Saturday, November 3, 2018

Gói Xôi Nước Mắt Mặn - Thuyên Huy


Gói Xôi Nước Mắt Mặn

 

    Ra khỏi nhà ga, thay vì theo con đường hẻm nhỏ, tắt ngang phố tới văn phòng làm việc như thường ngày, Hiển đi ngược lên khu chợ người Việt, tìm mua trước hộp xôi đậu phọng, để ăn trưa hôm nay, vì phải cố làm cho xong số hồ sơ cần gấp của một người khách mà anh đã lỡ hẹn, thứ xôi mà có vài lần, chị Diên, người thư ký, mua từ chỗ một bà bác già, thường ngồi bán ở một góc vĩa hè, đầu dãy tiệm ăn dọc đường Nicholson, đem về mỗi khi công việc quá bận, xôi ăn rất ngon, ngon không thua gì thứ xôi mà những ngày còn nhỏ ở quê nhà, cái xóm nhỏ, bên bờ vàm cuối ấp Cây Bần, đường lên chợ Gò Chùa, Hiển đã được ăn. Làm việc ở đây tính cũng đã vài năm, khi về dưới này từ miệt trên Blackburn khá xa, từ nhà, căn nhà cây nhỏ, nhiều hoa hơn lá, cuối con đường cụt ngó ra công viên khu phố Yarraville của một cặp vợ chồng già người Anh, về hưu, dọn đi Brisbane trốn cái lạnh Melbourne với giá rẽ, thỉnh thoảng ông bà về chơi cũng có ghé qua thăm. Bằng xe lửa, cứ lên ga xuống ga Footscray ngày này qua ngày nọ, biết bên khu chợ người mình đó nhưng ít khi qua, cần gì thì phía bên này phố có đủ và dãy tiệm tạp hóa cũng không thiếu món nào, bước xuống lầu thì đã ở ngay trước mặt, cũng không cần chờ băng qua bên kia đường.
 
 
 

    Đường tới nhà ga đông nghẹt người, học trò, công nhân, thầy thợ hối hả, chẳng ai nhìn ai, tay xoa tay suýt cái lạnh của trời chớm thu, cứ một đường, chân đuổi nhau mà đi cho kịp chuyến xe lửa ngược xuôi nào đó. Trời chưa sáng hẳn, nhưng trong xanh và có chút nắng sớm, ngược chiều đám đông, quẹo trái vào khoảng đường bên hông chợ, trước mặt không mấy xa, một đám con gái, học sinh trường nữ trung học Gilmore vây quanh ở góc vĩa hè, chỗ bà bác bán xôi, tay nắm tay cầm mấy hộp cười nói tíu tít, Hiển khẻ nhìn đứng sau lưng thong thả chờ, đám con gái bỏ đi, Hiển lại gần hỏi mua, bà sửa thế ngồi trên cái ghế đẩu thấp bằng nhựa cũ, đặt sát cái thùng cũng bằng nhựa trắng, bà lấy một trong số mấy hộp xôi còn lại trong đó, kéo cái khăn màu xám như khăn mỏ quạ đội đầu che khuất ngang mặt, vén lên cao, vừa đưa hộp xôi vừa ngước mặt lên nói nhẹ “cám ơn cậu”, chưa kịp nhìn kỹ mặt, Hiển giựt thót mình khi thấy ngón tay út mất đi hai lóng phía ngoài và cái mục ruồi đen trên mép ngoài bàn tay trái đang cầm gói xôi của bà, Hiển chết đứng, đúng là bàn tay trái của mẹ nuôi mình, má Thắm, thấy Hiển chưa cầm lấy, bà ngẫng đầu nhìn lên lần nữa cười, Hiển ngồi quỵ xuống, ôm chầm lấy tay bà, hộp xôi rớt trên nền gạch, bật khóc “má ơi, má ơi, thằng Hiển đây, thằng Hiển nè má ơi”, bà chưng hửng một lúc, há hóc miệng ngơ ngác, rồi cũng khóc theo “Hiển đây sao con, phải con không?”, chừng đó thôi, hai mẹ con ôm nhau sụt sùi, chợ bắt đầu đông người, tiếng xe tiếng người rộn rã chỗ này chỗ kia, Hiển ngồi bệt xuống kế bên, thùng xôi không mở nắp, bà kéo khăn che đầu quẹt nước mắt, lâu rồi mà hai mẹ con vẫn còn rấm rứt ở đó.

*

    Chị Thêu, mẹ của Hiển mất vào rạng sáng một ngày mưa dầm đầu hè, vừa bải trường cuối năm lớp ba, sau những ngày ra vào bệnh viện, dưới quận trên tỉnh vì bệnh ung thư gan, kéo dài từ một năm qua, Hiển thẩn thờ, ngơ ngác,  khóc sụt khóc sùi “má ơi má ơi”, chị ba Thắm nhà bên cạnh, vốn là bạn thân của mẹ Hiển dưới miệt Cần Đước Long An bỏ xứ theo lên lấy chồng ở Gò Chùa, cùng bà con xung quanh trong ấp, xúm nhau một tay, mấy nén nhang, vài mâm cây trái nhà quê, đem chôn bên cạnh mộ chồng, anh Đúng, ba của Hiển, mất năm Hiển vừa tròn ba tuổi, tại cái nghĩa địa đất khô cằn nức nẻ ở cuối ấp, phía đầu con rạch nhỏ ra vàm. Anh Đúng, là lính nghĩa quân xã, hiền hậu vui tươi, không may bị quân du kích Việt cộng bắn chết giữa khuya một ngày tối trời, khi anh cùng toán nghĩa quân đi tuần về, bên ngoài hàng rào đầu khúc bờ ấp chiến lược bị phá bỏ sau ngày có đảo chánh dưới Sài Gòn. Thương cho cảnh tình côi cúc, nhỏ dại của Hiển, một thân một mình, người trong ấp bàn với mấy bác hội đồng Xã, định sắp xếp đưa Hiển lên cô nhi viện tòa thánh trên Long Hoa, cô giáo Phụng, cô giáo của lớp Hiển, nhà dưới miệt Trảng Bàng, còn độc thân muốn đem Hiển về nuôi,  nhưng cuối cùng phải để cho chị ba Thắm đứng ra nhận Hiển làm con nuôi ở với mình, dù gì đi nữa, từ lúc nó sinh ra tới giờ, nhà hai bên chạy qua chạy lại, cũng mến tay mến chân rồi, vã lại có Diệu, con gái của chị, lớn hơn nó hai tuổi cũng có chị có em, hủ hỉ với nhau, hoàn cảnh chị Thắm, con Diệu mất cha, nhưng còn được mẹ, chồng chị Thắm, không may bị tai nạn lật xe chết ở khúc cầu Đá Hàn gần cuối ấp Bến Mương, trên đường về từ Tây Ninh, đàng này, Hiển mất cả hai, sau ngày chồng chị chết, mẹ Hiển, cũng một tay phụ trước phụ sau, giúp chị nuôi con Diệu. Miếng đất gò căn nhà của anh chị Thêu, được bác tám Tiến chủ xe lam duy nhất ở xã, thương tình cho cất lên ở không giờ trả lại cho bác, căn nhà cũng chẳng có gì quý giá, mấy miếng tôn, vài chục cây kèo cây cột, hai ba cái tủ cũ nhèm, bốn năm cái ghế chân thấp chân cao, bà con phụ dọn qua bên nhà chị ba Thắm, thế thôi và thằng Hiển cũng theo về với ba thứ lỉnh ca lỉnh kỉnh đó.  

    Chị Thêu mất, chợ không còn người bán bánh ú nữa, cái sạp ngồi bán chung trước đầu chợ xã, ngó qua cổng trường tiểu học Phước Trạch, giờ chỉ còn lại  chị ba Thắm với thúng xôi đậu phọng trộn dừa nạo muối mè xem ra lẻ loi, hiu quạnh, nhiều lúc ngồi chờ người mua, nhìn qua sân trường, thấy buồn rười rượi, tội nghiệp cho thằng Hiển, từ ngày về ở với chị, mặc dù có Diệu nhưng nó lầm lũi, ít nói, đêm ngủ lúc đầu, ngày nào cũng khóc kêu “má ơi má ơi”, vỗ nó mà lòng mình đau nhói, vào lớp học cũng vậy, lặng lẽ đứng ở góc sân, không nói không cười, không nhập bọn chơi giởn, trừ khi có Diệu, cô Phụng vừa dạy vừa lo lắng cho nó, tan trường chiều nào cũng nghé ngang nhà chị Thắm, ở nán hỏi hỏi han han Hiển chút xíu rồi mới về nhà. Sáng đi học, hai chị em phụ mẹ bưng dọn cái này cái kia, ăn xôi trước khi vào trường nhưng chị Thắm thấy Hiển không ăn ngon lành như trước, những ngày còn mẹ, không biết là nó nói gì nhưng cứ hai ba chiều, trời còn nắng, Diệu thường dắt Hiển đi xuống nghĩa địa, con đường đất mòn cách nhà chừng hai cây số.

    Ngày đi tháng qua, thương nhớ than khóc rồi cũng nguôi ngoai, Hiển lớn dần trong mớ ký ức của tuổi thơ ấu đó, cái ký ức của thằng nhỏ mồ côi thương mẹ nuôi không thua gì mẹ ruột, thương chị Diệu của nó giờ nhiều hơn là cái thương của những ngày tháng trước, lúc nào cũng vậy, hể cứ ngồi ăn cơm hay phụ chị Thắm lấy cái này cái kia khi chờ nấu xôi, Hiển cứ nắm bàn tay trái của chị, mằn mò hỏi tới hỏi lui, “mấy lóng tay đâu mất rồi má”, chị Thắm cười xoa đầu “thằng nhỏ này” mà không nói gì hết, nó lại tìm hỏi Diệu mới biết chị Thắm khi chẽ cũi, vô ý chặt vào bàn tay mấy năm trước đây nên mới ra cớ sự, mỗi khi ngồi bán với chị ngoài chợ, Hiển cứ xoa xoa bàn tay trái, luôn miệng “má còn đau không?”. Rồi Diệu thi đậu vào đệ thất trường quận, Hiển một mình ở trường làng, buổi sáng Diệu đón xe lam cùng hai ba người bạn khác sớm hơn xưa, còn lại Hiển tay xách cặp tay bưng rổ bưng lá, phụ mẹ nuôi dọn hàng ra ngoài chợ, ngồi bên mẹ, bắt chước Diệu “tiếng mọc tiếng mời” người đi chợ mua xôi, chờ trống trường vào học điểm, chiều về hôm nào cũng vậy, ra đứng ngay đầu ngõ, ngóng về phía đường lộ ngoài chợ chờ đón Diệu về, hai chị em ríu rít bên nhau, nói cho nhau  nghe chuyện phố phường dưới quận, êm êm như mặt nước phẳng lờ của con rạch nhỏ ấp Cây Bần, một đời chảy ra vàm sông lớn. Năm sau, Hiển cũng đậu vào trường quận, chị Thắm mừng không biết bao nhiêu mà nói, hai chị em giờ phải thức sớm hơn, phụ mẹ dọn hàng từ đó, trước khi lên xe xuống trường, hai cái cặp đựng đầy sách vở chưa hề thiếu hai gói xôi đậu còn nóng hổi, buổi chiều không còn ai chờ ai, cứ như vậy mà bên nhau, sáng đi chiều về, mưa nắng chung đầu, chân chim chân sáo.
 
 
 

     Cuối hè năm đệ ngũ, cô Phụng lập gia đình, đổi về dưới Trảng Bàng để cùng dạy chung trường với chồng, ngày đến từ giã, cô ở chơi cả buổi trời, cho tới chuyến xe chiều từ trên Tây Ninh xuống, dặn dò hai chị em Hiển đủ thứ, cô cùng chị Thắm, nói chuyện riêng tư với nhau khá lâu, cả nhà lội bộ theo ra tiễn cô ngoài đường lộ, đứng bên lề chờ, lên xe rồi mà cô Phụng cũng còn quay lại nói thêm gì đó với chị Thắm nữa, nắng chiều xuống thấp thật thấp phía bên sân trường tiểu học xã, trời đứng gió, xe chạy khuất khá lâu, ba mẹ con vẫn còn đứng đó nhìn theo cho tới cuối đường, có chút bụi lờ mờ hồng, loang lưa thưa trong bóng nắng muộn. Mấy ngày sau, Hiển xin chị Thắm được đi làm lơ xe cho bác tám Tiến, cái xe lam mà hai chị em đã cùng đám bạn ngồi trong những ngày đi học dưới trường quận, ngày thứ bảy chủ nhật, để kiếm thêm chút đỉnh phụ mẹ chi xài, chị Thắm trong lòng thật sự không muốn, nhưng không nở từ chối, chị nhắc chuyện hôm đưa cô Phụng về Trảng Bàng, rồi cho hai đứa biết, khi còn dạy trên này, từ khi Hiển về ở với chị, bao nhiêu năm qua, cô Phụng cứ vài ba tháng lảnh lương thì đưa chị chút đỉnh tiền, để phụ mua sách vở áo quần cho Hiển, cũng như lần chia tay rồi cô cũng không quên gởi thêm một số tiền nữa nhưng dặn chị giữ kín, rồi dịu dàng cười, cái cười buồn hơn vui,“giờ má nói ra cho con biết, con muốn thì cứ đi thử vài ngày xem sao, còn phải lo học nữa chứ ”, Diệu nín thinh, Hiển ngồi yên nhìn lên hình ba má nó và ba của Diệu trên cái bàn thờ giữa nhà rồi quay nhìn chị Thắm bật khóc sụt sùi “má ơi má ơi”, rồi thì Hiển cũng đi làm với bác tám Tiến vài ngày, trong suốt mùa hè đó và mùa hè năm sau, tiền có được, không bao nhiêu, Hiển đưa hết cho chị Thắm.

    Nắng chiều lịm dần từ lâu, xuống thấp nhưng trời chưa xế bóng lắm, con rạch nhỏ chảy ra vàm, giờ này nước đứng, Hiển ngồi bên ba nấm mộ, thì thầm nổi niềm riêng với người nằm dưới đó, từ những ngày lên đệ nhị, hình như Hiển đã yêu Diệu mất rồi nhưng biết làm sao đây, có dám nói ra không và khi nào mới nói, Hiển cứ lầm thầm như vậy trước mộ, mắt cay cay nghèn nghẹn, bên kia bờ vàm lớn, lấp loáng nắng từng vạt chậm tắt, có tiếng đạn đại bác vọng về xa xa trên miệt biên giới Miên từng chập một, chiến trận vốn bắt đầu từ nhiều năm qua đã lan rộng, có phần ác liệt hơn, không còn lẻ tẻ như trước, hết trận đánh nơi này rồi chỗ kia, từ miền trung vào từ miền Tây lên, ì ầm tiếng bom tiếng đại pháo, tiếng súng ngày càng nghe gần hơn, Bắc quân vượt sông vượt rừng từ phía bên kia sông Bến Hải, rần rộ tiến vào Nam, xóm làng cũng không còn cái yên bình của thuở nào, ruộng đồng vắng người và trâu bò sớm hơn xưa, sớm hơn khi trời chưa tắt nắng, chuyện quân lính VNCH chuyển quân trên đường hay lính nghĩa quân và địa phương quân đánh nhau với đám quân du kích lần mò về xã đã quá quen với người dân trong làng trong ấp, Hiển vẫn còn ngồi nán ở đó, toán lính nghĩa quân quen, trên đường tuần đêm ra ngoài vòng đai xã đi ngang, thúc Hiển về thôi, đêm chập choạng xuống chậm, Hiển nhìn họ chào, đi khỏi một khoảng xa họ cũng còn quay lại vẫy tay.

    Hiển quyết định vào lính sau ngày đậu tú tài một, chị Thắm chưng hửng, buồn buồn hết mấy ngày, Diệu cũng giống mẹ nhưng hai người không biết phải khuyên lơn làm sao, với chị Thắm, dù sao, trước vong linh cha mẹ Hiển, chị đã làm tròn những gì chị đã hứa làm, với Diệu, thương em cũng đủ trọn thương, tiếc là nay mai không còn bên nhau nữa. Rồi tháng ngày cũng tới, Diệu xuống Sài Gòn ở trọ nhà một người quen của cô bạn cùng lớp ở Gò Dầu, thi vào trường Sư phạm Sài Gòn thay vì lên đại học, mau ra trường lo cho mẹ để mẹ bớt nhọc nhằn vất vả, hy sinh cả một quảng đời trẻ cho mình đã quá đủ, vã lại vốn đã quen cái nghèo rồi nên hai mẹ con cũng không mơ ước cao xa gì, hôm ghé Trảng Bàng thăm cô Phụng trước ngày khăn gói vào quân trường, Hiển nhắc chuyện cô lo cho mình và xin hẹn ngày nào đó sẽ đền ơn đáp nghĩa, cô trò kể cho nhau chuyện buồn chuyện vui, chuyện lo chuyện lắng cả một buổi trưa, có lúc Hiển muốn nói cho cô nghe tâm sự lòng mình nhưng cứ đắn đo chần chừ, cuối cùng lại thôi, tự hẹn với mình để khi khác, Hiển ra về, cô theo tiễn ra tới ngoài bến, kịp lúc chuyến xe đò trưa từ Sài Gòn về vừa ngừng bỏ khách, buồn thấy trên mặt cả hai, xe chạy rồi, cô đứng nhìn theo thì thầm “lạy trời phù hộ cho em tôi được bình an và nhiều may mắn”.

    Diệu nghỉ học về Gò Chùa để tiễn em, ngày Hiển khăn gói vào quân trường, trước khi đi, ba mẹ con ra nghĩa địa thật sớm, ba người ngồi trước mộ, bên kia sông trời vừa hừng sáng, chị Thắm sắp lại mấy dĩa đựng thức ăn, có cả xôi đậu mới nấu giữa khuya, rồi đốt bó nhang thơm đưa cho Diệu, Hiển mỗi người ba cây, cùng nhìn xuống chấp tay xá lạy, ai cũng lầm thầm nói gì đó thật lâu mà không ai nghe ai, gió từ ngoài vàm lớn lùa về, khói nhang quẩn quanh, quyện nhau trên mộ, cắm mấy cây nhang còn cháy trước mộ bia, chị Thắm đứng lên, một lần nữa vừa xá vừa sụt sùi nói nhỏ “thằng Hiển sắp đi rồi, anh chị có linh thiêng nhớ phù hộ cho nó bình yên”, Hiển đưa tay sờ mộ cha mẹ lâm râm khóc “con đi nghe, rồi con sẽ về thăm ba má lần sau”, hai mẹ con đứng sau lưng cũng òa khóc theo, chuyến xe đò xuống Sài Gòn trưa hôm đó, chị Thắm không đứng nhìn theo chờ xe khuất đâu đó mà lầm lũi về ngay, buồn man buồn mác, mắt đỏ cay nghèn ghẹn “Hiển ơi, con ơi”, hai chị em ngồi bên nhau trên xe, chuyện qua chuyện lại, cười đùa với mớ kỷ niệm vụn vặt từ nhà tới trường học cho tới trung tâm huấn luyện Quang Trung, xe ngừng, Hiển xuống chần chừ “thôi em đi, nhớ chị nhiều lắm, chị nhớ lo cho má nghe”, Diệu đứng dậy nhìn theo “em ráng giữ gìn sức khỏe,  ráng về thăm nhà”, xe chạy đi rồi,  bỗng dưng muốn khóc.

    Ra trường bộ binh Thủ Đức Hiển vào binh chủng TQLC, được phép nghỉ trước khi ra đơn vị, về Gò Chùa thăm nhà, thăm mộ ba má vài ngày, hai mẹ con mừng muốn khóc, cứ hết chuyện này chuyện kia, Diệu bận học dưới Sài Gòn, Hiển cũng không quên ghé qua thăm bác tám Tiến, chủ xe lam, cám ơn tấm lòng tử tế của bác trong những ngày làm lơ xe, ngày cuối phép chị Thắm vui nhưng chị làm sao biết lòng Hiển tan nát đau khi nói cho Hiển biết là hè năm tới Diệu lấy chồng, chồng người dưới Gò Dầu, lòng đau nhói, chết hết một nửa hồn, tưởng chừng như gần bật khóc, cố mà nuốt chửng gượng làm vui “vậy là nhà mình vui tới nơi rồi, con hy vọng và cầu chúc chị Diệu hạnh phúc”. Bổng dưng hình như tất cả không còn gì níu kéo mình ở lại, Hiển không ở lâu, chị Thắm một lần nữa ra đường lộ ngoài chợ tiễn, hai người bịn rịn, chị Thắm nắm tay Hiển dặn dò, nhắc một nhắc hai “tới ngày đó, con ráng về vui với chị con nghe, nhớ ráng về”, Hiển “dạ” một tiếng nhỏ vừa đủ cho hai người nghe, bước lên xe buồn vời vợi, trời Gò Chùa cũng buồn theo, bất chợt đổ mưa giữa trưa. Hiển xuống xe ở Trảng Bàng, ghé qua thăm vợ chồng cô Phụng, trước khi bắt kịp chuyến xe chiều về Sài Gòn, vẫn lời chúc bình an như lần trước tiễn nhau, Hiển cũng chưa nói ra được “mối tình câm ” mà mình muốn nói.

    Rồi giầy đinh áo trận, hết chiến trường này tới chiến trường kia từ đồng khô cỏ cháy, sông bùn biển mặn đến rừng sâu dốc thẳm, gió núi mưa mùa, Hiển cứ miệt mài theo đồng đội, ngày đội mưa pháo địch đêm mõi trắng mắt hỏa châu rơi, cứ vậy mà cố mà quên nhưng hình bóng Diệu đôi khi lại bất chợt thoáng hiện về đâu đó trong đôi ba phút hiếm hoi lạnh buốt dưới hố cá nhân, không còn tiếng súng địch. Ngày Hiển theo tiểu đoàn ra Quảng Trị cũng là ngày cưới của Diệu, Hiển đã không về như đã hứa nhưng thà như vậy mà hay hơn, trận chiến dối đầu với Bắc quân ở đây xem ra khốc liệt đẩm máu, máu quân mình máu quân địch, đồng đội của Hiển lần lượt nằm xuống, bỏ đời đi xa từng người một, mới mầy tao buổi sáng thì đã vuốt mắt buổi trưa, chưa biết chừng nào tới phiên mình, nhờ có quân lên thay, đại đội Hiển lui về khu làng bỏ trống đêm qua sau khi Bắc quân bỏ chạy, tạm nghỉ, trời lạnh như cắt da, sương mù dầy đặc dù mặt trời đã lên cao từ lâu, đâu đây vẫn còn tiếng súng vọng về, dưới hố cá nhân trốn pháo địch, Hiển quyết định viết thư cho Diệu, lá thư muộn màn, nói ra mối tình thầm kín mà anh đã mang theo, đã bao lần muốn nói nhưng ngập ngừng không dám nói, nếu không, lỡ không may, sẽ không có lần nào nữa, thư Hiển gởi từ KBC của đơn vị về cho cô Phụng nhờ trao lại.

     Ra trường Sư phạm Diệu được về dạy ở trường tiểu học Hiệp Thạnh, chị Thắm mừng quá, gần nhà, đường Vên Vên Gò Chùa, đạp xe đạp còn được, cũng chuyến xe lam của bác tám Tiến như cũ, đi về mẹ con có nhau, mới ngày nào là học trò mà giờ cũng là cô giáo như cô giáo Phụng rồi, chừng hơn một vài tháng sau thì cô lấy chồng. Chồng Diệu, anh Thắng đang làm phụ tá trưởng phòng hóa chất của công ty bột giặt VISO ở Sài Gòn, trước cũng học trường quận nhưng lớn hơn hai lớp, hiền, học khá và vui tánh, con trai thứ và con trai độc nhất của ông bà ba Trọn, chủ vựa gạo dưới chợ Gò Dầu, không quen nhiều lắm, gặp nhau chào hỏi, qua lại mấy câu nầy nọ khi vào trường khi ra về rồi thôi, Hiển cũng biết anh, cũng anh anh em em khi nầy khi khác, Thắng để ý Diệu lâu rồi nhưng chưa tìm được dịp, không ngờ cô Phụng lại có bà con vai dì với mẹ anh, hôm đám giỗ ông nội, có mặt vợ chồng cô, cũng là ngày Diệu có kết quả tú tài hai, Thắng lên năm thứ ba kỹ sư hóa học Phú Thọ, chuyện qua chuyện lại mới biết cô Phụng quen thân với chị Thắm, mẹ của Diệu, và bác Trọn gái đã nhờ cô Phụng mai mối, cô sốt sắng vui mừng nhận lời ngay và cả hai bên gia đình cũng vui vẻ bằng lòng. Sau ngày cưới, vì mới nhận việc, chưa sắp xếp đâu đó chỗ ăn chỗ ở dưới  Sài Gòn, Diệu ở nhà với chị Thắm, đi dạy cho gần, chạy lên chạy xuống nhà chồng dưới Gò Dầu chứ không phải ở hẳn “làm dâu làm con”.

    Nhận thư của Hiển, lá thư dài nhàu nát vàng màu giấy, chữ ngã chữ nghiêng, kể chuyện mình yêu Diệu tha thiết nhưng hoàn cảnh trớ trêu quá, đành cam lòng câm lặng, từ Quảng Trị gởi về, chừng đầu tháng ba, cô Phụng ngồi đọc tới đọc lui, đọc không biết bao nhiêu lần, mà lần nào cũng ngậm ngùi bật khóc thúc thít, hai vợ chồng nghĩ tới nghĩ lui, đời lính nhất là đời lính lúc này, chiến trận khốc liệt quá, không biết khi cô ngồi đọc là thư này, biết Hiển có còn được may mắn lâu hơn hay đã nằm xuống ở nơi nào ngoài đó rồi, vài hôm sau, sáng sớm thứ bảy cô đón xe đi Gò Chùa thăm hai mẹ con, ở chơi khá lâu tới xế trưa và đưa lá thư của Hiển cho Diệu trước khi về, ba người đứng chờ xe ngoài đường lộ, đoàn quân xa GMC dài từ hướng dưới Sài Gòn lên chở đầy lính trận bám bụi đường nhìn nhau mệt mõi rã rời.

    Giữa tháng ba, chiến trận căng thẳng hơn trước sự tấn công ào ạt của Bắc quân, ngay cả ở Sài Gòn cũng không thấy yên, không may Thắng chết khi chuyến xe đò đầu ngày về Gò Dầu nổ tung, vì mìn quân du kích gài lại trong mấy cái mô đất bùn ruộng, cao hơn đầu gối vào đêm qua ở khúc đường vừa qua Suối Cụt không xa. Gia đình bác ba Trọn làm đám tang ở Gò Dầu, người đưa không đông mấy, rồi cũng đội khăn tang như hôm đầu lễ, Diệu theo người nhà đem Thắng xuống Sài Gòn hỏa thiêu, tro cốt hai bác Trọn đem về gởi trong chùa Thạnh Lâm nằm trên con đường ngang xuống chợ Gò Dầu, để sớm tối có lời kinh tiếng kệ cho hồn mau thanh thoát. Diệu để tang chồng đi dạy những ngày sau đó, buồn nhiều lắm nhưng cái thư của Hiển làm cô cũng buồn không ít, có khi ngồi một mình nhìn quanh căn nhà, cũng căn nhà những ngày còn Hiển, bật khóc thầm hỏi hai tiếng “tại sao”.

    Ngày cuối tháng 3, căn cứ hỏa lực của tiểu đoàn của Hiển tại núi Ba Hô và Sarge bị Bắc quân tấn công dữ dội bằng xe tăng đại pháo, không chống cự nổi buộc phải di tản vào đêm đó sau khi bị tổn thất nặng nề, một ngày sau, căn cứ Đông Hà, Ái Tử cũng bị tràn ngập giữa khuya, Hiển bị bắt làm tù binh. Gia đình bác ba Trọn, trong những ngày “tranh tối tranh sáng”, sáng hôm 28 tháng 4, sau khi qua chùa xin lại hủ đựng tro cốt của Thắng, mang theo, bỏ lại nhà cửa, đi cùng với vợ chồng và mấy đứa con người chủ tiệm thuốc tây ở ngã ba đường dốc đầu chợ, xuống Sài Gòn và họ theo chiếc tàu nào đó của hải quân VNCH rời Sài gòn đêm 29 tháng 4. Diệu tiếp tục đi dạy được hơn hai năm, không còn lên xuống nhà chồng nữa, tâm trạng ngổn ngang, buồn nhiều hơn vui, cố nghe ngóng chút tin về Hiển nhưng vẫn “biệt vô âm tín”, chị Thắm cũng chán ngán cảnh đời, hai mẹ con buồn như nhau, Diệu bị bí thư trường cho nghỉ dạy, ở nhà chưa tính được gì thì cô Phụng lên Gò Chùa thăm, một lần rồi hai lần, cuối cùng một sáng vừa vào hè, hai mẹ con cùng vợ chồng cô Phụng đón xe đò ra Phước Tỉnh và quá khuya đêm đó theo một chiếc tàu đánh cá cũ ra khơi giữa bầu trời tối xầm mịt mù mưa giông gió xoáy.

    Miền nam mất, Hiển được thả về giữa năm 1978, theo người bạn cùng tổ trong tù, cũng cùng binh chủng về tá túc tại nhà anh này ở gần Lăng Cha Cả vài hôm, nhờ có thêm chút đỉnh tiền của mẹ anh giúp, Hiển đón xe đò về Gò Chùa. Căn nhà của chị Thắm đã bị công an xã lấy sau ngày hai mẹ con bỏ đi, bác tám Tiến vẫn còn ở chỗ cũ, chiếc xe lam đã bị xung vào cái gọi là “hợp tác xã” gì đó, bác buồn buồn kể lại chuyện của nhà Hiển sau ngày anh vào lính, chuyện Diệu lấy chồng, chuyện chồng Diệu, anh Thắng chết vì xe đò trúng mìn và chuyện hai mẹ con bỏ đi mà chính bác cũng không biết là đi đâu, cái nghĩa địa đầu vàm đã bị “cải tạo mặt bằng” giờ trở thành “cung thiếu nhi” có hoa có lá, có hình em bé quàng khăn đỏ và lá cờ lạ màu đỏ ngôi sao vàng, nuốt đau đứng từ xa nhìn, Hiển rấm rức khóc thầm, vong hồn cha mẹ có được siêu thoát hay vẫn còn vất vưởng đâu đây, xin xá tội cho thằng con vô dụng. Hiển trở xuống Sài Gòn, tạm ở nhà người bạn tù, lang thang, quần quật, kiếm sống đủ nghề, khiêng thuê vác mướn bến xe bến đò, chợ ngày chợ đêm. Một ngày cuối tháng ba năm sau, Hiển tình cờ gặp lại Tấn, nhà ở Trâm Vàng, bạn học cùng lớp ở trường quận, cũng đi tù về vì là sĩ quan hải quân VNCH, một trưa Sài Gòn mưa dầm ở góc đường đầu chợ Nguyễn Tri Phương, đang ngồi nghỉ tay sau khi xong việc bỏ hàng trong chợ từ cái xe ba-gát xuống, sau đó nhờ Tấn nhận là người phụ lái, Hiển may mắn theo một chiếc tàu hàng lớn, chở người gốc Hoa vượt biên theo cái gọi là “đăng ký bán chính thức” ở Bến Đáy Trà Vinh do công an tổ chức, tàu đến Nam Dương bình an.

*

    Nắng sáng rựng, ửng đỏ một màu vàng lá giữa thu trên đồi Nam Tiên Tự, nằm xa ven ngoại ô thành phố Wollongong, chuyến xe chở khách đi thăm chùa đến sớm, bải đậu xe cũng đã không còn mấy chỗ trống, cả một khoảng sân rộng trước dãy nhà chánh điện người và người, ai nấy xí xô xí xào, gọi nhau ơi ới. Mang túi xách lên vai, xuống xe Hiển vừa dìu bác Thắm vừa sửa lại cái khăn quàng giữ ấm trên cổ của bà, rồi hai mẹ con rời đám đông, rẽ theo hướng con đường xuống dốc đồi ngập lá khô đổi màu, tới chỗ thăm thân nhân của khu hậu liêu, nằm khuất sau rặng cây thông dầy lá, cách biệt hẳn phía ngoài tiền đường khá xa, một chút mưa bụi thu nhẹ bất chợt từ hướng biển về ngang, giọt nối giọt đong đưa như hạt sương, đuổi nhau lấp lửng lùa theo vạt nắng, tiếng “đại thần chung” vang lên từng hồi một phía ngoài chánh điện, chấm dứt giờ cầu kinh buổi sáng.
 
 

    Hiển đứng bật dậy nhìn theo, bác Thắm chỉ tay hướng người ni cô đi phía trước, hai ba người ni cô khác lác đác sau, trong bộ áo màu nâu nhạt từ phía con đường dưới đồi đi lên gần tới, vui vẻ cười “Diệu đó con”, Hiển gật đầu, rưng rưng gọi thầm hai tiếng “chị Diệu”. Ngồi bên nhau bác Thắm vui ra mặt, không nói gì, nhìn hai người hỏi chuyện, chuyện vui ngày xưa hơn là chuyện buồn, mĩm cười một mình, rồi trước mặt một ni cô thánh thiện, không là chị Diệu của đời ngày xưa, những gì muốn nói từ lâu đã trở thành vô nghĩa, Hiển nhìn Diệu, cô cười thật tươi, Hiển nói khẻ “chúc chị nhiều bình an và được nhiều ân điển của Phật” trước khi từ giã, Diệu đứng nhìn theo hai người đi về hướng lên đồi, Diệu vẫy tay nói vọng theo “nhờ Hiển săn sóc má giùm, má nhớ giữ gìn sức khỏe”, phía bên trên chánh điện, một lần nữa có tiếng chuông vọng, bắt đầu giờ cầu kinh buổi trưa, quay nhìn lại, không còn thấy Diệu ở đó, vài ba chiếc lá nâu úa rời cành, bỏ đời đơn lẻ, lả tả bay ngang giữa gió thu nhè nhẹ, Hiển cầm tay bác Thắm nói nhỏ “thôi mình về nghe má”.

    *

    Chủ nhật, buổi sáng trời hanh hanh lạnh đầu đông, Hiển thức dậy sớm, bưng ly cà phê ra sau vườn, để trên cái bàn cây nhỏ, chưa uống vội, ngồi chờ nắng, không bao lâu nắng chập chững lên, Hiển lấy lá thư úa vàng màu giấy, nhăn nhúm, chữ ngã chữ nghiêng mà anh viết nhờ cô Phụng trao lại, Diệu đã để lại nó cho bác Thắm, trước ngày rời nhà “xuất gia đầu Phật”, bác cất giữ  cho tới giờ, rồi đưa lại cho Hiển, sau ngày lên thăm Diệu trên Nam Tiên Tự về, đi tới một góc rào, châm lửa đốt dưới gốc cây hồng trắng lớn, lửa bén nhẹ rồi bùng lên, không lâu chỉ còn chút tàn tro thấm sương muộn sáng trên đất, Hiển thì thầm “vĩnh biệt một phần đời”, trong nhà bên cạnh cửa sổ, bác Thắm ngồi nhìn ra, mĩm cười, cười mà buồn, nụ cười có chút nước mắt già mằn mặn.

Thuyên Huy
Melbourne tháng thôi mưa 2018

Nhân vật và bối cảnh được tự dựng & viết bằng tưởng tượng để nhớ chuyện của một người con gái quen ở chợ Bến Cầu quê nhà đã có lần gọi là chị.

Phố Quen Giờ Thấy Lạ - Thuyên Huy



Phố Quen Giờ Thấy Lạ

Ở bên này phố nhớ bên kia phố chợ Tây Ninh ngày người  bỏ người đi

 













Phố quen giờ thấy lạ
Từ độ người theo người
Mưa trút sầu trên lá
Não nùng tiếng thu rơi

 
Cũng đường về bên ấy
Chuyến xe con ngựa già
Cứ ngỡ còn đâu đấy
Người hát bài tình ca

 
Chủ nhật chuông buồn đổ
Quạnh vắng góc giáo đường
Mang tương tư xuống phố
Của ngày mới biết thương

 
Cổng hoa tàn vội khép
Nắng chiều xỏa tóc gầy
Nhà người khung cửa hẹp
Tưởng chừng như còn đây

 
Trối trăn cùng cây cỏ
Thu gầy guộc dưới mưa
Người thôi về bên đó
Không còn phố quen xưa

 
Thuyên Huy

Geelong, một nửa thu 2018

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhận Vật Nhậm Ngã Hành Của Kim Dung - Lê Học Lãnh Vân


Nhân vật Nhậm Ngã Hành của Kim Dung
 
 
 

 
A)

Năm Mậu Thân 1968, giữa những đợt pháo kích vào Sài Gòn, vài thằng bạn học sinh Petrus Ký chúng tôi chuyền tay nhau đọc TIẾU NGẠO GIANG HỒ đăng hàng ngày trên báo. Lúc đó đang tới đoạn Lệnh Hồ Xung được Hướng Vấn Thiên đưa tới Cô Sơn Mai Trang đánh lừa Giang Nam Tứ Hữu nhằm cứu Nhậm Ngã Hành đang bị giam cầm trong ngục dưới đáy Tây Hồ. Đang chiến tranh, mấy bữa mới có một tờ báo, đọc tới đọc lui tới rách nát mới thôi!

Nhậm Ngã Hành là một anh hùng cái thế, giáo chủ Ma Giáo, tức Triêu Dương Thần Giáo, bị cấp dưới là Động Phương Bất Bại lật đổ, cướp ngôi giáo chủ, giam cầm dưới đáy Tây Hồ. Nhờ sự giúp đỡ tận tâm của Hướng Vấn Thiên, Lệnh Hồ Xung, lão đào thoát ra ngoài, giết được Đông Phương Bất Bại, vừa trả thù xưa, vừa giành lại vị trí giáo chủ.

Lần đầu tiên trở lại vị trí giáo chủ, Nhậm Ngã Hành ngạc nhiên khi nghe thuộc hạ tung hô: “danh vang bốn bể“, “trường trị muôn năm“, “nhất thống giang hồ“… theo thói quen của giáo chúng Ma Giáo được tạo nên dưới thời Đông Phương Bất Bại. Vốn là anh hùng phóng khoáng, lăn lóc giang hồ, đồng cam cộng khổ với anh em, Nhậm Ngã Hành không thể nhịn được vừa phì cười vừa ngắt lời: – Muôn năm trường trị… là cái đếch gì..?

Nhưng rồi lão ta lại nghĩ:

- “Nếu trường trị muôn năm, nhất thống giang hồ thì thực sự quả là một điều khoái lạc thứ nhất trên đời, không trách con người mong mỏi như vậy.”

Nghĩ tới đây lão phá lên cười. “Tiếng cười lúc này rất đỗi hả hê, ra chiều đắc ý vô cùng”. Nhậm Ngã Hành dần quen với các lời chúc tụng kêu vang vang!

Bước vào điện Thành Đức của Đông Phương Bất Bại, chữ Thành Đức ngụ ý tán dương giáo chủ Văn Võ tột đỉnh, sau vài lời khách sáo, Nhậm Ngã hành tự nhủ:
- Trong thiên hạ còn ai xứng đáng hơn ta là Văn Võ tột đỉnh?

Một lát sau, bọn thuộc hạ vào vấn an giáo chủ. Vốn là người xưa kia xưng huynh gọi đệ với giáo chúng, cấp dưới gặp mặt chỉ cung tay vái chào, nay gặp cảnh mọi người dập đầu hành lễ, lão đứng dây xua tay, toan bảo mọi người đứng dây.

Tuy nhiên, câu nói chưa ra cửa miệng, lão đã ngồi xuống. Tiếp theo, lại có toán người khác tiến lên. Họ lại dập đầu hành lễ, và lần này Nhậm Ngã Hành ngồi yên gật đầu đón nhận.

Lệnh Hồ Xung ngồi xa, nhìn về hướng ngôi cao của lão, trong ánh sáng lung linh mờ ảo không thấy rõ người, tự hỏi đó là Nhậm Ngã Hành hay Đông Phương Bất Bại! Nhìn ra ngoài sân sáng, mọi vật rõ ràng, nhìn vô đại điện tối mờ, hàng ngàn người dập đầu gân cổ dồn dập tuôn lời chúc tụng thuộc lòng…

Chàng tự hỏi: những hào kiệt có biết nhục chăng khi hàng ngày phải quỳ mọp để tuôn ra những câu: “Trung hưng thánh giáo”, “Trạch bị thương sinh”, “Văn thành võ đức”, “Nhân nghĩa anh minh”, “Nhất thống giang hồ”, “Thiên thu trường trị”…? Ðông Phương Bất Bại bày ra trò bỉ ổi đã đành, tại sao Nhậm Ngã Hành là bậc anh hùng phóng khoáng mà nghe những lời ton hót cũng lộ vẻ thích chí kiêu căng?

Và chàng bỗng tỉnh ngộ: những kẻ kia, ngoài miệng thốt ra những câu ca tụng trời biển, mà thực ra trong bụng lại nguyền rủa âm thầm. Trước nay bậc anh hùng kính hiền trọng sĩ mới làm nên đại sự, bậc hào kiệt thì khí khái chẳng xu nịnh ai. Những kẻ cúi đầu đê hèn toàn là hạng xu nịnh vì lợi lộc cá nhân thấp hèn chẳng có chút gì khí phách!

Còn đang ngẫm nghĩ, bỗng nghe bọn thuộc hạ dứt tràng chúc tụng, nhao nhao kể tội Đông Phương Bất Bại! Tội to như giết hại hào kiệt công thần, tội nhỏ như ăn con bò, con dê… Lại có kẻ tố cáo Đông Phương Bất Bại gian dâm vợ con giáo chúng! Trời, Đông Phương Bất Bại đã “vung dao tự thiến” để luyện tuyệt kỹ Quỳ Hoa Bảo Điển, sao còn những kẻ bày trò tố cáo lếu láo thế mà Nhậm Ngã Hành dù biết vẫn ngồi yên nghe? Lệnh Hồ Xung không thể nhịn cười bật tiếng ha ha. Tiếng cười vọng đi rất xa, mọi người trong điện nghe tiếng cười chế nhạo thì không khỏi căm tức, quắc mắt lên quay ra nhìn…

B)

Cuối tháng 4/1975 chiếc xe tăng quân đội Miền Bắc húc đổ cánh cổng dinh Độc Lập giữa Sài Gòn. Việt Nam sau 20 năm chia hai lại thống nhất!

Cuối tháng 5 năm đó, Chiến Dịch Bài Trừ Văn Hóa Đồi Trụy được phát động. Các toán thanh niên dọc ngang đường lớn hẻm nhỏ cầm loa ra rả loan tin: “tất cả các sách vở, tài liệu in ấn trước ngày 30/4/1975 phải đem nộp cho nhà nước!”.

Gia đình tôi quyết định đốt sách chứ không nộp. Mỗi ngày tôi mang một hai chồng sách ra sau nhà đốt, khói đen mịt mù… Một lần, một nhân vật có vai vế cao của thành phố ghé thăm gia đình, thấy bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ đang chìm trong tro và lửa đỏ. Đó là người tôi kính trọng, giao thiệp gần với gia đình, tôi kêu là anh Sáu. Ông có vẻ tiếc hỏi sao tôi không đem gởi một cơ quan nào đó.

Trong lúc chờ anh chị tôi ra, tôi kể cho ông nghe về truyện kiếm hiệp Kim Dung. Ông khuyên tôi không nên nói nhiều quá về Kim Dung, bởi vì “chúng ta đánh giá Kim Dung phản động!”.

- Ủa, em thích tư tưởng Kim Dung. Nền truyện là hai phái chính và tà tranh chấp nhau. Trên đó, luôn có một giá trị cao hơn giá trị phe phái, đó là giá trị nhân bản. Phe nào cũng có người tốt, người xấu. Trương Vô Kỵ, Lệnh Hồ Xung đều vì con người mà vượt trên phe phái, đoàn kết phe phái với nhau phụng sự tổ quốc, phụng sự tình người!

- Đó mới là điểm phản động của Kim Dung. Hai phái trong các truyện của ông tượng trưng cho hai phe Tư Bàn Chủ Nghĩa và Xã Hội Chủ Nghĩa. Kim Dung xóa nhòa ranh giới hai phe, gây ảo tưởng và từ đó không còn phân biệt địch ta bạn thù. Ngoài ra, em có chú ý hình tượng Nhậm Ngã Hành không? Mao Trạch Đông đó! Kim Dung phê phán phê phán đảng Cộng sản Trung Quốc, phê phán Mao Trạch Đông khi thành công quên thời gian khổ Vạn Lý Trường Chinh, hành xử như một hoàng đế ngất ngưởng ngôi cao, xa rời dân chúng…

Tối đó tôi kể anh chị tôi nghe những gì anh Sáu nói. Anh tôi cười ha hả: “Cái thằng Sáu đó nó mê Kim Dung còn hơn mình. Nó có ý tốt mới nói với em như vậy. Nó nói Tố Hữu thông báo quan điểm chính thức của tuyên huấn là Kim Dung phản động. Em là sinh viên đại học không được mơ hồ. Mai mốt trường lớp mở lại, em vô đó nói linh tinh không có lợi!”.

Trên bốn chục năm vèo trôi! Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai đã vào sâu trong lịch sử. Anh chị tôi mất, Tố Hữu mất, anh Sáu mất. Hôm qua đọc báo biết Kim Dung mới qua đời. Các quan điểm của tuyên huấn, tuyên giáo cứ thay đổi, những nhân vật Kim Dung vẫn sống trong lòng người đọc.

Và Nhậm Ngã Hành vẫn thiên thu trường trị trong văn học kiếm hiệp như là bài học về “Quyền lực làm con người tha hóa. Quyền lực tuyệt đối sẽ dẫn đến tha hóa tuyệt đối” (Lord Acton). Không chỉ tha hóa Nhậm giáo chủ, mà tha hóa cả Triêu Dương Thần Giáo với biết bao nhân tài một thời lừng lẫy!

Ngày 31 tháng 10 năm 2018
Lê Học Lãnh Vân
304Đen – Llttm - VV

Thursday, November 1, 2018

Ai Là Tác Giả Bài Thơ "Hoài Cảm" - Nguyễn Văn Nghệ



Ai là tác giả bài thơ “Cảm hoài”
 
                                                                              Nguyễn Sĩ Giác
 

     Ngày 3/11/2015 trên trang web Vietcatholic có đăng bài “Họa thơ cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm” của tác giả Lê Đình Thông. Theo tác giả, bài thơ “Nỗi lòng” của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm viết vào năm 1953 và theo tác giả nguyên văn bài thơ:

    Gươm đàn nửa gánh quẩy sang sông

    Hỏi bến: thuyền không, lái cũng không!

    Xe muối nặng nề thân vó Ký

    Đường mây rộng rãi tiếc chim Hồng

    Vá trời lấp biển người đâu tá?

    Bán lợi mua danh chợ vẫn đông!

    Lần lữa nắng mưa theo cuộc thế

    Cắm sào đợi khách thuở nào trong?

  Trước năm 2013, tôi cũng như nhiều người đinh ninh bài thơ trên là của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, nhưng từ khi tôi mua bên vệ đường tác phẩm “Chơi chữ” của Lãng Nhân Phùng Tất Đắc do Nam Chi tùng thư xuất bản lần đầu tiên tại Sài Gòn vào năm 1961 thì tôi lại thay đổi cách nhìn.

    Ai là tác giả bài thơ “ Cảm hoài”?

  Theo Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, thì tác giả bài thơ “Cảm hoài” là của cụ Nguyễn Sĩ Giác: “Cùng một lòng công phẫn như trên, cụ Nguyễn Sĩ Giác, thủa niên thiếu, cũng hoài bão chí lớn, nhưng không được toại, vì thiếu phương tiện và thiếu đồng chí, nên đã thốt ra lời thơ đĩnh đạc và thoát sáo:

                                  CẢM HOÀI

    Gươm đàn nửa gánh muốn sang sông,

    Hỏi bến thuyền không lái cũng không!

    Xe muối nặng nề thương vó ký,

    Đường mây rộng rãi tiếc chim hồng.

    Vá trời lấp bể người đâu vắng.

    Bán lợi mua danh chợ vẫn đông!

    Lần lữa nắng mưa trong cuộc thế,

    Cắm sào đợi nước thuở nào trong!

 (Lãng Nhân , Chơi chữ, Nam Chi tùng thư xuất bản lần đầu tiên, 3 đường Nguyễn Siêu, Sài Gòn,1961, trang 139-140)

     Giữa hai bài “Nỗi lòng” và “Cảm hoài” có khác nhau đôi chữ nhưng theo tôi thì bài “Cảm hoài” dùng từ chuẩn hơn: “muốn sang sông” nên mới “Hỏi bến”, “thương” mới đối với “tiếc”, “vắng” đối với “đông”.

    Cụ Nguyễn Sĩ Giác sinh năm Mậu Tý( 1888) tại xã Kim Lũ, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông, là con của cử nhân Nguyễn Duy Nhiếp, là cháu nội của tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp. Cụ chỉ đỗ Tú tài nhưng được đặc cách đi thi Hội và đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân khoa Canh Tuất(1910), vị thứ 3/4. Cụ không ra làm quan và tham gia phong trào Đông Kinh nghĩa thục và bị Pháp bắt giam ở Hà Nội. Năm 1954 cụ di cư vào Nam và dạy môn Hán văn tại trường Đại học Văn khoa và Sư phạm Sài Gòn. Cụ mất vào khoảng sau năm 1975.

   Ngoài bài thơ “Cảm hoài”, trong tác phẩm Chơi chữ còn có hai bài thơ Đường luật của cụ Nguyễn Sĩ Giác. Đó là bài: “Tiễn bạn đi đày” và “ Nhớ bạn đi đày”. Trong những bài thơ của cụ Nguyễn Sĩ Giác sáng tác có nhiều bài có âm hưởng giống nhau. Bài “ Bước phong trần” (hát ả đào) có câu: “Gánh gươm đàn mang trả nợ tang bồng”, bài “ Tặng bạn mới về quan”(hát ả đào) có câu: “Cánh chim hồng còn tiếc lúc bay cao”. Câu 2 của bài thứ nhất “Định sang chơi Hoa Thịnh Đốn thuật hoài”: “Gươm đàn nửa gánh tít phương xa”, hoặc câu 6 trong bài thứ nhất “Rằm tháng 9 (âm lịch) 1954 ở Bangkok đêm trông trăng cảm hoài”: “Gươm đàn xếp xó tháng ngày qua”

     Hậu thế nhầm lẫn.

   Vĩnh Phúc có viết một đoạn về Lãng Nhân Phùng Tất Đắc và cụ Nguyễn Sĩ Giác: “…Sau này khi vào Sài Gòn, chỉ còn lại cụ Nghè Nguyễn Sĩ Giác, thì Lãng Nhân nhờ con trai thứ ba là Phùng Khắc Điền (hiện đang sống ở Montréal, Canada) chở xe đến nhà cụ Nghè Giác để hỏi, mỗi khi bị bí một điển tích nào hắc búa” (sontrung.blogspot.com/2010/04/nguyen-si-giac-thi-van-tap.htlm). Lãng Nhân Phùng Tất Đắc khi xuất bản tác phẩm Chơi chữ cũng đã xin phép cụ Nguyễn Sĩ Giác trước rồi mới dám cho in ba bài thơ Đường luật của cụ Nguyễn Sĩ Giác vào tác phẩm , nếu không sẽ vi phạm luật tác quyền.

   Tác phẩm “ Chơi chữ” được xuất bản năm 1961 là năm cố Tổng thống Ngô Đình Diệm còn tại vị cho nên Lãng Nhân Phùng Tất Đắc không dám lấy thơ của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm gán ghép cho cụ Nguyễn Sĩ Giác được. Nếu tác giả Lãng Nhân Phùng Tất Đắc ngang nhiên làm việc ấy sẽ bị cơ quan kiểm duyệt “chộ” ngay!

    Vậy tác giả bài thơ “ Cảm hoài” (hoặc có người gọi là bài Nỗi lòng) không phải của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, chẳng qua hậu thế nhầm lẫn gán ghép cho cố Tổng thống mà thôi!

     Với khí tiết của người quân tử “tâm hư, tiết trực”, cố Tổng thống Ngô Đình Diệm ở dưới suối vàng chắc cũng chẳng vui sướng gì khi thấy hậu thế nhầm lẫn gán ghép cho cố Tổng thống như vậy!

Nguyễn Văn Nghệ

Người chuyển bài - GSN

 

Khoan Đặt Tên - Thái Bá Tân


Khoan đặt tên


 









Trời, Sài Gòn nghe nói
Định xây quảng trường to.
Loại khủng, lớn nhất nước,
Sẽ mang tên Bác Hồ.


 
Sẽ có nhà tưởng niệm,
Tượng người, tượng búa liềm.
Nhà sàn và ao cá…
Ở đâu? Lại Thủ Thiêm.


 
Đền bù cho dân đấy,
Giúp xóa đói, giảm nghèo.
Dân cứ đến mà ngắm,
Sẽ hết đói, hết nghèo.


 
Đảng đã quyết thì chịu.
Đố ai dám xen vào.
Người dân lại mất đất.
Ngẫm mà thương đồng bào.


 
Chỉ mong quảng trường ấy
Khoan khoan hẵng đặt tên.
Chờ năm mươi năm nữa,
Đỡ thay đổi, đỡ phiền.


*
Nhân tiện, thằng nhà hát,
Nên thôi, xây làm gì.
Xây một nhà tù khủng,
Hiện đại và tiện nghi.


 
Tạm thời giam bác Thức,
Mẹ Nấm và Mẹ Nga
Cùng nhiều tù nhân khác
Tạm gọi là “phe ta”.


 
Sau, thời thế thay đổi,
Nó sẽ là nơi giam
Các quan lớn cộng sản
Và quan tham Việt Nam.


 
Là vì, các quan lớn,
Vĩ đại và quang vinh,
Thì nhà tù phải khủng
Cho tương xứng với mình.


 
Lúc ấy tôi chắc chắn
Thường xuyên đến Thủ Thiêm,
Ngắm nhà tù cho sướng.
Cả ngày và cả đêm.


 
Thái Bá Tân
(facebook Thái Bá Tân)

 

 

Cà Phê Thành Nội - thươngcangthuquan


Cà phê thành nội
 



 

Đi trong mưa tầm tả qua cầu Trường Tiền mới thấy thành phố Huế buồn rầu. Mà biết Huế gần bốn chục năm rồi có bao giờ tôi thấy Huế được vui. Sao vậy? Chắc vì Huế là chứng nhân sự tàn tạ của một triều đại, của cả một lớp người. Mà đã tàn tạ thì làm sao còn vui được?

Lại nghĩ về tính khí trẻ con của mình tồn tại cho tới bây giờ mà mắc cỡ. Nói vậy nghĩa là già hay tàn tạ sẽ không còn vui tươi được? Nghĩa là nếu già háp mà còn vui tươi xí xọn làm ra vẻ trẻ con nhí nhởn sẽ bị coi là “già mất nết”?

Đó là chuyện con người, còn chuyện của một vùng đất thì có khi lại khác. Hà Nội đã ngàn tuổi rồi mà sao tự nhiên bây giờ ai cũng thấy nó rộn ràng xôn xao lộn xộn quá vậy? Nhiều khi thấy Hà Nội đang rộn ràng theo cái cách riêng của nó thì người miền khác cảm thấy khó chịu vô cùng.

Còn Huế mới bốn trăm năm tuổi già mà sao lại buồn rầu chán nản quá vậy? Có cái gì lấn cấn trong nỗi buồn rầu đó? Trời mà biết được.

Ra Huế mỗi năm nhưng thấy Huế không thay đổi lắm, Huế vẫn nghèo nghèo âm u như mấy chục năm trước. Người Huế vẫn ăn nói chừng mực thâm trầm, luôn tỏ vẻ quí phái dù có khi đang nghèo rớt mồng tơi, chắc có lẽ máu quí tộc máu quan lại vẫn còn chảy trong huyết quản dù thời thế đã khác xưa nhiều lắm. Bây giờ tính chung cả xứ Bình Trị Thiên may ra chỉ có người Quảng Bình, người Quảng Trị mới làm quan to được chớ có mấy người Huế nội thành được làm quan. Thế nhưng khi trò chuyện, người Huế vẫn luôn cố tạo ra một khoảng cách cao sang nào đó với người đối diện.

Nghe tôi nói vậy anh bạn người Huế trách: Tư tưởng phân biệt vùng miền. Mấy anh người Quảng Nam hay Sài Gòn trước giờ đâu có thích người Huế, họ nói người Huế cao ngạo thâm hiểm. Anh cũng nghĩ vậy, có phải không?

Tôi đáp:  Có lẽ tính chất Huế và Quảng Nam khác nhau xa quá, người Quảng Nam thì bổ bã, nói chuyện phát âm khó nghe thấy mẹ nhưng thích nói thật nhiều, khi ai tỏ vẻ khó chịu thì chửi người đó không chơi được. Còn người Huế thì ít nói, mà hễ mở miệng thì phải văn hoa, phải tỏ ra vẻ quí phái bề trên cho người khác sợ…

Anh bạn người Huế không thèm nói gì thêm, chỉ cười mĩm chi.

Vượt cơn mưa buổi sáng qua cầu Trường Tiền tôi và anh bạn vào Thành Nội uống cà phê Lục Bộ. Hội sở Lục Bộ của thời Nguyễn ngày xưa nay được giao cho tư nhân khai thác, họ bán cà phê, các thức uống thông thường và các sản phẩm mang chất Huế như Trà Cung Đình, Rượu Minh Mạng, Trà Ngự, nón lá, áo dài, phấn nụ, tranh sơn mài…

Nói thực, mấy món đó người tây du lịch cũng không chuộng mà người ta nghèo như tôi cũng chẳng dám bỏ tiền ra mua. Thấy đồng tiền bỏ ra không đáng.

 

Việc bán buôn trong Lục Bộ giao cho mấy em nữ sinh viên nhỏ tuổi không được chuyên nghiệp lắm nên quán cà phê và các cửa hàng trưng bày trong Lục Bộ rất vắng khách, nhất là sáng hôm ấy trời mưa dầm dề. Cà phê phẩm chất kém, đắng ngắt, không thơm tho lại cho rất ít đường. Trà thì lạnh tanh, cung cách tiếp đãi của các em rất chậm chạp.

Anh bạn Huế hỏi tôi: Chờ cà phê sốt ruột hử? Ở Huế người ta làm cái gì cũng phải khoan thai chớ không vội vàng hấp tấp như ở Sài Gòn.

Anh ấy gọi cô sinh viên lại và bảo: Anh muốn uống trà lài. Cô sinh viên nhỏ chậm chạp lấy cây dù che mưa bước ra khoảng sân ướt hái mấy nụ lài trong tay đem vô bỏ ngay vào ấm trà lạnh ngắt. Tôi khó chịu: Ai mà uống trà kiểu gì kỳ vậy? Nước lạnh ngắt lại cho lài tươi vào. Anh không sợ bị đau bụng sao?

Anh bạn ấy chẳng nói gì, chỉ cười mĩm chi.

Cà phê Huế khác cà phê Sài Gòn. Ly cà phê đen đá là một ly thủy tinh có một chút ít cà phê pha sẵn và bỏ một cục đá to chớ không đập vụn ra như ở Sài Gòn. Giá ly cà phê hai mươi ngàn đồng tuy không mắc nhưng không đáng đồng tiền vì phẩm chất kém và cung cách phục vụ của các em sinh viên cũng chán.

Các hàng hóa địa phương, rượu, phấn nụ, bánh đậu xanh, mè xửng… bao bì không được bắt mắt, thấy nó nghèo nghèo ướt ướt làm sao ấy, nhưng giá lại khá cao so với ngoài chợ Đông Ba. Dạo một vòng qua mấy phòng trưng bày sản phẩm tôi thở dài nói với anh bạn: Buôn bán kiểu này ở Sài Gòn chắc chết sớm!

Mấy em nữ sinh viên nữ bán hàng hay phục vụ trong quán Lục Bộ tuy lễ phép nhưng không có được tác phong buôn bán hay tác phong dịch vụ như mấy em ở Sài Gòn. Mấy em rất thờ ơ với khách, không tha thiết mời gọi khách mua hàng. Ngồi uống cà phê, tôi thấy có mấy người khách du lịch Tây và Việt đội mưa bước vào Lục Bộ, họ lướt sơ một vòng rồi vội bước ra chắc vì không có ai ngỏ lời chào mời mọc.

Hỏi thăm mấy em nhỏ mới biết sinh viên ở Huế xin đi làm thêm nhận được tiền công khá thấp. Mỗi em làm thêm tối đa năm tiếng một ngày với giá ba mươi lăm hay bốn chục ngàn đồng một ngày công. Chắc vì tiền công ít quá nên mấy em ấy không tha thiết lắm với chuyện bán buôn hay phục vụ khách hàng, tôi cũng chẳng thấy người quản lý nào đốc thúc công việc để mấy em ấy làm việc hay hơn.

Tôi hỏi mấy em phục vụ đang ngồi tụ lại rì rầm trò chuyện trong quán vắng: Vậy một tháng trừ các ngày nghỉ ra mỗi em nhận chưa tới một triệu đồng? Các em sinh viên ấy e dè nhìn nhau rồi trả lời tôi: Dạ đúng vậy thầy ạ. Sinh viên tốt nghiệp các trường ở Huế lương khởi điểm một tháng ba triệu đồng là tối đa, còn chúng em đang đi học xin đi làm thêm một tháng được gần một triệu là tốt lắm rồi.

Tôi lại hỏi: Lương ba triệu một tháng thì sống làm sao? Mấy em lại nói hết sức nhỏ giọng: Vẫn đủ thầy ạ. Nếu không có gan vào Nam kiếm việc lương cao thì đành sống ở Huế với số lương ấy rồi từ từ kiếm việc khác làm thêm để tăng thu nhập. Không nên vội vàng thầy ạ. Đời người còn dài, sông có khúc người có lúc, làm người phải biết hy vọng thầy ạ.

Tôi quay sang nhìn anh bạn Huế rồi lắc đầu: Nghe mấy em đó nói vậy chớ tôi không tin là mấy em đó đang hy vọng. Anh bạn hỏi: Sao anh không tin? Các anh người Sài Gòn thì ưa bi quan suy luận suy diễn lung tung. Như tôi đây làm việc cho Nhà nước ở Huế gần ba chục năm rồi mà lương cũng chưa tới chục triệu, thế mà con tôi mấy đứa có đứa nào phải thất học đi ăn xin đâu. Vợ tôi cũng đâu có phải chạy vạy kiếm tiền nuôi chồng nuôi con đâu. Sao anh đa nghi quá, hay là anh nghĩ tôi ăn xén ăn bớt của cải nhà nước mới đủ sống?

Anh bạn cán bộ người Huế nói chuyện tiền lương làm tôi nhớ tới mấy câu chuyện lương và bổng thời bao cấp của mấy chục năm trước. Lương dù không bao nhiêu nhưng người ta vẫn sống được và thậm chí vẫn giàu được nhờ có bổng. Chắc anh bạn của tôi bổng lớn lắm đây, còn mấy em sinh viên nhỏ bán hàng hay bán cà phê trong Lục Bộ thì làm gì có bổng.

Tôi thở dài. Anh bạn Huế mắng tôi: Lại thở dài, tôi chán các ông Sài Gòn thật. Mắng xong anh ấy nhoẽn miệng cười mĩm chi một cách rất hiền hòa và quí phái.

Gọi tính tiền ba lần và chờ khoảng mười lăm phút một em sinh viên mới chầm chậm bước ra đưa cái bill ghi bốn chục ngàn tiền nước. Đưa một trăm ngàn chờ mãi em ấy mới đem ra sáu chục ngàn thối lại. Tôi hỏi: Sao lâu quá vậy em? Em ấy trả lời: Sáng giờ chúng em chưa bán được gì nên không có tiền thối lại thầy ạ.

Anh bạn đưa cho em sinh viên tiền (pour) boire hai chục ngàn, em ấy lễ phép nhận nhưng không lấy gì làm vui vẻ, chỉ thỏ thẻ: Chúng em cảm ơn hai thầy.

Anh bạn nói với tôi: Tính chất Huế là như vậy đó, họ không thích nhận tiền “boire”. Mà họ có thích họ cũng không bao giờ tỏ vẻ vui mừng quá đáng. Tôi lẩm bẩm: Lương một ngày có ba mươi lăm ngàn, ai mà vui mừng nổi. (13-12-2016)

thuongcangthuquan wordpress

304Đen – Llttm - MT