Monday, November 6, 2017

Đứa Em Tội Nghiệp - Hoàng Long Hải



Đứa Em Tội Nghiệp
 
 

 

Một buổi chiều đầu tháng năm, chị em chúng tôi đang ở nhà, ba má đi vắng, xe Công An tới đậu ngay trước cổng, bao vây quanh nhà và lục soát rất kỷ đồ đạc trong các phòng. Chúng tịch thu một số bản thảo do ba tôi viết, phần nhiều là hồi ký và những suy nghĩ cũa ba tôi về cuộc đời tù đày, về triết lý chính trị, về chế độ bắt ông ngồi tù hơn bảy năm.

            Chúng hỏi chị em chúng tôi về những người khách hay đến nhà, những người và những nơi ba tôi thường lui tới. Nghi là chúng có thể bắt ba tôi như vẫn thường xảy ra, Quỳnh nhanh chân chạy ra cầu Kinh, chờ ba má tôi về, báo cho biết và dặn ba má tôi đừng về nhà nữa.

            Ba má ở lại nhà một bà thầy bói mà má tôi quen thân, gần chợ Thị Nghè. Chỉ có tôi là chị cả được lên thăm. Ba má tôi quyết định trốn đi, chỉ còn một cách là vượt biên theo đường giây của người hàng xóm vừa đi lọt hôm tết. Ba má tôi định đem theo cả hai đứa út nhưng tôi cản lại, chỉ cho một đứa. Cuối cùng thì bé Hí được đi còn bé Bi ở lại với chị em chúng tôi. Khoảng cuối tháng Sáu, Diễm, em gái tôi, ở Mỹ gọi điện thoại về báo cho biết là ba má đã tới Bidong. Chúng tôi quá mừng. Thế là ba tôi thoát khỏi tù tội Cọng Sản một lần thứ hai nữa. Nhưng bây giờ tất cả gánh nặng đổ lên đầu tôi vì tôi là chị cả.

            Khi Diễm gọi về, chúng tôi được gọi ra Bưu Điện Saigon để chờ nghe điện thoại. Nghĩ lại mà tức cười. Tôi chỉ vừa nghe: ỏAlô! Diễm đây!õ là Diễm khóc nức nở. Tôi vội vàng la to lên ỏHà đây! Hà đây Diễm ơi!õ Rồi tôi cũng khóc, cả mấy em tôi, đứa nào cũng giành lấy ống nghe, gọi tên và khóc. Chúng tôi chỉ nghe được có mấy tiếng “Ba má đến Bidong rồi”, thế thôi! còn lại toàn là khóc. Chị em chúng tôi xa nhau thế mà đã năm năm, vắng tiếng, vắng hình mà chị em chúng tôi thì thương nhau lắm, đứa nào vắng nhà một ngày thôi cũng đã nhớ đã thương, huống gì năm năm trời đằng đẵng.

            Niềm vui gặp gở qua thật nhanh. Ở nhà vắng ba má, nhà vắng vẻ lạ lùng. Nhìn cái gì cũng nhớ ba má cả. Ngoài sân, trong nhà, sau bếp, trên lầu, chỗ nào cũng nhớ, cũng thấy có ba má. Ba má ngồi chỗ này, ba má ăn chỗ này, ba má nằm chỗ này, ba má ở chỗ này… Chỗ nào cũng thấy ba má. Nhớ ba má và nhớ Hí không tưởng được.

            Ba ngày sau ngày đầu tiên, xe Công An lại đến. Lần này không xét nhà nhưng chúng hỏi kỹ ba má đi đâu, đi bao giờ, đi bao lâu về. Chị em chúng tôi nói liều là về Quảng Trị thăm ngoại bệnh. Ngoại già lắm rồi, hơn 90 tuổi. Nói vậy cho có lý. Tháng đầu thì sợ, sợ ba má vượt biên bị bắt, nhưng nhờ ơn trên…

            Tháng Sáu tháng Bảy, xe Công An đến liền liền. Chúng hỏi đi hỏi lại là ba má đi sao lâu về, hỏi địa chỉ của ngoại ở Huế. Tôi nói dối là ngoại ở quê, chúng tôi xa Huế từ hồi nhỏ xíu, không rõ. Nghe nói các bạn của ba như chú V. Chú S. đều bị bắt cả, chú T. thì bị đánh chết trong tù. Cuối cùng, Công An biểu tôi về Trung gọi ba má vào, chúng dụ là chỉ hỏi chuyện ba má thôi. Tôi nói là chị cả, không đi được, bỏ em không ai coi sóc, tụi nó toàn là con gái. Công An bèn bắt thằng em trai tôi, Bảo Long, biểu ra ngoài Trung gọi ba má về. Chúng tôi cũng chẳng lo vì bây giờ biết ba má ở Bidong rồi.

            Mấy hôm trước cô tôi xuống thăm, không nói gì, chỉ khóc. Cô tôi rất mau nước mắt và rất thương ba tôi. Cô tôi dặn là coi chừng tụi nó sẽ xét nhà, tịch thu nhà, có gì quí thì lo cất. Tôi và thằng em trai cạy miếng gạch bông trong phòng ăn, lấy mấy lượng vàng lận vào lưng. Sau lần bị đánh tư sản và sau bao nhiêu lần vượt biên bị bắt, bị gạt, của cải ba má cất dấu chỉ còn lại chừng đó. Nghĩ mà thương ba má quá, một đời vất vã dành dụm, bỗng tài sản đi như nước chảy.

            Công An phường lại đến tìm thằng em trai tôi, buộc phải đi Trung tìm ba má về. Tôi sợ thằng em trai tôi dám bị bắt lắm. Công An bắt nó để ba má tôi trốn ở đâu đó phải về. Nhân dịp chú Sáu, chú Mười ở Cà-Mâu lên thăm, hai ông là người tổ chức cho ba má tôi đi, tôi lại biểu thằng em tôi đi. Sau mấy lần ngần ngại, nó nghĩ là ba má đã đi rồi, trong nhà chỉ có nó là trai, còn lại toàn là chị em gái nên nó không muốn đi. Nhưng sau lần Công An gọi nó qua phường, đe dọa, biểu phải khai rõ ba má trốn ở đâu, còn không thì sẽ qui cho nó tội ngoan cố, bao che phản động làm thằng bé sợ quá. Hôm sau, 3 giờ sáng, tôi đưa nó ra bến xe Miền Tây, cho nó về Cà Mau theo đường giây cũ của ba má mà đi vượt biên.

            Tội nghiệp thằng nhỏ ở cả tháng dưới ruộng mới đi được. Nó mà chịu ở ruộng lâu như thế là nó sợ Công An lắm chứ cậu ta vốn dĩ là con trai độc nhứt của gia đình có tới sáu chị em gái, đẹp trai, con nhà giàu, cả nhà ai cũng cưng, ăn diện dữ lắm, chưa bao giờ phải khổ cả. Cũng tội nghiệp cho nó nữa: Ghe nó tấp vào đảo Redang, nghe nói chỉ cách Bidong có một hòn đảo vậy mà nó bị kéo ra khơi. Nó phá ghe để vào đất liền, lại bị kéo ra. Nó xin người ta cho nó vào Bidong, bập bẹ mấy tiếng Anh “My parents are on Bidong, let me come there” nhưng cũng bị đẩy ra. Ba lần như thế, nó cố đến với ba má mà không đến được. Cuối cùng nó bị đẩy qua Indo. Bây giờ thì nó thui thủi một mình ở trại tỵ nạn Galang.

            Công An thấy vắng luôn thằng nhỏ, lại truy riết tới. Ngày nào Công An phường cũng gọi tôi lên hạch hỏi, lấy cung, bắt làm tờ khai, kiểm điểm. Những thằng Công An này thường đến uống cà-phê nơi quán tôi, để xã giao, tôi không tính tiền. Vậy mà bây giờ chúng làm mặt lạ. Tính tôi đã lì, lại ỷ mình là đàn bà con gái, tôi lại lì hơn. Ngày nào tôi cũng làm kiểm điểm giống ngày nào. Công An tức lắm. Vã lại, tôi cũng muốn chọc tức mấy thằng này. Ba má và Bảo đi rồi, còn lại năm chị em gái, chúng nó làm gì được? Chúng dọa tịch thu nhà vì nhà má tôi đứng tên. Tôi dọa lại tôi sẽ dẫn các em ra trụ sở Ủy Ban Nhân Dân Thành phố khiếu nại. Chúng nó thách. Dù sao thì án chưa xử, chưa tịch thu nhà được, nhưng nếu khi xử, dù xử khiếm diện ba má, chúng cũng sẽ lấy nhà vì luật lệ ở trong tay chúng. Chúng viện cớ quán cà-phê má tôi đứng tên, tịch thu môn bài, đóng cửa. Thật xui, quán mở chưa được mười hôm thì ba má trốn đi. Nhưng chị em tôi cũng chưa đói. Bảo đi ngay gốc nên tốn chỉ hơn một cây, còn Diễm ở Mỹ, nghe chị em tôi ở nhà loe ngoe với nhau, gởi tiếp mấy thùng quà, đủ tiêu chán. Có điều chị em chúng tôi buồn lắm. Bỗng dưng gia đình ly tán, ba má một nơi, chị em mỗi đứa một nơi. Chúng tôi không tổ chức party mỗi kỳ sinh nhật nữa. Mấy năm sau khi ba ở tù về, ba má cho mở party nhảy đầm. Ba má nói ỏĐể cho các con được vui!õ Ba má chỉ cấm không được làm ồn ào quá lắm, Công An lưu ý, còn ba má thì bắt ghế giả bộ ngồi chơi trước cổng, canh chừng Công An để “các con được vui!”

            Tình hình thế này thì chị em chúng tôi cũng phải đi thôi, không thể ở được nữa. Chúng nó ghim nhà tôi kinh quá, ỏbao vây kinh tếõ kỷ quá. Không cho bán càphê là chị em chúng tôi ngồi không tối ngày. Công An cứ gọi tôi hoài, cảnh cáo là đi xa phải xin phép. “Không thì khó khăn đấy.” Đó là lời chúng đe dọa.

            Chú Sáu, chú Mười lại lên. Sợ Công An, tôi gởi họ bên nhà cậu mợ, bàn với họ cách cho chị em chúng tôi đi. Bi nhỏ không kể, bây giờ còn bốn chị em, không đủ tiền ghe tàu cho tất cả. Tuy nhiên, nếu đưa vàng trước cho chủ ghe tổ chức thì đủ, nhưng nếu không đi được thì coi như mất vàng. Tôi suy đi tính lại thật kỷ: Ba má đi đường này, Bảo cũng đi đường này, an toàn. Chú Sáu và chú Mười thật thà, đáng tin. Chỉ sợ gặp xui. Dù gì thì cũng phải liều thôi, như câu bà nội hay nói đùa mà nay thành ra thật: ỏMột liều ba bảy cũng liều, cầm như con trẻ chơi diều đứt dây.õ Diều đứt dây là coi như… không dám nghĩ tiếp. Chị em chúng tôi tới đường cùng rồi, đi thì may ra thoát còn không đi thì coi như chết cứng ở đây.

            Từ khi ba má đi rồi, Bi tội lắm. Nó không chơi với trẻ con hàng xóm nữa, chỉ chơi một mình. Đang ngồi, tự nhiên nó thừ ra, mắt nhìn vào đâu đâu, rồi Bi khóc. Hỏi, Bi nói: ỏBi nhớ ba má và Hí lắm.õ

            Đúng ra Tân Long là út. Tân sinh năm 1972. Mười hai năm sau, khi ba tôi đi ở tù về, vừa đúng 49 tuổi. Má nói đàn ông 49 tuổi xui lắm, nếu má sinh một đứa nữa thì sẽ xả xui cho ba. Vì vậy, năm đó, để xả xui cho ba, má tôi sinh liền hai đứa. Cả nhà, và cả bà con nữa, ai cũng cười. Hai đứa nhỏ này cách chị nó, đứa áp út những 12 năm, trong khi chị em chúng tôi cách nhau đều đều chỉ có 2 năm.

            Hai đứa bé sinh đôi, lớn lên, ăn, chơi, ngủ với nhau nên thương nhau lắm. Vậy mà bây giờ Hí thì đã đi, chỉ còn lại thui thủi một mình Bi. Nó rất người lớn, không nhỏng nhẽo như trước, mỗi ngày đôi ba lần nó thờ thẩn nhìn đâu đâu, nghĩ đâu đâu, rồi khóc, cũng khóc một mình, không quấy rầy các chị. Tôi nghiệp, nó không còn cái vui hồn nhiên của trẻ thơ nữa. Năm tuổi đầu, Bi đã biết buồn đau vì những ly tán, xa cách, nhớ nhung và âm thầm chịu đựng. Bi không còn bắt chước các chị gọi đùa tôi là ỏHà ỏcheõ (ke)õ nữa (vì tôi gầy lắm), không gọi “Bảo xún” (vì Bảo sún răng). Bi gọi đúng tên, nghiêm chỉnh. Nó mất đi cái tính vui vẻ, đùa nghịch. Có khi nghe một bài hát quen, nó bỗng gọi tôi: “Hí biết hát bài này, nó có hát đấy”. Tôi nhớ hai đứa nhỏ rất thích bài Ali Baba. Mỗi khi quán càphê mở bản nhạc nầy ra, tôi thấy Bi thờ thẩn, nhớ nhung. Nó thường nhớ những kỷ niệm khi hai đứa nhỏ sống với nhau. Bi chỉ còn một thú vui duy nhất, chơi trò chơi điện tử. Đôi khi đưa Bi đi chợ, qua chỗ có trò chơi điện tử, nó nằng nặc xin hai trăm đồng để vào chơi. Tôi đứng ngoài chờ. Nhìn cái lưng nhỏ bé của nó đang ngồi chung với đám con trai trên dưới hai mươi tuổi mà tức cười. Vậy mà chơi lúc nào nó cũng ăn. Mấy đứa trong phường mỗi lần thấy Bi, nói với nhau: “Con bé đó, nhỏ vậy mà chơi điện tử hay vô cùng.” Bi giống chị em chúng tôi, đứa nào cũng thông minh.

            Mấy đêm trú nơi cửa biển chờ vượt biên, nó đã khôn lại khéo. Nó bảo là đi gặp ba má phải mặc quần áo đẹp cho ba má thương, lại còn chuẩn bị đem quần áo sang cho Hí. Nó nói là gặp Hí sẽ không gọi mày tao nữa, gọi là em Hí, xưng là chị Bi, để khỏi bị người ta mắng là mất dạy. Buổi chiều hôm trước khi ra biển, tôi nhờ bà chủ nhà mua cua về luộc ăn. Đòi ăn cái càng cua, Bi nói: “Đưa cái miệng cua cho Bi” khiến mấy chị em tôi cười. Đêm ra đi, Bi tắm rửa, soi gương, chải tóc, lấy rái tai, thay quần áo đẹp. Bi chuẩn bị đi thăm ba má kỷ đến thế.

            Khi xuống ghe, ghe có mui, Vũ Long bồng Bi ngồi trong cùng. Chúng tôi ngồi ở ngoài. Vì vậy, khi ghe lật, Vũ và Bi kẹt trong mui, không văng ra khỏi ghe như mấy chị em. Mọi người bám vào ghe. Tôi đứng trên lưng ghe, lạy lục, van xin, người ta chui vào ghe cứu các em tôi. Quỳnh, Tân lên được trên lưng ghe, còn tỉnh. Khi lôi được Vũ ra ngoài thì nó bất tĩnh rồi, bụng đã phình lên vì uống nhiều nước. Vì bất tĩnh nên Vũ không giữ được Bi, Bi chết trong tay Vũ.

            Người ta vớt mấy chị em chúng tôi đưa lên ghe lớn. Vũ được hút nước, làm hô hấp nhân tạo, cả tiếng đồng hồ sau mới tỉnh lại. Mấy chị em ôm nhau mà khóc sướt mướt, thương Bi quá, và thương thân nữa. Thương Bi nhiều nhất. Vượt biên dễ sợ quá, kinh hoàng quá, ghê gớm quá! Chúng tôi ở trên ghe chờ suốt đêm hôm đó, qua hết ngày hôm sau để người ta tìm xác Bi. Nếu tìm được, tôi sẽ nhờ chủ tàu đem Bi về chôn, chúng tôi tiếp tục đi. Đến Bidong không có Bi biết ăn nói với ba má ra làm sao?! Nếu không tìm được xác Bi, chúng tôi sẽ quay về, cố tìm xác em để chôn em vào đất cho được ấm áp. Tội nghiệp cho đứa em bé nhỏ của tôi, âm thầm chịu đau đớn vì ly tán, vì thương nhớ, âm thầm đi vào cõi chết, không một tiếng khóc đau đớn, không một tiếng than cho số mệnh, không một lời nhỏng nhẽo, một cái chào tay giã từ, nhớ lời Vũ Long nói, Bi chỉ kêu lên mấy tiếng “Ba ơi, má ơi” trước khi nước tràn vào ngập cả mui ghe.

            Chiều hôm đó, không tìm được xác Bi, người chủ tàu đem ghe ra đón mấy chị em chúng tôi về. Ngày ra đi vui tươi, hy vọng bao nhiêu thì ngày về buồn bả và đau đớn bấy nhiêu! Năm chi em gái đã thiếu một đứa nhỏ nhất, bé bỏng nhất, dễ thương nhất.

            Ba giờ sáng, người chủ ghe đón tàu đò cho chúng tôi về Cà-Mâu. Chúng tôi sẽ ở lại đó chờ tìm xác Bi, chôn cất xong, chúng tôi mới về Saigon. Nhà chắc không còn. Chúng tôi khóa nhà đi đã hơn mười ngày. Công An đang ghim nhà tôi, thấy vắng, chắc chúng sẽ niêm phong. Nhà không còn, tiền bạc cũng không còn, chúng tôi sống bằng gì bây giờ. Nhưng vì thương em, thế nào chúng tôi cũng phải về.

            Người ta bọc xác Bi trong một cái áo mưa nylon, đóng vội cái quan tài bằng sáu miếng ván thuyền, chôn ở một khu rừng nào đó, tại một cửa sông nào đó … Bi nhỏ bé của tôi, Bi dễ thương của tôi, Bi “sinh sau đẻ muộn”, Bi đến muộn màng trong gia đình mấy chị em chúng tôi, Bi ra đi vội vàng trong gia đình mấy chị em chúng tôi, và rồi Bi đã nằm lại đó, ở một cửa sông, giữa một khu rừng đước hoang dại, cô đơn, lẻ loi, lạnh lẽo. Ôi, Bi yêu dấu; tội nghiệp cho Bi của tôi biết bao nhiêu!

&

            Sáu tháng sau, tôi nhắn người chủ tàu lên, đưa tôi về bốc mộ cho em. Ngày đi, có Vũ Long đi theo, phòng khi tôi bị ngất xỉu vì đau đớn. Tôi về ở lại nhà người chủ tàu. Bốn giờ sáng, tôi, Vũ Long, người chủ tàu và hai người làm công chèo thuyền ra cửa sông. Tôi ngồi trên ghe, nghĩ đến đứa em bé nhỏ tội nghiệp mà nước mắt cứ tuôn ra ròng ròng. Tôi thấy Vũ Long cũng lau nước mắt. Hai chị em âm thầm khóc. Gần tới cửa sông, ghe rẻ vào một con rạch. Đi càng xa, rạch càng nhỏ dần, hai bên là rừng hoang. Sợ Công An, người ta đã đưa em tôi vào đây, chôn dấu một cách lén lút, vội vàng. Ngôi mộ được đánh dấu bằng hai cọc cây: Một cao đằng đầu, một thấp đằng chân. Đầu em tôi quay về hướng nam, hướng đảo Bidong, nơi ba má tôi đang sống trong trại tỵ nạn. Không biết vô tình hay cố ý, người ta đã chôn em tôi hướng về phía ba má tôi. Đất mềm và ướt, chỉ cuốc một chốc, tiếng cuốc đụng nhẹ vào nắp hòm một tiếng cộp nhẹ, tiếng dội nhẹ đập thẳng vào tim tôi. Tôi kêu lên hai tiếng “Bi ơi” và khóc nức nỡ. Vũ cũng khóc. Tôi cố chồm tới để cố nhìn vào quan tài nhưng người chủ ghe giữ tôi lại, bảo tôi khóc nhỏ, sợ Công An, du kích nghe thấy, tìm tới thì bị bắt cả đám. Một lúc sau, quan tài được đưa lên mặt đất, ván còn nguyên, chưa mục. Tôi lại nhoài người tới để xem em tôi nằm trong hòm nhưng người ta lại không cho. Tôi ngoan ngoãn ngồi yên. Tôi nghĩ tới nỗi đau đớn khi nắp hòm cạy ra và Bi nằm yên lặng trong đó. Tôi nhắm mắt và cố nghĩ tới ba má. Nghĩ tới ba má sẽ vơi đi những nỗi khổ đau…

            Ba má ơi! Nếu con đưa được em về thì coi như con đã làm tròn phần nào bổn phận đối với ba má. Con tưởng là con đem em đi cho ba má được gặp em, cho ba má đỡ nhớ, đỡ thương, cho ba má được gần gủi đứa con ăn sau chạy dọi bé nhỏ tội nghiệp mà ba má thương lắm, cho hai chị em sinh sau muộn màng được gặp nhau, được ăn uống vui đùa cùng nhau. Ngờ đâu hôm nay con lại đưa em về, cũng lén lút như khi đưa em đi. Người ta đang sắp những lóng xương, đốt xương nhỏ bé tội nghiệp của Bi vào cái rương thiếc con đã mua sẵn. Khuôn mặt dễ thương ấy, bàn tay bàn chân nhỏ nhắn ấy, giờ đây chỉ cò lại những cái xương vô tình, còn đâu da dẻ hồng hào trắng muốt của em.

            Ba má kính yêu,

            Hí phiêu bạt của chị Hà,

            Con đã lén lút đưa em về, và lại một lần nữa lén lút đem chôn em bên mộ bà nội. Con đã khấn trước mộ: “Nội ơi! Bây giờ ba má đi xa mà em thì côi cút. Con đưa em về ở với nội, gởi cho nội gần gủi hôm sớm để nội chăm sóc cho em, để em vui đùa với nội. Tối tối, nội sẽ hiện lên ngồi trên mộ, em sẽ bắt chí cho nội như mẹ con Cúc Hoa ngày xưa. Đến khi gà gáy sáng, em và nội sẽ về lại cõi âm. Có lẽ em sẽ hỏi bao giờ thì ba má về thăm nội, thăm em. Nội cứ liệu mà trả lời cho em khỏi buồn!

            Ba má kính yêu,

            Hí phiêu bạt của chị Hà

            Sau khi chúng con về, nhà đã bị tịch thu nên chị em chúng con không về nhà cũ nữa. Nhà không còn mà chị em cũng không muốn trở về lại căn nhà dấu yêu và quá nhiều kỷ niệm ấy! Để sống, chúng con phải chạy trốn kỷ niệm. Ba má tha lỗi cho chúng con.

            Tết vừa qua, chỉ có bốn chị em chúng con ở với nhau, nhớ ba má, nhớ Hí, nhớ Bảo, nhớ Diễm vô cùng. Nhiều đêm bốn chị em nằm ôm nhau mà khóc. Con khóc ít nhất vì con là chị cả, nhưng con cũng ngủ sau cùng khi các em khóc nhiều, mệt và ngủ thiếp đi, cũng vì con là chị cả.

            Một năm sau ngày ba má đi, nhiều sóng gió quá mà chị em chúng con thì cô quạnh quá. Ba bị ở tù Cọng Sản 7 năm, vắng ba còn có má. Bây giờ thì vắng cả ba lẫn má.

            Một năm qua, một năm kinh hoàng, đau khổ và cô đơn. Kinh hoàng, con không sợ vì chị em chúng con sinh ra trong chiến tranh, lớn lên trong chiến tranh, đã quá quen với bao nỗi kinh hoàng. Kinh hoàng vì năm ngàn người bị giết ở Huế hồi tết Mậu Thân, lúc gia đình mình còn ở ngoài ấy, con mới 5 tuổi; kinh hoàng vì ngày 30 tháng Tư, con mới mười ba tuổi. Đau khổ, con cũng không sợ, vì con chấp nhận triết lý Phật giáo, ỏĐời là bể khổ, nhưng chị em chúng con rất sợ cô đơn. Xa ba má, chúng con rất cô đơn. Tất cả chị em chúng con đều sợ cô đơn. Ba má nhớ thư Diễm viết về khi nó ở Bidong năm 1984 không: “Tối qua, lúc ba giờ, giật mình thức dậy, cảm thấy bơ vơ và nhận thấy một cách rõ rệt và đau đớn rằng giờ ba má đã xa rồi, các em đã xa lắm rồi. Mai đây và dài lâu nữa, con một mình sống cuộc đời của kẻ tha huơng, biết bao giờ con mới gặp lại ba má và các em…”

            Giờ thì “ba má đã xa lắm rồi!”, đang lạc loài nơi đất khách, lưu đày nơi xứ lạ, sống đời vong quốc. Bốn chị em chúng con ở đây, ngay trên quê hương mình, cũng đang chịu kiếp lưu đày. Lưu đày ngay chính trên quê hương mình, đó là câu của Saint Exupery mà ba thường nói khi còn ở nhà. Bây giờ mấy chị em sống côi cút với nhau lại càng thấm thía lời ba nói, đau xót cho ai bị lưu đày ngay chính trên quê hương mình.

            Hôn ba má và Hí ngàn vạn cái.

            Hà Long

Hoàng Long Hải

304Đen – Llttm - VT

 

Một Thời Mạt Kiếp - Không đề tên tác giả


Một thời mạt kiếp !!!
 




Hồi tưởng chuyện Lính Bắc Việt bị xích vào xe tăng , bộ đội bị xiềng chặt với súng nặng , với phòng không .... sao mà vẫn còn rùng mình ,ghê tởm , kinh hãi cho thân phận con người dưới thời nhà Sản nước Vệ . Nghe như chuyện bịa đặt , tuyên truyền bôi bác . Không ai tin được ... đâu ngờ ,nó đã một thời xảy ra trên quê hương VN trong hậu bán thế kỷ 20 ! Nếu mang chuyện ra nước ngoài kể lại ,chẳng ai tin . Khổ thay ,nó lại thật mười mươi trên mảnh đất mang hai chữ VIỆT NAM yêu dấu !

Chuyện nước Vệ triều nhà Sản càng kể càng bi thương hơn . Quyết tâm giải phóng nước Ngụy ,dù cơm không đủ ăn ,áo không đủ mặc . Nhà Vệ động viên cả nước , thề thắt lưng buộc bụng nhịn ăn nhịn mặc cứu nước chống Ngụy ,nên trăm họ từ cây kim sợi chỉ , lương đống , cái ăn cái mặc ,tháng tháng sắp hàng lãnh chẩn . Áo quần một kiểu đồng phục, mỗi năm 3 thước vải thô , đồng màu xám xịt !!!

Chuyện yêu đương lại càng phải căn kẽ , căn cơ . Vệ đời ̀ Sản bày ra sách lược BA KHOAN .
Đó là : Chưa yêu thì KHOAN YÊU . Lỡ yêu thì KHOAN CƯỚI . Lỡ cưới ... thì KHOAN ĐẺ . Ai vi phạm cứ chiếu theo luật nhà Sản trừng trị : bỏ bao thả sông , cái mốt thời thượng thưở đó . Ngụy nằm phía Nam nước Vệ , biên cương đầy sơn lam chướng khí chập chùng , bao bọc bởi núi cao ,rừng thẳm , thác ngàn ... chớn chở !!!
Vào đánh phải vượt qua giải núi dài bất tận Trường sơn ! Vượt núi trèo đèo , băng ghềnh qua suối .... quân lính lớp chết lớp bệnh ... lắm lúc gươm đao nhiều hơn cả người . Vơ vét hết trai làng , buôn , bản cũng không đủ số !!!



Đất này chẳng có niềm vui

Ngày quệt mồ hôi, đêm chùi lệ ướt

Trại lính, trại tù, người đi không ngớt

Người về thưa thớt dăm ba

Trẻ con đói xanh như tàu lá

Cày bừa phụ nữ đảm đang

Chốn thôn trang vắng bóng trai làng

Giấy báo tử rơi đầy mái rạ

Buồn tất cả

Chỉ cái loa là vui! < 1 >


Thành ra nhà Sản thời ấy . Sinh cảnh trai thiếu gái thừa !!! Có những làng không đàn ông , như hồi thế chiến thứ II bên Âu ! Có làng toàn gái lỡ thì TNXP . Lời than tiếng thở ,thấu tận trời xanh ....

Đàn ông con trai nước Vệ hăm hở lên đường với hành trang "Lời Mật , Bánh Vẽ của Minh Giáo chủ " , ban phát qua sự giúp đỡ của Tề quốc đại nhân , tên gọi Hông Mao vĩ đại.

Đi ta đi phỏng giái miền Nam.

Phá hết bốt đồn , quét sạch bóng quân xâm lược

Vì ĐỘC LẬP TỰ DO ta giành BO BO < 2 >

Giành lấy NHỮNG NHÀ TO , boác kính yêu đang cùng MÁ CHÁU hành quân ...


Để khích động hờn căm , các nhạc nô ,được lệnh sáng tác những bài hát trên . Trong khi nhà Ngụy dù phải chiến chinh tự vệ , chống laị Sản , Ngụy vẫn trị dân theo nhân bản, dân quyền . Văn hoá dạy tôn trọng Nhân Vị , phát triển dân sinh , dân trí , dân khí ... ca nhạc kịch nặng tình yêu quê hương đất nước , con người !!!

Dù xương trắng núi dài , sọ ngập rừng sâu , nhưng chưa hy sinh đến NGƯỜI VIỆT NAM CUỐI CÙNG thì vẫn phải tiếp tục SINH BẮC TỬ NAM ... theo lời phán của Minh giáo chủ , cùng nặng lời thề thốt với Hồng Mao vĩ đại Tề quốc . Hãy nghiền ngẫm câu chuyện dưới đây , để cảm thông cho kiếp người nước Vệ thưở ấy :


Nó sống kham khổ ở vùng ấy đã bao lâu?
- Cháu nghe ông sư phó nói lại là ngót nghét sáu năm.
- Khổ thân con tôi, trai đương thì hơ hớ ... Anh Quân này, lũ dân thường như chúng ta, chịu cực đủ điều, bóp miệng bóp mồm, bóp cả đến con c... Tụi tướng lĩnh nó có khổ như thế đâu? Ra Bắc vào Nam, đâu đâu chúng nó cũng có đàn bà. Ngày xưa thì là phi là thiếp, giờ thì các đồng-chí-nữ phục vụ! Trò đểu, thời nào cũng giống nhau là thế !
- Vâng.
- Biết vậy mà có ai dám nói đâu?... Như tôi, ngang ngược bậc nhất làng này cũng phải kéo anh ra đồng trò chuyện. Kiếp dân đen, miên man cơ khổ. Bao nhiêu người chết đi, từ cụ Đề, cụ Phan tới ông Nguyền Thái Học ... Bao nhiêu sinh linh mới đổi được lá cờ độc lập. Nhưng bọn thực dân da trắng cút đi thì lại mọc lên bọn cường hào, ác bá da vàng !?
- Vâng.
- Nhưng ta hiểu riêng với nhau thế thôi, anh Quân nhé ... Chớ để cho ai biết. Anh em, họ hàng, bè bạn bây giờ rình mò tố cáo nhau còn hơn chồn cáo. Thời này, gương mặt người cũng biến dạng đi, không còn giống cái mặt người ... < 3 >



Thiên chức , phụ nữ sinh ra để làm MẸ . Nhưng nước Vệ thời nhà Sản ,kềm kẹp , cấm đoán cả yêu đương ! Làm chuyện trái khoáy ngược hẳn thiên nhiên . Chưa yêu thì khoan yêu . Lỡ yêu thì khoan cưới . Lỡ cưới thì khoan con !!! Một xã hội loài người hay xã hội loài vật !!! ???

Nghiêng đồng đổ nước ra khơi
Vắt đất ra nước thay trời làm mưa !

Nên chuyện gì đến đã đến !!! Một xã hội thiếu đàn ông ... mà quá thừa đàn bà !! Cả một thời kỳ huy hoàng vàng son cho các đấng râu mày không phải đi "Sinh Bắc Tử Nam " vào thưở ấy .
Tệ nạn tràn lan , hủ hoá khắp nơi , phá thai đưa lên đỉnh cao quốc sách , dù không văn bản , từ đó miền Bắc mới có " cao thai " " cao nhau " .
Vệ quốc đời Sản , viết thì phải lách , không biết lách , nhẹ thì treo mõm , nặng thì nằm Hoả Lò . Văn hoá kịch nghệ viết ra theo đơn đặt hàng , một chiều đơn điệu ... gọi là văn Đỏ , nhạc Đỏ ... Nên dù đã 42 năm lục bình trôi sông , nhạc nhà Ngụy vẫn sống mãi , sống hùng sống mạnh . Nhạc đỏ muôn ... muôn đời ... đi sau ... xách dép cho VNCH !


Không đề tên tác giả


Chú thích :
< 1 > : Thơ Nguyễn chí Thiện
< 2 > : BO BO là thức ăn cho ngựa ,xin từ Liên sô cho cả nước ăn thì không rõ , chỉ rõ là miền Nam VN được nhai nó thay cơm gạo sau 75 .Đặc tính : ăn sao ra vậy ! Chắc hẳn không thích hợp cho bao tử con người !
< 3 > : Trích đoạn chuyện Vô Đề của Dương thu Hương .

304Đen – Llttm - YD

Saturday, November 4, 2017

Tạp Ghi Những Quặn Đau Tủi Nhục Của Sài Gòn Sau 1975 - Duyên Anh


Tạp ghi những quặn đau tủi nhục của Sài Gòn sau 1975 qua ngòi bút Duyên Anh

 


Ca là cái ca, ai cũng biết. Ca nhôm, ca sắt, ca nhựa vẫn là ca. Cóng người miền Nam gọi là lon. Kỳ thủy, hộp sữa bò đặc uống hết mở nắp vất đi, người miền Bắc gọi là cái ống bơ. Có nơi gọi là ống bơ. Ống bơ dùng để đong gạo. Riết rồi, bất cứ một hộp sắt, hộp thiếc nào to nhỏ, đều được gọi là ống bơ. Ống bơ rỉ thì chán lắm. Hát như ống bơ rỉ!
Cái lon sữa bột Guigoz cũng là…ống bơ, là cóng bơ. Dưới chế-độ cộng-sản, vì toàn dân đói nên thiếu hơi, nhiều danh-từ được giản-lược half and half. Cóng bơ còn một tiếng cóng. Bơ ở thiên đường mù-mịt, bỏ bơ đi là đúng. Bỏ bơ là loại bỏ tư-bản, là chống đế-quốc, là vô-sản khoai sắn “cho ngày nay, cho ngày mai, cho muôn đời sau” …Cái cóng đa-dụng và đa-năng ở trại lao-cải là cóng Guigoz.

Hãng chế-tạo sữa bột Guigoz đã đi vào lịch-sử đấu-tranh của hai miền Nam-Bắc. Trên thế-giới, có lẽ, chỉ có nước Việt Nam bốn nghìn năm văn-hiến giầu và nghèo bình-đẳng … lon Guigoz. Nhà nào cũng có lon Guigoz. Vì lon Guigoz bán ngoài thị-trường vỉa hè. Đựng đường, đựng mỡ, đựng bột thật an toàn. Đựng cà-phê thì khỏi lo bay mất hương thơm.
Thuở ta học đòi Mỹ, công-chức làm việc thông-tầm, lon Guigoz biến thành thứ gà-mèn lý-tưởng, đủ bữa cơm trưa , ăn ngay tại cơ- quan. Sau 30-4-1975, lon Guigoz đắt giá. Một cái trị-giá hai lá cờ đỏ sao vàng tặng thêm chân-dung Bác, Mác và Lê.

Lần đầu tiên trong lịch-sử cộng-sản, lon Guigoz hạ chủ-nghĩa và lãnh-tụ. Vì chủ-nghĩa và lãnh-tụ bắt quá nhiều tù. Và tù-nhân cần lon Guigoz làm cóng. Ca cóng, tôi không hiểu chính-xác xuất-xứ của nó. Người nói: Anh em cải-tạo miền Bắc đem về Nam. Kẻ bảo: Việt cộng nó gọi vậy mình hài hước gọi theo, riết đâm quen. Điều buồn cười là, khi nổi lửa nấu bếp: đa-số tù-nhân nấu bằng nồi. Vậy thì ca-cóng là một bí số- như TH6- là bí danh của Nấu Nướng, như Lý Thụy, Anh Ba, Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh, Nguyễn Tất Thành, là bí danh của Nguyễn Sanh Cuông.

Hạnh-phúc mà vô-sản chủ-nghĩa đem từ thiên-đường Liên xô sang đất nước tôi là gì? Hỏa-tiễn, súng đạn, giáo-điều mác-xít, lê-nin lỗi thời. Chủ-nghĩa cộng-sản có khả-năng tiêu-diệt 1 triệu dân Việt Nam mùa cải-cách ruộng đất năm 1956, có khả-năng nướng thiêu 1 triệu thanh niên miền Bắc dọc đường mòn Hồ Chí Minh và các chiến trường miền Nam.
Chủ-nghĩa cộng-sản có khả-năng làm bé nhỏ cả dạ-dầy lẫn tim óc của dân miền Bắc. Nhưng, chủ-nghĩa bách-chiến bách-thắng ấy chưa giải-phóng nổi chế độ đổ thùng ở riêng thủ-đô Hà-nội “thủ-đô của phẩm-cách con người”. Khi còn công-nhân vệ-sinh đặc-trách đổ thùng, còn phu đổ thùng, còn con người tăm-tối chui rúc vào cầu-tiêu vác những thùng phân đổi miếng cơm hẩm, chủ-nghĩa cộng-sản chỉ được định giá như một thùng phân lúc nhúc ròi bọ.

Trước cách-mạng 19-8-1945 , dân chúng Hà nội (2) đã chơi cái trò đại-tiện kiểu đại-tiện của tù-nhân ở các trại lao-cải. Dĩ nhiên, nhà xí thuộc phạm vi gia đình nên nó văn-minh hơn. Năm giờ sáng, các ông phu đổ thùng chở thùng mới vào thành phổ bằng đôi bồ có nắp đậy và gánh hai thùng phân ra tận ngoại-ô bán cho nông-dân.
Thuở ấy, làm nghề thầu phân béo bổ, lại không thất đức như thầu vé chợ. Nhà thầu thuê phu đổ thùng. Phân bắc quý lắm. Bởi vậy, có khối bà địa-chủ, khuyên vàng, xà-tích rủng-rỉnh mà dám xắn ống tay áo lên cao, đưa cánh tay trần chạm đáy thùng xia khoắng kỹ xem thùng xia nhiều giấy hay ít để định giá. Sau cách-mạng 19-8-1945, phu đổ thùng vẫn đeo nhãn hiệu phu đổ thùng. Mãi sau cuộc cải-cách ruộng đất 1956, vô-sản vùng lên dữ-dội thì phu đổ thùng hóa kiếp “công-nhân vệ-sinh đặc-trách” đổ thùng.
Phùng Quán tả sự ghê rợn của đổ thùng:

Tôi đã gặp
Chị em công-nhân đổ thùng
Yếm rách chân trần
Quần xăn quá gối
Run lây-bẩy chui vào hầm xia tối
Vác những thùng phân
Ta thuê một vạn một thùng
Có người không dám vác

Hà-nội từ 1973 đã được mệnh-danh là “thủ-đô của phẩm-cách con người”. Và, mặc dù, chủ-tịch Hồ Chí Minh ba-hoa “Đánh xong giặc Mỹ ta sẽ xây-dựng bằng mười năm xưa”, bi-cảnh đổ thùng còn tiếp diễn và muôn đời tiếp nối. Sự nghiệp đổ thùng của nhân-dân sống mãi trong chủ-nghĩa cộng-sản Việt Nam như “Bác Hồ vĩ-đại sống mãi trong sự-nghiệp” đổ thùng của nhân-dân vậy.


Tôi không hiểu tại sao hai vị thẩm-phán của Toà Thượng-thẩm Sàigòn (3) lại dám làm công-việc mà, đói rã họng “Ta thuê một vạn một thùng, Có người không dám vác”? Nghe một vị thâm-phán có vợ bác-sĩ y-khoa thuyết-trình công-tác lao-động đổ thùng, Đằng Giao khoái quá, hỏi tôi:

– Hay là ông thầy và tôi tình nguyện đổ thùng nhé!

– Cảm hứng nào thế?

– Mình ngu, ở lại để đi tù là đáng ăn một thùng cứt.Mình không dám ăn thì đi đổ vậy.

– Rất đúng.

Vị thẩm-phán nói tình-nguyện đổ thùng sẽ bị nghi ngờ. Phải phấn-đấu cam-go vô cùng. Nhờ đó, tôi tìm được câu trả-lời tại sao hai vị thẩm-phán anh-dũng đổ thùng. Ông Trưởng Công Cừu thuyết trình về “triết học” Tam- túc cộng với Tam-giác cộng với Tam-nhân thành Nhân-vị ở một khoá học-tập Ấp Chiến Lược năm 1962 đã phán một câu chí-lý: “Người trí -thức muốn làm đẹp xã -hội. cần phải xông vào những nơi nhơ bẩn nhất để làm cho nó sạch-sẽ, thơm tho”.

Đã chẳng một trí-thức nào xông vào những nơi nhơ-bẩn mà chỉ thấy trí-thức xông vào những nơi ăn-bẩn ! Trí-thức, nhất là trí-thức khoa-bảng, vốn sợ khó, sợ khổ. Hôm nay bị cộng-sản nó cưỡng-bức lao-động, vẫn cố cách xoay sở chỗ nhàn-hạ, dẫu có bị ngửi phân tiểu đến điếc mũi hết ngửi nổi mùi da thịt của vợ mình.

– Anh ạ. vợ tôi sợ tôi chết khứu giác, đã mua cái mặt nạ chống hơi ngạt gửi cho tôi.

– Ông có đeo mặt nạ đổ thùng không?

– Có!

– Rồi sao?

– Cán-bộ tịch thu.

– Vô lý!

– Vâng, thật vô lý. Cán-bộ bảo tôi thíếu thiện-chí…đổ thùng, chưa tiến-bộ còn nặng đầu óc tiểu-tư-sản trí-thức.

Thôi, tôi quên cái cầu tiêu và sự tiến-bộ đổ thùng của hai vị thẩm phán mà những ai đã ở TH6A trước và sau tôi đều thuộc tên nhớ mặt.

Kỷ niệm Rừng Lá vỏn vẹn hai câu chuyện tiếu lâm , hài ít ... bi nhiều , nghe kể.

Chuyện thứ nhất

Đội nông nghiệp trồng khoai, trồng sắn, trồng ngô mãi cũng chán. Đất khai thác nhiều nó mệt, thu hoạch bết bát. Một tù nhân đề nghị quản giáo:

– Cán bộ ơi, tại sao mình không trồng xa lát.

Quản giáo:

– Sẽ nghiên cứu trồng Xa nát.

Tù nhân:

– Nếu trồng xa lát, mình nên trồng thêm cây bíp tếch cán bộ ạ !

Quản giáo:

– Sẽ nghiên cứu trồng nuôn cây bíp tếch một nượt !


Chuyện thứ hai

Kẻng báo ngủ đã điểm. Vệ binh đi tuần quanh nhà. Một tù nhân cao hứng:

– Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc.

Vệ binh nghe thấy, la hét:

– Anh nào vừa mới nói quỷ Nam, vua Bắc đấy ?

Im lặng. Vệ binh :

– Anh nào ? Quỷ Nam, vua Bắc, vua Nam, quỷ Bắc nà cái nghĩa ní gì ?

Im lặng. Vệ binh :

– Anh nào vừa nói ?

Im lặng. Vệ binh tức giận :

– Đội trưởng đâu ?

Đội trưởng :

– Có.

Vệ binh :

– Anh nào vưa nói ninh tinh náo nếu thế ?

Đội trưởng :

– Anh Trần Bình Trọng đấy, cán bộ ạ !

Vệ binh :

– Bảo anh Trần Bình Trọng sáng mai nàm kiểm điểm nộp cán bộ trực trại nhé !


Hai mẩu chuyện tiếu lâm lao cải trên, có thể là bịa đặt, có thể là không bịa đặt. Bịa đặt hay không bịa đặt thì cũng chỉ mục đích nói lên sự ngu dốt của cai tù, những ông thầy của trường học cải tạo xã hội chủ nghĩa.
Ông Hồ Chí Minh nói : « Trồng cây mất 10 năm, trồng người phải mất 100 năm ». Những con người ông hồ chí minh và chủ nghĩa Cộng Sản của ông đã trồng từ năm 1950 là năm Cộng Sản Việt Nam quy định thành phần, giai cấp và thực sự chuyên chế ra sao ?

Ba mươi năm trồng người, chủ nghĩa Cộng Sản và lãnh tụ vĩ đại của nó chỉ gặt được một thế hệ thanh niên ngu dốt đói khổ. Đói khổ nên môi thâm, người lùn tịp . Ngu dốt nên ngọng nghịu đòi trồng cây bíp tếch và bắt Trần Bình Trọng viết tự kiểm.
Người ta sẽ thù hận chủ nghĩa và lãnh tụ Cộng Sản hay thù hận những con người bị Cộng Sản và lãnh tụ làm cho đói khổ, ngu dốt ?

Câu hỏi đặt ra cho lương tri những người chống Cộng Sản .

Duyên Anh

Cánh Rừng Có Nhiều Hoa Cúc Dại - Thái Sinh


Cánh rừng có nhiều hoa cúc dại

 

 


 

“Chị chắp tay bảo tôi: Tôi xin anh đừng kể chuyện này với bất cứ ai…

Giống như chị, gần hai chục năm nay tôi như người bị ma ám, chỉ khi kể được chuyện này ra, lòng tôi mới cảm thấy nhẹ nhàng…”

 

Hai tuần nay chiều nào San cũng trở về sớm hơn mọi ngày. Căn nhà của họ nằm ở ven rừng bên cạnh con suối nhỏ nước trong vắt, mùa thu vàng rực hoa cúc dại. Kể từ ngày Thuỷ về phép đến nay đã được hơn ba tháng, đúng ra Thuỷ trả phép vào đầu tháng vừa rồi, vậy mà đến nay vẫn chưa thấy tăm hơi Thuỷ đâu cả. Mỗi lần đi làm về nhìn cánh cửa vẫn đóng San lại thở dài ngao ngán. Chị mơ hồ cảm thấy lần này Thuỷ không trở lại lâm trường, trước ngày về phép có lần Thuỷ nói:

-Chị San ơi, thế là mùa thu sắp về rồi đấy. Vậy là chị em mình ở đây đã được sáu năm hai tháng. Sáu năm chưa để một lần cháy rừng mà sao ông Tân chẳng cho chị em mình chuyển vùng nhỉ? Em sợ cái mùa hoa cúc dại lắm rồi. Trời xanh thế kia, mà sao cái màu hoa lại cứ vàng rực lên thế?

San không đáp, chị nhớ cách đây sáu năm khi chị và Thuỷ được phân công về tiểu khu rừng này, nhìn vạt hoa cúc dại nở dọc bờ suối Thuỷ không giấu được niềm vui.

-Ô kia hoa cúc! Chị San ơi, những bông hoa cúc rừng mới to và đẹp làm sao, thế là chị em mình tha hồ có hoa cắm. Nhìn cánh rừng hoa này khối đứa chết thèm nhé…

Chiều ấy Thuỷ hái về một ôm hoa to tướng cài lên khắp vách nhà, cô vừa làm vừa khe khẽ hát. Ngày ngày họ đi sâu vào rừng để ngăn chặn kịp thời những kẻ khai thác trộm gỗ, trồng giặm lại những chỗ vừa khai thác, phát đường băng cản lửa, thống kê một số loài cây gỗ quí hiếm… Suốt năm, suốt tháng quanh đi quẩn lại cũng chỉ có chừng ấy công việc. Mỗi mùa thu đến nhìn màu hoa cúc dại nở sáng cả cánh rừng lòng San không khỏi nôn nao.

Thế là sáu mùa thu đã trôi qua, căn nhà của họ đã đôi lần thay lại mái, nhìn những đồ vật từ cái cuốc, con dao đến chiếc hòm, tấm chăn… tất cả tưởng chừng như đều đã cũ kỹ, già nua. Con dao, cái cuốc lưỡi thì mòn vẹt, còn tấm chăn, cái hòm đen xỉn, đến cả những bức tranh dán trên vách nhà cũng đã bạc phếch. Thuỷ không còn vui nhộn như ngày xưa, cô bé trở nên ít nói, hoa cúc rừng chẳng ai thèm hái cứ vàng rực nom đến nhức mắt. Hoa nở rồi hoa tàn, chẳng ai để ý và háo hức chờ đợi như dạo nào mỗi khi mùa thu đến.

Mùa mưa ở rừng thật khủng khiếp, mưa liên miên, mưa rền rĩ sáu tháng trời, bầu trời rừng cây lúc nào cũng nhầu nhĩ nước, mở cửa ra là gặp mưa, đêm nằm nghe mưa rơi thao thác ngoài rừng buồn đến nẫu ruột. Chăn màn, quần áo của họ lúc nào cũng ẩm ướt, giặt phơi hàng tuần không khô. Họ chẳng còn cách nào, phải hong trên lửa. Mới qua thời chiến tranh, lại ở trong rừng cái gì cũng khan hiếm, quần áo giặt thiếu xà phòng cứng như mo nang, mùi khói hôi xì ám vào tận da thịt.

Mùa mưa là thế còn mùa đông rét cứ ngằn ngặt, căn nhà của họ lúc nào cũng âm ỉ khói. Khói và sương mùa luôn vây bủa quanh họ. Đôi lúc San tự hỏi: Nếu không có ngọn lửa kia chẳng biết họ sẽ sống ra sao nhỉ? Đêm đêm Thuỷ ghì chặt chị vào lòng, bàn tay thô nháp của nó lần rờ lên khắp người chị, có lần chị hất mạnh tay nó ra, nhưng nhiều hôm chị cứ mặc kệ nó vần vò trong nỗi đam mê tuyệt vọng. Có bận nó gục mặt vào ngực chị khóc nức nở:

-Tại sao trời lại sinh ra cái giống đàn bà hả chị? Thật kinh tởm! Họ là những kẻ tham lam chẳng kìm nén những ham muốn của mình…

San chỉ biết thở dài, mọi lời an ủi hay giải thích đối với nó lúc ấy đều vô ích. Con người ta không thể chạy trốn nổi mình trong nỗi cô đơn, hãy cứ để cho nó khóc, nước mắt sẽ giúp nó làm vơi đi nỗi buồn.

Ba tháng một lần San về lâm trường sinh hoạt chi bộ và nhận chỉ thị mới. Hai lần Thuỷ nhờ San cầm đơn xin chuyển vùng tới giám đốc, lần nào cũng vậy San đều nhận được lời giải thích.

-Đề nghị của cô ấy là chính đáng, nhưng cô thấy đấy lâm trường còn người nữa đâu. Nam giới ra mặt trận có mấy người trở lại… Mấy năm nay trên không cho chỉ tiêu tuyển người, bởi thế tôi biết lấy ai thay vào đó. Chẳng lẽ cô không làm nổi công tác tư tưởng cho cô ấy sao?

Kể lại chuyện đó với Thuỷ, con bé bật cười mai mỉa:

-Chúng ta đâu còn là trẻ con nữa, chị đã ba mươi mốt, em thì đã hai bảy, chẳng bao lâu chúng ta trở thành bà lão ở chốn rừng này. Lão Tân viện đủ lý do để bắt chị em mình ở đây thêm vài năm nữa. Bao nhiêu trai tráng của lâm trường đều bị lão đẩy ra ngoài mặt trận, còn lại toàn những gã dở người, không lé thì lùn, cứ y như một lũ hề vừa bước từ trên sân khấu xuống. Chị có biết cái Xuân ở Phân trường ba, chị Hằng ở Phân trường bảy đang nuôi con cho lão Tân đấy ư?

San thở dài cay đắng:

-Chị có nghe mọi người nói thế. Nhưng cái gì cũng phải có bằng cớ, nói điều ấy nhỡ không phải thì tội nghiệp cho họ lắm…

-Còn chị đấy – nó hăm doạ – Chúng ta không tự chửa đẻ được, chúng ta cần phải có một thằng đàn ông, một thằng đàn ông đàng hoàng chị ạ…

San rùng mình, chị có cảm giác Thuỷ đã đọc được sự lo lắng trên gương mặt chị. Mấy tháng nay San không làm chủ được mình, chị chẳng cần gìn giữ và từ chối Bằng. Có lúc chị hỏi: Vì sao mình lại yêu Bằng nhỉ? Tình yêu đến với họ giống như một cơn bão. Hôm ấy chị gặp anh, đúng hơn là nhặt được anh, một cái xác bê bết máu bên cạnh con đường dẫn sang bên kia biên giới. Chị nghe nói bọn buôn lậu chọn chỗ này để vận chuyển thuốc phiện, xương da thú, hàng quốc cấm và cả vũ khí qua đây. Anh và những người đồng đội của đơn vị biên phòng đóng ở mé bên kia cánh rừng này đã nhiều lần tóm cổ chúng, vì thế anh bị chúng trả thù. Chị phát hiện và cứu được anh trước khi đồng đội tìm thấy.

Chuyện ấy hẳn San đã quên rồi nếu một chiều kia Bằng không tìm đến. Hôm đó chị vừa đi làm về, nóng quá chị xuống suối tắm, vừa cởi quần áo vắt lên cành cây bên bờ suối, San hoảng hốt khi nhận ra anh đang ngây người nhìn chị, chị hét lên giận dữ:

-Anh làm gì ở đây, ai cho anh nhìn trộm tôi tắm? Anh đi đi, cái Thuỷ sắp về rồi đấy, tôi sẽ kêu toáng lên bây giờ…

-Không, tôi đến đây để cảm ơn cô…

-Anh đi đi! Tôi không biết anh là ai cả… Đừng có vờ vịt, chúng tôi có súng đấy, không phải đùa đâu…

Bằng miễn cưỡng quay lại, anh đi chéo qua mảnh vườn trước cửa rẽ vào con đường mòn chạy dọc bờ suối khuất lấp dưới những những vạt hoa cúc dại ngược lên phía đỉnh rừng. San vơ vội quần áo che lên ngực, trong giây lát chị chợt nhận ra cái dáng người vừa khuất lấp sau đám hoa cúc dại kia là Bằng, người mà cách đây mấy tháng chị đã cứu anh thoát khỏi bàn tay thần chết. Nhưng gương mặt anh sao lại xanh tái như người bị sốt rét lâu ngày? Bằng đến đây có phải chỉ để cảm ơn mình hay còn việc gì khác? San mặc vội quần áo rồi chạy theo anh.

-Anh Bằng, vừa nãy tôi có lời không phải, xin anh tha lỗi…

-Không, chính tôi mới là người có lỗi. Hẳn cô biết tôi đến đây để làm gì. lẽ ra tôi phải đến đây cảm ơn cô từ lâu, nhưng cô đâu biết rằng trước khi cô đến lâm trường này ông Tân đã tới đồn biên phòng của chúng tôi yêu cầu không để các chiến sĩ tới các đội yêu đương nhăng nhít, làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất của lâm trường và tinh thần cảnh giác chiến đấu của bộ đội, bởi tình hình biên giới đang có rất nhiều diễn biến phức tạp. Vì thế cho đến hôm nay tôi mới tới đây. Vâng, tôi vô ý quá, cô cho tôi xin lỗi…

San nhìn Bằng ngơ ngác, lần đầu tiên chị được nghe được điều đó tưởng mình nghe lầm. Chị nhớ lại hôm ấy, khi chị và và những người lính đưa Bằng về đồn, mọi người trong lâm trường lảng tránh chị như sợ một sự hệ luỵ nào đó. Bây giờ thì chị đã hiểu, trong các cuộc họp chi bộ ông Tân đều nêu vấn đề quan hệ như một tiêu chuẩn để đo phẩm chất người đảng viên. Lặng người trong giây lát, San chợt cười phá lên:

-Vậy ư, thế thì tôi cóc sợ ông Tân. Còn anh, anh sợ thủ trưởng của mình hả? Nếu không, chúng ta ngại gì không đến với nhau? Vâng, tôi yêu anh đấy, anh có chấp nhận tình yêu của tôi không?

San không thể ngờ lúc đó chị lại nói như một con điên, chị lao vào ngực anh như thể thách thức và bất chấp sự ngăn cấm của ai đó đã nhân danh này nọ để ngăn cản con đường của họ đến với nhau.

Bây giờ thì San mới thấy lo, nếu Thuỷ không trở lại đây tức là nó chưa biết chị đang mang trong mình hình hài của Bằng. Bởi, cứ mỗi chiều chủ nhật chị lại viện cớ vào rừng hái rau, nhặt nấm để đến với Bằng trên con đường vàng rực hoa cúc dại. San không muốn Bằng biết mình đã có thai, bởi chị không muốn anh vì thế mà lo lắng. Hơn tháng sau chị San nhận được thông báo chính thức Thuỷ đã bỏ lâm trường, điều ấy khiến chị rất buồn. Thuỷ ơi, sao mày lại vội vàng bỏ nơi này mà đi? Phải chăng tao có lỗi với mày? Mày có biết rằng… ai sẽ giúp tao trong những ngày sinh nở?

San khéo léo che cái bụng đang lớn dần của mình, chị ít về lâm trường, ít tới gặp Bằng hơn. Vả lại, những tháng gần đây tình trạng xâm phạm trái phép biên giới càng trở nên phức tạp, bọn buôn lậu từ hai phía biên giới hoạt động ráo riết và trắng trợn hơn. Bằng đang là người mà bọn chúng để ý tới, chúng tuyên bố: Hoặc anh phải để cho chúng làm ăn, hoặc phải chịu thân tàn ma dại cho đến suốt đời. San không biết khuyên anh như thế nào, chị chỉ cầu mong vào sự may rủi. Cũng như chị, anh có công việc của mình, hằng ngày phải đối mặt với hiểm nguy và mọi sự bất trắc trên đời.

Chị mơ hồ cảm thấy mình đang gieo tai hoạ cho anh. Nếu anh biết rằng chị đang có thai, điều đó có thể giúp anh đủ nghị lực dấn bước trên con đường đầy chông gai? Liệu ông Tân có để cho chị yên, hay ông ta sẽ truy bức chị đến cùng, lúc đó người ta sẽ đối xử với anh như thế nào nhỉ?

San bắt đầu thấy lo. Hàng ngày chị đi sâu vào rừng tha thẩn trồng lại những đám cây non vừa chết, hay phát những bụi cỏ mọc tràn ra đường băng cản lửa đến tối mới trở về để tránh mọi cuộc gặp gỡ bất ngờ không cần thiết. Cái thai trong bụng chị đã lớn lắm, chị nghe tiếng chân đạp rất mạnh lên thành bụng, cái ngày ấy đang tới gần. San lựa trong đám quần áo cũ của chị và của Thuỷ khâu thành những tấm áo nhỏ xíu: Con ơi, con hãy mặc tấm áo đượm mùi mồ hôi của mẹ đã thấm ướt mảnh đất này, mai ngày lớn lên rừng sẽ chở che và truyền cho con thêm sức mạnh. Con sẽ trở thành chàng trai dũng cảm, rừng sẽ kể cho con nghe về những năm tháng gian khổ của mẹ và cô Thuỷ. Khi đó con sẽ thấy yêu rừng hơn. Rừng bí ẩn chứa đựng một kho truyện cổ tích của con. Nơi đây có chú nhím lưng gù biết hát, những con sói già đáng ghét và lũ thỏ trắng khôn ngoan…

Sớm ấy như mọi ngày San thấy trong người khang khác, chị đã toan ở nhà. Nhưng chị nhớ có lần nghe mẹ nói người phụ nữ có mang chớ có ngồi lâu, phải luôn vận động mới đẻ dễ. Mẹ chị là người khó đẻ, bà phải vật vã ba ngày mới sinh được chị. Lần đầu tiên chửa đẻ, San không biết khi đó có đau đớn như mẹ mình ngày xưa không? Chị chuẩn bị tinh thần để chịu đựng sự đau đớn và nhẩm lại những việc phải làm: Vót sẵn một con dao cắt rốn bằng cật nứa, mấy gói bông thấm nước, vài chiếc khăn xô xé ra từ chiếc màn cũ của Thuỷ… Tất cả những thứ đó chị xếp vào chiếc túi đặt ở đầu giường.

Một cơn đau dữ dội ập đến khi chị đang trên đường trở về nhà, San thoáng hiểu điều ấy đã đến. Chị cố bước thật mau, nhưng cơn đau khiến chị không thể nào bước tiếp được nữa. San tựa mình vào gốc cây sến già có những chiếc bạnh lớn cao vút đầu người tựa như những bức tường chắn gió. Rừng cuối thu khô ráo, chị vơ quáng quàng một đống cành củi khô rồi vội nhóm lửa. Xong, chị trải tấm ni nông xuống đất, cởi chiếc áo ngoài để bên cạnh, sau đó chị rút những sợi chỉ từ cuộn băng cá nhân mà chị luôn mang theo bên người khi lên rừng, hơ con dao lên ngọn lửa đang hừng hực cháy. Vừa lúc đó chị thấy tưng tức ở cửa mình, chị ngồi xuống tựa lưng vào bạnh cây, thì cảm thấy ruột mình như sắp xổ ra. San rướn người lên mặt đất, một cái gì đó vừa buột ra trơn nhày nhụa trượt lên hai bên đùi, cùng lúc đó là tiếng khóc oe oe bật lên. San nhắm nghiền đôi mắt lại, trong giây lát chị cảm thấy mình nhẹ bỗng như vừa bay lên khỏi mặt đất…

-Mẹ ơi!

San thầm kêu lên, nước mắt chị chảy ràn rụa trên đôi gò má sạm đen. Như sự mách bảo của bản năng, San tìm cuống rốn của đứa trẻ đo vừa bằng đúng đầu gối nó rồi buộc sợi chỉ, cắt bằng con dao đã thui trên ngọn lửa. Tất cả những việc làm ấy chỉ diễn ra chưa đầy một phút, San bọc đứa bé vào tấm áo ấp vào ngực mình, cái miệng bé xíu của nó chóp chép ngậm vào núm vú đón những giọt sữa ấm nóng đang trào ra từ bầu ngực căng đầy của chị. San mơ màng nhìn lên tán cây rừng, chiều đang sẫm lại. Mãi một lúc sau San mới giật mình nhớ ra đứa bé đây không biết là trai hay gái. Chị khẽ lật hai tà áo đang bọc nó ra, lại hấp tấp đậy lại, hai mắt San tối sầm, giọng chị nghe thảng thốt:

-Mẹ ơi, con gái…

Mặt San tái nhợt, chị lần tìm dấu vết trên người con bé, một nốt ruồi son bằng hạt tấm trên bả vai nó. Chính San cũng có một nốt ruồi như thế, mẹ chị bảo rằng: “Làm thân con gái có nốt ruồi son trên vai thì khổ suốt đời…”. Nghiệm lại lời mẹ nói, San thấy đời mình khổ quá. Những giọt nước mắt khổ đau tích tụ hơn sáu năm qua tưởng đã đặc quánh lại nay lại buột trào ra.

-Mẹ ơi, sao thân con lại khổ thế này. Bây giờ lại đến lượt con gái của con. Con có tội gì để trời trừng phạt? Cả đứa trẻ này nữa, nó đã sinh ra chui lủi tại chốn rừng này. Nó là đứa con ngoài giá thú. Mẹ ơi!…

San thấy khát vô cùng, khát như có lửa đốt ở trong họng, chị quấn chặt đứa bé vào chiếc áo đặt xuống cạnh đống lửa đang hừng hực cháy, đi về phía con suối nở đầy hoa cúc dại. Bóng đêm đã tràn xuống mặt đất, chị cứ bước về tiếng suối chảy, càng đi càng thấy thăm thẳm, rừng thì tối đen, cổ họng thì bỏng rát, chị vặt lá ven đường nhai cho đỡ khát. Chị cứ đi hoang mang trong rừng như kẻ mộng du cho đến lúc không còn bước được nữa gục xuống một bên một tảng đá ven đường.

Sớm hôm sau, khi ánh bình minh rực trên đỉnh rừng San mới giật mình nhớ ra mình đi tìm nước, để con lại dưới gốc cây sến già. Chị hấp tấp quay trở lại. Trên mảnh đất ngoài mảnh ni nông và con dao chị chẳng thấy gì hết. San gục xuống kêu thất thanh:

-Trời ơi, con tôi bị lũ sói ăn thịt mất rồi!…

Chiều hôm sau, Bằng tìm thấy San bên cạnh con đường phủ kín hoa cúc dại gần nhà. Cuối thu hoa đã tàn gần hết, màu hoa đã ngả sang vàng nhạt, nhiều bông rũ xuống héo quắt. Nhìn tấm thân tiều tuỵ của San, Bằng không thể nào hiểu nổi điều gì đã đến với San. Anh ở lại gần một tuần để chăm sóc chị. Khi tỉnh lại, câu đầu tiên San nói với anh:

-Em là một kẻ đáng nguyền rủa… Trời trừng phạt em. Không! Em không đáng được hưởng tình yêu và sự chăm sóc của anh.

Bằng không hiểu điều San định nói, nhiều lần anh gặng hỏi nhưng San một mực.

-Em van anh, anh hãy quên em đi, kẻ tội nghiệp này…

Cuối năm ấy San được điều về lâm trường, sau đó được cử đi học. Bốn năm trời mỗi tháng chị đều đặn nhận được thư của Bằng, chị không hề bóc ra dù một lá. Bốn mươi chín bức thư được chị xếp cẩn thận dưới đáy va ni. Cho đến một hôm, sau khi tốt nghiệp đại học San định xin về một tỉnh mà chị đề nghị thì nhận được tin Bằng đã hy sinh trong cuộc đọ súng với những kẻ xâm nhập biên giới trái phép. Thế là chị quyết định trở về lâm trường cũ, nơi chị muốn chôn vùi những kỷ niệm đau buồn vào quên lãng.

“Bằng ơi, xin anh hãy tha lỗi cho San nhé. Quá khứ khổ đau đã đè nặng lên trái tim em đến nỗi có lúc em em đã thề rằng không bao giờ trở lại mảnh đất này nữa. Hoá ra điều ấy có thấm vào đâu so với những gì anh đã cống hiến cho mảnh đất này…”. San vừa khóc vừa nói những lời ấy bên mộ Bằng.

Vài năm sau San được đề bạt làm phó giám đốc, rồi giám đốc. Chị thực hiện một loạt cải cách như: Giao đất, khoán rừng cho công nhân, bên cạnh xây dựng các làng lâm nghiệp để tiện cho việc mở đường giao thông, xây trường học, kết nghĩa với bộ đội biên phòng và địa phương… Điều lạ lùng San từ chối tất cả mọi người đến với chị.

Một hôm, những cán bộ địa chất tóm được một con vượn cái trong hang của đàn sói. Nó chỉ nhỉnh hơn đứa trẻ lên ba, mặt nó nom như mặt người, nhưng gầy choắt, nhằng nhịt vết sẹo. Đó là dấu tích của những lần nó và đàn sói ẩu đả tranh giành nhau miếng mồi. Toàn thân nó phủ một lớp lông ngắn, tóc dài vàng cợp. Tay chân nó giống tay chân người nhưng gầy khẳng khiu, nó không đi thẳng được mà đi bằng bốn chân, khi ăn cũng gầm gừ như lũ sói.

Họ nhốt nó vào chiếc cũi sắt, mỗi khi nghe tiếng chó sói tru lên ở ngoài rừng, nó lại đáp lại bằng một tiếng tru dài thảm thiết.

San bàng hoàng khi nhìn thấy con vượn người lạ lùng đó, chỉ một chút thôi là chị sụp xuống. Từ thăm thẳm của ký ức San nhớ cái đêm tám năm về trước, chị đi hoang mang trong rừng mịt mùng bóng tối, thi thoảng chị nghe được tiếng chó sói tru lên như thế. Một con sói mẹ mất con ngỡ đứa trẻ trong bọc vải kia là con mình nên đã cắp nó về ổ? San rùng mình nếu điều ấy là thật. Chị đề nghị những người địa chất để con vượn lạ đó cho chị, bởi đó là khu rừng cấm, khu rừng bảo tồn thiên nhiên.

Hàng ngày sau giờ làm việc chị quanh quẩn bên con con vật, chị nói với nó bằng những lời yêu thương, con vật không hiểu nổi những điều chị nói, nó sợ hãi đâm đầu vào các nan cũi đến chảy máu trong nỗi hoảng loạn và suốt đêm tru gọi đàn một cách tuyệt vọng. Cho đến một hôm con vật gục xuống vì kiệt sức, bởi nó không ăn bất cứ một thứ gì. San ôm con vật vào lòng, chị vạch lớp lông trên bả vai trái nó, một nốt ruồi son hiện ra, khiến chị hétt lên một tiếng kinh hãi.

-Mẹ ơi!…

***

Thay lời kết

San nhìn sâu vào mắt tôi ngơ ngác hỏi:

-Tôi hy vọng bằng tình mẫu tử sẽ giằng nó khỏi bàn tay của dã thú. Nhưng tôi đã lầm. Phải, mãi mãi tôi không thể giành lại được, khi đã một lần bỏ rơi nó. Anh có tin câu chuyện tôi vừa kể đây là thật không?

-Không! Tôi lắc đầu – Có lẽ chị quá đau khổ vì nhớ thương con mà tưởng tượng ra cái nốt ruồi trên vai con vật đó. Cũng giống như người đi trên sa mạc, vì quá khát nên cứ ngỡ có một dòng sông đang chảy trước mặt.

-Vâng tôi cũng muốn tin như thế…

Chị buồn rầu đáp.

San đồng ý cho tôi chép lại câu chuyện này, nhưng đề nghị tôi không nêu tên cánh rừng và lâm trường của chị. Bởi thế, xin bạn đọc chớ hỏi cánh rừng có nhiều hoa cúc dại ấy ở nơi nào.

 

Thái Sinh

Nửa đêm về sáng 15/4/1996

Sửa lại 2/8/2006

304Đen – Llttm - VV

Hình Như Mắt Ước Mi - vkp Phượng tím & Tình Cuội Duyên Hằng - Hồ Nguyễn


HÌNH NHƯ MI MẮT ƯỚT MƯA
 

 










Nguồn thi phú cạn kiệt rồi,
Văn chương chữ nghĩa lôi thôi lần khần.
Gắng quên hình bóng cố nhân,
Vườn hoang cỏ dại giành phần bướm hoa.
Lầu cao chênh chếch trăng ngà,
Khiến cho chú cuội thiết tha sóng tình.
Hải âu lận đận linh đinh,
Phụng Hoàng rũ cánh bất bình tơ vương.
Ngủ ngày đêm thức thất thường,
Nhớ người đưa đón bên đường trường xưa...
Hình như mi mắt ướt mưa,
Lau khô giọt lệ ...còn chừa môi hôn.
Mộng du tỉnh giấc bồn chồn,
Đam mê chìm đắm nửa hồn thương đau.
Chỉ cần chúng mình có nhau,
Bao nhiêu khổ lụy gian lao sá gì!
Thôi đành giữ nghĩa cố tri!!!

                                 
Saigon 14/8/2017
Vkp phượng tím

 
ĐÁP HỌA Ý:

TÌNH CUỘI DUYÊN HẰNG  

Nguồn thơ thi hứng dưới trăng tà,
Cỏ dại kết thành bướm với hoa.
Chú Cuội đón chờ tim thắt thẻo,
Nàng Hằng thương xót lệ châu sa.
Đa buồn đa ngóng da cằn cổi,
Nguyệt nhớ nguyệt rầu tóc trắng hoa.
Ai thấu tình thương duyên chú Cuội,
Ngàn năm cách Nguyệt dãy ngân hà.

HỒ NGUYỄN (01-11-17)

 

 

Thái Độ AQ Của Lỗ Tấn - Lam Chương




Thái độ A Q của Lỗ Tấn


 
 
Tôi đứng sau nhà, ngó lên cây dừa cao ngất. Không biết cây dừa được trồng lúc nào, khi tôi lớn đã thấy có rồi. Năm xưa, cây dừa còn thấp ở giữa cái chuồng heo, cách bìa chuồng hai thước. Ba tôi mất đi, thằng em phá bỏ chuồng heo làm khoảng đất trống. Nay khoảng đất bị thu nhỏ lại, cây dừa nằm về phần đất của nhà bên kia. Giữa hai phần đất được trồng lên một hàng cây keo làm lằn ranh.

Tôi hỏi thằng em: “Sao lại có hiện tượng cây dừa trôi qua đất người khác?”

Nó nói: “Lòng người biến đổi, vạn vật cũng đổi thay.”

“Mày nói một câu nghịch lý. Lòng người biến theo vạn vật, chứ không phải vạn vật biến theo lòng người.”

Thằng em cười: “Thời đại mới triết lý mới. Tôi chứng minh cho anh thấy. Mỗi năm họ lấn một ít. Mười bảy năm, mình mất hai thước rưỡi đất, cây dừa thuộc về người khác. Như thế không phải vạn vật biến theo lòng tham con người sao?”

“Cái thứ triết lý rẻ tiền của mày không chấp nhận được. Mày biết lấn đất theo kiểu đắp bờ ruộng không? Người ta xén đất bờ bên này đắp qua bờ bên kia. Nhiều lần như thế, bờ ruộng không còn nằm ở vị trí cũ. Đây không phải bờ ruộng, người ta cắm cột mốc phân ranh. Đáng lẽ khi thấy cột mốc di chuyển dần về phía mình, mày phải có tiếng nói chứ?”

“Nói hả? Mở miệng ra là thiên hạ chưởi tát vào mặt. Đó là chưa kể họ trả thù bằng cách mỗi đêm quăng c.ứ.t vào sân nhà mình.”

“Họ chơi cái trò bẩn thỉu, mày chịu trận à?”

“Nếu không chịu trận thì làm gì ai? Không bắt được tận tay người quăng c.ứ.t, không có bằng chứng. Chẳng lẽ lấy c.ứ.t đem vô phòng thí nghiệm phân chất để biết là c.ứ.t của ai?”

“Mày nói nhảm, lạc đề rồi. Hãy nói chuyện cây dừa thuộc về phần đất người khác.”

“Thôi anh ơi, cây dừa có đáng gì mà tranh cãi.”

“Cây dừa không đáng gì, nhưng hai thước rưỡi đất bề ngang nhân cho mười lăm thước bề dài, không phải chuyện nhỏ. Mày thử tính coi mày mất bao nhiêu thước vuông đất? Mày có biết bây giờ, đất đai xứ này đắt như vàng không?”

Thằng em nhè nhẹ lắc đầu, nhếch mép như khinh bỉ. Không biết nó khinh tôi, hay khinh thằng cha lấn đất.

“Lúc chết cũng chỉ cần một cái lỗ đặt vừa cái hòm thôi!”

“Tao muốn nói vấn đề thiệt thòi mất mát. Còn đất rộng hay hẹp là chuyện khác.”

“Cứ coi như nó lấn đất để chôn cả dòng họ nhà nó.”

Tôi nổi cáu: “Đó là thái độ A Q của Lỗ Tấn, không dám đương đầu với thiên hạ rồi trả thù trong tư tưởng, và lấy làm tự mãn. Mày co vòi rút cổ, không dám đối phó với thằng cha láng giềng rồi trù rủa cả dòng họ người ta. Nếu không thể nói chuyện phải quấy với nhau được, sao không đưa lên chính quyền giải quyết?”

Thằng em cũng nổi cáu: “Chính quyền. Anh chỉ biết chính quyền xứ khác, chứ không hiểu chi về chính quyền ở đây cả. Chém nhau vỡ đầu sứt trán, réo gọi chính quyền khan cổ cũng chẳng thấy ma nào thèm tới. Nhưng nếu được tin mật báo nhà nào mới chuyển đồ lậu về, liền tức khắc công an cảnh sát ào ào kéo tới bao vây. Không biết tại sao hả? Giải quyết mấy chuyện xô xát, chính quyền ăn được cái gì? Nhưng vây bắt tịch thu đồ lậu, người ta có chút bỏ túi riêng. Tranh tụng với nhau về đất đai ư? Muốn thắng phải nhét đầy họng kẻ đại diện chính quyền. Nếu phía bên kia họ cũng tung tiền ra lo lót thì vấn đề còn nhiêu khê lắm. Đôi khi phải bán nhà vì kiện tụng. Tôi chỉ còn cái nhà che mưa đụt nắng, anh đừng xúi dại tôi phải bán nhà.”

“Thằng hèn!” Tôi ngó vào mặt thằng em, hét lớn.

Nó cũng không vừa: “Tôi sở dĩ sống hòa nhã được với người chung quanh vì tôi biết hèn. Anh cứ xoi mói xét nét vấn đề từng chút, coi chừng thiên hạ chém tét đầu.”

“Thằng nào dám chém tao?”

“Bất cứ thằng nào cũng dám chém anh. Các ông về từ nước ngoài, ông nào cũng hãnh diện tưởng người ta kính trọng mình lắm. Lầm rồi! Người ta chỉ xun xoe các ông vì tiền, nhưng thâm tâm có thủ sẵn con dao. Các ông thử chạm vào họ xem sao? Họ sẽ đánh các ông như đánh kẻ thù giết bố. Các ông đánh lại ư? Họ sẽ nằm vạ ra đấy. Các ông phải móc túi chi tiền cơm thuốc, tiền đền thương tật, tiền bệnh viện, tiền lo bác sĩ y tá để họ đừng phóng đại chứng thương. Chưa hết đâu, còn phải lo cho công an để họ đừng giam giữ, trầm trọng hơn có thể đưa nội vụ ra tòa. Mà tòa án nhân dân thì ít khi áp dụng đúng theo luật pháp hiện hành, họ thường chơi theo luật rừng. Tóm lại, các ông là miếng mồi ngon, thằng nào cũng muốn ăn tươi nuốt sống. Nên biết xứ sở này có nhiều Chí Phèo lắm đấy.”

Mỗi lần nói chuyện với thằng em về một vấn đề thì lại lòi ra bao nhiêu vấn đề rắc rối khác. Hình như trong đời sống ở đây có điều gì không ổn.

Lâm Chương

Trích “Truyện và Những Đoản Văn”
304Đen – Llttm - YD