Kiếm hiệp Kim Dung ở Chợ Lớn qua ngòi
bút Hàn Giang Nhạn
Hàn Giang Nhạn
bước vào lĩnh vực dịch kiếm hiệp từ giữa thập niên 50, cùng thời với các dịch
giả khác như Từ Khánh Phụng, Phan Cảnh Trung,… Riêng kiếm hiệp Kim Dung, ông dịch
7 bộ, trong đó 2 quyển: Tiếu Ngạo Giang Hồ và Lộc Đỉnh Ký đã đưa Hàn Giang Nhạn
trở thành dịch giả đầy “máu me” kiếm hiệp nhất.
Vũ Thế
Thành
Trước đó các bộ kiếm hiệp viết
feuilleton ở Hương Cảng, sau đó xuất bản thành sách. Các dịch giả Việt Nam mua
sách và dịch đăng từng ngày trên nhật báo. Chỉ đến hai bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ và
Lộc Đỉnh Ký, Hàn Giang Nhạn mua bản quyền của tờ Minh Báo, dịch feuilleton sát
nút, hôm trước báo đăng ở Hương Cảng, hôm sau vận chuyển máy bay, được dịch và
đăng ở Sài Gòn. Tiếu Ngạo Giang Hồ khởi đăng năm 1967, và kế đó là Lộc Đỉnh Ký,
với dịch giả duy nhất là Hàn Giang Nhạn. Khoảng 11 nhật báo ở Sài Gòn đặt mua
bài dịch hàng ngày, đủ thấy sức lan tỏa của kiếm hiệp Kim Dung thế nào. Riêng
Cô gái Đồ Long nổi tiếng đâu thập 60 có được dịch feuilleton, hôm trước Hương Cảng,
hôm sau Sài Gòn thì tôi không biết chắc.
Văn dịch của Từ Khánh Phụng và Phan Cảnh
Trung khá mẫu mực và nghiêm túc, chứ không nhuốm giang hồ như Hàn Giang Nhạn. Một
vài bài báo nói, Khi báo từ Hương Cảng vừa về tới Sài Gòn buổi sáng, Hàn Giang
Nhạn đi đi lại lại trong phòng và dịch ứng khẩu. Thư ký ghi chép luôn trên giấy
pelure mỏng, lót giấy than 10 bản. Mang về tòa soạn, biên tập qua loa rồi ra
nhà in luôn. Tác giả Kim Dung viết feuilleton đã ngẫu hứng, người dịch còn ngẫu
hứng hơn. Chữ nghĩa hình thành đột phá, không có thời gian suy nghĩ để trau chuốt
chữ nghĩa.
Danh tiếng của Hàn Giang Nhạn lên cao
một phần nhờ dịch độc quyền hai bộ này, nhưng phần lớn là do khả năng dịch ngẫu
hứng, rất “tay chơi” của ông. Nhiều câu dịch của ông như: Con mẹ nó, Cút con bà
mày đi, Đại công cáo thành”,… đã trở thành tiếng lóng ở thời bọn tôi.
Không khó để nhận ra, Hàn Giang
Nhạn thường để nguyên cụm từ Hán Việt (khi cần thiết), khiến người đọc có cảm
giác câu chuyện rất…Tàu., chẳng hạn “hồ ngôn loạn ngữ”, Ô hô ai tai”,..
Có khi ông dùng từ Hán Việt giọng văn
hơi cổ, ngày nay ít ai dùng, nhưng người đọc trong nước như tôi vẫn có thể hiểu
được.
Khi Lệnh Hồ Xung đang bị sư phụ “cấm
túc” trên đỉnh núi, tình cờ gặp sư tổ Phong Thanh Dương chỉ bảo kiếm pháp, thì
Điền Bá Quang xuất hiện, thỉnh thỉnh xuống núi theo lệnh của Bất Giới hòa thượng,
nhưng bị LHX đánh bại. “Hắn thấy ĐBQ bị đại đại bại rồi hộc máu tươi thì không
khỏi sinh lòng lân tuất” – Tôi hiểu lân tuất là lòng thương hại, thương xót.
Lại có những từ, chưa hẳn là Hán-Việt
được HGN đặt vào bối cảnh câu văn nghe rất lạ. Chẳng hạn, LHX trêu ghẹo Doanh
Doanh, nhưng lại ngụy biện, nói lái qua nghĩa khác. Doanh Doanh hiểu ý, nên mắng.
“ Ngươi nói 3 câu, hết hai câu là điên đảo rồi.
Hay có đoạn, Doanh Doanh dạo khúc nhạc,
nhưng tình ý bất ổn, dây đàn bị đứt mấy lần, bèn đổ thừa do LHX quấy nhiễu. LHX
thực ra ngồi yên như gỗ. Nghe thế nói thầm:” Cô ta nổi lòng hươu dạ vượn rồi
quay ra trách mình”.
Hai từ “điên đảo” và “lòng hươu dạ vượn”
dùng trong bối cảnh này nghe rất lạ, nhưng người đọc vẫn hiểu. Tôi không biết
nguyên văn chữ Hán thế nào, nhưng Hàn Giang Nhạn dịch thế này nghe lạ tai, hấp
dẫn và buồn cười.
Nội dung “Tiếu Ngạo giang hồ” phong
phú, ly kỳ, ít đùa giỡn, trừ những đoạn “Đào Cố lục tiên” hài hước, nhưng đôi
khi Kim Dung lạm dung quá đáng. Dù vậy trong truyện cũng có vài câu chửi thề nhẹ.
Trưởng môn phái Hành Sơn, Mạc Đại hơi phóng khoáng, ngầm ý xúi LHX lấy Doanh
Doanh của ma giáo, ông ta sẽ đi dự đám cưới… “ Còn mẹ nó, sợ cóc gì!” (câu chửi
thề này, mới đây nghe quen quen).
Nói về chửi thề thì Lộc Đỉnh Ký mới
thực sự là đỉnh cao, và Hàn Giang Nhạn dịch cũng rất táo bạo, chơi xả láng. Hãy
nghe Vi Tiểu Bảo thóa mạ Mao Thập Bát lúc ở Dương Châu:
“…Mẹ kiếp! ta là quân chó để thì
ngươi cũng là quân chó lộn giống. Con bà nó! Cả họ xa họ gần ông tổ tiên thập
bát đại nhà ngươi”
Vi Tiểu Bảo không chỉ chửi “Con bà
nó” mà còn rất nhiều biến thể hài hước khác mỗi khi gặp chuyện không vừa ý hoặc
khi đang nịnh bợ ai đó. Mang đậm chất bình dân Nam Bộ thập niên 60-70, rất hợp
với tính cách vô lại, hợm hĩnh của Vi Tiểu Bảo trong môi trường kỹ viện, trong
triều đình, hay giữa ba quân.
Có thể ngày nay người ta đọc bản nhuận
sắc, với bản dịch Việt ngữ, văn chương trau chuốt hơn, hợp lý hơn. Nhưng với thế
hệ bọn tôi, Hàn Giang Nhạn có thể không phải là người dịch chuẩn mực nhất,
nhưng ông không chỉ dịch chữ, mà còn “nhập vai” vào các nhân vật để nói.
Kiếm hiệp Kim Dung thuộc về giang hồ
Trung Hoa, nhưng qua Hàn Giang Nhạn, bản dịch khiến độc giả như thể đang ngồi
trong tửu quán ở Chợ Lớn, nghe giang hồ Kim Dung nói tiếng lóng Sài Gòn.
Vũ Thế Thành

No comments:
Post a Comment