Thursday, February 4, 2021

Thiên Đàng Treo Đứt Dây, Cù Lao Rồng - Xuân Vũ

 

Thiên Đàng Treo Đứt Dây – Cù Lao Rồng




 

Tặng TMHT

Một người đồng hương tìm đến thăm tôi bất ngờ và kể cho tôi nhiều chuyện bất ngờ về quê tôi bây giờ: Mỹ Tho.

Mỹ Tho của Thủ Khoa Huân ngâm thơ lúc lên đoạn đầu đài. Mỹ Tho, vùng đất nghiêng hứng phù sa của những nhánh sông Cửu Long bát ngát. Mỹ Tho có hòn đảo dài nằm phơi nắng giữa sông như con rồng nằm bất động chờ sấm sét sẽ vùng lên bay về trời.

Thị xã Mỹ Tho, một thị xã phồn thịnh lạ lùng, nằm bên ven sông ngày đêm mơ màng trong tiếng còi tàu đến từ Lục Tỉnh. Những cánh buồm trắng no căn, những chuyến bắc khổng lồ chở đầy ấp xe hơi lẫn khách lại qua như mắc cửi. Thị xã lắng nghe tiếng chuông chùa Vĩnh Tràng ngân nga. Thị xã với những xe cà rem lắc chuông vui hơn bất cứ nhạc Tây nhạc Tàu nào. Thị xã với những xe lăn bánh mì pâtê tuyệt vời, ăn ngàn năm còn nhớ. Thị xã với mái trường trang nghiêm, với những ông thầy bản xứ khó tính đáng sợ, và những giáo sư người Pháp thân ái dễ thương hơn.

Tôi rời Mỹ Tho vào một ngày nào không nhớ nữa, nhưng ngày đó là ngày tôi xa vĩnh viễn ghế nhà trường. Chiếc Bắc khổng lồ bị quân Nhật sung công sau khi đã chiếm thị xã không tốn một phát súng từ tay quân Pháp. Tôi được bố tôi rước về trên chuyến thuyền chèo. Và đó là lần đầu tiên tôi biết thế nào là nhảy sóng. Khi thuyền qua đầu cù lao tôi trông thấy chiến hạm Amiral Charner bị máy bay Nhật đánh chìm hôm trước nằm nhóc mỏm khỏi mặt nước như một chú cá voi khổng lồ trong bài học Cách Trí ở nhà trường.

Chốc đây mà đã 44 năm… Ngày tháng đi nhanh, tàn nhẫn. Bây giờ cậu học trò Mỹ Tho sau mấy chục năm trôi nổi, đã biến thành dân tị nạn xa nước 15 năm, cho nên lấy làm hạnh phúc khi được nghe một người đồng hương vượt biển kể cho nghe những nơi xưa chính mình đã sống và rất đổi ngạc nhiên khi nghe những chuyện ở quê nhà ngày nay mà tưởng chiêm bao:

“Buồn lắm anh ạ! Bắc Rạch Miễu đã dời xa bến cũ. Nhà nước giải thích rằng làm như thế sẽ tạo ra công ăn việc làm cho dân. Đúng vậy, bây giờ ở bến Bắc có rất nhiều xe ôm. Trước kia, Honda ôm, bây giờ xe đạp ôm. Trước kia đàn ông chạy, bây giờ đàn bà cũng chạy xe ôm. Anh cứ tưởng tượng đàn bà chở khách đàn ông! Nhiều công ăn việc làm cho cả xe đạp! Bây giờ xe đạp có thể chở thuê sáu cái mái đầm loại lớn ngày xưa mình dùng đựng nước mưa trong nhà. Qua bên này không có lu mái, anh có còn nhớ cái mái bên mình không? Anh có tưởng tượng được là sáu cái mái được kiềng vào xe đạp và chở đi từ Mỹ Tho qua bắc Vàm Cống rồi về tận Cần Thơ không? Nhưng chưa lạ đâu! Để tôi kể cho anh nghe về một cái kỳ quan khác. Anh nhớ hồi trước loại bao bố chỉ xanh của chệt phá bao các vựa lúa nhà giàu? Mỗi bao đựng hai giạ rưỡi lúa. Họ kết hai cái làm một để chở cho nhiều. Mỗi người chở bốn bì than, tức là bằng sức chứa của tám chiếc bao chỉ xanh. Chính tôi cũng không tưởng tượng được nhưng đó là sự thực. Nhưng nếu chỉ có vậy thì cũng chưa ghê gớm. Trên đường đi, một chiếc xe bị bể bánh. Để tương trợ, một người gồng luôn bốn bì than của bạn đồng hành. Nhưng vẫn chưa đáng sợ! Anh ta còn kênh luôn chiếc xe bể bánh lên tám bao than. Tức là ngang với sức chứa của 16 bao chỉ xanh cộng thêm một chiếc xe đạp cơi trên ngọn. Nhưng lại cũng chưa hết mức. Anh ta để cho ông bạn đồng hành ngồi chồm hỗm trên ngọn đống bì than kia vịn chiếc xe đạp. Và cứ như thế mà đạp boong boong trên đường như một trò xiếc. Đồng bào hai bên đường tha hồ xem khỏi mua vé! Gần mười năm giải phóng miền Nam, người Bắc đã biểu diễn toàn bộ cái ưu việt của miền Bắc xã hội chủ nghĩa anh ạ! Có nhiều nghề kinh hãi vô cùng. Một trong những nghề đó là nghề móc bao! Anh biết không, những bao ni-lông xài hồi thời Việt Nam Cộng Hòa vứt ra đống rác cũng chung số phận của người “dân Ngụy”, tức là chúng không được sống yên để hóa thành phân. Người dân ngụy bị hành tội đủ bề đủ cách, cũng như những bao ni-lông được những chiếc cù móc lôi ra, đem giặt sạch để dùng lại. Đó là một nghề hèn mọn, nhưng đói thì đầu gối phải bò. Đàn bà còn chạy xe ôm nữa là! Nhưng dù nghề mọn mà lắm khi gặp may. Có người móc gặp xác chết đâu thời Mậu Thân có đeo nhẫn vàng. Thế là người ta ùn ùn thi đua làm nghề “móc bao”. Tội nghiệp, có nhà sư trước kia xây ngôi chùa nhỏ trên một cái nền mà tiền kiếp là một bãi rác. Dân làm nghề móc bao ngày nay cứ đến móc. Móc sạch hết bãi rác họ móc vào nền chùa. Họ tìm được những thứ quý giá hơn bao ni-lông cũ như chai lọ, thùng thiếc, sắt vụn, bù loong. Thế là họ cứ móc, móc ngắn không tới họ dùng móc dài. Nền chùa mất chân đứng. Một vài trận mưa đến. Ngôi chùa đổ! Tôn giáo điêu linh vì chánh quyền, chùa sập vì nghề móc bao!”

… Anh bạn kể rất nhiều chuyện. Càng nghe tôi càng kinh ngạc. Đồng bào tôi bây giờ đã biến thành những người gì rồi?

Nhưng, tất cả những kỳ quan ở trên không làm tôi sững sốt bằng câu chuyện sau đây. Chính những cán bộ cộng sản kỳ cựu ngày nay cũng đã ên ẫm với cái chủ nghĩa tuyệt vời, những lãnh tụ thần thánh của họ rồi. Dân không thể húp mãi mắm kho độc lập, tự do, hạnh phúc, chế tạo từ cái bếp Ba Đình, ngày nay cứ vài năm được hăm lại và được vứt thêm vài mẩu xương da thừa, từ bữa ăn của Bộ Chánh Trị, để đấm mõm thằng dân, càng đói càng bất mãn.

Và chính những cán bộ giải phóng kỳ cựu là những người sốt ruột nhất muốn giải phóng miền Nam lần nữa. Và lần này bằng BÀN TAY NGỤY MIỀN NAM.

 * * *

– Dạ ở đây là đất Nam, người Nam xưa nay có ai hiểu lầm chiếc “ghe” ra chiếc… gì?

– Anh phải đổi ra nà “Hợp tác xã đóng thuyền” cho đúng với công tác.

– Dạ nếu chúng tôi để hợp tác xã đóng thuyền thì lại bị nghi ngờ là tổ chức vượt biên.

– Anh cứ nghe nời tôi, ai nói gì thì có tôi chịu! – Lần này hắn bỏ đi không nhậm nhầy bới chuyện nữa.

Ông phó chủ nhiệm hợp tác xã đóng ghe chào hắn rồi trở vào bào gỗ mà tưởng chừng bào ruột gan mình. Đau xót cho dân tộc mình quá đổi truân chuyên. Bốn mươi năm máu lửa. Hòa bình rồi vẫn chẳng được yên thân. Vì cái đám ngợm này.

Những chuyện trái cựa trở thành chuyện bình thường. Những chuyện đấm đá giữa Bắc Nam trở thành tượng trưng cho sự nhất trí trong ngoài đảng. Chuyện giết nhau rồi đọc diễn văn kể công đức dài nhằng được coi là thời trang xã nghĩa.

Cái hợp tác xã này tiếng rằng hợp tác xã nhưng chỉ có hai nhân công thường trực: Chủ nhiệm và phó chủ nhiệm. Hai người khác chính kiến bỗng thấy gần nhau trong việc đóng ghe cho dân đi chở lúa, đi câu, đi chài lưới. Hai thằng Nam Kỳ dễ cảm thông trên mảnh đất quê nhà. Họ không nói chánh sách, cũng không gợi chuyện đã qua, họ chỉ lo sả cây, bào gỗ, đóng đinh… ghép những mảnh ván vào nhau.

Chập sau thì ông chủ nhiệm lọc cọc chõi gậy về tới. Ông đi mua gỗ của một ngôi nhà giàu xưa bị giật sập từ năm 1945 khi Việt Minh cướp chánh quyền, như một bộ xương khủng long nằm chình ình đó mạnh dân xóm dân xóm rút, mạnh du kích du kích lấy.

“Thằng Nanh tới, anh Năm!” Ông phó nói ngay khi ông chánh vừa vào.

Ông chủ nhiệm dựng nạng hỏi ngay:

“Nanh nào? Già hay trẻ? Lâu nay tôi chưa chạm trán đám này lần nào!”

“Nanh trẻ.”

“Nó moi móc kiếm chác cái gì hả?”

“Nó bảo sai căn bản cái tên Lam Sơn.”

“Nó nói sao?”

“Nó bảo Lam Sơn là phong kiến, xổ toẹc luôn!”

“Hơi nào mà nói với dòi.”

Chủ nhiệm Năm Thôn là cán bộ tập kết về Nam, gốc gác tại đây. Theo Việt Minh hồi 19, 20 tuổi. Trở về đầu đã bạc trắng không vợ con gì ráo. Cha mẹ đã qua đời từ lâu, anh chị em thì tứ tán. Mấy thằng em trai ngụy quân thứ dữ đi cải tạo chưa về. Ông nhờ bà con tìm cho một cô gái lỡ thời hay một người đàn bà góa, ngụy cũng được. Ông phó chủ nhiệm thương tình đi tìm dùm nhưng Năm Thôn đã có tuổi lại thương binh nên coi mòi rất khó. Năm Thôn đưa tay cào mớ tóc muối tiêu và nói:

“Chính cuộc cách mạng này mới hỏng từ gốc chú ạ!”

Năm Thôn gọi ông phó bằng chú như em. Năm Thôn ỷ có gốc vững chắc nên nói năng không cẩn thận như người khác. Năm Thôn tiếp:

“Tưởng giải phóng xong mọi cái đều khá, ai dè còn tồi tệ hơn hồi trước. Cái tụi Bắc Kỳ này còn khó chịu hơn đám hội tề của Tây. Tôi có sống với tụi nó tôi biết. Tôi không nói gian đâu. Chú biết tại sao nó bảo mình sửa tên không? Là vì chúng nó thấy mình vừa bán được mấy cái ghe mới, mà sao không đấm mõm chúng nó, nên thằng Nanh già gởi thằng Nanh trẻ xuống khơi mào đó. Được rồi, để tao đấm cho!”

Nanh già là trưởng Ban Thuế Vụ. Hắn có cái răng chó khểnh lòi bên mép. Hắn lại có tánh đảng phú là ăn bẩn nên đồng bào gọi thẳng hắn là thằng Nanh. Vì dưới trướng hắn có thằng nhãi kia nên đồng bào gọi hắn là Nanh già cho khỏi lầm. Trong vùng này còn có câu hò để tặng đám rắn “trun ươn” thối này.

Công An, Thuế Vụ, Kiểm Lâm
Ba thằng giặc ấy nên đâm thằng nào
Đồng bào ơi hỡi đồng bào
Ba thằng giặc ấy thằng nào cũng đâm.

Ông phó thấy ông chánh nổi nóng thì năn nỉ:

“Thôi anh Năm à! Một câu nhịn chín câu lành. Quyền sanh sát trong tay người ta. Nhỡ có bề gì, bể nồi gạo, nguy lắm!”

“Tụi này tui rành quá chú ơi! Tôi ở ngoài đó gần hai mươi năm mà. Mềm nắn rắn buông. Mình sụt cà lui nó tiến tới. Bữa nay con gà, bữa mai đùi heo đấy! Tôi không có ngán tụi nó đâu!”

Ông phó vẫn nhỏ nhẹ:

“Anh không ngán chớ tui sợ anh Năm à! Tui là chim bị đạn mà anh. Người ta ném truyền đơn phục quốc vô xưởng là tôi trở lại trại mút mùa.”

“Có tôi chú đừng sợ. Chế độ này là chế độ dân chủ, không phải chế độ…” Năm Thôn muốn chọn chữ cho đúng nhưng anh lập bập rồi ngưng luôn.

Đúng ngày hẹn, thằng Nanh trẻ lại đến. Hắn nổi cáu ngay khi thấy tấm bảng còn y nguyên như khiêu khích nhà nước. Hắn đi vào xưởng định gặp ông phó mà hắn cho là dễ bóp. Nhưng lại đụng một ông già đang ngồi bào gỗ, hắn chắc là người làm công.

“Ê, phó chủ nhiệm có nhà không?”

“Tôi là nhân công, tôi không biết gì hết.”

“Thế còn ông chủ nhiệm đâu, lâu nay không thấy lên sở thuế.”

“Tôi cũng không biết! Nhưng hai ông ấy có ủy quyền cho tôi hôm nay giải quyết mọi việc của hợp tác xã. Hai ổng đi mua cây tối mới về.”

Ông già vừa bào gỗ vừa đối đáp, không coi ông cán bộ thuế quan trọng. Thằng Nanh bước lại tự kéo ghế ngồi và hất hàm:

“Họ có nói cho ông về vụ tấm bảng tên hợp tác xã không?”

“Dạ có chớ. Hai ổng dặn tôi là bữa nay cán bộ tới.”

“Sao họ chưa đổi tên như tôi đã bảo.”

Ông già chẫm rãi đáp:

“Cái sự đổi là nhất định phải đổi rồi, nhưng muốn cho hợp với ý của ở trên chúng tôi muốn chọn cái tên nào thật có ý nghĩa, chúng tôi thích mà ở trên cũng hài lòng, một lần chữa một lần tốn tiền, nên chỉ chữa một lần thôi. Vì thế hai ông chánh phó hợp tác có đưa cho tôi mấy cái tên để tôi trình bày với cán bộ xem cán bộ ưng cái nào thì kẻ cái ấy lên bảng.”

Thằng Nanh móc sổ tay rút bút máy ra chuẩn bị ghi. Ông già nói:

“Tên thứ nhất là NAM SƠN thay vì LAM SƠN. Chúng tôi chỉ thay có một chữ, chữ L đổi ra chữ N. Như vậy ít tốn tiền mà vẫn có ý nghĩa.”

Thằng Nanh không ghi mà trợn mắt, xua tay lia lịa:

“Không được! Không đượ… ợc! Cái tên này nghe có mùi phục quốc.”

“Sao có mùi phục quốc ạ?”

“Hiện giờ chúng nó đang chui rúc trong các vùng rừng núi như Thất Sơn, Bà Đen, để chiêu binh mãi mã theo kiểu Nê Nợi chờ ngày khởi nghĩa. Nam Sơn với Lam Sơn thì có khác gì nhau. Vả nại đây là vùng đồng bằng nàm gì có lúi. Đỉnh lúi nhô nên như chọc vào mặt mũi chế độ tức nà chống đối.”

“Nam Sơn không được thì Phi Long. Được không?” Ông già cười nói.

Thằng Nanh nheo nheo một chút rồi lắc:

“Tên này cũng không ổn đâu, nghe nó chương chướng thế lào ấy!”

“Chướng thế nào ạ?”

“Nong là rồng. Rồng nà tượng trưng cho phong kiến!”

“Hà Nội xưa kia gọi là Thủ đô Thăng Long lừng lẫy thì sao?”

“Hồi xưa kia! Bây giờ đâu có ai gọi nữa. Cũng như Sàigòn vậy. Bây giờ có ai kêu nà Sàigòn đâu. Sàigòn đế quốc đặt cho. Bây giờ cách mạng thành công, đất nước thống nhất rồi nhân dân gọi nó bằng tên bác kính yêu.”

“Vậy sao tôi nghe dân chúng nói “đi Sàigòn” chớ không có ai nói tôi đi “thành phố Hồ Chí Minh” cả vậy?”

“Đó là dân nạc hậu. Nại nữa…” Hắn trở lại “Cái chữ Nong đi cặp với chữ Phi lại càng nguy hiểm cho mấy ông. Phi là bay. Đất nước được độc lập rồi còn bay, bay đi đâu? Vượt biên à? Các ông treo cái bảng đó buổi sáng thì buổi trưa công an tới hỏi thăm. Không được đâu! Chọn tên khác ngay đi! Đừng ngoan cố nữa!”

Ông già nói:

“Tụi tui ít chữ nghĩa nên không biết thế nào cho trúng cái bụng của nhà nước, nên ông chủ nhiệm trước khi ra đi có dặn, nếu cán bộ không chịu mấy tên ấy thì lấy tên “Thủ Khoa Huân” là tên nhà cách mạng ái quốc được dùng cho tỉnh nhà như các tỉnh bạn lấy tên Đồ Chiểu, Nguyễn Trung Trực đặt cho tên tỉnh họ hồi 45.”

“Thủ Khoa Huân lên đoạn đầu đài còn ngâm thơ, ông ấy anh hùng thật nhưng so với Nguyễn Văn Trỗi thì thua xa. Ông biết tại sao không? Nà vì Thủ Khoa nhà ta không có hô Hồ Chí Minh muôn năm như Nguyễn Văn Trỗi. Nấy tên đó thì được nhưng sợ nhân dân không mua thuyền của các ông nữa…”

“Vì sao?”

“Vì họ sợ xui, mua thuyền của hợp tác xã mang tên một người chết.”

“Vậy thành phố Sàigòn mang tên người sống?”

Thằng Nanh vốn lém lỉnh (bố mẹ hắn biết vậy nên đặt tên nó là Lanh) nên chỉ trong hai ba cái nháy mắt, hắn đã tìm được câu trả lời:

“Ông ấy chỉ nà phiến noạn đâu phải nhà cách mạng như Bác. Nếu các ông chưa nghĩ ra, tôi sẽ chọn cho một cái tên tuyệt đẹp vừa hợp với trào xã nghĩa vừa có tính cách nghệ thuật hấp dẫn khách hàng.”

“Dạ cảm ơn, tôi còn có một tên cuối cùng ạ, để cán bộ coi có hạp không. Nó vừa nghệ thuật lại vừa hợp với nồi niêu xã nghĩa mình lắm.”

“Trào niêu không phải nà lồi liêu! Ông lói bậy bạ quá! Tên gì?”

“Cù Lao Rồng! Ha!… á!” Ông già phá lên cười.

Thằng Nanh bất ngờ không biết đối phó ra sao cũng không hiểu lý do gì mà ông này lại nêu ra một cái tên kỳ quái vậy? Cù Lao Rồng, hắn có nghe nói, hắn nhìn thấy nó hầu như hằng ngày nằm giữa sông “Kiểu Nong” kia nhưng hắn không hiểu gì về nó cả.

“Ní nịch cái cù nao ra sao?”

“Ní nịch hả?” Ông già cười đắc chí “Kể thì rất dài, nhưng tóm tắt thì thế này. Đó là một cù lao lớn nằm giữa sông Tiền Giang, giống hình con Rồng, cho nên có tên gọi là Cù Lao Rồng, ngày xưa thực dân Pháp đem những người cùi nhốt cách ly ở đó. Nhưng dần dần những người cùi đều chết hết, cù lao trở lại cuộc sống bình thường. Nhờ phù sa bồi đắp cho nên cây vườn xanh tốt bạt ngàn… Nhưng sau 75 thì bọn cùi sống lại.”

“Tại sao thế?” Cán Nanh ngạc nhiên hỏi.

“Cùi ngoài Bắc tràn vô.”

“Ở ngoài đó chánh phủ nhốt chung một trại nàm thao chúng vô đây được?”

“Ồ được chứ! Chúng vô hàng đàn, hàng lũ, lớp luồn trong đường kín, lớp đi bằng xe môlôtôva, lớp thì leo tàu hỏa lớp lại đi xe hơi…”

“Trại cùi miền Bắc đã vỡ ra mà sao ta không biết? Nạ thế?

“Biết làm sao được mà biết!” Ông già hứng thú nói thao thao bất tuyệt trước cặp mắt mở tròn xoe của tên cán ngáo “Chúng nó khôn lắm, chúng nó đâu có nói với người khác rằng chúng nó bị cùi! Chúng nó mặc áo, chúng nó đội mũ, chúng nó mang giầy như mọi người. Hơn thế nữa chúng nó mặc áo cán bộ Mao Trạch Đông, chúng nó mặc áo quân đội chánh quy, nhiều tên lại đeo lon đeo gáo.”

“Nếu tôi biết, thì tôi cho nhà lước hay để chận nại ngay!”

“Không tài nào! Không tài nào!” Ông già ngưng tay bào nhìn hắn, cười khảy.
Thằng Nanh lém lỉnh vặt nhưng lại chậm hiểu. Nghe ông già kể chuyện kỳ lạ, hắn cho đây là một cơ hội ngàn năm có một lập công dâng đảng, hắn hỏi phăng xem đám cùi đó là ai.

“Ông biết bọn cùi đó đang trốn ở đâu bây giờ không?”

“Để làm gì chớ?”

“Để bắt gom về Cù Nao Rồng như trước! Ông không biết bệnh cùi nguy hiểm nhất thế giới, chưa thuốc nào trị nổi à?”

“Tôi biết chớ sao không biết, nhưng mà bây giờ chúng đã lẫn lộn trong dân cả rồi, thằng thì làm chủ tịch thành phố, thằng phó bí thư tỉnh ủy, thằng thì trưởng phòng thuế vụ, trưởng ty, giám đốc sở, nhưng cũng có thằng chuyên môn moi móc trong quần… chúng kiếm ăn.”

“Những thằng lào tồi bại vậy?”

“Chính mày, chính chúng mày!” Ông già trỏ mặt thằng Nanh. “Chính bọn cùi chúng mày kéo vào đây cả bầy dẫm nát quê hương tao.”

Thằng Nanh hốt hoảng lật bật bị vướng cái ghế té ngửa chổng cẳng lên trời, loay hoay mãi mới lồm cồm ngồi dậy được. Hắn vừa thụt lùi, vừa trỏ mặt lão già, quát:

“Tên lày niên hệ phục quốc! Tên lày nàm noạn! Thằng chủ nhiệm của mày sẽ niên nụy với những phát ngôn phản động của mày.”

Ông già vỗ ngực:

“Tao là chủ nhiệm đây! Mày muốn gì?”

“Mày niên nạc với tên ngụy phó chủ nhiệm để chống chế độ!”

Ông già cười xòa:

“Chính mày mới là thằng chống chế độ. Thằng công an nào sáng suốt phải còng đầu mày. Chính mày, dòng họ mày, là những tên cùi xổng ra khỏi cái trại cùi vĩ đại của miền Bắc mang bịnh cùi vào lây ra hại khắp miền Nam tao. Chính lũ mày phá nát cách mạng, chính chúng mày là những tên phải được bắt bỏ vào Cù Lao Rồng sớm ngày nào tốt ngày ấy, chẳng sớm thì muộn nước Việt Nam sẽ trở thành một Cù Lao Rồng.”

Tên Nanh run từng thớ thịt. Từ ngày mang “mác” cán bộ thuế vụ tới nay, hắn hoạnh họe từ cô gái quê bán tép đến bà cụ bán vỏ dừa khô, muốn gì được nấy, ai cãi lại hắn là “chống chế độ”, cho nên thằng Nanh trẻ lẫn thằng Nanh già trở thành Thần Nanh đỏ mỏ. Hôm nay là lần thứ nhứt có một ông già chửi hắn là thằng cùi. Lão chống chế độ ác liệt!

Hắn quát để tự trấn tỉnh:

“Tao sẽ kêu công an còng đầu mày!”

“Hề hề!” Lão già đứng dậy tụt quần, nẩy ngửa “Lại đây còng cái này nè!”

Thằng Nanh đứng sững sốt. Lão già vẫn giữ nguyên vị trí cũ và chậm rãi nói:

“Tao làm cách mạng hồi ông nội mày chưa đẻ tía mày. Cờ búa liềm đầu tiên ở chợ này tao treo đó, nói cho mày hay. Đồ con nít biết gì! May muốn đi dự tiệc chiêu đãi kỷ niệm Nam Kỳ Khởi Nghĩa không? Để tao gọi tỉnh ủy đem xe tới rước, rồi mày đi với tao nghe!”

Lão chủ nhiệm kéo quần lên quơ lấy cặp nạng gỗ chống đi ra khỏi cái bàn bào, đứng một chân vung nạng lên, chỉa vào mặt thằng Nanh, quát tiếp:

“Cút! Cút! Tao không muốn thấy cái mặt của chúng mày ở xứ tao!”

Ông phó chủ nhiệm được lệnh ông chủ nhiệm lánh mặt ra sau xưởng. Khi thấy cuộc “đối thoại” về cái tên hợp tác xã đã trở thành cuộc xung đột thì ông chạy ra can. Ông vốn quen chịu đựng những chuyện trái cựa quái quắc trong trại, nên ông có tính uyển chuyển hơn ông chánh. Ông vừa can ông chánh, vừa năn nỉ, và xin lỗi “dùm” ông chánh. Nhờ thế ông đại cán gáo có đường rút lui trong danh dự. Ông phó đi theo ra tận ngoài đường, tìm cách vuốt giận ông trung ương. Giả dại qua ải chẳng nhục gì.

Ông phó nói:

“Sớm muộn gì tôi cũng đổi tên hợp tác xã ông ạ.”

“Ừ, ông lên niệu mà thay sớm đi, không, không xong với cách mạng đâu!”

“Tên gì xin ông cho chúng tôi một cái!”

“Quyết Tiến, Quyết Thắng, Cờ Hồng, Sao Vàng… thiếu gì danh từ cách mạng. Ở miền Bắc các hợp tác xã công nghiệp, nông nghiệp nhờ đeo các tên đó mà xây dựng xã hội chủ nghĩa nổi đình, nổi đám đó chớ!”

“Vâng. Tôi xin bỏ cái hiệu Lam Sơn, Nam Sơn lẫn Phi Long và Cù Lao Rồng ạ!”

Thằng Nanh tiu nghỉu ra về không thuật chuyện mình bị bỉ mặt, chỉ phóng đại việc hợp tác xã đổi tên cho Nanh già nghe. Chúng coi đó là một chiến thắng mới của cách mạng trong hòa bình, hơn nữa chúng đã tiêu diệt được một ổ phục quốc nguy hiểm nhất: cán bộ tập kết hồi hương móc ngoặc với ngụy quân.

Buổi chiều, sau khi đóng cửa xưởng, hai người bắc ghế ra sân nhậu suông.
Chưa bao giờ ông Năm Thôn buồn như hôm nay. Gần 60 tuổi đầu, với danh hiệu chiến sĩ Nam Kỳ Khởi Nghĩa 40, đảng viên, kháng chiến chống Pháp, vượt Trường Sơn, chống Mỹ kỳ cùng, bây giờ 6 ký gạo mua theo phiếu hàng tháng, kèm vài lạng đường cát khi có khi không, còn vợ con thì hoàn toàn không có.

“Pháp cai trị, chống Pháp; Mỹ vô chống Mỹ, hòa bình rồi, chống nạng! Đúng là tôi theo sát khẩu hiệu “ba chống” của nhà nước!”

Rồi ông cười nhạt, cặp mắt rưng lệ:

“Tôi không đòi hỏi cách mạng đền bù sự hy sinh của tôi. Cách mạng nào mà không cần sự hy sinh của nhân dân, cán bộ, phải không chú? Nhưng tôi đòi hỏi người ta trả lời cho những hy sinh ấy. Để làm gì? Để Làm gì? Phải chăng để bọn cùi hủi này gieo mầm bệnh khắp đất nước? Chú thấy đó, thằng Nanh nhằm bóp cái hợp tác xã tèng xí này đâu phải vì chúng muốn thay đổi bảng hiệu cho hợp với cách mạng cách mùng gì. Mà vấn đề khác. Một bữa tiệc xoàng thôi sẽ xoay hẳn lập trường cách mạng của đám cách mạng lọc cạch lửa này. Chú hiểu mà chú em!” Với nỗi đau thấu tâm can vị cựu chiến sĩ Nam Kỳ Khởi Nghĩa nói tiếp “Cách mạng xưa là thần thánh vô biên, qua 40 năm, nay trở thành cùi hủi gớm ghiếc. Cách mạng đã mất hết nhân tâm cả với bọn tôi nữa! Còn cái tên này tên nọ đổi hay không đổi chẳng quan trọng gì! Vấn đề là người ta có gọi nó hay không? Tên nó xuất phát từ lòng người. Nó tên Mít, tên Xoài mà tôi yêu nó, tôi gọi nó. Nó tên Hoàng Quốc nọ, Hoàng Văn kia mà tôi không ưa thì có vẽ nó to bằng con voi trên tường, tôi vẫn không thèm ngó! Sự thực sờ sờ ra đó, chú rõ mà!” Ông chủ nhiệm quệt ngang nước mắt. Hồi lâu, ông thở dài “Tôi không ngờ đất nước đã giải phóng mà lại thế này chú ạ! Tôi thú thực với chú là mỗi lần tôi thấy chú cầm cái bìa phiếu đi cắt hai lạng rưỡi thịt heo, xách toòng teng trên tay, tôi rất hổ thầm. Xứ mình hồi Tây cũng đâu kỳ cục vậy!” Ông Năm Thôn muốn nói gì thêm nhưng bỗng ông ngưng ngang.

Hai người cùng ngó mặt ra sông. Cù Lao Rồng hiện ra xanh đen như con giao long từ đáy sông trồi lên chực bay lên lướt gió tung mây.

Xuân Vũ

304Đen – llttm - tvvn

Đơn Xin Mặc Quần - Văn Quang

 

Đơn xin mặc quần




 |

 

Chuyện dở khóc dở cười này vừa xảy ra tại một bệnh viện thuộc vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL).

Để nghiêm túc thực hiện chủ trương “chỉnh đốn phong cách, trang phục” của Sở Y Tế, bệnh viện này quyết định toàn thể cán bộ, công nhân viên phải “chuẩn hóa trang phục”, trong đó nữ giới phải mặc váy ngắn. Nói cho rõ “trang phục phải chuẩn hóa” ở đây có nghĩa là tất cả các nhân viên phải mặc đồng phục giống như nhau, chẳng khác nào học trò ở các trường học. Tất nhiên phải là loại trường học ở những nơi “văn minh” còn học trò ở nông thôn, nhất là vùng đồi núi thì có được cái quần cái áo lành lặn đã là may rồi. Nhiều làng, nhiều bản may mắn được vài nhà làm từ thiện giúp đỡ, các em mặc đủ kiểu quần áo thuộc loại hàng “si đa”, chữ Anh, chữ Tàu loạn xạ trên ngực trên lưng, trông như đám múa rối.

Còn ở bệnh viện này thì tất cả già trẻ phái nữ đều phải mặc một kiểu giống nhau. Với các nữ y tá (hay còn gọi là nữ hộ lý), nữ y bác sĩ trẻ tuổi, chân còn dài, cơ bắp còn tròn trĩnh thì mặc váy có khi còn quyến rũ hơn. Nhưng với các bà lớn tuổi, thân hình không còn mi nhon, bắp chân đã quá khổ thì bắt mặc váy chẳng khác chi… đày đọa! Họ mất ăn mất ngủ, chủ tịch công đoàn phải mở cuộc họp lắng nghe ý kiến của các nữ đoàn viên. Nhiều bà đã khẩn khoản đề nghị cho chúng tôi tiếp tục mặc thứ quần áo nào hợp với tuổi tác của chúng tôi hơn. Mặc quần vừa tiện, vừa kín đáo cho con cháu nó khỏi chê cười.

Kết thúc cuộc họp, nguyện vọng chính đáng của chị em được chuyển lên Ban Giám Đốc.

Để có cơ sở giải quyết, giám đốc yêu cầu phải có “đơn”. Thế là một lá đơn ký tên tập thể có tên là “Đơn xin… mặc quần” do công đoàn chuyển lên cấp trên! Muốn thi hành chỉ thị một các “nghiêm túc” hơn, có lẽ cấp trên phải làm một cuộc “khảo sát” xem bà nào mới được phép mặc quần. Có thể các bà lại có dịp đứng một hàng ngang cho Ban Giám Đốc “thẩm tường” và “thẩm định”.

Bạn Bùi Hoàng Tám nhớ đến cái mấy câu ca dao từ ngày xưa, nói về chuyện “cấm quần không đáy” thời vua Minh Mạng:

“Tháng Sáu có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy, người ta hãi hùng
Không đi thì chợ không đông
Đi thì phải mượn quần chồng sao đang”.

Nhưng chuyện làm đơn ở Việt Nam từ lâu đến này đã thành một “tiền lệ”, làm bất cứ cái gì cũng phải có đơn, đủ kiểu đơn, kể cả đơn xin được nộp phạt, quyền công dân cũng phải làm đơn xin, trình bày ý kiến với ông đại biểu Quốc Hội cũng phải làm đơn.

Cử tri phải làm đơn cho ngài đại biểu dân

Cụ thể là trong cuộc tiếp xúc cử tri thông báo kết quả của kỳ họp Quốc Hội vừa qua, cử tri Tạ Quang Hưng ở phường Tân Định, Quận 1 TP. Sài Gòn, thẳng thừng thể hiện sự bực tức của mình về khiếu nại kéo dài, nhất là phần “thủ tục”.

Ông kể: “Tôi gặp một đại biểu Quốc Hội (ĐBQH) trình bày nguyện vọng của gia đình mình. Đại biểu này nghe xong bảo: “Ông làm đơn gửi cho tôi!”.

Tôi mừng quá, về viết đơn kèm thêm một bộ hồ sơ photo, và cầm đến Văn Phòng ĐBQH cách nhà hơn một cây số. Tới nơi nhân viên văn phòng bảo: “Không nhận đơn trực tiếp, phải gởi qua bưu điện”. Vậy là tôi phải trở ra, tìm bưu điện gửi!

Vậy mà cho đến nay đã cả năm trời chưa thấy kết quả giải quyết, chưa ai hồi âm cho tôi biết đơn của tôi đi đến đâu rồi.”

Ông Hưng băn khoăn: “Tôi không hiểu vì sao chúng ta lại bày ra thủ tục rườm rà nhiêu khê và rất vô lý là việc gì cũng phải bắt đầu từ cái “đơn xin”! Trong khi khiếu nại, tố cáo là quyền của công dân”.

Với cơ quan của Quốc Hội, tức đại diện cho nhân dân còn như vậy, còn các cơ quan hành chính, nạn “đơn xin” còn nặng nề hơn gấp bội.

Có thể nói hầu như trong quan hệ với cơ quan công quyền, quan hệ dân sự hay tranh chấp, tất cả đều phải làm “đơn” và “đơn xin”. Một kiểu biến tướng dẫn đến “vấn nạn xin cho” rất quen thuộc ở Việt Nam, cơ quan hành chính theo kiểu “hành dân là chính” chứ không phải là cơ quan công quyền lập ra để giúp dân.

Đủ thứ đơn, đủ kiểu đơn

Nếu cái đồng hồ điện nhà bạn bị hỏng hoặc chạy quá nhanh, dù là khách hàng của “ông” điện lực thì việc đầu tiên của bạn là phải làm “đơn xin” để được kiểm tra hoặc thay đồng hồ mới! Hoặc đồng hồ nước chạy sai cũng như vậy…

Ở thành phố, nếu nhà bị hỏng, bị dột vào mùa mưa, muốn sửa chữa thì cũng phải có “đơn” gửi Phòng Quản Lý Đô Thị. Nếu không, khi bao xi măng vừa về tới lập tức đã có người của cơ quan chức năng xuất hiện lập biên bản vì “không xin phép”!

Nếu bạn là thanh niên, mới tốt nghiệp và muốn đi làm, việc đầu tiên không thể thiếu là phải có “đơn xin việc”.

Khi đã vào cơ quan làm việc, nạn “đơn xin” cũng chạy theo. Muốn nghỉ một buổi vì việc riêng, phải làm “đơn xin phép”.

Thích được phạt

Bạn đọc ở nước ngoài nghe có vẻ “quái đản”, ông già này lẩm cẩm viết chuyện dóc chứ trên thế giời làm gì có chuyện ngược đời như thế. Người ta còn phải xin xỏ để không bị phạt. Sao lại có chuyện “xin được phạt”. Rõ là anh già lẩm cẩm thật rồi.

Nhưng xin bạn hãy nhìn vào thực tế sẽ thấy ngay là chuyện xin được phạt là… rất hợp lý, dù nó có hợp pháp hay không, không thành vấn đề ở Việt Nam chúng tôi.

Mới đây, tại cuộc họp của Hội Đồng Nhân Dân (HĐND) TP Sài Gòn, một vị “lãnh đạo” Quận 1 đề nghị tăng mức phạt hành chính vì mức phạt hiện nay quá thấp khiến nhiều người vi phạm sẵn sàng vi phạm nữa, sẵn sàng trả thêm tiền phạt để tiếp tục “giải quyết” nhu cầu tiểu tiện nơi góc phố, lề đường! Người dân ta có vẻ thích được “phạt”, thậm chí rất nhiều trường hợp làm đơn “xin được phạt”!

Ở nhiếu thành phố, không thiếu trường hợp “chạy” để được phạt. Đó là trường hợp những người xây nhà trái phép, cất nhà trên đất quy hoạch treo, làm nhà trên đất mua bằng giấy tay… Nếu xử theo đúng luật thì vô cùng nhiêu khê, thậm chí phải bị đập nhà! Nhưng cũng chính trong “luật và lệ”, lại có mục “phạt hành chính” rất thuận lợi nếu như đã “lỡ” xây trái phép trên đất cấm hoặc “có vấn đề”, chỉ cần được “phạt” là có thể hợp thức hóa. Phạt xong là phây phây coi như mọi chuyện đương nhiên được hợp pháp hóa, chẳng anh nào làm gì được.

Hoặc cũng liên quan đến nhà cửa, nếu bạn cần sửa chữa nhà hay cơi nới thêm một chút, nếu làm đơn xin bình thường để được cho phép thì vô cùng rắc rối, có khi mất tiền “chạy cửa trước, lòn cửa sau” mà còn phải đợi và đợi hoặc có khi bị từ chối là xôi hỏng bỏng không mà vẫn phải ngậm miệng.

Thế nên rất nhiều người ở thành phố có kiểu “lách luật” là cứ việc làm, sau đó “tự thú” bằng cách “xin được phạt”. Đóng phạt xong, cầm biên lai xem như đã được hợp thức hóa.

Cách đây không lâu ở Quận Tân Bình có chuyện người dân làm đơn tập thể “xin đi ngược chiều” trên đường một chiều! Lý do nếu đi vòng rất xa xôi và gây thêm nạn kẹt xe, còn nếu được đi “ngược chiều” thì rất gần và giảm bớt kẹt xe! Chẳng biết đơn này có được chấp thuận không. Lẽ ra việc này các ông được gọi là “đại biểu dân” hoặc các ông bà làm trong các cơ quan đoàn thể đề nghị lên cấp trên giải quyết cho người dân chắc sẽ gọn và có hiệu quả hơn nhiều.

Đơn xin nghỉ học của mấy anh học trò tinh nghịch.

Cũng vì chuyện người dân phải làm đơn đủ kiểu này mà mấy cậu học trò bày ra những kiểu viết đơn xin nghỉ học vì đủ thứ lý do khôi hài đăng trên các trang báo. Nào là đơn xin nghỉ học để cưới vợ, đơn xin nghỉ học vì đi thăm vợ đẻ, đơn xin nghỉ học vì.., đến ngày tận thế rồi. Có lẽ đây là một kiểu mỉa mai của mấy anh nhóc đã sớm nhìn ra những “hệ lụy” của cuộc đời trước mặt

– Đơn xin nghỉ học bằng thơ

Một lá đơn xin nghỉ học đậm chất thơ đang được cư dân mạng thích thú truyền tay nhau. Mới đây, trên diễn đàn giải trí dành cho giới trẻ có chia sẻ một lá đơn xin nghỉ học của em học sinh lớp 10, có tên Phạm Nguyên Vũ.

Nguyên văn lá đơn:

“Hôm nay em viết đơn này
Để xin được nghỉ một ngày dưỡng thương
Mặc dù nhớ lớp nhớ trường
Nhưng mà sức khỏe khó lường hiểm nguy

Tối qua nằm sốt li bì
Đi đứng không được nên chi phải nằm
Mong thầy và lớp đến thăm
Cho em mau khỏe để chăm học bài”

Người viết đơn ký tên: Phạm Nguyên Vũ; có cả chữ ký của phụ huynh đàng hoàng.

– Xin nghỉ vì thích chơi games

“Em viết đơn này xin phép thầy cô bộ môn cô giáo chủ nhiệm được nghỉ học càng lâu càng tốt vì chán đi học, thích ở nhà chơi game và lên mạng xã hội chém gió… Nếu một tuần sau mà em chưa đi học thì tức là em đã ở nhà lấy vợ”.

– Xin nghỉ học vì đến ngày tận thế

“Trò viết đơn này kính mong ban giám hiệu và thầy cô giáo cho phép trò và các bạn được nghỉ học từ ngày 20/12/2012 vì ngày 21/12/2012 là ngày tận thế…”.

Đúng là những chuyện lạ chỉ có ở thời đại này.

 

Văn Quang

304Đen – Llttm - tvvn

Ba Thằng Nhóc - Thu Huyền Hồ

 

BA THẰNG NHÓC





Đó là ba đứa nhỏ bạn cùng xóm trong một làng ở miền Trung nghèo khổ, bên phía nam sông Bến Hải. Chúng nó lớn lên cùng nhau qua quảng đời niên thiếu êm đềm đầy kỷ niệm của tuổi thơ, dù cuộc sống của chúng rất đạm bạc. Cha mẹ đứa nào cũng vất vả kiếm ăn để nuôi con cái, nhà nào cũng ba bốn đứa con cả trai lẫn gái. Mấy thằng nhóc được ưu tiên cắp sách vở đến trường, nhưng chưa hết bậc tiểu học thì thời cuộc biến chuyển vì chiến tranh, cả ba thằng đành phải bỏ học. Gia đình chúng phải chạy giặc tứ tung, chúng phải lìa xa nhau, và từ đó mất liên lạc với nhau. Một thời gian sau đó đất nước lại chia đôi, thằng Vọng và thằng Hồ trôi giạt ra miền Bắc, còn thằng Gia thì phiêu lưu vào miền Nam. Thằng Vọng và thằng Gia tưởng không bao giờ còn gặp nhau nữa, nhưng có lẽ do định mệnh, hơn hai mươi lăm năm sau, hai thằng gặp lại nhau trong một hoàn cảnh trớ trêu không thể ngờ là có thật.

Sau khi miền Bắc chiếm miền Nam, thằng Vọng đã tìm mọi cách trở lại làng cũ thăm hỏi bà con hàng xóm, mục đích chính là muốn biết thằng Gia còn sống hay chết, và nếu còn sống thì đang ở đâu. Rồi suốt mấy năm liền sau đó, nó vẫn để tâm dò hỏi tin tức thằng Gia không ngoài việc thỏa mãn lòng mong nhớ thằng bạn nhỏ thuở xưa và nếu thằng bạn cần gì thì nó tìm cách giúp đỡ cho lương tâm được yên ổn. Xa cách nhau hơn một phần tư thế kỷ, thằng Vọng đã thay đổi nhiều và hiện có chút địa vị với quyền hành trong xã hội mới. Điều nghịch lý là nó vẫn còn giữ một đốm lửa le lói cả trong trái tim và trí óc nó về những tháng ngày thơ ấu chơi đùa nghịch ngợm trong một thứ tình bạn ngây thơ non nớt nhưng thật sâu đậm với thằng Hồ và thằng Gia. Đặc biệt với thằng Gia thì tình bạn đó còn thân thiết hơn cả anh em ruột thịt. Nó không sao quên được hình ảnh nghèo nàn của thằng Gia gấy ốm ở trần mặc chiếc quần đùi cũ kỹ màu cháo lòng chạy lăng xăng tìm nó để chia sẻ với nó từng chút khoai lang hay sắn nướng thơm phức không biết nó kiếm đâu ra, hay hai ba trái ổi sống đầy hột cứng như sạn chắc nó hái từ một cây ổi hoang ngoài đồng. Tuy còn nhỏ nhưng thằng Vọng cũng thấy xúc động trước tình bạn của thằng Gia. Xa xóm cũ, nó lớn lên ở miền Bắc với cuộc sống cũng không khá mấy, cũng nghèo khổ thiếu ăn thiếu mặc đủ thứ, kể cả những năm được đi học. Rồi chuyện không may xảy ra với cha nó. Ông bị bí thư huyện lợi dụng uy quyền ép buộc ông đi lao động xã hội chủ nghĩa vào rừng đốn gỗ bán cho hợp tác xã để xuất khẩu, rủi ro ông bị cây to ngã đè bị thương nặng, cứu không kịp nên chết. Mẹ nó nghe tin, khóc vật vã bên xác chồng, rồi tỉ tê khóc tiếp tục cả tháng trời đến liệt giường và cuối cùng cũng đi theo cha nó, để lại mấy anh em nó bơ vơ. Dân trong vùng sôi sục vì cảnh đời éo le của gia đình nó nhưng không ai dám biểu lộ, rốt cuộc chính quyền huyện phải lấp liếm giải quyết bằng cách cấp cho mấy anh em nó một ít gạo và cái bằng vô nghĩa “Gia đình liệt sĩ”. Nó cầm mãnh giấy mà nghẹn ngào, trong lòng uất hận nhưng cố nén. Mối thù này không trả không được, nhưng biết trả cách nào đây. Có người lớn thương tình và ngầm biết tâm tư của nó, âm thầm khuyên nó dùng cái bằng “con liệt sĩ” làm bàn đạp “phấn đấu” để vào đảng. Nó đủ thông minh để hiểu lời khuyên chân tình vì nghĩ cho cùng thì không có cách nào khác…
Bây giờ nó là một đảng viên, cán bộ công an, làm quản giáo trong một trại cải tạo, mà thực chất dưới con mắt nó thì chẳng khác gì một trại tù khổ sai. Nó đã kín đáo trả được thù cho cha mẹ nó, trả thù cái xã hội đã gây tang tóc cho mấy anh em nó, nhưng điều trớ trêu là cũng chính cái xã hội đó đã tạo cơ hội cho nó báo hiếu mà không bị liên lụy với pháp luật. Người ta lạm dụng uy quyền để làm hại gia đình nó, còn nó cũng lạm dụng uy quyền nhưng để trả thù kẻ đã gây tội ác và luôn cả xã hội. Nó cảm thấy may mắn và tin tưởng chắc chắn là ít nhất nó cũng may mắn hơn thằng Gia. Theo những gì nó được học tập và qua cấp trên cho biết thì thành phần nghèo khổ như thằng Gia ở trong miền Nam chỉ suốt đời làm đầy tớ, bị bóc lột lao động tận xương tủy, không sao cất đầu lên nỗi. Nó rất muốn gặp lại thằng Gia để giúp đỡ trong khả năng đảng viên của nó, và cũng để gián tiếp tỏ cho thằng Gia biết nó có địa vị có uy quyền và quan trọng trong xã hội. Là công an, nhưng nó không sắt máu như đại đa số công an khác; trái lại, nó còn giữ được lương tri và lương tâm, cái loại luơng tri và lương tâm thường bị phê bình là cặn bả tiểu tư sản của thời phong kiến.

Sáng hôm đó ở hiện trường, trong lúc đội cải tạo viên gồm toàn sĩ quan ngụy đang cuốc đất để chuẩn bị trồng khoai mì dưới ánh nắng bắt đầu gay gắt, quản giáo Vọng bực bội đến sau lưng một người tù đang cuốc đất một cách uể oải, không chịu khom lưng đúng quy định.
– Anh kia, cuốc mạnh đi chớ. Lao động chây lười rứa thì khi mô mới hết cải tạo?
– Báo cáo cán bộ, tôi đói quá làm không nỗi.
– Anh nói chi rứa? Đói hả? À, bêu xấu chế độ hả? Anh tên chi?
– Báo cáo cán bộ, tôi tên Gia.
– Da bò hay da trâu? Họ tên đầy đủ là chi?
– Báo cáo cán bộ, không phải da bò mà là Quốc Gia.
Quản giáo lên giọng nạt nộ:
– Thôi, không được nói năng linh tinh. Anh phải thành thật khai báo với cách mạng. Cách mạng khoan hồng cho anh cải tạo, anh phải biết ơn chớ. Quê anh ở mô?
– Báo cáo cán bộ, quê tôi miền Trung, nhưng lớn lên phiêu bạt khắp miền Nam.
– Quê miền Trung, là chỗ mô? Nói cho rõ.
– Báo cáo cán bộ, gần sông Bến Hải. Tôi không nhớ rõ.
Quản giáo chợt suy nghĩ:
– À, gần sông Bến Hải? Anh nói tên anh là Gia hả? Chi Gia?
– Báo cáo cán bộ, Trần An Gia.
Quản giáo Vọng hơi tái mặt:
– Cái tên chi lạ … Anh nói lại tui nghe.
– Báo cáo cán bộ, tên tôi là Trần An Gia.
– Anh có khi mô đổi tên không đó? Có phải là bí danh không?
– Báo cáo cán bộ, tên tôi từ nhỏ là như vậy. Tôi không hề có bí danh.
– Rứa… anh nhớ lại coi… có quen ai tên … Lê Vọng không?
– Báo cáo cán bộ, đó là tên thằng bạn nối khố lúc nhỏ của tôi. Tôi xa nó lâu lắm rồi.
– Được rồi, tiếp tục lao động đi…
Quản giáo Vọng quay lẹ lưng, lảo đảo bước đi. Cái tên Trần An Gia như tiếng sét đánh ngang tai làm anh choáng váng. Vọng tự nghĩ, “Trời ơi, cái thằng nhóc mình mất công khó nhọc suốt mấy năm trời tìm không gặp, chừ nó hiện ra sờ sờ trước mặt mình chưa chết nhưng trông tàn tạ như con ma đói, làm răng mình bình tĩnh cho được. Cái thằng ni thiệt tình…”
Sau giờ cơm chiều, cán bộ quản giáo trực trại sai tên tù hình sự trực đêm vào láng số 4 kêu cải tạo viên Gia lên làm việc. Trong lúc Gia đang cùng các bạn tù đứng nghỉ ngơi chuẩn bị “vào chuồng” thì tên tù hình sự chạy đến nói to:
– Ai là cải tạo viên Gia thì theo tôi lên làm việc với cán bộ trực trại, khẩn trương.
Không ai hiểu chuyện gì đang xảy ra. Riêng Gia thì hơi lo lắng, thổ lộ với một bạn tù cùng đơn vị trong quân đội trước năm 1975:
– Chắc thằng quản giáo muốn đì tao vì vụ chây lười lao động sáng nay.
– Tao theo rõi thấy nó nạt nộ mày cũng … không gắt lắm. Chắc không sao đâu, đừng lo.
– Làm sao tin được tụi nó. Cùng lắm là cùm, là đói, là chết thôi…
Tên tù hình sự thúc giục:
-Cải tạo viên Gia theo tôi. Khẩn trương lên.
Gia được dẫn vào phòng trực trại trình diện với quản giáo đang có vẻ chờ. Tên tù hình sự đứng lớ ngớ đợi sai bảo thì được quản giáo ra lệnh đi kiểm tra trại lần chót, với lời dặn phải đảm bảo các cửa buồng đã khóa hết.
– Anh đi đi. Tui sẽ đưa anh này về buồng sau. Tui có chìa khóa.
– Kính chào cán bộ.
Còn lại một mình với quản giáo Vọng, Gia đứng yên lặng cúi đầu, phó mặc cho số mệnh, trong đầu thầm niệm nhiều lần câu “Nam mô Đại Từ Đại Bi Cứu khổ Cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát” để tự trấn an. Nhìn tên quản giáo bước đến đóng cửa, Gia tự nhiên chuẩn bị đỡ đòn theo kinh nghiệm bạn tù truyền lại, có thể những cú đấm cú đá hung bạo kèm theo những lời chưởi rủa cay nghiệt có tính cách sỉ nhục kèm những tiếng “ngụy ác ôn đầy nợ máu…”
– Anh ngồi xuống đi, ta nói chuyện.
– Báo cáo cán bộ, cho phép tôi đứng.
– Tui bảo anh ngồi thì anh cứ ngồi đi. Tui không ăn thịt anh mô mà sợ.
– Cám ơn cán bộ.
Gia rón rén ngồi xuống cái ghế trước mặt, cúi đầu suy nghĩ.
– Trần An Gia.
– Dạ, báo cáo cán bộ. Tôi nghe.
– Cán bộ… cán bộ cái con khỉ… Mi không nhận ra tau thiệt tình hả Gia?
– Báo cáo cán bộ… Dạ…
– Dạ thưa cái cóc khô… Tau là thằng Vọng lụt lịt của mi, nhớ ra chưa?
– Vọng… Lê Vọng… Cán bộ là Lê Vọng hả? …
– Còn ai nữa…
Vừa dứt câu, Vọng đã bước tới ôm chầm lấy Gia, thắm thiết như không muốn buông ra. Giọng Vọng nghẹn ngào bên tai Gia:
– Tau thương, tau nhớ mi ghê lắm. Tau nghe nói mi chết lâu rồi nhưng tau không tin. Tau thăm hỏi dò tìm mi mấy năm ni rồi, ai ngờ mi lại ở trong trại cải tạo trước mắt tau mà tau như mù như điếc không thấy không hay không biết chi cả… tau hành hạ mi… may mà mi chưa chết…
Gia nhẹ nhàng gỡ hai cánh tay đang ôm chặt mình để nhìn vào khuôn mặt sạm đen có mấy giọt nước mắt đọng trên gò má, ấp úng:
– Cán bộ… Vọng, tôi cũng tưởng … anh…
– Anh cái con khỉ… Mi cứ kêu tau là thằng Vọng, mi tau như cũ. Khi nào đi lao động thì mi … Mà thôi, để tau đưa mi về phòng, mi ngồi lâu không tiện. Tau sẽ nói chuyện với mi nhiều.
Gia về chỗ nằm, gác tay lên trán, nén xúc động, cố nhắm mắt ngủ lấy sức ngày mai lại tiếp tục làm công việc khổ sai của một kiếp tù. Nhưng đầu óc cứ suy nghĩ lan man… Thắm thoắt mà Gia đã ở tù hơn bốn năm tại cái trại cải tạo hắc ám này. Với quá khứ tác chiến đầy hăng say của một Trung Úy Nhảy Dù, hy vọng ngày về xa vời quá, không biết còn sức mà về nữa không. Giữa tiếng ngáy đều đều của hai bạn tù nằm hai bên, Gia thở dài, nhớ lại thời thơ ấu chơi đùa với thằng Vọng và thằng Hồ. Cả ba đứa chỉ là con nít hàng xóm, tính tình rất hợp nhau nhưng không hiểu có phải vì thế mà chúng rất thương nhau. Một phần lớn chắc chắn là do cha mẹ ba đứa. Nhà ờ cùng xóm nên ba gia đình khá hiểu biết thông cảm nhau, cũng có lúc giúp nhau khi tối lửa tắt đèn, nhất là các bà mẹ, vài que củi, chút nước mắm. Cha thằng Vọng làm công cho một phú nông, còn mẹ nó thì gánh cá bán dạo trong xóm vào buổi chiều, vừa chạy lúp xúp vừa rao “Cá tươi, cá nục tươi…”. Tính tình thật thà nên ai cũng mến, không ngày nào bị ế hàng hay bán chậm đến tối. Cuộc sống đấp đổi qua ngày, vợ chồng con cái cũng no đủ. Cha thằng Gia thì thuần túy là một nông dân chân lấm tay bùn, suốt ngày dầm mưa dãi nắng với ruộng đồng lúa má. Mẹ nó bán hàng xén rong ngoài chợ, nhàn hạ nhưng tiền bạc kiếm được không đều và không có gì chắc chắn, theo như người ta nói là tùy theo buổi chợ. Cả hai vợ chồng tuy chật vật nhưng không để con cái đến nỗi đói rách. Thằng Vọng từ nhỏ đã bộc lộ là đứa nhiều tình cảm, chân thật với bạn, nhưng kín đáo với người ngoài, trong khi thằng Gia thì tháo vát và tính tình tốt nên hay chiều thằng Vọng, khiến hai đứa lúc nào cũng như hình với bóng. Thằng Hồ thì kém may mắn hơn, vì mồ côi cha từ năm hai ba tuổi, lớn lên với ông cha ghẻ khó tính lại hay say rượu, nhiều lúc đánh đập nó vô cớ không chút thương xót. Mẹ nó đau khổ, thương nó nhưng vì sợ ông chồng vũ phu nên gần như không dám ngó ngàng đến nó một cách lộ liễu, nhiều người thấy cả hai mẹ con như vậy ai cũng bảo thật tội nghiệp. Có lẽ vì hoàn cảnh đáng thương ấy mà tính tình thằng Hồ càng lớn càng khác hai thằng kia, lém lỉnh, lì lợm và cộc cằn hơn. Hai thằng kia thường hay đùa giỡn gọi nó là thằng “Hồ lì”, hay “Hồ li tinh”, để chỉ cái thói tinh ma quỷ quái của nó ưa phá phách chọc ghẹo mấy đứa con gái lớn hơn nó hay những thằng nhóc khác trong xóm.
Ngày hôm sau, quản giáo Vọng lại theo dõi cách lao động của Gia với thái độ lạnh lùng.
– Anh kia, chứng nào tật ấy, lao động chây lười. Anh đội trưởng! Anh cho đội nghỉ trưa hôm nay sớm, và đưa anh này vào nhà lô để tôi giáo dục, giúp anh ta mau tiến bộ.

– Ác giả ác báo… Thế hắn có vợ con gì không?
– Tau không biết. À, mi nhắc tau mới nhớ. Cách nay ba bốn năm chi đó, vụ thằng Hồ gây rúng động cả ngành công an mấy tháng liền. Nghe nói vì hắn được thằng cố vấn Tàu tin cậy nên trong một buổi liên hoan tại nhà thằng cố vấn, mà hắn là người phục vụ chính, hắn đã lợi dụng khách khứa về hết và người phục vụ dọn dẹp xong cũng đi nghỉ, hắn ra tay. Thằng chủ hắn thì say xỉn nên bị hắn trói lại, sau đó hắn lấy dao dọa cô vợ người Việt, và hai đứa con gái Tàu rặt của chủ hắn rồi hiếp dâm cả ba. Cô vợ người Việt mới khoảng ba mươi tuổi, kiểu vợ hờ, còn hai đứa con gái nghe nói chưa được hai mươi. Xong việc, thằng Hồ còn ăn cắp một mớ tiền và vàng bạc rồi bỏ trốn biệt tích, công an lùng sục ráo riết mấy tháng mà tìm không ra tông tích, bị khiển trách lên khiển trách xuống. Tau nghĩ thằng Hồ chắc chết tiệt mô rồi, xác tìm không thấy.
– Không ngờ thằng Hồ lại đốn mạt như vậy. Cũng do hoàn cảnh và xã hội làm nó hư hỏng. Phần tao thì vợ con hiện ở Saigon…
– Tau biết rồi, mi khỏi khai. Tối qua tau đọc hết lý lịch của mi, một thằng “ngụy ác ôn đầy nợ máu”. Tau thấy mi lớn lên ở miền Nam là mi có phước lớn, được đi học hết cấp ba rồi học làm sĩ quan lính thủy đánh bộ đánh nhiều trận… công trạng như núi mà lẹt đẹt mang quân hàm trung úy. Tại răng rứa? Có phải tại tính mi không hợp với lính hay mi chây luời hay chán ghét chế độ?
– Chuyện dài lắm, có dịp tau sẽ tâm sự với mi. Nhưng thật tình tau không ân hận gì hết… Tau còn hãnh diện về đơn vị nhảy dù của tau và nơi tau được đào tạo…
– Có phải cái trường võ bị chi đó ở Đà Lạt, phải không?
– Đúng…Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam…
Vọng như bừng tĩnh:
– Chết, mi với tau ham nói chuyện lâu quá. Để tau kêu anh đội trưởng vô tau dặn. Nhớ tiếp tục chây lười… và ráng chịu đói…
Quản giáo Vọng nhanh nhẹn bước ra khỏi nhà lô, hướng về chỗ đội cải tạo đang ngồi nghỉ dưới bóng cây, đưa tay ngoắc liên tục. Anh đội trưởng hấp tấp chạy đến trình diện.
– Anh vô đây. Tối nay anh tổ chức sinh hoạt đội để giáo dục anh Gia này, đội phải tích cực phê bình góp ý để giúp anh ta tiến bộ. Anh ghi lại lời phát biểu xây dựng của mỗi người về anh ta, rồi làm báo cáo sáng mai đưa cho tui, nghe rõ chưa?
– Báo cáo cán bộ, tôi nghe rõ. Xin chào cán bộ.
Gia lí nhí đủ cho anh đội trưởng nghe:
– Xin chào cán bộ. Cám ơn cán bộ.
Mấy hôm sau, các bạn tù trong đội của Gia bỗng nhiên cố ý lãng tránh Gia vì sợ liên lụy, do có người bảo có tin Gia sắp bị nhốt vì chây lười lao động. Mà Gia có chây lười thật, ai cũng biết, quản giáo cũng đã lưu ý. Tin còn cho biết Gia không những bị quản giáo gọi vào chòi phạt quỳ gối không được ăn trưa và nghe chửi hơn một tiếng đồng hồ, lại còn bị đá đít mà không được rên la. Tối lại còn bị sinh hoạt đội phê bình gắt gao, làm anh em mất ngủ. Một vài bạn tù khá thân với Gia chỉ lấm lét nhìn Gia từ xa, thấy Gia xuống sắc nhiều sợ không kham nỗi, nhưng đành xót xa thôi.
Sáng Thứ Hai tiếp theo đó, lúc tất cả các đội đang tập họp ngoài sân, sắp hàng ngồi dưới đất theo từng đội chờ lệnh xuất trại đi lao động, thì trưởng trại bất ngờ xuất hiện có quản giáo Vọng đi theo. Cả đám đông mấy trăm cải tạo viên im lặng chờ nghe kêu tên người bị nhốt vào thùng sắt, bị phạt cùm… như thường lệ gần như mỗi tuần, nhưng lần này trưởng trại có mặt, chắc hình phạt phải rất quan trọng.
Trong lúc mọi người tù đang hồi hộp chờ thì trưởng trại lên tiếng vắn tắt:
– Cải tạo viên Trần An Gia đứng dậy! Anh được lệnh chuyển trại để tiếp tục học tập cải tạo và lao động cho tốt hơn. Đồng chí quản giáo Vọng được giao trách nhiệm thi hành. Các đội trưởng cho đội bắt đầu đi lao động.
Quản giáo Vọng bước tới cạnh Gia, lạnh lùng ra lệnh:
– Anh theo tôi về buồng lấy áo quần.
Ôm một túi nhỏ trên tay, Gia cúi mặt bước đi, theo sau là quản giáo Vọng có mang súng lục bên hông và dắt xe đạp. Cả hai im lặng ra cổng trại và đi tiếp để ra quốc lộ. Gia phân vân không biết là mình đang đóng kịch hay là sự thật. Mãi đến khi Vọng lên tiếng bảo dừng lại ở một chỗ khuất khá xa hàng rào trại, Gia mới xúc động lí nhí:
– Cám ơn mi đã cho tau sống lại.
– Tau mong mi sống xứng đáng. Đây, giấy ra trại, tiền đi xe, và địa chỉ của tau. Mi cứ đi tiếp sẽ ra chỗ có xe hàng chạy, mi hỏi lái xe mà trả tiền. Gặp lái xe tốt bụng có khi nó cho đi không. Về tới nhà thì nhớ cho tau biết. Chúc mi may mắn! Tau hy vọng sẽ có ngày mi và tau gặp lại.
– Tau cũng tin như vậy.
Cả hai rưng rưng. Gia bước đi, Vọng đứng trông theo chờ Gia ngoái nhìn lại lần chót mới lên xe đạp quay đi.

Thu Huyền Hồ
(Bút hiệu của Tôn Thất Diên, cựu Giáo sư Văn Hoá Vụ/TVBQGVN )

304Đen – llttm - YD