Friday, May 16, 2025

Hệ Lụy Từ Một Đường Lối Giáo Dục - Nguyễn Ngọc Luật

 

 HỆ LỤY TỪ MỘT ĐƯỜNG LỐI GIÁO DỤC

Trước năm 1975 ở Miền Nam đề ra ba nguyên tắc căn bản trong mục đích, tôn chỉ giáo dục là: Nhân bản, Dân tộc và Khai Phóng. Chính những nguyên tắc nầy đã giữ cho truyền thống dân tộc được bảo tồn và phát triển vững vàng nhưng không bảo thủ và từng bước theo kịp đà tiến triển của nhân loại.

Nguyễn Ngọc Luật

 


Vì vậy ở bậc Trung học, không có một bộ sách giáo khoa nào do cơ quan giáo dục chính thống biên soạn và phát hành để thầy và trò dạy và học theo. Giáo viên tự chọn sách giáo khoa để dạy miễn sao tôn trọng đúng nội dung chương trình giáo dục do Bộ Quốc gia Giáo dục soạn thảo. Trên thị trường cũng xuất hiện rất nhiều loại sách giáo khoa do các nhà giáo biên soạn.

Khi được học trong một môi trường giáo dục như thế chúng ta cảm thấy mọi việc đều bình thường, cho đến sau năm 1975 đất nước thống nhất rồi mới có dịp so sánh với hai đường lối giáo dục Nam-Bắc mới thấy có nhiều điều rất khác biệt. Cái khác rõ nét nhất là ở Miền Bắc đã đưa quan điểm về chính trị, chính kiến vào chương trình học nhằm mục đích tuyên truyền phục vụ cho chế độ, trong khi giáo dục ở Miền Nam thì chỉ tuân thủ ba tôn chỉ nêu trên mà không bị chi phối bởi áp lực chính trị nào cà.

Với hai đường lối giáo dục khác nhau nên các học sinh của hai miền cũng được trang bị kiến thức và nhận thức khác nhau, thế nên hành trang của họ mang vào đời cũng khác nhau.

Chỉ nói riêng về môn Văn, trong khi ở Miền Nam chúng tôi được học một chương trình Văn học rất thông thoáng và khách quan, không hề bị quan điểm về chính trị chi phối nên đều chọn lọc những tinh hoa văn học nước nhà qua các thời kỳ để học. Trong chương trình Văn Học Sử chỉ nói về văn học cận đại thôi, chương trình học cũng rất công tâm, bình đẳng, tất cả các tác giả có tác phẩm đóng góp công lao cho nền văn học nước nhà cho dù họ đang ở bên này hay bên kia chiến tuyến đều được đưa vào chương trình không hề phân biệt. Vì thế mà chúng tôi đã được học tác phẩm và tìm hiểu về những tác giả đang phục vụ tại Miền Bắc như Xuân Diệu với Thơ Thơ, Gửi Hương Cho Gió…, Huy Cận với Lửa Thiêng, Nguyễn Bính với Chân Quê, Lỡ Bước Sang Ngang, Thế Lữ với Nhớ rừng, Vàng Và Máu, Lưu Trọng Lư với Tiếng Thu… Những nhà thơ có sự nghiệp muộn hơn như Quang Dũng, Hoàng Cầm… cũng đều có tác phẩm xuất bản trong Miền Nam để cho công chúng được tìm hiểu.

Về văn xuôi cũng vậy, những tác giả đang ở Miền Bắc cũng được đưa vào chương trình giáo khoa như Tô Hoài với Dế Mèn Phiêu Lưu Ký, Nam Cao với Sống Mòn,Chí Phèo… Nguyễn Công Hoan với Tắt Lửa Lòng, Bước Đường Cùng… Vũ Trọng Phụng với Số Đỏ, Ngô Tất Tố với Tắt Đèn… Lược kê một vài tác giả với vài tác phẩm tiêu biểu như thế để chứng minh nền giáo dục mang tính nhân bản, dân tộc và khai phóng được thể hiện rất rõ nét trong chương trình học ở Miền Nam. Trong khi đó môn Ngữ Văn học sinh miền Bắc rất chú trọng văn học thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ, còn các nền văn học khác thì xem nhẹ. Các tác giả sáng tác với mục đích phục vụ, tuyên truyền cho chế độ thì được vinh danh và đưa vào chương trình học mặc dù xét về văn chương những tác phẩm đó không có giá trị mấy. Trong khi những nhà văn, nhà thơ có tư tưởng thoáng đạt sáng tác trên tinh thần nghệ thuật vị nghệ thuật mà không có tư tưởng tuyên truyền cho chế độ hoặc có quan niệm, chính kiến khác thì sẽ bị chối bỏ và tác giả sẽ bị liên lụy như nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chẳng hạn. Cái thiếu sót lớn nhất trong chương trình Ngữ Văn ở miền Bắc (và cả nước sau năm 1975) là chương trình Văn Học Sử cận đại đầu thế kỷ XX chỉ đưa vào sách giáo khoa những tác giả viết về hiện thực phê phán như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trong Phụng, Nguyên Hồng… mà đã cố tình bỏ qua những nhà văn, bút nhóm không đồng chính kiến khác.

Đầu thế kỷ XX nền văn học quốc ngữ nước ta rất non trẻ, trong giai đoạn chuyển tiếp từ nền Nho học qua Việt học đã có những nhà văn có công lớn trong sự phát triển văn học quốc ngữ đó là Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của đã cho xuất bản tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên dó là tờ Gia Định Báo năm 1865 tại Sài Gòn. Tiếp theo là các bút nhóm như Nam Phong với Nam Phong Tạp Chí (1917-1934) do Phạm Quỳnh làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, nhóm Đông Dương Tạp Chí (1913-1917) do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút. Đây là những người tiên phong trong việc truyền bá văn xuôi quốc ngữ trong thời kỳ phôi thai của nền văn học quốc ngữ nước nhà.

Văn Học Sử Miền Bắc hồi đó và cả nước bây giờ cũng không đề cập đến nhóm Tự Lực Văn Đoàn (TLVĐ) gồm các nhà văn Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam, Khái Hưng-Trần Khánh Giư, Hoàng Đạo-Nguyễn Tường Long, Thạch Lam-Nguyễn Tường Lân, Thế Lữ-Nguyễn Thứ Lễ… trong khi đây là một bút nhóm có công rất lớn trong việc phát triển nền văn học cận đại. Tự Lực văn Đoàn đã đưa dòng văn học lãng mạn và những tiểu thuyết luận đề như Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng, Đôi Bạn… của Nhất Linh, Nửa Chừng Xuân, Hồn Bướm Mơ Tiên, Tiêu Sơn Tráng Sĩ, Thoát Ly, Thừa Tự… của Khái Hưng, Gió Đầu Mùa, Nắng Trong Vườn của Thạch Lam, Con Đường Sáng của Hoàng Đạo… Với lối hành văn trong sáng, giản dị, văn phong hiện đại và phóng khoáng. Cơ quan ngôn luận của nhóm là báo Phong Hóa (1932-1936) và Ngày Nay (1936…) TLVĐ còn có nhà xuất bản Đời Nay để in ấn các tác phẩm của họ. Những tiểu thuyết trong nhóm TLVĐ đã đưa nền văn xuôi nước ta phát triển một bước tiến dài, lối viết của TLVĐ đã ảnh hưởng sâu rộng đến những nhà văn thuộc các thế hệ sau. Tác phẩm của TLVĐ thấm đượm tinh thần nhân văn, tinh thần chống lễ giáo phong kiến, chống các hủ tục và canh tân đất nước.

Dưới nhãn quan của những nhà biên soạn Văn Học Sử Miền Bắc thì Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh thì được cho là làm việc cho Pháp. Những nhà văn, nhà thơ trong TLVĐ tuy có công lớn trong giai đoạn phát triển nền văn học nước nhà đầu thế kỷ XX nhưng vì bất đồng chính kiến với chế độ. Nhóm TLVĐ đa số họ trước đây đều gia nhập Việt Minh (VM) nhưng sau này vì không đồng quan điểm, chính kiến nên đã rời bỏ VM và bị xem là phản động. nhà văn Nguyễn Tường Tam linh hồn của TLVĐ và những nhà văn chủ chốt trong nhóm đa phần là thành viên Việt Nam Quốc Dân đảng bị VM xem là thù địch, Khái Hưng bị VM thủ tiêu ở bến đò Cựa Gà. Tất cả những công lao của những người là lá cờ đầu cho một giai đoạn văn học quan trọng như thế nhưng lại không được đưa vào chương trình Văn Học Sử khiến cho nhiều thế hệ học sinh Miền Bắc và cả nước bây giờ không biết một tý gì khi nói về những nhà văn có công lớn trong giai đoạn văn học quan trọng này. Đây là một thiệt thòi lớn cho nhiều thế hệ học sinh tại miền Bắc trước năm 1975 và cả nước trong nửa thế kỷ qua.

Có câu chuyện cười ra nước mắt chứng minh sự “mịt mù” về TLVĐ của những người được đào tạo trong một nền giáo dục đầy thiên kiến như vậy là ngày 9 tháng 1 năm 2007, trong trò chơi “Ai là triệu phú” trên đài Truyền hình VTV3, người được mời lên chiếc “ghế nóng” tham dự chương trình là cô Nguyễn Thị Tâm, 27 tuổi, giảng viên trường Đại học Sư phạm thành phố Thái Bình.

Câu hỏi nguyên văn như sau: “Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng; ai là người không phải anh em ruột với ba người kia?” Cô giảng viên Đại học Sư phạm suy nghĩ một lát rồi nói:

– Tự Lực Văn Đoàn, tôi chưa nghe nói đến bao giờ cả. Hình như đó là một gánh cải lương. Còn Nhất Linh chắc chắn là một nghệ sĩ cải lương. – Riêng Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng… tôi không biết ba ông này có phải nghệ sĩ cải lương như Nhất Linh không.

– Vậy chị kết luận ai không phải anh em ruột với ba người kia?

– Tôi đề nghị cho tôi được hưởng quyền trợ giúp, gọi điện thoại cho người thân.

– Chị muốn gọi cho ai?

– Cho anh Nam, một bạn đồng nghiệp cũng dạy trong trường. Anh Nam là người đọc rất nhiều sách, kiến thức rất rộng, chắc chắn anh ấy biết.

Phòng máy liên lạc với người tên Nam đang chờ sẵn ở nhà để trợ giúp cho cô Tâm.

Cô Tâm lập lại câu hỏi như chương trình đã hỏi: “Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn…”, “Anh cho em biết Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng, ai không phải là anh em ruột với ba người kia…” Đầu dây có tiếng trả lời rất lớn và dứt khoát, nghe rõ mồn một:

– Hoàng Đạo, Hoàng Đạo không phải là anh em ruột với Nhất Linh, Thạch Lam và Khái Hưng.

– Chắc chắn không anh?

– Chắc trăm phần trăm.

– Ba mươi giây của chị đã hết. Xin chị cho biết câu trả lời.

– Tôi tin vào kiến thức của người bạn đồng nghiệp của tôi. Tôi trả lời, Hoàng Đạo không phải anh em ruột với ba người kia.

– Chị quyết định như thế?

– Vâng, câu trả lời của tôi là phương án B, Hoàng Đạo.

– Sai. Giải đáp của chúng tôi là phương án D, Khái Hưng. Khái Hưng không phải anh em ruột với Nhất Linh, Hoàng Đạo và Thạch Lam. Hoàng Đạo tên thật là Nguyễn Tường Long, sinh năm 1906, em ruột nhà văn Nhất Linh, anh ruột nhà văn Thạch Lam…

Câu chuyện cười ra nước mắt này phản ảnh đúng thực chất là học sinh Miền Bắc trước đây và cả nước bây giờ là không hề được nghe đến TLVĐ chứ đừng nói chi đến công lao, văn nghiệp của họ. Có thể chúng ta không trách cô giáo nọ vì mấy chục năm học hành cô có nghe gì đến TLVĐ đâu (!) Có buồn chăng là khả năng suy luận của cô ấy cũng như anh bạn kia quá kém, dù sao trong cái tên nhóm cũng có hai chữ Văn Đoàn mà mà sao cô giáo không liên tưởng tới một hội đoàn văn chương mà lại nghĩ đến gánh hát cải lương?!. Còn anh bạn được giới thiệu là người đọc sách nhiều, kiến thức rộng kia không biết anh ta căn cứ vào đâu mà trả lời chắc như đinh đóng cột vậy? Cái chúng ta cảm thấy buồn vì một đường lối giáo dục đặt nặng tuyên truyền chính trị và đầy thành kiến, thiếu khách quan, thiếu công tâm với lịch sử đã gây ra nhiều hệ lụy xấu cho nhiều thế hệ học sinh nước ta.

Dạy Văn Học Sử cho học sinh mà chủ trương đưa quan điểm tuyên truyền và ý thức hệ chính trị vào trong đó, rồi loại ra những người có công lớn với nền văn học nước nhà nhưng bất đồng chính kiến là một sai lầm rất lớn. Chính cái lối giáo dục đó đã đào tạo ra hàng triệu học sinh mà ngày nay họ là những công dân, có những người đang giữ vai trò trọng trách đối với xã hội có những kiến thức lệch lạc về lịch sử, có những hiểu biết hết sức phiến diện về một giai đoạn văn học quan trọng cũng như thiếu hiểu biết về những người có công lớn trong việc phát triển nền văn học nước nhà đó thì thật là đáng tiếc.

Gần đây đã có nhưng công trình nghiên cứu, những hội thảo về TLVĐ, đã có đánh giá công nhận công lao của nhóm TLVĐ, dĩ nhiên vấn đề được nhìn nhận dưới nhãn quan của những nhà nghiên cứu CS. Việc nào ra việc đó, hãy đối xử công bằng, khách quan với những người đã đóng góp công sức và trí tuệ để xây dựng cho nền văn học nước nhà có được như ngày hôm nay. Đó cũng là tôn trọng lịch sử và văn hóa dân tộc.

Nguyễn Ngọc Luật

25-11-2022

Nguồn: Nam Kỳ Lục Tỉnh

 

 

Sunday, May 11, 2025

Thu Chờ Người - Nguyễn Cang

 THU CHỜ NGƯỜI

( Bài cảm tác khi nghe ca khúc THU CHỜ NGƯỜI của Vũ Đức Sao Biển)

 












Chiều quạnh vắng thu vàng thôi trút lá

Dòng sông xưa lơ lững chảy êm đềm

Nghe đâu đây tiếng quốc vọng về tim

Trời bảng lảng tia nắng hồng thổn thức

 

Chim mỏi cánh tìm về nơi hẹn ước

Hồn cô đơn vụn vỡ ở nơi nầy

Ta thẫn thờ ngồi đợi một vòng tay

Lòng thương nhớ ngập đầy tà áo trắng

 

Chiều Thu  ấy một chiều thu hoang vắng

Ta một mình ngồi đợi mãi đồi sim

Trời trong xanh nghe bước nhẹ chân im

Tưởng em đến đường quanh co phía trước

 

Lòng rộn rã chan hòa trong mộng ước

Em về đâu khi bóng xế dần tan

Trên đồi sim hoa tím cả chiều hoang

Dòng sông nhỏ chảy hoài trong nỗi nhớ

 

Ta vẫn đợi nghe mùa Thu trăn trở

Trời mênh mông giăng tím bến sông Tương

Người xưa đâu sao tan  biến màn sương

Đêm dần xuống đồi sim chìm mờ ảo

 

Ta ngâm khẽ khúc tình ca thạch thảo

Sương rớt nhiều gió lướt lạnh bờ vai

Còn gì đâu người cứ mãi u hoài

Mùa thu chết chứa chan sầu ly biệt!

 

Nguyễn Cang ( May. 7, 2025)

Qua Vườn Hoa Black Eye Susan - Thy Lệ Trang & Đường Xưa - Nguyễn Cang

 QUA VƯỜN HOA BLACK EYE SUSAN / Thy Lệ Trang

Ngũ độ thanh

 














Rạng rỡ vàng tươi cả góc đường

Đen tuyền..*.mắt đẹp của người thương

Trời xa…gửi nắng giăng đầy ngõ

Ngõ vắng…trồng hoa trải ngập tường

Lặng lẽ chờ thu nồng cánh Thảo

Âm thầm đón hạ giữa vầng Dương

Dừng chân mỗi buổi chiều qua đó

Mỹ cảm trào dâng... rất lạ thường!

 

Thy Lệ trang

Bài họa:

 

ĐƯỜNG XƯA

(nđt+ ctđ)

 















Tàn Thu lá rụng những con đường

Lạnh lẽo riêng sầu bởi nhớ thương

Ngõ hẻm, đìu hiu, mòn dép nhựa 

Đường thưa, quạnh vắng, rã vôi tường

Ta về chẳng gặp người năm cũ

Biển lặng không chờ mãn thái dương

Mấy quãng thời gian tràn kỷ niệm

Lòng như trỗi dậy khúc nghê thường!

 

Nguyễn Cang 

(May. 6, 2025)

 

 

 

Năm Nay Đào Lại Nở - Kiệt Tấn

 

Năm Nay Đào Lại Nở




 Kiệt Tấn

Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu
Giấy đỏ buồn không thấm
Mực đọng trong nghiên sầu…

Vũ Đình Liên

Thưa ông cho nhà cháu hỏi thăm. Còn mấy hôm nữa thì là Tết ạ?

Tiếng hỏi làm tôi giật mình ngó người đàn bà chít khăn mỏ quạ. Tôi vừa ăn xong cơm chiều, đang đứng trước sân nhà xỉa răng ở trần cho mát. Tôi vội đáp:

Thưa cụ vừa mới Tết xong ba bữa. Còn lâu lắm mới Tết nữa.

Người đàn bà có vẻ bối rối:

Thế hở ông? Thế mà cháu quên mất, làm phiền ông quá. Ông cho nhà cháu xin lỗi.

Thưa cụ, có gì đâu mà xin lỗi.

Một cơn trốt thổi đến xoáy những cánh bông giấy chạy tán loạn trong sân. Bông giấy đủ màu: đỏ, cam, tím, trắng; Tết nào cũng rụng đầy, đúng hẹn với trời đất. Người đàn bà ngập ngừng:

Phiền ông cho nhà cháu hỏi thêm: Ông có biết nhà ông Đa ở lối nào xin ông chỉ hộ cho nhà cháu.

Nữa. Lại câu hỏi đó nữa! Tôi vừa nghĩ thầm vừa nhìn vào đôi mắt hom hem của bà. Chiều nay bà không đeo kiếng mát, loại kiếng gọng nhỏ, có tròng đen tròn vo như loại kiếng đen lính cảnh sát đeo trong phim Hitchcock. Bà lại bối rối, cố nhoẻn miệng cười vớt vát, để lộ mấy chiếc răng nhuộm đen còn đương cự được với tuổi trời.

Dạ thưa cụ, cháu không biết nhà ông Đa ở đâu.

Thế hở ông? Thật khổ quá! Cháu đã hỏi thăm nhiều người mà không ai biết nhà ông Đa ở đâu cả.

Bà lí nhí xin lỗi rồi quay lưng đi, chiếc lưng mà sức hút của trái đất sáu bảy chục năm qua đã bẻ còng.

Bà lom khom lê đôi dép Nhựt Bổn, đôi dép đã cũ, cao su bè ra hai bên. Tôi chắc chắn bà sẽ lại đi lượm lon, lon sữa bò, lon thịt hộp, lon đậu hộp… Mục này nằm trong chương trình hoạt động hằng ngày của bà. Không ai biết tên bà. Má tôi quen gọi bà là “Bà Lượm Lon”. Nhiều lần má tôi cho bà cái lon không đã rửa sạch, và kết chuyện với bà. Không biết hai bà già lẩm cẩm nói gì với nhau mà cười tíu tít như xuân nữ. Có bữa thấy bà lom khom sục sạo ngoài hàng rào, má tôi sực lo ngai ngái cho tương lai của chính mình.

Tao sợ nữa già tao cũng lẫn lộn rồi đi lượm lon như bả quá! Rồi mầy với thằng con mầy đẩy xe bỏ tao trên núi.

Nói xong, bà cúi xuống hun thằng con trai của tôi bà đang bồng trên tay. Cục cưng của bà đó. Rớ tới là bà xuống đường, tuyệt thực để phản đối.

Bà Lượm Lon quẹo ở hông nhà tôi rồi đi ra phía đường lớn, đại lộ Bạch Đằng, xóm Hàng Xanh. Bà sẽ lạch bạch băng qua bên kia đường lớn, hỏi thăm nhà ông Đa, rồi thất vọng quay lộn trở về lề đường bên nầy, lại hỏi thăm nhà ông Đa, lại thất vọng, lại lạch bạch băng qua bên kia đường… Đâu mười bữa trước, tôi đang sơn lại cửa rào trước nhà thì bà tới gần hỏi tôi, vẫn giọng lễ phép cố hữu của người nhà quê miền Bắc:

Thưa ông cho nhà cháu hỏi thăm. Còn mấy hôm nữa thì là Tết ạ?

Tôi dừng cọ sơn, mỉm cười ngó bà:

Thưa cụ còn bốn bữa nữa thì Tết. Cháu đang sơn lại nhà để ăn Tết đây.

Bà cười tếch toác, răng đen nhánh:

Thế hở ông? Sắp Tết rồi, vui quá nhỉ?

Bà đưa tay sửa lại chiếc khăn mỏ quạ bị gió Xuân xô lệch.

Dạ… dạ thưa ông, xin phiền ông chỉ hộ cho cháu nhà ông Đa, cháu đi tìm mãi mà… (vân vân).

Nữa. Lại nhà ông Đa nữa! Ông Đa nào? Tôi không cách gì biết được. Ông Đa là ai? Tôi mù mịt. Ông là gì của bà? Một thân nhân? Một ông chủ cũ? Một người chồng cũ? Một nhân tình cũ? Ở đâu? Hà Nội, Hải Phòng, Bùi Chu, Nam Định hay Phủ Lý? Kỷ niệm gì mà trên bước đường di cư khi đất nước chia hai đeo đuổi, đeo riết khiến bà còn nhớ hoài, nhớ mãi, cho tới bây giờ? Hai người đã yêu nhau khắn khít, sống vô số kỷ niệm đẹp, rồi đùng một cái! Xa nhau? Tôi cứ phỏng đoán lan man. Rốt cuộc vẫn là người mù đi trong bóng tối giữa đêm ba mươi.

 

Nhà ông Đa ở đâu, tôi không biết đã đành. Nhưng ngay chính nhà của bà ở chỗ nào tôi cũng không biết. Chỉ biết đại khái bà ở đầu xóm, vì bận nào bà cũng từ đầu xóm đi lại, qua ngang cửa nhà tôi, quẹo trái rồi băng qua đại lộ Bạch Đằng. Rồi băng trở lại (vân vân). Tung tích: bà là người di cư. Gốc gác: nhà quê miền Bắc – dựa theo giọng nói. Tuổi tác: trên sáu mươi – dựa theo chiếc lưng còng. Dĩ vãng: ông Đa. Hoạt động: lượm lon. Hết!

Bốn mùa bà chít khăn mỏ quạ màu nâu đất đã bạc thếch. Quần dài đen, áo cánh đen tay ngắn, răng nhuộm đen, đi dép Nhựt Bổn bè bè, đeo kính đen tròng kính tròn vo. Một đời sống bình yên thuở nào bên sông Hồng, giờ chỉ còn lại có bao nhiêu đó. Thời buổi này giặc giã, hoả tiễn Nga thụt vô Sài Gòn, phản lực Mỹ xẹt ngang Gia Định, xe tăng thiết giáp rần rần rộ rộ, kéo lê những khẩu đại bác dài ngoằng băng qua xóm Hàng Xanh của tôi và Bà Lượm Lon rồi trực chỉ xa lộ Biên Hoà. Xe tăng tương đối chạy chậm, so với xe vận lương phóng ào ào, nườm nượp, súng bắn lốp bốp mở đường, lôi theo những thùng sắt khổng lồ, no ứ, xẹt tới xẹt lui không ngớt trên đại lộ Bạch Đằng.

Sau khi chứng kiến vô số tai nạn – một lần trái tim người bị cán văng ra còn đập nhẩy trên mặt đường nhựa – tôi thường ê ẩm hàm răng, tóc tai dựng đứng, nổi da gà khiếp vía khi thấy Bà Lượm Lon đi ngang qua cửa nhà tôi, quẹo trái, chập sau có tiếng xe vận lương rầm rộ, súng nổ lốp bốp, rồi tiếng phanh xe khịt khịt, tiếng bánh xe cao su chợt đứng sững nhưng còn trớn cày xiết trên mặt đường nghe rát ruột. Tôi sợ rồi một ngày nào đó cái khăn mỏ quạ, đôi dép Nhựt Bổn, mấy cái lon vừa lượm được sẽ văng tung toé dưới lườn của một thùng sắt đồ sộ. Người ta sẽ thu nhặt những gì còn lại của chiếc lưng còng, của hàm răng đen, của cặp kiếng đen, của một thuở bình yên bên sông Hồng, của những tình tự một thời với ông Đa. Người ta sẽ bỏ hết những thứ đó vào một cái hòm nhỏ, đem chôn ở một nơi rất xa thành phố. Rồi mọi người sẽ dần dần quên, quên hết. Chẳng còn ai nhớ trong xóm mình đã từng có một bà người Bắc Kỳ lom khom đi lượm lon ở miền Nam – lượm lon để làm gì không biết. Sẽ không còn ai hỏi thăm nhà ông Đa. Cũng sẽ không còn ai hỏi tôi, khi mùa Xuân hãy còn đó:

Thưa ông cho nhà cháu hỏi thăm: Còn mấy hôm nữa thì là Tết ạ?

Thưa cụ, vừa mới Tết xong. Còn lâu lắm mới Tết nữa cụ ạ!

Không rõ vì lẽ gì mà mỗi lần hoa mai nở, mỗi lần hoa đào nở, mỗi lần Tết đến là tôi lại bị ám ảnh bởi những người đàn bà già nua mà tôi đã có dịp gặp trong đời. Có lẽ tại vì tôi nhìn thấy quê hương qua những bà già đó, một quê hương vừa yêu dấu, vừa ngậm ngùi. Thương đứt từng khúc ruột. Viết tới đây tôi lại chảy nước mắt. Trời ơi! Sao tôi cần quê hương đến như vậy!

Những bà già đó tượng trưng cho quê hương. Không! Những bà già đó là quê hương. Những bà già có làn da nhăn thơm tho mùi đất, có nụ cười rì rào tre trúc, có bàn chân nứt nẻ phù sa, có trái tim từ bi vô lượng, trái tim đó đã bơm máu vào rún tôi từ thuở tôi trong bụng mẹ, từ lúc tôi còn nhỏ xíu, lớn chưa bằng đầu ngón tay. Trời hỡi! Sao thương quá sức! Ai nỡ cắt ruột cho đành? Tôi thèm thương. Tôi thèm khóc. Tôi thèm quê hương. Thèm quá đỗi! Tết lại đến rồi đó…

Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?

Năm nay đào lại nở. Phải, năm nào mà đào lại chẳng nở? Tôi muốn la một tiếng thất thanh: “Ôi Quê Hương!”. Đào lại nở, tôi lại nhớ. Tôi nhớ những người muôn năm cũ, những bà già lượm lon, những bà già bán cà-rem ở trường học, những bà già bán đậu phọng ở bến xe, những bà già bán nước mía trong chai xách trên chiếc bắc Mỹ Thuận, Cần Thơ, Vàm Cống hay Rạch Miễu đưa bà con về thăm nhà trong dịp Tết. Những bà già mà mỗi lần ngó, bạn đều được tặng không một nụ cười hiền lành – hiền lành như cặp mắt của con trâu đi cày. Cũng không có gì khác để tặng bạn ngoài nụ cười đó. Rồi Tết qua, trở lại chuyến bắc, có thể bạn sẽ không còn gặp lại bà già đó nữa. Không bao giờ! Nụ cười tặng không đã mất. Cũng như quê hương.

Bà già cầm cái chuông nhỏ đưa lên lắc leng keng, ngó tôi mỉm cười. Mỉm cười vì bà đã được tôi ngó. Bà ngồi ở sân trường, giờ ra chơi. Tôi học lớp nhứt, được đâu mười tuổi. Cái nón lá rách để một bên, cái bình cà-rem để một bên, bình tròn dài sơn xanh, trên đậy nắp thiếc mạ kền đã trầy ố. Bà vừa từ bên trường nữ cách đó khoảng hơn trăm thước tất tả chạy qua, mồ hôi còn đổ hột trên trán. Bên trường nữ vừa hết giờ ra chơi là tới phiên trường nam ra chơi, trống giục liên hồi. Có lẽ bên trường nữ bà già cà-rem bán được hơn bên nầy. Bên nầy tụi nhóc khoái đổ xí ngầu hơn là bỏ tiền ra mua cà-rem một cách lương thiện. Được thì ăn nhiều, thua thì bơ mỏ. Nhưng hào hứng. Vì vậy mấy thằng nhỏ bán cà-rem đều thủ sẵn một cái tô và ba hột xí ngầu. Ra chơi tụi nhóc bu lại, trong đó có tôi. Bỏ bà già ngồi ở góc sân chong ngóc một mình vì bà không có… đổ xí ngầu.

Vì vậy khi có đứa nào ngó, bà liền đưa cái chuông nhỏ lên lắc lắc mời mọc. Như con chó hiền lành, chỉ chờ có người ngó là vẫy đuôi ngoắc. Tôi biết sự so sánh có vẻ kỳ cục, nhưng tôi không có cách nào diễn tả ánh mắt của bà hơn là ánh mắt mừng rỡ của con chó khi nhận ra được người quen. Và tiếng chuông leng keng là tiếng sủa mừng. Tôi nghĩ bà cũng quý chuông lắm vì lúc nào nó cũng được bà chùi bóng. Hồi nhỏ tôi cũng ham vui, như mấy thằng lỏi khác. Nhưng đôi khi nhìn ánh mắt mừng rỡ của bà, tiếng chuông leng keng và cái miệng móm cười không còn răng, tôi chợt thấy má tôi đang ngồi chồm hổm đó – tôi cầm lòng không đậu. Tôi bỏ ra năm cắc mua của bà cây cà-rem đậu xanh và hi sinh buổi đổ xí ngầu. Tay bà run run giở cái nắp bình thuỷ bằng mốp lựa cây cà-rem đưa cho tôi, tay run run. Tôi không quên nổi hình ảnh đó – cho tới chết không chừng. Run run không phải vì cảm xúc mà vì tuổi trời, có lẽ. Bà đã già lắm rồi, tóc bạc trắng như trang giấy học trò điểm sợi đen như những đường gạch hàng trên trang giấy. Nhưng bà lúc nào cũng tặng không một nụ cười móm khi đưa cho tôi cây cà-rem. Tôi không hề bắt gặp một chút nào đau khổ hay than trách trong ánh mắt và nụ cười đó. Ngay lúc bà ngồi suốt cả giờ ra chơi, không bán được một cây cà-rem nào.

Có bữa tôi ngó bà, bà ngó tôi đưa cái chuông lên lắc leng keng, cười móm, nhưng tôi đành ngoảnh đi vì tôi vừa đổ xí ngầu thua sạch. Bước đi mấy bước tôi ngoảnh lại, bà lại đưa cái chuông lên lắc. Tôi vụt bỏ chạy… Có bữa tôi thấy ngón chân cái của bà sướt móng chảy máu – bà đi cẳng không. Có lẽ vì chạy quá vội vàng trên con đường đá xanh lởm chởm từ trường nữ qua trường nam, bà vấp cục đá lớn. Tôi đã có lần bị vấp đá xanh trật móng, đau đứt ruột, nên biết. Nhưng nét mặt bà không hề lộ vẻ gì đau đớn. Chỉ chờ thằng lỏi nào ngó là bà lại đưa chuông lên, cái chuông bóng loáng, như tiếng sủa mừng, như tấm lòng của bà.

Một bữa gần bãi trường ăn Tết, tôi háo hức nhào vô đổ xí ngầu với tụi lỏi, chợt trời mưa. Tụi tôi từ sân chơi dời vô núp mưa dưới hàng ba và tiếp tục sát phạt. Tôi cháy túi như mọi bận. Tôi còn đang đứng xớ rớ ngó ra cổng trường chợt thấy bà già cà-rem xớn xác từ ngoài cổng chạy vào, rồi tấp vào hàng ba đụt mưa. Bà giở chiếc nón lá rách ra giũ nước. Mưa lớn quá, bà ướt mem. Bà ngồi chồm hổm dưới đất, dựa lưng vào vách lá của lớp học, mặt bà xanh xao, môi tái mét, có vẻ mệt mỏi. Bà lấy tay lau sơ cái chuông đã ố nước rồi ngó lên chờ khách hàng. Tôi ngó bà, bà ngó tôi rồi đưa chuông lên lắc leng keng, cười móm. Tôi muốn khóc. Tôi chạy vô lớp mượn của thằng bạn năm cắc. Tôi trở ra, đến ngồi chồm hổm bên cạnh bà, leng keng… leng keng…

Bà cho tui cây cà-rem đậu xanh.

Bà đặt chuông xuống đất, giở nắp thiếc mạ kền. Bà mở tiếp nắp xốp, các ngón tay run run còn đọng nước mưa. Thùng…thùng…thùng thùng thùng… Tiếng trống chấm dứt giờ ra chơi chợt gióng lên liên hồi. Cây cà-rem đậu xanh vừa lấy ra khỏi bình thuỷ còn run run trên tay bà. Tôi vội vã quăng năm cắc vào nắp thiếc:

Bà cất cà-rem đó, mơi tui lấy.

Bà cười móm:

Ờ, mơi nhớ lấy nghe cháu!

Bà cầm nón lá đứng dậy, má tôi đó. Tay xách bình cà-rem, má tôi đứng ngó thằng con trai của bà đang xếp hàng đi vào lớp. Khi tôi đi ngang, bà nghiêng người kề tai tôi dặn nhỏ: ‘‘Mơi nhớ lấy cà-rem nghe cháu!’’. Hơi thở ấm áp của bà phà vào lỗ tai tôi. Vào lớp, thầy ra hiệu cho cả lớp ngồi xuống. Tôi ngồi xuống ở bàn đầu ngó ra còn thấy má tôi đang tất tả chạy trên con đường đá xanh lởm chởm, tay vịn nón lá sợ bay mất. Rồi bóng má tôi với cái áo vá vai mờ dần trong mưa…

Ngày hôm sau, tôi có ý chờ bà tới. Bà không tới. Hai bữa sau bãi trường. Tôi ăn hủ tiếu uống nước bạc hà, tôi ăn dưa hấu đỏ, đốt pháo chuột, và quên hết. Quên tiếng chuông leng keng, quên ngón chân sứt móng, quên cái bình cà-rem trầy ố, quên con mắt vẫy đuôi mừng.

Qua Tết, nhập học, chúng tôi trở lại trường. Nhưng bà già cà-rem với cái nón lá rách và cái chuông bóng lộn không bao giờ trở lại nữa. Không bao giờ…

Đã có bao nhiêu bà-già-quê-hương tôi đã gặp trong đời? Năm người? Mười người? Hay một trăm người? Hay nhiều hơn nữa? Có lẽ vậy. Không sao đếm hết. Những bà già đó nhan nhản đầu làng cuối xóm, ở quê mình. Chỉ cần để ý một chút, bạn sẽ thấy. Họ sờ sờ đó, lúc nào cũng hiện diện, nhưng cũng đồng thời rất âm thầm. Họ không có nhiều lời nói, chỉ có cái nhìn độ lượng, ánh mắt từ bi, nụ cười móm. Và đôi khi họ khóc. Cũng như bạn. Khi đau khổ quá, bạn khóc.

Học hết tiểu học, tôi lên trung học. Hết lớp đệ tam, tôi rời Vĩnh Long sang học trọ ở Mỹ Tho, lớp đệ nhị Nguyễn Đình Chiểu. Nhà trọ ở gần trường, sau trường là bến xe đò. Ban đêm có xe hủ tiếu, xe bán bò bía, khô mực, ổi cóc, la-de nước ngọt… đẩy tới bày bán. Tôi thức khuya học, thỉnh thoảng đói bụng chạy ra làm một tô mì hay uống nước dừa tán dóc với mấy thằng bạn cùng trọ. Lần nào tôi cũng gặp bà-già-quê-hương đi rảo qua các bàn ăn mời mua giùm một hai gói đậu phọng. Bà bưng cái rổ nhỏ, các gói đậu làm bằng giấy nhựt trình quấn thành hình nón dài. Bà để đầu trần, đi cẳng không, quần đen, áo trắng rách lưng đã ngả màu vàng xỉn. Đôi mắt hom hem thụt sâu trong hố mắt, nụ cười nhăn nhúm, móm xọm, hiền hậu.

Lần đầu tiên bà đến mời, tôi mua hai gói. Gói đầu mở ra, bẻ đậu, đậu lép. Bẻ tiếp, lại đậu lép. Lần thứ ba, có một bên lép, bên kia hột đậu có chút xíu. Gói thứ hai, cũng đại khái như vậy. Nói chung, đậu lép rất nhiều, hầu hết. Tôi nghĩ thầm tại mình xui. Nhưng lần thứ hai tôi mua, cũng vậy nữa, lép nữa. Và những lần kế tiếp khác, lại đậu lép và đậu lép. Một bận tình cờ nói chuyện với bà chủ nhà trọ, bà cho biết tình cảnh bà-già-đậu-lép. Bà sống chung với con trai và con dâu ở ngoại ô Định Tường. Con trai bà đi lính đã chết. Con dâu mua bán đậu phọng, hột chắc thì luộc đem ra chợ bán ban ngày, hột lép thì rang sơ bỏ vô gói giấy nhựt trình giao cho bà già đi bán ban đêm – ban ngày bà ở nhà giữ cháu. Thấy bà già cả lụm cụm, người mua nhằm đậu lép chắc không ai nỡ nói gì. Nhưng sau đó, khi đã biết được thì không ai mua nữa. Mặc tình cho bà rảo tới rảo lui, hay bưng rổ đứng chờ rất lâu bên cạnh bàn ăn.

Tim tôi se lại, ruột quặn thắt. Trời hỡi ! Sao khốn cùng tới mức phải đi bán đậu lép! Tối hôm đó, tôi ngồi uống nước dừa Bến Tre, có ý chờ bà. Bà lẩm đẩm, lom khom tới bàn tôi mời, tôi mua hai gói. Khi bà run run đưa tôi gói đậu phọng, tôi thấy cánh tay bà nổi gai ốc. Trời lập đông. Tết sắp đến rồi. Bà cám ơn tôi. Tôi thấy cổ mình nghẹn thắt. Và nhiều lần như vậy nữa. Lần nào tôi cũng mua hai gói đậu phọng bỏ vào túi, về nhà trọ bẻ ra lấy mấy hột đậu không lép, nhâm nhi thấy bùi ngọt mà sao chua xót ngậm ngùi. Trời gần Tết, càng lúc càng lạnh.

Nhiều bữa có những chuyến xe đò muộn ghé qua cho khách xuống hoặc đổ xăng. Những người bán hàng rong ùa tới, đưa cao những rổ mận, những chùm mía ghim, những bọc kẹo chuối, mứt chuối… ơi ới réo mời hành khách. Bà-già-đậu-phọng cũng lụm cụm chạy tới, nhưng bị lấn giạt ra xa, chen vô không được với bọn đàn bà con gái. Bà đứng phía sau, cầm gói đậu phọng nhựt trình lóng nhóng đưa lên, miệng lắp bắp, lí nhí, nghe không rõ được tiếng nào. Rồi xe rồ máy nhả mùi xăng cháy và khói xanh um và mùi xăng cháy mịt mù, vọt chạy… Người bán rong chạy theo để lấy tiền hoặc thối tiền. Bà già bỏ gói đậu phọng lại rổ, đứng ngó theo. Tới lúc xe khuất.

Tôi có cái áo blouson cũ màu trắng, dính mực ở lưng giặt không ra. Một đêm tôi cầm cái áo ra bến xe đò, đứng ở gốc cây me núp chờ. Tôi chờ bà-già-đậu-phọng. Một chiếc xe đò muộn tấp vô bến, đậu lại xuống hành khách. Mấy cô bán rong ùa tới, bà già đậu phọng lụm cụm, lẽo đẽo, đứng xa giơ gói đậu phọng lên lắc lắc, lí nhí. Xe rồ máy vọt chạy. Bà đứng xớ rớ bên lề. Tôi bước tới bỏ cái áo blouson dính mực vào cái rổ của bà, không nói được lời nào. Tôi ngó bà, bắt gặp ánh mắt từ bi đang nhìn tôi. Tôi quay lưng bước lẹ như chạy trốn. Đến gần đầu đường tôi ngoái người ngó lại. Bà già đậu phọng còn đứng đó, trong bóng tối nhá nhem, tay cầm cái áo trắng đưa về phía tôi ngoắc ngoắc. Bà có nói một lời nào không, tôi không biết.

Và sẽ không bao giờ tôi biết được. Hôm sau tôi lấy chuyến xe đò sớm về Vĩnh Long bãi trường, ăn Tết với gia đình. Tôi ăn thịt kho, ăn dưa hấu, uống la-de, đốt pháo đại, và quên hết. Quên bước chân lụm cụm, quên bà già đứng xớ rớ, quên những gói đậu phọng lép. Và cũng sẽ không bao giờ tôi được thưởng thức món đậu phọng lép của bà-già-quê-hương nữa – cái hương vị bùi ngọt mà sao chua xót khôn cùng ! Trời hỡi, sao thương quá thể!

Tết qua, tôi trở lại Định Tường, đổi nhà trọ, xuống gần bến đò bên kia sông là chùa Vĩnh Tràng, gặp Hoa, người yêu đầu tiên ở đó. Nhưng không còn bao giờ tôi gặp lại bà-già-đậu-lép nữa. Bà chưa chết. Tôi không dám nghĩ rằng bà đã chết. Tôi năn nỉ bà đừng chết. Bà đang bưng rổ bán đậu phọng ở một bến xe đò khác, ngoài ngã ba Trung Lương chẳng hạn. Có thể bà bị lấn ra xa, nhưng bà chưa chết. Bà đang cầm gói đậu phọng đưa lên cao, dù không ai mua. Bà đang mặc cái áo blouson trắng dính mực, coi rất kỳ cục. Nhưng bà chưa chết. Cũng như bà già cà-rem – má tôi. Bà cũng chưa chết. Bà đang ngồi chồm hổm bán cà-rem ở một trường tiểu học khác nào đó, ở Cai Lậy chẳng hạn. Chỉ chờ bạn ngó, tôi ngó, thằng nhóc nào đó ngó là bà đưa cái chuông bóng lộn lên lắc leng keng, cười móm, mời mọc, ngọt sớt.

Có thể bà vẫn còn ngồi đó, dù không ai mua cho bà cây cà-rem đậu xanh. Có thể bà vẫn còn bưng rổ đứng đó, dù không ai mua cho bà gói đậu phọng lép. Có thể bà vẫn còn lom khom đi lượm lon trong xóm Hàng Xanh, dù không ai chỉ cho bà nhà ông Đa. Nhưng mọi người vẫn còn đó. Những bà-già-quê-hương, những ‘‘Mối Tình Đầu’’ thiệt sự của tôi, vẫn còn đó. Cho dù bạn vô tình hay thờ ơ không ngó thấy.

Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy.
Ngoài giời mưa bụi bay
…/

Kiệt Tấn

Nguồn: văn học nghệ thuật

 

 

Lời Thơ Còn Mãi & Cha Đi - Nguyễn Thị Châu

LỜI THƠ CÒN MÃI

 














Tôi đọc bài thơ anh để lại

Lòng tôi xúc động mắt rưng rưng

Nhớ anh nắm chặt tay buồn bã

Mắt nhoà lệ chảy mãi không ngừng

 

Tôi biết tình ta không thể rời

Mộng ước ngày mai sống chung đôi

Chiến tranh chia cắt tình đôi ngả

Giấc mộng bên nhau cũng mất rồi

 

Đọc lại bài thơ đã bao lần

Nỗi lòng buốt giá lẫn bâng khuâng

 Nhớ anh nhớ cả lời thơ cũ

Nhớ bóng anh về tới ngoài sân

 

Thanh Xuân nay đã không còn nữa

Mái tóc mây bay phủ trắng đầu

Lời thơ ngày ấy anh than thở

Nay đã theo người dưới mộ sâu…!!!

 

7-5-2025

Nguyễn thị Châu

 

CHA ĐI…

 















Con ơi! Con ngủ cho ngon

Niềm đau máu thịt cha còn nặng mang

Cha đi chinh chiến gian nan

Nhưng nào xá quản dặm ngàn gió sương

Chia ly gieo rắc bốn phương

Hoả châu còn cháy quê hương còn buồn

Quê mình giọt lệ còn tuôn

Bao người gục xuống đừng buồn nghe con

Dẫu rằng nước chảy đá mòn

Quân thù còn đó cha còn ra đi….

 

Ý thơ lai láng là con đó

Biết nói sao vừa nỗi nhớ thương..  !!

 

7-5-2025

 Nguyễn thị Châu

 *Bài thơ nầy của người Lính Xa vợ con .

Viết sau tấm ảnh của con trai khi anh còn trên đất Quãng Trị   1969

Trong đó bài ( Cha Đi ) là của ông xả tôi dể lại

 *Rất tiếc bức ảnh và bài thơ viết tay, không gắn kèm vào đây vì nó quá lớn (NC).

  

Tuesday, May 6, 2025

Tiếng Dương Cầm - Đinh Hùng

 Tiếng Dương Cầm 



30 Tháng Tư - Nguyễn Thụy Long

 

30 THÁNG TƯ



 

Lại sắp đến ngày 30 tháng Tư, trên đất nước tôi người ta kỷ niệm ì xèo ngày “chiến thắng vĩ đại, giải phóng miền Nam , thống nhất đất nước”.  Từ cả tháng trước, ngày nào người ta cũng nhắc đến chiến thắng ấy của dân tộc, phỏng vấn những tướng lãnh chỉ huy trận đánh về chiến lược, chiến thuật, những chiến sĩ anh hùng, tất cả đều được đưa lên báo đài, cả những trang web bay đi khắp thế giới.  Buổi sáng tôi dậy sớm nghe đài nước ngoài, chương trình Việt ngữ, nhưng bị phá sóng nhiều quá, nghe câu được câu không.  Cũng ngày ấy cộng đồng người Việt trên thế giới làm kỷ niệm, nhưng gọi bằng nhiều cách khác nhau, ngày quốc hận, hay gì gì đó còn tùy.
Cũng ở trên đài Á Châu Tự Do tôi nghe cuộc phỏng vấn một đạo diễn trẻ người Việt Nam ở nước ngoài, làm một cuốn phim về ngày bại trận 30 tháng Tư lấy tên là ngày giỗ.  Anh và các bạn anh thiếu thốn rất nhiều tư liệu về ngày hôm ấy, nhưng chắp vá và lấy kỷ niệm của những người lớn chứng kiến vào thời ấy rồi cũng xong.  Bởi tại ngày anh ra đi, rời Việt Nam anh còn quá trẻ, tuổi đâu khoảng 13 hay 14 chi đó, nhất là anh không có kinh nghiệm tham gia vào cuộc bại trận ấy.
Người đạo diễn thanh niên này còn có tham vọng làm cuốn phim khác nữa sau khi chế độ Việt Nam Cộng Hoà xụp đổ, về những trại tù khổ sai mà người ta gọi là trại cải tạo.  Tôi hy vọng anh ta và nhóm của anh có tâm huyết thì cũng xong, có thể thành công.  Việt Nam trong cuộc chiến vừa qua có rất nhiều tư liệu quý giá, tôi đã dược xem một cuốn phim do Mỹ sản xuất lấy tên là Trời và Đất.  Cuốn phim đã nói lên được thân phận Việt Nam giữa các thế lực, thân phận con người Việt Nam đáng thương.
Tôi là một người Việt Nam, sống và lớn lên, trưởng thành trong thời buổi ấy, thời buổi đau thương nhất của đất nước, nay lại sống suốt 29 năm trong chế độ, sắp sửa 30 năm, chưa một lần bị ngắt quãng, vì không ra nước ngoài, hay đi đâu xa khỏi Việt Nam.  Tôi là dân bại trận ở lại Việt Nam.  Tôi không có gì ca tụng về ngày 30 tháng Tư ấy, nhiều đau thương hơn thì có, gia đình tôi ly tán cũng vào ngày ấy.  Đàn anh của tôi nhà văn Chu Tử, chủ nhiệm nhật báo Sống bị giết chết lúc 10 giờ sáng ngày 30 tháng Tư năm 1975, trên chiếc tầu di tản mới chạy ra được đến cửa biển Cần Giờ.
Hàng năm tôi chúng tôi làm giỗ anh Chu Tử vào ngày đó, sau này không biết vì lý do gì, đổi sang ngày âm lịch là ngày 19 tháng ba (trùng với ngày 30-4-1975).  Có phải vì người ta đang ồn ào làm lễ kỷ niệm chiến thắng mà mình lại làm giỗ, than khóc và tưởng nhớ đến người đã chết là chướng quá không, vì vậy gia đình ông Chu Tử mới đổi ngày giỗ cho yên.  Tôi cũng không bỏ một buổi giỗ nào của ông Chu Tử, dù có đổi ngày, nhưng dù làm vào ngày nào anh em chúng tôi ngồi với nhau, nhắc lại và nói về những kỷ niệm là ngày 30 tháng Tư năm 1975, gia chủ tổ chức giỗ ông Chu Tử cũng không có ý kiến gì, buổi giỗ ấy anh em chúng tôi tự do hoàn toàn.  Những buổi giỗ ông Chu Tử sau này vắng bóng dần những người anh em thân thiết của ông, người thì ốm đau bệnh hoạn đi không nổi, người thì đã “dạo chơi tiên cảnh” khỏi “cõi tạm” đầy đau thương này.  Như Tú Kếu, như nhà văn Mặc Thu, như ông Khai Trí Nguyễn Hùng Trương, vì ông mới qua đời.
Nhà báo Phan Nghị ở buổi giỗ nào còn oang oang kể lại kỷ niệm với chủ nhiệm Chu Tử, nay cũng đã vắng bóng anh.  Một đàn em thân thiết như Đông con tuổi còn rất trẻ cũng không còn nữa.  Nhưng buổi giỗ vẫn đông đảo, tôi thấy có những anh em từ nước ngoài trở về, những Việt kiều đó ra đi do vượt biên hay diện HO, những điện thư từ khắp nơi trên thế giới gửi về cho gia đình con cái ông Chu Tử để tưởng nhớ ông.
Tôi đã qua 29 lần kỷ niệm vể ngày 30 tháng Tư trên đất nước “Xã Hội Chủ Nghĩa VN”, kể ra thêm mệt nhưng không thể không kể.  Tôi kiêu hãnh nói rằng tôi là một trong những nhân chứng lịch sử, tôi vừa là nhà văn nhà báo, nói có nhận xét, dù rằng cái nhận xét của riêng mình, nhưng đúng về mặt người cầm bút thì phải công bằng và chính xác, tôi phục vụ cho nghề nghiệp và lý tưởng của nhà văn nhà báo chân chính, không phục vụ hoặc làm bồi bút cho tổ chức hay đảng phái nào đó.
Đối với tôi thì ngày 30 tháng Tư nào tôi cũng buồn, một người Việt Nam đang sống trên quê hương mình, tôi tự hỏi, được chứng kiến những giây phút lịch sử trọng đại, đất nước Việt Nam thống nhất quang vinh như thế mà buồn sao?
Sau đợt lùa những sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hoà bại trận đi học tập cải tạo, đến lượt văn nghệ sĩ chế độ cũ, và các vị chức sắc tôn giáo vào những trại tập trung dài dài từ Bắc chí Nam.  Các ông cai ngục, cai tù được gọi là quản giáo, cán bộ dậy bảo, giáo dục cho các phạm nhân lầm đường lạc lối hiểu biết đường lối của đảng, của cách mạng, và không ai có án rõ ràng, khi được tha về phạm nhân được phát cho cái giấy ra trại.  Đọc qua giấy này họ mới té ngửa ra lúc mới biết tội danh của mình và thời gian học tập cải tạo là bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng có khi còn bị ăn gian.  Còn người ở lại được nhà trại nói lấp lửng chừng nào “học tập tốt” thì về.  Có người phải ở trong tù vài chục năm vì bị nhà nước cho rằng họ chưa được tốt.  Tôi không hiểu người ta dựa vào tiêu chuẩn nào gọi là tốt và xấu để giam giữ người vài chục năm như vậy, với lời kết án thật mơ hồ.
Tôi bị bắt nóng ngoài đường, không bị liệt vào hàng ngũ văn nghệ sĩ phải học tập cải tạo, mà với một tội danh khác, tổ chức phản động, một tội rất dễ chết.  Khốn nạn cho cái thân tôi, thời chế độ cũ đi lính binh nhì không xong, mà nay lại là người tổ chức chỉ huy một trung đoàn, có tên trung đoàn Quyết Thắng trong hồ sơ phản động của tôi.  Tôi bị tra tấn, bị đánh và những người tra tấn tôi ngày nào cũng bắt tôi phải khai ra cái trung đoàn Quyết Thắng này ở đâu.  Vì bỗng nhiên mình lại mang một tội danh “oai” như thế, một trung đoàn trưởng, nên tôi cũng phải phì cười sau những trận đòn tra tấn thừa sống thiếu chết.
Tôi cũng không biết người ta phong cho tôi, chức gì, cấp bậc nào, tướng hay tá trong trung đoàn mà tôi bị đứng vào hàng “chủ xị”.  Một trung đoàn không có quân số, không doanh trại không có cả chiến khu kháng chiến.  Bản lấy cung của tôi bị bỏ dở dang, không có tôi ký tên nhận tội.  May quá thế là tôi thoát chết, tôi đã thấy nhiều người bị chết, bị mang ra xử bắn vì những tội danh bá vơ ấy.  Tôi nói với bạn bè đồng tù:
– Dù tao có là thằng nhà văn nhà báo ngu dốt cũng không bao giờ đặt cái tên trung đoàn Quyết Thắng cho tổ chức quân sự của tao, vừa quê vừa thối.  Ai cũng biết các khẩu hiệu quyết thắng, quyết chiến, quyết tử, quyết sinh là sản phẩm của các anh Việt Minh, các anh đã xài mòn teo ra rồi, từ thời kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp kia, rồi đến thời chống Mỹ cứu nước xài lại, nay không biết dùng làm gì nữa thì gán đại cho tao.  Tao biết ngay các anh độc lắm, lại một trò chụp mũ buộc tội cho người khác để mang ra xử theo luật rừng.
Tôi lênh đênh qua nhiều nhà giam ở thành phố, rồi mới đưa lên trại học tập trên rừng, an tâm học tập cải tạo ở nơi đó, bao giờ học tập tốt thì được về xum họp với gia đình.  Nhà nước, nhà cầm quyền nói như thế.  Chúng tôi ngắc ngoải sống trong lao động khổ sai, nhiều anh em kiệt lực gục xuống bỏ xác trong các trại tù.  Thân phận chúng tôi như những nô lệ trong phim Tần Thủy Hoàng xây Vạn Lý Trường Thành hay những nô lệ xây Kim Tự Tháp Ai Cập.
Nhiều lần đào cuốc trúng mìn ngoài bãi lao động, mìn nổ thương vong vô khối, nhưng được giải thích là mìn đó là của Mỹ Ngụy gài lại để giết nhân dân.  Bây giờ chúng tôi có chết có thương vong thì cũng chỉ là “gậy ông đập lưng ông” thôi.  Chúng tôi nhiều lần đề nghị với ban quản giáo xin được tự gỡ mìn để khỏi gây hại cho phạm nhân, nhưng được lãnh đạo trại “nhân đạo” từ chối, vì sợ mất thì giờ lao động sản xuất kiếm ra của cải cho đất nước chúng ta còn nghèo.  Đồi nghĩa địa chật kín những mồ hoang của anh em chúng tôi.  Sáng đi lao động, chiều về nhìn mặt trời gác bóng trên sườn núi Chứa Chan mới biết mình còn sống, mong sớm có ngày ra xum họp với gia đình.
Tôi không nhớ rõ là mình ăn đến mấy cái ngày kỷ niệm 30 tháng Tư trong trại cải tạo, vì từng bị bắt lên bắt xuống, như bắt cóc bỏ đĩa, tha rồi lại bị bắt lại.  Ngoài cái tội phản động, tôi còn tội phản quốc bỏ quê hương mà trốn đi, tức là tội vượt biên mà không thoát.  Phải chi ngày đó tôi trốn thoát, thì bây giờ được nhà nước ưu ái gọi là Việt kiều được phép trở về thăm quê hương, được nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa, mấy anh Việt cộng từng đánh đấm bỏ tù, từng kết tội tôi là Việt gian sẽ ngọt ngào khuyên tôi quên chuyện cũ nên đóng góp tất cả những gì tôi đang có để giúp cho đất nước quê hương Việt Nam mà các anh đang cai trị.  Tôi đã thấy những cuộc tiếp đón long trọng những Việt kiều trở về thăm quê hương được diện kiến những lãnh đạo trong nước và họ được huy chương, và được ca tụng vì những đóng góp của họ đã được truyền thanh truyền hình đi khắp mọi nơi.  Họ thành người yêu nước, có ẩn chứa yêu đảng cầm quyền.
Trong trại học tập, ngày 30 tháng Tư mỗi năm được tổ chức xôm tụ lắm, mà anh em chúng tôi gọi là ngày “đứt phim”.  Từ ba giờ sáng một số trại viên có tay nghề trong việc nấu nướng đã được điều lên nhà bếp để thọc tiết heo mổ bò làm đồ ăn, thổi cả cơm nữa, hương cơm phảng phất khắp trại làm các trại viên chúng tôi tỉnh cả ngủ, dù là hương gạo mốc, không phải gạo Nàng Hương chợ Đào.  Những hương vị âm thanh hấp dẫn đó làm chúng tôi trở nên háo hức, vì chúng tôi là những kẻ thường xuyên ăn đói mặc rách, cả năm chỉ ăn khoai ăn sắn có biết cơm thịt là gì đâu, sức lao động vị vắt kiệt từng ngày, nay có cơm thì mừng quá.  Bao nhiêu năm qua chúng tôi sống trong một miền Nam trù phú lúa thóc không bao giờ thiếu, người nông dân chỉ trồng một mùa cũng ăn được mấy năm. Mà nay phải thèm và nhớ cơm, tưởng tượng cũng không ra được bát cơm nó thế nào?  Tôi nói có quá không?  Nhưng cũng không xa sự thật là mấy.
Ngày hôm ấy chúng tôi được nghỉ lao động và sang ngày hôm sau là ngày quốc tế lao động 1-5, vị chi là hai ngày được ăn được chơi trong vòng rào giây thép gai.  Chúng tôi được nghe chính trị viên của ban quản giáo giảng giải cho nghe ngày chiến thắng 30 tháng Tư.  Nhưng chỉ là chuyện nước đổ đầu vịt, chúng tôi chỉ nghĩ đến kỷ niệm của chúng tôi vào ngày ấy.  Buổi trưa chúng tôi được ăn một chén cơm, miếng thịt heo hay thịt bò chi đó bằng ngón tay, chan tí nước xốt cho mặn miệng.  Lòng lợn tiết canh mang lên nhà khung cho ban giám hiệu và thủ trưởng đon vị xơi, uống rượu hút thuốc.  Lòng nhân đạo của đảng vô biên, không thể nói hết được.
Về phía các học viên chúng tôi thì sao, cũng chia ra mấy phe trong cuộc ăn uống ấy, không phải tranh nhau ăn, mà cách ăn uống cũng khác lạ.  Có phe còn nặng lòng với chế độ cũ mà anh đã phục vụ, nay trở thành bại tướng trong ngày 30 tháng Tư, nhất định không ăn đồ ăn của “kẻ thù” ban phát mà ăn gì đó với muối.  Phe thứ hai lấy đồ thăm nuôi của mình ra mời anh em ăn sạch.  Phe thứ ba ăn ráo những gì được ban phát với lý luận: “Ta ăn thứ này là của ta làm ra, chẳng ăn chực thằng nào hết, gạo này chính ta làm ta cấy cầy, thịt này cũng chính chúng ta chăn nuôi, không ăn là dại.  Ăn bám, ăn trên xương máu chúng ta là những thằng cai tù chứ không phải chúng ta.  Lý luận nào cũng đúng cả, không ai đụng chạm tới ai.
Anh chán đời ngồi quay mặt vào tường “diện bích” hết ngày 30 tháng Tư là chuyện của anh.  Tự do của mỗi cá nhân được tôn trọng tuyệt đối, nên cuộc ăn uống ấy cũng diễn ra êm thắm, không phải tinh thần xôi thịt mổ cãi nhau như mổ bò ở các đình làng nhà quê.  Dù sao tôi cũng nể các anh cải tạo chịu ăn cơm muối lắm,các anh còn có liêm sỉ và sĩ khí của một chiến sĩ, tôi không thể đánh giá thái độ ấy là sai hay đúng.
Tôi lại nghĩ đến những anh hùng trong sử sách, đến một Hoàng Diệu, tuẫn tiết theo thành Thăng Long khi quân Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ nhất.  Một Nguyễn Tri Phương không chịu cho kẻ thù buộc vết thương khi Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ hai.  Một Võ Tánh chất củi tự thiêu khi bại trận.  Một Trần Bình Trọng thà làm quỷ nước Nam hơn làm vương đất Bắc.
Trong đời làm báo của mình, trong trận chiến cuối cùng ngày 30 tháng Tư, tôi đã thấy những người lính Nhẩy Dù trại Hoàng Hoa Thám ở ngã tư Bảy Hiền ôm nhau cho nổ lựu đạn để cùng chết bên nhau, sau khi có lệnh đầu hàng vô điều kiện của tướng Dương Văn Minh.  Và sau đó hàng loạt tướng tá của chế độ Cộng Hoà ở miền Nam tự sát khi nghe lệnh đầu hàng của “tổng thống” tạm quyền.  Tôi chắc chắn rằng sử sách có ghi lại, dù rằng chế độ ấy thua trận và bị bôi nhọ suốt bao nhiêu năm trời, bị vu cáo là có bao nhiêu tội lỗi với “nhân dân”.  Chính sử không thuần ở trong tay kẻ chiến thắng, mà ở trong lòng mọi người trên đất nước này, không thể bóp méo, không thể như cục đất sét muốn nặn hình gì theo ý họ.  Còn những thương binh của chế độ Cộng Hoà sau khi bại trận ngày 30 tháng Tư năm 1975 thì sao?  Tôi đã thấy họ bị đuổi ra khỏi quân y viện Cộng Hoà chiều ngày 30 tháng Tư lịch sử ấy.  Anh mù cõng anh què.  Anh đổ ruột vịn vai anh cụt tay.  Họ đi hàng hàng lớp lớp suốt một quãng đường dài, đau thương lắm, tiếc rằng không một phóng viên nhiếp ảnh nước ngoài nào chụp được một tấm hình.  Cái máy hình của tôi chụp được mấy tấm thì bị đập bể tan nát, suýt nữa thì tôi nguy hiểm đến tính mạng vì những kẻ trở cờ theo đóm ăn tàn, hoặc những tên lưu manh mà xã hội nào cũng có, mà hồi ấy chúng tôi gọi cái đám ấy là cách mạng 30, nghĩa là mới gia nhập cách mạng vào ngày 30 tháng Tư năm 1975.  Họ đang khao khát lập công để tìm cho mình một chỗ đứng, hoặc được một tí ân huệ bố thí.
Tôi đã trải qua hai mươi chín cái ngày 30 tháng Tư, chỉ còn ít ngày nữa thì tròn 30 cái ngày kỷ niệm.  Sao trong đầu tôi lẩn quẩn hoài về những kỷ niệm đau thương ấy, những người thương binh của chế độ Cộng Hoà sau khi bi đuổi ra khỏi quân y viện Cộng Hoà.  Họ đi về đâu?   Mắt tôi nhìn thấy có những người thương binh kiệt lực, kiệt sức ngã ngay trên đường đi, trên lối cổng ra vào quân y viện và tôi đã nhìn thấy những giọt nước mắt uất hờn còn đọng trên đôi mắt của những người thương binh này.  Trong ngàn vạn con người ấy thế nào không có kẻ sống sót, tôi cũng đã thấy anh mù giắt anh què hát rong ngoài đường, xin đồng tiền bố thí của đồng bào.  Họ bị quên lãng đã ba chục năm nay, nên có sự công bằng cho người chết thì cũng nên lo cho người còn sống, họ cũng đã hy sinh một phần thân thể trong cuộc chiến nồi da xáo thịt này.  Người ta đang nói tới chuyện phục hồi Nghĩa Trang Quân Đội ở trên Biên Hòa.
Không biết chuyện này rồi sẽ đi đến đâu.  Tôi là người sống ở Sài Gòn đã gần 30 năm, nghe tin ấy tôi đã mong muốn được thăm nghĩa trang quân đội xưa vì có người thân đã chôn xác ở đó.  Nhưng theo tôi biết đâu phải ai cũng được tự do ra vào để tưởng niệm người đã chết, ý nguyện của tôi không được chấp nhận.  Người ta nói phục hồi nghĩa trang quân đội chế độ cũ, phục hồi thế nào tôi không biết, tôi thắc mắc trong việc làm ấy họ có phục hồi pho tượng Tiếc Thương bị giật đổ trước cổng nghĩa trang quân đội từ ba chục năm trước không.  Sau 30-4-1975 hàng loạt tượng đài bị giật xập, và nay nghĩa trang sẽ để tên gì cho phải đạo làm người, mồ mả còn không.  Tôi nghe mất mát cũng nhiều lắm, nếu còn thì là những nấm mồ hoang, kẻ nằm dưới đất kia là kẻ có tội, không ai được quyến thăm viếng vì thăm viếng là bị “văng miểng”.  Tôi chỉ mong muốn được đến đấy, thắp lên một nén nhang tưởng niệm, dù mồ mả của những người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà có còn hay đã mất.  Tôi cho chuyện làm ấy hay lời hứa hẹn ấy là phiêu, chẳng có gì xất cả.
Tại tiệm phở Hòa, một tiệm phở nổi tiếng cuối đường Pasteur trong thành phố Sài Gòn, tôi thường gặp một anh bán báo, cụt cả hai tay, hai tay cụt đó được ráp hai tay sắt inox có kẹp, thao tác rất gọn ghẽ, anh kẹp những tờ báo đưa cho khách hàng hoặc nhận tiền, thối lại tiền bán báo.  Không biết anh bán báo ở đó đã bao nhiêu năm.
Một hôm anh mời tôi mua báo.  Tôi lấy tiền ra biếu anh, vỉ sáng nay tôi đã mua báo ở sạp báo gần nhà.  Anh ta nhìn tôi khẽ lắc đầu:
– Không, cám ơn ông tôi không thể nhận được.
– Vậy tôi mua báo. Tôi hỏi anh.
– Vâng ông chọn tờ nào?
Tôi chọn đại một tờ trong xấp báo mà anh ta ôm trên người, tôi đưa tiền cho anh ta, nói:
– Thôi anh khỏi phải thối lại.
– Vâng cám ơn ông.
Tôi nhìn kỹ anh ta hơn, tôi hỏi thăm về hai tay anh.  Anh ta nói:
– Tôi không bị tai nạn mà là thương binh chế độ Cộng Hoà
– Anh thuộc binh chủng nào hồi trước?   Tôi hỏi tiếp.
Anh ta không trả lời về binh chủng của anh chỉ nói:
– Hồi đó tôi bị thương cụt cả hai tay ở mặt trận Bình Long, họ làm cho tôi hai cánh tay này và tập cho tôi cách xử dụng.  Gần ba chục năm nay tôi đi bán báo để sinh sống.
Vì lý do gì đó anh không nhắc tên binh chủng của mình.  Nhưng khi tôi nói tên của vị tướng chỉ huy mặt trận, mắt anh ngời sáng.  Tôi không ngờ đã mấy chục năm qua anh không quên và dành cho cấp chỉ huy mình sự tôn kính chân thành.  Tôi ngưỡng mộ anh là người dũng cảm, liêm sỉ từ tư cách đến việc phải kiếm sống, làm một con người.  Đó là điều hiếm có, ít có ai sống trong đất nước Xã Hội Chủ Nghĩa dám biểu lộ cái tinh thần quật cường ấy.  Có ngài Việt kiều ngày xưa từng giữ những chức vụ quan trọng, từng là “cựu” này “cựu” kia, ngày “đứt phim” chạy có cờ, bỏ đồng đội bỏ của chạy lấy người, nay về thăm quê hương phát biểu linh tinh chả ra cái giống ôn gì, so ra tư cách của ngài với anh chàng thương binh này, cách xa một trời một vực, thật là quá chán.  Tôi nói với anh:
– Anh rất can đảm, tôi ngưỡng mộ anh.
– Có gì đâu, tôi còn thua ông tướng chỉ huy chúng tôi.  Anh cười nhũn nhặn.
Tôi nghĩ đến tướng Lê Văn Hưng, tướng tử thủ ở Bình Long Anh Dũng, người không trốn chạy mà tự sát như một số tướng lãnh khác của chế độ Cộng Hoà ngày 30 tháng Tư, sau khi “tổng thống” Dương Văn Minh đầu hàng vô đìều kiện.
Báo đài ngày nào cũng có bài ca tụng về ngày lịch sử 30 tháng Tư, ngày chiến thắng vĩ đại của dân tộc, ngày chấm dứt chiến tranh, thống nhất đất nước.  Đoàn quân chiến thắng kéo quân vào thành phố được sự đón tiếp nồng nhiệt của nhân dân thành phố, cùng nổi dậy với cách mạng, bao nhiêu người ra phất cờ chào đón đoàn quân.  Một hoạt cảnh mà tôi, một phóng viên chiến trường đã hết thời, ghi nhận được đúng ngày hôm đó.
Cuộc bại trận nhanh quá, nhanh đến độ dân Sài Gòn phải ngỡ ngàng.  Kẻ nào không chạy thoát theo những chuyến di tản thì đổ ra đường xem đoàn quân chiến thắng đi dép, đội mũ cối hay mũ tai bèo vào thành phố.  Có những xác người dân hoặc lính chế độ cũ chưa được thu nhặt còn sót ở những góc đường, trên những quân trang quân dụng ném đầy trên đường đi, cả vũ khí nữa chưa kịp thu nhặt.
Những con người đang đứng ngơ ngác ngỡ ngàng ở đó, bị nhét vào tay những lá cờ giấy, và anh “cách mạng” đeo súng mang băng tay đỏ mặt gườm gườm những kẻ không nhiệt tình vẫy cờ chào đón anh bộ đội cụ hồ tiến vào thành phố.  Tôi thấy một người đàn ông cũng bị nhét vào tay một lá cờ, một anh mang băng đỏ đeo súng ra huých vào sườn người đàn ông đó một cái.  Ông ta có lẽ hiểu ý liền nhẩy cẫng lên phất cờ lia lịa, mồm la hoan hô tưng bừng.  Thế cũng là quá đủ, tôi lủi vào đám đông kiếm đường chạy về nhà.  Ngoài kia những dòng người dầy đặc dần trên đường, có người đang tìm kiếm người thân, người tung hô những khẩu hiệu chiến thắng, người ngơ ngác ngẩn ngơ đứng nhìn.  Họ không chịu tin vào sự thực là Sài Gòn bị thất thủ.

Nguyễn Thụy Long

3O4 Llttm - OVV