Tiễn Hạt Sương Đêm
Friday, November 6, 2026
Dạ Cổ Hoài Lang - Đoàn Dư
Dạ cổ hoài lang
Tôi
đọc sách, thấy trong các tác phẩm tiếng Anh có một truyện ngắn mang tên Những
con diều tại Bắc Kinh, họ đề là của Lu Hsun (Lỗ Tấn). Truyện rất hay, nhẹ
nhàng, đề cập tới những ngõ ngách sâu kín trong tâm hồn con người. Nhưng tôi
nghi ngờ không biết có phải của Lỗ Tấn hay không, bởi vì trong các bản dịch tiếng
Việt tôi không thấy nhà văn danh tiếng này có truyện như vậy. Bằng một giọng trầm
tư, tác giả kể rằng khi ông đã lớn tuổi, sống tại Bắc Kinh, cứ mỗi lần đến mùa
người ta thả diều, nhìn thấy những con diều trên thành phố Bắc Kinh lòng ông
thường bâng khuâng, ray rứt nhớ lại một kỷ niệm cũ.
Ngày
ấy ông còn nhỏ. Ở quê ông người ta có thói quen thả diều. Từ trẻ con tới người
lớn ai cũng mê diều. Riêng ông, cha ông bắt ông học, bởi vậy ông quen với sách
vở hơn quen với những con diều. Cậu em trai ông thì khác, nó cũng mê diều, có lần
một mình trốn vào trong căn nhà kho, đóng kín cửa lại ở biền biệt trong đó làm
trộm con diều suốt hai ngày liền.
Ông
đi tìm, bắt gặp, bèn tức giận tát bốp cho em một cái muốn đổ đom đóm mắt rồi liệng
con diều xuống đất, giẫm hai chân lên, giậm tan nát trước cặp mắt thất thần,
đau đớn vì tiếc của đứa em trai.
Mấy
năm sau, ông rời gia đình đi học xa. Thời thế đảo điên, anh em xa cách. Khi ông
sống tại Bắc Kinh thì đã lớn tuổi, mỗi lần nhìn thấy những con diều trên thành
phố ông lại khổ sở vì cái nhìn đau đớn của đứa em trai đáng thương ấy. Cặp mắt
nó lúc nào cũng đeo đuổi khiến ông ân hận về sự tàn nhẫn của mình. Hơn chục năm
sau, anh em bất ngờ gặp nhau. Bây giờ tóc ông đã bạc, mái tóc em ông thì cũng
đã bạc và cậu đã có vợ con, gia đình êm ấm. Ông mời em về nhà mình ăn cơm.
Trong
bữa ăn, ông gợi lại chuyện xa xưa và lúng túng tìm cách xin lỗi em. Em ông tỏ vẻ
ngạc nhiên, cười xòa vui vẻ: “Hầy à! Có chuyện đó sao anh? Vậy mà em không nhớ
gì hết. Thú vị quá phải không anh?”.
Bị
tát vỡ mặt mà còn thú vị. Ông kết luận rằng đó là tình anh em. Vì cùng máu mủ,
ruột thịt nên anh em sẵn sàng tha thứ cho nhau từ trong tiềm thức, trong khi
người có lỗi không biết, vẫn nhớ không quên.
Lỗ
Tấn là một bậc thầy. Các nhà văn bậc thầy thường có lối viết đơn giản rất “con
người” như vậy. Họ viết bằng tâm hồn họ, hết sức nôm na, chân thật, chẳng cần uốn
lượn ngòi bút, chẳng cần đao to búa lớn “mặt trăng nuốt mặt trời” mà vẫn cứ
hay. Tôi nghiệm ra trong lòng mỗi con người chúng ta thường có những ngõ ngách
sâu kín và âm thầm thật. Nó làm cho cuộc sống của chúng ta phong phú hơn hay nhức
nhối hơn? Không thể biết được. Nhưng dù phong phú hay nhức nhối thì ta vẫn cứ
là ta. Chỉ riêng ta biết lấy ta mà thôi.
Cũng
như tôi, đến nay đã ba mươi mấy năm rồi – vâng, đã ba mươi mấy năm – vậy mà
trong lòng tôi đôi khi vẫn u uẩn, băn khoăn thắc mắc về một chuyện nho nhỏ. Rất
nhỏ. Tôi sợ rằng một vài em học trò cũ nào đó của tôi cách đây hơn ba mươi năm
không hiểu, khinh tôi. Nhà giáo, tội gì thì tội, không thể để học trò khinh được.
Nếu để học trò khinh hoặc hiểu lầm thì hỏng, mình sẽ ân hận suốt đời.
*
Năm
ấy tôi hăm hai tuổi, tốt nghiệp Đại học Sư phạm, được bổ về dạy tại một tỉnh
khá xa. Người ta hăm hai thì khôn, còn tôi có lẽ rất ngốc. Ngốc chứ không phải
ngu. Tôi chưa bao giờ nhận là mình ngu cả. Nếu ngu thì làm sao mà dạy học được?
Tôi
ngốc đến nỗi buổi tối hôm sắp xuống tỉnh nhận nhiệm sở, mẹ tôi bảo để mẹ tôi đi
theo, xuống đấy sắp xếp chỗ ăn chỗ ở cho tôi. Em gái tôi bảo thôi, mẹ đừng đi,
anh ấy đi dạy có mẹ đi kèm người ta cười cho đấy. Mẹ tôi bảo việc gì mà cười,
con ta đẻ ra từ tấm bé, lớn lên thì ta phải trông nom cho nó chứ, dễ gì một lúc
mà sanh ngay được đứa con bằng ấy. Tôi nói vâng ạ.
Sáng
hôm sau quả nhiên tôi bị cười thật. Ra bến xe đò, bạn bè cùng khóa sư phạm với
tôi nhiều người cũng được bổ về các tỉnh dưới đó, bất ngờ gặp gỡ, đi cùng một
chuyến. Họ chào hỏi mẹ tôi rồi một cô cười, khen mát: “Anh sướng thiệt, tốt
nghiệp sư phạm, đậu cử nhơn rồi mà đi đâu cũng có mẹ đi theo, sướng quá”. Tôi
đáp: “Vâng, tôi mồ côi cha từ nhỏ nên việc gì mẹ tôi cũng trông nom. Tôi sống
nhờ mẹ”.
Xuống
tỉnh, mẹ tôi ở lại khách sạn, tôi vào trường trình diện. Lúc ấy là buổi chiều,
trời mới mưa lớn nên sân trường ngập nước có lẽ tới mắt cá chân, trong sân có cỏ
và hai cái ao. Đôi giầy của tôi mới toanh. Chiếc cra-vát cũng mới nữa. Tôi tìm
không thấy có chỗ nào len chân được, rất ngại ngùng nên bèn ngồi xuống tháo
giày, tháo cả vớ, xách trên tay rồi xắn quần lên cao, lội lẹp bẹp trong khi ngực
vẫn đeo cra-vát.
Ông
hiệu trưởng đón tôi trên hiên, trông tôi chắc kỳ dị lắm. Đợi tôi đi lại đôi
giày xong, ông mời tôi vào văn phòng, nói chuyện, trao thời khóa biểu đã chia sẵn
đề tên tôi, cho mượn trước hai tháng lương rồi mời tôi sang phòng giáo sư.
- Tôi đã nhận
được sự vụ lệnh của Nha Trung học cho biết năm nay có bảy anh em mới tốt
nghiệp được bổ về trường. Anh xuống sớm, rất tốt. May quá, nay nhân có buổi
họp hàng tháng để chuẩn bị khai trường. Họp xong rồi nhưng mời anh sang để
tôi giới thiệu với anh chị em luôn.
- Vâng ạ.
Tôi
đứng dậy, đi theo.
Ông
hiệu trưởng giới thiệu xong, mọi người vỗ tay. Sau cùng, anh giám học đứng lên:
- Tôi đề nghị
hôm nay có giáo sư mới, chúng ta ai đi được thì đi, ai không đi được thì
thôi, ta ra Xừng Ký, nhậu.
Tôi
vội vàng đứng dậy:
- Dạ thưa thôi
ạ, em không đi được đâu ạ.
Anh
giám học ngạc nhiên. Tôi giải thích:
- Dạ thưa tại
vì bà cụ em xuống, hiện đang ở khách sạn Thanh Sơn. Em phải về kẻo mẹ em
mong.
Mọi
người trợn tròn mắt nhìn tôi như nhìn một con vật kỳ lạ họ chưa từng thấy. Nhất
là các cô, nhiều người đưa tay che miệng cười.
Anh
giám học hỏi:
- Thưa anh, thời
khóa biểu trong trường tôi đã chia rồi. Riêng của anh, đa số toàn lớp Mười
Một với lớp Mười Hai bởi vì anh sẽ thay tôi, đổi về Đà Lạt. Học sinh tụi
nó lớn lắm, vậy từ mai trở đi bác có phải vào trong lớp trông coi cho anh
dạy không ạ?
Các
cô cúi gầm mặt, lại cười hơn nữa. Tôi lắc đầu:
- Dạ không ạ,
mẹ em chỉ xuống trông nom, sắp xếp chỗ ăn chỗ ở cho em xong thì về, không
vào trong lớp.
Ít
lâu sau, khi đã quen nhau, anh giám học tên Phùng Văn Hưởng đã đổi lên Đà Lạt,
một anh bạn kể với tôi rằng anh Hưởng nói cái thằng đó nó ngốc ghê cơ, tao hỏi
xỏ nó ngay giữa hội đồng mà nó đứng dậy trả lời tỉnh bơ: “Dạ không, mẹ em chỉ
xuống trông coi, sắp xếp chỗ ăn chỗ ở cho em thôi ạ, không vào trong lớp”. Tao
chưa thấy ai ngốc bằng nó. Thế đấy, tôi chỉ ngốc chứ không có ngu, thầy giáo mà
ngu thì không dạy học được.
Cố
nhạc sĩ Cao Văn Lầu (1892-1976)
Lúc
ấy tôi đang viết tiểu thuyết đăng fơi-ơ-tông cho hai tờ báo lớn ở trên Saigon,
để tên thật nên học trò biết, thân với tôi lắm. Nhất là các em có máu văn nghệ
văn gừng, thường hay chuyện trò với tôi.
Một
hôm, tan học, thầy trò đang đi trên con đường nhựa chạy dọc theo mé sông trước
cửa khách sạn Thanh Sơn, một em bỗng dừng lại, chỉ tay sang phía xa xa ở bờ bên
kia:
- Kia kìa thầy,
thầy có nhìn thấy căn nhà trăng trắng dưới chỗ đám cây kia không? Nhà ông
Sáu Lầu đó thầy!
Một
em khác nhìn theo, phụ họa:
- Bữa nào thầy
rảnh không phải viết tiểu thuyết, tụi em sẽ dẫn thầy qua bển thăm ổng. Ông
Sáu dễ tánh, cũng thích văn nghệ, gặp thầy chắc ổng mầng lắm.
Tôi
nhìn kỹ, chỉ thấy những ngôi nhà nho nhỏ thấp thoáng dưới những bụi cây, không
có ngôi nào cao tới sáu, bảy tầng một cách đặc biệt đến nỗi học trò phải dẫn
tôi sang coi, làm quen với gia chủ. Ở Saigon nhà có sáu tầng lầu là một chuyện
thường, không quan trọng như ở dưới này.
- Các em nói ổng
tên Sáu Lầu hay nhà của ổng có sáu tầng lầu, sao thầy không trông thấy gì
hết?
Học
trò ngạc nhiên nhìn tôi. Trong cái nhìn đó tôi thấy các em hết sức thất vọng.
Hình như các em coi ông Sáu Lầu là một nhân vật vĩ đại trong khi tôi tỉnh bơ,
không hiểu gì hết.
- Dạ thưa tên ổng
là ông Sáu Lầu, tức ông Cao Văn Lầu, ổng làm ra bản Dạ Cổ Hoài Lang.
Hừ,
làm một bản vọng cổ thì đã ăn nhằm gì. Người nhà quê thường hay quan trọng hóa
vấn đề chứ tôi ở Saigon, ngày trước coi cải lương hoài, thấy các soạn giả như
Thu An, Hà Triều, Hoa Phượng…viết nhiều tuồng lắm. Trong khi soạn tuồng tất
nhiên họ phải sáng tác vọng cổ, mỗi vở hàng bao nhiêu bài chứ đâu phải chỉ có một
bản Dạ cổ hoài lang như ông Sáu Lầu.
Tuy
nghĩ như vậy nhưng vốn quý mến học trò, tôi nói cho các em vừa lòng:
- Dạ cổ là tiếng
trống đêm. Dạ cổ hoài lang là nghe tiếng trống đêm nhớ chàng hay nhớ chồng
gì đó, phải không các em?
Dạ.
Thôi được, để lúc nào rảnh thầy nhờ các em dẫn
qua giới thiệu với ổng. Thầy cũng thích tìm hiểu phong tục tập quán địa phương.
Học
trò thấy tôi không sốt sắng lắm nên im lặng, thôi không nói nữa. Còn tôi, vừa bận
viết lách lại vừa dạy học, tôi cũng quên đi, không nghĩ tới nữa.
*
Bảy
năm sau, tức năm 1972, tôi được đổi về một trường gần Saigon. Ông Lê Dân, đạo
diễn điện ảnh, có quay của tôi một cuốn truyện cùng lúc với cuốn Hồng Yến của
nhà văn Bình Nguyên Lộc. Trong cuộc liên hoan “bấm máy”, hai bác cháu được xếp
ngồi bên cạnh nhau, chuyện trò với nhau. Ông Lê Dân đi ngang qua, dừng lại bắt
tay, giới thiệu tôi là thầy giáo. Bác Bình Nguyên Lộc hỏi tôi dạy trường nào,
tôi nói Trường trung học Bạc Liêu, mới được đổi về Saigon.
Bác
ngạc nhiên:
- Ủa, Bạc
Liêu, vậy là quê hương của ông Sáu Lầu?
Tôi
giật mình, sửng sốt. Bản Dạ cổ hoài lang hay tới mức nào mà vừa mới nghe hai tiếng
Bạc Liêu là bác Bình Nguyên Lộc đã nhắc ngay tới tên ông Sáu Lầu?
Tôi
đem việc đó ra hỏi. Nhà văn miền Nam có cái bút hiệu đổi ra từ hai tiếng “Đồng
Nai” mỉm cười lắc đầu:
- Không phải vậy
đâu, cậu giáo lầm rồi. Ông Cao Văn Lầu không phải chỉ sáng tác ra bản Dạ cổ
hoài lang theo cách cậu giáo hiểu mà còn là người phát minh ra điệu vọng cổ.
Miền Nam trước đây không có vọng cổ, phải sau khi bản Dạ cổ hoài lang của
ông Sáu Lầu ra đời nó mới biến đổi dần và biến ra điệu vọng cổ. Có thể nói
ông Sáu Lầu là cha đẻ của điệu vọng cổ.
Bác
giải thích rất kỹ. Người tôi lạnh đi. Thôi chết, mình lầm to rồi. Ông Sáu Lầu
là người khai sinh ra điệu vọng cổ chứ không phải chỉ làm ra một bản vọng cổ.
Việc này rất lớn chứ không phải nhỏ. Tôi kể cho bác Bình Nguyên Lộc nghe câu
chuyện lầm lẫn của tôi bảy năm về trước và phàn nàn rằng mình kém cỏi, học trò
thất vọng về mình.
Bác
lắc đầu:
- Không sao
đâu cậu giáo. Làm thầy, kém về chuyên môn nó mới coi thường chớ chuyện
ngoài đời, ai cũng có cái biết cái không, biết hết làm sao được. Lúc đó có
lẽ tụi nó cũng có thất vọng thiệt nhưng không khi dễ thầy. Đối đế lắm là
nó cười thầm với nhau là thầy hổng biết vậy thôi.
Tuy
bác đã an ủi nhưng trong lòng tôi vẫn có một cái gì đó áy náy, thắc mắc bâng quợ
Tôi mong có dịp và có thì giờ trở lại Bạc Liêu, được gặp lại những người học
trò cũ năm xưa để xin lỗi về chuyện tôi đã lầm lẫn. Nhưng lúc xảy ra chuyện đó
tôi mới đi dạy, chưa biết hết mặt học trò, họ là ai, tên gì tôi cũng không nhớ
rõ.
*
Ba
năm sau, đất nước đổi thay. Mười năm sau nữa, công lao của ông Sáu Lầu được nói
tới nhiều hơn. Nhất là sau khi ông qua đời, hội Nghệ sĩ Sân khấu Miền Nam làm lễ
tưởng niệm rất lớn, coi ông như một bậc thầy và Đài truyền hình Saigon phát các
hình ảnh về ông. Tôi đã được đọc trên tờ Sân Khấu & Kịch Trường những bài
nói chuyện về ông, và họ thận trọng đăng cả nguyên văn bản Dạ cổ hoài lang do
ông sáng tác. Tôi không hiểu gì về vọng cổ nên không biết bài đó hay như thế
nào. Nhưng theo tôi nghĩ, một tác phẩm đã làm nên cả một tiết điệu lưu truyền
ngàn đời của một dân tộc; vĩnh viễn, bao trùm, thấm trong dòng máu hàng bao
nhiêu người từ thế hệ nọ sang thế hệ kia thì đó không phải là một chuyện dễ.
Cứ
như tôi đấy, lúc di cư vào Nam thì tôi còn nhỏ, chưa biết người ta hát cô đầu
như thế nào và cũng chưa xem hát chèo nhiều, nhưng cho đến bây giờ, đầu hai thứ
tóc, vậy mà cứ nghe đâu đó có tiếng trống chèo hay hát “cô đầu”: “Hồng Hồng Tuyết
Tuyết, mới ngày nào còn chưa biết cái chi chị..” là tự nhiên người tôi cứ tỉnh
hẳn ra, mắt sáng hẳn lên như đói thèm ăn, khát thèm uống. Thì ra những tiếng trống
chèo, những câu hát ả đào đã ăn sâu trong lòng tôi như điệu ca vọng cổ ăn sâu
trong lòng dân miền Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác, điệu đó do ông Sáu Lầu
sáng tạo.
*
Tôi
và đứa con trai nhỏ đi xem kịch ở số 5B đường Võ Văn Tần, tức đường Trần Quý
Cáp cũ, gần Hồ Con Rùa. Nhà tôi và thằng con trai lớn đã đi từ hai tuần trước.
Phải chia ra hai đợt mà đi chứ cùng lúc họ không bán cho bốn vé. Ấy là đã phải
đến tận nơi mua từ tuần trước chứ khán giả đông lắm, “sân khấu nhỏ” có hơn trăm
ghế, ai cũng muốn coi thì đâu đủ chỗ? Ngoài ra, đi xem kịch Thành Lộc là phải đến
đúng giờ.
Tám
giờ bắt đầu diễn, đến trễ dù chỉ một phút người ta cũng không cho vào. Trong
lúc xem không được nói chuyện; phải tắt điện thoại di động để khỏi reo chuông;
không ăn uống, không hút thuốc; nếu không đã có các nhân viên nhà hát đến nhắc
nhở, lịch sự mời ra ngoài. Phòng kịch nghiêm trang lặng lẽ giống như trong cung
thánh. Ấy vậy mà mọi người lại thích. Nhất là “Việt kiều”, họ quen với việc lịch
sự ở nước ngoài nên nói chuyện cho nhau nghe, chẳng ai ăn mặc cũn cỡn tỏ ra
khinh thường người khác. Khi kịch đã bắt đầu diễn, cả phòng im lặng như muốn
nín thở.
“Ông
già” Việt kiều Thành Lộc khe khẽ lắc đầu, mỉm cười đứng dậy ca cho “ông già” Việt
kiều Việt Anh nghe bản Dạ cổ hoài lang. Chiếc áo bà ba màu trắng quê mùa miền
Nam – loại vải Mỹ mềm và sang trọng – rộng thùng thình phong lưu tiêu sái. Từng
dáng điệu, từng cử chỉ cộng với tài năng dễ sợ làm cả phòng im phăng phắc,
không một tiếng động. Nhiều người đưa tay lên kín đáo chùi nước mắt…
Ta
ơi đừng khóc, ta ơi đừng khóc, con ta ngồi bên cạnh ta, nếu biết bố khóc nó sẽ
không yên tâm xem tiếp được vở kịch rất hay này.
Tuy
đã trấn tĩnh nhưng cổ họng tôi vẫn nghèn nghẹn, hai lỗ mũi cay cay và nước mắt
tôi ứa ra. Cách đây hơn ba mươi năm, một đêm cũng như đêm nay, mẹ tôi chuẩn bị
đưa tôi xuống tỉnh để rồi học trò chỉ cho tôi thấy ngôi nhà nho nhỏ trăng trắng
của ông Sáu Lầu ở bên kia sông và tôi lầm lẫn. Bây giờ mẹ tôi đã mất, mình tôi
còm cõi với những kỷ niệm xa xưa như nhớ như quên. Đầu tôi đã hai thứ tóc.
Ngay
sau đó là mười lăm phút ăng-trắc. Tôi ra đầu cầu thang, đứng bên cửa sổ hút thuốc
lá. Một gia đình có lẽ Việt kiều đang xuống cầu thang. Người chồng dừng lại dặn
vợ con điều gì rồi ở lại, ngập ngừng đến trước mặt tôi, làm bộ mồi nhờ điếu thuốc:
- Xin lỗi, ông
có phải là giáo sư X. ngày trước dạy ở trường Trung học Bạc Liêu?
Tôi
ngạc nhiên, đã bao lâu nay chúng tôi không còn phải là giáo sư nữa mà là giáo
viên, một thứ hạng bét dưới đáy xã hội, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con
người không phải con người. Anh này chắc là Việt kiều nên mới quen miệng, gọi
tôi bằng hai tiếng “giáo sư” như vậy.
- Vâng. Xin lỗi…?
Anh
ta mừng rỡ nắm chặt tay tôi:
- Em nè thầy!
Em cũng là học sinh cũ trường Trung học Bạc Liêu, ngày trước học thầy. Thầy
có nhớ hồi đó thầy còn trẻ, mới đổi về tỉnh, mấy thầy trò đi với nhau tụi
em chỉ cho thầy thấy ngôi nhà của ông Sáu Lầu ở bên kia sông?
Ôi,
em đấy ư, những người học trò cũ thân yêu bao nhiêu năm nay tôi vẫn mong gặp lại
đấy ư ? Quả đất này tròn thật, thầy trò không ngờ gặp nhau.
- Ghê thật, em
nhớ dai thật, bao nhiêu năm rồi mà vẫn còn nhận ra thầy.
Dạ không. Tại em ngồi ngay ghế phía đằng sau
thầy. Lúc đầu, thầy mới bước vô em ngờ ngợ vì trông thấy thầy hơi quen quen.
Sau, nghe thầy giải thích với em nhỏ ngồi bên cạnh về cái tên Dạ cổ hoài lang,
giọng thầy vẫn y chang nên em mới chợt nhớ ra.
Hai
thầy trò hàn huyên với nhau. Tôi gợi lại câu chuyện ngày xưa và xin lỗi rằng hồi
đó tôi còn ít tuổi, mới ra trường nên chưa biết gì về ông Sáu Lầu và nguồn gốc
bản Dạ cổ hoài lang.
Người
học trò cũ ngạc nhiên:
- Dạ thưa có
gì đâu thầy? Hồi đó tụi em cũng biết là thầy không biết nhưng có ai trách
móc gì thầy đâu? Ở bển lâu lâu có dịp gặp nhau, mấy đứa tụi em vẫn nói
chuyện với nhau về thầy.
“Hồi
đó tụi em cũng biết là thầy không biết nhưng có ai trách móc gì thầy đâu, tụi
em vẫn nói chuyện với nhau về thầy” âm thanh nào đó tôi nghe rất giống với câu
nói của ông Bình Nguyên Lộc, và hơi giống “Những con diều tại Bắc Kinh” mà người
ta đề là của Lu Hsun, Lỗ Tấn.
Đoàn
Dự
Nguồn:
Diễn đàn điện thư Đại Học Văn Khoa Sài Gòn
Những Giọt Hắt Hiu Rơi - Thùy Dung
Những giọt hiu hắt rụng rơi
1.
Giọt sương ban mai
Giọt lăn dài qua cửa
Giọt nhắn anh rằng
Căn gác vắng…rất nhớ anh
Giọt
sương long lanh
Giọt thấm xuyên qua mành
Giọt trách anh rằng
Sao quên ngõ…bỏ giọt lẻ loi
2.
Anh không trở lại em đây buồn biết mấy
Tháng cùng ngày em vui với ai đây?
Chiều mây bay kéo mưa gầy lạnh giá
Đếm canh tàn trong băng giá ai hay
3.
Ngày không anh
Một ngày dài hụt hẩn
Bất cẩn câu chào lẩn khát khao bảo vệ
Ngày không anh
Cánh nhạn buồn xa lìa tổ
Con phố chiều như không còn chổ chung chân
4.
Thoáng hương đời ta đượm chút duyên
Vì hờ duyên nên không giữ nổi
Lổi tại trời hay lổi nơi tôi
Ôm lẻ loi đi suốt phận đời
5.
Chiếc lá rơi lánh xa rời nguồn cội
Ai thay lời ai có tội ai không?
Từ ngày con phố trống không
Bước chân hờn dổi gió dông lạnh nhiều
6.
Tình như chiếc lá
Xào xạc rớt rơi
Rớt nhằm sân tôi
Để gió vô tội
Cuộn nhặt chiều trôi
7.
Một lời người hứa yêu tôi
Tỉnh, mơ, tôi giữ một đời thủy chung
Ai dè lời nói mong lung
Cho tim tan nát cố gạt dòng tuông…!…
8.
Đi về đâu em hởi
Sa mạc buồn riêng một bóng em thôi
Tìm được đâu em hởi
Khi cỏi trần là nguồn vui bất gặp trong thoáng chốc mà thôi!
9.
Đừng khóc khi mưa rơi
Cho đơn côi ướt mèm
Con đường về sũng nước
Lênh láng bờ nhớ quyên
10.
Đêm buồn thao thức giửa canh thâu
Chẳng khóc sao mi ứa lệ sầu
Nhớ thời chung bước thèm nương náu
Hởi người xa vắng còn nhớ nhau?
Thùy Dung
Chiều Viễn xứ - Vườn Thơ Mới Xướng Họa
THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 198_VƯỜN THƠ MỚI
Xướng:
Chiều
Viễn Xứ
Nắng ngã về tây rũ bóng chiều
Đường qua ủ đột cảnh hoang liêu!
Xứ người khắc khoải tình non nước
Đất khách bâng khuâng tiếng sáo diều.
Nhớ lắm tình xưa thời tuổi dại
Thương hoài dáng nhỏ dưới trăng xiêu.
Bao giờ hạnh ngộ trên quê cũ
Khúc nhạc đoàn viên tấu thật nhiều!
Hàn
Thiên Lương
Họa
1:
Đất
Khách Miền Đông
Hoàng
hôn xuống thấp góc trời chiều
Đất
khách miền đông bổng tịch liêu
Lác
đác đt không gian dt vài cánh nhạn
Thuở
xưa tiềm thức dấu bay diều
Đêm
rằm trăng sáng soi vẳng vặc
In
bóng hình ai dáng ngã xiêu
Kỷ
niệm một thời thơ trổi dậy
Vấn
vương ngày tháng nhớ nhung nhiều
Hương
Lệ Oanh VA
Oct,
15. 2026
Họa
2:
Chiều
Cuối
ngày ảm đạm phủ mây chiều
Đêm
xuống im lìm chốn tịch liêu
Nhớ
thuở thiếu thời nơi xóm trúc
Chạy
quanh đồng cỏ thả dây diều
Tân
cư biệt thự tầng cao vút
Quê
cũ tranh nghèo lắm cột xiêu
Nắng
tắt ngậm ngùi về đất Mẹ
Tha
hương vạn dặm nhớ mong nhiều
PTL
Tân
cư 新居: chỗ ở mới
Họa
3:
Làng
cũ
Đìu hiu quán cốc lúc về chiều
Chìm đắm trong màu nắng tịch liêu
In
bóng hàng cây trong đáy nước
Không trung phất phới một đàn diều
Về
nơi sinh sống thời thơ dại
Nhớ
mái đình làng cột vẹo xiêu
Thương
quá là thương thôn xóm cũ
Tháng ngày nay đã đổi thay nhiều
THT
Họa
4:
Tình
tự tuổi già
Tóc
nay đã phủ khói sương chiều
Thấp thoáng bờ xa cảnh tịch liêu
Mờ mắt lãng tai run gối hạc,
Chùng dây thiếu gió đảo thân diều.
Trời thay mưa nắng, tình luôn đượm,
Hồn mộng thi ca, bút chẳng xiêu.
Theo quả đất xoay nào đã chán,
Còn mong an lạc tuổi thêm nhiều.
Minh
Tâm
Họa
5:
Chiều
nao
Sóng
soải đôi bờ giữa nắng chiều
Dòng sông lặng lẽ thoáng cô liêu
Thuyền nan ngược gió dần xa bến
Lẻ nhạn xuôi dòng lẫn cánh diều
Chốn cũ hoài trông tình nghĩa nặng
Quê người mãi nhớ ngọn đèn xiêu
Lòng trong ngưỡng vọng ngày sum họp
Tấu khúc đoàn viên rộn rã nhiều.
TQ
Oct 17, 2026
Họa
6:
Chiều
nhớ quê
Quê nhà khuất nẻo khói lam chiều,
Khách
lữ lòng buồn cảnh tịch liêu.
Đất
mẹ canh dài thương cố quốc,
Trời
xa đêm vắng nhớ con diều.
Tình
xưa bóng cũ còn vương vấn,
Dáng
nhỏ trăng nghiêng vẫn đổ xiêu.
Mong
buổi hồi hương vui hội ngộ,
Đàn
ca sum họp thỏa mong nhiều.
AI
Học Trò Xóm Rượu - Huyền Chiêu
Sau này, lớn lên, đi xa tôi mới biết rằng
xóm rượu quê tôi là một trong những xóm nghèo nhất trên đời này – Nghèo đến nổi
đến thế hệ của tôi, xóm mới bắt đầu có một lớp học. Gọi là lớp nhưng đó là một
gian phòng cũ kỷ thuộc ấp Đông Thành – Học sinh gồm lớp ba, tư, năm ngồi chung
dưới sự dạy dỗ của thầy T.
Huyền Chiêu
Được làm học trò và lạ lẫm sang trọng làm sao! Chúng tôi rất hài lòng về
lớp học của mình không hề biết rằng ba lớp học chung một phòng là một điều kỳ cục.
Chẳng những là trình độ chênh lệch, tuổi tác của đám học trò ấy cũng là một vấn
đề – Tôi nhớ như in cái ngày tôi sáu tuổi được mẹ mua cho một quyển vở, một cây
bút chì và được dẫn đến lớp học của thầy T – Trong khi mẹ tôi thưa chuyện với
thầy T, tôi được các anh chị lớp tư lớp ba nhưng đã 17, 18 tuổi dẫn vào lớp để
gia nhập vào một thế giới vừa mới mẻ vừa lạ lùng, vừa vô cùng lộn xộn – Ngồi
trong lớp học ấy tôi cảm động nghĩ ngợi: Từ đây tôi đã là một người … học trò.
Bằng cách nào một ông thầy lại có thể cùng lúc dạy được ba lớp.
Mọi sự thật đơn giản đến không ngờ. Đầu giờ thầy dạy các anh chị lớp ba. Sau đó
đứa lớp ba dạy đứa lớp tư. Đứa lớp tư cầm tay cho đứa lớp năm tập viết – Thật
là kỳ diệu ! xào qua, trộn lại. Ít lâu tất cả chúng tôi đều biết đọc, biết viết.
Nhớ lại ngày ấy tôi thấy việc học thật đơn giản, thú vị và ít tốn kém.
Chúng tôi ngày hai buổI đến trường . Trên tay vỏn vẹn hai quyển vở và tay kia lủng
lẳng một hủ mực được pha bằng nước và môt viên mực y như viên thuốc tây, màu
xanh sậm – Sau mỗi buổi học tay chân, mặt mũi, quần áo của chúng tôi đều lắm mực
xanh như một biểu hiện tất nhiên của học trò – Sau khi học trò đọc, viết xong vần
xuôi, vần ngược, làm xong vài phép tính cộng, trừ, đọc thuôc bản cửu chương, thầy
T cảm thấy bổn phận của mình đã hoàn tất – Từ đó về sau, công việc của học trò
là làm sao để viết chử cho đẹp, không sai lỗi chính tả. Vậy mà không hiểu sao
đi học đốI với tôi là một niềm vui, lớp học không bao giờ nhàm chán.
Thực ra thầy T cũng chẳng biết làm gì cho hết ngày, giờ nên nhiều khi thầy để
cho giờ ra chơi kéo dài đến… vô tận. Sau khi chơi đủ hết các trò chơi mà vẫn
chưa được gọi vào lớp tôi thường một mình tha thẩn ra khu vườn hoang cạnh lớp học
– Tôi rất thích cái mùi thơm hăng hắc của cỏ dập dưới chân mình. Tôi say mê
nhìn những con bọ học trò sặc sỡ bò loanh quanh trên cành cây vui vẻ như một lũ
học trò trong giờ ra chơi.
Tôi luôn luôn hạnh phúc khi nhớ về cái lớp học nghèo nàn đầu đời của mình. Tôi
nghĩ rằng sự nghèo nàn về vật chất không ảnh hưởng gì mấy đối với một đứa trẻ –
Chúng có riêng môt thế giớI tuyệt vời được xây dựng không phải bằng tiền bạc mà
bằng óc tưởng tượng và cảm xúc.
Huyền Chiêu
Lan Huệ Sầu Ai - Hoàng Đình Quang
Lan huệ sầu ai
Lời
một câu hát: Lan Huệ sầu ai, Lan Huệ héo.
Thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện lỵ của huyện Vĩnh Thạnh nằm chếch về hướng đông bắc
so với vùng hoa Quy Tân, một làng hoa nổi tiếng của miền Nam. Tôi có nhiệm vụ
phải về vùng hoa này. Nhiệm vụ nhưng không chính thức, là do tôi tự ra nhiệm vụ
cho mình, thế nên chẳng có cơ quan, đơn vị nào đón tiếp. Nắng ngả sang chiều rồi,
mà tôi lại muốn đến Vĩnh Thạnh trước khi trời tối, xe đò thì muộn mất, nên tìm
một tay xe ôm cho nhanh. Anh xe lúc đầu có vẻ kín tiếng, nhưng được khoảng dăm
cây số, anh ta bắt đầu chất vấn tôi, cứ như thể tôi đi làm một việc vụng trộm,
gian manh hay ít ra cũng là tay buôn lậu:
-Tại sao tôi nói ba chục ngàn, ông thầy không trả giá?
Tôi hơi khó chịu, nhưng cũng muốn chọc anh vài câu chuyện phiếm cho đỡ dài đường,
nên hỏi lại:
-Nếu tôi trả giá anh có bớt không?
– Cái đó chưa biết à!
-Tôi không trả giá là để anh hiểu thế nào cũng được…
Anh ngớt ga, quay lại hỏi một cách ngạc nhiên, văng cả nước miếng vào mặt tôi:
– Hiểu thế nào cũng được là sao?
– Hoặc anh cho là tôi ngốc để anh thương, hoặc là tôi “sộp” để anh ngán!
Anh ta cười vang, vừa cho xe luồn lách qua những ổ gà, ổ chuột, vừa quay lại
nói vào mũi tôi, đến nỗi tôi phải bấm vào sườn anh mà bảo: “Cẩn thận, tôi không
muốn vào nhà thương đâu!”
-Yên tâm đi! Tôi chạy xe có hạng trên lộ này mà… Rồi, sắp tới Vĩnh Thạnh rồi
đây, ông thầy tới khúc nào?
Thực tình tôi cũng không biết là tới khúc nào bây giờ? Đành bảo:
-Anh chạy vô trung tâm thị trấn, kiếm một quán cà phê, anh em ta ngồi chơi, anh
có bận việc gì không?
-Xe ôm thì lúc nào bận, lúc nào rảnh! Được rồi…
Chiếc xe Honda 67, tuy cũ kĩ nhưng chạy cũng khá hăng, đang nóng máy, lúc dừng
lại tỏa mùi cháy khét. Vào quán tôi hỏi anh uống gì, anh ta quay đầu vào trong
kêu một tiếng rõ to:
– Cho ly trà đá, Bảy ơi!
Lát sau, một bà chị sồn sồn cỡ ngoài bốn chục từ trong bếp chui ra, nhìn thấy
anh tài xe ôm, Bảy cười phe phé:
-Trời đất! Thằng Thức “kỹ sư”! Mới về hả?
Anh ta tên Thức “kĩ sư”!
– Nóng thấy mẹ, chị cho ly trà đá lẹ lên! Có khách về thị trấn thì về luôn, hỏi
chi hỏi hoài vậy! Thức phanh ngực áo quạt bằng cái nón rằn ri phành phạch.
Chị Bảy nhìn tôi:
-Bạn của thằng Thức hả? Uống gì, hay cũng trà đá?
Tôi lưỡng lự rồi bảo chị chủ quán:
– Có bia Sài Gòn không, chị cho hai chai! Có cái gì lai rai, tốt nhất là đậu phộng…
Chị Bảy quay vào quầy, tôi hỏi:
-Anh tên Thức à? Sao lại gọi là Thức “kỹ sư”?
Thức không trả lời ngay, anh xoay xoay cái mũ trên tay, nhìn tôi nheo nheo:
-Ông thầy làm nghề gì? Đi đâu đây?
Tự dưng như có người mách bảo, tôi nghĩ ra một cái gì đó, như một trò chơi. Tôi
nói là tôi đi tìm một người quen từ hơn hai mươi năm qua. Lúc ở nhà đi thì hăng
lắm, nhưng bây giờ tới nơi rồi lại thấy ngại…
-Bạn tình à?
-Bạn gái!
Thức nhìn tôi vẻ nghi ngờ, tủm tỉm cười:
-Nếu đúng vậy thì cũng hay ta! Chuyện có vẻ mùi mẫn hả?
Bảy núng niếng đem bia ra, tôi rót bia rồi đẩy ly bia đến trước mặt Thức:
-Mời anh! Tôi trả lời câu hỏi của anh rồi! Còn anh?
Thức uống một hớp, đặt xuống lấy ống tay áo chùi bọt bia trên mép:
-Tôi uống dở lắm! Nói đàn ông Nam bộ mà uống dở chắc ông không tin, nhưng uống
một ly vô nó đỏ tới ót! Kỳ lắm! Thức uống thêm một ngụm bia nữa rồi nhìn tôi.
Bây giờ ông thầy tính sao? Trời cũng sắp tối rồi, nhà bạn ông thầy ở khúc nào
tôi chở đến, rồi còn quay trở ra kiếm khách…
Tôi ngần ngừ, hỏi:
-Anh rành thị trấn này không, Thức?
-Tôi sanh ở trong ruộng, lớn lên học hành tại đây mà sao không rành! Cái thị trấn
nhỏ xiu vầy, không chừng tôi cũng quen bạn gái của ông thầy… Cái gì? Hơn hai
mươi năm trước giờ chắc cũng da nhăn, tóc trắng, ngồi sui rồi rồi còn gì nữa
ông? Mà bạn gái của ông thầy tên gì?
-Tên Lan! Tôi buột mồm, nói ra một cái tên.
-Hay! Thức vỗ cái rầm xuống bàn. Chuyện này hay à nha! Rồi anh ta bỗng dưng
ngâm ti tỉ: “Lan Huệ sầu ai Lan Huệ héo…!”
Tiếng ngâm nỉ non trong chiều muộn, trong quán cóc, nghe cứ u u, âm âm… Đúng Thức
là kỹ sư thiệt rồi, là người có học thiệt rồi! Tôi nhìn anh thấy ngộ, khẽ cười,
nhưng Thức vẫn không để ý. Có lẽ anh ta uống kém thiệt, có một ly đã ra thơ ca
rồi! Cũng là một tay lãng tử.
-Anh có biết nhà ai cho thuê ngủ trọ đêm nay không?
-Sao? Thức như giật mình. Tính ngủ trọ à? Sao không vô thẳng nhà người ta?
-Hơn hai chục năm rồi, biết người ta còn nhớ mình không mà tới? Đường đột quá,
e…
-Ờ há … Để coi. Ông ngồi chờ tôi chừng năm phút. Mà định nhà trọ cỡ nào? Ở bao
nhiêu lâu?
-Thường thôi, nhưng đừng vô nhà trọ, tốt nhất là nhà nào là người dân cũ ở đây!
Thức ào lên xe chạy đi. Chừng mười lăm phút sau, anh ta quay lại, kéo ghế ngồi,
lật mũ quạt phành phạch:
-Rồi! Ông thầy muốn ở bao lâu cũng được! Nhà này vào loại sang trong thị trấn,
chắc ông thầy không chê, giá cả thì tùy, đừng để người ta thiệt…
-Nhưng tôi không thích nhà trọ hay khách sạn!
-Không phải nhà trọ, cũng không phải khách sạn! Nhà dân, đúng hơn là nhà quan,
nhưng bây giờ là dân rồi! Tôi bảo lãnh ông thầy là bạn tôi, có hoàn cảnh thấy
cũng ngộ, đáng khen! Nhưng trước khi vô, tôi phải kể cho ông thầy nghe chuyện
này đã, coi như tôi với ông thân nhau lắm rồi nghe!
******
-Nghe
bà Bảy kêu tôi là Thức kỹ sư, ông ngạc nhiên lắm phải không? Tôi là kỹ sư thứ
thiệt đó! Tốt nghiệp Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh, khoa cơ khí! Đó,
anh hất hàm ra cửa quán, ông thầy ngó cái xe honda của tôi kia, có thấy cái két
nước do tôi chế tạo không? Chạy bốc dữ lắm nghen… Ra trường mười hai năm nay rồi.
Lúc đầu tôi đi làm ở một xưởng cơ khí đóng xà-lan trên Bình Thạnh, lương cũng
khá, nhưng… ông già kêu về quê lấy vợ, tôi bỏ nghề. Lấy vợ rồi đưa nhau lên thị
xã, tôi mở tiệm sửa xe gắn máy. Mấy năm không thấy khá, tôi bỏ tiệm cho thằng
em vợ, chạy xe ôm. Tôi mới chạy xe năm rồi, thấy khỏe hơn…
Chắc thế nào ông thầy cũng hỏi: sao lấy vợ mà phải bỏ nghề, bỏ chỗ làm? Từ một
anh kỹ sư được đào tạo chánh quy hẳn hoi lấy vợ vào trở thành anh xe ôm? Chắc vợ
tôi phải ghê gớm dữ dằn lắm? Không! Vợ tôi là một cô gái bình thường, rất dễ
thương, biết buôn bán chút đỉnh. Lấy được tôi bả mừng hết lớn, cưng chiều tôi dữ
lắm nghen! Nếu không vậy, sao bả cho tôi ra chạy xe ôm! Tôi là kỹ sư bả cũng
thương mà làm anh xe ôm bả cũng yêu! Hỏi khắp xứ nầy có ai được như vợ tôi
không? Kiếm được đồng nào tôi xài thả câu, không hề đưa cho bả đồng cắc! Nói
láo làm con ông! Một tay bả nuôi con ăn học, tôi chả héo lánh gì! Nghĩ mình sướng
thiệt! Ấy, nó cũng có cái duyên cớ, cái lý do của nó. Rồi tôi kể cho ông thầy
nghe ngay bây giờ đây… Tôi nói con nhỏ chủ nhà xếp phòng cho ông rồi, chờ chút
xíu! Nhớ đưa giấy tờ tùy thân kẻo chánh quyền làm khó dễ, nhà nầy giờ là đối tượng
làm khó nha!
Lại thế nữa! Nhưng mà có khi thế lại hay, biết đâu chẳng ẩn chứa một câu chuyện
đời nào, cũng như anh chàng Thức kỹ sư – xe ôm này, khối chuyện! Thức nhón một
hột đậu phộng, thả vào cái miệng rất lém, vừa nhai vừa hỏi:
-Hồi nhỏ đi học, ông thầy có thương ai không? Thương con nhỏ nào cùng lớp ấy?
Có hả! Nhìn tướng biết mà. Hồi học cấp 3, tôi có để ý một nhỏ cùng lớp, cùng tuổi,
tên Huệ. Nhà tôi ở trong ruộng, học lên cấp ba tôi phải ra thị trấn, trường cấp
ba hồi nãy vừa đi ngang đó. Nhà Huệ ở Vĩnh Nguơn, cách xã tôi một con kênh, Huệ
có xe máy (tức là xe đạp đó, còn xe gắn máy thì gọi là Honđa, ông có nghe dân tụi
này kêu vậy không?), còn tôi đi bộ. Thấy tội nghiệp, Huệ cho tôi quá giang xe,
đến bờ kênh có cây cầu khỉ thì Huệ về, còn tôi leo qua, đi bộ chừng hai cây số
về nhà! Sáng sớm mai, ai ra trước lại chờ nhau ở đó. Riết hai năm chúng tôi
thân nhau, tụi bạn đứa nào cũng bảo thằng Thức bồ với con Huệ rồi! Hình như Huệ
cũng thích tôi, vậy mà tôi thì chỉ hơi thinh thích thôi, không mê, mà lại còn sợ
nữa! Cũng không biết là sợ cái gì, chỉ thấy nếu mình thương Huệ thì kỳ quá!
Học hết lớp 11, Huệ lấy chồng! Tin đó làm tôi bải hoải tâm thần! Hình như tôi
thương Huệ thiệt, chỉ đến khi Huệ đi lấy chồng tôi mới thấy mất con cá! Con cá
biệt tăm, còn tôi đâm ra làm thơ, làm nhiều lắm, chẳng cần vần điệu, quy tắc
nào hết! Một cậu trai 17 tuổi thất tình làm thơ thì ít mà lấy thơ của người
khác, chế thành của mình cũng có. Tỷ dụ như:
“Bướm vàng đậu đọt mù u;
Lấy chồng chi sớm, lời ru sẽ buồn;
Tôi về nhà lấy vợ luôn;
Vợ tôi không đẹp, nhưng buồn lấy chơi!”
Vậy đó! Tức cười há? Năm sau tôi tính nghỉ học nhưng ông bà già không cho, hứa
mùa tới bán lúa mua xe đạp cho tôi, đành nghe theo vậy. Ngày đầu tiên tới trường
mà không còn Huệ, tôi lê đôi chân dài thoòng của mình qua cầu khỉ. Đang rầu
thúi ruột gan, tôi nghe tiếng con gái sau lưng: “Ếp ếp!” Ông cũng biết hả? Đó
là tiếng ra hiệu cho xe đạp tránh đường, cái kiểu “chuông” của dân xứ tôi là vậy
đó! Tôi nép qua một bên, quay đầu lại thì, trời ơi… Huệ! Huệ lấy chồng mà còn
đi học? Lại trẻ ra, đẹp hơn nhiều lần! Sao bảo lấy chồng cực lắm mà? Huệ nhìn
tôi cười, rồi đạp vù qua mặt tôi như chưa từng quen biết! Tôi xây xẩm mặt mày,
tay chân loạng quạng. Được một chút tôi bình tĩnh lại nghĩ: “Thôi, buồn mà làm
chi Thức ơi, thiếu gì người đẹp hơn Huệ! Cái thứ người bạc tình vậy thì thương
nhớ làm chi cho uổng hơi! Cứ thế tôi đi như chạy đến trường.
Được một khúc khá xa, tôi thấy Huệ dừng xe bên đường, dáng bộ lúng túng, nhìn
tôi như cầu khẩn. Tôi vờ như không thấy, cứ ngó thẳng và đi thẳng. Được mấy bước,
Huệ gọi tôi:
-Anh Thức!
Nghe giọng như muốn khóc của Huệ, tôi thấy hả hê trong bụng lắm, không thèm dừng
lại. Nhưng nghe kêu “Anh Thức!” lần nữa, tôi không cầm lòng được, quay cổ lại,
lạnh lùng:
-Chi vậy?
Huệ lấy ống tay áo lau nước mắt:
-Cái xe máy của em… bị sút sên!
Ra vậy! Tôi quay lại, không ngó Huệ, ra tay “anh hùng tiếng đã gọi rằng”, lắp lại
cái xích xe đạp. Huệ đứng giữ cho cái xe khỏi ngả, ngó tôi làm, tôi thấy nóng
nóng trên đầu. Bỗng Huệ hỏi:
-Anh có phải là anh Thức, con bác Tám bên Vĩnh Hoà không?
Trời đất ơi! Tôi ngó lên thấy đoii mắt của Huệ đã lung liêng cuời cuời. Tôi hỏi
lại:
-Sao Huệ hỏi tui kỳ vậy?
Lần này thì Huệ cười rất giòn:
-Em đâu có phải Huệ! Chị Huệ lấy chồng qua bên nhà chồng ở Kinh Xáng rồi!
-Vậy chớ… Tôi lấy tay quệt mồ hôi trên trán, nhìn cô gái ấp úng.
-Em là Huệ Em, em của chị Huệ! Bộ anh tưởng em là Huệ hả!
Tôi lặng người sung sướng, trao xe cho Huệ Em, cười gượng gạo:
-Sao hai chị em giống nhau quá vậy?
Huệ Em giục:
-Trễ giờ học mất rồi! Anh chở em tới trường nghen!
Tôi ngoan ngoãn nghe theo Huệ Em. Ngồi sau lưng tôi, Huệ Em giải thích:
-Em tên Huệ Em, còn chị Huệ là Huệ Chị! Kỳ vậy đó!
– Ừ, kỳ thiệt!
Từ đó, tôi không còn Huệ Chị, nhưng tôi đã có Huệ Em. Huệ Em mới lên cấp 3, học
lớp 10! Mỗi ngày tới trường tôi cùng Huệ Em chở nhau trên chiếc xe đạp màu xanh
của em. Một hôm Huệ Em hỏi tôi:
-Hồi đó anh thương chị Huệ thiệt hả?
Tôi im lặng một hồi rồi quay qua nhìn thẳng vào mắt Huệ Em:
-Ai nói với em vậy?
-Hổng có ai nói hết! Em cảm thấy…
Lần này, tôi đã có chút kinh nghiệm, quyết không để mất con chim vàng của mình
nữa:
-Thế bây giờ em có cảm thấy gì không?
Huệ Em không nói, em ôm cặp trước ngực một mình đi trước, tôi dẫn xe theo sau.
Lát sau Huệ Em hất mái tóc ngược ra sau vai, ngẩng lên nhìn tôi:
-Em giống chị Huệ không?
Trời ơi! Đôi mắt đen ươn ướt của Huệ Em, đôi mắt mà sau này tôi mới biết nó báo
hiệu cho một cuộc đời nhiều đa đoan, sóng gió… Nhưng lúc ấy đôi mắt ấy nhìn tôi
với bao thách thức. Huệ Em đang ở vào tuổi trăng tròn, thân hình còn những khiếm
khuyết của người con gái đang lớn. Vẻ đẹp của Huệ Em như bông hoa hàm tiếu,
chưa ai nỡ đụng tới, chưa gây cho người ta khát vọng chiếm đoạt…
-Còn hỏi! Bữa gặp em lần đầu, anh nhầm em với Huệ, nhớ không? Hồi đó anh không
có thương Huệ, chỉ thấy có cái gì đó kỳ kỳ. Chỉ khi Huệ lấy chồng anh mới thấy
buồn! Một khoảng trống mênh mông, mất mát! Giờ có em… Tôi buông lửng câu nói,
Huệ Em nhìn tôi rồi bất ngờ hỏi lại:
-Trám vô cái khoảng trống đó?
******
Đúng
là tôi đã “trám” Huệ Em vào cái khoảng trống trong trái tim tôi. Khoảng trống
mà một lần trong đời thằng con trai nào cũng dễ có, hay đúng hơn, tưởng đó là
khoảng trống. Cuối năm thi tốt nghiệp lớp 12 xong tôi đến chơi nhà Huệ Em, lấy
cớ tặng em mấy cuốn sách và trao đổi chút kinh nghiệm của người đi trước, cũng
đường hoàng, đạo mạo lắm nghe, đồng thời cũng là để từ biệt em trước khi lên
Sài Gòn thi đại học. Trên đường đi tôi định bụng sẽ làm cho thiệt bảnh, để cho
mọi người thấy rằng tôi và Huệ Em đã thương nhau rồi. Nào ngờ, khi tới nhà, tay
chân miệng lưỡi tôi để đâu hết, cứ xớ rớ như người đi muợn bạc. Huệ Em nắm tay
tôi dẫn thẳng vô nhà, giới thiệu với má:
-Anh Thức bên Vĩnh Hoà, hồi đó học chung lớp với Huệ Chị đó má! Rồi tự nhiên Huệ
Em che miệng cười rúc rích. Bà má đang ngồi trên võng thấy con gái cười, bà mắng:
-Con nhỏ này “vô duyên” thiệt! Có bạn tới nhà chơi thì rót nước mời khách, chớ
có chi bây cười?
-Hồi đó Huệ Chị lấy chồng ảnh buồn tính bỏ học đó má ơi! Ngày mai ảnh lên Sài
Gòn thi đại học, bữa nay ảnh qua tính…
Tôi lặng người, không biết nói sao, cứ cười như thằng trệt. Má Huệ Em cũng cười,
nhìn tôi:
-Nó lấy chồng thây kệ nó, bây còn tính gì?
-Ảnh tính “trám” Huệ Em vô chỗ Huệ Chị đó má!
Nói rồi Huệ Em cười ré lên, bỏ chạy xuống bếp, để tôi một mình chịu trận với bà
già. Tôi sung sướng đến ngây ngô như người trúng số độc đắc, cứ mân mê trong
tay cái nón kết. Bà má thấy tội nghiệp, sai tôi leo lên cây dừa bẻ mấy trái xuống
cho bả… uống nước! Thức ngừng kể, cầm ly uống một hơi. Tôi dè dặt hỏi:
-Vậy bà xã anh bây giờ là Huệ Em?
Thức không trả lời vì đang dở hớp bia, anh khua tay ra hiệu. Lát sau, anh rầu rầu:
-Được vậy thì còn nói chi! Làm gì có chuyện kể cho ông nghe lúc này… Tôi thi đậu
Đại học bách khoa, học năm thứ tư thì gia đình bên tôi qua nhà Huệ Em để người
lớn nói chuyện. Lúc này Huệ Em đang học trung cấp thống kê bên Cần Thơ. Chúng
tôi thống nhất để khi nào Huệ Em ra trường về công tác ở huyện thì chúng tôi
làm đám cưới. Còn tôi do học khá nên được Xí nghiệp cơ khí Thanh Đa nhận vô làm
việc liền. Huệ Em về huyện công tác được một thời gian mà tôi thì bận quá chưa
về tính chuyện cưới hỏi được, nên chỉ thỉnh thoảng mới gửi thư về cho Huệ Em.
Huệ Em cũng gửi thư cho tôi thường xuyên, lời lẽ tình ý trong thư nồng thắm lắm.
Bỗng dưng, ba tôi nhắn về gấp để lo chuyện cưới vợ. Tôi phải xin phép khó khăn
lắm giám đốc mới cho nghỉ.
Về đến thị trấn trời vừa sập tối, tôi chạy như bay về nhà. Nhưng như người ta
thường nói: khi người ta yêu trái tim đã bị mù! Tới cây cầu khỉ, thay vì về
nhà, tôi lại thẳng đến nhà Huệ Em. Hăm hở, tự tin như một chàng rể quý, tôi
phóng thẳng vào giữa sân. Con chó vàng thấy tôi thì hực lên một tiếng rồi vẫy
đuôi mừng ríu rít. Trong nhà cây đèn khí đá sáng chói mắt, ba của Huệ Em và một
người đàn ông đang ngồi bên bàn nước. Tôi lén ra sau bếp tìm người yêu. Huệ Em
đang ngồi một mình, im lặng bên nồi cám heo. Thấy tôi, Huệ Em giật mình, lộ vẻ
hốt hoảng rồi quay mặt đi, bối rối. Tôi ngồi xuống bên cạnh, tính hôn đại một
cái lên tóc Huệ Em, nhưng em né tránh. Tôi hỏi sao vậy, Huệ Em ngồi im lặng một
lúc rồi thổn thức khóc. Đúng lúc ấy thì má của Huệ Em đi vô, bà nhìn tôi bằng
cái nhìn rất kì lạ, rồi hỏi:
-Thằng Thức về hồi nào?
-Dạ, con mới về tới.
-Bây đã về nhà chưa? Chưa hả?
Tôi lo lắng hỏi lại:
-Ủa! Sao má biết? Nhận được thơ của ba con, con phải xin mãi ông giám đốc ổng mới
cho nghỉ phép một tuần. Về tới chợ trời vừa tối, con về đây trước rồi chút về
trong trỏng…
Bà má không trả lời tôi, loay hoay với cái gì đó trên tay rồi đi lên nhà trên.
Thấy mọi người im lặng, tôi đoán chừng có chuyện gì xảy ra, nhưng không dám hỏi.
Lát sau có tiếng ba của Huệ Em:
-Con Tư đâu rồi? Anh Năm về kìa!
Huệ Em uể oải đứng dậy, tôi cũng đứng lên theo. Ông già xuống bếp nhìn thấy
tôi, ổng không ngạc nhiên mà tỉnh khô:
-Thằng Thức lên đây tao có câu chuyện muốn nói!
Huệ Em tiễn Anh Năm nào đó, rồi ra sau bờ mương, tôi lên nhà, rón rén ngồi xuống
chiếc ghế đối diện với ba của Huệ Em. Ông già bối rối vân vê vấn điếu thuốc rê
mấy lần toàn bị rách giấy. Tôi lấy bao thuốc chìa ra mời:
-Ba hút thuốc này nè…
Ông già dục nhúm thuốc xuống sàn nhà, cầm điếu thuốc của tôi, châm lửa phả khói
mù mịt một cách nặng nhọc. Lâu sau, ông nhìn tôi:
-Bây biết ai vừa đi ra đó không?
Người đó là Năm Bình, vừa trúng hội đồng huyện và sắp trở thành rể của ông, chồng
của Huệ Em! Tôi không nghe ông già giải thích và hình như ổng cũng không giải
thích gì cả. Tôi lặng lẽ xách cái giỏ nghèo nàn của mình ra khỏi nhà Huệ Em mà
không chào ai. Qua cổng, tôi thấy bóng Huệ Em trong lùm cây thiết mộc lan, hình
như có tiếng gọi “Anh Thức!”, nhưng tôi im lặng. Chỉ có con chó vàng là ríu rít
quấn lấy chân tôi, đưa tiễn. Tôi không về nhà, lội bộ ra thị trấn, đón một chiếc
xe lên thẳng Sài Gòn.
******
Thức
kỹ sư đưa tôi đến trước một ngôi biệt thự màu mè, có vẻ lạc lõng với khung cảnh
đìu hiu của thị trấn. Một thiếu phụ chạy ra mở cổng mà không nói gì. Thức chống
xe giữa sân, nắm áo kéo tôi đi theo người thiếu phụ, chính là chủ ngôi nhà. Chủ
nhà kéo mở cánh cửa một căn phòng, có cửa sổ nhìn ra con lạch nhỏ xanh ngắt lục
bình. Thức đẩy tôi vào:
-Ông thầy có thể ở mấy ngày cũng được, chừng nào xong việc thì trả tiền cho chủ
nhà. Đoạn anh ta quay sang người thiếu phụ. Bây nói lấy ông thầy nhiêu?
Thiếu phụ ngước đôi mắt ánh màu xanh pha chút hoàng hôn đang đỏ cháy ngoài sông
nhìn tôi như thể ước lượng:
-Dạ, chú là bạn của anh Thức, cho nhiêu cho…
-Bậy nào! Ông thầy là bạn tao thiệt, nhưng ở thì phải trả tiền. Thôi, như đã
nói với bây, lấy người ta một trăm, lấy ổng năm chục một ngày đêm! Ông thầy thấy
được không?
Tôi như người ngoài cuộc bị hỏi bất thần, lúng túng:
-Tùy chị chủ nhà!
-Xong! Thức khoát tay. Còn ăn uống ông thầy ra ngoài quán Bảy hồi nãy đó!
Thức quay đi mà không chào ai, tôi chạy với theo:
-Như thế có thiệt quá không, anh Thức?
Anh chàng xe ôm nhìn tôi tỏ vẻ khó chịu:
-Thiệt thòi gì!
-Bà con à?
Vẫn cái nhìn khó chịu, nhưng đã dịu hơn, Thức nắm tay tôi kéo đi một quãng, giọng
anh nhỏ xuống:
-Ông thầy nghe nầy, Huệ Em mà tôi đã kể cho ông thầy nghe, vợ Năm Bình chủ tịch
huyện đó! Năm Bình vừa mới nổ súng lục vào đầu tự sát, báo chí làm um sùm lên
ông thầy có nghe không? Y tự vẫn, để lại ngôi biệt thự nầy với ba đứa con. Tôi
thấy ngôi nhà lớn quá bỏ uổng, bảo nó cho người lỡ đường nghỉ, kiếm thêm…
-Trong nhà có ai nữa không?
-Có! Bà già Huệ Em đang ở trỏng, nhưng tôi không muốn gặp! Ông thầy cứ nghỉ cho
thoái mái, chừng nào tìm thấy cô Lan thì hãy đi… Nhớ tìm cho được người ta
nghe, ông thầy!
Tôi trở lại căn phòng bắt đầu chập choạng ánh chiều. Vẻ đìu hiu của thị trấn đã
tràn vào tận đây. Cứ để nguyên cả áo quần, giày vớ, tôi nằm vật ra giường…
Thức ơi, anh nhầm rồi, Lan của tôi là một người xinh đẹp nhất trong những người
xinh đẹp, chung thủy nhất trong những tấm lòng vàng. Hai mươi năm trước, Lan đã
đi qua cuộc đời tôi như một ánh chớp, một dòng xoáy, nàng cũng ra đi như Huệ em
hay Huệ chị của anh và mang theo niềm hy vọng của tôi! Thế nhưng, may sao Lan của
tôi không có thật! Không bao giờ có thật. Nàng chỉ là tưởng tượng của tôi từ
trong sâu thẳm trái tim một thời thơ dại! Nàng mãi mãi là nỗi nhớ thương da diết
trong tôi! Và nếu như nàng có thật trong cuộc đời này, nàng sẽ hạnh phúc, trong
khoảnh khắc và lâu dài mãi mãi trong trái tim tôi, trong vòng tay tôi! Ngày
mai, trong cái thị trấn nhỏ bé, vừa thân thuộc thương yêu, vừa xa cách lạ lùng,
tôi sẽ đi tìm nàng!
Tôi thiếp đi trong giấc ngủ mệt mỏi, mơ mòng. Khi tôi tỉnh dậy đêm đã khuya,
khuya lắm rồi!
Hoàng
Đình Quang





