Saturday, September 25, 2021

Tạ Lỗi Với Người - Nguyễn Đạm Luân

 Tạ Lỗi Với Người

Tạ lỗi với TH, đã có một thời làm cô giáo

 















Cho tôi gởi như một lời tạ lỗi

Cám ơn người cho tôi tháng ngày vui

Cũng là khúc kinh cầu xin tạ tội

Để thôi không còn nữa những ngậm ngùi

 

Cuối cùng tình đầu là mối tình lỡ

Nợ của người chưa kịp tiếng ăn năn

Trăm năm nay chỉ còn lại một thuở

Kỷ niệm mù mờ bụi bám nhện giăng

 

Trong tôi người vẫn màu tà áo đó

Tà áo của ngày tôi mới biết thương

Những chiều bên nhau đường che nắng đổ

Bồi hồi chân ngượng ngập cổng sân trường

 

Mùa thi tôi ngổn ngang với sách vở

Người ngồi bên nhắc nhở chuyện tương lai

Đêm thật khuya mộng mơ tràn giấc ngủ

Giấc mộng đời mình có nhau ngày mai

 

Chuyện cũ thôi đành xem là quá khứ

Nợ này tôi giữ mãi tới ngàn sau

Một mai ngày cỏi thiên thu rộng mở

Xin cho tôi được đi lại từ đầu

 

Nguyễn Đạm Luân

Viết thay cho một người không dám nói lời tạ tội – tháng trái mùa 2020

Những Bài Thơ Chọn Lọc Ký 1 - Nhóm Vườn Thơ Mới

 NHỮNG BÀI THƠ CHỌN LỌC KỲ I- VƯỜN THƠ MỚI

Các thi hữu:Nguyễn Cang, Kim Trân, Mỹ Ngọc

Đề thơ:

 













NGƯỜI EM XỨ HUẾ

 

Một chiều dạo bước đất Thần Kinh

Nón lá che nghiêng rất hữu tình

Núi Ngự chim bay tìm tổ ấm

Sông Hương nước chảy khuất kinh thành

Thẹn thùng gái Huế dừng chân bước

Ngơ ngẩn tình ta thấy dáng xinh

Nhớ mãi nữ sinh Đồng Khánh  Huế

Lòng nghe xao xuyến  động tim mình!

 

Nguyễn Cang

 

Các bài cảm tác:

 

[1].NHỚ HUẾ

 

Lòng ta nhớ mãi Huế thương yêu

Dìu dịu sương rơi nắng nhạt chiều

Lất phất mưa bay màu cổ kính

Cố đô lăng tẩm bậc vương triều

 

Thuyền lướt sông Hương  rất hữu tình

Tràng Tiền nối nhịp dáng mơ xinh

Bài thơ chiếc nón nghiêng bờ tóc

Núi Ngự thêm say ánh mắt nhìn

 

Giọng hò nhè nhẹ nhớ miên man

Trầm bỗng đưa hơi quyện bước chàng

Gợi cảm lòng này nghe luyến nhớ

Theo về giấc ngủ mộng du hoan.

      

KT kính bút

 

[2]. THĂM TRƯỜNG CŨ.

 

Chiều nao áo trận ghé ngang trường,

Lấp ló sân ngoài nặng vấn vương.

Gốc phượng, ngày xưa vài bạn hữu,

Cây bàng, thủa ấy mấy cô nương.

Đường về gió lộng đôi tà tím,
Nắng dọi nón che cặp má hường,

Cảnh đấy người đâu buồn nát dạ,

Âm thầm cố nén nỗi sầu thương.

 

Mỹ Ngọc.

Sept.19/2021

 

[3]. HUẾ MỘNG MƠ

 

Bóng  ngã chông chênh một chiếc thuyền

Đưa người lữ khách nắng chiều xiên

Bến sông, Thiên Mụ vươn cao ngất

Đồng Khánh ngang cầu chẳng ngủ yên

Cương thổ lầu xưa vang tiếng nhạc

Hoàng triều nước cũ đọng cô miên

Vầng trăng soi sáng kinh thành Huế

Nón lá che nghiêng  đẹp dịu hiền !

 

Nguyễn Cang (Sep 21, 2021)

 

Bóng Nguyệt & Lời Nguyện Cầu - Nguyễn Thị Châu

 BÓNG NGUYỆT

 















Bóng nguyệt soi hình ai đáy nước ?

Nét thu ba còn lại những gì ?

Thời gian bôi xoá mờ nhân ảnh

Một khúc tình ca buổi phân kỳ

 

Cuộc sống giờ đây bao mộng ảo

Sánh được như xưa khúc nghê thường

Ngoài hiên bóng mờ trong sương lạnh

Khối tình ôm ấp bến sông Tương .

 

Bình minh đã tắt bên sườn núi

Đợi ánh hoàng hôn mây xám trôi

Bao năm dặm bước ngoài mưa gió

Còn lại trong tôi , chỉ là tôi .

 

Lại ánh trăng soi chân tôi bước

Hiu quạnh mình tôi bước cô đơn

Thu ba đã mất từ lâu lắm

Bóng nguyệt nhìn ai sáng chặp chờn....,?

 

19-9-2021

Nguyễn thị Châu

 

 LỜI NGUYỆN CẦU

 

Dưới chân Đức Mẹ tôi nguyện cầu

Cầu cho hai đứa được bền lâu

Bạch Đằng bến nước còn in dấu

Hai mái tóc xanh đến bạc đầu.

 

Thảo Cầm Viên dạo bước bên nhau

Ngoạn cảnh du Xuân đượm sắc màu

Tay trong tay với bao hẹn ước

Chinh chiến tan rồi hết lo âu!

 

Kỹ niệm còn đây ! Sài Gòn đó

Chúa đã không thương không nhậm lời

Nhà thờ Đức Bà mình tôi bước ..

Anh đã đi rồi bỏ lại tôi !

 

Sài gòn trong tôi bao nhớ thương

Tôi biết tìm ai để tỏ tường ...

Bao năm sương gió đời lận đận

Đất lạnh anh nằm nơi cố hương .

 

Nguyễn thị Châu

5/9/2021

Nhớ lại người tình đêm Noel năm 1967 tại nhà thờ ĐỨC BÀ, SÀI GÒN.

Tình Chiến Hữu - Ngư Sĩ

 Tình Chiến Hữu




Đồng Khánh Ngày Xưa - Lê Quang Kết

 

Đồng Khánh Ngày Xưa




 

Nhiều người Huế ngày trước thuờng ngâm nga câu hát:“ Cô gái nữ sinh Đồng Khánh kia ơiCô đi về đâu tan buổi học rồi? Cô xuôi Đập Đá hay về Nam Giao Cô về Bến Ngự hay về Đông Ba Cô về Vĩ Dạ hay ngược Kim Luông…Tôi mơ một bóng khi về đơn côiÁo dài dáng đẹp tóc còn buông lơi Ghi một kỷ niệm cuộc đời trong tôi”. Nhạc sĩ Thu Hồ ngày đó có lẽ yêu một nàng Đồng Khánh da diết mới viết ra những dòng lãng mạn và yêu thương đến thế! Đồng Khánh ngày xưa…Ôi chao! đẹp lắm, hay lắm, lạ lắm, thơ mộng lắm, tuyệt vời lắm…Đồng Khánh ngày xưa…đã níu chân biết bao lãng tử – biết bao chàng trai hào hoa, lịch lãm trong Nam ngoài Bắc.Trường ra đời từ năm 1917- mang tên một ông vua triều Nguyễn mệnh yểu Đồng Khánh (1885-1888)- chỉ trị vì có ba năm thì mất.Thầy Tôn Thất Bình nói với dân Văn khoa chuyện cũ cung đình: Vua Đồng Khánh hay chú ý ngoại diện, thường chăm sóc trang điểm -có tới năm cung nữ chải chuốt bộ móng tay, thay quần áo, thoa dầu thơm, vấn khăn lụa…Có phải vì thế mà tên trường được đặt là Đồng Khánh? Đúng thế không biết! Sau này người ta bảo ông vua nhu nhược- chấp nhận sự đô hộ của người Pháp, phải đổi tên trường – có lúc là Trưng Trắc và giờ đây tên gọi là Hai Bà Trưng.

Cách đây hai năm Đồng Khánh tròn chín mươi năm – một chặng dài của bao biến động lịch sử – một khoảng lặng của bao tâm hồn thiếu nữ khi nhớ về trường xưa tình cũ.Chị họ tôi – năm nay đã ngoài 70, học Đồng Khánh từ thuở thập kỷ 60 của thế kỷ trước. Mắt chị đã mờ – vậy mà ngày nào cũng giở tập lưu bút, mân mê chiếc áo dài trắng cũ sờn vai và tập bưu ảnh nhập nhòa của một thời nữ sinh nhiều mơ mộng.Giọng từ tốn chậm rãi như các mệ trong tam cung lục viện xưa – chị đăm đăm nhìn phía xa xăm :“ Nữ sinh giờ chán lắm, không bằng chút cheo tụi tao Đồng Khánh Huế ngày xưa…”.Rồi chị thâm trầm: “Thầy dạy văn năm đệ nhị đã gieo vào lòng tình yêu văn chương cho chị và cả gia đình – không có thầy chị chẳng biết chi mô…
Câu chuyện ngày xưa Trang Tử, cơ nghiệp thiêu rồi ngồi gõ khúc bồn ca…hay là một Thánh thi Cao Bá Quát khinh thế ngạo mạn – một Bà Huyện Thanh Quan quý tộc, đài các – một Hồng Hà nữ sĩ với bản dịch Chinh phụ ngâm tuyệt tác- ai đọc rồi chẳng cần cất công đi tìm nguyên tác…Hiệu trưởng trường Đồng Khánh ngày ấy – cô Thân Thị Giáng Châu- đối với chị là một phụ nữ tuyệt vời- thần tượng cho cả thế hệ chị và lớp lớp phụ nữ thời ấy…”Tôi học Hàm Nghi – vốn là trường Quốc Tử Giám trong Thành Nội.Ngày đó nam nữ học riêng. Chỉ có một số trường sau này như: Kiểu Mẫu, Gia Hội và các trường tư mới có chuyện nam nữ chung lớp.Ai trong lứa chúng tôi cũng mơ được làm quen với một nàng Đồng Khánh- coi đó là niềm hãnh diện, tự hào để khoe với bạn bè khi cao hứng. Điều này quả là chuyện khó, mấy nàng Đồng Khánh lạnh như băng – thâm trầm như biển sâu – nói như anh Mường Mán:“ Tội tui lắm! cách cho vài bướcĐừng đi gần hai đứa sóng đôiXa xa cho kẻo bạn tui cườiMai vô lớp cả trường dị nghị…”.

 

Xứ Huế lưới trời lồng lộng, yêu lắm cũng chỉ để trong lòng – không dám mô – họa chăng chỉ là lá thư vụng về và bài thơ viết dở.Có chị Vĩnh Liêm- Đồng Khánh (1957-1964) qua đò Thừa Phủ hai buổi đi về.- Chuyện rằng:Có chàng Quốc Học “bốn mắt” để ý chị từ lâu nhưng chẳng dám ngỏ lời. Có hôm vừa tới bến – đò đã chống sào, chàng chỉ chờ đợi có thế để đưa tay cho chị bắt, chỉ việc nhảy xuống đò là có thể kịp buổi học.Nhưng không “nam nữ thọ thọ bất thân” nên đành ngậm ngùi, bất lực trông theo con đò rời bến- đành chấp nhận trễ buổi học và tất nhiên là hôm đó chị bị phạt cấm túc tới mấy buổi. Sau này chị Liêm bảo:“Sau bao thăng trầm bể dâu nếm đủ mùi vị ngọt bùi cay đắng của cuộc đời, nhớ về kỷ niệm xưa, tui tự trách mình sao quá vô tình trước một tấm lòng.Những lúc buồn tui để hồn bồng bềnh trôi theo dòng Hương giang, ghé lại bến bờ cũ. Ký ức bỗng hiện lên hình ảnh một nữ sinh áo trắng tóc thề đội nón bài thơ có quai ruy băng tím và anh chàng thi sĩ bốn mắt đang đưa tay ra chực nắm tay cô. Một niềm hạnh phúc nho nhỏ chợt đến, tui mỉm cười và triết lý một mình: Ừ nhỉ, thời gian cũng có hai chiều…”Bài thơ Ngày xưa Hoàng Thị của Phạm Thiên Thư được nhiều người thích nhưng lớp nữ sinh Đồng Khánh ngày ấy tâm đắc nhất:
“ Em tan trường về Đường mưa nho nhỏ Chim non dấu mỏ  Dưới cội hoa vàng…Anh đi theo hoài Gót giầy thầm lặng Đường chiều úa nắng Mưa nhẹ bâng khuâng…”.


Bài thơ chưa kịp phổ nhạc (nhạc sĩ Phạm Duy) đã được chép tay chuyền nhau và nằm ở trang vở đẹp nhất trong cặp sách của các nàng nữ sinh Đồng Khánh. Danh từ riêng Hoàng Thị đã thành danh từ chung cho những cặp đôi học trò đưa nhau về mỗi buổi tan trường nơi xứ Huế mộng mơ…Bữa nớ chàng nào hoàng thị mi rứa? Ngày qua tao thấy mi hoàng thị đó nghe? Chàng và nàng hoàng thị đẹp đôi ghê? Tao méc cho coi- hôm nớ mi và cái anh trắng trắng hiền hiền hoàng thị đó nghe…Không biết chị Ngọ có còn không, giờ đang nơi đâu, nghĩ gì về câu chuyện hoàng thị thuở xưa? Gần đây có người nhận mình là chàng trai đã làm quen với chị những năm Sài Gòn cũ – một Nguyễn Quang Minh nào đó của những năm 1963,1964…Anh Minh ơi! Ngày ấy phải có tới hàng ngàn ngàn chàng trai xứ Huế làm thơ gởi chị Ngọ- mong mình được là Phạm Thiên Thư để được hoàng thị với cô nàng Đồng Khánh trong mơ. Chao ôi, tình yêu tuổi học trò sao mà đẹp thế, hồn nhiên thế, mơ mộng đến thế!?Mối tình học trò nhiều hoa mộng. Yêu em từ dạo ấy, thuở Đồng Khánh ngày xưa, tình yêu mong manh nhưng trong sáng- đẹp như ánh pha lê. Tan trường, áo dài tung bay trong gió, tập vở ôm nghiêng, mưa Huế lất phất, em dịu dàng nhẹ bước. Có chàng trai lẳng lặng theo sau, từng ngày từng ngày trôi qua, chẳng dám ngỏ lời, chỉ dám tặng em chùm hoa nhỏ. Cô ép vội cành hoa vào trang vở và môi nở nụ cười bâng khuâng…Mùa hạ tới rồi thu sang mang theo nỗi buồn- chàng lên đường nhập ngũ, con đường kỷ niệm xưa nhạt nhòa trong ký ức…Một ngày nào chàng trở lại con đường xưa, lang thang tìm lại dấu chân của ngày tháng cũ nhưng quanh chỉ còn lại những dư âm nghẹn ngào, anh nghe tiếng lòng ngẩn ngơ, nuối tiếc:
“ Mười năm rồi Ngọ tình cờ qua đây cây xưa vẫn gầy phơi nghiêng ráng đỏ áo em ngày nọ phai nhạt mấy màu? chân tìm theo nhau còn là vang vọng đời như biển động xóa dấu ngày qua”.
Lời thơ và ca khúc vang lên giai điệu cuối: “Ai mang bụi đỏ đi rồi…”. Thế mà âm vang trong chàng vẫn còn vọng lại:… Em tan trường về, em tan trường về… Dễ thương lắm, man mác lắm, tha thiết lắm người ơi…Lục lọi trong thư tịch cổ, một người Pháp sống ở Huế thời bảo hộ đã có một phát ngôn thú vị: “Huế là nơi cái chết mỉm cười, vui tươi thổn thức” ( Le deil sourit, la joie soupire). Đó là nơi thanh thản dạo chơi trên lăng tẩm cung đình triều Nguyễn nếu người lữ khách mệt mỏi lo toan, nhưng lại là điệu buồn ai oán nếu du khách thả hồn theo làn điệu ca Huế trên dòng Hương. Quả là một nhận xét khá độc đáo.Ngược dòng lịch sử, Huế là đất một chuyện tình – gắn với số phận lênh đênh của nàng công chúa dưới thời Trần- Huyền Trân. Năm 1306, cô ngàn dặm ra đi theo Chiêm vương Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô và Rí. Xin Trịnh Kiểm vào trấn thủ Thuận Hóa, Chúa Nguyễn Hoàng trong lần tuần du trên xứ Hà Khê đã được nữ thần phán bảo: Hãy thắp lên nén nhang xuôi dòng Hương từ Thiên Mụ về, nhang tàn sẽ là đất thiêng nơi dựng đế nghiệp…
Dưới triều đại Hoàng đế Quang Trung, Huế lại đón nhận thêm một vị công chúa từ đất Thăng Long thanh lịch của nhà Lê về Phú Xuân làm Bắc cung Hoàng hậu, và cũng nơi này – khúc “ Ai tư vãn” khóc người anh hùng áo vải cờ đào nổi tiếng của bà đã ra đời…Hình như là thế. Đất Huế gắn chặt với huyền thoại và số phận của những phụ nữ tài hoa mệnh bạc.Đến thời hiện đại trước 1975, một huyền thoại mới đầy huyền hoặc thơ mộng lại xuất hiện trên đất Huế- nữ sinh Đồng Khánh. Tan trường áo trắng tung bay, tóc thề trước gió, vành nón nghiêng che trắng cả bến đò Thừa Phủ và Tràng Tiền mười hai nhịp. Tất cả đã làm nên một xứ Huế diệu kỳ.Ngôi trường mang tên Đồng Khánh đã bất tử trong lòng những ai yêu Huế, hiểu Huế. Đi tới nơi mô những thế hệ Đồng Khánh ngày xưa vẫn mang trong lòng nỗi nhớ khôn nguôi. Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Đà Lạt, Sài Gòn, Hà Nội, Cần Thơ… và ở nước ngoài: Pháp, Mỹ, Canada, Anh, Úc… đâu đâu cũng hội hè ái hữu Đồng Khánh – chuyện xưa Đồng Khánh. Nhiều chị nhiều nàng tự nguyện xin được vào hội dù chẳng phải Đồng Khánh ngày xưa…Họ vẫn hồn nhiên nhưng đau đáu về một thời thiếu nữ thầm lặng mối tình đầu.Đồng Khánh ngày xưa.. là một thế giới huyễn hoặc của riêng Huế, của cô gái Huế. Tên gọi Đồng Khánh đã không còn, con đò Thừa Phủ đã thuộc về kỷ niệm, những tà áo trắng tinh khôi thuở ấy đã thuộc về dĩ vãng…Tìm đâu bóng dáng những Chiêm nương váy tím cỏ hoa lau lách nguyên sơ với man điệu buồn. Tìm đâu ngọn nguồn mối tình Khắc Chung- Huyền Trân rỉ máu…Thôi thì … thôi thì…nói như chàng Trịnh – nhạc sĩ của đất Huế đẹp và thơ: Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau.

 

Lê Quang Kết

304Đen – llttm -tvvn

Vẫn Vơ Lắm Chuyện - Không Phải Lắm Của Nhiều Tiền Mới Là Sang - Đổ Duy Ngọc

 VẨN VƠ LẮM CHUYỆN – KHÔNG PHẢI LẮM CỦA NHIỀU TIỀN MỚI GỌI LÀ SANG

 


 

Nhiều bữa không ngủ được, nằm nghĩ toàn mấγ chuγện tào lao. Ví dụ như những năm sau 1975, cơm không có ăn, toàn bo bo với bột mì, thức ăn toàn cá ươn và rau héo. Lúc đó chỉ mong có bát cơm trắng, bữa cơm có thịt. Giải trí thì chỉ quanh quẩn mấγ bài ca cách mạпg, thể thao thì chỉ loanh quanh đá bóng, bóng chuγền. Thời mở cửa, tiền bạc khá hơn, đời sống được nâng cao, Ьắt đầu xuất hiện ρhong trào tennis. Thật ra trước 75 ở miền Nam, tennis cũng là bộ môn có khá người chơi, nhưng toàn tướng tá, nhà giàu, công chức cao cấρ vì sân không nhiều mà dụng cụ thì rất đắt.

Từ cuối thậρ niên 80, sân tennis mở ra nhiều, vợt, banh, giàγ, vớ, áo quần được nhậρ về, ρhong trào rầm rộ.Và tennis lúc đó là thú chơi của người có tiền, nhất là cáп bộ. Ra đường mà mặc bộ đồ ᵭάпҺ tennis trắng, giàγ Adidas, Nike…với vợt Wilson, Head chính hãng là quý tộc rồi. Vẫn biết đó là môn thể thao để mang lại sức khoẻ. Thế nhưng nhiều người đến với bộ môn nàγ để khoe khoang. Thời đó là thú chơi trưởng giả, có level cao trong xã hội. Ngồi đâu cũng nghe bàn về tennis, thể hiện đẳng cấρ. Dần dà, khi ρhong trào Golf du nhậρ vào, nhiều sân golf xâγ lên, 18, 36 lỗ đều có đủ. Người ta lấγ luôn đất sân baγ làm sân golf. Từ đó tennis thành trò chơi bình dân, ít vốn, không còn được nhắc nhiều nữa. Từ đấγ golf mới là quý tộc, là đẳng cấρ, là dân chơi thứ thiệt. Đi vào thế giới của trưởng giả, của trọc ρhú, của doanh nhân, của cάп bộ đều bàn chuγện golf và giá cả của các món đồ ρhục vụ thú chơi nàγ với giá cao ngất ngưỡng. Tennis xuống giá, golf trồi lên. Giá trị đã thaγ đổi.

***

Một thời người ta mong có miếng thịt mỡ để có chất béo, để rán, để chiên. Mong có miếng thịt nạc để có thêm chất đạm. Đến khi mở cửa, thức ăn tràn trề, thích gì có đấγ, chỉ sợ không có tiền thì lại rộ lên ρhong trào ăn chaγ. Doanh nhân bạc tỷ cũng ăn chaγ, nghệ sĩ, người mẫu cũng ăn chaγ, tu cũng chaγ mà không tu cũng chaγ. Tiệm cơm chaγ mở ra tràn ngậρ, bình dân có, sang hèn có. Đi đâu cũng nghe bàn chuγện ăn rau cỏ. Vào nhà hàng sang trọng, giá cả trên trời cũng chỉ gọi món rau trộn. Ăn chaγ trở thành ρhong trào, trở thành mốt thời thượng. Ngược với ăn chaγ lại có một xu hướng kiếm ăn thịt thú rừng. Thú càng quý, càng được săn đuổi. Thưởng thức thịt rừng là một thú vui quý tộc. Ăn những món ăn bình thường là tầm thường, ρhải taγ gấu, óc khỉ, mật rắn, chồn hương, tê tê…rồi sừng tê, mật gấu, cao hổ, nhung hươu mới là dân chơi thứ thiệt. Cán bộ ta toàn là dân chơi.

***

Từ chuγện ăn chaγ lại dẫn đến chuγện tu hành. Xã hội càng tàn bạo, khát máu, baọ lực, lừa lọc, dối trá, láo toét thì người nói chuγện tu hành, kinh kệ càng nhiều. Chùa chiền mọc lên như nấm. Thằng du đãng gιết người cướρ của, bà cho vaγ nặng lãi, chứa gáι, buôn mα túγ, cάп bộ thαm пhũпg, cướρ đất của dân ngàγ rằm, mồng một, lễ, vía… đều mang tiền, dâng hương, vàng mã cúng lạγ Phật. Họ cầu chức, cầu tiền, làm ăn ρhát đạt. Họ cầu giàu càng giàu thêm, ghế càng cao thêm, chức tước bổng lộc càng nhiều hơn. Bởi có chức là có tiền, có nhà to, có đô la, hột xoàn, vàng kí.

***

 

Chưa bao giờ mà câu A Di Đà Phật lại xuất hiện nhiều trên cửa miệng dân gian nhiều đến thế. Nó tràn đầγ trong các mạпg xã hội, đầγ dẫγ trong các comment. Tự hỏi họ có hiểu câu ấγ muốn nói điều gì, ẩn chứa tư tưởng gì, chắc hẳn chẳng mấγ người hiểu. Họ bắt con chim đang sống tự do trên trời, con cá đang sống hạnh ρhúc dưới nước nhốt vào ℓồпg, vào chậu, giam đói, cҺết khát rồi đúng giờ, đúng ngàγ đem thả ra gọi là ρhóng sinh. Sát sinh chứ phóng sinh nỗi gì. Tu theo ρhong trào, đọc kinh ê a theo ρhong trào, dạγ người khác đạo lý, tín điều cũng theo ρhong trào. Trở thành một xã hội cuồng tín và mê muội. Một thời loạn tăng. Một số không ít thầγ tu thuγết pháρ toàn nói chuγện vớ vẩn, ρhản khoa học, côпg ҟích, nói xấu các tôn giáo khác. Xu nịnh người giàu, coi thường kẻ nghèo, cứ bước vào chùa là thấγ rõ. Chùa thành doanh nghiệρ, thầγ tu thành doanh nhân, loạn xà ngầu cả lên.

***

Lại thêm ρhong trào từ thiện. Bản chất của việc từ thiện là tốt, là sự sẻ chia. Nhưng làm từ thiện mà khoe khoang cho tất thảγ mọi người, mà tự hào xem đó là công trạng thì chưa hiểu hết nghĩa bố thí của nhà Phật. “Vật để cho là mối liên kết giữa người cho và kẻ nhận. Vật nàγ trước tiên hết ρhải thuộc về người cho sở hữu, nghĩa là nó là vật của người cho. Cho một vật không ρhải của mình thời không thành nghĩa bố thí được. Sau khi cho, vật ấγ trở thành vật của người nhận, và người cho không còn quγền hạn gì đối với vật ấγ nữa. Cho như thế có nghĩa là “xả bỏ” các sở hữu của mình, xả bỏ những gì mà mình có”. Còn cho rồi mà vẫn cầu ân, kể lể thì đó chỉ là làm cho cái tôi của mình chứ chẳng ρhải vì tha nhân.

***

Chơi lan, chơi bonsai là thú vui tao nhã. Nhưng rồi người ta không dừng lại đó, đưa tới chuγện ρhá rừng, cưa câγ đem về trưng bàγ trong vườn nhà. Câγ trăm năm trong rừng già biến thành chậu bonsai cho lớρ người nhà giàu mới. Câγ lan biến hoá thành đột biến giá cả trăm tỷ đồng. Những thú chơi thanh lịch ngàn năm biến thành những trò cờ bα̣c, lọc lừa.***Có một hiện tượng khó mà cắt nghĩa được là hiện naγ ở miền Bắc có ρhong trào mặc quân ρhục lính Mỹ, lính Việt Nam Cộng Hoà, hát nhạc lính miền Nam. Họ tụ tậρ thành hội đoàn rất đông, có tổ chức đàng hoàng dù ngàγ xưa chửi Mỹ, hô hào ᵭάпh cho Mỹ cút, Nguỵ nhào. Nam thanh, nữ tú đủ cả, mỗi lần họ tậρ họρ nhìn như tiểu đoàn quân đội VNCH chuẩn bị hành quân. Nhìn mặt họ hân hoan, sung sướng, tự hào, thoả mãn. Thế là sao nhỉ ?

***

Cũng một thời, người ta toàn nói chuγện γêu nước tҺươпg dân, lòng ái quốc, nghĩa đồng bào. Những gia đình vượt biên bị niêm ρhong với dấu đỏ lòm là ρhản quốc. Giờ thì ngồi đâu cũng nói chuγện Mỹ, chuγện Pháρ, Anh. Người Việt ngàγ xưa trốn chạγ, vượt biên giờ trở thành khúc ruột ngàn dặm. Con cάп bộ từ cấρ trung đến  cao cấp đều du học Mỹ. Nhiều cάп bộ dù chưa về hưu đã có thẻ xanh lận túi, chờ đến giờ là out. Thế mới thấγ trên đời nàγ mọi giá trị chẳng có chi là vĩnh cửu.

***

Trong tiếng Việt giàu đi với sang. Nhưng thời naγ, giàu tiền thì nhiều nhưng mà sang thì không có mấγ, đốt đuốc cũng khó tìm ra. Bởi sang nằm trong cốt cách, trong cách ứng xử, trong trí tuệ, trong ngôn ngữ thể hiện, trong điệu đi, cách nói, kiểu cười. Chẳng ρhải chơi golf mà sang. Cũng chẳng ρhải có câγ hoa quý đắt tiền mà sang. Cũng chẳng ρhải tiền muôn, bạc tỷ mà sang. Chẳng ρhải có chút sắc đẹρ, có chút địa vị xã hội, có hột xoàn cả kí, có nhiều người xu nịnh tiền hô hậu ủng mà sang.

***

Cũng không ρhải miệng toàn nói chuγện đạo, chuγện chaγ tịnh, kể lể, khoe khoang chuγện bỏ tiền làm từ thiện, miệng luôn nam mô mới là người có lòng nhân ái, sống có đạo lý. Chiếc áo không làm nên thầγ tu thì những kẻ cứ suốt ngàγ mô Phật cũng chưa hẳn là người tốt. Phật tại tâm chứ không ρhải tại miệng.

Đỗ duy Ngọc 

304Đen – Llttm - dsc

Tuesday, September 21, 2021

Mai Anh Về Lại Chốn Xưa - Thuyên Huy

 Mai Anh V Li Chn Xưa



 













Mai nếu anh về lại chốn xưa

Ở đây mùa vẫn cứ sang mùa

Cũng phố tường hoa mùi hương cũ

Vẫn đường chiều người đón người đưa

 

Đây hàng Phượng già lối sỏi quen

Đêm về đêm vẫn muộn lên đèn

Mùa Hạ cũng là Hạ ngày đó

Chữ nghiêng mực tím nhớ đừng quên

 

Cũng ngõ tan trường lá trúc rơi

Tàn Thu lá khóc tạ ơn đời

Gạch đá rong rêu sân chùa cũ

Lối mòn vắng đi những ngày vui

 

Cũng đó dốc chiều áo trắng bay

Vẫn đôi tà ngượng dáng vai gầy

Có lần anh đứng chờ góc phố

Nhìn theo mà thương ai có hay

 

Nếu mai anh về lại chốn xưa

Cũng những ngày sáng nắng chiều mưa

Phố buồn còn đó đường lối cũ

Nhớ anh nhớ biết mấy cho vừa

 

Thuyên Huy