Sunday, May 11, 2025

Lời Thơ Còn Mãi & Cha Đi - Nguyễn Thị Châu

LỜI THƠ CÒN MÃI

 














Tôi đọc bài thơ anh để lại

Lòng tôi xúc động mắt rưng rưng

Nhớ anh nắm chặt tay buồn bã

Mắt nhoà lệ chảy mãi không ngừng

 

Tôi biết tình ta không thể rời

Mộng ước ngày mai sống chung đôi

Chiến tranh chia cắt tình đôi ngả

Giấc mộng bên nhau cũng mất rồi

 

Đọc lại bài thơ đã bao lần

Nỗi lòng buốt giá lẫn bâng khuâng

 Nhớ anh nhớ cả lời thơ cũ

Nhớ bóng anh về tới ngoài sân

 

Thanh Xuân nay đã không còn nữa

Mái tóc mây bay phủ trắng đầu

Lời thơ ngày ấy anh than thở

Nay đã theo người dưới mộ sâu…!!!

 

7-5-2025

Nguyễn thị Châu

 

CHA ĐI…

 















Con ơi! Con ngủ cho ngon

Niềm đau máu thịt cha còn nặng mang

Cha đi chinh chiến gian nan

Nhưng nào xá quản dặm ngàn gió sương

Chia ly gieo rắc bốn phương

Hoả châu còn cháy quê hương còn buồn

Quê mình giọt lệ còn tuôn

Bao người gục xuống đừng buồn nghe con

Dẫu rằng nước chảy đá mòn

Quân thù còn đó cha còn ra đi….

 

Ý thơ lai láng là con đó

Biết nói sao vừa nỗi nhớ thương..  !!

 

7-5-2025

 Nguyễn thị Châu

 *Bài thơ nầy của người Lính Xa vợ con .

Viết sau tấm ảnh của con trai khi anh còn trên đất Quãng Trị   1969

Trong đó bài ( Cha Đi ) là của ông xả tôi dể lại

 *Rất tiếc bức ảnh và bài thơ viết tay, không gắn kèm vào đây vì nó quá lớn (NC).

  

Tuesday, May 6, 2025

Tiếng Dương Cầm - Đinh Hùng

 Tiếng Dương Cầm 



30 Tháng Tư - Nguyễn Thụy Long

 

30 THÁNG TƯ



 

Lại sắp đến ngày 30 tháng Tư, trên đất nước tôi người ta kỷ niệm ì xèo ngày “chiến thắng vĩ đại, giải phóng miền Nam , thống nhất đất nước”.  Từ cả tháng trước, ngày nào người ta cũng nhắc đến chiến thắng ấy của dân tộc, phỏng vấn những tướng lãnh chỉ huy trận đánh về chiến lược, chiến thuật, những chiến sĩ anh hùng, tất cả đều được đưa lên báo đài, cả những trang web bay đi khắp thế giới.  Buổi sáng tôi dậy sớm nghe đài nước ngoài, chương trình Việt ngữ, nhưng bị phá sóng nhiều quá, nghe câu được câu không.  Cũng ngày ấy cộng đồng người Việt trên thế giới làm kỷ niệm, nhưng gọi bằng nhiều cách khác nhau, ngày quốc hận, hay gì gì đó còn tùy.
Cũng ở trên đài Á Châu Tự Do tôi nghe cuộc phỏng vấn một đạo diễn trẻ người Việt Nam ở nước ngoài, làm một cuốn phim về ngày bại trận 30 tháng Tư lấy tên là ngày giỗ.  Anh và các bạn anh thiếu thốn rất nhiều tư liệu về ngày hôm ấy, nhưng chắp vá và lấy kỷ niệm của những người lớn chứng kiến vào thời ấy rồi cũng xong.  Bởi tại ngày anh ra đi, rời Việt Nam anh còn quá trẻ, tuổi đâu khoảng 13 hay 14 chi đó, nhất là anh không có kinh nghiệm tham gia vào cuộc bại trận ấy.
Người đạo diễn thanh niên này còn có tham vọng làm cuốn phim khác nữa sau khi chế độ Việt Nam Cộng Hoà xụp đổ, về những trại tù khổ sai mà người ta gọi là trại cải tạo.  Tôi hy vọng anh ta và nhóm của anh có tâm huyết thì cũng xong, có thể thành công.  Việt Nam trong cuộc chiến vừa qua có rất nhiều tư liệu quý giá, tôi đã dược xem một cuốn phim do Mỹ sản xuất lấy tên là Trời và Đất.  Cuốn phim đã nói lên được thân phận Việt Nam giữa các thế lực, thân phận con người Việt Nam đáng thương.
Tôi là một người Việt Nam, sống và lớn lên, trưởng thành trong thời buổi ấy, thời buổi đau thương nhất của đất nước, nay lại sống suốt 29 năm trong chế độ, sắp sửa 30 năm, chưa một lần bị ngắt quãng, vì không ra nước ngoài, hay đi đâu xa khỏi Việt Nam.  Tôi là dân bại trận ở lại Việt Nam.  Tôi không có gì ca tụng về ngày 30 tháng Tư ấy, nhiều đau thương hơn thì có, gia đình tôi ly tán cũng vào ngày ấy.  Đàn anh của tôi nhà văn Chu Tử, chủ nhiệm nhật báo Sống bị giết chết lúc 10 giờ sáng ngày 30 tháng Tư năm 1975, trên chiếc tầu di tản mới chạy ra được đến cửa biển Cần Giờ.
Hàng năm tôi chúng tôi làm giỗ anh Chu Tử vào ngày đó, sau này không biết vì lý do gì, đổi sang ngày âm lịch là ngày 19 tháng ba (trùng với ngày 30-4-1975).  Có phải vì người ta đang ồn ào làm lễ kỷ niệm chiến thắng mà mình lại làm giỗ, than khóc và tưởng nhớ đến người đã chết là chướng quá không, vì vậy gia đình ông Chu Tử mới đổi ngày giỗ cho yên.  Tôi cũng không bỏ một buổi giỗ nào của ông Chu Tử, dù có đổi ngày, nhưng dù làm vào ngày nào anh em chúng tôi ngồi với nhau, nhắc lại và nói về những kỷ niệm là ngày 30 tháng Tư năm 1975, gia chủ tổ chức giỗ ông Chu Tử cũng không có ý kiến gì, buổi giỗ ấy anh em chúng tôi tự do hoàn toàn.  Những buổi giỗ ông Chu Tử sau này vắng bóng dần những người anh em thân thiết của ông, người thì ốm đau bệnh hoạn đi không nổi, người thì đã “dạo chơi tiên cảnh” khỏi “cõi tạm” đầy đau thương này.  Như Tú Kếu, như nhà văn Mặc Thu, như ông Khai Trí Nguyễn Hùng Trương, vì ông mới qua đời.
Nhà báo Phan Nghị ở buổi giỗ nào còn oang oang kể lại kỷ niệm với chủ nhiệm Chu Tử, nay cũng đã vắng bóng anh.  Một đàn em thân thiết như Đông con tuổi còn rất trẻ cũng không còn nữa.  Nhưng buổi giỗ vẫn đông đảo, tôi thấy có những anh em từ nước ngoài trở về, những Việt kiều đó ra đi do vượt biên hay diện HO, những điện thư từ khắp nơi trên thế giới gửi về cho gia đình con cái ông Chu Tử để tưởng nhớ ông.
Tôi đã qua 29 lần kỷ niệm vể ngày 30 tháng Tư trên đất nước “Xã Hội Chủ Nghĩa VN”, kể ra thêm mệt nhưng không thể không kể.  Tôi kiêu hãnh nói rằng tôi là một trong những nhân chứng lịch sử, tôi vừa là nhà văn nhà báo, nói có nhận xét, dù rằng cái nhận xét của riêng mình, nhưng đúng về mặt người cầm bút thì phải công bằng và chính xác, tôi phục vụ cho nghề nghiệp và lý tưởng của nhà văn nhà báo chân chính, không phục vụ hoặc làm bồi bút cho tổ chức hay đảng phái nào đó.
Đối với tôi thì ngày 30 tháng Tư nào tôi cũng buồn, một người Việt Nam đang sống trên quê hương mình, tôi tự hỏi, được chứng kiến những giây phút lịch sử trọng đại, đất nước Việt Nam thống nhất quang vinh như thế mà buồn sao?
Sau đợt lùa những sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hoà bại trận đi học tập cải tạo, đến lượt văn nghệ sĩ chế độ cũ, và các vị chức sắc tôn giáo vào những trại tập trung dài dài từ Bắc chí Nam.  Các ông cai ngục, cai tù được gọi là quản giáo, cán bộ dậy bảo, giáo dục cho các phạm nhân lầm đường lạc lối hiểu biết đường lối của đảng, của cách mạng, và không ai có án rõ ràng, khi được tha về phạm nhân được phát cho cái giấy ra trại.  Đọc qua giấy này họ mới té ngửa ra lúc mới biết tội danh của mình và thời gian học tập cải tạo là bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng có khi còn bị ăn gian.  Còn người ở lại được nhà trại nói lấp lửng chừng nào “học tập tốt” thì về.  Có người phải ở trong tù vài chục năm vì bị nhà nước cho rằng họ chưa được tốt.  Tôi không hiểu người ta dựa vào tiêu chuẩn nào gọi là tốt và xấu để giam giữ người vài chục năm như vậy, với lời kết án thật mơ hồ.
Tôi bị bắt nóng ngoài đường, không bị liệt vào hàng ngũ văn nghệ sĩ phải học tập cải tạo, mà với một tội danh khác, tổ chức phản động, một tội rất dễ chết.  Khốn nạn cho cái thân tôi, thời chế độ cũ đi lính binh nhì không xong, mà nay lại là người tổ chức chỉ huy một trung đoàn, có tên trung đoàn Quyết Thắng trong hồ sơ phản động của tôi.  Tôi bị tra tấn, bị đánh và những người tra tấn tôi ngày nào cũng bắt tôi phải khai ra cái trung đoàn Quyết Thắng này ở đâu.  Vì bỗng nhiên mình lại mang một tội danh “oai” như thế, một trung đoàn trưởng, nên tôi cũng phải phì cười sau những trận đòn tra tấn thừa sống thiếu chết.
Tôi cũng không biết người ta phong cho tôi, chức gì, cấp bậc nào, tướng hay tá trong trung đoàn mà tôi bị đứng vào hàng “chủ xị”.  Một trung đoàn không có quân số, không doanh trại không có cả chiến khu kháng chiến.  Bản lấy cung của tôi bị bỏ dở dang, không có tôi ký tên nhận tội.  May quá thế là tôi thoát chết, tôi đã thấy nhiều người bị chết, bị mang ra xử bắn vì những tội danh bá vơ ấy.  Tôi nói với bạn bè đồng tù:
– Dù tao có là thằng nhà văn nhà báo ngu dốt cũng không bao giờ đặt cái tên trung đoàn Quyết Thắng cho tổ chức quân sự của tao, vừa quê vừa thối.  Ai cũng biết các khẩu hiệu quyết thắng, quyết chiến, quyết tử, quyết sinh là sản phẩm của các anh Việt Minh, các anh đã xài mòn teo ra rồi, từ thời kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp kia, rồi đến thời chống Mỹ cứu nước xài lại, nay không biết dùng làm gì nữa thì gán đại cho tao.  Tao biết ngay các anh độc lắm, lại một trò chụp mũ buộc tội cho người khác để mang ra xử theo luật rừng.
Tôi lênh đênh qua nhiều nhà giam ở thành phố, rồi mới đưa lên trại học tập trên rừng, an tâm học tập cải tạo ở nơi đó, bao giờ học tập tốt thì được về xum họp với gia đình.  Nhà nước, nhà cầm quyền nói như thế.  Chúng tôi ngắc ngoải sống trong lao động khổ sai, nhiều anh em kiệt lực gục xuống bỏ xác trong các trại tù.  Thân phận chúng tôi như những nô lệ trong phim Tần Thủy Hoàng xây Vạn Lý Trường Thành hay những nô lệ xây Kim Tự Tháp Ai Cập.
Nhiều lần đào cuốc trúng mìn ngoài bãi lao động, mìn nổ thương vong vô khối, nhưng được giải thích là mìn đó là của Mỹ Ngụy gài lại để giết nhân dân.  Bây giờ chúng tôi có chết có thương vong thì cũng chỉ là “gậy ông đập lưng ông” thôi.  Chúng tôi nhiều lần đề nghị với ban quản giáo xin được tự gỡ mìn để khỏi gây hại cho phạm nhân, nhưng được lãnh đạo trại “nhân đạo” từ chối, vì sợ mất thì giờ lao động sản xuất kiếm ra của cải cho đất nước chúng ta còn nghèo.  Đồi nghĩa địa chật kín những mồ hoang của anh em chúng tôi.  Sáng đi lao động, chiều về nhìn mặt trời gác bóng trên sườn núi Chứa Chan mới biết mình còn sống, mong sớm có ngày ra xum họp với gia đình.
Tôi không nhớ rõ là mình ăn đến mấy cái ngày kỷ niệm 30 tháng Tư trong trại cải tạo, vì từng bị bắt lên bắt xuống, như bắt cóc bỏ đĩa, tha rồi lại bị bắt lại.  Ngoài cái tội phản động, tôi còn tội phản quốc bỏ quê hương mà trốn đi, tức là tội vượt biên mà không thoát.  Phải chi ngày đó tôi trốn thoát, thì bây giờ được nhà nước ưu ái gọi là Việt kiều được phép trở về thăm quê hương, được nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa, mấy anh Việt cộng từng đánh đấm bỏ tù, từng kết tội tôi là Việt gian sẽ ngọt ngào khuyên tôi quên chuyện cũ nên đóng góp tất cả những gì tôi đang có để giúp cho đất nước quê hương Việt Nam mà các anh đang cai trị.  Tôi đã thấy những cuộc tiếp đón long trọng những Việt kiều trở về thăm quê hương được diện kiến những lãnh đạo trong nước và họ được huy chương, và được ca tụng vì những đóng góp của họ đã được truyền thanh truyền hình đi khắp mọi nơi.  Họ thành người yêu nước, có ẩn chứa yêu đảng cầm quyền.
Trong trại học tập, ngày 30 tháng Tư mỗi năm được tổ chức xôm tụ lắm, mà anh em chúng tôi gọi là ngày “đứt phim”.  Từ ba giờ sáng một số trại viên có tay nghề trong việc nấu nướng đã được điều lên nhà bếp để thọc tiết heo mổ bò làm đồ ăn, thổi cả cơm nữa, hương cơm phảng phất khắp trại làm các trại viên chúng tôi tỉnh cả ngủ, dù là hương gạo mốc, không phải gạo Nàng Hương chợ Đào.  Những hương vị âm thanh hấp dẫn đó làm chúng tôi trở nên háo hức, vì chúng tôi là những kẻ thường xuyên ăn đói mặc rách, cả năm chỉ ăn khoai ăn sắn có biết cơm thịt là gì đâu, sức lao động vị vắt kiệt từng ngày, nay có cơm thì mừng quá.  Bao nhiêu năm qua chúng tôi sống trong một miền Nam trù phú lúa thóc không bao giờ thiếu, người nông dân chỉ trồng một mùa cũng ăn được mấy năm. Mà nay phải thèm và nhớ cơm, tưởng tượng cũng không ra được bát cơm nó thế nào?  Tôi nói có quá không?  Nhưng cũng không xa sự thật là mấy.
Ngày hôm ấy chúng tôi được nghỉ lao động và sang ngày hôm sau là ngày quốc tế lao động 1-5, vị chi là hai ngày được ăn được chơi trong vòng rào giây thép gai.  Chúng tôi được nghe chính trị viên của ban quản giáo giảng giải cho nghe ngày chiến thắng 30 tháng Tư.  Nhưng chỉ là chuyện nước đổ đầu vịt, chúng tôi chỉ nghĩ đến kỷ niệm của chúng tôi vào ngày ấy.  Buổi trưa chúng tôi được ăn một chén cơm, miếng thịt heo hay thịt bò chi đó bằng ngón tay, chan tí nước xốt cho mặn miệng.  Lòng lợn tiết canh mang lên nhà khung cho ban giám hiệu và thủ trưởng đon vị xơi, uống rượu hút thuốc.  Lòng nhân đạo của đảng vô biên, không thể nói hết được.
Về phía các học viên chúng tôi thì sao, cũng chia ra mấy phe trong cuộc ăn uống ấy, không phải tranh nhau ăn, mà cách ăn uống cũng khác lạ.  Có phe còn nặng lòng với chế độ cũ mà anh đã phục vụ, nay trở thành bại tướng trong ngày 30 tháng Tư, nhất định không ăn đồ ăn của “kẻ thù” ban phát mà ăn gì đó với muối.  Phe thứ hai lấy đồ thăm nuôi của mình ra mời anh em ăn sạch.  Phe thứ ba ăn ráo những gì được ban phát với lý luận: “Ta ăn thứ này là của ta làm ra, chẳng ăn chực thằng nào hết, gạo này chính ta làm ta cấy cầy, thịt này cũng chính chúng ta chăn nuôi, không ăn là dại.  Ăn bám, ăn trên xương máu chúng ta là những thằng cai tù chứ không phải chúng ta.  Lý luận nào cũng đúng cả, không ai đụng chạm tới ai.
Anh chán đời ngồi quay mặt vào tường “diện bích” hết ngày 30 tháng Tư là chuyện của anh.  Tự do của mỗi cá nhân được tôn trọng tuyệt đối, nên cuộc ăn uống ấy cũng diễn ra êm thắm, không phải tinh thần xôi thịt mổ cãi nhau như mổ bò ở các đình làng nhà quê.  Dù sao tôi cũng nể các anh cải tạo chịu ăn cơm muối lắm,các anh còn có liêm sỉ và sĩ khí của một chiến sĩ, tôi không thể đánh giá thái độ ấy là sai hay đúng.
Tôi lại nghĩ đến những anh hùng trong sử sách, đến một Hoàng Diệu, tuẫn tiết theo thành Thăng Long khi quân Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ nhất.  Một Nguyễn Tri Phương không chịu cho kẻ thù buộc vết thương khi Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ hai.  Một Võ Tánh chất củi tự thiêu khi bại trận.  Một Trần Bình Trọng thà làm quỷ nước Nam hơn làm vương đất Bắc.
Trong đời làm báo của mình, trong trận chiến cuối cùng ngày 30 tháng Tư, tôi đã thấy những người lính Nhẩy Dù trại Hoàng Hoa Thám ở ngã tư Bảy Hiền ôm nhau cho nổ lựu đạn để cùng chết bên nhau, sau khi có lệnh đầu hàng vô điều kiện của tướng Dương Văn Minh.  Và sau đó hàng loạt tướng tá của chế độ Cộng Hoà ở miền Nam tự sát khi nghe lệnh đầu hàng của “tổng thống” tạm quyền.  Tôi chắc chắn rằng sử sách có ghi lại, dù rằng chế độ ấy thua trận và bị bôi nhọ suốt bao nhiêu năm trời, bị vu cáo là có bao nhiêu tội lỗi với “nhân dân”.  Chính sử không thuần ở trong tay kẻ chiến thắng, mà ở trong lòng mọi người trên đất nước này, không thể bóp méo, không thể như cục đất sét muốn nặn hình gì theo ý họ.  Còn những thương binh của chế độ Cộng Hoà sau khi bại trận ngày 30 tháng Tư năm 1975 thì sao?  Tôi đã thấy họ bị đuổi ra khỏi quân y viện Cộng Hoà chiều ngày 30 tháng Tư lịch sử ấy.  Anh mù cõng anh què.  Anh đổ ruột vịn vai anh cụt tay.  Họ đi hàng hàng lớp lớp suốt một quãng đường dài, đau thương lắm, tiếc rằng không một phóng viên nhiếp ảnh nước ngoài nào chụp được một tấm hình.  Cái máy hình của tôi chụp được mấy tấm thì bị đập bể tan nát, suýt nữa thì tôi nguy hiểm đến tính mạng vì những kẻ trở cờ theo đóm ăn tàn, hoặc những tên lưu manh mà xã hội nào cũng có, mà hồi ấy chúng tôi gọi cái đám ấy là cách mạng 30, nghĩa là mới gia nhập cách mạng vào ngày 30 tháng Tư năm 1975.  Họ đang khao khát lập công để tìm cho mình một chỗ đứng, hoặc được một tí ân huệ bố thí.
Tôi đã trải qua hai mươi chín cái ngày 30 tháng Tư, chỉ còn ít ngày nữa thì tròn 30 cái ngày kỷ niệm.  Sao trong đầu tôi lẩn quẩn hoài về những kỷ niệm đau thương ấy, những người thương binh của chế độ Cộng Hoà sau khi bi đuổi ra khỏi quân y viện Cộng Hoà.  Họ đi về đâu?   Mắt tôi nhìn thấy có những người thương binh kiệt lực, kiệt sức ngã ngay trên đường đi, trên lối cổng ra vào quân y viện và tôi đã nhìn thấy những giọt nước mắt uất hờn còn đọng trên đôi mắt của những người thương binh này.  Trong ngàn vạn con người ấy thế nào không có kẻ sống sót, tôi cũng đã thấy anh mù giắt anh què hát rong ngoài đường, xin đồng tiền bố thí của đồng bào.  Họ bị quên lãng đã ba chục năm nay, nên có sự công bằng cho người chết thì cũng nên lo cho người còn sống, họ cũng đã hy sinh một phần thân thể trong cuộc chiến nồi da xáo thịt này.  Người ta đang nói tới chuyện phục hồi Nghĩa Trang Quân Đội ở trên Biên Hòa.
Không biết chuyện này rồi sẽ đi đến đâu.  Tôi là người sống ở Sài Gòn đã gần 30 năm, nghe tin ấy tôi đã mong muốn được thăm nghĩa trang quân đội xưa vì có người thân đã chôn xác ở đó.  Nhưng theo tôi biết đâu phải ai cũng được tự do ra vào để tưởng niệm người đã chết, ý nguyện của tôi không được chấp nhận.  Người ta nói phục hồi nghĩa trang quân đội chế độ cũ, phục hồi thế nào tôi không biết, tôi thắc mắc trong việc làm ấy họ có phục hồi pho tượng Tiếc Thương bị giật đổ trước cổng nghĩa trang quân đội từ ba chục năm trước không.  Sau 30-4-1975 hàng loạt tượng đài bị giật xập, và nay nghĩa trang sẽ để tên gì cho phải đạo làm người, mồ mả còn không.  Tôi nghe mất mát cũng nhiều lắm, nếu còn thì là những nấm mồ hoang, kẻ nằm dưới đất kia là kẻ có tội, không ai được quyến thăm viếng vì thăm viếng là bị “văng miểng”.  Tôi chỉ mong muốn được đến đấy, thắp lên một nén nhang tưởng niệm, dù mồ mả của những người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà có còn hay đã mất.  Tôi cho chuyện làm ấy hay lời hứa hẹn ấy là phiêu, chẳng có gì xất cả.
Tại tiệm phở Hòa, một tiệm phở nổi tiếng cuối đường Pasteur trong thành phố Sài Gòn, tôi thường gặp một anh bán báo, cụt cả hai tay, hai tay cụt đó được ráp hai tay sắt inox có kẹp, thao tác rất gọn ghẽ, anh kẹp những tờ báo đưa cho khách hàng hoặc nhận tiền, thối lại tiền bán báo.  Không biết anh bán báo ở đó đã bao nhiêu năm.
Một hôm anh mời tôi mua báo.  Tôi lấy tiền ra biếu anh, vỉ sáng nay tôi đã mua báo ở sạp báo gần nhà.  Anh ta nhìn tôi khẽ lắc đầu:
– Không, cám ơn ông tôi không thể nhận được.
– Vậy tôi mua báo. Tôi hỏi anh.
– Vâng ông chọn tờ nào?
Tôi chọn đại một tờ trong xấp báo mà anh ta ôm trên người, tôi đưa tiền cho anh ta, nói:
– Thôi anh khỏi phải thối lại.
– Vâng cám ơn ông.
Tôi nhìn kỹ anh ta hơn, tôi hỏi thăm về hai tay anh.  Anh ta nói:
– Tôi không bị tai nạn mà là thương binh chế độ Cộng Hoà
– Anh thuộc binh chủng nào hồi trước?   Tôi hỏi tiếp.
Anh ta không trả lời về binh chủng của anh chỉ nói:
– Hồi đó tôi bị thương cụt cả hai tay ở mặt trận Bình Long, họ làm cho tôi hai cánh tay này và tập cho tôi cách xử dụng.  Gần ba chục năm nay tôi đi bán báo để sinh sống.
Vì lý do gì đó anh không nhắc tên binh chủng của mình.  Nhưng khi tôi nói tên của vị tướng chỉ huy mặt trận, mắt anh ngời sáng.  Tôi không ngờ đã mấy chục năm qua anh không quên và dành cho cấp chỉ huy mình sự tôn kính chân thành.  Tôi ngưỡng mộ anh là người dũng cảm, liêm sỉ từ tư cách đến việc phải kiếm sống, làm một con người.  Đó là điều hiếm có, ít có ai sống trong đất nước Xã Hội Chủ Nghĩa dám biểu lộ cái tinh thần quật cường ấy.  Có ngài Việt kiều ngày xưa từng giữ những chức vụ quan trọng, từng là “cựu” này “cựu” kia, ngày “đứt phim” chạy có cờ, bỏ đồng đội bỏ của chạy lấy người, nay về thăm quê hương phát biểu linh tinh chả ra cái giống ôn gì, so ra tư cách của ngài với anh chàng thương binh này, cách xa một trời một vực, thật là quá chán.  Tôi nói với anh:
– Anh rất can đảm, tôi ngưỡng mộ anh.
– Có gì đâu, tôi còn thua ông tướng chỉ huy chúng tôi.  Anh cười nhũn nhặn.
Tôi nghĩ đến tướng Lê Văn Hưng, tướng tử thủ ở Bình Long Anh Dũng, người không trốn chạy mà tự sát như một số tướng lãnh khác của chế độ Cộng Hoà ngày 30 tháng Tư, sau khi “tổng thống” Dương Văn Minh đầu hàng vô đìều kiện.
Báo đài ngày nào cũng có bài ca tụng về ngày lịch sử 30 tháng Tư, ngày chiến thắng vĩ đại của dân tộc, ngày chấm dứt chiến tranh, thống nhất đất nước.  Đoàn quân chiến thắng kéo quân vào thành phố được sự đón tiếp nồng nhiệt của nhân dân thành phố, cùng nổi dậy với cách mạng, bao nhiêu người ra phất cờ chào đón đoàn quân.  Một hoạt cảnh mà tôi, một phóng viên chiến trường đã hết thời, ghi nhận được đúng ngày hôm đó.
Cuộc bại trận nhanh quá, nhanh đến độ dân Sài Gòn phải ngỡ ngàng.  Kẻ nào không chạy thoát theo những chuyến di tản thì đổ ra đường xem đoàn quân chiến thắng đi dép, đội mũ cối hay mũ tai bèo vào thành phố.  Có những xác người dân hoặc lính chế độ cũ chưa được thu nhặt còn sót ở những góc đường, trên những quân trang quân dụng ném đầy trên đường đi, cả vũ khí nữa chưa kịp thu nhặt.
Những con người đang đứng ngơ ngác ngỡ ngàng ở đó, bị nhét vào tay những lá cờ giấy, và anh “cách mạng” đeo súng mang băng tay đỏ mặt gườm gườm những kẻ không nhiệt tình vẫy cờ chào đón anh bộ đội cụ hồ tiến vào thành phố.  Tôi thấy một người đàn ông cũng bị nhét vào tay một lá cờ, một anh mang băng đỏ đeo súng ra huých vào sườn người đàn ông đó một cái.  Ông ta có lẽ hiểu ý liền nhẩy cẫng lên phất cờ lia lịa, mồm la hoan hô tưng bừng.  Thế cũng là quá đủ, tôi lủi vào đám đông kiếm đường chạy về nhà.  Ngoài kia những dòng người dầy đặc dần trên đường, có người đang tìm kiếm người thân, người tung hô những khẩu hiệu chiến thắng, người ngơ ngác ngẩn ngơ đứng nhìn.  Họ không chịu tin vào sự thực là Sài Gòn bị thất thủ.

Nguyễn Thụy Long

3O4 Llttm - OVV

 

Nghiệp Chướng - Lập Phương

 

NGHIỆP CHƯỚNG



Ông già què lê đôi nạng gỗ đến dưới bóng mát cây phượng cạnh sân ga, trải tấm áo đại cán bốn mùa xuống đất. Đoạn, ngồi xuống tấm áo, lôi cây ghi-ta ra, căng lại dây đàn. Ông gỡ cái thau men từ sau lưng, có đục hai lỗ sát mép để sỏ quai, đặt ngay trước mặt cho dễ ngó. Ông quàng tay vét vét mất sợi rác mảnh dính dưới đáy chậu, rồi giơ cái chuông ngựa lên ngang đầu, rung một hồi. Mấy người đạp xích lô đang ngủ, kéo cái mũ cối che mặt ra khỏi vành tai cho thông thoáng. Mấy người dân quê đang chờ tàu thấy lạ, kéo xúm lại. Một vài ông
dừng xe đạp, ngồi ghếch chân trên yên. Có một đám thanh niên, dường như đã chờ sẵn ở hàng lan can xi-măng, ùa đến vây lấy ông. Ông già thấy chừng đã vừa khách, bèn cầm cây đàn lên dạo một đoạn nhạc vui, rồi hắng giọng :

– Kính thưa các quí ông, quí bà. Hồng Đức tôi kính cẩn cúi chào quí vị. Xin quí vị thứ lỗi cho tôi không thể đứng ngay ngắn để tỏ lòng tôn kính quí vị được. Nhưng thưa quí vị, tôi xin dùng lời ca, tiếng nhạc để tạ lỗi cùng quí vị.

Giọng ông cũng ra riết, bổng trầm, có thua gì mấy kịch sĩ thượng thặng trong nhà hát thành phố. Giới thiệu xong, ông cúi đầu, nẩy nhẹ mấy ngón tay trên dây đàn, đệm hợp âm theo điệu hành khúc, rồi móp má lấy hơi, chụm môi, huýt sáo bản “Anh vẫn hành quân”, có tiếng mõ chân đập nhịp. Thêm mấy vị áo quần là lượt phanh xe, để mắt ngó vào. Xong bản “Anh vẫn hành quân”, lượng khán giả đông thêm một chút.

Trong đáy chậu đã có mấy đồng cắc bạc. Phấn chấn, ông chơi tiếp bản “Trường sơn đông, Trường sơn tây”. Lần này ông bắt giọng theo nhịp đàn, biến tấu, luyến, láy theo âm lượng của bản giọng. Người nghe thấy lạ tai, khoái nhĩ. Lại vài đồng cắc nữa rơi leng keng xuống
đáy chậu. Hưng phấn bốc lên, ông độc tấu liền một lúc bốn bài ca Trường sơn. Phải thừa nhận tiếng đàn của ông lão chơi vơi vô cùng điêu luyện. Lúc thì vang lên tiếng kèn xung trận. Khi thì thánh thót như tiếng suối reo lưng dèo. Đến đoạn cao trào, chiếc ghi-ta đơn lẻ được ông trình tấu như một dàn nhạc. Hai bàn tay ông lão múa trên mặt đàn. Cùi tay ông thốc vào bầu đàn thay cho tiếng trống. Người xem kéo đến vây kín xung quanh. Có người phải kiễng chân trên hàng rào xi-măng để nhìn cho rõ.

– Lão già chơi không kém gì chuyên nghiệp.

– Thì hẵn là chuyên nghiệp chứ nghiệp dư sao được như thế này.

Người quanh ga ai cũng biết ông. Người ta biết ông vì ông là người hát rong lập dị. Hát rong có giờ. Người ta thích ông vì ông hát được nhiều thể loại nhạc. Có đỏ. Có vàng. Có xanh. Có tím. Có dân ca. Có tiền chiến.

Một lần, có một cậu học trò hỏi chọc ông hát bài “Chiều Moskva”, bằng tiếng Nga ngọng líu. Ông lẳng lặng sửa lại cung đàn, gảy sô lô phần nhạc dạo, rồi trải giọng theo những viên đá xám trên đại lộ dẫn đến hồng trường. Cậu học trò hổ ngươi, lủi mất. Ông mới về hát ở ga chừng hơn 1 tháng mà đã có nhiều giai thoại về ông.

– Ngày xưa ông là diễn viên trong đoàn văn công của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam VN.

– Không phải. Trước đây ông là nhạc công chuyên nghiệp đã được đi tập huấn ở nước ngoài về.

– Sai bét. Ông là người Bắc Ninh. Trai Bắc Ninh mới nứt mắt ra là biết hò quan họ. Không tin cứ bảo ông hát bài “Qua cầu gió bay” mà coi.

– Tại sao ông ta không làm trong đoàn ca nhạc đài tiếng nói nhỉ ?

– Tưởng bỡn. Mẹ. Thành phần nồng cốt cả. Cứ “Lạy mẹ con đi” với “Xuân này con không về” thì ngồi đấy mà chờ.

– Công cụ tuyên truyền. Què cụt thế này thì chó nó tuyển…

Chơi xong mấy bài Trường sơn, ông vã mồ hôi, lưng áo ông loang ướt. Ông rời cần đàn. Lôi cái bi đông Trung quốc ra tu một hớp. Lấy khăn mặt ra lau trán. Trong đáy chậu đã có thêm vào hào giấy. Ông ngẩng lên tỏ lòng cám ơn những khán thính giả rộng rãi. Phía vòng ngoài,
một bóng áo vàng thấp thoáng. Có sai phạm gì ? Ông cứ hát.

– Ông có hát được nhạc tình của Phạm Duy không ?

– Thưa quí cô. Xin cô cho phép tôi từ chối hát nhạc vàng của Mỹ ngụy. Bóng chiếc áo vàng vẫn thấp thoáng.

– Thế thì “Rặng trâm bầu” đi ông.

Ngày nào cũng có người yêu cầu bài này. Nhuyễn rồi. Đâu có gì khó khăn.

– Ngâm thơ đi, hay ca cải lương cũng được.

– Vâng. Thưa các quí ông, quí bà. Để thay đổi không khí, bây giờ Hồng Đức tôi xin ngâm hiến quí vị bài thơ “Đời ta có đảng”.

Ông cầm cây móng nhựa, tỉa mấy nốt đơn, trầm. Tiếng đàn nghe như tiếng tam thập lục. Ông vươn cổ trữ hơi. Khi tiếng đàn vừa trùng xuống thì giọng ư a của ông cất lên.

“Con ơi…ư… Từ khi…ư…a…mới có…ư…được ngày…ì…hôm nay…ư…”

– Ông già.

Ông cắt giọng, ngẩng lên.

– Đồng chí gọi tôi.

– Đứng lên. Theo tôi về đồn.

Tên công an áo vàng cúi xuống nhấc cái thau men của ông. Ông vội buông cần đàn, xoài người chụp lấy cái thau nhưng không kịp. Tên công an đã rẽ đám người, bê cái thau
xăm xăm đi vào trạm công an nhà ga. Ông nhấp nhô đuổi theo. Vào đến trạm, ông hớt hải hỏi.

– Đồng chí công an. Tôi đã phạm lỗi gì ?

– Ông đã bêu rếu đảng.

– Tôi đã bêu riễu đảng bao giờ, ở đâu ?

– Ông ngâm bài “Đời ta có đảng” lúc nãy, ông quên rồi à ?

– Bản đó ca ngợi công ơn của đảng, sao đồng chí lại bảo là bêu riễu đảng ?

– Ý ông bảo từ khi có đảng ông mới phải đi ăn mày như vậy à. Ông và những kẻ ăn mày ca bản ấy là có tư tưởng bêu xấu đảng. Ông hiểu chưa ?

Ông già cứng mặt. Tên công an đổ đống xu, hào lên mặt bàn rồi lẳng cái chậu men xuống đất đánh xoảng.
Ông già vội ngã người, lấy thân đỡ cái chậu. Tên công an nhanh tay gạt đống tiền xu vào ngăn kéo rồi rút ra một tờ biên bản.

– Ông Biện. Kể từ khi quản chế, đây là lần thứ hai ông phạm tội. Lần trước tôi bắt gặp ông đang hát nhạc vàng bêu riễu đảng. Tội ông rất lớn. Nhưng xét công lao của ông và chính sách đối với thương binh, ông vẫn được tự do đi lại trong khu vực. Nhưng, để tránh có lần thứ ba..

Tên công an dừng lời. Hắn cố nặn óc để tìm một hình phat thích hợp nhất đối với ông, và có lợi nhất đối với hắn.

– Thế này. Từ giờ trở đi, ông chỉ được hát những bài do chúng tôi qui định trong tờ biên bản.

Tên công an liệt kê ra những bài hát mà hắn biết rằng, ông già hát rong tài ba kia sẽ nằm gọn trong gio. câu của hắn :

Giải phóng miền Nam, Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng, Hành quân xa, Giết hết không còn một tên giặc Mỹ, Ba cô đi cấy chăng dây, Đường cày đảm đang. Toàn những bài máu, lửa, phân, đất.

Ông Biện cầm tờ biên bản, chống nạng đi ra. Tới bóng cây phượng, ông ngồi phệt xuống bờ đường.

– “Còn khoe?, hát phục vụ chiến trường. Cụt chân, bị phế thải. Hát rong, sai tư tưởng. Chống lại, bị quản chế. Đời khốn nạn. Vui không được. Ca ngợi cũng không được. 6 bài hát này thì hát cho cha chúng nó nghe à”.

Trong trạm, tên công an khoái trí mở ngăn kéo, đếm đồng tiền.

– “Mẹ. Mới loáng một cái nó đã làm hơn 5 đồng bạc, bằng cả 2 ngày lương của mình”.

Hắn dồn đống xu vào túi quần, gập xấp giấy hào cho vào túi ngực, rồi xách xà cột ra cửa sổ quan sát. Đằng kia, một đám người đang vây quanh mấy bà bán rau trên vỉa hè. Hắn nhoẻn miệng cười, nhanh lẹ mở nắm đấm, rồi luồn người đi vòng ra phía cổng hậu.

*

Đã gần hết ngày, ông Biện vẫn chưa có gì lót ruột. 6 bài hát ông kêu ra rả cả tuần lễ, chỉ tổ làm khổ tai người đi đường. Mấy người đạp xích lô phải đẩy xe ra chỗ bóng dâm khác chờ khách. Dăm người khán giả quen mặt thất vọng, lạnh lùng. Xế chiều. Người đợi tàu ngồi bừa ra đến ngoài tam cấp.

– Ông già. Ca cải lương đi ông. Ông lão bậm môi, lắc đầu.

– Hay dân ca Nam Bộ cũng được.

Ông vẫn làm thinh.

Phía trạm công an, tên công an dạng cẳng, tót lên xẹ

– Nó đi rồi. Ca đi. Tôi gác đờ co cho.

Người đạp xích lô đủn cái xe đến gần chỗ ông ngồi. Ông lê ra máy nước, ngửa cổ tợp một hớp, chùi mép vào tay áo, rồi quay lại chỗ cái áo và bộ đồ nghề.

Ông ngồi xuống, vuốt cần đàn. Giọng hát mê hồn của ông qua bài dân ca Lý Con Sáo làm người ta bu lại đông đặc. Tiền xu tới tấp ném xuống. Tới bản dân ca Trung Lý Ngựa Ô. Người ta vỗ tay rôm rớp.

Rồi “Người Ơi Người Ở Đừng Về”. Đáy thau đã phủ một lớp mỏng tiền hào và kẽm.

– Chơi thử bài “Lên Ngàn” xem nào.

– Thì “Lên Ngàn”.

Ông dốc hết sức. Bụng càng cồn cào. Hơi lấy vào thì nhiều nhưng đẩy ra thì kém. Vừa dứt bài “Lên Ngàn”, ông ho rũ.

– Ông biết bài “Trăng Tàn Trên Hè Phố” không ?

– Một giọng mũi của một gã đứng vòng ngoài yêu cầu. Chiều lòng người ái mộ, ông chuyển lại thế ngồi, đổi gam sang nhạc lả lướt. Khoang miệng ông mở rộng, yết hầu rung nhè nhẹ. Bài ca được ông thể hiện quả công phu

– Ông già.

Ông choàng tỉnh. Mắt trừng trừng mở. Tay đàn đóng cứng. Mồm há hốc. Tên công an lừng lững đứng trước mặt ông. Hắn không nói thêm một lời, cúi xuống nhắc chiếc thau trắng men. Ông không nhúc nhích. Người xem nhanh chân tản hết. Tên công an quay đầu, bê chiếc thau men về trạm. Ông chẳng buồn đuổi theo. Mà cũng có thể ông không còn đủ sức để đuổi theo. Ông cứ ngồi. Đêm lãng vãng bò về. Chuyến tàu đêm vừa dứt. Sân ga lặng như chì. Ông bò đến ụ máy nước, vặn vòi cho chảy tí tách. Đoạn nằm ngửa, há mồm cho nước chảy xuôi vô
cuống họng…

*

Chiều muộn hôm sau, ông lết ra máy nước, gội đầu, cọ cổ sạch sẽ. Rút lược, chải tóc hất ngược ra sau. Xong xuôi, ôm đàn lê đến chân tường, sát trạm công an nhà ga, ngồi xuống. Tiếng chuông ngựa leng reng. Người chờ tàu đổ lại. Tên công an ngó cổ.

Ớ. Còn cái thau. Hắn thụt vào. Chắc lão kiếm được cái khác thay thế. Ngoài sân đã dập dìu tiếng nhạc. Mày chết. Lại nhạc vàng. Hắn ngó cổ ra. Chưa đông lắm. Lại thụt vào. To gan. Nhạc kích động. Hắn hé cánh cửa sổ.

Không thấy có cái thau. Diệu kế. Thằng trẻ con mang mau cái thau men, chui qua hàng chân, để xuống trươc mặt ông.

Phản động. Nhạc tiền chiến. Hắn bước ra khỏi phòng, kiễng chân ngó qua vai khán giả. Vẫn cái thau không. Bản nhạc “Nỗi Lòng Người Đi” vừa rứt. Ông già đưa cái khăn mặt lên miệng. Cơn ho không thoát ra được, hục hặc trong mồm. Một tiếng keng. Hắn mừng rộn. Một tiếng
keng nữa. Đồng chinh lẩy lanh canh trong chậu.

– Xin đừng cho tiền.

Đèn nhà ga vàng vọt hắt quanh. Hắn chặn mũi, giả giọng cổ.

– Có biết nhạc VN ở hải ngoại không ?

Lại một tiếng keng nữa.

– Xin quí vị cầm tiền lại.

Trân trọng. Ông nâng đàn. Tiếng lòng ai oán như thoát từ tâm hồn người bỏ xứ.

“…Sàigòn ơi, ta mất người như người đã mất tên…”

Ông vừa dứt giọng, một bà cúi xuống đặt vào trong thau tờ giấy một đồng.

– Xin bà hãy cầm lấy tiền của bà… Bần sĩ không nhận tiền của quí vị hôm nay.

Ông lão lại đưa cái khăn mặt lên miệng. Chuỗi lục khục trong yết hầu.

– Đây là lần cuối cùng…bần sĩ hát cống hiến quí vị. Ông giơ tay huơ huơ trên đầu.

– Xin giã biệt.

Quay mặt vào góc tường, ông ho như xổ ra từng miếng phổi.

– Mẹ. Lão già.

Tên công an hậm hực trở về trạm, lôi chiếc xe đạp xuống đường. Tàu đêm đến. Sân ga vắng hẳn. Có người thanh niên đưa cho ông chiếc bánh mì còn nóng. Ông xua tay.

– Em cầm lấy đi… Tôi không còn cần đến nó nữa.

Ông giơ tay chặn lấy miệng, ngoái đầu kiếm quanh. Cái chậu men nằm tênh hênh bên cạnh. Ợ…ộc. Một đống máu lẫn đờm.

Ông chống tay vào cần đàn, vớ cây nạng gỗ, đứng dậy. Cạnh nhà vệ sinh công cộng, một cái lỗ chó chui vừa khít người ông. Ông chui qua. Mấy hàng đường rầy ngoằn ngoèo từ bóng tối chui ra. Tàu đêm sắp chuyển bánh.

Lập Phương

304Đen – llttm- OVV

 

 

 

Một Chút Hoài Niệm Thời Tuổi Trẻ - Nguyễn Văn Lục

 

MỘT CHÚT HOÀI NIỆM THỜI TUỔI TRẺ

Bộ mặt Sài gòn, lúc 1955, người ta còn thấy những thầy cảnh Sát được gọi là Mã Tà, đứng huýt còi ở các ngã tư đường. Vậy mà chẳng bao lâu chữ gọi mã tà đó đã biến mất. Và sau này, sẽ còn nhiều cái biến mất như thế.

Nguyễn Văn Lục



Người ta vẫn còn thấy những xe thổ mộ đủng đỉnh, kêu lóc cóc vui tai với các lục lạc của xe ngựa kéo trên các con đường từ chợ Bến Thành xuống tận Ngã Tư Bảy Hiền, hay từ Bến Thành đi chợ Bà Chiểu. Nó vẫn như ngang nhiên thách đố với các tuyến đường xe buýt nay đã chật ních người. Nó vẫn có những khách hàng quen thuộc là những người thuộc giới bình dân, giới buôn thúng bán mẹt…

 

Nó chỉ dần dần biến mất lúc nào không ai hay khi mà những chiếc xe Lambretta ba bánh nhập cảng từ Ý đã được chế biến lại cùng chạy trên những tuyến đường đó. Xe lam nhanh hơn, chở tới 12 người, 10 người ngồi ở đằng sau, khi cần, có thể ghé thêm hai người ngồi bên cạnh tài xế. Vậy tất cả là 13 người chứ không 12. Xe lại có nhiều chuyến hơn, cứ đầy là chạy và ngồi thoải mái hơn.

Đặc biệt bên hai thành xe có ghi hai câu: “Hữu sản hóa, đợt tự chủ”. Nếu tôi nhớ không lầm chính sách hữu sản hóa này là ở dưới thời ông Kỳ làm Thủ tướng. Nhưng xe xích lô ba bánh, xích lô đạp, đặc sản miền Nam vẫn tồn tại trong suốt 20 năm miền Nam còn lại.


Người trung thành nhất với xích lô đạp, phải chăng là thi sĩ Vũ Hoàng Chương? Có thể ông nghèo vì hút thuốc phiện, nhưng mỗi lần đi dạy ở trường Chu Văn An ông luôn luôn đến trường bằng xe xích lô đạp. Quần áo luôn luôn là ủi thẳng nếp, thắt cravate, tay áo manchette bằng vàng, đầu chải bóng.

Người chạy xích lô đạp thường tranh nhau mời ông không phải vì ông là thi sĩ, mà vì người ông nhẹ như bấc, không chắc ông có cân nặng bằng nửa số ký của người khác không?

Và có ai ngờ rằng, xích lô đạp vẫn có chỗ của nó sau hơn nửa thế kỷ sinh tồn.

Sau 30.4.1975, rất nhiều nhà văn, nhà báo, chuyên viên, giáo sư đổi ra đạp xích lô.

Và tự nhiên nay nó trở thành biểu tượng nếp sống văn hóa của một thời. Hà Nội nay nhan nhản xích lô đạp dành cho khách du lịch chạy vòng vòng quanh khu phố cổ Hà Nội. Người ngoại quốc danh tiếng nào đến Việt Nam thì cũng có dịp ngồi trên đó cả. Vợ chồng Brad Pitt và Angelina Jolie cũng có dịp ngồi xe xích lô cho biết mùi vị Việt Nam.


Nhưng cái đổi thay rõ nét nhất là cái áo dài con gái thay thế cho chiếc áo bà ba, chiếc quần hai ống rộng. Chẳng bao lâu sau, chẳng biết từ lúc nào toàn miền Nam mà đặc biệt các nữ sinh trung Học, từ Sài Gòn ra Trung, từ Sài Gòn xuống Lục tỉnh. Chỉ áo dài là áo dài. Áo dài Trưng Vương, áo dài Gia Long, áo dài Nguyễn Bá Tòng, áo dài Nữ trung học Lê văn Duyệt, áo dài Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho, áo dài Tống Phước Hiệp, Vĩnh Long, áo dài Nữ Trung Học Nha Trang và nhất là áo dài Đồng Khánh Huế.

Và nó cũng mở đầu cho thiên tình khúc tuyệt vời Ngày xưa… Hoàng Thị của Phạm Thiên Thư:

Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ..
Anh đi theo hoài
Gót giày thầm lặng
Đường chiều úa nắng
Mưa nhẹ bâng khuâng
Em tan trường về
Cuối đường mây đỏ
Bước em thênh thang
Ôm nghiêng cặp sách
Vai nhỏ tóc dài
Áo em ngày nọ
Phai nhạt mây mầu
Chân tìm theo nhau
Còn là vang vọng …

Nó biểu tượng cho cái gì tinh khiết, trinh nữ, tinh tuyền và mời gọi. Nó che dấu bằng hai vạt áo dài mà như thể mở, biện chứng kín mà hở. Nó mời mọc mà kín đáo chối từ, nó bày tỏ phái tính, sexy đến ứ cổ họng với nét nổi lên của chiếc quần lót hằn lên tuổi dậy thì. Không có y phục phụ nữ nào trên thế giới lại sexy đến như thế. Ngay cả sau này với mini-jupe cũng không sánh bì.

Nó không cần đến những Cardin, Courrèges, St. Laurent, Paco Robanne. Cùng lắm, nó chỉ thua Le Panty, Monokini, quần lót Le petit bâteau của thập niên 1970. Nhưng những thứ này phải “ăn gian” từng centimét mới có được như thế.

Áo dài không ăn gian. Cạnh đó là hàng nút bấm mong manh như lối ngõ vào bên trong nằm hở ra cạnh sườn. Nó không những chỉ là một nét đẹp con gái mà nó trở thành biểu tượng cho một nếp sống văn hóa Việt Nam.

Sau này, không biết bao nhiêu những tranh ảnh, bìa báo Xuân, báo Tết chụp hình các thiếu nữ trẻ miền Nam trong chiếc áo dài truyền thống đó.

Và người ta có thể hãnh diện về điều này mà không có gì phải hổ thẹn khi nói đến tuổi thanh xuân thiếu nữ đi liền với nét đẹp con gái ấy. Nó phản ánh thế hệ thanh thiếu nữ thời ấy mà hễ bất cứ ai không còn là con gái, xồ xề một chút, vùng đùi, vùng mông nở nang một chút là mặc áo dài thường khó coi.




Sự đòi hỏi của tôi có khắt khe quá chăng? Nhưng chính sự đòi hỏi khắc nghiệt ấy làm tăng giá trị chiếc áo dài miền Nam tuổi trẻ. Nhiều phụ nữ các bà mặc trong các dịp lễ hội. Thấy làm sao.

Rất tiếc sau 75, ra ngoài đường, Sài gòn vắng bóng chiếc áo dài. Cũng là vắng bóng tuổi trẻ miền Nam? Hay tuổi trẻ miền Nam không còn nữa? Người ta không còn phân biệt ai là con gái, ai là đàn bà được nữa đến như thể ai cũng là đàn bà, đến như thể ai cũng mất cả rồi.

Khi không còn những áo dài đó, Sài gòn buồn thiu. Như cây rừng không còn lá.

Tuổi trẻ miền Nam thời ấy biểu tượng vẫn là hình ảnh cô thiếu nữ mặc áo dài trắng quần trắng. Đừng thứ mầu khác, đừng xanh đỏ lò loẹt. Vén tà áo dài sang bên, hở một bên, kín một bên, cho thấy đùi trinh nữ, cho thấy tuổi dậy thì, hai đùi nhẹ khép lại khi bước đi hay khi ngồi trên chiếc xe vê lô sô lếch thời thượng.

Bây giờ, tôi không thấy những bước đi kiêu sa thiếu nữ như thế nữa. Đó là hình ảnh cô gái, mình ong thon thon ngồi trên chiếc xe Solex trông giống như một con bọ ngựa biết bay. Phất phới, tung gió, nhẹ lướt, mái tóc hất lại đằng sau, đầu buộc bím mầu xanh tím, để lại đằng sau những cái nhìn dõi xuôi bắt không kịp. Và những đôi mắt thèm thuồng.

Ingarary gọi đó là một chuỗi diễn hành phái tính (Mascarade de la fénimité).

Xin mượn lời thơ của Nguyên Sa:

Giấc mơ em mặc jupe hồng… thôi rồi Sài Gòn ơi!
Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi, một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay?

Em cười tà áo bay trên
Đám mây ở dưới nỗi phiền muộn xa
Anh ngồi chỗ hẹn hôm qua
Đám mây ngồi cạnh bài thơ nhẹ nhàng,
Giấc mơ mặc áo lụa vàng
Nơi anh nằm ngủ có hàng Thùy dương

(Nhẹ nhàng) (1)

Trong khi đó thì những cậu con trai cỡi xe Vespa, đời ED, đôi kính mầu đen, chiếc áo Montagu, mầu xanh đậm rồ ga hay lượn uốn éo. Nếu Solex là con gái, thì Vespa là con trai. Nếu Solex là con bọ ngựa thì Vespa là con bọ hung. Solex là nữ tính, Vespa là nam tính (2).

Nếu con gái ăn quà thì con trai bát phố. Bát phố phải chăng là nói nhại từ tiếng Pháp battre le pavé? Thôi thì là gì cũng được. Và xin mượn lại chữ nghĩa của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng:

… Từ xa phố chợ đến giờ
Chân thôi bỏ lệ gõ bờ lộ quen
 (3)

Đi dạo phố trở thành một thói quen, một nếp sống của con trai Sài gòn. Ngoài Sài gòn, tôi chỉ thấy ở Huế có sinh hoạt bát phố tương tự. Nhưng ở Huế, số con gái đi dạo phổ kể là đông và đi từng nhóm hai ba cô. Họ sợ bị bắt nạt chăng? Cô nào cũng có chiếc nón không phải để che nắng, che mưa mà để che cái nhìn trộm của con trai. Gái Huế đi dạo trên đường Trần Hưng Đạo mới thật là một diễn hành phái tính. Mười lần ra Huế thì y như rằng ra đi là để lại một điều gì…

Con gái biểu tượng nhất, cái Look theo nghĩa bây giờ là hình ảnh cái thân hình dong, lưng thẳng, găng tay trắng, cặp kính mầu, áo dài trắng, phải áo dài trắng mới được, mới con gái, mới trinh nữ, mới thanh khiết. Vạt áo dài phía sau vắt ngang sang bên kia để hở một bên phần đùi trên chiếc vê lô solex mầu đen. Đi xe vê lô solex chứng tỏ con nhà khá một tý, sang trọng và đài các. Cái dáng ngồi solex trông rất con gái, rất phái tính.

Bát phố là một thứ giải trí chiều thứ bảy của con trai Sài gòn. Mà điều căn bản là có mặt. Làm gì, bận bịu gì cũng bỏ đi Bonard bát phố. Sinh viên, học sinh các lớp tú tài, lính tráng đi hành quân ở xa về, công chức các bộ, các nha đều đi dạo phố, ngắm người hay rửa mắt. Mà phần lớn bọn họ là độc thân, chưa có vợ con. Nếu sang một tý thì vào Givral ngồi, tàm tạm thì một ly nược mía Viễn Đông cũng xong.

Người phụ nữ sinh ra là để như vậy. Les femmes seraient faites ainsi.

Quyến rũ bằng chính thân xác mình.

Nhờ áo dài đó mà phụ nữ, cô nữ sinh trở thành phụ nữ hơn. La robe lui permettait de devenir plus féminine. Phải nói là thời thượng và ấn tượng lắm. Cộng thêm cái thói ăn quà vặt. Ăn quà vặt là rất con gái, rất trẻ, rất bắt mắt. Khi cô nữ sinh ăn quà thì tưởng là ăn quà thật. Nhưng đôi khi cũng chỉ là cái cớ sự cho sự trình diễn, sự được nhìn. Nó như chờ đợi một điều gì đó. Điều mà Thị Nở đã chờ đợi từ tuổi 15, 16 thời con gái, nay đà 30 và bao nhiêu thế hệ con gái cũng đã chờ đợi như thế. Như cơn mưa mùa hạ. Như chồi non hé nụ. Như em chờ anh lúc này. Chí Phèo chỉ đến hoàn tất công việc chờ đợi ấy.

Cuộc đời đôi khi đơn giản là như thế.

Ngoài hai thứ đó ra, con gái cũng đi dạo phố. Con trai đi dạo phố là để ngắm. Con gái đi dạo phố xuất hiện như một trình diễn, ăn diện, mốt, kiểu để được nhìn, để được thừa nhận, để nhận phần lớn là những lời tán tỉnh, khen tặng.

Đó là cả một cái guồng máy của sự xuất hiện. L’engrenage du paraitre .

Và cuối cùng, thú vui giải trí chung cho cả con trai lẫn con gái vẫn là ciné và tiệm sách. Ciné là nơi hẹn hò để trai gái gặp nhau cuối tuần để trò chuyện, để tỏ tình, để lén lút hôn nhau. Những nụ hôn mật ngọt ấy. Quên sao được. Những mối tình của giới trẻ thời đó đến đó và dừng lại ở đó. Sau đó để lại một chút gì. Để kỷ niệm, để nhớ, để mãi mãi là như thế.

Nay gặp nhau cuối đời, lòng như chợt tỉnh, như trấu ủ bếp lửa bừng lên từ đám tro tàn. Gặp nhau muộn phiền, thương hoài ngàn năm.

Viết đến đây lại chợt nghĩ đến Nguyên Sa. Ông đã nói hộ cho tuổi trẻ Sài gòn:

Nắng Sài gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu mầu áo ấy vô cùng

Tuổi trẻ miền Nam là như thế. Lành mạnh mà không thiếu lãng mạn, tình tứ. Dắt tay nhau mà đi. Làm thơ tình. Gởi gắm nhắn nhe.

Chân díu bước mà mắt nhìn vương vướng
Nàng đến gần tôi chỉ dám quay đi
Cả những giờ bên lớp học trường thi
Tà áo khuất thì thầm chưa phải lúc

(Tuổi mười ba)

Nhưng may thay, mọi người Việt Nam, nhất là thanh niên, giới trẻ, lúc bấy giờ đều có một giấc mơ là làm thế nào để có một miền Nam phát triển và phú cường.

Và mặc dầu còn có những bất cập đủ thứ, tôi vẫn phải nhìn nhận rằng, những năm tháng còn lại, kể từ ngày ấy, mỗi giây phút năm tháng sống, học hành, lớn lên thành người thời đệ nhất Cộng Hòa Việt Nam vẫn là những năm tháng ân sủng cho tuổi trẻ của tôi và những bạn bè cùng trang lứa.

Chúng tôi đã lớn lên từ đó, trở thành người hữu dụng cũng từ đó.

Như lời Phạm Duy tỏ bày: ”Dưới thời Cộng Hòa thứ nhất, từ khi chế độ nhà Ngô thành lập và tiến dần tới thời thịnh trị rồi mạt vận, miền Nam, nếu chưa được là thiên đường của đông đảo văn nghệ sĩ đi tìm tự do thì cũng là nơi đất lành chim đậu. Một thế hệ văn nghệ sĩ mới đã thành hình và họat động dữ dội bên những vị đàn anh di cư từ miền ngoài. Phòng trà, tiệm bánh, quán nước như Kim Sơn, Mai Hương, La pagode, Givral, Brodard… là nơi không hẹn mà văn nghệ sĩ tới gặp nhau hằng ngày.”

Trong chín năm cầm quyền thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, chỉ có ba lần có những biến động chính trị. Nhưng chỉ riêng năm 1964, có 13 lần miền Nam rơi vào những biến động có thể làm lung lay nền Cộng Hòa. Nói như thế để thấy rằng sự ổn định chính trị nằm ở thời điểm nào.

Người nào không nhìn nhận những điều ấy thì chỉ thiệt thòi cho chính họ thôi, bởi vì họ tự mình bôi xóa tuổi trẻ của chính họ. Nhiều người đã bôi xóa như thế để chạy theo vài ảo tưởng chính trị, hoặc nếu ở ngoại quốc thì chạy theo những xu hướng thiên tả vốn chẳng dính dáng gì đến thực tế chiến tranh Việt Nam.

Nguyễn Văn Lục

Chú thích:
(1) Trích lại trong Trong dòng cảm thức Văn Học miền Nam của Trần Văn Nam, trang 411-412
(2) Dĩ nhiên, sau velo Solex thì cũng có một số xe hiệu khác như xe gắn máy hiệu Goebel, Sach của Đức. Có thể nó hữu dụng, nhưng trong bề ngoài khó coi, dị tướng. Rồi cái PC nhỏ nhắn, xinh sắn, xe đạp Mini cũng một thời cho đến lúc xuất hiện xe Honda 67. Chiếc xe Honda đến thay đổi hẳn diện mạo xe gắn máy ở Sài gòn. Hữu dụng, mát mắt, vụt phóng, không cần phải đạp ga ì à ì ạch.
(3) Trích Bùi Bảo Trúc trong bài Chữ Nghĩa chúng ta.

304Đen – llttm - sgtc