Sunday, October 5, 2025

Trang Chữ Phù Sa -

 

TRANG CHỮ PHÙ SA



Năm một chín bảy ba, sau hiệp định Paris, Tuyển cũng vừa xong sư phạm, cấp tiểu học. Anh và các bạn đồng môn phải bốc thăm nơi đi dạy.

Mảnh giấy mở ra trong tay anh, lem nhem hàng chữ đánh máy: Huyện Vàm Cống, tỉnh Vĩnh Long. Nét mặt anh thoáng rực lên. Vĩnh Long dẫu sao cũng là đất quê ngoại.

Trường quê nằm ven con sông hẹp, đục quánh phù sa, vỏn vẹn 3 lớp Năm Tư Ba. Mái và vách lớp lợp lá chằm, xây trên miếng đất nện đắp cao. Sân chơi là một khoảnh đất hẹp phía trước, trồng 3 cây điệp. Giữa sân, một cột cờ dựng trong vuông đất con trải ngói đỏ đập vụn, chung quanh lót gạch nung, nơi đám học trò xếp hàng kéo và chào cờ, đồng thanh hát quốc ca mỗi sáng thứ Hai. Phía trước, ven lộ đất, một hàng rào bùm sụm tươi lá. Cổng trường gỗ tạp, phía trên  đóng tấm bảng gỗ vòng cung sơn xanh, kẻ hàng chữ đen sờn tróc: “Trường tiểu học Vàm Cống”.

Ông Mười Rạng, một giáo viên tiểu học về hưu, làm hiệu trưởng, có nhà và vườn cây ăn trái cách trường chỉ một con mương. Quản gia kiêm giám thị là chú Chín Cò ốm o, nước da nắng ăn đen thui, mốc thếch, mùa mưa cũng như mùa nắng, lỏng khỏng trong chiếc áo sơ-mi dài tay tưa sợi màu xám tro và chiếc quần nông phu màu đất bùn, mấp mé ngang mắt cá. Chú cùng gia đình, một vợ 3 con, sống đùm dụp trong chéo nhà cất bên ao nước trồng súng phía sau trường. Ba đứa con của chú cũng là học trò của trường, thằng Bậu là anh Hai theo học lớp Tuyển. Ban giáo viên trường gồm có cô Hường dạy lớp Năm, thầy Lực dạy lớp Tư và anh, phụ trách lớp Ba. Lớp của anh tất cả 34 học trò, 25 nam, 9  nữ, tuổi tác chênh lệch. Thằng Sửu lớn tuổi lớn xác, hớt tóc muỗng dừa, tướng tá lực điền, đi chân không, mép lún phún râu măng, đi đứng và ăn nói lanh lợi, được bầu làm trưởng lớp.

Bữa nọ, sau giờ học, theo thông lệ Tuyển cất tiếng:

“Các em, có ai muốn hỏi gì không?”

Đám học trò đưa mắt ngó nhau. Chộn rộn một đỗi, thằng Sửu ngồi bàn cuối lớp đứng lên, khoanh tay:

“Thưa thầy, em muốn… muốn…”, thằng học trò lắp bắp, “…trình thầy chuyện nầy.”

Cả lớp sột soạt quay lại, ngó Sửu chăm bẳm.

“Chuyện gì?”, Tuyển mau mắn.

“Dạ, … dạ, …”, Sửu lúng túng, rồi thốt mau như sợ quên, “…chuyện em phải nghỉ học.”

Đám học trò đồng loạt ngoác miệng cười lớn. Đứa nầy hích vai đứa kia, khúc khích. Tuyển còn lưỡng lự, chưa biết phải nói sao thì vài đứa đã lanh chanh:

“Nó đi lấy vợ đó thầy!”

“Thằng Sửu lên xe bông, tụi bây ơi!”

“Con Quẻm dính bầu với thằng Sửu, thầy ơi!”

Tuyển cố nín cười, phất tay:

“Các em im lặng. Sửu, em định nghỉ học vì chuyện gì?”

 Mặt Sửu đỏ gay, đầu cúi gằm, lí nhí:

“Tía má em… bắt em ở nhà đi làm ruộng… Nhà đông anh em. Em là con trai lớn… cho nên tía má kêu em ở nhà phụ hợ chuyện nầy, chuyện nọ… Ổng bả còn bắt em… lấy vợ.”

Tiếng cười vang lên rần rần.

“Rồi chừng nào em nghỉ học?”

“Dạ, em cũng chưa biết… Chắc tới mùa gặt, em nghỉ. Khoảng tháng Mười, thưa thầy.”

-oOo-

Lúc Tuyển dọn về đây, trong khi tìm chỗ trọ, anh xin phép hiệu trưởng Mười Rạng được tá túc tạm trong trường. Anh đưa tiền cho vợ ông Chín Cò đi chợ, nấu cơm. Ông Chín Cò đem cho anh một chiếc giường gấp, vải bố, bốn góc cắm cột giăng mùng, chỉ anh cách lắp ráp. Chủ Nhật, Tuyển nhờ thằng Sửu dẫn ra chợ mua tấm chiếu trơn, cái gối kê đầu, một cái gối ôm và một cây đèn trứng vịt. Lần sau, anh đi một mình, mua thêm cây viết nguyên tử, xấp giấy pơ-luya, mớ phong bì.

Đêm nay trăng sáng. Không một miếng gió. Không gian tĩnh mịch, trong vắt như bầu nước giếng. Lâu lắm, vẳng lại từ xa tiếng đại bác ầm ì, nhói đau như kim chích. Như mọi đêm, ăn cơm xong, Tuyển ra ngồi hóng mát thẩn thơ trong sân trường, uống trà, hút thuốc. Tiếng côn trùng réo rắt lẫn cùng tiếng ếch nhái uềnh oang. Tâm trí anh rỗng rang như hộp trống. Giây lát dấy lên từ đáy lòng chút rung cảm vu vơ. Những thanh âm, những hình bóng, những khuôn mặt nhập nhòe vào nhau, thoáng hiện thoáng mất. Tuyển rùng mình nhận ra ý thức anh vừa khẽ chạm nỗi gì như thể cô đơn với đầy đủ màu sắc, tiếng động, hương vị và xúc cảm. Chỉ một khoảnh khắc, rồi tan biến.

Tuyển rít hơi thuốc sau cùng, dụi tàn thuốc vô đĩa con. Chợt, từ sân sau vẳng lên khe khẽ giọng ai hát một bài vọng cổ. Của ông Chín Cò.

Tuyển đứng lên, đi ra hướng ao súng. Trong hiên nhà gia đình ông quản gia, hắt leo lét ánh đèn dầu, anh thấy ông Chín đang ngồi tréo chưn cạnh chiếc bàn gỗ tạp, gảy đờn tây ban cầm, cất giọng dịu nhiễu một bài vọng cổ. Bà vợ và 3 đứa nhỏ quây quần thẩn thơ bên cạnh. Thấy anh, người vợ đứng dậy, vô nhà xách ra chiếc ghế đẩu, mời anh ngồi. Ba đứa nhỏ cũng đứng lên khoanh tay, gật đầu chào anh, rồi bỏ chạy cười khúc khích vô nhà.

“Hò ơ… Ghe chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm. Công tôi cực lắm, mưa nắng dãi dầu. Chiếu nầy tôi chẳng bán đâu. Tìm cô không gặp, hò ơ… tôi gối đầu mỗi đêm…

Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào bên dòng kinh ngã bảy. Sao cô gái năm xưa chẳng thấy… ra… ớ… ơ… chào…” (1)

Dứt bài, ông Chín Cò quay ngó Tuyển, nhoẻn cười mím chi.

“Thầy có biết đờn không vậy?”

“Biết chút đỉnh thôi ông. Mấy bài tân nhạc.”

Ông Chín Cò đưa cho anh cây đờn, nói:

“Đờn hát nghe chơi, anh giáo.”

Tuyển cầm đờn, búng thử, lên dây, hắng giọng:

“Tôi thương miền quê, nhớ hoàng hôn trên đất xưa. Nghe tiếng tiêu mơ màng chiều hè. Tôi yêu người xưa, áo nâu hương duyên thật thà. Đời mặn nồng hồng lên đôi má…” (2)

Tuyển buông đàn. Vợ chồng ông Chín Cò vỗ tay lách chách.

“Quỷ thần ơi, anh giáo đờn hát điệu nghệ như ca sĩ đài phát thanh Sài Gòn”, ông Chín trầm trồ.

“Anh giáo đi dạy chi khổ vậy? Đi hát kiếm tiền sướng hơn không!”, bà vợ thêm vô.

“Tui thích hành nghề dạy học hơn, ông bà à!”

Vừa khi đó, từ cổng trường, có người bước vô, trên tay cầm khay đựng mớ chén con. Cô gật đầu chào, nói nhỏ:

“Con chào ông bà Chín, em chào anh giáo. Má em ở nhà ở bên kia, nghe được tiếng đàn, giọng hát của ông Chín và anh giáo, nhân lúc nhà nấu chè trôi nước, biểu em múc đem qua mời ông bà Chín và anh giáo ăn lấy thảo.”

Bà Chín nở nụ cười hóm hỉnh, giơ tay đón lấy khay chè thơm ngát hương gừng và nước đường thốt nốt. Đưa chén chè cho Tuyển, bà thì thầm:

“Cô Duyên, con gái lớn của ông bà hiệu trưởng, nấu ăn số một ở huyện Vàm Cống đó thầy.”

Bữa nọ, sau giờ dạy, hiệu trưởng Mười Rạng mời Tuyển lên văn phòng nói chuyện. Ông hỏi anh, nếu thích thì tới ở trọ nhà vợ chồng ông. Nhà ông có căn nhà chứa đồ cũ, mái lá vách ván, chỉ cần dọn dẹp, sửa sang lại, trổ thêm cánh cửa sổ, sẽ thành chỗ ở sáng sủa, tươm tất. Duyên, đứa con gái của vợ chồng tôi sẽ lo việc nấu cơm cho anh. Tiền lương dạy học mỗi tháng của anh sẽ được trừ vô tiền mướn nhà.

-oOo-

Thời gian trôi qua… trôi qua… theo những nghiệt ngã của cuộc nội chiến Bắc Nam dai dẳng, để rồi kết thúc vào một ngày cuối tháng Tư, năm một chín bảy lăm…

Năm ấy, sau ba ngày hai đêm vượt ngàn, Duyên mới tới được trại học tập cải tạo thăm nuôi chồng nằm sâu trong núi rừng Việt Bắc. Tuyển bị đưa tới đây, chỉ vì chức vụ đại úy của anh sau lần tổng động viên năm ấy.

Chờ đợi mỏi mòn, cuối cùng rồi cũng tới lượt Tuyển được phép ra gặp cô. Tuyển ốm và xanh thấy rõ. Gặp lại Duyên, hai mắt anh rực sáng những thương yêu và hy vọng. Thời gian thăm nuôi vỏn vẹn 30 phút. Người quản giáo canh giờ thăm nuôi lần đó chính là thằng Sửu.

Chuyện hy hữu nầy đã được Tuyển kể lại trong một lá thư viết gởi Duyên:

“…Hẳn em còn nhớ thằng học trò tên Sửu học lớp Ba trường Vàm Cống thuở trước. Cái thằng học trò già đầu nhứt trường. Bữa nọ, nó báo tin cho anh và bạn bè cả lớp hay chuyện nó nghỉ học về nhà làm ruộng và lấy vợ.

Sau khi chuyển tới trại nầy, anh nghe kể lại, trong ban quản giáo, có độc nhứt một người nói giọng Nam. Gặp được anh ta, mới vỡ lẽ, thằng Sửu chớ không ai khác. Phải, thằng Sửu lớp Ba trường tiểu học Vàm Cống, tỉnh Vĩnh Long thuở nào. Thấy anh, ban đầu nó chỉ đăm đăm mắt ngó, không nói lời nào. Cho tới hôm nọ, kêu anh lên làm việc, nó mới thủ thỉ tâm sự, giọng nghe như muốn khóc.

“Thưa thầy, cho tới lúc này, em vẫn không bao giờ quên những ngày em theo học lớp Ba trường tiểu học Vàm Cống với thầy. Đó là quãng thời gian, tuy ngắn ngủi, nhưng gắn bó thân thiết nhứt đời em. Giờ đây em mới thấy ra, em đã lầm đường… Nhưng lỡ rồi, em không thể làm khác hơn được. Em chỉ xin thầy tha thứ cho em…”

Thì ra lần đó, nó nghỉ học không phải để đi làm ruộng hay lấy vợ gì ráo, mà cốt để vô bưng theo mặt trận giải phóng.

Khuya ấy, trong giấc chiêm bao bầu bạn cùng anh mỗi đêm, anh không mơ thấy những món ăn ngon hay những lần chăn gối cùng em, mà thấy lại khung cảnh và đám học trò lớp Ba năm nào trong bữa tiệc chia tay thằng Sửu đi lấy vợ. Lần đầu tiên nó sắm đồ Tây với áo sơ-mi dài tay bỏ ngoài quần xà lỏn ngắn xủn, ngó như không bận quần.

Tới màn văn nghệ  bỏ túi, anh mượn cây đờn của ông Chín Cò, đệm cho trò Chanh hát bài “Ngày Tạm Biệt”. Trong chiêm bao, anh nghe tiếng cô nhỏ luyến láy rõ mồn một từng câu, từng chữ:

“Hôm nay đây còn vui trông thấy nhau. Bên tiếng ca, tiếng đàn vượt trời cao. Lời vui thắm thiết đưa trao, như khi mới gặp nhau…” (3)

Và anh cất tiếng hát theo, lớn đến nỗi người bạn tù nằm bên cạnh phải lay anh thức, mới ngưng…

Dù sao đi nữa, anh cũng thấy mình vô cùng may mắn, vì đã gặp được thằng Sửu trong trại cải tạo này. Nhờ nó, mà anh không phải làm những việc nặng nhọc, không thường xuyên bị kiểm thảo tư tưởng, mà còn có thêm chút thịt cá, rau xanh và được hưởng một vài đặc ân khác, để tiếp tục sống còn, nuôi dưỡng niềm tin sẽ tới một ngày được trở về cùng em và hai con. Cũng chính nó đã giúp anh trao tay lá thư này cho một người thăm nuôi, đem về Sài Gòn, tới nhà đưa em, không qua bộ phận  kiểm duyệt…”

NND (08.2025) - Ngô Nguyên Dũng 

(1) Vọng cổ “Tình Anh Bán Chiếu” – Soạn giả Viễn Châu.

(2) “Nhạt Nắng” – Sáng tác: Xuân Lôi.

(3) “NgàyTạm Biệt” – Sáng tác: Lam Phương.

Người chuyển bài – SPSG

* Ghi chú của trang 304Đen: 5 chữ “cuộc nội chiến Nam Bắc” là chữ của tác giả. Xin để tùy người đọc nhận xét.

Thuốc Trường Sinh - Linh Bảo

 

Thuốc Trường Sinh




 

Cụ Lang năm nay đã hơn 50 tuổi nhưng vẫn khỏe mạnh lắm. Cụ bà cùng một tuổi với cụ nhưng trông già hơn nhiều, và suốt ngày chỉ thích quanh quẫn trong nhà ít khi đi đâu. Cụ ông cũng không phản đối vì cụ bà đã bổ khuyết bằng cách cho phép cụ đến nhà các cụ bạn già chơi vài chầu tổ tôm nho nhỏ những lúc cụ rảnh rang. Ngoài ra cụ không được phép có những hành vi “ bất chánh” khác. Dù chỉ khen cô nào đẹp cụ bà cũng đã lên tiếng “ cảnh cáo” trước: “ coi chừng kẻo tôi móc mắt ra”, vì thế nên cụ ông hết sức giữ gìn ý tứ trước mặt cụ bà. Còn sau lưng cụ thì có trời biết được!

Cụ có một bà Hai bí mật rất ít người biết được liên lạc giữa cụ và bà Hai, trước kia là cô Yến, một vũ nữ giải nghệ. Thỉnh thoảng cụ mới đến thăm Yến một lần, và không bao giờ cụ ở lại suốt đêm nên đã hơn 1 năm nay cụ vẫn không mất tín nhiệm đối với cụ bà.

Một hôm Yến bảo cụ:

- Cụ ạ, em có mấy người bạn chầu thánh. Ngài cho thuốc linh lắm cơ. Trị bách bệnh, bệnh gì cũng lành. Nếu không có bệnh hay là người già cả có tuổi như cụ uống thuốc thánh ban ấy cũng trẻ lại, khỏe mạnh như trai thanh niên vậy.

Cụ gạc đi:

- Làm gì có thứ thuốc phản lão hoàn đồng. Tôi bốc thuốc suốt mấy đời cha truyền con nối, bây giờ thằng Cả tôi cũng mở tiệm hốt thuốc, chẳng có thứ thuốc như vậy đâu.

Cô nũng nịu:

- Cụ không biết đấy thôi! Đây là thuốc thánh chứ có phải thuốc trần đâu! Ít người được thánh ban cho thuốc “ trường sanh “ nầy lắm. Em có người “ anh họ” làm cung văn chầu thánh đã lâu, anh em mách cho em biết. Thánh thiêng lắm cơ. Nhưng phải lễ to lắm mới xin được thuốc ấy!

Rồi cô dỗi:

- Hay cụ tiếc tiền! Hay cụ tiếc . . . tiền với em! Thôi thế để em hồi đi vậy, em đã đặt tiền dâng lễ để xin cho cụ rồi đấy! Em cũng không còn mặt mũi nào mà nhìn bà con nữa, thôi để em về quê. . .

Cụ Lang vốn” yếu bóng vía “ thấy cô dọa về quê cụ hốt hoảng lên. Ai lại đi tiếc tiền với người yêu. Mặc dầu thừa biết đấy chỉ là một cách xin tiền của cô, cụ cũng vội móc túi lấy bóp ra tìm kiếm. Tìm mãi cũng chỉ có mấy chục bạc lẻ và 1 tờ giấy 500 cất kỷ trong ngăn cuối. Tờ giấy 500 cụ cố tìm cách tiêu thụ mãi vẫn không trôi. Cụ dúi vào tay Yến dỗ dành:

- Thôi, thôi, tôi có làm gì trái ý em đâu mà em giận. Em cầm tạm 500 này trả lại cho người ta.

Cụ cười bí mật:

- Hôm nay tôi không đem tiền theo, để hôm khác tôi sẽ đưa thêm.

Cô Yến không giận cụ nữa, khi cụ về rồi cô bèn đi tìm bác cung văn, nhân tình cô, bắt hắn xin món “ thuốc thánh” hắn đã hứa với cô từ mấy hôm trước. Bác cung văn cười khà khà:

- Tiền đâu? Bộ cô tưởng “ Thánh “ cho không cô sao? Tôi hát chầu ngài mãi, thân lắm nên mới xin được.

Hắn ghé tai cô thì thầm:

- Nhưng cô phải giữ bí mật nhé, nhiều người biết tôi bị Ngài quở đấy.

Cô Yến nguýt đài một cái, móc túi lấy tờ giấy 500 đưa ra

- Anh thối lại cho em 400.

- Hừ 400 bạc thì nước non gì. Thuốc “ Thánh” bộ tưởng rẻ lắm sao? Thôi chỗ tôi với cô . . .

Hắn móc túi lấy 200 nhét vào tay Yến, giục nàng về để tối nay hắn sẽ cầu thánh ban thuốc trường sanh cho.

Yến ra về, hắn bèn đến hiệu thuốc ông Cả ghé vào tai ông thì thầm:

- cái thứ thuốc hôm nọ . . . hôm nọ . . . ấy mà . . . !

Ông Cả xua tay:

- Hết rồi, hết rồi. Bây giờ thuốc khan lắm.

Hắn năn nỉ:

- Khách hàng thân lắm. Oâng cố để lại cho một ít. Chã nhẽ chổ tôi với ông lại làm khó nhau sao?

Ông Cả làm ra vẻ khó khăn miễn cưỡng:

- Có một ít của người ta đặt chưa lấy. Nhưng giá gấp đôi chứ không phải giá cũ. Thuốc đặt cơ mà! Không lấy thì chịu thôi! Thuốc gia truyền đâu phải dễ!

Hắn ngần ngừ:

- Thế nghĩa là 200 phải không? Thôi được 200. Ông thối lại 300 cho tôi.

Ông Cả cầm tờ giấy 500 xem đi xem lại 1 lúc bảo:

- Tờ giấy 500 này giả. Tôi không dám tiêu. Trả lại ông.

Hắn tái cả mặt:

- Sao? Chết thật! Giả thật à? Sao Yến lại đưa cho tôi? Không lẽ Yến lừa tôi.

- Ông đem trả lại cho cô ấy.

- Không được. Cô ta bảo của cụ Lang đưa cho cô để đi chợ . . . cô ấy là . . . à quên . . . tôi cũng không biết rõ . . .

Ông Cả mĩm cười:

- Cô ấy tên là Yến à?

- Phải tên là Yến. Ông làm ơn . . . làm phúc . . .

Ông Cả cầm tờ giấy bạc xem đi xem lại mãi bỗng ông gật gù:

- Không biết có phải không . . . may ra . . .

Hắn năn nỉ:

- Ông tiêu hộ tôi đi, tôi đội ơn ông lắm, thực cô ấy giết tôi!

Ông Cả làm ra vẽ khó khăn:

- Để tôi thử xem. Đây ông cầm lấy gói thuốc, nếu tiêu được tôi giả lại ông 200, nếu tiêu không được ông phải trả tiền thuốc cho tôi.

Hắn mừng rỡ cầm gói thuốc ra về mồm rũa thầm Yến:

- Đồ ranh con suýt nữa giết ông. Không khéo mất toi cho con ranh ấy!

Bà Cả hỏi ông:

- Thuốc của người ta đặt sao ông lại bán đi?

Ông Cả cười:

- Đặt? Ai dặt? Đồ thuốc bổ thận 20 đồng 1 hộp. Cái lão cung văn này tôi biết, chỉ chuyên môn “ bịp” tiền của gái, mình không “ đập “ nó sợ “ mất lòng” đồng bạc của nó đưa ra.

- Thế còn tờ giấy bạc?

- Bà đừng lo, tôi không lỗ đâu!

Bà Cả béo tai ông:

- Đổi được phải nộp hết cho tôi nghe không?

Ông kêu lên:

- Aùi ái, “ Xin tuân lệnh! Xin tuân lệnh” thả tôi ra.

Cơm nước xong ông Cả đến nhà cụ Lang, cụ bà cho ông biết là cụ ông đi đánh tổ tôm chưa về. Oâng ngồi nói chuyện với mẹ mãi đến khuya, lúc cụ ông thất thểu về đến nhà, ông Cả dìu cụ vào phòng ngủ khẻ bảo:

- Thưa ba, con có một người bạn, hôm nay họ đến tiệm mua thuốc, họ đưa 500 đồng bạc giả nói là của ba đưa lầm, nhờ con đem về đổi lại.

Cụ Lang tỉnh ngay người ra:

- Suỵt, nói khẻ chứ. Mẹ mày nghe tiếng thì chết! Ai thế?

- Cô Yến

- Láo thật. Tao vừa mới gặp nó. Nó mua thuốc gì?

- Dạ mua thuốc bổ thận gia truyền của nhà ta.

Cụ nghiến răng cố nén giận:

- Con bé láo thật! Thế mà dám nói láo với tao là thuốc thánh, thuốc tiên!

Ông Cả cất cao giọng:

- Thưa ba, thế còn tờ giấy bạc?

Cụ Lang cuống quít:

- Nói khẽ chứ, để tao đổi.

Đêm ấy cụ Lang ngủ không được. Nhưng dù sao cụ cũng đành ngậm bồ hòn làm ngọt. Còn than thở với ai được! Cụ cảm thấy mình ngu, nhưng trời đã định như thế rồi! Dù quỷ quyệt đến thế nào đi nữa cũng không chạy đâu cho thoát. Không cách này thì cách khác, tiền của đàn ông làm ra chỉ để cho đàn bà tiêu thôi mà!

Linh Bảo
1958

 

 

 

 

Thursday, October 2, 2025

Trả Đời Trả Người - Thuyên Huy

Trả Đời Trả Người




Tháng Chạp Chim Về - Sơn Nam

THÁNG CHẠP CHIM VỀ

 

Nó hiện ra từ mí rừng phía đông. Ban đầu chỉ là một đốm đen. Ngỡ đó là con chim đầu đàn, tôi chờ đợi những con khác bay theo sau nhưng tôi ngạc nhiên:

-Con diệc này sao bay về có một mình? Thường thường nó bay về nhiều lắm, sắp thành hai hàng như mũi tên, phải không ông Tư?

Con diệc

-Không phải! Không phải đâu!

Ông Tư trả lời cho có chừng. Mắt ông nhướng lên, theo dõi đốm đen cô độc nọ. Ông bước tới bước lui, quay tròn vòng rồi la lên mừng rỡ:

-Nó đó mà! Tội nghiệp quá. Năm nào cũng như năm nào…

Trên ngọn cây gòn, kìa một con chim to tướng đen thui, đầu có đốm trắng, cao nghệu như đứa trẻ lên mười tuổi. Mặt trời đã gác lên mí rừng dọi lên lông cánh của nó, mướt rượt.

-Năm nay nó già đi nhiều… Tội nghiệp!

Khỏi cần lượn vòng quanh, nó cũng nhìn được con rạch Ðường Sân này…

Nóng ruột tôi hỏi:

-Con chi gì mà coi dữ quá vậy ông Tư?

Chim già sói



-Con chim già sói. Thứ này bây giờ ít lai vãng tới miệt Cạnh đền này, chớ hồi đó thì ôi thôi…

-Làm sao bắt nó xuống coi thử. Phải chi mình có súng…

Ông Tư nhìn tôi, nhăn mặt lắc đầu:

-Súng với ống mà làm gì? Ðừng nói bậy, nghe được nó bay đi luôn. Giống già sói gan dạ lắm. Cháu chưa biết sao? Hồi năm đó ông kiểm lâm Rôbe lại đây, cũng vào tháng này gập nó. Ông nổ nghe cái “rầm”, con già sói không thèm nghe, cứ đứng im. Qua phát thứ hai nó ngóng mỏ, coi bộ tức mình bực bội. Tiếng súng thứ ba nổ lên. Già sói nhè nhẹ cất cánh bay đi, buông xuống một cục phẩn, nhè cái nón của ông Rôbe mà rớt trúng. Báo hại ổng mắc cỡ, tôi phải thay mặt con già sói nọ mà xin lỗi ông… Con già sói này sống ít nhứt là năm chục năm rồi. Nó có nghĩa lắm, bỏ sân chim không đành. Hồi năm chục năm về trước, hồi trăm năm về trước rạch Ðường Sân ở Chắc Băng này phồn thịnh lắm.

Vùng Rạch Giá, Hà Tiên nổi danh là nơi tập họp nhiều sân chim, của trời đất dành riêng cho. Từ vàm đến ngọn sông Cái Lớn, bao nhiêu là sân: sân Cái nước, sân Thầy Quơn, sân Thứ Nhứt… Ðó là chưa kể mấy sân ở giữa rừng mà chưa ai bước chân tới. Từng vùng rộng chừng mười ngàn thước vuông, tụ tập hàng vạn con chim lớn.

Chúng nó sanh sôi nẩy nở, tạo lập một thế giới riêng biệt náo nhiệt, ở khắp nhành cây và mặt đất. Dân chúng kéo đến các sân chim này để bắt chim, nhổ lông bán cho ghe buôn từ Hải Nam đến, họ mua về để kết quạt. Ta có thể chia hai loại chim: thứ làm ổ trên cây và thứ làm ổ trên mặt đất.

Làm ổ trên cây thì có chim chàng bè, chim già sói, chim chó đồng. Làm ổ dưới đất thì co chim bồ nông là đáng kể.

Chim chàng bè



Chim bồ nông tụ tập nhiều nhứt là ngọn rạch Chắc Băng đổ ra sông Cái Lớn. Ở đây hoàn toàn hẻo lánh, ít cây to lớn, ít cọp hoặc rắn. Hai loại này hay tìm chim mà ăn thịt hoặc ăn trứng. Ngoài ra trên mặt đất phủ dày nhiều dây choại, dây dớn để cho chim làm ổ. Nước dưới đất U Minh lại ngọt, xa xa lấp lánh nhiều vũng bùn chi tha hồ mà bơi lội. Chim bồ nông giống hệt chim thằng bè nhưng lông nó nhuộm màu xám tro. Bắt đầu tháng Chín tháng Mười, chúng bay từ Biển Hồ hoặc từ sông Hậu về rừng U Minh để làm ổ. Chúng lấy chân đạp dây choại xuống sát mặt đất và dùng mỏ để dò xét bên dưới. Gặp nơi đất ẩm hoặc có trũng, chúng bỏ đi nơi khác vì e sau này trứng sẽ thúi. Gặp chỗ vừa ý, chúng nhổ cỏ xung quanh, dọn một vùng nước khá rộng để bầy con sau khi nở ra có chỗ bơi lội.

Tháng Mười Một, chim bồ nông đẻ ra ba trứng, lớn hơn trứng ngỗng chút ít. Sau đó, chim trống và chim mái thay phiên nhau ấp. Khi trứng nở, chúng tiếp tục ấp con dưới cánh cho ấm. Chờ khi chim con có lông ống thì chim trống lẫn chim mái bay đi tận Biển Hồ để tìm mồi nuôi con. Chừng hai ngày sau, khi trở về trong dãy (bọc da dưới mỏ) mỗi con đều đầy cá. Cứ mỗi ngày chim con được đút mồi một lần. Lúc cha mẹ đi vắng bầy chim con tha hồ đùa giỡn trong vũng nước đã dọn sẵn kế bên.

Ngày qua ngày, bầy con lớn lên nhanh chóng, hễ đói là la hét lên inh ỏi. Khi thấy cha mẹ đem mồi về, chim con đạp chân quạt cánh, bay sập sận lên không trung. Lúc chim bồ nông đút mồi cho con, chúng ta có thể nói là một trận giặc lớn. Hàng ngàn con già sói, con chim chó đồng bay lại để giựt mồi cho con mình. Vì vậy khi con cá ở Biển Hồ từ trong đãy moi ra là chim bồ nông phải tranh đấu với ba loại chim kia. Và chính loại chó đồng, già sói lại phải đánh lộn cắn nhau để giành giựt, như ăn cướp chia của…

Bồ nông

Trứng bồ nông vừa nở, người chủ sân bắt đầu lo mướn “bạn giữ sân.” Nhiệm vụ của “bạn” là dọn một con đường tương đối trống trải từ mé rạch lên sân. Ðồng thời, họ cất trại dựng hai vòng thành lớn bằng tre chung quanh sân.

Vòng thành thứ nhứt hơi vuông, mỗi cạnh dài cỡ sáu trăm thước, cao hai thước tây.

Kế đó là vòng thành thứ nhì bên trong là tường để xử tử loài chim. Nền đất dọn sạch cỏ. Giữa hai vòng thành có cánh cửa lớn bằng tre.

Ðâu đó xong xuôi, chủ sân mướn chừng hai chục người bạn, khác, gọi là “bạn giết” . Họ ra tay khi đàn chim bồ nông con bắt đầu bay sập sận nghĩa là mọc lông cánh đầy đủ. Nếu để trể, chim con sẽ bay mất.

Ðêm ấy trời tối, vào khoảng canh ba. Sau khi được cha mẹ đút mồi, đàn chim bồ nông con vui chơi hả hê, bơi lội tung tăng dưới ao rồi trở về ngủ trên ổ. Mẹ cha của chúng đã đi vắng tận Biển Hồ, tìm mồi cho ngày mai.

Bỗng đâu từ bốn phía có tiếng la ó, gầm thét của loài người. Mở mắt ra, bầy chim con phải choá mắt vì những đốm lửa đỏ rực. Mấy người bạn giết đã xông vào, hai tay cầm đuốc quơ qua, quơ lại. Ðàn chim con chạy tứ tung, tìm một lối thoát tuyệt vọng. Chúng bắt đầu chạy dồn vào một xó để lần lượt gom vào vòng thành thứ hai như cá vào rọ.

Cạnh cửa tre hạ xuống, hàng chục người đứng bao vây phía ngoài pháp trường nọ, miệng la inh ỏi, tay quơ đuốc lửa.

Dầu muốn xé rào chui ra, lũ chim nọ cũng không dám. Khi ấy, hai chục người”bạn giết” bước vào phía trường để thi hành nhiệm vụ đao phủ với hai bàn tay không. Quần áo của họ nai nịt gọn gàng. Ngang lưng thắt sợi dây nịt lớn làm bằng yếm dừa để đề phòng loại mòng chim chun vào người. Loại mòng này hay đeo theo cánh chim bồ nông để hút máu như chí, như rận.

Hai chục người phải đối phó với chín mười ngàn chim bồ nông! Họ lanh lẹ lắm, tả xông hữ đột như Triệu Tử Long, Ðương Dương Trường Bản, tay trái họ nắm cần cổ chim tay mặt nắm đầu chim. Họ vặn lọi lại. Chim chết không kịp ngáp. Giết rồi quăng xuống tại chỗ. Phải lanh tay lắm mới giết kịp. Ðể chậm trễ thì chừng mặt trời mọc, bầy chim lớn từ Biển Hồ sẽ chứng kiến cảnh tượng đẫm máu này. Chúng sẵn sàng đáp xuống chiến đấu một mất một còn với loài người để giải thoát cho đàn con.

Trời sáng. Thống thiết dường bao, tiếng kêu la của đàn chim lớn khi trở về không gặp con nghe vang dội cả góc rừng! Vài con may mắn hơn, tìm lại được bầy con nhờ chạy lạc nên thoát chết đêm vừa qua. Chúng tiếp tục đút mồi. Nhưng vài đêm sau, chủ sân mở cuộc tảo thanh lần thứ hai để tóm trọn gói.

Riêng về bầy chim mất con thì cứ bay tới bay lui trên sân, kêu la ba bốn ngày liên tiếp rồi trở về Biển Hồ với niềm oán hận, thề không bao giờ trở lại đất Kiên Giang này nữa.

Xong xuôi công việc, mấy người “bạn giết” về nhà uống rượu nghỉ ngơi. Giờ đấy đến lúc người “bạn nhổ” làm việc. Họ nhổ lông cánh từng con, xong một con là bó lại, giao phó nắm lông cho chủ sân. Chủ sân ngồi kế bên, trao cho họ cây thẻ để sau này làm bằng chứng tính tiền công… Xen vào đó, còn mấy người cán hôi. Mấy người nầy tình nguyện nhổ lông không ăn tiền. Họ xin lại xác chim bồ nông, đem về lóc mỡ ra, nấu dầu để thắp đèn.

Không cần nói rõ, ai cũng có thể hình dung được bãi chiến trường, hôm sau xác chim bồ nông vun lên cao ngất, như đống lúa ba bốn trăm giạ.

Ðó là cách giết loại chim bồ nông ổ trên mặt đất. Ðối với loại thằng bè, già sói, chó đồng làm ổ trên cây thì phải tốn công hơn. Vào khoảng canh ba, mấy “bạn giết” trèo lên tìm ổ chúng bẻ cổ từng con rồi ném xuống đất.

Lông chim bán cho ghe buôn từ Hải Nam đến. Họ mua về để kết quạt. Giá thị trường như sau:

-Lông bồ nông một bó một quan.

-Lông thằng bè, già sói thì hai quan mỗi bó.

Mỡ chim thì đem về nấu dầu như trên kia đã nói. Thịt chim đem xào sả nghệ, nước cốt dừa ăn cũng ngon ngon. Nhưng ai mà ăn cho hết? Có thể muối phơi khô. Thời bấy giờ, không ai cần làm chuyện đó. Họ thảy bỏ xác chim dưới sông cho diều, cho quạ…

Ðất hoang, rừng rậm lần lần được khai thác ở vùng Kiên Giang. Vì động đất động rừng, chim bay đi, bỏ sân cũ.

Chúng bị tiêu diệt lần lần. Số chim còn lại bay về đâu? Ngày nay cùng Rạch Giá, Cà Mau còn vài sân chim. Nhưng toàn là cò, diệc, cồng cộc, loại chim nhỏ.

Vài con chim còn nhớ sân cũ, hàng năm cứ tới tháng Chạp là bay về. Như con chim già sói này trở về rạch Ðường Sân.

Chim già sói

Và ông Tư – Ngưòi giúp chúng tôi những tài liệu trên đây – hồi còn trai tráng chính là người “bạn giữ sân” và người “bạn giết” – hai danh từ xa xăm mà không ai nhắc tới nữa.

o0o

Con chim già sói đứng cao nghệu trên cây gòn, day mỏ qua phía nhà ông Tư.

Ông Tư đứng tần ngần, lấy tay che mắt nhìn nó, cố sức nhìn kỹ từ nét mặt như hỏi han sức khoẻ của người bạn già quen thuộc, biết giữ thủy chung đạo bằng hữu.

Ông nói:

-Mấy chục năm rồi, năm nào tháng Tết nó cũng về đây vài ngày. Năm nay nó già nhiều rồi. Ðầu sói hơn mọi năm, cháu thấy không?

Như lời ông Tư, tôi thấy rõ ràng một đốm trắng ở giữa đầu con chim nọ. Là kẻ sanh sau đẻ muộn tôi nào gặp con chim này hồi mấy mươi năm về trước để so sánh cho biết nó già nhiều hay già ít? Mặt trời gần lặn rồi, nền trời đỏ khé. Con già sói đứng sững đó, im lìm như đúc bằng đồng đen, phía sau có hào quang.

Nó nhìn ông Tư, râu tóc bạc phếu.

Ông Tư nhìn nó. Có lẽ ông nghĩ đến phận mình mà nảy sinh ra bao mối cảm hoài. Trong con tim già, qua thời gian, giờ đây chắc chắn đã lắng xuống hết bao hung bạo của thời xuân xanh của ông và của đất nước hoang vu. Giữa ông và con chim nọ, không còn oán thù. Biển im lặng sau cơn dông tố. Ðây là Bá Nha với Tử Kỳ cảm thông nhau. Cầu cho ông Tư với con chim già sói được sống lâu hơn trăm tuổi! Xin tạ ơn đấng tạo hóa đã dành cho đất nước này bao nhiêu đặc ân như những sân chim đây là một. Hiên ngang thay! Ðẹp đẽ thay! Hỡi người Việt đầu tiên đến vùng Kiên Giang hưởng ơn Trời lộc Nước mà khai phá miền Nam…, Vựa Cá Mắm Thiên Nhiên Của Trời Dành Cho Dân Việt.

Sơn Nam

Từ trang: Ebook

 

  

Nhớ Người Trong Nắng - Nguyễn Bính

 Nhớ Người Trong Nắng




Qua Đèo - Nguyễn Nam An

 

Qua Đèo




Tôi có cái dở khi nhắc đến vai vế của những người trong họ, bên nội cũng như bên ngoại. Dở tệ! Chín mươi chín phần trăm tôi đoán và gọi trật thứ bậc họ hàng. Đã vậy lúc còn nhỏ lại hay bắt chước. Nghe ai xưng hô với nhau (như bác, chú, cô, cậu, dì) là cứ thế cứ lập lại dầu nhiều khi tôi phải xưng khác đi. Má tôi có người thân là cô Năm. Tôi nghe bà nói nhiều về người này. Thế đó tôi cũng bắt chước gọi “cô Năm” tỉnh bơ. Tôi đâu biết mình thuộc hàng cháu phải gọi cô của má là bà. Nhưng người lớn đâu chấp nhất. Những ngày giỗ kỵ lớn họ hàng bà con gặp nhau, bận rộn quá không ai để ý giúp tôi sửa sai. Thế là trong đầu óc non nớt của thằng nhỏ thứ bậc của người trong gia tộc cứ lộn xộn.

Ở bên nội có người ông thương tôi lắm, có thể vì tôi “nhỏ cấp” nhất và mồ côi cha. Ông chỉ là anh em với ông nội tôi. Sau ngày chia đôi đất nước, nội tôi kẹt ngoài Bắc. Ba tôi, con trai độc nhất, lập gia đình, có tôi rồi qua đời. Khi về lại Huế thăm ông năm dưới mười tuổi, ông thường cho tôi ngủ chung. Thằng cháu đích tôn của ông bị đi ngủ với mẹ ruột vì nó được ông cưng nhiều rồi. “Con thằng Vi (là tôi) ra bộ ngựa nằm với ông.” Nhiều lúc ông nhìn tôi thật lâu rồi vừa nói vừa cười với mấy bác. “Thằng ni giống cha hắn quá. Tội anh...(tên ông nội ruột tôi) còn kẹt bên nớ. Mấy năm ni không biết tin biết tức chi hết. Còn thằng Vi cha hắn (ông đưa tay vuốt đầu tôi) rứa mà vắn số.” Tôi nằm yên nghe ông nói chuyện. Thỉnh thoảng không ai để ý tôi nhón tay lấy cục đường phèn của ông dùng khi uống trà bỏ vào miệng. Nhiều lần bị bắt gặp ông lại lấy cho thêm cục nữa. Tôi biết ông thương tôi nên làm tới. Một hai đây là nội của tao. Về tới Đà Nẵng kể chuyện Huế cho bạn bè cũng lại nội của tao. Thuở ấy ông còn khoẻ, chiều chiều chèo đò đưa cháu đi chơi. Tôi ngồi đầu mũi nốt (chiếc thuyền) nhìn ông cầm lái phía sau khoan thai chèo nhịp. Ông mặc đồ trắng, đi chân, râu tóc bạc phơ bay trong gió. Đời sống êm ả như sông nước lặng lờ chảy. Bến bên ni qua tới bến bên chợ Nọ chừng ba trăm thước. Có chiếc cầu bắc ngang sông nhưng ông không đi. Ông lấy chiếc nốt, chèo chở tôi ra giữa giòng. Buổi chiều gió sông lồng lộng. Tôi cúi đầu soi bóng mình trên mặt nước, thích thú thò bàn tay nhỏ tạt nhè nhẹ. Ông đàng sau lái nói lớn: “Đừng hoang như rứa. Coi chừng rớt cái trốt (cái đầu) thằng cha mi bi chừ.” Tôi lè lưỡi như sợ, ngồi yên một tí lại nghịch ngợm tiếp.
“Ôn ơi, mình đi mô bên ni?”
“Qua thăm nhà ôn khác.”
“Răng mà nhiều ôn quá rứa ôn nội. Con nghe mấy bác cứ nói ôn ni ôn tê hoài.”
Ông tôi cười hiền hoài. Nơi đây họ nội tôi lập nghiệp, đời này qua đời khác họ hàng như dây mơ rễ má. Có những đứa gọi tôi bằng chú lại lớn tồng ngồng, đứng hơn tôi cả cái đầu. Tụi nó ở đây, ngày ngày đi học trường quận, chiều về thả trâu ăn cỏ. “Nghé nghé ngọ ngọ” cho đến hoàng hôn thì dắt trâu về mẹp (dầm nước) ngoài bến. Cái bến nơi ông tôi đậu thuyền.
Quận lỵ thuở đó còn yên. Đồn phòng ngự, cũng là quận đường, sơ sài hàng rào tre vót nhọn bao quanh. Từ nhà ông tôi, theo con đường đất lác đác phân trâu đến hàng rào phòng thủ quận không xa. Cái lô cốt xây từ thời nào đôi lúc là chỗ đám trẻ chơi đùa. Thôn xóm chưa có tiếng súng. Người lính dân vệ gác để gác! Anh ôm súng ngồi, hút thuốc ngó làng mạc ruộng đồng.
“Ôn ơi chiều rồi.”
“Con nhớ nhà phải hôn? Thôi mai mốt bác mi trở lại Đà Nẵng thì về trong nớ.”
Tôi mà nhớ gì. Cảnh “chiều chiều ra đứng ngõ sau” chưa đến với tôi ở tuổi này. Lâu lâu ngồi nơi tam cấp nhà từ đường thấy mặt trời lặn, chim xao xác về tổ, tôi đứ đừ sau cả ngày rong chơi nên nín câm như buồn. Về quê nội khỏi phải đi học hè lại được ông để ý đến nên tôi hư ra. Tôi muốn ở lại đây đi chăn trâu!
Hôm qua đám nhóc bà con rũ tôi ra bến sông. Tới nơi đứa nào đứa nấy trụt quần nhảy tùm xuống nước. Làm cho lẹ không thôi người ta thấy... dầu rằng tụi con gái bà con ở nhà. Thằng nào thằng nấy tồng ngồng. Tôi ngồi tòng teng trên cành cây nhìn tụi nó thèm thuồng. Mấy thằng nhóc bơi như rái. Có đứa kêu tôi xuống cho biết nước sông Hương. Cho tiền tôi cũng không dám vì bơi là chìm. Nước sông Hương cũng như nước sông Hàn thôi, có gì đặc biệt mà bắt tôi xuống để chết trôi! Mẹ tôi dặn trước khi về quê là không được tắm sông. “Sông có ma da, xuống đó bị nhận nước chết đó nghe.”
Tôi muốn nhảy xuống nhập bọn mà không dám. Thằng Đơ hét lớn chọc quê.
“Bộ mi không dám cởi truồng hả? Có ai đâu mà sợ.”
“Tao không biết bơi.”
“Xuống đây tao chỉ cho. Bơi dễ ẹt. Bắt con chuồn chuồn voi cho cắn vào rốn là bơi được liền?”
“Tao nghe mấy thằng trong xóm nói vậy mà không tin. Chuồn chuồn cắn rốn đau chết thì có liên quan gì đến bơi với lội.”“Ai biết.”
Tôi hỏi gặn nó.
“Mà mi có để rốn cho chuồn chuồn cắn chưa mà bơi dữ rứa?”
Thằng Đơ nhe răng cười. Nó chúi đầu xuống nước lặn một hơi ra giữa giòng. Tôi vai chú nó mà dở ẹt. Tự nhiên tôi tức. Sao tụi bà con tôi dưới quê trò gì chơi cũng trội cả. Chỉ có cái mã thành phố còn thua tôi chút ít. Chắc tối về nhà nội tôi phải cầu cứu anh Viên.
Anh Viên là con thứ bác tôi. Lúc đó anh mười bốn mười ba gì đó. Xong cơm nước buổi tối anh lặn mất tiêu như mặt trời. Không ai thắc mắc gì vì anh đã lớn. Làm lụng giúp gia đình cả ngày phải cho anh có chút thời giờ với bạn bè khi đêm đến. Nhất là những đêm trăng ở dưới quê, người ta còn sinh hoạt có khi đến khuya. Viên thường ra cái quán bên con đường lộ nối liền thành phố Huế với Thuận An, tụ năm tụ ba hút thuốc. Đám bạn dưới quê cũng như anh, ít có dịp đi xa. Họa hoằn lắm lên tới chợ Đông Ba trên phố Huế mua nhu yếu phẩm rồi về. Đà Nẵng với anh thì xa tít mù nói gì tới những tỉnh miền nam. Viên vào trường trễ hai năm, học xong tiểu học ở trường quận gần mười ba tuổi, anh ở nhà. Tuổi mười ba này chất phát như ngô như khoai, nhưng thi vị không kém. Quận lỵ chỉ có lớp tiểu học. Lên trên Huế thi vào trường trung học công lập là một vấn đề. Bác tôi không muốn con đi xa vì nhà cần người, lỡ gì mùa gặt mùa cấy. Trăm ngàn lý do để anh Viên thôi học. “... con sãi ở chùa lại quét lá đa”. Nhưng cô nhỏ bạn học anh đậu vớt vào trường Đồng Khánh kỳ thi đệ thất. Viên dậm chân tại chỗ làm nông dân. Tình đầu của hai đứa học cùng lớp như “hai đường thẳng song song”. Viên mới biết tới đó. Anh chưa có dịp ngồi lớp cao hơn để nghe thầy giảng phần còn lại “không bao giờ gặp nhau tại một điểm.”
Trong mớ quà mang về biếu bà con dưới quê má tôi có gởi vải cho ông và mấy bác. Viên năn nỉ ông nội xin xấp vải trắng may áo. Ông cho. Anh mang qua bên kia chợ Nọ đặt may, về mặc với quần tây trông kẻng lắm. Mận nhìn em cười tủm tỉm. Chú Viên đã biết diện rồi khi con Tịnh, bạn học Viên bắt đầu để tóc, mặc áo dài trắng đi học. Nhà ba má Tịnh cách nhà ông tôi một hàng chè tàu. Nhiều lúc chị Mận đứng bên này rút rơm chụm bếp nói chuyện với Tịnh bên kia. Hai người quen thân nhau từ nhỏ, lúc Tịnh còn đi qua nhà mượn này mượn nọ cho mạ hay rủ chị Mận đi giặt đồ ngoài bến cho có bạn. Tịnh đi học đúng tuổi nhưng con gái mau lớn, đã biết thẹn thò lúc Viên thấp thoáng bên hiên nhà ông tôi nhìn qua vườn nhà cạnh. Tịnh biết nhưng giả vờ cúi đầu vào cuốn tập hoặc cắm cúi làm việc nhà.
Trước khi về Đà Nẵng anh Viên cứ dặn tôi hoài. “Mi về nói thím cho tao cái đồng hồ. Sang năm ra nghỉ hè mang cho tao. Đừng nói cho ôn hay bọ biết. Tao bị la.” Tôi hứa mấy lần mà Viên không yên tâm. Anh sợ tôi quên nên buổi tối trước ngày tôi đi, Viên nhét cái thư anh viết gởi mẹ tôi để xin quà vào xách tay. “Tao để bên dưới lớp áo quần. Mi nhớ đưa cho thím nghe.”
Ba năm sau tôi trở về Huế. Anh Viên mười sáu tuổi, người vạm vỡ như Vọi của Trống Mái. Nhìn anh đánh trần, tay cầm đòn sóc bên những giạ lúa nặng chịch tôi tưởng tượng đến những nhà tập thể dục thẩm mỹ hay các tay hảo hán trong phim quyền cước. Ngó vậy nhưng anh hiền. Hôm tôi đến nhà ông nội Viên mừng quá, kéo ngay ra góc nhà hỏi có quà của má tôi cho anh không. Tôi lấy trong túi đưa cho Viên cái đồng hồ rồi tặng thêm anh cuốn sách sưu tập những lá thư tình hay nhất thế giới. Anh lật qua lật lại, nhìn tôi tẽn tò.
“Mi cho tao cuốn ni làm chi?”
Hỏi rứa chứ anh cất liền. Tối đó Viên nói tôi ngủ chung. Anh hỏi mãi chuyện trong Đà Nẵng, chuyện bác ruột anh (ở cùng khu phố với ba mẹ tôi) mở hiệu đóng bàn ghế. Viên tò mò hỏi tôi có bồ chưa. Chuyện này tôi dấu. Tình đầu mà. Một lúc vui miệng anh nói về Tịnh. Cô ấy đã học đệ tứ trên Đồng Khánh. Hai buổi đón xe lên phố đi học rồi về. Viên nói say mê.
“Kỳ trước nhà Tịnh bên nớ có giỗ, tao mặc bộ quần xanh áo trắng như dân đi học, theo ôn nội qua ăn cỗ. Con Tịnh mà thấy chắc lác mắt.”
Tôi ừ ừ hử hử để anh có hứng kể tiếp.
“Không thấy hắn mô nhưng mà thấy cũng nói không được. Đến lúc người bừng bừng vì chén rượu đế, tao ra sau hè định tìm hắn nói vài lời thì ôn biểu về. Uổng quá!”
“Mà anh định nói cái chi với chị Tịnh?”
Viên đưa tay vò tóc.
“Tao thương nó nhưng không biết nói như thế nào. Mi nghĩ tao nên nói cái chi?”
Nghe anh hỏi ngược tôi bí. Sực nhớ đến cuốn sách tôi nói anh nên viết thư cho Tịnh, có gì tôi đưa giùm cho. Tôi biết giờ xe buýt trên Huế tới chợ Nọ. Tịnh vẫn về chuyến ba bốn giờ. Chịu khó chờ ngoài đường lộ chắc tôi giúp Viên “gởi thư tình” được. Tịnh biết tôi là em bà con với Viên; đi theo đưa thư chắc không khó.
Anh Viên bỏ ba bốn ngày không viết xong cái thư. Cuốn tập xích lô trăm trang cứ mỏng dần vì Viên xé, vò, đem xuống bếp đốt bởi không dám vất bậy bạ. Anh có nguyên cuốn sách những lá thư tình hay nhất thế giới làm bùa mà không ứng dụng được. Có thể thư trong đó được viết với bối cảnh thành phố, có ngôi biệt thự réo rắc tiếng đàn dương cầm? Viên loay hoay xem cẩm nang vài bữa cuối cùng xoay qua hành tôi.
“Mi viết giùm tao cái thư?”
“Mô được. Bồ của anh chứ đâu phải của tôi. Tôi viết sạo sạo rồi chị Tịnh thương tui sao?”
Viên xuống nước.
“Viết thư cho tao đi rồi tao chỉ mi bơi. Tao dạy không cần cho chuồn chuồn cắn vào rốn.”
Anh nhớ lại chuyện cũ nên dụ tôi liền.
“Khỏi cần. Tôi bơi chỉ làm sông Hương cạn nước vì có thằng uống hết!”
“Viết giùm tao nghe.”
Tôi gật đầu đồng lõa.
Đến lúc tôi vò đầu bứt tai viết thư tình để Viên gởi cho Tịnh. Tên anh họ không cho tôi đầy đủ chi tiết về cô láng giềng. Chỉ biết Tịnh học trường Đồng Khánh, lớp đệ tứ. Con gái học trung học đẹp nhất là năm đệ ngũ. Qua đệ tứ đám tóc dài đến tuổi trăng tròn, không còn cái đẹp đang tới dầu vẫn đủ sức để đánh ngã những chị học trên lớp. Mấy thằng bạn lớn trước tuổi của tôi nghe ai nói lại rồi chiêm nghiệm ra điều đó. Tôi làm đệ tử tụi nó khi có tình đầu. Thư tình đã viết, xé, vò rồi đem đốt. Cũng như Viên lúc này, không ai đẹp hơn bồ mình, nhưng tôi may mắn hơn là viết được thư cho con bé bên trường nữ. Viên đặt tôi vào thế kẹt. Đã vậy anh cứ hối hoài làm tôi hoảng. Túng quá tôi lấy thơ của “tình đầu tôi”, đổi ngôi thứ, bối cảnh, tên người, tên thành phố để thanh toán cho xong món nợ lỡ hứa. Con nhỏ viết cho tôi ở Đà Nẵng, tôi đổi thành Phú Vang, Huế. Trường Nữ Trung Học Hồng Đức được phịa thành Đồng Khánh. Hai dãy kiền kiền trước trường bồ tôi, trong thư viết giùm Viên trở thành hàng me xanh lá lủng lẳng những con sâu đo... Chiều đó tôi rủ anh ra bến đò đọc thử. Viên chịu quá tối về thắp đèn chép lại. Tôi thở phào trút được gánh nặng. Không ngờ mang theo cái thư con bé lại giúp tôi nhiều thế.
Tịnh nhận được thư của Viên. Chị ấy cầm cuốn sách, trong đó tôi kẹp lá thư viết giùm anh họ mình, đỏ mặt hỏi tôi.
“Vang cho tôi mượn cuốn Tuổi Hoa loại hoa tím này hả?”
“Của anh Viên đó. Anh nhờ Vang mua trong Đà Nẵng để tặng chị Tịnh.”
Tôi láo như miệng có thoa mỡ.“Hồi mô chị muốn đọc sách chi thêm nói anh Viên nhắn em mua dùm cho.”
“Hồi mô Vang đi vô trong nớ?”
“Hết hè.”
“Có gì cho chị gởi chút quà cho người bà con.”
Tôi nhận lời liền. Đến lúc này tôi mới hết run. Chỉ sợ chị Tịnh không nhận lời thì uổng công tôi cắm cúi viết thư mấy ngày. Tôi chào chị rồi chạy một mạch trở ra đường lộ, tìm lối khác về nhà ông nội. Tôi sợ đi ngang nhà Tịnh vì biết chị đẹp.
Tối đó Viên rủ tôi đi chơi. Anh hỏi lui hỏi tới cử chỉ của Tịnh khi tôi đưa thư như sợ thằng em mình quên đi vài chi tiết quý giá. Tôi kiên nhẫn tả khuôn mặt Tịnh lúc nhận cuốn sách có nhét phong thư (Tịnh lật thật nhanh rồi nhét vào cặp); lập lại những điều Tịnh hỏi về Viên. Ông anh họ tôi đang say men tình đầu nên quay tôi như chong chóng. Tôi chỉ mong anh đừng nhờ tôi viết thêm lá thư hồi âm nếu Tịnh trả lời.
Viên chẳng cần tôi cố vấn nữa. Hai tuần sau chị Mận thấy Viên và Tịnh cầm tay trong vườn sắn sau nhà. Chị định đi kiếm ít rau về luộc nhưng bỏ ngang. “Đi ra ngoài nớ tụi nó biết tội nghiệp.” Từ đó chị Mận có vẻ săn sóc Tịnh những lúc có dịp gần nhau. Mận hỏi xa hỏi gần “Tịnh định học tới đâu? Học xong lên ở luôn trên Huế hay ở dưới quê?” Toàn những câu thăm dò. Tôi biết anh Viên không nói với ai trong nhà về Tịnh. Anh giữ kín mối tình đầu với cô bạn thuở nhỏ ngoại trừ tôi.
Anh Viên theo người cha đi hơn nửa tháng, vượt đèo báo tin ông nội chết. Phải đi bộ, lần mò dọc đường xe lửa theo đoàn người bỏ Huế trong tết Mậu Thân. Ông tôi chết không đúng lúc. Bác con cả ở xa. Huế tạm thời không có phương tiện di chuyển đến những tỉnh lân cận. Viên và người cha quyết định theo đoàn người chạy nạn, vượt Hải Vân bằng chân, báo hung tin cho bác cả. Hai cha con đi vẹt cả giày mới đến Đà Nẵng.
Anh em tôi gặp nhau ở nhà bác cả. Câu chuyện xoay quanh cái chết của nội. Bác cả tôi phải đi Huế gấp vì xác ông tôi cần liệm. Viên lại theo cha và bác cả về Huế. Trước khi đi anh nói nhỏ tôi biết chút ít tin chị Tịnh. Viên còn dự định vào Đà Nẵng theo bác học nghề thợ mộc để sinh sống. Ở Huế mãi làm sao mà sống nếu “không đi học rồi đi dạy học”.
Bác cả tôi là tay đào hoa. Ông có vợ ngoài làng, đi làm ăn xa gặp thêm người nữa. Người đang chung sống với ông ở Đà Nẵng là bà thứ. Anh Viên học nghề với bác ruột không đến nổi bị bạc đãi. Nhưng vợ bác tôi dùng anh như người sai vặt trong nhà. Nhà bác ở cạnh nhà mẹ tôi. Nhiều lúc nghe bác gái nói cạnh nói khoé đứa cháu mẹ tôi lắc đầu. Mẹ tôi vẫn thương anh Viên. Với tôi anh lúc nào cũng hiền hòa như thời gian nghỉ hè ngoài quê nội. Về sau Viên nói cho tôi biết Tịnh chuyển vào học trong Đà Nẵng. Thỉnh thoảng chị ấy về Huế, ghé qua nhà nội tôi chơi với chị Mận. Tịnh đổi chút ít nhưng Viên không nhận ra. Ông anh tôi lụy với mối tình đầu nên như con ngựa thồ bị che mắt rồi.
Nơi tôi ở người ta phải đi lấy nước uống hơi xa. Giếng chùa Tân Ninh, sau lưng trường tôi học nổi tiếng nước ngọt. Mùa hè múc một gàu, uống vài hớp mát rượi cả người. Bác gái tôi thích nấu trà với nước giếng chùa. Anh Viên là người cáng đáng việc đó. Một lần tan học về, gặp Viên đang loay hoay gánh nước tôi thương anh quá. Tôi biết anh quê khi tụi con gái tan học nhìn anh lạ lùng. Chẳng có gì là mệt nhưng Viên ngại ngùng gánh tiếp đôi nước về nhà. Tôi đi theo anh nói chuyện tầm phào nhưng biết anh không vui. Viên vẫn tiếp tục học nghề thợ mộc; bị bác gái dùng như một người ở không công trong nhà. Về sau đi gánh nước ở chùa, anh tránh giờ trường bãi học. Tôi hiểu vì sao anh làm như vậy. Trường hợp tôi như anh chắc phải độn thổ khi gánh nước mà bị chọc. Khổ nỗi những đứa chọc là con gái đi học, khoảng tuổi Tịnh.
Tôi đề nghị mẹ tôi cho Viên mượn chiếc xe đạp để đi chở nước uống. Chỉ cần một thanh gỗ cột ngang chỗ chở người với bốn cái móc nhỏ, Viên có thể móc được hai thùng nước, nhẹ nhàng chở về nhà. Viên biến chế xe đạp của tôi thành “xe thồ nước”, đi về giữa nhà bác và chùa Tân Ninh vài ba bận mỗi tuần.
Sân bóng rổ trường tôi đối diện với chùa. Hôm Viên đi chở nước thấy tôi đang tập đánh banh anh ghé coi. Ở ngoài quê Viên chưa thấy người ta chơi bộ môn này. Gần trưa hai anh em tôi về. Hình như ai như Tịnh ngồi Honda vụt qua. Người chở là một tên học hơn tôi hai lớp cùng trường. Viên cũng thấy. Chỉ Tịnh vô tình cười nói, tựa sát lưng tên con trai. Người anh họ hỏi tôi đột ngột.
“Vang, mi có tiền không cho tao mượn một ít?”
Tôi ngạc nhiên.
“Chắc hỏi mạ thì có. Mà anh cần tiền làm chi?”
“Tao mua vé xe đò về Huế.”
Hai anh em tôi im lặng hết đoạn đường về nhà. Dựng chưa xong chiếc xe, Viên ngã lăn ra đất mặt tái xanh. Có tiếng bác tôi hốt hoảng.
“Cái chi rứa. Thằng Viên bị cái chi rứa?”
Người ta xúm vào giựt tóc mai cho anh tỉnh. Mẹ tôi lấy đồng tiền cạo gió anh tơi bời. Bà quýnh lên sợ Viên chết. Tôi vực Viên dậy. Anh đùa đùa bảo tại vì đang đói bụng mà “hút thuốc năm chục đồng ba điếu” bị phê. Khi mọi người tản mát, anh hỏi nhỏ tôi về số tiền hỏi mượn mà mắt buồn vô hạn.
“Tao muốn qua đèo về sống ngoài quê. Mi chưa biết chuồn chuồn cắn rốn như thế nào nhưng tao vừa thử. Đau lắm Vang ơi!”

Nguyễn Nam An

31 tháng 7,1998

Hai Người Bạn - Thiên Hương

 

HAI NGƯỜI BẠN





 

Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ?

Sáng nay bất chợt đọc được câu Luận Ngữ này, tự dưng nhớ đến người bạn thân của bố tôi ngày xưa.

Lúc tôi còn nhỏ, bố tôi có mấy người bạn thân. Thỉnh thoảng, các bác lại nhà ngồi uống trà, nói chuyện cả buổi, về hoa, về thơ nhạc, về những chuyện trần ai… Trong số các bác, bác T. với bố tôi là hai người bạn tâm đắc nhất.

Bác T. ở xa, ở tận Sài Gòn, gia đình tôi ở Đà Lạt.  Đúng một tuần một lần, vào mỗi thứ ba, lại nhận được một lá thơ của bác.  Chữ bác nghiêng nghiêng, đều đặn, lời thơ rất văn vẻ, rất nhẹ nhàng, và đượm một cái tình bạn mà bây giờ tôi vẫn không biết diễn tả thế nào. Chỉ biết ngày xưa, nhận thơ bác, bố hay bảo tôi đọc cho cả nhà cùng nghe, rồi cất cẩn thận trong hộp. Thỉnh thoảng tôi lại dở các bức thơ cũ của bác ra xem, xem đi xem lại hoài cũng không chán.

Ngày ấy tôi còn bé tí, mới biết đọc chữ, nhưng cũng thấm được cái hồn văn thơ của bác, và cái tình của những người bạn vong niên. Chia sẻ nhau một chút nắng vừa lên của Sài Gòn vào thu hay một chút gió mát hiếm hoi của những trưa hè nóng nực. Có khi chỉ để chia sẻ một đóa hoa hồng vừa mới nở, hay một chút hương của những hoa ngâu vào những đêm trăng chưa tròn hẳn, một nhánh lan vừa mới nhú, hay một trái ổi con vừa thành hình trên những cây kiểng xinh xinh. Cũng có khi là những tán thán nhẹ nhàng về cái nóng, cái vật giá leo thang, cái xô bồ của đời sống, cái nhọc nhằn của kiếp người, v.v…

Những bức thơ của bác, khi thì như một bức tranh vẽ lại cảnh sắc của những mùa khác nhau, có khi là những cơn mưa hạ, cũng có lúc là những chiếc lá me rụng mùa thu, hay những bông hoa sen nở rộ trên hồ. Những lá thơ của bác, cũng có lúc là những châm biếm nhẹ nhàng dí dỏm cho cái đời sống cách xa những giấc mộng bình thường… Nhưng tuyệt nhiên không lá thơ nào chất chứa những giận hờn ; cũng không một lá thơ nào mang những oán than, hay chất chứa rõ ràng những hỉ nộ ái ố của đời sống. Nhưng sao những lá thơ đó vẫn là những lời tâm sự miên man, tạo nên một cái tình cảm vững bền của hai kẻ cố tri.

Khi bắt đầu đọc những lá thơ đó, tôi còn  bé lắm, nhưng cũng cảm nhận được cái thiêng liêng của tình bạn giữa bố và bác. Lớn dần lên, nhờ những lá thơ đó tôi dễ dàng hiểu được tại sao Bá Nha đập vỡ cây đàn khi Tử Kỳ ra đi. Lớn hơn chút nữa, tôi nhận ra được cái tình bạn cao quí đã giúp cuộc sống con người nhẹ nhàng đi thế nào.

Nhà bác ở Sài Gòn, thỉnh thoảng bố về Sài Gòn công tác, lúc nào bố cũng mang tôi đi theo. Những buổi trưa hai bố con về nhà bác nghỉ. Căn gác nhỏ gọn ghẽ với một mái hiên đầy cây kiểng. Bác đã cẩn thận múc một chậu nước trong phơi nắng, trong chậu loáng thoáng ít cánh hoa nhài… Bác pha cho hai bố con hai ly đá chanh mát rượi, rồi nhẹ nhàng …hai bố con ngồi nghỉ một lúc rồi đợi nước ấm lên, cháu Thiên Hương lấy nước đó mà tắm cho đỡ lạnh… Thau nước của bác trong veo, ấm nhè nhẹ và thoang thoảng mùi hoa nhài làm con bé khỏe hẳn và, mùi hoa vẫn còn theo hoài con bé trong nhiều tháng, nhiều năm. Tắm xong, ra đến nơi ăn cơm với bác và bố. Sau bữa cơm có lúc là một quả ổi, có lúc là một quả khế, hay quả quít rất xinh vừa chín tới trên những cây trái trồng trong chậu kiểng. Những trái mà bác trồng và chỉ đợi con bé gái út của người bạn thân, về đến Sài gòn hái xuống ăn tráng miệng. Tôi thật quá may mắn được làm cục cưng của cả bố và bác. Ăn trưa xong, tôi nằm lăn trên phản ngủ. Hai ông bạn ngồi uống trà, nhẹ nhàng quạt cho con bé ngủ, trò chuyện nho nhỏ, cũng có những lúc lặng yên, ngắm những bông hoa thỉnh thoảng đong đưa nhè nhẹ trong những cơn gió hiếm hoi của trưa nắng Sài Gòn.

Thỉnh thoảng, mới gần sáu giờ sáng, trời Đà Lạt còn ẩm ướt hơi sương, đường phố còn vắng tanh vắng ngắt, nghe tiếng chuông cửa, mở ra đã thấy bác tươi cười. Bác không có vẻ gì là lạnh dù bác là dân Sài Gòn chính hiệu, vẫn chiếc sơ mi trắng cộc tay, bên ngoài là một chiếc áo len mỏng sát nách, bác cười đưa cho con bé một gói kẹo nhỏ rồi nhẹ nhàng… bố dậy chưa cháu… Thì ra bác lên đến Đà Lạt chiều tối hôm trước. Ngủ một giấc, sáng thức dậy 5 giờ đi bộ mấy cây số, từ tận Chi Lăng xuống nhà tôi… cho khỏe người và ngắm cảnh sương xuống của Đà Lạt.

Hai ông bạn ngồi với nhau bên tách trà ướp sói thơm ngát, bác không bao giờ ăn sáng, chỉ nhấp nháp miếng nước trà… Rồi 7 giờ sáng lại ra bến xe để về Sài gòn. Gặp nhau, hai người không tỏ vẻ gì mừng rỡ, cũng không có gì vội vã, cũng chẳng có gì dồn dập chuyện trò, chỉ vơ vẩn vài câu thăm hỏi, như vẫn gặp nhau hàng ngày vậy. Cũng chẳng có vẻ gì là trọng đại khi đi hơn ba trăm cây số nói vài câu vớ vẩn rồi lại đi hơn ba trăm cây số để trở về.   Không bao giờ bác ngồi lâu quá một tiếng, không bao giờ cả bác và bố đề cập đến quãng đường dài dằng dặc. Hai người gặp nhau không vồn vã, từ giã không bịn rịn. Cả bác và bố tôi, và ngay cả gia đình tôi đều xem việc đi lại xa xôi là chuyện bình thường. Chỉ sau này, lớn lên biết suy nghĩ tôi mới đánh giá được cái tình bạn tri kỷ ngày xưa thiêng liêng cao quí đến chừng nào.

Có một thời gian, bố tôi bệnh phải về Sài Gòn chữa trị. Bố mẹ tôi lúc ấy ở tuốt Phú Lâm, bác ở chợ Bầu Sen, sáng nào cũng 6g sáng, đã thấy bác đạp xe xuống, gõ cửa.  Hai ông lại ngồi với nhau, bên tách trà, ngắm những cây kiểng. Khoảng hơn nửa tiếng bác lại đạp về để còn đi làm. Chẳng ai than đạp xe xa nóng, chẳng ai áy náy vì bạn vất vả đến thăm. Với hai người, hình như chỉ một lúc ngồi bên nhau, lắng cái tâm là đủ.  Bao nhiêu năm, cái tình bạn ấy hình như không bao giờ thay đổi.  Bởi vậy, khi lớn lên đọc truyện Kim Dung, đến đoạn nhân vật Khúc Dương và Lưu Chính Phong nắm tay vào núi, quên hết thiên hạ để cùng nhau tấu khúc Tiếu Ngạo Giang Hồ, tôi chẳng thấy có gì là vô lý và hoàn toàn thông cảm.

Đến sau này, có một lần kể chuyện bố và bác cho một người bạn, người này nói một câu … tui nghi hai ông này gay quá… Tôi cảm thấy thực sự tổn thương và buồn bã. Tôi ít chia sẻ câu chuyện này với những người khác vì sợ những ngộ nhận, và sợ vì những ngộ nhận ấy, có thể mình sẽ mất đi thêm một số bạn vì đã có một vách ngăn nào đó. Hay vì sợ có lúc trở nên cô đơn vì Vô hữu bất như kỷ giả

Nhưng làm sao có thể trách được con người. Đời sống càng lúc càng quá sức hiện thực và vật chất. Con người có thể giàu có hơn thời xưa, vật chất đầy đủ hơn, cuộc sống sung túc hơn, nhưng hình như cái tình thì nghèo đi nhiều lắm.

Không có chuyện ai làm không cho ai cái gì. Có qua thì phải luôn có lại. Lúc nào cũng phải tính đến chuyện sòng phẳng và công bằng, dù có lúc công bằng cho mình trước, mới đến cho người sau. Làm gì cũng tính đến thời gian, đến kết quả, đến hiệu năng, hiệu suất. Đời sống kinh tế thị trường giúp con người tính toán sâu sắc, nhạy bén hơn nhưng mất đi cái thâm thúy tế nhị của cái đời sống ngày xưa.

Bây giờ làm gì còn cái chuyện đi bao nhiêu cây số đến nhìn nhau, uống một ly trà để trở về. Hai người bạn đồng giới thân nhau quá đáng thì có thể bị coi là đồng tính luyến ái. Hai người bạn khác giới thân nhau thì bị coi là có tình ý. Đến thăm nom nhau phải có một chút quà không cũng cảm thấy ngượng nghịu. Một người bạn lâu ngày đột nhiên gọi phôn thăm hỏi hay tự dưng đến thăm là gây nên ngờ vực từ người chủ nhà là có sự nhờ vả nào đó. Tình cảm từ một lúc nào trở nên đong đếm và mua bán. Sốt sắng quá thì sợ bị coi là lợi dụng, hờ hững quá thì bị coi là làm bộ, khinh thường người khác.

Bạn bè bây giờ, gặp nhau thì hoặc là ăn nhậu, hoặc là giải trí. Những quán nhậu, những chốn ăn chơi mọc lên khắp nơi, càng lúc càng sầm uất. Nên bạn bè gặp nhau nhậu nhẹt ăn chơi nhiều quá, cái tình bạn bè sợ cũng có lúc sẽ tan đi theo những bọt bia, hơi rượu, hay trong những làn khói thuốc.

Cuộc sống đã khác đi nhiều lắm, bây giờ tìm đâu được những cái nghĩa như Quan Công phò Nhị tẩu, Triệu Tử Long phò Ấu Chúa, tìm đâu những Bá Nha Tử Kỳ, tìm đâu những người như bác T. và bố tôi …

Báo chí hàng ngày nhan nhản những tin lừa đảo ; vì chút đất, mẹ con đem nhau ra tòa ; vì cái nhà, tình nghĩa cha con, anh em, họ hàng, chú cháu đổ hết xuống sông xuống biển. Vì thương vụ, vì danh phận, bạn bè sẵn sàng loại bỏ nhau không thương tiếc. Có người lại tuyên bố xanh rờn, trong làm ăn, cha mẹ, anh em không đi cùng một hướng là kẻ thù của nhau. Tin vợ chồng ly dị nhau không còn là một chuyện đáng giật mình. Tin bồ bịch bỏ nhau lại càng là chuyện thường tình ở huyện.

Dạo này người ta thi nhau viết thư pháp, những chữ tâm bắt đầu thấy nhan nhản khắp nơi để nhắc nhở nhau sống với cái tâm là chính.  Có lẽ cái tâm đã đi xuống đến mức phải báo động rồi chăng. Cái tình từ một lúc nào chỉ còn là tình yêu, cao thượng một chút thì là tình yêu quê hương, gia đình, cha mẹ, anh em ; nhưng thông thường nhất vẫn là tình yêu trai gái.

Cái tình từ một lúc nào đã từ từ bị xoá dần đi trong tự điển con người. Tôi yêu cái chữ tình lắm, vì nó không phải chỉ đơn thuần là tình yêu, nhưng là cái tình và cái nghĩa. Hàng xóm với nhau lâu ngày, bạn bè cũ với nhau, hay đồng nghiệp cũ, dù xa xôi lắm, có gặp lại nhau cũng còn cái tình để giúp đỡ nhau nếu cần thiết. Có khi chỉ cần trao nhau một cái nhìn ấm áp, và một nụ cười làm ấm lòng những người xa xứ. Thỉnh thoảng nhấc chiếc điện thoại hỏi han vài câu rồi cúp máy. Không ai thắc mắc vì sao lại gọi, không ai ái ngại đã gọi tới làm khuấy động công việc thường ngày của người kia ; để khi buông máy, hai người ở hai đầu dây đều thấy lòng ấm lại.

Cái tình thường đi chung với cái nghĩa, cái nghĩa thày trò, cái nghĩa tao khang, cái nghĩa bạn bè, v.v… Cuộc sống bây giờ là một trường đua đầy cạnh tranh và  mỏi mệt, con người cứ mải hơn thua, giành giật để vươn lên nên nhiều lúc đẩy lùi cái nghĩa. Càng ngày cái self-esteem hình như càng mạnh, nên con người càng lúc hình như càng cô đơn. Cái chữ tình, cái chữ nghĩa khi còn vướng vít  thì như một cái kén bọc lấy những con người yếu ớt. Khi con người mạnh dần lên, vượt thoát ra khỏi những trói buộc của thân phận, vươn mình ra khỏi những bảo bọc của gia đình, của người thân, của bạn bè, đứng mạnh mẽ trong xã hội, có nhiều lúc vô tình hay cố tình vứt đi hai chữ tình nghĩa cổ hủ trói buộc.  Để đến một lúc nào, thấy mình trong đám đông mà như ở trong ốc đảo.

Bây giờ đã mấy người tự hỏI :

Ngô nhật tam tỉnh ngô thân :

Vi nhân mưu, nhi bất trung hồ ?

Dữ bằng hữu giao, nhi bất tín hồ ?

Nhiều lúc cũng tự mình thấy thẹn khi quay theo cánh gió của đời sống, chính mình nhiều lúc cũng trở nên hời hợt, và có những lúc tầm thường ích kỷ.

Từ một lúc nào, trong đầu óc con người đã biến thành những cái máy tính hiện đại.  Làm việc gì cũng nhằm một mục tiêu gì đó.  Ngay cả khi tìm đến thiền, đến tu học cũng chỉ nhằm cho chính bản thân được thoải mái.

Các câu chuyện trong truyện Tàu, các câu chuyện trong kiếm hiệp Kim Dung bây giờ xưa như thần thoại.  Chẳng ai dở hơi làm những hành động nghĩa hiệp như Quách Tĩnh, Kiều Phong; chẳng ai yêu không tính toán như Đoàn Dự, A Châu.   Làm những việc không có lợi cho mình, chỉ có lợi cho người khác luôn bị coi là hâm. Không làm những chuyện vì đồng tiền nhưng bất nghĩa thì được tặng cho chữ sỹ.

Dường như Luận Ngữ , vô hình trung có một câu chợt trở nên thông dụng, nhưng lại bị ngầm sửa đi chữ cuối. Thay vì “Nhân bất tri nhi bất uấn” lại trở nên “Nhân bất tri nhi bất ưu”, tức là nếu người đời không biết thì lòng ta không lo lắng gì. Bởi vậy, nếu làm bậy, mà che dấu được thiên hạ, thì lòng vẫn an nhiên tự tại, vẫn thơ thới ung dung.

Mọi thứ hình như đều có thể xiên xẹo, đảo điên. Chỉ từ một chữ uấn, chuyển sang chữ ưu câu nói đã ẩn hàm khác nghĩa. Nên từ một chuyện nhỏ dễ xé thành một chuyện to ; từ một chuyện đứng đắn, lại thành một chuyện tầm phào ; từ một cái tâm lành, lại trở thành một cái tâm hư.  Đời sống như thế có phải là đời sống hiện đại hóa ?

Nếu bố tôi và bác T. còn sống trong đời sống này, những lá thơ của bác gửi đến cho bố tôi có lẽ sẽ không phải mỗi tuần một lá mà sẽ là mỗi ngày một lá.  Hay cũng có thể là sẽ chẳng có lá nào hết, mà bác sẽ năng đến thăm bố tôi hơn.  Hai người sẽ ngồi bên nhau, bên tách trà ngát hương hoa sói của mẹ tôi, và chắc sẽ chẳng nói gì hết…  vì có còn gì đâu để mà nói.  Chỉ trầm ngâm thôi, lặng ngắm cái tình cái nghĩa của mình, và của đời đang dần dần thành mây… thành khói…

Thiên Hương

Tháng chín 2008

1) Câu trong Luận Ngữ – Có bạn từ phương xa tới thì còn gì vui hơn.
2) Gay – đồng tính luyến ái nam
3)Câu trong Luận Ngữ – Không làm bạn với kẻ không giống mình
4) Mỗi ngày ta xét ba điều: Làm việc cho ai có hết lòng không? Đối với bạn có vẹn chữ tín không ?
5) Các câu Luận Ngữ trong bài đều trích từ Wikibooks tiếng Việt