Áo Trắng Xưa Thôi Bay
Viết mà nhớ một người đã nằm xuống từ
những năm sáu tám sáu chín
Buổi chiều, trời đầu thu, tựu trường, một lần nữa, anh ngồi trầm ngâm buồn,
ở một góc, trước hiên cái quán cũ quen, ngay ngã ba nhìn qua cổng trường, phía
bên con gái ra đường, con đường mà anh đã đi đi về về, không đếm hết nổi bao
nhiêu lần trong suốt những năm tháng nợ nần với kiếp học trò bút nghiên giấy mực.
Ly cà phê, tự nãy tới
giờ vẫn còn nguyên, nguội rồi nhưng nhờ mấy vạt nắng hờ hắt vào cũng còn được
chút hơi đủ ấm, anh cứ nhìn ra đường, hàng dừa xanh không cao không thấp, lá
xanh lá úa vàng xen kẻ mấy cây phượng già hoa héo hoa hắt tàn, lạ không lạ quen
không quen.
*
Đám con gái túa ra,
cười rộn cười rả cả một trời chiều, phía bên kia sau lưng trường, mặt trời úa
vàng pha sắc tím hoàng hôn chầm chậm xuống, ngang qua xóm chài dưới con sông nhỏ,
chạy ra tới phố chợ, ngã ba đường trắng một màu trắng, chập chờn như ngàn cánh
bướm bay bay, áo nối tiếp áo thả tả, vờn theo gió chiều, giờ tan trường. Chỉ là
những tà áo lạ.
Nuốt ngụm cà phê nguội lạnh đáy ly cùng lúc phía trong quán,
tiếng ai đó hát bài tình ca quen thuở anh mới biết yêu người, bắt đầu cho buổi
chiều đông khách, anh gật đầu chào cô chủ, bước chập choạng đi ra đường, nhìn
xuống đất, chiều xuống thật nhanh, phía bờ bên kia sông, phố chợ nhá nhem lên
đèn, vàng vọt, le lói. Đã trễ rồi không còn đón kịp chuyến xe chiều rời phố. Một
lần nữa
*
Anh thẩn thờ cay mắt,
cố tìm trong đó, tìm để mà thấy mình còn muốn tìm, vậy thôi, không có tà áo trắng
năm xưa, tà áo của cô con gái xóm đạo mà anh thương thầm, nhớ trộm và chỉ duy
nhất một lần, can đảm ngỏ lời, và chỉ nhận lại nụ cười, một nụ cười trọn vẹn,
thánh thiện.
Rồi từ đó, chiều
trường tan, người ta, bạn bè thấy trên đường về hai người bước song đôi bên
nhau, nghe nhiều nói ít mà cười, phố nghèo có thêm người biết thương nhau, nhà
thờ có thêm một người ngoan đạo dù là ngoại đạo, đứng chờ tan thánh lễ mỗi chiều
chủ Nhật ngay trước cánh cửa mở rộng của thánh đường, nhẹ cúi người chào Cha và
mộ đạo.
*
Năm đệ Nhất, cô
nàng lớp đệ Nhị, hai người vẫn đi về sáng chiều như những ngày qua, hết đường
phượng hồng đầu hạ tới lối vàng lá rụng giữa thu. Rồi sau mùa thi cuối cùng anh
xuống Sài Gòn, bắt đầu những ngày đầu với giảng đường đại học, hai người không
còn thường bên nhau như trước, bạn bè quen biết mà thương cho.
Nhà ở cách tỉnh hơn
bốn mươi mấy cây số, cũng không còn ai quen ở đó, trừ cô nàng, từ đó, anh cũng
trở lên tỉnh gặp lại người thương, ho vẫn còn thương như đã thương, cũng ngồi bên
nhau ở quán nước đầu trường ngày nào hay bên nhau ngắm hoàng hôn tím nắng chiều
bên kia sông trên cái ghế đá lẻ loi của cái công viên cây nhiều hoa ít.
Cô vẫn đi học những
ngày đầu năm đệ Nhất, năm vắng anh nhưng sau đó thường vắng đến trường, dù năm
này là năm thi, mấy cô bạn cùng lớp cũng không ai biết lý do tại sao nhưng ai nấy
đều nhận ra cô trông buồn và ít nói hơn trước, dù vậy sợ gợi thêm buồn cho bạn
nên không ai hỏi gì hơn.
Mấy lần trở về, lên
tỉnh, ngồi chờ giờ tan trường chiều, trong cái quán cũ quen, ngay ngã ba đường,
anh đều không thấy cô ra cổng, tìm gặp mấy cô bạn biết anh, họ cũng không biết
gì hơn về sự vắng mặt khá thường của cô, anh cũng không làm sao hơn vì gia đình
cô không biết anh là ai, nếu có tới đó hỏi, những ngày sau đó ở Sài Gòn, giảng
đường, ghế đá, anh ngồi thừ ra, nhớ người hơn là nhớ sách vở, khóc thầm chỉ
riêng minh hiểu.
*
Thi cuối năm xong,
anh hối hả về thăm nhà rồi trở lên tinh, cũng chiều chủ Nhật, cũng như những
chiều chủ Nhật ngày xưa, anh đứng nép một bên cửa nhà thờ chờ, thánh lễ chiều
xong, người đi lễ lần lượt ra về, sân giáo đường vắng lặng, chỉ còn đôi ba con
chim gọi bạn trên gác chuông, tiếng kêu kéo dài, buồn.
Anh theo Cha xứ vào
phòng tiếp khách, sau lưng nhà thờ. Không lâu sau, anh ra về, ông đứng trước cửa
nhìn theo lắc đầu, bóng anh nghiêng đổ dài theo nắng chiều héo hắt xuống, trải
dài trên sân, anh chậm bước đi, run rẫy, người ta không biết Cha xứ đã nói với
anh những gì, tới cổng nhà thờ, đứng lại nhìn nhà thờ lần nữa, anh bật khóc.
*
Anh cố kiềm lòng,
nén lòng đừng khóc nhưng nước mắt cứ mặc tình ứa ra, lăn tròn trên mặt, khi ngồi
nhìn tấm bia trước mồ, cái mồ xây bằng xi măng, gọn nhỏ trong nghĩa địa đất
thánh tây so với nhiều ngôi nhà mồ lớn của ai đó, có tiền có của. Hình trên mộ
bia, cũng là tấm hình đen trắng mà cô nàng tặng mà anh đang có trong bóp của
mình, với nụ cười trọn vẹn, thánh thiện, nụ cười mà cô nàng trả lời hôm anh dám
lần đầu ngỏ lời đã thương.
Nắng chiều dần
buông, hanh vàng hắt ngang, đưa bóng anh trải dài tròn lên nấm mồ, chừng như
anh đang ôm cô vào trọn vòng tay mình. Anh vẫn ngồi bất động, ngừng khóc nhưng
vẫn sụt sùi, đưa tay vuốt mái tóc dài đen tuyền trong hình, run rẩy từng chập,
ngậm ngùi gọi tên cô nàng, rồi thẩn thờ đứng chết trân như người không hồn bên
lề đường.
*
Theo lời cha xứ, Chúa
không thương cho trót, nửa năm đệ Nhất, cô thường nghỉ học vì phải vào nhà
thương tỉnh, cả xóm đạo bàng hoàng, người khóc thương, người chấp tay lạy Chúa,
cô bị bệnh ung thư ác tính thời kỳ cuối, cô cố gượng sống sau những lần hóa trị
nhưng cũng không qua phần số, cô mất đi về với Chúa, vào một ngày đầu Hạ, bải
trường mùa hè.
Đám tang chật kín người
xóm đạo ở nhà thờ, họ khóc và cha xứ cũng khóc khi nói tiếng “A Men” tàn thánh
lễ, thầy cô, bạn bè chật cứng đường Phan Thanh Giản, đưa cô tới nghĩa địa đất
thánh tây và cô ngủ yên ở đó.
*
Anh đứng dậy, đưa
tay vuốt nhẹ nấm mồ, vuốt tóc cô nàng một lần nữa, hẹn sẽ về rồi lảo đảo đi ra
đường, vừa đi vừa mân mê tấm hình đen trắng trong tay, nắng tàn, chiều xuống thấp
thật thấp, lẻ loi vài vạt cuối, lùa ngang đầu, trời nghĩa địa bắt đầu nhá nhem
tối, nước mắt ứa ra, anh, lại một lần nữa, chắc không phải là lần sau cùng,
khóc thành tiếng.
Thuyên Huy
Tàn thu 2026
No comments:
Post a Comment