thơ Quỳnh Hải Nguyên Tiêu được sáng tác trong năm cuối của "Mười năm gió bụị". Cuộc sống đói khổ, bịnh hoạn kéo dài ba năm mà không  tiền mua thuốc làm ông suy sụp tinh thần, tam sinh tích bênh bần vô dược. Đối với ông mùa xuân theo lẽ từ trên Trời rơi xuống phải chan đều khắp mọi nhà nhưng sao lại rơi lạc phương trời nào? Ngày 15 Tết, nhiều nhà vui đón xuân , riêng ông chỉ biết thở dài nhìn xuân từ từ đi qua một cách lặng lẽ, có chăng là ánh trăng mờ tỏ của ngày xưa thơ ấu mà thôi. Ông ngắm vầng trăng mà lòng xót thương cho dân nghèo bị cường hào ác bá quấy nhiễu, hành hạ, còn triều đình thì rối ren, ngoại xâm dòm ngó. đồng thời xót thưong cho thân phận của mình, đã ba mươi tuổi đời mà vẫn còn phiêu bạt đó đây, ăn nhờ ở đậu bên vợ. Ngày Tết tác giả nhớ nhà, nhớ cha mẹ amh em, tâm trạng thật buồn, chỉ còn vầng trăng sáng là bạn đến thăm mà thôi. "Trăng" là một biện pháp tu từ hoán dụ thay thế cho người, bạn. Trăng là giống hữu tình, chủ động tìm đến thăm ông trong lúc ông cô đơn. Càm xúc dâng trào nên ông viết lên những vần thơ trác tuyệt.

Bài thơ chữ Hán Quỳnh Hải Nguyên Tiêu mở đầu cho tập thơ Thanh Hiên Tiền Hậu Tập của tiên sinh. Bài thơ nầy không phải sáng tác trứơc mà có sau các bài: Sơn Trung Mạn Hứng, Tự Thán, Khất Thực, trong tập sách kể trên.

Các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam có nhận xét: Truyện Kiều là một kiệt tác của văn học Việt Nam, đựợc viết bằng chữ Nôm nhưng xét cho cùng thì vẫn cón thua thơ chữ Hán của ông. Ngoài tập thơ đó ra ông còn sáng tác các tập thơ khác bằng chữ Hán như: Nam Trung Tạp Ngâm, Thanh Hiên Thi Tập, Bắc Hành Tạp Lục. So với các nhà thơ đời Thịnh Đường bên Trung Quốc,ông đâu có thua gì các bậc thi bá kia! Để kết luận về giá trị nghệ thuật của bài thơ nầy cũng như tài năng của Nguyễn Du, tôi xin trích lời nhận xét của nhà thơ Thảo Nguyên về bài thơ Quỳnh Hải nguyên tiêu:"Bài thơ toàn bích, có bố cục chặt chẽ, đẹp như một viên ngọc. Vớí những ý tưởng hoàn toàn mới lạ,khác hẳn với những bài thơ Đường xưa cũ, có thể nói đây là một trong những bài "thơ trăng" đẹp, lạ nhất của văn học Việt Nam".

 
Dịch nghĩa:

Quỳnh Hải đêm rằm tháng giêng

 
Đêm rằm tháng giêng, sân vắng, trăng sáng đầy trời.
Vầng trăng vẫn đẹp như xưa, không hề thay đổi.
Cả một bầu trờì xuân rơi xuống, nơi cửa ngõ nhà ai?


Chỉ có ánh trăng đêm nay tỏa sáng khắp nẻo Quỳnh Châu xa xôi ngoài nghìn dặm  này
Nơi quê hương Hồng Lĩnh, chẳng còn nhà cửa, anh em  ly tán .
Đầu đã bạc, càng giận cho ngày tháng trôi mau.
Cảm động biết bao, giữa lúc cùng đường, ngươi (trăng) từ xa xăm vẫn tới thăm

Nơi chân trời góc biển, bạn (trăng) đến cùng ta chia nhau buồn vui những ba mưoi năm rồi.

 
Chú thích:

 
1/. Quỳnh Hải tức Quỳnh Châu thuộc trấn Sơn Nam xưa, nay là huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, quê vợ của Nguyễn Du. Năm 1786, sau khi Nguyễn Khản thất lộc, Nguyễn Du lánh nạn về Quỳnh Côi ở nhà anh vơ là Đoàn Nguyễn Tuấn ở xã Hải An (lúc này Lê Chiêu Thống chưa chạy sang Trung Quốc).

2/. Nguyên tiêu: rằm tháng giêng âm lịch, nguòi Tàu làm lễ cúng kiếng rộn rịp.

3/. Thuyền quyên: chỉ dáng đẹp đẻ dễ thương. Nói chung chỉ người lẫn vật nhưng quen dùng chỉ người phụ nữ . Ở đây chỉ mặt trăng.

4/.Hồng Lĩnh: Núi ở Nghệ An. Nguyễn Du có chính quán ở Hà Tỉnh.

 
Dịch thơ:

 
Bản 1

    
Quỳnh Hải đêm rằm tháng giêng

 
Trăng sáng nguyên tiêu sân vắng người
Trăng xưa không đổi vẻ xinh tươi
Trăng treo xuân đến rơi ngoài ngõ
Muôn dặm Quỳnh Châu dạ rối bời
Hồng Lĩnh tan nhà huynh đệ tán
Bạc đầu thêm hận tháng ngày trôi
Đường cùng bạn đến vui mừng gặp
Góc bể chân trời, đã mấy mươi!

 
Nguyễn Cang

 
Bản 2

 Rằm tháng giêng trăng vàng lai láng,
Nghìn xưa không đổi dạng thuyền quyên.
Quỳnh Châu muôn dặm đoàn viên,
Một trời xuân hứng xuân riêng nhà nào?
Cảnh Hồng Lĩnh biết bao ly tán!
Bạc mái đầu ngày tháng đổi thay.
Đường cùng mừng thấy nhau đây,
Phương trời lận đận tuổi đầy ba mươi.


Bản 3

Trăng sáng đầu xuân toả ngập tràn,
Bao giờ trăng chẳng nhạt thuyền quyên.
Một trời xuân hứng nhà ai lạc,
Muôn dặm Quỳnh Châu nguyệt sáng ngần.
Hồng Lĩnh không nhà huynh đệ vắng,
Bạc đầu đa hận tháng ngày nhanh.
Đường cùng trăng vẫn còn soi đến,
Góc biển chân trời, ba chục năm.

 
Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh

 
Nguyễn Cang (6/11/16)

 

 

Qua Cầu Ô Thước Đến Đoạn Trần Kiều - vkp Phượng tím


QUA CẦU Ô THƯỚC ĐẾN ĐOẠN TRẦN KIỀU

                     









Trên trời có đàn quạ đen
Bắt cầu Ô thước nối liền tình yêu
Tây ninh có Đoạn trần kiều (cầu lìa trần)
Đón chờ người đến dắt dìu cõi tiên

*
Mưa ngâu tan rả nợ duyên
Mõi mòn cầu nguyện thiêng liêng nhiệm mầu
Nỗi đau thứ nhất dài lâu
Gặp nhau nối lại tình đầu đắm say
Thu tàn cầu sập quạ bay
Đoạn trường hát khúc chia tay não lòng
Trăm năm một kiếp long đong
Phần đời còn lại sống trong ảo tình

*
Nỗi đau cuối chỉ riêng mình
Bỏ đi biệt... xa bóng hình thương yêu
Đến nơi có Đoạn trần kiều
Quay nhìn quá khứ tiếc nhiều ngày xưa
Không hề chọn cũng chẳng ưa
Hóa công định sẵn có chừa ai đâu!
Thì thôi... chậm bước qua cầu
Sẽ không vướng bận bể dâu bẽ bàng

*
Nếu may còn ở trần gian
Ta vui khơi lại tro tàn giá băng
Ghép liền hai nửa vầng trăng
Sáng soi tình mộng sóng tràn lầu thơ...

 Vkp phượng tím – 02/12/2016

 

 

 

Lá Cóc Rừng - Nguyễn Long


Lá cóc rừng

 


Rất lâu rồi tôi mới có dịp về lại chốn quê xưa, nơi tôi đã sinh ra – Bình Long. Đó là dịp đám cưới đứa cháu, con của người chị ruột. Điều này tôi cứ nói đi nói lại với những người hàng xóm đến phụ giúp gia đình chị tôi trước ngày tiệc cưới. Trong đó có Nguyệt, một cô bé có vẻ lém lỉnh – bạn của cháu gái tôi.
– Cháu nghe cậu nói hoài về chú rất lâu – Nguyệt bắt lỗi – Với cháu, một tháng cũng là lâu…
– 27 năm rồi Nguyệt ạ! Tôi cười.
– Chúa ơi! Tuổi cháu còn thua xa lắc!
– Tôi cũng nghĩ vậy! Dù sao đó cũng không phải là điều tôi muốn nói. Cái chính là rất may ở cao nguyên đất đỏ này còn lại gia đình chị tôi sinh sống, nếu không, 12 năm sinh ra và lớn lên giữa rừng cao su bạt ngàn này với tôi trở thành một kỷ niệm rất mờ nhạt. Cũng có thể sẽ lãng quên…
– Cậu xúc động hả? Nguyệt nhìn vào mắt tôi. Hình như cô bé sẽ thích thú nếu tìm thấy một ngấn lệ. Rất tiếc, điều ấy không xảy ra. Không phải bất cứ ai xúc động cũng rơi nước mắt! Tôi chỉ cúi xuống nhìn chiếc áo trắng bết lấm bụi đỏ.

Bây giờ là tháng hai, mùa khô. Đường đất tơi xốp tung mù bụi đỏ. Chiếc khăn mù xoa tôi lau mặt cũng ố màu đất. Tôi liếm môi cũng chan chát vị đất. Trưa nay, chiếc xe đò thảy tôi xuống cổng vào xã Thanh Lương, người lơ xe nhìn tôi ái ngại: – “Lên đây mà ông “chơi” đồ trắng là hỏng. Về lần đầu hả?” Tôi trả lời lần đầu. Anh ta cười hềnh hệch để lộ hàm răng vàng am khói thuốc: – “Mai mốt về thành phố ra đây đón xe nghe!” Tôi nói cảm ơn! Tôi nhìn con dốc đổ dài, đoán định vị trí nhà người chị. Thật không dễ, chỉ thấy màu xanh cây lá chao động trong cơn nắng trưa bỏng hực. Đi được nửa dốc, mấy đứa cháu trên một gò cao dầy cộm nọc tiêu ào xuống ríu rít. Chỉ khi Nguyệt – vâng! Chính Nguyệt – cô bé đứng bên chái nhà tay cầm rổ hành lá mới rửa cất tiếng: – “Để cậu đi rửa mặt mũi cho mát tụi bây!” – Tôi mới nhận ra mình bẩn, rất bẩn từ đầu đến chân.
– Duyên nó bảo cậu hát hay lắm. Mai đám cưới cậu hát nha? Buổi chiều, lúc tôi đứng nhìn Nguyệt làm thức ăn trong bếp, Nguyệt nói.
– Cháu tôi hay nói tốt về cậu nó. Chính vì vậy đã bao lần tôi phải che mặt…
– Cậu khiêm nhường ha…
– Tôi chỉ nói thật!
Dù nói vậy, trong ngày đám cưới tôi cũng đã hát.

Hay dở không biết, nhưng tôi biết là tôi bị ép rượu đến say mèm. Khi tàn tiệc, tôi loạng choạng đi vào nhà trong, Nguyệt đi theo, kê cho tôi chiếc gối, tháo giúp tôi đôi giầy khi tôi gần như đổ vật trên chiếc giường tre nhỏ, Cô bé xoắn xuýt:
– Để cháu bôi dầu cạo gió cho. Say rượu là hay trúng gió lắm nghe. Cậu còn nhớ ngày mốt mấy cậu cháu mình đi thác số 4 ở Quản Lợi không?
– Nhớ…. Tôi ậm ừ. Đôi mắt nhắm tít. Tôi ngủ như chết. Giá mà người ta đem mổ sống tôi lúc này, tôi cũng không biết đau

Tôi say nhưng qua giấc ngủ đầy là tỉnh. Còn Nguyệt tỉnh, sau đám cưới lại ngã bệnh. Thế là buổi đi thăm thú Quản Lợi đành bỏ. Nguyệt viết cho tôi mấy chữ nhờ đứa bé hàng xóm mang qua – “Cháu ốm, không đi được. Cậu đừng buồn nha!”. Tôi không buồn. Nên tôi qua thăm Nguyệt trước khi về thành phố. Ở đây ra quán chợ khá xa, nên tôi chẳng tìm được quà đến thăm người ốm. Lúc ra tới cổng, thấy cành ổi xá lị có hai trái thật to, tiện tay tôi bẻ cầm vung vẫy theo sau đứa cháu út dẫn đường.
Ở đây, gần như nhà nào cũng như nhà nào. Đất thổ cư nông trường cao su cấp như nhau. Nhà vách ván, lợp tôn, chái lá như nhau. Cổng vào, hai bên nhà, sau vườn lớp lớp cây tiêu như nhau. Tôi đưa nắm tay về phía con chó nhà Nguyệt đang chồm choàm gào sủa: – “Này, đừng hỗn!”. Nghe tiếng tôi, Nguyệt bước vội ra, da mặt xanh tái, chiếc áo gió rộng thùng thình khiến thân hình Nguyệt càng thêm bé nhỏ. Nguyệt la át con chó trước khi cười với tôi. Tôi bước vào nhà, nhìn quanh. Rồi hỏi:
– Ba má đi làm hở Nguyệt?
– Dạ… Ba đó! Nguyệt đưa tay chỉ vào tấm ảnh đặt trên nóc tủ dưới bàn thờ Thiên Chúa.
– Ba cháu mất rồi! Cháu là con một. Mẹ cháu mới đi làm về, chắc đang ở vườn tiêu. Để cháu đi gọi mẹ…
– Chào cậu! Con khỏi gọi. Mẹ đã thấy khách Sài Gòn từ đằng xa kia – Mẹ Nguyệt xuất hiện từ cửa sau với nụ cười niềm nở. Đó là một phụ nữ trung niên, tóc kẹp gọn gàng. Ở gương mặt chị nét xuân sắc thời thiếu nữ vẫn còn in dấu. Có lẽ ngày xưa chị khá đẹp.
– Chào chị! – Tôi nói – Tôi là em chị Mai. Nghe cháu Nguyệt ốm, tôi ghé thăm tiện thể cho biết nhà. Chiều nay tôi đã về thành phố.

Lâu rồi mới có dịp xuống đây, sao cậu không ở chơi vài ngày?
– Cậu ở lại đi cậu! Mai mốt cháu khỏe, mấy cậu cháu vào Quản Lợi chơi! Nguyệt phụ họa.Tôi lắc đầu cười. Lúc mẹ Nguyệt ra sau nhà làm cơm, tôi bảo Nguyệt hãy đi nằm nghỉ. Cô bé không nghe, cứ bảo là đã khỏe. Nguyệt bắt tôi kể chuyện ngày xưa thời thơ ấu của tôi dưới mái trường tiểu học đồn điền Quản Lợi.
– Tôi không biết phải bắt đầu từ đâu – Tôi nói – Bởi thời học trò của mỗi người ai cũng giống nhau. Có học có chơi, có vui có buồn…
– Thì cậu kể về cái gì thích nhất mà cậu còn nhớ!
– Thích nhiều lắm! Con nít mà… Có điều cái ăn thì thích hơn. Hạt dẻ luộc này! Hạt me tây rang này! Hạt điệp non này! Cả trái trường đỏ ửng, quả mơ rừng vàng đượm…
– Cháu cũng thích những thứ ấy! Nguyệt nói theo.
– Lá cóc rừng! Ừ… Nguyệt biết lá cóc rừng không? Ở rừng ấy. Nhiều nhất là ở những luống cây cao su. Lá xanh dầy, bóng, ăn vào có vị chua chát mát lưỡi chứ không chua gắt như chanh đâu. Nguyệt biết không?
– Dạ biết!
– Hồi đó, mỗi lần đi học, trước khi xe cam-nhông của đồn điền đến đón đi, tôi chạy vào rừng hái lá cóc rừng bỏ vào cặp mang đến lớp ăn. Người ta bảo, ăn nhiều lá cóc rừng nó giúp mình trí nhớ. Học giỏi, hiểu nhanh. Muốn ai nhớ mến mình thì mình đưa lá cóc rừng cho họ ăn. Ai giận hờn mình thì mình bỏ lá cóc rừng vào cặp họ, ngày trước ngày sau hai đứa gặp nhau lại tươi vui niềm nở. Muốn hẹn gặp lại người nào thì lúc chia tay đưa họ một chiếc lá…
– Có đúng không cậu? Hay ghê! Lần đầu cháu được nghe đấy…
– Đúng chứ! Tôi cười.

Bổng dưng Nguyệt chép miệng:
– Vậy là lá cóc rừng cũng có một câu chuyện cậu ha! Bây giờ giữa những hàng cây cao su, công nhân tăng gia trồng xen kẽ lúa, đậu.. nên những cây cóc rừng không mọc được. Ở rừng thì chắc có. Cậu có muốn ăn lại lá cóc rừng không?
– Muốn! Nhưng không kịp đi hái nữa. Chiều nay tôi đã về thành phố.

Nguyệt chợt nhoài tới, nắm chặt bàn tay tôi giật giật:
– Cậu ở lại tối nay nữa đi. Tối cháu qua bên cậu chơi. Mai cậu về sớm cũng được mà…

Tôi nhìn vào mắt Nguyệt, nỗi thiết tha hiện rõ. Vả lại anh chị tôi cũng muốn giữ tôi ở lại thêm ngày nữa. Tôi lật ngửa bàn tay Nguyệt lên, đặt vào đó hai trái ổi xá lị mới hái bên nhà:
– Ừ… thì mai! Tối Nguyệt ghé chơi nha!

Buổi tối tôi ngồi uống rượu với ông anh và đứa cháu rể mới, đến gần mười giờ khuya. Nông trường đã ngưng phát điện sinh hoạt từ hồi chín giờ, chỉ còn lại trên bàn hai ngọn đèn dầu được vặn to bấc nóng gắt. Nguyệt không thấy tới. Tôi nghĩ, chắc con bé còn mệt.
5 giờ sáng tôi ra mặt lộ đón chuyến xe sớm từ Lộc Ninh lên. Khi ánh đèn xe từ xa vàng vọt, gượng gạo xé bóng đêm tiến đến chỗ tôi, tôi vẫy tay liên hồi, ra dấu. Bỗng có tiếng ai đó gọi tôi từ dưới dốc, khi người ấy đến gần, tôi nhận ra mẹ của Nguyệt. Chị đưa tôi một bịch nilon khi chiếc xe đò đang từ từ dừng lại:
– Lá cóc rừng cháu Nguyệt gởi tới cho cậu. Tôi qua nhà nghe nói cậu đã đi, vội chạy theo. Suýt nữa đã chẳng kịp…
– Cám ơn chị với cháu Nguyệt. Nguyệt đã bớt chưa chị? Tối qua, cháu có hẹn qua tôi chơi nhưng không thấy…
Mẹ Nguyệt thở dài:
– Chiều hôm qua cháu vào rừng tìm hái lá cóc rừng. Nó bảo cậu kể chuyện về lá cóc rừng hay lắm. Lúc về, cháu trở sốt cao. Tối hôm qua tôi đã đưa cháu vào trạm xá nông trường. Cháu cứ dặn đi dặn lại tôi là sáng sớm nay phải đưa bịch lá này cho cậu…
Tôi tưởng ra trong lời của mẹ Nguyệt có chút gì trách cứ. Tự dưng tôi vui miệng bịa ra chuyện lá cóc rừng đã có một huyền thoại. Tôi lấy ra một chiếc lá đưa lại cho mẹ Nguyệt:
– Chị cầm về cho Nguyệt. Cháu sẽ hiểu…

Vâng! Nguyệt sẽ hiểu. Bởi lá cóc rừng đã có một huyền thoại. Trên xe, những rừng cây cao su bạt ngàn trôi vụt về phía sau tôi – nhưng lá cóc rừng vẫn theo tôi về thành phố để trở thành một nỗi nhớ..

Nguyen Long
(Trích Biên Khảo Tỉnh Bình Long)
304Đen - Llttm

 

Tình Thứ Nhất - Xuân Diệu


Tình Thứ Nhất


 
 
 
Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất ,
Anh cho em , kèm với một lá thư .
Em không lấy , và tình anh đã mất .
Tình đã cho không lấy lại bao giờ .

Thư thì mỏng như suốt đời mộng ảo .
Tình thì buồn như tất cả chia ly .
Giấy phong kỹ mang thầm trong túi aó .
Mãi trăm lần viết lại mới đưa đi .

Lòng e thẹn cũng theo tờ vụng dại
Tới bên em , chờ đợi mãi không về .
Em đã xé lòng non cùng giấy mới ,
-- Mây đầy trời hôm ấy phủ sơn khê .

Cũng may mắn , lòng anh còn trẻ quá ,
Máu mùa xuân chưa nở hết bông hoa ;
Vườn mưa gió còn nghe chim rộn rã .
Ai lại còn yêu , bông lựu , bông trà .

Nhưng giây phút dầu say hoa bướm thắm .
Đã nghìn lần anh bắt được anh mơ
Đôi mắt sợ chẳng bao giờ dám ngắm .
Đôi tay yêu không được nắm bao giờ .

Anh vẫn tưởng chuyện đùa khi tuổi nhỏ .
Có ai ngỡ lòng vỡ đã từ bao !
Mắt không ướt , nhưng bao hàng lệ rỏ .
Len tỉ tê thầm trộm chảy quay vào .

Hoa thứ nhất có một mùi trinh bạch ,
Xuân đầu muà trong sạch vẻ đơn sơ .
Hương mới thấm bền ghi như thiết thạch ;
Sương nguyên tiêu , trời đất cũng chung mờ .

Tờ lá thắm đã lạc dòng u uất ,
Ánh mai soi cũng pha nhạt màu ôi .
Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất ,
Anh cho em , nên anh đã mất rồi .

Xuân Diệu
1937-1939