Thursday, December 3, 2020

Dọc Đường Quảng Trị - Ngọc Thủy

 Dọc Ðường Quảng Trị

 





Phò Trạch – Phong Ðiền
những người chiến sĩ, trên sông núi
hồn xác giờ đâu? đang ở đâu?
có thể đã tan cùng cát bụi?
hay là đang quyện gió mây đây?
(n.t.)

 

Ra khỏi thành phố Huế là con đường dài ngút mắt màu xanh của đồng ruộng núi non. Con đường quốc lộ I thênh thang đã từng ôm dấu chân những người lính chiến, chuyên chở bao linh hồn đã khuất từ chiến cuộc hôm qua. Lòng tôi bỗng dưng nao nao hồi hộp như nghe có tiếng ai gọi bên đường, nhưng nhìn quanh quất chỉ thấy cát bụi đang cuốn vồng sau lưng, phía trước là dãy Trường Sơn nhập nhòa màu lam tím thẫm xa xa. Tầm mắt tôi đi qua những khu vườn cây lá đang đứng lặng buồn cùng đất nghèo sỏi đá với vẻ hiền hòa an phận. Hóa ra con đường này dẫn đến Quảng Trị, một nơi tôi chưa từng đặt chân đến bao giờ nhưng vẫn thấy rất gần gũi thân quen với những địa danh, bởi nơi đây từng là địa đầu hỏa tuyến với những trận đánh ác liệt để đương đầu chặn đứng cuộc xâm lăng của Cộng quân Bắc Việt cách đây hơn ba mươi năm về trước. Lúc ấy tôi còn nhỏ, được sống an lành nơi thành phố Sài Gòn. Vòng đai an ninh được che chắn bảo bọc bằng sự chiến đấu và hy sinh dũng cảm của những người lính Quốc Gia miền Nam. Tôi không được biết gì nhiều về chiến cuộc thời gian lửa đạn đó, nhưng tôi có nghe qua để thuộc nhớ và yêu quý những cái tên Ðông Hà-Quảng Trị-Thừa Thiên-Ái Tử-La Vang-Mỹ Chánh-Cam Lộ-Gio Linh… với biết bao sự khốc liệt, oai hùng mà tôi cảm thấy rất xúc động và hãnh diện về những địa danh ghi lại những chiến công lừng lẫy ấy như tôi từng hãnh diện tự hào về những bài Quốc sử thời Lý-Trần-Lê-Nguyễn…có những trận Bạch Ðằng-Ðống Ða-Mê Linh-Vân Ðồn-Chi Lăng-Nhật Tảo-Ba Ðình…

Từ Huế ra Quảng Trị theo dọc đường quốc lộ I năm xưa cũng đã ghi lại những trận đánh hào hùng của Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa như: Hạ Lào-Lam Sơn, A Lưới-Khe Sanh, Cổ Thành Quảng Trị, A Shau, Mỹ Chánh-Hải Lăng…

Mắt tôi vừa chạm đến hai chữ Phong Ðiền khi xe vừa tiến vào thị xã này, tôi liền nhớ ngay đến câu chuyện Một Thời Ðể Nhớ mà tôi đã viết về trận phản phục kích lẫy lừng của Tiểu Ðoàn 2 Trâu Ðiên Thủy Quân Lục Chiến đã xẩy ra ở cầu Phò Trạch năm 1966.

Trên xe, ngoài một số người đang ngắm cảnh hai bên đường như tôi, một số đang ngủ gà ngủ gật vì sáng thức sớm để khởi hành nhanh, trong đó có Vũ là người hướng dẫn viên cho đoàn. Tôi vội đứng dậy, đi xuống cuối lòng xe lay lay Vũ, anh chàng bừng mắt dậy ngơ ngác, tôi liền hỏi: Vũ ơi, đoạn đường này có đi ngang qua cầu Phò Trạch không vậy? Vũ nhíu mày suy nghĩ: Ơ… Vũ cũng không biết, chị Thủy có cần gì không? Tôi nói mau: Nếu có đi ngang qua cầu Phò Trạch, Vũ vui lòng ngừng xe cho chị xuống để chụp ở đó một tấm hình. Chị cần chuyện đó, em giúp được không? Vũ suy nghĩ vài giây rồi trả lời: Ðược chứ, Vũ sẽ nói anh Thành ngừng lại chỗ nào chị muốn xuống. Chị đã có sẵn máy chụp hình chưa? Như cái máy, tôi bước lên vài hàng ghế, chỗ anh chị Phương-Nhẫn ngồi, hỏi ngay: Một lát nữa, xe ngừng, anh Phương có thể chụp giúp hộ tôi mấy tấm hình được không? Những người bạn đồng hành của tôi sốt sắng nhận lời ngay khiến tôi mừng quá vì không ngờ hôm nay lại có dịp đi ngang những nơi chốn mình đã từng viết qua nhưng thực sự chưa lần nào được đặt chân tới bao giờ. Tôi vội vàng đi nhanh lên hàng ghế trên, ngồi sau lưng Thành, người tài xế trẻ tuổi lúc nào cũng sẵn nụ cười hiền lành trên môi. Vừa chăm chú theo dõi hai bên đường vì thực sự, cả tôi lẫn Thành đều không ai biết cầu Phò Trạch nằm ở đâu, có trên đoạn đường sắp đi tới hay không, vừa chuyện trò mưa nắng với Phi Nga, người bạn ở Pháp về kinh đô ánh sáng Ba Lê.

Quận lỵ Phong Ðiền khá rộng với nhiều ấp xã, thôn Ðại Lược, làng Ðồng Xuyên, Mỹ Xá…. Những lũy tre xanh vươn mình trong nắng vẫn không che giấu được vẻ cằn khô của miền Trung nắng cháy, khó nghèo dù có phá Tam Giang chảy xiết dòng nước đổ dài từ bờ biển phía Ðông. Tôi phóng tầm mắt qua bên kia dòng phá Tam Giang, nhớ tới những câu thơ của thi sĩ Tô Thùy Yên mà mường tượng đến bước quân hành của những người lính chiến đã từng gian khổ nơi đây:

chiếc trực thăng bay là mặt nước
như cơn mộng nhanh
phá Tam Giang, phá Tam Giang
bờ bãi hỗn mang, dòng bát ngát
cát hôn mê, nước miệt mài trôi
ngó xuống cảm thương người lỡ bước
trời nước mênh mông, thân nhỏ nhoi
phá Tam giang, phá Tam Giang
nhớ câu ca dao sầu vạn cổ:
Phá Tam Giang ngày rày đã cạn!
(Tô Thùy Yên)

 

Xe chạy bon bon trên đường trường quốc lộ. Qua nhiều xóm làng, kênh rạch, cánh đồng xanh cùng những bãi cát dài trơ trụi. Ðây rồi, cây cầu dài phía trước có lẽ là cầu Phò Trạch. Tôi khẽ đập vai Thành: Thành ơi, xem kỹ có phải cây cầu này là Phò Trạch thì ngừng cho tôi xuống nhé. Tới gần, tấm biển xanh lớn kẻ chữ trắng nổi: Cầu Phò Trạch. Lý Trình KM 794+394. Chiều Dài: 124.8m. Chiều Rộng: 12m. Xe ngừng lại ngay đầu cầu. Tôi gọi anh Phương nhờ đem máy hình theo rồi nhẩy xuống xe vì biết tất cả các loại xe không được phép ngừng nơi đây nên phải vội vàng. Tôi đưa mắt ngó quanh. Ðây là chiếc cầu đúc mới, được xây ngoài mặt lộ sau này. Còn chiếc cầu sắt cũ phía trong, nơi Tiểu Ðoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến Trâu Ðiên bị Việt Cộng phục kích với một lực lượng và kế hoạch quy mô gồm một Tiểu đoàn 800 chính quy cùng du kích địa phương thuộc đơn vị H99 trang bị nhiều vũ khí đại bác, đại liên, súng cối v.v… bố trí dài 3 cây số, mai phục sẵn hai bên đường từ nửa đêm trước vì biết tin Tiểu Ðoàn 2 TQLC sẽ khởi hành từ Huế ra tăng phái cho Sư Ðoàn I Bộ Binh ngoài Quảng Trị-Ðông Hà vào rạng sáng ngày 29 Tháng Sáu, 1966. Thế là tôi cũng từ Huế vượt qua ba mươi cây số trên dọc đường số I để đến được nơi xẩy ra trận đánh kinh hoàng nhưng cũng thật lẫy lừng ngay bên cầu Phò Trạch cách đây đúng ba mươi tám năm, cũng vào một buổi sáng đầy ánh nắng vàng tươi như hôm nay. Thật không ngờ, với những cảm xúc đang dâng cao đến nghẹn ngào trong tôi. Cách hai năm về trước cũng vào khoảng thời gian này, tôi bắt đầu đặt bút viết nên câu chuyện tưởng nhớ về vị Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ 2 TQLC Lê Hằng Minh đã anh dũng hy sinh tại nơi này (29/6/66). Giờ đây trước mặt tôi, chiếc cầu sắt cũ kỹ rỉ sét nằm chơ vơ bên con rạch nhỏ, không người, xe qua lại từ nhiều năm qua.

Lặng lẽ âm thầm. Nhưng đó là dấu tích đã ghi lại chiến công cùng những cái chết oai hùng mà thời gian không bôi xóa được. Cảnh vật còn nguyên như đang sống dậy từng phút giây hùng tráng. Lùm cây cổ thụ cao che bóng mát bên đường cũng đã thấm bao dòng máu đổ. Không biết ngày đó chú Minh đã ngã xuống bởi viên đạn xé nát lồng ngực nằm ở đoạn đường nào. Chắc chú chẳng ngờ, có một đứa bé chú gặp lúc tám tuổi nay đã lớn lên với gần bốn mươi năm sau, đang đứng đây tìm lại hình ảnh chú hiên ngang chiến đấu cùng quân giặc năm nào. Trong một thoáng ngắn, những hình ảnh tôi đã dựa vào các lời kể của những người trong cuộc hoặc liên quan, tài liệu báo chí để viết dựng lại những diễn tiến trận đánh trong câu truyện ‘Một Thời Ðể Nhớ’ chợt hiện lên rõ từng chi tiết. Kìa, đường rầy xe lửa phía bên kia, nơi giặc chờ sẵn để phục kích, đoàn xe của Tiểu Ðoàn Trâu Ðiên vừa tới, đạn từ trong bắn ra xối xả như tên. Nhưng vị tiểu đoàn trưởng TÐ 2 đã cùng với các đồng đội chiến hữu không hề nao núng, quyết tiến xung phong, hàng hàng lớp lớp như vũ bão, người và đạn phản công lại chớp nhoáng như gươm bay. Quân địch rơi rụng thảm thương, vội chém vè chạy lui về phía núi Cận Sơn. Nhưng các lực lượng TQLC Mỹ, Thiết Giáp và Tiểu Ðoàn 5 Nhẩy Dù đã kịp thời truy quét sạch. Dãy đồi trọc phơi mình trước mắt tôi, hóa ra cũng có lúc là sự thật để đối diện thật gần. Ai đi ngang đoạn đường này có còn nhớ và biết chăng, vùng đất xám hoang vu kia đã từng thấm trộn bao xương máu của những người chiến sĩ đã đổ xuống cho quê hương dân tộc được tự do yên vui.

Dòng nước dưới chân cầu vẫn lặng lờ trôi chảy. Cảnh bỗng trở nên buồn hiu hắt trước ánh nắng soi chiếu quá tỏ tường lên mảnh đất nghèo cằn khô chưa đủ sức nuôi dưỡng ruộng đồng tươi tốt phì nhiêu.

Gió im lìm không lay động nổi hàng cây rung tiếng lá. Nhưng sao lòng tôi quá đỗi xao động, bàng hoàng. Tôi ngó tới ngó lui, mắt muốn thâu nhìn tất cả. Nhưng rồi cũng phải bước nhanh lên xe, sợ mọi người phải chờ lâu dù biết tất cả đều kiên nhẫn dành cho tôi nhiều thông cảm.

Thôi từ biệt những người chiến sĩ đã ở lại nơi này năm xưa. Ðất thiêng sẽ giữ lại hồn linh các vị để sớm có một ngày cùng muôn dân nước Việt dựng lại lá cờ Tổ Quốc thân yêu rạng rỡ bay trong ánh nắng huy hoàng tự do.

Lòng dấy lên bao cảm xúc đến nghẹn ngào, tôi nhớ đến những câu thơ đã viết tặng vị tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 2 Trâu Ðiên TQLC cùng những vị anh hùng đã hy sinh tuổi trẻ cùng xương máu cho xứ sở Việt Nam:

xin rót xuống đây lòng biển cả
lòng người chan chứa một niềm tin
rằng mai đất nước mình tươi thắm
Huế dựng uy nghi một tượng đài
trong khói nhang thơm trùm quá khứ
bao người Vị Quốc đã Vong Thân!
(n.t.)

 

Ngọc Thủy

Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/cuu-chien-binh/ccb-chuyen-ke-ve-mot-chien-si-anh-hung-cua-qlvnch-trung-ta-le-hang-minh/

 

 

Chiều Anh Rời Sài Gòn - Trần thiên thị

 CHIỀU ANH RỜI SÀI GÒN





















“lục bình vừa trôi vừa trổ bông ”
ĐYNH TRẦM CA

1.
anh như trái xoài nằm trong đôi quang gánh cô hàng rong
vừa trẩy qua phố người
vừa ngọt dần từng phút
chiều nay xa sài gòn
nào em nhanh tay mà cầm lấy
đừng để anh chín dần trong trí nhớ xa xôi

2.
chiều anh xa sài gòn
em sẽ không đi cùng anh
anh không thể mang theo mình
từng nhành cây ngọn cỏ
anh không thể lặng im như đã từng trước bão
chỉ muốn đưa tay mà níu lấy người

3.
tán hờ một câu với câu với cô hàng nước
để nhớ rằng môi đã từng ngọt ngào
nhìn trộm đôi chân trần
nhớ một eo thon
khói bụi chẳng thể nào làm mờ ký ức
thôi em
chiều anh rời sài gòn

4.
em cứ ném chiếc hạt xoài chỗ nào cũng được
bờ bãi phương nam
nơi nào anh cũng mọc
em cứ đổ chén rượu thừa của cuộc vui ngày hôm qua
chỗ nào cũng được
phù sa rồi sẽ nẩy những mầm xanh

5.
chẳng có chuyến đi nào đến được vô cùng
ngồi ở chân cầu đen
nhìn lên cầu Sài gòn
có quá nhiều chiếc cầu đưa người sang sông
chẳng có anh công an nào xếp lai dùm lòng bộn bề
để chiều nay ta đi

6.
chỉ có mỗi cô trật tự viên đen nhẽm
cầm chiếc dùi chỉ qua chỉ lại
miền nam vào mùa cây trái
ta và em
trơ hai nhánh xương rồng

7.
ơi những tình nhân
ngồi hai đầu chiều cầu bập bênh
chỉ có cảm giác được gần nhau khi còn nhún nhảy
tháng sáu nắng nôi
chờ mưa tháng bảy
đi đã mòn giày
cứ thấy em vẫn ở phía bên kia …

 

trần thiên thị

304Đen – Llttm OVV

 

Cô Giáo Miền Nam, Học Trò Miền Bắc - ThaiNC

 

Cô Giáo Miền Nam, Học Trò Miền Bắc





 

Hơn 30 năm sau, họ mới gặp lại nhau trên đất Hợp Chủng Quốc. Cô giáo nay đã già. Học trò cũng không còn trẻ nữa. Cô dĩ nhiên không nhận ra trò, nhưng trò đã nhận ra cô. Và cô giáo Oanh bỗng nhớ lại tất cả những ngày giờ tai hoạ.


– Các đằng ấy ơi, cho tớ chơi với!

Con nhỏ cố nở nụ cười thân thiện nhất năn nỉ ba đứa bạn khác cùng lớp đang đánh đũa trước sân. Một đứa đang định tung trái banh lên, bỗng dừng lại, che miệng cười khúc khích.

– Đằng ấy? Hí! Hí!

Đứa kia chanh chua hơn:

– Ậy, tụi “tớ” chơi dở lắm, không dám chơi với “đằng ấy” đâu.

Cả bọn cùng cười xòa sau câu đùa của đồng bọn. Đứa thứ ba có vẻ biết điều hơn một chút:

-Tụi tao chơi gần hết bàn rồi, để mai rồi mày chơi chung nghe.

Con nhỏ buồn rầu quay lại. Nó biết con kia chỉ nói lấy lệ mà thôi. Ngày mai tụi nó sẽ nói những câu tương tự, hay cũng kiếm những cớ khác để từ chối không muốn auk h chơi chung. Đây không phải là lần đầu tôi chứng kiến những đứa học trò trong lớp đồng lõa nhau cô lập Vân. Nó là đứa học sinh miền Bắc đầu tiên trong lớp tôi của niên khóa 1976/77.

Nhớ lại sau hôm khai giảng niên khóa mới được hai ngày, tôi đã giật mình lo lắng khi bỗng nhiên bị gọi lên Phòng Giám Hiệu có chuyện cần! Chuyện gì? Đối với tình hình bây giờ, bị gọi lên văn phòng riêng rẻ như lúc này là một dấu hiệu không tốt. Nhưng sau khi “tự kiểm điểm”, tôi thấy mình không phạm điều gì sai nên cũng yên tâm đôi chút.

Mụ hiệu trưởng đón tôi niềm nở hơn mọi ngày. Thấy tôi đi vào, một người đàn ông trong trang phục bộ đội với cái nón cối trên bàn ngừng tay vấn thuốc đứng dậy chào. “Đồng chí” Trần Bình, theo lời giới thiệu, là một cán bộ cao cấp từ Hà Nội đang trong thời gian công tác dài hạn tại thành phố Sài Gòn. Vân là con gái ông ta. Con bé hôm đó mặc áo bà ba trắng, quần satin đen, tóc dài và rậm kẹp lại gọn gàng phía sau … Nhìn Vân lễ phép chào, tôi bỗng nghe bỗng nghe một chút xót xa. Quả là một xưởng đúc tuyệt vời! Con nhỏ trông không khác chi một cô cán bộ tí hon. Màu sắc duy nhất trên người con bé là đôi dép rỗ màu vàng nhạt. Đôi dép vẫn còn mới lắm.

Tôi dắt Vân về lớp và xếp ngồi bàn đầu để có thể dễ dàng “chú ý giúp đỡ” như lời cha nó ân cần nhắn nhủ. Bỏ qua những gì bên ngoài, nó cũng khá xinh xắn. Gương mặt bầu bĩnh tuy hơi đen, nói thưa lễ độ. Tuy chán ghét mụ hiệu trưởng đến thậm tệ, không chút cảm tình với người đàn ông trong bộ quân phục chuyên chính màu xanh ấy, tôi vẫn không thấy có lý do gì để ghét bỏ Vân.

Nhưng, bốn mươi mấy học sinh trong lớp tôi lại không nghĩ như vậy. Những ánh mắt kỳ thị ngày càng rõ rệt. Những mái đầu xanh tụm năm tụm ba xì xầm bàn tán. Tôi nghe rõ một lần chúng gọi Vân là “con bộ đội”, kháo nhau “coi chừng nó cho mày đi học tập cải tạo đó!” v.v và vv… Vì thế mà đã gần tháng, con bé vẫn chưa hội nhập vào chúng bạn, mặc dù nó cũng cố gắng lắm. Tôi tội nghiệp giùm Vân, nhưng cũng không trách được lũ học trò còn lại. Xã hội và hoàn cảnh đã gieo vào đầu óc lũ trẻ thơ ngây những tư tưởng nghi kỵ, oán ghét tất cả những người đã trực tiếp, hay có liên hệ đến sự mất mát trong gia đình chúng. Tôi biết trong lớp có đứa cha là lính Cộng Hòa đã hy sinh đền nợ nước. Một số khác là con em của sĩ quan hay công chức dưới chế độ Sài Gòn cũ đang bị đi học tập cải tạo tại một vùng hoang vu nào đó, chưa rõ ngày về.
Anh Hai tôi là đại úy Biệt Động Quân, cũng khăn gói quả mướp theo lời nửa dụ dỗ nửa đe dọa của chính quyền nay đã hơn một năm. Tin tức duy nhất nhận được là vài lá thư gởi về mà địa chỉ là một hòm thư vô nghĩa. Lá thơ theo một khuôn mẫu nhất định như trăm ngàn cái khác, trấn an và động viên gia đình tham gia lao động, triệt để thi hành chính sách của nhà nước. Chị dâu tôi mòn mỏi trông chờ. Quỹ gia đình thu hẹp, chị phải dấn thân ra chợ trời chụp giựt, tráo trở để kiếm tiền nuôi ba đứa con. Những lúc tôi sang thăm cháu là dịp chị mở bầu tâm sự. Chị nguyền rủa, oán than không tiếc lời với thời thế đảo diên sâu bọ làm người … ngay trước bọn nhỏ.

Cha mẹ đã vậy, con cái cũng dễ dàng ảnh hưởng. Người lớn oán người lớn, thì trẻ con cũng… ghét trẻ con. Dĩ nhiên những mái đầu thơ chưa đủ trí khôn để hiểu thế nào là độc tài, là đảng trị, là mất mát tự do … Đầu óc lũ trẻ như những trang giấy trắng mà lớp cha anh đã vô tình quệt vào một vết đen thù ghét, tị hiềm.

Tôi không ghét Vân như học trò tôi. Trái lại là khác. Tôi biết nó đang bị cô lập và lạc loài giữa một môi trường xa lạ. Nhưng mỗi lần nhìn Vân, tôi không khỏi liên tưởng tới mụ hiệu trưởng hợm hĩnh, lúc nào cũng rình rập các giáo viên. Mụ cũng đi làm bằng áo bà ba trắng, quần satin đen khuôn mẩu đó, ngồi bắt chân lên ghế salon trong văn phòng say sưa giảng chủ nghĩa Mác-Lê. Tôi cũng thấy qua con bé, cha nó hôm gặp mặt. Mặc dù ông ta vẫn lịch sự và nhũn nhặn, tôi cũng không khỏi mang tư tưởng đây là người đã cướp đi tất cả tự do của toàn miền nam, trong đó có tôi. Không chừng ông ta đã đối diện với anh tôi trong một trận chiến nào đó.

Vân học thua kém chúng bạn rõ ràng. Những môn phải học thuộc lòng, con bé tương đối chu toàn một cách chăm chỉ. Nhưng về toán số thì thật bết bát. Những bài toán đố đơn giản với trình độ học sinh lớp bốn cũng khiến con bé ngồi cắn bút. Tôi cũng không rõ ngoài Bắc nó đã học lớp mấy, nên khi lên gặp mụ hiệu trưởng, tưởng là sẽ tìm hiểu thêm trình độ con bé để xếp lớp cho đúng. Ai ngờ mụ trừng mắt nhìn tôi:

– Chị bảo sao? Vân mà kém toán ư? Vô lý thật. Nó là học sinh tiên tiến, và xong lớp hai ở Hà Nội rồi. Chị cũng biết trung học ở miền Bắc ưu việt chỉ 10 năm thôi là đã tương đương với lớp 12 trong này rồi (mụ hãnh diện). Nếu cứ học ngoài ấy, nó lên lớp ba, là phải bằng… lớp năm trong này cơ đấy. Tôi xếp nó vào lớp bốn của chị để thử, rồi tính sau…

Mụ ngừng một chút lấy hơi, rồi tiếp:

– Chị có theo đúng chương trình không? Tôi muốn xem lại giáo án của chị.

Trời ơi lý luận như mụ thật là độc đáo. Bỏ qua trình độ của hai học sinh tốt nghiệp hệ 10 năm và 12 năm. Nhưng nói một học sinh lớp hai miền Bắc đã tương đương với lớp bốn trong Nam, thì tôi cũng đành chịu. Cơn tức giận trào lên, tôi định cãi. Nhưng câu cuối cùng của mụ làm tôi chột dạ, ngậm bồ hòn nuốt xuống. Nói thêm với người đàn bà này chỉ vô ích. Không chừng mụ lại ghép cho tôi tội phản động, bài bác chế độ … thì mất việc. Đối với hoàn cảnh hiện nay, mất việc là không lao động, là kinh tế mới. Thôi được, mụ là kẻ chiến thắng làm vua, tôi thua phải làm giặc thôi!

*

Chiến tranh đã qua, Nam Bắc một nhà cùng nhau tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa. Những cái loa thông tin nhai đi nhai lại một điệp khúc cằn cỗi và trơ trẽn. Chỉ một thời gian ngắn, toàn miền Nam đã thấm đòn. Người ta bảo nhau trông thấy Văn Vĩ lái xe Honda dạo mát Sài Gòn! Đi đâu tôi cũng nghe bàn tán về những chuyến đi danh từ nói: Tàu 3 blocks, máy Yammar đầu xanh, đầu bạc v.v… Chỉ nghe và biết thế thôi, tôi hiểu mình không có diễm phúc tham dự vì gia đình không đủ khả năng tài chánh. Nếu có, ba mẹ tôi cũng phải ưu tiên cho hai đứa em trai đang tuổi sắp đi nghĩa vụ quân sự. Tôi chuẩn bị tinh thần làm cái cột đèn bất đắc dĩ.

Một người bạn tù chung trại vốn là bác sĩ quân y có chuyên môn nên được thả về trong đợt đầu tiên ghé qua báo tin, anh Hai tôi đã ra đi vĩnh viễn. Mấy tháng trước, đúng một năm sau ngày tình nguyện đi học tập cải tạo, anh và một số sĩ quan khác chung cảnh ngộ đã cùng nhau đòi hỏi ban quản giáo nếu họ có tội gì hãy đưa ra tòa xét xử công bằng. Tại sao lừa dối họ nói đi học tập có 10 ngày mà nay đã một năm trôi qua, ai cũng để lại vợ dại con thơ không rõ cuộc sống thế nào, đem thân khổ sai lao động trên những vùng rừng thiêng nước độc mà ngày về tăm tối mù khơi.

Kết quả nhóm sĩ quan đó bị kết tội toan tính chống đối nhà nước, biệt giam với những hình phạt khắc nghiệt. Anh Hai tôi vốn đang bị bệnh, thể chất suy yếu nên không kham nổi, ra đi về miền vĩnh cửu. Anh mất đã mấy tháng rồi nhưng gia đình, cha mẹ, vợ con hoàn toàn không hay…
Tôi lãnh nhiệm vụ qua báo tin dữ cho chị Hai, vì người bạn tù chỉ đến nhà ba mẹ tôi nói vài câu ngắn rồi phải đi ngay. Tối hôm đó, mắt tôi quầng đỏ ấp a ấp úng không thành lời. Chị vẫn bình tĩnh hỏi chuyện gì đã xẩy ra cho anh Hai? Tôi như được mở khóa, khóc òa như đứa trẻ, kể lể. Chị ngồi bất động, không một phản ứng. Nhìn chị, tự nhiên tôi cảm thấy rờn rợn. Người đàn bà trước mặt chỉ hơn tôi hai tuổi mà như xa cách đến hai mươi năm. Chỉ hai năm trời tảo tần nuôi con, nuôi chồng, đã tàn phá dung nhan chị đến độ tàn nhẫn. Nay niềm hy vọng cuối cùng đã tắt. Chị ngồi yên hồi lâu, lẳng lặng đứng dậy bên giường ôm thằng út lúc đó đang ngủ vùi vào lòng, xua tay ra hiệu cho tôi đi về. Tôi biết mình không thể nói được điều gì thêm. Tất cả những lời an ủi hay khuyên nhủ lúc này chỉ là vô nghĩa. Bước ra cửa, tôi quay lại nhìn và thấy giọt nước mắt đầu tiên của chị rơi trên mặt thằng bé.

*

Hòa bình rồi mà súng vẫn nổ trên khắp mọi miền. Đâu đó vẫn còn có kẻ ngã gục, còn tù tội, chống đối. Suốt hai mươi năm nội chiến, gia đình tôi đã may mắn toàn vẹn. Anh Hai tôi là người duy nhất trong gia đình chính thức cầm súng chiến đấu, nhưng đã trở về với mái ấm gia đình sau lời kêu gọi đầu hàng của cấp lãnh đạo từ tháng tư năm ấy. Nay anh đã nằm xuống, hy sinh trong muộn màng và tức tưởi. Sự ra đi của anh đã tác động vào tâm lý tôi mãnh liệt.

Ngày Sài Gòn hoàn toàn rơi vào tay Cộng Sản, gia đình tôi cũng như tất cả người miền nam dù biết là tương lai bất định, nhưng dù sao cũng còn niềm hy vọng mong manh: hòa bình. Cộng sản hay quốc gia, cũng là người Việt. Giải đất này từ bắc chí nam đã rách nát sau bao năm chịu đựng bom đạn. Đã đến lúc mọi người dẹp hết hận thù, chủ nghĩa, để cùng nhau hàn gắn.

Mọi hy vọng chỉ là cái bánh vẽ to tướng. Dân miền Nam thấm đòn. Đã muộn rồi. Mỹ đã cút và Ngụy cũng đã nhào. Chính phủ mới nắm chặt bao tử người dân qua chính sách hộ khẩu. Hàng ngũ công an dày đặc khắp phố phường làm dân chúng hết đường cục cựa, chỉ còn âm thầm chịu đựng và… nguyền rủa.

Đến bây giờ tôi mới biết thế nào là căm hờn. Thời gian qua, tôi cũng như bao người khác, chán chường một cách thụ động. Nhưng ngoài những mất mát chung, chế độ cũng chưa đụng chạm gì đến gia đình tôi. Nhìn chung quanh, những gia đình với nhiều bất hạnh; những người mất nhà mất cửa từ vùng kinh tế mới trở về thành phố lang thang đói khát không hiện tại không tương lai.. tôi đã thấy thỏa mãn vì hoàn cảnh mình cũng còn sáng sủa hơn bao người khác.

Tôi đã lầm. Sự yên ổn hiện tại của mình chỉ là tạm thời. Chế độ sẽ không chừa một ai khi thời gian cho phép. Cái chết của anh Hai tôi là phát súng khai hỏa đầu tiên. Tôi căm hờn nhìn những cái nón cối, đôi dép râu, khẩu súng AK … những thứ tiểu biểu tượng trưng cho chế độ.
Vân đập vào mắt tôi mỗi ngày qua cách ăn mặc và cái giọng Bắc Kỳ chua chua của nó. Ôi đối tôi, con nhỏ này đã được nhào nặn từ lúc mới sinh ra. Đầu óc nó chắc chứa đầy những …Bác, và đương nhiên khi lớn lên sẽ sẵn sàng chết cho Đảng. Trời ơi, nó sẽ là một con nhỏ cộng-sản!
Trước kia tôi còn thông cảm, giúp đỡ Vân, nay tôi lại ngấm ngầm khoái trá nhìn học trò cô lập “con bộ đội” này (?). Tôi biết mình đã nhỏ mọn và sai lầm khi tự nhiên ghét bỏ Vân, nhưng cái chết của anh tôi như đám mây đen kịt che khuất mọi suy nghĩ công bằng mà một người lớn, có học như tôi phải nhận rõ.

Có lẽ Vân cũng thấy sự thay đổi và thắc mắc lắm. Người duy nhất trong lớp đối xử tốt với nó đã về hùa với đám đông để nó một mình. Vân càng mặc cảm hơn khi biết mình thua kém bạn bè trong các môn học. Đôi khi nhìn con bé ở lại trong lớp lơ đãng nhìn các đứa khác chơi đùa ngoài sân trong giờ giải lao, tôi cảm thấy tội nghiệp. Nhưng rồi hình ảnh anh tôi ngã gục nơi trại cải tạo nổi lên, tôi lại ghét nó thêm.

*

auk hi vào lớp độ nửa tiếng, tôi được gọi lên Phòng Giám Hiệu. Thôi chết! Hậu quả đã đến như tôi lo sợ, nhất là hôm nay Vân vắng mặt.

Sự việc bắt đầu từ tuần trước, khi trong giờ sinh hoạt tôi chọn bài hát “Đêm Qua Em Mơ Gặp Bác Hồ” cho cả lớp cùng ca. Thay vì câu “râu bác dài tóc bác bạc phơ”, hai ba cái miệng từ cuối lớp gào lên “chân bác dài, bác đạp xích lô” tôi thấy Vân quay lại nhìn thằng Tùng to giọng nhất. Thằng nhỏ không biết tai họa sắp tới, còn làm mặt xấu chọc Vân. Tôi làm ngơ, vội vàng chấm dứt ngay giờ sinh hoạt và để ý Vân. Nhưng con nhỏ không để lộ nét gì khác hơn ra ngoài mặt.

Một tuần qua, tôi hồi hộp sợ Vân lên báo cáo mụ hiệu trưởng. Thằng Tùng chắc chắn bị đuổi học vì tội phản động. Ba mẹ nó ở nhà dĩ nhiên gánh lấy hậu quả. Và tôi cũng bị rắc rối to, nhất là đã lơ qua không xét đến.

Khi lên tới Phòng Giám Hiệu và nhìn vào, tim tôi chùng xuống vì thấy Vân lấp ló trong đó. Niềm lo âu đã thành sự thật! Không còn đường tháo lui, đành đẩy cửa bước vô. Tôi ngạc nhiên vì người đứng dậy chào không phải mụ hiệu trưởng đáng ghét. Người đàn ông là cha của Vân. Ông ta vẫn trong bộ quân phục màu xanh, cái nón cối để bên cạnh như lần đầu gặp gỡ cách đây mấy tháng. Hắn đến đây để bắt tôi ư? Câu hát giễu vô ý thức của một đứa trẻ có thể đưa đến kết quả nghiêm trọng như vậy sao? Tôi thực sự lo sợ.

Cha của Vân không đi ngay vào vấn đề như tôi nghĩ. Ông ta quanh co hỏi thăm tình hình nhà trường học sinh… đủ mọi chuyện. Đôi khi đi vào chuyện cá nhân riêng tôi nữa. Hắn muốn gì đây? Định giở trò mèo vờn chuột ư? Tự ái sùng sục nổi dậy đẩy lui niềm lo sợ lúc ban đầu. Tôi thấy mình đang đối diện với một kẻ thù xảo trá. Hắn đã chiến thắng chúng tôi bằng vũ lực, và nay đang muốn đánh gục tôi bằng tâm lý.Tôi ngang nhiên đối đáp với tất cả niềm ấm ức bấy lâu chất chứa về phương pháp giảng dạy, chương trình, giáo án v.v… và nhất là nhấn mạnh về trường hợp Vân không thể theo nổi các bạn cùng lớp khác. Hắn kiên nhẫn nghe, thỉnh thoảng gật gù. Tôi hăng say bày tỏ tư tưởng không chút e ngại. Tôi cảm thấy sung sướng. Ít ra tôi cũng một lần hiên ngang đối diện với hoàn cảnh.

Khi tôi ngưng nói, người đàn ông nhìn tôi thật lâu, và chậm rãi:

– Cám ơn cô đã cho biết những điều vừa rồi. Quả thực tôi chưa bao giờ nghĩ đến … Dù sao, tôi đến đây hôm nay là để cùng cháu Vân từ giã cô. Tuần tới tôi trở ra công tác tại Hà Nội và Vân sẽ theo tôi ra ngoài ấy.

Câu nói thật bất ngờ làm tôi không tin ở tai mình. Ông ta và Vân gọi tôi lên đây để từ giã, không phải để bắt mình ư? Tôi quay sang nhìn Vân và nghe nó nói:

– Thưa cô, em xin chào cô.

Sự việc xẩy ra làm tôi hơi lúng túng. Thì ra Vân không báo cáo gì về vụ thằng Tùng. Bỗng dưng tôi thấy hổ thẹn. Mình đã ngờ oan, lại thêm đối xử không đẹp với Vân gần tháng qua. Tôi cảm thấy cay cay ở mắt. Bỗng nhiên cái nón cối không còn nằm trên đầu của Vân nữa. Đôi dép râu cũng trở lại nguyên hình đôi dép ny-lông màu vàng nhạt. Trước mặt tôi là một học trò thơ ngây như bao nhiêu đứa trẻ khác. Nhân chi sơ, tính bản thiện. Trong đầu óc của Vân có thể chứa đầy bác và đảng, đoàn và đội, nhưng tất cả cũng chỉ vì nó lỡ sinh ra và lớn lên trong xã hội, trong một chế độ như vậy. Hay đúng ra, Vân cũng như bao kẻ khác, là nạn nhân của chính sách “Vì lợi ích mười năm trồng cây; vì lợi ích trăm năm trồng người” mà thôi.

Lần đầu tiên sau cái chết của anh Hai, tôi trở về với bản ngã vô tư của mình. Đành rằng chế độ có nghiệt ngã, đó là chuyện người lớn. Trẻ thơ ở đâu cũng chỉ là những trang giấy trắng. Nếu tôi không thể tô xanh điểm hồng trên những trang giấy ấy, thì ít nhứt cũng không có quyền bôi lọ bằng những giọt mực đen.

Vân đứng khép nép ở góc phòng, sau lưng cha nó, ngượng nghịu cúi gầm mặt, thỉnh thoảng len lén nhìn tôi. Năm năm trời làm nghề giáo, trường hợp học trò nghỉ học giữa niên khóa là chuyện đã xẩy ra. Những lần ấy, tôi thường cảm động nắm tay chúng để nhắn nhủ, cầu chúc em những lời sau cùng. Nhìn đứa học trò bé dại vì hoàn cảnh phải rời ghế nhà trường, tôi thường bâng khuâng khi nghĩ rằng trong lớp từ đây sẽ thiếu vắng một bóng dáng quen thuộc, giọng nói ngây thơ. Nhưng tôi cũng cảm thấy tâm hồn yên ổn vì những ngày tháng qua đã hết lòng thương yêu, dạy dỗ chúng. Đối với Vân lúc này, tôi thấy có sự thiếu sót, một món nợ ân tình với con bé. Tôi muốn chạy lại ôm Vân vào lòng, quên đi tất cả những hận thù, bom đạn, chủ nghĩa…, tất cả những gì đã chia cách hai chúng tôi.

Cha của Vân nhìn đồng hồ và đứng dậy:

– Đến giờ chúng tôi phải lên đường. Xin chào cô.

Ông ta bắt tay tôi từ giã. Vân lẳng lặng theo sau, nó lí nhí:

– Thưa cô em đi.

Cổ tôi nghèn nghẹn, muốn nói vài lời, nhưng không thốt lên được, chỉ gật đầu.

Ra tới cửa, ba của Vân dừng lại, hơi đắn đo một chút rồi nói:

– Tôi muốn thành thực khuyên cô một điều. Những gì cô vừa nói với tôi, đừng nói thế với ai cả. Không thay đổi gì được đâu. Với thời thế bây giờ, cô cũng biết…

Ông bỏ dở câu nói. Tôi gật đầu hiểu ý, và nhìn hai cha con bước mau trên sân trường đầy nắng.*

Món nợ ân tình của cô giáo Oanh, nhân vật xưng “tôi” từ đầu câu chuyện với cô bé Vân đó, đến hơn ba mươi năm sau mới được trả, trên mảnh đất tự do có tên Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ này.

Cô học trò từ miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa đi lao động xuất khẩu tại Cộng Hoà Dân Chủ Đức. Năm 1989, khi bức tường Bá Linh sụp đổ, đánh dấu sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Âu, Vân đã mau mắn xin ở lại xin tị nạn với nước Đức tự do nhân ái, không về Việt Nam nữa. Ba năm sau, cô gặp một người Việt du lịch từ Hoa Kỳ sang, kết hôn, và di dân theo chồng về Mỹ. Cô đang làm phụ tá văn phòng cho một bác sĩ Việt Nam ở Cali.

Cô giáo Oanh ở lại Sài Gòn một thời gian, cùng chồng là một sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa từng bị đi học tập cải tạo. Hai vợ chồng và gia đình được chương trình HO đưa sang định cư tại Cali 1991.

Cô nay đã già, hồi hưu, và đi khám bác sĩ.

Hai người gặp lại nhau tại phòng mạch. Cô dĩ nhiên không nhận ra trưò, nhưng trò đã nhận ra cô. Hai cô trò đã ôm nhau mừng mừng tủi tủi sau hơn ba mươi năm xa cách.

Còn ông cán bộ Trần Bình?

Vân ngậm ngùi cho hay cha của cô đã tử trận trong cuộc chiến biên giới 1979 với Trung Cộng. Mẹ của Vân đã dùng tất cả tài sản dành dụm được chạy chọt cho Vân đi lao động sang Đông Đức, dặn dò con gái tìm cơ hội đi luôn, nếu có thời cơ hãy đào thoát về miền tự do, đừng bao giờ trở lại Việt Nam nữa.

Vân đã thành công. Cô đã là một công dân Mỹ. Các con của Vân đều được sinh ra trên đất nước tự do này.

Về phần tôi, tác giả bài viết, may mắn được cô giáo Oanh kể lại mối duyên gặp gỡ với cô học trò tên Vân.

Cô giáo Oanh đó, là chị của tôi.

TháiNC

304Đen – Llttm - tvvn

 

Về Một Ánh Trăng - Đặng Tiến

 VỀ MỘT ÁNH TRĂNG

 
















Mười năm trời không làm thơ
Đêm nay bút cày luống chữ

Trần Lê Nguyễn

Trời ngát xanh lời chim khuyên mới chớm
Lời bao la lìa ý vụt bay cao
Lả cánh mộng hồn đêm lìa xác bướm
Về quỳ bên Em, dâng một cánh hoa đào

Tình gửi chân mây, Em còn nhớ kiếp nào
Hanh nắng trong lòng hay trăng xế chiêm bao ?
Ngày Em đến hoa quên mà lá nhớ
Anh đợi Em đây, Em đừng bỡ ngỡ
Sông ngàn xưa là tâm sự nước nghìn sau

Tóc từng sợi lạc dòng từ nguyên thủy
Trôi bơ vơ phế tích một thiên đường
Như chiếc lá lay bay về cội ý
Là lòng anh xin cưới một quê hương

Anh không viết lời thề lên lá đỏ
Màu sắc nào không ngờ vực thời gian ?
Đã quên thề còn ngoại tình với gió
Đêm hôm rồi nở một đóa phong lan …

Hạt cát nào ngậm lâu đài trong ký ức
Hạt sương nào nuôi biển lớn cuối tương lai
Dẫn lối Em về, muôn tế bào cháy rực
Lửa hành tinh lạc dấu đã đầu thai

Giông tố cũ đã san bằng quá khứ
Chút hoang liêu gìn lại gửi mai sau
Em đã hái từng trái sầu đỏ úa
Trên cành khô ươm lại đóa hoa đầu

Có bao giờ ai biết tiếng thương đau
Của loài chim ngậm hờn trong cổ họng
Mà vẫn bao dung triền miên như bọt sóng
Về gục bên Em, dâng một cánh hoa đào .

Đặng Tiến
FREIBURG, Xuân Canh Tuất
( Tập san VĂN số 151 tháng 4 năm 1970 )

 

 

Thằng Nhỏ Cầm Cái Lon - Minh Tạo

 

Thằng Nhỏ Cầm Cái Lon…

 




Thằng bé lắc đầu lia lịa và nói không uống. Tôi hỏi nó làm gì ngày nào cũng ra đây? và hiện sống với ai? Thằng bé như đoán được rằng: tôi chỉ là người khách ghiền cà phê nặng nên hàng ngày đóng đô ở đây nên nó cũng trả lời nhanh nhẹn rằng:

– “Con sống với ba má con, Ba con đi làm xa còn Má con đi phụ buôn bán ở ngoài chợ…”

Tôi hỏi tiếp:

– “Còn con có đi học không ?”

Thằng bé nói:

– “Con không có đi học… con ở nhà phụ với má nuôi heo…”…

Đó là lý do để nói lên sự hiện diện hằng ngày của nó nơi quán ăn nầy. Nghe thằng bé nói như thế, tôi nói với chị chủ quán ăn giúp cho nó lấy những cơm và thức ăn thừa, và cũng từ đó nó không còn đứng lúp ló ngoài cửa quán nữa. Và nhờ tánh tình hiền hậu thật thà chị chủ quán cho nó vô phụ dọn bàn đề lấy thức ăn dư mang về và cho nó ăn uống để phụ việc. Từ đó tôi và nó gần gũi nhau hơn và thân với nhau lắm.

Có lần thằng bé hỏi tôi:

– “Chú làm nghề gì vậy hả chú?”

Tôi chỉ trả lời ngắn gọn là ” Chú đang làm thinh”.

Đúng vậy mới cải tạo về mà, vợ con thì đã theo bên ngoại vượt biển hết rồi, nghe đâu đã định cư bên Úc, nay về ở với mẹ già ngày 1 buổi cà phê hai bữa cơm độn qua ngày. Thời gian ngột ngạt chậm chạp trôi qua, may mắn vợ chồng tôi đã bắt liên lạc được với nhau. Thế là những bữa cơm không còn ăn độn khoai củ hay bo bo nữa nhưng vẫn quen cữ sáng cà phê quán gần nhà. Không biết chị chủ quán có bỏ bùa mê hay tôi ghiền chỗ ngồi mà không bữa nào vắng tôi. Một hôm, tôi đề nghị theo thằng bé về nhà nó chơi cho biết vì nó nói ở cũng gần không xa lắm. Thấy nó do dự và tỏ vẻ sợ sệt, tôi biết ngay nó đang dấu diếm điều gì. Thương nó lắm, tôi dúi tiền cho nó hoài. Mấy hôm sau tôi lẳng lặng đi theo nó khi nó mang cơm và thức ăn dư về nhà buổi trưa. Khi thấy nó lủi vô một cái chòi nhỏ xíu thì tôi thật sự không ngờ.

Đứng dưới gốc cây Gòn cách nhà nó không xa tôi thầm nghĩ, nhà chút xíu như vậy gia đình 3 người ở thì chỗ đâu mà nuôi heo. Tôi đang đứng suy nghĩ đốt cũng hết mấy điếu thuốc thì thằng nhỏ lục tục xách lon xách nồi đi ra quán để thu dọn thức ăn buổi chiều. Đợi thằng bé đi khuất tôi lò mò đến nơi mà hồi nẫy nó vào. Đến đó mới nhìn rõ thì thật ra đâu có phải là nhà, một lõm trống được che dựng lên bằng những phế liệu đủ loại muốn chui vào phải khom mọp xuống. Nghe thấy có tiếng chân dừng lại, có tiếng đàn bà vọng ra hỏi. Tôi trả lời là đi kiếm thằng Tuất, thì nghe giọng đàn ông cho biết nó vừa đi khỏi rồi, và hỏi tôi là ai, mời tôi vào…. Vừa khom người chui vào tôi mới thật sự không ngờ những gì hiển hiện trước mắt tôi.

Người đàn ông hốc hác cụt hai giò tuổi cũng trạc tôi nhưng trông yếu đuối, lam lũ và khắc khổ lắm. Một người đàn bà bệnh hoạn xác xơ cả hai đang ăn những thức ăn thừa mà thằng bé vừa mới đem về. Vừa bàng hoàng, vừa cảm động vừa xót xa, nước mắt tôi bất chợt tuôn rơi mặc dù tôi cố nén…

Từ đó, tôi hiểu rõ về người phế binh sức tàn lực kiệt sống bên người vợ thủy chung tảo tần nuôi chồng bao năm nay giờ mang bịnh ác tính nặng nề thật đau xót. Tôi móc hết tiền trong túi biếu tặng và cáo lui. Về đến nhà tôi vẫn mãi ám ảnh hoàn cảnh bi thương của gia đình thằng bé mà tôi bỏ cơm nguyên cả ngày luôn. Sáng hôm sau ra uống cà phê, thằng bé gặp tôi nó lấm lét không dám nhìn tôi vì nó đã biết trưa hôm qua tôi có tới nhà nó. Nó thì tỏ vẻ sợ tôi, nhưng tôi thực sự vừa thương vừa nể phục nó nhiều lắm. Tôi kêu nó lại và nói nhỏ với nó tại sao không cho tôi biết. Tội nghiệp nó cúi đầu im lặng làm lòng tôi thêm nỗi xót xa. Có khách kêu trả tiền, như có cơ hội né tránh tôi nó chạy đi dọn bàn và tiếp tục công việc thu dọn thức ăn. Hèn gì sau này nó để thức ăn dư phân loại đàng hoàng lắm. Tội nghiệp hoàn cảnh của thằng bé mới mấy tuổi đầu mà vất vả nuôi cha mẹ theo khả năng chỉ tới đó.

Cha là một phế binh cũ trước 75 cụt hai chân, mẹ thì bị bệnh gan nặng bụng phình trướng to khủng khiếp và cặp chân sưng vù lên đi đứng thật khó khăn, nước da thì vàng mét như nghệ. Thằng bé là lao động chánh trong gia đình, nó có hiếu lắm. Từ đó tôi thường cho tiền đứa bé mua bánh mì cơm gạo về nuôi cha mẹ.

Vợ tôi làm thủ tục bảo lãnh tôi sang Úc. Ngày tôi đi tôi đau xót phải để lại hai nỗi buồn đó là để mẹ và em gái lại quê nhà và không còn cơ hội giúp đỡ thằng bé nữa. Sang Úc định cư, tôi sống tại tiểu bang Victoria mấy năm đầu tôi hết sức cơ cực vì phải vật lộn với cuộc sống mới nơi đất mới và đối với tôi tất cả đều mới mẻ và xa lạ quá. Từ ngôn ngữ đến thời tiết đã làm tôi lao đao không ít. Thỉnh thoảng tôi gởi tiền về nuôi mẹ và em gái không quên dặn em gái tôi chuyển cho thằng bé chút ít gọi là chút tình phương xa.

Mấy năm sau tôi về thăm gia đình, tôi có ghé tìm thằng bé thì nó không còn lấy thức ăn trong quán đó nữa. Tôi mới kể rõ hoàn cảnh thằng bé cho chị chủ quán biết. Chị chủ quán đôi mắt đỏ hoe trách tôi sao không cho chị biết sớm để chị tìm cách giúp gia đình nó. Tôi chỉ bào chữa rằng tại thằng bé muốn giấu không cho ai biết! Tôi ghé vội qua nhà thằng bé thì mới hay mẹ nó đã qua đời vì căn bệnh ung thư gan. Chỉ còn chèo queo một mình ba nó ở trần nằm một góc trông hết sức thương tâm. Hỏi thăm thì mới biết nó đã xin được việc làm đi phụ hồ kiếm tiền về nuôi cha.

Chúa Nhật tôi tới tìm thằng bé, chỉ mới có mấy năm mà nó đã cao lớn thành thanh niên rất đẹp trai duy chỉ đen đúa vì phơi nắng để kiếm đồng tiền. Tôi dẫn nó trở ra quán cà phê cũ, thấy nó hơi ái ngại, tôi trấn an là bà chủ quán tốt lắm tại không biết được hoàn cảnh gia đình nó. Ra đến quán ăn chị chủ quán năn nỉ nó về làm với chị, dọn dẹp và bưng thức ăn cho khách nhẹ nhàng hơn đi phụ hồ và chị sẽ trả lương như đang lãnh bên phụ hồ, tối về thức ăn thường bán không hết chị cho đem về nhà dùng khỏi phải mua hay đi chợ. Lần đầu tiên tôi thấy nó khóc, chị chủ quán cũng khóc theo làm tôi phải đứng dậy bỏ ra ngoài để khỏi phải rơi nước mắt vì chịu không nỗi.

Thằng Tuất vừa khóc vừa nói: “Sao ai cũng tốt với gia đình con hết đó, nhưng vì con đang làm phụ hồ cho anh Năm, anh ấy cũng tốt lắm giúp đỡ gia đình con nhiều lắm, sáng nào cũng mua cho ba con gói xôi hay bánh mì trước khi tụi con đi làm. Con cũng mang ơn ảnh nhiều nên con không thể nghỉ được, con xin lỗi”. Không biết thằng Tuất nó nói thật hay nó ái ngại khi quay về chỗ mà ngày nào cũng cầm cái lon chầu chực trút đồ ăn dư về nuôi cha mẹ. Phải thông cảm nó, phải hiểu cho nó, phải cho nó có cái hiện tại và tương lai tốt hơn, đẹp hơn ngày trước. Chị chủ quán vừa gạt nước mắt vừa nói “Bất cứ lúc nào con cần đến cô thì con đừng ngại, cho cô biết nhé “… Đời nầy cũng còn có những hoàn cảnh bi đát ít ai biết đến, và cũng có những đứa con xứng đáng như thằng Tuất. Ngày về lại Úc, tôi đến biếu hai cha con nó hai triệu đồng, thấy nó và ba nó mừng lắm tôi cũng vui lây. Không biết phải giúp gia đình nó như thế nào, tôi chụp hình ba nó, photo giấy tờ ba nó đem về Úc gởi cho Hội Cứu Trợ Thương Phế Binh bị quên lãng, trụ sở ở Sydney. Mấy tháng sau nhận được thư ba thằng Tuất viết qua, ông quá vui mừng khi được Hội bên Úc giúp đỡ gởi tiền về, ông cho biết suốt bao nhiêu năm qua lần đầu tiên ông thấy được niềm hạnh phúc khi cuộc đời phế binh của ông còn có người nhớ đến.

Không biết ông ấy vui bao nhiêu mà chính tôi cũng hết sức vui mừng khi thực hiện một việc làm đem niềm vui đến cho những người phế binh sống hết sức đói nghèo bên quê mẹ. Tôi xin cảm ơn cả hai: người chiến sĩ vô danh sống trong hẩm hiu và Hội Cứu Trợ Thương Phế Binh đã thể hiện tình người trong công việc hết sức cao cả này.

 

Minh Tạo

304Đen – llttm - tvvn