Saturday, February 28, 2026

Dì Tôi Người Nữ Tu Bạc Mệnh - Thuyên Huy

Dì Tôi – Người Nữ Tu Bạc Mệnh

     Đứng trước ba nấm mồ đất, nằm cạnh bên nhau, cuối góc sân sau nhà, hai của ngoại và má, đất đã khô cằn, lẻ loi hai ba bụi hoa dại trắng cố chen kẻ nứt vươn lên, một của dì ba , còn thơm mùi đất bùn, vừa đấp hai ngày qua, mấy cây nhang thơm mà dì mua trên chợ xã, để cúng ngoại cúng má từ ngày đó đến giờ, cắm chia đều ba bên, lập lòe cháy trước ba tấm mồ bia bằng gỗ, do bác thợ mộc nhà đầu xóm bên bờ này sông khắc giùm, có họ tên, không có hình, cũng như ba ngày qua, sau ngày đám tang dì, đám tang không kèn không trống nhưng có được tiếng cầu kinh, làm phép giải tội của ông cha già, cha xứ cái nhà thờ nhỏ, ở cuối con đường ngang bến xe xã, tôi không khóc nhưng nước mắt cứ ứa ra, tràn xuống mặt, nghẹn lời, môi mặn đắng.

*

   Chưa quá hai tuổi thì ba đã bỏ đi xa, đi không về, từ đó. Nghèo nhưng trời còn thương, nhà vách ván mái tranh, có được miếng đất sau tốt, ba bốn bụi chuối già quằng trái, má và dì trồng cả chục luống khoai lang khoai môn, nên bán cũng kiếm được, không thiếu không dư.




   Không may, má tôi mất vì bệnh xơ gan bộc phát sau mấy ngày mấy đêm, hết nhà thương quận tới nhà thương tỉnh, bà ngoại chôn má ở xéo góc cuối miếng đất trồng khoai, ở đó chừa ra một khoảng trống, theo lời ngoại là để dành sau này cho ngoại nằm ngủ, hôm đám tang, người lớn khóc, trong tay dì tôi cũng khóc, với cái tuổi con nít lên năm, cứ khóc như những lần khóc đòi ăn đòi bú vậy thôi.

    Dì ba Thắm học tới lớp đệ Ngủ trường dưới quận rồi nghỉ, ở nhà phụ  ngoại già yếu quá rồi, nhà chỉ còn ba bà cháu, nhà có cái xuồng ba lá, mà má và dì thường chèo hái bông Súng ngoài sông lớn. Sau ngày nghỉ học, sáng sớm hừng đông dì chèo xuồng chở khoai lang khoai môn, năm ba nải chuối, cộng thêm ba mớ xà lách, cà tím cà chua, dưa leo trồng được ở nhà qua bên kia sông, cột xuồng ngay cái cầu cây cũ, gánh lên chợ xã bán, tan chợ, chèo xuồng về, cất dọn, lo cơm lo nước, từ chỗ này lên chợ xã gần xịt, gần hơn là đi theo con đường dọc bờ sông xóm nhà tôi bên này lên tới cây cầu đúc xi măng bắt ngang, nếu không ở đầu trên, bà con đi chợ quá giang xuồng dì, mới đầu quá giang, riết rồi với người bên này bên kia qua lại, dì tự nhiên trở thành cô lái đò ngang dễ thương dễ mến, có tiền họ trả cho mỗi lần qua lại.

*

    Xóm tôi ở bên này nhánh sông, bên kia sông là chợ xã, có bến xe lam chạy xuống quận, trường tiểu học nằm sau chợ xã không mấy xa. Xóm có chừng trăm nhà, nghèo như nhau, phần lớn làm ruộng, nhà nằm không xa không gần cạnh bờ sông, cái tranh cái ván, ngó ra con đường đất chạy dọc theo bờ tới cái cầu xi măng đúc, cách mấy cái nhà đầu xóm chừng đâu đó chắc hơn một hai cây số, ở trên đó có cái nhà làm bún và cái khác làm bánh tráng, tương đối tiền ra tiền vô, có xe đạp xe kéo. Trong xóm có chừng hơn hai chục đứa trai gái, cùng học trường tiểu học xã, mấy đứa gần nhà thì cùng tôi theo xuồng dì đi học, đám ở đầu trên lội bộ qua cầu, ngày qua tháng lại, xuân hạ thu đông, nắng sáng mưa chiều, cứ vậy, xóm bên này nhà tôi vẫn là xóm nghèo.

    *

    Tôi lên lớp Ba trường xã thì ngoại mất, mất vì tuổi già chứ không vì bệnh như má, mồ ngoại chôn bên cạnh mồ má, bây giờ tôi mới hiểu, lời ngoại khi chỉ miếng đất kế bên mồ má, để ngoại ngủ có nghĩa gì. Ngoại mất nhà chỉ còn lại hai dì cháu, dì ba lúc bấy giờ chắc cũng hơn hai mươi, dì ba đẹp lắm, tôi không biết đẹp như thế nào nhưng bà con hàng xóm ai cũng nói như vậy, bên chợ làng cũng có nhiều anh chàng ngắm nghía, hỏi qua lời lại nhưng dì chỉ cười, không nói gì thêm, có một vài gia đình, bên chợ cũng như người quen hàng xóm,  nhờ người nhắn tin, muốn dạm hỏi dì, dì cười luôn miệng bảo “chờ dì nuôi tôi học xong trung học, tới chừng đó dì mới tính chuyện vợ chồng nếu họ còn chờ được”, hơn mười năm nữa, liệu người ta có chờ hay dì đã quá tuổi xuân rồi, ai biết.

    Ở nhà, bên chợ, hai dì cháu hủ hỉ với nhau, tôi cũng bắt đầu biết buồn hơn, biết nhớ má hơn từ những ngày tháng đó. Dì an ủi dỗ dành mỗi khi nhắc tới bà tới má, bên nhau lúc nào dì cũng nhắc đi nhắc lại là dì sẽ không đi đâu, sẽ ở đây với tôi như đã nói với người ta, chòm xóm. Ngày qua ngày đời sống của dì cháu cứ vẫn vậy, giỗ má giỗ ngoại cũng một dì một cháu, cây nhang, chùm bông trước mồ cũng một cháu một dì.

*

   Năm tôi lên đệ Nhị trường quận, dì vẫn sớm trưa hai chuyến xuồng đi về như ngày cũ, dì bây giờ trông già hơn trước, thấy mà thương, thương không biết nói sao cho vừa, nhưng vẫn đẹp, bà con đều nói vậy, và dì thường đi lễ chiều, ở cái nhà thờ cũ, nhỏ trên bến xe xã, có ông cha xứ già, người làm phép giải tội cho ngoại cho má về cỏi Chúa, thường hơn và vui hơn, vui mà hỏi thì dì chỉ cười, cái cười trọn tình của mẹ.

   Đậu tú Tài Một, rồi Hai, tôi vẫn đi về căn nhà xóm nghèo bên sông cũ, dì bớt chèo xuồng qua chợ hơn, xem ra dì đang chuẩn bị, lo lo cái gì đó mà dì không nói nhưng không buồn, hảnh diện với chòm xóm, có thằng cháu sắp vào Đại học dưới Sài Gòn, xã này không có mấy ai.

   Hôm xuống Sài Gòn lo chỗ ăn chỗ ở đi học dì cũng cùng đi, cũng nhờ ông cha già nhà thờ xã giới thiệu chỗ cho học trò ở trọ của nhà thờ Đắc Lộ, ngã tư Bảy Hiền, mọi việc êm xuôi, hai di cháu ra làm quen với đường phố ngựa xe như nức áo quần như niêm của Sài gòn phồn hoa đô hội, ăn bữa cơm chay mà ngon bên đường Hàm Nghi rồi trở ra bến, chờ chuyến xe đò cuối ngày về lại nhà.

*

   Một chiều nắng muộn, vài ngày trước khi xuống Sài Gòn vào học, ngồi bên nhau trên cái gốc cây cũ mà hai dì cháu thường ngồi, nhìn đám lục bình rực đầy bông tim tím trên nhánh sông quê chầm chậm, lững lờ trôi, lần đầu và cũng là lần đầu, tôi thấy có đượm một chút buồn trong mắt dì, dì nhìn tôi thật lâu, mĩm cười rồi cho biết, “lời nguyện lo cho con ăn học tới chốn tới nơi dì đã làm tròn, hai dì cháu sống đùm bọc, sẻ chia buồn vui cũng trọn vẹn, tất cả nhờ ơn Chúa, với dì như vậy là đã đủ mãn nguyện, bụi hồng trần, tuổi xuân thì với dì chỉ là phù du cát bụi, dì đã chọn đường tu và chi có đường tu mới cho dì hạnh phúc. Dì sẽ vào chủng viện dòng nữ tu “Mến Thánh Giá” trên Đà Lạt, mọi việc đã sắp xếp xong hết rồi, ở nhà con thay mặt dì, trông coi trước sau, luôn nhớ đốt nhang, châm nước cho mồ ngoại và má, mỗi khi nghỉ học về lại nhà, luống khoai, cụm cải, dây cà không cần lo, thấy buồn thì tưới cho vui, dì đã nhờ thiếm sáu nhà bên cạnh lo giùm, khi có trái có củ, thiếm cứ nhổ, hái, đem đi bán tiền bạc đưa cho con, bao nhiêu  cũng được, con biết rồi thiếm sáu tốt bụng lắm, ngày giỗ ngoại giỗ má dì sẽ về, con yên tâm, hai dì cháu, ngoại và má, cả gia đình mình chung vui”.

    Dì ngưng nói, nhìn ra trời xa xa rồi nhìn chiếc xuồng ba lá, chiếc xuồng đã cùng dì buồn vui hơn nửa đời người, cột lững bên gốc cây Bình Bác dưới bờ sông trước nhà, vài vệt nắng chiều tàn bỏ đi muộn chiếu ngang, mắt dì đỏ hoe, rươm rướm lệ. Tôi bật khóc thành tiếng.

*

    Ngày đi, hai dì cháu dậy sớm hơn thường ngày, ăn sáng với mấy củ khoai lang mà dì nấu hôm qua, coi qua coi lại đồ đạc đem theo, thật ra cả hai dì cháu không có gì mà phải coi , tôi thì một túi vải hơi lớn, mấy bộ đồ, năm ba cuốn sách và mấy thứ đồ dùng cá nhân lặt vặt, dì chắc ít hơn, chỉ thấy gọn gàng một túi xách nhỏ, vậy thôi. Dì đi ra sau tới trước, coi lại cửa nẻo, tôi đứng nhìn, xong xuôi, dì lấy trong túi xách ra một bao vải cở bằng cái bóp đựng giấy tờ, căn cước linh tinh của tôi, hai dì cháu ngồi xuống bàn giữa nhà, cái bàn vừa là bàn ăn vừa là bàn học, dì đưa cho tôi cái bao vải, từ tốn nói nhỏ “ trong này là số tiền dì dành dụm từ đó đến nay, không nhiều lắm nhưng tiện tặn thì không phải lo, dì cho con giữ để phòng thân, dì đâu có cần nó nữa”, tôi nhìn dì, nghẹn lời, một lần nữa bật khóc như đã có lần khóc. Mặt trời rựng hồng lên bên kia sông, ngang qua nóc nhà lồng chợ xã, hai dì cháu tay cầm tay mang hai túi vải, thả bộ ngược lên đầu trên xóm, qua cầu tới bến xe lam đi xuống phố quận, ở đó, đón chuyến xe đò lỡ sớm đi Sài Gòn.




*

   Trên bến, hành khách lần lượt lên, chuyến xe đò Đà Lạt Sài Gòn, quá giữa trưa rục rịch nổ máy, dì nắm tay, dặn dò ráng học mấy lần, hứa sẽ về ngày giỗ của má của ngoại, nước mắt tôi ứa ra, môi tôi mặn đắng, tôi ôm chầm lấy dì, không cầm được lòng, cố nén nhưng bật khóc. Xe chầm chậm ra đường, dì vẫy tay, tôi đứng chết trân, gật đầu, gọi vọng theo “dì ơi, dì ơi”, hai dì cháu xa nhau từ đó, thui thủi trở lại đón xe lam về Bảy Hiền.

    Đêm đó tôi thức suốt tới sáng, cứ nhớ cứ thương dì vô hạn, biết bao giờ, khi nào mới đền đáp được công lao nuổi dưỡng thay cho tình người mẹ suốt nửa đời thanh xuân, để rồi, tôi không dám nghĩ xa hơn. Từng hồi nhẹ nhàng lễ sáng, chuông nhà thờ Đắc Lộ vang vọng lên, trầm trầm, chầm chậm, ngã tư Bảy Hiền thức giấc.

*

    Ngày giỗ má, giỗ ngoại dì không về, nhận được thư dì gởi về trước đó mấy ngày, cho biết, dì không được phép của mẹ bề trên theo quy luật và nội quy của chủng viện, dì viết biết tôi buồn lắm nhưng dì cũng không hơn, cuối thư cho dì xin lỗi, dặn tôi ráng lo thay dì, nhứt định năm sau sẽ về.

    Bữa cúng giỗ của má của ngoại, lần nào cũng vậy, từ Sài Gòn về, tới đâu đó cũng quá trưa, tôi ghé ngang qua cái tiệm cơm bên bến xe xã, mua nửa con gà luộc, tô cơm trắng, miếng thịt heo nướng, tạt ngang quán mua thêm vài cái bánh ngọt, cái quán ngày còn học trường làng mà tôi và đám bạn giành nhau mấy cái bánh tai heo giòn mỡ, chờ trống trường vào học sáng. Vậy đó, lần nào cũng vậy, ngồi nhìn mâm cúng trên bàn, nhìn nhang lập lòe cháy rồi nhìn ra bờ sông, cũng như ngày dì ra đi, cái xuồng ba lá cột lững bên cây Bình Bác cằn cỗi vẫn nằm im chờ người mà buồn dịu vợi. Má, ngoại có về nhưng không có dì như đã hứa, chắc má, ngoại cũng buồn như tôi.

*

    Trên đường về Sài Gòn, dì mất vì một tai nạn đụng xe trên đường tới đèo Chuối, Bảo Lộc, trong một buổi sáng mù sương, mưa như trút nước, mất ngay cái ngày mà dì đã chuẩn bị mấy hôm qua, về để làm giỗ má như đã hứa. Người ta đưa xác dì về chủng viện, tẩm lịm, rồi họ nhờ sự giúp đở của chính quyền tỉnh, quan tài và những thứ còn lại của dì, được chở về Sài gòn trên chiếc phi cơ vận tải quân sự C130.




     Buổi chiều, sau giờ cơm, ngồi bên bàn học, tôi ngã quỵ xuống sàn nhà, tim tưởng như ngừng đập, ràng rụa nước mắt khi nghe bác giám thị báo tin, bác đứng chết lặng, đỏ hoe mắt, bác chờ tôi bình tỉnh lại, bỏ ra ngoài, bước từng bước chậm khập khễnh xuống cầu thang. Rụng rời tay chân, cố đứng lên, vịn tay trên thành khung cửa sổ, nhìn xuống, ngã tư Bảy Hiền đường đông nghẹt người. Nghẹn ngào, sướt mướt, vuốt mặt, tôi khóc “dì ơi”.

*

    Từ nhà thờ, sau khi làm đủ các phép giải tội, ông cha già cha xứ và tôi theo chiếc xe lam nhỏ, đưa quan tài, chạy chậm, qua cầu, men theo đường bờ sông về nhà, mấy chú bác hàng xóm, những người đã phụ giúp việc chôn cất ngoại và má trước đây, lại một lần nữa chôn cất dì, ba ngôi mồ nằm cạnh nhau, cùng một mùi đất nhà. Xong xuôi, mọi người bỏ đi rồi, ông cha già nắm tay từ giã ra về, chiếc xe lam quay đầu trở ra đường cũ, tôi đứng nhìn theo ông, nát lòng buồn.

*

    Trời dịu nắng, có chút mây mùa thu lãng đãng về gần, bên kia sông,  mấy cây nhang trước mồ tàn từ lâu, những lời van vái má, ngoại, dì yên nghỉ lập đi lập lại mấy lần, không biết nói gì thêm nữa, đau buồn khôn xiết nhưng cũng đành thôi, có tiếng chuông nhà thờ bên chợ xã vọng về, chiều lưng lửng xuống, thui thủi một mình, chấp tay xá lạy, căn nhà lặng vắng, tôi vĩnh viễn mất dì, dì tôi, người nữ tu bạc mệnh từ hôm đó.

 

Thuyên Huy

Một ngày mưa 2026

   

  

  

     

 

  

No comments: