Tuesday, April 22, 2025

Ba Tôi - Khóc Cười Với Số Mạng - Thuyên Huy

 

 BA TÔI – KHÓC CƯỜI VỚI SỐ MẠNG

Chấp vá đôi ba mảng vụn thật của một đời người, phần còn lại của câu chuyện, bối cảnh, nhân vật, tình tiết được hư cấu, tưởng tượng

Viết thay cho một người



 


   Ba tôi, tôi thật tình không biết phải nói sao về ông, thật vậy, tôi không biết ông bà nội là ai, ở đâu, nghèo giàu thế nào, ba tôi cũng chưa bao giờ nói với tôi điều đó và tôi cũng chưa lần nào hỏi.

*

   Lớn một chút, tôi biết thêm một chút, ba tôi gốc người Chợ Lách, có một người chị mà tôi kêu là cô ba, bà có tiệm vải lớn đầu chợ quận, ông còn căn nhà ngói âm dương, có cái vườn sau rộng với chừng mấy chục cây dừa, mấy chục cây cau, hai ba cây xoài, cây bưởi, bao quanh cái hồ nước đầy bèo và bông súng, cách bên nhà bà cô một con rạch nhỏ, nghe nói là do ông bà nội để lại, nói để lại cho ông nhưng thật ra, ông đã bỏ đó đi lang thang tứ xứ, từ Cai Lậy, Mỹ Tho, Long Xuyên Châu Đốc, Môc Hóa Bạc Liêu tới miền cao Phước Long Bà Rá, Hớn Quản Ban Mê Thuộc Tuy Hòa, lâu lắm năm khi mười họa mới ghé về, cho nên căn nhà và miếng vườn được anh năm, con của bà cô trông nom, săn sóc cây trái, tới mùa hái, bán cho người ta, chợ xã chợ quận, chợ tỉnh.

   Tôi không nhớ là mình có mặt trong gia đình này từ bao giờ, cho nên chưa biết cái thuở nằm nôi của mình ra sao, tiếng ru, võng đưa kẻo kẹt như thế nào và đã khóc chào đời có giống tiếng khóc của trăm ngàn đứa trẻ khác hay không, Nói ngắn gọn hơn, cái tuổi thơ đầu đời  của tôi không có gì cả trong ký ức của mình và hình như trong suốt chuỗi ngày lớn lên, tôi không cảm thấy có gì là nhớ. Tôi là đứa con duy nhất, gọi là con một, năm tôi ba bốn  tuổi, biết đi biết nói thì ba má tôi đã trên dưới bốn mươi lăm. Giang hồ phiêu bạt tứ xứ rồi không biết vì sao, ông mỏi gối dừng chân xứ này, phải lòng cô gái Trâm Vàng, má tôi đó, ở đó một thời gian, ông quen chân, đi về quanh vùng, rồi tới Hiệp Thạnh này, vào làm cho công ty người Pháp, một công ty lớn, chủ mấy đồn điền cao su, rộng khắp một vùng, sâu vào tới tận Cầu Khởi, Khiêm Hanh.

*

    Ông bà dọn lên Hiệp Thạnh, mua căn nhà căn nhà mái tôn, tường gạch cũ, bên đường từ ngã ba vô, cách khu cư xá công ty chừng đâu đó nửa cây số. Từ nhỏ, tức là từ những ngày lên ba lên bốn, tôi biết bên ngoại nhiều hơn là bên nội, vì cứ một hai tháng ba má, đón xe đò, dắt về nhà ngoại, bà con giòng họ ngoại ở quanh bên nhau, nhà này cách nhà kia không mấy xa, con đường đất mịn chạy quanh chạy co rồi cũng lòng vòng trở lại. Ngoại nghèo hơn hết, chị thứ hai trong mấy người, nên má tôi cũng là chị hai của con mấy ông cậu bà dì khác, má tôi còn người em, cậu ba, còn ở với ngoại. Cậu ba kém may, bị tật quẹo một khúc tay trái và chân khập khiểng, cái thấp cái cao, cậu lủi thủi trồng trọt dưa cà, rau cải, ớt hành quanh nhà, liếp nào cũng xanh mát. Mỗi lần về ngoại, tôi còn nhớ tôi mặc áo ba túi tây và quần sọt cùng màu xám đậm, mang giày da ngon lành, ngồi xe lôi kéo, chở bao gạo và mấy thứ đường muối linh tinh rồi thêm mớ tiền đưa ngoại xài, xe lôi chưa vô tới sân thì tôi đã lớn gọi ngoại ơi ngoại hởi. Ở chơi gần tới chiều mới ra đường cái, đón chuyến xe đò lỡ chót về lại Hiệp Thạnh

    Ba tôi làm thư ký quèn, cho một công ty của người Pháp, có trụ sở chính ở bến Chương Dương dưới Sài Gòn, chuyên lo việc nhận giấy tờ, thư từ, từ trụ sở chính gởi lên hàng tuần bằng xe của công ty, nhận tiền hàng tháng do máy bay loại nhỏ chở lên, thả xuống cái sân rộng trong khu cư xá mà ông giám đốc Tây và nhân viên công ty cùng gia đình ở, khu cư xá này rộng lắm, có hàng rào cao hơn hai tầng lầu, dầy đặc song sắt, nằm cuối ngã ba chợ xã, bên bờ sông lớn, ông chờ mang vào văn phòng, kiểm lại đầy đủ số tiền như đã ghi theo giấy tờ, rồi giao lại cho bác phụ trách phân phối tiền cho các sở, từ đó phát lại cho công nhân, trong số những chú bác nhân viên ở đó, ba tôi là người được ông giám đốc Tây thích và thường gặp hỏi cái này cái kia, chỉ vì ba tôi nói và viết tiếng Pháp không thua gì ổng và nhất là ba tôi có thời đã làm giám thị ở các đồn điền miệt Xa Cam Hớn Quản, Lai Khê, cho nên có chuyện gì về cao su, ông kêu ba tôi ngay.

*

    Tôi không biết ba tôi học trường nào, học tới đâu, vì chưa bao giờ nghe ông nói, nhưng có một điều chắc chắn là ông rất giỏi tiếng Pháp, giỏi từ nói tới viết, không thua một ông Tây nào. Nhà tôi, trong ngăn trong dưới của tủ thờ giữa nhà, chất đầy các bộ truyện Tàu, từ Thủy Hử tới Đông Châu Liệt quốc, Tam Quốc Chí tới các truyện của Hồ Biểu Chánh, Lê Văn Trương, Bình Nguyên Lộc, nằm ở đó nhưng ít khi thấy ông đọc, má tôi thì cũng chưa thấy bà đọc cái gì, nên tôi chẳng biết cũng  bà có đi học hay không, thật tình tôi cũng không màn biết tới.

    Từ nhỏ, ba tôi dạy tôi biết đọc biết viết trước rành rẻ nên vào trường tiểu học xã tôi học ngay lớp tư, nhảy lớp năm. Ông dạy tôi chút ít tiếng Pháp từ lúc đó, tôi có thể nói năm ba chữ, sáu bảy câu thường qua lại với ông, nhớ có lần ông dắt tôi theo ăn tiệc sinh nhật của bà vợ ông Giám đốc  trong cư xá, gặp bả tôi chạy ngay lại, bà đưa tay bắt tay tôi cười, tôi nhanh miệng chào bằng tiếng Pháp “Chào ông”, bà cười ngặt nghẽo “không, không. chào bà” rồi ôm hôn tôi mấy cái, ông Giám đốc cùng ba tôi cũng cười theo. Tôi còn nhớ, lúc này ba tôi độ chừng một hai năm thì ông về Chợ Lách, ngày sắp đi tôi đòi theo, ông bắt tôi phải học thuộc cả một lô chữ tiếng Pháp, từ cơ thể người ta, đầu mình tay chân tới đồ đạc trong nhà, cái bàn cái ghế, trước khi đi, tôi đọc cho ông nghe, quên vài chữ không sao, ông hài lòng, ôm tôi xoa đầu không nghỉ. Cũng nhờ ba tôi dạy mà sau này, tiếng Pháp đã giúp tôi học hành kha khá trên đại học.

    Thời hồi còn Tây cai quản ở Sài gòn, chồng của người dì ba, con gái của bà dì, em thứ năm của ngoại, muốn làm cảnh sát. Ông dượng này học ít, tiếng tây lõm bõm được ba tôi, khi về Trâm Vàng, dạy thêm ba mớ nhưng viết thì còn lạng quạng, dượng muốn đi lính cảnh sát Tây, nhờ ba tôi viết đơn xin vô, rồi dượng đem xuống Sài Gòn nộp. Vài ngày sau, quan sếp cảnh sát kêu dượng tới, không cho biết là cho hay không mà hỏi ai viết thư xin việc đó, dượng tình thật thưa là ba tôi, ông quan gật gù bảo, về kêu ba tôi tới đây, cho ông ta nói chuyện. Gặp ba tôi, quan sếp tây, mới mấy câu mở đầu đã không chần chừ cho dượng tôi làm và kêu ba tôi vô cảnh sát luôn, quan sếp sẽ sắp cho ông làm chức lớn gì đó. Về nhà, khi dượng tôi vào làm, ba tôi nhắn với quan sếp Tây, cám ơn nhưng không thích nghề này. Sau này dượng ba hình như làm tới chức phó trưởng ty cảnh sát của một quận nào đó ở Sài Gòn, tôi còn nhớ lần xuống ở nhà dượng, đi thi vào trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc thì buổi sáng, dượng lái xe jeep chở tôi tới chỗ thi, rồi cho một anh cảnh sát khác tới rước về bằng xe ‘vét pa”. Ba tôi vẫn như cũ, cũng cứ là một viên thư ký quèn không hơn không kém nhưng xem ra ông rất yêu đòi, không thấy ông buồn phiền gì hết.

*

    Lúc còn ở Trâm Vàng, chưa lên Hiệp Thạnh, ba tôi hùn vốn với ông bạn dưới Trãng Bàng, mua xe đò lớn chạy đường Sài Gòn Vũng Tàu, thời đó là thời quân Bình Xuyên của ông Bảy Viễn kiểm soát vùng Vũng Tàu Bà Rịa, xe chạy êm xuôi trót lọt mấy chuyến, khách khá đông, cũng chạy giành khách trên đường với mấy xe khác, ba tôi theo xe thâu tiền, người tài xế và anh lơ là cháu của ông bạn.

    Một ngày xế trưa, khi xe vào tới bến ở Vũng Tàu đâu đó, ba tôi cùng hai người kia đang dọn dẹp trong xe để đi ăn như thường lệ, thì có một tốp lính Bình Xuyên súng ống lăm lăm tới, hỏi chủ xe, ba tôi nhận, họ bảo có lệnh bắt ông vì tội dám giành giựt khách đi đường với xe của Bình Xuyên, ba tôi cũng không ngờ, vì từ khi theo xe ông đâu biết xe nào của Bình Xuyên đâu, họ thúc ké ông, dẩn đi, anh tài xế cũng như anh lơ đứng mặt mài tái mét, ngồi trên xe như trời trồng, nhìn theo không biết làm cái gì bây giờ, tốp lính Bình Xuyên dẩn ông đi về hướng Bải Sau.

*

    Họ nhốt ông tại một căn đầu dãy nhà tường, vài ba anh lính khác đi qua đi lại ngoài sân, trong căn nhà có cái giường cây cũ suôt đêm đó, sáng sớm hôm sau, chừng năm giờ, trời còn sương mờ, hai anh lính Bình Xuyên, ông bị trói thức ké như hồi bị bắt ở bến xe, trên đường dẫn ông ra bải biển, thì một người từ dưới bải đi lên, quần xà lỏn, choàng cái khăn tắm trên vai, chắc vừa tắm lên đi tới, người này lên giọng, bảo đứng lại, xem ra cấp chỉ huy, hỏi chuyện gì đây, một trong hai anh lính trã lời, dạ đem đi xử bắn vì dám giành khách xe đò với xe mình, người chỉ huy hất hàm để anh ta coi.

    Mặt trời vừa có chút hé hồng lên từ đường chân trời ngoài biển, có thể nhìn thấy mặt nhau. Ba tôi thở dài thôi chắc phen này không sống rồi, anh chỉ huy bổng dưng đứng sửng, nhìn ông “anh tư Bền phải không “ anh gằn giọng một lần nữa “phải anh tư Bền không?”, ba tôi nói thầm “thôi chắc chết thiệt rồi”. Hai anh lính vẫn còn đứng chờ, anh chỉ huy tới gần hơn, nắm tay ba tôi “anh tư, thằng ba Chẩn đây, anh hổng nhớ sao, thằng ba Chẩn đây”, anh quát người lính, cổi dây ra mau “đây là anh tao, đứa nào đụng tới ảnh thì chết với tao nghe chưa”, hai anh lính dạ dạ rồi đứng lùi xa ra chờ. Anh chỉ huy đi song đôi với ba tôi lên dãy nhà hồi nãy, anh ta quay lại ra lệnh, ra bến xe đưa hai người của anh tư vô đây, hai anh lính dạ một tiếng lớn rồi nhanh chân bỏ đi, mặt trời lên rực nắng, lấp lánh trên mặt biển, nước biển một màu xanh biên biếc. Vừa đi, vừa lén nhìn mặt anh ta, ba tôi lặng thinh, anh ta nói gì, dáng bộ phân bua với ba tôi nhiều lắm, ông chợt nhớ và nhận ra, vết thẹo trên má trái của anh chỉ huy, đúng là “thằng ba Chẩn’ mà ông đã gặp nhiều năm trước, lâu rồi.

*

    Hồi đó, lang bạt tới Cai Lậy, mùa dưa hấu, ghe xuồng tấp nập vô ra bến sông, trời chắc cũng lưng lửng sáng, ngồi trên quán cơm, chưa đông người,  nhìn xuống, thiên hạ hò hét bu quanh hai chiếc ghe tam bản chất đầy dưa hấu, tò mò đi xuống, hai ba người đàn ông đang vây đánh một anh thanh niên, túi bụi, có cả dao cả rựa, anh thanh niên thế cô chống đở, nổi máu bất bình, vốn có chút võ nghệ cao, ông xắng tới, vừa đánh trả che cho anh thanh niên, thế võ gì đó của ông đã hạ gục mấy người kia, đầu cổ máu me không thua gì đầu cổ của anh thanh niên, ba tôi lấy mấy cái dao, cái rựa quăng xuống sông, đở anh thanh niên dậy, dìu lên bờ, ông cổi áo thun, thấm nước lau mặt mài anh cho bớt máu, có cái vết thẹo sâu cũ bên má trái.

    Hỏi ra cớ sự thì biết, họ đánh anh ta vì anh giành người mua dưa hấu của họ, lên quán cơm, anh tỉnh lại, hai người hỏi qua lại quê quán tuổi tên, ba, anh tư Bền, anh ta, thằng ba Chẩn, và cũng từ hôm đó, suốt mấy hôm ở Cai Lậy, bên chợ đều một tiếng hai tiếng anh tư chú tư Bền nể nang. Hai người cà phê cơm nước tới chiều, chiếc ghe của mấy người đánh anh ba Chẩn, hình như cũng bán được dưa, đã rời đi từ lâu, ghe dưa của anh ta cũng có người mua mảo hết, anh bịn rịn chia tay ba tôi , xuống ghe chào, hẹn còn có dịp gặp lại, sẽ không bao giờ quên cái ơn cứu tử này, đứng trên bờ nhìn xuống, anh ba Chẩn lui ghe ra sông, vẫy tay mà nước mắt rưng rưng, ba tôi không gặp lại anh ta từ đó.

*

    Anh tài xế và anh lơ cũng vừa vô tới, anh ba Chẩn, mời họ ngồi, hỏi han đôi ba câu, ba tôi mĩm cười nhìn, “người quen, không có gì đâu”, nghe ba tôi nói mà sắc mặt vẫn còn lo sợ. Trời đã trưa, anh ba Chẩn đưa ba tôi và hai người phụ xe ra một tiệm cơm ngoài bải Trước, cơm trưa xong, đưa ba người ra bến xe, từ giã, anh ôm lấy ba tôi thật chặt “em coi vùng này, xe anh cứ chạy thoải mái, em ra lệnh rồi, ai đụng tới anh thì có em ngay”. Xe chạy đi rồi, ngó lại anh ba Chẩn còn đứng đó. Khó lòng bình an lần sau, cái may không đến hai lần, trong thời buổi nhiểu nhương này, ba tôi quyết định bán xe và không làm nghề này nữa.

*

    Năm tôi lên năm đầu trung học, ba tôi lại hùn hạp với một ông bác bà con xa bên ngoại, là nhà ba tôi gởi ở trọ học, mở cái xưởng cưa máy ở ngoại ô  tỉnh lỵ, chuyên cung cấp cây ván cho mấy người thầu xây cất nhà cửa khắp trong tỉnh, công việc xuôi chèo mát mái mấy tháng đầu, sắm thêm xe chở hàng cho khách, không những mấy người thầu mà ai muốn tự dựng tự sửa nhà đều tới mua ngay xưởng hay đặt trước, công nhân chừng mươi người, làm ăn đàng hoàng, vui vẻ. Đùng một cái, không biết vì đâu, xưởng cưa bị cháy, thiêu rụng cả máy móc, cây ván cưa cắt sẳn cho khách, ngay mấy cái xe chở cây cũng hư hết phân nửa. Ba tôi và ông bác không biết nói gì hơn, lắc đầu chịu trận, tôi nghiệp mấy người công nhân, giờ phải đi tìm việc khác, ba tôi và ông bác gom góp tiền tặng cho họ một số ít gọi là lộ phí chia tay. Với ba tôi, nói trắng tay thì không hẳn vì ông vẫn còn làm việc cho công ty Pháp ở Hiệp Thạnh, còn số tiền lương hàng tháng như những năm tháng qua. Năm sau, bà ngoại mất, chôn trong miếng đất chung của giòng họ, cậu ba không có vợ, còn lại một mình, lo chuyện mồ mả, ba tôi ít khi về Trâm Vàng, má tôi về thường hơn sau ngày đó, tôi học trên trường tỉnh và cũng lớn bộn rồi, thỉnh thoảng một vài lần theo bà, thăm cậu ba vậy thôi, và cũng ít khi gặp mặt đám con của cậu dì, họ cũng vậy, gặp nhau ngoài đường chưa chắc nhận ra nhau.

*

    Đồn điền sao su của nhà bị hư hại gần hết phân nửa, đồn điền này ba tôi mua lại đất của ai đó, cũng được mười mẫu hơn, nằm xa xa bìa ranh nội ô tỉnh lỵ, cách núi chắc cũng nửa tiếng đường xe chạy, nhờ số tiền phụ giúp của ông Tây giám đốc công ty thêm, ba tôi đi về săn sóc lo từng hột giống, cây ươn, bón phân nhổ cỏ suốt hơn năm năm trời, từ ngày cây con mới nẫy mầm, vừa bắt đầu khai thác với ba bốn người làm phụ, xem ra êm xuôi, đùng một cái trận chiến chận Bắc quân tiến vào tỉnh lỵ, lúc gần đây cuộc chiến dai dẳng từ mấy năm qua đã lan rộng và có phần khốc liệt hơn, máy bay oanh tạc của VNCH đã dội bom cũng như xe tăng, cày nát đồn điền sau mấy ngày đụng trận.

    Cầm cái đơn cùng vài giấy tờ chứng nhận khác của làng xã, tờ đơn khiếu nại về sự việc xãy ra đưa cho dì sáu, vợ của cậu sáu, con ông cậu bảy, em của ngoại, nhờ cậu lên tiếng, giúp cho sớm có tiền bồi thường. Cậu sáu, tôi gặp hai ba lần khi về nhà bà ngoại, cậu có người con trai lớn, học cùng lớp và bằng tuổi tôi ở trường quận, nhưng chưa lần nào nói chuyện nhiều ngoài năm ba câu chào hỏi, vậy thôi. Trước đây cậu làm thư ký ngoài văn phòng quận, hiện tại thì cậu đang là dân biểu tại quốc hội  trong ủy ban gì đó.

   Dì cầm mớ giấy tờ, lẩm bẩm đọc rồi nhìn tôi, tôi mĩm cười chờ. Dì không cười giọng hơi gắt, có vẻ không muốn nhận hay sao đó, dì nói ba tôi không biết gì hết, làm lộn xộn, mệt cho cậu sáu, vốn không có thiện cảm với dì từ lâu, khác với tình cảm thân mật của tôi với mấy dì khác, con bà dì năm, tôi không nhịn được đáp trả, dì chữ nghĩa tới đâu, chưa đầy lá mít mà dám xúc phạm ba tôi, dì có biết ai dạy chữ cho cậu sáu bao nhiêu năm, ai đã làm cho cậu đắc cử chức vụ dân biểu này không, tôi bỏ đi ra cửa, quay lại, dì đứng nhìn theo, giận như nãy, nói lớn cám ơn, dì muốn làm gì đó thì làm, rồi bước nhanh ra khỏi nhà.

   Về chuyện cậu sáu đắc cử, chính ba tôi là người đi vận động, nói chuyện với mấy trăm công nhân đồn điền Tây, và người dân mấy xã chung quanh cũng như bạn bè tại quận lỵ, hết ngày này qua ngày kia trước ngày bầu cử, điều này, cậu sáu biết rành hơn ai hết, cho nên từ đó khi ba tôi cần giúp, cậu sẳn sàng làm ngay. Mấy ngày sau đó, khi từ Sài Gòn về thăm nhà, lúc này tôi đang học năm đầu đại học, ba tôi cho biết, nói mà cười, dưới nhà ngoại, dì sáu đi than phiền với bà con chung quanh, là tôi hổn hào, mắng miết dì, không biết phép biết tắt gì cả, vậy thôi.

*

    Gom góp chút vốn liếng còn, ba tôi mướn người, cũng những người công nhân cũ dọn dẹp, phát quang cây cỏ, sứa lại nhà máy, giếng nước của đồn điền, làm lại từ đầu. Ông không nói gì về kết quả bồi thường nhờ cậu sáu lo giùm, không nghe ông nhắc tới, ông vẫn đi về, vẫn còn làm cho công ty Tây như cũ, trên đồn điền giờ có một chú người Bắc, hiền lành vui vẻ, từ đâu đó ở Bình Long về thay ba trông coi mọi thứ nên ba tôi không bận rộn lắm. Chú này vốn là phu cạo mủ ở Hớn Quản thời ba tôi còn làm giám thị ở đó, không có tiền đóng thuế thân thời Tây, không vợ con, trốn chui trốn nhủi, thấy tội nghiệp, ba tôi đóng cho rồi đem chú về ở chung nhà, sau khi ba tôi nghỉ làm, chú muốn theo nhưng ông vẫn còn giang hồ đó đây nên hai người chia tay, chú khóc sướt mướt, ba tôi cũng quên dần chuyện cũ.

    Công việc vừa tạm yên, qua Tết năm đó, vào hè bải trường thì má tôi mất, vì bệnh xơ gan có từ trước tái phát, công ty chở bà xuống nhà thương Saint Paul dưới Sài Gòn, bà nằm đó, vợ chồng ông giám đốc vào thăm hỏi ba bốn lần, nhưng cũng đành thôi, bà không qua khỏi. Xe công ty đưa bà về làm đám tang ở Hiệp Thạnh rồi đem về chôn bên cạnh mộ bà ngoại ở Trâm Vàng.

*

    Cuối năm thứ ba đại học, ba tôi nghỉ làm, dọn hẳn về trên tỉnh, ông bán căn nhà ở Hiệp Thạnh, tiền ông cho cậu ba, em má tôi. Ngày cuối ông tới từ giã vợ chồng ông giám đốc Tây thì cùng lúc đó họ cũng đang chuẩn bị về nước nay mai, ba tôi ở lại với họ thật lâu, ra về ông giám đốc Tây đưa cho ba tôi cuốn sổ tay nhỏ, có ghi địa chỉ bên Pháp, ở Ba Lê, và một số chi tiết gì đó, dặn khi cần có thể thư cho ông biết.

   Chiến cuộc bây giờ lớn hơn, ác liệt và trận chiến bùng lên khắp mọi miền, tiếng súng tiếng pháo nghe gần hơn, thường hơn đêm cũng như ngày, đường xá đi lại không còn dễ dàng như trước, đồn điền nhà tôi có ngày làm có ngày nghỉ vì những cuộc hành quân của quân VNCH, ba tôi xem ra có phần buồn nản, suốt những năm khôn lớn, đây là lần thứ hai thấy ông buồn, lần đầu tiên là ngày má tôi mất.

    Cuối tháng ba, tình hình chiến sự trở nên quyết liệt, một số tỉnh địa đầu giới tuyến, miền trung rồi tới cao nguyên lần lượt mất, quân VNCH triệt thoái, thối lui, chống đở nhưng xem ra không thành công, các nơi còn lại và cả Sài Gòn hoảng loạn nghẹt thở. Ba tôi mất vì bệnh đau bao tử quá nặng, dù trước đ ây đã được cắt bớt, sau mấy hôm nằm nhà thương tỉnh, trước ngày tôi chuẩn bị thi ra trường. Đám tang trên tỉnh, chú người Bắc thay tôi lo, mặc dù tôi có mặt, bạn bè không còn mấy ai, nhưng công nhân nhiều lắm, nhất là công nhân của công ty cao su Pháp trước kia, có tiếng khóc sụt sùi và tiếng gọi tên ông da diết.

*

   Tôi đưa ba về chôn bên cạnh mộ má, gần ngoại, cũng như lần đứng trước mộ má, cuối đời người, ông bà bôn ba mưu sự rốt cuộc, không được gì, chỉ có được một vành khăn tang trắng duy nhất là tôi, và tôi chỉ là một đứa con nuôi.

 

Thuyên Huy

Mt Dandedong - Buồn cho một kiếp người 2025

   

  

   

   

  

   

 

 

  

   

   

   

   

   

   

   

  

 

 

Chiều Hạ Bến Cẫm Giang - Thuyên Huy

 Chiều Hạ Bến Cẫm Giang




Chuyến Tàu Hoang Đường - Lê Minh Nhựt

 

CHUYẾN TÀU HOANG ĐƯỜNG




 

Càng về phía biển sóng càng lớn, ra giữa vàm Ông Định trời đã nhập nhoạng tối. Chiếc tàu cao tốc ghìm lại. Anh tài công trẻ tuổi chép miệng nói bâng quơ:

– Sóng như vầy là còn ít, năm ngoái cũng vào mùa này đi không được đành nằm bến. Đói nhăn răng!

Khách ngồi trong tàu im lặng. Qua lớp kính màu, muôn vàn lớp sóng thi nhau nhảy múa. Nhìn ra phía trước có cảm giác một đội quân sóng trùng điệp đang hùng hổ kéo đến, rõ ràng là chúng đang “đói” lắm. Bình thản cầm vôlăng, anh chàng tài công khẽ lách trái lách phải, hết giảm rồi lại tăng ga nhảy sóng nhẹ nhàng. Thoáng chốc tàu đã qua khỏi vàm, nét mặt mọi người giãn ra, nghe đâu đó có tiếng thở nhẹ nhõm.

Cô gái ngồi bên cạnh tôi khẽ kéo cổ áo ấm lên phủ kín sau gáy. “Mấy giờ rồi anh?”. “Gần sáu giờ rưỡi”. Vừa nhìn đồng hồ trả lời tôi vừa đưa mắt lén nhìn cô gái đồng hành với mình từ lúc rời bến đến giờ. Vóc người nhỏ nhắn, lọt thỏm trong chiếc ghế lót nệm, hình như từ khi xuống tàu đến giờ cô chưa hề thay đổi tư thế ngồi. “Như vầy tới dưới chắc là tối mất” – cô gái lẩm nhẩm như vừa đủ để tôi nghe.

Đúng lúc qua đoạn cua gắt, chiếc tàu nghiêng hẳn một bên. Cô gái bất ngờ tựa hẳn vào vai tôi. “Xin lỗi” – mặt cô thoáng ửng hồng vì sự va chạm tình cờ. “Không hề chi” – tôi mỉm cười như thể bảo cô hãy tựa thêm chút nữa cũng chẳng sao, giá như tàu cứ nghiêng mãi như thế này thì hay biết mấy.

Không hiểu sao khi cô gái tựa vào, tôi bỗng có một cảm giác lành lạnh truyền qua mình, chắc là cửa trước tàu đóng không kín nên gió lùa vào. Tôi bỗng hối hận khi không nghe lời khuyên của cô bạn là nên đem theo áo khoác khi đi tàu cao tốc vào mùa mưa. Tàu đi vào kênh, khoảng cách hai bên bờ đủ rộng cho chiếc cao tốc phăng phăng lướt nước. Tuy vậy, sóng ở hai bên thân tàu vẫn bắn lên bờ rào rào.

Có lẽ sắp mưa nên trời đột nhiên sẫm lại hẳn, thêm lớp kính của tàu nên nhìn ra ngoài chỉ thấy một màu xám xịt của hai hàng đước cặp mé bờ giống như một hàng người chen chúc nhau đứng dạng chân kiên trì nhìn soi mói theo vật thể đang trốn chạy là chiếc tàu cao tốc. Phía trước loang loáng nước, chỗ đậm chỗ nhợt nhạt vừa đủ để anh tài công không bật đèn pha lên. Tôi trộm nghĩ: giá có bịt mắt anh ta lại thì chắc anh ta vẫn lái tàu đúng giữa lòng kênh bởi đoạn sông này anh ta còn thuộc hơn lòng bàn tay mình, vì thế đèn đuốc chi cho mất công. Hoặc giả anh chàng này là người ưa mạo hiểm chăng?

Trong tàu tối hẳn. Không có một bóng đèn nào được bật lên nhưng chẳng ai kêu ca phàn nàn, chắc là để dễ ngủ (?). Lác đác trong khoang chừng năm bảy người, trừ tôi và cô gái bên cạnh thì tất cả đều ngồi một mình; đủ tất cả các kiểu ngồi: tựa vào kính tàu, gục đầu ra trước, ngửa sau ghế… Có tiếng ngáy của một ông khách xấu tính ở đằng sau tôi cứ rồm rột cất đều. Đột nhiên hai mắt tôi ríu lại, cảm giác thèm ngủ khó tả ập đến không cưỡng lại được. “Anh cứ tự nhiên tựa vào em mà ngủ”.

Chẳng hiểu tại sao cô gái lại biết tôi buồn ngủ? Nực cười, người buồn ngủ nào mà khéo che đậy được khi đôi mi cứ dần dần sụp xuống và nặng trĩu như có ai cột dây mà kéo. Cầu trời cho mình đừng ngoác miệng ra ngáy như cái ông ở đằng sau… Tôi chỉ đủ thần trí nghĩ đến thế, cơn buồn ngủ ập đến quá nhanh. Nhưng không hiểu sao tôi vẫn nghe tiếng cô gái cứ vang lên đều đều và bàn tay lạnh tanh của cô ta khoác chiếc áo ấm lên người tôi rõ ràng. Một mùi nước biển rin rít xộc vào mũi…

– Ngủ đi anh, gần đến nơi rồi. Đang bão ở miền Trung đấy anh ạ. Lạ thật? Anh có nghe không? Biển ở đây cũng đang chuyển mình. Tiếng răng rắc của rừng. Tiếng ùng ục của nước. Tiếng gió xé mình qua miệng đáy. Chắc giờ này tàu đã vào bến cả rồi. Sóng ngoài khơi lớn, mấy ai can đảm ở lại để thưởng thức màn opera của biển cả. Anh biết không, em sợ sóng lắm, nhất là vào những lúc như thế này đây. À, anh tựa vào em chút nữa cho đỡ lạnh. Vâng, cứ như thế. Đừng nói gì cả, hãy để em thì thầm một mình.

Tôi muốn cởi trả chiếc áo mà cô gái vừa khoác cho mình nhưng thật quái quỉ, chân tay tôi không hề động đậy. Nó như chiếc chân vịt tàu bị cuốn chặt vào đống lưới đánh cá bùi nhùi xoắn lại nhiều vòng.

Giọng cô gái cứ rờn rợn:

– Hòn Khoai kìa! Ở đường chân trời ấy nhưng thời tiết xấu thế này đương nhiên không nhìn thấy được. Mưa rồi đó. Giống như có một người đang chơi dương cầm trên nóc tàu, nước mưa lăn dài xuống theo kính tàu. À không, chính là nước mắt của người ấy – một pianist đa cảm! Thời tiết tốt như mọi ngày, biển đẹp lắm. Em thích ngắm biển, thích ngồi trên mui tàu để đi ra biển. Sợ sóng thì sợ nhưng vẫn thích, say sóng rồi cũng quen.

Mẹ em nói: con gái mà thích đi đây đi đó là không hay, bay nhảy chỉ dành cho cánh đàn ông thôi. Nhưng em nghĩ khác: có gì là không tốt, du lịch đâu chỉ dành riêng cho cánh đàn ông! Nhất là được tắm dưới ánh nắng vừa đủ ấm trên biển rồi bập bềnh nhấp nhô theo từng lượn sóng, có cả phập phồng lo sợ nữa. Nhưng đi biển một mình thì buồn lắm, anh có muốn đi cùng em không, ngay lúc này đây…

Nói rồi vẫn bàn tay lạnh tanh ấy nắm lấy tay tôi và kéo cửa kính. Không còn sức lực để cưỡng lại, tôi ậm ừ và thấy mình bị nhấc bổng lên trôi tuột qua cửa. Đúng lúc ấy chợt tôi bị va mạnh vào thành tàu một cái đau điếng, nhờ cú va mạnh ấy mà tôi tỉnh hẳn. Anh chàng tài công bẻ mạnh vôlăng về bên trái. “Bộ đui hay sao mà không tránh cao tốc?”- đẩy cửa kính, anh ta nhoài đầu ra ngoài thét theo chiếc vỏ lãi bằng composite vừa lướt qua, vẳng lại là tiếng chửi thề đáp trả của người trên vỏ.

“Mấy thằng không có bằng lái chạy ẩu vậy đó bà con!”. Đóng cửa lại, anh ta như phân trần rằng mình không hề có lỗi trong chuyện này, rồi đèn bật sáng. Khách trong tàu đều choàng dậy. Người đàn ông sau lưng tôi ngáp một cái rõ to. Ghế bên cạnh tôi trống trơn, cửa kính vẫn mở. Cô gái đã biến đi đâu mất. Người phụ lái uể oải đứng dậy đi thu tiền – công việc đáng lẽ đã làm sớm hơn nhưng chắc anh ta lười vì thưa khách nên lúc này mới làm.

“Cô gái bên cạnh tôi lên bờ hồi nào?”. “Cô gái nào?” – người phụ lái ngạc nhiên hỏi lại tôi. “Chẳng có cô gái nào ư?”. “Vâng, thưa ông!” – anh ta nhún vai trả lời, một kiểu trả lời quá ư lịch sự chỉ có trong phim ảnh. “Thế thì lạ thật, rõ ràng là mới đây…” – tôi lẩm bẩm. Một chị đứng tuổi ngoái lại nhìn tôi bụm miệng cười bảo: “Chú em chắc ban ngày làm việc chung với rất nhiều cô gái nhưng có lẽ mần ăn chẳng được chút gì nên đi tàu cũng mơ?”.

Rồi chị ta lắc đầu ra vẻ ngán ngẩm: “Chạy như rùa bao giờ mới đến nơi hả bác tài?”. “Trời đất! Cao tốc mà còn bị chê là chậm như rùa. Chắc phải nói với mấy ông nhà nước đem máy bay đi rước bà quá” – ông khách đằng sau lưng tôi nãy giờ mới lên tiếng, tiếp theo đó là màn đấu khẩu loạn xạ diễn ra trên tàu.

Sực nhớ chiếc áo ấm mà cô gái đã khoác cho, tôi vội sờ lên người: cũng chẳng có cái áo nào ở đây cả! Duy chỉ có một sợi tóc dài vắt trên cổ áo đang phất phơ chạm vào má tôi nhồn nhột. Đương nhiên nó không phải là tóc của tôi. Đích thị là tóc của cô gái ban nãy rồi, nhưng cô ta đâu? Cả tàu đều khẳng định không hề có cô gái nào ngồi cạnh tôi, nhưng còn sợi tóc lấy gì để giải thích? “Thôi kệ, tóc của ai cũng được”- nghĩ thế, tôi bèn nhặt lấy sợi tóc và cho vào ví như một thú sưu tập kỳ cục.

“Tới bến rồi bà con ơi!”. Giọng anh chàng tài công vực tôi ra khỏi mớ bòng bong đang rịt chặt trong đầu. Rút điếu thuốc lá châm lửa rồi rít một hơi dài, anh ta ngửa đầu ra sau ghế như thỏa mãn khi cặp bến an toàn vào đúng thời tiết như thế này đây. Quay sang tôi, anh ta bỗng nghiêm mặt hỏi: “Hồi nãy anh thấy có một cô gái ngồi bên cạnh thật à?”.

Tôi gật đầu không dứt khoát vì sợ bị cười là nằm mơ nói chuyện nhảm nhí. “Trước đây, khúc sông này cũng có vài thây ma chết trôi từ biển vướng vào hàng đáy. Nghe đâu trong số đó có một cô gái còn rất trẻ!”. Nói xong, anh ta nhếch mép cười một cách bí hiểm. Tôi thoáng rùng mình, có cảm giác bàn tay lạnh tanh của cô ta bắt đầu vuốt dọc sống lưng tôi và mùi nước biển rin rít lại xộc vào mũi.

Mấy ngày sau tôi cứ nghĩ mãi về cô gái kỳ quặc hôm ấy, chợt nhớ đến sợi tóc mà mình đã nhặt được tôi bèn mở ví ra tìm. Quái lạ, chẳng thấy tóc tai nào hết mà chỉ là một sợi rong biển còn mới nguyên nằm trong đó.

Lê Minh Nhựt

Sài Gòn Thất Thủ Ký 18: Kẻ Thắng Nhập Thành - Komori Yoshihsa & Khôi Nguyên

 

SÀI GÒN THẤT THỦ: KỲ 18: KẺ THẮNG NHẬP THÀNH

 

CSBV vào Saigon 30/4/1975

Ngày 30/4/1975 là một ngày mà tôi không thể nào quên được. Bởi vì đó là ngày Sài Gòn thất thủ và được cho là dấu ấn kết thúc cuộc chiến VN. Hơn nữa, bản thân tôi vào ngày hôm đó cũng có mặt ở thủ đô Sài Gòn của miền Nam VN hay nói cách khác là tôi đã chính mắt mục kích sự kiện mang tính cách lịch sử này nên tôi không thể nào quên được.

Hàng năm, mỗi khi đến ngày 30/4 thì trong đầu tôi lại nhớ đến tình cảnh “ngày này năm xưa” và cứ mỗi lần như vậy tôi lại có sự thay đổi suy nghĩ với câu hỏi “có thực sự đó là ngày chấm dứt cuộc chiến VN?”

Trong lịch sử đầy biến động của thế kỷ 20, cuộc chiến tranh VN đúng là một sự kiện quan trọng mang tầm ảnh hưởng đến cục diện thế giới. Trải qua bao năm tháng cho đến nay, cuộc chiến VN với màn chung kết là sự kiện Sài Gòn Thất Thủ đã mang ý nghĩa như thế nào?

Đầu tiên có lẽ phải đặt tiền đề về sự minh ám của lịch sử.

Việc ghi chép và bình giải về một cuộc chiến đương nhiên sẽ mang nội dung khác biệt tùy theo người thực hiện. Nghĩa là sẽ tồn tại hai ngòi bút mang lập trường tương phản giữa người chiến thắng và kẻ bại chiến nên tạo thành những điểm sáng và những điểm tối mà ta gọi là sự minh ám của lịch sử. Thông thường, kẻ chiến thắng tạo nên những thiên hùng ca, còn trái lại người chiến bại viết thành một bi kịch uất nghẹn. Nhưng cho dù là người truyền đạt hoặc kẻ đọc lại lịch sử đi chăng nữa thì sau khi trải qua một thời gian dài, tất sẽ có khuynh hướng đưa cảm quan nghiêng về một phía.

Hơn nữa, nếu cho rằng kẻ thắng là phe thiện còn người thua là phe ác thì chắc chắn khuynh hướng nghiêng một về phía càng trở nên cực đoan hơn. Trong khi sự thật của lịch sử nếu không được suy xét tìm hiểu sẽ dễ dàng bị vất bỏ và bị lãng quên. Vấn đề ghi chép và bình giải cuộc chiến VN cho hậu thế cũng giống như vậy, sau một thời gian trôi qua, sự bóp méo lịch sử của cuộc chiến này càng được đơn thuần hóa và trải rộng nên ít người ngoại quốc nhìn thấy được sự thật.

Trường hợp giới truyền thông Nhật Bản cũng có cái nhìn thiên kiến về cuộc chiến VN ngay từ lúc ban đầu. Bỏi vì, họ thông tin theo chiều hướng cảm tính bị ảnh hưởng từ các luận điệu tuyên truyền chính trị đầy hư cấu, ngụy tạo của phe CSBV. Và cho dù sự thật đôi khi được đưa ra nhưng với cảm quan chính trị đầy cố chấp, giới truyền thông Nhật không bao giờ chấp nhận những gì trái ngược với nội dung thông tin của họ về cuộc chiến VN. Trải qua năm tháng, những sự thật đầu uẩn khúc bên trong của cuộc chiến VN lại đương nhiên được chấp nhận một cách vô tình, thờ ơ hoặc vì đã quá mệt mỏi trong các cuộc tranh luận. Điều này quả thật nguy hiểm và bất công đối với   những trang chính sử của cuộc chiến VN. Vì vậy, cũng do vấn đề thời gian, nếu ta không suy gẫm và soi sáng các điểm minh ám trong lịch sử, cuộc chiến VN sẽ mãi mãi không bao giờ được nhìn ra ý nghĩa chân thật của nó.

 


Biểu tình phản chiến trước 1975 tại Nhật

Qua tiền đề minh ám lịch sử, tôi mạo muội tự ý tiếp tục tìm hiểu và lược qua các điểm chính yếu của cuộc chiến VN từ lúc mở màn cho đến khi kết thúc để giới thiệu đến dư luận Nhật Bản vốn có rất ít người hiểu rõ chân tướng. Và đây cũng là lý do tôi thực hiện loạt bài ký sự Sài Gòn Thất Thủ.

Vào ngày định mệnh, từ sáng sớm bầu trời thành phố Sài Gòn bị bao bọc  bởi những đám mây đen u ám với những cơn mưa nhẹ. Từ máy radio, người dân nghe rõ giọng nói nặng nề của vị tổng thống cuối cùng là ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng: “Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, Tổng Thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi quân lực Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, từ trung ương đến địa phương trao lại cho chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam”.

 

TT Dương Văn Minh thu thanh lời tuyên bố đầu hàng tại Đài Phát thanh Sài Gòn, 30-4-1975

Đó là thời điểm quá Ngọ ngày 30/4/1975, tôi đã gửi ngay bức điện tín tốc báo sự kiện quan trọng này gửi về tòa soạn báo Mainichi ở thủ đô Tokyo.

Thế nhưng, dù nội dung bản văn đầu hàng được ông Dương Văn Minh tuyên đọc, nhưng phía CSBV vẫn  không tiếp nhận và tiếp tục công kích các đơn vị phòng thủ của quân lực VNCH. Rồi chỉ khoảng chừng hai tiếng sau, quân lính CSBV với đoàn xe tăng đã tràn vào đến tận Dinh Độc Lập  bắt ông Minh đi đến đài phát thanh để đọc bản văn đầu hàng do họ biên soạn. Tại đây khi giọng nói của ông Dương Văn Minh cất lên, coi như lần đầu tiên miền Nam VN tức nước VNCH chính thức tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trước dư luận thế giới. Thế nhưng, khi nghe Tổng Thống Dương Văn Minh  tuyên đọc những lời đầu tiên, tôi đã phán đoán rằng thế lực chiến đấu của quân đội VNCH đã thực sự bị tan rã nên tôi vội vã chạy ra ngoài đường phố.

 

Ngoại ô Saigon , 30/4/1975

Lúc đó từ phía đông thành phố Sài G có hàng ngàn quân nhân VNCH  cùng với xe tăng thiết giáp và xe jeep xuất hiện trong quang cảnh đổ xô nhau chạy loạn khắp nơi và trong đó có nhiều người tuy bị thương nhưng cũng cố gắng bỏ chạy. Trải qua những giây phút mà tôi có cảm tưởng như thời gian ngưng đọng lại, thì quân đội Bắc Việt bắt đầu tràn vào thành phố từ bốn phương tám hướng. Giờ đây nghĩ lại, lúc đó tôi thật liều lĩnh vì cho dù trên danh nghĩa cuộc chiến đã chấm dứt, nhưng tại nhiều nơi vẫn còn những cuộc chạm súng đẩm máu và thực tế là tiếng súng chưa im hẳn. Chính vì vậy, cho dù có nhận thức rằng bao nỗi nguy hiểm đang rình rập quanh mình, nhưng với sự suy nghĩ là không thể nào bỏ qua được giây phút lịch sử chứng kiến cảnh chấm dứt cuộc chiến VN nên tôi đã quên đi tất cả mọi thứ.

 


Bộ đội CSBV vào Saigon, 30/4/1975

Lần đầu tiên, tôi đã nhìn thấy tận mắt quân đội Bắc Việt  với khoảng hai mươi mấy người ngồi trên chiếc xe vận tải của Liên Xô trong quân phục màu cỏ xanh, đầu đội nón cối trên tay nắm chặt súng và nghiêm chỉnh trong tư thế sẵn sàng đối ứng với các tình huống bất ngờ xảy ra. Trên khuôn mặt vừa có vẻ ngơ ngác vừa đăm đăm nhìn cảnh vật chung quanh là màu da rám nắng của những binh sĩ Bắc Việt. Trông họ đều là những người có cử động nhanh nhẹn và dường như đã trải qua nhiều trận đánh trên chiến trường. Rõ ràng đây là những đạo quân tinh nhuệ và thiện chiến của phía Bắc Việt .

Sau đó, tôi cũng chứng kiến cảnh quân Bắc Việt chiếm cứ Dinh Độc Lập. Từ những toán quân ngồi trên vài chiếc xe vận tải có ngụy trang lá cây, họ đã dừng lại trước Dinh Độc Lập và nhóm quân lính này nhanh nhẹn nhảy xuống xe tiến vào sân cỏ mà không hề gây ra âm thanh ồn ào nào. Kế tiếp, họ chia thành nhiều nhánh quân trên tay cầm loại súng AK 47 hoặc đeo các loại súng ngắn bên hông lần lượt tiến vào trong. Lúc đó, một người có lẽ là sĩ quan cầm đầu ra hiệu lệnh lớn tiếng rồi không quá một phút sau, tôi nhìn thấy các quân nhân VNCH xuất hiện với cờ trắng trong tay. Khi ấy, viên sĩ quan của phía Bắc Việt cũng chĩa mũi súng về hướng những người ra dấu đầu hàng.

Vì tôi đứng ở vị trí khá gần người sĩ quan này nên khi đưa ống kính chụp hình để chụp lại quang cảnh thì tôi cũng bắt gặp những tia nhìn sắc bén của các binh sĩ Bắc Việt, nhưng chỉ một chốc sau họ tỏ thái độ không thèm để ý đến sự hiện diện của tôi. Ngay khi đó trên nóc Dinh Độc Lập, lá cờ vàng ba sọc đỏ của VNCH cũng bị thay bằng cờ của phe chiến thắng, đánh dấu màn chung kết của cuộc tranh VN. Tuy đó chỉ là giây phút ngắn ngủi nhưng tôi lại cảm thấy nhiều cảm xúc dâng tràn khi lá quốc kỳ VNCH bị hạ xuống một cách phũ phàng…

 


30/4/1975

Từ buổi trưa cho đến tối 30/4/1975 đã có hơn 100.000 quân Bắc Việt tiến vào Sài Gòn. Tất cả đều là bộ đội thuộc lực lượng chính quy của quân đội Bắc Việt, tức quốc gia VNDCCH. Trong kế hoạch tấn công Sài Gòn mà phía Bắc Việt gọi là chiến dịch HCM do tướng Văn Tiến Dũng chỉ huy đã dùng quân số lên đến 15 sư đoàn để đánh chiếm thủ đô miền Nam VN. Trong khi phía quân đội VNCH chỉ có chưa đầy 5 sư đoàn bảo vệ thủ đô nên trong một thời gian ngắn họ bị vỡ trận.

Đối với tôi, việc quân đội cộng sản Bắc Việt tràn vào Sài Gòn với một lực lượng hùng hậu và còn được trang bị vũ khí đủ loại, đã cho thấy mức độ quy mô và áp đảo hẳn lực lượng quân VNCH như chiến xa T-54, loại pháo cực đại 130 ly, loại xe tăng lội nước PT-76 có tính cơ động đa năng của Liên Xô, cùng với đủ loại xe tải và vũ khí khác ghi hàng chữ tàu do Trung cộng sản xuất như hỏa tiễn, đại pháo. Qua đó chỉ có thể kết luận rằng quân Bắc Việt đã được trang bị ở cấp đại chiến lực cùng với nhiều loại vũ khí cận đại.

 


Chiến xa CSBV vào Saigon 30/4/1975

Tóm lại, những gì diễn ra trước mắt tôi quả thật đã hoàn toàn trái ngược với cái gọi là “cuộc kháng chiến thần thánh của người dân Nam Bộ dưới ngọn cờ MTGPMN đã đánh tan chính quyền Sài Gòn và đế quốc Mỹ xâm lược” mà phía Hà Nội đã tuyên truyền và được đa số dư luận thế giới tin theo.

©Komori Yoshihisa & Khôi Nguyên @ HVR

 

Thursday, April 17, 2025

Rồi Thu Lại Sang Tháng Tư Về - Thuyên Huy

 Rồi Thu Lại Sang Tháng Tư Về


Ngậm Ngùi - Vườn Thơ Mới Xướng Họa

 THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 169_VƯỜN THƠ MỚI

 

 
















 Xướng:


Ngậm ngùi

Ngậm ngùi nhớ tháng tư xưa
Trời long đất lở bởi vừa trãi qua
Xảy ra biến cố nước nhà
Nồi da xáo thịt thật là đáng thương
Năm mươi năm trước đoạn trường
Chồng lìa xa vợ vấn vương mẹ già
Rồi thêm thảm cảnh không cha
Đời người chứng kiến xảy ra đau lòng
Thầm gào tạo hóa bất công
Thôi đành chịu nhục ẵm bồng trẻ thơ
Bao nhiêu chồng chất bất ngờ
Bây giờ nhìn lại cuộc cờ còn nguyên

Hương Lệ Oanh VA
Tháng tư 2025

 

Họa 1:

 

Đổi đời


Tháng Tư ngày ấy năm xưa
Năm mươi năm chẳn như vừa hôm qua
Tang thương mất cả quê nhà
Miền Nam thất thủ mới là thảm thương
Vang lên tiếng khóc miên trường
Chồng đi cải tạo sầu vương mọi nhà
Long đong nợ nước tình cha
Trần ai bể khổ hiện ra đắng lòng
Địch bày thế trận tấn công
Dân đành bỏ chạy tay bồng con thơ
Ai gieo tang tóc chẳng ngờ
Mà nay nhìn lại bàn cờ vẫn nguyên

Nguyễn Cang  
Apr.4,2025

 

Họa 2:

 

Năm xưa

Thẩn thờ nhớ lại năm  xưa

Năm mươi năm đó tưởng vừa mới qua

Quốc vong đành phải tan nhà
Chia đàn xẻ nghé thật là đau thương
Anh hùng trên bải chiến trường
Giờ đây ngả nón còn vương mẹ già
Trẻ em thì lại mất cha

Ngục tù vô đạo nhận ra lang lòng
Cướp nhà miệng bảo của công
Màn trời chiếu rách tay bồng con thơ

Còn chi mà phải nghi ngờ

Trăm mưu ngàn kế hùa cờ Mông Nguyên

PTL

Quân Mông Nguyên xâm chiếm Đại Việt năm 1257

 

Họa 3:

 

Đổi đời


Ngỡ ngàng nhớ lại năm xưa
Tưởng chừng như thể mới vừa hôm qua
Nửa phần thế kỷ xa nhà
Tuổi đời chồng chất chỉ là xót thương 
Kính người gục ngã chiến trường 
Để thân goá bụa thêm vương tuổi già
Một mình một bóng không cha
Ai trông mà chẳng nghĩ ra tấc lòng
Còn thêm bao nỗi bất công
Tấm thân gầy guộc, ẩm bồng trẻ thơ
Làm sao học được chữ ngờ
Tang Điền Thương Hải bàn cờ chẳng nguyên

THT

Thương hải biến vi tang điền 倉海變為桑田

Thương: Màu xanh. Hải: biển. Biến: biến đổi. Vi: là, làm. Tang: dâu. Điền: ruộng. Tang điền: ruộng dâu.

Thương hải biến vi tang điền là biển xanh biến làm ruộng dâu. Ý nói: việc đời luôn luôn thay đổi.

 

Họa 4:


Thổn thức


Chong đèn gẫm lại chuyện xưa

Nỗi vinh nhục ấy như vừa hôm qua
Nát lòng mất nước tan nhà
Mang thân nhược tiểu thật là đau thương
Không thua trực diện chiến trường
Đành buông súng lúc phải vương lão già
Năm mươi năm biệt quê cha
Nay trông thế sự thấu ra nghẹn lòng
Chúng vơ vét của giành công
Sa cơ viễn xứ... Bềnh bồng lời thơ
Ầu ơ vinh nhục đâu ngờ
Một khi gió đổi thế cờ hoàn nguyên!


TQ
Apr. 07, 2025

 

 

Nổi Lòng người Vợ Tù Cải Tạo - Nguyễn Cang

 NỖI LÒNG NGƯỜI VỢ TÙ CẢI TẠO

(Tháng Tư buồn, viết thay lời vợ sau 1975)

 


 















Ta lưu lạc không nhà nơi thành phố

Đông phong về đêm lạnh phủ mù sương

Ta còn đây hay đã mất quê hương

Nghe con khóc biết mình còn đang sống

 

Xuân sắp đến bạc tiền như vườn trống

Hạt mưa rơi gom nỗi nhớ vào tim

Đi về đâu trong cõi vắng im lìm

Nghe mặn đắng bờ môi tê buốt giá

 

Mùa đông lạnh anh phong phanh áo vá

Gió cao nguyên có tê tái trong lòng

Thân phận nghèo mình cứ mãi long dong

Em vẫn đợi vẫn chờ ngày gặp lại

 

Soi gương mặt tóc nào còn xanh mãi

Chiều Tân Quy* chiều mắt đỏ mong chờ

Trong khổ đau đành mất tuổi mộng mơ

Đứa con nhỏ giật mình kêu mẹ khóc

 

Trả hết anh những hẹn hò trách móc

Còn lại đây những cay đắng dật dờ

Rót ưu tư vào bến giác hoang sơ

Lau nước mắt nhạt nhòa mưa cuối hạ!

 

Nguyễn Cang (Apr . 10, 2025)