Thursday, December 26, 2024

Ngoại Hỏi Chừng Nào Về - Nguyễn Đạm Luân

 Ngoại Hỏi Chừng Nào Về




Nguyệt Cầm - Hà Anh

 

NGUYỆT CẦM

 

Em ôm cây đàn nguyệt nghiêng nghiêng, mặt chếch về phía phím đàn, những ngón tay gầy gò nhỏ bé tì miết hai sợi dây mong manh trên khung đàn dài quá khổ so với hai vai và cánh tay của em.



Cô bạn gõ phách bên cạnh cũng cách cách lách cách cách, tôi có cảm giác như các em nhập thần, người em đong đưa theo điệu nhạc, mắt nhắm nghiền, đầu lắc lư.

Đây không phải là buổi lên đồng, cũng không phải gánh hát rong, đây chỉ là một màn trình diễn của các em. Các em là nghệ sĩ, còn tôi và những em còn lại đơn thuần là khán giả. Sân khấu được làm bằng mảnh chiếu cói sờn hết cả bốn đầu.

Hai em ngồi giữa, còn lại ngồi quây xung quanh mảnh chiếu, bài hát vang lên: Tưng tưng tưng… Hôm nay, trời đất thanh bình cậu đi xuống trần, cậu dạo đê ê ê…”.

Thần tiên, hoa lá, chim muông rạo rực nhảy múa trong bài hát của em, điêu luyện mà giản dị, không nghệ sĩ tài hoa nào mang được cái trong sáng hồn nhiên như em vào điệu nhạc. Em cất tiếng hát trong vắt. “Bà tiên lững thững ra về, trên đồng xanh lắm quả nhiều hoa, í a a í à ời a…” . Kết thúc bài hát em ôm cây đàn nguyệt đứng lên múa vòng vòng, bàn tay xoè hoa: “Cậu về nhé, khi nào rỗi rãi cậu lại xuống chơi”.

Không gập mình cúi chào, không hôn gió, kết thúc bài hát thật mềm mại và kiêu hãnh. Tôi lặng người trong một phút, em đã làm tôi tâm bay theo “cậu”. Bừng tỉnh tôi vỗ tay hoan hô:

  • Hai em đàn hay quá.
  • Hay gì đâu chị, nhiều bạn còn đàn hay hơn tụi em nhiều.
    Em hấp háy đôi mắt:
  • Em nhìn cái gì cũng mờ mờ, chỉ ước một lần nhìn mọi vật thật rõ ràng thôi chị ạ.

Tôi cầm bàn tay gầy của em nói:
– Trên đời không phải thứ gì cũng có thể nhìn rõ ràng được, ngay cả những người mắt sáng đôi khi cũng nhìn mọi thứ rõ ràng thành không rõ ràng em ạ.
– Nhưng mù như tụi em chẳng làm được cái gì ngoài đàn và hát ra cả.

“Nhưng mù như tụi em”, tôi nghe ứa nước mắt.

Mùa hè năm ấy, lâu lắm rồi, tôi theo bạn đến cung văn hoá đăng ký học một lớp đàn nguyệt. Thầy giáo dạy tôi cũng là thầy giáo dạy nhạc dân tộc của các em tại trại trẻ khiếm thị thành phố, nhờ đó mà tôi quen các em, biết thêm được những mảnh đời nhỏ bé lạc lõng trong thành phố phồn hoa này.

Khu nhà các em ở nằm ngay giữa trung tâm nhưng hầu như chẳng ai biết đến bởi vì nó nhìn giống như một khu ký túc với mấy ngôi nhà cấp bốn xập xệ, cánh cổng ra vào rỉ sắt, cọt kẹt, già nua và mệt mỏi.

Có thể các ngôi sao, các diễn viên điện ảnh, hoa hậu chưa biết đến địa chỉ của các em để làm từ thiện, hoặc có thể các em nhỏ bé quá không đủ để đánh bóng tên tuổi của họ. Tạo hoá không công bằng đã lấy đi của các em đôi mắt, người ngoài nhìn vào thấy thương cảm nhưng các em không oán trách cũng chẳng giận hờn ai hết chỉ biết chấp nhận bởi vì các em có một đôi mắt sáng khác trong tâm hồn.

Có em không biết ánh sáng là gì ngay từ khi lọt lòng, có em may mắn hơn đã nhìn thấy ánh sáng nhưng nó dần dần biến mất thay vào đó là một khoảng không gian đen ngòm. Em tâm sự: “Giá như em mù từ bé cho xong, chưa kịp nhớ mặt bố mặt mẹ đã không nhìn thấy ai hết nữa”, một sự tiếc nuối đến chạnh lòng.

Trong khu trại này ai cũng biết chơi một loại nhạc cụ, Hải chơi đàn nguyệt, Tiếp và Giáp thổi sáo, Hoa gõ phách, Thành chơi piano, các nhóc tỳ còn lại đều biết hát, đặc biệt các em có một niềm đam mê thật sự với âm nhạc nhất là đối với nhạc dân tộc. Mỗi lần đến nhà tôi chơi, ai có gì mang nấy, đâm ra nhà tôi đôi khi như một câu lạc bộ dành cho người yêu nhạc. Hàng xóm kéo đến chật nhà để nghe các em hát, họ xì xầm một lúc rồi yên lặng chìm vào điệu nhạc, tiếng phách.

Đối với tôi khu trại dường như một nơi hiếm hoi mà tôi có thể tìm được cảm giác thanh bình mỗi lần trốn học hoặc trốn sự dày vò bần tiện của người yêu, là nơi tôi được chào đón bằng tất cả chân thành không giả tạo. Bởi các em cần ai đó để chia sẻ, cần có một người nhìn thấy rõ hơn một chút để kể cho các em nghe màn hình Windows có màu xanh da trời, rằng hoa phong lan màu tím biếc, rằng trời hôm nay xám xịt…

Tôi đến nhà chị thợ may quen vơ tất cả mũ áo hàng may hỏng nhưng còn dùng được, đến nhà họ hàng xin quần áo cũ nói: “Cho cháu xin về cháu… mặc đi học”, đóng bọc lại khuân lên xe chở đến trại. Cho Hoa cái mũ màu đỏ, cho Tiếp cái áo khoác, còn Hải muốn cái gì hả em, cái áo sơmi màu hoa cà này đẹp lắm em này… Các em tranh nhau vui vẻ, tao cái này tao cái kia, xem ra tạo hoá bất lực trước sự trong sáng của bọn trẻ. Các em chẳng màng gì đến nỗi bất hạnh kia, các em vẫn hồn nhiên vô tư như những đứa trẻ con khác. Tôi vui vì đã mang lại cho người khác niềm vui.

Bởi vì không có năng khiếu âm nhạc lẫn kiên trì nên tôi chia tay với môn đàn nguyệt sau chưa đầy một tháng, chưa kịp ôm được cây đàn thì đã nói lời từ biệt. Tôi chia tay các em hẹn quay lại thăm nhưng những lần thăm hỏi thưa thớt dần, bận rộn này nối tiếp bận rộn kia, cuộc sống bon chen đôi khi khiến con người ta có nhiều lý do biện minh cho hành động của mình. Tôi cũng như bao nhiêu người khác, vô tâm trước những sinh linh nhỏ bé cần tình yêu thương.

Nửa năm sau tôi chia tay người yêu, chia tay sự dày vò bần tiện để tìm cho mình một chút không khí thở, một chỗ thanh bình nhất để sống thật. Đúng là khi cần thì mới dùng đến, tôi quay lại trại, các em đón chào tôi như một người thân đi xa về, tôi đưa mắt tìm nhưng không thấy Hải, cô bé với cây đàn nguyệt, đâu cả.

Tôi hỏi: “Hải đâu?”, Hoa trả lời: “Nó về quê rồi chị ạ, bố mẹ không đủ tiền nuôi nó học ở đây nữa”. Chết thật, lần trước tôi không hỏi quê em ở đâu hay bố mẹ em thế nào? Tôi vô tâm như tạo hoá vô tâm. Bây giờ em đang ở đâu? Cây đàn nguyệt gầy gò, dây đàn nguyệt mong manh, vẫn treo trên tường, tôi tưởng như tiếng hát của em còn vọng đâu đây “í a a ới à ời a”. Muốn trách cứ lắm nhưng trách ai bây giờ?

Bây giờ trại đã đổi tên thành “Trường khiếm thị thành phố Hải Phòng”. Tiếp thi đỗ đại học Sư phạm, hiện giảng dạy bằng chữ nổi tại trường, Giáp và Thành rất thành công ở các cuộc thi âm nhạc dành cho người tàn tật, Hoa lập gia đình với một cậu cùng trại.

Ai cũng tìm cho mình niềm hạnh phúc riêng, niềm hạnh phúc mà những người nhìn rõ ràng chưa chắc đã tìm thấy được.

Hà Anh

 

 

Người Như Chim Lẻ Bạn - Thuyên Huy

 Người Như Chim Lẻ Bạn

Tặng Phương Lam

 















Lẻ bạn chim bay vào chốn lạ

Ngỡ ngàng mỏi cánh giữa rừng thu

Người đi mang niềm đau của lá

Lá sầu rơi theo gió dật dờ

 

Tím ngắt hoàng hôn sầu vạn cổ

Gầy tay cố giữ giọt mưa đời

Vàng lối xưa rừng thu lá đổ

Vọng tiếng buồn chim gọi thay người

 

Người cũng hơn nửa đời lẻ bạn

Đi về với những cuộc tình xa

Mắt lệ khô nước mùa sông cạn

Chùng phím tơ lòng ta với ta

 

Chim một mình bỏ rừng về phố

Người lẻ loi bỏ phố về rừng

Chôn vùi định mệnh vào cổ mộ

Đường thiên thu tìm dấu cố nhân

 

Thuyên Huy

Colac chiều mưa muộn 2024

 

 

Viên Ngọc Ẩn - Xuân Định

 

VIÊN NGỌC ẨN




 

Ông Tư thấm mệt gác cây cần lên chiếc thuyền nan, ngước mắt nhìn trời, miệng chửi đổng.

Mẹ kiếp! Nắng dữ!  Suốt 3 tháng liền chẳng một giọt mưa.  Cứ cái kiểu này thì làm ăn mẹ gì đây!

Câu cá tràu ở trên con bàu Lâm yên này đã gần hai chục năm, ông tư chắt bóp dè sẻn, tuy không dư dả, nhưng cũng đắp đổi qua ngày. Đặc biệt năm nay trời hạn mãi, cá tràu chẳng chịu vầy tổ đẻ trứng. Sự tình cứ như thế này, ông không biết đào đâu ra tiền gạo nuôi đàn con nheo nhóc và bà vợ ốm đau mãi ấy! Ông Tư cảm thấy mệt mỏi rã rời nghĩ đến cái cảnh con thơ ngồi trên mui thuyền ngóng mắt chờ cha, vợ đau nằm trong xó xỉnh cầu nguyện cho chồng làm ăn gặp vận. Càng nghĩ ông càng buồn!

Ông chạnh lòng nhớ lại những tháng năm còn sống với bố mẹ. Bao nhiêu nỗi nhọc nhằn cay đắng vì lũ ông mà bố mẹ phải gánh chịu không một lời than thở. Tình thương ấy cứ gắn mãi trong lòng mỗi người cho đến khi mấy chị đi lấy chồng, ông lấy vợ, ở riêng. Tình mẫu tử thiêng liêng đã thấm mềm trong cơ thịt và với ông, nó như một sợi dây vô hình đã ràng buộc vào con thuyền lênh đênh, vào cái nghề cực khổ này. Bỗng tiếng tù và rúc một hồi dài kéo ông quay về thực tại.
Con vịt mồi nằm trên sạp gỗ trố cặp mắt ráo hoảnh nhìn sang ông. Cây cần câu lưỡi vẫn buộc chặt trên thân. Ông thầm nghĩ: không lẽ hôm nay chẳng hơn gì hôm qua sao!

Mặt trời đã tròn bóng. Tiếng mái chèo lại bắt đầu khua bì bõm, lau lách trên mép bờ bàu. Cứ thế con xuồng lấn dần những gần cây số đường nước mà vẫn chưa
bói ra mẻ nào! Bất chợt từ phía bên kia đám lùng, một cái vẫy ầm toé nước. Ông khấp khởi mừng thầm, lao nhanh xuống tới. Quả đúng như dự đoán. Một tổ cá vầy trong bụi cỏ to hơn chiếc nón. Trứng trắng đã ngả màu đen xạm dàn trải lên lớp màn đục. Ông đoán chắc là chúng sắp nở con. Cái nghề sống gần hai mươi năm ấy đã dạy ông biết chắc một điều: trứng sắp nở, bố mẹ nó sẽ tợn hơn nhiều, bất chấp cái chết để bảo vệ cho bằng được đàn con ra đời. Lòng ông rộn niềm vui. Tay ông buộc vịt, tra mồi mà đầu ông mải nghĩ đến cuộc đọ sức tuy không cân xứng về lực, nhưng tài mưu lược đôi bên có lẽ ngang tầm. Ông buột miệng quả quyết kêu lên: “Tao sẽ thắng vì lũ con tao đang cần chúng mày!”.

Quả thực ông Tư đã thắng! Hai con cá tràu nằm sườn sượt trong lòng xuồng. Chốc chốc chúng ngoi đầu lên, vẫy đuôi đành đạch như cố tìm đường tẩu thoát để về với lũ con sắp ra đời của chúng, nhưng bất lực…

Ngôi nhìn cặp cá, ông Tư sắp sẵn trong đầu: một con bán đi lấy tiền đong gạo. Con cá mẹ lớn hơn làm thịt nấu cháo cho lũ con đánh bữa đỡ lòng qua những ngày đói khát. Sự dự tính tưởng chắc như cơm vào miệng. Ai ngờ, con cá đã trút hết vảy để lộ cái thân hình nõn nà, bà Tư sơ ý, đánh rơi xuống bàu, lẩn mất tăm.

Cơ sự đã thế ấy, hai vợ chồng và lũ con ông ngồi sững sờ nhìn nhau! Chết điếng!

Sáng hôm sau khi ông mặt trời thức dậy, như thường lệ, ông Tư tu một bát nước chè hầm, cho cần và vịt mồi vào xuồng rồi lướt sóng ra đi. Ông gặp tổ cá sớm hơn hôm qua. Trước mắt ông cái tổ con đen sạm cũng chỗ ấy, hôm qua, một con cá tràu thân trắng tợ bông đang lững lờ bơi qua bơi lại. Mắt ông hoa lên, ông dụi tay xem lại. Bất chợt ông thảng thốt kêu lên: “Chính nó rồi!”. Trời ơi! Vượt mấy cây số đường nước với cái hình hài trơ trụi thế kia mà nó vẫn cố tìm về. Và về kịp, lúc những chấm cá tràu bắt đầu hiện li ti trên mặt nước.

Lòng ông bàng hoàng! Tay chân bủn rủn! Không còn ham muốn gì nữa, ông đành quay xuồng lặng lẽ trở về…

Từ đó, trên cái bàu Lâm Yên này, không còn ai thấy bóng dáng con thuyền của gia đình ông Tư đỗ ở đấy nữa….

Xuân Đình

 

Sunday, December 22, 2024

Chúc Mừng Giáng Sinh - 304Đen

 Chúc Mừng Giáng Sinh 




Friday, December 20, 2024

Đêm Đông - Nguyễn Cang & Với Ai - Diệp Văn

 THƠ THÂN HỮU:

 
















Bài xướng:

ĐÊM ĐÔNG

(nđt)

Liễu rủ chiều rơi xuống cạnh thềm

Đông về lạnh lẽo thấy buồn thêm

Đường quê quạnh quẽ hành nhân rảo

Ngõ cụt đìu hiu cỏ úa mềm

Phận mỏng trầm tư buồn viễn xứ

Thân gầy khắc khoải lụy phần chêm

Người xưa bến đợi giờ đâu hỡi

Lạc lõng đời hư mấy thuở đềm

Nguyễn Cang ( Dec. 14, 2024)


Bài họa:

(nđt)    

VỚI AI

Đầu đông ráng đỏ rọi bên thềm

Vẳng giọng xưa hò dễ buốt thêm

Ngõ vắng mờ loang hàng bạch chỉ

Đường mơ khập khễnh dấu chân mềm

Quan trường một thủa hồn thu đáo

Miếu vũ bao lần dạ khổn chêm

Viễn xứ tình chung buồn phận mỏng

Lòng riêng khắc khoải giữ êm đềm

Dec 17, 2024 Diệp Văn

 

 

 

 

 

 

Noel Ngày Cũ - Nguyễn Cang

 NOEL NGÀY CŨ

 















Bài thánh ca buồn em còn nhớ chăng

No-el năm nào sương xuống lạnh căm

Lấp lánh sao trời chìm trong đáy mắt

Áo trắng em bay nét đẹp thiên thần

 

Ta quỳ dưới chân tượng thánh trên cao

Khấn nguyện suốt đời mãi mãi bên nhau

Dẫu xa cách vẫn một lòng chung thủy

Em khẻ hát bài Thánh ca dâng trào

 

Rồi gió lạnh xuân về qua bến lạ  

Để chiều nao áo trắng cũng thay màu

Em bước qua cầu rớt hạt mưa ngâu

Lời nguyện Chúa giờ hư hao biến mất

 

Con đường nhỏ trời mưa bay lất phất

Ta cô đơn chan chứa mối u hoài

Đã bao lần Chúa hiện xuống trần ai

Ta lặng lẽ  tìm nơi giáo đường cũ

 

Tượng hình Đức Mẹ trông buồn ủ rũ

Bài Thánh ca người cũ đã xa rồi

Thương vai gầy mái tóc thả buông lơi

Đêm thánh lễ nhớ hoài khung trời mộng

 

Nguyễn Cang (Dec. 13, 2024)