HỠI NGƯỜI DƯỚI THẾ TÌNH LÀ VẬT CHI?
Trong “Thần
Điêu Đại Hiệp”, nhân vật Lý Mạc Thu hận tình, trúng độc hoa tình, vừa chạy vào
biển lửa ở Tuyệt Tình Cốc, vừa ngâm:
Hỡi người
dưới thế tình là vật chi
Hẹn nhau
sanh tử cùng đi
Vũ Thế
Thành
Mấy chục năm trước đó, khi mới độ 16, Lý Mạc
Thu cùng tình nhân, Lục Triển Nguyên cưỡi ngựa rong ruổi, thề non hẹn biển.
Chuyện trăm năm không thành, Lục Triển Nguyên bội ước, lấy vợ. Lý Mạc Thu sinh
hận, biến thù hận thành sự tàn độc, chết chóc. Dù người tình và vợ đã mất, nàng
vẫn báo thù, giết hết toàn gia con cháu họ Lục, đầy tớ, heo gà chó cũng không
tha. Không chỉ thế, nàng giết người bừa bãi, không cần lý do, gây thù chuốc oán
khắp nơi.
Lý Mạc Thu là đệ tử đời thứ ba của phái Cổ Mộ
(cùng thế hệ với Tiểu Long Nữ – sư muội của cô). Phái Cổ Mộ do Lâm Triều Anh
sáng lập, thuộc chính phái. Võ công chính là Ngọc Nữ Tâm Kinh, Ngọc Phong
Châm, Băng Phách Ngân Châm (ám khí đặc trưng của phái), kiếm pháp nhẹ nhàng,
thanh thoát, khắc chế Toàn Chân giáo. Cổ Mộ có quy định khắc nghiệt, đệ tử
không được dính vào chuyện ái tình. Khi yêu Lục Triển Nguyên, Lý Mạc Thu vi phạm
giới luật nên bị trục xuất khỏi phái.
Không rõ Lý Mạc Thu học Ngũ độc thần chưởng ở
đâu (một loại võ công dùng độc dược để luyện chưởng). Võ công Cổ Mộ gốc vẫn còn
là kiếm pháp, phất trần, ngân châm, nhưng nàng đã dùng chúng theo cách độc ác,
tàn nhẫn, kết hợp độc chưởng, độc dược trở thành tà phái trong mắt giang hồ.
Trước khi ra tay, Lý Mạc Thu thường ngâm bài
thơ “Hỡi người dưới thế tình là vật chi, hẹn nhau sanh tử cùng đi” như là dấu
hiệu của sự tàn sát sắp đến.
Ban đầu tôi đọc bài thơ trên, tưởng là của Kim
Dung. Sau này mới biết- Không phải. Đó là hai câu mở đầu bài từ “Nhạn khâu” của
Nguyên Hiếu Vấn, thời Kim mạt.
Nguồn gốc bài từ thế này: Nguyên Hiếu Vấn trên
đường đi thi, gặp người thợ săn bắt được một con nhạn, giết nó. Con nhạn còn lại
thoát lưới kêu bi ai không chịu bay đi, cuối cùng lao đầu xuống đất tự vẫn theo
bạn tình. Nguyên Hiếu Vấn mua lại xác đôi chim nhạn, chôn bên sông Phần Thủy, gọi
là Nhạn Khâu (mồ chim nhạn). Cảm xúc trước cái chết của đôi chim, ông sáng tác
bài từ nổi tiếng “Nhạn Khâu”.
Hai câu thơ mà tôi trích dẫn ở trên, là hai
câu đầu trong bài từ “Nhạn Khâu”. Bài này khá dài, trong “Thần Điêu đại hiệp in
trước 75, được dịch thoát, có vần điệu, nên dễ nhớ, nhưng tôi chỉ nhớ được hai
câu. Gần 60 năm rồi còn gì.
Toàn bài từ đúng là giọng điệu tha thiết buồn
bã! Dưới đây bài từ Nhạn Khâu, được Lê Vĩnh Húy dịch nghĩa từ chữ Hán:
Hỏi thế gian tình là giống gì
Mà làm cho sống chết khôn nguôi?
Trời nam đất bắc, đôi lứa sát cánh cùng bay,
Đã chia nhau bao mùa ấm lạnh.
Càng vui sum họp càng sầu chia phôi
Mối si tình đó biết tìm đâu trên đời này?
Mịt mù tăm suốt vạn trùng mây cao tuyết cả
Cánh chim lẻ biết về đâu.
Bờ sông Phần năm xưa rộn rã tiếng trống tiếng
tiêu
Nay thành đám cỏ gai tịch mịch.
Bạn tình đã chết
Khúc Chiêu hồn nào giúp được gì
Hãy nghe kìa tiếng quỷ núi khóc trong mưa xiết
bao sầu thảm.
Khối tình chung làm trời cũng động lòng.
Bọn yến oanh rồi cũng thành đất vàng ngui
ngút.
Mối sầu này rồi sẽ truyền mãi
Để tao nhân mặc khách muôn đời sau tới khóc
thương bên nấm mộ
Còn “Lý Mạc Sầu” hay “Lý Mạc Thu” thì Lê Vĩnh
Húy đã giải thích: Trong bản gốc, trước và sau nhuận sắc vẫn là chữ Sầu, không
hiểu sao các dịch giả trước 75 lại phiên âm thành Mạc Thu. Thậm chí Húy còn giải
thích – Mạc Sầu nghĩa là “đừng buồn”. Không còn tranh cãi “Thu” hay “Sầu” đúng
sai gì nữa.
Chỉ có tôi là còn vấn vương “âm thanh dĩ vãng”
nên vẫn ngoan cố gọi là Lý Mạc Thu. Các bạn trẻ đọc bản dịch nhuận sắc cũng nên
hỷ xả cho. Dù sao, đó cũng là ký ức văn hóa của một thế hệ đọc
feuilleton, trong đó âm thanh, dù là phiên âm, cũng là một phần của ký ức.
Chưa hết, Lê Vĩnh Húy tự nhiên thòng thêm một
câu để giải thích hận tình máu lửa của Lý Mạc Thu: “Kim Dung không hề cho biết
Lý Mạc Sầu có thất thân với Lục Triển Nguyên không”. Rõ ràng y không nhét chữ
vào miệng Kim Dung, nhưng lại nhét ý tưởng mây mưa, tiền dâm vào đầu độc giả.
Tên Húy này đúng là bẩm sinh có máu… cuồng khẩu.
Hận tình, rồi hành xử cực đoan, với bàn tay
nhuốm máu của Lý Mạc Thu làm tôi liên tưởng đến một hận tình khác, cũng ở trong
Thần Điêu Đại Hiệp, cũng hành xử cực đoan, không nhuốm máu, nhưng lại tự hành hạ
chính mình. Đó là Lâm Triều Anh, sư tổ của Lý Mạc Thu.
Lâm Triều Anh yêu Vương Trùng Dương sâu đậm từ
thời trẻ. Khi ông còn là anh hùng chống Kim, hai người đã nhiều lần thư từ tâm
sự với nhau, “tình trong như đã mặt ngoài còn e”, cả hai chưa hề thổ lộ tình cảm
với nhau. Bà mong chờ hai người sẽ nên duyên khi đại nghiệp thành công.
Nhưng cuộc kháng chiến chống Kim ngày càng bất
lợi, Vương Trùng Dương u uất trước thời cuộc, lui về núi Chung Nam, xây mộ sống
(Hoạt Tử Nhân Mộ) trên núi Chung Nam để tu luyện, truyền bá tư tưởng, không để
chuyện riêng tư xen vào.
Không đi được tới hôn nhân như mong đợi, Lâm
Triều Anh – từ yêu đến hận – nhiều lần đến núi Chung Nam đòi tỉ thí với Vương
Trùng Dương. Cả hai bất phân thắng bại. Bà biết thừa là ông nhường nhịn, nên
nghĩ ông coi thường mình. Lần tỉ đấu cuối, bà ra điều kiện:
Nếu Vương Trùng Dương thua, ông phải:
- Nhường Hoạt
tử nhân mộ cho bà.
- Xuất gia, tu
theo đạo nào cũng được (chi mà ghen ác ôn dữ vậy nè!)
- Chưa hết,
ông phải lập đạo quán xuất gia ở núi Chung Nam, gần cổ mộ (ghen tuyệt tự
kiểu này thì người hùng VTD coi như hết léng phéng)
Nếu Lâm Triều Anh thua, bà sẽ tự sát trước mặt
ông (Con bà nó! Có cho châu báu, cha nội VTD cũng không dám thắng).
Lần này không tỉ đấu võ công nữa, mà thi nội lực,
dùng ngón tay viết chữ trên đá (là điều không thể). Vậy mà bà thắng. Dĩ nhiên
bà dùng thủ thuật, một tay sờ vào bia đá (bôi hóa chất làm mềm đá), tay kia “khắc”
nguyên bài thơ trên đá.
Vương Trùng Dương là thiên hạ đệ nhất võ công
thời đó, kể cả nội lực, biết thừa mánh khóe của bà, nhưng không dám hó hé. Đành
ríu rít dọn đồ ra khỏi Cổ mộ, và xây cung Trùng Dương gần đó để tu hành, lập ra
Toàn Chơn giáo phái.
Lâm Triều Anh dọn về Hoạt Tử Nhân, lập ra Cổ Mộ
phái. Cũng ở mặt cực đoan khác, bà lại lập ra môn quy, môn đệ không được lấy chồng,
không được dính líu vào tình ái. Bà chỉ có một môn đệ duy nhất, và cũng là a
hoàn theo hầu bà. A Hoàn này sau thu nhận hai môn đệ là Lý Mạc Thu và Tiểu Long
Nữ. Lý Mạc Thu, như đã nói bị trục xuất vì dính tới ái tình. Còn Tiểu Long Nữ
thì sau này “phá giới” lấy Dương Qua. Mối tình “vòng tay học trò” này tuyệt đẹp
và táo bạo với luân lý xã hội thời đó. Tôi sẽ nói vào dịp khác, không bàn ở
đây.
Trở lại với mối tình hận của sư tổ, đồ tôn của
nhà Cổ Mộ. Cả hai đều là phụ nữ thông minh. Cả hai đều thất tình vì không thể
nên duyên vợ chồng như mong đợi. Một bên vì nghĩa lớn, bên kia vì thay lòng,
nhưng cả hai đều đối diện với cách ứng xử cực đoan.
Nếu Lý Mạc Thu biến tình hận thành tàn ác,
không kiểm soát được, lan tỏa thành ác nghiệp giang hồ, để sau cùng chết vì độc
hoa tình, chết trong biển lửa tại Tuyệt Tình Cốc, mà vẫn chưa ngộ ra “tuyệt
tình”. Nàng chết vì biển lửa, hay chết vì lửa tình?
Còn Lâm Triều Anh, chỉ vì lòng kiêu hãnh, háo
thắng, đã không nhận ra chuyện đời đa dạng và phức tạp, không hiểu được nỗi
lòng người mình yêu, để rồi dẫn đến ngộ nhận với những ứng xử cực đoan, cố chấp.
Bà không chấp nhận thất bại, cả trong võ công lẫn tình cảm. Bà bắt ông phải xuất
gia, ở đâu đó quanh bà, nhưng ông thanh thản với đời sống tu đạo. Còn bà cũng gần
như đi tu, không giết ai, nhưng lại tự giam mình trong Cổ Mộ, chuyên nghiên cứu
võ công để khắc chế Toàn Chơn phái. Rồi để tình yêu hóa thành cô độc lạnh lẽo,
tự hành hạ nỗi đau của mình.
Tất cả cũng chỉ vì hận tình. Nếu Lý Mạc Thu hướng
nỗi đau ra ngoài và thiêu đốt thiên hạ, thì Lâm Triều Anh lại hướng nó vào
trong và thiêu đốt chính mình. Tình yêu không làm con người trở nên cực đoan,
nhưng chính cách con người giải quyết nỗi đau mới tạo ra bi kịch.
Tình yêu đúng là nhức đầu thiệt. Viết tới đây,
tôi cũng phải thở dài:
Hỡi người dưới thế tình là vật chi
Hẹn nhau sanh tử cùng đi…
Vũ Thế Thành