Tuesday, March 3, 2026

Hỡi Người Dưới Thế Tình Là Vật Chi - Vũ Thế Thành

 HỠI NGƯỜI DƯỚI THẾ TÌNH LÀ VẬT CHI?

Trong “Thần Điêu Đại Hiệp”, nhân vật Lý Mạc Thu hận tình, trúng độc hoa tình, vừa chạy vào biển lửa ở Tuyệt Tình Cốc, vừa ngâm:

Hỡi người dưới thế tình là vật chi

Hẹn nhau sanh tử cùng đi

Vũ Thế Thành

 


Mấy chục năm trước đó, khi mới độ 16, Lý Mạc Thu cùng tình nhân, Lục Triển Nguyên cưỡi ngựa rong ruổi, thề non hẹn biển. Chuyện trăm năm không thành, Lục Triển Nguyên bội ước, lấy vợ. Lý Mạc Thu sinh hận, biến thù hận thành sự tàn độc, chết chóc. Dù người tình và vợ đã mất, nàng vẫn báo thù, giết hết toàn gia con cháu họ Lục, đầy tớ, heo gà chó cũng không tha. Không chỉ thế, nàng giết người bừa bãi, không cần lý do, gây thù chuốc oán khắp nơi.

Lý Mạc Thu là đệ tử đời thứ ba của phái Cổ Mộ (cùng thế hệ với Tiểu Long Nữ – sư muội của cô). Phái Cổ Mộ do Lâm Triều Anh sáng lập,  thuộc chính phái. Võ công chính là Ngọc Nữ Tâm Kinh, Ngọc Phong Châm, Băng Phách Ngân Châm (ám khí đặc trưng của phái), kiếm pháp nhẹ nhàng, thanh thoát, khắc chế Toàn Chân giáo. Cổ Mộ có quy định khắc nghiệt, đệ tử không được dính vào chuyện ái tình. Khi yêu Lục Triển Nguyên, Lý Mạc Thu vi phạm giới luật nên bị trục xuất khỏi phái.

Không rõ Lý Mạc Thu học Ngũ độc thần chưởng ở đâu (một loại võ công dùng độc dược để luyện chưởng). Võ công Cổ Mộ gốc vẫn còn là kiếm pháp, phất trần, ngân châm, nhưng nàng đã dùng chúng theo cách độc ác, tàn nhẫn, kết hợp độc chưởng, độc dược trở thành tà phái trong mắt giang hồ.

Trước khi ra tay, Lý Mạc Thu thường ngâm bài thơ “Hỡi người dưới thế tình là vật chi, hẹn nhau sanh tử cùng đi” như là dấu hiệu của sự tàn sát sắp đến.

Ban đầu tôi đọc bài thơ trên, tưởng là của Kim Dung. Sau này mới biết- Không phải. Đó là hai câu mở đầu bài từ “Nhạn khâu” của Nguyên Hiếu Vấn, thời Kim mạt.

Nguồn gốc bài từ thế này: Nguyên Hiếu Vấn trên đường đi thi, gặp người thợ săn bắt được một con nhạn, giết nó. Con nhạn còn lại thoát lưới kêu bi ai không chịu bay đi, cuối cùng lao đầu xuống đất tự vẫn theo bạn tình. Nguyên Hiếu Vấn mua lại xác đôi chim nhạn, chôn bên sông Phần Thủy, gọi là Nhạn Khâu (mồ chim nhạn). Cảm xúc trước cái chết của đôi chim, ông sáng tác bài từ nổi tiếng “Nhạn Khâu”.

Hai câu thơ mà tôi trích dẫn ở trên, là hai câu đầu trong bài từ “Nhạn Khâu”. Bài này khá dài, trong “Thần Điêu đại hiệp in trước 75, được dịch thoát, có vần điệu, nên dễ nhớ, nhưng tôi chỉ nhớ được hai câu. Gần 60 năm rồi còn gì.

Toàn bài từ đúng là giọng điệu tha thiết buồn bã! Dưới đây bài từ Nhạn Khâu, được Lê Vĩnh Húy dịch nghĩa từ chữ Hán:

Hỏi thế gian tình là giống gì

Mà làm cho sống chết khôn nguôi?

Trời nam đất bắc, đôi lứa sát cánh cùng bay,

Đã chia nhau bao mùa ấm lạnh.

Càng vui sum họp càng sầu chia phôi

Mối si tình đó biết tìm đâu trên đời này?

Mịt mù tăm suốt vạn trùng mây cao tuyết cả

Cánh chim lẻ biết về đâu.

Bờ sông Phần năm xưa rộn rã tiếng trống tiếng tiêu

Nay thành đám cỏ gai tịch mịch. 

Bạn tình đã chết

Khúc Chiêu hồn nào giúp được gì

Hãy nghe kìa tiếng quỷ núi khóc trong mưa xiết bao sầu thảm.

Khối tình chung làm trời cũng động lòng.

Bọn yến oanh rồi cũng thành đất vàng ngui ngút.

Mối sầu này rồi sẽ truyền mãi

Để tao nhân mặc khách muôn đời sau tới khóc thương bên nấm mộ

Còn “Lý Mạc Sầu” hay “Lý Mạc Thu” thì Lê Vĩnh Húy đã giải thích: Trong bản gốc, trước và sau nhuận sắc vẫn là chữ Sầu, không hiểu sao các dịch giả trước 75 lại phiên âm thành Mạc Thu. Thậm chí Húy còn giải thích – Mạc Sầu nghĩa là “đừng buồn”. Không còn tranh cãi “Thu” hay “Sầu” đúng sai gì nữa.

Chỉ có tôi là còn vấn vương “âm thanh dĩ vãng” nên vẫn ngoan cố gọi là Lý Mạc Thu. Các bạn trẻ đọc bản dịch nhuận sắc cũng nên hỷ xả cho.  Dù sao, đó cũng là ký ức văn hóa của một thế hệ đọc feuilleton, trong đó âm thanh, dù là phiên âm, cũng là một phần của ký ức.

Chưa hết, Lê Vĩnh Húy tự nhiên thòng thêm một câu để giải thích hận tình máu lửa của Lý Mạc Thu: “Kim Dung không hề cho biết Lý Mạc Sầu có thất thân với Lục Triển Nguyên không”. Rõ ràng y không nhét chữ vào miệng Kim Dung, nhưng lại nhét ý tưởng mây mưa, tiền dâm vào đầu độc giả. Tên Húy này đúng là bẩm sinh có máu… cuồng khẩu.

Hận tình, rồi hành xử cực đoan, với bàn tay nhuốm máu của Lý Mạc Thu làm tôi liên tưởng đến một hận tình khác, cũng ở trong Thần Điêu Đại Hiệp, cũng hành xử cực đoan, không nhuốm máu, nhưng lại tự hành hạ chính mình. Đó là Lâm Triều Anh, sư tổ của Lý Mạc Thu.

Lâm Triều Anh yêu Vương Trùng Dương sâu đậm từ thời trẻ. Khi ông còn là anh hùng chống Kim, hai người đã nhiều lần thư từ tâm sự với nhau, “tình trong như đã mặt ngoài còn e”, cả hai chưa hề thổ lộ tình cảm với nhau. Bà mong chờ hai người sẽ nên duyên khi đại nghiệp thành công.

Nhưng cuộc kháng chiến chống Kim ngày càng bất lợi, Vương Trùng Dương u uất trước thời cuộc, lui về núi Chung Nam, xây mộ sống (Hoạt Tử Nhân Mộ) trên núi Chung Nam để tu luyện, truyền bá tư tưởng, không để chuyện riêng tư xen vào.

Không đi được tới hôn nhân như mong đợi, Lâm Triều Anh – từ yêu đến hận – nhiều lần đến núi Chung Nam đòi tỉ thí với Vương Trùng Dương. Cả hai bất phân thắng bại. Bà biết thừa là ông nhường nhịn, nên nghĩ ông coi thường mình. Lần tỉ đấu cuối, bà ra điều kiện:

Nếu Vương Trùng Dương thua, ông phải:

  • Nhường Hoạt tử nhân mộ cho bà.
  • Xuất gia, tu theo đạo nào cũng được (chi mà ghen ác ôn dữ vậy nè!)
  • Chưa hết, ông phải lập đạo quán xuất gia ở núi Chung Nam, gần cổ mộ (ghen tuyệt tự kiểu này thì người hùng VTD coi như hết léng phéng)

Nếu Lâm Triều Anh thua, bà sẽ tự sát trước mặt ông (Con bà nó! Có cho châu báu, cha nội VTD cũng không dám thắng).

Lần này không tỉ đấu võ công nữa, mà thi nội lực, dùng ngón tay viết chữ trên đá (là điều không thể). Vậy mà bà thắng. Dĩ nhiên bà dùng thủ thuật, một tay sờ vào bia đá (bôi hóa chất làm mềm đá), tay kia “khắc” nguyên bài thơ trên đá.

Vương Trùng Dương là thiên hạ đệ nhất võ công thời đó, kể cả nội lực, biết thừa mánh khóe của bà, nhưng không dám hó hé. Đành ríu rít dọn đồ ra khỏi Cổ mộ, và xây cung Trùng Dương gần đó để tu hành, lập ra Toàn Chơn giáo phái.

Lâm Triều Anh dọn về Hoạt Tử Nhân, lập ra Cổ Mộ phái. Cũng ở mặt cực đoan khác, bà lại lập ra môn quy, môn đệ không được lấy chồng, không được dính líu vào tình ái. Bà chỉ có một môn đệ duy nhất, và cũng là a hoàn theo hầu bà. A Hoàn này sau thu nhận hai môn đệ là Lý Mạc Thu và Tiểu Long Nữ. Lý Mạc Thu, như đã nói bị trục xuất vì dính tới ái tình. Còn Tiểu Long Nữ thì sau này “phá giới” lấy Dương Qua. Mối tình “vòng tay học trò” này tuyệt đẹp và táo bạo với luân lý xã hội thời đó. Tôi sẽ nói vào dịp khác, không bàn ở đây.

Trở lại với mối tình hận của sư tổ, đồ tôn của nhà Cổ Mộ. Cả hai đều là phụ nữ thông minh. Cả hai đều thất tình vì không thể nên duyên vợ chồng như mong đợi. Một bên vì nghĩa lớn, bên kia vì thay lòng, nhưng cả hai đều đối diện với cách ứng xử cực đoan.

Nếu Lý Mạc Thu biến tình hận thành tàn ác, không kiểm soát được, lan tỏa thành ác nghiệp giang hồ, để sau cùng chết vì độc hoa tình, chết trong biển lửa tại Tuyệt Tình Cốc, mà vẫn chưa ngộ ra “tuyệt tình”. Nàng chết vì biển lửa, hay chết vì lửa tình?

Còn Lâm Triều Anh, chỉ vì lòng kiêu hãnh, háo thắng, đã không nhận ra chuyện đời đa dạng và phức tạp, không hiểu được nỗi lòng người mình yêu, để rồi dẫn đến ngộ nhận với những ứng xử cực đoan, cố chấp. Bà không chấp nhận thất bại, cả trong võ công lẫn tình cảm. Bà bắt ông phải xuất gia, ở đâu đó quanh bà, nhưng ông thanh thản với đời sống tu đạo. Còn bà cũng gần như đi tu, không giết ai, nhưng lại tự giam mình trong Cổ Mộ, chuyên nghiên cứu võ công để khắc chế Toàn Chơn phái. Rồi để tình yêu hóa thành cô độc lạnh lẽo, tự hành hạ nỗi đau của mình.

Tất cả cũng chỉ vì hận tình. Nếu Lý Mạc Thu hướng nỗi đau ra ngoài và thiêu đốt thiên hạ, thì Lâm Triều Anh lại hướng nó vào trong và thiêu đốt chính mình. Tình yêu không làm con người trở nên cực đoan, nhưng chính cách con người giải quyết nỗi đau mới tạo ra bi kịch.

Tình yêu đúng là nhức đầu thiệt. Viết tới đây, tôi cũng phải thở dài:

Hỡi người dưới thế tình là vật chi

Hẹn nhau sanh tử cùng đi…

Vũ Thế Thành

 

 



No comments: