Miếng ngon quê hương
Trở về từ chuyến viếng thăm quê hương, nhiều
bà con bạn bè ân cần thăm hỏi. Một số còn tò mò hơn về những món ăn bên nhà, nhất
là những “đặc sản” từng vùng.
Nói về “đặc sản”, tức là những sản phẩm đặc biệt,
mà riêng về miếng ăn thức uống, Việt Nam bây giờ không thiếu chi sơn hào hải vị
quí hiếm. Sơn hào có thịt khỉ thịt voi thịt gấu thịt cọp thịt heo rừng thịt
cheo thịt trút thịt trăn thịt rắn … Hải vị có rắn đẻn cá óc-nóc nhum đồn đột hải
sâm hải mã … Còn phải kể “quí vị” ruộng rẫy cào cào châu chấu chim sâm cầm kỳ
nhông cắc kè … không xiết !
“Đặc sản” nếm trong đời, hẳn nhiều người lưỡi
từng tê tân khổ. Dở ngon, ít nhiều, không quan trọng. Điều đáng kể là có nhiều
miếng ngon chẳng phải hiếm hoi trân quí, nhưng một khi đã thấm đậm khẩu vị cùng
tâm ý, còn nhớ mãi cả đời.
Miếng ngon quê hương của tôi, có ba món đáng gọi
là “đặc sản.”
Đầu tiên, là Cơm Nắm, còn gọi là Cơm Vắt hay
Cơm Bới.
Cơm Nắm
Cơm nấu bằng gạo tẻ. Gạo gie gạo dự nàng hương nàng hai tám xoan tám thơm nanh
chồn … Chỉ cần một loại gạo dẻo, thơm, mềm. Được gạo mới càng hay. Khi nấu,
thêm vài lá dứa cho thơm. Nấu khéo vừa chín, không khô, chẳng nhão, hạt cơm vừa
nở đúng độ. Dùng mo cau non, loại mo bao quanh buồng cau, mỏng mềm, không phải
mo bẹ lá. Cơm vừa chín tới xới ra mo cau sạch, nhồi nhanh mạnh tay nhiều lần
cho hạt cơm dẻo mềm nhuyễn nhừ dính sát nhau thật mịn, rồi nắm lại.
Tùy sở thích, nắm cơm có hình dáng tròn đầy cỡ
miệng chén, hoặc vuông vức dẹp hơn cái bánh chưng, hay một thỏi tròn lẳn có đường
kính nhỏ hơn miệng chén và dài khoảng một gang tay. Nắm cơm để nguội, gói lại
trong lá chuối hay lá sen xanh mượt, hoặc mo cau mềm, để giữ khỏi bị khô.
Thức ăn kèm cơm nắm thường là muối mè trộn đậu
phụng rang vàng giã nhuyễn. Có thể thêm tí đường. Sang hơn thì dùng thịt ruốc
chà bông hay giò lụa chả quế. Rất đơn giản thì chỉ cần chấm lát cơm nắm mềm mịn
vào một chút nước mắm ngon, là đủ. Người Hà Nội dùng cơm nắm xong, có bát nước
chè tươi hay trà Thái Nguyên, rồi hút một điếu thuốc lào.
Dân Quảng Trị Thừa Thiên thích cơm nắm với cá
hẻn – cá trê nhỏ – kho khô, hoặc muối sả. Sả tươi băm nhuyễn xào với mỡ gáy cắt
hạt lựu, có tỏi, ớt bột, thịt heo hay bò băm, trộn thêm mè rang vàng giã hơi dập,
và mắm ruốc. Mắm ruốc, không phải mắm tôm. Ngoài ra, giản tiện dễ dãi hơn, chỉ
cần chấm cơm nắm với mắm ruốc có rắc chút ớt bột. Người miền Trung ăn cơm nắm –
còn gọi là cơm bới – như vậy kèm thêm trái khế chua hay ngọt. Ăn xong làm một đọi
nước chè tươi nấu có vài lát gừng. Tuyệt!
Miếng cơm nắm tôi được ăn lại, không phải tại
quê miền Trung, mà tại một con ngõ nhỏ phố phường Hà Nội.
Sáng hôm ấy một mình lang thang khu “phố Tây,”
nhìn lại những căn biệt thự thời Pháp thuộc nay đổi chủ, vui chân về phía sông
Hồng, cuối phố Trần Hưng Đạo, thấy hai bên Bệnh viện Việt Nam có hai con ngõ ngồ
ngộ. Rẽ vào một. Ngõ 90.
Đang đi, bỗng nghe một giọng rao cao vút “Ai
cơm nắm! Cơm nắm muối vừng đê … !” Nhìn lại, một chị áo cánh trắng quần đen nón
lá, dắt xe đạp. Chiếc xe thồ phía sau một thúng lớn đậy lá chuối, bên trên lủ
khủ mấy hộp nhựa trắng đục đậy kín, ngăn nắp xếp trên một cái mẹt vừa nhỉnh hơn
miệng thúng, và trên cùng là vài chiếc mẹt cỡ nhỏ hơn.
Chị dừng xe bên lề, dưới gốc bàng lá đỏ, cạnh
một quán ăn nho nhỏ. Tôi cũng dừng cạnh chị, lân la làm quen bằng cách mua một
nắm cơm trong lá chuối, kèm vài miếng giò quế và tí muối vừng. Vài khách trong
quán cũng gọi mua.
Khi chị ngừng tay, tôi bèn hỏi chuyện.
Chị cho biết gốc làng Liên Xá huyện Yên Mỹ tỉnh
Hưng Yên ngay phía Nam Hà Nội, cùng quê với danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu
Trác. Đôi mắt đen của chị lấp lánh dưới vành nón lá gợi nhớ quan họ lấp lánh là
lấp lánh ơi … Đôi mắt đen phản chiếu màu nắng, sáng ánh nét vui khi chị nhìn
tôi :
– Con ngõ này ngộ lắm. Có khi người ta gọi là
Ngõ Không Tên, nhưng nhiều khi được gọi là Ngõ Nguyễn Tuân đấy cô ạ.
Thấy tôi nhướng mắt sắp mở miệng hỏi, chị tươi
cười giải thích :
– Cháu mới theo nghề này mấy năm đây thôi. Trước
mẹ cháu đội thúng cơm nắm đi bán, và từng gần như mỗi ngày vào con ngõ này là
được ông ấy gọi mua. Mẹ cháu bảo lúc sinh thời nhà ông lúc nào cũng lắm bè bạn
vang vang vui chuyện. Con ngõ nay được mang tên Ngõ Nguyễn Tuân vì dạo ấy nhiều
khách bốn phương đến tìm ông, ra vào tụ họp hàng ngày.
Tôi ngây người, nhớ Tùy Bút Tóc Chị Hoài Chùa
Đàn Vang Bóng Một Thời … Nguyễn Tuân, người từng đi và viết nhiều từ hơn nửa thế
kỷ trước, từng sống trong ngõ này, từng kể nhiều chuyện về miếng ăn thức uống,
từng cơm nắm chấm nước mắm …
Chị cơm nắm kéo tôi về thực tại :
– Mười mấy năm trước, làng Liên Xá cháu đã
tươi mươi* trổi dậy nhờ nghề cơm nắm. Mấy năm gần đây, cơm nắm không cạnh tranh
nổi với vô số “đặc sản” tân kỳ kinh tế thị trường của nhiều hàng quán la liệt
khắp phố phường Hà Nội. Tuy nhiên, cũng còn người yêu cơm nắm. Hầu hết là giới
công nhân chân tay, một số người Hà Nội hoài cổ, và – chị ngập ngừng nhìn tôi rồi
nói tiếp – còn lác đác vài người hoài hương như cô đây.
Tôi mỉm cười chịu nhận :
– Cơm nắm ăn chắc bụng. Nếu ở nhà thì tôi đã
ăn cơm nắm với cá kho khô. Cơm với cá như mạ với con mà lị !
Chị cười vui với lời ví von của tôi. Nụ cười tắt
ngay và đôi mắt đen sáng bỗng tối sầm :
– Nghề này hết thời rồi. Ngày xưa ra đi ngó
trước ngó sau, ngó nhà mấy cột ngó cau mấy buồng. Bây giờ nhà chẳng cần cột vườn
không trồng cau. Nhà bây giờ bê-tông với gạch, vườn bây giờ đất đai đắt đỏ nên
bỏ vườn chặt cây bán đất cất nhà. Cau chẳng mấy ai ăn nên chẳng ai thiết trồng
lại. Xưa dùng mo cau non nắm cơm, bây giờ dùng khăn vải thay vào đấy cô ạ.
Tôi nhìn gói cơm nắm như một bạn cũ lâu ngày gặp
lại. Người bạn chân quê ngày xưa nay theo cuộc đổi đời đưa đẩy đã được sửa sang
nhan sắc để đi vào phố thị. Ngậm miếng ngon cơm nắm, bỗng thấy mình vụt biến
thành bà mẹ quê còm cõi áo cánh nâu khăn mỏ quạ tựa gốc cau sau hè có buồng hoa
đuôi phượng le te trắng ngà tỏa hương dìu dịu. Ngoài kia, cánh đồng lúa con gái
đương thì rì rào dào dạt sóng. Nắng bỗng thẫm lại. Một đám mây giăng ngang rồi
trôi đi. Giải nắng lại sáng rực trôi trên đồng ruộng.
Miếng ngon quê hương thân thương ngọt bùi chưa
nuốt trọn bỗng thấy nghẹn ngào. Lòng ngậm ngùi không vui. Có phải tại mình vô
tình – hay cố ý – uống hai lần trong cùng một dòng sông, dẫu là sông Đào ?
Miếng ngon quê hương của tôi, sau Cơm nắm, là
Xôi Lúa.
Xôi Lúa
Những ngày ở Saigòn, khi được hỏi về những món ăn ưa thích, tôi chỉ xin Xôi
Lúa. Ai cũng ngạc nhiên, nhưng không thắc mắc.
Họ không thắc mắc, nhưng tôi thì có. Xôi Lúa
dùng gạo nếp, bắp, đậu xanh, hành phi mỡ hay dầu, và tí đường. Vậy sao gọi là
Xôi Lúa ?
Gạo nếp có khắp cùng thế giới, và quê ta có đủ
từ nếp dài nếp tròn nếp đen nếp hồng nếp than nếp quạï nếp cẩm nếp vàng nếp
hương … Nhưng Xôi Lúa chẳng lẫn hạt lúa nào, ý nói hạt lúa nguyên vỏ trấu. Mà gạo
nếp gạo tẻ khi còn vỏ đều gọi chung là lúa, chỉ khác loại tự lúa. Vậy sao lại
là Xôi Lúa ?
Giở Miếng Ngon Hà Nội của Vũ Bằng mong tìm
tông tích, thấy bài về Ngô Rang “… ngày xưa còn bé, tối đến cứ ra dưới gốc đèn
dầu Hàng Trống, mua lúa nướng về ăn … cầm ấm cả bàn tay.” Lúa nướng ? Lạ ! Mãi
cả hai đoạn sau đó mới thấy nói rõ “… mà có thế mới thật cảm giác được hết cái
thú ăn ngô nướng về mùa đông !” **À, lúa nướng, tức là ngô nướng.
Nhưng tại sao từ lúa lại đổi sang ngô ? Lại tò
mò. May khi xem Việt Nam Bách Khoa Toàn Thư, Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quí Đôn,
giở chương Phẩm Vật Loại, bắt được nguồn gốc : Lúa ngô, tên chữ Ngọc thục thử,
du nhập từ Trung Hoa vào Việt Nam thế kỷ 17. ***
Lục trí nhớ, dấu vết lúa ngô được ghi trong ca
dao xứ Nghệ : “Ai về làng Vọt mà coi, tháng hai đã phải cạp cồi ló (lúa) ngô.”
Còn bắp, thì giải thích bằng hình dáng trái không thuôn dài mà lại ngắn đẫn mập
ú tựa bắp chuối.
Vậy, miếng ngon Xôi Lúa này mang quá trình đổi
thay ngôn ngữ cả ba trăm năm, đi từ văn chương bác học Ngọc thục thử vay mượn
xa vời, tìm đủ cách hội nhập bình dân, thay hình đổi dạng Xôi Lúa Ngô, Xôi Lúa
Ngô Bắp, rút gọn Xôi Ngô, cuối cùng nôm na Xôi Bắp, nói lên ai cũng hiểu được.
Nguồn cội bắp còn trong vòng mơ hồ, nhưng kể
lâu đời sử sách thì Mễ có bắp từ 7 ngàn năm nay, châu Mỹ có khoảng 3 ngàn năm,
Trung Hoa có từ rất xưa không biết tự bao giờ, còn Việt Nam ta có từ thế kỷ 17,
tức là cách đây hơn ba trăm năm. Sơn Tây là nơi đầu tiên trồng bắp. Bắp ngon có
tiếng thì Nghệ An Sơn Tây Thái Nguyên Lạng Sơn, bắp cồn ở Huế, và bắp Biên Hòa.
Có bắp tẻ bắp nếp bắp lòn bắp trắng bắp ngũ sắc bắp mọi …
Hạt bắp phơi khô chà sạch mày, ngâm nước qua
đêm rồi hầm nở bung, trộn chung với nếp hông chín mềm. Đậu xanh đãi vỏ sạch,
hông chín, giã nhuyễn, nắm lại, cắt nhỏ rải đều trên đĩa xôi bắp. Hành hương
phi vàng với mỡ hay dầu, rắc rưới lên trên cùng. Muốn ngọt, cho tí đường. Có thể
thêm muối mè rang vàng, tùy thích.
Ngày rời Việt Nam, tôi cũng chỉ xin một gói
Xôi Lúa đem theo ăn đường, thay vì phải ăn những “đặc sản” máy bay.
Giở gói lá chuối bọc ngoài, bên trong là chiếc
lá bàng rực rỡ roi rói tươi màu hổ hoàng, bao quanh những hạt ngọc xôi và bắp
long lanh óng ánh, nằm ngoan dưới lớp đậu vàng mịn, bên trên điểm những khoanh
hành hương xém nâu. Xúc một muỗng cho vào miệng, quyền quyện ngọt bùi những tặng
phẩm mộc mạc ruộng rẫy bưng biền. Nghe những hương vị quê mùa thấm vào lưỡi qua
khẩu cái trôi xuống cổ họng rồi vào bao tử, cảm thấy con tì con vị nở ra chín
khúc tựa chín con rồng đồng bằng miền Nam.
Từ tầng mây cao ngất, tưởng nghe được tiếng
rao lảnh lót ” Bắp Biên Hòa nóng hổi vừa thổi vừa ăn nè!” mỗi xế chiều ở
Saigòn, và văng vẳng đâu đây vọng lại câu hò trên bến Thủ Thiêm bắp non mà nướng
lửa lò …
Miếng ngon quê hương của tôi sau Cơm nắm Xôi Bắp,
là Măng.
Măng Trúc
Muốn ăn Măng Trúc măng giang
Măng tre măng nứa, chè bàng cơm lam
Chè bàng cơm lam thì không ham, nhưng măng thì
bất cứ nấu nướng cách nào tôi chẳng bao giờ khước từ.
Trước khi nói về măng, mầm non của tre trúc, bản
năng tò mò của tôi nổi dậy. Bèn tìm tòi lục lọi, được biết tiếng Việt cổ gọi
tre trúc là pheo, đến nay vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình Quảng Trị Thừa
Thiên vẫn còn dùng cụm từ tre pheo* này.
Tre trúc hay tre pheo cùng họ hàng với lúa và
bắp, đều thuộc họ Hòa Bản, gọi nôm là họ nhà cỏ – Poaceae, nguyên gọi là
Graminae – gồm nhiều họ phụ và có cả ngàn loại, được trồng nhiều nhất bên Tầu,
Nhật và Ấn độ. Bên ta có khoảng 300 loại : bương giang hóp luồng nứa lồ-ô, tre
đốm tre đen tre vàng tre la-ngà tre miễu, tầm vông mạnh tông tre ống điếu tre bụng
Phật, tre xiêm tre nghệ … vô số kể !
Tre trúc khác nhau về hình dáng, kích thước,
màu sắc, tầm cỡ, nhưng cùng chung đặc tính là mọc thành rừng lũy lùm cụm bụi,
và mọc rất nhanh. Một đặc tính khác, là phải cả 30, 60 hay đến 120 năm mới ra
hoa. Hoa kết quả là rừng tàn lụi. Mãi 5 đến 10 năm sau mới có rừng khác nhờ hạt
nẩy mầm và măng mọc từ rễ ngầm. Hạt tre ăn được, từng là thức ăn trong những trận
đói lớn tại Ấn Độ và Trung Hoa. Bài này chỉ nói về măng, miếng ngon quê hương,
nên chỉ vòng vo đôi chút về tre trúc mà phải riêng một bài dài mới có thể kể hết
được.
Về ẩm thực, măng có đặc tính thấm đậm hết
hương vị ngon ngọt của bất cứ loại tôm cá thịt nào nấu chung, biến hương vị các
thứ đó thành của nó, miếng măng trở thành ngon hơn gấp bội.
Xưa cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm ẩn nhàn đơn giản thu
ăn măng trúc đông ăn giá, nhưng không thấy ghi nấu nướng ra sao. Măng gần gũi với
dân gian hơn.
Ai
về nhắn với họ nguồn
Măng non gửi xuống cá chuồn gửi lên
Măng kho cá chuồn cá đối cá chẻm cá dầy cá diếc
cá măng … bất cứ loại cá béo nào. Tuyệt nhất là măng kho cá mòi. Tỉnh Bình Thuận
ê hề cá, người Bình Thuận chê cá mòi quá béo nhưng không chê măng kho cá mòi,
và chỉ chiếu cố gắp măng.
Ngoài ra, măng còn được kho với tôm và thịt
heo, hoặc chỉ cần thịt mỡ có da, và nêm thêm mắm ruốc. Trời trở mùa se lạnh, nấu
nồi cơm vừa chín tới, ăn với măng kho ruốc điểm ớt bột cay cay, hết sẩy !
Một câu nói vui líu lưỡi trêu nhau là xắt măng
vằm măng chắm nước mắm, để tả món dễ làm nhất của măng. Măng luộc kỹ cắt mỏng
thái sợi – hoặc băm/vằm – bóp ráo nước đem chấm nước mắm ớt đường chanh tỏi. Chỉ
ăn đơn sơ như vậy, hoặc kèm cá mòi cá trê nướng vàng dòn.
Cầu kỳ hơn tí thì có món măng trộn. Cũng xắt
măng vằm măng, trộn cùng tôm thịt luộc cắt mỏng, mè rang giã dập và rau răm
thái nhuyễn, rưới nước mắm ớt đường chanh tỏi. Dùng bánh tráng dày nướng vàng
xúc ăn.
Món măng xào đặc biệt ý nhị là :
Măng
non nấu với gà đồng
Chơi nhau một chuyến xem chồng về ai
Măng này phải là măng le măng tầm vông hay mạnh
tông là ba thứ ngon nhất, loại tre cật đặc ruột, vừa mềm vừa dòn. Những lát
măng nõn nà màu ngà chen giữa những miếng gà đồng (thịt ếch), bày rõ cặp đùi
non trắng mịn óng mượt e ấp giữa đám hành lá màu lụa hoa hiên hoa thiên lý, những
cọng ngò ngăn ngắt xanh và mấy cọng ớt đỏ hồng. Rất gợi tình ! Đúng là lơ mơ có
kẻ mất chồng như chơi !
Ngoài món măng xào gà đồng, măng còn đi chung
các thứ rau đậu khác kèm với bất cứ loại thịt nào – tôm gà heo bò … – hoặc chỉ
cần đậu phụ, là đầy đủ chất tươi có cả khoáng và đạm.
Măng
giang nấu cá ngạnh nguồn
Đến đây em phải bán buồn mua vui
Măng giang là mầm loại tre lóng dài rỗng ruột,
đem bào mỏng muối chua để dành. Đến mùa cá ngạnh nguồn béo ngậy bụng trứng ửng
hồng, đem nấu canh có cà chua ớt đỏ phi lên cho nước dùng óng ánh tươi, trên rắc
tiêu cho ngọt rắc hành cho thơm. Măng giang và cá ngạnh đi vào văn chương bình
dân, trong khi các thứ canh măng chua khác cũng dùng cá – bông lau diếc hanh
kình thu thác lác … – không được may mắn đó, có lẽ vì không mang nỗi buồn xa xứ
như người nấu canh cá ngạnh.
Miền Trung có món canh thập toàn – nôm na là tập
tàng – gồm trên dưới mười thứ rau, nấu với tôm khô giã dập hay tôm tươi bóp dẹp,
thịt nạc heo băm nhuyễn hoặc giò sống. Ngoài rau, còn có măng vòi. Măng vòi là
mầm non của hóp và tre nhỏ. Mồng tơi bồ ngót mềm dịu, bát bát rau má mềm dòn,
rau sam rau me đất mềm chua, rau đay mềm rền, mướp hương mềm ngọt … trong khi
măng vòi sần sật dòn. Các thứ rau mướp xanh ngăn ngắt lẫn vào nhau, tôn màu trắng
lụa nõn nà của những lát măng bào mỏng mịn. Đùa cuộn rau và măng giữa răng, cắn
đệm một quả cà phào nhỏ muối xổi đã quẹt tí mắm tôm, cảm thấy miệng lưỡi ôm trọn
hương vị vườn rau sau nhà mẹ.
Măng vòi thái sợi có mặt trong món mắm tôm
chua Huế, trộn lẫn những lát tỏi mỏng, sợi riềng màu ngà, thú đủ ngọc thạch, ớt
đỏ tươi, và cà-rốt màu gạch non. Mắm tôm chua kẹp thịt heo luộc kèm khế chuối
chát vả rau sống, ăn với cơm rất đậm vị, mà với bún cũng hết ý.
Nói tới bún, phải kể bún gà bún vịt bún ngan,
gọi chung là bún xáo măng. Món xáo măng đặc biệt nhất không biết mấy ai được
thưởng thức thực, hay chỉ biết qua ca dao:
Con
cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng …
Măng với bún, không ai quên được bún măng khô
hầm giò heo nấm mèo đông cô. Măng khô ngon phải là măng đặc ruột dày miếng như
măng lưỡi heo lưỡi trâu lưỡi bò, luộc đi luộc lại thay nước kỹ hầm mềm rồi mới
nêm nếm nấu nướng. Tết đến, từ Bắc chí Nam qua hải ngoại, hầu như nhà nào cũng
có nồi măng khô hầm giò. Hết Tết, các thức ăn thừa được dồn vào nồi hầm này, đệm
thêm cải cúc cải cay cải xanh cải trắng, là có đủ hương vị thơm ngon béo bổ ngọt
bùi.
Miếng ngon quê hương của tôi, dẫu xa xôi hải
ngoại cũng vẫn dễ kiếm tìm, bởi chúng nằm chính trong trái tim, trong máu thịt
mình. “Đặc sản” quê mùa mộc mạc như những thứ vừa kể nếu không trồng trỉa được,
không tìm đúng gốc Việt thì gốc Hoa gốc Hàn gốc Lào gốc Miên gốc Nhật gốc Thái
gốc Phi gốc Mỹ gốc Mễ … Trong ba ngàn cõi ấy****, gốc nào lại chẳng có cội nguồn
từ lòng đất, quê hương của con người, riêng chi Đất Mẹ !
Trần
thị Lai hồng
Nguồn: Sáng
Tạo
Chú thích :
* Tươi
mươi : sống; pheo : tre, tiếng Việt cổ, theo Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng, Từ điển Nguồn
gốc Tiếng Việt, sắp xuất bản
** Vũ Bằng,
Miếng Ngon Hà Nội, Nam Chi Tùng Thư, Saigòn 1960
*** Lê Quí
Đôn, Vân Đài Loại Ngữ, Việt Nam Bách khoa Toàn thư, Nhà Xuất bản Miền Nam,
Saigon 1973
“ Ngọc thục
thử : Về ngọc thục thử, sách Bản thảo nói rằng : ” Ngọc thục thử cũng giống như
cây ý dĩ, cây cao độ ba, bốn thước, trong giữa cây có một cái bọng, trên cái bọng
có râu trắng. Cái bọng ấy mà nứt, thì lòi ra hạt chi chít với nhau, sắc vừa
vàng, vừa trắng, đem rang lên ăn được. Khi rang thì nó nở bỏng trắng, như rang
thóc nếp; ăn bỏng ấy thì thân thể điều hòa, miệng ăn biết ngon (điều trung khai
vị)” Nước Nam ta gọi thứ ngọc thục này là lúa ngô (bắp). … Hồi đầu đời Khang Hy
(1662 – 1723), Trần Thế Vinh người huyện Tiên phong (Sơn Tây) sang sứ nhà
Thanh, mới lấy được giống lúa ngô đem về nước. Suốt cả hạt Sơn Tây nhờ có lúa
ngô thay cho cơm gạo.”
**** Võ
Đình, Một Cành Mai, An Tiêm Paris xuất bản
Đạo vốn không nhan sắc
Mà ngày một gấm hoa
Trong ba ngàn cõi ấy
Đâu chẳng phải là nhà
(Thiền sư Thiền Chiếu, đời Lý, thế kỷ 11)


No comments:
Post a Comment