Tuesday, May 6, 2025

Nghiệp Chướng - Lập Phương

 

NGHIỆP CHƯỚNG



Ông già què lê đôi nạng gỗ đến dưới bóng mát cây phượng cạnh sân ga, trải tấm áo đại cán bốn mùa xuống đất. Đoạn, ngồi xuống tấm áo, lôi cây ghi-ta ra, căng lại dây đàn. Ông gỡ cái thau men từ sau lưng, có đục hai lỗ sát mép để sỏ quai, đặt ngay trước mặt cho dễ ngó. Ông quàng tay vét vét mất sợi rác mảnh dính dưới đáy chậu, rồi giơ cái chuông ngựa lên ngang đầu, rung một hồi. Mấy người đạp xích lô đang ngủ, kéo cái mũ cối che mặt ra khỏi vành tai cho thông thoáng. Mấy người dân quê đang chờ tàu thấy lạ, kéo xúm lại. Một vài ông
dừng xe đạp, ngồi ghếch chân trên yên. Có một đám thanh niên, dường như đã chờ sẵn ở hàng lan can xi-măng, ùa đến vây lấy ông. Ông già thấy chừng đã vừa khách, bèn cầm cây đàn lên dạo một đoạn nhạc vui, rồi hắng giọng :

– Kính thưa các quí ông, quí bà. Hồng Đức tôi kính cẩn cúi chào quí vị. Xin quí vị thứ lỗi cho tôi không thể đứng ngay ngắn để tỏ lòng tôn kính quí vị được. Nhưng thưa quí vị, tôi xin dùng lời ca, tiếng nhạc để tạ lỗi cùng quí vị.

Giọng ông cũng ra riết, bổng trầm, có thua gì mấy kịch sĩ thượng thặng trong nhà hát thành phố. Giới thiệu xong, ông cúi đầu, nẩy nhẹ mấy ngón tay trên dây đàn, đệm hợp âm theo điệu hành khúc, rồi móp má lấy hơi, chụm môi, huýt sáo bản “Anh vẫn hành quân”, có tiếng mõ chân đập nhịp. Thêm mấy vị áo quần là lượt phanh xe, để mắt ngó vào. Xong bản “Anh vẫn hành quân”, lượng khán giả đông thêm một chút.

Trong đáy chậu đã có mấy đồng cắc bạc. Phấn chấn, ông chơi tiếp bản “Trường sơn đông, Trường sơn tây”. Lần này ông bắt giọng theo nhịp đàn, biến tấu, luyến, láy theo âm lượng của bản giọng. Người nghe thấy lạ tai, khoái nhĩ. Lại vài đồng cắc nữa rơi leng keng xuống
đáy chậu. Hưng phấn bốc lên, ông độc tấu liền một lúc bốn bài ca Trường sơn. Phải thừa nhận tiếng đàn của ông lão chơi vơi vô cùng điêu luyện. Lúc thì vang lên tiếng kèn xung trận. Khi thì thánh thót như tiếng suối reo lưng dèo. Đến đoạn cao trào, chiếc ghi-ta đơn lẻ được ông trình tấu như một dàn nhạc. Hai bàn tay ông lão múa trên mặt đàn. Cùi tay ông thốc vào bầu đàn thay cho tiếng trống. Người xem kéo đến vây kín xung quanh. Có người phải kiễng chân trên hàng rào xi-măng để nhìn cho rõ.

– Lão già chơi không kém gì chuyên nghiệp.

– Thì hẵn là chuyên nghiệp chứ nghiệp dư sao được như thế này.

Người quanh ga ai cũng biết ông. Người ta biết ông vì ông là người hát rong lập dị. Hát rong có giờ. Người ta thích ông vì ông hát được nhiều thể loại nhạc. Có đỏ. Có vàng. Có xanh. Có tím. Có dân ca. Có tiền chiến.

Một lần, có một cậu học trò hỏi chọc ông hát bài “Chiều Moskva”, bằng tiếng Nga ngọng líu. Ông lẳng lặng sửa lại cung đàn, gảy sô lô phần nhạc dạo, rồi trải giọng theo những viên đá xám trên đại lộ dẫn đến hồng trường. Cậu học trò hổ ngươi, lủi mất. Ông mới về hát ở ga chừng hơn 1 tháng mà đã có nhiều giai thoại về ông.

– Ngày xưa ông là diễn viên trong đoàn văn công của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam VN.

– Không phải. Trước đây ông là nhạc công chuyên nghiệp đã được đi tập huấn ở nước ngoài về.

– Sai bét. Ông là người Bắc Ninh. Trai Bắc Ninh mới nứt mắt ra là biết hò quan họ. Không tin cứ bảo ông hát bài “Qua cầu gió bay” mà coi.

– Tại sao ông ta không làm trong đoàn ca nhạc đài tiếng nói nhỉ ?

– Tưởng bỡn. Mẹ. Thành phần nồng cốt cả. Cứ “Lạy mẹ con đi” với “Xuân này con không về” thì ngồi đấy mà chờ.

– Công cụ tuyên truyền. Què cụt thế này thì chó nó tuyển…

Chơi xong mấy bài Trường sơn, ông vã mồ hôi, lưng áo ông loang ướt. Ông rời cần đàn. Lôi cái bi đông Trung quốc ra tu một hớp. Lấy khăn mặt ra lau trán. Trong đáy chậu đã có thêm vào hào giấy. Ông ngẩng lên tỏ lòng cám ơn những khán thính giả rộng rãi. Phía vòng ngoài,
một bóng áo vàng thấp thoáng. Có sai phạm gì ? Ông cứ hát.

– Ông có hát được nhạc tình của Phạm Duy không ?

– Thưa quí cô. Xin cô cho phép tôi từ chối hát nhạc vàng của Mỹ ngụy. Bóng chiếc áo vàng vẫn thấp thoáng.

– Thế thì “Rặng trâm bầu” đi ông.

Ngày nào cũng có người yêu cầu bài này. Nhuyễn rồi. Đâu có gì khó khăn.

– Ngâm thơ đi, hay ca cải lương cũng được.

– Vâng. Thưa các quí ông, quí bà. Để thay đổi không khí, bây giờ Hồng Đức tôi xin ngâm hiến quí vị bài thơ “Đời ta có đảng”.

Ông cầm cây móng nhựa, tỉa mấy nốt đơn, trầm. Tiếng đàn nghe như tiếng tam thập lục. Ông vươn cổ trữ hơi. Khi tiếng đàn vừa trùng xuống thì giọng ư a của ông cất lên.

“Con ơi…ư… Từ khi…ư…a…mới có…ư…được ngày…ì…hôm nay…ư…”

– Ông già.

Ông cắt giọng, ngẩng lên.

– Đồng chí gọi tôi.

– Đứng lên. Theo tôi về đồn.

Tên công an áo vàng cúi xuống nhấc cái thau men của ông. Ông vội buông cần đàn, xoài người chụp lấy cái thau nhưng không kịp. Tên công an đã rẽ đám người, bê cái thau
xăm xăm đi vào trạm công an nhà ga. Ông nhấp nhô đuổi theo. Vào đến trạm, ông hớt hải hỏi.

– Đồng chí công an. Tôi đã phạm lỗi gì ?

– Ông đã bêu rếu đảng.

– Tôi đã bêu riễu đảng bao giờ, ở đâu ?

– Ông ngâm bài “Đời ta có đảng” lúc nãy, ông quên rồi à ?

– Bản đó ca ngợi công ơn của đảng, sao đồng chí lại bảo là bêu riễu đảng ?

– Ý ông bảo từ khi có đảng ông mới phải đi ăn mày như vậy à. Ông và những kẻ ăn mày ca bản ấy là có tư tưởng bêu xấu đảng. Ông hiểu chưa ?

Ông già cứng mặt. Tên công an đổ đống xu, hào lên mặt bàn rồi lẳng cái chậu men xuống đất đánh xoảng.
Ông già vội ngã người, lấy thân đỡ cái chậu. Tên công an nhanh tay gạt đống tiền xu vào ngăn kéo rồi rút ra một tờ biên bản.

– Ông Biện. Kể từ khi quản chế, đây là lần thứ hai ông phạm tội. Lần trước tôi bắt gặp ông đang hát nhạc vàng bêu riễu đảng. Tội ông rất lớn. Nhưng xét công lao của ông và chính sách đối với thương binh, ông vẫn được tự do đi lại trong khu vực. Nhưng, để tránh có lần thứ ba..

Tên công an dừng lời. Hắn cố nặn óc để tìm một hình phat thích hợp nhất đối với ông, và có lợi nhất đối với hắn.

– Thế này. Từ giờ trở đi, ông chỉ được hát những bài do chúng tôi qui định trong tờ biên bản.

Tên công an liệt kê ra những bài hát mà hắn biết rằng, ông già hát rong tài ba kia sẽ nằm gọn trong gio. câu của hắn :

Giải phóng miền Nam, Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng, Hành quân xa, Giết hết không còn một tên giặc Mỹ, Ba cô đi cấy chăng dây, Đường cày đảm đang. Toàn những bài máu, lửa, phân, đất.

Ông Biện cầm tờ biên bản, chống nạng đi ra. Tới bóng cây phượng, ông ngồi phệt xuống bờ đường.

– “Còn khoe?, hát phục vụ chiến trường. Cụt chân, bị phế thải. Hát rong, sai tư tưởng. Chống lại, bị quản chế. Đời khốn nạn. Vui không được. Ca ngợi cũng không được. 6 bài hát này thì hát cho cha chúng nó nghe à”.

Trong trạm, tên công an khoái trí mở ngăn kéo, đếm đồng tiền.

– “Mẹ. Mới loáng một cái nó đã làm hơn 5 đồng bạc, bằng cả 2 ngày lương của mình”.

Hắn dồn đống xu vào túi quần, gập xấp giấy hào cho vào túi ngực, rồi xách xà cột ra cửa sổ quan sát. Đằng kia, một đám người đang vây quanh mấy bà bán rau trên vỉa hè. Hắn nhoẻn miệng cười, nhanh lẹ mở nắm đấm, rồi luồn người đi vòng ra phía cổng hậu.

*

Đã gần hết ngày, ông Biện vẫn chưa có gì lót ruột. 6 bài hát ông kêu ra rả cả tuần lễ, chỉ tổ làm khổ tai người đi đường. Mấy người đạp xích lô phải đẩy xe ra chỗ bóng dâm khác chờ khách. Dăm người khán giả quen mặt thất vọng, lạnh lùng. Xế chiều. Người đợi tàu ngồi bừa ra đến ngoài tam cấp.

– Ông già. Ca cải lương đi ông. Ông lão bậm môi, lắc đầu.

– Hay dân ca Nam Bộ cũng được.

Ông vẫn làm thinh.

Phía trạm công an, tên công an dạng cẳng, tót lên xẹ

– Nó đi rồi. Ca đi. Tôi gác đờ co cho.

Người đạp xích lô đủn cái xe đến gần chỗ ông ngồi. Ông lê ra máy nước, ngửa cổ tợp một hớp, chùi mép vào tay áo, rồi quay lại chỗ cái áo và bộ đồ nghề.

Ông ngồi xuống, vuốt cần đàn. Giọng hát mê hồn của ông qua bài dân ca Lý Con Sáo làm người ta bu lại đông đặc. Tiền xu tới tấp ném xuống. Tới bản dân ca Trung Lý Ngựa Ô. Người ta vỗ tay rôm rớp.

Rồi “Người Ơi Người Ở Đừng Về”. Đáy thau đã phủ một lớp mỏng tiền hào và kẽm.

– Chơi thử bài “Lên Ngàn” xem nào.

– Thì “Lên Ngàn”.

Ông dốc hết sức. Bụng càng cồn cào. Hơi lấy vào thì nhiều nhưng đẩy ra thì kém. Vừa dứt bài “Lên Ngàn”, ông ho rũ.

– Ông biết bài “Trăng Tàn Trên Hè Phố” không ?

– Một giọng mũi của một gã đứng vòng ngoài yêu cầu. Chiều lòng người ái mộ, ông chuyển lại thế ngồi, đổi gam sang nhạc lả lướt. Khoang miệng ông mở rộng, yết hầu rung nhè nhẹ. Bài ca được ông thể hiện quả công phu

– Ông già.

Ông choàng tỉnh. Mắt trừng trừng mở. Tay đàn đóng cứng. Mồm há hốc. Tên công an lừng lững đứng trước mặt ông. Hắn không nói thêm một lời, cúi xuống nhắc chiếc thau trắng men. Ông không nhúc nhích. Người xem nhanh chân tản hết. Tên công an quay đầu, bê chiếc thau men về trạm. Ông chẳng buồn đuổi theo. Mà cũng có thể ông không còn đủ sức để đuổi theo. Ông cứ ngồi. Đêm lãng vãng bò về. Chuyến tàu đêm vừa dứt. Sân ga lặng như chì. Ông bò đến ụ máy nước, vặn vòi cho chảy tí tách. Đoạn nằm ngửa, há mồm cho nước chảy xuôi vô
cuống họng…

*

Chiều muộn hôm sau, ông lết ra máy nước, gội đầu, cọ cổ sạch sẽ. Rút lược, chải tóc hất ngược ra sau. Xong xuôi, ôm đàn lê đến chân tường, sát trạm công an nhà ga, ngồi xuống. Tiếng chuông ngựa leng reng. Người chờ tàu đổ lại. Tên công an ngó cổ.

Ớ. Còn cái thau. Hắn thụt vào. Chắc lão kiếm được cái khác thay thế. Ngoài sân đã dập dìu tiếng nhạc. Mày chết. Lại nhạc vàng. Hắn ngó cổ ra. Chưa đông lắm. Lại thụt vào. To gan. Nhạc kích động. Hắn hé cánh cửa sổ.

Không thấy có cái thau. Diệu kế. Thằng trẻ con mang mau cái thau men, chui qua hàng chân, để xuống trươc mặt ông.

Phản động. Nhạc tiền chiến. Hắn bước ra khỏi phòng, kiễng chân ngó qua vai khán giả. Vẫn cái thau không. Bản nhạc “Nỗi Lòng Người Đi” vừa rứt. Ông già đưa cái khăn mặt lên miệng. Cơn ho không thoát ra được, hục hặc trong mồm. Một tiếng keng. Hắn mừng rộn. Một tiếng
keng nữa. Đồng chinh lẩy lanh canh trong chậu.

– Xin đừng cho tiền.

Đèn nhà ga vàng vọt hắt quanh. Hắn chặn mũi, giả giọng cổ.

– Có biết nhạc VN ở hải ngoại không ?

Lại một tiếng keng nữa.

– Xin quí vị cầm tiền lại.

Trân trọng. Ông nâng đàn. Tiếng lòng ai oán như thoát từ tâm hồn người bỏ xứ.

“…Sàigòn ơi, ta mất người như người đã mất tên…”

Ông vừa dứt giọng, một bà cúi xuống đặt vào trong thau tờ giấy một đồng.

– Xin bà hãy cầm lấy tiền của bà… Bần sĩ không nhận tiền của quí vị hôm nay.

Ông lão lại đưa cái khăn mặt lên miệng. Chuỗi lục khục trong yết hầu.

– Đây là lần cuối cùng…bần sĩ hát cống hiến quí vị. Ông giơ tay huơ huơ trên đầu.

– Xin giã biệt.

Quay mặt vào góc tường, ông ho như xổ ra từng miếng phổi.

– Mẹ. Lão già.

Tên công an hậm hực trở về trạm, lôi chiếc xe đạp xuống đường. Tàu đêm đến. Sân ga vắng hẳn. Có người thanh niên đưa cho ông chiếc bánh mì còn nóng. Ông xua tay.

– Em cầm lấy đi… Tôi không còn cần đến nó nữa.

Ông giơ tay chặn lấy miệng, ngoái đầu kiếm quanh. Cái chậu men nằm tênh hênh bên cạnh. Ợ…ộc. Một đống máu lẫn đờm.

Ông chống tay vào cần đàn, vớ cây nạng gỗ, đứng dậy. Cạnh nhà vệ sinh công cộng, một cái lỗ chó chui vừa khít người ông. Ông chui qua. Mấy hàng đường rầy ngoằn ngoèo từ bóng tối chui ra. Tàu đêm sắp chuyển bánh.

Lập Phương

304Đen – llttm- OVV

 

 

 

Một Chút Hoài Niệm Thời Tuổi Trẻ - Nguyễn Văn Lục

 

MỘT CHÚT HOÀI NIỆM THỜI TUỔI TRẺ

Bộ mặt Sài gòn, lúc 1955, người ta còn thấy những thầy cảnh Sát được gọi là Mã Tà, đứng huýt còi ở các ngã tư đường. Vậy mà chẳng bao lâu chữ gọi mã tà đó đã biến mất. Và sau này, sẽ còn nhiều cái biến mất như thế.

Nguyễn Văn Lục



Người ta vẫn còn thấy những xe thổ mộ đủng đỉnh, kêu lóc cóc vui tai với các lục lạc của xe ngựa kéo trên các con đường từ chợ Bến Thành xuống tận Ngã Tư Bảy Hiền, hay từ Bến Thành đi chợ Bà Chiểu. Nó vẫn như ngang nhiên thách đố với các tuyến đường xe buýt nay đã chật ních người. Nó vẫn có những khách hàng quen thuộc là những người thuộc giới bình dân, giới buôn thúng bán mẹt…

 

Nó chỉ dần dần biến mất lúc nào không ai hay khi mà những chiếc xe Lambretta ba bánh nhập cảng từ Ý đã được chế biến lại cùng chạy trên những tuyến đường đó. Xe lam nhanh hơn, chở tới 12 người, 10 người ngồi ở đằng sau, khi cần, có thể ghé thêm hai người ngồi bên cạnh tài xế. Vậy tất cả là 13 người chứ không 12. Xe lại có nhiều chuyến hơn, cứ đầy là chạy và ngồi thoải mái hơn.

Đặc biệt bên hai thành xe có ghi hai câu: “Hữu sản hóa, đợt tự chủ”. Nếu tôi nhớ không lầm chính sách hữu sản hóa này là ở dưới thời ông Kỳ làm Thủ tướng. Nhưng xe xích lô ba bánh, xích lô đạp, đặc sản miền Nam vẫn tồn tại trong suốt 20 năm miền Nam còn lại.


Người trung thành nhất với xích lô đạp, phải chăng là thi sĩ Vũ Hoàng Chương? Có thể ông nghèo vì hút thuốc phiện, nhưng mỗi lần đi dạy ở trường Chu Văn An ông luôn luôn đến trường bằng xe xích lô đạp. Quần áo luôn luôn là ủi thẳng nếp, thắt cravate, tay áo manchette bằng vàng, đầu chải bóng.

Người chạy xích lô đạp thường tranh nhau mời ông không phải vì ông là thi sĩ, mà vì người ông nhẹ như bấc, không chắc ông có cân nặng bằng nửa số ký của người khác không?

Và có ai ngờ rằng, xích lô đạp vẫn có chỗ của nó sau hơn nửa thế kỷ sinh tồn.

Sau 30.4.1975, rất nhiều nhà văn, nhà báo, chuyên viên, giáo sư đổi ra đạp xích lô.

Và tự nhiên nay nó trở thành biểu tượng nếp sống văn hóa của một thời. Hà Nội nay nhan nhản xích lô đạp dành cho khách du lịch chạy vòng vòng quanh khu phố cổ Hà Nội. Người ngoại quốc danh tiếng nào đến Việt Nam thì cũng có dịp ngồi trên đó cả. Vợ chồng Brad Pitt và Angelina Jolie cũng có dịp ngồi xe xích lô cho biết mùi vị Việt Nam.


Nhưng cái đổi thay rõ nét nhất là cái áo dài con gái thay thế cho chiếc áo bà ba, chiếc quần hai ống rộng. Chẳng bao lâu sau, chẳng biết từ lúc nào toàn miền Nam mà đặc biệt các nữ sinh trung Học, từ Sài Gòn ra Trung, từ Sài Gòn xuống Lục tỉnh. Chỉ áo dài là áo dài. Áo dài Trưng Vương, áo dài Gia Long, áo dài Nguyễn Bá Tòng, áo dài Nữ trung học Lê văn Duyệt, áo dài Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho, áo dài Tống Phước Hiệp, Vĩnh Long, áo dài Nữ Trung Học Nha Trang và nhất là áo dài Đồng Khánh Huế.

Và nó cũng mở đầu cho thiên tình khúc tuyệt vời Ngày xưa… Hoàng Thị của Phạm Thiên Thư:

Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ..
Anh đi theo hoài
Gót giày thầm lặng
Đường chiều úa nắng
Mưa nhẹ bâng khuâng
Em tan trường về
Cuối đường mây đỏ
Bước em thênh thang
Ôm nghiêng cặp sách
Vai nhỏ tóc dài
Áo em ngày nọ
Phai nhạt mây mầu
Chân tìm theo nhau
Còn là vang vọng …

Nó biểu tượng cho cái gì tinh khiết, trinh nữ, tinh tuyền và mời gọi. Nó che dấu bằng hai vạt áo dài mà như thể mở, biện chứng kín mà hở. Nó mời mọc mà kín đáo chối từ, nó bày tỏ phái tính, sexy đến ứ cổ họng với nét nổi lên của chiếc quần lót hằn lên tuổi dậy thì. Không có y phục phụ nữ nào trên thế giới lại sexy đến như thế. Ngay cả sau này với mini-jupe cũng không sánh bì.

Nó không cần đến những Cardin, Courrèges, St. Laurent, Paco Robanne. Cùng lắm, nó chỉ thua Le Panty, Monokini, quần lót Le petit bâteau của thập niên 1970. Nhưng những thứ này phải “ăn gian” từng centimét mới có được như thế.

Áo dài không ăn gian. Cạnh đó là hàng nút bấm mong manh như lối ngõ vào bên trong nằm hở ra cạnh sườn. Nó không những chỉ là một nét đẹp con gái mà nó trở thành biểu tượng cho một nếp sống văn hóa Việt Nam.

Sau này, không biết bao nhiêu những tranh ảnh, bìa báo Xuân, báo Tết chụp hình các thiếu nữ trẻ miền Nam trong chiếc áo dài truyền thống đó.

Và người ta có thể hãnh diện về điều này mà không có gì phải hổ thẹn khi nói đến tuổi thanh xuân thiếu nữ đi liền với nét đẹp con gái ấy. Nó phản ánh thế hệ thanh thiếu nữ thời ấy mà hễ bất cứ ai không còn là con gái, xồ xề một chút, vùng đùi, vùng mông nở nang một chút là mặc áo dài thường khó coi.




Sự đòi hỏi của tôi có khắt khe quá chăng? Nhưng chính sự đòi hỏi khắc nghiệt ấy làm tăng giá trị chiếc áo dài miền Nam tuổi trẻ. Nhiều phụ nữ các bà mặc trong các dịp lễ hội. Thấy làm sao.

Rất tiếc sau 75, ra ngoài đường, Sài gòn vắng bóng chiếc áo dài. Cũng là vắng bóng tuổi trẻ miền Nam? Hay tuổi trẻ miền Nam không còn nữa? Người ta không còn phân biệt ai là con gái, ai là đàn bà được nữa đến như thể ai cũng là đàn bà, đến như thể ai cũng mất cả rồi.

Khi không còn những áo dài đó, Sài gòn buồn thiu. Như cây rừng không còn lá.

Tuổi trẻ miền Nam thời ấy biểu tượng vẫn là hình ảnh cô thiếu nữ mặc áo dài trắng quần trắng. Đừng thứ mầu khác, đừng xanh đỏ lò loẹt. Vén tà áo dài sang bên, hở một bên, kín một bên, cho thấy đùi trinh nữ, cho thấy tuổi dậy thì, hai đùi nhẹ khép lại khi bước đi hay khi ngồi trên chiếc xe vê lô sô lếch thời thượng.

Bây giờ, tôi không thấy những bước đi kiêu sa thiếu nữ như thế nữa. Đó là hình ảnh cô gái, mình ong thon thon ngồi trên chiếc xe Solex trông giống như một con bọ ngựa biết bay. Phất phới, tung gió, nhẹ lướt, mái tóc hất lại đằng sau, đầu buộc bím mầu xanh tím, để lại đằng sau những cái nhìn dõi xuôi bắt không kịp. Và những đôi mắt thèm thuồng.

Ingarary gọi đó là một chuỗi diễn hành phái tính (Mascarade de la fénimité).

Xin mượn lời thơ của Nguyên Sa:

Giấc mơ em mặc jupe hồng… thôi rồi Sài Gòn ơi!
Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi, một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay?

Em cười tà áo bay trên
Đám mây ở dưới nỗi phiền muộn xa
Anh ngồi chỗ hẹn hôm qua
Đám mây ngồi cạnh bài thơ nhẹ nhàng,
Giấc mơ mặc áo lụa vàng
Nơi anh nằm ngủ có hàng Thùy dương

(Nhẹ nhàng) (1)

Trong khi đó thì những cậu con trai cỡi xe Vespa, đời ED, đôi kính mầu đen, chiếc áo Montagu, mầu xanh đậm rồ ga hay lượn uốn éo. Nếu Solex là con gái, thì Vespa là con trai. Nếu Solex là con bọ ngựa thì Vespa là con bọ hung. Solex là nữ tính, Vespa là nam tính (2).

Nếu con gái ăn quà thì con trai bát phố. Bát phố phải chăng là nói nhại từ tiếng Pháp battre le pavé? Thôi thì là gì cũng được. Và xin mượn lại chữ nghĩa của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng:

… Từ xa phố chợ đến giờ
Chân thôi bỏ lệ gõ bờ lộ quen
 (3)

Đi dạo phố trở thành một thói quen, một nếp sống của con trai Sài gòn. Ngoài Sài gòn, tôi chỉ thấy ở Huế có sinh hoạt bát phố tương tự. Nhưng ở Huế, số con gái đi dạo phổ kể là đông và đi từng nhóm hai ba cô. Họ sợ bị bắt nạt chăng? Cô nào cũng có chiếc nón không phải để che nắng, che mưa mà để che cái nhìn trộm của con trai. Gái Huế đi dạo trên đường Trần Hưng Đạo mới thật là một diễn hành phái tính. Mười lần ra Huế thì y như rằng ra đi là để lại một điều gì…

Con gái biểu tượng nhất, cái Look theo nghĩa bây giờ là hình ảnh cái thân hình dong, lưng thẳng, găng tay trắng, cặp kính mầu, áo dài trắng, phải áo dài trắng mới được, mới con gái, mới trinh nữ, mới thanh khiết. Vạt áo dài phía sau vắt ngang sang bên kia để hở một bên phần đùi trên chiếc vê lô solex mầu đen. Đi xe vê lô solex chứng tỏ con nhà khá một tý, sang trọng và đài các. Cái dáng ngồi solex trông rất con gái, rất phái tính.

Bát phố là một thứ giải trí chiều thứ bảy của con trai Sài gòn. Mà điều căn bản là có mặt. Làm gì, bận bịu gì cũng bỏ đi Bonard bát phố. Sinh viên, học sinh các lớp tú tài, lính tráng đi hành quân ở xa về, công chức các bộ, các nha đều đi dạo phố, ngắm người hay rửa mắt. Mà phần lớn bọn họ là độc thân, chưa có vợ con. Nếu sang một tý thì vào Givral ngồi, tàm tạm thì một ly nược mía Viễn Đông cũng xong.

Người phụ nữ sinh ra là để như vậy. Les femmes seraient faites ainsi.

Quyến rũ bằng chính thân xác mình.

Nhờ áo dài đó mà phụ nữ, cô nữ sinh trở thành phụ nữ hơn. La robe lui permettait de devenir plus féminine. Phải nói là thời thượng và ấn tượng lắm. Cộng thêm cái thói ăn quà vặt. Ăn quà vặt là rất con gái, rất trẻ, rất bắt mắt. Khi cô nữ sinh ăn quà thì tưởng là ăn quà thật. Nhưng đôi khi cũng chỉ là cái cớ sự cho sự trình diễn, sự được nhìn. Nó như chờ đợi một điều gì đó. Điều mà Thị Nở đã chờ đợi từ tuổi 15, 16 thời con gái, nay đà 30 và bao nhiêu thế hệ con gái cũng đã chờ đợi như thế. Như cơn mưa mùa hạ. Như chồi non hé nụ. Như em chờ anh lúc này. Chí Phèo chỉ đến hoàn tất công việc chờ đợi ấy.

Cuộc đời đôi khi đơn giản là như thế.

Ngoài hai thứ đó ra, con gái cũng đi dạo phố. Con trai đi dạo phố là để ngắm. Con gái đi dạo phố xuất hiện như một trình diễn, ăn diện, mốt, kiểu để được nhìn, để được thừa nhận, để nhận phần lớn là những lời tán tỉnh, khen tặng.

Đó là cả một cái guồng máy của sự xuất hiện. L’engrenage du paraitre .

Và cuối cùng, thú vui giải trí chung cho cả con trai lẫn con gái vẫn là ciné và tiệm sách. Ciné là nơi hẹn hò để trai gái gặp nhau cuối tuần để trò chuyện, để tỏ tình, để lén lút hôn nhau. Những nụ hôn mật ngọt ấy. Quên sao được. Những mối tình của giới trẻ thời đó đến đó và dừng lại ở đó. Sau đó để lại một chút gì. Để kỷ niệm, để nhớ, để mãi mãi là như thế.

Nay gặp nhau cuối đời, lòng như chợt tỉnh, như trấu ủ bếp lửa bừng lên từ đám tro tàn. Gặp nhau muộn phiền, thương hoài ngàn năm.

Viết đến đây lại chợt nghĩ đến Nguyên Sa. Ông đã nói hộ cho tuổi trẻ Sài gòn:

Nắng Sài gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu mầu áo ấy vô cùng

Tuổi trẻ miền Nam là như thế. Lành mạnh mà không thiếu lãng mạn, tình tứ. Dắt tay nhau mà đi. Làm thơ tình. Gởi gắm nhắn nhe.

Chân díu bước mà mắt nhìn vương vướng
Nàng đến gần tôi chỉ dám quay đi
Cả những giờ bên lớp học trường thi
Tà áo khuất thì thầm chưa phải lúc

(Tuổi mười ba)

Nhưng may thay, mọi người Việt Nam, nhất là thanh niên, giới trẻ, lúc bấy giờ đều có một giấc mơ là làm thế nào để có một miền Nam phát triển và phú cường.

Và mặc dầu còn có những bất cập đủ thứ, tôi vẫn phải nhìn nhận rằng, những năm tháng còn lại, kể từ ngày ấy, mỗi giây phút năm tháng sống, học hành, lớn lên thành người thời đệ nhất Cộng Hòa Việt Nam vẫn là những năm tháng ân sủng cho tuổi trẻ của tôi và những bạn bè cùng trang lứa.

Chúng tôi đã lớn lên từ đó, trở thành người hữu dụng cũng từ đó.

Như lời Phạm Duy tỏ bày: ”Dưới thời Cộng Hòa thứ nhất, từ khi chế độ nhà Ngô thành lập và tiến dần tới thời thịnh trị rồi mạt vận, miền Nam, nếu chưa được là thiên đường của đông đảo văn nghệ sĩ đi tìm tự do thì cũng là nơi đất lành chim đậu. Một thế hệ văn nghệ sĩ mới đã thành hình và họat động dữ dội bên những vị đàn anh di cư từ miền ngoài. Phòng trà, tiệm bánh, quán nước như Kim Sơn, Mai Hương, La pagode, Givral, Brodard… là nơi không hẹn mà văn nghệ sĩ tới gặp nhau hằng ngày.”

Trong chín năm cầm quyền thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, chỉ có ba lần có những biến động chính trị. Nhưng chỉ riêng năm 1964, có 13 lần miền Nam rơi vào những biến động có thể làm lung lay nền Cộng Hòa. Nói như thế để thấy rằng sự ổn định chính trị nằm ở thời điểm nào.

Người nào không nhìn nhận những điều ấy thì chỉ thiệt thòi cho chính họ thôi, bởi vì họ tự mình bôi xóa tuổi trẻ của chính họ. Nhiều người đã bôi xóa như thế để chạy theo vài ảo tưởng chính trị, hoặc nếu ở ngoại quốc thì chạy theo những xu hướng thiên tả vốn chẳng dính dáng gì đến thực tế chiến tranh Việt Nam.

Nguyễn Văn Lục

Chú thích:
(1) Trích lại trong Trong dòng cảm thức Văn Học miền Nam của Trần Văn Nam, trang 411-412
(2) Dĩ nhiên, sau velo Solex thì cũng có một số xe hiệu khác như xe gắn máy hiệu Goebel, Sach của Đức. Có thể nó hữu dụng, nhưng trong bề ngoài khó coi, dị tướng. Rồi cái PC nhỏ nhắn, xinh sắn, xe đạp Mini cũng một thời cho đến lúc xuất hiện xe Honda 67. Chiếc xe Honda đến thay đổi hẳn diện mạo xe gắn máy ở Sài gòn. Hữu dụng, mát mắt, vụt phóng, không cần phải đạp ga ì à ì ạch.
(3) Trích Bùi Bảo Trúc trong bài Chữ Nghĩa chúng ta.

304Đen – llttm - sgtc

 

Friday, May 2, 2025

Dấu Chân Kỷ Niệm - Nguyễn Cang

 DẤU CHÂN KỶ NIỆM

 



















Cuối tháng Tư ngày dài như bất tận

Chiều mưa rơi lất phất những vấn vương

Cánh phượng đỏ rơi rơi ngoài cửa lớp

Áo trắng ai bay tím cả sân trường

 

Trưa hai chín Bắc phương tràn thành phố

Từng đoàn người đổ ra biển vượt biên

Năm mươi năm chưa hết nỗi  ưu phiền

Chưa gặp lại một lần người yêu dấu

 

Hương con gái thời sinh viên tranh đấu

Vẫn say nồng trong chiều vắng cô đơn

Xa lắc rồi những trách móc giận hờn

Nghe mặn đắng bờ môi khô buốt giá

 

Gió rít mạnh từng lá rơi tượng đá

Nắng hanh vàng thoi thóp đợi mùa sang

Mai mốt em có về, thăm Cầu Quan*

Để nghe nhịp thở khẽ khàng tiềm thức

 

Hồn hoang lạnh tháng Tư hoài đau nhức

Trời quê hương hết nắng lại mưa giông

Dòng sông xưa cuồn cuộn nước xuôi dòng

Người vượt biển bằng con đường chánh thức

 

Đêm tháng Tư  trăng tròn rồi lại khuyết

Trời tháng Tư nghiệt ngã lỡ duyên thề

Năm mươi năm người chợt tỉnh cơn mê

Nghe năm tháng tàn phai trong ký ức

 

Chiều dần xuống hoàng hôn rơi thổn thức

Chén rượu cay xin cạn hết đêm nay

Gói tâm tư lòng trắc ẩn u hòai

Cám ơn em đã cho ta tình thắm

 

Nhớ ngày xưa dạo biển dấu chân in

Sóng xô bờ vạt nắng chiếu lung linh

Thương biết mấy bờ vai buông tóc rối

Thuyền đỗ về đâu khi hết chiến chinh ?!!

 

Nguyễn Cang (Apr. 30, 2025)

 

 

 

 

 

 

Ngày Giỗ Thế Kỷ & Dư Âm Ngày Cũ - Nguyễn Thị Châu

 NGÀY GIỖ THẾ KỶ*

 


 
















Nhắc nữa làm chi chuyện đã rồi

Càng thêm ray rức hỡi người ơi!

Chiến tranh loạn lạc ngày hôm ấy

Kẻ khóc người cười, ôi! Đắng cay

 

Mấy mươi năm vẫn còn đau khổ

Thắp nén hương cho ấm lòng người

Kẻ ở người đi lòng tan nát

Bao người nằm xuống khóc bi ai..

 

Hôm nay ngày giỗ các anh đây

Cùng ngày đất nước mất trong tay

Gió mưa cũng khóc và đau xót

Miền Nam bức tử trong tay ai?

 

Tối hôm qua, ở đất Sài Gòn

Mưa rào rỉ rả như oán than

Khóc đi cho vơi niềm thương nhớ

Khóc thật nhiều thương tiếc nước non

 

Đừng nhớ làm chi chuyện đã rồi

Cho vào dĩ vãng theo nước trôi

Khấn nguyện hằng đêm theo hương khói

Các anh yên nghĩ ở trên trời…!!!

 

30-4-2025

 Nguyễn thị Châu

 

*Tưởng nhớ các anh

Những người vị quốc vong thân!

 

DƯ ÂM NGÀY CŨ

 

Nay đã qua rồi buổi long đong

Mà nghe da diết ở trong lòng

Hè về Phượng nở Ve lên tiếng

Lưu luyến hôm nào ở bến sông

 

Làm cô lái đò bên bến vắng

Đưa khách sang sông chút tình nồng

Đưa rước lớp nầy sang lớp khác

Con đò lướt nhẹ, khách qua sông

 

Bụi phấn nhạt nhoà trong ký ức

Nhớ về phương ấy chuyện xa xôi

Phượng vĩ tung bay màu đỏ thắm

Mái trường rêu phủ vết tường vôi

 

Theo gót người đi mãi vấn vương

Bây giờ còn lại chút tình thương

Bỏ bến bỏ đò không trở lại!

Làm thân tầm gởi buổi hoàng hôn…!!!

 

30-4-2025

 Nguyễn thị Châu