Mai Tôi Đi
Monday, September 22, 2025
Hương Cuội - Nguyễn Tuân
Hương Cuội
Đứa cháu đích tôn và lũ cháu ngoại đang loay hoay ngoài sân với
những đồ đồng ngũ sự lổng chổng trên đám trấu và tro đẫm nước.
Ông chúng, cụ Kép làng Mọc, cũng đang loay hoay với mấy chục chậu lan xếp thành
hàng dưới giàn thiên lý.
Trái với thời tiết, buổi chiều cuối năm gió nồm thổi nhiều.
Cơn gió nồm thổi nhẹ, như muốn nhạo cái ông già kia mặc cả một tấm áo trấn thủ
bằng lông cừu trắng. Trời nồm nực, bức đến tắm nước lã được, ông cụ Kép mặc áo
lông cừu xứ Bắc! Không, đấy chỉ là một thói quen của cụ Kép. Mỗi khi cụ ra thăm
vườn cảnh, trong một năm, trừ những ngày hạ ra không kể còn thì lúc nào cũng
khoác tấm áo cừu. Mùa xuân, mùa thu, khí hậu ấm, áo mở khuy. Sang đến đông tuyết,
cụ cài hết một hàng khuy nơi áo, thế là vừa. Trong cái vườn cây nhỏ, trong đám
cỏ cây xanh rờn, những buổi sớm tinh mơ và những buổi chiều tàn nắng, người ta
thường thấy một ông già lông mày bạc, tóc bạc, râu bạc, mặc áo lông trắng, lom
khom tỉa những lá úa trong đám lá xanh. Cụ Kép nguyện đem cái quãng đời xế chiều
của một nhà nho để phụng sự lũ hoa thơm cỏ quý.
Buổi chiều ba mươi Tết năm nay, cả một cái gia đình cũ kỹ nhà cụ Kép đang tới tấp
dọn dẹp để ăn tết.
Mợ ấm cả, mợ ấm hai ngồi lau lá dong chăm chỉ. Thỉnh thoảng họ ngừng tay để hỏi
nhau xem còn thiếu những thực phẩm gì trong cái mâm cơm cúng chiều nay. Lũ con
đàn bi bô ngoài sân. Chúng đang đánh bóng ở ngoài sân những lư, đỉnh, cây đèn nến
bằng đồng mắt cua và bằng thiếc sông Ngâu. Chốc chốc, lũ trẻ ại mỉm cười, nghển
những đầu thưa thớt ít sợi tóc tơ, nhìn vào phía trong nhà cầu, hỏi mẹ chúng:
– Bao giờ cậu mới về, hả mợ?
Không biết nên trả lời con trẻ thế nào cho tiện, mợ ấm cả đưa mắt cho mợ ấm
hai.
Ông ấm cả và ông ấm hai, đi làm việc ở tận xa chưa thấy về ăn Tết. Cứ lời những
người trong làng có người đi làm việc nhà nước thì được nghỉ những từ chiều hai
mươi chín kia mà. Muốn được khuây nỗi mong, hai chị em dâu, người đã đứng tuổi,
càng thái đồ nấu cỗ cho thực nhanh. Gớm, những miếng trứng tráng để bày mặt cỗ
bát, thài hình miếng trám, sao mà đẹp thế. Đứng bên cạnh mẹ, đứa nhỏ nhất trong
đàn con đã thủ thỉ van nài mợ ấm hai:
– Mợ cho con cái miếng mợ cắt hỏng kia nhá!
Người mẹ không nghỉ tay làm việc trên tấm thớt. Lừ mắt nhìn con. Thằng bé vội
chạy ra ngoài, sán đến cạnh cụ Kép:
– Ông đang làm gì thế hở ông?
– Ấy chết, cháu đừng mó vào hoa của ông. Ông đang thăm xem đúng hôm nào thì hoa
của ông nở đủ.
– Ông cho cháu một cái… Cháu xin ông cái lá gẫy kia nhá!
– Cháu không nghịch được những thứ này. Thôi, đi lên trên nhà với ông. Mợ cháu
mà trông thấy cháu ra nghịch cây của ông, thì cháu lại phải đòn đấy.
Nhớ đến trận đòn phất trần hôm nọ, vì trót nghịch gẫy mất mấy giò lan của ông nội,
thằng bé mặt phụng phịu và hai tay đánh đai vào mình ông già, kéo trĩu cả tấm
áo lông cừu. Nó làm nũng ông và quấn quít lấy ông, mong ông sẽ che chở cho, nếu
mẹ nó nom thấy nó ra nghịch chậu cây cấm.
Cụ Kép cười khà khà. Rồi cụ lại vạch từng gốc rò lan, xem xét tỉ mỉ đến màng
hoa, đến rò lan và thân lá. Hết chậu này đến chậu khác.
Tưởng chừng như cháu mình cũng là một người biết đến chuyện chơi cây, hiểu đến
thời tiết trong một năm, có đủ những kinh nghiệm, thói tục và thông minh của
người lớn, ông già đã nói với cháu bé:
– Tự nhiên, cuối năm lại nổi gió nồm. Cháu có thấy bực mình không? Ông tiếc cho
mấy chục chậu lan của ông quá. Nở hết thôi!
Đứa cháu không hiểu đến ý nghĩa câu than phiền của ông già, ngửng bộ mặt ngây
thơ lên, hỏi hai ba lần:
– Hoa sắp nở, sao lại tiếc hở ông?
Cụ Kép nhìn lại cái người bé tí hon đứng với mình trong vườn lan, thân cao
không vượt khỏi cái lá lan uốn cầu vồng, cụ Kép đãi đứa cháu ngây thơ một nụ cười
rất độ lượng, mắt nhấp nháy kính tuổi:
– Nếu không có nồm, thì hoa trong vườn ông còn lâu mới nỏ. Hoa sẽ nở nhằm vào
ngày rằm tháng giêng. Đúng vào ngày Tết Nguyên Tiêu. Ông cháu chúng ta sẽ có
hoa mà thưởng xuân, cháu đã hiểu chưa? Bây giờ cháu chạy vào gọi bõ già ra đây
cho ông bảo.
– Bõ đi ra bờ ao rửa đá cuội từ ban trưa kia ông ạ.
Phải, phía cầu ao trong vườn cụ Kép, một người lão bộc, đang lom khom dúng rổ
đá xuống nước ao và sàng sẩy rổ đá như kiểu người ta sàng mẹt gạo. Tiếng đá bị
tung lên dập vào nhau kêu sào sạo, khiến lũ cò trắng nghỉ chân trên lũy tre vội
bay mất. Bõ già nghỉ tay, nhìn đàn cò sợ hãi bay cao, với nét cười của một người
chịu vui sống trong sự an phận.
Bõ ở với cụ Kép đã lâu lắm. Cái hồi cụ Kép còn là một thầy khóa sinh hai mươi
tuổi, bõ già đã nếm cơm ở của nhà này rồi. Chính bõ vác lều chõng cho cụ đi thi
tú tài. Những việc lớn nhỏ trong nhà, bõ đều nhớ hết. Bõ nhớ cả đến ngày giỗ
giúi trong họ. Không có bõ nhắc nhỏm có lẽ nhiều lần mợ ấm cả đã bỏ mất ngày giỗ.
Bõ già hình như chỉ trải cuộc sống của mình để hằng năm, nhắc nhỏm đến những
ngày giỗ trọng và giỗ giúi của gia đình người khác.
– Thưa mợ, đến mười sáu tháng tư này lại là chính kỵ cụ ngoại… Thưa mợ…
Mợ ấm cả, muốn tỏ sự cảm ơn, kín đáo đãi bõ già một miếng trầu kèm miếng cau
tươi mềm. Trong cái gia đình yên lặng này, bõ già được thiện cảm của mọi người,
không phải vì ỏn thót mà chính vì lòng thẳng thắn. Lắm úc trông tội nghiệp lạ.
Bõ tính toán, xếp đặt việc nhà chủ y như một người có quyền lợi dính dấp vào đấy.
Cái hoài bão to lớn của bõ, là lúc trăm tuổi nằm xuống sao được một cái “áo” gỗ
vàng tâm thật dày.
Ở đây, không ai nỡ nói nặng bõ. Và, đến những việc nặng, mọi người đều tránh
cho bõ già. Công việc thường trong một ngày, có nhiều hôm chỉ thu vào việc
chuyên trà tàu và thay bã điếu cho cụ Kép. Thậm chí trong những ngày cuối năm bận
rộn như hôm nay, mà bõ già cũng không phải mó tay vào việc gì cả. Làm lợn gói
giò chả, vo gạo, đồ đậu xanh làm bánh chưng, làm dầu đèn, lau bàn thờ, nhất nhất
không việc gì phải qua tay bõ. Mãi đến trưa hôm ba mươi Tết, cụ Kép mới bảo bõ
già đi rửa mấy trăm hòn đá cuội trắng. Nghe thấy bõ già nhận lấy cái việc rất
ngộ nghĩnh đó, cả nhà đều cười. Thứ nhất là lũ trẻ con. Cụ Kép vẫn nghiêm trang
dặn người bõ già:
– Bõ đem đá ra bờ ao rửa cho sạch. Lấy bẹ dừa mà kỳ cho nhẵn, cho trắng tinh
ra. Xong rồi,lựa những viên đá tròn bỏ vào một cái rổ. Những viên đá xù xì,
không tròn trĩnh, để một rổ khác.
Bõ già tỏ ý hiểu:
– Thưa cụ, con biết rồi. Cụ lại sắp cho dọn một bữa rượu “Thạch lan hương”.
Nhưng sao năm nay, lại soạn đá sớm quá? Thưa cụ, con nhớ mọi năm cứ hạ cây nêu
xong rồi mới đem cuội ra ngâm kia mà…
– Thế bõ không thấy giời đổi gió nồm đấy à? Thế bõ không biết năm nay hoa nở sớm
hơn mọi năm sao? Tôi đã cho ngâm thóc để lấy mầm nấu kẹo mạch nha từ mấy hôm
nay rồi.
Bõ già gật gật…
Cụ Kép là người thích uống rượu ngâm thơ và chơi hoa lan. Cụ đã tới cái tuổi được
hoàn toàn nhàn rỗi để dưỡng lấy tính tình. Vì bây giờ trong nhà cụ cũng đã thừa
bát ăn. Xưa kia, cụ cũng muốn có một vườn cảnh để sớm chiều ra đấy tự tình.
Nhưng nghĩ rằng mình chỉ là một anh nhà nho sống vào giữa buổi Tây Tàu nhố
nhăng làm lạc mất cả quan niệm cũ, làm tiêu hao mất bao nhiêu giá trị tinh thần;
nhưng nghĩ mình chỉ là một kẻ chọn nhầm thế kỷ với hai bàn tay không có lợi khí
mới, thì riêng lo cho thân thế, lo cho sự mất còn của mình cũng chưa xong, nói
chi đến chuyện chơi hoa. Cụ Kép thường nói với lớp bạn cũ rằng có một vườn hoa
là một việc dễ dàng, những đủ thời giờ mà săn sóc đến hoa mới là việc khó. Cụ
muốn nói rằng người chơi hoa nhiều khi phải lấy cái chí thành chí tình ra mà đối
đãi với giống hoa cỏ không bao giờ biết lên tiếng. Như thế mới phải đạo, cái đạo
của người tài tử. Chứ còn cứ gây được lên một khoảnh vườn, khuân hoa cỏ các nơi
về mà trồng, phó mặc chúng ở giữa trời, đày chúng ra mưa nắng với thờ ơ, chúng
trổ bông không biết đến, chúng tàn lá cũng không hay thì chơi hoa làm gì cho
thêm tội.
Đến hồi gần đây, biết đã đủ tư cách chơi cây cảnh, cụ Kép mới gây lấy một vườn
lan nho nhỏ. Giống lan gì cũng có một chậu. Tiểu kiều, Đại kiều, Nhất điểm, Loạn
điểm, Yên tử v.v… Chỉ trừ có giống lan Bạch ngọc là không thấy trồng ở vườn.
Không phải vì lan Bạch ngọc đắt giá mỗi giò mười đồng bạc, mà cụ Kép không trồng
giống hoa này. Trong một buổi uống trà đêm, cụ Kép nói với một người bạn đến hỏi
cụ về cách thức trồng cây vườn hoa:
– Tôi tự biết không chăm được lan Bạch ngọc. Công phu lắm, ông ạ. Gió mạnh là gẫy,
nắng già một chút là héo, mưa nặng hột là nẫu cánh. Bạch ngọc thì đẹp lắm.
Nhưng những giống nhẹ nhàng ấy thì yểu lắm. Chăm như chăm con mọn ấy. Chiều chuộng
quá như con cầu tự. Lầm lỡ một chút là chúng đi ngay. Những vật quý ấy không ở
lâu bền với người ta. Lan Bạch ngọc hay ưa hơi đàn bà. Trồng nó ở vườn các tiểu
thư thì phải hơn.
Thiếu hẳn loài Bạch ngọc, cụ Kép đã cho trồng nhiều giống Mặc lan, Đông lan, Trần
mộng. Giống này khỏe, đen hoa và rò đẫy, hoa có khi đậu được đến nửa tháng và
trong mươi ngày, nếu chủ vườn có quên bón tưới, cũng không lụi.
Chiều hôm nay, hoa Mặc lan chớm nở.
Chiều mai, mùng một Tết, hoa Mặc lan mãn khai đầy vườn.
Đêm giao thừa, bên cạnh nồi bánh chưng sôi sình sịch, bõ già đang chăm chú canh
nồi kẹo mạch nha. Cụ Kép dặn bõ già phải cẩn thận xem lửa kẻo lơ đễnh một chút
là khê mất nồi kẹo.
Hai ông ấm, con trai cụ Kép, người lớn tuổi đứng đắn như thế, mà lại ngồi gần đấy,
phất giấy vào những nan lồng. Thực là hai đứa trẻ con đang ngồi nghịch với lồng
bàn giấy. Họ trịnh trọng ngồi dán hồ, vuốt giấy. Ông cụ Kép đứng kèm bên, mỗi
lúc lại nhắc:
– Này Cả, thầy tưởng miệng lồng bàn, con nên đan to hơn miệng chậu. Con chạy
ra, lấy cái que đo lại lợi chậu xem. Nếu rộng thì hỏng hết. Đo lợi chậu Mặc lan
thôi.
Hai ông ấm, ngồi phất được đến mười cái lồng bàn giấy. Họ rất vui sướng vì họ
tin đã làm toại đượcsở thích của cha già. Cụ Kép co ro chạy từ nồi mạch nha,
qua đám lồng bàn giấy, đến cái rổ đá cuội đã ráo nước thì cụ ngồi xổm xuống, ngồi
lựa lấy những viên đá thật trắng, thật tròn, để ra một mẹt riêng. Ông ấm cả,
ông ấm hai lễ mễ bưng những chậu Mặc lan vào trong nhà. Cả ba ông con đều nhặt
những hòn cuội xấu nhất, méo mó, xù xì trải xuống mặt đất những chậu lan gần nở.
Mỗi lần có một người đụng mạnh vào rò lan đen, cụ Kép lại xuýt xoa như có người
châm kim vào da thịt mình.
Nồi kẹo đã nấu xong nhưng phải đợi đến gần cuối canh hai kẹo mới nguội.
Bây giờ thêm được bõ già đỡ một tay nữa, cả ba ông con đều lấy những hòn cuội để
riêng ban nãy ra mẹt, đem dúng đá cuội vào nồi kẹo, quấn kẹo bọc kín lấy đá, được
viên nào liền đem đặt luôn vào lồng chậu hoa. Những viên đá bọc kẹo được đặt nhẹ
nhàng lên trên lượt đá lót lên nền đất chậu hoa.
Úp xong lồng bàn giấy lên mười chậu Mặc lan thì vừa cúng giao thừa.
Ba ông con, khăn lượt áo thâm lạy trước bàn thờ đặt ngoài trời. Năm nay, trời
giao thừa lành.
Cả một buổi sớm, cụ Kép phải bận ở đình làng. Trước khi ra đình cụ đã dặn bõ
già ở nhà phải sửa soạn cho đủ để đến quá trưa, cụ và vài cụ nữa đi việc đình
làng về sẽ cùng uống rượu thưởng hoa.
Bõ già đã bày ra giữa sân bốn cái đôn sứ Bát Tràng mầu xanh quan lục. Trước mặt
mỗi đôn, bõ già đặt một án thư nhỏ, trên đó ngất nghểu hai chậu lan còn lù lù
chiếc lồng bàn úp, và một hũ rượu da lươn lớn có nút lá chuối khô. Bõ già xếp đặt
trông thạo lắm. Trong mấy năm nay, đầu mùa xuân nào bõ già cũng phải ít ra là một
lần, bày biện bàn tiệc rượu Thạch lan hương như thế. Bõ già hôm nay lẩm bẩm
phàn nàn với ông ấm hai:
– Năm nay cụ nhà uống rượu sớm quá và lại uống ban ngày. Mọi năm, cứ đúng rằm
tháng giêng mới uống. Vả lại uống vào chiều tối. Đốt đèn lồng, treo ở ngoài vườn,
trông vào bữa rượu hoa, đẹp lắm cậu ạ.
Ông ấm hai vui chuyện, hỏi bõ già:
– Này bõ già, tôi tưởng uống rượu nhấm với đá cuội tẩm kẹo mạch nha thì có thú
vị gì. Chỉ thêm xót ruột.
– Chết, cậu đừng nói thế, cụ nghe thấy cụ mắng chết. Cậu không nên nói tới chữ
xót ruột. Chính cụ nhà có giảng cho tôi nghe rằng những cụ sành uống rượu, trước
khi vào bàn rượu không ăn uống gì cả. Các cụ thường uống vào lúc thanh tâm. Và
trong lúc vui chén, tịnh không dùng những đồ nhắm mặn như thịt cá đâu. Mấy vò
rượu này, là rượu tăm đấy. Cụ nhà ta quý nó hơn vàng. Khi rót rỏ ra ngoài một
vài giọt, lúc khách về, cụ mắng đến phát thẹn lên. Cậu đậy nút lại không có rượu
bay!
Phía ngoài cổng, có tiếng chó sủa vang.
Bõ già nhìn ra thấy bốn cụ tiến vào đã quá nửa lòng ngõ duối. Cụ nào cũng cầm một
cây quạt thước, chống một chiếc gậy tre càng cua hay trúc đùi gà. Uống xong tuần
nước, cụ Kép mời ba cụ ra sân uống rượu. Bõ già vòng tay vái các cụ và đợi các
cụ yên vị rồi thì khom khom mở từng chiếc lồng bàn giấy một.
Một mùi hương lan bị bỏ tù trong bầu không khí lồng bàn giấy phất từ đêm qua, đến
bây giờ vội tản bay khắp vườn cây. Bốn cụ và bõ già đánh hơi mũi: những cặp mắt
kém cỏi đăm đăm nhìn kỹ vào khoảng không trong vắt như có ý theo dõi luồng
hương thơm đang thấm nhập dần vào các lớp khí trời. Cơn gió nhẹ pha loãng hương
thơm đặc vào không gian.
– Dạ, xin rước các cụ.
Dứt tiếng cụ Kép, tất cả bốn cụ đề úp lòng bàn tay vào nhau thi lễ và giơ tay
chỉ thẳng vào giữa mời nhau ai cao tuổi xin nhắp chén trước đi. Tiệc rượu bắt đầu.
Bõ già kính cẩn chắp tay đứng sau lưng chủ, có vẻ cũng thèm say lắm.
– Trời lạnh thêm chút nữa, uống Thạch lan hương mới đúng phép, chủ nhân ạ!
Đáp lời cụ Cử Lủ, cụ Kép vuốt râu cười nói:
– Chính thế. Nhưng đệ sợ chờ được lạnh đến, thì hoa vườn nhà tàn mất. Trông kẹo
mạch nha không đông, còn dính vào lớp đá lót, đệ cũng biết là không được khéo lắm.
Trời nồm biết làm thế nào.
– Này cụ Kép, kẹo đá thơm ngon đấy. Chỉ hiềm có mùi ung ủng pha vào hương lan.
Chắc kẹo nấu bén nồi, khê và thêm không được đông nên mới có tạp vị nhiễm vào.
Sau mấy câu phê bình về tiệc rượu, tỏ ra mình là người biết thưởng thức những vị
thanh lương đạm bạc, bốn cụ đều xoay câu chuyện sang phía thơ văn.
Cụ Tú người cùng làng với cụ Kép mở đầu câu chuyện làm thơ.
– Sớm nay, đệ đã khai bút rồi. Đệ nghĩ dược một đôi câu đối. Để các cụ chữa cho
mấy chữ. Chiều nay sẽ viết luôn vào giấy hồng điều để xin phép dán thêm vào cổng
nhà.
Ba cụ cùng cạn chén một lúc, cùng nói một lúc:
-Cụ Tú hãy cạn luôn ba chén rồi hãy đọc đôi câu đối mới. Câu đối của cụ còn ai
mà hạch nổi chữ nào. Cụ nói gì mà khiêm tốn vậy… Chúng tôi xin nghe.
Chờ cụ Tú dặng hắng lấy giọng, mỗi cụ đều bỏ vào mồm những viên kẹo mạch nha đá
cuội ướp hương lan. Những nhân đá đánh vào răng kêu lách cách. Mỗi ông già đọc
một đôi câu đối.
Rồi chén rượu ngừng là một lời thơ ngâm trong trẻo. Cứ thế cho tàn hết buổi chiều.
Mấy cụ đều khen lẫn nhau là thơ hay. Trong cái êm ấm của buổi chiều xuân sớm,
tiếng ngâm thơ quyến rũ cả đến tâm hồn một người lão bộc. Bõ già, chiều mồng một
Tết tự nhiên mặt sáng tỏ hẳn lên. Cái đẹp của tiệc rượu ngâm thơ lây cả sang
người bõ.
Vò rượu vợi với chiều xuân sớm quên đi.
Những vò rượu vợi dần. Trong lòng đĩa sứ đựng nhân đá, hòn cuội cao dần lên, bõ
già đưa thêm mãi những đĩa sứ vào bàn rượu.
Từ phía đầu làng, dội về mấy tiếng pháo lẻ loi. Lũ cháu nhỏ, nấp sau cột nhà,
muốn chạy ra xin bõ già phát cho chúng những hòn cuội đã nhắm rượu xong rồi
kia.
Nguyễn Tuân
Thursday, September 18, 2025
Xem Hát Bộ - Vườn Thơ Mới Xướng Họa
THƠ XƯỚNG HỌA KỲ 178_VƯỜN THƠ MỚI
Xem hát
bộ
Cạn tuồng
hát mãi một bài ca
Hấp dẩn đến đâu cũng chán mà
Chiêu thuật hoán vai nghe ngứa rốn
Trò hề dụ khỉ thấy lườm da
Thương đàm thế chiến nhiều vai diễn
Giảm thuế tăng lời lắm kẻ ra
Thoáng nghĩ tài danh đời nhớ mãi
Là vai giúp nước thực hay là
TQ
Aug 31,25
Họa 1:
Thế Sự
Thế sự
thăng trầm đổi quốc ca
Anh hùng thất trận có sao mà
Ăn nhờ ở đậu lành cơm áo
Gắn bó cùng nhau khác biệt da
Thân phận đời người như bèo giạt
Nỗi niềm muôn thuở chẳng tìm ra
Thôi thì số phận đành cam chịu
Kiếp sống tha hương cũng thật là
Hương
Lệ Oanh VA
Sept, 1.
2025
Họa 2:
Xem
tuồng
Kèn thổi
trống khua rộn tiếng ca.
Mang hia đội mão cũng hay mà.
Cầm gươm nhảy cóc vung roi ngựa,
Bôi phấn tô mày lấp sắc da.
Đầu buổi đàn rao hăng hái lắm,
Hết tuồng màn khép mệt nhừ ra.
Khóc cười thiện ác tùy vai diễn,
Đào kép quanh năm cứ thế là…
Minh
Tâm
Họa 3:
Vọng cố hương
Quốc Khánh bày trò múa hát ca
Dựng
xây đất nước khó chi mà
Diễn
hành đốt pháo ăn mừng tiệc
Cất
giọng thương dân nóng cháy da
Hưng
Đạo anh hùng xưa chiến thắng
Trường
Sơn dũng sĩ lại thò ra
Trăm
năm tượng đá còn ghi sử
Chiến
đấu vì dân mới thực là
Nguyễn Cang
Aug.
31, 2025
Quá giang - Cao Xuân Lý
Quá giang
Muôn đạp xe về nhà, chiếc xe xích lô bỗng chốc trở nên nặng nề,
hắn có cảm tưởng như có một bà thật mập lại chất đầy hàng hóa đang ngồi ngất
ngưởng trên xe của hắn. Hắn tưởng thế, nhưng thật ra chẳng có ai và cũng chẳng
có gì trên xe của hắn cả, chỉ vì hắn đã mệt thôi! Có điều hắn không ngờ hắn lại
yếu đến thế!
Mệt, nghề đạp xích lô thì ít khi hắn được khoẻ, đành rồi, nghề lao lực mà.
Nhưng cũng tại hắn ham hố quá mà thành ra như vậy.
Chả là, một hôm đang đạp kiếm khách ở Bình Hoà thì có một cô vãy, hắn ngừng lại
thì nghe tiếng lảnh lót:
-Nói thiệt với anh, cho em đi quá giang một đoạn, em hết tiền rồi, hôm nào có
tiền em sẽ trả.
Trời đất! từ ngày đạp xích lô đến giờ có khi nào mà hắn nghe một lời nói kỳ cục
như vậy đâu. Ai cũng đi quá giang kiểu này thì làm sao hắn sống. Nhưng thấy cô
gái cũng xinh, nước da trắng, đôi mắt còn biết cười nữa, lại xưng anh em ngọt xớt,
nên hắn đứng lại cho nàng lên xe, giàu nghèo gì một cuốc xe, hắn nghĩ. Với lại,
đạp xe cho một người con gái đẹp cũng thích, cái mệt, cái nặng nhọc giảm đi rất
nhiều.
Mới ngồi vào xe, nàng quay lại, nói với hắn:
-Em mới ở Nam Vang về, tụi Khờ Me Đỏ nó làm dữ quá, sợ “cáp duồn” nên em về
đây, bỏ của chạy lấy người anh ạ. Có một mớ tiền Miên thì chưa tìm được chỗ đổi.
Vừa rồi em nói chơi thôi, chứ anh đạp xe mà lại đi quá giang thì tội chết,
nhưng em sẽ trả anh tiền Miên, anh chịu khó đem đổi. Hay anh có biết chỗ nào đổi
tiền đưa em đến, rồi mình đi ăn hủ tíu, em bao.
Nghe cô gái nói, hắn mừng. Gì chứ cái vụ đổi tiền thì hắn rành, muốn đổi tiền
gì cũng được, lại là chỗ an toàn, không sợ công an gì hết. Nhưng cái hắn mừng
hơn là quen được cô gái đẹp không khinh thường nghề đạp xích lô của hắn, còn mời
hắn đi ăn nữa.
Sau khi đưa cô gái đi đổi tiền thì nàng mời hắn ghé vào một tiệm hủ tíu gần đó
ăn thật, xong còn dúi vào tay hắn ít tiền, sau này đếm lại hắn mới biết là nàng
đã cho hắn số tiền khá lớn, bằng cả một ngày đạp xe bình thường. Nhưng những điều
đó không quan trọng bằng việc nàng mời hắn về nhà trọ của nàng, rồi nàng nói thật
nghề nghiệp nàng làm khi ở bên Miên. Nàng nói, bên đó làm ăn dễ vì gái Miên thường
xấu hơn mình nên lúc nào cũng đông khách, nhất là từ khi có lực lượng quốc tế đến
thì càng dễ sống hơn, nhưng sống xa quê hương cũng buồn, nhất là chỉ có một
thân một mình. Những lúc cảm thấy buồn nhất là những hôm mưa, nhiều khi muốn
khóc. Nghe chuyện của nàng hắn cũng cảm động. Rồi hai bên mến nhau, nàng “cho”
hắn hết, ngay trong lần gặp gỡ đầu tiên. Từ đó hắn thành ra tình nhân của nàng,
thỉnh thoảng lại đến ngủ với nàng một đêm rồi nhà ai người đó sống. Kể ra như vậy
thì cũng “khoẻ”, chẳng phải lo gì cả.
Nhưng cũng có khi hắn ham hố như đêm vừa rồi nên sáng ra là hắn đạp xe không về
như hôm nay chứ chẳng làm ăn gì được nữa cả.
Khi về đến nhà là Muôn lao cái xe vào một góc rồi chui vào cái chái hắn thuê để
ngủ. Đối với hắn bây giờ giấc ngủ quan trọng hơn hết. Nằm một lúc thì hắn ngủ
thật, ngủ ngon lành, không biết trời trăng gì, đến khi thức dậy thì trời bắt đầu
tối ở bên ngoài. Hắn nằm định thần một lúc thì mới ôn lại được hết mọi chuyện
và mới nhớ ra là suốt ngày hôm nay hắn nằm ngủ, và bây giờ hắn thức dậy vào lúc
mọi người có lẽ chuẩn bị lên giường. Hắn định ngủ luôn một giấc nữa đến sáng
mai nhưng rồi càng nằm càng tỉnh, và rồi đói, cơn đói đến cồn cào ruột gan, hắn
mới sực nhớ là suốt ngày hắn đã không ăn gì. Hắn trở dậy mặc vội quần áo đi ra
dãy phố gần đấy kiếm cái gì nhét cho đầy bụng đã, kẻo khi người ta dẹp hết thì
chỉ có nước ăn mì gói thôi, mà ăn mì gói bây giờ hắn ngại lắm, khó nuốt nữa.
Cũng may khi hắn ra đến ngoài phố thì quán xá vẫn còn đông khách, người đi lại
vẫn tấp nập. Hắn liếc nhìn vào cái đồng hồ treo trong tiệm gần đấy thì thấy mới
mười giờ đêm, kể ra thì còn sớm chán, nhưng tính như vậy thì hắn đã ngủ gần suốt
ngày rồi, nên bây giờ hắn tỉnh táo lắm. Hắn vào một tiệm ăn gần đấy gọi một đĩa
cơm tấm bì trứng, rưới nhiều mỡ hành. Hắn quen miệng gọi như là thức ăn sáng,
nhưng khi người chủ lắc đầu thì hắn đành đổi món hắn ưa thích đó bằng một cái lẫu
nhỏ với bún, uống thêm một chai bia nữa để lấy lại sức. Đối với hắn, ăn gì thì
ăn, thiếu chút men là đi mất vui đi nhiều lắm.
Sau khi ăn uống no say hắn không biết làm gì nữa. Về vào giờ này thì chẳng lẽ lại
ngủ nữa, mà làm sao ngủ được vì hắn tỉnh táo lắm. Cứ như mọi khi, sau khi đã no
say thì phải kiếm em út, còn hôm nay hắn không thèm cái khoản đó nữa. “Của cải”
có bao nhiêu thì đã trút hết cho Cúc rồi. Nàng được cái điệu nghệ nên đã làm hắn
mệt đừ, đến bây giờ hắn vẫn còn muốn nằm mặc dầu không buồn ngủ. Vì thế nên hắn
lại trở về cái chái hắn thuê, nằm nhìn lên mái nhà, nghe cuốn băng cải lương mà
thằng bạn mới cho mượn. Hắn thích vọng cổ, cải lương, nên thỉnh thoảng cũng cất
tiếng hát. Hình như hắn hát cũng khá hay nên cô Út láng giềng của hắn ngày trước
khen giọng hát của hắn hoài. Cô Út cũng mê vọng cổ, cải lương, như hắn và cũng
biết ca nữa, nên khi cổ khen thì chắc là phải đúng rồi. Hồi đó hắn mê cô Út lắm,
yêu thầm, nhớ trộm vậy thôi, vì cô Út nhà giàu, học giỏi. Còn hắn thì chỉ là một
tên cầu bơ cầu bất, lớn lên không biết làm gì đành chọn nghề đạp xích lô, một
nghề không cần học hành gì, cũng chẳng cần vốn liếng. Cũng có cái may là gặp thời
nhiễu nhương, công chức, sĩ quan chế độ cũ đi cải tạo về cũng thiếu gì người đạp
xích lô kiếm ăn, nghề đạp xích lô bỗng chốc trở thành có giá, hay ít nhất cũng
không đến nỗi bị người đời nhìn bằng nửa con mắt như ngày xưa. Tuy vậy, hắn
không bao giờ dám mơ ước lấy cô Út làm vợ, cô Út vẫn muôn đời là người trong mộng
của hắn thôi. Rồi đến một ngày cô Út lên xe hoa về nhà chồng. Ngày đó, hắn đã uống
đến say mèm rồi lăn ra ngủ. Hắn say đến độ mấy hôm sau hình như vẫn còn choáng
váng phải nghỉ đạp xích lộ Nhưng rồi, khi những đồng tiền cuối cùng đã tiêu hết
thì hắn lại phải đưa xích lô ra ngoài đường đạp. Mãi sau này hắn mới quên được
cô Út. Một lần trời xui đất khiến sao đó mà hắn gặp cô Út đứng ở bên đường chờ
xe. Cô Út mừng rỡ khi nhận ra hắn:
-Ủa, anh Muôn! Lâu lắm mới gặp anh. Thôi anh đưa má con tôi về Tân Định rồi vừa
đi vừa nói chuyện.
Cô Út vẫn không khác ngày xưa bao nhiêu, hình như còn có vẻ hấp dẫn hơn. Đó là
điều làm hắn lúng túng. Hắn quên không nhớ đã nói với cô Út những gì trong cuốc
xe ấy. Hắn cũng không nhớ được cô Út đã nói gì với hắn nữa. Hình như cổ kể chuyện
đâu đâu về gia đình chồng, những điều mà hắn đâu có muốn nghe. Hắn vừa đạp xe vừa
nhìn chằm chằm vào cái cổ trần trắng nõn của cô Út, nhìn vào lớp vải phập phồng
trên ngực cô Út, mà bây giờ hình như đã lớn hơn nhiều so với khi cô còn con
gái.
Cuốc xe ấy là cuốc xe Muôn nhớ mãi trong đời đạp xích lô của hắn. Mãi đến bây
giờ hắn vẫn chưa quên được cô Út. Mỗi khi đạp cuốc xe nào có người đàn bà trẻ bế
đứa con là hắn lại nhớ đến cô Út ngày xưa.
Nghĩ ngợi loanh quanh đến đàn bà lại làm hắn nghĩ đến Cúc. Thỉnh thoảng hắn
nghĩ đến việc xây dựng gia đình với Cúc, nhưng đấy chỉ là những ý nghĩ chợt nảy
ra trong đầu, rồi hắn gạt phăng ý nghĩ ấy, vì cho rằng Cúc không còn xứng đáng
với hắn nữa. Những những ý nghĩ ấy hình như mỗi ngày mỗi quấy rầy hắn, bắt hắn
phải suy nghĩ nhiều hơn.
Càng gần Cúc, nghe nàng kể chuyện đời mình, hắn càng yêu nàng hơn. Vì càng yêu
nên hắn càng cảm thấy rất khó bỏ ngưi đàn bà mà lúc đầu hắn chỉ coi như phương
tiện để giải quyết sinh lý như những lần hắn đến nhà thổ vậy thôi.
Kể ra về nhan sắc, Cúc đâu có kém gì cô Út, người trong mộng của Muôn, có phần
đẹp hơn nữa là khác. Chỉ phải cái nàng đã qua tay quá nhiều người. Mà ngặt nỗi,
nàng lại kể vanh vách cho Muôn nghe, kể rành mạch từng chi tiết một, nên hắn
càng khổ sở hơn mỗi khi nghĩ đến việc cùng nàng xây dựng gia đình.
Xây dựng gia đình, cái kiểu nói chữ nghĩa này hắn thích lắm, thỉnh thoảng hắn
có nghe Cúc nhắc đến như là một mơ ước của nàng. Cúc bảo khi nào xây dựng gia
đình với ai thì Cúc sẽ bỏ nghề này, cái nghề thổ tả mà nàng đang đeo đuổi.
Nhưng cũng vì cái nghề ấy nên hắn mới được gần Cúc một cách dễ dàng. Nếu không,
thì có lẽ Cúc cũng sẽ là một cô Út khác trong cuộc đi hắn thôi.
Ý nghĩ cùng Cúc xây dựng gia đình gần đây cứ quấn quýt mãi trong đầu hắn, nhất
là những lúc nhàn rỗi như đêm naỵ Hắn và nàng sẽ sống dưới một mái nhà, hắn sẽ
chăm chỉ hơn để kiếm tiền nuôi hắn và Cúc, hắn sẽ bỏ tật rượu chè để lo cho gia
đình. Nhưng Cúc cũng phải bỏ cái nghề của nàng nữa. Hai bên đều phải quyết tâm.
Hắn nhủ lòng, hôm nào hắn sẽ đem bàn với Cúc về những điều ấy.
Đã khuya lắm Muôn vẫn chưa ngủ. Giấc ngủ ban ngày làm hắn gần như thức trắng
ban đêm. Hắn nằm nghe tiếng xe chạy ngoài đường gần đấy, tiếng cành cây trứng
cá bị gió thổi quẹt đi quẹt lại mãi vào cái cửa sổ ngay chỗ hắn nằm. Muôn trở dậy
mở tung cánh cửa để cành trứng cá không có chỗ để quẹt nữa. Cánh cửa mở rộng
làm ánh sáng của một cột điện gần đấy chiếu vào. Điện yếu nên ánh sáng chỉ vàng
vọt, mờ mờ, nhưng cành cây trứng cá in hình ngay trên tấm ván Muôn đang nằm.
Bóng cành cây đu đưa qua lại mãi. Cửa sổ mở rộng cũng làm gió thốc vào, Muôn cảm
thấy hơi lạnh nên lấy một tấm vải mỏng quấn quanh người, vừa đỡ lạnh lại vừa đỡ
muỗi.
Nằm nghĩ ngợi loanh quanh rồi Muôn cũng ngủ thêm được một giấc cho đến khi sáng
hẳn. Khi tỉnh ngủ, hắn dậy ngaỵ Vì đã tính trước nên hắn đẩy xích lô ra ngoài
đường và bắt đầu một ngày làm việc.
Chuyện Muôn dự định xây dựng gia đình với Cúc rồi cũng thành sự thật.
Vốn liếng của cả hai người chung lại, thuê một căn nhà ở Bà Quẹo. Cúc ở nhà lo
việc cơm nước, còn Muôn hằng ngày đạp xích lô kiếm tiền nuôi vợ.
Từ khi lập gia đình, Cúc chăm chỉ hơn xưa. Bây giờ nàng tự tay nấu ăn, giặt
giũ, quét tước chung quanh nhà. Chẳng những thế Cúc còn cuốc đất trồng thêm một
số rau cải, rau thơm. Công việc này Cúc cốt làm cho vui, và cũng là cách tập
tành, ép mình vào trong khuôn khổ mà trước đây đã có thời nàng phá bỏ.
Một hôm nàng xách giỏ đi chợ, gần đến ngã ba thì có một thanh niên cứ lẽo đẽo
đi theo nàng. Khi đến gần, chàng thanh niên đó hỏi:
– Đi đâu đó cô Năm?
Cúc phớt lờ không trả lời. Nàng không lạ lùng gì lối tán tỉnh nhà quê này. Và
thanh niên đó sau một hai câu nói thấy Cúc không trả lời cũng bỏ đi luôn.
Nhưng bản thân Cúc lại có một mối lo ngại nhen nhúm ở trong lòng. Một mai, nếu
gặp người thanh niên khác, bảnh bao hơn, tán tỉnh hay hơn, thì liệu nàng có giữ
mãi được lòng chung thủy muộn màng với Muôn hay không. Nàng cũng không thực sự
biết mình, khi điều đó chưa xẩy ra.
Cao Xuân Lý
Hãy Trả Cho Tôi & Tình Trong Dĩ Vãng - Nguyễn Thị Châu
HÃY TRẢ CHO TÔI
Hãy trả cho tôi
tình xưa đã mất
Hãy trả cho đời
nét đẹp ngày xanh
Hãy trả cho tôi
giây phút bên anh
Hãy trả cho tôi
con đường tình ái
Xin trả cho tôi
hoa cài lên tóc
Xin trả cho người
chiếc áo phong sương
Xin trả lại đây
người trai chiến trường
Xin trả lại anh
những gì đáng có
Trả lại cho anh đời
trai lãng tử
Đem máu xương đền
đáp nước non mình
Cho sơn hà chiếu
rọi ánh bình minh
Giờ đã hết còn
gì? Để trả lại
Trả lại tôi người
chồng thương nhớ vợ
Trả lại tôi người
lính trẻ hôm nào
Cùng vui hát dưới
cành lá xôn xao
Tay trong tay với
niềm vui thân ái
Anh ra đi, còn
tôi thời ở lại
Mái nhà xưa chờ đợi
bóng tình nhân
Đêm than thở lệ
rơi suốt canh tàn
Được và mất, còn
đâu mà đòi lại….!!!
17-9-2025
Nguyễn thị Châu
TÌNH TRONG DĨ
VÃNG
Tình mình nay đã
đi vào dĩ vãng
Anh ra đi vì nước,
súng trên vai
Bước anh đi trên
vạn nẻo đường dài
Vì sông núi gót
giày đinh anh tới
Cho quê hương yên
bình không lửa khói
Tiếng trẻ thơ
không khóc thét đêm đen
Hình bóng mẹ chờ
con bên ánh đèn
Nghe tiếng súng,
nhớ con buồn da diết
Rồi từ đó anh đi
không trở lại
Bỏ quê hương, bỏ
tình mẹ tình cha
Bỏ lại đây người
yêu dấu thật thà
Bỏ con trẻ tuổi
thơ còn nhỏ dại
Nơi bến cũ con
sông buồn lặng lẽ
Nhớ về anh người
con của Lạc hồng
Chiều lại về, ta
chợt nhớ mênh mông
Tìm dĩ vãng của
ngày xưa thân ái…!!!
17-9-2025
Nguyễn thị Châu
Vài Dòng Cảm Tưởng Khi Đọc tùy bút "Hẻm nhỏ Tân Định" - Nguyễn Hửu Thư
Vài dòng cảm tưởng khi đọc tuỳ bút “Hẻm
nhỏ Tân Định”
Vài dòng giới thiệu (by Vũ Thế Thành)
Một độc giả gửi tin nhắn cho tôi nói,
ông tình cờ đọc Những thằng già nhớ Mẹ ở nhà ông bà thông gia trên Đà Lạt cách
nay 10 năm (bản in lần đầu). Ông bị ấn tượng vì Mẹ ông vừa mất cách đó vài năm,
tháng 4 năm 2011 (mất sau mẹ tôi 2 tháng).
Ông tự giới thiệu, tên Nguyễn Hữu
Thư, sắp được 80 tuổi, có cùng nghề với tôi, kỹ sư Hóa, tốt nghiệp tại Quebec
năm 1969. Về nước làm việc tại ngân hàng cho đến khi về hưu. Ông không tìm mua
được sách, nên xin đường link Những thằng già nhớ Mẹ để đọc lại. Tôi gửi tặng
ông sách NTGNM, tái bản lần 3.
Chỉ mới đọc đến “Hẻm nhỏ Tân Định”,
ông ngừng lại và gửi tin nhắn cho tôi. Té ra, chúng tôi cùng học ở Lasan Đức
Minh, nhưng ông thuộc lớp đàn anh của tôi. Thế là chúng tôi huyên thuyên đủ
chuyện về ngôi trường cũ, từng ông frère, ông thầy, từng con hẻm, mọi ngóc
ngách,… Anh nhớ nhiều hơn tôi, vì anh học ở đó 9 năm (từ lớp Năm đến đệ Tứ),
còn tôi chỉ mấy năm tiểu học.
Ông huynh trưởng viết cảm tưởng về Hẻm
nhỏ Tân Định post trên facebook của anh. Tôi share lại. (Vtt)
Vài dòng cảm tưởng khi đọc tuỳ bút “Hẻm
nhỏ Tân Định”
Hẻm nhỏ Tân Định là tùy bút trong
sách Những thằng già nhớ Mẹ mà tác giả Vũ Thế Thành vừa tặng tôi, tái bản lần 3
có bổ sung (2022).
Khi đọc đến những dòng tuỳ bút về “Hẻm
nhỏ Tân Định”, tâm trí tôi bất giác quay ngược về quá khứ, về một thời tuổi thơ
mà tưởng như đã ngủ yên nơi ký ức.
Hình ảnh những con hẻm nhỏ, tiếng rao
vặt ngoài chợ, những nụ cười hồn nhiên của bè bạn lại sống dậy, gợi nên bao
nhiêu xúc động. Đó không chỉ là chuyện riêng của tôi, mà còn là mảnh ghép trong
ký ức tập thể của cả một thế hệ lớn lên ở Sài Gòn những năm 1950–1960.
Thuở ấy, tôi rất quen thuộc với hẻm
146 Hiền Vương – nay đã đổi tên là Võ Thị Sáu – nơi có nhiều bạn học của tôi
sinh sống. Từ lớp Năm – bây giờ là lớp 1 (1951) cho đến hết lớp Đệ Tứ – bây giờ
là lớp 9 (1960), tôi gắn bó với ngôi trường La San Đức Minh, một trong những cơ
sở giáo dục nổi tiếng lúc bấy giờ.
Mỗi buổi sáng, tôi được ba chở đến
trường trên chiếc xe đạp – phương tiện quen thuộc của hầu hết các gia đình khi ấy.
Trưa đến, tôi ở lại bán trú, có khi nằm nghỉ trưa trên chiếc ghế bố cũ trong
nhà chơi, tay cầm cuốn truyện tranh Tintin nhập tâm vào những chuyến phiêu lưu
xa xôi, có khi lại ghé nhà bạn trong hẻm để cùng nhau chơi đùa.
Buổi chiều, nếu ba bận việc không đến
đón, tôi thong thả đi bộ về nhà trên đường Nguyễn Thông, quận 3 – một thói quen
giản dị nhưng đã rèn luyện cho tôi sự tự lập từ sớm. Khi lên đến lớp Đệ Ngũ,
tôi đã tự đạp xe đến trường, cảm nhận mình đã trưởng thành hơn trong từng vòng
xe quay.
Những năm tháng ấy, Sài Gòn vẫn mang
nét thanh bình của một đô thị phương Nam đang mở rộng, vừa pha chút hiện đại, vừa
giữ nhiều nếp xưa. Xe đạp là phương tiện chủ yếu, xe hơi còn hiếm, chỉ những
gia đình khá giả mới có. Trẻ con trong xóm, trong hẻm chơi với nhau rất thân,
không phân biệt giàu nghèo.
Những hẻm nhỏ, tuy chật chội, nhưng lại
là không gian của sự gắn kết cộng đồng: ai cũng quen biết, san sẻ cho nhau từng
câu chuyện, từng món ăn. Chính bối cảnh ấy đã nuôi dưỡng trong chúng tôi
một tình cảm giản dị mà sâu đậm, thứ tình cảm mà thế hệ trẻ hôm nay có lẽ khó
tìm thấy trong những đô thị ồn ào, vội vã.
Tôi vẫn nhớ rõ anh bạn thân tên Vinh
là con ông chủ tiệm thuốc Đông y Kim Tân trên đường Hai Bà Trưng. Những tiệm
thuốc bắc, tiệm vàng, tiệm vải ở khu chợ Tân Định khi đó không chỉ là nơi buôn
bán, mà còn là điểm hẹn của ký ức – nơi lưu giữ nhịp sống vừa sôi động vừa chan
chứa nghĩa tình.
Và tất nhiên, trong mạch ký ức ấy,
không thể thiếu hình ảnh các thầy, các Sư huynh của trường La San Đức Minh. Tôi
còn nhớ Frère Aimé, Frère Boniface, hay những giờ học Pháp văn cùng thầy Dậu,
thầy Dụ…
Các thầy không chỉ dạy chữ, mà còn uốn
nắn nhân cách, dạy chúng tôi sự kiên nhẫn, tinh thần kỷ luật và cả sự say mê
tri thức. Đó là những giá trị bền bỉ, giúp thế hệ học trò chúng tôi trưởng
thành trong giai đoạn xã hội còn nhiều biến động.
Nhìn lại, tôi thấy những gì mình trải
qua không chỉ là kỷ niệm riêng tư, mà còn phản ánh một phần đời sống của thanh
thiếu niên Sài Gòn thập niên 1950–1960: một thế hệ lớn lên giữa giao thoa Đông
– Tây, giữa nền nếp truyền thống và hơi thở của hiện đại.
Chúng tôi may mắn có được một môi trường
học tập kỷ cương, một đời sống cộng đồng gắn bó, và một tuổi thơ đầy tình người,
trước khi bước vào những biến đổi lớn của đất nước.
Đọc tuỳ bút “Hẻm nhỏ Tân Định” hôm
nay, tôi bỗng thấy những ký ức tưởng chừng xa vời lại hiện về rõ ràng.
Xin gửi lời cảm ơn đến anh Vũ Thế Thành, bởi nhờ trang viết đầy cảm xúc của
anh, mà những kỷ niệm cá nhân của tôi đã được đánh thức, đồng thời giúp tôi nhận
ra: ký ức của một người cũng chính là ký ức của một thế hệ.
Và thế hệ ấy, với bao điều giản dị mà
ấm áp, vẫn còn nhiều điều để kể lại cho lớp trẻ hôm nay – để họ hiểu rằng Sài
Gòn từng có một thời đẹp và hiền hoà như thế.
Nguyễn Hữu Thư







