Wednesday, January 27, 2016

Đến Mưa Anh Về - vkp Công chúa nhỏ


ĐẾN MƯA ANH VỀ 

 


 
 
 
 
 
 
 
Rằm tháng Chạp tuốt lá mai
Uốn cành tạo dáng đón ngày Xuân sang

Nụ hoa hàm tiếu dịu dàng
Xinh tươi mơn mởn, rộn ràng niềm vui

Chợt nghe lòng thấy bồi hồi
Mai vàng sắp trỗ, đâu rồi người xưa?

Ba mùa lỗi hẹn đủ chưa?
“Xuân qua, hết Hạ, đến mưa anh về”

Đường trơn tóc ướt chân quê
Ai người sưởi ấm đam mê tình sầu?

Em ngồi đếm giọt mưa ngâu
Lục bình trôi nổi biết đâu bến bờ?

Quạ đen chờ đến bao giờ
Nối cầu Ô thước hai bờ Đại dương?

Để em thôi hết đoạn trường!!!



 
 
 
 
 
 
24/1/2016

Vkp công chúa nhỏ

 

 

Bộ Ấm Trà - Hồ Thủy


BỘ ẤM TRÀ

Phần Ba

 

… Nha Trang đẹp lắm, tôi chưa từng biết một thành phố nào xinh đẹp như vậy, mặc dù anh em tôi và vú được theo cha mẹ đi hết tỉnh này đến tỉnh khác, sống từ thành phố này đến thành phố nọ: Sài Gòn, Đà Lạt, Pleiku, Ban mê thuộc, Qui Nhơn…nhưng khi đến Nha Trang thì tôi đã bị ngất ngây say đắm bởi biển xanh cát trắng, bởi những con sóng bạc đầu nhấp nhô, bởi hàng dừa lã ngọn, lúc đó tôi vừa đến tuổi mười sáu, cái tuổi đầy mơ mộng, lãng mạn nên thấy đời rất đẹp và mọi thứ chung quanh mình thật tuyệt vời. Vú vẩn thường ngày dậy sớm, quét dọn sân vườn, nhóm lửa nấu nước pha trà, nấu xôi để cả nhà ăn sáng, xong thì đi chợ nấu nướng, vú biết ý từng người trong nhà để lúc nào trên bàn cũng có nhiều món, rồi giặc giũ áo quần… vú làm hết mọi công việc của mình một cách cần mẩn chu đáo mà không hề nghe một lời phàn nàn than thở. các anh trai đi học tận Sài Gòn, mẹ tôi thì rất yêu quí con trai nên thường một mình vào đó thăm các con, cha tôi đi làm từ sáng sớm cho đến xế chiều mới về nhà, mổi bữa cơm chiều khi vú dọn ra và cùng ngồi ăn với cha con tôi, bao giờ tôi cũng thấy trên đôi môi hơi dày của vú có mấy vết son đỏ chót được tô một cách vụng về lam nham bởi bàn tay thô ráp chai sần của vú, nhưng chỉ vào những ngày không có mẹ tôi ở nhà vú mới tô son môi. Vú chu đáo lắm khi rót cho cha tôi một ly nước chè nóng vừa lúc cha tôi buông chén đủa, những áo quần của cha tôi mặc bao giờ vú cũng ủi thẳng hơn của mọi người trong nhà. Tôi ngủ với vú, đó là một thói quen từ lúc còn rất nhỏ, có những đêm vú đau răng, rên hừ hừ và như cố ý chờ đợi cho đến khi nghe tiếng cha tôi từ nhà lớn hỏi vọng xuống:

- Vú đau răng à? Uống thuốc chưa? Nếu chưa thì nhớ uống, ngậm thêm nước muối cho chết vi trùng.

Như chỉ chờ có bấy nhiêu thôi, vú “ dạ” một tiếng và không còn rên rỉ nửa. Trời ơi, bây giờ tôi mới biết tâm hồn của vú có lắm khát khao, vú cũng là phụ nử như bao người phụ nử trên cỏi trần này, vú thèm một chăm sóc dù rất nhỏ nhoi như chỉ bằng một lời nhắc nhở, vú cũng thèm được đẹp lên trong con mắt của người đàn ông, nhưng thật tội nghiệp cho vú biết bao, nổi khát khao thèm muốn âm thầm của vú mãi mãi không ai biết hay không muốn biết, tôi ngây thơ khờ khạo cười vui nhạo báng khi nhìn thấy màu son đỏ tô một cách vụng về lởm chởm trên đôi môi dày của vú, tôi buồn cười khi vú không còn rên la sau câu hỏi, câu dặn dò của cha tôi, còn cha tôi thì vẩn một mực đàng hoàng thánh thiện, biết hay không biết nổi khát khao của một người đàn bà bất hạnh như vú đây? Mẹ tôi thì vẩn vô tư, thích được cha tôi chìu chuộng và muốn người khác phải phục vụ mình và xem đó nhưlà một điều tất yếu, một lẽ đương nhiên mà mẹ cho rằng mình có quyền được hưỡng, còn mọi chuyện khác thì không bao giờ mẹ thèm để ý đến, nhưng mẹ lại rất tốt, rất thương người nghèo khó.

Vú lại thở dài, ngồi bó gối đu đưa nhè nhẹ, thỉnh thoảng sụt sịt rồi hỉ mủi, hai gấu quần của vú luôn là cái khăn để lau mặt sau khi rửa, để chùi khô những giòng nước mắt khi vú khóc, là cái nùi giẻ để hỉ mủi, tôi thương vú chân chất khổ cực nhưng tâm hồn vẩn có lắm khát khao. Đáng lẻ ngày mai tôi phải về vì nhớ mấy đứa con, nhưng câu chuyện của vú kể chiều tối hôm nay đã níu chân tôi lại, tôi không nở nào để vú thui thủi một mình dù vú đã có mảnh vườn con con trồng vài ba thứ rau, vài ba cây ớt để cho qua khoảng thời gian cô quạnh, tôi quyết định chờ vợ chồng em trai về thì mới yên lòng trở lại Sài Gòn. Bình trà cạn khô, tôi giả vờ hỏi:

- Vú ơi, khi nào con về nhà, vú cho con bộ ấm trà này nhé?

Lập tức vú lắc đầu như một phản xạ rất tự nhiên:

- Uí chà, mô có được, vú quí nó lắm, nhờ có nó mà khi uống trà vú mới được thấy ông. Con biết không, ông quen uống cái tách ni, ngón tay cái ông cầm rồi xoa xoa vô đây cho nên chi chổ ni bị lợt màu hơn ba cái kia bây chừ vú bắt chước ông, vú cũng uống cái tách ni.

Tôi cười nói đùa:

- Cha con là cha con, bình trà là bình trà, làm sao mà vú như thấy cha con khi uống trà trong cái bình này? Cho con đi vú, con sẽ tặng vú bộ ấm trà khác đẹp hơn.

Vú nói một câu sâu sắc đến không ngờ:

- Nhưng bình trà mới thì ông chưa hề uống nên vú không quí.

Và thêm một câu như lời trăn trối:

- Nì, khi mô vú chết, nhớ chôn nó chung với vú nghe.

    Tôi về lại Sài Gòn, phải ra ngoài đường cái mới đón được xe, vú lum khum đưa tôi ra tận đầu đường chờ đến khi tôi leo lên chiếc xe đò củ kỷ, ngồi vào ghế rồi mà vú vẩn chưa quay về, xe chuyển bánh tôi đã òa khóc khi thấy vú vẩy vẩy tay, miệng cười rất buồn mà nước mắt thì lăn dài trên hai gò má nhăn nheo. Vú cứ đứng đó nhìn mải theo đuôi chiếc xe đò, tôi ngoái ra đằng sau cho đến khi không còn thấy vú, tôi tưỡng tượng ra bóng dáng vú lủi thủi quay về nhà em tôi, bước chân già cổi xiêu vẹo run run mang theo trong tâm hồn một nổi cô đơn quá lớn và sự quạnh hiu cuối đời. Chiếc xe lăn bánh trên con đường gập gềnh, đầu tôi lắc lư theo bánh xe quay,và cuộc đời cay đắng của vú là một nổi ám ảnh mãi trong lòng tôi, theo tôi suốt quảng đường dài.

    Tôi lại tất bật với đủ thứ công việc nhà không tên, làm hoài vẩn còn hoài nhưng lòng tôi nặng trỉu mổi khi đêm về, tôi tự trách mình: tại sao bắt vú kể lại chuyện đời vú, khơi lại làm chi một quá khứ đau thương, tôi có chia sẻ được gì không khi mà ngược lại chính tôi luôn nặng lòng nghỉ đến, tôi có ác lắm không khi cứ bắt vú phải gợi nhớ đến bao nổi đắng cay tủi nhục của đời mình, sao tôi không để vú được chôn sâu, vùi lấp trong quên lãng một quá khứ không nên gợi nhớ, sao không để cho vú được vui với bộ ấm trà bên cạnh.?

Vú nhắn tôi phải về để vú gặp mặt, không biết có chuyện gì đây, nghe nói vú khóc nhiều lắm. Tôi xin phép cha mẹ và chồng, rồi gởi con cho ông bà chăm sóc để về thăm vú.

Vú đang ngồi bó gối ở hiên nhà phía trước, hai gấu quần được xử dụng tối đa để lau nước mắt, thấy tôi vú mừng quá vừa cười vừa mếu máo:

- Vú chờ con, ngày mô cũng ngồi đây ngóng con.

Tôi dìu vú đứng lên, cười cho vú vui:

- Đi vô nhà thôi vú, bộ ấm trà đâu, pha cho con uống cùng với vú, con thèm trà vú pha lắm.

Tôi ngạc nhiên khi vú òa khóc nức nở:

- Còn mô nửa mà pha, bể rồi con ơi.

--Tại sao mà bể?

Cô em dâu của tôi từ dưới bếp đi lên chào hỏi tôi xong liền trả lời thay vú:

- Chị, con mèo nhà hàng xóm nhảy lên tủ tìm con chuột, nó quậy tưng làm bể đồ tùm lum, bể luôn bộ ấm trà của vú. Cái hôm bộ ấm trà bị bể vú dẩy dụa khóc la tới giờ luôn, ngày nào vú cũng ủ rủ, vợ chồng em mua lại cho vú bộ ấm trà mới mà sao vú khó quá chị, không chịu uống bình mới, cứ khóc không hà rồi đòi em phải nhắn chị về cho bằng được. Anh Hải nói vú già rồi nên sinh tật chướng kỳ.

Tôi hỏi:

- Hải đi đâu mà chị không thấy? Còn bé Lâm?

- Anh đi làm rẩy trồng bắp với mấy người bạn, còn bé Lâm qua nhà ngoại chơi rồi. Anh Hải bực bội vú lắm, có bộ ấm trà bị bể thôi mà vú cứ vật vã hoài, chịu hết nổi luôn.

Tôi nhìn vú xót xa lòng đầy trắc ẩn, hình như chỉ có mình tôi mới hiểu được lý do tại sao vú lại đau buồn đến như thế, bộ ấm trà là kỷ vật bất ly thân của vú, gắn liền với một khối tình to lớn nhưng luôn câm nín suốt những thàng năm dài theo cha mẹ tôi đi đây đi đó, nào ai hiểu được ngoài tôi ra? vì vậy vú mong chờ tôi đến với vú như một điểm tựa để vú vượt qua được nổi đau mất mát rất là to lớn này đối với vú. Vú vẩn ngồi đó, cái đầu hơi gật gù lúc lắc, tôi đến ngồi bên cạnh ôm đôi vai gầy guộc của vú, xoa xoa bờ vai xương xẩu như một lời an ủi, tôi hỏi:

- Những mảnh vở của nó còn không?

- Uí chà; chị ơi, vú gom lại cất kỷ lắm.

Tôi nói với vú:

- Đưa cho con xem.

Vú lui cui đi vào trong, lát sau cầm ra một gói giấy nhỏ đưa cho tôi:

- Đây nì, vú quét nhà gom hết không còn sót một tí mô cả .

Tôi mở gói giấy ra xem, xoay qua xoay lại, đưa lên đở xuống, ráp lui ráp tới, cũng may là bộ ấm trà không bị bể nát mà nó chỉ vở ra từng mảnh lớn, tôi thở phào vui vẻ nói với vú:

- Không sao đâu, vú đừng buồn nữa con sẽ dán keo làm dính liến lại cho vú.

Cô em dâu của tôi tròn xoe mắt ngạc nhiên lẩn khó chịu:

- Chị, tại sao chị phải làm như vậy? Em tưởng…

- Tưởng là chị sẽ cằn nhằn vú chứ gì? Em làm sao hiểu được…thôi, không nói nhiều, đi ra tiệm tạp hóa mua cho chị tupe keo con voi, tiền đây, nhanh nhanh dùm chị.

    Vú ngồi bên cạnh chăm chú nhìn tôi săm soi lựa chon từng mảnh vở của bộ ấm trà để ráp lại với nhau, khi cô em dâu đem type kéo dán về, tôi hối vú đi nấu cơm cho tôi ăn vì tôi đói lắm rồi, trên khuôn mặt vú hiện lên niềm hy vọng cùng với nổi vui mừng, nhẹ nhỏm.

Tôi không khéo tay như chồng tôi nên phải thật lâu mới dán lại đươc từng mảnh vở của bộ ấm trà, tuy không được hoàn hảo cho lắm nhưng nói chung thì nó cũng được dính liền lại với nhau. Vú cứ than thở tự trách mình:

- Tại bửa tối đó vú không để sát vô trong, thì chiều đó vú cũng pha trà ngồi uống với cậu Hải, tối lại tự nhiên vú bị nhức đầu choáng váng nên để hời hợt ở phía ngoài…chớ lúc mô vú cũng cẩn thận, đi đông đi đoài mà không hề hấn chi bây chừ nằm yên một chổ thì bị bể…vú lo lắm, ông ở bên nớ có bị chi không đây?

Tôi cười cho vú nhẹ lòng:

- Cái số của bộ ấm trà tới lúc nó phải bể nên vú mới hời hợt, còn cha con có can dự chi tới nó, vú đừng lo.

Nhìn bộ ấm trà được dán dính liền lại với nhau vú vui lắm, cứ cười hoài, tôi dặn vú từ nay không được chế nước vô bình, vú chỉ có thể để trước mặt mà nhìn ngắm thôi, còn muốn uống trà thì chịu khó pha trà trong bình mới mà em tôi đã mua cho vú. Vú thở dài nói một câu thật cam lòng:

- Thì đành vậy chớ biết răng chừ, nhưng mà…chắc từ đây vú không uống trà nữa mô, còn ngon chi nữa mà uống.

Vợ chồng em trai tôi không hiểu nổi vì sao tôi có thể từ SG chịu xa chồng con để tất tả lên đây, ngồi tỉ mỉ dán lại bộ ấm trà cho vú, chiều đi rẩy về em tôi cười chê tôi dở hơi, làm chuyện ruồi bu, còn vú thì kỳ cục, nhỏng nhẽo như con nít, tôi chỉ có thể nói với em trai tôi rằng:

- Thôi, vú già rồi như chuối chín cây, so với cái tình cái nghĩa vú chăm sóc thương yêu anh chị em mình, gắn bó với gia đình mình mấy chục năm trời thì cái chuyện chị bỏ công ra ngồi dán lại bộ ấm trà cho vú vui nào có đáng gì đâu, hai đứa đừng làm gì vú, cũng đừng nói chi để vú phải tủi thân mà tội nghiệp vú.

Vú muốn tôi ở lại với vú thêm một ngày nữa nhưng tôi nhớ mấy đứa con nhỏ của mình nên không thể, sáng mai tôi phải về sớm. Bữa cơm tối cũng chỉ canh rau cá kho mặn mà thôi nhưng tôi ăn rất ngon, hai chị em cùng với vú nhắc lại bao nhiêu kỷ niệm xưa của gia đình, em dâu tôi chỉ biết ngồi nghe vì em chưa bao giờ được dự phần vào những tháng ngày đó. Quá khứ của một thời vàng son vang bóng được ôn lại dưới bóng đèn néon sáu tất mờ nhạt, có rất nhiều người trong quá khứ ấy nhưng chỉ còn lại vú, tôi và em tôi, bộ ấm trà được vú cất kỷ trong vali của mình, buổi tối vú nói riêng cho mình tôi nghe:

- Vú cất trong vali cho chắc ăn, khi mô nhớ ông thì đem ra nhìn.

Đêm đã khuya lắm rồi, tiếng con tắc kè trên nóc nhà kêu to làm tôi không ngủ được, cứ trằn trọc, trăn trở mải trên giường, lòng ngậm ngùi, bồi hồi thương vú xót xa.

Gà của em tôi nuôi trong vườn nhà trổ giọng gáy sáng, tôi thức dậy để ra về, không ngờ là vú đã thức trước khi con gà nó gáy, vú nấu một nồi xôi đậu xanh và rang một ít mè. Tôi ngồi ăn với vú, mùi thơm của xôi, của muối mè thoảng lên thật dể chịu. Vợ chồng em trai tôi đang còn say ngủ, vú lại lom khom đưa tiển tôi ra tận đầu đường để đón xe đò về SG. Tôi ứa nước mắt nhìn dáng vú gầy gò cam chịu, tôi hỏi:

- Vú còn buồn nữa không?

Dù nét mặt nhăn nheo nhưng nụ cười của vú thật rạng rở:

- Vú vui lắm rồi, không có con thì vú biết cầu cứu ai bây giờ, cậu Hải bắt vú phải vứt bỏ mấy mảnh bể của bộ ấm trà, mà…

Tôi cầm tay vú thương cảm:

- Con biết rồi vú ơi, con hiểu lòng vú mà.

Những tia nắng đầu tiên của một ngày chiếu lên mấy ngọn cây cao bên đường, chiếc xe đò trờ tới, đổ xịch lại, tôi leo lên xe ngoái đầu ra cửa kêu vú về đi, vú đứng tần ngần nhìn theo cho đến khi không còn thấy bóng dáng chiếc xe đò chở tôi.

Em trai tôi lên thăm, báo tin là vú muốn được vào chùa ở, em không biết phải làm sao nên hỏi ý kiến của tôi, nghe ý muốn của vú chồng tôi liền lên chùa gần nhà em tôi để gặp và thưa chuyện với nhà sư trụ trì của chùa, và với đôi bàn tay khéo léo của em tôi; thế là vú có được một nếp nhà lá đơn sơ trong đất của nhà chùa, sáng tối nghe gỏ mỏ tụng kinh để xoa dịu tâm hồn đầy những vết thương của vú, nghe từng tiếng chuông chùa gióng lên làm rơi rụng trăm mãnh sầu, ngàn giọt đắng của cuộc đời người đàn bà chưa có được một lần yêu hay một tình yêu riêng của chính mình, có chăng là một khối tình câm lặng chôn sâu tận đáy lòng. Khi đưa vú qua “nhà mới” đồ đạc của vú không có gì nhiều, chỉ là một cái giường tre, bộ bàn ghế nhỏ, một cái tủ con con để đựng vài ba bộ áo quần, vài ba thứ vặt vãnh, em tôi đóng cho vú một cái kệ thấp làm bếp, cột mấy cọng dây kẽm để treo nồi niêu son chảo và một thùng nhỏ đựng chừng chục ký gạo. Tôi thấy vú cẩn thận lôi từ trong vali ra bộ ấm trà vỡ đã được tôi dán lại, nâng niu đặt lên trên đầu tủ, cái tủ được kê sát bức vách kết bằng lá, bửa cơm mừng “ tân gia” chỉ có hai món canh và mặn nhưng vui vẽ, âm cúng lắm, tôi thấy vú cứ đưa mắt nhìn bộ ấm trà, rưng rưng cảm động với một thứ hạnh phúc ngọt ngào mà cuối đời của vú tôi mới nhận ra và vú mới có được.

Đó cũng là lần cuối cùng tôi ở với vú, ăn cơm cùng với vú. Về SG tôi lại lao vào đủ thứ công việc, bị bận rộn suốt ngày nên chỉ nhớ đến vú mổi khi thật là rảnh rổi. Thời gian vùn vụt lao nhanh như tên bay qua cữa sổ, tôi cứ nghỉ rằng bây giờ vú đang có niềm vui và hạnh phúc bí mật của riêng mình trong nếp nhà lá nho nhỏ đơn sơ ấy nên lòng tôi cũng nhẹ được đôi chút, đở đi sự ân hận khi luôn tự trách mình đã năn nỉ vú kể chuyện “đời xưa” mà khơi lại mạch sầu của vú khi vú chỉ muốn chôn sâu xuống tận đáy lòng. Thỉnh thoảng tôi mua đồ và gởi kèm tiền lên cho vú tiêu xài, dặn em tôi thường xuyên vào thăm vú vì nhà em ở cũng gần nhà chùa.

    Tin vú qua đời đến với tôi thật bất ngờ vào sáng Chúa Nhật, em trai tôi đi chuyến xe sớm nhất lên báo cho tôi hay. Như thường lệ cứ vào khoãng bốn giờ sáng khi tiếng chuông chùa vừa gióng lên là vú đã thức dậy quét lá ở khoãng sân nhỏ phía bên hông nhà chùa, hình ảnh một cụ bà lom khom cầm chồi quét lá, âm thanh của cây chổi đưa qua đưa lại kêu xèng xẹt, nụ cười hiền lành khi gặp các sư đã trở nên gần gủi và quen thuộc với mọi người trong chùa, nhưng sáng hôm nay không ai nghe tiếng chổi quét xèng xẹt cũng không thấy nụ cười hiền lành nên sinh nghi; lo lắng chạy vào nếp nhà lá của vú, mở đèn lên thì thấy vú nằm ngay ngắn trên giường, mặc bộ đồ mới tôi may cho vú vào tháng trước, hình như vú cảm nhận được cái chết sắp đến với mình nên đã chuẩn bị tinh tươm, nhà chùa liền báo tin cho em tôi và sau đó…

Hình như mọi người cố ý chờ tôi đến mới bắt đầu xúc tiến việc chôn cất, nhìn nét nhẹ nhàng thanh thản đến vô cùng trên khuôn mặt của vú đang nằm đây yên nghỉ khác hẳn với nét khắc khổ u buồn lúc còn sống, tôi chợt nhận ra một điều là vú đã hài lòng với những gì vú có sau khi kể hết cho tôi nghe về nổi khốn khổ của đời mình, và khi biết tôi hiểu được mối tương tư thầm kín của vú thì vú như trút được hết mọi ưu tư khắc khoải luôn đeo bám làm nặng trỉu cỏi lòng vú suốt một quãng đường dài đăng đẵng.

Khi ban đạo tỳ làm công viếc tẩm liệm vú, tôi kính cẩn đặt bộ ấm trà vào trong quan tài, em trai tôi thắc mắc hỏi tại sao tôi lại làm như vậy? Tôi không thể trả lời được khi chỉ một mình vú và tôi biết mà thôi, đó là một bí mật, tôi tôn trọng ước muốn của vú và tôi cũng rất ngưỡng mộ một mối tình câm nín của một người đàn bà luôn chu đáo chăm sóc anh em chúng tôi với tất cả tình thương mà một người mẹ thường dành cho các con của mình, và tôi hiểu tại sao vú lại thương yêu anh em chúng tôi đến như thế.

Đám ma của vú lặng lẽ với rất ít người đưa ra nghĩa trang, có cháu Lâm - con trai của em tôi - cầm di ảnh vú đi trước, tôi và em trai chít khăn trắng trên đầu đi theo sau; cùng với mấy người quen ở gần chùa, có hai sư tụng kinh cho vú, có lẽ vú cũng mãn nguyện lắm khi cùng đi với vú vào cỏi vỉnh hằng là bộ ấm trà mà vú vô cùng yêu dấu. Tôi khóc cho vú- rất nhiều – vú ơi.

Hồ Thủy

304Đen - Llttm

 

 

 

Sunday, January 24, 2016

Có Những Mùa Xuân - Dư Thị Diễm Buồn


 CÓ NHỮNG MÙA XUÂN

 


                                                              

            Mặt trời đã ngã về hướng tây, cơn nắng cuối mùa đông vẫn còn chập chờn trên cỏ cây hoa lá, và ngọn gió lành lạnh làm giùn mình nổi ốc khi quét lên da thịt. Nhưng cây cối ở vườn sau, ngõ trước đã nhú mầm để đâm chồi nẩy lộc khi tiết trời chớm vào xuân. Mấy cây xoài năm nay trổ sớm đã có những trái non bằng đầu ngón chân, bằng đầu ngón tay lẫn lộn với bông màu vàng nghệ. Những chùm cam sành đã mởn da, sai quằn nhánh, cây bưởi thanh trà, cây quít đường sau nhà có những chùm, da cũng đã thẳng. Có trái màu xanh pha phơn phớt vàng. Cây quít ta ở trước cổng vào mới có trái chiếng. Mới lứa đầu nên quít không được nhiều, nhưng trái nào trái nấy lớn gần bằng cái chén ăn cơm, vỏ màu vàng nghệ, nõn nà phơi phới nổi bật, lồ lộ trong cành lá rậm rạp xanh biêng biếc.

-  Bình An đâu rồi cháu? Chiều nay có đi lễ chùa với bà không?

Tiếng của bà nội từ trong nhà vọng ra. Con Bình An đang mê ngồi đánh búng hột me với mấy đứa nhỏ hàng xóm ở ngoài sân. Nó vẫn không rời chỗ, mà lớn tiếng trả lời để cho nội nó nghe:

-  Dạ thưa bà có, mà chừng nào mới đi vậy bà?

Bà nội bước ra hàng hiên, gom mấy tàu lá chuối xiêm phơi nắng dốt dốt để sáng sớm ngày mai bà cùng con dâu gói bánh tét, bánh ích. Trước là cúng ông bà, sau cho con cháu có ăn trong trong ba ngày Tết. Một năm chỉ có mấy ngày nên dù nghèo nhưng cũng phải dành dụm gói ghém sao cho cái Tết được sum sê thì suốt năm mới được dồi dào khá giả chớ. Sau cúng rước Ông bà là bữa cơm đoàn tụ của gia đình. Trước khi chúng về, bà sẽ cho mỗi đứa vài đòn bánh đem về nhà để ăn Tết.

Bà nội lên tiếng bảo:

-  Vậy thì nghỉ chơi đi cháu, vào tắm rửa sạch sẽ rồi đi kẻo trời tối.

Con Bình An “dạ”, nhưng vẫn còn ngồi lì chờ cho hết bàn đánh búng với lũ bạn của nó rồi mới chịu chạy u vô nhà.

Lọt lòng mẹ mới có 3 tháng, Bình An được bà nội đem về quê ở làng Mỹ Đức Tây thuộc quận Cái Bè (Cái Bè sau chia ra làm hai quận, làng Mỹ Đức Tây thuộc về quận Giáo Đức) tỉnh Mỹ Tho, chắt chiu nuôi dưỡng. Bởi cô vừa bị sanh thiếu tháng, mẹ cô lại nghe theo lời ông thầy bói ngồi dưới gốc cây bả đậu bên Giếng Nước (thành phố Mỹ Tho), trên đường ra bắc Rạch Miễu để đi về chợ Bến Tre. Ông coi và nói cho bà biết, hai mẹ con cô khắc tuổi với nhau phải sống xa, đến hết căn hạn mới ở gần được…

Nhờ thế mà Bình An mới được sống ở làng quê có cây lành trái ngọt, có dòng sông Mỹ Tây êm đềm chảy qua đến ngã Ba Đình thì nhập vào sông Mỹ Đông cùng các nhánh sông khác chảy vào Cửu Long Giang rồi đi ra biển Tân Thành. Nhứt là cô được ấp ủ bằng tình thương yêu cưng chiều vô bờ bến của nội. Và cô được sống an an, bình bình ở vùng quê Nam có nghĩa, có tình suốt quãng đời của thời thơ ấu.

Cho đến mùa hè năm đó, ba mẹ đem Bình An về thành thị để sống chung với gia đình. Vì tựu trường cô được vào học lớp 4, mà trường xã ở quê nội chỉ có từ lớp 1 đến lớp 3 thôi.

 

Bình An khóc ròng, dẫy dụa không chịu đi vì phải xa bà. Cô được bà nội dỗ dành cùng với lời hứa hẹn của cha mẹ. Cứ vào những ngày lễ nghỉ, ngày Tết, hè (không đi học), thì phải đưa cô về quê ở với bà nội. Mấy anh chị của Bình An thường hay trêu ghẹo, xéo xắc, nhiếc mắng, háy nguýt bảo cô em gái nhỏ của mình:

-  Mầy thiệt là ngu dại. Ngày Tết ngày lễ ở thành thị vui và sướng hơn trong làng xã dưới quê nội nhiều chớ. Ở dưới quê Tết có gì vui đâu mà ham về? Có năn nỉ cho thêm tiền tao cũng không thèm… Tết ở đây bọn tao được ăn ngon, đi coi chiếu bóng, đi thăm vườn bách thú, được mặc quần áo đẹp, và có lì xì…

Bình An không thèm trả lời anh chị mình mà trề môi liếc xéo lại họ. Rồi cô nghĩ thầm trong bụng: “Vui cái con khỉ khô á! Không biết gì hết trọi cũng nhiều chuyện! Chiếu bóng nói tiếng Tây, tiếng u, cao bồi, đâm chém, hun hít… dù có phụ đề Việt ngữ nhưng cũng dở òm chớ hay ho gì đó. Vậy mà cũng coi thiệt là uổng tiền! Còn ở vườn thú có mấy con khỉ leo trèo, miệng khọt khẹt, ị đái tùm lum. Xí, bộ ở thôn quê không có lì xì sao? Nội, cô, chú… họ hàng có lúa, có nếp, có trái cây bán đều đều nên cho còn nhiều hơn. Mấy người bà con ở thành thị làm lãnh lương tháng, mọi thứ… cái gì cũng phải mua có tiền dư đâu mà cho nên kẹo thấy mồ! Ngày thường không phải lễ, Tết ở quê nội, trưa nắng cùng mấy đứa hàng xóm đi bắt chim, câu cá, bắt ốc… Chiều đi thả diều, bắt chuồng chuồng. Mưa giông đi lượm xoài rụng, lượm cốc, mận… Ăn rau, cải, cá thịt tươi. Vào mùa lúa, đêm trăng sáng bà nội, thím Hai nấu chè, nấu cháo ăn để đạp lúa trâu… Ôi biết bao nhiêu cảnh êm đềm bao nhiêu thứ chỉ ở thôn quê mới có, chớ thị thành làm sao có được đây?” Cô tự cho mình nghĩ đúng, đắc ý khoái chí cười tủm tỉm một mình.

 

Hè năm đó, Bình An được mẹ dẫn vào ghi tên học lớp 4 ở trường Nữ Tiểu học Trưng Vương. Trường có 2 tầng, ở trung tâm thành phố Mỹ Tho. Mặt tiền trường hướng về đường ông bà Nguyễn Trung Long. Sau lưng cách cái sân cỏ rộng và hàng rào dây kẽm gai là trường Trung học Bán Công Thiên Hộ Dương. Thời gian nầy ba của Bình An đang làm ở Tòa Hành Chánh tỉnh Định Tường.

Trong bữa cơm chiều hôm nọ, ba cô vui vẻ bảo cho cả nhà nghe:

-   Tết năm nay nhà mình có mặt Bình An. Vậy mẹ nó phải mua sắm thêm những món ăn Bình An ưa thích. Để nhà mình ăn mừng cái Tết cả nhà được đoàn tụ...

            Mấy anh chị vui mừng reo lên. Vì những ngày Tết không phải học bài, sẽ được đi chơi, sẽ được mặc quần áo mới, sẽ ăn được những món ngon… Cho nên chị nầy đòi may quần áo đẹp, anh kia bảo mẹ nấu món mình ưa thích. Họ vui vẻ nói cười liếng láu với nhau

Riêng Bình An không nói gì cả. Quay mặc nhìn ra ngoài cửa sổ, và cơm vào miệng chan nước mắt! Mẹ ngạc nhiên lính quýnh hỏi nhanh:

            -  Tại sao con khóc, chuyện gì mà con khóc vậy?

            Cô không trả lời lại khóc ồ lớn tiếng hơn! Ba lấy làm lạ cũng hỏi vồn:

            -  Tại sao con khóc? Mấy chị anh ăn hiếp Bình An của ba hả? Hãy nói để ba đánh đòn chúng nó, nói đi con. Nầy các con, đứa nào ăn hiếp em?

            Các anh chị mở to mắt ngạc nhiên! Bình An tức tưởi, cô nói nhanh qua màn nước mắt:

            -  Không ai ăn hiếp hết! Tết con phải về nội! Con phải về quê nội ăn Tết. Con muốn ăn Tết với bà!

            Mấy anh chị xì xò, háy ngúyt... Đứa trề môi, kẻ méo miệng tỏ ý chọc ghẹo em mình. Ba cô hỏi:

            -  Con đã ăn Tết ở quê nội bao nhiêu năm rồi. Năm nay ăn Tết với gia đình mới vui con à. Nhứt là ăn Tết ở thành phố có chợ bán hoa, bán bánh mứt… Ngày Tết có múa lân, đốt pháo bông, và còn nhiều thứ khác để vui xuân lắm…

            Cô nhìn ba, phụng phịu cụt ngủn cắt lời:

-  Con muốn về quê ăn Tết. Tết ở thành phố không vui chút nào hết!

            Thấy con vẫn một mực đòi về quê ăn Tết với mẹ mình, và ông cũng biết bà nhớ cháu lắm. Ba cô có ý nhượng bộ, ông dịu giọng hỏi:

-  Tết ở quê vui ra sao? Con kể cho ba nghe. Nếu Tết ở thôn quê thiệt vui như lời con nói, thì ba sẽ cho con về ăn Tết với nội.

Bình An quẹt vội nước mắt còn đọng trên má. Nhưng nét mặt tươi rói, đôi mắt tròn xoe sáng ngời nhìn cha, cô bảo:

-  Ba có biết không? Mỗi năm từ mùng 8, mùng 9 tháng chạp là con theo chú Út đi lẫy lá các cây mai ở xa mương nước. Rằm thì lẫy lá các cây sát mé nước. Như vậy nó sẽ trổ bông một lượt và đúng vào ngày Tết đó ba. Bà nội cho giã gạo, xay nếp chứa đầy lu, đầy hũ từ cả tháng trước. Con đi theo mấy chú tảo mộ ông bà. Nghĩa là làm cỏ và quét lá cho sạch sẽ để ông bà dưới mộ mừng Tết đó mà. Sau khi cúng xong chú cho con hột vịt luộc cúng trong bộ tam sên (gồm có 3 món: thịt ba rọi, tôm càng, hột vịt luộc chẻ hai). Còn tôm và thịt thì đem về để bà nội trộn gỏi bắp chuối. Bà còn đặt bác Hai ở xóm trên tráng bánh tráng nhúng nước, bánh tráng dừa, bánh tráng ngọt. Quết bánh phồng nếp, bánh phồng khoai. Nhổ cải bẹ xanh có ngồng trổ bong vàng trồng ngoài liếp vô làm dưa. Sáng ngày 23 tháng chạp, bà nội hối thím Tư nấu chè, nấu xôi… Chú Tư hái trái cây tươi tốt, đợi đến nước lớn chiều bà cúng đưa ông Táo về Trời. Nhà nhà đều cúng! Mùi hương, trầm, nhang, hoa quả, thức ăn theo gió phảng phất nồng nàn ấm cúng từ nhà nầy qua nhà khác, xóm nầy qua xóm khác, làng nọ qua làng kia...

Bình An thấy vui trong lòng, vì anh chị không chọc ghẹo mình nữa. Cô tiếp:

-  Những ngày cận Tết từ đầu làng đến cuối thôn mọi người quét dọn, sơn phết, trang hoàng nhà cửa từ trong ra ngoài sân sạch sẽ, vẻn vang, mát mắt… Miễu thờ ông Thổ Thần bên vàm rạch được thay giấy hồng đơn, vẽ chữ mới, cúng bánh trái, mứt, trà, rượu. Trong nhà cái bếp, hỏa lò, nồi, cột nhà, lu, hũ, bàn, ghế, giường ngủ, cột nhà vv… Mọi thứ đều được bà nội cho cắt giấy đỏ (giấy hồng đơn) hình vuông dán lên hết để mọi thứ đều được ăn Tết. Ngoài sân thì các cây mận, xoài, cam, quít, bưởi, ổi, dừa, cau… Tất cả các loại cây bên ngoài cũng đều được dán giấy đỏ, để ăn Tết như các đồ vật trong nhà vậy đó ba… 

Bình An say sưa kể. Trong khi các anh chị nhíu mày, chu mỏ chú ý lắng nghe. Ba mẹ cô nhìn nhau gật gù cười chúm chím. Cô hồn nhiên khua tay, đá chân, mắt ngời sáng thao thao lấy giọng, tiếp:

-  Ba mẹ còn nhớ chú Tám Kẹo không? Chú Tám khéo tay nên bà nội năm nào cũng nhờ chú chưng dùm hai dĩa lớn trái cây (mâm ngũ quả) có: Cầu, dừa, đủ, xoài, dâu, thơm… Nhưng không được cúng trong mâm ngủ quá các loại chuối. Ba má có biết tại sao không? Vì chuối nhũi… năm mới không tốt đâu đó!

Ba cô đang hớp ngụm nước. Không kềm được trước những lời dí dỏm của con, ông bật cười làm nước văn tùm lum. Ngại làm con gái mất hứng, má cô đỡ lời:

-  Ụa bộ có vậy sao con?

            Bình An mỉm miệng cười rạng rỡ, gật đầu:

            -  Dạ, đúng như vậy. Con thấy những nhà lân cận không ai cúng chuối trong ngày Tết. Bà nội luôn dặn những người trong nhà ngày tư ngày Tết phải giữ gìn lời nói bởi: “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Mặt mày phải vui vẻ, ăn nói ngọt ngào, có tình có nghĩa để từ đầu năm cho đến cuối năm mới được an lành, may mắn. Ở thôn quê người ta làm lạp xưởng, gói bì, gói nem, gói bánh tét, bánh ích chớ không phải đặt mua như ở thị thành. Sáng 30 Tết bà nội kho thịt, cá, trứng với nước dừa xiêm. Làm chả, trộn gỏi, chiên bánh phồng tôm “Sa Giang” ngon đáo để. Bà cho nấu rất nhiều món ăn để cúng rước ông Táo. Cúng rước ông bà về ăn Tết với gia đình, cháu, con…

Bình An dừng lại, mặt đầy vẻ hân hoan:

- Ba à, tối đêm Giao thừa con theo nội đi hái lộc ở chùa thật là vui. Chùa từ trong ra ngoài rất đông người đến cầu phước, cầu an mong năm mới toàn gia được: “Tấn thời, tấn lộc, tấn bình an”. Bên Công Giáo thì giáo dân đến giáo đường ở nhà thờ. Đúng giờ Giao thừa, tiếng chuông nhà thờ, trống, chiêng, đại hồng chung, tiếng mõ, chuông… rền vọng khắp chốn. Ôi! không gian trong giờ đón Giao thừa ở làng thôn thiệt là thiêng liêng, ấm cúng vô cùng đó ba ơi…

Bình An khi thấy anh chị mình chăm chú lắng tai nghe, phấn khởi trong lòng cô cười mỉm chi:

-  Từ mùng một Tết đến mùng bốn Tết. Chu mẻ mẹt ơi, mọi nhà mỗi ngày cúng những món ăn ngon tuyệt trần: *Mùng một Tết cúng chay, nội làm gỏi cuốn chay, chả giò, đậu xào, canh chua, mì căn kho sả ớt, đậu hũ chiên chua ngọt… Tất cả những món chay nội nấu cúng, ăn ngon vô cùng. *Mùng Hai cúng bánh hỏi, thịt heo quay nóng hổi da còn dòn khưu khứu và bánh bò đổ bằng đường cát trắng tinh. Có cả cháo vịt luộc chấm nước mắm gừng nữa.  *Mùng Ba cúng gà xé phai trộn gỏi bắp chuối. Chưn gà để nguyên phơi khô ra Giêng nội nhờ ông Ba đoán quẻ ở làng bên coi nhà cửa, làm ăn, cây trái… trong năm có được tươi tốt không.  *Mùng Bốn cúng Tất. Các món ăn, cùng bánh kẹo được bày ra cúng ở ngày nầy.

Cô dừng lại uống ngụm nước, liếc mấy anh chị mỉm cười:

-  Ở thôn quê, những ngày tư ngày Tết con cháu đưa gia đình đi thăm viếng ông bà, cha mẹ, họ hàng để đền ơn, đáp nghĩa. Họ cùng vui xuân trẩy hội, ở chùa, ở đình, hoặc ở nhà thờ… Đó là tùy theo tôn giáo của mỗi gia đình. Từng nhóm, từng nhóm trẻ, già, trai thanh, gái tú, áo quần mới đủ màu đủ sắc: hồng, xanh, đỏ, tím, vàng… Tóc chải vẻn vang, trâm cài lược giắt. Người nào mặt mày cũng tươi vui, hớn hở đi rải rác khắp các nẻo đường quê. Gia đình nào đông con nít thì họ chèo ghe, hay bơi xuồng trên sông, trên rạch… Gặp nhau ai nấy cũng vui vẻ hỏi chào. Tay bắt mặt mừng, dáng điệu tao nhã, lời lẽ lịch thanh, và không quên chúc lành chúc phúc cho nhau từ đầu năm đến cuối năm. Còn nhiều, còn nhiều lắm ba mẹ ơi… Con đã có những mùa xuân đẹp ở quê nội. Nếu ai có thời sống trong làng xã ở thôn quê mới biết, mới hưởng được cái đậm đà thắm thiết của những ngày Tết Nguyên Đán. Và chỉ ở thôn quê mới có và thấy được mùa xuân rõ rệt.
 
 

 

            * Mùa Xuân năm nay, Bình An không còn bé nữa. Cô đã trở thành thiếu nữ xinh xắn, dễ thương ở lứa tuổi 18 đang học lớp Đệ Nhứt trường Trung học tỉnh. Cô biết tư lự nhìn trăng, biết ngắm sao, biết buồn mà không biết tại sao mình buồn? Có lúc ngồi suy tư một mình, cô thường hay hát nho nhỏ những khúc nhạc lính, hay ngâm nho nhỏ những câu thơ tình…   

* Trước ngày Tết Nguyên Đán năm 1968, Bình An về nhận việc ở thành phố Mỹ Tho. Ôi, đó là mùa xuân tang thương! Khi giặc tràn đến nơi nào thì nhà cửa đổ nát, tan tành, thê lương! Nhứt là hai bên đường từ ngã ba Trung Lương chạy dài vào thành phố.

Cô còn nhớ mấy ngày trước Tết, nơi đây là những ngôi nhà khang trang, những ngôi biệt thự có sân trước vườn sau trồng hoa thơm, kiểng lạ, cây ăn trái, và những hàng quán bán buôn sầm uất dọc theo hai bên đường. Nhưng hôm nay mới mùng bốn Tết Mậu Thân, đó là ngày cúng Tất! Trước mắt cô tiêu điều, hắt hiu, thê lương, ảm đạm! Và ai đi qua chốn đó vẫn còn nghe khen khét mùi cây cột cháy xém, mùi heo, gà, chó… gia súc bị chết cháy… Và biết đâu có cả thân thể con người bị cháy trong đống than hồng còn âm ỷ, hay lẫn lộn trong đống gạch vụn đâu đây! Nhớ đến, cô còn rùng mình sợ hãi tưởng chừng đã bỏ mạng trong những trận mưa pháo dập vào thành phố tối đêm mùng một rạng ngày mùng hai Tết! Sau những tràng pháo kích nổ long trời lở đất, rồi tiếng kêu la cầu cứu của những nạn nhân, hòa với tiếng khóc thảm thiết của thân nhân người mới chết.

Trong trận thảm sát Tết Mậu Thân, giặc đã giết biết bao nhiêu vạn người từ Bến Hải đến Cà Mau! Gia đình Bình An đã chịu nỗi đau sầu về cái tang chung đó. Con bà dì ruột của cô là giáo sư Tân và đứa con trai 2 tuổi cũng tử vong trong cái Tết thê lương nầy.

* Bình An kết hôn vào mùa xuân năm 1969. Phu quân cô là anh chàng lính chiến miền xa thuộc Sư đoàn 21 Bộ Binh, có biệt danh là Sét Miền Tây. Tiền đồn của chàng trấn giữ mãi tận Cà Mau, miệt rừng U Minh Thượng, U Minh Hạ. Kể từ đó, cô mới biết, mới thấu hiểu thế nào là nỗi nhớ thương của một chinh phụ lo sợ cho sự an nguy của chồng. Và sự trống trải quạnh hiu của gia đình trong những ngày xuân chồng xa nhà!

* Mùa Xuân năm 1970 bóng chồng vẫn miệt mày chốn sơn khê. Đến mùa thu năm đó, Bình An sanh đứa con gái đầu lòng.

* Cuối đông, đầu Xuân năm 1971 Bình An sanh thêm đứa con trai. Nàng được tin chồng qua những cánh thư từ tiền tuyến đưa về. Lúc thì chàng ở Tịnh Biên, nay Châu Đốc, mai Vị Thanh, Cờ Đỏ, Tháp Mười, Phước Thành… Vì Quê hương chinh chiến, mẹ con nàng sống trong phập phồng âu lo cho sự an nguy của chồng của cha!

* Mùa xuân năm 1972. Rồi vào hè năm đó, phu quân của Bình An và đồng đội kéo quân về giải tỏa An Lộc. Chàng bị thương, và giải ngũ vào Tết năm 1974.

* Mùa Xuân năm 1975. Sau ngày 30 tháng 4 miền Nam bị giặc cưỡng chiếm. Nước Việt Nam hoàn toàn rơi vào tay Cộng sản. Cùng chung số phận những quân, dân, cán, chánh của Việt Nam Cộng Hòa, chồng của Bình An cũng bị giặc đày vào tù, mà bọn chúng đã đặt cho một cái tên hoa mỹ hay ho là “Học tập cải tạo” Sau nầy, có khi cô nghĩ rằng suốt cả cuộc đời còn lại của chồng, của những người cùng chung số phận bị giặc đọa đày. Khi nào đó vô tình nghe ai nhắc đến, hay bất chợt nhìn thấy mấy chữ “Học tập cải tạo” là tâm hồn họ sẽ nhức nhối, máu uất hận tràn dâng(?)

* Mùa xuân năm 1979. Gia đình của Bình An gồm có chồng và hai con (một gái, một trai) không đón, nhưng mùa xuân vẫn đến trên trại tỵ nạn Cộng sản Đông Nam Á Galang ở Nam Dương quần đảo. Gió xuân phơi phới thổi qua vùng hải đảo có những người Việt đi tìm tự do. Trại tỵ nạn có giáo đường trong nhà thờ vang vang lời cầu nguyện và tiếng thánh ca. Trong chùa, nơi Phật đường tiếng mõ câu kinh, có lời chân thành cầu nguyện quyện. Hương trầm nhang hòa theo gió bay cao.

Ở hải đảo không chờ mà xuân vẫn đến. Họ đón xuân không có hoa cúc, hoa mai, không dưa hấu, bánh tét, bánh ích, dưa cải, dưa giá, cá kho… Nhưng họ đón xuân bằng cả tấm lòng! Ở trại có mấy chục ngàn người tỵ nạn, thì có bấy nhiêu nỗi thống khổ của kẻ bỏ nhà, bỏ nước, liều chết vượt hiểm nguy trên biển cả để bôn đào.

“Phàm con người là thế đó! Có tự do trong tay không biết giữ gìn! Để khi mất rồi phải chạy đi tìm có khi bị mất cả tánh mạng!”

            * Mùa xuân năm 1980, Chicago là thành phố của tiểu bang Illinois thuộc về miền Trung Tây nước Mỹ. Và nơi đây nổi tiếng là một trong những vùng về mùa đông lạnh nhứt nước nầy. Cái Tết đầu tiên gia đình Bình An được tiếp đón bằng một trận bão tuyết kéo dài cả tuần lễ. Các trường học, chợ búa đều đóng cửa. Chánh phủ chở đến từng thùng thức ăn, từ đồ hộp, thịt thà, trái cây, rau cải… Để ở các ngã tư đường kêu gọi dân chúng đến lấy về ăn.

Ngồi nhìn tuyết rơi phai phái ngoài trời qua khung cửa kiếng. Bình An hồi tưởng về những sự việc đã qua. Nhớ lúc giặc tràn vào, cô bị mất việc, nhà thiếu ăn, thêm buồn rầu chồng bị cầm giam trong tù cải tạo. Cộng vào đó bị dồn dập nắng gió, ốm đau, hãi hùng trên đường vượt biên bôn đào. Nỗi âu lo, sống thiếu thốn lây lất những tháng ngày ở trại tỵ nạn nơi hải đảo. Nên sau gần 6 năm trời gặp lại bà chị (đi du học trước ngày nước mất, ra đón ở phi trường) Hai chị em mừng tủi ôm nhau khóc sướt mướt. Câu đầu tiên của chị hỏi cô em gái Bình An của mình rằng:

            -  Bộ bên nhà khổ lắm hả? Sao trông mầy teo nhách và như con gà tử mị vậy? Mầy còn già hơn cả bà Sáu Lé gánh nước mướn trong xóm trước khi tao rời nước.

            Chị của Bình An thật tình hỏi em! Bởi bà Sáu Lé gánh nước 8, 9 năm về trước đã già cúp bình thiết, lưng khòm, ốm tanh ốm hôi mà chị em cô thường gọi lén bà là bà Sáu Teo Héo. Nghe chị hỏi mình như vậy, làm cô nàng tủi thân vừa khóc rấm rứt mà mắc tức cười. Cô gật gật đầu trả lời chị:

-  Khổ, khổ lắm! Không khổ thì làm sao phải trốn chui trốn nhủi để liều chết bỏ nước mà ra đi cho đành?

            Thân hình Bình An đã ốm còi, ốm cọc như chị mình nói, mà gặp phải cơn bão tuyết có gió lạnh trừ 60, trừ 70 độ. Có hôm trời lạnh trừ 20, trừ 30 độ F. Lò sưởi trong nhà chạy xầm xập 24/24 giờ. Eo ơi, vậy mà vẫn lạnh tái, lạnh tê. Hồi tưởng những Tết Nguyên Đán nơi quê nhà, lòng cô càng xao xác, nhớ thương.

 

Thời gian qua thiệt là mau như cơn gió lốc! Nhớ mùa xuân năm nào Bình An còn là một cô bé tí teo đón xuân bên bà nội. Thuở dân miền Nam có đời sống ấm no, an cư lạc nghiệp, thanh bình thạnh trị, biển lặng sông trong dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, và các đời Tổng Thống ở Chánh thể Cộng Hòa… Ngày đầu năm, cô được bà dẫn đi lễ chùa, cùng chúng bạn trong xóm chạy sau đoàn lân có ông Địa nhảy múa tưng bừng theo tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng chập chả tùng xèng, tùng xèng vui tươi hạnh phúc.

Cộng Sản cai trị cả nước Việt Nam đã mấy mươi năm rồi. Người Việt lưu vong cũng đã có bấy nhiêu mùa xuân xa xứ! Theo dòng thời gian và vận nước nổi trôi, cô bé Bình An năm xưa bây giờ đã đổi thay. Cô đã đổi thay dáng vóc, sắc diện. Cô có nét nhăn trên vầng trán, mắt phải mang kính mỗi lần đọc sách hoặc nhìn xa. Mái tóc bồng đen xõa quá bờ vai đã đổi màu… Nhưng tình quê hương vẫn nung nấu, nỗi nhớ thương vẫn se thắt cõi lòng và đã bám theo cô suốt quãng đường lưu lạc. Những mùa xuân xa xứ lần lượt trôi qua, vui ít, buồn nhiều. Bình An mơ ước có một ngày quê hương tàn bóng giặc…

Tết năm nầy cô không còn đón xuân ở vùng trời hắt hiu lạnh giá Chicago nữa. Vì lý do sức khỏe của phu quân, gia đình cô đã dời về tạm cư ở vùng nắng ấm California. Nhưng Bình An cảm thấy tâm hồn mình luôn xót xa, nhớ thương thắt thẻo. Vì “Nắng nơi đây vẫn là nắng ấm. Nhưng không sao bằng nắng ấm quê hương…”

 
California, cuối Đông

Tệ xá Diễm Diễm Khánh An

 
DƯ THỊ DIỄM BUỒN

ĐT: (530) 822 5622

Email: dtdbuon@hotmai.com