Monday, January 2, 2017

Con So Về Nhà Mẹ - Thanh Tịnh


Con So Về Nhà Mẹ

Kính tặng hương hồn anh Thạch Lam
 
 
 
 

Trời đã về chiều. Gió thổi trên đồng lúa chín, dạt dào nhẹ và khô. Bên kia đồng, tiếng hò đạp nước còn văng vẳng ran lên giữa bóng chiều tàn sắp tắt. Tiếng hò rời rạc và buồn nghe như đàn ve xám thả giọng ngân rền cuối hạ.

Cô Hoa đội một bó lúa nặng trên đầu đang từ từ tiến về làng Mỹ Lý. Cô đi mót lúa về. Cô đều đều đếm từng bước một. Thỉnh thoảng cô phải dừng lại đặt bó lúa xuống đất để thở. Rồi cô hấp tấp lên đường, bước mau hơn lên. Đường về nhà cô còn xa lắm, mà cô có mang đã gần ngày sinh, đi nhanh quá không được.

Vất vả như thế mỗi ngày chỉ đủ ăn. Trước cô còn quanh quẩn đi mấy khoảng đồng ở làng. Ở làng họ gặt hái xong, cô phải đi xa hơn.

Cô quê ở làng Hiền Lương, nhà nghèo và chị em đông. Chồng cô cũng nghèo, nên cô an phận làm ăn không dám than trách gì. Ngày thường cô gánh rau ra chợ Mỹ Lý bán, đến chiều tối mới về.

Chồng cô trước có làm xâu, nên người ta thường gọi cô là chị Xâu. Cô nghe thế cũng hài lòng. Vì người vùng quê vốn sợ và muốn tránh cái tên dân suông.

Qua tháng tư sau, cô Hoa có mang vừa đúng bảy tháng. Cô không dám lội xuống ao hồ cắt rau nữa. Nhưng ở nhà cô lại thấy vô vị. Vì cơm ăn bữa đói bữa no, cô nhịn thì được chứ thấy đàn con nhịn, lòng cô không nỡ.

Vì thế, tuy mệt nhọc, cô cũng chịu khó qua mấy làng lân cận mót lúa cho đỡ cơn nghèo ngặt.

Ở vùng quê đã có mùa gặt, thì cùng lúc ấy có mùa mót. Vựa con nhà giàu đầy lúa thì nồi cơm nhà nghèo nhờ đó cũng được đầy cơm ít nhiều.

Ai mạnh chân khỏe tay thi đi làm giúp. Ai yếu ớt thì đi mót lúa. Phần sau này thường dành riêng cho đàn bà, con trẻ hay ông già, bà lão nghèo đói.

Lúc đang gặt, bọn đi mót phải đứng chờ trên đường giường. Họ gặt xong và bó lại xong xuôi, mới cho con kẻ nghèo xuống mót.

Kể ra lớp người đi gặt thuê cũng biết thương con kẻ khó. Và cách gặt của họ cũng biết điều chứ không phải vơ vét hết sạch đâu. Họ còn phải để lại ít nhiều cho người nghèo nữa.

Rồi đồng ruộng nào có người mót đông, người ta cho điền chủ ấy là nhân từ và đến mùa gặt sau sẽ gặp nhiều điều may mắn.

Họ còn tin nơi nào con nhà nghèo đến mót đông là nơi ấy vua Thần Nông sẽ dắt trâu thần ngự đến. Và mùa sau chắc chắn ở đó được mùa.

Cũng nhờ đức tin ấy mà các điền chủ đua nhau mở lòng, mở ruộng đón người nghèo khắp nơi.

Một câu ca dao ở miền Trung đã tả được tấm lòng của người đi mót:

Tôi đứng trên đường giường,

Tôi trương mắt ếch.

Tôi đây sợ sệt,

Sợ họ gặt hết lúa đồng đi!

Tôi đến đây mót lượng từ bi!

Mót điều nhân nghĩa, chứ mót chi lúa ngài.

Cô Hoa vì thai nghén – “nhất có râu, nhì bầu bụng” – nên được người trong bọn có ý nhường nể. Nhờ thế mà bó lúa của cô lần nào cũng to và đầy. Và trên ruộng lạ người ta ít giành giật với cô. Người trong làng đãi cô như khách. Họ tưởng không nên để người làng khác trách người làng họ chật hẹp hay rắn lòng. Tuy là bọn khố rách áo ôm, họ cũng vẫn để điều nhân nghĩa lên trên tất cả.

Cô Hoa rẽ qua xóm Lá thì gặp ngay chị Bình đi bán rau ở chợ về. Cô đon đả chào:

– Chị Bình bán buôn ra sao? Tết nhất có phát tài không?

Chị Bình mỉm cười:

– Phát tài thật! Từ tết đến nay lỗ ngót hai đồng rồi đấy. Đó là chưa kể vừa rồi thằng Kết đi lính ở Lào gửi về cho ba đồng tiêu tết, cũng bỏ vào chuyện buôn bán, cũng tiêu tán đi đâu mất.

Cô Hoa nhìn cái áo vải dù mới của chị Bình rồi đùa:

– Đi đâu? Đi vào trong cái áo mới của chị chứ đi đâu?

Chị Bình che miệng cười sung sướng rồi nói lảng qua chuyện khác:

– Á này, tháng nào nằm nơi rồi đó?

– Tháng năm.

– Thế là một trai hai gái rồi phải không?

Cô Hoa buồn rầu đáp:

– Có một trai thứ nhì nhưng mất đi.

Thấy cô bạn có dáng buồn, chị Bình an ủi:

– Thôi chuyến này nhờ trời cho thêm một trai bù vào, chuyện gì mà buồn! Đã là chuyện sinh đẻ tránh thế nào được chuyện “lót ổ”. Người ta “lót ổ” đôi ba đứa mới nuôi được con thì sao?

Chị Bình nói thế để dỗ cô bạn chứ không biết người ta là ai, và “lót ổ” vài ba đứa như thế có nhiều không. Vì chị ta chỉ đẻ một đứa con rồi thôi không sinh đẻ nữa.

Đi gần đến am Thần Đá, lúc sắp rẽ vào xóm nhà, chị Bình tự nhiên nói lớn:

– À thím Xâu, tôi còn nợ của thím hai hào phải không?

– Hai hào rưỡi chứ.

– Vâng, tính tiền còn chịu năm bó rau nữa là vừa đúng hai hào rưỡi. Nhưng cho tôi hẹn cuối tháng nhé.

Cô Hoa dừng lại:

– Làm việc làm công gì mà hẹn cuối tháng đầu tháng. Có sẵn thì chị cho tôi để đong gạo cho mấy cháu. Tôi mấy lúc này không bán được nên túng lắm.

Chị Bình biết gặp cô Hoa thế nào cũng nhắc đến món nợ, nên tưởng nói trước thì hơn. Nhưng thấy cô Hoa đòi nhẹ giọng nên định tìm cách khất:

– Hay tính thế này cho xong chuyện. Tôi trả cho thím một hào. Còn hào rưỡi kia thím cho lúc đến mùa sen sẽ trả.

Cô Hoa biết cậy cũng không ra, nên bằng lòng đưa tay ra nhận tiền:

– Vâng, cũng được. Nhưng chị nhớ khi nào có tiền sớm thì cho trước nhé. À! Chị có cau tươi đó cho xin một miếng.

Chị Bình vừa mở múi khăn gói lấy cau vừa nói:

– Cau độ này đắt như vàng. Một trái hơn hai xu.

Cô Hoa không nói gì, nhận cau xong thì lững thững đi về phía đình làng rồi tạt qua cầu tre.

Trời lúc ấy đã nhá nhem tối. Hai bên xóm người ta đã lên đèn từ lâu.

Cô Hoa vừa đi vừa tính chuyện giấu hào bạc không cho chồng biết. Cô định dành dụm ít nhiều để lúc sinh đẻ thì đem ra tiêu dần.

Vừa đi vừa nghĩ loay hoay, đến trước cổng nhà lúc nào không biết.

Đêm hôm ấy trăng sáng vằng vặc. Ngoài đường xóm những đêm tối trời hay những đêm mưa gió, vào lúc tiếng mõ điểm canh hai thì không thấy một bóng người qua lại. Thế mà những đêm trăng sáng, người ta lại tấp nập đưa nhau đi chơi và nói chuyện vang cả đường. Mấy con chó trong xóm cứ đưa mõm ra đường sủa không ngớt.

Thấy ngủ trong nhà nhiều muỗi và nóng, hai vợ chồng cô Hoa liền hì hục rinh chiếc giường ra đặt giữa sân.

Phía trước cổng, cách hàng rào tre thưa lá là cánh đồng mênh mông chạy dài đến chân trời xa thẳm. Phía ấy trăng tuôn xuống thảnh thơi và tràn ngập cả con sông đào đang uốn mình vươn qua đồng lúa ruộng.

Anh Lẫm – chồng cô Hoa – thấy người qua lại ngoài đường còn đông nên chỉ ngồi ghé bên mép giường chứ chưa chịu nằm. Anh sợ người ngoài đường trông thấy được thì ngượng.

Một lát sau anh nghiêng mình về phía cô Hoa nói sẽ:

– Tôi qua sông tắm một chút đã mình nghe!

Cô Hoa lồm cồm ngồi dậy một cách mệt nhọc. Cô cũng chưa ngủ được. Tối nay cô định nói với chồng về nơi “nằm bếp” nhưng thấy chồng có vẻ nhọc nên cô do dự. Nhân thấy chồng muốn mở chuyện, nên cô thừa dịp bàn đến chuyện nhà. Sau khi đã ngồi yên cô liền nói:

– Ra tắm sông làm gì cho đỉa cắn. Bên trái sẵn còn lu nước đầy, mình ra đó tắm cũng được.

Anh Lẫm tưởng đi một lát cho ngoài đường vắng người sẽ ngủ, chứ cũng không cần thiết đến việc tắm lắm.

Đêm càng khuya, trăng càng sáng, từ phía sau vườn đưa ra mùi hoa bưởi thơm ngào ngạt. Không biết nghĩ gì anh Lẫm quay lại hỏi vợ:

– Thằng Hà đẻ tháng mấy nhỉ?

– Mười hai tháng năm. Nhưng mình hỏi để làm gì?

Anh Lẫm sau khi rình đánh được con muỗi đốt trên chân, chậm rãi nói:

– Ban trưa gặp ông Bộ bảo phải khai sinh cho gấp, chẳng không Nhà Nước phạt nặng lắm.

– Chuyện ấy đã đành.

Rồi đột ngột, cô bắt sang chuyện khác:

– À mình, năm nay tôi nằm bếp ở đâu mình nhỉ?

Anh Lẫm quay lại nhìn bụng vợ, hỏi với giọng lo lắng:

– Còn mấy tháng nữa?

– Chừng non một tháng.

Ngẫm nghĩ một lát anh nói:

– Mình cố gắng được đến tháng sáu không?

Cô Hoa phì cười:

– Đúng ngày đúng tháng thì con ra. Gắng thế nào được và gắng để làm gì?

– Nếu mình đẻ cuối tháng sáu thì tôi sẽ có tiền. Và mình sẽ được no ấm hơn.

– Ấm thì chuyện đã đành phận rồi. Vì tháng năm trời nắng như thiêu đốt, làm gì mà không ấm. Nhưng hỏi mình có chạy đủ tiêu nuôi đàn con thay tôi không? Và cuối tháng sáu tiền đâu mà mình có được?

Anh Lẫm rung đùi ra vẻ đắc ý:

– Phải cuối tháng sáu Tây kia. Vì hôm trước ông Lý có bắt góp cứ một người một đồng để đánh số Đông Pháp. Và cuối tháng sáu họ xổ số. Biết đâu tôi lại không chia được một phần cái gia tài trời cho. Và năm nay đi bói năm thầy bảy bà, họ đều bảo tôi sẽ phát tài lớn.

Cô Hoa mỉm cười hoài nghi, nhưng lòng cô cũng muốn nhóm ít nhiều hy vọng. Và thấy chồng nói chuyện may rủi với giọng say sưa, cô cũng không muốn đến gieo sự buồn nản.

Anh Lẫm thấy vợ có vẻ tư lự nên nói tiếp:

– Nếu mình đẻ sớm thì mình qua nhờ mẹ một phen nữa. Tôi trúng được số sẽ mua thuyền chèo qua tận làng đưa mẹ con mình về.

Cô Hoa thở dài yên lặng. Cô biết mẹ cô nghèo, làm lụng luôn tay mà không đủ nuôi đàn em dại. Và theo tục lệ thì chỉ đẻ con so là về nhà mẹ thôi. Chứ cô sinh đẻ đã mấy lần cô cũng qua nhờ mẹ cả. Nói nhờ là nhờ công thôi, chứ tiền bạc và cơm nước cô phải tự liệu lấy.

Cô đang ở giữa một cảnh rất thường tình nhưng khó xử.

Trước mặt chồng, cô không dám tỏ thật nỗi cơ hàn của mẹ cô. Cô sợ nhà bên chồng khinh. Và trước mặt mẹ cô, cô lại càng tránh nói đến cảnh túng bấn của chồng cô. Cô sợ mẹ cô buồn. Người ta đàng hoàng nói đến cảnh nghèo cho nhau nghe chỉ lúc một trong hai bên giàu sang, sung túc thôi. Chứ hai đằng đều nghèo, thì kể cái nghèo ra không tiện và thêm tủi.

Và lúc nào qua nhà mẹ để sinh đẻ, cô cũng vịn lấy cớ chồng cô khờ khạo, nên phải qua nhờ mẹ trông nom. Và trước chồng, cô lại tỏ mẹ hiền đức lắm, lúc nào cũng muốn con gái qua đẻ ở quê nhà để mẹ được cái sung sướng trông nom con cháu.

Kỳ thật mẹ cô cũng như chồng cô đều biết cái nghèo lẫn nhau. Nhưng cô Hoa vẫn muốn giấu, và tưởng thầm đã giấu kín. Một lần qua bên mẹ đẻ, chẳng may cô đã đắp mả luôn cho con ở bên ấy, thế mà chồng cô cũng không biết. Và biết thế nào được. Đường xá cách sông trở đò, và người buôn bán qua lại thì hiếm. Lúc về nhà báo tin cho chồng biết, anh Lẫm chỉ thở dài buồn một chút, rồi hai vợ chồng lại cặm cụi làm ăn như cũ.

Nghe có tiếng nói giữa sân nhà, cô Lài, con gái út ông trùm Lân, đứng dừng lại ngoài đường hỏi lớn:

– Hai vợ chồng anh Xâu to nhỏ nói chuyện gì đấy?

Cô Hoa ngước mặt, cười nói với:

– Nói chuyện trai gái cô Lài ạ!

Cô Lài thẹn đỏ mặt, cúi đầu đi thẳng.

Trời mới sáng tinh sương, cô Hoa đã gói ghém ít nhiều quần áo rách đem về quê mẹ. Anh Lẫm ra vườn cắt hai trái bí ngô và đào mấy vồng khoai, sắn, sắp đầy trong hai cái thúng lớn. Đoạn hai vợ chồng vội vã đi về phía bến đò làng Thuận.

Con Thìn dậy sớm đòi đi theo mẹ đến bến đò, nhưng anh Lẫm không cho, bảo ở lại ngó nhà và đợi hai em dậy. Nó mếu máo đứng nhìn cô Hoa như để nhờ mẹ xin giúp. Cô đến thoa đầu nó, rồi dúi vào tay nó một xu, nên nó hí hửng không đòi đi nữa.

Cô Hoa chỉ xách một trành cá mắm và một gói áo quần thong thả đi trước. Còn anh Lẫm gánh khoai sắn và bí ngô đi sau.

Đến bến đò trời vừa sáng hẳn. Mặt trời đã lên khá cao. Trên mặt sông Viêm đã in từng vầng nắng nhẹ lấp loáng đều đều theo nhịp gió đưa.

Chị em buôn bán ở làng Hiền Lương thấy vợ chồng cô Hoa đi đến thì vội vã người chuyển cái này, kẻ chuyền thứ khác xuống thuyền. Rồi họ tíu tít vây cô Hoa để nói chuyện không ngớt. Riêng anh Lẫm không ai hỏi cả. Anh thừa dịp dọn lại khoai sắn cho gọn trong mui thuyền.

Đoạn anh đến trước mũi thuyền ra sức đẩy. Lệ thường người đi đò phải thân hành ra đẩy lấy. Nhưng lần này, anh muốn giúp một tay nên không gọi ai cả.

Xong rồi, anh lên đứng trên đường cao nhìn xuống thuyền đang từ từ quay mũi. Lúc chiếc thuyền đã theo được dòng sông, họ liền đưa thẳng mái chèo đẩy mạnh.

Cô Hoa nhìn lên chồng cô có vẻ quyến luyến nhưng không nói gì.

Anh Lẫm đi theo thuyền độ vài chục bước rồi đứng dừng lại. Anh thơ thẩn nhìn con thuyền trôi xuôi theo dòng nước.

Như sực nhớ việc gì, lúc thuyền đi qua gần bến Chùa, anh liền hấp tấp chạy theo gọi lớn:

– Mình ơi!

Cô Hoa đưa đầu ra khỏi mui nhìn chồng ra ý hỏi. Anh Lẫm vừa thở vừa nói:

– Lúc cúng khẫm tháng cho con mình nhớ là tôi họ Đỗ chứ không phải họ Ngô như mình lầm độ nọ đâu nhé.

Cô Hoa gật đầu mỉm cười.

Đến đây con thuyền từ từ rẽ dòng sông con làng Thuận Xá. Bóng anh Lẫm đã bị bụi tre là ngà bên cầu che khuất.

Cô Hoa phần nhớ chồng, phần thương con, liền đưa vạt áo nâu lên chậm nước mắt.

 

Thanh Tịnh

Quang Dũng, Một Vần Thơ Bi Tráng Và Lãng Mạn - Trần Thảo



Quang Dũng - một dòng thơ bi tráng và lãng mạn

 
 

     Tôi không nhớ mình đến với thơ của nhà thơ Quang Dũng từ khi nào, nhưng tôi nhớ rõ đó là bài thơ Đôi Mắt Người Sơn Tây của ông, và bài thơ gây ấn tượng mạnh trong tôi ở những câu:

 
Vừng trán em vương trời quê hương
Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương
Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ em nhớ thương.

 
Trước đó, Lưu Trọng Lư với bài thơ Một Mùa Đông, diễn tả "Đôi mắt em lặng buồn, nhìn thôi mà chẳng nói", và sau này với Nguyên Sa "Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình, để anh giận sao chả là nước biển", tôi đã rất thích lối diễn tả đó rồi, nhưng khi chạm với "Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương" thì tôi mới thực sự sửng sốt, bởi vì tôi chưa thấy ai diễn tả đôi mắt một cách tình tứ và linh động như thế. Có lẽ bị ám bởi câu thơ này của nhà thơ Quang Dũng mà trong đời tôi, tôi đặc biệt có cảm tình với những người con gái có màu mắt nâu, lai Tây Phương. Điều thú vị là rất nhiều người đã nghĩ rằng cái nhân vật "em", người có đôi mắt đẹp Tây Phương trong bài thơ ĐMNST, hẳn là một bạn gái tri kỷ nào đó của Quang Dũng, nhưng tất cả đã lầm, bởi chính nhà thơ có lần tiết lộ, đó là hình ảnh của một người em gái rất đẹp trong gia đình của ông.

 Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Dậu, sau này vì thiếu tuổi đi học, phải mượn tên của người anh họ là Bùi Đình Diệm. Ông sinh năm 1921 ở làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, Hà Tây. Hà Tây là hai chữ ghép của Hà Đông và Sơn Tây. Hà Đông và Sơn Tây cách nhau bởi con Sông Đáy, chính là địa danh hay xuất hiện trong thơ của ông.

 Quang Dũng là người rất cao lớn, đẹp trai. Nhà văn Xuân Vũ đã diễn tả sự bự con của Quang Dũng bằng một ví von rất vui. Ông Xuân Vũ so sánh "Nếu tôi đứng sắp hàng sau lưng Quang Dũng trong cửa hàng mậu dịch thì chắc chắn cô nàng mậu dịch viên sẽ không thể nào thấy tôi."

 Nhạc sĩ Trịnh Hưng, tác giả của Lối Về Xóm Nhỏ, bạn thiếu thời của Quang Dũng, cho biết Quang Dũng là người đa tài. Thơ nhạc hoạ gì ông cũng giỏi, lại thêm tính tình phóng khoáng, nên bạn bè rất thương mến ông. Trong đời Quang Dũng có hai niềm đam mê, có khi còn hơn cả ham thích thơ nhạc hoạ, đó là thích đi đó đi đây và kết bạn. Điều này giải thích cho việc năm 1941, ông mới 20 tuổi, đã nổi máu giang hồ vặt, nhảy tàu lửa đi tuốt qua bên Quảng Châu, Vân Nam. Không rõ trong một dịp nào mà trong chuyến đi này ông đã gặp những nhân vật đầu não của Đảng Đại Việt như Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, Hoàng Đạo, Nguyễn Hải Thần v.v... ở Liễu Châu, tỉnh Vân Nam. Với tính cách của Quang Dũng, chúng ta có thể hiểu được trong đầu óc của chàng thanh niên hai mươi ấy chắc chắn có những suy tư về tình trạng nô lệ của nước nhà dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. Chàng tuổi trẻ hào kiệt ấy đâu có biết gì về đảng phái chính trị, nhưng bầu máu nóng ấy nếu có người khơi gợi, chắc chắn sẽ đáp ứng tức thì. Theo lời nhà văn Tô Hoài thì thời gian ấy Quang Dũng bị thu hút bởi tài năng của Nhất Linh, nhưng sau đó ông thấy Nhất Linh và Nguyễn Hải Thần chả làm được gì nên Quang Dũng không quan hệ với nhóm Đại Việt nữa. Và cũng trong thời gian ở Quảng Châu, ông đã theo học và tốt nghiệp trường quân sự Hoàng Phố, nơi đã từng đào tạo khá nhiều sĩ quan quân sự cho Việt Minh, sau lên cấp tướng như Nguyễn Sơn, Hoàng Sâm v.v...

 Trước khi viết về những hoạt động chính trong đời của Quang Dũng, thiết tưởng cũng nên cùng các bạn tìm hiểu xem cái tên Quang Dũng của nhà thơ từ đâu mà có. Nhiều giai thoại về cái tên Quang Dũng, tôi quả tình không biết sự thật ở đâu, xin được ghi hết ra để mọi người có thể am tường.

 Giai thoại thứ nhất do nhạc sĩ Trịnh Hưng kể lại. Rằng ông Nhất Linh rất mến Quang Dũng, khi Quang Dũng còn ở bên Trung Quốc, thì ông Nhất Linh ở Việt Nam đã viết hai cuốn tiểu thuyết Đôi Bạn và Đoạn Tuyệt, và nhân vật Dũng và Loan chính là lấy hình ảnh của anh chàng to con Bùi Đình Diệm và cô Loan, một cô gái có thật, con gái của một công chức ở vùng Việt Bắc, đã từng yêu say đắm nhà thơ, nhưng nhà thơ vì chí tại muôn phương nên chưa đáp lại. Ông Nhất Linh đã gửi hai tác phẩm này qua Tàu để tặng cho Bùi Đình Diệm. Khi nhận được, nhà thơ trẻ này đã thích thú vì cho rằng Nhất Linh đã chọn cho mình cái tên Dũng hay quá, rồi ông nghĩ phải chọn cho mình một cái họ mới có tính cách anh hùng. Vì họ ngoại của ông là họ Trần, và ông cũng ái mộ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, nên thêm vào chữ lót Quang nữa, từ đó ông có tên là Trần Quang Dũng.

 Giai thoại thứ hai, do bà Đào Thị Nhung cung cấp, cho rằng Bùi Đình Diệm khi ở vùng Tây Bắc trong trung đoàn Tây Tiến vì nhớ con trai nên đã lấy tên của con là Quang Dũng làm bút hiệu khi làm thơ. Sau này khi con trai tới tuổi đi học phải đổi tên khác là Bùi Quang Vĩnh.

Dù giai thoại nào đúng với sự thật thì cũng chả có gì quan trọng, nhưng những giai thoại này cũng tạo thêm nét huyền hoặc, mờ mờ ảo ảo vốn đã dàn trải trong thơ của ông.

 Quang Dũng trở về Việt Nam. Vào thời điểm Việt Minh lợi dụng cuộc biểu tình ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim của công chức Hà Nội, biến thành cuộc nổi dậy cướp chính quyền, và đã thành công tạo nên cuộc Cách Mạng Tháng Tám 1945 với cờ sao rực đỏ phố phường. Với tấm lòng yêu nước nồng nàn, mong mỏi quê hương thoát vòng nô lệ của thực dân, phát xít, Quang Dũng và cả một thế hệ trẻ Việt Nam đã lăn xả vào công cuộc cứu nước chung, nào có ý thức gì về những âm mưu được giấu kín sau những nụ cười khích lệ, những lời cổ võ của những tên cai thầu chính trị cộng sản. Như nhà thơ Nguyễn Chí Thiện viết:

 
Nhưng rồi một sớm mùa Thu mùa Thu trở lại
Tuổi hai mươi mắt nhìn đời trẻ dại
Ngỡ cờ sao rực rỡ
Tô thắm màu xứ sở yêu thương
Có ngờ đâu giáo giở đã lên đường
Hung bạo phá bờ kim cổ
Tiếng mối rường rung đổ chuyển non sông
Mặt trời sự sống
Thổ ra từng vũng máu hồng...

 Năm 1945 là năm Quang Dũng tốt nghiệp Ban Trung Học của trường Thăng Long và đi dạy tư ở Sơn Tây kiếm sống, nhưng vào ngày 19 tháng 8 năm 1945, ông đã bỏ tất cả để gia nhập quân đội. Vai trò đầu tiên của ông là phóng viên tiền phương của báo Chiến Đấu. Đến năm 1947, ông được gửi đi học ở trường bổ túc trung cấp quân sự Sơn Tây. Sau khóa học, ông được bổ về làm đại đội trưởng trong tiểu đoàn 212, thuộc trung đoàn 54 Tây Tiến. Ông đã tham dự chiến dịch Tây Tiến đợt hai, chiến dịch này ngoài công tác phối hợp chiến đấu với quân Lào để đánh Pháp, mở rộng tầm hoạt động ở vùng Tây Bắc, còn có công tác dân vận để lấy sự ủng hộ của dân chúng khu vực này, mà trong mắt của đảng là chưa được giác ngộ cách mạng.

 Chính trong chiến dịch Tây Tiến này, Quang Dũng và những người con yêu của đất nước, đủ thành phần, hầu hết là người Hà Nội, đã trải qua những tháng ngày cực kỳ gian khổ, và cũng tràn đầy tính cách hào hùng, bi tráng, quyết liệt. 

Mời các bạn đọc bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng để có thể cực cảm được tính cách bi tráng của cuộc chiến đấu hào hùng của những con người không kể đến hy sinh bản thân mình, chỉ mong góp xương máu cho nền độc lập của nước nhà.

 
Tây Tiến

 
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

 
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

 
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

 
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

 
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

 
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

 
Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

 
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành

 
Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa, chẳng về xuôi.

 Theo nhà thơ Quang Dũng cho biết thì ông viết bài thơ này khi về dự đại hội toàn quân khu III ở làng Phù Lưu Chanh, thuộc Hà Nam. Có nghĩa là bài thơ là một hồi ức về chiến trường. Lúc đầu ông lấy tên bài thơ là Nhớ Tây Tiến, nhưng sau ông cho rằng khi đọc lên là đã nhớ rồi, nên chữ nhớ không còn cần thiết, vì thế bài thơ chỉ còn là Tây Tiến. Viết đến đây, có một ý nghĩ vừa hiện đến trong tôi. Nếu bài thơ Tây Tiến được viết ngay trên dặm trường hành quân, ngay bên chiến trường còn vương khói, thay vì được viết khi nhà thơ về dự đại hội toàn quân ở Phù Lưu Chanh, thì bài thơ sẽ như thế nào nhỉ? Cũng chỉ là một ý nghĩ mà thôi.

 Trong bài thơ Tây Tiến, có một câu thơ rất đặc biệt, từng một thời gây cho nhà thơ xất bất xang bang khi phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bùng phát. Cai thầu văn nghệ Tố Hữu, vì ganh tài, vì muốn đạp người khác xuống để ngồi vào ngai vị độc tôn, nhất là Quang Dũng còn vướng chút tai tiếng đã từng có liên hệ với nhóm Đại Việt. Thế là Tố Hữu ra lịnh cho đàn em đem Quang Dũng ra phê bình sát rạt ở câu thơ:

 
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

 
Mấy ông quan văn nghệ Hà Nội thi nhau biểu diễn lập trường, cho rằng Quang Dũng luôn mang trong người ý thức tiểu tư sản, thân ở chiến trường mà còn mê gái, thái độđó không xứng với tư cách của người chiến sĩ nhân dân, chỉ làm xao nhãng lòng quân v.v... Đại khái như thế, họ đã cố tình thì làm gì không bới bèo ra bọ, tìm đủ cách để dìm Quang Dũng xuống. Ở một chế độ toàn trị như miền bắc VN, một người cán bộ văn nghệ, khi lãnh lương, vì thèm ăn một tô phở, đi ăn một mình, rồi sau đó cứ ăn năn mãi vì cảm thấy tội lỗi với gia đình, từ đó có thể hiểu được tại sao những cán bộ văn nghệ, ngoài một số ít còn giữ tư cách, phần lớn đều muốn được đảng ghé mắt tới với những ưu đãi, nên đành muối mặt ném bùn vào nhà thơ Quang Dũng.

 Liên hệ tới câu thơ "Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm", có một giai thoại, tôi ghi lại ở đây để các bạn đọc cho vui, chứ tính chính xác tới cỡ nào thì tôi cũng chịu thua.

 Tài liệu kể rằng Quang Dũng có một người bạn tên là Nguyễn Ngọc Chương. Anh chàng này để ý tới một người đẹp tên là Kiều Dinh, nhà ở số 68 Phố Hàng Bông. Kiều Dinh có ba chị em khác là Kiều Vinh, Kiều Hinh và Kiều Hương. Cả bốn cô Kiều đều đẹp, và Nguyễn Ngọc Chương muốn giới thiệu một trong các cô này cho Quang Dũng. Thế nên người ta lập luận rằng "dáng kiều thơm" trong Tây Tiến là Quang Dũng nhớ về mấy nàng Kiều này. Tôi thấy điều này chỉ là giai thoại cho vui, chứ nếu đúng như thế thì chữ kiều phải được viết hoa thành Kiều. Và dẫu có được viết hoa, thì ý nghĩa của câu thơ cũng trở nên quá dung tục, eo hẹp, không mở ra cho người đọc hiểu được tâm tình của một chàng trai Hà Nội nhớ về một khung trời rộng lớn của thành đô quê mình.

 Sau khi bị gửi đi chỉnh huấn vì cái gọi là "ý thức chính trị", mặc dù Quang Dũng chả có liên quan gì tới phong trào Nhân văn Giai Phẩm, ông được điều về làm Biên Tập Viên của Báo Văn Nghệ, rồi sau đó về công tác ở Nhà Xuất Bản Văn Học. Dù vẫn được làm việc, nhưng đảng luôn để mắt tới ông, lưỡi dao treo lơ lững trên đầu khiến cho người nghệ sĩ đa tài đó muốn làm gì cũng phải ngó trước trông sau.

 Nói thế để chúng ta có thể hiểu được hoàn cảnh sống của nhà thơ Quang Dũng vào thời điểm ấy, nhưng theo miêu tả của nhà văn Xuân Vũ, cùng công tác với Quang Dũng ở Báo Văn Nghệ, thì nhà thơ luôn có tư tưởng lạc quan, yêu đời. Ông Xuân Vũ kể lại hoạt cảnh trong phòng làm việc của Báo Văn Nghệ, khi Quang Dũng đi công tác ở đâu đó vừa ghé qua, trên tay luôn là những món quà nhỏ cho mấy bạn cùng phòng, có khi là quả táo, có khi là cái khăn, cái quạt xếp, và ta nghe tiếng cười dòn tan của nhà thơ nữ Xuân Quỳnh... (lúc đó còn là cô bé, chưa lấy kịch tác gia Lưu Quang Vũ) cứ theo đuôi bác Quang Dũng nhờ chỉ dạy về cách làm thơ.

 Khi đã sống và làm việc dưới cặp mắt lom lom của đảng, mọi ưu đãi đều không có, đời sống gia đình của nhà thơ Quang Dũng dĩ nhiên là vô cùng chật vật. Có khi ông và vợ phải đi quét lá, gom về làm củi đốt. Được cái là vợ của ông, bà Bùi Thị Thạch, là một người phụ nữ điển hình của nữ giới Việt Nam, với tất cả tình cảm thương chồng thương con, chịu thương chịu khó. Bà luôn thay chồng quán xuyến mọi việc trong gia đình. Bù lại, nhà thơ cũng là người chồng, người cha mẫu mực. Có những sáng tinh mơ, ông dậy thật sớm, quang đôi gánh, nhẹ nhàng bước chân để không làm thức tỉnh vợ con, đi ra cách đó cả cây số để gánh nước trong về cho cả nhà dùng. Về cách dạy dỗ các con, ông là người cha tuyệt vời khi không dùng đòn roi, mà chỉ dùng tâm lý, khuyên răn, đối thoại, dạy cho con điều hay lẽ phải. Các con của ông như nhạc sĩ Bùi Quang Vĩnh, hay cô giáo Bùi Phương Thảo đều luôn nhớ về người cha lúc nào cũng đầy tinh tế và yêu thương của mình.

 Về cuối đời, nhà thơ Quang Dũng lâm bệnh nặng, phải nằm ở nhà thương Thanh Nhàn, Hà Nội. Những bạn hữu và đồng sự của ông tại Báo Văn Nghệ, Nhà Xuất Bản Văn Học đồng lòng yêu cầu ông trùm Nguyễn Đình Thi đưa ông vào bệnh viện Việt Xô để đủ phương tiện chạy chữa. Hai ngày sau, ông Nguyễn Đình Thi cho biết phía trên không đồng ý. Phía trên là ai? Dĩ nhiên là ông nhà thơ lộn giống, ca ngợi trùm độc tài Stalin trong những câu:

 
Thương cha thương mẹ thương chồng
Thương mình thương một thương ông thương mười

 
và....

 Thờ Mao chủ tịch, thờ Stalin bất diệt.

 Nhà thơ Quang Dũng sức khỏe yếu dần, và ông đã thực sự xa lìa chúng ta vào ngày 14 tháng 10 năm 1988.

Tôi thật sự chỉ muốn chửi thề một tiếng cho cái thói bạc bẻo của nhà sản nói chung và lũ cai thầu văn nghệ miền bắc Việt Nam lúc đó nói riêng. Chúng chỉ là lũ đầu trâu mặt ngựa, hình dáng con người, nhưng tâm đen như quỷ. Chúng chỉ biết lợi dụng người ta cho đến tàn hơi thở, như một miếng chanh đã hết nước, chúng chả có chút tiếc thương, ném miếng chanh cạn kiệt kia vào sọt rác. Nhưng thói đời vay trả nhãn tiền. Ngày xưa, nhờ đạp người ta dưới gót chân, ra sức nâng bi, tô hồng cho đảng để hưởng vinh hoa phú quý. Ngày tết trước cửa xe khách dập dìu, người ta tới để bái lễ, để dọng vô họng thằng nịnh tặc tiền bạc đô la, nhưng rồi vào tết nguyên đán năm Canh Ngọ 1990, khi Phùng Quán đưa vợ tới để lễ tết ông cậu (Tố Hữu là anh em cô cậu với mẹ của Phùng Quán) thì thấy cái cảnh eo sèo của buổi chợ chiều, đường xá trước cửa vắng tanh. Khi ra về, Phùng Quán đi trước, Tố Hữu ra sau cùng với bà Bội Trâm, vợ của Phùng Quán, Tố Hữu thở dài nói với bà Bội Trâm: "Thằng Quán nó dại, mà cậu cũng dại". Câu nói bỏ lửng ở đó, nhưng người đọc thấy thấm thía vô cùng. Người ta không hiểu đến phút cuối của cuộc đời, trước khi nhắm mắt, Tố Hữu có nhớ đến những nạn nhân mà ông đã vùi dập một cách dã man?

 Tôi lại đi lạc đề rồi. Hơi đâu mà nhắc tới nhà thơ lộn giống đó cho thêm bẩn hương linh của Quang Dũng, một nhà thơ đã khiến cho nhiều thế hệ trẻ Việt Nam yêu mến và kính trọng.

 Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài, chẳng những ông có một thế đứng rất riêng trên thi đàn Việt Nam với những bài thơ mang nặng hồn dân tộc trong cách dùng ngôn ngữ và hình ảnh thật mới lạ, ông còn là nhà văn viết truyện ký hấp dẫn, một họa sĩ xuất sắc từng tham gia triển lãm. 

Kể từ năm 16 tuổi, với bài thơ đầu tay Chiêu Quân, đến nay Quang Dũng đã có hơn sáu mươi bài thơ. Tính ra cũng không nhiều lắm so với những nhà thơ mới khác, nhưng di sản của ông lại được quần chúng đón nhận và yêu quý. Ngày nay, đọc những câu thơ như:

 
Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa
Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ
Thoáng hiện em về trong đáy cốc
Nói cười như chuyện một đêm mơ. (Đôi Bờ)

 
hay

 
Đây Nhạn Môn Quan đường ải vắng
Trường Thành xa lắm Hán Vương ơi
Chiêu Quân che khép mền chiên bạch
Gió bấc trời Phiên thấm lạnh rồi. (Chiêu Quân)

 
hay

 
Ngõ trúc quanh quanh sầu bóng lá
Trăng vàng rơi rắc nẻo nào xưa
Ngõ cũ không mong người trở lại
Mà mùi hoa mộc vẫn thơm đưa. (Cố Quận)

 Chúng ta không khỏi nhớ tới một hình ảnh phong trần "tóc bời lộng gió bốn phương" của một người nghệ sĩ đa tài lãng mạn, một chiến sĩ can trường, khí phách. Năm 2001, Quang Dũng được nhà nước "nghĩ lại" trao cho một Giải Văn Học Nghệ Thuật, nhưng cái thứ bội bạc, nhổ ra rồi liếm lại đó có quý báu gì. Nhân cách lớn của ông, thi ca sắc nét của ông đã có chổ đứng vĩnh cửu trong lòng người thưởng ngoạn. Cái phần thưởng tinh thần đó, dù ai kia có đem hết quyền lực, tiền bạc để mua nó về cho mình cũng không được. Đây là điều an ủi lớn nhất cho hương linh của nhà thơ lớn miền Sông Đáy.

 
17.12.2016


304Đen - Llttm

Tháng Tư Ngồi Nhớ Tháng Tư Xưa - Vũ Nguyệt Trần


THÁNG TƯ, NGỒI NHỚ THÁNG TƯ XƯA
 
 
 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tháng Tư đang rơi dần những ngày cuối cùng bên song cửa

Trời nắng như đổ lửa, ngồi nhớ đến mùa Hè năm xưa

Đất đỏ vùi nông chập chờn nhiều ngôi mộ

Buổi chiều tàn, rũ rượi những cánh hoa mười giờ

Anh còn nằm đó không, đêm mù sương Đồi Gió

Chị còn nằm đó không, trên mảnh đất vườn Chùa

Bao nhiêu năm qua, bao đêm trăng mờ

Tiếng thở dài của oan linh hay tiếng trở mình của lá

Tháng Tư của những trùng hợp oan khiên đến lạ

Có mấy người còn nhớ đến ngày xưa

Có mấy người còn nhớ đến ngày thơ

Còn mơ được đắm mình trong giòng sông tuổi nhỏ

Tôi đang muốn về Quản Lợi

Tìm xem nơi nào là Trại Trần Hữu Phương

Triệu người quen còn đây chút vấn vương

Xin cất tiếng chào nhau trong sương khói

Tôi đang muốn về Quản Lợi

Rồi trở ngược ra Bình Long

Hai bên đường chắc hẳn lá vẫn xanh

Đang che phủ những hố hầm ôm gọn những xác người thanh xuân bữa đó

Hôm nay, giữa trưa buồn nắng Hạ

Lại nhớ tháng Tư xưa

Xưa… bây giờ đã tận cùng xưa

Tôi như đang trôi về nơi ấy

Và tôi đang nghe thấy

Những khúc ca buồn như giun dế gọi nhau

 

Vũ Nguyệt Trần