Thursday, April 2, 2026

Dốc Sương Mù Tự Tình - Thuyên Huy

 Dốc Sương Mù Tự Tình




Thương Chưa Kịp Đã Vội Đi - Thuyên Huy

 

Thương Chưa Kịp Đã Vội Đi

Chuyện viết mượn một chút thật, còn lại chỉ là hư cấu




 

    Kontum, một tỉnh nhỏ và lẻ loi của rừng núi cao nguyên, nằm cách Pleiku, thủ phủ vùng hai chiến thuật không hơn bốn mươi cây số. Phía bắc Kontum, hai quận Dakto, Daksuk, nằm sâu cạnh ranh giới Quảng Ngải đã bị chiếm, từ những ngày mùa hè đỏ lửa. Ngồi trên trực thăng người ta có thể thấy rõ ràng bóng dáng bộ đội Bắc quân đi qua đi lại quanh vùng, nhất là sau ngày có hiệp định Ba Lê. Tỉnh lỵ không có bao nhiêu con đường, thành phố chạy quanh chạy quẩn cũng chỉ là mấy dãy phố bao quanh cái chợ tỉnh luôn vắng người từ xế trưa.

*

    Từ đỉnh núi Kompa bốn mùa mù sương nhìn xuống, Kontum như cái lòng dĩa tròn đơn độc. Sông Dakla, con sông chảy ngược giòng, đổ về núi thay vì ra biển, uốn mình chia đôi thành phố, hai bờ cát trắng phau, khác Pleiku mịt mùng bụi đỏ, lặng lờ, dưới cái cầu nửa sắt nửa xi măng dẫn vào tỉnh lỵ, từ hướng Pleiku lên. Bên này cầu, ngôi nhà gỗ mung hai tầng lầu, dân ở đây thường gọi là Biệt Điện vì đó là nơi dùng làm nhà nghỉ mát cho Tổng Thống , mỗi khi lên cao nguyên, lúc còn sống và còn quyền, là nơi giờ trở thành cư xá cho dăm ba công chức cao cấp, độc thân trong Nam ra tỉnh ở.

*

     Sau lưng là góc công viên nhỏ, cỏ xanh dầy đặc và hoa leo đủ loại vây quanh cái bia đá “ghi ơn chiến sĩ màu xám bám đầy rêu. Cuối phố, qua trường trung học tỉnh, chạy vòng theo dưới đồi, đường về xã Phương Quý, hai bên mấy dãy rừng cà phê hun hút. Lính trận trên phố thường nhiều hơn dân trừ những giờ tan trường có chút màu trắng áo dài. Kontum không có bao nhiêu ngày nắng trọn, trời cứ khói sương mờ mờ lành lạnh quanh năm.

*

    Chợ có độc nhất một rạp chiếu bóng Diệp Kính, ít khi mở cửa trễ về đêm. Quán cà phê với cái tên ngồ ngộ “Forget Me Not”, do hai chị em, người từ Đà Lạt lên làm chủ, trên đường Ngô Quyền hình như lúc nào cũng thấy đông khách. Lác đác một vài thiếu nữ Thượng, nặng nề mang gùi bán hoa Lan rừng, đi lên đi xuống trong buổi chợ sớm.

*

    Mới đó cũng đã gần hai tháng, kể từ ngày Lâm lên làm việc ở Kontum. Chỗ làm việc nằm trên một con đường dốc, lặng im ẩn mình sau hàng cây thông xanh thẳng tấp bao quanh, lẻ loi, xa phố chính hai ba cây số. Bạn bè ở đây không có mấy ai, vài anh Trưởng ty hoặc Phó quận độc thân từ miền Nam ra, không còn thêm ai nữa. Chiều chiều tụ năm tụ ba, không tập tành đánh quần vợt thì bài bạc cho qua ngày tháng. Đêm ở đây xuống rất nhanh, chưa thấy hết giờ làm việc thì phố xá đã lên đèn, trời mù sương lạnh, ít khi thấy người lang thang ngoài đường ngoại trừ những chiếc xe cảnh sát tuần tiễu mờ mờ lên xuống, không có tiếng súng lưa thưa nổ xa xa đâu đó như những ngày ở Tây Ninh nhưng vẫn thấy ánh sáng hỏa châu bập bùng tận một phía bên trời.

*

    Căn nhà nhỏ được một người nhân viên tốt bụng cho Lâm ở, nằm cạnh bờ sông Dakla, cách hàng rào khu gia cư của thương phế binh khoảng mươi thước. Lâm thường thả bộ một mình, dọc theo bờ cát trắng phau khi con nước xuống, nhìn mặt trời đỏ bầm chầm chậm lặn phía sau rừng cuối xã Phương Hòa. Thỉnh thoảng Lâm theo anh Nông, thư ký kiêm thông dịch viên tiếng Thượng, lớn hơn vài tuổi, gốc người Ra-đê, có Tú tài một, được tuyển vào làm việc cho tỉnh từ năm ngoái, lên buôn Thượng chơi, ngồi sàn nhà rong, tập uống rượu Cần, ngọt lần đầu nhưng say nằm liệt lúc nào thì có trời mới biết.

*

    Theo anh, Lâm cũng quen dăm ba cô gái. Mấy người bà con của anh Nông sống trong buôn, đi săn trong rừng sâu, hái cho Lâm vài cụm hoa Lan rừng đẹp lạ lùng, treo trên tường, quên cả tưới nước, cụm hoa vẫn tươi một màu vàng rực rỡ. Lâm đã thấy lòng mình se thắt, ngậm ngùi nhiều đêm, khi nhìn cụm hoa Lan vô tội vô tình phơi màu, ẩn trên tường vôi trắng. Cái màu áo mà Trân mặc trong ngày gặp Lâm, tại quán sinh tố Hằng Phương, một chiều đầy nắng ở Tây Ninh, ngày mà lòng Lâm thà “về yêu hoa cúc, không mến lá sân trường”. Hình như Lâm đã sống quá dài trong ray rứt, trong lạnh lùng. Kỷ niệm của một đời yêu nhau chừng như tan tác buông xuôi theo năm dài tháng đợi. Lâm hờ hững sống đời con tằm, cứ lặng lẽ nhả tơ trong ổ kén quạnh hiu xanh lá.

*

    Trời ở đây giờ đã cuối mùa thu, dăm ba cành lá thông khô, khẳng khiu gãy vụn, nằm trơ trọi bên những con đường trên dốc quanh phố trong những sáng mù sương, buồn da diết. Cuối thu lập đông, mới giao mùa mà Kontum lạnh buốt. Đường phố lạ hẳn lên, áo len đủ màu đủ sắc, từ ngõ hẹp đầu chợ đến khắp sân trường. Ly cà phê nóng chợt trở thành một cái gì không thể thiếu mỗi sáng, trước khi đến sở làm, dù có muộn màng, ngồi bên này nhìn con sông Dakla, sương phủ mịt mù như khói tỏa, mới hiểu lòng ai buồn sương khói mờ nhân ảnh, Lâm lẻ loi ở Kontum những ngày tháng đó.

*

    Thứ bảy chủ nhật cuối tuần, thỉnh thoảng, đôi ba lần, Lâm theo mấy người bạn bên tòa Hành Chánh xuống Pleiku, cái thành phố buổi chiều quanh năm mùa đông. Tỉnh lỵ Pleiku lớn hơn và nhộn nhịp hơn Kontum vì là bản doanh của Quân Đoàn 2 và Vùng 2 chiến thuật. Phố xá không khác nhau cho lắm, cũng những con đường đồi dốc ngoằn ngoèo, cũng dăm ba hàng cây thông thẳng tấp. Phi trường Cù Hanh về chiều, nếu không có chuyến bay đêm nào đó, buồn như một nghĩa trang chiều ba mươi tết.

*

    Đâu đâu cũng là bụi đỏ, bụi đỏ nhuộm công viên, phố chợ trong ngày hanh nắng, bụi đỏ in dấu chân người trong ngày mưa lầy lội. Bọn họ lang thang hết đường Hoàng Diệu, khu tắm hơi đấm bóp rồi qua Phượng Hoàng nhìn thiên hạ nhảy đầm trong tiếng nhạc bập bùng. Đêm ghé quán Vông Vang, uống cà phê Ban Mê Thuộc nghe nhạc tình buồn, khóc đời cô lữ trước khi trở lại khách sạn Thanh Lịch, quăng người xuống giường, đêm ngủ quên, sáng ngày dậy muộn.

*

      Rảnh rỗi hơn, trên đường về lại Kontum, vòng qua Biển Hồ, quay xuống quận Lệ Trung, xem thằng bạn tên Nhựt ngồi tán gái sơn cước, bằng tiếng đồng bào Thượng, học tới học lui vẫn còn ngọng nghệu thấy mà thương. Vào điạ phận Kontum, cố nhấn ga cho xe chạy nhanh khỏi ngọn đồi trọc Chupao, nơi lính Dù VNCH quần thảo với Bắc quân, cày nát từng gốc cây ngọn cỏ vài năm trước, nếu thấy nắng chiều tắt sớm phía sau lưng, mà thường thường nắng chiều hay tắt sớm.

*

    Không đầy một tuần lễ, sau ngày mất Ban Mê Thuộc, thành phố Kontum bắt đầu di tản, tỉnh lỵ hỗn loạn như một gánh hát rã hàng không tiền trả tiền mướn rạp. Công chức quân nhân, nhỏ lớn mặc ai, không còn thấy gì là lệnh lạc. Các buôn làng Thượng im lìm thu mình trong màn sương dưới núi. Sáng thứ bảy, lái xe lên chỗ làm, anh Nông, thư ký đã đứng chờ Lâm ngay cổng ra vào, người lính nghĩa quân, thường gát trong cái chòi canh không thấy bóng. Anh Nông lo lắng nhìn:

- Thưa ông, không còn ai trong đó đâu, họ đi hết rồi

Lâm ngỡ ngàng chưa kịp đáp, anh tiếp theo với vẻ mặt buồn vời vợi:

- Tôi nghĩ chắc ông cũng lo về Sài Gòn đi, họ đã về Pleiku từ chiều hôm qua, ngay sau khi đóng cửa.

- Rồi còn anh thì sao? Lâm đắn đo hỏi:

Anh lắc đầu cười gượng:

- Tôi là người ở đây, thì đi đâu bây giờ!

Anh lên xe Honda nổ máy, chậm ra đường, quay đầu nói vọng lại: 

- Cám ơn ông, chúc ông bình an, mau gặp lại gia đình.

Lâm đứng nhìn theo bóng anh mất hút, ngược hướng đoàn người bỏ đi từ phía xã Phương Qúy, buồn muốn khóc.

    Trở lại nhà, quơ vội mấy thứ cần, quăng đại lên xe, Lâm lái qua Biệt Điện, đón đám bạn công chức, chen lấn lớp người lớp xe, hấp tấp qua cầu, thản nhiên, con sông hiền Dakla vẫn lặng lờ chảy ngược lên rừng, chưa kịp thương anh đã vội bỏ Kontum mà đi, một sáng giữa tháng Ba nghiệt ngả.

 

Thuyên Huy

Viết lại từ một câu chuyện cũ

Nỗi Lòng Người Vợt Tù Cải Tạo - Nguyễn Cang

 NỖI LÒNG NGƯỜI VỢ TÙ CẢI TẠO

(Tháng Tư buồn, viết thay lời vợ)

 


 














Ta lưu lạc không nhà nơi thành phố

Đông phong về đêm lạnh phủ mù sương

Ta còn đây hay đã mất quê hương

Nghe con khóc biết mình còn đang sống

 

Xuân sắp đến bạc tiền như vườn trống

Hạt mưa rơi gom nỗi nhớ vào tim

Đi về đâu trong cõi vắng im lìm

Nghe mặn đắng bờ môi tê buốt giá

 

Mùa đông lạnh anh phong phanh áo vá

Gió cao nguyên có tê tái trong lòng

Thân phận nghèo mình cứ mãi long đong

Em vẫn đợi vẫn chờ ngày gặp lại

 

Soi gương mặt tóc nào còn xanh mãi

Chiều Tân Quy* chiều mắt đỏ mong chờ

Trong khổ đau đành mất tuổi mộng mơ

Đứa con nhỏ giật mình kêu mẹ khóc

 

Trả hết anh những hẹn hò trách móc

Còn lại đây những cay đắng dật dờ

Rót ưu tư vào bến giác hoang sơ

Lau nước mắt nhạt nhòa mưa cuối hạ!

 

Nguyễn Cang (Apr 10, 2025)

 

 

 

 

 

 

 

Con Chuột Không Hang - Hải Miên

 

Con Chuột Không Hang




     Không bao giờ tôi muốn nhớ lại cái ngày đầu tiên tôi theo mẹ cầm cây chổi cán dài ra chợ. Trời tối sập, đổ mưa, người bán kẻ mua chỉ còn lác đác, mẹ tôi buông dao xuống rổ khoai gọt dở, bảo: "Ði, con". Ðó là lần duy nhất trong đời người mẹ lạnh lùng và nhiều đau khổ của tôi nhẹ nhàng tròng vào cổ tôi mảnh áo mưa và đội lên đầu tôi chiếc nón mê đã được viền lại bằng mảnh vải quần cũ.

Tôi chưa bao giờ được đến trường, chẳng ai cố công nhét vào đầu tôi những điều xa lạ, cao siêu trong các trang sách, nên bao chuyện xảy ra hàng ngày quanh cuộc sống của tôi, dù chỉ lướt thoáng qua, nghe lõm bõm và không hề để tâm ghi nhớ, vẫn cứ bám chặt lấy cái đầu bé xíu nhưng quá sức rộng rãi của tôi.

Cả một khu chợ rộng lớn và dơ bẩn được giao cho chỉ mình mẹ tôi quét dọn. Mẹ đẩy thùng xe rác đi trước, tôi vác cây chổi dài chạy sau, vừa buồn rầu vừa hăm hở với ngày làm việc đầu tiên của mình.

Những đống rau quả già héo và thối rữa nằm lổn nhổn la liệt nơi chợ trời sau một ngày mua bán của hàng chục nghìn người. Tôi đứng mấp mé đầu cán chổi, chân chổi dài hơn chân tôi. Tôi quét thật lực, chốc chốc dừng tay trước một củ khoai lang hay miếng bí còn chưa hỏng hết, nhặt lấy bỏ vào chiếc bị cói đeo bên hông. Tôi nhặt cả một ít lá hành, ngò và rau răm héo, những thứ mà trước đây mẹ tôi chẳng bao giờ đem về. Mẹ nấu ăn không cần đến gia vị và rau thơm, nhưng tôi sẽ rất lấy làm hả hê nếu được bưng lên một tô canh nóng, ghé sát mũi và hít lấy hít để mùi thơm nồng nàn của những vòng hành lá xắt nhỏ và nhúm rau răm tỏa hơi cay ấm. Tôi rất thích và nhạy với những mùi thơm. Trên những lối mòn thường đi tha thẩn lúc còn bé xíu, tôi luôn dừng lại và dí sát mũi vào những bông hoa bên đường. Tôi còn tỉa lấy một vài cánh đẹp cho vào miệng và ăn thật khẽ. Ngửi một mùi hương với tôi chưa đủ, tôi còn muốn ăn mùi hương đó và nuốt từ từ cho nó trôi vào bụng. Nên có lần tôi chạy về mẹ với cái mũi đỏ ửng, sưng phồng và chiếc lưỡi bỏng rộp. Sau năm lằn roi vào đít, mẹ nói rõ cho tôi biết, dù mọi bông hoa đều thơm và sặc sỡ nhưng nhiều loại trong số đó có chất độc. Với mẹ con tôi, hai cái mũi suốt ngày đêm hít thở mùi hôi hám và tanh tưởi của những đống rác chợ, thì hương hoa chả có ích gì cả. Tốt nhất là khép chặt hai cánh mũi lại, đến không ngửi thấy mùi gì nữa thì chẳng còn gì hay hơn.Tôi biết đó là ước ao không phải lớn nhất nhưng thường trực nhất của đời mẹ, ước ao hằng ngày cho đến giờ bà nằm xuống...

Tôi không ân hận nhiều vì có một vài điều tôi không nghe lời mẹ, ví dụ như ngửi những bông hoa hay mở rộng cánh mũi trước bát canh nóng nghi ngút có hành ngò.

Trở lại ngày làm việc đầu tiên. Vì chân chổi dài hơn chân tôi nên tôi vấp phải đám lua tua đó trong khi đang ủn những nhát chổi nặng những rác, ngã đập mông xuống một quả bí ngô thối rữa. Khi tôi chống tay đứng lên, sau mông tôi ướt nhe nhép, vàng hươi bí đỏ. Sau tất cả những việc đó, tôi không dám kêu lên một tiếng với mẹ mà buông chổi, chạy một mạch ra vệ cỏ bên đường, ngồi ệp xuống và lết đi một quãng dài, để lại sau lưng đám cỏ giập nát, cõng nặng oằn mình lớp bí đỏ vàng hươi bốc mùi nhức mũi, vẫn ướt loét nhoét và dính bết vào mông, tôi chạy một mạch nữa xuống con suối gần đó, đứng chống tay nơi hai đầu gối, nhúng mông xuống dòng nước chảy. Cúi mặt, cong lưng nhìn ra sau theo dòng nước, tôi bật cười hi hi với ý nghĩ, giống như mình đang pha màu vào dòng nước suối. Khi tôi lướt thướt chạy về chợ, cả hai vạt áo còn nhỏ giọt loi thoi, mẹ nắm hai tai và kéo bổng tôi lên, ném vào thùng xe rác. Năm ấy tôi chỉ nặng độ mười lăm ký lô, nhẹ hơn cả một trái bí ngô to các bà ở chợ vẫn xẻ bán mấy ngày mới hết.

Ngày thứ hai theo mẹ quét chợ, khi tôi ngửa cổ hắt từng xẻng rác vào thùng xe thì hai cổ tay mỏi nhừ, run run buông xuôi chiếc xẻng. Nguyên đống rác đổ xóa vào mặt và một con cá ươn rơi tõm vào hai hàm răng đang há hốc của tôi. Tôi cắm mặt xuống đất, móc họng nôn cạn ruột mà chưa ọe được con cá chết ra. Mẹ tôi đi lại, trở sống tay chặt mạnh một cái vào vai. Con cá văng tọt ra ngoài. Ngồi thỏ lỏ mắt nhìn, tôi nôn thêm một lúc nữa, đổ ra toàn mật vàng.

Ngày thứ ba..., ngày thứ tư... ngày thứ năm... Mỗi ngày đều có nhiều chuyện cho tôi nhớ và sợ hãi.

Tôi ở chợ, nhưng không khôn lanh như con thiên hạ mà hơi ngơ ngẩn, nhìn vào đâu mắt đều mở to và nhìn lâu không dứt. Nhờ vậy mà bớt buồn khổ vì hoàn cảnh của mình. Nhưng đến năm mười lăm tuổi tôi vẫn bị cạn hết nước mắt, không còn một giọt. Trở về sau nếu buồn khổ quá cũng chỉ khóc khô, mắt rát như bị cát bay.

Mười sáu tuổi tôi bị mẹ đánh và mắng mỗi ngày. Tôi muốn bỏ túp lều nơi góc chợ - chỗ trú ngụ của hai mẹ con từ ngày tôi còn là cái bào thai - đi đâu thật xa. Nhưng gom nhóp mãi mới được một nhín tiền, rồi bị một chuỗi hạt nhựa tròn nhẵn, sáng lóng lánh mê hoặc nên dốc hết số tiền đó ra mà mua lấy, đeo vào cổ. Từ đấy tôi cảm thấy ngấn cổ là nơi đẹp đẽ nhất trên cơ thể mình và quên luôn ý định để lại một mình bà mẹ chưa già nhưng suốt ngày than trách số phận và chửi rủa con gái vì lỗi lầm của mình và sự tệ bạc của một người đàn ông đi hoang vô định. Lúc nhỏ, trong một trận đòn, đang khóc tu tu đột nhiên tôi nín bặt, nhìn mẹ lom lom với mớ tóc rối, áo quần nhàu nhĩ và cây chổi lông gà rách tướp trên tay, tôi sửng sốt kêu lên: ‘"Mẹ, trông mẹ giống hệt như một con quạ đen!". Mẹ tôi vứt cây chổi, ngã xuống nằm bẹp tai suốt bảy ngày, tôi phải đẩy xe đi quét rác một mình đến tối khuya mới được nửa chợ. Sáng tinh sương trở dậy quét được nửa chợ nữa, chưa đến cửa lều nhà mình thì hai tay không còn đưa nổi cây chổi. Từ đó, tôi không bao giờ bảo mẹ giống với bất kỳ điều gì, dù mỗi ngày hình ảnh mẹ có thể gợi cho tôi hàng chục liên tưởng khác nhau.

Mười sáu tuổi, tôi bị mẹ đánh và mắng mỗi ngày. Mẹ muốn tôi lấy gã con trai bẩn thỉu, có bàn chân to nặng và luôn ngái ngủ làm bốc vác ở chợ, tối tối leo lên nằm ngáy ồ ồ ở sạp chuối bà Hường. Ngoài cái tên Thổ Nghệ của hắn ra, còn nữa mọi thứ ở hắn đều làm tôi nhăn mũi. Dù tôi chưa lưu tâm gì đến bọn con trai đầy nhong nhóc ngoài chợ bằng một bông hoa có mùi hương và màu sắc mọc bên đường, nhưng mẹ vẫn cứ ráo riết và cấp tập kiếm chồng cho tôi. Mẹ nói mãi về đàn bà, về sự yếu đuối, cám dỗ, cạm bẫy và sa ngã. Tôi cứ ngồi nghe như bị thôi miên, càng nghe càng mù mịt không tìm thấy lối ra giữa đống kiến thức xa lạ, chả liên quan gì đến một bà già khô đét và đứa con gái chưa hết run sợ về lần chảy máu đầu tiên trong đời.

- Mày không chịu lấy thằng Thổ Nghệ, mày không chịu lấy thằng Bá Hùng, mày cũng không ưa thằng Tí Ngọ. Mày muốn lêu lổng cho đến bao giờ? Mày muốn đời mày ra khốn nạn như mẹ mày phải không?

- Không, không phải. Những thằng con trai đó không xứng đáng với con.

Miệng mẹ tôi há hốc.

- Thế mày nghĩ ở khu chợ này, mày xứng đáng với ai?

- Con không tin hễ là con của bà quét chợ thì chỉ xứng lấy chuột làm chồng.

- Nhưng mày cũng là chuột. Một con chuột không hang! - Mẹ giận dữ la lên.

Tôi kéo chăn trùm kín mặt, dù biết ngay sau đó mẹ sẽ lôi tuột mảnh chăn đi, trở cán chổi lông gà quất mạnh vào người tôi và nhắc nhở: "Mày đừng quên mày là một con chuột không hang".

Một ngày có nắng, ông lão ăn mày lạ đi ngang và ngồi xuống ở một góc chợ, để ngửa chiếc mũ rách bẩn dưới tầm mắt mình. Chiều tối vãn người, tôi đẩy xe rác ra, đưa cho ông những mẩu khoai nhiều vết dao cắt gọt đi chỗ sùng hà hư thối, còn bốc hơi nóng. Ông ăn xong, nhìn tôi chăm chú rồi nói như tặng lại tôi một món quà: "Con đừng buồn. Dáng vẻ của con không bần hàn như hoàn cảnh của con". Ông hỏi tên tôi rồi giận dữ đi về phía mẹ đang quét rác ở khu chợ cá, nắm lấy cán chổi của bà, la lớn bất ngờ: "Mụ này, sao mụ lại dám đem cái tai ách của mụ để choàng vào cuộc đời của con bé ấy?". Mẹ tôi buông chổi nhảy xổ vào đánh ông lão ăn mày. Tôi muốn can nhưng trong đám bụi vẩn mịt mù, hai người đã bấu lấy nhau thành một khối chuyển động kỳ quái không ngừng, làm tôi chẳng còn biết đâu mà gỡ. Và khi ông lão người đầy vết cào xước đã bị mẹ tôi lẳng vào vũng nước tanh, nằm rên hờ hờ thì mẹ tôi búi lại tóc, xong ngồi sụm xuống khóc ồ ồ. Từ đó bà gọi tôi bằng một cái tên mới.

Bằng nghề ăn mày, ông lão đã đi khắp nơi, khắp hang cùng ngõ hẻm của nước Việt và cái chợ của mẹ con tôi là nơi cuối cùng ông đặt chân tới. "Từ đây lão sẽ về quê, đào cho mình một cái lỗ và nằm xuống đó, không bao giờ đi thêm một bước nào nữa. Lão ước được bàn tay một cô bé như con lấp đất xuống cho lão". Vì câu nói của ông lão mà lần đầu tiên trong đời, tôi thả rơi cây chổi, hướng đôi bàn tay về phía có ánh sáng, ngắm nhìn trân trối. Tôi nhìn mười ngón tay, từng ngón một, từng đốt tay một. Lật lại, tôi đưa đầu ngón trỏ rê nhẹ và chậm trong lòng bàn tay kia, thấy gập ghềnh và gồ lên những cục chai, với những con đường nhỏ rằng rịt, ẩn sâu, đỏ hồng.

- Ðôi bàn tay con có gì khác biệt?

Xòe hai bàn tay như hai chiếc lá hình răng cưa mở rộng hết cỡ trước mặt ông lão, ông nhắm mắt không nhìn, chỉ nói:

- Vì nó thuộc về con.

"Cần phải đến già mới hiểu được lời của một người già". Tôi có tật xấu nói lên thành tiếng những ý nghĩ của mình, nếu trước đó không tự ra lệnh: "Không được nói. Im đi. Im đi". Ông lão nghe thấy, cười ha ha, để lộ dăm ba chiếc răng còn lại, dài như răng ngựa va nhau lung lay như cùng nghiêng ngả trong một trận cười. Rồi ông lão moi, moi mãi trong cái bị của mình, lôi ra một bọc gói nhiều lớp giấy báo và giẻ rách, đưa cho tôi:

- Giữ lấy, con.

Ông ăn mày đã đặt vào tay tôi quyển vở, cây bút và cuốn sách vỡ lòng trước khi ông lặng lẽ rời khỏi chợ, không một con mắt nào được chứng kiến. Tôi biết ông về quê mình, tự đào một cái hố và nằm xuống đó, không bao giờ đi thêm một bước nào nữa, sau ròng rã tháng năm in dấu bàn chân dọc ngang hẻm hóc. Tôi ở lại băn khoăn: Vì sao ông mong ước được bàn tay phả đất lên người là bàn tay tôi, mà không tìm cách cho điều ấy thành hiện thực?

Như tôi đã một lần nói, tôi chưa bao giờ được đến trường, nhưng tôi đã có thể đọc hết những gì mình muốn đọc và viết chính xác những gì mình muốn nói, nhờ vào những thứ ông lão ăn mày đặt vào bàn tay mình. Nhờ biết chữ, mà tôi đã có nước mắt trở lại, vào tối ngồi thu lu dưới ánh đèn chợ, bập bõm đánh vần tờ giấy rối rít chữ ông lão cho tôi. Và nhờ vào cái bọc gói nhiều lớp giấy cùng giẻ rách ông lão đưa cho với lời trao gửi: "Giữ lấy, con. Dùng thật có ích". Tôi và mẹ đã thoát khỏi cuộc sống bần hàn, cái cuộc sống có quá nhiều thứ chúng tôi cần đến mà không thể có.

Bằng nỗi thúc đẩy của sự ăn năn, ông đã khập khiễng đi tìm mẹ con tôi trên khắp mọi nẻo đường. Và bằng lòng oán hận, mẹ đánh bật ông ra khỏi cuộc đời của mẹ và tôi. Nhưng ông không buồn vì ông đã viết: "Ta chết nhẹ nhàng vì đã biết, trong tâm hồn con không một nỗi oán hận, thù ghét mảy may. Và vì vậy, không như chúng ta, chắc chắn cuộc đời con là rất tốt".

Hơn cả những gì cụ thể ông lão để lại cho tôi, ông khiến tôi tin chắc rằng mình không phải là một con chuột, càng không phải là một con chuột không hang. Và may mắn thay, mẹ tôi cũng bắt đầu nghĩ đúng như tôi vậy.

Hải Miên

 

 

 

Con Nuôi Người Thủ Từ Làng Hạ - Vũ Hoàng Quế Ngân

 

Con Nuôi Người Thủ Từ Làng Hạ


Dáng lão đi con cón, rất nhanh. Người lão nhỏ và thấp, chỉ khoảng 40 cân, được cái gặp người làng, ai lão cũng chào, hỏi thăm rất ân cần, mặc cho họ có niềm nở hay lạnh nhạt với mình.




Không ai biết quê quán lão ở đâu. Mà lão làm gì có quê? Cụ thủ từ ở đền làng bắt gặp lão đỏ hỏn trong chiếc nón mê ở một lều quán sát chợ Dầu. Cụ mang lão về nuôi, khi cụ chết đi lão ở một mình trong cái hậu cung của đền làng lạnh lẽo.

Lão sống dựa vào thu nhập từ hai cái cây ở vườn đền. Cây thị thì dù ít, dù nhiều, năm nào cũng có hoa. Riêng cây nhãn, năm được, năm không. Những năm nhãn mất mùa, thu nhập giảm đi, lão đói. Năm nào nước sông lên, nhãn trổ nhiều hoa, lão có vẻ phong lưu. ấy là nói phong lưu theo cách của lão thôi, bởi lúc sung túc nhất, người ta cũng chỉ thấy lão dám mua mấy con tép khô hay bìa đậu. Quanh năm suốt tháng, thực phẩm chính của lão là mấy ngọn rau tập tàng hái ở vườn đền.

Người ta không gọi lão chỉ bằng tên mà luôn kèm theo một biệt danh Lợi "hủi". Lão bị bệnh phong? Không. Chẳng qua tại lão nghèo, quần áo không mấy khi hẳn hoi, trông nhếch nhác, lôi thôi. Nghèo thì sẽ bị người đời miệt thị - thường thế. Hơn nữa, lão là dân "ngoại quán". ở làng Hạ, đó là một cách biệt rất ghê. Những người "ngoại quán" luôn luôn chịu phận đàn em trong những dịp hội lễ, họ phải khênh vác, bưng bê nhưng khi thảo luận, bàn bạc việc làng, họ phải ngồi chiếu dưới, chẳng bao giờ ý kiến đóng góp của họ được mọi người để ý.

Lão Lợi không vợ con. Đúng ra chưa hề bao giờ thấy lão đả động đến chuyện này. Đã bao nhiêu lần dòng sông ngầu đỏ, lão vẫn thui thủi một mình. Cũng khó lắm thay, ở địa vị lão, tứ cố vô thân, đã nghèo lại không họ hàng, mẹ cha, có hỏi cũng không ai dám nhận lời.

Những năm nhãn được mùa, thu nhập của lão cũng bị một nguy cơ giảm đi: ấy là từ lũ trẻ con trong làng. Thằng Ân "quái", thằng Quyền "đen", thằng Kiên "còm"... và một lô một lốc những cái tên, nghe đã thấy nghịch như quỷ sứ, thuộc làu từng cái chạc trên hai cây của lão. Thoắt cái, chúng biến mất, thoắt cái đã thấy chót vót trên cao, miệng nhồm nhoàm nhai; còn lụng thụng trong lần áo may-ô đã được "sơ-vin" cẩn thận trong quần cộc, là những quả nhãn tròn căng, hay những quả thị hãy còn xanh lét.

Lão Lợi không đuổi đánh lũ quỷ sứ đó bao giờ, mặc dù rõ ràng chúng đang phí phạm miếng cơm của lão. Một lần, thằng Kiên "còm" chậm chân, mặt tái xanh, run cầm cập ở trên cây khi thấy lão Lợi dưới gốc ngước nhìn lên. Nó tưởng lão sẽ nổi giận lôi đình, xách cổ nó xuống, quất cho vài chục roi, hay chí ít ra cũng sai "áp" nó về cho cha trị tội. Vậy mà lão lại rất nhẹ nhàng:

- Thằng còm con nhà Quang đấy phải không? Xuống đây, xuống đây với ông. Từ từ thôi kẻo ngã.

Hôm đó, sau khi ăn nhãn chán chê, nó còn được lão Lợi bẻ cho một chùm to, bảo nó mang về biếu cha, mẹ nó.

Kiên "còm" không biết rằng, nồi cơm của lão đầy hay vơi, phụ thuộc rất lớn vào những chùm quả trên cây. Lão có thu nhập gì khác đâu? à mà quên, lão còn có nghề bốc mộ thuê, nhưng chẳng biết có nên coi đó là nghề không?! Thôi để nói ở sau! Chỉ biết rằng, sau những trận bọn quỷ sứ "càn quét" tan hoang, sáng hôm sau, người ta lại thấy lão Lợi xuất hiện ở chợ Dầu. Lão cắp một cái rổ lổng chổng nhãn và thị, quả chín lẫn quả xanh và khi lão về, thay vào đó là lùm lùm cái gói chừng một vài lon gạo.

Không chấp trách, không bon chen, lão Lợi cứ sống như thế, bao nhiêu năm, dưới sự miệt thị, khinh rẻ của người đời. Người lớn ngoảnh mặt đi khi thấy lão từ xa. Đàn bà đem chuyện lão ra kể như một điều gớm ghê. Riêng lũ trẻ con, chúng chạy nhồng nhồng một đám đằng sau mỗi khi lão đi qua, miệng hò hét inh tai: Lợi "hủi", ôi "hủi, hủi..." Của đáng tội, trong làng chỉ có những nhà nghèo quý lão, hoặc thương, nhưng họ phải theo số phú nông. Chẳng hạn như bố thằng Kiên "còm" - chú Quang - thỉnh thoảng, nhà có giỗ chạp, lại sai nó lén đem biếu lão một nắm xôi, vài miếng thịt heo, đôi khi thêm một vài quả chuối.

Lão Lợi chỉ là "thân quen" với đám nhà giàu khi có việc. Thường là những việc bẩn thỉu, nặng nề. Người ta gọi lão đến, ân cần một cách giả tạo. Cho lão ăn và khi lão làm xong thì quên ngay dường như với họ chưa hề có một lão Lợi bằng xương bằng thịt tồn tại ở trên đời. Chẳng hề băn khoăn, lão Lợi giúp tất cả những ai, nếu họ cần, kể cả khi họ chẳng yêu cầu. Phải chăng đó là lý do lão bị người đời rẻ rúng?!

Có hai việc mà các nhà giàu không thể nhờ ai, buộc phải mượn tay lão nhúng vào. Đó là khâm liệm xác chết và sang cát (hay còn gọi là bốc mộ).

Làng này cận thị lại cận sông, lợi thế mà cũng là tai họa đấy. Cận thị (gần chợ) thì xe cộ nhiều, tai nạn trên đường lắm. Cận sông thì mỗi năm một mùa nước lên, thế nào cũng có người chết đuối. Đó là chưa kể người chết từ nơi khác dạt vào. Đầu làng có một cái điếm canh đê, đồng thời kiêm luôn chức năng nhà quàn xác. Theo tập tục của làng, những người chết đường, chết chợ, chết trôi sông không được đem vào làng, phải quàn tại điếm canh đê, để khỏi kinh động long mạch của Thành hoàng.

Lão Lợi được vời đến mỗi khi có những "sự kiện" trên. Toàn những cảnh tượng khiến người khác thất kinh. Xác chết bình thường nhìn thấy đã sợ, huống chi có người chết ngâm nước đến cả chục hôm, trương phình, nhiều chỗ đã rữa ra, bốc mùi nồng nặc.

Lão Lợi khâm liệm tất cả các "ca". Lão làm cẩn thận, chi li, sắp xếp, lau rửa, thay mặt cho người chết rất kỹ càng, bất kể người đó là ai, có hay vô thừa nhận. Lão cũng chẳng kịp hoặc chẳng nhận được lời cảm ơn, bởi sau khi làm xong, người ta cũng cảm tưởng lão giống như một xác chết trôi sông vậy!

Việc thứ hai, các phú nông rất cần lão là cải mả cho người nhà. Thông thường sau hai năm trở ra, người chết được đào lên nậy nắp ván thiên, mò nhặt lấy xương, xếp vào tiểu sành rồi chôn ra một chỗ khác. Như thế người ta gọi là bốc mộ, sang cát hay cải mả.

Lão Lợi được nhờ làm hộ tất cả các khâu, từ đào mộ, mò xương, xếp đặt và chôn mộ mới, bởi tất cả các việc đó đều nặng nhọc và bẩn đến kinh người. Khi nắp ván thiên được nậy lên, một bộ xương người nằm thoài loài trong hòm gỗ. Cái đầu lâu đen bóng, ba hốc tối thui, hàm răng trắng nhởn nhe ra. Tùy vị trí đặt mộ có nước hay không, nếu mộ có nước, đầu lâu trôi lung tung. Mộ mà khô, chưa "hóa" hết, rất thối và hôi. Đôi khi, mộ có cả cá trê. Những con cá trê không biết chui theo ngõ ngách nào xuống được đến đây, sinh con đẻ cái, con nào con nấy béo, vàng ươm, quẫy đùng đùng làm bắn tung cả thứ nước đen đen vào mặt người cải táng.

Lão Lợi mò mẫm trong làn nước đen ngòm lôi lên đủ thứ: một mảnh ni lông, chiếc cặp tóc, mấy đồng xu... cả chiếc dép, chiếc lược... thậm chí một mớ tóc dài lê thê chưa tiêu hủy hết. Vớt hết những thứ đó xong, lão bắt đầu mò xương. Phải không thiếu một mẩu nhỏ dù là đốt ngón chân. Thường thì chủ nhà giúp lão việc sắp xếp xương vào tiểu sành sau khi đã lau rửa kỹ càng bằng nước trầm thơm. Bất cứ lúc nào lão Lợi cũng có thể gặp nguy cơ quơ phải đầu một cái đinh mà người ta dùng để đóng ván thiên. Trường hợp đó xảy ra, lão khó thoát được cái chết sau một thời gian vì thứ nước lão đang mò mẫm kia chứa đầy vi trùng uốn ván.

Thỉnh thoảng cũng có những việc nguy hiểm, dị thường xuất hiện. Một lần, khi lão Lợi hai tay nâng chiếc đầu lâu thì từ trong hốc mắt, một con rắn cạp nia phi ra. Cái thân mình khúc đen khúc trắng của nó lao như một mũi tên sượt qua mang tai của lão trúng vào kẻ ngồi sau. Lần ấy lão Lợi thoát chết còn người ngồi sau thì tàn tật suốt đời mặc dù lão đã trổ hết tài thuốc namchữa rắn cắn mà cụ thủ từ truyền lại để cứu vãn cho kẻ không may. Nọc rắn cạp nia cực độc!

Lần khác, đó là một ngôi mộ khô, khi lão Lợi vừa cậy nắp ván thiên, một cảnh tượng kinh hoàng trước mặt: chiếc đầu lâu nhảy lung tung trong lòng ván. Hai trong số người nhà xúm xít ngất ngay, số còn lại đều... đứt dép. Riêng lão Lợi vẫn thản nhiên như không, lão bình tĩnh vồ lấy chiếc đầu lâu, chậm rãi luồn ngón tay vào trong đó và lôi ra một con ếch to đùng, da trắng nhởn. Thì ra một con ếch đã không biết bằng ngách nào, chui được vào trong ván thiên. Nó tìm thấy chỗ trú ngụ lý tưởng trong chính chiếc đầu lâu, sống ở đó và lớn lên đến khi không thể chui ra, da ếch chuyển mầu trắng bệch...

Lão Lợi làm tất cả các việc đó một cách mẫn cán, không bao giờ đòi tiền công. Những nhà nghèo - sau khi cho lão ăn - thường biếu lão một vài bò gạo, một mớ khoai. Chính họ cũng chẳng có gì! Nhưng nhà giàu thường chỉ cho lão ăn. Họ không nhớ phải trả công, hay họ nghĩ là cơm nhà họ ngon, cho lão ăn là đủ? Đôi lúc, xong việc, họ tiễn lão về với một gói cơm, canh, chắc họ nghĩ phải ngồi ăn với lão là điều kinh tởm.

Một hôm, Kiên "còm" nghe được mẩu đối thoại giữa lão Lợi và cha. Cha nó bảo:

- Sao lão không đòi tiền công của mấy nhà phú nông? Bọn chúng có tốt gì với lão đâu, chúng giàu nhưng keo quá...

Tiếng lão Lợi thủng thẳng:

- Làng xóm giúp nhau chút việc, đáng là bao. Còn họ tốt, xấu với mình ra sao, quan tâm đến làm chi. Mình hãy tốt với người trước đã. Ai sống tốt sẽ gặp điều tốt, Trời, Phật có mắt đấy chú à!

Khi trí óc non nớt của Kiên "còm" hiểu được những triết lý thâm sâu trong lời của lão Lợi nói với cha thì lão đã ra đi. Một lần, trong khi cải táng, lão va ngón tay vào một cái đinh, chỉ một vết xước nhỏ thôi nhưng lão đã bị vi trùng uốn ván hỏi thăm. Sau cả một ngày co giật, vật vã trong đớn đau, lão chết.

Đám ma lão Lợi cực đông, đông hơn cả đám bá hộ Long, nhà giàu nổi tiếng trong vùng. Trong dòng người dài dặc đưa lão ra đồng, có những người cúi gằm mặt, lặng im. Họ là những nhà giàu đã khinh rẻ lão, quịt của lão tiền công. Dưới suối vàng, lão Lợi có oán trách họ không? Chắc không. Lần đầu tiên, có một người "ngoại quán" được đưa ma trọng thể như thế ở vùng này.

Rồi Kiên "còm" lớn lên. Cách mạng thành công. Kiên "còm" vào bộ đội, biệt hiệu "còm" mất đi, chỉ còn trong ký ức người thân, bè bạn ở quê. Đời lính của cụ Kiên - bây giờ đã thành cụ - đối với lũ trẻ con, kéo dài suốt ba chục năm. Cụ chiến đấu ở lòng chảo Điện Biên, sang Lào giúp bạn một thời gian rồi vào thẳng chiến trường miền Đông. Lớp trước, lớp sau, bao nhiêu đồng đội của cụ đã hy sinh. Riêng cụ, qua cả trăm trận đánh, vô số đạn bom chẳng khiến cho cụ một chút gì sứt mẻ.

Sau khi về hưu, người ta thấy cụ thỉnh thoảng lại ra đi. Một đợt lâu cả tháng, hoặc hơn. Dân làng bảo cụ đã quen đời lính, nhớ và đi thăm lại chiến trường xưa. Có người cam đoan rằng cụ có gia đình ở bên Lào, vợ cụ trước đó là một cô gái Lào Thơng rất xinh. Chỉ có những người ở Hội cựu chiến binh là biết chuyện. Họ biết cụ đang lặn lội trên những cánh rừng Lào, trong những dải rừng cao-su bạt ngàn của vùng đất đỏ miền Đông để thu nhặt những di hài đồng đội.

Còn trong những dịp cụ ở nhà, mỗi lần dòng sông ngầu đỏ người ta lại thấy cụ ở cái điếm canh đê giúp khâm liệm những người xấu số chết trôi sông. Bây giờ chết đuối có ít đi, nhưng tai nạn giao thông thì tăng mạnh. Cái điếm canh đê vẫn gánh cái chức phận của nó ngày nào...

Những đêm trăng sáng, các cụ già trong làng thường kể cho con cháu nghe câu chuyện: ngày xửa ngày xưa, có một đám ma rất to, người đưa đám đứng chật ở bãi sông, tràn ra ngoài triền đê, mà người chết chẳng phải tiên chỉ, bá hộ, phú nông gì hết...

Vũ Hoàng Quế Ngân