Nhớ Để Còn Đây
Tặng một người tên Ch. đã có một thời
học làm cô giáo ở Sài Gòn
Trễ chuyến xe buýt
ra chợ Bến Thành, ngoắc rồi nhảy đại lên cái xe xích lô không khách qua ngang,
hối bác đạp xe ráng chạy nhanh giùm, cho kịp ra bến xe đón bà dì Tư, em ngoại từ
trên nhà xuống, ngủ lại để sáng mai sớm đi Rạch Giá thăm dì út, sắp sinh con đầu
lòng. Trời Sài Gòn đã quá trưa, đứng bóng nắng, cuối hè, nóng vẫn nóng, gió thu
chưa chịu về, đường phố vẫn người và người, một ngày như mọi ngày, cũng may có
chút gió lùa qua, mang hơi nước từ nhánh sông dưới bến đò Thủ Thiêm lên, tạm
mát.
*
Từ xa xa, bến xe vắng
người, chiếc xe đò lớn nằm yên ngủ, không thấy tài xế hay lơ xe đâu đây, chờ
chuyến chiều về lại tỉnh. Ngay cái băng ghế cây dài cho khách chờ, cách chỗ xe
đậu cuối dãy, gần bên cái quán bán cà phê cơm nước, bến vắng tanh, bà dì Tư ngồi
cạnh bên một cô gái, tóc dài xỏa ngang lưng, cả hai ngó về hướng chợ, nói qua
nói lại gì đó, tôi đi chậm lại, tới sau lưng, lên tiếng gọi, cả hai quay lại,
bà dì cười “con”, ngạc nhiên, tôi gật đầu chào, cô gái cũng gật đầu
chào, cả hai nhìn nhau, có lẽ đã có lần gặp nhau, ở đâu đó rồi.
Cô cười mà không nói gì, bà dì nắm tay cô, ngó
tôi chậm rãi cho biết “cô và bà đi cùng chuyến xe về Sài Gòn, bà cháu nói
chuyện này chuyện kia trên xe, cũng vui, khi tới bến, thấy bà dì ngơ ngác, dòm
dòm kiếm kiếm ai đó, cô không có gì vội, phần sợ bà một mình cũng lo, nên ngồi
cùng bà chờ con”.
*
Đưa cô gái, vừa kịp nhớ
tên, Dung, cô gái nhỏ làm công nhân cạo mủ ngày xưa, tới ngoài đầu đường, ngay
bồn binh, Dung băng nhanh qua bên kia Lê Văn Duyệt, đón xe về nhà trọ đâu đó
trên chợ Đủi, tôi vẫy tay chào, Dung quay lại cười, nụ cười pha chút nắng hồng
xế trưa, nụ cười của những bữa cơm cá khô, cà chua bên hàng ba nhà máy mủ trưa
thứ bảy. Hai bà cháu đi ta xi về, trên xe, bà cười mĩm nhìn tôi, không biết bà
nghĩ gì, riêng tôi thấy mình có chút gì vui thiệt. Bà còn nói thêm tiếng một tiếng
hai khen “cô đó vừa đẹp, vừa dễ thương, học ở trường gì đó cuối năm nay xong
sẽ là cô giáo”.
*
Sau mấy năm dài cặm cụi, nâng niu từng
cọng cỏ ngọn cây, từng bờ mương con đường, mà ba má tôi đã dày công sức bỏ ra, cái
sở cao su chừng trên dưới mười mấy mẩu, đã bắt đầu khai thác, sau khi cái nhà
máy chứa mủ, xấy khô, đóng bành đã xong, ở khu ven ngoại ô của tỉnh, khỏi cầu
Trà Phí, xa xa phố chợ, khỏi xóm nhà lẻ loi lưa thưa, đường trải sói đá đỏ, đèn
điện khi mờ khi tỏ.
Từ
ngày đó, tuần nào cũng về trên nhà, mới đó mà nhớ, nhớ hàng cao su cao cao xanh
lá thẳng hàng, chạy song song hai bên những con đường đất ươm ướm màu bụi đỏ nhạt,
đan kín nhau, che bóng nắng, mát rượi, nhớ mà thương cho ba má, chạy lên chạy
xuống, nhà dưới xã nhà trên tỉnh, mướn người mướn xe, ôi đủ thứ chuyện, xuống
Sài Gòn học mà cứ thấp tha thấp thỏm.
*
Lần này về, xuống xe lôi máy, từ ngoài đường
vô nhà máy đã thấy có người ngồi người đứng ngoài hàng ba, toàn là đàn bà con
gái, chỗ để nghỉ ngơi, tụm nhau hình như sửa soạn ăn trưa, mười mấy cái xe đạp,
cột thùng thiếc đựng mủ dựng hàng dài, dọc theo bờ rào kẽm gai, có trồng đệm
thêm mấy cây ớt, cao chưa khỏi gối xum xuê trái.
Thấy
tôi, họ ngừng nói chuyện, trố mắt nhìn ra, tôi cũng chưa kịp chào thì, chú tư
Tưởng, người phụ ba lo việc coi sóc nhà máy từ phía sau mấy cái hồ chứa mủ, đi
ra, chú cũng trố mắt “ủa mới về hả con”, tôi “dạ” một tiếng nhỏ,
rồi chú quay vô trong “anh tư ơi, thằng út về nè”, tôi cười chào họ,
lách qua mấy cái hồ đi, khuất chưa xa, nghe tiếng chú hai “con ông chủ”,
chắc là nói với mấy người làm.
*
Sau
hai ba lần về nhà, lạ rồi quen, tính tôi vốn đã hiền như tên ba má đặt, lại có
tài ăn nói, nên, không nói gì tới chú tư, giờ cả mấy chị con gái cạo mủ đều
thích đều thương, duy chỉ có cô nhỏ nhất trong nhóm, chắc nhỏ hơn tôi ba bốn tuổi,
tóc dài, dễ thương, có duyên, là còn mắc cở, ngó trời ngó đất. Lần nào cũng vậy,
từ dưới Sài Gòn vô nhà máy, luôn đúng giờ họ từ sở cao su về nghỉ, tôi thôi
không còn theo ba ra chợ, mà tụm lại ăn cơm chung, mới đầu thì cơm do chú tư lo,
sau đó bớt ngại, có gì ăn nấy, nên mấy chị cũng để phần cho, cá khô, dưa luộc,
mắm muối gì không sao, ngồi ăn quanh nhau, cười nói vang rân, ba ngồi trong nhà
máy nhìn ra, lắc đầu cười “cái thằng”.
*
Cô
con gái nhỏ, Dung, gia đình nghèo, không có ba, chỉ còn má với bà ngoại, nhà miệt
trong ngã ba Ao Hồ, ngày đi làm, lúc nào cũng có mặt đúng giờ tại nhà máy, chuyện
tới chuyện lui, mới biết thêm, Dung còn đang học lớp đệ Tam trường tỉnh, thấy
thương tình, ba cho cô làm ngày cuối tuần và trả tiền công nhiều chút đỉnh, hơn các người khác, coi như là tiền cho, Dung
siêng năng, lanh lẹ, ăn nói dịu dàng, dạ thưa, cho nên ai cũng thương cũng mến,
chú tư không ngớt miệng tiếng một tiếng hai “con gái nuôi ”, phần tôi,
lúc nào cũng gợi chuyện, kể chuyện phương xa, chuyện học hành, lời khuyên lời bảo,
anh anh em em, ngày thêm gần gũi hơn.
Từ đó biết nhau mến nhau hơn, hôm nào về tôi
cũng mang theo chút quà Sài Gòn, kẹo ngọt, bánh tây, đồ hộp... những thứ người
ta bán đầy ở chợ trời Hàm Nghi, đặc biệt thêm mớ sách Tuổi Hoa, mớ truyện cho
cô gái nhỏ, tên Dung, gọi là “mấy chị ăn lấy thảo” như thay cho lời cám
ơn đã giúp gia đình mình.
*
Và
cũng từ đó, mấy chị lớn thường nghe Dung hỏi họ nhiều hơn về tôi, và khi nói đến
tôi là cô thường nhìn xa xăm, tưởng chừng như đang mơ mộng, nhứt là những lúc
nghỉ ăn trưa thứ bảy, cô xem ra thẩn thờ hơn, sầu tư biếng lự, cứ ngóng ngóng
trông trông ra đường lộ, mấy chị đủ lớn để hiểu chuyện gì, không biết sao, nếu
thật thì “thương cho em quá”, chú tư cũng đã thấy vậy, cười mà thở dài lặng
thinh “tội nghiệp”, với Dung, cô con gái nhỏ, giờ thì sách vở lớp học
sân trường có thêm cái gì đó, trong từng trang, từng hàng chữ, một cái gì khó tả
khó quên, nhớ ray nhớ rứt, bảy ngày trong tuần cô cứ mong cho tới ngày thứ bảy.
*
Sau nghỉ Tết, đi làm trở lại, thứ bảy, tôi
về cùng với cô bạn học chung trường, người Sài Gòn, cũng lúc giờ mấy chị làm
nghỉ ăn trưa, hai đứa tôi nhanh nhẩu vui cười chào từng người, rồi quày quả đi
vào trong nhà máy, bữa cơm hôm nay không có tôi, không có tiếng cười, Dung ngồi
chết lặng, mấy chị lớn nhìn nhau, không ai nói tiếng nào, mọi thứ cũng chết lặng.
Một lát sau, ba tôi và cô bạn đi ra trước,
tôi theo sau, tới nhóm người làm, đang dọn dẹp sửa soạn trở lại rừng cao su,
chào từ biệt, hẹn tuần sau gặp lại, ra tới ngoài đường, họ lần lượt đẩy xe đạp
đi, chiếc xe lôi máy khuất dần cuối đường, trời nắng và gió lùa chút bụi đỏ,
Dung cúi mặt, không ngó theo, đi cuối cùng, nghẹn ngào khóc một mình.
Từ hôm đó, rồi những thứ bảy sau, Dung đã
thôi không còn đến làm nữa, tôi cũng không còn gặp lại, cuốn sách “Tuổi Hoa”
màu tím làm quà không có người nhận và trên chuyến xe chiều về Sài Gòn, nhìn ra
đường, bất chợt tôi thở dài, buồn buồn mà thương “biết rồi tại sao”.
*
Nhà nghèo, vừa đi học
vừa đi làm, phụ làm bồi cho cái nhà hàng lớn trên phố Gia Long, chợ tỉnh ngày
thứ bảy, gần một năm lớp đệ Nhị, đậu Tú tài Một, Dung không học tiếp lớp đệ Nhất,
thi vào trường Sư phạm Sài Gòn, mong được tốt nghiệp sớm cho má và ngoại đở cực
khổ hơn. Vào Sư phạm, Dung cố học, ra trường hạng cao để được về gần nhà, càng
gần càng tốt. Không quen biết ai, xuống Sài Gòn, may nhờ cô bạn cùng học chung
lớp, người Suối Cụt, đến ở trọ với cô ta tại nhà người bà con xa của cô gì đó,
nên má, ngoại mừng hết sức mừng, hai người đi về có nhau suốt hai năm học, năm
nay năm cuối, chừng gần tháng nữa thi tốt nghiệp và ra trường, bắt đầu đời cô
giáo.
*
Sài Gòn sáng chủ Nhật,
ngồi nhìn ra đường, bà dì Tư đi rồi, nhà vắng như đã vắng, nắng chưa lên dù đã
ngấp nghé đâu đó trên nóc mấy cái nhà lầu bên kia, ly cà phê nóng, hơi lên như
sương khói tỏa, xe lam chở khách, chở bạn hàng ra chợ nối đuôi nhau, ồn ào từ
trên ngã tư Bảy Hiền qua ngang, Sài Gòn tỉnh ngủ.
Chút chuyện vụn vặt
ngày đó, sau hôm gặp lại Dung, bổng sống lại cái nhớ ray rứt mỗi trưa thứ bảy về
nhà, nhớ bữa cơm, nhớ tiếng cười, nhớ cuốn sách Tuổi Hoa và nhớ cái buồn buồn của
cô con gái nhỏ làm công nhân cạo mủ, lầm lũi đẩy xe đạp, không có tiếng cười,
theo sau mấy chị lớn, lần cuối không còn gặp lại và cuốn Tuổi Hoa không có người
nhận. Thấy lòng mình buồn khó tả, có cái gì đó da diết đau, nuốt ngụm cà phê sắp
nguội, đứng dậy đi vào trong, chợt nhớ người, hình như “còn chút gì để nhớ để
thương” mà tôi đã để nó chìm sâu vào quên lảng sau một cuộc “tình lỡ”
bước vội.
*
Bữa cơm chiều tại
cái quán cơm bên hông chợ Đủi, được coi là bữa cơm tái ngộ sau lần gặp ở bến xe
miền Đông hôm đó. Dung cười nhiều hơn, cũng nụ cười giờ nghỉ cơm trưa tại hàng
ba nhà máy những ngày thứ bảy xưa, cả hai nói nhiều hơn ăn, Dung nhắc chuyện
qua rồi, có buồn có vui, chuyện của những cuốn Tuổi Hoa đem theo vào lớp học,
chuyện con nhà nghèo và đời làm công nhân cạo mủ, chuyện tình thương của chú
tư, của ba tôi và các chị khác, và chuyện trưa thứ bảy cuối cùng, không trở lại
làm, hôm tôi về với cô bạn gái từ Sài Gòn, pha một chút buồn thoáng nhẹ sầu
trong mắt.
Đưa Dung về tới nhà
trọ, hẹn ngày gặp lại, cô bạn người Suối Cụt vẫy tay chào trước nhà, tôi thả bộ
ra bên kia rạp Nam Quang, chiếc xích lô đạp chạy khá xa xuôi hướng Cao Thắng,
hai người vẫn còn đứng trước nhà nhìn theo, nắng chiều buông chênh chếch vàng, ngấp
nghé tàn, phố chưa lên đèn, tiếng chuông lễ chiều của chùa Tam Tông Miếu văng vẳng
man mác xa đưa.
*
Dung trố mắt ngạc nhiên, thấy tôi đứng ngoài
đường Thành Thái, xa xa hai ba nhóm người, đang nhìn vào bên trong trường, nói
qua nói lại, chắc là cũng chờ ai trong đó, khi vừa ra khỏi cổng, ngày chọn nhiệm
sở sau khi tốt nghiệp. Thả bộ ra đường Cộng Hòa, đi dọc theo bên lề Hồng Thập Tự,
trời gần cuối hạ, xế trưa nắng dịu chờ thu, trên đường về nhà, bên nhau mà Dung
cứ cười, một cái cười mừng vui, hớn hở mà không nói gì, tôi cũng cười theo,
không hỏi.
Dung cùng cô bạn người
Suối Cụt về dạy ở trường tiểu học Cẫm Giang tỉnh nhà, cái mơ ước ấp ủ từ lâu đã
thành hiện thực. Cẫm Giang tuy hơi xa nhà một chút nhưng có xe đò nhỏ, chạy suốt
ngày nên sáng đi chiều về cũng tiện. Dưới Sài Gòn, những ngày đi học Dung ở trọ nhà bà con cô bạn
thân, giờ thì cô bạn thân ở trọ nhà Dung, cả hai tiếp tục chia buồn chung vui
như ngày nào.
*
Mùa nghỉ hè hơn một
năm, sau khi ra trường xuống làm việc ở Thủ Thừa, về thăm nhà lần này vào nhà
máy, cũng trời sắp trưa như những ngày thứ bảy xa xưa, ai cũng ngạc nhiên trố mắt
nhìn, nhứt là mấy chị làm công nhân ngày cũ, vì thấy có Dung đi theo, ba tôi chỉ
mĩm cười, chú tư lăng xăng, đứng ngồi không yên, chạy ra chạy vô nói nói gì đó.
Dung xúm xích quanh
mấy chị, nói cười luôn miệng, trời cũng quá trưa, nắng nóng, giờ này giờ cơm
như trước, lại thấy mấy thùng đựng mủ, không nằm ngổn ngang dọc hàng ba mà được
sắp đâu đó ngăn nắp trên cái kệ dài, nhìn chưa kịp hỏi, chú tư nhanh chân ra gần
bên cho biết “bữa nay ăn cơm trưa ở nhà con”.
*
Tôi đi bên ba ra đường
trước, chú tư khóa cửa nhà máy, đẩy xe Honda ra sau, Dung theo mấy chị gái lần
lượt đẩy xe đạp theo, không biết họ nói gì mà Dung cười nhưng có vẻ thẹn thùng.
Chú tư và ba đi Honda, tôi, Dung đón xe lôi máy. Chiều nay ba cho mấy chị nghỉ
sớm, không cần phải trở lại làm.
Tới nhà, má đứng trước
cửa chờ hồi nào rồi, chú tư với ba về trước, đang loay hoay gì đó với mấy bụi
tre tàu cao già góc vườn, mấy chị vội vàng đẩy xe vào bên hông nhà, nhanh chân
“chào bà, chào bà” rồi ùa vô nhà, xí xô xí xào người tay bưng người tay
dọn món này món kia trên cái bàn dài ngoài mái hiên sân sau, dưới bóng mát cây
vú sửa cũng già không thua gì mấy bụi tre. Tới nhà trễ, Dung vội vã bỏ đi lẹ tới
sân sau, mấy chị vẫn còn cười nói vang rân, má đứng ở cửa sau nhìn, Dung sớ rớ
cúi đầu chào bà, má cười “con hả”. Bữa cơm trưa thứ bảy vui trọn vẹn như
tiếng chim có đôi, hót líu lo trên mấy cành cây xoài xanh lá trong vườn, hong nắng
trời giữa hạ.
*
Rồi cũng một ngày đầu
hè, tan trường, đường phố hồng phượng nở, người lạ người quen đi ngang qua ngã
ba Ao Hồ, thấy trước căn nhà mái thiếc vách cây, sân trồng đầy hoa “Móng Tay”,
có tấm bảng đề ba chữ “Lễ Vu Quy” và ngôi nhà mái ngói âm dương rong rêu
phủ, trên đường ra phố tỉnh, không xa mấy một trường tư thục có tấm bảng “Lễ
Thành Hôn”, cả hai kết đầy hoa, rực rỡ khoe sắc một trời trong nắng mai ươm
màu phượng đỏ.
Thuyên Huy
Chuyện tự dựng mà tưởng chừng
như có thật – Sắp vào Hạ 2026



No comments:
Post a Comment