Saturday, October 11, 2025

Bỏ Mà Đi - Thuyên Huy

 

Bỏ Mà Đi

Cũng chỉ là một chuyện không có thật




 

    Ấp Đồng Tranh nằm chơ vơ giữa cánh đồng rộng mênh mông, ruộng chen lưa thưa với cỏ tranh khô cằn, trong những ngày hè nắng cháy. Con đường đất đầu ấp dẫn ra quốc lộ một đi Sài Gòn, dài chừng cây số rưởi, mùa này bụi mịt mù. Nhà cửa, phần lớn mái tranh, vách đất, trừ mấy căn văn phòng chính quyền ấp, cái trường học phía ngoài đường, xây gạch lợp tôn, tuy gần sát nhau nhưng không ngay hàng thẳng lối. Cạnh quốc lộ, cái đồn lính nghĩa quân, hàng rào kẽm gai chằng chịch mấy lớp, bao cát bao quanh cũ mèm rách nát, lấp xấp mấy vũng nước ruộng còn sót lại sau mùa gặt năm rồi.

    Anh lính gát, ngồi bó gối trốn nắng trong chòi canh, sát bên hàng cây trâm bầu rợp bóng, nhìn xe đò xuống lên, thỉnh thoảng ngừng bỏ khách, người trong ấp quen mặt, đi đâu đó về. Ra khỏi vòng rào cuối ấp, khu gò đất trống trơn, chạy dài xuống bờ con rạch nhỏ, nước nửa chừng quanh năm suốt tháng, vài cây cổ thụ già nua, dăm ba nhà chòi che rơm, nơi đám con nít chăn trâu tụm năm tụm ba tán dốc, chờ trâu bò mải mê ăn cỏ, trên dãy đồng dọc theo con rạch lúc nào cũng xanh rờn, dù tháng mưa hay ngày nắng.

*

    Vợ chồng anh ba Mượn, bỏ Bàu Đồn về Đồng Tranh, với số tiền dành dụm được từ những ngày làm thuê ở mướn, mua lại miếng đất nhỏ trên cái gò cao cuối ấp, cất căn nhà tranh lụp sụp, đi làm công, phụ cấy cày cho mấy người có ruộng. Mùa nước lên, chờ làm đất, hai người xuống rạch bắt cá mò tôm tép, đội bộ xuống chợ Bình Nguyên bán đùa bán đại. Cuộc sống cũng không mấy khá hơn, cũng túng trước hụt sau khổ sở.




    Thằng Bền về Đồng Tranh, mấy ngày đầu buồn bã, nhớ ông bà tư Quang, ba mẹ nuôi  của nó, có tiệm vải lớn ở chợ Cẫm Giang rấm rứt khóc thầm, chị Mận thương con vỗ về an ủi, dẫn nó ra cái quán cốc duy nhất trong ấp, cạnh hàng rào trường tiểu học mua mấy cái bánh ngọt mốc thít, vài cục kẹo chèm nhẹp vì nắng.      

     Bền đi ngang trường, kéo tay chị Mận chỉ vào trong, nghe tiếng học trò đọc bài làm nó buồn thiu, chị không nói tiếng nào. Bền quen dần, hai ba ngày rồi năm sáu bữa, nó chán nản qua nhà bên xóm, nhập bọn với đám con nít chơi đùa, chờ ngày đi học, theo lời vợ chồng anh ba Mượn hứa.

*

    Trước tết ta vài hôm, sau ngày đưa ông Táo về trời, ông bà tư Quang, từ Cẫm Giang đón xe đò đi Trãng Bàng Bình sáng sớm, tay xách tay mang, mấy bộ đồ mới, ba bốn hộp bánh mứt đủ màu mà bà tư đã mua vài hôm trước, hỏi thăm người trên đường, đi Đồng Tranh thăm thằng Bền. Xuống xe, anh lính nghĩa quân gát đồn, nhanh nhẹn chỉ nhà, ông bà thả bộ vô ấp. Chị Mận đang ngồi đan đục bắt cá trước chái nhà, thấy vợ chồng ông bà tư Quang kinh ngạc, bẽn lẽn, chị mời ông bà vào nhà. Chị bỏ ra sân sau, kêu anh Mượn bận phụ dựng chuồng trâu cho nhà bên cạnh về hối hả. Chị rót miếng nước mưa lạnh vô hai cái tách bể gần phân nửa, khúm núm để trên bàn xiêu vẹo mời.

*

    Vợ chồng anh Mượn đứng một bên bàn, gió trưa thổi lộng vào căn nhà vách thưa cột trống.

    Ngó quanh quẩn không thấy thằng Bền, ông tư mở lời hỏi:

- Ủa thằng Bền đi học rồi hả hai cháu?

    Anh Mượn làm thinh, chị Mận đở cho chồng:

- Dạ nó chạy chơi đâu đây, để cháu chạy kêu nó về. Chị vừa nói vừa chụp cái nón lá đội lên đầu, bỏ đi nhanh ra ngoài. Bà tư nhìn theo, chị đi vội vã về phía đồng trống.

    Anh Mượn, ngồi xuống khúc cây lớn dùng làm ghế, nhìn ông bà ấp a ấp úng:

 - Cháu  không dám dấu ông bà, thằng Bền đi chăn trâu mướn cho người ta ngoài đồng từ sớm

    Ông bà tư nghe nói ngồi chết trân, đưa mắt nhìn nhau, lắc đầu:

- Trời ơi sao như vậy được!

Anh Mượn rưng rưng:

- Cháu nghèo quá, làm sao hơn đây?

    Thằng Bền theo sau chị Mận vô nhà, cúi đầu thưa ông bà, mặt mài buồn xo muốn khóc, áo quần rách bương, tóc tai khét nắng, đen thủi đen thui, chừng như không thường tắm rửa. Bà tư xót xa ôm nó vào lòng, lập tới lập lui hai chữ “tội nghiệp”.

*

    Ông bà ở chơi không lâu, bỏ quần áo bánh mứt lại rồi buồn bã ra về. Vợ chồng anh Mượn lúng túng đưa, thằng Bền cũng theo ra đường, đứng nhìn chuyến xe đò về tỉnh, càng lúc càng xa dần Đồng Tranh, linh tính cho biết, có lẽ sẽ không còn gặp ông bà tư nữa rồi, nó khóc gọi thầm ba má ơi, tiếng khóc lẻ loi tan tác trong chiều gió.

*

    Chiến tranh bắt đầu sau đó, quân du kích, có vài người trong ấp bỏ đi theo, lấp ló chờ đêm, từ miệt hướng Đức Hoà Đức Huệ, kéo về ấp Đồng Tranh năm ba lần. Ban đêm chó sủa vang rân. Khúc đường Gò Dầu, Trảng Bàng mìn nổ nhiều lần, hai ba người chết. Đám con nít chăn trâu, không còn ở trễ ngoài đồng, trời vừa xế bóng đã vội vã lùa về, hết có dịp ngồi tán dóc chờ hoàng hôn xuống.

*

    Mùa gặt mới bắt đầu, năm nay ruộng bỏ hoang mấy đám, nhất là phía bên kia rạch, dọc theo cánh đồng truông nứa lầy lội, chạy dài tới tận sông Vàm Cỏ Đông. Trời dạo này có mưa, thường vào buổi chiều, khi mặt trời sắp lặn. Bền lùa đám trâu về chuồng nhà ông chủ, hô to cho trong nhà nghe, ôm cái túi xách quần áo, dấu ở bụi rơm sau nhà ngày hôn trước, băng xéo cánh đồng gò về hướng truông nứa, nhìn lại ánh đèn dầu leo lét trong mái tranh nhà nó lần nữa, Bền vuốt mặt, bước nhanh trên bờ đê. Bóng cò ăn đêm bay lững lờ phía cuối truông, Bền bỏ Đồng Tranh đi giữa mùa lúa, năm mười tuổi.

 

Thuyên Huy

 

 

 

 

 

 

 

 

Kỳ Diệu - Nguyên Sa

 Kỳ Diệu




Đò Đêm - Trần Quang Vinh

 

Đò Đêm




Giữa đêm khuya tôi đạp xe đến đò Trang, vị trí cuối cùng của đảo Hà. Bên kia là thị trấn Yên Hồng ánh điện lung linh, nhưng bên này vẫn hoang dã như cách đây hai mươi năm. Ngày ấy tôi bước vào tuổi mười bảy, chúng tôi nô nức tòng quân lên đường đi đánh giặc. Đoàn tân binh qua đò rời đảo Hà cũng vào một đêm như đêm nay, cũng ở bến đò này. Nhưng bấy giờ chúng tôi bộn rộn, hồi hộp lắm. Đợi chờ chiến công. Đợi chờ ngày mai. Tiếng máy bay Mỹ ì ầm ngoài biển. ánh chớp bom lập lòe nơi chân trời. Từng chuyến đò phủ đầy lá ngụy trang lặng lẽ sang sông.

Thấm thoắt hai mươi năm. Những điều ngày ấy đợi chờ, dòng thời gian ào trôi, vùi lấp. Mưa phùn. Sông Trang trải rộng mông lung.

Lỡ đò rồi, tôi bơ vơ một mình thầm ân hận. Buổi tối bà mẹ Cường giữ nghỉ lại, tôi nhất quyết từ chối, tôi không đủ can đảm nằm ngủ trên chiếc giường tre ọp ẹp, manh chiếu rách, chiếc vỏ chăn màu vàng xỉn vá chằng vá đụp. Bây giờ thì không thể quay lại, phải kiên nhẫn mà chờ đò.

Từ dưới lùm cây ven sông một chiếc thuyền nan nhỏ lách ra, hình như người lái đò là một ông lão:

-Mời… xuống đò!

 

Giọng lão như gần, như xa. Tôi vác xe đạp bước xuống thuyền. Con đò khẽ tròng trành rồi quay mũi. Mái chèo vỗ xuống mặt nước êm nhẹ lạ lùng. Không gian trống trải hơn, những âm thanh mơ hồ lởn vởn, lao xao.

-Quê đảo Hà?

Lão lái đò hỏi lập lờ thảng thốt.

-Dạ!

Lão giữ xuôi mái chèo, thuyền vẫn lướt nhẹ nhàng. “Lão chèo đò đúng một trăm năm!” Tôi ngạc nhiên? Lão lơ đãng kể, chèo về khuya, khi trên sông vắng người … Tôi bắt đầu hoang mang. “Những người qua đò đều quên, nhưng lão nhớ tất cả!” Biết cậu Cường không? Tôi hỏi. Lão lẩm bẩm: “Cường con bà Khán. Lão mới chèo đò đưa cậu ta đi”. Tôi cãi, lão nhầm to! Cường đi bộ đội hy sinh ngay trận đầu ở ngã ba Tân Đức, Quảng Bình! Lão lái đò bảo, ở đâu cũng phải qua đò .

Tôi không thể quên … hôm ấy đại đội vừa kéo pháo vào trận địa thì bốn chiếc Con ma ập đến, mỗi chiếc tung hai thùng bom bi. Đơn vị thương vong gần hết. Cường nằm trên cáng tỉnh táo như thường, nó vẫy tay bảo, chào đồng hương nhé, bao giờ về quê nhớ đến thăm mẹ mình. Rồi nó vĩnh viễn nằm dưới đồi sim … Tôi cảm thấy bâng khuâng. Chiến tranh qua từ lâu, tôi đã cởi áo lính, đã học hành, đã có một tổ ấm ở thành phố, xa lạ với đảo Hà. Hình bóng nhăn nhúm, còm cõi của mẹ Cường cứ day dứt trong tôi. “Khổ lắm anh ạ! Thằng Cường đi không về. Con Thoan trời bắt tội! Giờ chỉ còn thằng Thảnh tàn tật!”…

Lão lái đò vẫn kể lể, lão từng chèo đò đón nghĩa quân Đốc Tít, đón cả công sứ Tây. Năm cách mạng đưa nhiều cán bộ Việt Minh. Lão chép miệng bảo, họ không giống nhau, nhưng đã xuống đò lão thì đều như nhau .

Tôi không quan tâm những lời lẽ vớ vẩn của lão. Tôi sốt ruột hỏi, sông Trang sao rộng thế? Lão cười xòa bảo, rộng cũng bằng gang tay! Đầu óc tôi nghĩ vẩn vơ, đò gì mà lạ?

Tạnh mưa, sương mù buông kín. Ngay bên cạnh có thuyền ai qua. Tiếng trẻ thơ khóc oe oe. Người mẹ trẻ âu yếm hát ru:

Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao
.”

Tôi tấm tắc khen, hát hay quá! Lão lái đò thản nhiên bảo, tiếng cô Thoan, em cậu Cường! Tôi bàng hoàng kêu lên, cô Thoan tự tử chết rồi mà! Lão cười bảo, chết với các anh …

Tôi rùng mình, lão này là ma chắc? Thuở bé nghe mẹ kể, sông Trang xưa quân Tàu chết trận, nhiều ma quái lắm. Có đêm ma họp chợ trên sông đông đúc như đi hội. Lớn lên được học hành, tôi không tin. Thế nhưng sau cái hôm Cường hy sinh, đêm ngồi trực chiến trên mâm pháo, tôi bỗng mơ màng thấy Cường lại gần thì thầm bảo, mày phải sống trở về! Mai đừng ra khỏi hầm! Hôm sau khẩu đội trưởng phân công theo xe chở đạn, tôi kêu mệt. Pháo thủ Hùng xung phong đi thay, bị bom chết. Ngẫm thấy mình hèn … nhưng cũng từ đó cứ ngờ ngợ chuyện duy vật, duy tâm? Bất giác tôi hỏi, có linh hồn thật à? Lão lái đò lặng thinh .

Con đò bắt đầu đi chậm lại. Hình như chung quanh rất nhiều thuyền. Tiếng người trò chuyện, chào hỏi nhau, thân mật, ríu rít. Ai đó hỏi, khách à? Lão lái đò ậm ừ. Tôi lẩm bẩm, nghe quen quen. Lão lái đò bảo, không nhận ra ư? Cậu Cường đấy! Tôi vội bảo, cho gặp Cường! Lão lái đò dửng dưng bảo không được, ở đây luật lệ rất nghiêm.

Lạ nhỉ ? Tôi nhớ những nơi đã qua, làm gì có nơi nào cuộc sống êm đềm, trật tự như thế ! Tôi hỏi, lão là người âm? Lão lái đò lặng thinh. Tôi giãy nảy thét, không đi nữa! Lão lái đò cười hiền từ bảo, cõi dương khổ mà thích à? Cãi, chúng tôi vẫn đầy đủ hạnh phúc! Lão lái đò than, người đời vốn dối trá …

Tôi bỗng hoang mang. Quả thật kiếp người bon chen vất vả. Lo ăn, lo mặc! Lo địa vị, tiếng tăm… Vì miếng cơm, manh áo, vì chút xíu công danh hão huyền mà phải cúi đầu nhẫn nhục(!) Lại còn những kẻ tàn nhẫn, hiểm độc, mưu mô, thủ đoạn hãm hại bạn bè, đồng loại … Biết bao người nghèo đói, lam lũ, cơ cực như mẹ Cường?… Ôi, cõi đời khủng khiếp! Nhưng còn có người giàu sang, nhàn tản, muốn gì được nấy, quyền thế ngất trời? Họ đáng sống lắm chứ!

Đọc được ý nghĩ của tôi, lão lái đò đủng đỉnh bảo: “Kẻ nghèo, khổ vì kiếm miếng ăn! Kẻ giàu, khổ vì giữ miếng ăn!” Tôi bảo, những người biết xoay xở khôn ngoan, thời nào chẳng thành đạt! Lão bảo: “Kẻ ngay khổ vì người! Kẻ gian khổ vì mình!” Tôi hỏi, còn những người thông minh trác việt? Những thiên tài lưu danh kim cổ?… Lão bảo: “Kẻ hèn khổ vì mình! Kẻ tài khổ vì người!” Tôi lại hỏi, cõi âm sung sướng à? Lão lái đò trầm ngâm : “Cũng tùy thời! Dương thịnh thì âm suy”. Bao giờ dương sẽ thịnh? Lão im lặng . Lại có tiếng ngâm nga:

Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau”

Tôi ngạc nhiên hỏi, cõi âm cũng thích Kiều? Lão bảo: “Dương sao âm vậy”. Tôi hỏi, âm có quan liêu không? Trả lời: “Lão không hiểu”. Tôi hỏi, âm có chiến tranh không? “…!” Tôi hỏi, âm có phe phái không? “…!”

Tôi đứng bật dậy kêu lên, hãy trả tôi về! Lão dửng dưng cất tiếng hát:

Sông sâu… ơ… Con thuyền.
Âm, dương… ơ… nỗi niềm.
Dại, khôn… ơ… kẻ hiền.
Con đò… ơ thời gian
…”

Tiếng vọng mênh mang… sông Trang càng thêm mịt mùng… không thấy đâu là bờ. Xa xa một quầng sáng hình bán nguyệt lóe lên. Tôi hỏi, thị trấn Yên Hồng phải không? Lão lái đò lắc đầu bảo, phủ Diêm vương! Tôi hốt hoảng kêu, cho về Yên Hồng! Lão nói bâng quơ: “Tùy!” Tôi bỏ xe đạp nhảy ào xuống dòng sông lạnh buốt. Mặc kệ, tôi gắng sức bơi vào bờ. Thật kỳ lạ, thị trấn Yên Hồng ngay gần đó.

oOo

… Mười giờ sáng tôi tỉnh dậy. Anh bạn thân bảo, mất xe đạp Mipha rồi à? Họa phúc, phúc họa, thôi còn người là quí ! Tôi phân vân tự hỏi, chẳng lẽ những gì xảy ra đêm qua là thật ? Anh bạn đưa cho tôi tờ báo, hỏi, cậu đọc bài này chưa? Khủng khiếp!

Tôi định kể về sự kiện đêm qua, nhưng người bạn không chú ý, anh say sưa nói về bài báo. Lúc sau anh quay sang bảo, ông liều lĩnh thật, dám một mình một xe xuống đò đêm. May mà bọn cướp không tặng nhát dao! Phải khao đấy nhé!

Anh ta nói gì vậy? … Tôi ngơ ngẩn ra bờ sông Trang./.

Vũng Tàu – 1992

Trần Quang Vinh

Từ trang E-Ebook

 

Ngày Xưa Chưa Xa - Vhp Hạ Vũ

 

 

Ngày Xưa Chưa Xa

Vhp.Hạ Vũ

 

Tôi vừa từ Mỹ về tới Saì Gòn hôm qua, sáng nay hối hả thuê xe xuống Mỹ Tho để tham dự buổi họp mặt Kỷ Niệm 50 Năm Thành Lập Viện Hán Học Huế. Tuy trái giờ giấc, buồn ngủ vô cùng, tôi cũng hăm hở đi, Bên cạnh tôi là Ngọc đang kể tên những người bạn của nửa thế kỷ trước đã ghi tên có mặt buổi họp này. Tôi lắng tai nghe. Khi Ngọc nhắc tới tên “Anh Hai”, tôi ngạc nhiên hỏi:

 -Ủa, có Anh Hai hả. Sao bọn lớp mình bảo rằng anh đã mất vì bị Việt Cộng pháo kích vào xóm nhà anh năm Mậu Thân 1968?

 - Tin thất thiệt đó. 

                                    ***

 Nhắc tới Anh Hai, kỷ niệm mùa tựu trường của niên khóa 1960-1961 sống lại trong tôi. Vào mùa Thu năm 1960, ba cô gái "Xứ Nam Kỳ Quốc" tuổi trăng tròn lẻ khăn gói ra tận "Xứ Trung Kỳ"... "du học." Phải nói là vào thời điểm đó, con gái ở Sàigon xa gia đình đi học tại một nơi xa lạ là đất Thần Kinh xa xôi thì có lẽ chúng tôi là những người tiên phong. Nhiều người bạn thắc mắc hỏi tôi: "Tại sao Sài Gòn có biết bao nhiêu trường mà không học, lại học chi xa xôi tận Huế?" Câu trả lời: "Tại vì tôi muốn làm Tùy Viên ở các Sứ Quán Vùng Đông Nam Á" (!) mặc dù tôi không biết chức Tùy Viên là gì, làm những công việc gì. Thế là tôi hãnh diện được những cặp mắt của bạn bè ngưỡng mộ chiếu cố. 

 *

 {Sẵn đây tôi nói thêm sơ qua ngôi trường chỉ thọ được 6 niên khóa của chúng tôi. Vào năm 1959, thừa lệnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Bộ Giáo Dục VNCH thiết lập Viện Hán Học, trực thuộc Viện Đại Học Huế. 

Khi tốt nghiêp các sinh viên được bổ nhiệm vào các chức vụ sau đây: 

 1. Tuỳ Viên của Các Sứ Quán Việt Nam Cộng Hoà tại các nước vùng Đông Nam Á. 

 2. Chuyện Viên Viện Khảo Cổ. 

 3. Giáo sư Việt Hán các trường trung học Việt Nam Cộng Hòa .

 

 Sau khi Tổng Thống họ Ngô bị thảm sát cuối năm 1963 thì ngôi trường này cũng đối diện với tử vong. Trường thoi thóp sống tới hè năm 1965 thì chính thức bị giải tán. Trường có hai khoá tốt nghiệp, một sinh viên thủ khoa khóa I  được bổ nhiệm trông coi Cổ Viện Chàm ở Đà Nẵng, hai sinh viên khóa II được bổ nhiệm vào Viện Khảo Cổ Sài Gòn, tất cả sinh viên tốt nghiệp còn lại được Bộ Giáo Dục bổ nhiệm làm giáo sư Việt Văn khắp Miền Nam, có vài người sau này được thăng chức làm Hiệu Trưởng .

Niên khóa đầu, Hội Đồng Thi Tuyển chỉ có ở Huế. Năm sau Sài Gòn mới có Hội Đồng Thi. Khi danh sách trúng tuyển được công bố, chúng tôi vào Bộ Giáo Dục xin các nhân viên phụ trách điạ chỉ những người trúng tuyển để liên lạc với nhau và hẹn ngày lên đường chung.

 

*

Trước ngày nhập học một tuần lễ chúng tôi hẹn nhau cùng đi xe lửa ra Huế. 

Tại nhà Ga Sài Gòn, sau khi nước mắt ngắn nước mắt dài chảy ướt cả khăn tay, ba đứa chúng tôi: Cẩm Vân, Ngọc, và tôi (Hồng) tiến đến cửa xe lửa. Đang quyến luyến với cha mẹ mình thì một bà mẹ Miền Nam tiến tới hỏi thăm:

 -Chào các cháu. Các cháu đi đâu vậy? 

 Chị Cẩm Vân, người lớn tuổi nhất trong ba đứa, được chúng tôi gọi là chị Hai, trả lời:

 -Thưa bác, chúng cháu đi Huế học. 

 - Có phải các cháu học Viện Hán Học không?

 - Thưa phải. 

- Các cháu có ai quen ở Huế không? 

 Tôi mau mắn trả lời: 

- Thưa bác, chị Hai Cẩm Vân của chúng cháu đây có người quen ở Huế.

 - Ồ, tốt quá! Bác có đứa con trai cũng ra Huế học Viện Hán Học. Cháu Cẩm Vân cho bác gởi gấm con trai bác cho cháu nghen. Có gì cháu giúp đỡ nó bước đầu. Nó tên Công Đức, đứng đằng kia. Chị Hai sau một lúc "ngậm hột thị", cũng trả lời, giọng yếu xìu:

 - Dạ đựơc. 

 Ngọc thúc nhẹ vào hông tôi, cười hí hí và nói nhỏ:

 - Chị Hai đùm bọc hai "em gái ngang hông", giờ có thêm một "em trai khác họ" để đùm bọc nữa.

 Tôi hóm hỉnh thì thầm:

 - Trông anh cũng lớn, cỡ tuổi chị Hai, chắc phải kêu anh Hai. Chị Hai "đùm bọc" anh Hai! Gà mái thắng thế. Biết đâu chẳng là duyên trời dung rủi! 

 Chúng tôi lên xe lửa ngồi chung một băng ghế dài. Sau khi khóc đã đời vì lần đầu tiên xa nhà, Ngọc và tôi bắt đầu rù rì chuyện bà má miền Nam chân chất, thật thà gởi gấm con trai cho một đứa con gái cũng lần đầu tiên xa nhà đến "xứ lạ quê người" như con bà, và cười hi hí với nhau. Bà thương con quá mà quên mất nam nhi tính của một “đấng mày râu.” 

    Dự tính kể với chị Hai việc “khám phá thú vị” này, chúng tôi quay tìm, nhưng không thấy chị đâu, liền đứng dậy dáo dác ngó quanh. Thì... ô kìa, ở cuối toa xe lửa chị đang nói chuyện với một anh khá bảnh trai; tay chị cầm khăn tay thỉnh thoảng chùi mắt.

 -Ê Ngọc, chàng nào vậy bạn? 

-Làm sao mình biết được. Kiểu này có lẽ "kép chánh" rồi đây, trông có vẻ "xa chàng lòng dặc dặc buồn".

 Chợt thấy "anh Hai" ngồi ở băng ghế đâu lưng với chúng tôi, đang thả hồn ra ngoài toa xe lửa, có lẽ cũng đang mơ "về quê cũ xa mờ", tôi khều Ngọc ra dấu. Hai đứa nín lặng ngồi xuống. 

 Tới ga Thủ Đức, thì chị Hai về lại chỗ ngồi, mắt đỏ hoe. Nhìn lại thì “chàng” biến đâu mất. À thì ra anh đưa em một đoạn đường tình. Hai đứa chúng tôi đưa mắt nhìn nhau, miệng mỉm cười "lơ lửng con cá vàng…" Chị nhìn thấy, xụ mặt. Chúng tôi biết mình bậy, bèn im lặng. Một lúc sau Ngọc "cười cầu tài" và "lấy điểm" bằng cách mời chị và tôi mỗi nguời một cái bánh ú đem theo ăn dọc đường, và... bỏ rơi anh Hai. Suốt đường dài, chúng tôi không nói chuyện với anh, mà anh cũng không làm quen với chúng tôi. Tối hôm sau tới ga Huế. Xuống xe lửa, chị Hai Cẩm Vân quên mất lời hứa miễn cưỡng chiều hôm trước. Chúng tôi theo người quen về nhà, bỏ anh Hai “tự mưu sinh thoát hiểm.” 

      Nhờ người quen và nhờ các giáo sư của trường, chúng tôi ổn định chỗ ăn ở rất mau, và vào học chung một lớp. Ngoài ba đứa chúng tôi, còn thêm hai người nữ nữa, và mười nam từ trong Miền Nam ra học. Tình cờ trùng hợp, anh Công Đức lại được đám nam sinh viên phong cho chức "Anh Hai." 

 Đám nam nữ xa gia đình này kết hợp với nhau thành một khối thân tình như trong một đại gia đình. Quan hệ nam nữ giữa chúng tôi rất trong sáng, quyết không làm mất niềm tin của các đấng sinh thành. Nhưng từ khi biết tin anh Công Đức được chính thức mang chức Anh Hai, đám "ngũ quỷ" chúng tôi bắt đầu chọc ghẹo ghép đôi hai người, dù biết rằng chị có “kép chánh” viết thư hằng tuần. 

 Vào những ngày Lễ -Tết, đám nam nữ Saigon càng cảm thấy cô đơn và nhớ nhà, tự tổ chức tiệc tùng riêng cho mình đỡ buồn. Đám nữ tham gia đóng tiền cho chị Hai, đám nam đóng tiền cho anh Hai. Chúng tôi tổ chức ăn uống, ca hát vui vẻ với nhau, và anh Hai chị Hai bị chúng tôi chọc ghẹo tơi bời. 

 Anh Hai biết mình xài tiền tùy hứng nên gởi tiền cho chị Hai cất giùm với lời dặn: đừng đưa tiền cho anh ngoài ba ngày đầu tháng, dù anh có lời yêu cầu. Chị Hai chấp hành "quy ước" rất nghiêm khắc. Một lần anh cần tiền rất khẩn thiết ngoài ngày quy định. Anh xin chị đưa tiền lại cho anh, nhưng chị nhất định không đưa. Chị bỏ ngoài tai lời giải thích và năn nỉ ỉ ôi gần gãy lưỡi của anh. Không được, anh đành bỏ cuộc, xoay cách khác. Vài hôm sau, anh đến gặp chị trách:

 - Tôi cần tiền "cứu mạng" (!) mà gặp phải ly nước chanh không đường nhiều đá lạnh, uống không vô. 

 Chị lòng tuy mềm nhưng miệng cứng, đáp: 

- Tôi chỉ chấp hành lời dặn của anh. Thôi thì đừng gởi tiền cho tôi nữa. Thế mà anh không tởn, vẫn tiếp tục gởi tiền cho người "đáng tin cậy nhất thế giới" của anh giữ giùm. Chuyện này bị tiết lộ ra ngoài. Thế là đám "nữ quái" bọn tôi có màn chọc ghẹo cho vui cửa vui nhà. Gặp anh, mỗi đứa một câu:

 -Anh Hai đưa tiền cho chị Hai đi chợ.

 -Anh Hai, chị Hai nhất định nhịn đói, chờ anh về ăn cơm kìa. 

- Anh Hai, chị Hai hết tiền rồi, đang kiếm anh kìa. v.v. 

 Mỗi lần như vậy anh Hai không nói gì cả, chỉ lườm bọn tôi một cái mà thôi. Những lúc không có ai, tôi còn bị anh cú đầu, và nói gọn lỏn năm chữ: “Con nhỏ này thiệt là..." 

 Bị chọc như vậy mà anh vẫn cứ gởi tiền đều đều cho chị Hai. Suốt mấy năm trời học chung, đi chơi lăng tẩm, đền đài, hẹn nhau đi xe đò, xe lửa Saigon - Huế... chung với nhau, tình cảm anh chị em chúng tôi trở nên thân tình thắm thiết. Tôi và Ngọc là hai kẻ chọc ghẹo anh nhiều nhất, không chọc chị vì biết trái tim chị đã có chủ. Chúng tôi cũng kín đáo theo dõi phản ứng của anh Hai một thời gian, không thấy gì khác lạ, chỉ có một đôi lúc bất chợt bắt gặp ánh mắt anh có vẻ xa vắng dõi theo bước chân chúng tôi. 

Đùa cho vui thế thôi, chứ thật ra ai cũng bận vừa học vừa “nuôi dưỡng tình cảm riêng tư” của mình, hơi sức đâu để ý đến tiếng tơ lòng của người khác, nên chuyện đó rồi cũng qua đi. Sau khi chúng tôi ra trường, mỗi người một ngã, khắp bốn phương trời. Rồi chị Hai lập gia đình, theo chồng đổi về Kontum. Vài năm sau tôi cũng về Sài Gòn. Ngọc thì về quê nhà Bình Dương. Người nào cũng có gia đình riêng tư, chạy lo cơm áo gạo tiền trong thời buổi chiến tranh khó khăn đủ mọi phương diện, chúng tôi hầu như bặt liên lạc với nhau. 

 Dạo gần đây, con cái đã lớn, người nào cũng đã nghỉ hưu nên quay về quá khứ, ôn lại chuyện xưa, và rồi tìm liên lạc lại với nhau qua email, điện thọai. Nhờ đó tôi mới biết được ai còn ai mất, ai đi ai ở. Người bạn thân là Ngọc thì còn ở VN, chị Hai định cư bên Mỹ. 

 

                                 *** 

 Hôm nay tôi từ xa ngàn dặm, về thăm cha mẹ, sẵn dịp họp mặt để gặp lại bạn bè xa nhau cả nửa thế kỷ. Chị Hai Cẩm Vân không về được. Vừa bước xuống xe, các bạn ùa nhau tay bắt mặt mừng . Nước mắt hội ngộ còn lăn dài trên má của một vài bạn nữ. Anh Hai tới xiết chặt tay Ngọc và tôi, xong nhìn dáo dác hỏi:

 -Chị Hai của các em đâu?

 Tôi dí dỏm đáp:

 -Chị Hai Lớn kẹt, không về họp được. Có Chị Hai Nhỏ ở đây không, cho em chào chị một tiếng. 

 Anh cú đầu tôi thân mật nói: 

- Con nhỏ này thiệt là... Ngày xưa mỗi lần gặp mặt các em, anh sợ lắm biết không? Bây giờ các em vẫn  làm anh tiếp tục sợ. Bà xã anh hôm nay kẹt việc gia đình, không đi với anh được.

 - Anh còn sống nhăn răng mà có nguồn tin ác ôn cho anh đi "đoàn tụ với tổ tiên" vào năm Mậu Thân 68. 

- Tin đồn cũng khá chính xác đó. Anh bị thương suýt chết. Nhờ bác sĩ người Mỹ tay nghề cao với thuốc men tốt mới còn đứng nói chuyện hôm nay, nếu không anh "tiêu diêu miền cực lạc" từ năm đó rồi. Nhân dịp các bạn còn đang tay bắt mặt mừng ồn ào nhộn nhịp, anh khều tôi ra góc vườn hỏi:

 -Chị Hai của em lúc này ra sao? Sao không về họp?

 Tôi nhìn anh ngập ngừng, xuống giọng; 

- Chuyện không được vui lắm. Để sau buổi họp em kể cho anh biết. Nói ra bây giờ mất vui của ngày Họp Mặt đi. 

- Em không nói ra càng làm anh hồi hộp, càng làm anh mất vui. Anh năn nỉ em, nói đi. 

 -Tháng 3 năm 1975, chị từ Kontum theo đường Quốc Lộ 14 về Nha Trang, cận kề cái chết nhiều lần, và mất hết của cải, tài sản. Chị khủng hoảng tinh thần. Tiếp theo chồng đi tù cải tạo. Một mình chị bương chải nuôi sáu đứa con và chồng trong tù. Chị mất hết sinh lực và suy sụp tinh thần. Sau đó thì trí nhớ mất lần lần. Bây giờ chị không còn nhận ra em nữa, nhưng chị vẫn nhớ một điều...

 Tôi ngưng lại, hít thở một hơi dài để đè nén cảm xúc mình xuống, rồi tiếp: 

-Anh à, thỉnh thoảng chị dặn con cái: “Nhắc má đầu tháng đưa tiền cho anh Hai, đừng để má đưa sớm hơn.” Ở nhà, chị cũng thứ hai, các em của chị gọi vợ chồng chị là Anh Hai, Chị Hai, nên các con chị tưởng mẹ dặn đưa tiền cho cha của chúng, chỉ có mình em là hiểu đúng ý chị thôi. 

 Ánh mắt reo vui của anh chợt tối sầm lại. Anh ngồi xuống bên gốc cây, mặt buồn rười rượi, mắt nhìn xa xăm. Tiếng reo vui rôm rả của bạn bè bên tai tôi, đột nhiên xa vắng như vọng lại từ một quá khứ thân thương của một thời hoa mộng. Tôi nhìn anh, im lặng... Lời an ủi trở thành vô nghĩa trong lúc này!  

Người chuyển bài – HV - USA

 


 Linh Mục Cao Văn Luận Viện Trưởng Viện Đại Học Huế đọc diễn văn

 Lễ Khai Giảng Viện Hán Học niên khóa 1961-1962

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sunday, October 5, 2025

Chiều Về Phố Tình Cờ - Nguyễn Đạm Luân

 Chiều Về Phố Tình Cờ




Gò Dầu Hai Lần Thương - Thuyên Huy

 

Gò Dầu Hai Lần Thương




 

    Sài Gòn ngấp nghé vào Hạ, chiều thứ Bảy, trời hanh nắng, có chút gió lất phất nhẹ đuổi bụi đường, xe người ồn ào dập dìu xuôi ngược, hai cô gái áo dài xanh lá mạ, khá đẹp, tóc buông dài xuống ngang lưng, chắc hai chị em vì mặt trông khá giống nhau, đứng vịn chiếc xe Honda PC bên lề, ngài ngại, chần chừ, nói qua nói lại, nhìn vào tấm bảng “Tại đây nhận vá xe đạp - xe gắn máy” gắn ngay ngắn trên hàng rào, bên trên cái thùng sắt lớn như cái rương sơn đen, sắp đầy lỉnh kỉnh bình nhựa, dao kéo kềm búa, cộng thêm ba bốn cái vỏ xe đạp mới treo lủng lẳng, sát dưới gốc cây Phượng già rậm bóng là cái đồ ép vỏ xe hiu hiu cháy nhỏ lửa, thêm nữa hai ba cái ghế nhựa cũ, rồi cùng ngó qua phía bên kia đường.

    Bất chợt tiếng xe hơi rú lên dữ dội trên đường làm như sắp đụng nhau, Khiêm ngưng đọc cái truyện ngắn của mình, vừa đăng trong tạp chí Tuổi Hoa số mới nhất ngước lên, vội đứng dậy, thấy hai cô nhìn chăm chăm, nhìn ngờ ngợ anh ta, áo quần thư sinh tươm tất, chân bước ra chào, liếc vội thấy bánh sau xe xẹp lép, nhanh miệng “hai cô muốn vá xe phải không, đúng là chỗ này rồi, mời vô đây ngồi nghỉ, để xe đó tôi đẩy lên cho”, hai cô e thẹn mĩm miệng chào lại nhưng vẫn còn chần chừ, bước đi bước ở, Khiêm biết ngay là họ đang nghĩ gì, anh tới gần hơn cười “ông chủ nhờ tôi coi giùm, đi mua gì đó chút xíu, ổng về tới liền”.

*

    Chào nhau vài lần, mỗi khi xuống xe đò ở góc ngã ba, xế bênh viện Nhi Đồng, trên đường về trường, gặp chú tư Lành ngồi vá xe ở đây, hỏi thăm qua lại rồi quen biết dần, chiều chiều cơm nước ở căn- tin xong, Khiêm thả bộ ra ngồi tán dốc với chú, tay làm miệng nói, chuyện trời trăng mây nước, công hầu khanh tướng, thế sự bể dâu, chú tư Lành trước đi lính ngoài miền trung, bị thương giải ngủ, nhà trong hẻm cụt nhỏ bên đường Sư Vạn Hạnh, băng qua đường Lý Thái Tổ, nhìn thiên hạ lại qua cũng đủ làm vui thay vì thua tiền binh xập xám, xì dách, bài cào cho đám bạn cùng khóa, cùng đời xa nhà xa xứ ở trong ký túc xá của trường, cho tới khi đường phố rục rịch lên đèn, chú dọn dẹp về, Khiêm mới trở vô trường.

*

    Đúng như Khiêm đoán, hai cô nàng là hai chị em, không chịu ngồi chờ dù chú tư vừa làm vừa mời, đứng trốn nắng dưới bóng mát trải dài nghiêng nghiêng theo tàn cây phượng rậm lá, không còn lấy một cánh hoa tàn hạ, vui vẻ chuyện qua chuyện lại với Khiêm, cô chị nói nhiều, cô em chỉ đứng sau cười không tiếng nào nhưng xem ra hai người có vẻ bồn chồn lo lắng gì đó, tuy chăm chú xem tới xem lui vỏ xe chỗ này chỗ kia nhưng thỉnh thoảng chú tư cũng liếc ngó lên, mĩm cười một mình. Khiêm nhận ra điều này ngay khi nhìn thấy trong cái giỏ sắt trước xe có hai gói quà, gói giấy màu khá đẹp, chắc là đi dự tiệc gì của ai đây.

    Chú tư đứng dậy bảo xong rồi, cô em vội tới xe ngay, cô chị cũng theo sau, vừa đưa tiền trả vừa cùng nói hai tiếng “cám ơn” chú một lượt, rồi nhanh tay đẩy xe xuống đường, Khiêm đứng nhìn theo cười, hai chị em cùng quay lại khẻ gật đầu chào, một cái chào không lời, xe chậm ra đường, tóc họ bồng bềnh bay theo chiều gió chiều vừa xuống, rồi khuất hút giữa dòng xe cộ chen nhau. Hai chú cháu nhìn theo, chú tư bâng quơ lẩm bẩm “hai cô này đẹp quá”, Khiêm khẻ gật đầu, hai chú cháu cười.

*

    Trời giữa Hạ, sáng nay mặt trời thức sớm, rựng nắng hồng tươi cả sân trường. Cầm xấp giấy trên tay, bước tới cái bàn đầu của dãy bàn sắp dọc theo sân cỏ quanh sân trường để nộp đơn xin dự thi, cô ngạc nhiên trố mắt nhìn, anh chàng nhận đơn, bận ký tên trên mấy tờ giấy gì đó vừa ngước lên, cả hai buột miệng “ủa anh, ủ cô”, thì ra cô nàng và Khiêm đã có lần gặp nhau ở chỗ vá xe của chú tư Lành một buổi chiều thứ Sáu , cách nay chừng một hai tháng.



    Khiêm thật không ngờ, cô gái nhỏ nhẹ cười tươi như hôm đó, từ tốn đưa đơn xin thi và mấy thứ giấy khác theo thủ tục đòi hỏi, Khiêm chầm chậm vừa xem lại vừa cho cô nàng biết “anh là sinh viên trong ban đại diện, được nhà trường nhờ phụ giúp việc nhận đơn dự thi như đã làm từ những năm qua”, rồi liếc mắt trên cái đơn, cười đọc ba chữ “Phạm Khánh Vân” hết sức tự nhiên trong khi đó thì Khánh Vân cũng nhỏ nhẹ, dịu dàng hai tiếng“anh Khiêm”, cái tên trên tấm bảng mi -ca nhỏ xanh dương đeo trên túi áo của Khiêm, cái bảng tên mà sinh viên của trường ra vào, bắt buộc phải đeo trong sân trường hay phòng học.

     Người sau đứng đang chờ tới lượt mình, xem ra sốt ruột, Khiêm lẹ xếp đơn lại, viết vội tờ biên nhận đưa cho cô nàng rồi nói gì đó, nhỏ chỉ đủ cho hai người nghe, Khánh Vân cười nhẹ gật đầu, mặt có chút ửng hồng vương màu nắng nhạt của trời vừa vào trưa.

*

    Quán cơm bà sáu Mận quen, thường “ăn chịu tới tháng trả”của đám sinh viên xa nhà, bên kia đường, đối diện trường, người đi nộp đơn thi, tụm năm tụm ba, quen lạ, ngồi đứng vẫn còn đông nghẹt trong sân cỏ, một số tản ra, đi lên đi xuống về hướng Cao Thắng, bánh mì trên tay, người cười người tư lự. Quán chật hết bàn, bà sáu và chị phụ việc, lăng xăng, tới lui, tay chân không nghỉ, bà quên cả cái cười và câu hỏi thường ngày với Khiêm.


    Ngồi bên bàn góc trong, Khiêm và Khánh Vân thong thả, nói quên ăn, hỏi nhau nhiều và nhiều lắm, hơn lần chờ vá xe chiều đó. Rốt cuộc, cả hai chợt vui, vì đều cùng quê Gò Dầu, nhà Khánh Vân, tiệm thuốc Tây, có ba chị em, ở đầu chợ quận, Khiêm đầu xóm làng nghèo Gò Chùa Phước Trạch, Khánh Vân vừa xong chứng chỉ dự bị Sử Địa Văn Khoa, cô em hôm đó là Khánh Linh, học trò Sương Nguyệt Ánh, sắp thi Tú tài Một, chị xuống Sài Gòn, em theo luôn thay vì tiếp tục học trường quận, đang ở với người chị hai, dược sĩ làm với viện bào chế của bà Trang Hai, nhà ở cư xá Đô Thành, ngõ vô trên đường Phan Thanh Giản.

     Chuông reo báo tới giờ nhận đơn trở lại, từ trong trường vọng ra, hai người băng vội qua đường, bà sáu lúc này mới chịu nhìn theo, cười. Xé một góc tờ giấy, Khánh Vân ghi vội địa chỉ nhà, tạm biệt nhau hẹn ngày gặp lại, bỏ tấm giấy vào túi áo, Khiêm đứng nhìn theo, cô nàng thả bộ về nhà, tới góc ngã ba Cao Thắng, Khánh Vân quay lại vẫy tay, Khiêm vu vơ cười mà không biết tại sao.

*

    Thứ Bảy, chưa hẳn chiều lắm, đầu thu, trời phơn phớt lạnh, xe vẫn xe người vẫn người chen chúc nhau trên đường, nói chuyện vài ba câu, có tiếng người ngoài sân, từ phòng khách ngó ra cửa sổ, Khánh Linh lên tiếng:

- Chị hai về đó

   Chị đẩy cửa vào, Khiêm đứng dậy, bước ra chào, vài cánh phượng còn sót lại cuối mùa của hàng cây bên kia đường theo gió bay sang, đuổi theo chân người len vào cửa, Khánh Vân đứng bên anh ta:

- Chị hai, anh Khiêm, người mà em nói chuyện gặp ở chỗ vá xe và trong trường hôm tới nộp đơn dự thi nè.

    Khánh Linh chạy tới xách túi đồ mà chị vừa bỏ xuống, chị nhìn Khiêm cười, một nụ cười dễ mến. Chị ngồi xuống ghế, Khánh Vân bưng mấy ly nước cam ra để trên bàn giữa phòng, hai cô em cùng ngồi kế bên, đối diện với Khiêm, chị cười:

- Khiêm, Khiêm Calcium Corbièrre bây giờ lớn quá, chị nhìn không ra.

   Hai cô em chưng hửng ngó chị, chuyện của ngày xưa bắt đầu từ câu nói đó.

*

    Chị hai tên Sắn, cái tên mà mỗi lần ba Khiêm đi xuống chợ quận về đều nhắc hoài, trong những ngày anh sắp sửa thi vào trung học, ông luôn bảo là chị Sắn dưới đó, lo học, ráng học, đi cầu tiêu cũng đem bài thi Tú Tài Hai theo học, cho nên chị mới đậu hạng cao, dặn anh phải như vậy mới được.



   Nhà Khiêm nghèo nhưng không đến túng thiếu, ba làm thư ký lo sổ sách cho công ty xe vận tải của ông cai tổng thời Tây, chở mọi thứ hàng nặng lên tỉnh xuống thành, dưới quận, sáng đi chiều về vì đường từ Gò Chùa xuống không bao xa, chừng sáu bảy cây số. Thấy thằng con ốm yếu, ông thường ghé tiệm thuốc tây đầu chợ quận mua hộp Calcium Corbièrre về, loại ống thuốc bằng thủy tinh bằng ngón tay út, dùng cái cưa nhỏ xíu cắt ngang phía trên cho Khiêm uống từ năm lên lớp Ba trường xã, hết hộp này tới hộp kia, vợ chồng bác chủ tiệm thuốc hiền hậu vui tính, mua riết rồi quen, rồi mến, chuyện qua chuyện lại sao đó, bác chủ tiệm thích nói chuyện với ba Khiêm nên năm ba ngày, tới giờ cơm trưa là bác tới kiếm ông rủ ra uống cà phê ở cái tiệm hủ tiếu ngoài ngã ba, bên này đường qua cầu đi miệt biên giới.

    Hè cuối lớp Ba, ba Khiêm đón xe lam dẫn xuống chợ quận chơi, vì còn nhỏ không ngồi xe gắn máy của ông đi làm thường ngày được, ông dẫn anh ta tới tiệm thuốc Tây mua mớ thuốc ho cảm phòng hờ, Khiêm gặp ba cô con gái của họ, khoanh tay chào hỏi dạ thưa, vậy thôi, hai cô em nhỏ hơn Khiêm, mắc cở đứng xa xa, cô chị vui vẻ, nắm tay vò đầu Khiêm hỏi cái này cái nọ, anh chỉ nhoẻn miệng cười vì trả lời câu còn câu mất.

    Cuối mùa thi, Khiêm đậu vào đệ Thất trường tỉnh, một lần nữa theo ba xuống chợ quận, trước là để thưởng cho anh ta tô hủ tiếu đầy tôm thịt và cây viết máy Tatung, mua từ một tiệm bán đồ chợ trời, sau là ghé tiệm thuốc Tây từ biệt hai bác, vì ba không còn khỏe, cứ nay ốm mai đau nên thôi không còn làm với công ty xe vận tải nữa, ba người lớn ngồi trong tiệm, vắng khách, nói chuyện, chị hai Sắn, dẫn ba đứa nhỏ, năm nay hai cô em cũng đã lớn bộn, ra ngồi ngoài cái băng cây dài trước sân, cười đùa nói qua nói lại, không còn mắc cở như lần trước.

    Trời cũng lấp lửng trưa, hai cha con chào từ biệt, bác trai gởi theo hai hộp thuốc, chị Sắn gói cho Khiêm ba bốn cuốn vở mới, năm sáu cây viết chì và hộp bánh ngọt, dặn dò Khiêm ráng học, hai cô em nắm tay anh ta, lúc lắc không biết nói gì, đôi mắt đỏ hoe. Ra đường, hai cha con Khiêm đi xa rồi mà cả gia đình cũng còn đứng đó nhìn theo, hai cô em nhảy lên vẫy tay liên tục, đi bên ba quay nhìn lại, Khiêm chợ dưng thấy buồn buồn, cái buồn tuổi mới lên mười. Vậy thôi, Khiêm chưa một lần nào trở lại chợ quận và không gặp lại chị Sắn và hai cô em từ đó.

*

    Khánh Vân, không đậu kỳ thi tuyển vào trường Khiêm, không buồn không tiếc, cho nên chị Sắn chọc hoài “trường này không dễ gì vô đâu cô”, lâu lâu cô lén nhìn trộm anh ta, những khi gặp nhau, nghĩ thầm “anh Khiêm này ghê thiệt”. Khánh Linh đậu Tú Tài Một, để ăn mừng chị hai đãi cô nàng, bữa tiệc lớn ở nhà hàng Thanh Bạch, Khiêm cũng không quên tặng Khánh Linh, cái khăn quàng cổ mùa đông màu tim tím. Sáng thứ Bảy sau đó, trước ngày vào học trở lại, ba người cùng chị hai, đón xe về Gò Dầu thăm nhà, tiệm thuốc vẫn còn buôn bán như ngày nào, ba má ba chị em hết ngạc nhiên này tới ngạc nhiên kia, thằng Khiêm đây sao, công thành danh sắp toại rồi, mừng vui ra mặt, hỏi thăm chuyện bao năm qua, ba má Khiêm ra sao, thỉnh thoảng bác gái liếc mắt nhìn Khánh Vân rồi nhìn Khiêm, cười tủm tỉm một mình, không ai biết bác nghĩ gì.

    Ở chơi tới giữa trưa, ba chị em theo Khiêm đón xe lam đi Gò Chùa, cũng như ba má Khánh Vân, ba má Khiêm cũng vui mừng không ít, nhứt là nhắc chuyện nhờ nói chuyện chị Sắn học thi mà Khiêm mới ráng đậu vào trường tỉnh, cả nhà cười ngặt nghẻo, với Khánh Vân, Khánh Linh thì ôi thôi, một con hai con, tiếng thương tiếng mến. Trời ngấp nghé quá xế trưa, ba chị em chào từ giã, gởi lại túi quà mà chị Sắn đã chuẩn bị trước khi đi, xoài ngon, vú sửa và mấy hộp bánh ngọt hiệu LU cho ba má Khiêm, anh đưa ba chị em ra đường chờ đón xe lam về lại quận, nói cười không ngớt, hẹn và dặn nhớ gặp lại dưới Sài Gòn.

*

    Từ ngày gặp lại nhận ra nhau, Khiêm thường đến ăn cơm chiều với ba chị em, chị Sắn, chưa lập gia đình, có vài anh ngấp nghé nhưng chị làm lơ, chị bảo còn sớm, không biết sớm của chị là như thế nào nhưng chị yêu đời lắm, vui vẻ suốt ngày, chưa thấy chị giận hờn hay càm ràm chuyện gì. Đi làm về, câu chị hỏi đầu tiền là “Khiêm có tới không?”. Cứ vậy mà họ thân thiết nhau ngày lại ngày qua, vắng tới bữa cơm nào là buồn bữa cơm đó, lại có người “vắng thì buồn mà thiếu thì nhớ’ hơn ai hết. Vậy đó, Khánh Vân, Khiêm, hai người yêu nhau từ lúc nào, từ khi nào không ai biết, cả nhà hai bên Gò Dầu Gò Chùa mừng muốn khóc, đường Gò Chùa Gò Dầu gần hơn, gần hơn nữa, chờ một ngày gọi hai tiếng “anh sui chị sui” và cũng từ đó, Sài Gòn biết thương Gò Dầu. Cũng từ đó, chiều Khiêm ít ra chỗ vá xe chú tư Lành như những chiều trước, mỗi lần gặp lại, thấy anh ta vui, yêu đời hơn trước, chú tư biết ngay chuyện gì rồi, nhâm nhi ly cà phê bưng qua từ quán bà sáu, chú chúc cho cái hạnh phúc mà anh đang có được trọn vẹn.

*

    Cuối năm ra trường, Khiêm xuống Long An làm việc, đường về Sài Gòn quá gần, những ngày cuối tuần, Khiêm thoải mái đi về thứ Bảy chủ Nhật, chuyến xe đò nhỏ Mỹ Tho Sài Gòn, đi riết rồi chú tài xế anh lơ xe đều nhớ mặt, đều chừa chỗ sẳn cho anh ta, luôn đứng chờ ngay đầu đường vào phố tỉnh. Cuộc tình của anh và Khánh vân cứ vậy mà đi, kỷ niệm cứ đong đầy tiếng yêu, tiếng thương theo ngày tháng, Gò Dầu Gò Chùa cũng chờ mà vui theo.

*

    Xế trưa, nắng nóng dần ngoài sân cỏ bệnh viện Chợ Rẫy, người thăm nuôi đứng ngồi chật cứng ngoài hành lang, hai ba cô y tá đi qua, lặng thinh, chị em Khánh Vân ngồi quanh bên giường bệnh, chai nước biển treo đầu giường nhỏ từng giọt chậm, tấm khăn trắng trải phủ người không đọng đậy, Khiêm vẫn nằm bất động, miếng băng vải quấn kín đầu, mắt nhắm nghiền, lẻ loi vài tia nắng rọi vào phòng ngang qua, mặt Khiêm xanh nhợt nhạt. Chị Sắn đi tới đi lui, thở dài, Khánh Vân rấm rứt khóc, Khánh Linh sụt sùi “anh Khiêm ơi”.

    Sáng thứ Bảy cũng như những thứ Bảy trước, chuyến xe đò nhỏ sớm Mỹ Tho Sài Gòn lên, còn một khoảng cũng khá xa cầu Bến Lức, từ trên Sài Gòn ngược chiều chiếc xe đò lớn Sài Gòn Long Xuyên, qua cầu chạy quá nhanh, tránh không kịp cái xe bò chở thóc, đụng xe đò nhỏ cùng lúc sắp lên cầu, tiếng đụng vang lên như mìn nổ, hai chiếc lăn cả chục vòng xuống ruộng, không may khi ngừng lại, xe đò nhỏ mà Khiêm đi bị chiếc xe đò lớn đè, nát bấy gần hết, người trong xe kẹt không ai ra được, lính từ trên cầu chạy tới, dân nhà bên đường gọi nhau ùa ra, tiếp cứu. Xe cần trục cũng như xe cứu thương từ căn cứ Đồng Tâm chạy xuống, nhân viên y tế của bệnh xá Thủ Thừa  và xe cứu thương bệnh viện Long An chạy lên, kiểm lại có hơn phân nửa hành khách của hai xe bị thương nhẹ, xây xát trầy trụa, ba bốn chết, số còn lại bị thương khá nặng trong đó có Khiêm là nặng nhất, theo lời bác sĩ có mặt, người ta đưa Khiêm cấp tốc lên Sài Gòn, mấy người kia chở về dưới bệnh viện Long An, theo giấy tờ trong mình của Khiêm, bệnh viện cho người tới nhà Khánh Vân báo tin.

   *

   Cả hai gia đình bên ngoài phòng mổ chờ, ai nấy lo lắng, đứng ngồi không yên, chừng đâu đó gần hai giờ đồng hồ, một hai cô y tá đi ra cùng với hai ba người mặc áo choàng, loại áo dành cho bác sĩ, khẻ gật đầu chào đi qua mà không nói gì hết, ai nấy điếng lòng chờ, không lâu sau, một người bác sĩ nữa đẩy cửa bước ra, anh đứng lại trước mọi người, đột nhiên buột miệng gọi tên ba của Khiêm, anh tới nắm tay ông, ông vừa lo, ngờ ngợ thì anh lên tiếng:

- Bác tư, con đây nè, thằng Vinh, con ông Hiến, thư ký hội đồng xã, học cùng trường tỉnh với Khiêm, trên nó hai lớp, nhà con cách nhà bác hai ba căn, sáng nào bác với ổng  cũng uống cà phê với nhau ngoài quán bà hai Tựu, cách dãy cây trứng Cá thôi, tụi con chạy qua chạy lại chơi với nhau, con còn dạy Khiêm làm toán mỗi khi nó bí, con ăn cơm bên nhà bác bao nhiêu lần rồi, bác nhớ chưa.

   Anh quay qua nắm tay má Khiêm:

- Bác gái nhớ chưa, cơm nguội mắm cá sặt bác cho hai thằng con ngon quá xá, đến nổi về nhà con đòi má con phải làm như bác, vậy đó.

    Bác sĩ Vinh, ngưng ở đó, anh lên tiếng xin lỗi những người khác vì bất ngờ găp lại người quen, mà lại là ba má của Khiêm, cả nhà cười đáp lễ nhưng cái cười sầu lo. Vinh mở xấp giấy bệnh trạng, kết quả giải phẩu, cười khoan khoái:

- Khỏe rồi, thành công lắm mấy bác, mấy chị ơi, yên tâm đi, nhưng chắc phải nằm lại hai ngày, để theo dỏi, bảo đảm là mọi việc tốt đẹp, bác tư yên tâm, vụ này con lo mà.

    Ba má Khiêm lúc bấy giờ mới thở ra, ôm lấy Vinh khóc sướt mướt làm ba má chị Sắn cũng như ba chị em nước mắt lưng tròng.

    Một lần nữa, Vinh nhìn đồng hồ đeo tay, chào tạm biệt, hẹn gặp lại hai ngày nữa, vừa bước đi vừa quay lại cười:

- Chuyện này để con lo.

*

    Bữa cơm cám ơn, có ba má Khiêm, ba má Khánh Vân và một người khách lạ là bác sĩ Vinh, vẫn còn độc thân, Vinh cũng như Khiêm nói năng vui vẻ, nhanh nhẩu nên ai nấy đều thoải mái chuyện trò, thật thà cởi mở. Gặp lại Khiêm, hai chàng ngồi nhắc lại chuyện xưa, chuyện của những ngày tập làm quen người lớn, cùng ở trọ một nhà tại căn nhà thiếc, trong hẻm nhỏ Võ Tánh, Vinh dẫn Khiêm, vì là đàn anh, tập làm “cây si” hai đứa con gái, con ông chủ tịch hội đồng tỉnh, hát hò theo sau kiểu “anh theo Ngọ về” của Phạm Thiên Thư, chuyện mượn tiền đánh bài cào với đám bạn ngoài chợ Cũ, thua xiểng niểng, kỷ niệm nhiều và nhiều lắm, cuối tuần nếu về thăm nhà lúc nào hai đứa cũng đi chung xe, vui buồn lẩn lộn.

    Vinh đậu Tú Tài Hai, học giỏi lắm, chia tay, Vinh xuống Sài Gòn trước hai năm mấy, thỉnh thoảng có về Gò Chùa nhưng khi anh về thì Khiêm lại lên tỉnh, từ đó ít gặp nhau ngay cả khi xuống Sài Gòn vào đại học, Vinh đã lên năm thứ ba Y khoa, Khiêm thì “dở không dở giỏi không giỏi” nên đành vào Luật chờ hên xuôi. Cũng ba bốn lần gặp lại nhau, cà phê lề đường vậy thôi, Vinh bận học hành nhiều quá, nên tự biết mà tạm gặp nhau  khi nắng khi mưa”, chẳng có tên nào buồn nào khổ gì hết. Về Gò Chùa thăm nhà thì mạnh người nào nấy đi, không còn chờ chờ đợi đợi như những ngày xưa trên tỉnh. Còn may, nhưng thấy buồn, cuối năm đầu Luật, Khiêm đậu vào trường khác, bên trường Y Vinh quá giỏi nên được học bổng đặc biệt từ Tân Gia Ba. Vinh đi, Khiêm ở lại,  từ giã nhau từ ngày Khiêm tiễn Vinh lên máy bay, và cũng từ đó chưa một lần gặp lại.

*

    Bữa cơm chiều, nói nhiều hơn ăn, lạ đó rồi quen, tiếng cười lớn nhỏ vọng ra cả ngoài sân trước. Có để ý lắm, người ta thấy chị Sắn thường trộm nhìn anh chàng Vinh và ngược lại, bác gái, má chị Sắn thỉnh thoảng nhìn sơ chị rồi, nhìn Vinh, bà gật gù mĩm cười, giống cái cười mà bà đã nhìn Khánh Vân và Khiêm hôm về Gò Dầu ngày đó. Hai cô em, có lẽ mến anh chàng Vinh này cho bà chị mình rồi, nên gợi chuyện này chuyện nọ luôn miệng “chị Sắn, anh Vinh”.

    Ra về, cả nhà đưa Vinh ra đầu ngõ vào cư xá đón xích lô, hai cô em cứ nhắc cứ dặn hôm nào rãnh nhớ tới chơi, chị Sắn xem ra có phần lúng túng, Khiêm chợt nghĩ, ý nghĩa của chữ còn sớm của chị khi hỏi khi nào lập gia đình, chắc là hết sớm rồi, ba má Khiêm, bá má chị đứng sau, cười thật tươi, xe tới, Vinh cúi đầu chào cả nhà, quay qua nói nhỏ gì đó với Khiêm, Khiêm liếc qua chị Sắn gật đầu đồng ý, mọi người vẫy tay tạm biệt, xe xích lô xa dần trên đường đông người, ai nấy thong thả trở vô, chị Sắn vẫn còn đứng đó nhìn theo.

*

    Trở lại Long An làm việc chừng nữa năm, lúc này Khiêm không còn về Sài Gòn thường như trước kia vì công việc bận rộn hơn, có khi cần ngay cả cuối tuần, ngày lễ. Lưng chừng mùa Hạ, mùa hè của tuổi học trò, Khiêm hoán chuyển với một người đàn anh cùng trường, về Tân Uyên Biên Hòa, Khánh Vân chưa biết tin vì lần về Sài Gòn gần đây, việc này chưa xong nên chưa báo cho ba chị em họ biết.

   Thứ Bảy Khiêm lái xe về Sài Gòn thật sớm, cái xe “jeep” lùn màu trắng, mui xếp lại, mang số ẩn tế mà ông đàn anh đã dùng hồi còn làm ở đây. Tới nhà, Khiêm đậu xe bên kia đường Phan Thanh Giản, ngay ngó qua ngõ vào cư xá, trời vừa nhá nhem có chút nắng sớm. Khiêm mĩm cười ung dung qua đường, tới nhà đứng ngoài cổng, không vội vô, cửa sổ chưa mở, trong nhà có đèn và có tiếng nói qua nói lại gì đó của ba chị em vọng ra, anh cười cười thầm, đứng nép một bên, nhận chuông. Khánh Linh vừa đi ra vừa lầm bầm “giờ này còn sớm mà ai vậy ta”, cửa mở rộng, Khiêm bước vô, cô nàng giựt thót người buột miệng “trời ơi “, rồi đứng yên nhìn, chỉ cười, lấy làm lạ sao không nghe cô nàng hỏi han gì, hai chị em vội đi ra, cũng như Khánh Linh, cùng thốt lên “trời ơi”.

    Cũng khá lâu, chưa gặp lại, bữa ăn sáng nhẹ nhàng, bánh mì thịt nguội mua từ hôm qua, cứ nhìn nhau mừng vui mà không biết nói gì, khi Khiêm cho biết đã đổi về trên Tân Uyên Biên Hòa, riêng Khánh Vân vui mà muốn khóc. Ba chị em trố mắt ngạc nhiên hơn khi theo Khiêm ra đường, chỉ là xe của anh, Khiêm lái xe đưa nhau về Gò Dầu Gò Chùa khi trời đã rựng nắng vàng trên đường ra khỏi ngã tư Bảy Hiền, họ đã có một thứ Bảy vui bên nhau trọn vẹn .

    Buổi chiều, lái xe trở lại đưa ba chị em đi ăn tiệm như đã hứa, không ngờ gặp lại Vinh ở đó, tay bắt mặt mừng, không cần hỏi gì, nói gì vì ai cũng biết chuyện gì rồi, chỉ có chị Sắn thì nhìn Khiêm cười mà má ửng hồng, Khiêm đáp thầm vui cùng chị bằng cái nheo mắt cảm thông.

*

    Trời có nắng sớm, ở chợ quận, cái cổng kết đầy hoa, trước tiệm thuốc Tây, có hàng chữ “Lễ Thành Hôn” rạng rỡ khoe sắc, khoe màu, người trong nhà rộn ràng đi qua đi lại, đám cưới chị Sắn với anh Vinh được tổ chức, tuy đơn sơ nhưng hai họ trai gái đều hài lòng mọi thứ, có mặt đủ ba má Khiêm, ba má Vinh, và mấy người bà con bên gia đình chị Sắn, hàng xóm láng giềng trong chợ cũng vui lây, tiếng pháo tiếng cười rộn rã, vang vang cả một góc đường. Rồi đám tiệc cũng xong, mấy ngày rồi, tấm bảng “Lễ Thành Hôn” vẫn còn đó, hoa cũ đã thay mới từ chiều hôm qua, không biết để làm gì, người phố chợ đi ngang, ngạc nhiên không ít.

   Lại một sáng có nắng sớm hôm sau, có xe có người, những người ngày hôm trước, cũng đơn sơ nhưng không kém phần trang trọng, đám cưới Khánh Vân, cô giáo trường trung học tư thục Thánh Linh, dưới Sài gòn với Khiêm, người về từ Tân Uyên, thêm xác pháo hồng ngoài sân, một lần nữa hàng xóm láng giềng vui lây.

*

   Cuộc vui nào rồi cũng tàn, tiệm thuốc Tây mở cửa lại, hai ba người khách quen hay tin trễ, mang theo chút quà chung vui cùng gia đình. Trời lất phất mưa, bay như bụi phấn, xác pháo tàn tím bầm, nằm vương vải trong sân chờ thu Gò Dầu đến.

 

Thuyên Huy

Chuyện tưởng thật mà không thật – 2025

 

 

  

 

 

   

 

   

 

 

    

   

   

  

   

    

   

   

đã Nghe - Nguyễn Đình Toàn

 Đã Nghe