Friday, October 1, 2021

Thương Quá Sài Gòn - Nhóm Vườn Thơ Mới Xướng Họa

 THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 84-VƯỜN THƠ MỚI

 

Bài xướng:



 














THƯƠNG QUÁ SÀI GÒN

 

Thương quá SàiGòn kiệt sức dân,

Đường ngăn chợ cấm đã bao tuần...

Nhà nhà cửa đóng, dây giăng hẻm,

Phố phố người thưa, dịch trói chân.

Đất bắc vừa nguôi đau lắm nỗi,

Trời nam đã chịu khổ muôn phần.

Nhường cơm sẻ áo qua cơn khó,

Chờ mãn thu đông rạng nắng xuân.

Minh Tâm

Các bài bọa:

[1]. NẠN DỊCH

 

Nước nghèo bệnh dịch khổ cho dân 

Thế giới chịu chung mấy chục tuần 

Bao cảnh tang thương cùng khóc nạn 

Mọi người sợ nhiễm phải dừng chân 

Tương thân trước nhất nhờ nhà nước 

Tương trợ về sau cũng góp phần 

Nạn dịch hoành hành mang hậu quả

Mong sao chóng khỏi sớm vui Xuân. 

 

Hương Lệ Oanh VA 


[2]. THÀNH PHỐ ĐÌU HIU

 

Màn trời ảm đạm mỏi mòn dân

Thành phố đìu hiu tám,chín tuần

Trầm cảm tuổi già thêm kiệt sức

Buồn nao lớp trẻ bị quàng chân

Chung tay giúp đỡ người lâm

Giảm nỗi thương đau- dịch dịu phần

Mang lại an bình trong cuộc sống

Vầng dương rạng rỡ đón tân xuân.

 

Kim Trân kính bút

 

3]. PHONG TỎA KHỔ.

 

Phong thành tỏa chợ não nề dân,

Đại dịch tăng cao đã mấy tuần.

Thực phẩm vơi dần người đói dạ,

Học đường đóng mãi trẻ cuồng chân.

Con thơ mất tổ không cha mẹ,

Kẻ chết thành tro chẳng mộ phần.

Lá rách đùm nhau qua hoạn nạn,

Lòng vàng, Phiếu Mẫu đợi mùa xuân.

 

Mỹ Ngọc.

Sept. 26/2021.

                     

4]. NẠN DỊCH

 Chánh quyền bất lực khổ cho dân,

 Kiểm soát ra vô quá bốn tuần...

 Bịnh viện dẫy đầy người bị dịch

Nhà thương đông nghẹt kẻ chen chân.

Miền Nam khoáng đãng đành thắt ruột

Phương Bắc chắt chiu cũng lấy phần.

 Cầu nguyện ngày mai xong nạn dịch

Mọi người sửa soạn đón tân xuân.

TLP

Sept. 26, 2021

 

5]. SÀI GÒN NGHẸT THỞ

 

Hòn ngọc  Viễn Đông giãn cách dân

Người người hoảng loạn cách đôi tuần

Thành hồ  ra lịnh vây cô- vít

Phường xóm chấp hành lịnh giữ chân

Dân đói hết hơi    thiếu gạo

Quan to tăng sức bởi dư phần

Mọi người tích cực dang tay giúp

Cho kẻ cơ hàn thấy nắng xuân!


Nguyễn Cang

 


Vần Thơ Dang Dở & Kể Từ Anh Vắng Xa - Nguyễn Thị Châu

 VẦN THƠ DANG DỞ



 














Trả lại hết lời yêu thương mật ngọt

Trả lại cho đời vết tích thương đau

Thời gian qua ta có được gì đâu

Ngoài nước mắt và mưa Thu lạnh giá

 

Vì cuộc sống bể dâu ta đã khóc !

Nỗi nghẹn ngào thao thức suốt canh thâu

Người xưa ơi! Ai có thấy có đau ?

Môi cắn chặt mắt rưng rưng dòng lệ

 

Xin trả lại ai bờ vai đã mượn

Những khi buồn nó sang sẽ cùng ta

Nhưng hôm nay nó lại bỏ đi xa

Mang hình bóng người xưa vào hư ảo

 

Thôi đã hết rồi, tim ai rỉ máu. !

Cuộc tình xa không đáp được bến bờ

Cuộc tình nầy như giấc mộng trong mơ

Xin ghép lại vần thơ làm kỹ niệm !!!

 

Đêm khuya không ngủ 2:46 am

27-9-2021

Nguyễn thị Châu ..

 

KỂ TỪ ANH VẮNG XA

Kể từ anh vắng xa

Đường xưa không ai bước

Lá trên cành rơi rớt

Khóc cho tình đôi ta

Theo cùng mưa với gió

Ôi! Mùa Thu đã qua

Kết bao kỹ niệm buồn

Kể từ anh vắng xa

Đường xưa như xa lạ

Ai sánh bước cười đùa

Lá trên cành cũng úa

Kỹ niệm mùa Thu xưa

Anh đưa về xóm nhỏ

Nắng vàng buông mong manh

Chen vào vai hai đứa

Anh còn nhớ không anh ?

Ôi! Cuộc tình qua nhanh

Kể từ xa vắng anh

Gió cũng buồn không thổi

Tình dứt bỏ sao đành

Chợt say rồi chợt tỉnh

Để quên một cuộc tình

Lệ trào khi tỉnh giấc

Ta khóc trong lặng thinh

Mượn thơ tình nhớ mãi

Kể từ anh vắng xa

Không còn ai tựa cửa

Trông đợi bóng người qua

Cho nhau một nụ cười

Lại quên đi Trời Đất

Ngoài Trời mưa lất phất

Người ấy ở phương nào

Ta ôm ngàn nỗi đau

Nhớ ai người tình lỡ

Hởi người tình tôi ơi !!!!

 

20-8-2021

Nguyễn thị Châu

Hương Cau Quê Mẹ - Dư Thị Diễm Buồn

HƯƠNG CAU QUÊ MẸ

 















Xa lộ không đèn trăng rằm soi sáng

Gió trong lành từ đồng nội hây hây

Mùi cỏ non, hoa dại thoảng đâu đây

Ôi nhớ quá, quê hương thời tuổi ngọc

 

Hết lớp năm con ra trường tỉnh học

Xa mái nhà, xa khung cảnh đồng quê

Nhớ thương em vào mỗi lúc chiều về

Giờ tan học đứng chờ ngoài đầu ngõ

 

Thương nhớ mẹ, ánh lửa hồng bếp nhỏ

Cá muối chiên canh tép nấu bí đao

Dĩa mướp xào, cơm gạo mới trắng phau

Bữa thanh đạm chứa chan tình thương mến

 

Cha vắng nhà miệt mài nơi chiến tuyến

Vùng Trị Thiên tuôn nắng lửa, mưa dầu

Tháp Mười đĩa, muỗi, vắt chốn Cà Mau…

Chỉ trở lại trong những ngày nghỉ phép

 

Cả gia đình quanh mâm cơm sum hiệp

Kể cha nghe bao câu chuyện đậm đà

Mẹ vui cười lòng ấm áp nở hoa

Nhà mình nghèo, nhưng tình thương không thiếu

 

Lời cha mẹ, tụi con dần thấm hiểu

Không hiềm thù, không ganh tị với ai

Người hơn nhau ở lòng dạ thẳng ngay

Sống an phận, không lụy phiền đau khổ

 

Ngày ra trường chưa kịp đi nhận sở

Giặc chiếm miền Nam cha bị cầm tù

Con trở về làng vắng vẻ âm u

Phụ giúp mẹ chăm rẫy nương đồng áng

 

Đời tối đen, trời vẫn chưa rựng sáng

Em thơ đành bỏ phế việc học hành

Dấn thân vào cuộc lận đận mưu sinh                                        

Tóc khét nắng, tay chân đầy bụi cát

 

Cây cau trồng cạnh ao bèo nước mát

Ngày cha đi, bẹ vừa mới trổ bông

Cứ đêm đêm hương ngát lọt vào phòng

Mẹ đếm từng ngày hoa kia kết trái

 

Thời gian qua mau, buồng cau được hái

Rồi đến mùa cau trở lại trổ bông

Năm theo năm mẹ thắt thẻo đợi chồng

Trại cải tạo cha vẫn chưa được thả

 

Tin cha chết trong lao tù nghiệt ngã!

Mẹ thương tâm, lâm trọng bịnh lìa đời!

Tìm tự do con liều vượt biển khơi

Chuỗi đau khổ phải chép bằng nước mắt!

 

Bao năm qua rồi xứ người lưu lạc

Nhớ mẹ cha, nhớ xóm nhỏ, vườn cau

Nhớ mùi hoa thoang thoảng dưới trăng sao

Tận đáy thẳm, thời gian còn ngát mãi…

 

 DƯ THỊ DIỄM BUỒN

 Email: dtdbuon@hotmail.com

  

Rộn Rã Một Thời Báo Tết Học Sinh Sài Gòn - Nguyễn Mạnh Hà

Rộn rã một thời báo Tết học sinh Sài Gòn

 

Trong thời buổi báo giấy dần trở nên xa lạ với bạn đọc thì việc học sinh trung học làm báo bán được hàng nghìn bản vào dịp Tết quả là sự lạ. Tất nhiên chuyện xảy ra cách đây cũng hơn nửa thế kỷ tại Sài Gòn và các tỉnh phía Nam.

 


Bộ mặt của trường

 

Gặp nghệ sĩ, nhà nghiên cứu Trịnh Bách tại buổi giới thiệu Sách Tết ở Hà Nội, ông lại mang chuyện làm báo Tết thời còn học trường Võ Trường Toản- Sài Gòn ra kể: “Báo Tết của học sinh được đón nhận rầm rộ. Nó giống như danh dự của trường, thể hiện trình độ văn hóa học sinh của trường, nên thi đua kinh lắm, bài vở chuẩn bị cả năm.”

Báo Tết của học sinh gọi là “giai phẩm Xuân” đầu những năm 1970 in offset, bìa màu với trường giàu ở thành phố, còn tỉnh lẻ quay roneo- cốt sao vừa túi tiền học trò. Cả trăm trang đâu phải chuyện chơi. Nhà văn Lê Văn Nghĩa nhớ mỗi lần in cỡ 1-2 ngàn bản. Còn theo Trịnh Bách, có trường in tới 5 ngàn bản- trong khi tạp chí Bách Khoa thời hoàng kim cũng chỉ được 4.500 (thống kê của Nam Bộ đất và người). “Vì ở những trường lớn, ngoài số báo bán cho học sinh và phụ huynh, còn phải in đủ để bán sang các trường khác và các sạp báo,” ông Bách nói.

Nhà báo Phạm Công Luận trong tập 1 Sài Gòn chuyện đời của phố (NXB Văn Hóa Văn Nghệ 2015) bổ sung nguyên nhân bùng nổ báo Tết học sinh khi đó:

“Báo Xuân học đường là cơ hội của các cây bút học đường do báo chí người lớn thu hẹp dần đất dành cho tuổi trẻ, nhiều tờ báo khác bị đóng cửa do tình hình khó khăn thời chiến.”

Báo chí là một trong những hoạt động quan trọng của hiệu đoàn- tổ chức sinh hoạt ngoại khóa (thể thao, văn nghệ…) của học sinh trong trường do các học sinh ưu tú trong các lĩnh vực đó cầm chịch.

“Vì thế, trước tháng 12 dương lịch là các trưởng ban (báo chí) các lớp- không phân biệt lớn nhỏ (trường thời đó gộp cả cấp II và III- PV)- được lệnh của trưởng khối ‘báo chấy’ toàn trường kêu gọi tham gia viết bài cho giai phẩm trường mình. Quyền lợi của ‘nhà văn, nhà thơ’ là được đăng bài và hãnh diện với bạn bè, ngoài ra không còn gì hết”- Lê Văn Nghĩa viết trong bài Tết và giai phẩm học trò (đăng báo Công an TP HCM Tết năm nay).

Ông Nghĩa cho hay, bài vở sau khi được nhóm báo chí xử lý phải chuyển cho giáo sư hướng dẫn báo chí đọc, rồi cũng phải có giấy phép từ Bộ Thông tin mới được đem đi in.

Báo Tết của học sinh Sài Gòn phát hành cả ở các tỉnh lân cận như Tây Ninh, Biên Hòa, Đồng Nai… Những học sinh khéo ăn nói nhất được cử đi làm nhiệm vụ bán báo. Nhiều trường nam nữ học riêng nên nhiệm vụ gây phấn khích nhất là mang báo sang trường khác phái bán. Lê Văn Nghĩa, học Petrus Ký từ 1965 đến 1972 so sánh: “Nó giống như thám hiểm một thế giới khác vậy, lạ lắm…”

Công phu bán báo

Trong cuốn truyện dài Mùa hè năm Petrus (NXB Trẻ- 2013), Lê Văn Nghĩa dành hẳn hai chương kể về hai chuyến “thám hiểm” của đội bán báo Petrus Ký sang trường nữ Gia Long và ngược lại. Trích phát biểu của trưởng khối báo chí Petrus Ký tại trường bạn: “Hôm nay, học sinh Petrus chúng tôi nhân mùa Xuân về, đem miếng trầu cay đến để giới thiệu với những người bạn gái Gia Long những tình cảm chân thành. Mai đây, rồi chúng ta sẽ rời bỏ ngôi trường yêu dấu của mình để tung bay vào vạn nẻo đường đời, nhưng những kỷ niệm đời học sinh sẽ vẫn còn mãi vì nó được ghi đậm bằng những áng văn chương thời học sinh…” Thính giả vỗ tay nhiệt liệt.

Theo truyện thì bán báo cho nữ sinh coi vậy mà dễ, các cô cùng lắm chỉ trêu các cậu là “ốm nhom như thằng ghiền” hay “thi sĩ ròm”.

– Em ơi trong cuốn giai phẩm này có truyện nào giống truyện Vòng tay học trò không em?”

– Làm sao mà có được anh. Tụi mình là học sinh mà.

– Như vậy thì có chuyện “vòng tay em” không?

Trên đây là một mẩu đối thoại giữa cô bán báo Gia Long với các quỷ nam Petrus Ký trong Mùa hè năm Petrus. “Sốc” hơn, một nam sinh lớn tuổi có tí cay cú vì bị gọi là “em” đã “len lén đi tới đi tới phía sau lưng” “đánh nhẹ vào mông” cô bán báo. Theo nhà văn thì đúng là hai bên trêu chọc nhau dữ dội, đối đáp có thêm thắt, còn hành động “metoo” kia là có thật.

Nhưng đến khi đem ra thi thố văn chương thì biết ai “chị” ai “em”. Cuộc thi báo tết học sinh tháng 2/1975 có trên 50 tờ tham gia. Ban Giám Khảo là các nhà văn nổi tiếng thời bấy giờ Minh Quân, Minh Đức Hoài Trinh, Bình Nguyên Lộc, Võ Phiến, ố Oanh, Lê Tất Điều, Nguyễn Mộng Giác…”

Các trường ở Sài Gòn gửi thẳng đến Ban Giám Khảo, các trường ở tỉnh lỵ, quận lỵ thì Ty giáo dục phải tuyển chọn trước khi gửi về.” nhà báo Phạm Công Luận cho hay.

Kết quả, giai phẩm xuân nữ trung học Gia Long chiếm giải Nhất, kế đến là nữ trung học Bùi Thị Xuân (Đà Lạt), nam trung học Võ Trường Toản giải Ba. Hai trường nữ Sương Nguyệt Anh, Lê Văn Duyệt cùng Petrus Trương Vĩnh Ký chia nhau Khuyến khích.

Các cây bút nữ được giám khảo nhận xét “tình cảm trong thi ca phong phú hơn, đối thoại trong truyện ngắn linh hoạt hơn”.

Căn nguyên theo Lê Văn Nghĩa:

“Các ‘nường’ dư thời giờ suy tưởng ra những ý hay văn đẹp, còn các chàng bị Sở Động Viên nhắc nhở nếu thi không đậu sẽ vào quân trường nhe các em, cha mẹ hăm he nếu không thi đậu năm nay thì đời con sau nầy sẽ hát bài Xuân nầy con không về nhá liệu mà cái thần hồn… Còn tinh thần đâu mà thơ với truyện!”

Theo Lê Văn Nghĩa thì khoảng thời gian đầu thập kỷ 1970 ở miền Nam, văn chương nữ cũng ở thế thượng phong trên “thị trường chữ nghĩa”. “Vì người sáng tác thuộc phái nữ, đề tài sáng tác, nhân vật điển hình ở phái nữ, và cả độc giả cũng là phái nữ… Ngoài xã hội phụ nữ chiếm phần ưu thế thì trong cuộc tranh đua giữa các báo xuân học đường, phái nữ cũng phải chiếm ưu thế”- nhận định của bán nguyệt san Bách Khoa số 425, phát hành tháng 3/1975.

Không thờ ơ trước thời cuộc

Theo Phạm Công Luận, Gửi người em lớp 6- thơ của Trần Bích Tiên, lớp 10 trường Bùi Thị Xuân từ giai phẩm Xuân đã được đăng trang trọng trên Bách Khoa- tạp chí uy tín thu hút các học giả hàng đầu miền Nam lúc đó. Bài thơ có đoạn: “Này em lớp sáu này em nhỏ/ Em hãy dừng chân một chút lâu/ Chị vuốt tóc em rồi chị nhớ/ Tóc em thơm ngát mùi hương cau/ Hương cau vườn chị xa như tuổi/ Ba má chị nằm dưới mộ sâu/ Vườn cũ nhà xưa tàn với lửa/ Chị đi về hai buổi âm u…”

Cạnh đó là thơ của Nguyễn Đăng Châu trong báo Đất Hồng trường Phan Chu Trinh, Đà Nẵng: “Anh nói bé nghe chuyện làng chuyện xóm/ Chú Bảy anh Ba ngã xuống hôm nào/ Đường quê mình đi dày công nuôi nấng/ Bằng xác bà con sữa mặn má đào…”

Lê Văn Nghĩa dẫn lời tựa giai phẩm xuân 1972 của trường Tân Văn- Tân Việt: “Tuổi trẻ thì bất hạnh bởi thực tại phũ phàng; lớn lên trong lửa đạn để tha thiết mơ vói đến hình ảnh thanh bình-hình ảnh chưa một lần diện kiến. Ở ý nghĩa đó, tuyển tập giai phẩm nầy hiện diện mong bày tỏ phần nào những khát vọng của lớp người trẻ tuổi…” Như vậy bất chấp chủ điểm Xuân Tết, những cây bút trẻ còn trên ghế nhà trường vẫn đầy ưu thời mẫn thế.”“Trước 1975, học sinh chững chạc hơn bây giờ,” Phạm Công Luận nhận định.

“Vì các hoạt động ngoại khóa ở Sài Gòn hết sức sôi nổi, thứ nữa thời chiến bao giờ giới trẻ cũng trưởng thành sớm.” Theo Trịnh Bách, chính việc làm báo góp phần làm cho học sinh thời đó “đứng đắn” hơn, ngoài cũng do chương trình giáo dục. Tức là lớp 1 có cả môn “phổ thông thường thức” dạy quét nhà, rửa rau, rửa bát… trong khi các nhà khá giả cho con đi học thêm vẽ, nhạc. Lớp 4-5 ngoài bơi, học cả phụ mẹ dưỡng nhi, dưỡng thai. Lớp 9 ngoài học về giới tính trên lớp, giáo viên còn dẫn học sinh đến rạp xem những bộ phim đặc dụng như Helga và chồng của Thụy Điển.”

Mỗi lớp cấp II trở lên đều có một học sinh làm trưởng ban báo chí – chịu trách nhiệm làm bích báo lớp. Mỗi trường lại có vài thi văn đoàn do học sinh tự lập để trau dồi việc viết lách, ngoài phục vụ nội san còn gửi các báo bên ngoài như Thiếu Nhi, Tuổi Ngọc, Thằng Bờm, Tuổi Hoa…

Báo tường hay nội san là hoạt động không có gì lạ tại các trường phổ thông thời gian gần đây, nhưng phát triển chuyên nghiệp đến mức trở thành “ngoại san” như thuở trước 1975 chắc chắn bất khả, và cũng không cần thiết. Đơn giản, mỗi thời phải có cách làm, cách chơi riêng để đánh dấu hoa niên.

Nguyễn Mạnh Hà (gửi cho BBC từ Việt Nam)

6 tháng 2, 2019
Nguồn: https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-47129038

304Đen – llttm -sgtc

  

Tìm Đâu Kỷ Niệm Ngọc Ngà - vkp Phượng tím

 TÌM ĐÂU KỶ NIỆM NGỌC NGÀ















Núi cao biển rộng sông dài

Phải đâu duyên nợ mà hoài đợi mong

Người xưa xa mặt cách lòng

Kẻ nơi quê mẹ ngóng trông thẫn thờ

Biển xanh sóng vỗ xa bờ

Trắng tinh hoa tuyết hững hờ trôi nhanh

Tơ vương như sợi chỉ mành

Treo chuông lơ lửng... thôi đành buông tay

Trăng tàn cuối tháng... mây bay

Mang theo nỗi nhớ dặm dài thiết tha

Tìm đâu kỷ niệm ngọc ngà!!!

 

Saigon Tháng 9/2021

 VKP phượng tím